Lời giảng: Bồ Tát Đại Thừa Khái Niệm 1

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:19:17

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:00]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa quý thầy, quý sư cô, kính thưa quý Phật tử! Hôm nay khóa tu đầu năm mới, cũng là bài giảng đầu năm mới,

[0:17]chúng ta lại bắt đầu cái loạt bài giảng mới nói về Bồ Tát Đại thừa. Từ nhiều năm qua, gần mười năm chúng ta đi qua cái bộ kinh Pháp Cú cũng hết sức là kiên nhẫn nha, nói cho bao nhiêu người mà theo được cái bộ kinh đó cũng quá giỏi. Thì những giáo lý căn bản của Nam tông, Nguyên thủy thì ta cũng nắm được, những hành trạng cuộc đời của Đức Phật và chư Thánh Tăng, những sự kiện trong đời Đức Phật, chư Thánh Tăng ta cũng hiểu qua khá nhiều. Và thầy cũng đang cố gắng tổng hợp lại, khai thác thêm để hoàn thành cái kịch bản mà của bộ truyện tranh về cuộc đời Đức Phật có cái tựa là "Đỉnh Núi Tuyết". Chúng ta đã in được tập 19 rồi đó.

[1:05]Cái tham vọng của chúng ta là thực hiện được 100 tập truyện tranh về cuộc đời Đức Phật, nếu mà thầy còn sống thêm được 30 năm nữa. Nhưng mà dòm cái tướng của thầy, dòm cái tướng của thầy coi bộ thấy nó không không bảo đảm lắm, thấy èo uột, ốm yếu, ế ẩm cái này coi bộ chắc không không có không không có đi không biết đi nổi không. Mà thực ra cái cái công trình này phải tới 30 năm nữa mới xong, cái bộ truyện tranh "Đỉnh Núi Tuyết" về cuộc đời Đức Phật á, ừm, trong đó có nhiều cái bí ẩn, nhiều cái điều lạ lùng lắm. Thì cái phần Nguyên thủy chúng ta tạm đi qua, không biết lúc nào ta sẽ trở lại với kinh tạng Nguyên thủy,

[1:50]nhưng hôm nay chúng ta bắt đầu bước qua một lĩnh vực mới là về cái tư tưởng Đại thừa, hệ thống Đại thừa mà đặc biệt là cái tính chất, hành trạng của các vị Bồ Tát Đại thừa. Đây là điều rất là lạ, nhưng mà càng bàn thì càng không hết. Mà cái hệ thống Phật giáo Đại thừa nó kỳ vĩ, mênh mông, nhiều khi vượt ngoài sự tưởng tượng, hình dung của con người của thời đại ngày xưa và của cả thời đại ngày hôm nay, nó như vậy. Nên chúng ta chuẩn bị đi vào một thế giới mới, những cảnh giới mới rất là lạ lùng. Và nếu chúng ta lại đi qua được cái loạt bài về Bồ Tát Đại thừa mà lòng chúng ta vẫn tin sâu, hiểu kỹ,

[2:40]vững lòng thì đạo tâm của chúng ta sẽ đạt được một cái bước tiến rất là xa.

[2:48]Những điều trong kinh Đại thừa mở cái tâm hồn của con người ta đến vô tận, cách lạ lùng, cũng không hiểu tại sao mà mà mà đặc biệt đến như vậy. Ví dụ như ta thường hay nghe trong kinh Pháp Hoa, trong kinh Kim Cang, hoặc trong kinh Hoa Nghiêm nói về những con số về thế giới, về chúng sinh, về những công đức thì hay lấy cái số cát của sông Hằng để làm ví dụ.

[3:20]Nếu dùng cái đầu óc của chúng ta, với cái bộ não này, chúng ta đếm từ 1 tới mấy thì bắt đầu mình đuối? 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, đếm từ từ tới bao lâu thì bắt đầu mình đuối? Thì chắc là 1, 2 triệu ha, bắt đầu mình mệt. Nhưng 1, 2 triệu thì chưa ăn thua gì. Ngồi đếm nữa, đếm nữa nếu ai mà thần kinh tốt thì ta sẽ đếm lên được 1 tỷ, còn một vài người thì bắt đầu đã lăn quay ra giãy đành đạch rồi khi mà đếm tới 1, 2 tỷ. Mà nếu đếm tới con số 10 tỷ thì nhiều người đã phát điên rồi, căng thẳng thần kinh. Nhưng mà đối với con số cát sông Hằng thì 10 tỷ không là cái gì hết, vô nghĩa, nếu mà nói là lấy số cát của con sông Hằng nữa.

[4:06]Và trong kinh Phật nói về những cái thế giới của vũ trụ này mênh mông, vô tận mà cứ nói là nhiều như số cát sông Hằng. Thì nghe nói nhiều như số cát sông Hằng là mình đã hơi sợ sợ rồi tại vì nói mà nếu mà đếm cho ra là mình điên hết, tất cả chúng sinh điên hết nếu không đủ tâm thanh tịnh. Với cái tâm mà phàm phu của chúng ta, với cái tâm loạn động hiện nay của chúng ta chỉ đếm cái con số thôi, hình dung cái số cát sông Hằng là bao nhiêu ứng với cái số thế giới trong vũ trụ này thôi, tất cả chúng ta điên sạch. Nhưng mà ngày xưa trong kinh điển Đại thừa nói đến con số đó một cách rất bình thường

[4:47]thì ta phải hiểu là cái con số đó được nêu ra bởi những bậc tu chứng, tâm cực kỳ thanh tịnh họ mới hình dung ra được cái cái con số như vậy, nhưng mà chưa phải là hết. Chưa phải là hết, nó khủng khiếp như thế này, Phật còn nói: "Này A-nan, nếu mỗi một hạt cát của con sông Hằng lại biến thành một con sông Hằng nữa và cộng hết tất cả những cái số cát của tất cả những con sông Hằng nhiều như số cát sông Hằng đó, đó chính là thế giới của chư Phật." Khiếp như vậy nên đó mình không hiểu tại sao, những cái trí tuệ người ta đến cỡ nào mà có thể nêu ra được con số như vậy. Nên khi ta bước vào thế giới Đại thừa, ta bước vào một thế giới mà

[5:34]sự thực là không còn chỗ để cho đầu óc ta tư duy, suy nghĩ được nữa, mà ai cứ cố gắng tư duy, suy nghĩ thì người đó sao, điên liền. Thế nên chúng ta hôm nay cũng vậy, chúng ta đang chuẩn bị bước vào một thế giới, nếu bước vào không lọt thì ta lọt vô nhà thương điên, thầy cảnh báo trước á, cho nên mọi người hãy suy nghĩ lại nếu muốn tiếp tục ngồi để nghe, hãy suy nghĩ lại. Vì lỡ có gì thì thầy không chịu trách nhiệm, sư phụ Từ Tấn cũng không chịu trách nhiệm, nói trước rồi đó nha. Ớn chưa? Như vậy đó, một là mở rộng ta ra một chân trời mới với cái đạo tâm được nâng cấp lên mới, hai: hẹn gặp nhau ở Biên Hòa nha.

[6:27]Đó bây giờ tính trước rồi đó, suy nghĩ kỹ đi nha, rồi ngồi, rung chưa? Chưa rung thì thầy nói à, còn rung thì thôi tính lại nha.

[6:38]Vì đâu ta có tư tưởng Đại thừa? Thật ra thì ban đầu những người mà học đạo đến với Phật pháp từ phía Bắc tông thì cứ suy nghĩ đơn giản rằng Đại thừa là Phật thuyết. Cứ suy nghĩ đơn giản và cứ tin như vậy. Và chính vì tin rằng Đại thừa là Phật thuyết với những giáo lý mênh mông, vĩ đại như vậy cho nên nhiều người đến với Phật giáo bằng con đường của Đại thừa, đạo tâm họ kinh hồn lắm, khiếp đảm lắm, chết thì chết chứ không bao giờ có thể thay đổi được vì giáo lý Đại thừa kỳ vĩ quá, vượt ngoài cái suy nghĩ tầm thường của con người. Nhưng đến ngày hôm nay, khi mà các tông phái giao lưu, khi mà các thông tin được trao đổi dễ dàng trên toàn thế giới này

[7:31]thì người ta mới phát hiện ra một điều là kinh Đại thừa không phải do Phật thuyết. Nên ở buổi ban đầu, khi người nào mà đặt niềm tin với kinh điển Đại thừa mà nghe được một điều là kinh Đại thừa không phải Phật thuyết thì hầu hết đã nhảy xuống sông Sài Gòn ở cầu Bình Lợi tự tử hết rồi. Lúc đó thầy cũng là một người trong số đó nhưng mà được vớt lên kịp, tu tiếp. Hồi lúc đó thầy ở Thường Chiếu, ừm đang ở Thường Chiếu cũng tu theo Bắc tông, tu theo Thiền tông, Tổ Sư Thiền, nghiên cứu kinh điển Đại thừa là chính rồi cũng đọc qua bộ A-hàm à vậy, rồi nghiên cứu rồi cũng nghe nói ờ cái này Tiểu thừa, cái kia Đại thừa, lúc đó cũng ngây thơ cũng tu vậy thôi.

[8:24]Thì lúc đó có ông sư huynh, ông sư huynh thì ổng ổng tu trước, ổng ở gần Hòa thượng nghe những cái câu nói ổng mới nói lại, ổng nói: "Ông già nói kinh Đại thừa không phải Phật thuyết." Cũng trợn mắt dòm ổng.

[8:40]Cái trợn mắt dòm tại đó là cả cái niềm tin mình, cả cuộc đời của mình, mình xuất gia là vì cái cảm xúc này. Mình bỏ hết thế gian, bỏ hết nhiều điều lắm ở phía sau rắc rối lắm, bỏ mọi sự rùm rà của thế gian này hết. Bao nhiêu sự mời gọi thế gian bỏ hết không cần không màng không gì hết. Để vì cái những cái cảm xúc của Đại thừa này. Mà ổng, ông sư huynh ổng nói mà ông sư huynh thì rất là đạo hạnh. Mà nói là nói của sư phụ nói, là ông già, hồi đó trong thiền viện thì gọi hòa thượng bổn sư hay kêu ông già ở trong nhà gần gũi. Hễ mà kêu ông già là biết người ở trong nhà, còn ở ngoài mới gọi là hòa thượng rồi này kia nọ, còn ở trong nhà kêu ông già. Nói:

[9:18]"Ông già nói kinh Đại thừa không phải Phật thuyết". Trợn mắt dòm sư huynh liền. Rồi nhưng mà vì ông sư huynh này ổng không nói dối, mà dẫn lời của ông sư phụ mình thì không phải chuyện chơi. Rúng đến liền là nếu mà có sông Sài Gòn gần đó đã nhảy xuống, nhưng mà lúc đó ở ngoài đó sông xa quá. Có con suối thì nhảy xuống nó chỉ ngang bụng thôi, cho nên thôi đành cứ tiếp tục sống. Đến khi dời cái thiền viện từ Chân Không xuống Thường Chiếu xây dựng cất lại, bắt đầu hòa thượng cho đi vào nhập hạ, đích thân hòa thượng giảng, giảng giáo lý lại, từ cơ bản lại, từ cái giáo lý Nikaya với A Hàm học lại căn bản hết.

[9:56]Nâng lên từ từ, từ từ tới những luận bản kinh điển Đại thừa, tới những luận bản Đại thừa dần dần, dần dần. Thì lúc đó mới hiểu, thì lúc đấy lòng biết à đây là sự thật. Mà khi yên trí rằng đây là sự thật rồi thì mới hiểu có cái lý do của nó. Lịch sử phát triển đạo Phật có cái lý do tại sao là nguyên thủy Phật thuyết rồi bỗng nhiên xuất hiện kinh Đại thừa như vậy. Nó có cái nguyên nhân của lịch sử, có cái có cái động cơ, có cái nhu cầu chứ không phải là không. Lúc đó thầy bắt đầu mới nghiên cứu thêm kinh tạng nguyên thủy Nikaya, những luận bản này nọ, mà hồi đó tìm kinh sách không ra, không có, không có kinh.

[10:37]Cũng may mắn là nhờ anh bạn, ảnh đi lùng tìm hết nguyên cái bộ tạng kinh Nikaya, mà hồi đó in bằng cái giấy mà giấy tái chế của học sinh, rồi cái giấy nó đen. Nó đen như tội với nó cũng xám, rồi in tạm lên lúc đó học đỡ vậy. Bây giờ thì vẫn còn giữ những cuốn kinh kỷ niệm đó, giở ra phải nhẹ nhẹ không khéo nó rách. Hồi đó học kinh Nikaya từ đó, cũng nghiên cứu lại từ Nikaya căn bản lại hết, đọc lại từng bài, từng bài, từng bài. Rồi Đại thừa thì mình đọc nhiều rồi, Đại thừa thì mới vào đạo là đã đọc nhiều. Những khi còn cư sĩ mà đã đến chùa, bước vào chùa nói: "Thỉnh thầy cho con mượn bộ kinh Hoa Nghiêm",

[11:13]ngồi đó lặng lẽ đọc, đọc không dám suy nghĩ. Ngồi cái bài đầu tiên phẩm tựa thôi là cũng kính hồn liền, giới thiệu về những vũ trụ. Mà hồi đó các vị không có kính thiên văn vũ trụ để nhìn các thế giới ngoài kia, không biết sao chỉ bằng trí tuệ mà giới thiệu về vũ trụ mênh mông kỳ vĩ những thế giới, những hoằng chúng sinh không thể tưởng tượng, lúc đó không dám suy nghĩ, ngồi lặng lẽ đọc kinh Hoa Nghiêm, đọc từng trang từng trang không dám suy nghĩ. Nó vô gì được nó vô, nó mở gì được nó mở, không dám suy nghĩ, không dám so sánh, không dám đối chiếu, không dám tư duy, cứ lặng lẽ đọc thôi. Nhận gì đó được không nhận thì thôi.

[11:49]Bởi vì biết với cái cái tư tưởng kỳ vĩ này mà mình động tâm mình suy nghĩ phát điên liền. Mà nhờ như vậy mà đi qua đi qua như vậy. Hôm nay cái lần lần nghiên cứu kỹ nguyên thủy, nghiên cứu kỹ Đại thừa bắt đầu tu tập. Nghiên cứu từ trong cái hơi thở của mình, từ trong cái tâm niệm của mình, từ cái bước đi, trong cái thiền định, trong cái nhân quả. Nhìn cái lịch sử thế giới phát triển như thế, qua những vùng đất, tôn giáo phát triển như thế, con người như thế, dần dần, dần dần, dần dần rồi vỡ ra từ từ, từ từ. Rồi thôi rất là yên trí nghe, rất là yên trí. Đúng là đang đang học cái bộ Trung Quán Luận.

[12:26]Nhưng mà ở cái cách học của của hòa thượng dạy là học theo kiểu đại học. Hòa thượng nói là: "Tôi sẽ dạy cho các chú bài Trung Quán Luận thì về tự tìm cái cái luận bản đó". Mà hồi đó là Trung Quán Luận có chữ Nho thôi, chưa dịch, phải tự mình dịch hết ra mà Trung Quán Luận dù dịch hết ra rồi đọc không ai hiểu. Rồi sau cái đó bắt đầu phải tự phân tích, diễn giải lấy nó. Thế là phải tự tìm bản Trung Quán Luận rồi dịch, dịch xong rồi bắt đầu tự giải, giải thích hết. Giải thích rồi đem giải thích lại với huynh đệ mình, tại vì anh em phải học trước thì hòa thượng mới dạy sau mà. Rồi sau khi mà dịch hết rồi giải thích lại,

[13:06]phát hiện ra là cái cái bản in người xưa để lại mất hết hai ba đoạn. Tại vì cái lý luận nó không logic hai ba đoạn, thế là tự mình phải tạo ra những đoạn thiếu, đắp vô bổ sung vô cái luận bản ngày xưa luôn. Nhưng mà ráp ráp vô vậy rồi nó mới nó mới hoàn chỉnh cái cái luận bản ngày xưa. Thì lúc mà hòa thượng mà dạy đó, hòa thượng bước vô hòa thượng chỉ bất cứ người nào đứng lên phải đọc bản chữ Nho, đọc bản chữ Nho xong hòa thượng nói: "Dịch cho nghe coi". Dịch nghe xong hòa thượng bảo: "Giải thích đoạn đó cho nghe coi". Tức là tự mình đã làm thầy phải nắm vững hết. Rồi chỉ bao nhiêu người như vậy xong rồi bắt đầu hòa thượng mới giảng.

[13:43]Cho nên cái học đó là cái học của đại học, cho nên người nào mà đi qua được nó rồi thì nắm vững vấn đề. Mà lúc đó thầy lúc đó thầy cũng hay có cái tật lo cho chúng, thấy huynh đệ mình lúc đó cái thời đại không có tài liệu, hồi xưa thời đó không có tài liệu còn thắp đèn dầu mà, chưa có điện mà, là đi tìm, dịch rồi giải thích. Tối đến là ngồi họp, họp ngồi dưới đất với nhau, đưa ra ngồi anh em bàn với nhau từng điểm từng điểm. Tại vì tới ngày mai là ông già ổng lên ổng dạy là ổng kêu bất cứ người nào là cũng phải mà dịch mà giải cho được chứ không phải là dễ, chứ không là hòa thượng rầy. Mà mình không muốn thầy mình buồn, lúc nào cũng phải ráng học

[14:18]cho cho vững, học cho tốt, ý vậy thôi, đơn giản như vậy. Thì khi học cái luận Trung Quán của ngài Long Thọ thì đây là cái lý luận, phải nói này lý luận nguyên thủy mà kết nối qua Đại thừa. Còn tất cả những bộ kinh Đại thừa lớn, nhất là bộ kinh Pháp Hoa, vân vân, Bát Nhã thì người ta đều nói là tác giả chính là ngài Long Thọ, bởi vì ngài giỏi quá. Cái thời đó gọi là ngài là một luận sư nổi tiếng mà trong hệ thống Thiền tông tổ sư thiền lại ghép ngài vô là một vị tổ luôn. Ghép ngài vô làm vị tổ, còn hệ thống Đại thừa thì coi ngài là Đệ nhị Phật Thích Ca, vì ngài giỏi quá, giỏi khét luôn. Cho nên vì vậy người ta tin rằng những bộ kinh Đại thừa kỳ vĩ,

[14:59]lớn lao là của ngài Long Thọ sáng tác chứ không phải ai cả. Nhưng những cái người sau này họ nghiên cứu thì họ nói như vậy, mình cũng không biết thế nào. Thì thầy cứ đi tìm mãi cái gạch nối giữa nguyên thủy và Đại thừa. Thầy nghĩ nếu là chân lý nó phải có những điều gần với nhau. Mà nếu đều là đạo Phật thì nó phải chung nhau. Nhưng mà cả một thời gian mấy nghìn năm lịch sử, hai bên chống nhau. Cái bên mà nguyên thủy thì nói Đại thừa là ngoại đạo, Bà-la-môn. Cho nên gặp các thầy mình Bắc tông vậy, bên nguyên thủy coi như là cư sĩ, không chào. Tại nói: "Ơ, mấy ông đó ngoại đạo, Bà-la-môn". Còn các thầy Bắc tông thì gặp các sư nguyên thủy thì nói sao?

[15:45]"Tiểu thừa, mình không lạy được". Không có được lạy cái người Tiểu thừa, mình là Đại thừa, thế nên cái khoảng cách như vậy nhìn nhau như kẻ thù, mặc dù là cùng thờ Đức Phật. Khi mà thầy đi tìm đó thầy mới thấy là không có cái chia rẽ, cái này là cái y cứ của cái kia. Cho nên có một lần có một thượng tọa ông tịch làm, thầy Chánh Niệm ở chùa Phật Bảo Lạc Long Quân, hồi đó thầy cũng về hay về giảng cái chỗ đó. Nên khi ổng tịch thì ổng là người Nam tông, thầy về thầy viếng tang. Viếng tang là gặp các sư Nam tông, các hòa thượng Nam tông đầy ở đó hết. Tới chừng thầy gặp lại thầy thấy những vị đều nổi tiếng

[16:19]cả, vị này vị kia và thầy xin được đảnh lễ các ngài. Thế là thầy quỳ xuống thầy đảnh lễ các ngài. Ồ ôi các sư Nam tông trẻ trẻ đã đứng nhìn trầm trồ trầm trồ và cảm động, cảm động vì lần đầu tiên thấy một ông thầy Bắc tông quỳ xuống lạy các vị sư Nam tông. Còn thầy thì trong lòng thầy không có gì cả, các vị nào cũng hay, bên nào cũng tốt, mỗi vị đều đứng một góc để giữ gìn đạo Phật, để phát triển đạo Phật, nên ai thầy cũng cũng cũng kính trọng, nên thầy lạy với cái lòng tôn kính thật sự của mình rất là tự nhiên. Còn bên các sư Nam tông trẻ trẻ thì nhìn cảnh đó thì trầm trồ, ngạc nhiên tại sao có một ông thầy Bắc tông đi lạy thầy Nam tông.

[17:00]Nhưng sau này, qua những năm sau này tiếp tục tiếp tục thì Giáo hội Phật giáo của ta cứ càng lúc càng xây đắp cái tình chan hòa giữa các tông phái, nên cái Khất sĩ, Nam tông rồi Bắc tông, vân vân, sống với nhau chung trong một mái nhà, hòa hợp, bình yên. Rồi ta không có phân biệt tông phái, chỉ tính theo là tuổi đạo, tính theo đạo lực, nghĩa là ai tu lâu, có đạo hạnh tốt thì được mọi người tôn kính chứ không còn cái phân biệt tông phái. Và ta xem rằng đó là một sự thành công lớn của Phật giáo Việt Nam chứ trên thế giới không có điều này. Chỉ trong Phật giáo Việt Nam, chỉ nơi Giáo hội Phật giáo Việt Nam

[17:41]mới có một cái sự hòa hợp chung đồng, hội tụ giữa các tông phái mà gạt qua hết bên mọi cái thành kiến của mấy nghìn năm qua. Ví dụ như có một thời gian mà bên Khất sĩ xuất hiện cũng vậy, cũng gây ra một sự kỳ thị. Nhưng bây giờ ở trong Giáo hội á, bên đây là Hòa thượng Giác Toàn, bên kia là Hòa thượng Thiện Nhơn, các vị ngồi chung, ăn chung mâm, đi chung máy bay, dự lễ chung, rồi ông này không phát biểu ông kia phát biểu cũng giống nhau cả. Hòa thượng Thiện Tâm ở bên Nam tông vậy, cũng khi đại diện Giáo hội để phát biểu, dự lễ này lễ kia cho Giáo hội, tất cả đều rất là là chan hòa, rất là hạnh phúc.

[18:17]Nên ta rất là hạnh phúc khi ta được sống trong cái bầu trời Phật giáo của Việt Nam ta, ở trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam ta. Chứ còn ở các nước khác không có được điều hạnh phúc, đẹp đẽ như thế này. Tuy nhiên, ta thấy nó vẫn có những cái khuynh hướng để chia rẽ đạo Phật, chia rẽ Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ta không biết là thế nào. Vì vậy những người mà có lương tri, có trí tuệ, có đạo đức, ta ráng giữ gìn cái sự hòa hợp của Phật giáo Việt Nam chúng ta, bao gồm sự chung đồng, hội tụ của các tông phái. Vì sao vậy? Vì với tất cả những ai có lương tâm trên thế giới này đều muốn cho một thế giới sống với nhau trong yêu thương, trong hòa bình, nhân ái.

[19:05]Dù là khác quốc gia, khác chủng tộc, khác tín ngưỡng thì chúng ta cũng mong rằng mọi người hãy yêu thương mà sống với nhau tử tế, hòa bình, nhân ái thì cớ gì ta cùng thờ chung một Đức Phật Thích Ca, cao siêu vĩ đại thì ta lại kỳ thị với nhau. Có điều gì đó có thể ta chưa đồng ý nhau, chưa thông cảm nhau, chưa hiểu được nhau hãy để đó, hãy để đó và cứ sống với nhau bằng cái gì? Bằng cái điều giống nhau trước cái đã. Cái giống nhau là cái gì? Thứ nhất cùng thờ Phật, thứ hai là cái gì? Cùng tin nhân quả nghiệp báo, luân hồi, thứ ba là gì? Cùng tin vào Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, đó những cái điều rất giống nhau.

[19:49]Còn khi ta phát triển lên thành những tông phái thì có hơi khác nhau thì thôi cứ để đó, nó có lý do của sự xuất hiện của nó chứ không phải là không, nên cứ để nó từ từ. Mà bây giờ cứ trước hết là gì? Yêu thương nhau cái đã, phải không ạ? Yêu thương nhau cái đã. Đó là cái mệnh lệnh của thời đại, của lương tri và của dân tộc ta. Và nếu cái điều này được giữ gìn, được thực thi nơi cái đất nước Việt Nam thì tốt, thì ta sẽ đóng góp cái ý kiến này cho cả cái thế giới này, cho Phật giáo của cả cái thế giới này là các tông phái vẫn có thể sống hòa bình với nhau, dù vẫn còn những điều khác biệt nhưng vẫn có thể sống hòa bình, yêu thương, hòa hợp.

[20:34]Và ta mới có thể nói với thế giới rằng: Trong Phật giáo chúng tôi có những sự khác biệt nhưng chúng tôi vẫn có thể sống yêu thương, hòa hợp với nhau được, và chúng ta kêu gọi cả thế giới này, dù thế giới hãy còn sự khác biệt về chủng tộc, ranh giới quốc gia, tín ngưỡng, nhưng hãy sống yêu yêu thương nhau, thì ta mới có quyền kêu gọi con người sống yêu thương nhau, hòa hợp với nhau, chỉ bởi vì ngay trong đạo Phật ta đã có cái tấm gương yêu thương, hòa hợp trước, phải không ạ? Đó là như vậy.

[21:12]Đầu tiên ta phải hiểu thế này: phát triển, tiến bộ là một thuộc tính của loài người thông minh.

[21:23]Cái khác nhau của con người và con vật ở chỗ đó. Cái khác nhau của động vật được gọi là người, human, chỉ bởi vì trong con người luôn có sự thúc đẩy phải phát triển, phải tiến bộ từ những gì họ đã được thừa kế. Thì khi người nào mà có cái sự thừa kế rồi nghĩ đến sự phát triển tiến bộ thì người đó được gọi là một động vật thông minh nhất của hành tinh đó, là giới hạn hết, không có cái loài nào thông minh hơn con người nữa. Vì nếu vượt khỏi con người thì không còn được gọi là chúng sinh nữa, mà bắt đầu đã trở thành thánh rồi, cho nên không còn cái thế giới của vật chất này nữa. Còn nếu nói còn gọi là being, chúng sinh, thì con người vẫn là thông minh nhất,

[22:17]bởi vì trong con người luôn luôn có một sự thúc đẩy tiềm tàng là phải phát triển, phải tiến bộ từ những gì đã có sẵn, đó là thuộc tính của loài người. Còn nếu người nào mà không bao giờ bị thúc đẩy bởi cái khuynh hướng phải phát triển hơn, tiến bộ hơn cái người xưa thì người đó

[22:43]không có đủ thuộc tính của con người. Còn cái người mà đã nhiều kiếp làm người thì luôn luôn họ có một cái thuộc tính bị thúc đẩy tiềm tàng bên trong là phải gì? Phải phát triển, phải tiến bộ. Cái gì được nghe nói tới nói lui hoài con người bị nhàm. Đó là cái tính chất của con người. Cái nhàm nó cũng sinh ra nhiều cái rắc rối lắm chứ không phải không, nhưng nó cũng là chìa khóa của sự tiến bộ của thế giới này. Cái nhàm chán. Con gà nó có thể gáy từ lúc bắt đầu nó biết gáy cho tới cái ngày mà nó vô trong nồi nước sôi, gáy có một điệu à, đúng không ạ? Ò ó o o, không bao giờ nó thêm nốt thăng, nốt giáng, không bao giờ nó xen cốp,

[23:29]không bao giờ nó biến tấu, không bao giờ nó đổi qua ngũ cung gì hết trơn. Nó cứ ò ó o o, ó o, sáng vậy, trưa vậy, tới ngày nhảy vô nồi nước sôi là hết chuyện. Có một điệu đó nó kế thừa từ ông cha nó cho tới ngày mà nó chết thì cũng vậy, vì đó là con gà. Nhưng con người thì sao? Con người chịu không nổi. Dù bản nhạc cực hay, mỗi ngày chỉ nghe một lần thôi, không bắt nghe nhiều, năm sau tự tử chết liền, chịu không nổi, nhàm chán. Cái cái hay cho con người cảm xúc và cảm xúc đó được lặp đi lặp lại, con người nhàm chán trong cái cảm xúc đó, trong cái tư duy đó, trong cái thông tin đó là một thuộc tính của loài người.

[24:13]Và điều đó khiến con người phải sao? Phải thay đổi. Con vật không có tính nhàm chán, à, nhưng con người có cái tính nhàm chán. Cái tính nhàm chán đã thúc đẩy sự tiến bộ văn minh của nhân loại và làm cho vô số gia đình tan vỡ.

[24:32]Vô số gia đình tan vỡ cũng bởi tại cái là thèm phở chán cơm, do nhàm chán nè, cũng vậy. Nên nó chính làm cho thế giới tiến bộ, nhưng nó cũng làm cho bao nhiêu gia đình tan vỡ. Và đó là lý do vì cái nhàm này mà nhiều người đã không cùng nhau đi đến vô biên được, như bài hát, như ước mơ mà Thầy đã gởi gắm trong bài hát Đi đến vô biên. Chúng ta đi con đường đẹp quá, con đường của chân lý, con đường của đạo pháp đẹp quá thì đừng bao giờ bỏ nhau, hãy cùng nhau đi mãi mãi. Để ta đi theo nhau, trong chân lý thiên thu, như mơ ước ban đầu.

[25:18]Thì đây là điều thế này, có một lần vậy, sau khi mà Ma Vương hiện ra thuyết phục Phật nhập Niết bàn, lần đó Đức Phật đồng ý nhập Niết bàn.

[25:33]Khi Đức Phật đồng ý nhập Niết bàn, cõi đất rung động hết một lần. Sau đó Đức Phật mới nhập định xả thọ mạng của mình. Bởi vì nếu Đức Phật mà không nhập định để xả thọ mạng thì Ngài không thể chết, đây là đặc tính của chư Phật. Chứng được tới Phật rồi thì thân Ngài là kim cang bất hoại, không chết được. Cho nên để có thể nhập Niết bàn, từ bỏ báo thân này, Ngài phải nhập định và dùng thần thông và quyết định của mình mới cắt đứt cái báo thân này. Cho nên khi mà Ngài nhập định cắt đứt, từ bỏ báo thân, cõi đất lại rung động lên bao nhiêu lần vì cái cái cái quyết định của Ngài coi như là một sự đau đớn đối với thế giới.

[26:16]Thì sau này các vị mới hỏi, nhiều vị hỏi ngài A Nan hỏi Đức Phật: Tại sao Thế Tôn không không sống tiếp? Đức Phật có nói cái câu này gây tranh cãi: Giáo lý đã được triển khai, những người cần phải chứng A La Hán, Như Lai đã độ cho chứng A La Hán hết; những người cần chứng cho tới Tu Đà Hoàn, Như Lai đã độ chứng cho Tu Đà Hoàn hết; những người có duyên để có thể gặp được Phật pháp, Như Lai đã độ cho hết. Bây giờ Như Lai có sống thêm ở đời cũng không làm hơn được. Cái duyên với loài người đã đủ. Cái câu trả lời như vậy. Cái câu trả lời này cho ta cái ray rứt, ray rứt là như vậy khi cái thời Đức Phật mà xuất hiện

[27:08]thì quả thật là để được độ, để được chứng A La Hán cho tới Tu Đà Hoàn là con người đã được ấn định có duyên từ những kiếp trước. Và bây giờ sự xuất hiện của Đức Phật như là một cái cái khơi gợi khiến cho cái quả vị thánh của họ bộc lộ ra, hình thành ra. Chớ còn nếu không có Đức Phật xuất hiện thì những người đó dù tiềm tàng cái khả năng chứng ngộ vẫn cứ tiếp tục tiềm tàng mà không chứng được, nhưng vì sự xuất hiện Đức Phật, thế là cái khả năng tiềm tàng của họ được chứng hết. Giống như chúng ta hôm nay ngồi đây cũng vậy, có thể trong chúng ta ngồi đây có những người tiềm tàng khả năng chứng ngộ, ví dụ như không chứng cao nhưng ít ra ta cũng chứng được Tu Đà Hoàn.

[27:55]Nhưng mà tiếc rằng trong thời đại này ta không có Phật, không cho ta cái cảm xúc mãnh liệt của lòng tôn kính, cho nên cái quả vị nó không bung ra. Vì cái quả vị nó nó bung ra chỉ khi nào trong tâm ta có sự cảm xúc mãnh liệt của lòng tôn kính đối với một bậc thánh siêu việt, nhưng thời đại này ta không có. Người xưa họ được hạnh phúc bởi vì sự hiện diện của Đức Phật luôn luôn tạo ra trong tâm họ một niềm tôn kính tuyệt đối vô bờ vỡ tung ra, nên họ rất dễ chứng ngộ, ngày nay ta không có điều đó. Cho nên ngày nay ta bù lại điều đó bằng cách là ép mình, buộc mình phải khởi tâm tôn kính Phật tuyệt đối,

[28:43]nhất là những khi ta quỳ xuống trước trước Phật đài trang nghiêm. Dù đó chỉ là bức tượng nhưng ta nguyện lòng, đó, mượn cái bức tượng đó để gợi lại, để nhắc lại, để xây dựng, để thiết lập cái lòng tôn kính Đức Phật tuyệt đối vô biên để ta tìm lại được cái công đức mà người xưa có mà người nay bị thiếu hụt là lòng tôn kính Phật vô biên, đó. Mà nếu ai trong thời đại này gọi là thời Mạt Pháp, cách Phật đã xa, mà vẫn còn có thể dựng lại trong tâm mình một cái niềm tôn kính Phật tuyệt đối thì quả vị vẫn mơ hồ chuẩn bị xuất hiện trở lại. Cái quả vị thánh ít nhất là Tu Đà Hoàn bắt đầu đang đang nảy mầm từ trong cái bùn sâu, đang vươn cành lên dần dần,

[29:35]dần dần và có thể đến ngày nào đó, có khi trong kiếp này, bỗng nhiên cái đóa hoa sen nó vượt lên khỏi mặt nước và nở ra dưới ánh mặt trời. Có khi ngay trong kiếp này ta có thể đạt được điều đó nếu cũng ngay trong kiếp này ta luôn luôn giữ vững được, thiết lập được lòng tôn kính Phật tuyệt đối. Tuyệt vời quá. Nha. Như vậy.

[30:01]Thì khi Đức Phật nhập Niết bàn bởi vì ngài độ hết những người cần độ, đặt nền tảng của cái giáo lý mà ngài tin rằng nó sẽ bền vững lâu dài. Mặc dù ngài có tiên tri là chánh pháp rồi sẽ suy thoái đến thời tượng pháp và suy thoái đến thời mạt pháp rồi mất luôn. Có nhiều người mới hỏi thầy, nói thưa thầy, cái chân lý của Phật vĩ đại như vậy tại sao mất? Và bị thay thế bởi những cái tà kiến ngoại đạo? Đố ai biết? Tại sao tà kiến ngoại đạo lại bền vững như vậy? Mà tại sao Phật pháp đẹp đẽ như vậy lại vô thường mong manh? Lại có thể bị suy thoái? Có thể tới tàn hoại biến mất? Và ngày đêm bị các thế lực khác chống phá?

[30:54]Tại sao tà đạo lại không bị? Tại sao tà đạo lại bền vững? Mà Phật pháp, chánh pháp thì lại suy thoái, lại tan hoại? Ai biết? Ai biết? Thầy có giảng cái này trong cái bài nào rồi. Anh này nhiều khi cũng chưa nghe hết chứ thật ra thầy đã từng giảng một lần ý này trong cái bài Cỏ và lúa. Nha. Cái bản năng tự nhiên của con người không cần dạy gồm có những gì? Dục, phải không ạ? Ái, ích kỷ, tham lam, sân hận. Đó là bản năng tự nhiên không cần dạy. Là tự lớn lên mình đang ăn có ai lại giành cái cái bánh của mình lại là phụi vô oánh người ta liền. Bản năng không cần ai dạy. Còn mà nói là mình đang ăn vậy thấy có người khác đứng nhìn thèm thuồng

[31:49]rồi tự nhiên mình đến mình chia cho người ta thì cái đó phải được dạy á. Dạy ở kiếp trước hoặc kiếp này, mình mới khởi cái lòng trắc ẩn thương người thì cái lòng trắc ẩn thương người đó phải được dạy mới có. Còn cái mà đang cầm bánh ăn thấy có người đứng lại dòm là quay mặt chỗ khác chạy kêu chỗ trốn ăn thì đó khỏi cần dạy. Cho nên không cần dạy thì cái điều sai, điều ác nó cứ tồn tại hết thế kỷ này tới thế kỷ kia, tới thiên niên kỷ này tới ngàn năm khác. Còn cái điều chính đáng mà được dạy á rất là vất vả mới gieo được vào lòng người. Mà nếu lúc nào cái sự dạy và học đó bị gián đoạn, bị phá vỡ thì sao?

[32:34]Điều tốt đẹp đó mất liền. Phải không ạ? Cũng vậy, cái chánh pháp của Phật khó hay dễ học? Khó hay dễ? Khó lắm. Nỗi cái luật nhân quả không không phải dễ tin, hiểu được. Có nhiều người ỷ mình giàu sang không cần tin nhân quả, có nhiều người ỷ mình thông minh giỏi giang không cần tin nhân quả. Cho nên nội cái nhân quả thôi là đã khó hiểu, khó học rồi. Còn bao nhiêu điều khó, nói cái vô ngã thì đừng hòng có người hiểu. Nên cái người nào mà đến với Phật pháp mà nghe cái giáo lý vô ngã mà bỗng nhiên xúc động, yêu thích thì người này đã có căn cơ làm thánh rồi. Người này đã từng học Phật pháp nhiều kiếp rồi.

[33:15]Ngày hôm nay mới nghe cái vô ngã mà yêu thích. Còn đa phần con người ta lúc nào cũng nắm giữ cái bản ngã của mình, tôn trọng cái tôi của mình, yêu thương cái ta của mình. Vậy mà nếu người nào nghe vô ngã không có cái ta, trên đời này không có gì là ta, là của ta, nghe cái câu giáo lý đó mà yêu thích, người này là con của Phật đâu nhiều kiếp rồi, tái sinh lại học tiếp thôi. Bản ngã phù du như khói sương, thân tâm cát bụi ở ven đường, một lòng theo Phật tìm vô ngã, pháp giới chỉ là một khối thương. Ai nghe câu này mà xúc động mà hiểu được thì người này đã có cái mầm làm thánh ở trong tâm mình rồi.

[33:55]Còn đa phần chúng sinh không có chuyện này. Mà phải là dạy dỗ rất vất vả nhiều kiếp, ngày hôm nay ta nghe cái câu vô ngã này ta mới cảm xúc. Còn đừng dạy gì hết thì ai cũng bản ngã một một đống. Đó là lý do không cần dạy thì những cái đạo nào mà dạy người ta tham, sân, ác, ích kỷ, giết hại, nó sẽ tự động cứ tồn tại hoài theo bản năng tự nhiên của con người. Còn cái đạo mà dạy người ta ăn hiền ở lành, diệt trừ bản ngã, diệt trừ tham sân thì phải dạy rất vất vả. Mà nếu cái nào mà công tác giảng dạy đó thất bại thì cái đạo đó sao? Ngưng luôn, tắt luôn. Đó là lý do mà chánh pháp của Phật sẽ có lúc phải

[34:35]phải tàn hoại bởi vì sự dạy và học bị gián đoạn. Đó là lý do mà những tà kiến ngoại đạo kích động cái tham sân thù hận sẽ tồn tại mãi mãi với nhân loại này. Đau lòng không? Đau lòng. Cho nên khi mà Đức Phật nhập Niết bàn thì nhiều đạo sư lo lắng cho cái thời kỳ mạt pháp như vậy. Và cái khuynh hướng tự nhiên của con người là thích phát triển. Không bao giờ thích mỗi ngày nghe đúng cái điệu gáy của con gà hết. Nên các ngài mới chế ra cái đàn cò cho nó nhiều giai điệu, chế ra cái đàn bầu, nhiều cái âm sắc, nhiều cái điệu nhạc khác nhau. Và đó cũng là lý do mà vọng cổ cải lương dù rất được yêu thích nhưng ngày nay lớp trẻ làm sao?

[35:29]Từ từ quay lưng. Vì sao? Vì chỉ có một điệu nhạc duy nhất, đổi lời thôi, đổi lời thôi nhưng mà chỉ có một điệu duy nhất. Và thời xưa tại sao ta thích? Vì chưa ai tìm ra thêm những điệu khác cho phong phú nên đành phải chấp nhận đổi lời cho nó đỡ nhàm. Nhưng vẫn phải giữ giữ cái điệu đó vì ta chưa đủ sáng tạo. Nhưng sau này bắt đầu cái cái nền âm nhạc thế giới nó du nhập vào, con người ta hiểu về cái nhạc lý, tha hồ tung bay sáng tạo các điệu nhạc khác. Thì con người ta không bị gì? Không bị gói trong một điệu nhạc nữa. Mà ta có nhạc dân ca nè, dân ca cách điệu, dân ca miền này, dân ca miền kia và âm nhạc hiện đại,

[36:13]âm nhạc tám cái cái nốt, bảy cái nốt, nó khác hơn cái âm nhạc mà năm nốt, vân vân. Con người ta được nhiều lựa chọn hơn, được nhiều sáng tạo hơn và thích thú hơn, trị được cái cảm giác nhàm chán. Thì cũng vậy, cái tạng kinh Nikaya không phải nhiều, xấp vậy thôi, chồng. Có nhiều vị cứ học cho thuộc hết cả ba tạng kinh điển, là một vị pháp sư. Bên nguyên thủy đó, ai mà học hết một tạng là pháp sư một tạng, ai học hết hai tạng là pháp sư hai tạng, ai học hết đủ tam tạng là pháp sư tam tạng. Học thuộc hết để giữ gìn kinh điển mà. Sau này khi mà sách in được rồi thì người học thuộc không cần nữa. Bởi vì cái kỹ thuật in có hết.

[36:58]Hồi xưa không có kỹ thuật in, không có sách viết cho nên họ phải thuộc. Khi sang Trung Hoa chế ra được cái giấy, kỹ thuật in xuất hiện thì người Trung Hoa không cần học thuộc mà chỉ cần in thôi, tốn tiền in thôi, và công đức in kinh là vô lượng. Còn thời bên Ấn Độ chưa có giấy, chưa có kỹ thuật in thì cái công đức mà thuộc kinh để giữ gìn kinh là công đức vô lượng. Qua Trung Hoa thì in kinh mới là vô lượng. Còn ngày nay của mình là làm sao? Là mình nhấn vi tính copy mới là công đức vô lượng. Đó. Cho nên những bài giảng của thầy á ta cứ copy bỏ vào trong USB rồi nghe thoải mái, không cần phải tới công ty mà mua đĩa nữa chi cho tốn tiền.

[37:40]Công đức vô lượng. Còn thầy thì còn thầy thì

[37:47]thầy thì vô vọng.

[37:52]Cho nên cái kinh nguyên thủy á là những kinh gốc của Đức Phật dạy vào cái thời mà người ta hạn chế chữ nghĩa, người ta thu nhỏ những lời nói để dễ nhớ.

[38:07]Cái câu nói phải cho gọn để nhớ, chứ không có nói tràng giang đại hải như mình nãy giờ. Vì giữ gìn được đạo lý là bằng trí nhớ, mà để có thể dễ nhớ thì đừng nói dài. Cho nên nói gọn gọn gọn gọn, một buổi thuyết pháp vài ba câu, hiểu không hiểu ráng chịu. Nói dài nữa không ai hiểu, cái thời đó nó như vậy. Nên kinh nguyên thủy nhiều khi bài kinh dài chứ trong đó cái phần mà lặp đi lặp lại hơn phân nửa. Nên ngày hôm nay có nhiều người bắt đầu viết kinh nguyên thủy lại cho gọn, lược bỏ những đoạn mà lặp đi lặp lại cho nó gọn lại và đỡ nhàm. Còn ngày xưa phải giữ phăng phắc cái kinh không cho trật chữ nào,

[38:54]bởi vì trật một chữ người ta không thuộc, mang tội chết. Thì bắt đầu nó rơi vào cái hiệu ứng tâm lý muôn đời của con người là nhàm chán. Bắt đầu bị vào đó. Sau Phật nhập Niết bàn không lâu, 50 năm, 100 năm bắt đầu xuất hiện cái hiệu ứng tâm lý nhàm chán đối với những điều mà được nghe, nói đi nói lại hoài, nói đi nói lại hoài. Và con người cần phát triển. Đó. Nhưng mà có nhiều cái cách phát triển. Có những vị đã phát triển bằng cách viết lại luận, giải thích kinh của Phật. Và có những vị nghĩ ra những ý mới độc đáo quá,

[39:44]Mượn danh Phật viết kinh luôn, nói là "Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại Xá-vệ quốc Kỳ-đà Kỳ viên Cấp Cô Độc... gì đây", nghĩa là lấy cái đoạn đầu của những kinh nguyên thủy ghép vô cho cái kinh của mình viết để nói lên cái quan điểm mới của mình. Mà nghe như vậy người ta không có sốc. Vì sao? Vì mình không có uy tín, mình nói những điều vĩ đại quá, chúng sinh không tin. Mà nếu điều vĩ đại này nói là của Phật nói, người ta sẽ chấp nhận, nên có những người họ không cần bản quyền, không cần tên tác giả, không cần tên tuổi, miễn được người khác chấp nhận cái tư tưởng của mình thôi là hạnh phúc.

[40:29]Và họ giấu luôn tác giả, nói là Phật thuyết, đem hết cái vinh quang này coi như là cúng dường lên đức Phật. Nên có những bản kinh như là kinh Lăng Nghiêm, kinh Viên Giác, kinh Pháp Hoa. À, có một vị chư thiên mới hỏi ngài Văn Thù: "Ngài nói điều này là dựa vào đâu?" Thì ngài Phổ Hiền với ngài Văn Thù trả lời: "Ta nói điều này dựa trên sự hộ niệm của Phật". Tức là vẫn lấy gì? Lấy Phật làm chỗ dựa, chỗ uy tín. Thay vì nói cái kinh này ngài viết ở đâu, nói kinh này tôi viết là bằng sự hộ niệm của đức Phật thì các ngài lại đưa điều đó vào trong bản kinh. Tôi nói điều này từ sự hộ niệm của Thế Tôn.

[41:14]Cũng giống như khi thầy viết cái bộ Đỉnh Núi Tuyết cũng vậy, thầy cũng bắt gặp cái tâm trạng đó. Khi thầy nghiên cứu về cuộc đời đức Phật có nhiều chỗ nó không rõ, thầy bí. Viết tới đoạn đó rồi tìm sử liệu không có, bí, bế tắc. Thầy ngồi thừ trên máy tính, ngồi nhìn cái máy tính, ngồi nhìn những dòng chữ đã viết rồi, không viết thêm được nữa vì hết đường binh rồi, như là đi vào ngõ cụt. Nhưng bỗng nhiên tự nhiên từ trên trời cao một cái ý niệm rớt xuống đầu thầy một cái, mở cho thầy ra cái cánh cửa mới, thầy không còn bị ngõ cụt nữa, mà từ cái cánh cửa mới này thầy lý giải được hết mọi cái chi tiết lạ lạ trong cuộc đời đức Phật.

[42:02]Thầy xâu chuỗi lại, kết nối lại và nó logic hết. Thế là thầy mừng rỡ, bắt đầu thầy gõ tiếp, sắp đặt lại, đi vào lại tiếp. Nên lúc đó thầy hiểu cái điều rất rõ rằng là sự hộ niệm của của chư Phật là là điều có thực. Cho nên khi một vị nào đó họ viết cái bài kinh Đại thừa với cái cảm xúc lớn mênh mông và họ cái cảm nhận rằng Phật đã nhập Niết bàn nhưng Phật vẫn hiện hữu, và lúc khi mà họ cần phải phát triển cái đạo lý Phật pháp lên một tầm cao mới thì thực sự chính trí tuệ của họ cũng không phải là đủ mà trong bí mật vẫn có sự gì? Sự hộ niệm của chư Phật vì thời đại này bắt đầu cần điều này. Và họ đã mạnh dạn viết và họ biết rằng không phải họ là tác giả

[42:50]nên họ ghi luôn đức Phật là người thuyết bài này mặc dầu là họ là người chấp bút, mặc dù họ là người dàn ý bài kinh từng phẩm, từng chương, người này hỏi, người kia đáp, vân vân, mạch lạc. Nhưng họ thấy rõ ràng là khi họ viết họ được dẫn dắt bởi gì? Bởi cái thần lực của Phật ở trên cao. Nên họ để luôn "Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại" là gán hết cho đức Phật. Thì cái gán này, nếu mà ta nghĩ xấu thì ta nghĩ rằng người này mạo danh Phật để viết ra quan điểm của mình. Nếu mà ta nghĩ tốt thì ta nghĩ rằng người này đã cúng dường cái công trình của mình, cái thành quả của mình cho Phật, cho uy tín của Phật thêm.

[43:33]Đó là ta nghĩ tốt. Và nếu ta nghĩ đúng, không nghĩ tốt, không nghĩ xấu, thì nghĩ thế này: người này đã được sự hộ niệm bí mật của Phật, sự dẫn dắt bí mật của Phật để mà viết ra những bộ kinh mới này đáp ứng sự phát triển của của thời đại. Đến lúc thời đại cần có những điều này thì phải có người chấp bút viết ra. Người đó cũng phải sao? Phải có trí tuệ nha, người đó phải có phẩm hạnh, đủ điều kiện để Phật Phật hộ niệm. Kinh Đại thừa, sự phát triển của Phật giáo ta cũng phải hiểu giống như vậy. Tuy nhiên về Nam tông họ đã giữ chặt cái ý kinh đó và họ phát triển qua cái hướng khác là bộ Abhidhamma.

[44:17]Người ta gọi là Vi Diệu Pháp hay còn dịch theo biểu Hòa thượng Minh Châu là Thắng Pháp Tập Yếu Luận. Abhi là vô tỷ, không thể so sánh được. Dhamma là pháp. Cái giáo pháp này không so sánh được thì Hòa thượng Minh Châu dịch là Thắng Pháp, mà một cái giáo pháp nó vượt hết mọi điều. Còn các vị mà bên Nam tông gọi là Vi Diệu Pháp, chữ kỹ của nó là a-tì-đàm, vô tỷ, không so sánh được. Nhưng mà nó hàm chứa trong đó cái gì? Cũng là ca ngợi cái người sau muốn giỏi hơn người trước nữa rồi, phải không ạ? Nếu cái Abhidhamma này là không gì hơn được thì như vậy tạng kinh Nikaya là làm sao? Thấp hơn chút, đúng không ạ?

[45:02]Nên ở đây ta rơi vào lại một cái tâm lý cố hữu muôn đời của con người là người sau kế thừa, phát triển nhiều hơn người trước và luôn luôn tìm cách để giỏi hơn người trước. Bắt đầu ta rơi vào cái bệnh cố hữu của con người, lúc nào cũng muốn mình giỏi hơn người trước. Thì việc mà lúc nào cũng muốn mình giỏi hơn người trước là tốt hay xấu? Tốt hay xấu? Chắc không? Đó, đây lại là ta đừng chủ quan ở chỗ này nha. Thứ nhất là tốt, bởi vì làm cho loài người tiến bộ. Thì cứ tốt lên từ từ thì ta mới mua máy tính mà đời trước như vậy đời sau có cái computer tốt hơn, tốt hơn ha, đồng hồ tốt hơn, xe máy đời sau tốt hơn,

[45:54]ít hao xăng hơn, ngon lành hơn, máy bay bay nó ít rớt bậy hơn, vân vân. Thế là là là do có cái mà tốt hơn người trước. Nhưng mà ta phải mang ơn người trước vì người trước đã gì? Đã lập cái nền để cho ta đạp đó mà bước lên. Đó là nói rằng người sau tốt hơn người trước cũng tạm đúng bởi vì sản phẩm họ đưa ra hoàn hảo hơn. Nhưng mà nếu không có cái sản phẩm của người đi trước thì ta không có cái cái sản phẩm của ta ở phía sau, đúng không ạ? Cho nên nói là ta hơn nhưng mà sự thật ta đã dựa vào cái sản phẩm của người người đi trước. Thì đó, nếu mà ta nói khía cạnh tốt là như vậy. Nhưng với đức Phật thì không phải vậy. Vì sao?

[46:40]Vì sự xuất hiện của đức Phật đối với thế gian này vài trăm nghìn năm mới có một vị, rồi khi thậm chí cả triệu năm mới có một vị. Có những lần cái nền văn minh của loài người lên, loài người bị tận thế, bị tàn hoại trở đi trở lại mấy lần mới có một đức Phật xuất hiện. Và sự xuất hiện của đức Phật, tính chất của đức Phật là tuyệt đối,

[47:06]hoàn hảo, không ai hơn, dù trước đó và sau đó. Chỉ bằng Ngài thôi vì đó cũng là đức Phật, về sau cũng chỉ bằng Ngài thôi vì đó cũng đức Phật, đừng nói chuyện hơn Phật. Khi ta nói rằng ta có thể hơn Phật, đó là một tà kiến. Và tà kiến này phá tan tất cả mọi công đức của ta và ta có thể bị điên loạn bởi ý nghĩ này. Nên tại sao có người điên người tỉnh? Nó có nhiều nguyên nhân của người bệnh điên, mà người bệnh điên tâm thần hầu hết là xúc phạm thần thánh. Mà trong cái xúc phạm thần thánh đó, đã có vài ba người thoáng ý nghĩ mình giỏi hơn Phật. Chỉ thoáng nhẹ thôi, rồi sẽ có ngày vô nhà thương điên 3 4 chục năm.

[47:52]Một ý nghĩ nhẹ trong một sát-na rằng mình giỏi hơn Phật, quả báo của nó là 3 chục năm ở trong nhà thương điên. Nha, một sát-na mà 3 chục năm. Như vậy nói: "Dạ thưa thầy, bây giờ con thoáng một sát-na con tôn kính Phật thì sao?" Thì cứ một sát-na như vậy ta được 3 chục năm làm thánh, rồi hết. "Dạ nếu vậy con nuôi dưỡng lòng tôn kính Phật mãi thì sao?" Thì ta sẽ chứng thánh quả vĩnh viễn luôn, không còn 30 năm nữa. Chịu không? Nên vì vậy ta phải nuôi dưỡng lòng tôn kính Phật mãi mãi là là như vậy. Hay bây giờ cũng vậy, bắt đầu cái cái khuynh hướng phát triển kế thừa là khuynh hướng của loài người thông minh, của động vật thông minh nhất của

[48:39]hành tinh là loài người, cho nên con người bắt đầu phát triển đạo Phật thành luận bản, bên Nam tông là Abhidhamma và bên Bắc tông bắt đầu xuất hiện kinh Đại thừa. Nhiều cái luận của Đại thừa nhưng đặc biệt là kinh Đại thừa. Đó là khuynh hướng con người. Và nhưng cái hay của bên Bắc tông là dù phát triển tới đâu phát triển, càng phát triển càng phát triển thì lúc nào cũng ca ngợi giá trị của Phật là bậc nhất. Cái thành công của Đại thừa là chỗ đó. Trong tất cả kinh điển Đại thừa, hình ảnh đức Phật luôn luôn là sừng sững, siêu việt, vĩ đại, hoàn hảo, hạng nhất, không có ai hơn được. Dù đức Phật Thích-ca hay Phật Di-đà hay Phật Dược Sư,

[49:26]vân vân, thì hình ảnh hễ Phật là tuyệt đối cao siêu. Đó là cái độc đáo nhất của kinh tạng Đại thừa. Ta được quyền kế thừa phát triển nhưng đừng nghĩ ta giỏi hơn người xưa. Cũng giống như các nhà khoa học cũng vậy. Các nhà khoa học mặc dù họ tạo ra được những cái sản phẩm mới, mặc dù họ có những phát minh mới, những phát kiến mới, nhưng mà họ vẫn nói rằng cái thông minh của những nhà bác học như Newton, Einstein rồi vân vân, Descartes, cái đó Voltaire, vẫn là vượt bậc. Nói cái thông minh thôi, chứ còn cái sản phẩm thì dĩ nhiên không bằng ngày nay, vì ngày nay đạp trên cái sản phẩm cũ mà để tạo ra sản phẩm mới.

[50:12]Nhưng cái thông minh thì các nhà khoa học vẫn luôn luôn ca ngợi những cái nhà bác học đã đi trước mình. Và đó là gì? Đó là công bằng, đó là chân lý. Còn nếu ngày hôm nay ta tạo được cái máy tính đẹp, ta nói như vậy ta thông minh hơn Newton, thông minh Descartes, thông minh Einstein là sao? Ta không công bằng. Cho nên kinh Đại thừa được một điều rất độc đáo là kinh mới, ý tưởng mới, hoàn cảnh mới, khung cảnh mới, khái niệm mới, nhưng trong tất cả những cái mới đó, hình ảnh đức Phật luôn luôn là gì? Là tuyệt đối cao siêu, không ai qua được. Đây là điều làm cho ta ta xúc động cực độ đối với những kinh điển Đại thừa.

[50:56]Ta cũng biết ơn những vị nào đã tạo ra kinh điển Đại thừa từ như thế nha.

[51:07]Thôi, giờ qua ý thứ hai. Ý thứ hai là thế này: chúng ta sẽ thắc mắc đặt vấn đề, như vậy tại sao lúc thời Đức Phật còn sống, ngài không tự phát triển trước cái giáo lý Đại Thừa, mà ngài chỉ nói kinh điển Nikāya nguyên thủy? Thế nên đến khi mà thời đại bị thúc đẩy bởi nhu cầu phải phát triển, và cho rằng Đức Phật đã hộ niệm để có những người khác mà dựng lên kinh điển Đại Thừa? Tại sao chính Đức Phật không làm, đặt cái nền tảng đó luôn? Ai trả lời được câu này? Ai trả lời được câu này thầy phong làm Bồ Tát. Thực ra, Đức Phật đã đặt nền tảng của giáo lý Đại Thừa Bồ Tát rồi, nhưng mà ngài không nói điều đó cho thế giới loài người.

[51:59]Mà ngài nói cho ai? Cho chư thiên, chư thiên tử.

[52:07]Hầu hết mỗi đêm khi mà mọi người đã ngủ say, các vị A La Hán đã nhập định say sưa,

[52:17]nhiều người đã ngủ say, thế giới loài người chìm trong cái giấc ngủ thanh bình, thì không khuấy động loài người, chư thiên mới đến giờ đó, chư thiên mới đến giờ đó để mà tham vấn hỏi đạo với với Đức Phật.

[52:38]Và cái giáo lý mà Đức Phật dạy cho chư thiên khác với giáo lý dạy cho loài người, tại sao? Tại sao? Tại vì chư thiên đã biết sẵn một số điều mà loài người chưa biết. Cho nên Phật nói cao hơn, không cần nói những điều mà chư thiên đã biết rồi, ví dụ nhân quả và luân hồi. Như bây giờ việc ta chết đây, ta đầu thai sinh qua chỗ khác. Ở đây có ai thấy không ạ? Ai nhớ không ạ? Không. Lâu lâu có một vài trường hợp nhớ lại trên thế giới người ta kiểm chứng thấy đúng và người ta thấy hiện tượng luân hồi là có, nhưng mà lâu lâu thôi. Còn đa số loài người chúng ta không ai thấy điều đó, nên bây giờ để giảng cho ta nghe về cái luân hồi, tái sinh, không phải dễ.

[53:33]Thuyết phục, chứng minh, lý luận đủ cách để mọi người tin rằng thực sự là có luân hồi, có con người tái sinh từ kiếp này qua kiếp khác, điều đó hoàn toàn không dễ đối với loài người, phải không ạ? Chỉ những người nào mà có trí tuệ, có thiện căn thì mới thấy điều này hợp lý, thấy hợp lý thôi nên tin, chứ còn thấy thì cũng không thấy. Mặc dầu được nghe diễn giải, phân tích lý luận chứng minh nhưng vẫn không thấy, chỉ thấy rằng ờ hợp lý. Hợp lý đúng là tái sinh nghe hợp lý hơn, chứ chết rồi mất hết nghe không hợp lý, hoặc là chết rồi đi về một cõi nào ở mãi mãi mãi mãi mãi tới vô tận, không hợp lý.

[54:16]Cho nên phải có tái sinh, có nhân quả, chịu vui chịu khổ theo cái nghiệp của mình nghe có vẻ công bằng. Cho nên cái người có trí tuệ, có lương tâm, có đạo đức, yêu thích sự công bằng thì chấp nhận rằng luân hồi nghiệp báo là có. Vậy thôi chứ thấy thì cũng không thấy. Cho nên cái điều mà ta tin được nhân quả luân hồi thì phải biết rằng ta có lương tâm, ta có đạo đức, ta có yêu thích sự công bằng, là như vậy. Còn với những người không lương tâm, không đạo đức, không cần sự công bằng thì họ không tin luân hồi, nhân quả, như vậy. Nên nói với loài người nhiêu đó cực. Còn chư thiên thì sao? Ổng trên trời ổng dòm xuống ổng thấy hết trơn.

[55:05]Ổng thấy người này chết đây, đầu thai qua bên kia; người chết bên kia đầu thai qua nọ. Cái ông nọ chết kia rớt xuống làm con dê, con dê chết xuống làm con mèo, con mèo chết xuống làm con rắn, con rắn chết xuống làm con kiến, kiến cắn người ta một cái làm con muỗi, ví dụ vậy. Dòm thấy rõ, cho nên là không nói về điều đó nữa. Mà nói về điều gì? Hãy tưởng tượng mình là một chư thiên, một thiên tử, nha, mình dòm xuống thế gian mình biết hết trơn đó. Rằng cái ông nào, cái người đó hồi xưa sống tử tế, hiền lành, bây giờ vậy là đáng lẽ lên trời ở không chịu chạy qua đầu thai kia làm công chúa, ví dụ vậy.

[55:41]Nhìn thấy hết, nghĩa là ví dụ tưởng tượng bây giờ mình là chư thiên, mình ở trên trời đi, đó ví dụ đang tưởng tượng mình ngồi trên mây trên lâu đài đồ đi, đó ví dụ. Cái dòm xuống mình thấy hết là ờ đây nhân quả luân hồi chúng sinh sinh chết đây sinh kia thấy hết, giờ mình cần học điều gì nữa? Giờ cần học điều gì nữa? Ai nói đúng thầy phong làm Bồ Tát liền. Tưởng tượng đi, để cho một phút á. Tưởng tượng mình là chư thiên mình nhìn xuống biết hết nhân quả luân hồi, giờ mình cần biết điều gì nữa? Ai hồi trước ở trên cõi trời nhớ coi.

[56:21]Đây nha, thầy nói rồi coi có đúng không? Ví dụ khi ta có con mắt nhìn từ cõi trời xuống dưới thấy hết nhân quả luân hồi của chúng sinh, ta sẽ tự vấn mình, mình còn ở cõi trời bao lâu? Đúng không ạ? Tất cả là nhân quả mà. Mình sinh lên được cõi trời biết rồi đó, bây giờ mình sẽ ở đây được bao lâu? Và cái việc ở lâu hay mau trên cõi trời lệ thuộc điều gì? Lệ thuộc điều gì? Phước. Đúng. Phước đó sẽ được thành lập như thế nào, phải không ạ? Ai dạy mình điều này? Và nếu cứ ở trên cõi trời hưởng cái phước thế này, phước tràn ngập thế này một lúc phải hết, vì muốn kéo dài ra thì kéo dài bằng cách gì, làm những công đức gì?

[57:08]Và cứ phải ở cõi trời mãi mãi mãi mãi như vậy có phải là thật sự đã hạnh phúc hay không? Hay là phải sao? Phải làm thánh. Đồng thời ta cứ ở trên cõi trời sung sướng này để cho chúng sinh các cõi lăn lộn khổ đau như vậy có đành lòng hay hay không? Đó là những điều mà chư thiên phải phải tự vấn. Nếu mình là chư thiên mình cũng sao? Cũng cũng phải tự vấn điều này, đúng không ạ? Hay là mình trên đó hưởng cho sướng? Hưởng qua giai đoạn đó rồi ai cũng phải tự vấn về thân phận mình dù mình là chư thiên. Mình sẽ ở đây được bao lâu? Mình còn cảnh giới nào để đi lên thêm cao hơn? Hay là mình vĩnh viễn biết chúng sinh rồi quay lưng bỏ luôn

[57:52]chúng sinh dưới này có lăn lộn khóc lóc thảm thiết kệ nó? Hay là làm sao? Hay là phải giáo hóa cứu độ chúng sinh? Đúng không ạ?

[58:07]Bộ chưa làm trời sao mà không không không chịu không đồng ý gì hết trơn vậy? Nhớ nghe mai mốt lên cõi trời phải hỏi coi mình có có đúng như hôm nay thầy đã nói hay không, nha. Lên cõi trời rồi ai cũng tự vấn những điều này. Và những điều này khi mà tự vấn như vậy họ hỏi ai? Hỏi ai? Hỏi những vị những vị thánh cao siêu. Nếu vào thời đó không có Phật, thì họ đến cõi trời Đâu Xuất họ gặp gặp Bồ Tát nào cai quản ở ở đó. Bây giờ thì Bồ Tát nào đang cai quản ở đó? Ngài Di Lặc. Nhưng vào thời có Phật thì sao? Thì phải đến mà mà hỏi Đức Phật. Đó là nguyên tắc. Chúng ta cũng vậy thôi, nếu đặt vị trí ta vào đó ta cũng làm giống như vậy.

[58:56]Thì khi mà đến với Phật, mới hỏi về thân phận của của chư thiên. Chúng con như thế nào để để mà mở rộng công đức ra thêm? Chúng con như thế nào để giáo hóa chúng sinh? Bản chất sâu xa của cái vô minh chúng sinh là gì? Bản chất sâu xa tính năng của bậc thánh là gì? Bởi vì con mắt chư thiên nhìn không tới đó. Con mắt chư thiên có thể nhìn thấy à người này chết chỗ này đầu thai chỗ kia, nhưng mà con mắt chư thiên nhiều khi không đủ nhìn sâu thẳm sâu thẳm vào trong những cấu trúc tâm lý bản ngã vô minh phức tạp nhất của chúng sinh. Nha, ta nhớ cái điều này. Ta nhớ điều này. Nha. Ví dụ như đoán biết ý nghĩ thì biết.

[59:42]Ví dụ như hôm nay có chúng sinh này khởi tâm đi chùa Từ Tân, à đi nghe pháp thì thôi vừa đọc thấy cái tâm đó, chư thiên nói thôi độ cho nó đi trên đường đi cho bình an, đừng có ai quẹt xe cho nó tới chùa, vân vân gì vậy đó. Thì đó là biết ý nghĩ vậy thôi. Hoặc là nói có người nó khởi tâm đi chùa Từ Tân nghe giảng, nhưng mà trong tâm nó kèm theo: không biết hôm nay chắc khóa thiền hết rồi ha, mình đi giờ này để khỏi ngồi thiền, khỏi tu thiền. Vừa đi học mà vừa ăn gian. Học đạo pháp kiểu này không biết đời nào nó mới tiến. Cho nên phải cho nó đi nghe pháp, nhưng khi nó về thì phải phạt nó cái gì, nha.

[1:00:20]Còn người nào mà có dự khóa thiền, ngồi thiền đầy đủ thì qua ngày hôm sau mà nghe pháp nữa thì đứa này phù hộ cho nó được nhiều may mắn trong cuộc sống, tại đứa này nó giỏi. Nghe chư thiên nói vậy mình có cảm thấy xấu hổ không? Có quê không? Hả? Quê không? Quê quá đi chứ sao nữa. Thì chư thiên lại đọc thấy tâm thôi rồi cái ngài phù hộ. Nhưng mà bản chất của ý nghĩ đó từ đâu? Bản chất của cái chấp ngã, của cái hơn thua, cái ganh tị, cái tham lam; bản chất của thánh tính nó từ đâu? Khi một vị thánh mà chứng được cái quả vị đó thì cái tâm tưởng của họ, kiết sử của họ là gì là gì? Chư thiên không thấy tới nha, trí tuệ chư thiên nhìn không tới.

[1:01:05]Chỉ những chư thiên nào mà chứng quả vị cao thì mới nhìn sâu được chút, còn bình thường là chỉ thấy ý nghĩ người ta, tha tâm thông chút vậy thôi. Cho nên cái mà để hiểu được bản chất của tâm thức chúng sinh thì phải là Phật. Cho nên chư thiên cũng vậy, họ muốn hiểu về những điều đó đến gặp Phật để để được nghe Phật dạy bảo và hiểu thêm về cái cấu trúc, tính chất, quy luật tâm thức sâu xa của tất cả chúng sinh. Mà hiểu cái quy luật tâm thức sâu xa của chúng sinh cũng là hiểu cho chính mình. Đó chư thiên cần những điều đó. Và khi biết như vậy thì các ngài điều chỉnh tâm lý mình được, giữ tâm lý mình ổn định để mà phước trời được lâu dài. Đó là vậy.

[1:01:53]Ví dụ chúng ta cũng vậy, khi chúng ta hiểu được tâm lý người khác, chúng ta hiểu được tâm lý mình, chúng ta sẽ sẽ điều chỉnh. Sẽ điều chỉnh thế nào? Ví dụ thế này, ví dụ như là nói a nói: "Thưa thầy, thì con cũng muốn cúng dường thì con a để dành tiền được mấy triệu á đem con cúng chùa. Nhưng khi để đúng cái số tiền 5 triệu rồi, khi cúng á thì con ngắt lại 2 triệu để con a mua đồ cho con, rồi 3 triệu thôi. Thì cái tâm lý đó là gì? Tâm lý đó là gì? Tâm lý nó có hai điều. Một là ta vẫn còn vẫn còn tham, ích kỷ, đúng không ạ? Đó. Hai, ta thất lời hứa với chính mình. Vì khi ta nguyện như vậy không ai biết,

[1:02:43]ta không nói với ai hết, ta chỉ nói với chính lòng mình thôi. Nhưng mà chính mình cũng đã thất hứa với chính mình. Ta có hai cái tâm lý đó: vừa cái tham, cái ích kỷ vẫn còn tồn tại đâu đó, cái tham đó nó ngắt bớt 2 triệu bỏ túi lại, đúng không? Và ta cũng thất hứa, nó vậy. Thì nhiều cái tâm lý nó còn sâu xa của cái tại sao ta lại có tâm lý thất hứa với chính ta, và cái tham này đã biết cúng chùa, bố thí tại sao nó vẫn còn ở phần nào mà nó ngắt bớt 2 triệu đáng lẽ ta phải cúng hết 5 triệu như ta đã tự hứa với lòng mình, tại sao? Những điều đó bên trong còn sâu xa, sâu xa nữa. Cho nên sau này, khi ta hiểu hết những cái cấu trúc đó

[1:03:20]rồi thì đến lần sau ta cũng để dành 5 triệu, ha. Ta cũng đừng ngắt bớt 2 triệu lại như là thói quen, nhưng ta nói: "Thôi, lần này ta phải chiến thắng với cái gì? Cái tâm lý thất hứa với chính mình". Đau khổ móc hết 5 triệu đưa cho thầy: "5 triệu đó, thầy làm gì làm đi". Nó quá đau khổ nghe.

[1:03:41]Thì khi ta hiểu cái tâm lý sâu xa, ta tự chiến thắng dễ hơn. Còn khi ta không hiểu được chính mình, ta ta hay thua cuộc. Nên các vị chư Thiên cũng vậy, và khi mà các vị chư Thiên hỏi Phật về những điều sâu xa về nhân quả, về nghiệp báo, về thánh tính, về phàm tính, bản chất chúng sinh, sự biến hóa của thế giới, của vũ trụ, thì việc cứu độ chúng sinh, thì tất cả những điều đó được gọi là gì? Giáo lý Đại thừa. Nha, những tính chất đó không nói cho con người được, mà chỉ nói cho chư Thiên đã có con mắt thiên nhãn biết hết rồi, không cần nói cái cái đó nữa. Những điều sâu xa hơn thì ta gọi là giáo lý Đại thừa, nha.

[1:04:27]Cho nên hôm nay khi ta bước vào ta học giáo lý Đại thừa thì ta giống như là chư Thiên, đó đó.

[1:04:38]Nghe ngon lắm mà ham lắm nha, đó ham tưởng mình chư Thiên là chết à. Cho nên ta là học ké cách của chư Thiên nha, chứ đừng nghĩ mình là... Đi ra ngoài bữa nay nghe Đại thừa xong đi về cái nói: "Nay đi nghe giáo lý gì vậy?". Nói: "Chị không hiểu đâu, nghe giáo lý này là em là chư Thiên rồi, chị không biết nổi đâu". Rồi chết à nha. Đây mình đang học ké chư Thiên. Cho nên cái câu thứ hai mà ta ta thắc mắc là: Tại sao Phật không triển khai cái nền tảng giáo lý Đại thừa cho đời sau trước? Thực ra Phật đã nói rồi, trong những bài pháp bí mật đối với với chư Thiên trong đêm vắng trên đỉnh núi cao. Như có một lần vậy, trên cái đỉnh núi

[1:05:22]Đức Phật an cư kiết hạ khoảng 3 tháng mùa mưa, ngài ở đó một mình, thì trời Đế Thích đã dẫn chư thiên tử đến để đảnh lễ Phật và hỏi pháp. À Đức Phật cũng đã đã thuyết pháp cho chư Thiên những điều rất là sâu xa nhưng được ghi lại một ít trong Trường Bộ kinh, à Đế Thích Sở Vấn. Hoặc một lần nữa, có một lần để mà thuyết pháp độ cho mẫu thân, sau khi hiển thị đại thần thông, Đức Phật đã lên trời Đao Lợi ở đó 3 tháng để thuyết pháp cho chư Thiên, thì những giáo lý đó cũng là giáo lý gì? Đại thừa cả, nha. Tuy nhiên, về trong sử thì vậy 3 tháng ở trên trời Đao Lợi Đức Phật thuyết pháp gì thì mỗi người cứ mà nói kiểu khác nhau.

[1:06:12]Và trong ba cái thuyết, phải không, một nói rằng: Trong 3 tháng trên cõi trời Đao Lợi, Phật nói Abhidhamma. Thuyết thứ hai: 3 tháng trên cõi trời Đao Lợi, Phật giảng kinh Địa Tạng. Thuyết thứ ba: 3 tháng trên cõi trời Đao Lợi, Phật thuyết kinh Đại thừa. Ta khoái thuyết nào hơn? Khoái thôi chứ không biết có đúng không. Thấy không, Phật giảng kinh Đại thừa nghe nó có lý hơn. Câu thứ hai, giờ tới câu thứ ba. Ở đây thế này, cái cảnh giới Niết bàn của A-la-hán là một điều bất khả tư nghì, không thể bàn luận. Chỉ nói là vị đó đã nhập Niết bàn, không còn tái sinh. Câu nói đó nghe nó đơn giản quá. Tức là người ta tu vô lượng kiếp, cúng dường bao nhiêu Đức Phật ha,

[1:07:06]làm bao nhiêu công hạnh, rồi đời này xuất gia từ bỏ hết tất cả, chịu khăn chịu khó ngày đêm tinh tấn thiền định bao nhiêu công đức để chứng Niết bàn, chứng Niết bàn rồi để không còn tái sinh trở lại. Nói: "Ủa, tái sinh bộ vui hơn à? Kiếp sau mình làm công chúa, hoàng tử đồ vui hơn, tự nhiên không tái sinh rồi không biết đi đâu, phải không à?". Ta nghe cái cảnh giới mà nói không còn tái sinh lại, tự nhiên mình thấy nó mờ mờ mịt mịt làm sao á, mình không hiểu. Và mình có cảm giác nó như cái gì? Xong phim.

[1:07:41]Chứ đâu biết rằng đó mới là một bộ phim mới mở ra, vĩ đại của cái Niết bàn đó. Nhưng mà ta không nghe kể nữa, ta có cảm giác như là ở trong phim người ta rút súng bắn được cái kẻ mà ác đùng, chết rồi. Cái rồi bắt đầu nhạc trỗi lên, cái dòng chữ chạy tên, ban gỡ... gì đó, các diễn viên nổi lên chạy chạy rồi đèn bật lên, xong phim, hết. Rồi ta không biết sau khi nó bắn chết đó rồi, nó sống ra sao, phải không? Hai người đã tìm được nhau rồi, họ sẽ sống ra sao? Họ có cãi lộn nhau như các cặp khác hay không, thấy không? Rồi chén dĩa có bay loạn xạ hay không, rồi có ly dị nữa hay không? Phải không, chứ còn thấy họ vất vả vì tình yêu,

[1:08:17]đấu tranh vì tình yêu cho đến ngày họ gặp nhau cái phim hết. Rồi không biết sau đó, ủa, thấy kỳ quá, ta còn thắc mắc sau đó nữa là cái gì. Cũng vậy, Niết bàn là cái gì? Niết bàn không còn tái sinh nữa. Cái người ta không thỏa mãn. Và chính rằng nói Phật pháp không thể đơn điệu mà mà mà sơ sài như vậy nên họ đi tìm cái Niết bàn đó là gì. Thì trong cái đi tìm cái Niết bàn đó là gì, bỗng nhiên nó phát sinh ra hai quan điểm. Một quan điểm là cứ cố gắng bày tỏ ra cái vĩ đại của cái Niết bàn đó. Cái thứ hai là mở ra một cái cái cảnh giới mới, đó là cứu độ chúng sinh, làm Bồ-tát, chứ không phải là không tái sinh nữa, mà là làm sao?

[1:09:05]Sẽ mãi mãi đến với chúng sinh, ở cõi trời, ở cõi người, đi vào súc sinh, địa ngục, ngạ quỷ, đâu cũng đi hết, đến với chúng sinh để mà mà hóa độ. Và một cái hướng là phân tích cái cảnh giới Niết bàn của A-la-hán. Đó, Đại thừa đã xuất hiện hai cái khuynh hướng sau cái lý luận về Niết bàn của A-la-hán. Vì Niết bàn của A-la-hán đơn giản quá, cái cách nói đơn giản quá, không thỏa mãn được cái tâm trí hay suy nghĩ của của con người. Đó, con người thì suy nghĩ lung tung mà. Nhiều người tu chưa đạt mà nhắn tin hay viết mail hỏi thầy đủ thứ chuyện trên trời, động trời động đất luôn. Nói: "Thưa thầy, chứng A-la-hán rồi tâm mình sao?

[1:09:48]Con ngồi thiền ví dụ khi có thần thông vậy rồi sao?". Hỏi toàn mấy chuyện mà chưa chứng mà cứ thầm hỏi: "Vũ trụ này từ đâu ra, con người từ đâu tới?". Đó, nhiều người gửi email hỏi thầy đủ thứ điều, nói toàn những điều nói: "Thôi, làm ơn ráng tu đi con à!". Hết chuyện. Cứ ngồi mà... nhưng mà con người ta cứ vậy, vừa tu vậy, nhưng mà vẫn cứ thắc mắc, cứ thắc mắc như vậy hoài. Hôm mai mốt, thầy sẽ giảng cái loạt bài là "Nhìn vào vũ trụ", thầy giải thích những cái điều đó ra. Đó. Thôi, tới đó đi, lúc nào rảnh rảnh rồi thầy sẽ giảng. Thì à nhớ như vậy, hai cái khuynh hướng: một khuynh hướng là cố gắng giải thích Niết bàn đó là gì;

[1:10:26]hai là không có cái chuyện mà không tái sinh nữa, buồn quá, phải làm gì cho nó vui, là sao? Cứ hóa độ tất cả chúng sinh, hết kiếp này tới tới kiếp kia, thực hiện cái ta gọi là hạnh Bồ... hạnh Bồ-tát. Đó đó, nên mở ra hai con đường. Mà hai con đường này nghe rất là gì? Rất hấp dẫn. À một cái mà giải thích Niết bàn A-la-hán là gì thì có Thiền tông, Tổ sư Thiền Trung Hoa, họ đi con đường đó, là cố gắng là đạt được sự cảnh giới chứng ngộ đó là "minh tâm kiến tánh" gì đó và giải thích Niết bàn mà theo cái các vị đó nhìn thấy được là thỏa mãn được cái tri thức con người. Niết bàn là gì thì bên Thiền tông, Tổ sư Thiền họ trả lời câu đó. Còn một bên là:

[1:11:12]"Thôi, không tái sinh buồn lắm, tái sinh nhưng mà tự tại, tái sinh nhưng mà không còn ô nhiễm trần gian, tái sinh mà không đau khổ. Để làm chi? Để cứu độ chúng sinh", thì đó là hạnh Bồ-tát. Đó, kinh Đại thừa bắt đầu sẽ mở ra hai cái hướng này, nha. Hôm nay thì ta dừng lại đây, thì tháng sau ta nghe tiếp. Đó, là hai cái hướng này nó đi vào kinh Đại thừa. Mà tháng sau cũng vậy, chư Thiên cũng đọc tâm ta đó. Cái người mà ăn gian không chịu ngồi thiền mà cứ đợi giảng rồi tới nghe, và một hạng người thứ hai cao quý hơn là cực khổ đến dự khóa thiền từ chiều thứ Sáu, để sáng Chủ nhật nghe giảng cho nó trọn vẹn công đức.

[1:11:52]Nó có hai hạng người trên thế gian này: một người ăn gian và một người không ăn gian nha, như vậy. Kính chúc cho quý Phật tử được là những người không ăn gian, nha.

[1:12:08]Thôi, sư phụ chúc mọi người an lành, hẹn gặp lại.

[1:12:16]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả,

[1:12:31]đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.

[1:13:35]Con về với núi, con về với sông, nghe lòng phơi phới theo nghìn cánh đồng.

[1:13:51]Thương từng em bé,

[1:13:55]thương từng ngõ xưa, bên đường con nghé,

[1:14:03]cây mọc quanh nhà.

[1:14:15]Quê hương yêu ơi, đêm về trăng lên ấm êm. Sông Lam mênh mông lượn quanh núi cao chập chùng. Cây đa năm xưa ru lòng cha say giấc trưa. Nương khoai xanh tươi khi bình minh đón ánh sương rơi.

[1:14:57]Ngày nay phố xá thênh thang rồi, đời vui reo rắt trong tim người, lời ca tiếng hát vang nghìn nơi.

[1:15:13]Còn ai có nhớ thương ai, nhiều chùa xưa có tiếng chuông ban chiều, người xưa đất nước có tình nhiều.

[1:16:19]Thương từng câu nói, thương từng tiếng cười, bên bờ kênh vắng,

[1:16:31]chim đậu yên lành.

[1:16:43]Quê hương yêu ơi, bao lần điêu linh chiến chinh, cha ông hiên ngang cầm gươm đứng lên diệt thù. Hôm nay con nghe như còn in nguyên dấu xưa, câu thơ bay xa cho tình quê rất thiêng liêng.

[1:17:16]Ngày nay có lúc ta quên rằng còn đây máu thắm trong

[1:17:31]tim hồng, tổ tiên vẫn đứng đây đợi mong.

[1:17:40]Chiều nay có đứa con quay về, lặng nghe tiếng gió đưa câu thề, mải mê đứng ngắm bóng trời quê.

[1:18:10]Ơ tiếng thơ, mái tranh vẫn khắc ghi tình sâu.