Lời giảng: Sự Xuất Hiện Phi Thường - Kể Chuyện Đức Phật 01

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 46:55

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay ngày Phật Đản lại về, khắp đất trời như tưng bừng vui lại niềm vui của 2627 năm về trước, cái ngày mà Đấng Cha Lành của chúng sinh thị hiện vào cuộc đời đau khổ lầm lỗi này để dóng lên tiếng chuông từ bi giải thoát. Ngài lớn lên trong cung vàng điện ngọc rồi khước từ cung vàng điện ngọc để vào rừng hoang tu hành khổ hạnh. Ngài thực hiện một sự khổ hạnh khủng khiếp chưa từng thấy, đến nỗi thân Ngài tiều tụy, mạng sống Ngài mong manh như sương trước nắng. Rồi Ngài lại khước từ sự khổ hạnh sai lầm đó để thực hành thiền định. Và chính con đường thiền định tuyệt vời này đã

[0:56]đem đến ánh sáng cho mười phương thế giới. Từ muôn kiếp qua, chúng sinh vì vô minh mà trôi lăn mãi trong luân hồi sinh tử. Trong đêm dài sinh tử triền miên, chúng sinh tạo vô số nghiệp nhân thiện ác để rồi khi thì được vui, khi thì chịu khổ. Nhưng dù khổ hay vui, dù là ông hoàng bà chúa hay kẻ ăn xin lầm than cơ cực, tất cả đều bị ràng buộc trong luân hồi vô tận, tất cả đều bị chìm đắm trong vô minh âm u. Sống trong cuộc đời bụi bặm này, mỗi người chúng ta đều phải lo toan vất vả về sinh kế, tranh nhau từng chút hư danh, giành nhau từng chút ảo lợi, cuối cùng cơn lốc vô thường cuốn trôi tất cả.

[1:42]Giữa biển khơi trầm luân đau khổ đó, chúng ta mãi lặn hụp nhọc nhằn và không biết đâu là bến bờ thanh lương hạnh phúc. May mắn thay Đức Phật ra đời, Ngài thắp lên ánh sáng từ bi, mở ra con đường giải thoát, chỉ dạy lối về yên vui. Từ đây, chúng ta có bậc Đạo Sư cao cả, chúng ta có Đấng Cha Lành bao dung, chúng ta có đảo cồn để nương tựa giữa biển khơi, có ánh sáng mặt trời giữa đêm tối. Có lẽ nhờ biết Phật pháp từ nhiều đời trước mà hôm nay chúng ta không bị đọa vào ác đạo, còn gặp lại Phật pháp để tu hành. Nhưng cũng có lẽ chúng ta chưa đủ siêng năng tinh tấn làm theo lời Phật dạy nên tuy được thân người mà phước đức kém cỏi,

[2:24]tâm quan chưa khai, lòng thương yêu chúng sinh ít ỏi, trí giác chợt nhớ chợt quên. Kính lạy Đức Phật Đại Từ Đại Bi, hôm nay cả thế giới thành tâm vui mừng tưởng niệm ngày Người đến với cuộc đời.

[2:39]Chúng con xin thành tâm sám hối lỗi lầm từ muôn kiếp trước. Chúng con đã ích kỷ, si mê, không biết thương yêu lẫn nhau, không biết đem lại niềm vui cho nhau. Chúng con đã hận thù, chúng con đã ganh ghét. Nguyện trên Đức Phật muôn vàn cao quý thương xót chứng minh cho sự hối hận của chúng con. Chúng con nguyện lòng từ nay và mãi về sau siêng năng tinh tấn tu hành, gạn lọc tâm hồn trắng trong, thanh tịnh. Chúng con nguyện phát triển lòng từ bi thương yêu tất cả chúng sinh như Người đã thương yêu chúng con. Chúng con nguyện mãi mãi đem cuộc sống của mình để sống cho tất cả. Chúng con nguyện nỗ lực thiền định để tìm thấy sự giác

[3:14]ngộ huy hoàng như Người đã tìm thấy và chỉ dạy. Chúng con kính lạy Người là Đấng Giác Ngộ vô biên, là Đấng Từ Bi vô hạn. Thế giới hôm nay còn quá nhiều tội lỗi và khổ đau. Chiến tranh, bệnh tật, thiên tai vẫn đè nặng lên thân phận con người. Sự ác độc vẫn ngự trị khắp nơi. Vì thế, theo bước chân Người đã đi, chúng con nguyện cố gắng tu hành để đủ khả năng làm lợi ích cho chúng sinh, đóng góp vào nền đạo đức của thế giới. Chúng con nguyện chung tay góp sức để đẩy lùi sự ác độc, si mê trong lòng mọi người, tỏa hương thơm của đạo giải thoát vào mọi nẻo thế gian. Hôm nay nơi đây, giữa núi rừng u tịch, có những đứa con của Người quỳ

[3:55]dưới chân Người, dâng lên Người tất cả tấm lòng tôn kính vô biên. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thật là hạnh phúc, thật là an lạc khi mà tất cả chúng ta là những người con của Phật ngày hôm nay nhân ngày Phật Đản tề tựu về đây để chung nhau tấm lòng thành kính dâng lên Đức Phật, để chúng ta tưởng nhớ đến một bậc thánh siêu phàm tuyệt đối đã đến với thế gian và để lại thế gian này ánh sáng. Còn công việc của chúng ta còn lại là đem ánh sáng đó mồi ra đến từng trái tim này đến trái tim khác để làm sao cho khắp thế giới

[4:57]này, mỗi con người, mỗi trái tim của một người đều là một vầng ánh sáng giác ngộ. Hôm nay, thay vì nói một bài đạo lý thì thầy xin kể về câu chuyện cuộc đời của Đức Phật.

[5:14]Câu chuyện về cuộc đời Đức Phật thì có lẽ chúng ta đã nghe nhiều lần, hôm nay thầy nói lại một chút.

[5:25]Trước hết, chúng ta biết cái khung cảnh ở trong cái thời của Đức Phật là Đức Phật đản sinh ở một cái tiểu quốc, một cái quốc gia nhỏ gọi là tiểu quốc Sakya, tức là Thích Ca đó. Trong cái tiểu quốc Sakya đó cái kinh thành là Kapilavastu, tức là Ca Tỳ La Vệ. Mà cái dòng họ mà nắm quyền cai trị trong cái thời gian mà Đức Phật đản sinh là dòng họ Gotama.

[5:58]Đất nước Sakya vào thời đó thực sự là một cái nước cộng hòa chứ không phải là một nước quân chủ. Là vị vua do một cái hội đồng lãnh đạo bầu lên chứ không phải là cha truyền con nối. Đôi khi có cha truyền con nối với điều kiện là cái người hoàng tử phải thật là xuất sắc, chiếm được cái lòng tin của quần thần thì mọi người sẽ bầu lên. Tuy nhiên, cái tiểu quốc Sakya đó lại lệ thuộc là chư hầu của một cái vương quốc lớn hơn là vương quốc Kosala. Thì lúc đó vua của Kosala ổng lại cũng tên là Mahakosala, tức là Đại Kiều Tất La. Thì khi mà quần thần ở Sakya bầu lên vua Tịnh Phạn thì phải được đại vương ở Kosala chuẩn y, chấp nhận thì mới được làm vua.

[6:58]Mà làm vua nhưng mà không được nắm quân đội. Quân đội á là do hai vị tướng nắm giữ mà hai vị tướng đó lại là do vua ở Kosala chỉ định, à chỉ định. Cho nên cái quyền hành là nắm giữ hành chánh tổ chức á thì thuộc về vua Tịnh Phạn nhưng mà quyền điều hành quân đội lại là do hai vị tướng khác nhau mà họ đều phải nghe lệnh trực tiếp từ Kosala. Dĩ nhiên là khi một vị nào được bầu làm vua đều cố gắng là đào tạo con mình phải cực giỏi để lấy được niềm tin của quần thần mà cho sau này quần thần tiếp tục bầu con mình lên làm vua nối tiếp. Đó là lý do mà Thái tử Sĩ Đạt Ta đạt nhận được một sự giáo dục cực kỳ tinh tế, kỹ lưỡng và xuất sắc vào thời đó.

[7:51]Ngài giỏi trên nhiều lĩnh vực. Đó là một cái điều đặc biệt. Và trong thời đó có một cái đại học, quốc gia Kosala có một đại học để dạy cái giai cấp lãnh đạo là đại học Taxila. Thì vua Ba Tư Nặc là Pasenadi cũng được học ở đại học đó và sau này kế thừa cái ngai vàng của vua cha là Mahakosala. Thì vua Ba Tư Nặc với Đức Phật của chúng ta là đồng trang lứa. Bên đây á thì vua Tịnh Phạn có người con là sinh ra người con là Sĩ Đạt Ta thì bên kia vua Kosala cũng có một người con trưởng là Ba Tư Nặc. Hai vị đó ngang nhau. Tuy nhiên là vua Kosala mất sớm thì vua Ba Tư Nặc lên nắm ngôi. Còn bên đây thì vua Tịnh Phạn làm vua rất là lâu.

[8:39]Trước khi Thái tử Sĩ Đạt Ta ra đời và sau khi Thái tử Sĩ Đạt Ta đi tu thành Phật rồi ổng cũng làm vua rất là lâu. Còn cái vua gọi là vua Tịnh Phạn, cái tên là Suddhodana. Suddhodana, "dana" là lúa, "suddho" là sạch. Nghĩa là người trồng lúa sạch. Là sao vậy cái tên lạ là vì sao? Vì vào cái thời đó là nông nghiệp trồng lúa là cái kinh tế chủ yếu mà ai mà có được kỹ thuật trồng lúa giỏi, có nhiều đất đai thì người đó có nhiều quyền hành. Thì vua Tịnh Phạn là một người có nhiều quyền hành vì có kỹ thuật trồng lúa sạch và có nhiều đất đai. Đại khái là như vậy. Thì à vua vua Tịnh Phạn á, mình không ghi không biết được là ông có tất cả

[9:37]bao nhiêu người vợ, nhưng một điều chắc chắn là ông lấy hai chị em ruột. Một là Thánh Mẫu Ma-da, mẹ của Sĩ Đạt Ta. Hai người em ruột là bà Ba-xà-ba-đề, tức là bà Ba-xà-ba-đề, người mà sau này cũng xuất gia để trở thành cái Tỳ-kheo-ni đầu tiên. À là ông cưới hai người chị em ruột. Và rất là lâu vẫn không có con, cho đến khi mà bắt đầu có thai thì cả hai chị em ruột đều mang thai, là Thánh Mẫu Ma-da hoài thai Sĩ Đạt Ta, còn bà Đức Bà Ba-xà-ba-đề thì hoài thai Hoàng tử Nan-đà, Nan-đà. Một người mà chúng ta sẽ gặp lại sau này là một người ham thích trần gian. Đức Phật cũng phải hóa độ rất là vất vả,

[10:28]phải dùng nhiều thần thông hóa độ, rồi sau này Hoàng tử Nan-đà mới chịu mà dứt khoát tâm trí để tu hành luôn, chứ còn thuở ban đầu thì Hoàng tử Nan-đà cũng không chịu tu. Thì cái câu chuyện là vào cái đến năm 40 tuổi, 39-40 thì Thánh Mẫu mới mới có mang.

[10:51]Thì đến năm 39-40 á, Đức Bà mới hoài thai. Thì chúng ta nghe kể rằng cái điềm lành xuất hiện là bà nằm mộng thấy à giữa không trung tiếng nhạc trời vang lừng và xuất hiện một con voi trắng lớn sáu ngà ở trên không trung đi đến rồi nhập vào luôn cái bụng của bà. Sáng hôm sau bà kể giấc mơ đó lại thì vua cho những người bốc sư, những nhà tiên tri gọi là những cố vấn tâm linh á hỏi thì những vị đó đều trả lời là phù Hoàng Hậu sẽ hoài thai một quý tử, một người cực kỳ đặc biệt cho thế gian, cho hoàng tộc để có thể nối được cái ngôi vua này. Đó là điều mà vua Tịnh Phạn rất là mong, bởi vì nếu mình không có một người con xuất sắc thì quần thần

[11:40]sẽ bầu cái người của một cái dòng tộc khác lên làm vua và ngai vàng mất. Cho nên ai cũng mong vậy. Thì trong suốt mà thời gian bà hoài thai thì bà sống như một người tu. Bà sống như một người tu, sống rất thanh tịnh, vì nhiệm vụ của bà là chỉ để hoài thai một Đức Phật cho nhân loại. Thì theo tục lệ của Ấn Độ, đến ngày sinh nở, cái người phụ nữ phải về quê mẹ mình để sinh nở, chứ không có ở lại nhà chồng. Mà đó thành một cái tục lệ nha, cũng lạ, chứ còn như người Việt Nam mình hiện nay thì không có hén, không có, nhưng mà ngày xưa là như vậy. Thì cũng theo truyền thống thì vua Tịnh Phạn mới sắp sửa

[12:20]thị tỳ là tỳ nữ, thị nam, thị vệ đưa bà trên chiếc xe ngựa hoặc là xe bò vào thời đó để đi về phía đông. Tại vì quê ngoại của Đức Phật nằm ở phía đông của kinh thành Ca Tỳ La Vệ, nằm ở cái vùng một cái cũng là một cái cái thị trấn lớn, một thị xã lớn cũng gọi là một cái kinh đô Đê-va-đà-ha, tại vì Thánh Mẫu Ma-da cũng là công chúa một tiểu quốc khác. Thì ừm trên đường đi, trên đường đi tại đường nó dằn xóc, vào thời xưa đó đường đi rất là dằn xóc mà phụ nữ gần đến ngày sinh mà đi dằn xóc thì dễ xuất hiện cái hiện tượng là sinh sớm, sinh sớm vài ngày. Nhưng mà cũng có lẽ là do cái nhân duyên của một Đức Phật không bao

[13:03]giờ chấp nhận sinh ở trong nhà mà phải sinh trong rừng cây. Khi xe đi đến gần cái khu vườn Lâm-tỳ-ni thì có một cái mùi hương thơm nó nó nó nó lan cả một cái vùng lớn mà trên xe đi nhanh như vậy mà mùi hương vẫn tỏa ra. Thì Đức Bà mới kêu xe đi chậm lại, đi chậm lại bà mới vén cái rèm, bà nhìn qua cái khung cửa, nhìn qua cái khung cửa của xe ngựa, xe ngựa vẫn lốc cốc dàng dàng dằng dằng đi, thì bà mới nhìn qua nhìn lại hai bên đường coi cái gì mà nó thơm như vậy. Thì giống như mà có một cái vầng sáng vậy đó, có một cái đóa hoa ưu đàm nở ra ở bên lề đường, nói trong lề đường chứ nó vào sâu một chút.

[13:43]Thì cái hoa đó rất là lớn, mùi thơm ngào ngạt cả một cái không gian thật là rộng. Thì thấy được cái hoa đẹp không thể tưởng trên thế gian chưa từng có, mà theo như kinh sách Ấn Độ nói rằng khi nào có thánh nhân xuất hiện thì hoa ưu đàm sẽ xuất hiện. Thì bà bà thấy cái đóa hoa quá đẹp mà lớn mà mùi thơm ngạt ngào, bà mới kêu người phu xe dừng lại à và bà mới kêu các thị tỳ, thị nữ đỡ bà xuống. Bà muốn muốn hái cái hoa đó đem theo đi về quê, vì cái hoa đẹp và thơm quá. Thì các thị nữ đỡ bà xuống và đi chầm chậm về phía cái hoa thì bà đi luôn vào rừng, tại vì cái hoa nó không nằm ngay ở lề đường, nó nằm ở trong sâu.

[14:26]Bà mới đi vào rừng, đi chầm chậm chầm, rồi đằng sau là thị nữ, thị tỳ đi theo dần dần dần dần. Thì khi đến dưới cái hoa bà mới đưa tay lên để hái, vừa mới chực cành hoa thì thì Thái Tử bước ra từ cái hông phải của mẹ bước ra và bước xuống đất. Bước xuống đất thì theo truyền thuyết kể rằng thì không để cho chân ngài bị dính đất thì những đóa hoa mà người ta gọi là hoa sen hay mình không biết cái gì, nhưng mà đại khái đã có những cái hoa bung ra nở đón cái chân của Thái Tử. Là ngài dẫm đi lững thững, lững thững từng bước và ngài đã nói cái tiếng gì đó, nói một cái câu nói nào đó, nghe rất là lạ.

[15:05]Lúc đó mọi người không nghe rõ, mà sau này kinh điển ghi lại cái câu nói là: "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn", thì là những câu nói do người sau đặt thôi. Chứ còn lúc đó Thái Tử có nói cái gì đó, một cái khẩu khí gì đó mà tiếng nghe không rõ lắm. Và đồng thời lúc đó thì ánh sáng vang lừng cả bầu trời, tiếng nhạc trời vang khắp cả không trung và hoa trời rơi như mưa xuống cả cái vùng đó. Là hương thơm ngào ngạt khắp nơi thì từ Thánh Mẫu Ma-da cho tới nguyên đoàn tùy tùng vô cùng sửng sờ, kinh ngạc. Lúc đó có mưa bay xuống, mưa bay xuống mưa tập trung như là để tắm rửa cho Thái Tử này đó,

[15:43]hoa rơi đầy, rồi lúc đó các thị tỳ mới bừng tỉnh chạy lại bồng Thái Tử lên. Khi bồng Thái Tử lên như vậy thì ừm thì không còn về quê để cần phải sinh nở ở quê nữa mà đã sinh giữa đường rồi. Thôi bây giờ đi về quê ngoại hay về kinh thành Ca Tỳ La Vệ cũng vậy, cho nên Phu Nhân đã quyết định là quay trở lại kinh thành Ca Tỳ La Vệ, mà cho một số người thị vệ phi ngựa nhanh về báo cho Quốc vương biết trước, rồi còn đoàn người thì đánh xe chầm chậm, chầm chậm đi về. Thì ở đây cũng là một cái bất lợi đối với cái sức khỏe của một sản phụ là vừa mới sinh xong mà đi trên xe ngựa dằn xóc của con đường quê cách đây mấy

[16:25]ngàn năm thì chúng ta hiểu là cái điều đó bất lợi cho sản phụ, phải không? Những người mà có kinh nghiệm sinh nở mấy điều đó phải như phải giữ gìn hả? Vì thầy không có bị, thầy không biết làm sao nữa. Thầy thầy đoán vậy thôi chứ không biết có phải không? Phải không ta? Phải không? Tức là mới sinh là phải giữ gìn, kiêng cữ sao đó, nhưng mà bà bị dằn đi sinh nửa đường, rồi cái trên đường về lại bị dằn nữa, nên bất lợi cho sức khỏe của một sản phụ. Thì ừm khi mà về đến kinh thành thì vua Tịnh Phạn và quần thần ra đón trong một niềm hân hoan, vui mừng. Vua Tịnh Phạn bế con mà cực kỳ vui sướng, bởi vì dung mạo của Thái Tử quá đẹp, chưa từng thấy.

[17:08]Toàn thân như toát ra một cái ánh sáng mơ hồ, không thấy rõ, nhưng mà có một ánh sáng diệu kỳ gì nơi toàn thân tỏa tỏa ra nơi đứa bé này. Thì lúc đem về Hoàng Hậu coi như được nằm an dưỡng, được bốc thuốc, được uống, chăm sóc vì Hoàng Hậu lúc đó bị sốc, bắt đầu cơn bệnh xuất hiện rồi. Cơn bệnh của một người sản phụ lúc đó đã đi một đoạn đường dài, sau khi sinh bắt đầu xuất hiện. Nhưng bà nằm an nghỉ cho thái y xem xét, chữa trị. Vua Tịnh Phạn mừng quá mới lập tức mời một vị mà cố vấn về tâm linh, một vị đạo sĩ mà chúng ta biết tên là tên là gì? A Tư Đà. Cái tiếng Pāli thời đó là Asita, chữ "a" là không, chữ "sita" là trắng, Asita nghĩa là không trắng.

[17:53]Như vậy ông này màu da ổng làm sao? Màu da để coi coi đây giống ai. Đại khái là ổng đen hơn thầy, đại khái là vậy. Thì cái vị đạo sĩ này là một người tu hành có sở đắc tâm linh nên biết được nhiều chuyện quá khứ, vị lai là có sức định. Thì lúc á là Thái Tử mới có được ngày thì mời ông vào để ông xem. Ông xem ông nhìn chăm chú, chăm chú mà rất là là là nghiêm, gương mặt càng lúc càng nghiêm trọng, chứ không phải như mình là nhìn qua nhìn lại quá. Ông nhìn và vua Tịnh Phạn mới theo dõi cái nét mặt của ông á thì mới thấy là cái nét mặt ông nghiêm trọng dần, nghiêm trọng dần lên thì vua Tịnh Phạn cũng căng thẳng theo, căng thẳng không biết có chuyện gì.

[18:36]Tại ví dụ như ổng xem ổng cười ổng vui rồi thì dễ chịu, ổng xem mà cái lông mày càng nhíu lại, gương mặt căng thẳng ra, nghiêm trọng lần lần thì vua Tịnh Phạn bắt đầu cũng căng thẳng theo từ từ. Một lát là ổng khóc luôn, chịu hết nổi, bùng và ổng khóc, ổng khóc ngon lành. Mà một đạo sĩ chín mươi mấy tuổi, cả một đời lòng lạnh như băng tuyết, vậy mà lúc đó bật khóc, òa khóc lên. Thì vua Tịnh Phạn là lúc đó là ổng hết hồn rồi, ổng kinh hoảng, sợ hãi. Ổng hốt hoảng hỏi: "Chuyện gì? Chuyện gì? Là xin ngài cho trẫm biết, cho ta biết là điều gì bất hạnh sẽ xảy với Thái Tử?" Thì ông mới nức nở ông nói:

[19:09]"Không, Thái Tử sẽ là một bậc tôn quý của cuộc đời này, giữa thế gian này. Một người mà nếu tu hành sẽ trở thành một Đấng Giác Ngộ của nhân loại, còn nếu không tu hành thì sẽ trở thành mà bây giờ chúng ta gọi là bá chủ thế giới, tức là cái vương quyền của mình sẽ lan khắp tất cả mọi miền trên cái trái đất này. Nhưng mà thần nghĩ thì có lẽ Thái Tử sẽ đi tu để trở thành một Đấng Giác Ngộ." Thì cái điều này vua Tịnh Phạn nghe không vui, tại vua Tịnh Phạn đang lo là khi mình chết, con mình không có nối ngôi thì quần thần sẽ bầu một cái dòng họ khác lên làm vua. Đang lo, nên câu đó nói làm cho vua Tịnh Phạn không vui.

[19:52]Lúc đó là đạo sĩ Asita cũng có người cháu, thì ông dặn người cháu ổng là: "Sau này phải tìm về để tu hành với Thái tử". Ông báo trước như vậy. Thì đến ngày thứ bảy là cái lễ đặt tên theo cái truyền thống của vương quyền của Ấn Độ ấy, cái mới đem Thái tử ra ngồi ở giữa cung điện, rồi mời bảy vị tế sư khác. Bảy vị tế sư này cũng là những nhà tiên tri, mặc dù thua đạo sĩ A-tư-đà, nhưng cũng là những người có khả năng tiên tri, cũng biết coi bói tiên tri, cũng có tu hành sao đó, không biết, người xưa họ cũng có những người vậy. Trong nhà vua họ luôn luôn tuyển những người mà có năng lực tâm linh vào để cố vấn.

[20:35]Thì khi mà bảy vị đó mới ngắm Thái tử thì mới phân tích, bắt đầu bữa nay mới phân tích là 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Mới ghi chép lại, phân tích cho vua cha và cả hoàng cung nghe cái quý tướng của Thái tử. Từ cái lông trắng ở chặng mày, từ cái gò, cái đỉnh nhục kế phía trên cao, từ vai, từ cái tai, từ cái tóc và từ cái lông,

[21:02]từ cái bàn chân, bàn tay, mình mẩy sao, nghĩa là họ phân tích 32 quý tướng như vậy và 80 vẻ đẹp. 32 quý tướng thì bây giờ mình cũng khó biết được. Nhưng mà muốn biết 80 vẻ đẹp thì thì thì thì dễ. Làm sao biết 80 vẻ đẹp? Bữa hôm thầy có nói rồi đó. Muốn biết 80 vẻ đẹp thì mình phải biết 80 vẻ xấu, phải không? Mà muốn biết 80 vẻ xấu thì phải nhìn thẳng lên pháp tòa, thì đó là mình sẽ biết được. Thì sau khi phân tích như vậy xong thì bảy cái vị đạo sĩ đó, bảy vị đạo sĩ đó cũng tiên tri như vậy là Thái tử hoặc sẽ trở thành một Đấng Giác Ngộ, hoặc là sẽ trở thành bá chủ thế giới, và đặt cái tên là Sĩ-đạt-ta, nghĩa là người đạt được cái ước nguyện của mình.

[21:51]Sĩ-đạt-ta nghĩa là người đạt được cái ước nguyện của mình. Và điều khi mà các vị tế sư đó với vua Tịnh Phạn đặt cái tên đó đó, với cái ý nghĩ là đạt được cái ước nguyện của vua Tịnh Phạn là có một người để kế thừa vương quyền. Nhưng mà không ngờ cái tên đó lại ứng với cái tâm của Thái tử là một người muốn đi tìm cái chân lý tuyệt đối để cứu khổ thế gian. Nên cái tên đó trước hết nó đẹp lòng cho mọi người lúc đó cái đã. Thì trong bảy người tế sư mà xem tướng cho Thái tử thì có một người tế sư trẻ tuổi nhất, năm đó ông khoảng 20 tuổi, tên là Kiều Trần Như. Kiều Trần Như là đệ tử mà đắc đạo đầu tiên của Đức Phật,

[22:36]thì không ngờ lớn tuổi hơn Thái tử khoảng 20 tuổi, cũng là người mà ngày xưa đã xem tướng cho Thái tử. Đấy là cái mối quan hệ như vậy. Thì cái lễ đặt tên vừa xong thì thị nữ cũng chạy ra báo cho vua Tịnh Phạn là Hoàng hậu Ma-da cũng vừa trút hơi thở cuối cùng. Là cái niềm vui và nỗi buồn đến cùng một lúc trong hoàng cung. Nói theo khoa học thì do là phải chịu đựng cái chuyến đi xa khi lâm bồn, rồi do điều kiện vệ sinh, y tế không tốt, cho nên Hoàng hậu Ma-da đã mất sớm giống như vô số cái sản phụ vào thời xưa. Vào thời xưa sinh con là thập tử nhất sinh, là vượt cạn, giống như là đánh đổi giữa cái sống

[23:26]và cái chết vào thời đó, chứ không như bây giờ. Và số phận của Hoàng hậu cũng đã như bao nhiêu cái phụ nữ khác là sinh được đứa con rồi đánh đổi luôn cái mạng sống của mình cho đứa con của mình. Còn nói theo Đạo, nói theo tín ngưỡng thì Hoàng hậu đã làm xong cái nhiệm vụ cao quý của mình là hoài thai cho nhân loại một một Đức Phật, một Đấng Chánh Giác, và bà thanh thản ra đi. Nơi bà quay trở về cái chỗ bà đã đã xuất phát, đó là cõi Trời, lần này là cõi Trời Đao Lợi. Chúng ta nói thêm nữa là cõi Trời Đao Lợi là cõi chỉ dành cho những bậc thánh. Chỉ những người nào chứng được thiền định, đắc được thiền định mới sinh về cõi Trời Đao Lợi.

[24:16]Người bình thường như chúng ta dù có làm phước hết ngàn sông ngàn biển mà tâm không có chứng thiền định vẫn không sinh về cõi Trời Đao Lợi, chúng ta nhớ điều đó. Bởi vì ở trong cái cõi đó, các thiên tử luôn là sống trong cái tâm của thiền, luôn hạnh phúc hân hoan trong thiền, sống bằng thần thông và trong định, nhớ như vậy. Và như vậy chúng ta hiểu điều là trong hai chị em mà vua Tịnh Phạn cưới thì người chị là Ma-da phu nhân có một đức hạnh tuyệt diệu như một người tu. Nghĩa là bà sống đoan chính, hiền lành, từ ái và thanh tịnh. Lúc đó bà không có biết tu, bà không phải là người xuất gia, tuy sống một đời sống từ thuở nhỏ là một công chúa,

[25:07]khi được vua Tịnh Phạn cưới về là thân phận một hoàng hậu, nhưng mà lúc nào bà cũng như một thánh nữ, là tâm luôn luôn an trú trong thanh tịnh, trong thiền định. Đây là điều rất là đặc biệt. Và chỉ có cái người phụ nữ nào mà có cái tâm trong thiền định mới được quyền hoài thai một vị Bồ Tát để xuất hiện làm một Đức Phật. Và trong suốt thế gian này chỉ có một người duy nhất, đó là Thánh mẫu Ma-da, không có người thứ hai. Không có một người nào sống giữa thế gian sung sướng, làm công chúa rồi làm hoàng hậu, có chồng mà tâm là tâm của một vị thánh, tâm là tâm nhiếp trong thiền định, trên thế gian không có người thứ hai.

[25:50]Đây là điều sử liệu không viết. Không có người thứ hai, chỉ có một người duy nhất từ mấy ngàn năm xưa và tới mấy ngàn năm sau nữa là Thánh mẫu Ma-da. Còn tất cả chúng ta, ngay cả người em ruột là Ba-xà-ba-đề cũng vậy, tâm không bằng người chị, tâm không có nhiếp trong thiền định thường xuyên như người chị. Mà bà phải đợi đến khi bà xuất gia với cái người con của mình đó, tức là người con của chị mình đó là Đức Phật á, rồi bà tu tập một thời gian bà mới đắc đạo. Bà cũng dễ lắm, mặc dù rất là lớn tuổi nhưng bà tu chứng cũng rất là nhanh vì cái công đức nuôi Đức Phật từ thuở bé rất là lớn. Chỉ riêng có người chị của bà là Thánh mẫu Ma-da

[26:28]là một người sống trong thế gian bình thường nhưng mà tâm là tâm của một vị thánh, và chỉ có người đó mới được phép mang thai một vị Bồ Tát. Chúng ta nhớ điều đó như vậy. Đây là một điểm đặc biệt của Thánh mẫu Ma-da. Cho nên là

[26:45]đúng ra là bởi vì chúng ta không có thờ Thánh mẫu Ma-da vì người ta không biết điều này, không biết. Không biết rằng là cái công đức của bà đến cỡ nào, cái đức hạnh của bà đến cỡ nào mới được phép hoài thai một Thái tử. Chúng ta không biết nên thường chùa chúng ta bỏ qua mất luôn. Chớ lẽ ra chúng ta phải phải phải thờ phụng bà đấy. Bởi vì bà là một vị thánh chứ không phải là một người thường. Thì khi bà mất thì lúc đó là một nỗi buồn ập xuống hoàng cung, làm đám tang. Thì ngay lúc đó, vài hôm sau là Đức bà Ba-xà-ba-đề cũng hạ sinh hoàng tử Nan-đà luôn. Thì khi sinh con như vậy, bà mới giao cái người con ruột

[27:25]của mình là Nan-đà đó cho một người nhũ mẫu nuôi nấng, còn đích thân bà là nuôi con của chị mình, đích thân bà nuôi Thái tử Sĩ-đạt-ta coi như là con của mình. Đây là cái tình chị em rất là cảm động, rất là thiêng liêng. Cho nên dù mất mẹ nhưng mà Thái tử cũng lớn lên trong vòng tay chăm sóc thương yêu của mọi người, của người dì của mình mà cũng như là một người mẹ của mình. Cái tình thương yêu không hề thiếu. Bởi vì cái phước của Thái tử, cái phước của Ngài là vô lượng kiếp Ngài thương yêu chúng sinh, cho nên bây giờ Ngài sinh ở đâu, Ngài cũng được mọi người thương mến là như vậy. Bà Ba-xà-ba-đề thì sau này có sinh thêm một công

[28:06]chúa nữa, công chúa đó tên là Sundari Nanda. Một công chúa, cho nên có ba anh em mà chơi thân với nhau ở thời đó là Thái tử Sĩ-đạt-ta nè, hoàng tử Nan-đà và công chúa Sundari. Rồi có một người em họ, em chú bác ruột của Đức Phật là ngài A-nan. Ngài A-nan thì sinh sau Đức Phật mười mấy năm. Có một người em họ là anh của ngài Ananda là ngài Ma-ha-ma-nam, sau này cũng giữ gìn vương quyền một thời gian trước khi bị vua Lưu Ly đánh tiêu diệt. Rồi có một người nữa là Anuruddha. Chúng ta nghe tôn giả Anuruddha không? Là A-nậu-lâu-đà, người mà được thiên nhãn đệ nhất á. Người mà khi chúng ta tụng trong cái bài kinh Sống Hòa Hợp á,

[28:49]Ngài là một trong ba vị tôn giả mà sống rất là là thanh tịnh với nhau đó: Nandiya, Kimbila và Anuruddha. Ba vị tôn giả sống trong khu rừng, ba vị tôn giả A-la-hán sống. Thì ngài Anuruddha cũng là em họ của Đức Phật luôn. Ba vị cũng đều là là hoàng tôn, hoàng tử hết.

[29:08]Vào cái thời đó, chữ viết là một thứ xa xỉ. Có chữ viết nhưng mà để có được chữ viết cực khổ lắm. Người ta phải cưa những cái mảnh cây, khắc lên đó, nên để viết được một cái câu nói như vậy thì quá vất vả đi. Phải nhà giàu mới có cái ván, mới có thuê thợ điêu khắc, khắc chữ lên đó. Hoặc là đục lên đá, chứ người ta chưa có giấy, thời đó chưa có giấy, mà chưa chế được viết nhiều. Thường là chữ là khắc, khắc bằng dao, bằng đục. Do đó, chữ viết là một xa xỉ. Và trong cái xã hội mà không có chữ viết thì người ta ghi lại mọi sự kiện bằng cái gì? Bằng cái gì? Trí nhớ, đúng. Thời đó, người ta chỉ ghi lại sự kiện bằng trí nhớ thôi.

[30:00]Và do đó, cái trí nhớ được tôn trọng trong cái xã hội đó. Mà trí nhớ được tôn trọng thì có nghĩa là lời nói được tôn trọng, phải không? Ví dụ như bây giờ có một người đến mượn một người, à nói xin anh cho tôi mượn là ba trăm đồng tiền vàng. Ừ, thì người kia đâu có giấy viết đâu. Thì người kia lấy ba trăm đồng tiền vàng đưa, nói: "À, ngày hôm nay là ngày trăng tròn thứ mấy, anh có mượn tôi ba trăm đồng tiền vàng và anh hứa là một năm sau anh trả lại thành ba trăm năm chục đồng tiền vàng, hãy giữ lấy lời." Rồi, xong. Không có tờ giấy nào làm chứng hết, chỉ có lời nói. Và như vậy, lúc đó cái đức tính nào thời đó được tôn thờ nhất?

[30:42]Đức tính nào? Đức tính nào? Hả? Giữ lời hứa, phải không? Cái chữ tín, cái lời nói chân thật là đức tính được tôn thờ vào thời đó. Cái người nào mà nói sai lời, hứa rồi bỏ hoặc là nói dối thì người đó coi như là một kẻ vô cùng xấu xa, người đó không đáng làm con người, người đó là giống như thú vật, bị người ta khinh bỉ vô cùng. Bây giờ mình có chữ viết, mình tha hồ nói dối. Tại bây giờ hỏi chứng cớ đâu? Nói: "Bữa nói vậy." - "Tôi nói nhưng bạn có chứng cớ không?" - Không có gì chứng cớ, tha hồ nói dối. Chừng nào mà có chữ viết, có đóng mộc, ký tên đồ đó thì mới có giá trị. Còn lời nói thì bây giờ không còn là cái giá trị pháp lý nữa.

[31:32]Trí nhớ không còn quan trọng, mà văn bản, văn kiện mới là cái giá trị pháp lý. Còn thời xưa thì lời nói là giá trị. Cho nên, con người ta vào trong cái thời đó, người ta sống rất thành tín, sống rất thành tín. Người ta sống với nhau không dám nói dối, hễ đã nói là phải giữ lời, sống chết phải giữ lời. Nên cái đức hạnh của cái người xưa hơn người nay là vì vậy. Còn ở đây, kỹ thuật càng lúc càng cao thì bỗng nhiên cái điều lạ là đạo đức càng lúc càng xuống. Bởi vì kỹ thuật coi là cho phép người ta buông lung, dễ dãi, không cần phải cố gắng. Như ngày hôm qua vậy, à nhạc sĩ Bảo Phúc cũng ngồi nói chuyện với

[32:12]chúng tôi, nói rằng kỹ thuật càng cao thì nghệ thuật càng giảm. Ví dụ khi một cái show trình diễn ra như vậy, người ta đã thu băng sẵn rồi phát ra, thì cái người hát ca sĩ hát thì nhép miệng, còn cái người nhạc công giả bộ đánh đàn, tay quơ quơ thôi không có đánh gì hết trơn. Người ta làm coi là ở dưới nhìn lên cũng thấy xôm, mà sự thực chỉ là điệu bộ giả tạo. Còn cái âm thanh, nhạc này nọ đã thu sẵn hết. Mà như vậy nó không còn cái tính nghệ thuật. Về sau họ mất dần mất dần hết. Thì cũng vậy, chúng ta thấy khi mà có giấy có viết, có chữ viết phát triển, thậm chí bây giờ có máy vi tính, thì cái cái đức tính mà giữ lời hứa của con người không còn

[32:51]quan trọng, chứ còn thời xưa vào thời đó rất là quan trọng. Tuy nhiên, tuy nhiên, trong hoàng cung buộc phải có chữ viết, cho nên Thái tử của chúng ta cũng được học viết chữ rất là cực khổ. Để chi vậy? Để nhà vua phải biết ban lệnh cho dân chúng. Nghĩa là ôm một đống thẻ tre hoặc một đống vỏ cây, một đống cái ván có khắc chữ, ông quan đó vác một bó cỡi lưng ngựa đi về cái vùng quê, mới trải ra, sắp từng miếng từng miếng ra, đọc lại cái văn bản đó cho người dân họ nghe và giao người dân giữ cái số đó làm tin. Là coi như là cái lệnh truyền đi bằng chữ viết, mà chữ viết là chỉ một câu nói ngắn thôi là ôm một bó cây.

[33:30]Người trong hoàng tộc phải được học, và Thái tử chúng ta cũng được học điều đó. Sau này thì Đức Phật không có khuyến khích chữ viết trong giới tỳ kheo, không khuyến khích. Ngài nói chữ viết quá mất thời giờ, không còn thời gian tu tập. Ngày hôm nay mà chúng ta đi học nhiều, sự thật là cũng không đúng ý Phật lắm. Không đúng ý Phật lắm, nhưng mà buộc cái thời đại phải như vậy. Thời đại bây giờ mà ví dụ như tăng ni mà thua kém về trình độ đối với người Phật tử thì mình cũng khó giáo hóa, phải không? Khó giáo hóa. Do đó, thời bây giờ chúng ta cần cái song song giữa cái tu tập và cái cái trình độ văn hóa như vậy.

[34:08]Một điều nữa thế này, là vua Suddhodana đó, vua Tịnh Phạn cực kỳ giỏi, giỏi cả văn lẫn võ, tài chính trị, tài thuyết phục, tài hùng biện. Vua Tịnh Phạn giỏi lắm, không phải người thường. Cho nên vua mới được quần thần bầu lên làm vua, không phải là con người thường. Ngày hôm nay á chúng ta không biết điều đó. Chúng ta không bao giờ biết rằng á Thánh mẫu Maya là sống như một nữ thánh, như một thiền sư mặc dù ở trong hoàng cung. Điều đó chúng ta không biết. Một cái điều nữa kinh điển không ghi lại là cái tài năng siêu đẳng của vua Tịnh Phạn. Vua Tịnh Phạn giỏi lắm, không phải người thường. Nghĩa là vua có khả năng đánh võ rất giỏi,

[34:48]học rất giỏi, mà khả năng hùng biện, thuyết phục, khả năng ngoại giao, mọi cái đều rất là giỏi. Trong suốt mấy chục năm vua trị vì đất nước rất là thanh bình, êm ấm. Ngài vừa khéo léo ngoại giao, khéo léo cai trị, giáo hóa, đất nước rất là bình yên. Mà đồng thời là vua đặt hy vọng vào nơi người con trai xuất sắc của mình là Siddhartha. Do đó là bao nhiêu cái sở học của vua, vua truyền hết cho con mình, lại mời thêm nhiều vị quan, nhiều vị thầy đến dạy cho Thái tử. Chúng ta hiểu điều này, những cái dòng vua chúa mà lớn á là họ luôn luôn có những cái bí truyền mà người ngoài không biết được. Giống như vào cái thời Lý của chúng ta vậy.

[35:31]Bây giờ vua Lý Thái Tổ có bao nhiêu người hoàng tử, bao nhiêu công chúa, thì vua dạy những cái bí thuật mà bên ngoài quan không biết, dân không biết. Cái khả năng về võ thuật, khả năng về tiên tri, khả năng về độn giáp, tính toán quân trận chỉ có vua trực tiếp dạy cho thái tử, cho hoàng tử chứ cái người ngoài không biết. Cho nên trong hoàng tộc thường thường người ta giỏi, giỏi dữ lắm. À hoặc là đời Trần cũng vậy, đời Lê cũng vậy, đời Nguyễn cũng vậy, nhưng mà do cái phước của dòng họ hết thì những người sau họ học không nổi, cho nên bị mai một dần, mất dần thôi. Thì vua Tịnh Phạn cũng vậy, vua cực kỳ giỏi nên vua

[36:11]ngày đêm là đều ráng dạy dỗ con mình và mời thêm nhiều vị thầy dạy cho con mình. Nhưng chỉ có một điều, chỉ có một điều là vua Tịnh Phạn không có ngờ là Thái tử giỏi hơn tất cả những điều vua dạy, giỏi hơn tất cả những điều mà các vị thầy dạy. À Thái tử có cái trí tuệ kỳ lạ. Tới khi một vị thầy đến dạy về cái tôn giáo, thì Thái tử hỏi một lát là ông thầy ổng bí. Hoặc là ông vị thầy dạy về chính trị, dạy về tình hình địa lý, địa dư các nước, quan hệ ngoại giao, vua nước này làm sao, vua nước kia làm sao, điều hành quốc dân kinh tế đồ làm sao, nghĩa là cũng có một cái khoa học như vậy trong hoàng cung.

[36:51]Thì Thái tử trầm ngâm lát, Thái tử hỏi dần hỏi dần, học hết hết rồi hỏi lần lần đến những điều mà ông thầy không biết. Tức là ngồi một chỗ trong hoàng cung mà Thái tử biết hết chuyện của thế gian. Tự bằng cái trí tuệ mình thôi, biết hết mọi chuyện. Là thầy gợi ý một thì Thái tử tự nhiên hiểu ra mười điều khác, và hỏi dần hỏi dần đến những cái điều mà ông thầy chưa bao giờ biết, nên ông thầy chịu thua luôn. Nên lần lần mấy ông thầy cứ đến xin là thôi Thái tử quá giỏi rồi, khỏi cần học thêm. Lại lúc đó vua cha cũng trực tiếp dạy, thì vua cha không có nhiều thời gian nhưng mà dạy đâu con mình lĩnh hội tới đó thì thấy cũng vui.

[37:24]Có những lần vua cha ngồi hội họp quần thần, bàn chuyện nước, là đối phó với tình hình kinh tế làm sao, với dân vùng đó khổ phải đưa lên làm sao, là nhiều chuyện thì đều cho Thái tử vào dự. Thái tử ngồi khiêm tốn một bên để lắng nghe, nhưng mà đôi khi Thái tử đã có những cái lời góp ý sắc bén làm quần thần nể phục chứ không phải là không.

[37:49]Trong cái chuyện ghi thế này, là vua cha giam lỏng thái tử trong hoàng cung cho hưởng sung sướng để đừng biết cảnh ngoài đời, sợ thái tử thấy cảnh ngoài đời khổ bỏ đi tu, thực sự không có chuyện đó. Cái chuyện đó là chuyện của Đức Phật Tỳ Bà Thi kể lại, rồi về sau người ta gán cho Phật Thích Ca chứ không phải. Vào thời đó, thái tử được tiếp xúc rộng rãi, được đi nơi này nơi kia rất là nhiều để mà nắm bắt dân tình. Do đó, thái tử đã nhiều lần tiếp xúc với các đạo sĩ, các sa môn đi lang thang trên những nẻo đường. Nghĩa là ngài gặp vị sa môn, ngài đều đến chào hỏi đàng hoàng và hỏi han về đạo lý, à.

[38:26]Thì qua nhiều cái sở học, học về võ đã siêu đẳng rồi, học về văn, học về chính trị, học về lý luận, triết học, tức là cái gì ngài cũng giỏi rồi. Không ngờ cái cuối cùng của ngài, tức là không còn ai dạy được điều gì cho ngài nữa, thì điều cuối cùng ngài là ngài suy tư về về đạo lý.

[38:49]Điều cuối cùng là tự ngài ngài đi suy tư về đạo lý. Ngài cứ trầm ngâm hoài, ngài trầm ngâm hoài. Nên đây là điều mà làm cho vua cha lo lắng, thậm chí có một lần vào năm 12 tuổi, chúng ta nghe kể là thế này:

[39:05]Một lần trong buổi lễ hạ điền, đầu mùa mưa, thì đích thân vua Tịnh Phạn ra ngoài ruộng cầm cái cày kéo cày, rồi sau đó mới tổ chức ăn mừng cho mọi người. Vua, quan, quần thần, dân chúng là coi như làm buổi lễ lớn cả kinh thành như vậy, là ăn mừng. Thì thái tử đến ngồi dưới một gốc cây rồi ngồi thiền luôn, ngài nhập vào sơ thiền luôn. Cái chuyện chúng ta có nghe rồi phải không? Đại khái vậy. Nên chính vì thấy cái cảnh đó mà vua Tịnh Phạn đã đảnh lễ Đức Phật một lần. Vua Tịnh Phạn trong cuộc đời có ba lần lạy Đức Phật. Một lần là lúc mà ngài mới sinh ra, tự nhiên vua thấy đứng trước đứa con mình thấy vĩ đại quá, quỳ xuống lạy một lần.

[39:46]Lần thứ hai là lúc á con mình mới 12 tuổi mà ngồi thiền dưới gốc cây bất động mà cái cành cây đó nó như cái da á, nó cái lớn. Đức Phật ngồi ở phía bên phía tây, bởi vì ánh nắng mặt trời ở phía đông buổi sáng rọi qua, nên ngài ngồi đó cho mát. Khi mọi người ăn uống vui chơi quên thái tử, cái mặt trời nó qua từ từ qua bên hướng tây thì nó chuẩn bị là để nó nó chiếu ánh nắng vào thái tử, thì cái cây đó nó giống như nó là một con người nó biết cử động, bỗng nhiên cái tàn nó từ từ từ từ nó kéo qua dần dần phía tây, nó che như cái lọng, tiếp tục che nắng cho thái tử. Nên đứng trước cái hiện tượng mà một cái cây nó nó cái tàn nó

[40:23]đều thế này, bỗng nhiên nó dồn cái tàn nó qua bên phía tây hết để nó che bóng mát cho thái tử đang ngồi thiền dưới, cái cảnh tượng mà vua Tịnh Phạn và toàn bộ quần thần sững sờ. Và lúc đó, vua Tịnh Phạn đã đảnh lễ Đức Phật một lần nữa. Sau này Đức Phật thành Phật về thăm hoàng cung, thì vua Tịnh Phạn cũng đã đảnh lễ Đức Phật một lần nữa. Đây là một điều nó nó giống như là nó ngược với cái luân thường bình thường, nhưng bởi vì Đức Phật đã quá siêu phàm nên chuyện này đã xảy ra, đã xảy ra. Và lúc đó, tuy trong lòng rất là nể phục người con của mình, nhưng mà vua Tịnh Phạn vẫn tiếc cái ngai vua, tiếc cái ngai vua.

[41:04]Sợ mình chết rồi là không có người con giỏi, quần thần bầu dòng họ khác, không phải là dòng họ Gotama nữa. Mà Nan Đà thì tầm thường quá. Nan Đà thì cũng nhân hậu, cũng thông minh, nhưng mà chưa đủ sắc bén để có thể làm cho quần thần nể phục. Do đó bao nhiêu hy vọng vua Tịnh Phạn cứ dồn hết vào cho thái tử Sĩ Đạt Ta. Bây giờ thấy con mình học giỏi quá, cái môn nào học một thời gian là giỏi hơn thầy, sau đó không còn ai dạy nữa, để cho tự học thì thái tử đi tìm đạo lý thôi. Trong tâm chỉ có suy tư về đạo lý.

[41:40]À trong tâm chỉ suy tư về đạo lý. Thái tử thường trầm tư và muốn tìm đến cái chân lý tuyệt đối cuối cùng. Là bởi vì sao? Bởi vì ngài hiểu cái gì hiểu cũng tới đích hết trơn á. Nghĩa là ai nêu một vấn đề, ngài hiểu, ngài tìm ra tới nơi, tới tận cùng, không còn cái gì mà ngăn ngại nữa ngài mới dừng lại. Thì cũng vậy, khi mà suy nghĩ về cuộc sống, thì ngài mới trầm tư: Con người từ đâu đến? Rồi ai cũng lớn lên, cũng già, cũng bệnh, cũng chết, chết rồi đi đâu? Như vậy cái số phận con người sinh ra để làm gì, sống để làm gì? Rồi cứ đấu tranh vất vả. Một vài người á thì được phước làm vua làm chúa, nhưng mà trong cái kiếp mà làm vua làm chúa đó,

[42:20]trong đầu cũng lo toan, vất vả chứ chẳng khi nào được bình an. Còn những người không phải vua chúa thì trăm điều khổ sở: mưa nắng, thời tiết bất thường, hận thù, ganh ghét, tai nạn, đổ vỡ, ly tán, tất cả đều làm cho con người khổ sở, chẳng ai sung sướng. Có sung sướng chỉ sung sướng tạm thời lúc nào đó, rồi thường xuyên là là đau khổ. Như vậy con người sống để làm gì? Cuối cùng để được cái gì? Và nếu muốn thoát ra hết cái này thì con đường nào để đi? Ngài trầm tư mãi, trầm tư mãi. Và vua Tịnh Phạn vậy, thấy con mình là một hoàng tử, một thái tử đường bệ, nghiêm trang. Ngài cao lớn, Đức Phật lớn con dữ lắm.

[43:03]Mới 14, 15 tuổi mà lớn hơn người thanh niên lớn. Đi đứng thì đường bệ, đĩnh đạc, oai nghi, chững chạc. Gương mặt lúc nào cũng như có một vầng ánh sáng kỳ diệu chiếu ra. Nghĩa là bất cứ một người nào trong hoàng cung hoặc là một người dân thường mà vô tình trông thấy thái tử rồi là chỉ quỳ xuống thôi. Không hiểu tại sao cứ phải kính trọng một con người cực kỳ đẹp, cực kỳ uy nghi, nghiêm trang mà gương mặt giống như có có một ánh sáng kỳ diệu phát ra, phát ra. Lạ như vậy. Thì ở trong hoàng cung mà như một đạo sĩ, sống một đời sống thanh đạm, nhẹ nhàng, không có đua đòi, không hưởng thụ, mặc dù là vua cha tạo mọi điều

[43:43]kiện để cho vui, cho cung nữ múa hát, ăn uống, tiệc tùng, mọi điều chiều chuộng. Bởi vì sao? Thấy con mình càng lúc càng không muốn hưởng thụ điều gì hết, sống thanh bay như một đạo sĩ, vua rất là lo. Cuối cùng là vua đi đến quyết định là phải phải cưới vợ cho thái tử để cột chân thái tử lại, vì vua nghĩ rằng: Một người mà cưới vợ rồi thì không còn đi xuất gia được nữa. Có lẽ đó là giải pháp hay nhất, cho nên thay vì đợi thái tử đến cái tuổi lớn hơn, 20, 22 gì đó mới cưới vợ, thì 16 tuổi vua cha đã quyết định đi hỏi vợ cho thái tử. Hôm nay chúng ta nói tới đây thôi, nói nữa hấp dẫn lắm, không được.

[44:25]Nghe có hấp dẫn không? Những chuyện Phật này mình nghe rồi phải không? Nhưng mà có vài chi tiết mình chưa được nghe, phải không? Có những chi tiết rất là sâu sắc.

[44:38]Lần khác đi ha, lần khác đi. Có dịp lễ chúng ta kể thêm về cuộc đời Đức Phật. Cuộc đời Đức Phật thì dài và nhiều và vĩ đại lắm, mà kinh điển không nói lại hết, nói lại một phần nhỏ thôi. Nhưng phần nhỏ nó nói chấm phá, chấm phá, chúng ta chỉ thấy phất phớt là Đức Phật vĩ đại, thiêng liêng vậy đó thôi, chứ nếu chúng ta biết một vài chi tiết nhỏ nhỏ thì lòng mình tôn kính Đức Phật không biết bao nhiêu mà nói cho hết. Hôm nay chúng ta tạm dừng đây lại là chúng ta nói sơ về cuộc đời của ngài từ nhỏ cho tới khi mà bắt đầu vua cha quyết định cưới vợ. Mà thật ra trong cái thời gian mà ngài học, ngài lớn lên á là ngài chơi với các em mình.

[45:14]Nan Đà, chơi với Ma Ha Nam, chơi với A Nậu Lâu Đà. Tuy nhiên là các trò chơi trong hoàng cung á, nhiều trò chơi lắm: nhảy lò cò cũng có nè, ném đáo cũng có nè, rồi viết chữ trên không trung nè rồi đoán coi nè. Tức là người xưa bên Ấn Độ cũng có nhiều trò vui cũng rất là lạ, có nhiều trò vui rất là lạ. Mà tuy nhiên là các em của ngài đó thì vui chơi thích thú, còn ngài thì chơi để chiều các em thôi. Thấy các em mình ham chơi thì thôi mình cũng tham gia chơi cho các em cho vui, chứ trong lòng dửng dưng, bình thản. Tư cách lúc Đức Phật còn nhỏ... Hôm nay chúng ta cử hành Đại lễ Phật Đản, thầy thay mặt đại chúng, quý thầy quý cô ở đây,

[45:56]cảm ơn quý Phật tử đã tưởng nhớ đến Đức Phật, tưởng nhớ đến chùa và về đây tham dự lễ Phật Đản. Và chính vì nhờ cái sự tham dự của đông người mà buổi lễ được được long trọng, hãy nhớ điều đó, là càng đông người buổi lễ càng long trọng. Chứ nếu có một ngày nào đó quý Phật tử giận thầy, ngày Phật Đản lên chừng năm người, thế là làm sao? Lễ Phật Đản không còn nghiêm trang, long trọng, phải không? Cho nên là nhân ngày lễ Phật Đản này, mình phải tâm nguyện với lòng là mãi mãi không bao giờ được giận thầy. Nhớ. Phải thương thầy, thương chùa, thương quý thầy quý cô, ha. Lễ về đây, chịu cực với ngài, lăn lóc bụi đời với thầy.

[46:37]Là mưa gió như vậy, như ngày hôm qua vậy, trời mưa mà có những người chiến sĩ can dạ đứng đó coi văn nghệ, không biết. Thầy không biết là ở ngoài kia có mê văn nghệ hay không, nhưng mà ngày hôm qua đã rất là can đảm, làm cho thầy cũng cảm động. Vì sao vậy? Vì những người mà họ tập văn nghệ cực lắm, phải không? Khi mà trình diễn để góp vui cho ngày lễ Phật Đản...