Lời giảng: Luận Về Nhân Quả 06 - Giọng Đọc Hướng Dương

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:31:10

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:10]Đồng thời, cũng có nhiều khách đến viếng chùa ở lại độ cơm. Nếu theo sự yêu cầu của thí chủ thì thức ăn ngon quý của họ chỉ dành cho quý thầy mà khách cư sĩ chỉ có những phần ăn bình thường, nhìn vào người ta sẽ đánh giá có sự phân biệt giai cấp và thiếu lịch sự. Mâm quý thầy thì ê hề món ngon vật lạ, còn mâm khách thì lỏng chỏng tương dưa. Chiều ý thí chủ thì quý thầy bị phê bình, không chiều ý thí chủ thì làm sai mục đích của họ. Mong sao các thí chủ cúng dường quý thầy ý thức về điều này, tuy mang vật thực đến cúng dường chúng Tăng nhưng hãy hoan hỷ đồng ý chia sẻ với khách thập phương vô tình

[0:56]có mặt để cho quý thầy không bị phê bình và thêm tình thân ái giữa Tăng và tục. Vì đức độ của chúng Tăng mà đàn việt dâng cúng quý kính, nhưng đức độ là cái gì nếu không phải là biết nhường nhịn, san sẻ? Thế nên quý thầy hưởng trọn vẹn vật thực mà không san sẻ với khách thì cũng có phần sơ sót. Chúng ta tránh được cái tội làm sai mục đích thí chủ nhưng mắc tội để quý thầy bị phê bình. Ở những tự viện làm nông thì chúng Tăng phải vác cuốc lao động. Sử dụng sức lao động của chúng Tăng còn nguy hiểm hơn sử dụng tài vật Tam Bảo. Nếu người tri sự sắp xếp vụng về để cho chúng Tăng cực nhọc quá đáng mà hoa lợi ít ỏi thì sẽ bị tổn phước nặng nề.

[1:45]Chúng Tăng rất cần sức khỏe để tu và học, công việc đồng áng chiếm nhiều thì giờ sẽ đánh mất hiệu quả tu học của chúng Tăng. Mệt quá thì không thể tọa thiền nghiêm chỉnh, điều thân điều tâm chu đáo và cũng không thể xem kinh dịch sách gì được. Làm mất hiệu quả tu học của họ, người dẫn chúng sẽ đọa lạc rất nhiều đời ở kiếp vị lai. Mặc dù họ phải lao động, nhưng tri sự phải áp dụng thêm khoa học kỹ thuật hiện đại, phải nghiên cứu kỹ phương pháp để họ tốn rất ít công mà đạt kết quả cao. Đừng bày chuyện rườm rà để chúng Tăng phải bận rộn nhiều quá, thà họ bớt ăn bớt mặc mà có thì giờ tu học vẫn quý hơn.

[2:29]Nên chú ý vấn đề thu vén công việc gọn gàng lại, đơn giản lại để bớt đi sự nhọc nhằn của chúng. Thủ Ngu nhờ Trí lấy tiền riêng để thiết trai cúng dường chúng Tăng bằng với số tiền đã sử dụng sai nên được thoát khổ địa ngục, sinh về cõi người và sẽ trở lại làm Tăng ba đời sau. Như vậy, Ngu đã hết tội đối với chúng Tăng, được hưởng những công đức đã bồi tạo từ trước, nhưng chỉ nợ riêng với Thiền sư Trí mà thôi. Điều này dễ giải quyết, công đức thiết trai cúng dường chúng Tăng, nhất là chúng Tăng thanh tịnh, tu hành, không phải là điều vô ích. Ngu dù đang đọa địa ngục mà vẫn được đi đến gặp Thiền

[3:13]sư Trí, nếu người hoàn toàn không còn phước, sự ràng buộc của địa ngục không để cho họ tự do như vậy. Những công đức đã tạo đã góp phần giải quyết cho một người, không để họ phải chịu khổ hoàn toàn theo ác nghiệp. Chúng ta không biết mình đã tạo nghiệp gì, chỉ làm sao từng phút giây hiện tại gắng bòn mót từng chút công đức để làm hành trang cho mai sau. 11.

[4:04]Đủ công đức chứng ngộ. Trích Trường Bộ Kinh 3, trang 144. Thế Tôn nói với Đại đức A-nan-đa đang ngồi một bên: "Thôi, vừa rồi, A-nan-đa, chớ có buồn rầu, chớ có khóc than. Này A-nan-đa, Ta đã tuyên bố trước với ngươi rằng, mọi vật ái luyến tốt đẹp đều phải sinh diệt, tử biệt và dị biệt.

[4:40]Này A-nan-đa, làm sao có được sự kiện này: có pháp sanh, trụ, hữu vi, biến hoại, đừng có bị tiêu diệt? Không thể có sự kiện như vậy được. Này A-nan-đa, đã lâu ngày ngươi đối với Như Lai, với thân nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng;

[5:14]với khẩu nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng;

[5:24]với ý nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng.

[5:34]Này A-nan-đa, ngươi là người tác thành công đức, hãy cố gắng tinh tiến lên, ngươi sẽ chứng bậc Vô Lậu không bao lâu." Nhận xét:

[5:49]Sau khi được Phật cho biết Ngài sẽ nhập Niết bàn, Tôn giả A-nan-đa đi vào trong tịnh xá, dựa trên cột cửa và đứng khóc than. Đức Phật cho gọi Tôn giả vào, an ủi những lời như trên. Công đức hầu hạ Phật trên 30 năm sắp đủ để Tôn giả chứng quả vị A-la-hán. Chúng ta được biết, sau khi Phật nhập diệt, các vị A-la-hán tập hội dưới sự chủ trì của Tôn giả Ma-ha-ca-diếp tại hang Thất-bạt-la. Tôn giả Ma-ha-ca-diếp không đồng ý cho Tôn giả A-nan-đa đứng ra trùng tuyên lại lời Phật dạy chỉ vì Tôn giả chưa chứng A-la-hán. Tôn giả ra đi, tinh tiến tọa thiền và kinh hành suốt đêm ấy. Đến lúc toan ngả người nằm nghỉ thì Tôn giả hốt nhiên đốn chứng A-la-hán.

[6:39]Tôn giả dùng thần thông đi xuyên qua cửa hang đã bị đóng kín, đường bệ đến trước chư vị A-la-hán để trùng tuyên kinh điển trước sự tán thán của mọi người. Tại sao Tôn giả phải đi qua sự tác thành công đức hầu Phật hơn 30 năm rồi mới có thể chứng ngộ, trong khi các Tỳ-kheo khác chỉ tự lo tu tập lấy phần mình cũng đủ chứng ngộ rất sớm từ bao giờ? Nhân duyên nhiều đời của vị A-la-hán không dễ dàng đánh giá một chiều. Ở đây chúng ta chỉ xét đơn thuần trong hiện đời để nhìn thấy một số tính chất chung chung như sau: Các vị Tỳ-kheo kia chuyên nhất thiền định tu tập nên sớm thành tựu quả vị giải thoát.

[7:22]Tôn giả A-nan-đa phải lo hầu Phật và học hỏi đa văn, nên công phu của tự thân không thể chuyên chú được. Công đức hầu Phật quá lớn lao khiến cho Tôn giả chỉ cần tinh tiến một đêm liền chứng ngộ. Sau khi chứng ngộ rồi, sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp của Tôn giả là độc nhất vô nhị trong lịch sử Phật giáo. Người đa văn thường chậm chứng ngộ, nhưng một khi người này chứng ngộ rồi thì việc giáo hóa rất rộng rãi. Đức Phật khen ngợi Tôn giả đã chu đáo, ân cần trong việc hầu hạ Ngài với trọn lòng từ ái, quý kính. Sự từ ái đó tràn trề trên hành vi, lời nói và ý nghĩ. Dường như không một ai đã cúng dường Đức Phật nhiều hơn

[8:07]Tôn giả A-nan-đa với 30 năm gần gũi hầu hạ như thế. Công đức mà Tôn giả tác thành không còn ai có thể làm thay được nữa. Theo tông truyền của Thiền tông Trung Hoa thì Tôn giả là vị Tổ thứ nhì được truyền thừa y và bát của Đức Phật sau Tổ Ca-diếp. Ngay cả khi Đức Phật còn tại thế, tuy chưa chứng ngộ, Tôn giả đã được mọi người quý mến. Tôn giả đã từng thuyết pháp khiến cho các Tỳ-kheo khác được chứng quả vị A-la-hán, đã mở đầu cho người nữ được xuất gia, đã khéo thưa hỏi để Phật nói lên những bài pháp giá trị muôn đời. Không có sự hiện diện của Tôn giả, chúng ta không tưởng tượng được bộ mặt của Phật giáo ngày nay ra sao.

[8:51]Công đức của Tôn giả A-nan-đa thật ra chẳng phải chỉ đủ để chứng ngộ mà còn đủ để tác thành nhiều điều kỳ diệu nữa. Tôn giả vừa hầu Phật, vừa làm lợi ích chúng sinh, vừa nghe nhiều học rộng. Những cái tích lũy đó đã đưa đến đỉnh cao chứng ngộ khi cơ duyên đầy đủ. Khi một người muốn tu tập để được giải thoát giác ngộ, nếu họ không đủ những công đức cần thiết, họ sẽ gặp nhiều trắc trở nơi nội tâm và ngoại cảnh. Có một giai đoạn công quả tác thành công đức, sự tu tập sẽ dễ dàng hơn về sau. Công quả ấy là sự hầu hạ những bậc trưởng thượng, quên mình phụng sự cho đại chúng, ủng hộ những phật sự của vị khác, nghiên cứu học hỏi kinh luận.

[9:37]Văn hào Léon Tolstoy dường như thấy được điều này khi ông dựng một kiệt tác truyện ngắn Cha Sergius. Có nhiều cảnh huống éo le ngang trái, chàng sĩ quan đội cận vệ vua Nicolas đệ nhất tên Kasatsky bỏ vào dòng tu. Chàng tu một cách nghiêm cẩn và siêng năng, rồi một sự bất mãn với cái hình thức bên ngoài của nhà thờ, chàng, cha Sergius bây giờ, xin phép đến Tambov ẩn trong một chòi nhỏ ngót 15 năm trời. Cha dành trọn thì giờ vào công việc cầu nguyện với Chúa. Cha đã vượt khỏi sự cám dỗ của một người thiếu phụ và chứng tỏ sự cương quyết của mình bằng cách chặt đứt một ngón tay ngay lúc ấy. Người thiếu phụ hối hận và trở thành một nữ tu sau đó.

[10:27]Cha trở nên nổi danh hơn, dấu nghiệm phép lạ chữa bệnh xuất hiện bất ngờ. Mọi người ồ ạt tìm tới chiêm ngưỡng cha và gọi cha là vị thánh. Nhưng ngay lúc vinh quang tột đỉnh đó, thì cha phạm tội với một cô bé vừa lớn. Cha trốn đi định tự tử và mất hết niềm tin đối với Chúa vì Chúa đã không bảo vệ cha khỏi cám dỗ của trần gian. Trong một giấc mơ bên bờ sông, thiên thần hiện ra, bảo cha hãy đến học hỏi với Pashenka, một người em gái họ. Người em gái bây giờ đã trở thành một bà ngoại nghèo khổ của mấy đứa cháu nhỏ, đứa con rể bệnh hoạn, đứa con gái yếu ớt, bà phải đi dạy nhạc kiếm từng đồng về nuôi cả nhà.

[11:16]Trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, nhưng bà vẫn luôn luôn vui vẻ chu toàn bổn phận với con cháu, luôn san sẻ với những người cần đến sự giúp đỡ của bà, và dường như quên bẵng Chúa với giáo đường. Cuối cùng, cha Sergius đã hiểu. Ông khổ tu bao nhiêu năm hướng về Chúa vì những mục đích của chính mình. Trong khi Pashenka quên mình để sống vì mọi người, mặc dù không để ý gì tới Chúa. Từ đó, ông đi lang thang khắp nơi, thản nhiên trước sự đánh giá của kẻ khác và dành trọn khả năng phụng sự cho mọi người. Dần dần, Chúa hiện hữu trong ông. Công đức vị tha chân thật đã khiến một người tìm thấy chân lý.

[12:03]Khi nào cần phải gây tạo công đức, chúng ta hãy làm hết sức mình. Rồi đến khi nào cần phải tu tập, hãy tu tập quyết liệt. Nhưng sự tu hành phải luôn luôn có mặt trong bất cứ giây phút nào của cuộc sống, dù đó là giai đoạn đầu cần phải gây tạo công đức. 12.

[12:50]Bảy năm trong bụng mẹ. Trích Bổn Sanh 1, trang 319. Công chúa Suppavasa, con gái vua Koliya, một nữ cư sĩ, đã mang thai bảy năm, đau đẻ đến bảy ngày. Trong thời gian ấy, nàng chịu đựng với tâm niệm hướng về Phật, Pháp, Tăng. Nàng gọi chồng đến, nhờ ông yết kiến Đức Phật để đảnh lễ và trình bày tình trạng của nàng. Nghe như vậy, Đức Phật chú nguyện cho Suppavasa. Ngay lúc ấy, Suppavasa liền sinh được một đứa con trai khỏe mạnh, đặt tên là Sivali. Người chồng trở về thấy như vậy, hết sức khâm phục đại thần lực của Đức Như Lai. Sau đó, Suppavasa tổ chức cúng dường Đức Phật và chúng Tăng liên tục trong bảy ngày.

[13:44]Đến ngày thứ bảy, Suppavasa mặc áo đẹp cho đứa con, đưa nó đến đảnh lễ Bậc Đạo Sư và chúng Tỳ-kheo Tăng. Tuần tự thứ lớp, đứa con được đưa đến Trưởng lão Sariputta. Trưởng lão thân mật đón tiếp đứa trẻ và hỏi, "Này Sivali, mọi việc đều tốt đẹp với con chăng?" Đứa trẻ thưa, "Thưa tôn giả, làm sao con có thể an lạc được? Trong bảy năm, con đã sống trong bình máu." Suppavasa nghe vậy, hết sức hoan hỷ nói rằng, "Con tôi mới có bảy ngày đã thảo luận với bậc Tướng quân Chánh pháp về vấn đề giác ngộ." Thiếu niên Sivali, vào năm thứ bảy, hiến tâm mình cho đạo, xuất gia, khi tuổi được đầy đủ, thọ đại giới,

[14:37]làm các công đức, đạt được lợi đắc cao nhất trên quả đức, tức là quả A-la-hán, và khiến quả đức vang lên tiếng rộng. Khi được các Tỳ-kheo hỏi về nhân duyên của Sivali, Đức Thế Tôn kể lại câu chuyện quá khứ. Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát đầu thai trong bụng bà hoàng hậu của vua. Đến tuổi trưởng thành, học tất cả học nghệ. Sau khi phụ vương mất, trị vì vương quốc đúng pháp. Lúc bấy giờ, vua Kosala đi đến với một sức mạnh lớn, chiếm lấy Ba-la-nại, giết vua Ba-la-nại, lấy hoàng hậu của vua làm hoàng hậu của mình. Hoàng tử con vua Ba-la-nại khi cha bị chết, chạy trốn ngang qua

[15:33]rãnh ống cống, tập hợp lực lượng, đi đến Ba-la-nại, cắm trại không xa, gửi tin nói, "Hãy trao thành hay đánh?" Vua gửi tin trả lời, "Sẵn sàng đánh." Mẹ hoàng tử nghe việc như vậy, nhắn tin cho con, "Chớ có đánh, hãy cắt đứt giao thông từ mọi phía, bao vây thành Ba-la-nại, chờ cho khi nào củi, nước, gạo khánh kiệt, mọi người mệt mỏi, không cần đánh sẽ lấy được thành." Hoàng tử nghe lời khuyên của bà mẹ, trong bảy ngày, cắt đứt giao thông, vây chặt thành phố. Dân thành phố không nhận được tiếp viện đến bảy ngày. Ngày thứ bảy, họ lấy đầu vua đem nộp cho hoàng tử. Hoàng tử đi vào thành, lấy lại vương quốc, cuối cùng đi theo nghiệp của mình.

[16:34]Hoàng tử vì cắt đứt đường giao thông, vây hãm thành bảy ngày, do kết quả hành động ấy, phải sống bảy năm trong bình máu, bảy ngày chịu cơn đau đẻ. Nhưng vì rằng hoàng tử cúi đầu đảnh lễ chân Đức Phật Padumuttara, cầu nguyện với bố thí lớn vì hướng về quả vị tối thượng. Lại nữa, trong thời Đức Phật Vipassi, Tỳ-bà-thi, hoàng tử với thị dân bố thí đường, sữa, kem, trị giá ngàn đồng vàng, cũng nói lên lời cầu nguyện như vậy. Do vậy, với uy lực của mình, hoàng tử chứng được quả tối thượng. Vì rằng Suppavasa gửi tin bảo người con vây và chiếm thành, do vậy nàng phải mang thai bảy năm và chịu cơn đau đẻ bảy ngày.

[17:34]Bậc Đạo Sư, sau khi kể lại pháp thoại này, nhận diện Bổn Sanh như sau: "Lúc bấy giờ, hoàng tử là Sivali, người mẹ là Suppavasa, người cha, vua Ba-la-nại, là Ta vậy." Nhận xét:

[17:55]Một vị ra đời, xuất gia, chứng quả, nhưng cũng mang theo nghiệp báo thế gian từ quá khứ. Tôn giả Sivali do những công đức cúng dường các vị Phật và lời phát nguyện đạt được quả vị tối thượng nên đời này thành tựu kết quả đó. Nhưng tôn giả cũng phải trả quả báo vây thành bảy ngày bằng nỗi khổ ở trong bụng mẹ bảy năm và chịu cơn đau đẻ bảy ngày. Việc này thuộc về nghiệp báo thế gian, còn quả vị đạt được thuộc về nghiệp báo xuất thế gian. Nhưng vì sao tôn giả phải trải qua một thời gian quá dài, từ thời Phật Padumuttara đến Phật Vipassi và đến tận đời Phật Thích Ca mới viên thành kết quả xuất thế gian này?

[18:40]Thật ra nhân quả xuất thế gian tuy có tính cách nghiệp báo, nhưng phần lớn có tính cách triết lý hiểu theo nghĩa rộng. Sự tiến đạo của một người tùy thuộc vào công năng tu tập Giới-Định-Tuệ của người đó. Dù người này có phát nguyện đạt quả vị, có cúng dường chư Phật, bố thí chúng sanh, nhưng thiếu công năng tu tập Giới-Định-Tuệ thì quả vị xuất thế gian vẫn chưa hiện hữu. Phải đợi đến khi người này tinh tiến tu tập Giới-Định-Tuệ thì những công đức cúng dường trước đó sẽ Phải đợi đến khi người này tinh tiến tu tập giới, định, huệ thì những công đức cúng dường trước đó sẽ trỗi dậy, trợ duyên cho họ được thuận tiện, dễ dàng.

[19:24]Hơn nữa, dù họ có bắt đầu tu tập viễn ly theo hạnh xuất thế gian, nhưng những nghiệp thế gian chằng chịt trước đó, những thói quen sống chìm trong ngũ dục từ lâu, vẫn cản trở họ rất nhiều. Nếu người không có ý chí phi thường, nếu họ đã không ngừng tác thành công đức thì nghiệp thế gian sẽ thắng thế. Qua rất nhiều đời kiếp, họ bị thăng trầm mãi trong sự tu tập. Khi thì công hạnh xuất thế gian vượt lên, khi thì nghiệp thế gian chiếm ưu thế. Sự giằng co dai dẳng giữa hai thế lực làm cho một người từ sơ phát tâm tiến đến quả vị phải trải qua thời gian rất lâu. Nếu họ dõng mãnh phi thường thì thời gian đó mới có thể rút ngắn hơn được.

[20:08]Như một người chứng Tu-đà-hoàn phải trải qua nhiều lần trở lại cõi người mới chứng A-la-hán. Thời gian này có khi chiếm ngót mười mấy nghìn năm. Câu chuyện Bổn Sanh trên cũng cho chúng ta thấy khía cạnh khác, đôi khi vào những thời điểm không có Phật pháp, những vị đã có duyên tu hành trong đạo Phật cũng có thể sinh ra đời lăn lộn đấu tranh theo quyền uy danh vọng. Những sự tích về các cuộc đấu tranh đẫm máu của Hán Vương, Lưu Bị, Đường Thái Tông, Minh Thái Tổ, Lê Lợi, Quang Trung... đâu phải không có những vị đã từng kết duyên trong Phật pháp. Nhưng dòng nghiệp của thế gian vẫn cuốn họ quay cuồng trong binh đao chiến trận không thôi.

[20:53]Nếu chúng ta không phát nguyện mạnh mẽ thoát ra khỏi dòng nghiệp này, thì ngày đạt đến quả vị tối thượng còn xa lắm. Người mẹ âm mưu giết hoàng tử trong ruột dây hãm hại nên chịu mang nặng 7 năm, đau đẻ 7 ngày. Khi quả báo xảy ra liên hệ đến nhiều người trong đó, chúng ta phải biết rằng họ có tác hợp với nhau trong lúc tạo nghiệp. Vua Ashoka có người bạn thân làm đại thần, chỉ vì thuở quá khứ họ cùng nhau tạo nhiều công đức. Một chiếc xe lật ngang đường làm nhiều người thiệt hại, họ có chung tạo nghiệp trong quá khứ xa xưa nào đó rồi. 13.

[22:02]Khoe khoang. Trích Tọa Thiền Chỉ Quán, trang 8. Ngài Trí Khải từ biệt Tổ Nam Nhạc cùng với huynh đệ 27 người đến Kim Lăng. Lúc đầu chưa ai biết Ngài nên không có người thỉnh pháp. Khi ấy, có vị Tăng hiệu Pháp Tế tự khoe thiền học, gặp Ngài đến, nằm dựa ghế hỏi: "Có người ở trong định nghe đất núi rúng động, biết có vị Tăng quán lý vô thường. Ấy là định gì?" Ngài đáp: "Là biên định chưa sâu, là tà chứng ám nhập. Nếu chấp, nếu nói thì định ấy chắc chắn phải mất." Pháp Tế nghe nói kinh hãi đứng dậy thưa: "Tôi thường được cái định này, vì nói cho người nghe nên đã mất." Từ đây, tiếng tăm Ngài đồn khắp,

[22:57]vua quan cho đến dân dã đều rầm rộ tìm đến cầu pháp quy y. Nhận xét: Ngài Trí Khải là một nhân vật lừng lẫy của Phật giáo phương Đông. Cuộc đời Ngài đầy những huyền thoại huy hoàng và chói ngời ánh sáng chứng ngộ. Vừa nghe Pháp Tế trình bày sở đắc, Ngài liền biết chỗ sâu cạn của vị này và cũng biết luôn cái nguy hiểm của sự khoe khoang đó. Pháp Tế nói ra cảnh giới đến được này cho người biết nên bị thối thất lập tức. Sự nói ra ấy mang theo hai ý nghĩa: Một, chấp cảnh giới đó là thật; hai, có ý khoe khoang. Hai ý nghĩa này bẻ gãy công đức đã có. Đôi khi phước quá khứ còn nhiều thì dù người này có khoe khoang vẫn không bị

[23:48]thối thất ngay sau đó, nhưng khoe thêm vài lần nữa thì chắc chắn mất liền. Ai có kinh nghiệm tu hành để ý điều này thì biết rõ. Có người khoe rằng mình ít bệnh, ít não, vài hôm sau bệnh ập tới. Có người khoe mình giữ giới trong sạch, ít lâu sau liền bị khuyết trong giới bổn. Có người khoe mình ngồi thiền không bị hôn trầm, chẳng bao lâu cơn buồn ngủ phá quấy thời tọa thiền của họ. Có người khoe mình được giác ngộ thanh tịnh, kể từ đó tâm khởi sinh loạn tưởng, phiền muộn đủ thứ. Có khi khoe mình ngồi thiền được lâu dài, lần sau khiến có duyên sự nơi thân phải giảm thời gian ngồi thiền lại. Muốn đánh giá một người tu hành còn bị trắc trở hay không,

[24:38]ta cứ việc xem người này còn có những lời nói khoe khoang hay không. Nếu họ chấm dứt mọi hình thức khoe khoang thì đời tu của họ bắt đầu ổn định. Nếu họ vẫn còn chút khoe khoang, dù thô hay tế, thì công phu của họ vẫn còn bị tăng giảm bất thường. Những bậc có công phu thiền định sâu xa thường rất kín đáo, không bao giờ tiết lộ về mình. Những bậc đắc đạo viên mãn như Đức Phật và chư vị A-la-hán, tuy đôi khi có nói lên sở đắc của mình để gây niềm tin cho chúng sinh nỗ lực tu tập, nhưng vĩnh viễn không còn bị thối thất nữa dù có nói ra. Nhưng sự trình bày sở đắc của họ rất là hiền lành, khiêm hạ, đúng đối tượng và đúng lúc, không phải luôn luôn tiết lộ.

[25:24]Có nghe các Ngài trình bày những mầu nhiệm tu chứng, chúng ta vẫn nhận thấy vẻ điềm đạm, hiền hậu và khiêm cung. Nhưng đời nay, ít người đạt đạo viên mãn lắm, chúng ta nên cẩn thận. Gần đây, có người dạy môn đồ rằng: "Hãy tin chính mình là Phật, đừng cầu nguyện bên ngoài nữa." Mới nghe, người môn đồ thấy ngờ ngợ khó chấp nhận: "Mình là Phật đâu sao mình không biết?" Lâu ngày nghe ông ấy ám thị mãi nên họ bắt đầu chấp nhận mình là Phật. Kể từ khi chấp nhận mình là Phật, họ phát ngôn cao vút tận mây xanh như: "Phiền não vọng tưởng chỉ là cái bóng hư dối, không dính dáng gì đến tự tánh. Tự tánh vốn thanh tịnh và đầy đủ diệu dụng,

[26:10]không cần tu chứng thêm chút nào nữa. Mọi hành vi nói năng cử động đều từ tự tánh lưu xuất, nhận được chỗ này thì Phật đã hiện hữu từ lâu..." vân vân và vân vân. Mặc dù họ nói nghe rất cao, nhưng người bên ngoài khách quan nhìn thấy họ càng lúc càng mất dần tư cách, ngông nghênh, ngạo mạn, bừa bãi và tranh hơn thua trong từng câu nói với mọi người. Thậm chí họ đi dần đến phá hoại giới bổn nữa. Họ cho rằng giới là để dạy những kẻ tiểu căn tiểu trí, còn người đốn ngộ tối thượng thừa thì không cần giữ giới, vì dù có hành các dục lạc vẫn không mất ông chủ. Có người duyên lành chánh kiến thì tránh xa họ,

[26:53]còn người chủng tử tà kiến thì đi theo họ để rơi vào hố sâu tội lỗi. Tại sao lại có hiện tượng lạ như vậy? Nếu chỗ hiểu biết của họ là đúng thì cớ sao họ mất dần đức hạnh như thế? Còn nếu kiến giải của họ là sai thì sai ở chỗ nào? Cái sai thứ nhất của họ là có ý khoe khoang và lạm nhận tự tánh, mặc dù họ chưa từng sống trọn vẹn như tự tánh. Cái sai thứ hai là những kiến giải của họ rơi hẳn vào tà kiến đoạn thường mà thời tại thế, Đức Phật không bao giờ nói tới. Chính vì tà kiến đoạn thường này nên họ đi vào hố sâu tội lỗi. Tâm ví như nước mênh mông biển cả, chưa quyết định là động hay tịnh. Nếu ai chấp tâm vốn tịnh là sai, vì từ vô thủy đã có sóng vô minh nhấp nhô rồi.

[27:49]Nhưng nếu ai chấp tâm động vĩnh viễn cũng sai, vì nếu đủ nhân duyên tu tập thì tâm sẽ an định, sóng thức sẽ dừng. Nói tâm không động không tịnh chẳng có nghĩa là tâm có một cảnh giới nào khác siêu việt ngoài động tịnh, mà chỉ có nghĩa tâm không cố định, chưa nhất định là động hay tịnh. Nếu tâm kẻ phàm phu khởi sóng chập chùng và người này khéo dùng phương tiện tu tập để nhập định, thì sóng tâm dừng lại. Nhưng do nhân duyên tái sinh, nhập được định nhưng chưa rốt ráo, sóng tâm sẽ khởi dậy trở lại ở đoạn đầu của thân kế tiếp. Chủng tử tu tập đời trước sẽ giúp họ an tâm mau chóng hơn người thường.

[28:32]Cũng cái tâm đó chứ không cái tâm nào khác sẽ đưa đến tai họa, đau khổ luân hồi nếu nó sẽ làm cho cuồng động lăng xăng. Cũng cái tâm đó chứ không phải cái tâm nào khác sẽ đưa đến bình an, hạnh phúc, giải thoát, trí tuệ nếu nó được làm cho an tĩnh, tịch nhiên. Ai cho rằng tâm vốn tịnh là rơi vào thường kiến mà Trung Quán Luận đã định nghĩa rõ ràng: "Thường là cái gì có sẵn và kéo dài đến hôm nay, mai sau." Ai cho rằng vọng tưởng không dính dáng gì với tự tánh thì rơi vào đoạn kiến, giống như tách đôi sóng và nước. Nếu tự tánh không liên quan với phiền não thì tự tánh không thể khởi dụng phá trừ phiền não để giải thoát.

[29:19]Có người lại cho rằng cái tánh ướt của nước vốn không có tướng động hay tịnh. Dĩ nhiên cái tánh đó không nói động tịnh, nhưng có gì là mầu nhiệm ích lợi nếu tâm vẫn chập chùng loạn tưởng? Cái tánh đó chỉ phát huy được tác dụng ích lợi nếu cái tướng của nó là tịnh. Dù chúng ta chỉ cần nhận ra tánh để sống thì thoát ngoài chốn vọng tịnh. Đáp: Nhận ra tánh đó rồi, còn vọng tưởng chăng? Hỏi: Tuy còn vọng tưởng mà không dính dáng gì đến tự tánh. Đáp: Nếu còn một chút vọng tưởng thì quả quyết ông chưa biết tự tánh là gì. Có khi ông chỉ biết được một chút tâm rỗng rang sáng tỏ mà lầm nhận là ngộ được tự tánh.

[30:05]Đây là lỗi tăng thượng mạn, làm tổn nhiều công đức. Hỏi: Vọng tưởng giống như hình ảnh trên màn ciné, chỉ tại người sợ hãi chớ nó đâu có tác dụng gì. Nếu ông cho rằng vọng tưởng không có tác dụng, biết ông rơi vào chấp không. Có thể ông được sức tỉnh giác để kiểm soát vọng tưởng dễ dàng, nhưng nếu vì thế mà ông cho rằng vọng tưởng không có tác dụng thì rơi vào tà kiến chấp không. Khi sóng lăn tăn thì ta cho sóng không có tác dụng, nhưng nếu nó dập dềnh thì có thể lật úp thuyền bè, cuốn trôi nhà cửa. Khi tâm nhỏ nhiệm thì dường như không có tác dụng, nhưng nếu nó vùng dậy thì chẳng chuyện gì mà không làm.

[30:49]Giết người, đốt nhà, cướp của là chuyện dễ dàng. Nếu chấp không như ông thì đánh mất sự tinh tấn của mọi người. Thời tại thế nguyên thủy, Đức Phật đề cao sự tinh tấn, vì Ngài thấy được tính cách trung đạo không cố định của tâm. Nếu khéo tu thì tâm đó được an tịnh. Nếu vụng tu thì tâm đó lăn tăn. Nếu tâm đó lăn tăn thì sinh ra si mê mờ mịt. Nếu tâm đó an tịnh thì hiện thành trí tuệ, từ bi. Hỏi: Tại sao Lục Tổ Huệ Năng khi ngộ thốt lên câu: Nào ngờ tự tánh mình vốn thanh tịnh? Đáp: Thể tánh thì vốn thanh tịnh, trùm khắp và vô ngã, không của riêng ai. Chữ "tự" trong "tự tánh" của Lục Tổ vẫn còn hàm ý riêng rẽ, dễ làm người sau hiểu lầm.

[31:38]Bản ngã phiền động là riêng, nhưng thể tánh thanh tịnh thì không riêng. Chỉ có những người nhập Chánh định, hòa chung với chư Phật một bản thể duy nhất, cảm ứng khế hợp với tất cả chư Thánh, mới gọi là người biết rõ thể tánh đó. Phi trường hợp này, dù có được tâm rỗng rang thanh tịnh, vẫn chưa phải là thể tánh. Tâm thức của phàm phu thì phiền động lăn tăn, không sẵn thanh tịnh. Phải nhờ nhân duyên tu tập rất nhiều mới dừng lắng được tâm thức, phá hết vô minh, đoạn trừ bản ngã. Gán ép tâm thức đó là sẵn thanh tịnh, liền rơi vào thường kiến của ngoại đạo. Đức Phật không nói tâm sẵn thanh tịnh, vì nó còn tùy duyên tu tập không cố định.

[32:23]Có những kẻ kiến giải dường như cao vót, không ngờ rơi vào hố đoạn thường nên kết quả của tà kiến đó là mất dần dần đức hạnh, và tiếp theo là ác đạo đợi chờ. Các thiền sư hay dùng các thiền ngữ, là những câu nói ngắn gọn nhưng rất cô đọng ý nghĩa, rất bí hiểm và độc đáo. Ví dụ: Tăng hỏi: Thế nào là ý tổ sư? Cửu Phong đáp: Một tấc lông rùa nặng chín cân. Tăng hỏi: Thế nào là ý tổ sư? Triệu Châu đáp: Chân răng mọc lông. Không Cốc tập. Tăng hỏi: Thế nào là trần trần tam muội? Vân Môn đáp: Cơm trong bát, nước trong thùng. Đời nay các thiền giả cũng bắt chước các thiền sư dùng thiền ngữ để đối đáp,

[33:15]nhưng không ngờ bị sai sử bởi tâm khoe khoang và hơn thua vi tế ở trong. Người khôn ngoan, có khi bị gạn hỏi bằng thiền ngữ, vẫn làm bộ không biết gì để tránh được cái lỗi khoe khoang và hơn thua. Chúng ta tu tập giải thoát theo con đường Phật dạy, hãy cố gắng kiểm soát trong từng cử chỉ lời nói, đừng để lộ sự khoe khoang ra ngoài. Được như vậy thì công phu ít bị lui sụt. Hơn nữa, trong tiến trình tu tập thiền định, người sắp nhập định đều phải trải qua một ải nguy hiểm do tưởng ấm biến hiện. Đủ hình thức quái dị sẽ xuất hiện trong giai đoạn này: có người thấy mình xuất hồn đi vân du các cõi; có người xuất hiện thiên nhãn, thấy ba ngàn dặm;

[34:01]có người thấy hào quang, hoa sen; có người biết được tâm niệm kẻ khác; có người biết chuyện quá khứ, vị lai; hoặc nghe bên tai có tiếng nói văng vẳng giảng giải đạo lý; hoặc thấy Phật đến xoa đầu thọ ký khen ngợi; hoặc thấy chư Phật tu tập ngồi đầy cả bầu trời; hoặc tay chân cứng đờ như sắp chết; hoặc duỗi tay ra lửa cháy phừng phừng; hoặc chỉ tay lên trời liền đổ mưa xuống, vân vân. Rất nhiều những tướng lạ lừa gạt người tu thiền ở ải ma quỷ này. Người tu thiền không biết dùng phương tiện để phá tan những quái trạng trên sẽ lọt vào đường tà, vọng tưởng chưa hết mà đã có thần thông. Rất nhiều người tu đến giai đoạn này liền tự xưng là thành Phật thành tổ.

[34:48]Tháp Tế đang ở trong tình trạng này nên bị ngài Trí Khải quở là tà chứng, ám nhập. Phải phá tan các quái trạng đó mới có thể vào sâu trong Chánh định được. Người đắm đuối theo các quái trạng đó sẽ phát điên. 14.

[35:33]Pháp môn thích hợp (Trích Bổn Sanh 1, trang 21). Một con gái của người triệu phú thông dâm với nô lệ trong nhà và cùng nhau trốn đi biệt tích. Họ sống với nhau và hạ sinh hai người con trai, đứa lớn tên là Mahāpanthaka và đứa nhỏ tên là Cūḷapanthaka. Cuối cùng, hai đứa nhỏ được giao lại cho ông ngoại theo sự yêu cầu. Mahāpanthaka thường đi với ông ngoại nghe Đức Phật thuyết pháp, và rồi xin xuất gia. Sau khi xuất gia, đầy đủ tuổi thọ đại giới, làm tròn các bổn phận, Mahāpanthaka chứng quả A La Hán. Tôn giả liền tìm về độ cho Cūḷapanthaka được xuất gia và thọ giới Sa-di.

[36:24]Nhưng Sa-di Cūḷapanthaka tỏ ra rất ám độn, trong bốn tháng không thể học thuộc lòng một bài kệ ngắn. Có lẽ để thúc đẩy người em mình một lần quyết liệt, Tôn giả Mahāpanthaka đuổi Cūḷa đi về. Bữa nọ có người cư sĩ Jīvaka Komārabhacca thỉnh Đức Phật và 500 Tỳ-kheo đến nhà thọ thực, nhưng Mahāpanthaka từ chối sự có mặt của Cūḷa. Cūḷapanthaka buồn bã, khởi ý tưởng trở về thế tục để làm các công đức như bố thí, vân vân. Trên đường đi ra khỏi tịnh xá, Cūḷa gặp Đức Phật đảnh lễ và được hỏi: Đi đâu? Cūḷa thưa lại mọi chuyện. Đức Phật đem Cūḷa về hương phòng, giao cho một miếng vải được tạo bằng thần thông, bảo rằng:

[37:19]Này Cūḷapanthaka, hãy hướng về phía đông, dùng miếng vải này lau qua lau lại và nói:

[37:29]Đồ vật lau bụi, đồ vật lau bụi. Sau đó Đức Phật đúng giờ cùng các Tỳ-kheo đi đến Jīvaka. Còn lại Cūḷapanthaka ngồi lau cho đến khi miếng vải bị nhớp. Cūḷa suy nghĩ: Vừa rồi tấm vải này rất là sạch sẽ, nhưng nay vì ta nó trở thành nhớp nhúa. Thật sự là các hành là vô thường. Cūḷa an trú trên đoạn diệt, thiền quán được tăng trưởng. Bậc Đạo Sư biết tâm thiền quán của Cūḷa đã đạt được viên mãn nên phóng hào quang, phân thân ngồi trước mặt Cūḷa, nói lên bài kệ rằng:

[38:10]Tham, sân, si mới là bụi cấu của tâm, cần phải trừ bỏ. Cuối bài kệ, Cūḷapanthaka chứng quả A-la-hán với vô ngại giải, thấu suốt ba tạng kinh điển. Sau đó, Đức Phật biến mất. Khi ấy, Jīvaka dâng vật thực đến, Đức Phật lấy tay ngăn bình bát không nhận, hỏi: "Này Jīvaka, trong tịnh xá còn Tỳ-kheo hay không?" Mahāpanthaka thưa: "Bạch Thế Tôn, trong tịnh xá không còn Tỳ-kheo nào." Đức Phật nói: "Này Jīvaka, còn có Tỳ-kheo." Jīvaka liền sai một người đi xem thử. Tại tịnh xá, Cūḷapanthaka hiện ra cả ngàn Tỳ-kheo đầy cả rừng xoài, tất cả đều khác nhau và làm các công việc khác nhau. Người kia thấy vậy trở về báo với Jīvaka:

[39:06]"Trưởng lão Panthaka hóa mình thành ngàn lần, ngồi rừng xoài xinh đẹp, chờ thời được gọi đến." Đức Phật bảo cho gọi Cūḷapanthaka. Người kia trở lại hỏi thì tất cả đều trả lời: "Tôi là Cūḷapanthaka." Người ấy về thuật lại, Đức Phật bảo hãy nắm tay và mời người xưng danh đầu tiên. Người ấy làm đúng như vậy. Ngay lúc ấy, cả ngàn Tỳ-kheo biến mất. Sau thời thọ thực, Đức Phật khuyến khích tôn giả Cūḷapanthaka rống tiếng sư tử, làm cho sống động ba tạng kinh điển trong lời nói cám ơn của mình. Chiều đến, Đức Phật đã trả lời về nguyên cớ đặc biệt của tôn giả Cūḷapanthaka cho các Tỳ-kheo: "Trong thời Đức Phật Kassapa,

[39:54]Cūḷapanthaka xuất gia, có trí tuệ, cười khinh bỉ một Tỳ-kheo ám độn đang cố gắng học thuộc lòng một đoạn kinh. Tỳ-kheo ấy hổ thẹn vì cái cười ấy, nên động tâm không thể nhớ và đọc lên được đoạn kinh. Do kết quả nghiệp ấy, đời này Cūḷapanthaka xuất gia trở thành ám độn. Những câu mới học làm tôn giả quên ngay những câu đã học. Và trong thời quá khứ, Ngài làm vua, khi đang đi bộ hành xung quanh thành phố, mồ hôi chảy ra từ trán. Ngài lấy một miếng vải sạch lau trán, miếng vải đã trở thành nhơ nhớp. Ngài suy nghĩ: 'Do thân này, miếng vải sạch đã bỏ nguyên trạng trước và trở thành nhơ nhuốm. Thật sự các hành là vô thường.' Ngài nắm được tư tưởng vô thường.

[40:42]Đấy là sự liên quan đến sự tu tập hiện tại." Nhận xét: Bản chất tôn giả Cūḷapanthaka là người trí tuệ, biện tài, chỉ vì cười khinh bỉ một vị Tỳ-kheo ám độn, nên tôn giả cảm quả báo ám độn một thời gian. Phải qua một lần đau khổ tuyệt vọng cùng cực, tôn giả mới trả xong ác nghiệp u ám kia. Từ trường hợp tôn giả, chúng ta có thể đánh giá rằng đôi khi một người ngu si, ám độn, không phải vì bản chất người này là thiếu trí tuệ, có khi chỉ vì lỡ khinh chê sự dốt nát của người khác, nên đời này cảm báo u tối. Còn người được thông minh, trí tuệ là do khéo giữ gìn không khinh chê người khác, lại hay hướng dẫn, giáo hóa, làm lợi ích cho người.

[41:31]Câu chuyện về tôn giả cho chúng ta thêm niềm kính phục đạo nhãn phi thường của Đức Phật. Ngài biết rõ một tác ý quán vô thường của tôn giả khi nhìn miếng vải bị nhớp lúc tôn giả làm vua trong đời quá khứ xa xôi nào đó. Đức Phật dùng đúng lại sự kiện để làm đề mục thiền quán cho tôn giả và hiệu quả xảy ra tức thì. Sau khi nhìn miếng khăn bị nhớp, tôn giả chợt nghiệm ra lý vô thường. Liền đó, tôn giả thâm nhập sâu vào các bậc thiền định. Đức Phật phân thân đến đánh thức tôn giả lần cuối cùng bằng một bài kệ. Và ngay đó, tôn giả thoát ra khỏi sự ràng buộc của tam giới. Ai có thực hành thiền định đều có kinh nghiệm rằng,

[42:13]với pháp môn này mình dễ nhiếp tâm hơn là với pháp môn khác. Pháp môn thích hợp với mình cũng có nhân duyên từ nhiều đời quá khứ. Một người thành tựu công phu thiền định bằng pháp môn tùy tức, có thể trong đời quá khứ họ đã từng tu tập theo pháp môn này hoặc tán thán sự tùy tức.

[42:36]Người thành tựu bằng công phu thiền định bằng pháp môn quán sát lý vô ngã, vô thường, nhân duyên, bởi vì trong đời quá khứ họ đã nói nhiều, suy nghĩ nhiều về giáo lý ấy. Tuy nhiên điều đó cũng không cố định. Có khi họ có duyên với pháp môn này nhưng lại gặp vị thầy chỉ dạy duy nhất pháp môn kia theo sở trường của ông. Lúc đầu họ khó áp dụng, nhưng huân tập mãi rồi cũng trở thành quen thuộc, mặc dù sẽ không thuận lợi bằng sự áp dụng một pháp môn đã có duyên từ trước. Người điềm đạm, ít kiến giải thì thích hợp với lối tu chỉ. Người lanh lợi thì thích hợp với lối tu quán. Tuy nhiên, người tu chỉ dễ rơi vào si định nếu không

[43:21]có duyên tự mình hay nhờ thiện tri thức vượt qua. Người tu quán dễ rơi vào bệnh kiến giải và ngã mạn.

[43:30]Để tránh hai cái nhược điểm của hai hạng người này, đôi khi vị thầy sáng mắt đổi ngược hai pháp môn lại. Với người dễ rơi vào si định thì cho tu quán hoặc nghiên cứu công án; với người kiến giải quá đáng thì cho tu chỉ để dừng tâm lại. Pháp môn sở trường của mỗi người vẫn có thể xuất hiện những khuyết điểm của nó. Và nếu hoàn toàn tùy thuộc vào nó, chúng ta có thể mắc những thiên kiến chủ quan, nhất là vấn đề độc tôn pháp môn. Chúng ta có duyên với pháp môn của mình, nhưng phải khách quan thấy những ưu điểm của pháp môn người khác, đừng vội vàng chủ quan một chiều. Đức Phật viên mãn trí tuệ nên sử dụng mọi pháp môn một cách linh hoạt, tài tình.

[44:16]Bài kinh Giáo Giới La-hầu-la, chúng ta thấy ban đầu buổi sáng Đức Phật dạy La-hầu-la quán sự vô thường của năm ấm; chiều đến, Ngài lại dạy La-hầu-la dùng pháp An-ban, một pháp môn tùy tức. Nơi pháp An-ban này, tôn giả chứng quả A-la-hán. Pháp môn quán năm ấm cần cho tôn giả ban đầu, nhưng pháp An-ban sẽ cần cho tôn giả về sau. Các vị chân sư về sau thường đem pháp môn sở trường của mình ra giáo hóa, ít có thông cảm rộng rãi với các pháp môn khác trong đạo Phật. Điều này đưa dần đến thảm kịch chia rẽ trong Phật giáo về sau. 15.

[45:12]Trưởng Lão Losaka. Trích Bổn Sanh 1, trang 158. Chúng tôi trích bài này vì nơi đây có nhiều ý nghĩa về nghiệp báo.

[45:24]Ai là trưởng lão Losaka? Đó là một người xứ Kosala, con một người đánh cá, một tai ương cho gia đình, một Tỳ-kheo không nhận được vật thực. Nó đầu thai trong gia đình đánh cá trong một làng đánh cá gồm một ngàn gia đình ở Kosala. Trong ngày nó đầu thai, cả làng không đánh được một con cá nhỏ. Từ đó trở đi, làng đánh cá gặp nhiều tổn hại. Khi nó còn ở trong thai, làng của chúng bị lửa đốt bảy lần, bị vua xử phạt bảy lần. Dần dần, họ rơi vào túng thiếu. Họ suy nghĩ: "Giữa chúng ta phải có một người xúi quẩy." Họ chia làng thành hai, bên nào có Losaka thì tiếp tục bị tổn hại, còn bên kia thì tăng thịnh.

[46:15]Họ lại chia nhóm tổn hại làm hai, làm hai nữa, làm hai nữa, và cuối cùng tìm được gia đình của đứa bé bất hạnh. Gia đình ấy bị đánh đuổi khỏi làng. Người mẹ phải tìm sống một cách khó nhọc, bụng mang thai và sau đó sinh đứa con trai. Đứa bé được sinh ra trong đời sống cuối cùng, do đó không thể bị giết hại. Như ngọn đèn trong chiếc ghe, điều kiện để thành A-la-hán cháy đỏ trong tim của nó. Người mẹ nuôi dưỡng nó, tập nó đi đứng vững vàng, đặt trong tay nó một cái bát đi xin, bảo nó đi đến các nhà rồi bỏ trốn. Từ đó, nó sống một mình, tìm đồ ăn tại chỗ này, nằm ngủ tại chỗ khác, không để ý tắm rửa thân thể và tìm sống một cách cực khổ.

[47:07]Nó dần dần lớn lên được bảy tuổi, lượm từng miếng cơm thừa nơi sàn nước rửa bát của các gia đình. Rồi bậc Tướng quân Chánh pháp Sariputta đang đi khất thực ở Savatthi, thấy đứa bé đáng thương, khởi lòng từ bi với nó, gọi nó đến hỏi han: Thưa tôn giả, con sống không nơi nương tựa, cha mẹ vì con sống quá mệt mỏi, nên bỏ rơi con rồi trốn đi mất rồi. Con có muốn xuất gia không? Thưa tôn giả, con muốn xuất gia, nhưng ai sẽ xuất gia cho kẻ khốn cùng như con? Ta sẽ xuất gia cho. Lành thay, hãy xuất gia cho con.

[47:54]Trưởng lão Sariputta đem nó về, săn sóc, tắm rửa, cho ăn uống và thế phát. Khi đầy đủ tuổi, nó được trao đại giới. Khi lớn tuổi được gọi là Trưởng lão Losakatissa. Trưởng lão Losakatissa ít phước, ít nhận được đồ cúng dường. Ai muốn đặt thức ăn vào bát của Trưởng lão thì bỗng thấy bát như đã đầy. Còn ai sớt chút cháo vào bát của ngài, thì nơi dĩa của họ phần cháo còn lại biến mất. Sau một thời gian dài, thiền quán được tăng trưởng, Trưởng lão chứng quả A-la-hán tối thượng. Tuy nhiên, Trưởng lão vẫn được đồ ăn ít ỏi. Thọ hành Trưởng lão dần dần giảm thiểu, và ngày nhập Niết-bàn đã đến. Tướng quân Chánh pháp biết điều này, muốn Trưởng lão được no bụng

[48:41]một lần cuối, đưa Trưởng lão cùng vào thành Savatthi khất thực. Nhưng hai vị không nhận được một cái xá chào, huống nữa là miếng thức ăn. Sariputta bảo Losakatissa về ngồi tại pháp đường chờ đợi, còn ngài xin được thức ăn gởi về, nhưng những người được giao đem về đều quên đưa lại cho Trưởng lão. Khi tôn giả Sariputta trở về hỏi lại, biết được sự tình, thì bóng mặt trời đã bắt đầu chếch về phía tây. Tôn giả đích thân nhanh chóng dùng thần lực đến cung vua Kosala. Nhà vua dâng lên các loại bánh ngọt để ăn phi thời. Tôn giả trở về bảo Losakatissa hãy dùng bánh, trong khi tôn giả cầm bát đứng một bên.

[49:24]Losakatissa vì lòng kính trọng, không dám ăn trong tình trạng đó. Tôn giả bảo: Này hiền giả hãy dùng, ta sẽ cầm bình bát và đứng đây. Nếu ta rời bình bát này, thì bánh sẽ biến mất. Vì thế, Trưởng lão Losakatissa an trụ chánh niệm thong thả dùng bánh. Do thần thông của bậc Tối thượng Thủ Tướng quân Chánh pháp, bánh ấy không biến mất. Hôm ấy, Trưởng lão Losakatissa được ăn như ý, đầy đủ, no bụng. Ngày hôm ấy, Losakatissa nhập Niết-bàn vô dư y. Đức Phật đứng một bên chứng kiến thân được hỏa táng, các xá-lợi được thu nhận, và điện tháp được dựng lên trên. Đức Phật đã kể lại bổn sanh như sau: Thời Đức Phật Kassapa, tôn giả Losaka là một tỳ-kheo trụ trì

[50:17]một tịnh xá nhỏ nơi ngôi làng và được một điền chủ hộ trì. Tỳ-kheo ấy tính tình bộc trực, hồn nhiên, giữ giới và chuyên tu tập thiền quán. Chợt có vị Trưởng lão đã chứng A-la-hán từ đâu đi đến ngôi làng, gặp vị điền chủ. Vị điền chủ hoan hỷ kính phục phong cách của Trưởng lão, nên đã đón tiếp, mời mọc, cúng dường, nghe pháp, đảnh lễ và thưa: Thưa tôn giả, hãy đi đến ngôi tịnh xá trong làng, chúng con sẽ đến yết kiến tôn giả vào chiều nay. Vị Trưởng lão A-la-hán đi đến tịnh xá, đảnh lễ tỳ-kheo trụ trì và sau khi xin phép, ngồi xuống một bên. Vị trụ trì thân mật hỏi han: Thưa hiền giả, hiền giả đã thọ thực chưa ạ?

[51:08]Thưa, được rồi. Được tại đâu ạ? Tại nhà người điền chủ trong làng của tôn giả. Trưởng lão hỏi chỗ nghỉ của mình, sau đó ngồi tọa thiền yên ổn đến chiều mới xuất. Vào buổi chiều, người điền chủ đem theo hương hoa, đèn dầu đến hỏi vị trụ trì về Trưởng lão lúc sáng, rồi ông đến đảnh lễ, ngồi xuống một bên nghe thuyết pháp. Sau khi nghe thuyết pháp, ông mời hai vị đến nhà vào ngày mai. Vị tỳ-kheo trụ trì suy nghĩ:

[51:40]Điền chủ này đã bị phân tán. Nếu tỳ-kheo này còn ở đây, điền chủ ấy sẽ không còn đếm xỉa đến ta một chút nào nữa. Ta phải làm thế nào để vị ấy không ở được trong tịnh xá này? Vị Trưởng lão biết tâm niệm của vị trụ trì nên lui về phòng tọa thiền. Hôm sau, vị trụ trì gọi khách bằng cái gõ nhẹ nơi cửa phòng, và ra đi một mình đến nhà người điền chủ. Người điền chủ đón tiếp vị trụ trì và hỏi thăm vị khách. Tôi có gọi ông ta, nhưng ông ta ngủ say chưa dậy. Ờ, có lẽ vì bữa ăn tại nhà ông hôm qua chưa tiêu hóa, nên ông ấy mệt. Ở tịnh xá, vị Trưởng lão A-la-hán đến giờ khất thực, cầm bát đắp y bay lên hư không đến một nơi khác.

[52:27]Sau khi cúng dường các món ăn thượng vị lên trụ trì xong, người điền chủ gửi thức ăn về cho vị tăng khách. Về ngang giữa đường, vị trụ trì đổ hết thức ăn ấy vào một đống than đang cháy bên đường. Đến tịnh xá, không thấy vị khách ở đâu, vị trụ trì liền suy nghĩ: Có lẽ tỳ-kheo ấy đã đoạn tận lậu hoặc, biết được ý định của ta, nên bỏ đi rồi chăng? Ôi, ta vì sự ích kỷ đã làm một việc không thích đáng. Với ưu sầu day dứt, vị ấy bỗng như kẻ không hồn, và không bao lâu, mệnh chung sinh vào địa ngục. Trong nhiều ngàn năm, nó bị thiêu đốt ở địa ngục. Hết thân địa ngục, lại làm thân quỷ đói 500 năm không ngày nào được no bụng.

[53:14]Chỉ có một ngày duy nhất nó được ăn no bụng bởi đồ uế nhiễm của thai. Hết thân quỷ đói, nó sinh làm chó ngót 500 đời. Trong thời gian này, nó chỉ được một ngày duy nhất được ăn no bụng bởi thức ăn mửa ra. Bỏ thân chó cuối cùng, nó sinh làm người trong một gia đình nghèo đói ở nước Kasi. Từ khi nó sinh ra, cả gia đình trở thành nghèo đói cùng cực. Nó không bao giờ được húp đến nửa bát cháo chua. Cha mẹ nó không thể chịu được sự đói khổ quá đáng này, đã đuổi nó đi. Không nơi nương tựa, nó đi lang thang và đến tại Ba-la-nại. Lúc bấy giờ, Bồ-tát, tiền thân Phật Thích-ca sinh làm vị giáo sư nổi tiếng dạy nghề nghiệp cho 500 thanh niên.

[54:04]Dân Ba-la-nại trợ cấp đời sống cho những học sinh nghèo. Nó tên Mittavindaka, vào học nghề và nhận trợ cấp.

[54:14]Nhưng tính nó độc ác, khó dạy, hay đánh bậy và đi chơi. Được Bồ-tát khuyên dạy, nó vẫn không nghe theo. Trong một lần gây gổ với bạn bè, nó trốn đi lang thang đến một làng biên địa làm thuê sinh sống. Tại đấy, nó sống với một người đàn bà nghèo khổ và sinh được hai đứa con. Người làng thuê nó dạy họ với những kiến thức trước đó, trả tiền và cho nó một cái chòi tại cửa làng. Từ khi Mittavindaka đến, dân làng bị vua xử phạt bảy lần, nhà cửa bị cháy bảy lần, hồ chứa nước bị cạn bảy lần. Đổ thừa cho nó, họ đuổi nó và vợ con nó đi. Nó đem vợ con đi lang thang, lạc vào một khu rừng phi nhân, bị phi nhân ăn thịt cả vợ và con.

[55:00]Nó một mình chạy thoát. Ngày kia, nó đến bến tàu, xin làm thuê trên một chiếc tàu đi biển. Khi chiếc tàu đi biển được bảy ngày, bỗng nhiên tàu dừng hẳn lại như có ai nắm giữ. Chúng rút thăm xem ai là người xui xẻo. Bảy lần, thẻ đều rơi vào Mittavindaka. Chúng thả nó xuống biển cùng với chiếc bè, và tàu lại tiếp tục ra đi. Nó nằm trên bè tre trôi lang thang trên biển. Do kết quả giữ giới trong thời Đức Phật Ca-diếp, nó gặp một lâu đài bằng pha lê với bốn tiên nữ. Nó sống hưởng lạc thú trong bảy ngày. Nó lại đi lên bè tre đi chỗ khác và gặp tám tiên nữ trong lâu đài bằng ngọc. Nó lại đi và gặp 32 tiên nữ trong 16 lâu đài bằng vàng.

[55:48]Sau đó, nó ra đi và gặp thành dạ-xoa ở giữa hòn đảo.

[55:54]Có một nữ dạ-xoa sống dưới hình thức con dê. Mittavindaka không biết, bắt lấy con dê để ăn thịt. Con dạ-xoa nữ ấy dùng uy lực nhấc bổng nó lên, ném nó bay qua khỏi biển, rơi xuống một bụi gai tại cái hào khô nước, lăn tròn, rồi đứng trên đấy. Lúc bấy giờ tại cái hào ấy, ăn trộm thường hay đến giết dê của vua. Các người chăn dê đứng núp rình ăn trộm. Mittavindaka bị các người chăn dê tủa ra bắt kết tội trộm dê, đánh nó, trói nó, và dẫn nó về cho vua. Lúc bấy giờ, Bồ-tát với 500 thanh niên đi ra khỏi thành để tắm, thấy Mittavindaka bị bắt, Bồ-tát liền xin nhận đem về cho làm người nô lệ để tiếp tục học hỏi và sống với Bồ-tát. Nhận xét:

[56:47]Cuộc đời cuối cùng của Trưởng lão quá thương tâm, ai nghe đến đều cảm thấy bùi ngùi, bi lụy. Cái đói khát đã đeo đuổi tôn giả Losaka suốt bao nhiêu kiếp quá khứ, và còn bám theo đến tận những giờ phút chót. Chỉ vì đã đổ bỏ phần ăn cúng dường cho một vị A-la-hán, mà tôn giả phải chịu đựng sự thiếu kém cùng cực khó tưởng tượng như vậy. Tôn giả vốn là người hiền lành bộc trực, nhưng tâm đố kỵ chưa được diệt trừ, hãy còn ngủ ngầm trong góc tối của tâm thức. Và đôi khi cảm thấy có người chia bớt quyền lợi của mình, tâm đố kỵ khởi lên mạnh mẽ. Không ngờ tôn giả đã đố kỵ với một người mà không một lạc thú nào của tam giới có thể ràng buộc được.

[57:31]Rồi trong cuộc đời chúng ta, sẽ phải đối diện với những trường hợp tương tự. Sẽ có những người tinh tiến hơn ta, tài giỏi hơn ta, đức hạnh hơn ta, được sự cung kính cúng dường hơn ta. Lúc đó, ta sẽ có dịp nhìn thấy mặt mày của sự đố kỵ xuất hiện. Nếu từ bây giờ, chúng ta không chuẩn bị dọn lòng mình thoát khỏi sự rình rập của tâm đố kỵ, thì sẽ có một lúc nào đó chúng ta phải tác thành nhiều tội lỗi. Kể từ bây giờ, chúng ta phải thường tự nhắn nhủ với lòng mình là sẽ hoan hỷ, vui mừng khi thấy có người vượt trội hơn ta về các phương diện. Tâm tùy hỷ sẽ đem đến cho chúng ta rất nhiều công đức, mà chúng ta không phải tốn một chút sức lực, tài sản nào cả.

[58:19]Nếu chúng ta tùy hỷ với người giới hạnh, chúng ta sẽ thành tựu giới hạnh. Nếu chúng ta tùy hỷ với người tài ba, chúng ta sẽ thành tựu tài năng. Nếu chúng ta tùy hỷ với người đắc định, chúng ta sẽ sâu vào thiền định. Dĩ nhiên ngoài sự tùy hỷ, chúng ta vẫn phải thực hành các điều kiện khác, và ở đây tâm tùy hỷ là sự hỗ trợ lớn lao cho kết quả.

[58:44]Tại sao sự bất hạnh của tôn giả lại lây sang những dân làng sinh sống chung quanh một cách khắc nghiệt như vậy? Đó là cái duyên cớ để tôn giả bị họ xua đuổi đi lang thang và chịu đựng những khốn đốn khác. Nhưng ít ra trong vô lượng đời sống quá khứ, họ đã chung nhau tạo những ác nghiệp nào đó rồi, và cái xui cho tôn giả là khi tôn giả hiện diện, quả báo của họ trổ ra.

[59:09]Qua quá nhiều thời gian ở ba đường ác, tôn giả được sinh làm người, một người ác độc, khó dạy, hay gây gổ. Những thói xấu của một người thường có nguồn gốc từ một đời sống súc sinh, ngạ quỷ nào đó trong quá khứ. Người hiền lành, tốt bụng là người đã có được thân trời, người liên tục nhiều đời trước đấy. Sự chuyển đổi của nghiệp thọ sinh của một người phải bắt đầu bằng sự chuyển đổi tâm hồn của họ. Sự thay đổi tâm hồn là gốc để đưa họ đến những cõi giới khác hơn. Nếu không kiểm soát và chuyển hóa tâm hồn của chính mình, vực thẳm đọa lạc luôn luôn là sự chờ đợi gần kề. Công đức trì giới từ thời Đức Phật Ca Sa Pa thay vì đem đến quả báo xuất thế,

[59:52]lại đem đến cho tôn giả lạc thú trần gian nơi các lâu đài và tiên nữ trên biển. Chỉ vì qua nhiều đời kiếp lâu xa sinh trong ác đạo, tôn giả đã đánh mất sự thú hướng về mục tiêu giải thoát, và như vậy quả báo của công đức cũ đã đi lạc sang đường khác. Dường như người thì hướng đến lạc thú ở đời sau, người thì hướng đến quả vị giải thoát, quả báo sẽ tùy theo sự thú hướng của họ mà trổ ra cho thích hợp. Thế thì quả vị A-la-hán đời này của tôn giả do đâu mà có? Dĩ nhiên cũng bắt đầu từ thuở làm Tỳ-kheo thời Đức Phật Ca Sa Pa, và sẽ nhạt nhòa theo dòng thời gian vô tận nếu không có sự khám phá của Bồ-tát Thiện Huệ, tiền thân Phật Thích Ca.

[1:00:41]Chính vì khám phá ra hạt giống ít ỏi còn bị vùi dập nơi con người Mitavindaka khốn khổ và ác độc này, nên Bồ-tát đã chịu khó nhiếp thọ và giáo hóa dần dần. Câu chuyện Bổn Sinh trên không kể tiếp đoạn sau nữa, nhưng chúng ta phải hiểu rằng ở những đời sau, Mitavindaka tiếp tục được Bồ-tát nhiếp hóa mãi. Những đạo tràng ẩn tu thiền định của Bồ-tát nhiều lần xuất hiện tại Tuyết Sơn, làm sao không có mặt Mitavindaka? Bồ-tát đã khéo léo và kiên nhẫn khơi lại hạt giống giải thoát của Mitavindaka, chăm bón, giữ gìn cho nó tăng trưởng không dừng nghỉ. Và cuối cùng, hạt giống đó đã vươn cao, sum sê cành lá để chờ đợi một thời tiết quyết định cần thiết.

[1:01:25]Thời tiết đó chính là lúc Bồ-tát ra đời để thành tựu Phật quả, và Mitavindaka vào thai nơi làng đánh cá.

[1:01:35]Như ngọn đèn trong chiếc ghè, điều kiện để thành A-la-hán cháy tỏ trong tim của nó. Câu nói này có một giá trị đặc biệt: một người ra đời để thành tựu quả vị hoàn toàn không phải là chuyện ngẫu nhiên trùng hợp, mà điều đó đã được quy định rõ ràng rồi. Dù đứa bé đó sống vất vưởng, khổ sở như con quỷ ăn bùn, dù nó phải lang thang đày đọa từ khi vừa biết đi, thì nó vẫn phải trở thành một vị A-la-hán tối thượng. Người ở thân tối hậu để thành A-la-hán thì không ai có thể làm tổn hại được nữa. Thật vậy, dù tôn giả bị ghét bỏ đến cùng cực, nhưng không một ai có ý định giết chết tôn giả, và nếu có ý định, họ cũng không thể thực hiện được.

[1:02:19]Tuy quả vị xuất thế tối thượng đã viên mãn rồi, nhưng nghiệp báo vẫn chưa chịu buông tha tôn giả. Tôn giả vẫn sống một đời còn lại trong sự khó khăn, đói kém, nhưng điều này không có nghĩa tôn giả bị đau khổ. Không còn có đau khổ nơi một vị đã chứng A-la-hán, mặc dù vị ấy có gặp nhiều chướng ngại nơi hoàn cảnh. Chúng ta thấy nhân quả thế gian và nhân quả xuất thế gian tuy có hỗ trợ nhau nhưng vẫn độc lập với nhau, mà tôn giả Losakatissa là một bằng chứng rõ rệt. Các vị A-la-hán bình đẳng nhau trên đạo quả, nhưng vẫn sai biệt nhau trên phước nghiệp thế gian.

[1:03:34]Phần C: Nhân quả Bồ-tát đạo.

[1:03:41]Chúng ta nhường phần định nghĩa thuật ngữ cho các vị học giả, chỉ hiểu đơn giản rằng Bồ-tát hạnh là sự nghiệp giáo hóa chúng sinh của một vị đã giác ngộ giải thoát. Chỉ bởi sự chứng ngộ viên mãn của mình, một vị Bồ-tát mới đủ đạo nhãn để quan sát căn cơ chúng sinh, đủ trí tuệ để có những phương tiện giáo hóa thích hợp. Chưa chứng ngộ viên mãn, việc làm lợi ích chúng sinh chưa hoàn toàn đúng nghĩa Bồ-tát. Bồ-tát là gì? Thật ra danh từ chỉ là hư rỗng, tạm đặt bởi tâm lý của con người. Chúng ta dễ bị danh từ che mất sự thật, để rồi lập ra những định kiến trên đó. Hầu hết quan niệm của Phật giáo Đại thừa đều đề cao Bồ-tát

[1:04:26]vị mà chê bai quả vị A-la-hán là tiêu cực, thụ động. Nhưng vấn đề này phải được tìm hiểu sơ lược trước khi chúng ta bước vào nghiên cứu nhân quả Bồ-tát đạo. Chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ về giá trị, vai trò của Bồ-tát trong một luận bản khác. Tính chất của một vị Bồ-tát là tâm đại bi viên mãn. Chính bởi tâm đại bi này mà Bồ-tát thị hiện vào sinh tử quá độ chúng sinh không mệt mỏi. Cũng một vấn đề, khi nói ở phương diện tiêu cực, chúng ta gọi là vô ngã; khi nói ở phương diện tích cực, chúng ta lại gọi là đại bi. Một bậc giải thoát tan vỡ ngã chấp hoàn toàn, ngay đó không phải là đoạn diệt hư vô (Trung Quán Luận).

[1:05:15]Khi không còn ích kỷ thì tâm vị tha tự nhiên tràn đầy vô hạn. Khi chấp ngã đã hết thì đại bi tâm hiển lộ không bờ bến.

[1:05:27]Nếu chúng ta chỉ học hiểu trên văn tự ngôn ngữ, nghe nói vô ngã liền chỉ biết vô ngã mà không biết vô ngã đó chính là đại bi. Nghe nói đại bi chỉ biết là đại bi mà không biết đại bi đó chính là vô ngã. Đạo Phật là đạo của sự thật tu, thật chứng; không phải một triết thuyết để bàn luận suông, suy tư rỗng như vô số các triết thuyết khác. Và chỉ bởi sự thực tu, thực chứng, chúng ta mới có cái nhìn thấu triệt mọi vấn đề mà ngôn ngữ chưa nói hết. Nếu không thực tu, thực chứng, văn tự ngôn ngữ sẽ là một ngục tù giam hãm tâm thức chúng ta. Nếu một vị đã hết sạch ngã chấp, chứng đạt A-la-hán, ngay đó tâm đại bi đã hiện hữu vô biên.

[1:06:17]Thời tại thế nguyên thủy, Đức Phật không tiết lộ về công hạnh Bồ-tát đạo của một vị A-la-hán, bởi vì đó là việc làm của một người chứng ngộ tự biết, không phải việc làm của phàm phu. Kẻ phàm phu nghe nói về công hạnh Bồ-tát sẽ khởi sinh vọng tưởng và chấp trước, quên đi việc tự lợi trước mắt của mình, tự cho là gần gũi để hóa độ chúng sinh, không ngờ bị danh lợi cuốn mất. Nếu vị này đã giải thoát giác ngộ, dù không cần dạy bảo, vị ấy tự biết bổn phận của mình đối với những chúng sinh si mê còn lại. Chỉ là các ngài không bộc lộ thân thế, không khoe khoang việc làm của mình, nên chúng ta lầm tưởng Niết-bàn vô dư y của các ngài là sự chấm dứt vĩnh viễn.

[1:06:59]Niết-bàn là sáng suốt, biết rõ, không phải là mờ mịt, si mê. Niết-bàn là không sở đắc, chẳng phải là có sở đắc như chúng ta gán ép. Niết-bàn là linh hoạt, chẳng phải là khô cứng. Niết-bàn là có năng lực tự tại, chẳng phải là sự gò bó, câu thúc. Niết-bàn là cảm ứng vô biên, chẳng phải là sự đóng khung một mình một cõi. Chư thánh ở trong Niết-bàn rất sáng suốt, biết rõ tình trạng của Phật pháp, của chúng sinh và cảm ứng với nhau không thể nghĩ bàn. Khi thấy cần phải xuất hiện ở một nơi nào để giáo hóa, các ngài liền âm thầm thọ thân sinh tử để đến với chúng sinh mà chúng sinh không hề hay biết. Vô số vị A-la-hán đã thọ thân sinh tử để trở lại với chúng sinh mà chúng

[1:07:51]ta đâu hay biết gì, cứ ngỡ các ngài đã ra đi rồi là hết hẳn. Mặc dù đạo quả A-la-hán được định nghĩa như là không trở lui lại trạng thái này nữa (theo Nikaya), hoặc không thọ thân đời sau (theo A-hàm), nhưng đó chỉ là không trở lại theo nghiệp. Không nghiệp nào có thể lôi kéo một vị A-la-hán trở lại sinh tử được nữa, nhưng vị này tự có năng lực làm chủ, vẫn có khả năng tùy nguyện trở lại để giáo hóa chúng sinh. Nếu cho rằng dù muốn trở lại mà một vị A-la-hán ở trong Niết-bàn vẫn không thể trở lại, Niết-bàn này là một sự trói buộc mới, không phải là giải thoát tự tại. Nhưng chính Niết-bàn là giải thoát tự tại,

[1:08:38]nên một vị A-la-hán hoàn toàn tự do trong việc hiện thân vào sinh tử để giáo hóa chúng sinh. Nào giờ chúng ta chỉ hiểu trên ngôn từ, nghe nói vị A-la-hán nhập Vô Dư Y Niết-bàn không thọ thân đời sau, liền cho rằng A-la-hán là tiêu cực, là cây khô mộng lép, không lợi ích cho Phật pháp và chúng sinh. Chúng ta không ngờ rằng đằng sau phong thái ung dung, trầm mặc đó lại là sự hoạt dụng tích cực vô biên. Cái hoạt dụng tích cực của một vị A-la-hán được giấu kỹ trong phong cách điềm đạm, hư vô, đến nỗi trời người không thể nhìn thấy, khác với kẻ phàm phu tích cực, năng nổ hiện tướng, bị mọi người biết liền.

[1:09:21]Tại sao chúng ta lại lạm bàn về nhân quả của Bồ Tát đạo, nếu đó không phải là công việc của chúng ta? Chính vì hai lý do: Một, vì công hạnh Bồ Tát đã bị kinh Đại Thừa tiết lộ quá nhiều. Chúng ta bàn về nhân quả Bồ Tát đạo để tăng thêm niềm tin đối với Phật pháp. Hai, biết được nhân quả Bồ Tát đạo, chúng ta sẽ khéo xử sự với mọi người để không trở ngại việc tự lợi của mình và gây được sự thuận tiện cho việc giáo hóa về sau. Một, Đồng Sự Nhiếp. Trích Bổn Sanh 1, trang 81. Lúc bấy giờ, các Tỳ kheo sau khi tắm tại hồ Nalakapana, bảo các Sa di lấy những ống lau để làm ống kim, thấy các cọng lau đều trống bọng hoàn toàn, đi đến Thế Tôn và hỏi:

[1:10:16]"Bạch Thế Tôn, chúng con cho lấy các cọng lau để làm ống kim, nhưng từ gốc cho đến ngọn các cọng lau ấy đều trống bọng hoàn toàn. Vì sao lại như vậy?" Bậc Đạo Sư nói: "Này các Tỳ kheo, đây là do đại nguyện xưa của ta vậy." Nói xong, Bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ. Thuở xưa, tại đây có một cái hồ trong khu rừng rậm. Trong hồ ấy có một quỷ La Sát nước ăn thịt những ai xuống nước. Lúc bấy giờ, Bồ Tát sinh làm khỉ chúa, to lớn như một con nai màu đỏ,

[1:11:03]quanh vây với độ tám chục ngàn con khỉ, che chở đoàn khỉ sống ở trong rừng. Bồ Tát khuyên đàn khỉ: "Này các con thân, trong rừng này có những cây trái độc, có những hồ nước mà phi nhân đang sống. Nếu các con muốn ăn những loại trái chưa từng ăn và uống những chỗ nước chưa từng uống, hãy hỏi ta đã." Đàn khỉ vâng lời. Một hôm, đàn khỉ tìm đến một hồ nước lạ, chúng ngồi ở trên chờ Bồ Tát đến. Bồ Tát đến hỏi: "Tại sao các con không uống nước?" "Chúng con chờ ngài đến đấy ạ." "Tốt lắm!" Bồ Tát đi vòng bờ hồ, thấy có dấu chân đi xuống mà không có dấu chân đi lên, biết rằng không còn nghi ngờ gì nữa, hồ này có phi nhân ẩn trú:

[1:12:02]"Này các con, các con đã làm một việc rất tốt là không uống nước, vì hồ này có phi nhân ẩn trú." Con quỷ La Sát biết được đàn khỉ không xuống uống nước, liền hiện ra hình thù ghê tởm với bụng xanh, mặt trắng dan, tay chân màu đỏ, rẽ nước nổi lên, hỏi: "Sao các ngươi không uống nước?" Bồ Tát hỏi: "Có phải ngươi là La Sát sinh ra ở trong nước không?" "Phải!" "Có phải ngươi bắt những ai xuống uống nước chăng?" "Phải! Ta bắt cho đến từ con chim nhỏ xuống uống nước ở đây. Ta sẽ không tha một ai, ta sẽ ăn thịt tất cả bọn ngươi!" "Chúng ta sẽ không để ngươi ăn thịt đâu!" "Nhưng hãy uống nước đi! Uống đi!" "Được, chúng ta sẽ uống,

[1:12:59]không cần phải đi xuống mà bằng những cọng lau, ngươi sẽ không làm gì được. Thấy dấu chân đi xuống, Không thấy dấu đi lên, Uống nước với cọng lau, Ngươi không giết ta được."

[1:13:16]Nói vậy xong, Bồ Tát đem lại một cọng lau, hồi tưởng lại những hạnh Ba La Mật, phát lời chân ngôn, lấy miệng thổi cọng lau. Cọng lau trở thành trống không hoàn toàn, không một khúc mắt nào còn tồn tại ở trong. Nhưng Bồ Tát không thể làm như thế cho từng cọng lau để đủ cho cả đoàn khỉ tám chục ngàn con. Bồ Tát đi vòng quanh hồ và ra lệnh: "Tất cả cọng lau đều trống bọng hết!" Do lợi hành rộng lớn từ trước của các vị Bồ Tát, mệnh lệnh được thành tựu. Từ đấy trở đi, tất cả cọng lau ở xung quanh bờ hồ đều trở thành rỗng suốt hết.

[1:14:00]Trong kiếp này có bốn thần thông được tồn tại lâu dài: Một, tướng con thỏ trong mặt trăng sẽ tồn tại trong suốt kiếp này. Hai, địa điểm mà lửa được dập tắt (Bổn Sanh Vattaka) sẽ không bị lửa chạm đến trong suốt kiếp. Ba, tại chỗ ngôi nhà của người làm đồ gốm Ghatikara không bao giờ bị mưa rơi xuống trong suốt kiếp này (xem Trung Bộ kinh 2, trang 344). Bốn, các cây lau mọc quanh bờ hồ này sẽ rỗng trọn kiếp này. Rồi Bồ Tát và đàn khỉ đều lấy cọng lau thòng xuống hồ hút nước và ngồi yên ổn ở trên. Con quỷ La Sát buồn rầu biến mất. Bậc Đạo Sư nói rằng: "Này các Tỳ kheo, những cây lau hoàn toàn rỗng suốt,

[1:14:55]chính do lời phát nguyện của ta thuở trước."

[1:15:00]Khi ấy, con quỷ La Sát chính là Devadatta, tám mươi ngàn con khỉ chính là hội chúng của Đức Phật, còn con khỉ chúa khéo dùng phương tiện chính là Thế Tôn. Nhận xét: Bồ Tát, tiền thân Phật Thích Ca, đã hiện thân vào loài khỉ để che chở, hướng dẫn cho đàn khỉ và kết duyên giáo hóa lâu dài về sau. Thật là khó khăn cho việc gần gũi giáo hóa, nếu không có sự tương đồng lớn lao nào đó. Một công hạnh nổi bật của Bồ Tát là thị hiện đồng sự tương ứng với chúng sinh. Chúng sinh có những hình dáng, tập quán, tâm tình, sở thích ra sao, đều được Bồ Tát hòa đồng theo để gần gũi giáo hóa. Chúng ta có thể bắt chước Bồ Tát để hòa đồng gần gũi giáo hóa chúng sinh,

[1:15:47]nhưng chúng ta dễ ô nhiễm theo họ và đánh mất lợi ích của đôi bên. Bồ Tát tuy đồng sự tướng với chúng sinh, nhưng vẫn biểu hiện được sự thanh khiết, độ lượng, cao cả và phong cách độc lập của mình. Người Hồi giáo tin theo Tiên tri Mahomet, chỉ độc tôn Thượng đế Allah. Ngoài ra, họ còn bài xích tất cả và sẵn sàng treo cổ những ai chống lại họ. Họ cũng có những giáo điều đơn giản về đạo đức như: bố thí, không trộm cắp, không ngoại tình, vân vân. Ảnh hưởng của họ rất lớn, chiếm cả vùng Trung Đông đến miền Nam châu Âu và lan dần về châu Á, được gầy dựng bởi niềm tin cuồng nhiệt và lưỡi gươm sắc bén.

[1:16:29]Bỗng nhiên giữa họ, một số tín đồ mặc áo vải (nhóm Sufi) cũng nhận mình tôn thờ Thượng đế Allah, nhưng lại chủ trương phải trừ diệt ái dục, từ bỏ ngã chấp, lắng tâm thanh tịnh, họ dùng danh hiệu Allah để nhiếp tâm một chỗ. Họ đã bổ túc giáo lý của Hồi giáo đến gần với đạo Phật. Nhà hiền triết Socrate có thể nhập định trong tư thế đứng bất động một ngày một đêm. Ảnh hưởng của ông trong nền triết học Tây phương còn kéo dài đến hôm nay và để lại trong lòng người niềm kính thương sâu đậm. Ông có một trí tuệ phi thường, một tâm hồn độ lượng, nhẫn nhục, một đời sống thánh thiện và một phong cách tự tại trước cái chết oan ức đến với ông.

[1:17:14]Chúng ta hay mắc cái tật công kích tôn giáo khác. Không khéo chúng ta công kích luôn những Bồ Tát hiện thân đồng sự trong tôn giáo đó. Mục đích của công hạnh đồng sự là để kết duyên giáo hóa chúng sinh, nhưng không có cái gì đúng tuyệt đối. Có những trường hợp một vị xuất gia cách biệt hẳn với thế gian, không ngồi chung bàn rượu với người thế tục, không mặc đồng chiếc áo, không ngủ chung một giường, không để chung mái tóc, sống khắc khổ đạm bạc, nhưng hình ảnh này lại khiến chúng sinh vâng phục, kính tin hơn cả. Bồ Tát biết rõ khi nào phải đồng sự và khi nào phải tách biệt. Có những người cư sĩ hiểu không hết công hạnh đồng sự của

[1:17:54]Bồ Tát, rồi chê bai người xuất gia là thiên kiến, một chiều, gò bó, những kẻ này chưa đủ trí tuệ của Bồ Tát.

[1:18:05]Phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa diễn tả công hạnh của Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện vô số ứng thân để đến với chúng sinh, tùy theo chúng sinh đó đáng được dùng loại ứng thân nào: hoặc thân cận gần gũi như hình ảnh cư sĩ, trưởng giả, đồng nam, đồng nữ; hoặc độc lập siêu thoát như hình ảnh Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thanh văn, Bích Chi Phật đà. Đồng sự để giáo hóa mà không đồng sự cũng để giáo hóa, đừng chấp một chiều.

[1:18:37]Chúng sinh chỉ vâng lời chỉ dạy của người nào mà họ cảm thấy kính và thương. Bồ Tát đã khơi dậy niềm thương kính của chúng sinh đối với mình bằng hạnh đồng sự và ban phát ân nghĩa. Bồ Tát Thiện Tuệ, tiền thân Phật Thích Ca, thị hiện vào loài khỉ và làm con khỉ chúa to lớn với trí tuệ và quyền năng phi thường. Để đồng sự với tám chục ngàn con khỉ và che chở, hướng dẫn cho đàn khỉ đó, Bồ Tát đã ban phát ân nghĩa bằng mọi khả năng và trí tuệ của mình, đem lại sự an vui cho đàn khỉ. Vô số đời sau gặp lại nhau ở thân người, họ sẽ dễ dàng nghe theo sự dạy bảo của Bồ Tát. Tứ nhiếp pháp trong đạo Phật gồm có:

[1:19:22]bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. Trong đó bố thí và lợi hành thuộc về ban phát ân nghĩa, ái ngữ và đồng sự thuộc về gần gũi thương yêu. Đầy đủ đồng sự và ân nghĩa, chúng sinh sẽ dành nhiều kính thương với Bồ Tát. Thần lực của một vị Bồ Tát còn tùy thuộc vào công đức quá khứ, mặc dù bản thể giải thoát đã bình đẳng suốt từ A La Hán đến Chư Phật. Bản thể giải thoát thì bình đẳng, nhưng trí tuệ, thần lực lại lệ thuộc về công đức. Cùng là A La Hán, nhưng Tôn giả Mục Kiền Liên thì thần thông đệ nhất, Tôn giả Xá Lợi Phất thì trí tuệ đệ nhất. Muốn dùng thần lực để làm rỗng suốt cọng lau, Bồ Tát đã hồi tưởng lại những hạnh Ba La Mật quá

[1:20:12]khứ, sử dụng công đức đó để thành tựu một phép lạ cho hiện tại là làm thông suốt cọng lau. Nhưng chưa đủ, Bồ Tát đi quanh bờ hồ và ra lệnh: "Tất cả cọng lau đều trống bọng hết!" Lập tức, các cọng lau đều trở thành rỗng suốt như mệnh lệnh của Bồ Tát, và thần lực đó đủ để tồn tại suốt kiếp này. Một kiếp là một chu kỳ thành hoại của địa cầu.

[1:20:40]Chuyện này tương tự với phép lạ mà vị thánh da đen Martin de Porres ở Peru thực hiện. Thánh là thầy dòng, thuộc dòng tu Đa Minh. Suốt đời, thánh đã đem lại an vui, lợi ích cho vô số người và vật. Những phép lạ của thánh thì tương đương với phép lạ của Chúa Giêsu, và đức hạnh của thánh thì chu toàn tuyệt diệu. Năm 1634, nước sông Rímac bị mưa lũ trên nguồn đang dâng lên nhanh chóng, có thể cuốn trôi thành phố Lima bên cạnh. Dân chúng lo ngại cho tương lai đen tối. Thánh Martin cũng có mặt tại nơi để chứng kiến. Thánh chạy ra bờ sông, lấy ba hòn đá ném vào chỗ xoáy nước mạnh nhất, rồi quỳ xuống cầu nguyện trước mặt mọi người.

[1:21:25]Khi thánh vừa cầu nguyện xong thì nước sông đã rút xuống trở lại bình thường. Đứng trước hiện tượng phi thường vừa xảy ra, toàn dân sung sướng hoan hô thánh đã cứu họ khỏi sự đe dọa này. Họ đề nghị cất một thánh đường bên cạnh để kỷ niệm, nhưng thánh không đồng ý, vì gần đó đã có sẵn nhà thờ Đức Bà. Và thánh còn tuyên bố rằng, vĩnh viễn sẽ không có nạn lụt tại vùng Rímac nữa. Đến hôm nay, sắp sang thế kỷ 21, mấy trăm năm trôi qua, lời tuyên bố trên vẫn còn có giá trị chân thật. Với lợi hành rộng lớn từ quá khứ, kết nên công đức sâu xa, thần lực của Bồ-tát tồn tại rất lâu dài. Sự xuất hiện của Đề-bà-đạt-đa là điều làm chúng ta ngạc nhiên.

[1:22:10]Đề-bà-đạt-đa là kẻ thù, là đối thủ gây trở ngại tai họa cho Bồ-tát với những hình tướng và hành vi ác độc. Đến tận đời cuối cùng hiện thân làm Phật của Bồ-tát, mà Đề-bà-đạt-đa vẫn chưa chấm dứt sự thù nghịch với ngài. Nhưng chúng ta đặt vấn đề: Nếu Đề-bà-đạt-đa chỉ thuần là kẻ ác độc trong nhiều kiếp, làm sao ông có thể đủ phước sinh cùng với Phật trong hoàng tộc, và được dung mạo khá đẹp đẽ, cùng đời sống vương giả sung sướng như vậy? Công đức đó từ đâu mà có? Mặc dầu kinh Pháp Hoa xuất hiện khoảng 700 năm sau khi Đức Phật nhập diệt, nghĩa là thời tại thế nguyên thủy, Đức Phật không giảng kinh Pháp Hoa

[1:22:51]cũng như các kinh Đại thừa khác, nhưng kinh Pháp Hoa tiết lộ rằng, Đề-bà-đạt-đa là vị Bồ-tát nghịch hạnh theo phá hoại Đức Phật Thích-ca để ngài thành tựu đại hùng, đại lực, và hạnh nhẫn nhục vô biên. Đúng là chỉ có nghịch cảnh mới thử thách và giúp một người phát khởi được ý chí dũng mãnh. Có thể như thế, rằng Đề-bà-đạt-đa là vị Bồ-tát chân thật, chịu tổn phước làm nghịch hạnh trợ duyên cho công hạnh của Bồ-tát Thiện Huệ sớm được viên mãn.

[1:23:25]Vì là Bồ-tát, nên Đề-bà-đạt-đa làm nghịch hạnh với Bồ-tát Thiện Huệ, nhưng làm lợi ích chúng sinh ở những chỗ khác để tạo cho mình một hồ nước phước vĩ đại nhằm hóa giải nắm muối tội kia. Thế nên ông đủ phước bám theo Đức Phật từ đời này sang đời khác. Trở lại vấn đề đồng sự. Bồ-tát thị hiện đồng sự tướng với chúng sinh và khơi dậy được nơi chúng sinh niềm thương kính đối với mình. Sau khi được chúng sinh thương kính, hoặc hiện đời hay đời sau, Bồ-tát mới đem Chánh pháp giáo hóa. Nếu chúng sinh chưa đủ niềm thương kính mà chúng ta đã vội đem Chánh pháp ra giáo hóa, họ sẽ phỉ báng chúng ta lẫn Chánh pháp.

[1:24:07]Điều này khiến cho họ bị bất hạnh nhiều hơn. Phải đợi niềm thương kính của họ thuần thục, Bồ-tát mới dạy họ những giáo lý mầu nhiệm khác. Có thể trong những trường hợp nào đó, chúng ta phải đồng sự với mọi người, nhưng làm sao đưa họ đến niềm thương kính chứ không đưa họ đến sự khinh thường. Nếu việc đồng sự của chúng ta không gây được niềm kính thương của mọi người, trái lại đã đưa đến sự coi thường, tốt hơn chúng ta nên cách biệt để quay lại lo tu cho chính mình, đợi đến khi chúng ta đủ trí tuệ và uy đức hãy thực hành đồng sự. 2. Tạo cơ hội cho chúng sinh tác phước. Trích Từ Bi Thủy Sám, tựa.

[1:24:55]Thuở xưa, về triều vua Đường Ý Tông, có một vị quốc sư hiệu là Ngộ Đạt, tên là Tri Huyền. Lúc chưa hiển đạt, ngài thường gặp gỡ một nhà sư ở đất Kinh sư trong một ngôi chùa. Nhà sư ấy mắc bệnh cùi, ai cũng ghê tởm lánh xa, chỉ có ngài Tri Huyền khởi lòng thương cảm, đến chăm sóc hầu hạ tận tình. Đến lúc nhà sư sắp ra đi, mới dặn Tri Huyền rằng:

[1:25:26]"Sau này ông có nạn chi, nên qua núi Cửu Lũng tại Bành Châu, đất Tây Thục tìm ta, và nhớ trên núi ấy có hai cây tùng làm dấu chỗ ta trú ngụ."

[1:25:42]Sau đó, ngài Ngộ Đạt cũng dời đến chùa An Quốc, thì đạo đức của ngài vang khắp. Vua Ý Tông thân hành đến pháp tịch nghe ngài giảng đạo và phong làm quốc sư. Vua dâng cúng ngài cái pháp tọa bằng gỗ trầm hương. Một hôm, ngài ngồi một mình trên chiếc tọa ấy, tâm khởi niệm mãn nguyện, hài lòng trước sự thành đạt của mình. Hốt nhiên, ngài nghe đau nhói tột độ nơi đầu gối muốn xỉu. Khi xem lại, thì đầu gối xuất hiện một mục ghẻ mặt người. Nỗi đau hoành hành ngài vô tận, mà không một danh y nào chữa nổi. Ngài chợt nhớ lời căn dặn năm xưa của vị sư, nên sắm sửa đi về Tây Thục. Trên đường đi, trời đã mờ tối, trong khoảng âm u mây bay khói tỏa

[1:26:36]mịt mờ, ngài nhìn xem bốn phía, bỗng thấy dạng hai cây tùng. Ngài mới tin rằng lời ước hẹn không sai. Ngài liền đi ngay đến chỗ đó, quả nhiên thấy lầu vàng điện ngọc lộng lẫy nguy nga, ánh quang minh chói rọi khắp nơi. Trước cửa, nhà sư đang đứng chờ đón ngài một cách thân mật. Ở lại đêm, ngài Ngộ Đạt mới tỏ hết tâm sự đau khổ của mình. Nhà sư nói: "Không hề gì đâu. Dưới núi này có một cái suối, sáng ngày ra rửa, mụn ghẻ ấy sẽ khỏi ngay." Mờ sáng hôm sau, một chú tiểu đồng dẫn ngài ra ngoài suối. Ngài vừa bụm nước lên rửa thì mục ghẻ kêu lên: "Đừng rửa vội! Ông học nhiều biết rộng, đã khảo cứu các sách cổ kim,

[1:27:32]mà có từng đọc đến chuyện Viên Áng, Triệu Thố chép trong bộ Tây Hán chưa?" Kinh ngạc vô cùng, ngài đáp: "Tôi có đọc." "Ông đã đọc rồi, có lẽ nào lại không biết chuyện Viên Áng giết Triệu Thố? Triệu Thố bị chém ở chợ phía Đông, oan ức biết là dường nào! Viên Áng là ông, còn Triệu Thố là tôi. Đời đời tôi tìm cách báo thù ông, song đã mười kiếp ông làm bậc cao tăng, giới luật tinh nghiêm, nên tôi chưa tiện bề báo oán được. Nay vì ông được nhà vua quá yêu chuộng, nên khởi tâm danh lợi làm tổn giới đức, tôi mới báo thù ông được. Nay nhờ tôn giả Ca-nặc-ca lấy nước pháp tam muội rửa oán cho tôi rồi, từ đây trở đi, tôi không còn báo oán ông nữa."

[1:28:24]Ngài Ngộ Đạt nghe qua hoảng sợ, liền vội vàng bụm nước dội rửa. Nước vừa chạm vào thì cơn đau xảy ra kịch liệt, ngài bất tỉnh hồi lâu. Khi tỉnh lại thì không thấy mụn ghẻ ấy nữa. Ngài mới biết thánh hiền ẩn giấu, Bồ-tát thị hiện, kẻ phàm phu không thể lường được. Ngài muốn trở lên lạy tạ vị sư, nhưng ngó lại thì điện các uy nghi đã biến mất từ bao giờ. Ngài bèn lập một cái thảo am ngay chỗ ấy và sau trở thành một ngôi chùa. Đến năm Chí Đạo đời nhà Tống, mới sắc hiệu là Chí Đức Thiền Tự. Có một vị cao tăng làm bài ký sự ghi chép việc này rõ ràng. Nhận xét: Chẳng biết có ai đọc truyện Tây Hán ra sao,

[1:29:15]còn tôi không có đọc được cốt truyện ấy, nên không rõ hết sự tình, chỉ theo chỗ dẫn trên để hiểu rằng, Viên Áng đã âm mưu giết Triệu Thố một cách rất oan ức. Lẽ ra ngài Ngộ Đạt sẽ đền trả tội nghiệp này một cách đau đớn ở địa ngục, ngạ quỷ, hoặc súc sinh, nếu ngài không có công đức lớn lao trong Phật pháp. Ở đây, ta thấy công lao tu hành chân chính của một người đã hóa giải khá nhiều trọng tội của họ. Sau đời giết oan Triệu Thố, Viên Áng liên tiếp mười đời làm cao tăng trì giới nghiêm chỉnh. Không thể có sự kiện này nếu nhiều đời trước nữa Viên Áng không từng kết duyên tu tập sâu dày trong Phật pháp.

[1:29:59]Công đức trước và sau sự kiện Triệu Thố, Viên Áng đã cảm ứng được sự cứu độ của Bồ-tát. Vị Bồ-tát xuất hiện ở đây, chính miệng mụn ghẻ cho biết là tôn giả Ca-nặc-ca. Tôn giả Ca-nặc-ca là ai, chúng ta cũng không biết rõ ràng, chỉ chiêm ngưỡng phương tiện thiện xảo của tôn giả nơi câu chuyện này. Và tại sao Triệu Thố biết được điều này, lại nói rằng tôn giả đã giải oan cho ông rồi? Sự liên hệ riêng giữa tôn giả Ca-nặc-ca và Triệu Thố còn nằm trong bí mật, chỉ có sự liên hệ giữa tôn giả Ca-nặc-ca và ngài Ngộ Đạt được biểu hiện cụ thể nơi đây. Thuở còn là Sa-di, ngài Ngộ Đạt nổi tiếng thần đồng, đã từng đăng đàn thuyết pháp cho tăng chúng Tỳ-kheo,

[1:30:45]ngài được Lý Thương Ẩn đề thơ khen tặng.