Lời giảng: Lý Thuyết Thực Hành Thiền 06

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:23:25

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]Kính thưa đại chúng, xá giảng sư. Mô Phật.

[0:17]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta học tiếp về lý thuyết và thực hành thiền. Nay thì chúng ta đi vào phân tích từng pháp môn để chúng ta có cái nhìn như thế này. Trước hết á là chúng ta sẽ thấy mỗi cái pháp môn á đều có cái ưu điểm, khuyết điểm riêng. Không có một pháp môn nào mà hoàn toàn ưu điểm hay hoàn toàn khuyết điểm. Nhờ như vậy thì mình có một thái độ thế này: đối với pháp môn mà mình đang tu á, mình không có độc tôn, nó sinh ra cái ngã mạn; và đối với pháp môn của người khác, mình có cái sự tôn trọng. Và như vậy, nó tạo nên được cái tinh thần hòa hợp, đoàn kết trong đạo Phật.

[1:12]Chứ nào giờ á, trong Phật giáo chúng ta mắc một cái bệnh nặng là bệnh độc tôn pháp môn. Khi mình tu pháp môn nào, mình cứ cho pháp môn đó là nhất, nên nó sinh ra mình nhìn các pháp môn khác một cách rẻ rúng, à gây sự chia rẽ tiềm tàng trong đạo Phật. Ví dụ trong đạo Phật có nhiều cái tông phái thì công kích lẫn nhau, rồi ngay trong một tông phái mà cái cách dụng công khác nhau cũng công kích, chỉ trích lẫn nhau nữa. Đó là cái nhược điểm lớn. Thì ngày hôm nay, khi mà chúng ta phân tích qua các cái phương pháp dụng công, chúng ta sẽ thấy, chúng ta có một cái nhìn toàn diện, tổng quát và mình tránh cái lỗi đó.

[1:52]Mình thấy pháp môn nào cũng vậy, hễ ưu mặt này khuyết mặt khác á, không có pháp môn nào tuyệt đối ưu điểm hết. Tuy nhiên, trước khi đi vào pháp môn để mà vào được chánh định, chúng ta nên nhớ điều này: pháp môn là để đi vào chánh định, còn cái chánh niệm mà chúng ta học mấy kỳ trước á chỉ là cái nền tảng. Chứ cái chánh niệm mà chúng ta học từ trước tới giờ, nó chưa phải là đỉnh cao của thiền định, mà nó là cái nền tảng, cái căn bản không thể thiếu được. Mà có người khi vào học đạo là nhiều khi được vị thầy dạy cho một pháp môn quá vội vàng. Bước vào, ông thầy ổng kêu niệm Phật liền hoặc bước vào,

[2:34]ông thầy ổng kêu quán thoại đầu liền thì bảo đảm người đó tu không tới đâu. Vì thiếu cái nền tảng của chánh niệm. Cái nhược điểm của chánh niệm ở chỗ này là nó khó giúp cho hành giả á vào định sâu thẳm.

[2:53]Cái nhược điểm của chánh niệm là như vậy, là nó khó giúp cho hành giả vào định sâu thẳm. Tuy nhiên, cái lợi của chánh niệm là thế này: nó làm cho mình có được cái tâm nó vô trụ trước và đạo đức, hai cái nền tảng quan trọng nó chuẩn bị cho chánh định sau này. Chúng ta lặp lại hai cái lợi của chánh niệm. Thứ nhất là nó sửa soạn cho chúng ta một cái tâm vô trụ, cái tâm vô trụ để làm nền tảng cho cái chánh định sau này. Vì cái chánh niệm á là chúng ta không trụ tâm vào một điểm nào hết, mà chỉ theo dõi cái tư tưởng phát khởi. Tuy dường như chúng ta hơi lui tâm về phía sau, bởi vì đó là chỗ manh nha của vọng tưởng,

[3:43]tuy có như vậy nhưng nó vẫn là không có trụ đâu hết. Cho nên cái tinh thần của chánh niệm nó có cái lợi là sửa soạn cho chúng ta được cái tâm vô trụ. Cái thứ hai là nó giúp cho chúng ta có đạo đức. Vì cái người mà thường xuyên kiểm soát tâm á thì những cái phiền não vi tế mình khám phá, mình hóa giải được. Cho nên được cái đạo đức. Chính hai cái lợi này của chánh niệm giúp cho mình sau này vào chánh định nó vững vàng. Còn cái nhược điểm của chánh niệm thì mình hồi nãy mình đã nói, cái nhược điểm của chánh niệm là không vào định sâu. Cũng có người họ từ cái chánh niệm, họ vào luôn chánh định, có chứ không phải không, nhưng hiếm.

[4:27]Với sau này nó có một cái lầm lớn trong nhà thiền chỗ này là đa số người ta đứng ở chánh niệm, người ta cho là cứu cánh của đạo Phật. Rất nhiều vị tông sư hiện nay, rất nhiều vị tông sư hiện nay đứng ngang ở chỗ chánh niệm, lập cước ngang ở đó, cho đó là đỉnh cao của đạo Phật. Có nhiều vị hiện nay rất là nổi tiếng thì cũng dừng ngang mức độ chánh niệm, cứ cho đó là là cứu cánh đạo Phật. Với có một cái này nữa, chúng ta để ý, cái chánh niệm á tức là cái tỉnh giác, chánh niệm tức là cái tỉnh giác để mà kiểm soát tâm. Và cái tỉnh giác này, chúng ta nhớ một điều nữa, nó rất khác với cái khái niệm giác ngộ của đạo Phật.

[5:15]Chúng ta nhớ, cái tỉnh giác samanati, nó cực kỳ khác với cái giác ngộ của đạo Phật. Hai khái niệm này khác nhau hẳn luôn, mà hầu hết bây giờ người ta bị lầm. Người ta cứ cho rằng cái tỉnh giác của chánh niệm này tức là cái ý nghĩa giác ngộ mà đạo Phật đề cập, sai hoàn toàn. Vì nếu theo cái con đường tâm mà chúng ta nói hôm trước á, thì cái tỉnh giác là nó khởi phát từ bắt đầu ý thức. Khi chúng ta nhập định thì nó mới vào sâu dần dần, dần dần đi vào vô thức. Thì đây cái tỉnh giác nó nằm ở đầu của ý thức, còn cái giác ngộ sự thật là nó vượt khỏi tâm thức, nó đến chỗ tuyệt đối mới được gọi là giác ngộ.

[5:51]Cho nên Đức Phật mà chúng ta gọi là Đấng Giác Ngộ là cái đấng mà vượt khỏi hết lớp tâm thức đến được tuyệt đối, chúng ta mới gọi đó là Đấng Giác Ngộ. Và bây giờ, vì chúng ta lầm hai cái chữ "giác" nó giống nhau, cho nên đa số người tu thiền cứ đứng ngang chỗ tỉnh giác, có thể tâm mình không khởi niệm, được tỉnh giác không khởi niệm, cho đó là đúng yếu chỉ của đạo Phật, tới đích của sự giác ngộ, sai hoàn toàn. Vì cái chữ giác ngộ của đạo Phật nó vĩ đại lắm, chứ nó không đơn giản ở chỗ tỉnh giác. Mà có một vài vị tông sư hiện nay cứ đứng ngang cái chỗ tỉnh giác này, có nhiều vị gọi là tỉnh thức nữa, rồi cho đạo Phật là đạo của tỉnh thức.

[6:28]À, rồi Pháp là con đường đưa đến tỉnh thức, và Tăng là những người thực hành sự tỉnh thức, rồi đạo Phật dừng ngang ở cái tỉnh thức tức là tỉnh giác đó, không phải. Thật sự đạo Phật là phải là giác ngộ, mà giác ngộ là vượt hết con đường tâm thức để đi đến tuyệt đối, vào bao nhiêu lớp chánh định mới thành tựu được. Nên nếu chúng ta hiểu đạo Phật chỉ ngang ở chỗ chánh niệm tỉnh giác là chúng ta đánh giá thấp đạo Phật. Đạo Phật không đơn giản như vậy. Còn cái chánh niệm tỉnh giác á, rất nhiều tôn giáo thực hiện được. Những đạo như là đạo Ấn Độ, đạo Lão, kể cả một số vị linh mục theo Thiên Chúa giáo vẫn thực hiện được sự tỉnh giác này.

[7:03]Nhưng mà còn riêng cái giác ngộ tuyệt đối đúng của đạo Phật thì chỉ có Đức Phật chúng ta là người đầu tiên khai xướng. Và bao nhiêu vị A-la-hán thực hiện được. Sau này cũng có nhiều vị đạt được, nhưng mà những vị đó thường ít nổi danh. Còn đa số những vị nổi danh thường khó đạt tới cái này, những vị đạt được cái mức trên này. Nên những luận bản của Thiền tông Trung Hoa mà chúng ta đọc á, chúng ta dễ bị lầm lắm. Chúng ta dễ bị lầm. Các vị đó có được cái tỉnh giác, ngộ đạo đó, có cái tỉnh ngộ đó, thì các vị đó đứng ngang cái chỗ đó, lập cước, bắt đầu lý luận về thiền, lý luận về đạo Phật. Chúng ta đọc, chúng ta ảnh hưởng,

[7:38]chúng ta tưởng ngang đó là cứu cánh của đạo Phật, cũng là một cái lầm khác. Chúng ta hãy xem ví dụ như ngài Trí Khải đại sư là giáo chủ tông Thiên Thai, ngài là khai tổ tông Thiên Thai, mà cái sức giác ngộ của ngài cho đến bây giờ mình ca ngợi là một vị rất là vĩ đại. Nhưng chúng ta đọc lại một câu chuyện nhỏ chúng ta sẽ thấy. Trong cái chùa ngài có cái ông đó ổng công quả, ổng cư sĩ công quả nấu bếp. Hôm đó ổng ngồi ổng nhìn cái lửa cháy, ổng nghiệm cái lý vô thường. Ngay đó ổng nhập định hai ngày luôn. Khi ổng xuất định ra, ổng đến ổng trình bày với ngài thế này. Khi bắt đầu ổng diễn tả cái cái định của ổng từ từ

[8:15]từ từ, bắt đầu ổng diễn tả lần lần lần lần tới đoạn sau nữa, thì ngài Trí Khải mới than là: Ở đoạn đầu ông nói thì ta hiểu, nhưng đoạn sau ông nói nữa ta không hiểu. Thì chúng ta thấy, nghĩa là ngài lúc đó là ngài là khai tổ một tông, mà trong chúng ngài có một người cư sĩ nhập định hai ngày, mà ổng đem sở đắc ổng trình cho ngài thì qua đoạn sau, cái sở đắc của ổng vượt khỏi ngài, ngài không hiểu nổi. Mà đến bây giờ mình vẫn coi là cái sở chứng của ngài Trí Khải là vĩ đại, nhưng mà trong thực tế truyện sử chép lại, ngài thua cái người cư sĩ trong chùa. Lúc đó ngài mới hỏi thế này: Ông có nhớ túc mạng không? Nói:

[8:51]Dạ con nhớ được vài kiếp. Nghĩa là ổng nhập định hai ngày xong ổng nhớ được vài kiếp của ổng liền. Ngài mới hỏi là: Vậy ông có nhớ tại sao mà được định sâu mà lại làm cư sĩ? Ổng mới trả lời là: Bạch Hòa thượng, vì đời trước con là một vị tri sự trong chùa, rồi con lấy rau của chúng á, con đem con cho khách. Vì cái lỗi đó nên đời này con phải làm cư sĩ công quả để phục vụ chúng Tăng, trả cái nợ trước. Nhưng ở đời trước con lúc nào cũng chăm chú lo tu thiền, nên đời này con dễ ngộ. Nên là nhập định ổng gọi là ngộ liền thấy chưa, nên các khái niệm định, ngộ rất gần nhau, không có khác nhau lắm đâu.

[9:27]Nên đời này con dễ ngộ, nhờ đời trước siêng tu. Mà chỉ là cái lỗi là làm tổn phước là lấy đồ của chúng Tăng cho người ngoài mà không có ý chúng Tăng, tự ý, mặc dù là tri sự, đời này phải làm cư sĩ công quả trả nợ, phục vụ chúng Tăng trả nợ. Nên những câu chuyện như vậy để chúng ta thấy, những bậc tông sư mà nổi danh á, chưa chắc là người có sở chứng cao. Còn những vị mà thật sự có sở chứng cao, nhiều khi họ không có cái phước để nổi danh, họ lại sống thầm lặng. Nên chúng ta lặp lại khái niệm chánh niệm tỉnh giác để chúng ta thấy.

[10:01]Đó là lý do mà hôm nay chúng ta tham khảo qua mười pháp môn á, để chúng ta có cái nhìn đạo Phật toàn diện hết, đừng có thiên lệch kể cả với Thiền tông, cũng đừng có nghiêng thiên lệch.

[10:14]Bây giờ chúng ta định nghĩa giữa chánh niệm và chánh định trước. Chánh niệm á là vô trụ biết vọng tưởng, còn cái chánh định có an trụ một đề mục, tắt hoàn toàn vọng tưởng mới gọi là chánh định.

[10:34]Chúng ta nhớ hai khái niệm này khác nhau rõ. Chánh niệm á thì vô trụ mà chánh định là có an trụ vào một đề mục chứ không phải là không. Còn cái chánh niệm, yêu cầu của chánh niệm á chỉ là biết vọng tưởng thôi, vọng tưởng khởi lên mình tách ra được tức là được chánh niệm. Còn chánh định là yêu cầu khi mình tập trung vào một đề mục là vọng tưởng phải tắt hoàn toàn mới gọi là chánh định. Đây là hai điểm khác nhau. Thì trong cái chánh định này nó phù hợp với một lý luận của của y học. Y học về thần kinh á, về thần kinh nó như thế này, là cái câu nói của các nhà bác sĩ họ nói như thế này, bác sĩ tâm thần kinh á, khi cái não mình đó à

[11:15]họ dùng cái chữ này là hưng phấn, một vùng não mà được hưng phấn mạnh, một vùng não được hưng phấn mạnh thì các vùng não khác đi vào trạng thái ức chế.

[11:30]Thì cái lý luận này phù hợp với cái chánh định của đạo Phật, là khi một vùng não được hưng phấn mạnh thì tất cả các vùng não khác đi vào trạng thái ức chế. Nghĩa là chúng ta tập trung vào một hoạt động ví dụ như hơi thở hay niệm Phật mà cho nó mạnh, cho đủ sức của nó đó, mạnh đừng có nghĩa là dằn ép nha, dằn ép trật liền, điên liền. Mạnh tức là tự nó thôi. Vùng đó nó kể như cái thần kinh hơi thở mình hoạt động thật mạnh, mình tập trung hơi thở thật mạnh thì tất cả vùng não khác đi vào trạng thái ức chế, tắt vọng tưởng. Cho nên cái lý luận này nó phù hợp với cái lý luận chánh định của đạo Phật.

[12:05]Đó là hai cái khác nhau. Bây giờ chúng ta bắt đầu nói tới pháp môn niệm Phật trước. Thật ra mới ban đầu như chúng ta nói hôm trước á, pháp môn mà Tịnh Độ dựng lập do cái thời bên Ấn Độ khi ngoại đạo nó khởi lên mà cạnh tranh với đạo Phật, họ hứa hẹn với tín đồ của họ là nếu theo cái tín ngưỡng đó thì chết được sinh về cõi trời. Đa số người tín đồ không đủ sức dụng công để tìm được cái sự an lạc trong hiện tại nên họ tin vào cái sự hứa hẹn đó. Bây giờ mình thấy nhiều người bây giờ cũng vậy chứ không không không khác. Thời xưa thời nay y chang nhau. Chính vì vậy có những vị tổ táo bạo, nhưng mà những vị tổ này tôi tôi tin là vị đắc đạo.

[12:49]Tại vì những cái ẩn ý mà các ngài gài vào tông Tịnh Độ đó, chúng ta có thể giải thích theo ý thiền được hết, chứ không có cái lầm. Nên tôi tin rằng đây là những vị đắc đạo nên quyền khai phương tiện để mà hướng dẫn tín đồ trở lại với đạo Phật, đừng để họ rơi vào tà kiến của các đạo khác. Nhưng mà đa số chúng ta đến với đạo Phật mà niệm Phật là chúng ta do chúng ta tin vào Đức Phật A Di Đà. Tin vào Đức Phật A Di Đà hoặc là có một số người niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, có vị thì niệm danh hiệu Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang. Thì do đây là chúng ta có cái niềm tin kính. Như vậy cái ưu điểm của tông Tịnh Độ là thế này:

[13:26]cái ưu điểm của tông Tịnh Độ là chúng ta niệm Phật trong cái lòng kính và tin. Thì khi một người mà có cái sự kính trọng và niềm tin tưởng thì người này dễ trở thành một người hiền lành, vô ngã. Đây là cái ưu điểm của tông Tịnh Độ. Cho nên cái người niệm Phật chúng ta thấy họ hỏi tu sao? Nói dạ em biết niệm Phật thì mình thấy họ ít có ngã mạn hơn các pháp môn khác. Đây là cái ưu điểm, tại vì khi họ niệm Phật họ niệm trong cái lòng kính trọng và tin tưởng. Tuy nhiên cái nhược điểm của cái lòng tin này này là chúng ta dễ rơi vào cái bệnh cả tin, cho nên đây là cái nhược điểm của tông Tịnh Độ. Cái người mà được nuôi dưỡng trong cái tinh thần kính

[14:07]trọng và tin tưởng thì cũng dễ rơi vào cái cả tin. Thì sau này khi mình bước ra cuộc đời đó, người ta nói cái gì thần bí mình cũng dễ tin liền, mà không có xét. Đó là lý do tại sao ta thấy là những người tín đồ mà theo Tịnh Độ tông á, họ dễ tin những chuyện thần bí, thiêng liêng hơn những người tu các tông phái khác. Như bên Thiền tông mà nghe nói ở đâu huyền bí cái chứ họ xét lại, coi chừng. Còn mấy bà cụ, ông cụ mà tu Tịnh Độ mình nghe nói ở bên kia linh lắm cái là tin liền, là bởi vì quen huân tập cái niềm tin, đây là nhược điểm của tông Tịnh Độ. Bây giờ cái yếu chỉ là như thế này: có nhiều vị dạy đệ tử nói rằng khi niệm thì lắng nghe tiếng niệm của mình.

[14:48]Lắng nghe tiếng niệm, nhưng mà đây là sai. Cái lối như vậy nó không phải. Lắng nghe tiếng niệm của mình sau này sẽ bị nhức tai và nhức đầu. Tại mình tưởng là từ cái vùng não mà mình khởi lên cái tiếng niệm và cái vùng não để mình nghe tiếng niệm đó nó nằm một chỗ nhau, gần ở trong não á, làm sao tách nó thành ra hai đối tượng để nghe nhau được. Cho nên chúng ta đi tìm cái nghe tiếng niệm của mình sẽ bị nhức đầu. Mà cái yếu chỉ nó xuất phát từ chánh niệm. Chúng ta nhớ pháp môn nào cũng đi từ chánh niệm hết trơn á, khởi đầu từ chánh niệm hết á. Cho nên chúng ta tu chánh niệm cho kỹ là như vậy, nó có lợi lắm.

[15:20]Là từ cái biết của chánh niệm mà bắt đầu vào định, vào cái pháp môn niệm Phật. Là khi niệm, thí dụ như Nam-mô A Di Đà Phật, chữ "Nam" mình niệm thầm chứ không cần niệm vang tiếng, niệm thầm. Khi mình niệm thì mình luôn luôn biết rõ từng tiếng niệm. Yếu chỉ của nó là nhẹ nhàng nhưng mà biết rất rõ từng tiếng niệm, chỉ vậy thôi. Do đó là tức là mình nói có an trụ một đề mục tức là tâm mình chú vào, biết rõ vào từng tiếng niệm nó đang vang lên trong lòng mình. Thì ngay cái chỗ mà khởi niệm lên và ngay cái chỗ biết nó là một chỗ luôn. Cho nên cái niệm và cái biết nó hợp nhất với nhau lại. Đây là cái biết không hình không tướng, nhưng mà từng tiếng niệm vang

[16:02]lên trong đầu mình, mình biết rõ từng tiếng, từng tiếng thong thả. Ở chỗ này nó có một cái là

[16:12]trong cái chánh định á, nó có một cái điều nữa là khi mà tâm chúng ta tập trung mạnh, hưng phấn mạnh hay là an trụ mạnh vào một đề mục á thì nó sẽ bị mệt mỏi, nó bị cái trạng thái mệt mỏi, não mình nó bị mệt mỏi. Mà nếu chúng ta không có kinh nghiệm, chúng ta cứ niệm liên tục mà cho đó là miên mật, ai ngờ lại đi đứng nằm ngồi đều niệm Phật thì tôi bảo đảm chắc chắn rằng nếu người này mà không có căn tu, không có sức định từ kiếp trước thì người này không bao giờ thành công. Bởi vì lúc đó não nó mệt mỏi rồi, niệm lâu quá. Cái sức an trụ nó nó tập trung mạnh quá nên não bắt đầu nó mệt. Mà khi nó mệt á thì cái sức hưng phấn này nó yếu, nó không còn mạnh nữa.

[16:53]Mà khi sức hưng phấn nó yếu rồi thì các vùng não khác không còn được ức chế nữa. Bắt đầu có những vọng tưởng xen kẽ lên bên cạnh cái tiếng niệm Phật của mình. Điều này không biết quý sư có thực tập thử chưa? Có ai niệm Phật thử sẽ bị tình trạng này. Nghĩa là trong khi mình đang niệm Phật mình vẫn thấy có những vọng tưởng nó khởi bên cạnh. Lý do tại sao? Là tại vì mình niệm hoài không biết nghỉ. Lúc mình niệm á là khi cái tâm mình tập trung mạnh quá, mình biết á nên mệt mỏi dù không mạnh lắm nhưng mà nó vẫn làm cho mình mệt mỏi nhẹ nhẹ từ từ. Đến lúc mà cái sức tập trung nó yếu rồi thì những vùng não khác không còn được ức

[17:28]chế nữa, nó sẽ vọng tưởng len lén nó khởi lên bên cạnh cái tiếng niệm của mình. Cho nên người mà tu theo đề mục á, tức là vào chánh định á, chúng ta phải biết nghỉ xen kẽ, xen kẽ trong từng giai đoạn, chứ không được niệm Phật luôn một loạt. Ví dụ như là chúng ta niệm mười tiếng hay hai mươi tiếng ngừng lại, ngừng lại chúng ta an trụ trở lại chánh niệm. An lại cái chánh niệm vô trụ. Chánh niệm là cái vô trụ rỗng rang mà, lúc đó nó nghỉ chúng ta thư giãn trở lại, thư giãn trở lại. Thì thư giãn một lát lấy sức lại, lúc đó não mình nó phục hồi lại bắt đầu mình tập trung niệm mười tiếng lại hay hai mươi tiếng lại, tùy theo cái sức của mình.

[18:07]Mới ban đầu đừng có ham đi nhanh, đừng có ham niệm một lần mà hai mươi tiếng niệm, ba mươi tiếng niệm là không thành công đâu. Cái người mà đi ít á, người đó sẽ đi xa được. Còn người mà mới ban đầu mà ham mà đi vội, đi nhiều, đi nhanh, về sau không đi tới đích. Cho nên pháp môn nào cũng vậy, như câu niệm Phật đầu tiên chúng ta vào chúng ta niệm mười tiếng, hai mươi tiếng ngừng lại, an trụ lại chánh niệm rỗng rang, kiểm soát vọng tưởng, thư giãn, nghỉ ngơi điều thân lại, ngồi yên nó điều thân lại. Đó, ta dùng cái biết của chánh niệm nên chánh niệm là cái nền tảng rất quan trọng. Thiếu chánh niệm mà chúng ta bước vào pháp môn nào cũng sai, cũng thành bệnh hết.

[18:42]Tập lại chánh niệm cho kỹ. Đó đó, rồi từ từ mới tăng lên. Tăng lên là tới khi niệm dần dần được hai ba tiếng hai mới là ba mươi tiếng niệm mình mới nghỉ. Rồi một thời gian mình thấy trong ba mươi tiếng niệm á hoàn toàn không có vọng tưởng nó đi kèm thì mình tăng lên bốn mươi tiếng niệm, năm mươi tiếng niệm, tới một trăm tiếng niệm. Mình niệm liên tục một trăm tiếng niệm Phật mà không thấy một cái vọng tưởng nào nó khởi kèm lên bên cạnh tức là cái sức định mình đã được kéo dài. Nhưng mà một trăm thôi dừng lại đó, ngồi nghỉ một lát. Nghỉ bằng chánh niệm an trụ rỗng rang, kiểm soát vọng tưởng, điều thân lại, nghỉ ngơi.

[19:15]Một lát nó thư giãn, niệm một trăm tiếng khác. Cho nên trong cái niệm Phật á, thường mình hay biết số đếm của nó là vậy, nên tập trung căng thẳng lắm chứ không có dễ. Tuy căng thẳng mà chúng ta nhớ điều này: nếu mà chúng ta niệm Phật mười tiếng, trong mười tiếng niệm đó mà có vọng tưởng xen kẽ thì sao? Thì mình biết là mình chưa đủ căn cơ đi vào chánh định, nên lui lại tu chánh niệm cho kỹ. Đừng có vội. Tức là cái sức của mình chưa đi vào đề mục được, chưa đi vào chánh định được thì mình lui lại, lui lại tu chánh niệm, tức là ngồi kiểm soát tâm cho nó nhẹ nhàng, thanh thản theo từng bức tranh số hai tới bức tranh số năm.

[19:59]Rồi đến cái vô niệm á, khi mà chúng ta có thể nghĩa là niệm Phật đến khoảng 300 tiếng niệm Phật mà không có vọng tưởng đi kèm. Không có vọng tưởng đi kèm thì lúc này là nhưng mà cái, đúng ra là pháp môn niệm Phật đến chỗ này nó không đưa mình đến cứu cánh được nữa, nó không đưa mình đến hết con đường tâm được. Đây là cái nhược điểm thật sự. Chúng ta biết cái phần trên này đó là phần ý thức, phải không? Phần dưới này là vô thức. Cái niệm chúng ta nó khởi ở đây nè, cái niệm cố ý nó khởi ở cái giáp ranh giữa ý thức và vô thức. Thì khi mà chúng ta khởi câu niệm Phật là từ ở đây chúng ta khởi đó, từ đây chúng ta khởi.

[20:39]Cho nên khi mà chúng ta áp dụng đúng, an trụ từng đề mục, từng tiếng niệm rõ ràng thì nó giúp chúng ta định lần lần từ khoảng này, nó sẽ giúp chúng ta định từ khoảng này đến khoảng này. Nhưng mà nếu chúng ta tiếp tục giữ cái tiếng niệm Phật thì chúng ta đứng đây luôn, không vào vô đây được nữa. Tại chúng ta vô đây là không cho phép chúng ta dùng cái tiếng niệm đó, không cho phép nữa. Tại vô tới đây nó qua khỏi cái chỗ khởi ý rồi, cái ý cố ý nó hết khởi rồi. Cái tâm cố ý á nó giáp ranh giữa ý thức và vô thức. Mình dùng nó để mình định từ cái đầu ý thức cho đến khúc này, được rồi. Nhưng mà nếu mình muốn đi vào đây nữa mà mình đứng ở đây mình niệm,

[21:16]khởi niệm hoài thì chỗ này nó động hoài, mình không vào sâu được nữa. Cho nên đến chỗ này buộc lòng phải buông câu niệm Phật, buộc lòng buông câu niệm Phật. Nhưng mà đây là một cái chỗ bế tắc, là khi chúng ta buông câu niệm Phật rồi thì tâm chúng ta nó được cái trạng thái thế này: nó giống như Chánh niệm, nghĩa là không có an trụ; nhưng nó giống như Chánh định, tức là trong cái không an trụ đó vọng tưởng tắt hoàn toàn. Đây là cái giống Chánh niệm mà giống Chánh định. Nó tâm nó phủ trùm, chỗ này là tâm phủ trùm, khi mình buông tiếng niệm rồi tâm mình phủ trùm, không vọng tưởng, không trụ, rỗng rang,

[21:53]tỉnh sáng, nhưng mà không có con đường để mình đi vô tiếp nữa. Tới đây bế tắc, pháp môn niệm Phật tới đây bế tắc. Có ít thần thông rồi, có thần thông xài đỡ rồi, có thể bói, tiên tri đồ được chút đỉnh, nhưng mà ngang đó đứng lại, không còn con đường để mà vào trong vô thức được nữa. Trong cái pháp môn niệm Phật thì nó có một cái nguy hiểm là có nhiều vị thầy khuyến khích đệ tử mình ngồi đó quán tưởng cảnh Tây Phương Cực Lạc. Thì cái này là cái nguy hiểm. Vì những cái trong kinh Di Đà mà nói về cảnh Tây Phương á là hoàn toàn ám chỉ cho cái nội tâm thanh tịnh, mà ông thầy ổng không biết, ổng kêu đệ tử quán cái cảnh đó như là một cảnh thật.

[22:38]Tức là ngồi quán Phật Di Đà thân tướng vàng ròng, cõi giới đất bằng vàng, hoa sen nở, chư Bồ Tát vây quanh thì toàn là gợi ý tưởng tượng của người đó lên. Trong khi mình đi vào định á thì mình phải tắt hết mọi cái hoạt động của não. Trong khi thầy kêu đệ tử ngồi quán tưởng là khơi động lại những cái hoạt động của não. Cho nên người này không vào định được, mà nếu không khéo lâu ngày sẽ bị điên. Có một ông đó ổng tu niệm Phật, ổng tu tinh tấn lắm, mà niềm tin ổng quá tha thiết mãnh liệt đi, nên khi mà ổng nhiếp tâm vào định từ từ từ từ cái vô thức nó trỗi dậy. Lúc ổng đang ngồi trên cái phản á, cái đi-văng á, ổng ngồi ổng niệm Phật.

[23:16]Trong cái lúc ổng nhắm mắt mà ổng nhiếp vào định cái ổng thấy Phật A Di Đà bước tới đưa cái hoa sen, kêu ổng bước lên để rước về cõi Tây Phương. Ổng đứng lên ổng bước xuống cái ổng rớt, rớt té. Tại vì làm gì có ông Phật A Di Đà nào đưa hoa sen cho ổng bước lên? Ổng chỉ thấy cái ảo ảnh trong tâm, ổng tưởng là thật nên ổng đứng dậy ổng bước lên, thì bước khỏi đi-văng rớt xuống đất liền. Cái từ đó không biết ổng có bị chấn thương sọ não không, từ đó ổng điên luôn. Cho nên một pháp môn tu hành mà khơi động sự tưởng tượng là điều không tốt. Dù Chánh niệm hay Chánh định thì luôn luôn cần chúng ta tắt hết mọi cái sự tưởng tượng đó.

[23:53]Một lát chúng ta sẽ nói đến cái điều trong kinh Lăng Nghiêm mà nói một vị Tỳ kheo ngồi nhập định tưởng nước mà người ta kêu quăng cục đá vô, lát mình nói cái đó. Thì bây giờ chúng ta phân tích lại cái pháp môn niệm Phật. Cái ưu điểm á là làm cho cái người tu họ hiền lành, ít có ngã mạn, từ cái lòng kính trọng, tin tưởng và họ bước được vào định. Họ phải biết thêm một số cái cái cơ cấu của Chánh định nữa là tập trung đề mục, đừng có tập trung lâu. Trong 5 câu, 10 câu ngừng lại, an trụ trở lại Chánh niệm, nghỉ ngơi, sau đó tiếp tục an trụ lại. Nếu trong 10 câu niệm Phật mà vẫn có vọng tưởng đi kèm,

[24:29]tức là cái sức chánh niệm tỉnh giác trước kia chưa đủ, bỏ, lui trở lại tu Chánh niệm một thời gian đã rồi tiếp tục trở lại. Bởi vì trong cái Chánh niệm của mình mình có cái phước nữa, vô tình nó thành cái đạo đức nên nó có cái phước. Chúng ta được định là nhờ phước nha, chúng ta nhớ điều đó. Dù chúng ta áp dụng pháp môn này, pháp môn kia để vào định, nhưng mà vào định được hay không là do cái phước tích lũy từ nhiều đời và trong đời này, chứ không phải tại cái pháp môn hay là tại cái khả năng dụng công hay tại cái tài năng, tinh tấn của mình. Những cái đó nó chỉ trợ duyên trong hiện tại, còn cái gốc thật sự của cái định của mình là do phước từ nhiều đời.

[25:06]Thì một người tu Chánh niệm á được cái hiền lành, đạo đức nên hình thành cái phước. Do cái phước đó mình bước vào mình tu Chánh định, mình nhiếp tâm được. Còn khi mình vào Chánh định mình tu trong đề mục mà thấy vọng tưởng nó không tắt hoàn toàn thì biết phước mình chưa đủ, Chánh niệm mình chưa đủ. Mình lui lại, tu Chánh niệm lại, rèn luyện đức hạnh, tạo công đức lại, khoan vội vàng bước vào Chánh định, nó sẽ trở ngại. Một cái yếu chỉ của niệm Phật là biết rõ từng tiếng niệm. Cái nguy hiểm của câu niệm Phật là quán tưởng những cảnh Tây Phương, kích động sự tưởng tượng của não, không tốt. Và một điều nữa trong Tịnh Độ cần là cần kết hợp với cái quán

[25:47]vô ngã, quán vô ngã để chúng ta diệt cái bản ngã mình luôn. Vì sao? Vì bản ngã mình nó kỳ lắm, hễ mình làm được cái gì mà có công phu một chút cái nó nổi lên. Hễ mình ngồi mà mình tu được lâu, niệm Phật được nhiều, cái mình thấy mình có công, cái bản ngã nổi lên. Đó là cái nhược điểm chung. Cho nên chúng ta tu pháp môn nào cũng nên có cái quán vô ngã, cái Chánh niệm làm căn bản để tránh cái bản ngã của mình. Giờ chúng ta nói qua cái trì chú. Cái trì chú cũng là một cái câu mà chúng ta tạm gọi là cái câu đó vô nghĩa. Nói vô nghĩa chứ người Ấn Độ họ hiểu hết trơn á. Tại khi mà phiên âm từ cái tiếng Ấn Độ qua tiếng Trung Hoa rồi qua tiếng Việt

[26:30]Nam, mình thấy câu vô nghĩa, chứ bên Ấn Độ cái câu đó nó có nghĩa nha. Ví dụ như là cái câu mà "Úm ma ni bát mê hồng" á, thì "Úm" là cái câu mà một chữ linh thiêng, còn "ma ni bát mê hồng" là "viên ngọc trong đóa sen", nó có nghĩa của nó. Hoặc như cái câu chú của Bát Nhã, cái câu mà "Yết đế yết đế, Ba la yết đế" đó, "Ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha", thì tiếng Ấn Độ của nó là: "Gate gate, pāragate, pārasaṃgate, bodhi svāhā". Cái câu đó có nghĩa là: "Gate" là đi, đi, đi qua bên kia, đi qua bờ bên kia, viên mãn. Cho nên cái câu đó người Ấn Độ hiểu hết trơn à, mà khi dịch qua bên mình mình không hiểu.

[27:11]Hoặc là như chú a chú Dược Sư, chú Vãng Sanh á, nó có nghĩa hết á, nhưng mà khi mình áp dụng thì mình trở thành không có biết nghĩa. Tuy nhiên, nó thế này: cái người trì chú khác với người niệm Phật. Cái người niệm Phật á là tin vào Đức Phật thiêng liêng, cao siêu, tức mình có kính trọng và mình mong nhờ cái sự gia bị của vị Phật đó. Còn bên trì chú á thì họ tin vào cái năng lực, cái năng lực phi thường của câu thần chú, là họ tin rằng khi mà trì câu chú, thần thông sẽ xuất hiện. Đó là yếu chỉ của trì chú, từ cái niềm tin này mà họ trì chú. Bên Mật Tông á, cái yếu chỉ của Mật Tông nó phức tạp lắm.

[27:56]Ví dụ như là miệng trì chú đó phải kết hợp với ấn quyết nữa, tức là tay bắt ấn, bắt quyết thế nào cho nó đúng, rồi coi cái tư thế đứng thế nào, ngồi thế nào cho đúng, và ý phải thanh tịnh. Này họ gọi là "Tam mật tương ưng": Ý mật, Khẩu mật, Thân mật. Đó. Nhưng mà chưa hết, còn cái hoàn cảnh mật nữa. Nghĩa là họ kiến lập một cái đạo tràng, họ ngồi trì chú trong một cái am, cốc, một cái hang động, nhưng mà trong đó phải được trang trí bằng những vật tinh khiết, thiêng liêng như là những tượng thánh, những cái đạo bùa mà mình gọi là mandala đó, mantra, những cái mantra. Họ tin rằng những cái mandala này nè là những cái phù chú nó yểm trợ chung quanh.

[28:36]Cho nên họ bước vào một cái đạo tràng để mà trì chú với một cái lòng tin tưởng cực độ, với một sự miên mật, tập trung rất là căng thẳng. Đó là yếu chỉ của Mật Tông. Và nếu họ đã có cái căn bản Chánh niệm thì họ trì chú cũng giống như là chúng ta nói như niệm Phật, là biết rõ từng tiếng niệm, biết rõ từng tiếng niệm. Và nếu họ biết luôn cái yếu chỉ là không có tập trung vào cái đề mục quá lâu, họ tập trung trong khoảng 10 câu, 20 câu hay 50 câu họ dừng lại rồi mới trì tiếp câu khác thì tâm họ bắt đầu vào định. Và khi họ vào định rồi, chuyện gì sẽ xảy ra? Chuyện gì xảy ra?

[29:24]Thần thông xảy ra, người mà trì chú thần thông mau có. Tại vì khởi điểm của họ là tin vào cái năng lực phi thường câu thần chú. Mà cái niềm tin á, nó đánh thức cái vô thức của mình dậy, mà chúng ta nhớ cái vô thức của mình nó có thần thông. Cho nên khi mình tu mình tập trung cái hướng về thần thông, nhiếp vào định được, thần thông xuất hiện liền lập tức. Còn người niệm Phật mà không có thần thông là bởi vì họ không có cái niềm tin hoặc là cái thú hướng về thần thông từ buổi đầu, họ chỉ mong được vãng sanh thôi, cho nên nó không xuất hiện cái đó sớm. Còn người tu trì chú vì tập trung vào cái thần thông,

[29:59]tin vào thần thông, mong ước thần thông, nên khi nhiếp vào định được thần thông khởi lên liền. Còn người mà tu các môn thiền khác như là thoại đầu, công án, vân vân, thì họ nhiếp vào định được cái là kiến giải xuất hiện liền. Tại vì họ thú hướng về kiến giải, họ thích kiến giải, họ thích những cái câu nói thiền ngữ cao siêu bí ẩn, cho nên nhiếp vào định được thì kiến giải tuôn trào. Đó nên nó tùy mình, tùy cái sự thú hướng, mong ước của mình một cách tiềm tàng mà nó sẽ khởi ra khi mình vào định. Thì cái trì chú này đó, nếu mà nhiếp vào định thì cũng giống như niệm Phật đó. Nếu chúng ta đứng ở ngoài nó cũng chỉ giáp ranh ở giữa ý thức và vô thức.

[30:38]Thì cái phần ý thức, cái phần vô thức, thì cái câu khởi niệm nó đứng ở ngang chỗ giáp ranh này. Chúng ta cứ tiếp tục mà niệm thì có thể được định từ khoảng này xuống khoảng này, nhưng mà nó không đưa mình đi vào sâu được nữa. Tại vì mình cứ cố ý khởi niệm là nó động cái vùng thần kinh đi hoài, nó giống kia, mặc dầu nó kích động được thần thông từ vô thức khởi dậy. Một cái nhược điểm lớn của người tu Mật tông là ngã mạn, nóng tánh. Đây là cái nhược điểm lớn. Vì sao? Vì nếu mà người đó không được ông thầy hướng dẫn cái quán vô ngã cho kỹ, khi mà thần thông khởi lên thì luôn luôn thấy mình hơn người khác.

[31:19]Tại sao mình có thể tiên tri, mình chữa bệnh? Cái ngã nổi lên. Cái ngã nó khởi lên rồi thì bắt đầu cái nóng tánh đồ nó khởi theo. Đây là cái nhược điểm lớn của người tu Mật tông. Quý sư mà gặp những người tu Mật tông mà đắc lực chút thì thấy điểm này nè, thấy rõ. Không biết quý sư có chứng kiến chưa, thấy chưa, có gặp ai chưa? Có gặp chưa? Những người tu Mật tông vậy đó, họ nóng tánh là bởi vì cái ngã nó lớn do cái khi họ khởi lên từ cái năng lực thần thông, họ tin, họ chữa bệnh được, tiên tri được, cái ngã mạn. Bên Tây Tạng á, khi mà đạo Phật tràn vào Tây Tạng thì các vị tổ dựng cái Mật tông lên trước, là đạo Phật cũng có phù chú y như họ nên họ tiếp nhận đạo Phật.

[32:08]Và đạo Phật của Tây Tạng là đạo Phật Đại thừa, những kinh lớn như là Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm, Niết Bàn cũng tràn vào Tây Tạng. Và chúng ta nhớ cái tạng kinh Tây Tạng nhiều hơn tạng kinh Ấn Độ. Không biết ai soạn bớt hay thế nào sau này. Nghĩa là những bản kinh mà bên Tây Tạng có ở Ấn Độ không có, lạ lùng vậy. Như còn bên Trung Hoa vậy, như là bài kinh Địa Tạng, kinh Địa Tạng là chỉ Trung Hoa mới có nha, chứ Ấn Độ không có. Nghĩa là khi chúng ta liệt kê hết những kinh điển mà có trong cái tạng Ấn Độ bằng chữ Phạn Sanskrit á thì không có kinh Địa Tạng, nhưng mà qua tới Trung Hoa thì xuất hiện thêm kinh Địa Tạng.

[32:45]Thì bên Tây Tạng cũng vậy đó, có nhiều bài kinh mà bên Ấn Độ không có mà bên Tây Tạng có, mà lý luận cao siêu lắm, không tưởng được. Bên đó mới thành lập một cái gọi là, có hai cái phái hồi xưa là phái Hồng Mạo và Hoàng Mạo. Phái Hồng Mạo thì lần lần họ bị tha hóa, nó suy đồi, nó sa đọa, nên có vị tổ là Tông Khách Ba ổng mới lập ra phái Hoàng Mạo, dựng lại cái đạo đức, cái giới luật. Thì một vị thánh nổi tiếng của Tây Tạng mà được người Tây Tạng thờ còn hơn Đức Phật là ai? Chắc chúng ta cũng biết hết rồi, ai? Milarepa. Milarepa. Nghĩa là người Tây Tạng á họ thờ ông Milarepa còn hơn Đức Phật. Họ tin tưởng vào quyền năng siêu vĩ đại, cái sự chứng đắc của ngài.

[33:33]Thì ở đây nơi ngài Milarepa chúng ta thấy có hai biểu hiện: một á là năng lực thần thông, đúng với yếu chỉ Mật tông; và thứ hai là cái lý luận về giải thoát. Chứ nó không có thuần như nhìn những vị Mật tông mà sơ cấp. Những vị Mật tông mà cấp thấp á là chỉ thuần có thần thông thôi. Nói tu Mật tông chứ những lý luận cao siêu về tâm tánh này kia nọ không có rành. Họ chỉ sao, trì chú đó tin rồi bắt đầu có thần thông chữa bệnh được. Còn những vị mà Mật tông cao cấp thì giống như Thiền tông Trung Hoa, giống như Thiền tông Trung Hoa, mà có nhiều cái lý luận của họ á còn dễ sợ hơn Thiền tông Trung Hoa, nghe cao hơn Thiền tông Trung

[34:13]Hoa nữa, bên Mật tông Tây Tạng á, chứ không phải là đơn giản. Họ kết hợp cái thần thông và cái kiến giải, nên họ hình thành một cái Mật tông vĩ đại, ghê gớm lắm, không có bình thường. Hồi đó có một vị hòa thượng Việt Nam sang Tây Tạng học, bây giờ tôi không nói tên bởi vì nó liên quan đụng chạm tới những tông phái hiện tại, toàn là những người đang còn sống, tôi không thích nói tới. Vị đó lúc đó còn trẻ, ở bên đây tu, tu ở cái cũng ở vùng Long Đất á. Quê vị đó thì chỗ khác nhưng mà có về vùng Long Đất làm đệ tử một vị hòa thượng, rồi tu được nhiều cái năng lực, nhất là những năng lực Mật tông rất là tốt, mới vượt biên giới sang Ấn Độ.

[34:56]Từ Ấn Độ cái ngài mới học tiếng Tây Tạng rồi tìm cách đi lên Tây Tạng học đạo. Cái chí ngài rất là lớn. Khi ngài lên Tây Tạng thì những vị Lạt Ma bên đó mới hỏi: "Ông tu được cái gì ở Việt Nam?" Nói: "Dạ, con tu là hết được dâm dục." Hỏi: "Hết dâm dục là sao?" Mới nói rằng: "Con thút liễm cái âm căn của con, nó vừa đủ để đi tiểu, không còn dùng việc gì khác." Mấy vị Lạt Ma nói: "Hay ha, hay ha." Ổng chỉ một cái là ok, hiện nguyên cái tướng trở lại, và kể từ đó là trong giấc mơ luôn luôn bị rối loạn bởi người nữ. Là những cái thần thông đánh tan cái ngã mạn của mình liền. Nên những vị Lạt Ma bên Tây Tạng cao siêu lắm,

[35:35]trong đó họ có cái triết lý rất là cao, nó không thuần cái là thần thông. Tức là vị đó mới là mỗi đêm là cứ nằm mộng thấy gần người nữ, thoát tinh. Cho tới cái ngày mà mấy vị Lạt Ma đó thấy ông này hết ngã mạn rồi, hết khoe cái thành tích của mình rồi, mới bắt đầu dạy đạo cho người. Rồi những người sau đó cái vị hòa thượng mới về Việt Nam lại, về ở vùng Bình Dương á, bắt đầu mới xiển dương Mật tông. Nhưng trong cái xiển dương Mật tông của vị đó thì lý luận Thiền tông rất nhiều, kết hợp cái năng lực thần thông với cái kiến giải về Thiền tông, nhất là tổ sư thiền của Trung Hoa rất là giống nhau.

[36:10]Và chuyện nó ảnh hưởng tới giờ này. Nó có một cái sự đụng chạm giữa hai cái tông phái ở Việt Nam. Một cái tông phái ở Việt Nam á thì chuyên xiển dương về Thiền và đụng phải cái tông của cái vị hòa thượng đó đó, xiển dương về Thiền kết hợp với Mật tông. Một cái vị đệ tử ở bên Thiền tông này đụng tông kia thua liền, thua lý luận liền. Cho nên cái gốc của cái Mật tông của bên Tây Tạng á, nó ngoài cái thiên về thần thông họ còn có cái kiến giải về thiền họ rất là sâu sắc, không đơn giản. Tuy nhiên chúng ta để ý điểm này:

[36:46]cái cao nó khác với cái đúng. Cao nó khác với cái đúng. Chúng ta nghe một người lý luận về đạo cao tột cùng mây xanh, chúng ta nghe ngợp liền, mình mà không đủ trí tuệ nhận thức là mình bị ngợp, mình phục liền, nhưng mà chưa chắc là đúng. Chưa chắc là đúng với chánh kiến của đạo Phật. Chúng ta để ý cái điều này: cái đúng của đạo Phật á nó thâm trầm, nó nhẹ nhàng, nó đơn giản. Mặc dầu nó rất sâu sắc nhưng mà nó rất đơn giản. Nên cái tiêu chuẩn mà đơn giản, sâu sắc là đúng đạo Phật. Còn nghe nó phức tạp, kiêu kỳ đó, coi chừng nó cao nhưng mà lại không đúng, trật lất. Để là chúng ta hiểu điều này để sau này trong cái bước đường mà

[37:24]chúng ta đi hành đạo, chúng ta đi vân du chỗ này chỗ kia, chúng ta gặp những vị này vị kia mà họ lý luận về đạo á mà nghe cao vút trời xanh á, đừng có sợ, coi chừng ổng nói sai đó. Còn cái người họ lý luận nghe không cao, nghe nó thâm trầm, nhẹ nhàng, khiêm tốn, mà sâu sắc thì vị đó mới đúng. Cho nên cả cái Thiền tông Trung Hoa và Mật tông Tây Tạng cũng vậy, có một số vị lý luận rất cao nhưng mà chưa chắc là đúng. Đây là điểm để chúng ta bình tĩnh nhìn lại. Sau này chúng ta đụng những vị đó mình không có sợ hãi, không có khiếp sợ là vậy. Vì cái cao ngợp đến mây xanh á chưa chắc đúng. Cái đúng của đạo Phật nó nhẹ nhàng, nó thấp dưới đất đen.

[38:05]Cái đúng của đạo Phật nó thấp dưới đất đen. Nó làm cho mình có cái sự khiêm hạ, thâm trầm, tinh tế, sâu sắc, mà lại đơn giản. Nó kỳ lạ vậy.

[38:18]Như vậy chúng ta đã nói trở lại Thiền tông với cái Mật tông. Thì để cho đi trọn con đường trì chú Mật tông á thì nên trước hết là kết hợp với quán vô ngã để tránh cái bệnh ngã mạn. Và thứ hai phải biết đi tới cái định vô niệm, bỏ luôn câu thần chú để nhập định thôi. Bây giờ chúng ta nói về cái nhĩ căn viên thông. Cái nhĩ căn viên thông này thì ai cũng biết là xuất phát từ kinh Lăng Nghiêm. Nhưng mà xưa nay người ta giải thích về nhĩ căn viên thông nhiều cách khác nhau. Và nhiều người nghe thì thích mà không áp dụng được, không áp dụng được không biết tại sao. Áp dụng lát cái nhức đầu, tức ngực luôn trơn.

[38:55]Nhiều vị thì lý giải về cái này lắm. Tại vì trong cái kinh Lăng Nghiêm mà cái đoạn mà nói về cái nhĩ căn viên thông. Sư phụ sắp nhập định á.

[39:06]Nhiều vị lý luận về nhĩ căn viên thông mà không biết cái tôi không biết là mấy vị đó nào giờ có tu thiền hay không mà dám lý luận. Thật ra cái nhĩ căn viên thông nó đơn giản, chẳng có cái gì. Xuất phát từ cái nghe.

[39:19]Mà cái để thành hình cái nghe là chúng ta nhớ nó có mấy yếu tố? Trước chúng ta nói chuyện với nhau về thần kinh giác quan á, nó có mấy yếu tố? Về mặt khoa học. Nó ba yếu tố: một là cái tiếng động bên ngoài, thứ hai là cái căn tức là cái tai, thứ ba là thần kinh thính chứ, kinh thính giác. Khi ba cái này kết hợp thì nó hình thành cái nghe. Cái điều này nó giống như là trong Trung Quán luận mà nói vậy đó. Bất cứ một cái điều gì cũng là do duyên hòa hợp mà thành, không có cái gì tự nó một mình mà thành. Cho nên chúng ta nghe được cái tiếng động cái nọ là phải do ba cái này. Trước hết có cái tiếng động đó, mình có cái nhĩ căn

[40:01]và mình còn cái thần kinh thính giác bên trong não còn. Ba cái này họp lại mới làm cho mình nghe tiếng động được. Còn nếu thiếu một cái thì không làm cho mình nghe tiếng động được nữa. Có thể mình cũng còn cái thần kinh thính giác nằm trong não đó, nhưng mà không có gì để nghe nên mình không biết rằng à mình có cái có cái nghe hay không. Nhưng mà cái lợi của cái mà dùng các giác quan á, ví dụ dùng tai, dùng mắt nó có cái lợi đó thấy không? Nó giúp cho mình có sự tỉnh giác. Cái lợi của cái nghe, cái thấy á giúp cho mình có sự tỉnh giác. Cho nên ở trong nhà thiền, nhất là Thiền tông Trung Hoa đó, hay dùng hai cái giác quan tai,

[40:36]mắt hoặc là bằng xúc giác để đánh thức cái tỉnh giác của mình. Như một người đó họ được định nhưng mà thùy trán họ chưa có mở, nên họ chưa có xuất hiện cái trạng thái ngộ. Họ cứ đang an trụ lắng trong định thôi, chưa có xuất hiện cái trạng thái ngộ. Thì đến ông thiền sư đó thì ổng dùng một trong ba cái giác quan đó: một là ổng làm cái gì cho tiếng lớn lên, hét một tiếng hay đập cái gì kêu to to đó, cái đánh thức cái người đó thùy trán nó mở tung ra cái họ ngộ luôn, có định sẵn á. Hoặc là họ đánh thức cái gì nơi con mắt, dựng cái phất trần đồ lên gì đó, hoặc là họ đánh vào người mình, tức là đánh thức vào cái giác quan

[41:09]giúp cho cái sự tỉnh giác bừng sáng lên, cái người đó ngộ luôn. Cho nên cái giác quan á nó giúp cho mình có sự tỉnh giác. Thì cái yếu chỉ của nhĩ căn viên thông là đưa đến tỉnh giác, đưa đến tỉnh giác. Đầu tiên khi một người ngồi thiền mà theo nhĩ căn viên thông á, cứ im lặng ngồi mà lắng nghe cái tiếng động, như cái tiếng xúc cát thì mình nghe, rồi cái tiếng dế kêu, tiếng gió thổi mình nghe. Lúc mà không im lặng mình vẫn nghe rõ ràng thì nó hình thành cái sự tỉnh giác, hình thành sự tỉnh giác. Nhưng mà nào giờ như vậy nó chỉ nghe bên ngoài, bắt đầu mình mới dùng cái tỉnh giác đó xoay lại để kiểm soát vọng tưởng.

[41:48]Kiểm soát vọng tưởng thì cái này là chánh niệm.

[41:56]Nếu mà thành lập cái cái tỉnh giác mà phải dùng cái mắt thấy, giống như ngài Huyền Sa, ngày thượng Tháp Hòe Lăng vậy, ngài vén rèm lên cái ngài bùng ngộ luôn. Tức là cái nhìn á, cái thấy đó nó đánh thức cái tỉnh giác để ngài ngộ đạo. Thì có người họ an trụ trong cái tỉnh giác họ không dùng cái nghe mà họ dùng mắt. Tức là lúc nào họ đi tới đi lui mắt họ nhìn cảnh vật rõ ràng để giúp cho họ có sự tỉnh giác thường xuyên. Rồi họ dùng cái tỉnh giác đó họ tiếp tục kiểm soát vọng tưởng. Cho nên đó là hai cái căn mà người ta hay dùng nhất là mắt và tai. Nhưng mà riêng như ngài Động Sơn á, ngài Động Sơn á,

[42:35]mới đầu ngài nghe nói ngài Huệ Trung nói chữ "vô tình thuyết pháp". Vô tình thuyết pháp nghĩa là vật vô tình như cây đá nè cũng thuyết được Phật pháp. Ngài không hiểu. Nói tại sao vật vô tình thuyết được Phật pháp? Ngài đi ngài hỏi. Ngài đến ngài Quy Sơn mà không khai ngộ được. Cái ngài mới đến ngài Vân Nham. Đến ngài Vân Nham thì sau khi hỏi, ngài Vân Nham mới đưa một câu kinh trong kinh A Di Đà ra, nói: "Ngươi không nghe rằng chim, suối, cây, rừng đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng sao?" Nghe câu đó ngài bùng ngộ. Ngài bùng ngộ ngài mới làm một bài kệ, nghĩa là: "Dã đại kỳ, dã đại kỳ, vô tình thuyết pháp bất tư nghì.

[43:13]Nhược tương nhĩ thính chung nan hội, Dĩ nhãn..." Câu cuối là cái gì tôi quên? Cái ý nghĩa, tôi quên cái chữ Nho nhưng mà: phải lấy mắt mà nhìn thì mới biết được. Đại khái này: vô tình thuyết pháp rất là đặc biệt, nhưng mà lấy tai nghe không được, mà phải lấy mắt thấy mới được. Tức là nơi ngài Động Sơn á, cái tỉnh giác của ngài xuất hiện là nơi con mắt thấy. Ngài nhờ cái thấy mà ngài có được cái sự tỉnh giác. Nên ngài nói muốn biết được vô tình thuyết pháp á, vật vô tình thuyết pháp thì không phải lấy tai nghe, mà dùng con mắt thấy. Nghĩa là cái thấy làm cho ngài có sự tỉnh giác. Còn có người thì nghe tiếng giọt mưa mà rơi

[43:49]mé thềm cái bùng ngộ thì ca ngợi cái nghe. Rất là, nhưng mà hai căn đó đều dễ. Hoặc có người do bị đánh một cái ngộ đạo thì là do xúc giác. Nên các căn là đưa mình đến sự tỉnh giác. Từ cái tỉnh giác này mình kiểm soát vọng tưởng. Tuy nhiên, cái tỉnh giác này có mấy mức độ. Nếu nào giờ mình chưa có định á thì cái tỉnh giác này nó giúp mình thành được chánh niệm. Còn nếu trước kia mình đã có định rồi đó thì cái tỉnh giác này nè, tỉnh giác mà do cái nghe, cái thấy, cái chạm tới nè thì nó làm cho mình bùng ngộ luôn. Bởi vì ngộ cũng là một loại tỉnh giác nhưng ở mức độ cao. Còn cái tỉnh giác mà mình đang dùng để kiểm soát tâm mình hiện

[44:27]nay đó trong cái chánh niệm á là tỉnh giác ở mức độ thấp. Còn cái ngộ, cái mà gọi là ngộ, cái hiện tượng ngộ hay cái trạng thái ngộ của tâm á chính là cái tỉnh giác mà ở độ cao thôi. Nó khác nhau chỉ là vậy thôi, nhưng nó đều chung nhau một bản chất là tỉnh giác. Nhưng mới ban đầu khi mình chưa có cái định sâu, ngộ sâu thì mình dùng cái tỉnh giác để thành lập cái chánh niệm. Từ chánh niệm này mình kiểm soát vọng tưởng để vào chánh định. Còn cái người ngộ đó, cũng cái tỉnh giác này thôi nhưng mà cái sức tỉnh giác nó rất là cao, tâm rất là thanh tịnh thì gọi là ngộ, chỉ vậy thôi. Nhưng mà nó nhiều mức độ lắm, mỗi một người cái ngộ,

[45:04]mức độ khác nhau hết trơn, cùng là ngộ nhưng khác nhau lắm. Giờ mình nói qua cái thoại đầu, công án một chút. Bên thoại đầu, công án á thì coi như cái yếu chỉ của thoại đầu, công án là làm sao gây cho mình một cái thắc mắc mà bên đó gọi là cái nghi tình. Là cái nghi tình, mình bây giờ mình gọi cái danh từ bình dân là cái thắc mắc. Thì cái thắc mắc này nó nó lợi hay hại tùy theo người, tùy theo người. Vì với người mà có định rồi đó, có một phần định, cái thắc mắc này với người có phần định á thì nó kéo tâm họ tập trung lại vào định sâu luôn. Vào sâu luôn. Với người có định sẵn. Còn cái thắc mắc này với cái người mới ban đầu chưa có gì hết,

[45:49]tâm đang còn loạn, làm phàm phu bình thường chưa biết chánh niệm, chưa biết gì hết mà tâm đang còn loạn thì nó loạn luôn. Loạn luôn, căng thẳng, loạn luôn, cái ngã lớn lên, tánh nóng lên, nóng nảy hẳn lên. Cho nên cái thắc mắc này nó nó lợi hại lắm chứ nó không có đơn giản đâu, không có dễ dùng đâu. Chúng ta nghiên cứu lại các thiền sử, chúng ta thấy á các thiền sư mà thành công nhờ cái nghi tình á đều là những người trước đó có định, có ngộ hết. Ví dụ như ngài Pháp Loa, ngài là đệ tử ngài Trần Nhân Tông á thì ngài có ghi trong cái Ngữ lục thế này: "Trước hết là phải được ngộ." Tức là ngài tu cái gì tu,

[46:29]nhưng mà được ngộ trước á, nghĩa là ngộ là được định rồi, chứng một phần rồi. Ngài gặp ngài Trần Nhân Tông rồi được ngài định ngộ. Sau đó dùng một câu thoại đầu để tiếp tục khai phá. Ngài Pháp Loa ngài ghi trong Ngữ lục. Cho nên điều ngài dạy nó đúng với yếu chỉ là cái nghi tình nó chỉ có lợi cho người có định, có một sở chứng nhỏ. Rồi chúng ta kể lại các thiền sử các vị khác á. Ví dụ như là ngài Lai Quả gần đây cũng vậy. Ngài niệm Phật được định, sau đó ngài khởi lên câu thoại đầu "Niệm Phật là ai?", nên ngài thành tựu luôn. Như ngài Hư Vân, ngài nhiếp trong định, định mà tới mấy ngày cho đến khi sau này nghe cái tiếng tách vỡ thì ngài ngộ.

[47:09]Ngài Hư Vân thì giống như thoại đầu mà kỳ thực ngài đi đường khác, khác, không giống thoại đầu. Chỉ có ngài Lai Quả, nhưng mà đều xuất phát từ cái định trước rồi mới dùng cái nghi tình để vào định sâu thêm nữa. Chúng ta nghe kể câu chuyện của ngài Thủ Đoan Bạch Vân. À từ cái ngày mà Từ Minh á là tông Lâm Tế nó chia thành hai đại đệ tử là ngài Hoàng Long và ngài Dương Kỳ. Nên tông Lâm Tế tới lúc đó rẽ thành hai cái nhánh. Và ngài Dương Kỳ rất là đặc biệt. Hôm đó ngài Thủ Đoan là một người đệ tử của ngài Úc Sơn Chủ đã ngộ đạo rồi, mới đến tham học thêm với ngài Dương Kỳ, vì thấy ngài Dương Kỳ là một vị tông sư lỗi

[47:49]lạc thời đó, đến an nương tựa học thêm. Thì một thời gian dài, thì cứ gặp trông trước mặt người nhưng không có việc gì, ngài cứ chẳng nói gì tới. Nhưng mà trong thâm tâm á thì ngài Dương Kỳ đã biết là ngài Thủ Đoan là người nối pháp mình. Nhưng mà để yên không nói tới. Hôm đó đúng cái cơ duyên là vào ngày gần Tết, trước cửa chùa có nhiều cái gánh hát Sơn Đông họ đứng họ hát vui rồi bao nhiêu người tập trung vây quanh, vỗ tay reo hò, cười đùa um sùm hết trơn. Cái ngài mới thấy là cái cơ duyên tới, cái ngài mới lơn tơn lơn tơn đi lại cái chỗ ngài Thủ Đoan, ngài hỏi, "Bổn sư ngươi là ai?" Cái, "Dạ bạch Hòa thượng, bổn sư con là ngài Úc

[48:31]Sơn Chủ ở Trà Lăng." Nói, "À, ta nghe y đi qua cầu, bị té ngựa, có tỉnh, có tỉnh tức là có ngộ đó, làm một bài kệ kỳ đặc, ngươi có nhớ chăng?" Cái ngài Thủ Đoan nghe khen thầy mình cái cũng khoái, mới đọc bài kệ đó lên là: "Ngã hữu minh châu nhất khỏa, ta có một viên minh châu. Cửu bị trần lao quan tỏa, từ lâu bị trần lao vùi lấp. Kim triêu trần tận quang sanh, sáng nay bụi hết ánh sáng phát sinh. Chiếu phá sơn hà vạn đóa, chiếu tan khắp cả sơn hà mọi thứ hết." Là ngài Thủ Đoan đọc lại bài kệ mà khi mà thầy mình ngộ đạo đã làm được, đọc với cái tự hào. Ngài Dương Kỳ nghe đọc bài kệ xong mỉm cười cười nhạt, bỏ đi, không nói gì.

[49:18]Ngài Thủ Đoan mới trợn mắt, nhíu mày, nói, "Kỳ ta? Bài kệ hay như vậy mà bị cười là sao ta?" Cả nghe bài kệ đó khắp cả cái tùng lâm ở Trung Hoa đều tán thán, một người có sở ngộ thực sự, sao bị ngài Dương Kỳ cười? Ông không ngủ được nữa, đêm đó không ngủ được nữa. Ông nằm cứ trăn qua trở lại trăn qua trở lại, không biết cái dở nó nằm ở chỗ nào. Sáng ông y áo chỉnh tề ông vào phương trượng, nói, "Bạch Hòa thượng, bài kệ hôm qua có chỗ nào sai mà Hòa thượng cười?" Ngài Dương Kỳ mới nói, "Ngươi có thấy cái đám hát Sơn Đông trước cửa chùa hôm qua chăng?" Nói, "Dạ thấy." "Ngươi còn thua mấy người đó một bậc."

[49:57]Thầy còn ngạc nhiên nữa, "Ủa, này đạo lý gì?" Nói, "Bạch Hòa thượng, đây là đạo lý gì?" "Họ thích được người ta cười, ngươi sợ người ta cười." Nghe câu đó ngài Thủ Đoan đại ngộ liền, trở thành người nối pháp của ngài Dương Kỳ luôn. Chúng ta thấy ngài Dương Kỳ ổng gây cho ngài Thủ Đoan một cái nghi tình, một cái thắc mắc, khéo không? Khéo không? Quá bí mật, ổng kia không hay. Ông này bị gài vô một cái thắc mắc mà ổng dính luôn trong đó ổng gỡ không ra nữa. Ổng bí hằn. Nên cái mục tiêu của ổng á là ổng đi tìm cái ý nghĩa. Chúng ta nhớ nghen, cái mục đích á là đi tìm ý nghĩa.

[50:38]Vì đi tìm ý nghĩa cho nên nó thành tựu được cái cái nghi tình. Còn bây giờ mình sao? Mình không đi tìm ý nghĩa đó mà mình đi tìm cái nghi tình, thì nó thành tựu cái gì? Người xưa đó, họ không có biết gì về nghi tình thắc mắc hết á, không có nói tới cái chuyện đó. Họ chỉ đi tìm cái ý nghĩa thôi, không biết tại sao mà bị cười. Họ đi tìm cái này thì nó thành hình cái thắc mắc, cái nghi tình. Còn mình đi tìm cái thắc mắc thì nó thành hình cái gì? Thành hình cái gì? Cái ba trợn. Không có gì hết trơn. Cho nên người sau này đó, dạy thiền về nghi tình không giống các thiền sư nữa. Các thiền sư họ gài cho đệ tử một cái thắc mắc khéo như vậy đó.

[51:18]Gài dính ở trong tâm rồi là chết luôn trong đó rồi, ôm cái nghi đó mà tới ngày ngộ đạo thôi. Còn chưa ngộ, ôm nó mà chết, không biết rằng mình đang nghi, không biết rằng mình đang dính trong cái bẫy của các ngài. Còn bây giờ bị tiết lộ hết, cái bẫy thắc mắc này bị tiết lộ. Cái người học người tu á đi tìm cái thắc mắc này, cho nên bị bể mánh. Nó bị tiết lộ nên không thành công được nữa, không gom tâm người ta vào định được nữa. Nên cái chỗ người dạy đời nay không khéo bằng người xưa. Các vị tổ người xưa đặc biệt ghê gớm. Cái chỗ sở chứng ngài thật sự. Cái sở chứng thật sự ngài có cái trí sâu sắc nên ngài nghĩa là khởi

[51:54]gài cái nghi tình vô tâm đệ tử rồi là chết trong đó luôn. Còn bây giờ mình cứ ca ngợi, mình quảng cáo, mình tiết lộ cái nghi tình, rồi người học cứ đi tìm cái nghi tình, không thành cái gì nữa. Sau này nghĩa là ngài Thủ Đoan mới truyền cho ngài Pháp Diễn, ngài Pháp Diễn truyền cho các ngài Phật Giám, Phật Quả vân vân vậy đó, cũng từ cái đó hết, rất là đặc biệt, gài đệ tử chết luôn, như ngài Viên Ngộ. Mà cái tông đó đó, đến ngài Đại Huệ là cực thịnh rồi bắt đầu suy luôn. Chúng ta sẽ xem tại sao nó thịnh rồi nó suy luôn từ cái ngài Đại Huệ. Ngài Đại Huệ là giỏi khủng khiếp. Chúng ta xem cái nhân duyên của ngài Đại Huệ mà tại

[52:37]sao cái thiền công án này nó đến ngài nó suy. Đạo rồi ngài mới đến ngài Văn Chuẩn. Thiền sư Văn Chuẩn là cũng tông Lâm Tế nhưng bên nhánh Hoàng Long chứ không phải nhánh Dương Kỳ. Ngài đến ngài Văn Chuẩn mà ổng lanh quá. Bộ thì ổng ngộ chưa có triệt, mà ổng lanh quá.

[52:56]Ngài Văn Chuẩn không có làm gì lay được. Hôm đó là ngài Đại Huệ đang xem kinh Kim Cang. Ngài Văn Chuẩn mới bước vào hỏi, "Ông xem kinh gì?" Nói, "Dạ con xem kinh Kim Cang." Ngài Văn Chuẩn mới hỏi, "Trong kinh Kim Cang nói là các pháp bình đẳng không có cao thấp, thế tại sao núi Vân Cư cao mà núi Bảo Phong thấp?" Đây là cái bẫy của ngài Văn Chuẩn. Nghĩa là ngài lấy cảnh để thử tâm của ngài Đại Huệ. Ngài Đại Huệ ổng cứng như đồng vậy đó, "Dạ không, các pháp bình đẳng không cao thấp." Ổng không thèm chạy theo cái cảnh mà ngài Văn Chuẩn lừa, ổng cứ đứng vững trong cái tự tánh của ổng. Nghĩa là trong đó bình đẳng không có gì hết, nên đứng theo cái đó mà ổng trả lời.

[53:37]Ngài Văn Chuẩn không làm dao động được nên ngài Văn Chuẩn chê. Nói, "Trả lời như ông chỉ được làm thị giả cho mấy ông giảng sư chứ không có làm được thị giả cho mấy ông thiền sư nữa đừng có nói." Cái ngài Đại Huệ nói, "Vậy Hòa thượng làm sao?" Ngài mới nói là, "Hãy buông lỗ mũi ông để thở. Buông lỗ mũi ông để thở." Câu này thì tôi không có giải thích, để cho quý sư tu tự hiểu. Sau đó thì ngài Văn Chuẩn chuẩn bị tịch, cái ngài Đại Huệ mới nói bây giờ, "Thầy tịch thì con đến nương với ai?" Nói, "Ta nghe có Viên Ngộ đó, ngài Viên Ngộ là đệ tử ngài Pháp Diễn, ngươi đến đó nương có lẽ được lợi ích.

[54:13]Mà nếu không được á thì ngươi thôi cứ tự tu, đời sau cũng làm một thiện tri thức của thiên hạ." Thì sau khi ngài Văn Chuẩn tịch, ngài Đại Huệ mới tìm đến ngài Viên Ngộ. Ngài Viên Ngộ kẹt nghiêng nghiêng còn cái này. Ổng mới đưa ra một cái câu nói của ngài Vân Môn là, "Đông Sơn thủy thượng hành", là núi Đông Sơn nó đi trên mặt nước. "Bây giờ ông nói ra một câu cho nó chứng tỏ rằng ông hiểu được cái câu đó, trong nhà thiền gọi là hạ ngữ, hạ ngữ."

[54:41]Ổng phải buông ra một lời để chứng tỏ rằng hiểu được cái câu nói ngài Vân Môn. Thử ngài Đại Huệ coi. Ngài Đại Huệ hạ ngữ liền, ngài Viên Ngộ lắc đầu. Cho hạ liên tiếp mười mấy câu chuyển ngữ, ngài Viên Ngộ lắc đầu hết, cho về nhà suy nghĩ. Ngài có sức định, sức ngộ rồi đấy nghen. Ngài hạ tới sáu mươi bốn chuyển ngữ, mà ngài Viên Ngộ vẫn không đồng ý. Lúc đó bắt đầu là ổng điên đầu rồi đó nha, là ngài Đại Huệ bị gài rồi đó, bắt đầu ngồi suốt ngày đêm. Hôm đó, một buổi trai tăng trong một cái phủ quan lớn á, ngài Viên Ngộ ổng thấy nhân duyên tới xong mới giải tỏa tha luôn. Ổng nói, "Vân Môn nói là: Núi Đông đi trên nước, còn ta nói là:

[55:20]Mọi người sợ nóng nực, ta thích ngày hạ dài. Gió nam từ nam thổi, điện các đều mát tươi." Nghe câu đó ngài Đại Huệ đại ngộ liền, nhưng mà chưa triệt, chưa triệt. Sau này ngài Viên Ngộ cứ dùng cái thủ đoạn đó gài thêm gài thêm nữa, cuối cùng ngài Đại Huệ triệt ngộ. Sau khi ngài Đại Huệ triệt ngộ rồi thì ổng cứ dùng cái cái cái cái thủ đoạn đó mà ổng tiếp người độ người, cho nên tới cái tông đó đó, cái tông mà dùng cái nghi đó, đến ngài Đại Huệ cực thịnh. Chúng ta xem thủ đoạn của ổng khéo thế này. Hôm đó ngồi trong phương trượng rồi từng người từng người vào tham vấn, có một vị tăng vào, chưa hỏi ổng đâu, ổng hỏi liền.

[55:55]Ổng nói, "Chẳng cùng vạn pháp làm bạn là ai?" Cái câu này nhớ ai nói không? Chẳng. Bàng Long Uẩn. Cái câu mà ông Bàng Long Uẩn đi hỏi ngài Thạch Đầu với hỏi ngài Mã Tổ đó. Nè, "Chẳng cùng với vạn pháp làm bạn" nghĩa là gì? Vạn pháp này là cái tương đối phải không? Cái người mà không có làm bạn với cái tương đối là cái gì? Là cái tuyệt đối. Tức là ổng hỏi, "Cái tuyệt đối là gì? Cái Phật pháp cao siêu nhất là gì?" Mà ổng hỏi một câu rất là dài dòng. "Không thèm làm bạn với vạn pháp là ai?" Thì hồi đó là ông Bàng Long Uẩn ổng đem cái câu đó ổng hỏi ngài Thạch Đầu, ngài Thạch Đầu bưng miệng ổng cái ổng ngộ đạo.

[56:32]Ổng qua hỏi ngài Mã Tổ, ngài Mã Tổ nói, "Chừng nào ông một ngụm uống cạn nước Tây Giang ta trả lời cho ông", thì ngay đó ổng đại ngộ luôn, là ông Bàng Long Uẩn á. Bây giờ ông tăng bước vô, cái ngài Đại Huệ ổng lấy câu đó ổng hỏi ông tăng, thử kiến giải ông này, "Chẳng cùng với vạn pháp làm bạn là ai?" Ông tăng này cũng thuộc loại lanh. Lanh này chắc cũng cỡ Sư Hải nhà mình. Ông tăng trả lời, "Kẻ không mặt mày." Ngon chưa? Thì đúng vậy nữa, cái tuyệt đối nó đâu có hình tướng phải không? Cho nên ổng trả lời liền là, "Kẻ không mặt mày." Vừa trả lời xong, ngài Đại Huệ mới nói thêm một câu, "Hồi nãy cũng có ông tăng trả

[57:05]lời như vậy á, bị ta đánh đuổi ra." Cái khi ổng ổng nhíu mày ổng ngạc nhiên liền, bị rơi vào bẫy ngài Đại Huệ liền. Ổng vừa mới nhíu mày ngạc nhiên là không biết mình sai chỗ nào, bị ngài Đại Huệ đánh bốp, đuổi ra liền. Đó, về ôm cái nghi đó mà chết nha. Ngài Đại Huệ. Nhưng mà rồi trong những cái bức thư của ngài mà ngài giảng đạo cho người này người kia, cái bắt đầu ngài tiết lộ cái nghi tình. Ngài quảng cáo cái thắc mắc, cái nghi tình. Cho nên người sau không còn ai nhờ cái nghi mà ngộ được nữa hết, vì nó bị tiết lộ rồi. Cho nên cái tông thoại đầu công án nó có cái hay là là cái người mà có định sẵn á mà bị một cái nghi nó rớt vào trong

[57:40]tâm rồi đó thì cái nghi nó siết tâm họ lại, nhiếp vô định sâu. Rất là có lợi, rất là mạnh, mạnh ghê gớm lắm. Nhưng mà nó có hai cái bất lợi. Một là nếu cái người còn loạn thì không gài nghi được, mà họ thắc mắc là trào thẳng, họ gàn điên à, họ căng thẳng cái đầu họ, cái bất lợi thứ nhất. Cái bất lợi thứ hai là nếu mà cái nghi đó bị tiết lộ, bị quảng cáo thì coi như bể mánh, không gài cái nghi vào trong lòng người đệ tử mình được nữa. Cho nên sau này quý sư mà có dạy thoại đầu cho đệ tử thì nhớ bí mật á, đừng bao giờ nói tới chữ thắc mắc hay chữ nghi tình hết á. Bị bể mánh là nghề người ta hết nghi.

[58:22]Cái nhược điểm của cái thoại đầu là thế này: là do trong khi mà họ chăm chăm trong cái nghi tình đó, họ dễ rơi vào cái bệnh là đả phá giáo pháp, nói đừng có học gì hết. Đừng có học gì hết, bởi vì pháp môn nào cũng làm chướng ngại cái sự tu, làm cho họ không khởi nghi tình được. Đây là cái nhược điểm là nó phá Phật pháp, phá Pháp bảo. Mình tu pháp môn mình thôi lo tu đi, luôn luôn chống pháp môn này, chống pháp môn kia, nói tu pháp môn nào cũng là kiến giải, nên đây là cái nhược điểm làm cái Phật pháp bị chia rẽ, không hay. Cái người tu khéo đừng có làm cho Phật pháp chia rẽ. Bên thoại đầu dễ bị cái đó.

[59:01]Với nó có một cái nhược điểm thứ ba nữa của cái thoại đầu là ví dụ như họ có ngộ, nhưng mà mới ngộ một phần thôi, chưa phải là xong. Họ dễ lạm nhận cho đó là tự tánh tuyệt đối nên nó thành tà kiến. Đây là cái dở của cái thoại đầu. Còn cái ưu điểm của họ là nếu mà gài được cái nghi cho đúng rồi đó thì nghi cũng mạnh lắm. Người đó ôm đâu mà chết mà tu rất tinh tấn, rất mãnh liệt. Mình tu mình gặp mấy người đó là mình né luôn vậy đó, họ gặp mình họ không chào đâu, cứ lom khom vậy đó. Thấy rất tinh tấn, rất là dễ nể. Nhưng mà ngoài cái ưu điểm đó ra thì những cái kia nó dễ có nhược điểm. Chúng ta một cái pháp môn tu,

[59:37]chúng ta phải biết hết mỗi cái có ưu điểm, có cái khuyết điểm. Chúng ta sẽ nghiên cứu về lối thiền Trực Chỉ nữa. Trong Thiền tông có lối Trực Chỉ này cũng vui lắm. Thật ra cái lối Trực Chỉ này nó không phải là một cái công phu của cái người học, mà nó là cái phương pháp của ông thầy. Ông thầy ổng chỉ cho người đệ tử để người đệ tử đó được thấy tánh. Định nghĩa của họ là như vậy, người đệ tử được thấy tánh. Họ cho rằng thấy tánh qua ba cái điểm: một là giác quan, như nãy mình nói đó, vô cái ổng hét lên tiếng ổng nói: "Đó, ngươi có nghe chăng?". Tức là hỏi ngươi có cái tánh nghe đó, tự tánh phải không?

[1:00:15]Hoặc là nhá nhá gì trước mặt: "Ngươi có thấy chăng?", là chỉ gọi là chỉ tự tánh đó. Cái thứ hai là chỉ trên lời nói. Ví như mình lại mình hỏi ổng: "Thưa thầy, thầy chỉ cho con biết cái cách tu thiền." Ổng hỏi: "Ai hỏi đó?". Tức là ổng dựa vào cái lời nói để mà thấy tánh. Và thứ ba là cử chỉ, tức là hành vi đó. Ví như bước vô cái ổng hỏi: "Ai bước vô đó?". Vậy đó, tức là dựa vào cái hành vi để mong rằng mình thấy tánh. Tức là thường cái người mà lối thiền Trực Chỉ đó mà chỉ đến ba cái này, dựa vào ba cái này để gọi là khai ngộ cho đệ tử. Nhưng mà trên ba cái này nếu mà chúng ta căn cứ theo cái con đường tâm của mình

[1:00:54]ý thức, vô thức đó, chúng ta thấy ví như cái phần ý thức ở đây ha, cái phần vô thức, thì cái giác quan giác quan nó nằm sâu trong vô thức một chút. Cái lời nói nó nằm gần ý thức một chút. Và cái cử chỉ nó nằm cái khoảng này một chút. Ba cái này nó đều nằm ở dưới ý thức một chút, dưới ý thức một chút. Là cái vùng thần kinh mà nó xuất phát ra giác quan: thần kinh thị giác, thính giác, xúc giác nè; cái thần kinh mà làm mình nói lên lời nói nè; cái thần kinh mà nó làm cho mình cử động nè; nó đều nằm dưới ý thức một chút, nằm hơi trong vô thức một chút. Thì nếu mình dựa vào ba cái này để cho người ta nhận ra cái gốc mà phát sinh ra

[1:01:36]ba cái này thì chỉ là trong cái vùng này thôi, chưa phải là tự tánh tuyệt đối. Tự tánh tuyệt đối nó còn nằm xa lắm. Cái người đó nếu thật sự có ngộ đạo, nếu thật sự là nhờ ông thầy đó chỉ một trong ba cái này mà ngộ đạo, là cũng chỉ ngộ được cái trạng thái tâm ở mức độ này. Ở mức độ này, chứ chưa có sâu, chứ chưa có tuyệt đối. Nhưng mà họ bị họ bị lầm, đa số mà họ được ngộ được cái họ đều nói họ là tuyệt đối. Tuy nhiên, không phải là khó người đến được chỗ này lắm vì chỗ này nó rất là sâu, nó tới bức tranh thứ bảy lận, không dễ, không dễ có người ngộ được tới chỗ này. Đây là bức tranh thứ bảy.

[1:02:14]Đa số là thế này, cái người mà được học thiền với một ông thầy dạy Trực Chỉ kiểu này đó thì lại phát sinh ba loại.

[1:02:24]Một loại là kiến giải suông. Kiến giải suông, có hiểu sơ sơ à, chắc đoán mờ mờ cái tâm mình nó như vậy đó rồi đi luận, đi tranh hơn tranh thua với người ta, nói thiền ngữ với người ta, là cái dạng kiến giải suông. Mà dạng này là tổn phước chết luôn đó, sau này đọa tiêu luôn. Là cứ làm ra vẻ như mình ngộ đạo, mà chuyên môn đi nói thiền ngữ, mặc dầu chưa có ngộ gì hết, trong tâm chưa hề có trạng thái mới, chỉ là hiểu sơ sơ, hiểu mơ mơ cái gì đó, rồi bắt đầu cũng bày đặt nói thiền ngữ. Đây là hạng kiến giải suông, hạng này là tiêu luôn á, đời này mất phước tu, đời sau mất phước tu luôn, không bao giờ làm tăng hay được giác ngộ gì nữa hết.

[1:03:02]Bởi vì hưởng hết cái phước này rồi, lạm nhận rồi hưởng hết rồi. Cái hạng thứ hai là có tỉnh giác chút đỉnh, có tỉnh giác ít. Thì cái người này thâm trầm hơn, thâm trầm hơn cái hạng người này, nhưng mà kiến giải nó tuôn mạnh hơn cái người trên này. Tại vì họ thật sự họ có tỉnh giác đó. Tức là giống như có trạng thái ngộ, vì ngộ cũng là tỉnh giác thôi, nhưng mà đều mức độ nó được thấp, chút đỉnh. Thì cái kiến giải nó tuôn ra dữ dội lắm. Như chúng ta đã nói hôm trước nói về bài Ngộ Đạo, Chánh Niệm, khi mà có tỉnh giác, có chánh niệm, kiến giải nó tuôn ra mà mình không xoay lại để kiểm soát bên trong thì sinh cái bệnh ngã mạn cũng khủng khiếp lắm, không có lường được.

[1:03:48]Còn hạng thứ ba là tỉnh giác sâu, tỉnh giác cao. Tỉnh giác cao là do người này có cái sức định sẵn nên ông thầy ổng đánh thức một trong ba cái này thì nhận ra nó hơi hơi sâu sâu, gần gần được tới chỗ này, mà chưa thấy được cái gốc này đâu. Nên chúng ta thấy trong nhà Thiền mà nếu mà nói cái gốc của cái cử chỉ nè, nói ừ ai co tay duỗi chân, ai nói đó, hoặc là ai trông thấy đó, cho rằng cái gốc đó mà là tự tánh á thì chỉ lọt là ở cái vùng vô thức, cửa vào của vô thức. Ở bức tranh thứ bảy thôi, chưa phải là tuyệt đối tự tánh. Nhưng mà đa số người tu thiền, nhất là tổ sư Thiền Trung Hoa đều lầm, cho cái chỗ nhận được chỗ này cho là tự tánh bởi vì nó cũng vĩ

[1:04:28]đại lắm chứ không phải không, ở bức tranh thứ bảy chứ không phải đơn giản. Nhưng mà hiếm người được, mà đa số chúng ta bị hai cái này: một, kiến giải suông; hai là có tỉnh giác ít ít rồi bắt đầu nổ.

[1:04:41]Có một cái pháp môn nữa là quán tưởng hình tướng, quán tưởng hình tướng. Ông thầy ổng dạy đệ tử là ngồi đó mà tưởng cọng hoa sen nở ở trước mắt mình, nhờ như vậy để nhiếp vào định. Hoặc là có người tưởng như là hào quang chiếu rực rỡ khắp nơi, dùng cái sức quán tưởng mà để được vào định, thì mình thấy cái này đúng không? Rất nguy hiểm. Cái người mà có định sẵn á, họ quán nó hiện ra dễ, nhưng mà một thời gian bắt đầu loạn trở lại. Do lạm dụng cái sức tưởng á, nó sẽ loạn trở loạn tâm trở lại. Còn người mà chưa có sức định á mà ráng quán tưởng á, tâm càng lúc càng loạn, tâm càng lúc càng loạn. Nguy hiểm vô cùng.

[1:05:24]Cho nên không nên dùng pháp môn quán tưởng này. Có một câu chuyện trong kinh Lăng Nghiêm nói là một vị Tỳ kheo đó ngồi quán tướng nước. Cái một chú sa di bên ngoài nhìn vô thấy cả cái phòng đầy nước, mới cầm cục đá chọi vô nghe cái "tõm", đá rớt vô. Đến chừng ông thầy ổng xuất định ổng nói: "Sao đau bụng quá? Không biết có chuyện gì." Ổng mới hỏi chú sa di: "Hồi nãy lúc mà thầy ngồi thiền con có làm gì không?". Nói: "Dạ, lúc thầy ngồi thiền con thấy trong phòng đầy nước con có cầm cục đá con chọi trỏng chơi." Nói: "Y, chết rồi, mày chọi vô bụng tao." Cái mới ngồi nhập định lại, hiện ra tướng nước cho chú bé lặn vô trỏng lấy cục đá đem ra.

[1:05:55]Ổng xuất định ổng hiện hình trở lại thì mới hết đau bụng. Câu chuyện đó ghi trong kinh Lăng Nghiêm. Mà đúng không? Nên đây là một điều mà chúng ta cẩn thận. Không phải tất cả những điều gì mà sách xưa nói lại đều chính xác.

[1:06:15]Cái câu chuyện nó vô lý hoàn toàn. Vô lý ở điểm nào? Vô lý ở cái điểm mà cái vị Tỳ kheo mà ổng nhập định tưởng nước mà người ổng hiện nước ra khắp phòng á, thì ổng ít nhất ổng ở bức tranh thứ tám, xắp xỉ bức tranh thứ tám, qua khỏi bức tranh thứ bảy ổng mới biến hình biến tướng được. Cái sức định đó. Còn cái sức mà dùng bùa, mánh mung hay ảo thuật thì tôi không nói. Vì có một số vị mà họ nhờ bùa của Thiên Linh Cái họ cũng tàng hình được, nhưng tàng hình đó nó không phải là do cái sức định của họ, mà do một cái thủ thuật của tâm linh thôi, nó che mờ mắt người ta thôi, chứ không phải thân mình biến mất.

[1:06:51]Cho nên tuy họ biến hình biến tướng được nhưng mà cái định cạn, nó chỉ là sự ảo thuật. Còn cái người trong cái định mà biến hình biến tướng được thì xắp xỉ qua khỏi bức tranh thứ bảy rồi. Mà cái người mà trong cái định mà được cái định mà biến hình đi được á, thì cái tâm lực của họ, đừng có hòng ai đụng tới nổi. Đừng có hòng ai mà nhúc nhích lại gần đụng tới họ được. Không có chuyện một cục đá mà chọi tọt luôn vô trong cái thùng nước đâu, hay cái phòng nước nó được, không bao giờ có chuyện đó. Cái tâm lực họ cản hết mọi cái lực bên ngoài, không bao giờ chạm vô được. Nhưng có câu chuyện vô lý nữa, chuyện này của Nam tông,

[1:07:26]do bên các luận của Nikaya kể lại, là hôm đó ngài Mục Kiền Liên với ngài Xá Lợi Phất ngồi nhập định. Thì có một con quỷ nghe đâu nó đánh một cú đánh, gọi là bằng nặng bằng gọi là một cái cú bom nổ vậy đó, nó đánh vào đầu ngài Xá Lợi Phất. Mà ngài Xá Lợi Phất không biết. Tới chừng xuất định ra cái ngài Mục Kiền Liên mới khen: "Trời ơi, hồi nãy có con quỷ dữ nó đánh vào đầu huynh mà một cái lực không thể tưởng được, mà huynh không sao hết, cái định của huynh thật là phi thường." Cái ngài Xá Lợi Phất mới khiêm tốn khen lại bạn mình: "Dạ, trời nó làm nhanh như vậy mà huynh cũng thấy được, huynh cũng thật là giỏi." Tức là hai huynh đệ khen qua khen

[1:08:02]lại với nhau, họ rất là khiêm tốn, nhưng câu chuyện nó vô lý. Câu chuyện nó vô lý. Chúng ta đừng tưởng những cái gì mà sách xưa kể lại đều chính xác đâu. Người nào họ thêu thắt vô trong rồi á, bởi vì thật sự như thế nào? Thật sự một cái người mà họ nhập định, mà nhất là tới bản thể tuyệt đối á, mấy vị A-la-hán đó là họ tới bản thể hết rồi. Họ tới bản thể tuyệt đối này hết rồi. Thì cái đặc tính của bản thể là như thế này: Ví dụ họ không muốn biết nha, chứ cái người muốn biết là biết hết rồi, nhưng mà họ trong cái định an trú trong cái tịch diệt lặng lẽ, lúc mà họ không muốn biết chuyện gì hết, họ chỉ an trú cái tịch diệt lặng lẽ thôi.

[1:08:36]Thì khắp cái pháp giới này, một chúng sinh nào nghĩ về họ, nhúm nhẹ một ý niệm, họ biết liền. Cho bản thể, lúc đó họ không có muốn biết chuyện gì đó, còn nếu họ muốn biết là vô lượng kiếp biết hết. Nếu họ muốn biết pháp giới này có gì họ biết hết. Nhưng mà nếu họ không muốn biết, thì họ chỉ an trụ trong cái tịch diệt tuyệt đối lặng lẽ, mặc dầu không muốn biết nhưng mà một chính chúng sinh nào nhúm nhẹ cái ý nghĩ nghĩ tới họ, họ biết liền. Cho nên khi mà cái con quỷ này muốn đánh ngài, nó nhúm ý nghĩ là ngài đã thấy rồi, chứ đừng có nói chuyện mà ngài không thấy. Cho nên người xưa kể lại nhiều khi không chính xác.

[1:09:12]Một vị thật sự là A-la-hán mà nhập trong định rồi là vĩ đại lắm. Đừng có hòng xâm phạm được nổi họ. Nhất là như là cái Diệt Tận Định á, vị đó mà ngồi đó mà tưởng cái thân mình là đồng là sắt á, thì mấy ngàn năm không hoại, lửa đốt không cháy, dao cắt không đứt. Còn cái vị Tỳ-kheo mà đang ngồi trong phòng mà nhập định mà nước ngập phòng hết, thì đừng có hòng lấy cục đá nào mà lại gần được. Cho nên cái sức quán tưởng của một người có định sâu á, nó khủng khiếp nó thành thần thông. Thần thông là gì? Là sức định cộng với sức quán tưởng. Sức định cộng sức quán tưởng ra thần thông. Ta nhớ. Thần thông là vậy đó:

[1:09:48]định nè, cộng với quán tưởng. Ví dụ như cái người đó họ muốn bay lên hư không, họ ở trong định, họ tưởng họ bay lên thì bay lên liền. Nhưng phải có cái thềm là cái định, cái nền là cái định. Còn nếu chưa có cái nền định mà ngồi đó mà tưởng hoài, bay vô... Bây giờ tu bây giờ đứng tôi tưởng bay hoài, cứ nhấp nhón chân không bay, tại mình không có sức định. Còn ví dụ như mình tưởng chữa bệnh người ta, mình để tay vô mình tưởng lực tuôn qua, có sức định lực tuôn qua liền. Còn mà không có thì để hoài không tuôn. Cho nên định, cái thần thông là hai cái này. Nên cái pháp môn mà quán tưởng hình tướng á, nó chỉ có lợi cho người đã có định, thì nó thần liền.

[1:10:25]Còn người không có định mà quán tưởng, thì nó sẽ thành cái gì? Loạn tâm. Bây giờ mình nói về hơi thở. Cái hơi thở là pháp môn cực kỳ quan trọng cho người tu thiền, mà Đức Phật rất là tán thán về pháp môn hơi thở, nhiều cái lợi lắm, ưu điểm nhiều hơn là khuyết điểm. Về cái thần kinh hơi thở đó, nó cũng giống như là các thần kinh khác, là nó giáp ranh giữa ý thức và vô thức. Giáp ranh giữa ý thức và vô thức. Vì khi mình thở nè, mình để ý nè, chúng ta để ý nha, ví dụ như là mình không nghĩ gì tới hơi thở, nó có thở không? Mình không nghĩ gì tới hết, nó có thở không? Cũng thở, nếu không mình chết làm sao.

[1:11:09]Nhưng mình nghĩ tới, nó có thở không? Cũng luôn, phải không? Như vậy là dù mình nghĩ hay không nghĩ nó vẫn thở. Cho nên thần kinh hơi thở nó vừa là thần kinh động vật, mà vừa là thần kinh thực vật. Thần kinh thực vật là thần kinh tự động, tức là thuộc vô thức, không nói tới rồi. Thần kinh động vật là thần kinh ý thức, chủ động. Thì cái hơi thở nó có cái hay là nó vừa giáp ranh giữa ý thức và vô thức mà nó không có khởi niệm, nó không có khởi ý tưởng, nên nó cái ưu điểm của nó là như vậy đó. Nó giáp ranh giữa hai cái vùng, vùng tâm thức. Giáp ranh. Và thứ hai là nó không có niệm. Nó chỉ là hơi thở thôi, không có niệm.

[1:11:51]Cho nên, khi mà áp dụng này sâu á, nó có thể đưa mình đi suốt cái con đường tâm này tới tuyệt đối được. Hơi thở rất là đặc biệt. Nhược điểm ít, lát mình sẽ phân tích, cũng có nhược điểm nhưng mà không... ít. Trước khi mà mình muốn nói tới hơi thở của thiền á, thì mình nói qua cái hơi thở của khí công trước một chút. Tại vì nhiều người nào giờ chúng ta có nghe nói hít hơi xuống đan điền phải không, có nghe không? Có không? Có coi phim chưởng không? Vận nội công rồi đó, hít hơi xuống đan điền, vận nội công đánh chưởng rồi đó. Thì cái đó là hơi thở của khí công, nó khác hơi thở của thiền. Nhưng mà nhiều người đã từng biết,

[1:12:23]đã từng tập, nên hôm nay mình nói qua để tránh cái sai luôn. Cái sai là thế này: Cái hơi thở khí công á là tưởng hơi thở đi theo cái kinh mạch, huyệt. Mà nhờ vậy tác động tích cực vào sức khỏe. Mà hai cái đường kinh quan trọng nhất là nhâm kinh và đốc kinh. Nhâm kinh và đốc kinh. Hơi thở đi theo hai cái đường đó, họ đi vòng vòng thế này. Mà khi đầu mình chưa đủ sức định đó, thường là chỉ thở xuống đan điền, dừng một lát rồi thở lên, ha. Thở vào đan điền, dừng lát thở lên. Nhưng mà nhiều người tu bị chướng ngại lại ở chỗ này: hít thở tưởng sâu quá, sâu quá, mình tưởng cái hơi mình đi vào trong sâu á.

[1:13:01]Nên lâu ngày bắt đầu mỗi lần hơi thở đi vào cái nó kéo ruột kéo gan đi xuống làm mình tức tối, nghẹt nghẹt, khó chịu. Đây là cái nhược điểm người hít thở khí công mà không biết rõ. Vì sao? Vì cái huyệt của mình nó nằm trên cái đường nhâm kinh này nó nằm cạn ngoài da, nó cách da một, hai ly à. Cho nên khi mà chúng ta hít thở nhớ đi ngoài da thôi, xuống đan điền cũng đứng ngoài da thôi, từ từ thở ra cũng ngoài da thì sẽ không bị cái hiện tượng là bị tức, bị nghẹt. Thì sẽ được cái sức khỏe. Nhớ như vậy. Nếu mà ai đã lỡ có biết cái hơi thở đan điền, thì nhớ thở bên ngoài da thôi, hơi đi ngoài da, nó không bị tức, bị nghẹt, mà càng ngày sức khỏe càng tốt.

[1:13:37]Còn hít ở trong sâu mình tưởng nó vô trong sâu trong da thì nó không còn nằm đi đúng kinh mạch nữa, nó sẽ bị xáo trộn cái ruột gan mà khi hơi thở đi qua, nhớ điều đó. Còn bây giờ hơi thở của thiền thì nó có hai loại: là hơi thở của chánh niệm, hơi thở của chánh niệm và hơi thở của chánh định.

[1:13:56]Hai cái này khác nhau. Hơi thở chánh niệm thế này nè, tức là hôm trước mình đã nói tới cái chánh niệm rồi, đã biết chánh niệm là không trụ mà kiểm soát tâm, lui ra phía sau này. Trong cái đó mình vẫn thở, vẫn thở sâu, thở đều mà không cần biết hơi thở đi đâu. Chỉ biết là mình đang thở thôi. Mà không theo dõi hơi thở mà chỉ theo dõi tâm. Theo dõi tâm, mặc dầu lúc đó đang cố ý thở. Chúng ta nhớ cái này. Cho nên quý sư khi mà tu chánh niệm kết hợp thêm hơi thở chánh niệm này nó có lợi lắm. Là chỉ theo dõi tâm, cố ý thở, có cố ý thở chứ không phải là không cố ý thở, cố ý thở cho hơi thở nó êm hơn, nó dài hơn, nhưng mà không theo dõi hơi thở.

[1:14:48]Đây là cái khó nè. Có cố ý thở cho nó êm hơn, dài hơn nhưng mà không theo dõi, chỉ lo theo dõi tâm theo đúng cái chánh niệm thôi. Nên lúc này tâm mình nó hơi căng ra làm hai, nó hơi căng ra làm hai một chút. Là một cái tâm để cố ý thở, một cái tâm để theo dõi tâm, nó hơi căng ra. Nên ở mình căng giống như người bên tu Mật tông mà miệng tụng chú mà tay bắt ấn rồi phải tập trung căng thẳng. Nên cái lối này là hơi thở chánh niệm. Còn hơi thở chánh định đó là theo dõi hơi thở. Đây là tất cả mọi điều quan trọng, theo dõi hơi thở. Theo dõi hơi thở nó đưa mình đi suốt con đường tâm này tới tuyệt đối luôn, là theo dõi hơi thở.

[1:15:26]Nên trong tất cả các kinh Đức Phật tán thán pháp môn hơi thở nhiều là vậy. Nó khác, đấy, theo dõi hơi thở nó khác với hơi gì thở khí công điểm này: Hơi thở khí công á là cũng theo dõi mà dẫn hơi thở mình đi xuống bụng, còn hơi thở của chánh định đó, nó không có dẫn hơi thở đi, nó chỉ theo dõi ngay chỗ mũi thôi. Bởi vì dù chúng ta hít ra hay hít vào đều đi ngang qua mũi. Cho nên người tu đứng tâm ở chỗ đó mà theo dõi hơi thở ra hay vào, biết cho rõ. Biết cho rõ, chú tâm biết rõ.

[1:16:00]Chú tâm biết rõ, hơi ra hay hơi vào biết cho rõ, không được lơi lỏng. Mà như chúng ta đã nói hồi nãy, cái chú tâm biết rõ vào đề mục á, nó tạo nên trạng thái gì của não? Trạng thái gì? Căn tánh thì mệt mỏi, phải không? Khi mà mình chú tâm vào đề mục lâu quá nó sẽ phát sinh ra mệt mỏi ở cái não, và lúc đó vọng tưởng nó len lén nó khởi lên, biết sao? Thì như vậy, cái người tu hơi thở này cũng không được tu lâu, không được ngồi nửa tiếng mà nhiếp tâm hết trong hơi thở là sẽ bực liền, vọng tưởng khởi lên liền. Cho nên chúng ta chú tâm theo dõi hơi thở, chỉ đều trong 10 hơi, 20 hơi, 30 hơi rồi nghỉ. Nghỉ bằng chánh niệm lại.

[1:16:43]Nghỉ bằng chánh niệm. Đây là cái yếu chỉ quan trọng giống như là câu niệm Phật vậy. Mà nếu ví dụ như là chúng ta nhiếp trong 10 hơi mà vọng tưởng khởi lên thì là biết mình bị gì? Biết làm sao? Căn cơ mình sao? Chưa đủ chánh niệm, phải không? Trước kia mình tu chánh niệm chưa vững, nên bây giờ mình nhiếp trong 10 hơi thở mà bị vọng tưởng. Còn mình chánh niệm đã đủ rồi đó thì 10 hơi, 20 hơi không bị vọng tưởng. Nghỉ lại, nghỉ, ngồi đó. Ngồi đó điều thân, an trú trong chánh niệm trở lại để thư giãn lại, một lát bắt đầu mới nhiếp vào 20 hơi thở khác hay 10 hơi thở khác tùy sức của mình. Có người tới 50 hơi, nhưng mà đừng ham đi nhanh,

[1:17:25]đi 10 hơi, 20 hơi thôi, tùy cái sức chánh niệm của mình trước kia. Nếu chánh niệm vững á thì mình đi 20 hơi, chánh niệm mình còn yếu thì mình đi 10 hơi thôi, rồi nghỉ, ngồi nghỉ. Thì từ từ cái người đó sẽ tăng lên được 50 hơi, 100 hơi, 150 hơi mà không vọng tưởng. Liên tục 150 hơi mà không vọng tưởng, rồi ngồi nghỉ. Nghỉ một lát đi 150 hơi khác, chú tâm biết rõ, nhưng bắt đầu hơi thở nó thay đổi. Khi mà cái sức định nó vào sâu dần dần thì cái hơi thở nó thay đổi. Tức là từ hơi thở thô ban đầu á, cái hơi thở nó nhuyễn lại, nó nhỏ lại mà nó sáng lại, nó như một sợi chỉ nhỏ thế mà sáng rực. Nó tập trung, nó tự động nó kéo hết cái biết mình vô trong đó luôn,

[1:18:06]tâm mình nó gom chặt hết vô trong đó, không cho vọng tưởng khởi nữa. Tức là nếu mà nhiếp vào được 150 hơi hay 200 hơi thì lúc đó mình không cần đếm nữa. Mình chỉ cần đếm tới 150 hơi thôi. Qua khỏi 150 hơi rồi không cần đếm nữa, chỉ biết rõ nó ra hay vào thôi. Bắt đầu hơi thở tự động thay đổi, từ hơi thở thô bắt đầu nó thành tế dần tế dần nhuyễn lại, nó như một sợi chỉ nhỏ mong manh mà nó sáng rực rõ ràng, kéo tâm mình hết vô trong đó là bắt đầu cái ý thức mình đang đi vào sâu dần dần dần dần, đi suốt con đường tâm. Nhưng mà ngang với chỗ này một hồi nó có rắc rối. Ngang chỗ này nếu mình không có thiện tri thức hướng dẫn

[1:18:43]thì hơi thở tự động nó dừng lại, ngồi đó không thở, ở trong định không thở, không chết, dừng lại đứng đây, không đi tới đâu nữa, không nhập định sâu hơn được nữa. Đây là cái trạng thái mình không làm chủ, không làm chủ. Để khắc phục cái tình trạng này thì mình phải có cái tác ý làm chủ là không cho hơi thở dừng, luôn luôn tác ý tiếp tục buộc phải thở, buộc mình phải thở dù lúc đó mình đã qua khỏi ý thức, đã vào vô thức rồi. Cái hơi thở nó như một sợi tơ nhện, nó nhỏ xíu mà nó sáng rực mà nó tập trung kéo hết tâm mình vô đó, không một niệm nào có thể khởi được nữa, nó vào sâu trong vô thức, mong manh mong manh như vậy mà không

[1:19:24]bao giờ mình cho nó dừng, mình phải có tác ý làm chủ không cho nó dừng. Thì nó sẽ đi lần lần nó đi hết con đường tâm. Nó đi hết con đường tâm. Đến khi nào mà hơi thở thật sự dừng, thật sự dừng,

[1:19:41]nghĩa là chúng ta nhiếp trong định tác ý làm chủ hơi thở buộc nó phải thở thì cái hơi thở nó nhuyễn lần, nó dài lần, nhuyễn lần dài lần cho đến cái ngày mà nó dù mình không cho nó dừng mà nó đến nó tắt hoàn toàn thì lúc đó là hết con đường tâm, đi xong hết con đường tâm. Hết con đường tâm nó là cái gì thì mỗi người tự biết, không nói nữa, phải không? Cái chánh định hơi thở thì nó có cái nhược điểm so với chánh niệm là nếu cái người mà chưa có cái chánh niệm vững á mà vội vàng đi vào hơi thở đó thì không có trí tuệ, cái trí tuệ ít. Cái thứ hai nữa là nhiều khi cái ngã nó vẫn còn mà mình không kiểm soát được.

[1:20:31]Tại vì sao? Tại vì nó tập trung quá đi, nó tập trung, còn cái chánh niệm á nó không trụ nó không có trụ, mà nó tán rộng ra nó kiểm soát được những cái thầm kín của mình. Nên cái người mà vội vàng đi vào hơi thở chánh định quá đó, trừ trường hợp người đó đi vào quá sâu rồi thôi, chứ còn đang định ở mức độ trên này đó thì mình sẽ thấy họ có những biểu hiện của cái bản ngã mặc dù âm thầm nhẹ lắm, nhẹ chứ không có sâu không có thô, không có thô như mấy pháp môn kia đâu, nhưng mà nó vẫn có. Với cái trí tuệ của họ trong công việc trong cái ứng xử ở ngoài nó không có nhạy bén bằng cái người chánh niệm.

[1:21:04]Cho nên làm gì thì làm, tu pháp môn gì thì tu, cái chánh niệm căn bản không bao giờ được bỏ qua. Chúng ta phải tu chánh niệm thật vững, kiểm soát tâm thật vững trước khi đi vào các pháp môn khác thì rất là có lợi. Thì tu pháp môn nào cũng có thể có lợi hết, nhưng phải có thầy hướng dẫn tại khi mình vào sâu rồi nó có những cái ngõ rẽ của nó, mình phải biết. Tính chừa thời gian lâu lâu quý sư hỏi, nhưng mà cũng hết giờ. Lần sau á chúng ta sẽ học về các hiện tượng lạ trên bước đường ta tu hành. Ví dụ khi mình ngồi thiền nó có những hiện tượng lạ xuất hiện thì nó là gì, do đâu, làm sao giải quyết?

[1:21:44]Cái hơi thở đó đáng lẽ phải nói nhiều lắm. Ta có thắc mắc gì không? Hỏi.

[1:21:55]Dạ đúng rồi. Nó như thế này, thật ra là những điều mà tôi giảng thì nó sâu quá. Trong cái vấn đề thực hành lý luận về thiền rất là sâu. Cho nên những người mà mới quá đó, mới học quá thì cái sự cảm nhận nó không hết, không nhiều lắm. Tuy nhiên chỉ cần thôi nắm vững, với những người sơ cơ thì thôi nắm vững, để sau này trên bước đường thực hành mình gặp tới gặp tới thì mình đối chiếu lại với cái mình đã hiểu. Còn những vị mà tu lâu, có kinh nghiệm thì mình mới có bớt phát minh riêng, bớt phát minh riêng. Như cái chánh niệm, ngay cả bài của Sư Hải cũng vậy. Cái bài của Sư Hải vừa rồi á, sư không có dựa vào cái kinh

[1:22:31]nghiệm, sư chỉ dựa trên lý luận, nên nó đi hơi xa. Mình cần cái kinh nghiệm, với cái cảm nhận về Phật pháp vậy đó. Nhiều khi chúng ta chưa tới, nhưng mà nếu mình cảm nhận đúng á nó cũng là một cái định hướng đúng cho cuộc đời mình, còn nếu mình định hướng sai thì về sau mình đi tu mình lạc chỗ. Giờ chúng ta ghi câu hỏi đi, quên nữa. Câu hỏi là: Trình bày một cái pháp môn mà mình tâm đắc. Trong cái đó khi mà trình bày một pháp môn mà mình tâm đắc á, thì mình vừa nói phương pháp, vừa nói cái hiệu quả, vừa nói cái nhược điểm, ưu điểm của nó, mình phân tích hết mọi khía cạnh. Nếu mà người phân tích được 2-3 pháp môn thì càng tốt,

[1:23:15]mình có kinh nghiệm sau này mình dạy người khác. Còn không thì mình một cái pháp môn mà mình tâm đắc cũng có lợi. Trình bày một pháp môn tâm đắc nhất. Được. Cái câu hỏi là như vậy.