Lời giảng: Tổ Chức Tu Học Cho Tăng Ni

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:32:50

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:06]đề tài là vấn đề tổ chức tu và học cho Tăng Ni. Vấn đề này lớn. Thì chúng ta thấy là ở các nước khác á không có cái đại từ "con", nhưng ở Việt Nam có cái đại từ "con". Thì khi một người cư sĩ dù lớn tuổi tới đâu là gặp một người Tăng hay Ni đã thọ giới Tỳ-kheo thì họ đều xưng con. Tức là cái lòng của người cư sĩ đối với quý thầy, quý cô đó, có cái lòng tôn trọng thật là lớn lao. Ở trên đời này chỉ cái hàng cha, hàng chú người ta mới xưng con, còn đây quý thầy, quý cô mình trẻ tuổi thì trẻ mà người ta vẫn xưng con. Tức là người ta xem quý thầy, quý cô là không phân biệt tuổi tác, trong khi người Á Đông thì xem cái tuổi tác là quan trọng.

[0:57]Vậy mà họ đã vượt qua khỏi cái khái niệm tuổi tác của cái văn hóa Á Đông mà kính trọng quý thầy, quý cô để mà xưng con, coi quý thầy, quý cô như cha, như chú của mình. Cái lòng tôn trọng nó rất là lớn. Thì trước cái điều đó đó, chúng ta là những người mà biết suy nghĩ, có lương tâm thì chúng ta phải coi lại mình coi mình có xứng đáng hay không, có xứng đáng để được cái sự tôn trọng quá đáng như vậy hay không, quá sức như vậy hay không. Con người á, còn một người khác á thì không có cái lương tâm, không biết suy nghĩ thì hưởng cái sự cung kính đó một cách thoải mái mà không biết suy nghĩ, không biết hổ thẹn.

[1:40]Chứ như như bản thân của chúng tôi, tôi hổ thẹn lắm. Thấy người Phật tử mà lớn tuổi mà xưng con, mình thấy mình phải ráng, phải siết, phải tự mình phải lo thúc liễm dữ lắm. Đây có một lần á, gặp cái anh cư sĩ, anh cũng trước đây thì anh xuất gia, sau này thì anh hoàn tục, anh có gia đình. Thì anh ngồi anh mới kể lại hết cái đoạn đường mà anh đã đi tu tập tu hành từ nhỏ. Thì anh nói: "Từ thầy cho tới sư chú, sư bác, cho tới sư huynh, sư đệ gì ai cũng vậy, cứ vô chùa mấy học mấy thời công phu, rồi học khoa nghi tán tụng, thêm một số nghi thức cách coi ngày giờ nữa, thọ Tỳ-kheo rồi là thôi thấy cuộc đời tu hành mình đủ rồi.

[2:22]Phần còn lại là chỉ hưởng thôi, tức là đi cúng, đi coi rồi rồi cái ăn rồi sống trên cái sự cúng dường đó rồi coi như làm thầy thiên hạ, vậy là đủ rồi." Nên cái lý tưởng từ từ mất, mà thấy chung quanh đủ thứ chuyện tèm lem hết trơn á, chịu không nổi. Mà những người khác thì họ vẫn tiếp tục họ mang hình thức xuất gia dù là họ không có hoàn chỉnh để họ hưởng cái vinh dự của người thầy tu, nhưng mà riêng ảnh thì ảnh còn cái thiện căn gì trong lòng ảnh chịu không nổi. Ảnh nói: "Mình vậy mà cứ tu hoài nó kỳ quá." Thôi, lần ảnh quyết định ảnh hoàn tục. Ảnh hoàn tục rồi sau này ảnh mới bắt đầu gặp được những

[3:01]cái giáo pháp tu hành, thì ảnh mới tỉnh ra. Nhưng mà khi tỉnh ngộ, có lý tưởng tu trở lại thì lúc đó đã có gia đình, có vợ con rồi nên không làm gì được thì thôi ảnh đành phải chịu trong cái hoàn cảnh cư sĩ như vậy mà tu tại gia rồi ráng làm những công việc của đạo để hy vọng là huân tập lại cái công đức. Nghe ảnh kể thì thấy rất là đáng thương, thì nghĩ rằng chúng ta có một cái hệ thống giáo dục trong đạo Phật còn nhiều vấn đề phải bổ sung lắm, chứ không thể như vậy. Để cho một người xuất gia mà khi bước ra làm việc đạo, bước ra làm thầy, phải đủ tầm vóc, đủ xứng đáng chứ không thể tầm thường được.

[3:42]Chúng ta thấy ở các đạo khác mà gần mình nhất như bên đạo Thiên Chúa giáo là mấy ông cha ổng được đào tạo giỏi. Có thể mình nói rằng là họ không có cái chiều sâu tâm linh như đạo Phật, nhưng mà những cái mặt khác để làm một người chăn dắt con chiên thì họ có bản lĩnh, họ đủ sự uyên bác của họ. Đây là vấn đề mà chúng ta phải thấy như vậy. Mà bây giờ mình nói là là mình có chiều sâu tâm linh, sự thật mình cũng không khai thác được. Nhiều khi mình không tinh tấn ngồi thiền, niệm Phật, không tinh tấn lễ Phật thì mình cũng không hề đi sâu vào tâm linh, dù mình cứ mở miệng nói đạo Phật có chiều sâu tâm linh nhưng mà chỉ nằm trong kinh điển chứ nó

[4:27]không đi vào trong tâm hồn, không trở thành cái sự sống của mình. Như ở vùng cao nguyên á, cái vùng Tây Nguyên, có những ông cha ổng tìm tài liệu, ổng học cho được tiếng của dân tộc Ra-đê để ổng giáo hóa cái dân vùng đó. Hơn phân nửa dân đó là đạo Thiên Chúa hết, những người những cái vùng dân tộc của cái dân Ra-đê trong đó. Mỗi khi làm lễ, hễ là để làm lễ vào ngày Chủ nhật thì họ phải đi từ khuya bữa hôm trước cho tới 7 - 8 giờ tối họ mới tới được nhà thờ. Rồi họ đi họ đóng khố không á, ở trong rừng sâu mà vẫn theo đạo Thiên Chúa là nhờ mấy ông cha ổng học tiếng Ra-đê ổng vô trỏng ổng dạy ở trong.

[5:04]Nên là người ta có một cái kế hoạch, một cái hệ thống để người ta làm cái công tác tôn giáo người ta rất là quyết tâm mà có được tổ chức kỹ. Còn trong khi quý thầy mình thì bỏ lơi, bỏ lỏng, hoàn toàn không có ý niệm gì hết về vấn đề phải mở rộng giáo hóa chúng sinh vào vùng sâu, vùng xa như thế nào, phải phân công phân nhiệm, hỗ trợ lẫn nhau để làm việc đạo thế nào, hoàn toàn không có. Nên phải nói là chúng ta trống những mảng lớn trong vấn đề giáo dục Tăng Ni và hoặc là làm việc Phật sự. Thì chúng ta thấy để làm được một người thầy hưởng được cái sự tôn kính của Phật tử thì không phải dễ. Muốn xứng đáng là vậy, nếu mình lừa gạt thì không nói,

[5:50]nếu mình giả dối thì không nói, nếu mình không có lương tâm, không biết hổ thẹn thì không nói, nhưng mà nếu thực sự mình là người có lương tâm, biết hổ thẹn, muốn sống chân chính, xứng đáng thì để làm thầy một người khác là không dễ, nhất là mình làm thầy bao nhiêu người Phật tử thì không phải dễ. Vì vậy cái vấn đề mà đào tạo Tăng Ni trở thành những người giỏi là vấn đề lớn. Thì cái khó để đào tạo Tăng Ni là hai vấn đề: một là tu, hai là học. Cả hai vấn đề đều khó hết, vì sao? Vì nói về học á thì cái giáo lý trong đạo Phật là mênh mông, kỳ vĩ, rất là khó. Cái khó nữa là ban đầu thì chúng ta đã biết là những lời Phật dạy được truyền

[6:33]khẩu, cho nên Phật phải nói cô đọng, đừng nói dông dài, nó khó hiểu. Rồi cái người này cũng phải truyền qua người kia bằng những cái lời văn cô đọng nên ý tứ thì lớn mà lời lẽ thì cô đọng để dễ hiểu, người xưa hiểu, nhưng mà đến thời chúng ta hết hiểu vì văn phong khác nhau. Cho nên vì vậy đọc lại những bản kinh xưa chúng ta khó hiểu. Cho nên tìm lại được cái ý nghĩa là cả một vấn đề lớn, chúng ta phải được người dạy thật giỏi để hiểu đúng, chính xác ý của Phật. Còn nếu không là cũng cái bản kinh đó nhưng mà người dạy dở sẽ làm cho chúng ta hiểu lệch cái ý của Phật và cứ thế thế hệ này nối tiếp thế hệ kia, đạo Phật sẽ xuống dốc liền.

[7:20]Vấn đề người giáo thọ rất là quan trọng trong cái việc mà tổ chức giáo dục cho Tăng Ni. Chúng ta thấy ở thời gian đầu chính Nhà nước chúng ta cũng bị như vậy. Có một thời gian dài thì những người nào mà thi vào đại học điểm thấp thì cho vào cái ngành gì? Sư phạm. Nghĩa là đại học Sư phạm là đại học lấy điểm thấp. Thì như vậy chứng tỏ rằng cái sinh viên ở đó đâu phải là có phải giỏi không? Không giỏi. Và ra trường làm thầy cô, thầy cô không giỏi thì những thế hệ học sinh nó giỏi không? Không thể nào giỏi và đất nước chắc chắn không có nhân tài. Cho nên bây giờ Nhà nước mới tỉnh ra, thay đổi lại là bây giờ thi vào Sư phạm khó, điểm phải cao.

[8:05]Nhưng mới bắt đầu được một, hai năm nay thì có nghĩa là chúng ta phải đợi thêm 10 năm, 20 năm sau chúng ta mới có những thế hệ nhân tài mới cho đất nước. Muộn! Chúng ta bởi vì đó cũng là một lý do tại sao chúng ta không theo kịp những nước trong vùng. Cũng đồng thời xuất phát với chúng ta, nhưng mà ngày hôm nay những nước trong vùng họ tiến bộ vượt bậc rồi: Trung Quốc, Đại Hàn, Thái Lan, Philippines, họ vượt lên hết. Chính sách về giáo dục về sư phạm rất là quan trọng, nên ngày hôm nay Nhà nước có tỉnh lại. Bây giờ chúng ta cũng vậy, trong đạo Phật cũng vậy, là cái thế hệ giáo thọ phải là những người thật giỏi thì Tăng Ni mới giỏi được.

[8:53]Mà có khi chúng ta không có giáo thọ giỏi, rồi đôi khi mình tổ chức tu học dễ dãi, ai cũng dạy được thì Tăng Ni sẽ không giỏi. Đó là một vấn đề nữa, vì cái kinh điển Phật rất khó. Rồi thứ hai nữa là vấn đề tu. Tu thì chúng ta thấy là ví dụ như mình làm một cái công việc gì ở bên ngoài tay chân á, thì tay chân mình những cái động tác mình còn thấy được, người khác còn thấy được, nó sai nó đúng còn dễ hiểu. Ví dụ mình viết chữ, viết đúng viết sai mình biết, mình cưa bàn, đóng ghế, cưa sai đúng mình nhìn thấy, còn nội tâm là cái gì chỉ tự mình biết lấy. Nó là một cái gì không hình, không tướng, trừu tượng mà phải thực hành cho đúng,

[9:35]cho chính xác thì mình mới đạt được chiều sâu tâm linh, đạt được thiền định. Còn nếu mà mình tu sai thì nội tâm mình đổ vỡ. Nội tâm đổ vỡ ở mức độ nhẹ thì mình rối loạn nhân cách, tức mình không còn đạo đức, không còn đàng hoàng nữa, mà nếu nặng hơn thì mình mất cân bằng về tâm thần, gọi là điên loạn luôn, nó đổ vỡ cả cuộc đời tu hành. Nên cái nội tâm tuy là trừu tượng nhưng mà rất là quan trọng. Thì cũng phải vậy, chúng ta cũng phải được hướng dẫn một cách kỹ lưỡng, cặn kẽ để thực hành cho đúng. Nên cả tu và học đều là những cái rất là khó.

[10:19]Hai điều đó khó, được hướng dẫn là điều khó, rồi thực hành những điều đó rất là khó.

[10:27]Ở đây chúng ta để ý là có ba cái điều trong vấn đề tu học chúng ta nói ra.

[10:35]Là giáo thọ. Lực lượng giáo thọ phải giỏi. Nếu mà chúng ta chưa có nhiều người giỏi thì từ từ cái lớp sau phải giỏi lên lần lần, giỏi lên lần lần. Ví dụ như ngày hôm nay chúng tôi giảng được những bài như vậy thì thế hệ sau chúng tôi, khi quý thầy đứng lên quý thầy làm giáo thọ thì phải giảng giỏi hơn tôi, kỹ hơn nữa, tìm ra được những điểm sơ hở mà tôi còn sơ suất để chuẩn bị nó hoàn chỉnh lại. Tức là người sau phải cứ giỏi hơn người trước như vậy đạo Phật mới phát triển được. Cái vấn đề giáo thọ. Vấn đề thứ hai là môi trường, nghĩa là Tăng Ni phải được sắp xếp, tổ chức tu học trong một môi trường hợp lý, hợp lý.

[11:18]Cái môi trường này á là nơi ăn chốn ở nè, là được tổ chức có thủ tục, có quản lý sổ sách, thời khóa đâu đó, mọi cái hợp lý. Là trường, lớp, đời sống ăn nghỉ, các điều kiện học hành, vân vân là cái môi trường này được tổ chức, được quản lý. Thì trong đó có hệ thống giám viện, giáo thọ, rồi phân công thời khóa, ăn ở đâu đó. Cái này là môi trường đòi hỏi phải rất là tốt. Chúng ta thiếu một cái môn lớn lắm là môn quản trị trong Phật học mình đó. Trong các trường mình thiếu môn này thiếu nặng lắm. Cả chùa tôi cũng chưa được học. Tôi đang suy nghĩ về vấn đề này mà chưa mời ai về chùa dạy được, tính là sau này tìm người về chùa dạy vì chúng ta thiếu.

[12:04]Chúng ta phải biết về hệ thống sổ sách quản lý, chứng từ, phân công, sắp xếp, lên kế hoạch thời khóa. Mấy cái này là cả một cái môn học lớn. Cho nên bây giờ thì tôi nói gợi ý, sau này quý thầy tìm tài liệu mà tự đọc thấy không? Tôi gợi ý bởi vì nó là cách để làm việc cho có khoa học sau này. Quý thầy lớn lên quý thầy bước ra điều hành ngôi chùa, đi làm giáo thọ hoặc là làm việc giáo hội thì cái khoa học về quản trị quan trọng nên nó tạo thành cái môi trường để cho Tăng Ni mà nằm trong cái quyền của mình nó được yên ổn để tu hành tốt. Đó là vấn đề. Cái vấn đề thứ hai là cái việc tu học đó nó phải được đối chiếu với thực tế.

[12:44]Tức là cái việc tu học của Tăng Ni nó có ba vấn đề chúng ta để ý một chút. Một là hệ thống giáo thọ cho giỏi, thứ hai là môi trường học tập, thứ ba là thực tế phải được cọ xát với thực tế để những bài học nó biến thành cái sự sống của Tăng Ni, mà nó ứng dụng được vào trong cuộc sống. Sau này khi Tăng Ni bước ra, họ phải làm được việc chứ không phải là học bao nhiêu năm rồi bước ra không biết làm cái gì hết. Học bộ kinh lớn này, bộ kinh lớn kia nhưng mà bước ra nhiều khi đi giảng không biết cách giảng, hoặc điều hành ngôi chùa nói dạ chưa được học. Hỏi nãy trong trường học gì? Học nguyên bộ kinh Hoa Nghiêm.

[13:20]Nhưng mà trong kinh Hoa Nghiêm không có nói làm trụ trì ngôi chùa sao không biết. Ví dụ vậy đó là một cái mình thấy không thực tế. Cho nên cái hệ thống giáo lý phải làm sao cho Tăng Ni phải cọ xát với thực tế để họ bước ra họ làm việc cho được. Đó là ba khái niệm. Thứ hai nữa chúng ta nói là cái mối quan hệ linh động giữa tu và học. Học để làm gì? Ai biết?

[13:47]Học để làm gì?

[13:53]Hả? Học để tu. Thì tu là sửa chứ gì nữa. Đúng đó, học để tu đó. Nói học để tu là đúng rồi đó. Để tu thì chúng ta gồm có mấy cái này: có bốn điều chúng ta nhớ nè, học để tu nha. Điều thứ nhất á là học để biết cách sống với mọi người. Vì sao vậy? Thì chúng ta nhớ mấy lần tôi nói thế này: ủa, đạo là cái gì? Đạo là cái cách để sống giữa đời, phải không? Cách để sống ở cuộc đời, sống trên đời. Riêng đạo Phật có thêm một cái nữa là con đường để vượt khỏi cuộc đời. Hai cái. Tức là đạo là cách để sống ở đời, đây là mọi cái tôn giáo đều phải có cái giá trị này. Nếu không thì đạo trở thành vô nghĩa, không có giá trị với cuộc đời.

[14:49]Nó là một cái gì mơ mộng, huyền bí, xa xôi và không thực tế là đạo. Nên đạo là con đường, tức là cái cách trước hết để sống giữa cuộc đời, sống cho đúng, sống làm sao để có được cái thương yêu, đem lại cái lợi ích tốt đẹp với mọi người. Đó là đạo cái đã. Chứ không thể nói đạo linh thiêng gì đó nhưng mà sự xuất hiện của ổng chỉ là thêm phần rắc rối và tốn kém cho cuộc đời này thì không nên có cái đạo đó. Cái đạo mà xuất hiện rồi làm cho chúng sinh tốn tiền nhiều quá thì cái đạo đó không nên xuất hiện. Cái đạo nào mà nó xuất hiện mà làm cho con người thương yêu nhau thêm thì cái đạo đó nên xuất hiện.

[15:27]Nên đó là cái cách sống cuộc đời. Thứ hai là cao hơn nữa sau khi chúng ta đã làm đủ bổn phận, có công đức rồi thì đạo là cách đưa chúng ta vượt khỏi cái trần gian quằn quại, đau khổ này. Thì như vậy là chúng ta học là để biết cái cách sống với mọi người, những cách đối xử người trong cái thương yêu, cái nhường nhịn, cái lễ độ, cái khoan dung, cái chịu đựng là những cái đó là cái thực tế để thành con người tốt thực sự. Đó là một cái thứ nhất, học để như vậy. Tu đó, tức cái cách sống với mọi người là để tu đó. Chứ không thể là chúng ta học, nói những cái kinh điển cao siêu mà một người huynh đệ bên cạnh mình, mình không thương yêu,

[16:08]không biết đối xử cho tốt là không được, không chấp nhận được. Cái thứ hai là học để biết kiểm soát nội tâm mình. Nghĩa là chúng ta sẽ học về cái cơ cấu của nội tâm, cái tâm lý để mình biết những khi tham, khi sân mình dùng cái pháp gì để đối trị, khi si, khi ái dùng cái pháp gì để đối trị. Có những lúc tâm mình trở nên thấy hẹp hòi, mình phải phát hiện ra để vượt qua. Chớ đa phần nếu chúng ta không biết thì chúng ta theo cái phiền não, cái lỗi lầm trong tâm rồi chúng ta làm khổ cái người bên ngoài. Ví dụ mình sân cái mình đi mình kiếm người mình nạt, ví dụ mình ích kỷ cái mình kiếm người mình ăn hiếp, ví dụ vậy.

[16:47]Rồi mình kiếm người mình moi móc người ta, mình lừa gạt người ta. Tức là vì một cái sai trong tâm mình rồi mình cứ chạy ra ngoài mình kiếm người mình làm cho khổ. Cho nên ở đây là chúng ta biết kiểm soát nội tâm mình. Là thấy tâm mình có ích kỷ hiện lên phải thấy liền, biết kiểm soát, hóa giải liền. Tâm tự nhiên tâm sao nó phiền động vẩn vơ, đủ thứ thì phải biết hóa giải làm cho nó thanh thản lại nên là cái kiểm soát nội tâm. Thứ ba là chúng ta phải biết được lộ trình của thiền định. Là đi vào đạo Phật thì chắc chắn phải nói tới việc cái việc kiểm soát nội tâm phải đi dần tới sự thiền định lắng sâu.

[17:30]Đó là chắc chắn như vậy, dù chúng ta tu pháp môn nào. Ở đây á là nhiều khi chúng ta phân biệt giữa pháp môn này, pháp môn kia, đó là điều không nên mà tôi hay nhắc đi nhắc lại. Nhắc đi nhắc lại hoài là các pháp môn đều bổ sung cho nhau, không có pháp môn nào chống trái hết. Mỗi nơi đều có một cái cái giá trị mà không có cái pháp môn nào hoàn hảo đâu. Mỗi pháp môn chỉ hay một góc thôi và dở một góc khác. Cho nên nhiều pháp môn sẽ bổ sung lẫn nhau. Nhưng mà tuy nhiên có một cái điều rất thường tình, rất con người mà nó lọt vào trong đạo là những bậc tông sư nào cũng vậy, đều cho pháp môn mình là hay nhất, hoàn hảo nhất mà dễ dàng chê bai pháp môn khác.

[18:15]Vì vậy mà gây chia rẽ ở trong đạo Phật. Nên cái tâm lý mà cứ cho pháp môn mình hay nhất là một tâm lý rất người thường, rất đời thường nên chúng ta phải vượt qua điều này. Là pháp môn nào cũng có cái hay hết để mà biết đoàn kết. Và vì vậy cái thiền định nó sẽ giống nhau. Ở đây chúng ta phân biệt chút xíu chỗ này, có lẽ là chưa tới lúc nói cái này, nhưng mà tôi thôi nói sơ một chút về cái định, trạng thái mà đạt đến là giống nhau nè. Thí dụ con đường thực hành từ cái cái nội tâm ban đầu, chúng ta tu để đạt được cái định, rồi từ định chúng ta đạt tới những cái tam muội. Cái lộ trình mà từ ban đầu, từ cái tâm loạn động bình thường chúng ta dùng

[18:58]các pháp môn để mà nhiếp vào định thì cái đây nó nhiều con đường để đi đến cái định này và giống nhau lắm, giống rất giống nhau, không có khác. Tôi nói ví dụ như là cái pháp môn tri vọng của Hòa thượng Thanh Từ là hễ vọng tưởng khởi lên là biết, biết là buông liền. Thì đó là cái pháp môn là phải nói nó là một cái yếu chỉ, một cái giao điểm của mọi pháp môn khác. Giờ một người tu thoại đầu, người tu niệm Phật hay tu mật tông mà hễ nhiếp được đều phải xuất hiện được cái tỉnh giác đó hết. Là hễ vọng tưởng khởi hễ biết liền, biết buông liền. Đều phải giống nhau chỗ đó. Trước khi đi sâu vào thì cái giao điểm chỗ đó,

[19:37]cái mà biết được cái vọng tưởng, mình tách mình ra khỏi vọng tưởng nó đều y hệt nhau hết. Nên đó là cái con đường mà để đi vào trong định. Còn cái biết toàn thân, biết thân vô thường gì nó cũng phải đều tới xuất hiện được cái tỉnh giác để tách mình ra khỏi vọng tưởng, buông được vọng tưởng khi nó khởi. Nó đều có một giao điểm chung hết, toàn bộ hết. Pháp môn nào cũng vậy, không khác nhau được. Dù một người niệm Phật mà tâm thanh tịnh, đang niệm, vọng tưởng chợt len lỏi khởi lên, biết, buông liền rồi giữ câu niệm Phật cho chuẩn, đều giống nhau hệt, không khác, tất cả lộ trình tới định. Nhưng mà qua tới tam muội khác à.

[20:12]Cái tam muội này lạ lắm. Là định thì giống nhưng qua tới tam muội thì thành vô số. Chúng ta nghe nói là hỏa quang tam muội phải không? Hiện nhất thiết sắc thân tam muội, rồi du hí tam muội, rồi nhiều lắm. Chúng ta đọc những bài kinh trong Bát Nhã, trong Hoa Nghiêm, trong Pháp Hoa thì chúng ta nghe kể rất nhiều cái tên tam muội. Thì tam muội trong tiếng Ấn Độ là samadhi thì có nghĩa là chánh định. Mình nghe chánh định mình tưởng là chánh định, không phải. Cái tam muội lại là cái dụng, cái thần dụng từ cái định mà ra. Như khi một người được định mà họ đắc đạo rồi á, họ sẽ muốn khởi một cái gì đó thì họ nhiếp tâm họ tạo ra cái trạng thái đó.

[20:51]Ví dụ cái người mà muốn hiện ra hỏa quang tam muội thì họ vào định xong họ xuất hiện hỏa quang tam muội là người phát lửa cháy bừng. Nếu họ muốn tịch thì họ phát lửa tự đốt thân họ cháy luôn, hỏa quang tam muội. Còn ví dụ như là phân thân tam muội hay là Hiện Nhất Thiết Sắc Thân tam muội thì cái vị này vào định xong cái họ phân thân ra. Một thân còn ngồi trong phòng mình thấy đang nói chuyện mình, nhưng một thân đi ra ngoài Long An chơi ngoải. Đi Long An đi vòng vòng ngoải coi có thầy nào lang thang kéo về, ví dụ vậy. Thì đó là cái rồi ví dụ như là

[21:26]Du hí tam muội, du hí tam muội thì nó hơi giống xuất hồn, hơi giống. Tính ra xuất hồn nó cũng là một loại loại thần thông á, chứ không phải không đâu. Tuy nhiên cái thần thông đó nó hơi thấp, mà người ta không biết người ta cứ hướng về cái xuất hồn, coi nó là cái đích, coi nó là một thành quả, cho nên thành ra nó bị trật. Cho nên có nhưng mà trước đây có nhiều vị họ không coi đó là cái đích thì họ sử dụng nó như một thần thông thôi. Ví dụ một vị thiền sư họ vào định xong họ cũng xuất hồn họ đi được. Nên gọi là cái gọi là du hí tam muội. Hồi xưa là ngài Nam Tuyền á là ngài đạt được cái này sớm.

[22:01]Ngài vào trong chúng ngài tu không bao lâu ngài xuất hồn được. Nên gọi là đạt được du hí tam muội. Tuy nhiên là vì cái con đường lối Thiền tông rõ ràng, cho nên ngài không có xem đó là cái đích, nên mình không nghe cái thiền xuất hồn hồi xưa. Vẫn là Thiền tông, nhưng thời bây giờ có người họ đạt được cái xuất hồn, rồi có họ lấy cái đó làm phương pháp chính, đường đi chính, thành ra nó khác Đạo Phật, nó ra khỏi Đạo Phật. Chứ nó cũng là một cái dụng. Nó có nhiều cái thiền định mà người ta sử dụng rồi thành ra ra ngoài Đạo Phật, chứ thuở ban đầu nó giống Đạo Phật. Ví dụ cái thôi miên cũng vậy. Cái thôi miên là mình dùng tâm mình mình sai cái tâm người khác.

[22:39]Thì đó là khi một người được định rồi đó thì họ sẽ có cái tam muội đó. Họ dùng tâm họ, họ tác động bí mật vào tâm người khác để cho người khác làm theo cái ý muốn của mình. Ví dụ thấy người đó mệt mỏi, họ dùng cái tâm họ kêu người kia đi nghỉ, họ làm cho người kia lắng yên, dịu cái tâm, bớt xao động rồi người đó ngủ vào một giấc ngủ yên, đó là dùng cái thôi miên. Rồi hoặc là khi họ thấy đang hai bên đang xô xát, gây gổ nhau quá, họ dùng tâm họ tác động vào mấy người kia thấy hai bên lắng dịu lại. Thì đó cũng là một cái lối vậy. Nhưng mà rồi sau này có người họ mới dùng cái đó, cách đó để họ thôi miên để chữa bệnh và làm nhiều chuyện nó không

[23:18]phải đạo đức, cho nên nó thành ra cái ngành đó nó ra ngoài, ra ngoài Đạo Phật. Mà có khi trong y học người ta cũng sử dụng, đó là cái tam muội. Thì cái mà con đường đi vào định này nó giống nhau, mà chúng ta phải biết cái lộ trình của nó đi từ đâu tới đâu, từ ban đầu đi về đâu, mà đi cho nó không có sai. Dù ở pháp môn nào, không phân biệt, thì cái lộ trình mà đi vào thiền định này chúng ta phải nắm. Từ lúc mà nhiếp tâm theo phương pháp, vào được chánh niệm, vào được chánh định, chánh định từ những sơ thiền, nhị thiền à phải biết cái lộ trình đi không có lạc. Ai nói lên mây xanh, ai nói là à tôi đi đường vòng,

[23:54]người kia nói tôi đi đường tắt, người nọ nói tôi đi đường cong, người nọ nói tôi đi đường cao, đi đường thấp thế thì kệ anh nói gì đó anh nói. Biết lộ trình đường con đường, nhưng mà có nhanh hay chậm hay cái nọ là do căn cơ thôi. Căn cơ là ví dụ là mình tu gần chết mình mới được có cái sơ thiền, còn người kia họ tu sơ sơ họ nhảy luôn vào nhị thiền luôn. Là do căn cơ đặc biệt của họ, nhưng mà đường đi chỉ một đường. Nhưng mà đây là cái hiểu lầm, nhiều người tự ý thấy tu sơ sơ cứ nhảy cái lọt vô nhị thiền, từ đó tuyên bố tôi có con đường tắt, những con đường kia dở không hay. Thành ra một Đạo Phật mà nó khác Đạo Phật là do hiểu

[24:30]lầm, do căn cơ mình đặc biệt quá rồi hiểu lầm. Như thời Đức Phật không bị đó, tại Đức Phật luôn luôn Ngài tiêu chuẩn hóa không sai. Ai chứng nhanh, chứng chậm gì đó thì Ngài nói cho biết, nhưng mà lộ trình căn bản phải là như vậy. Còn thời sau này hễ ai mà chứng được cái gì cái bác hết tất cả, chỉ còn con đường mình đi, rồi đặt ra đủ thứ tên lại, theo mới đường tắt, đường vòng đủ cách. Nhưng mà lộ trình chỉ có một, để ý điều này. Cái điều thứ tư chúng ta học để biết nữa là biết cái hướng của Đạo Phật đi về đâu. Hướng Đạo Phật đi về đâu là đi về đâu? Hả? Đi về đâu? Tức là đi về phía giải thoát, giác ngộ, phải không?

[25:13]Đó là Đạo Phật phải đi về hướng đó, rồi đi về đâu nữa?

[25:20]Là đối với tất cả chúng sinh, đối với con người trên thế giới thì Đạo Phật luôn luôn tìm cách đem tình thương yêu, đem cái hòa bình, đem ánh sáng, đem trí tuệ, đem đạo đức cho tất cả nhân loại, mong sao cho mọi người trên hành tinh này sống một đời sống yên vui, hạnh phúc, thương yêu, bình an, tốt đẹp. Đó là cái hướng đi của Đạo Phật về đó. Cho nên, vì cái hướng đi đó, vì cái hướng đi đẹp đẽ đó của Đạo Phật mà chúng ta luôn luôn cố gắng là trong cái khả năng của mình xây dựng những cộng đồng chung quanh mình để đạt được cái đạo đức như vậy, đạt được cái đời sống thánh thiện như vậy. Cái chùa nào, ví dụ quanh chùa mình mà còn có cái người mà chưa

[26:06]hiểu đạo hoặc là những người nào có duyên mình chưa hiểu đạo, lần lần mình phải tìm cách giáo hóa là như vậy á, vì cái hướng đi Đạo Phật là như vậy, phải độ hết tất cả chúng sinh lại. Có một cái điều vậy, chưa nói nói dông dài chuyện bên ngoài cho vui chút. Có nhiều nhà viết sử thì mới kể lại cái lịch sử dân tộc Việt Nam mình là cái nguyên nhân mà Pháp đô hộ được Việt Nam là do Đạo Thiên Chúa, họ nói như vậy. Vì các ông cha cố từ thời mà Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh á cứ Đàng Trong, Đàng Ngoài họ đến họ ngoại giao với triều đình, họ xin giảng đạo. Họ xin giảng đạo rồi thì lần lần có nhiều giáo dân.

[26:49]Mà khi có những người giáo dân đó đó, họ là người Việt Nam nhưng mà linh hồn họ đã thuộc về thuộc về Chúa, không biết ông Chúa đó ở đâu không biết, nhưng mà thuộc về mấy ông cha đạo hết trơn. Và đến khi mà mấy ông cha đạo nói rằng: “Con giúp cho người Pháp để chiếm đất nước này, để cho đất nước này thành nước Chúa.” thì họ sẵn sàng. Thế là họ bán nước à. Thời đó vậy, những căn cứ kháng chiến của các anh hùng dân tộc chúng ta là đều bị con chiên của Thiên Chúa giáo dắt Pháp vô đánh hết trơn, tại họ cũng người Việt Nam mà, đâu phân biệt là thù với địch, nhưng mà không ngờ linh hồn họ đã thuộc về Pháp.

[27:23]Vì vậy, các nhà sử học đã kịch liệt lên án Đạo Thiên Chúa. Những cha cố đó là gián điệp, những con chiên của Chúa đó là bán nước, Việt gian là tay sai. Họ lên án Đạo Thiên Chúa gay gắt. Nhưng mà tôi thì tôi không lên án Đạo Thiên Chúa, mà tôi lên án Đạo Phật. Tôi nói rằng cái việc mà mất nước á một thời gian dài của mình là lý do là vì vì Đạo Phật. Tôi nghe này chắc cả cái Đạo Phật kiếm tôi mà mà dập. Nhưng mà có cái lý do, tại sao vậy? Tôi nói là có căn cứ đàng hoàng. Là mấy ngàn năm Đạo Phật đi song song với lịch sử dân tộc mà không biết quý thầy mình làm cái gì á, mà để cho còn rất nhiều người dân Việt Nam không có đạo, không có Đạo Phật.

[28:11]Đạo Thiên Chúa họ mới vô họ giáo hóa được, đúng không? Đúng không? Để một mảng quá lớn người không có đạo thì Đạo Thiên Chúa họ mới vào họ mới lấy được tín đồ. Chứ nếu quý thầy mình làm việc tích cực, đắc lực thu hút được Phật tử, tổ chức nề nếp đâu đó hết, cả đất nước mấy ngàn năm này không lẽ không giáo hóa được? Phải không? Đạo Phật đến với dân tộc này cả hơn 1000 năm mà quý thầy làm cái gì mà 1000 năm mà trong đó dân tộc mình lúc đó mới có hai, ba chục triệu mà độ không hết. Còn để rất nhiều mảng trống để cho đạo khác họ tới họ mới lượm hết những người đó về họ rồi dắt quân đội đem súng ống vào họ chiếm nước mình.

[28:50]Cho nên tôi nói không phải Đạo Thiên Chúa, nói nói oan cho họ, tội nghiệp họ. Nói không có đâu, ai nói đổ thừa nói tại Đạo Thiên Chúa mới đem thực dân Pháp vào xâm lấn, không có đâu, tại Đạo Phật á. Và bây giờ mình nói thì nói đùa nhưng mà chúng ta đừng để lịch sử đó lặp lại. Chúng ta phải hiểu cái lỗi của Đạo Phật chỗ đó. Chúng ta đã làm cái gì đó không hết sức mình, không đủ tích cực, không đủ đắc lực, thấy ai không theo đạo kệ, ta không có cái lòng thương yêu để giáo hóa. Nên là thấy có những con người chưa tin Tam Bảo, không biết nhân quả, không biết tội phước, chúng ta mà thờ ơ, chỉ biết ngôi chùa mình thôi

[29:28]thì một ngày nào đó mình không còn chùa để ở, bởi vì giặc Pháp họ đã tới, họ đập chùa họ xây lên đó cái nhà thờ rồi. Bây giờ chúng ta không để lịch sử lặp lại. Làm sao phải nỗ lực giáo hóa?

[29:44]Đó là cái đường đi của Đạo Phật, hướng đi Đạo Phật, nỗ lực mà giáo hóa chúng sinh. Thì đó là chúng ta nãy nói là học là để? Học để tu phải không? Đó, học là để tu á. Là học nè, và để tu. Tu là để?

[30:06]Ừ, giác ngộ giải thoát, tu là để chứng. Tuy nhiên còn nhiệm vụ tu để làm gì nữa? Là để giáo hóa nữa.

[30:16]Tu để giáo hóa mà giác ngộ cũng là để giáo hóa, phải không? Giác ngộ xong mà ở yên thì cái giác ngộ này mình nghỉ chơi à. Nghỉ chơi. Thấy giác ngộ rồi mà không thèm làm gì nữa thì cái giác ngộ này mình xin nghỉ chơi, bye bye. Nhưng mà giác ngộ rồi phải có cái trách nhiệm lớn hơn nữa là giáo hóa chúng sinh. Nhưng mà khi mình tu, mình có đạo lực thì mình cũng giáo hóa chút chút được rồi. Nghĩa là mình tu một cách chân thành, mình tu chân chính, khiêm tốn thì vẫn giáo hóa được. Nhưng mà mới học mà giáo hóa thì thế nào giáo hóa cũng trật và rỗng á, thế nào cũng rỗng á. Cho nên ở đây, ngang ba cái bước này thì chúng ta lấy từ cái tu ra để chúng

[30:53]ta tẻ ra giáo hóa, chứ chúng ta không cho phép học suông mà giáo hóa. Có thể chưa chứng nhưng có phải có tu. Có thể quý thầy chưa chứng nhưng mỗi ngày chúng ta có ngồi thiền đều đặn, có đau khổ với từng bước đi tâm thức của mình, xung đột nội tâm của mình, những người đó có kinh nghiệm, có thiết tha, có sức mạnh để giáo hóa, dù chưa chứng, được, chấp nhận. Thì ở đây, chúng ta thấy tu nó có hai cái mũi tên đi ra, phải không? Một là để giác ngộ, hai là để giáo hóa. Mà còn mũi tên vò lái lại nữa. Là để làm gì? Tu để? Không phải. Học để tu, tu để học, huề.

[31:34]Thấy mũi tên vậy, tu để kiểm chứng lại những lý thuyết mình đã học coi có đúng hay không. Tu nó có ba cái mũi tên đó, kiểm chứng lại lý thuyết mình đã học đúng hay không. Là vì, thứ nhất á là kinh điển đạo Phật để lại hơn 2500 năm, không biết đi qua trung gian có bị thêm thắt hay không. Cho nên mình phải thực hành coi lời đó nói đúng không. Đúng, đó là Phật dạy. Còn mình tu mà thấy nó bất ổn, đi vào nó bất an thì phải để xét lại. Có khi căn cơ mình dở, nhưng có khi cái lời kinh để lại trật, không biết ai thêm vô. Đó là cái thứ nhất, kinh điển quá lâu xa. Vì thứ hai nữa, là những vị thầy dạy chúng ta thì ổng cũng dạy theo cái hiểu của ổng.

[32:20]Không biết ổng dạy đúng hay không nữa. Cũng phải thực hành để đối chiếu, kiểm chứng lại. Vì Đức Phật nói rõ ràng lắm, mình nói câu này không sợ mang tội, không sợ hỗn với người, người thầy của mình, vì chính Đức Phật đã dạy mà, phải không? Bài kinh Chớ có tin đã nghe chưa? Không tin gì hết trơn á. Cái gì cũng phải thực hành rồi xét lại hết. Nên khi mà chúng ta nói chúng ta tu để kiểm chứng lại cái lý thuyết đã học là chúng ta nói đúng tinh thần của đạo Phật, không sợ sai, không sợ mang cái lỗi là vô phép. Thêm điều nữa là sau này cũng có nhiều người sáng chế ra nhiều cái pháp môn tối tăm lắm. Có nhiều cái sáng chế nhưng mà sự thật nó cũng tối tăm.

[32:57]Ổng nghĩ nghĩ ra hay cái ổng đem ổng dạy, ổng không thực hành. Mình tu theo mình điên, chứ ổng không điên tại ổng không có thực hành, có nhiều. Có một lần cái tôi gặp một người, hỏi tu cái gì? Tại sao tôi nhìn cái người đó tôi thấy sao người đâu mà nói tu siêng lắm mà nhìn vô thấy động loạn quá à. Hỏi: "Tu pháp gì?" Nói: "Dạ, con tu cái pháp là lắng nghe vạn hữu." Nói: "Cái pháp môn gì nghe hấp dẫn vậy trời?" Nghe đã tai vậy nữa. Dạy thầy với, thầy cũng không bằng vậy nè. Nói: "Là ngồi sao?" Nói: "Dạ, ngồi thiền thì con lắng nghe coi bên ngoài có tiếng gì, tiếng quạt máy quay, tiếng quý thầy cười khúc khích, tiếng bên kia chó sủa,

[33:38]rồi có tiếng ai ho hen, húng hắng là con ngồi con lắng nghe hết." Cái nói: "Trời, cái pháp môn gì kỳ quái vậy trời? Trong khi đạo Phật là dạy vào kiểm soát nội tâm, phải không? Là mình thấy thân này là vô thường, tâm này vô thường, nó tâm như thế nào, biết tâm như thế đó, kiểm soát nội tâm. Bây giờ bỏ bên trong mà hướng tâm chạy ra ngoài, gọi là hướng ngoại. Nên hèn chi thấy người này không kiểm soát được tâm, ngôn hạnh gì càng lúc càng động loạn." Rồi hỏi: "Pháp môn ở đâu?" Nói: "Dạ, pháp môn cao siêu lắm, môn này phải từ nước ngoài nhập vào, chứ Việt Nam không có." Nghe hấp dẫn, bộ có giá dữ à, đồ ngoại lúc nào cũng có giá.

[34:16]Nhưng mà ông thầy mà ổng dạy pháp môn này ổng không có hành, không sao hết. Nhưng mà cái người mà nghe lời ổng hành thời gian á, nó loạn lên từ từ mất kiểm soát á. Nên có nhiều pháp môn họ chế mà nói dữ dội lắm, nói như đinh đóng cột, một với một là hai mà mình hành theo mình điên ráng chịu, ổng không điên tại ổng không có hành. Vì lý do đó mà chúng ta có thực hành để kiểm chứng lại những điều đó. Nó sai mình chỉ tu 5 phút là biết liền. Bắt đầu tâm mình khó chịu, động lên từ từ là biết rồi, thôi bỏ đi, đừng có ráng theo nữa. Nó có những trường hợp trong cái sự dụng công á để ý là khi mà bắt đầu mình ngồi thiền, mình dụng theo pháp môn

[34:52]nào đó, bắt đầu mình thấy tâm mình bất an, trục trặc là xin vui lòng lui bước lại giùm, đừng có ráng. Có nhiều người đó, bắt đầu tu cái thấy khó chịu, thấy đầu căng, mặt mày nóng bừng mới nói là phải là đại hùng, đại tinh tấn, đại dũng lực, không sợ chết, không sợ khó, sợ khổ, quyết tâm mới đắc đạo. Gồng mình tu tiếp nữa thì tới điên thôi, hết tu. Cái dấu hiệu ban đầu nó đã là sai rồi mà không biết lui ra, nhiều người như vậy. Ví dụ có người đề khởi câu thoại đầu vậy. Đề khởi một thời gian thấy khó chịu, bứt rứt quá mà không biết là mình dụng công đã sai, cứ nói: "Tổ đã dặn mình coi là coi thân này coi như chết bỏ,

[35:32]chỉ một câu này ôm cho tới địa ngục thiên đường mà đi qua hết." Tiếp tục đề khởi thì thiên đường địa ngục mình cũng không tới làm chi, nhưng có điều nhảy nóc nhà ngồi cười cả ngày ngoài trển. Cho nên mình tu để kiểm chứng lại. Rồi có trường hợp, ví dụ như Phật nói là quán từ bi có công năng hóa giải được những cái phiền não của mình, những cái loạn động. Mình hơi ngạc nhiên, mình nói: "Ủa, quán từ bi là một cái động mà tại sao hóa giải được cái động?" Mình thử thực hành. Là đêm xuống mình ngồi mình rải tâm thương yêu chúng sinh thì quả nhiên là qua cái thời ngồi thiền đó mình thấy tâm mình thênh thang, thanh thản lại, nhẹ nhàng.

[36:12]Phật đã nói đúng. Đó là cái sự tu kiểm chứng lại cái việc học của chúng ta là như vậy. Vì vậy, chúng ta nhớ lại cái điều Phật đã dạy là chớ có tin. Chúng ta nhớ điều này để làm gì? Để đối với tất cả những lời dạy của các vị tông sư ở các tông phái, ai cũng cuồng nhiệt ca ngợi cái pháp môn của mình, chúng ta khoan tin, thực hành cái đã. Chúng ta không đả phá. Ví dụ có người nói niệm Phật là sống chết là phải lên cõi Tây phương Cực Lạc là quyết một đường này thì mình cứ cười cười tôn trọng để đó, nhưng mà thực hành thử coi được hay không cái đã. Rồi có người nói, ví dụ đề khởi một câu thoại đầu này là

[36:55]đi qua hết cõi tam giới, ôm một câu thoại đầu này đi qua sinh tử luân hồi, đi hết khỏi lục đạo, ba cõi, đi hết. Thì cũng từ từ, nói mạnh nghe đã tai lắm, nói chắc lắm, cũng đừng tin liền, từ từ thực hành mới biết. Thực hành 5 phút mà thấy không ổn, rút ra, vậy thôi. Nghĩa là ai đó giáo hóa cũng luôn luôn khẳng định là mình giỏi nhất, đó là cái tâm lý chung. Vì vậy, từ đây về sau khi mình nghe một vị nào đó khẳng định con đường này là chân lý duy nhất thì mình hiểu đó là chuyện thường tình, đừng tin. Vì hiểu đó là tâm lý bình thường, để từ từ xét lại, thực hành cái thử cái đã, vậy thôi. Nên tu cũng là để kiểm chứng lại cái đã học.

[37:40]Rồi chúng ta thấy nữa, tu hành là chúng ta thật sự đạt được cái giá trị của đạo Phật, của người xuất gia. Còn nếu mà chúng ta không có thực hành tu tập, chúng ta là những người tu sĩ rỗng, rỗng tuếch, cả đạo Phật cũng rỗng luôn. Chúng ta cứ đem cái ngôn ngữ mà nói với nhau từ thế hệ này qua thế hệ nọ mà không hề có một chút thực hành để đánh giá lại, để biến thành nó thành cuộc sống thực tế của mình thì như vậy chúng ta rỗng, rồi lần lần cả cái đạo Phật cũng rỗng, không có lợi ích gì hết. Rồi nó nhiều cái mục nát. Bên trong á, bên ngoài dòm thì thấy đẹp đẽ chứ bên trong biết rồi hỡi ôi, vì tan nát hết, rất là đau lòng.

[38:23]Vì vậy là mỗi người chúng ta đã xuất gia với một lý tưởng rồi thì phải cố gắng thực hành tu tập hợp lý, đúng hướng. Cho nên tôi, tôi luôn luôn mong mỏi cho những người đàn em của tôi, quý thầy là học trò tôi, hơi đặc đặc, cứng cứng một chút chứ đừng có có rỗng ha. Thấy rỗng tôi buồn lắm, nhớ đặc đặc, cứng cứng một chút giùm. Mỗi ngày chịu khó ngồi thiền, lạy Phật. Trong đời sống với huynh đệ cố gắng thương yêu, lo lắng cho huynh đệ giùm. Những chút chút như vậy mà nó từ từ nó làm cho mình đặc đặc, cứng cứng lại. Đặc đặc nghĩa là cái nội tâm mình á nó đặc đặc, cứng cứng nhưng mà cái đầu mình nó phải, phải rỗng.

[39:08]Cái đầu mình phải rỗng. Cười đó. Cái này tôi thấy nhiều người gặp nhau, nghĩa là Việt Nam cũng gặp nhau, Tây phương cũng gặp nhau, bên Trung Hoa cũng gặp nhau chung một cái điểm nói về cái đầu. Là có đọc cái câu của một cái người Tây phương, nhà tri thức Tây phương, tôi quên cái tên rồi, ông nói thế này: "Nếu giờ này mà bạn gặp ai đó mà người đó còn tin có cái vườn địa đàng Eden, nghĩa là chỗ mà ông ông Adam, bà Eva là thủy tổ của loài người á, tức là theo cái kinh Thánh á, kinh Bible, nếu mà bạn gặp người nào mà còn tin cái vườn địa đàng thủy tổ Eden thì bạn hãy gõ vào trán hắn một cái và sẽ nghe phát ra một tiếng vang.

[39:57]Ê-cô, cái tiếng vang mà echo vang á, vọng vọng vọng ra." Thì đó là cái người Tây phương họ nói. Bắt đầu ở Việt Nam mình nói là: "Dốt đặc cán mai." "Dốt đặc cán mai." Và bên Tàu thì có một lần tôi về gặp mấy đứa em đang mở bộ phim nghĩa là Tế Công Phật Sống thì tôi đứng dòm dòm một lát thì thấy có cái ông viện Quảng gì đó, Quảng Lượng ha? Quảng Lượng có thị giả thì hai người mới tìm cách là đối phó với Tế Công Phật Sống, mà ông Tế Công này thì ổng cứ đùa đùa giỡn giỡn, ổng thoắt hiện, thoắt ẩn này kia, bên thầy trò kia rất là khổ sở đối phó. Mà nhiều khi cái người thị giả của Quảng Lượng này làm ngu quá,

[40:37]ổng tức quá ổng cú đầu cái cóc thì nghe tiếng "cong". Đó là bên Đài Loan á. Là ba người đều giống nhau quan điểm hết. Nghĩa là cái người ngu quá mà mình gõ vào đầu họ nghe ra một tiếng vang. Là tại sao vậy? À, nó rỗng, nó rỗng. Hễ nó đặc thì gõ nghe cộp cộp, mà hễ nó rỗng thì gõ ra nghe nó vang vang vang ra. Như cái chuông phải rỗng, cái trống phải rỗng mới kêu á. Đâu bây giờ xin quý thầy vui lòng mỗi người gõ đầu mình một cái nghe tiếng gì? Hổng nói mình ngu mà nói như vậy. Cho nên chúng ta ráng tu để mình đặc đặc, nhưng mà xin cái đầu thì cứ phải rộng rộng một chút.

[41:17]Rồi cái quan hệ giữa học và tu, cái phân phối thời gian giữa học và tu thì như thế này: là thường ở giai đoạn đầu khi chúng ta mới xuất gia đó thì nên cái nào nhiều?

[41:34]Cái nào nhiều? Học nhiều hơn. Học mới biết đường tu, phải không? Thường thường các chùa mới vô là làm cái gì? Năm đệ Lăng Nghiêm phải học cho thuộc. Chùa tôi thì tôi không có tụng Lăng Nghiêm, cho nên học những cái giáo lý khác, học thanh quy, tâm lý đạo đức là vậy. Thì thời gian đầu mới tu chúng ta học nhiều hơn tu. Ví dụ như quý thầy bây giờ hiện đang ở trường thì vấn đề học cũng phải nhiều hơn nhiều hơn tu. Đó. Thời gian sau này ví dụ mình đã qua trường lớp rồi, mình nắm được đường đi rồi thì tu nhiều hơn. Lúc đó tu nhiều hơn học, mình tăng thời gian tu lên. Tuy nhiên, nói gì nói, chứ vì giữa cái tu,

[42:16]cái học hai bên đó mình đổi qua đổi lại, nhưng mà phải trên nền tảng của công đức. Một lát chúng ta sẽ trở lại chúng ta nói điều này. Nếu không có cái nền công đức thì việc tu, việc học chúng ta không có tiến bộ. Vì vậy luôn luôn ở trên cái nền này. Tuy nhiên mình du di qua lại và phải nhớ suốt cuộc đời mình không bao giờ ngừng cái việc tu học, không bao giờ ngừng. Ví dụ nói một vị A-la-hán là vô học, không cần học nữa thì chỉ là không cần học đối với vấn đề giải thoát, nhưng mà đối với những vấn đề khác của hạnh Bồ tát nếu không học cũng không biết luôn. Bây giờ cho một vị đó chứng A-la-hán hỏi vận tốc ánh sáng là gì, xin thưa không biết nếu không học.

[43:00]Mà có thể nói là vị đó chứng A-la-hán, nói công thức tính diện tích vòng tròn, xin thưa không học không biết. Diện tích tính vòng tròn là gì? Diện tích vòng tròn là gì, ai nhớ? Pi R? Đúng chưa? Tôi cũng quên rồi. Chắc pi R bình phương gì đó. Thì đó, là nên ví dụ một vị mà có tâm linh chứng đạo mà nếu thiếu đọc sách, thiếu nghiên cứu vẫn lạc lõng với cuộc đời, mặc dù tâm vị đó rất tự tại. Cho nên phải suốt đời tu học, không nói gì hết trơn. Chúng ta phải yên trí rằng tới ngày mình nhắm mắt là vẫn hai cái này vẫn phải đều đều. Mà thêm điều nữa là chừng nào quý thầy đắc đạo hết thì mình khỏi tu, tới đó nghỉ tu.

[43:48]Nhắm chừng nào đắc đạo báo tôi biết. Nhắm coi? Cứ yên trí là có lẽ kiếp khác, phải không? Cứ yên trí như vậy. Cho nên cứ tâm nguyện là tới ngày chết thì vẫn tu vẫn học ha. Có khi bây giờ quý thầy học nhiều, rồi một thời gian sau quý thầy sẽ tu nhiều. Tu một thời gian rồi tự nhiên cái duyên nó tới lại trở lại học nhiều. Rồi học một thời gian lại thấy tạm được cái trở lại tu nhiều. Nên trong suốt cuộc đời của mình luôn luôn như vậy, nó đi qua lại chứ không có cố định một lúc, chứ đừng có chia nói: "Dạ, giai đoạn từ mấy tuổi mấy tuổi là học, giai đoạn mấy tuổi mấy tuổi rồi tu hổng học nữa", quan niệm đó sai.

[44:27]Phải luôn luôn đổi qua đổi lại. Ví dụ sau này quý thầy bắt đầu mình vào thiền cũng có một chút sở đắc, rồi học cũng qua được một số bằng cấp rồi, đừng nghĩ vậy là xong, hổng có đâu. Rồi sau này quý thầy đi giảng dạy, mình làm giáo thọ rồi, nghĩ rằng không cần phải học nữa, nó cũng sai luôn, vẫn phải học hoài. Mà cái cách học nó như thế nào á, đó là tùy mình, tùy duyên của mình, nhưng không bao giờ ngừng học. Như tôi bây giờ vậy cũng phải học mà, nhưng cái cách học mình nó khác thôi, chứ không phải là ngồi mà học kinh học điển như quý thầy, mà cái cách học của tôi nó khác. Học khác như thế nào?

[45:04]Đó là điều bí mật. Sau này có duyên thì kể quý thầy nghe, vì nếu mà tôi kể ra quý thầy nhiều khi thấy mắc tức cười, tức cười, nó không giống ai. Vì tôi học ở đâu? Tôi học trong cuộc đời nhiều hơn. Học cuộc đời. Cho nên á đó là quan hệ qua lại, suốt đời mình phải giữ, nhớ vậy đó. Là chúng ta nhớ hai điều trong cái tương quan phân phối thời gian tu học. Thứ nhất là: suốt đời không bao giờ ngừng việc tu học trên cái nền tảng tạo công đức, lúc nào cũng phải làm phước mà lúc nào cũng phải tu học. Điều thứ hai là: khi thì thiên về tu, khi thì thiên về học theo cái duyên của từng lúc. Đó, nhớ như vậy.

[45:47]Giờ chúng ta nói về việc tổ chức tu học tại chùa. Có hai cái chỗ để tổ chức tu học, một là tại chùa, hai là tại trường, giờ mình nói tại chùa trước. Thì nói tới việc tu học tại chùa thì chúng ta phải nói tới cái gì liền? Hôm trước học rồi, bài nhiệm vụ ngôi chùa. Quên hả? Thời khóa, giáo lý, phải không? Đó, hễ nói tới ở là phải nói tới? Ờ, mấy cái đó thuộc liền hà. Mà hễ nói tới học thì phải tới giáo lý, thời khóa, nhớ có một cái à? Thì cái thời khóa đó, thì tôi cho rằng nhiều khi hiện nay thời khóa chưa thích hợp lắm, cho nên tôi đề nghị tăng thêm giờ ngủ cho tăng ni một chút. Ai nghe cười thích liền, nói: "Trúng".

[46:38]Vì có những chùa nhiều khi 3 giờ dậy, tôi nghĩ chưa hợp lý lắm, nên nhất là người xuất gia đa số là người còn trẻ, cái đòi hỏi về giấc ngủ rất là lớn, cho nên như Thiền sư nói trong Góp nhặt cát đá là: "Đi vào giấc ngủ cuối cùng, nghĩ rằng ngày mai không còn gì nữa, bỏ ngày mai, nhắm mắt, nhiếp tâm ngủ thôi. Ngủ một giấc cho say sưa, đừng nằm đó mơ mộng, đừng có khều khều ai nói chuyện, đừng có nửa đêm mà rón rén trở dậy đi về phía nhà bếp, không nên. Ngủ cho say một cái giấc ngủ ngon lành." Đó. Đó là cái thời khóa. Ở đây mình mấy giờ dậy cà? 3:30 hơi sớm. Ở ngoài Thiên Phước thì 4 giờ. Có thời gian tôi còn ở trong chúng á,

[47:23]mới đầu cũng 3:30 dậy, sau Hòa thượng kêu thôi 3 giờ. Còn tôi thì tôi bị nghĩ mình tinh tấn á cái 2:30 lén lén dậy rồi, dậy tu.

[47:34]Mà một thời gian thấy sức khỏe nó chịu không nổi, không thích hợp vì ban ngày cũng phải lao động quá nhiều mà 2:30 dậy rồi cái nó tàn từ từ tàn từ từ. Lúc con người tôi mà quý thầy gặp như bộ xương biết đi vậy á, thấy ghê. Gió thổi cái lung lay lung lay. Đó là mình tìm cái thời khóa chung cho thích hợp để cho giữ được sức khỏe của chúng. Rồi có những thời khóa riêng, ví dụ khi cái người đã đến lúc nhập thất thì cho cái thời khóa đặc biệt lại, chứ không có nhất thiết phải như mọi người nữa, vậy. Còn cái việc mà học tu tại chùa đó, thì hoặc là có khi chùa mình đã có giáo thọ tại chỗ giảng dạy, hoặc có khi cảm thấy giáo thọ tại chùa chưa

[48:13]đủ thì mình mời thêm giáo thọ nơi khác đến để phụ giảng dạy. Thì cái tinh thần như vậy rất là quý, đó là tinh thần gọi là cộng tác giữa quý thầy với nhau, giữa các chùa với nhau, làm tăng thêm cái tình trong đạo Phật. Cho nên là giáo thọ dĩ nhiên phải lựa, lựa giáo thọ giỏi một chút, quý thầy cố gắng học. Vì chúng ta vẫn còn thiếu giáo thọ dữ lắm, rất thiếu giáo thọ trên đất nước mình. Quá sức thiếu và nhiều khi tôi buồn chuyện đó quá chừng. Tôi luôn luôn mong mỏi ví dụ một ông thầy ở một cái chùa quê vẫn có thể giảng được cho Phật tử vào ngày sám hối. Không cần ông là phải là một giảng sư nổi tiếng,

[48:53]nhưng ít nhất phải giảng được tại ngôi chùa mình. Rồi có những cái lớp đặc biệt thì mời thêm lại các giáo thọ nơi khác để bổ sung, nhưng mà ai cũng phải biết giảng và giảng cho hay cho giỏi. Tôi mong là quý thầy ở đây bao nhiêu người tất cả? Mấy? 50 phải không? Ráng làm sao phải 50 người này sau này sẽ biến thành 55 giảng sư. Rồi giáo lý tại chùa phải chú trọng cái hệ thống đạo đức cho vững chắc, chúng ta đừng đi vội tới những giáo lý cao siêu. Đây là điều quan trọng, vì cái người cái tính chất của người tu căn bản trước hết là đạo đức cái đã. Nếu không có đạo đức mình không phải người tu. Ví dụ có thể mình không biết bộ kinh Pháp Hoa nói gì

[49:34]trỏng, nhưng mà trong đời sống mình là người biết thương người, mình cũng là một tu sĩ đàng hoàng. Còn hỏi nói yếu chỉ kinh Pháp Hoa là gì, mình nói liền, nói là: "Khai thị chúng sinh ngộ nhập tri kiến Phật", nhưng mà ai mà lại cự mình tiếng là mình nổi sân lên mình đánh người ta thì mình không phải thầy tu. Thấy nó khác nhau. Nhưng vì vậy, giáo lý tại chùa cái nền phải thật là cứng, đó là cái nền đạo đức. Ở đây vì chương trình học giới hạn nên chúng ta chỉ học 30 bài đạo đức thôi. Chứ nếu mà đúng như tôi mong muốn á là mình học qua 4 năm luôn. Cái môn đạo đức phải học suốt 4 năm luôn. Nên 30 bài đó chỉ là 30 bài căn bản.

[50:16]Nên sau này là quý thầy nhớ, quý thầy cứ phát huy tiếp cái môn tâm lý đạo đức đó, quý thầy đi dạy, quý thầy mới nói với học trò hồi xưa đó là: "Ông Chân Quang dạy tôi 30 bài căn bản thấp, bây giờ tôi dạy lại cho các em 50 bài mới cao hơn nhiều, hãy lắng nghe", đó vậy. Phải phát triển cái môn đó cho nó càng lúc càng sâu, càng thực tế để cho cái người tăng ni mà được học rồi biến thành con người khác, thành con người hoàn toàn tốt, tốt hẳn, con người lý tưởng, mẫu mực để cho người cư sĩ nhìn vào họ phát tâm với đạo liền, họ thương họ mến đạo liền. Đó. nên cái chú trọng cái hệ thống đạo đức. Mà chú trọng hệ thống đạo đức này mình phải lúc nào cái

[50:58]người lớn á phải rình phải coi cái ngôn hạnh của người trong chùa, chúng ở trong chùa, là mình thấy họ biểu hiện từ miếng ăn, lời nói, cái cư xử, xem coi họ có độ lượng, có vị tha, có hi sinh biết hi sinh hay không? Đó, để ý. Khi học phải để ý cái điều đó. Nhắc nhở họ từng chút một từng chút một. Rồi một điều nữa chúng ta để ý cái giáo lý tại chùa là nên dạy cái giáo lý tiêu chuẩn, đừng có đi vào sâu tông phái mà gây phân hóa sớm. Chúng ta nhớ điều đó. Ví dụ như thường thường á, hiện nay chúng ta có khuynh hướng là chùa nào tông nào cứ đi chặt vào tông đó, cái thời đó nó xưa rồi, thời đó lạc hậu rồi.

[51:41]Mà ngày hôm nay là giáo lý phải đi vào căn bản, ví dụ như Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, nhân quả, 12 nhân duyên, năm ấm, vân vân, những căn bản đó là tông nào cũng phải biết. Chúng ta đi giáo lý đó. Còn ví dụ như là mình cứ vào chùa cái là bắt phải đi vào kinh A Di Đà liền, niệm Phật liền, cái đó phải nói là hơi vội vã, làm đạo Phật phân hóa liền, làm người đệ tử mình không biết đạo Phật, cái chân trời đạo Phật mênh mông, chỉ ôm nhánh cây rồi thôi, sống chết ở đó, treo thòng teng ở đó. Hoặc có người bước vô là chỉ được biết Thiền tông, không biết gì khác nữa, chỉ biết tâm này là Phật thôi, còn ngoài ra không biết gì nữa, thì đó cũng là đi quá vội vã vào hệ phái

[52:23]mà làm cho người tu như vậy bị mất căn bản, hổng chân, họ sẽ rối loạn nhân cách. Cho nên vì vậy là chúng ta đi đúng cái căn bản lại, tiêu chuẩn giáo lý, biết rành nhân quả, biết Bát Chánh Đạo là gì, Tứ Diệu Đế, ý nghĩa Khổ Đế là gì, vân vân, đó những cái căn bản, không đi sâu vào tông phái vội vàng. Rồi có một một số môn học cần thiết cho kiến thức của một người tu sĩ để sau này bước ra làm việc, những môn chúng ta phải biết như là âm nhạc, hội họa, luật pháp, y tế căn bản, võ thuật, ngoại ngữ. Những môn đó phải được học. Thì một môn như vậy không tốn thời giờ lắm đâu. Ví dụ bổ túc văn hóa thì hơi tốn thời giờ,

[53:08]ngoại ngữ hơi tốn thời giờ, những môn kia một môn mình chỉ tốn chừng năm, sáu chục tiết thôi. Ví dụ môn âm nhạc, mình phải biết nhạc lý, nhạc lý căn bản, có thể sử dụng được cái đàn organ. Cái mà hội họa với âm nhạc nó thuộc về nghệ thuật. Mà nghệ thuật cũng giống như kỹ thuật. Chúng ta có hai cái "thuật" quan trọng, đều là phương tiện. Kỹ thuật và nghệ thuật đều là phương tiện cho cuộc sống thì cũng vậy, kỹ thuật và nghệ thuật đều là phương tiện để giáo hóa chúng sinh, để làm việc đạo. Như chúng ta có cái cái quạt máy này là kỹ thuật, cái này là, cái micro, cái ampli này là. Đó, chúng ta đang dùng nó để làm phương tiện để giáo hóa, phải không?

[53:53]Nghệ thuật cũng vậy, nghệ thuật có sức mạnh nó thu hút con người dữ lắm để người ta đến với đạo. Bây giờ cũng một lời nói nhưng mình nói bốp chát, không có nghệ thuật trong câu nói người ta không nghe. Nhưng mà nếu mình khéo nói, có nghệ thuật, nói nghe êm tai, nói đàng hoàng khéo léo, người ta thích nghe. Hoặc là mình diễn một cái câu đó thành bài thơ, người ta thích nghe. Thậm chí mình diễn một đạo lý thành bài nhạc thì càng thu hút hơn nữa. Và tôi có cái niềm tin rằng là vài mươi năm nữa thì toàn bộ kinh tụng của đạo Phật Việt Nam mình biến thành âm nhạc hết. Ở Đài Loan đã làm xong rồi, tất cả những bài kinh

[54:32]tụng Đài Loan đều là những bài hát hoàn toàn. Nhưng Việt Nam chưa có. Nhưng mà cái nguyên tắc mà tôi xem á tôi thấy từ xưa tới giờ đó là cái kinh tụng trong chùa luôn luôn nó ăn rơ với cái âm nhạc ở bên ngoài thế gian. Nghĩa là cái thời đó mà âm nhạc nào được chuộng thì quý thầy thế nào cũng đem cái đó vào trong để tụng để biểu lộ cái lòng tôn kính đối với lời pháp của Phật. Như cái lời tụng kinh hiện nay chúng ta nó na ná với cái loại nhạc nào? Cải lương, vọng cổ. Cái lối mà tán tụng ư a là nó nó giống loại nhạc nào hồi xưa? Hát bội, đó y chang. Giọng tụng ngoài Huế rất giống với hò Huế, phải không? Y.

[55:18]Bây giờ thì lớp trẻ nó thích cái gì? Thích âm nhạc. Nhạc pop, nhạc rock gì đó, rumba này nọ thì nữa mình cũng chuyển từ từ qua nhưng mà nó hơi khó. Thì tôi có thí nghiệm thử một bài là bài Tôn Kính Phật á. Hôm trước chỉ quý thầy hát á, còn nhớ không? Còn không? Chớ ở trên chùa tôi là tối nào cũng phải hát bài đó thay cho bài Pháp Vương Vô Thượng Tôn đó, Tam Giới Vô Luân Thất, là hát cái bài đó đó, vì cái bài đó nó diễn được ý nghĩa đó, nên toàn chúng đứng nghiêm chỉnh chắp tay hát bài đó nghe rất đã tai. Nên là tôi nghĩ như vậy. Và nghệ thuật nó là một cái mảng quan trọng trong việc giáo hóa nhưng mà tiếc rằng do cái quan niệm cổ hủ

[56:01]quý thầy mình bỏ mất cái mảng này, không không chú ý đúng mức, để cho ngoại đạo như các đạo khác, họ sử dụng cái nghệ thuật rất mạnh trong việc giáo hóa. Điêu khắc, hội họa, âm nhạc, họ sử dụng rất thành thạo để mà thu hút tín đồ. Đạo Phật mình bỏ mất mảng này luôn, không. Nên đây là một cái yếu kém hẳn. Cho nên vì vậy là tôi đề nghị các chùa phải có học về âm nhạc, hội họa, vân vân, mỹ học. Ở trên chùa tôi tôi đang dạy nhạc lý hết cho đại chúng, có hai cái đàn ooc á, buộc phải làm. Tôi lên tôi hỏi: "Nhạc lý nốt này nốt gì, hợp chú âm này hợp chú âm nào, cái này mấy phách tiết tấu, biểu đồ là sao?"

[56:40]Thì người lên nghĩa là trả lời được, không được thì cho cây nhang về quỳ. Sợ hết hồn hết, nghĩa là nói: "Con không khiếu, có khiếu gì cũng quỳ nhang hết" là bắt phải học, bắt phải thành thạo hết. Thì nó chỉ tốn chừng năm, sáu chục tiết thôi, không có nhiều, mình không có đi chuyên sâu mãi nhưng phải có kiến thức. Sau này người nào có khiếu tự họ đi sâu thêm. Nhưng mà phải có bản lĩnh tu rồi phải bước qua hội họa chút xíu, biết về mỹ học. Tôi hay nói có nhiều cái mắc cười, nhiều khi mình vẽ vẽ như con nít vẽ, ví dụ như vẽ một cái người mà đứng trước cái nhà mình vẽ làm sao? À, nói à ngồi đứng trước cái nhà dễ, thì vẽ cái nhà, phải không?

[57:17]Vẽ cái nhà rồi cái người đứng trước cái nhà, đó.

[57:23]Đó, vẽ người đứng trước cái nhà, đúng không? Nó y y như nít vẽ, nhưng mà nếu mình có học hội họa trước thì mình biết nó phải có cái nguyên tắc phối cảnh của nó, phải không? Biết nguyên tắc phối cảnh của nó, có cái nhà đó cái người đứng cái nhà xéo xéo vậy mới thành ra người đứng trước cái nhà, chứ người này cái nhà nằm trên đầu của người. Mình không hiểu được nguyên tắc phối cảnh nên những điểm chút chút vậy đó, nó cũng đòi hỏi cho cái kiến thức đó. Rồi mình phải nhìn đánh giá về cái nét như vậy cái chùa nó đẹp, nó thanh hay không? Rồi cái gì mình sắp xếp mọi cái lối đi trong chùa thì nó có được hay không, những cái chút chút đó đòi hỏi có

[57:57]kiến thức về hội họa một chút, cái đó phải biết. Rồi luật pháp phải biết. Là mình không thể là đi sâu vào như một đại học Luật nhưng mình phải tốn chừng năm, sáu chục tiết học về luật, là hiến pháp là gì, luật pháp là gì, nghị định rồi thông tư, quy định rồi sắc lệnh là gì, phải biết mấy điều đó. Rồi những văn bản dưới luật để giải thích là cái gì. Rồi tòa án thì sao, viện kiểm sát là sao, bộ công an là sao, tức là mới phối hợp phải biết như vậy. Rồi luật về tôn giáo chưa có nhưng sau này có mình cũng phải biết thế nào. Mình học chừng năm, sáu chục tiết để biết như vậy. Rồi y tế căn bản mình phải biết, ở đây có ai biết chích thuốc không?

[58:36]Có không? Mai mốt tập, cứ thầy này chích cho thầy kia cho quen. Biết chích ven nữa, đó, rồi phải biết ít nhất là vitamin C nó được cái gì, cái gì, rồi trầy tay, rửa chân nói chung là mấy cái chuyện chút chút đó phải biết chứ, gọi là y tế căn bản mình phải được học tốn chừng năm, sáu chục tiết, nhờ người nào đó, mình đây Phật tử mà làm bác sĩ ngoài Long An thiếu gì phải không? Vô mời dạy chúng chừng năm, sáu chục tiết. Rồi võ thuật, ở đây quý thầy có học võ không? Phải học. Sau này để đi giáo hóa. Nghĩa là khi mình ngồi trên tòa mình ngồi giáo hóa mà sự thực là thủ thế kìa. Hễ mà có dưới kia mà mình có nói điều gì mà mếch lòng,

[59:21]dưới kia họ hùm hổ từ dưới tiến lên thì mình phải nhảy đủ sức nhảy qua cửa sổ. Cửa sổ mà có song này hơi kẹt. Rồi ngoại ngữ, ngoại ngữ là cánh cửa để mở ra nền văn hóa thế giới, phải biết. Càng giỏi càng tốt không sao hết. Đó những cái điều mà ở chùa phải được học đó. Rồi ít nhất ở chùa phải được hai thời ngồi thiền đầu hôm và cuối hôm. Lý tưởng thì ba thời, nhưng mà nhiều khi có những công việc thì chúng ta giữ căn bản hai thời đầu hôm, cuối hôm. Thường thường trước đây mình gọi tụng kinh là cái gì? Công phu phải không? Công phu có ý nghĩa rằng coi việc tụng kinh là việc tu. Mà trong khi từ thời xưa không phải vậy, thời Đức Phật tụng kinh không phải là tu.

[1:00:03]Tụng kinh để làm cái gì? Giữ gìn lời Phật dạy, sợ quên là mất hết. Hồi đó chưa viết ra, chỉ nhớ thôi, cho nên ông thầy ổng dạy cho người đệ tử buộc đệ tử phải mỗi ngày phải nhẩm nhẩm tụng lại hoài, rồi còn dạy cho người sau, nhờ vậy mà Tam tạng kinh điển được lưu truyền. Nên tụng kinh nó là một cái Phật sự, một công đức để duy trì lời Phật dạy chứ không phải tu hành. Nhưng mà bây giờ tu hành là cái gì? Ngồi thiền, kinh hành mới là tu. Nhưng mà có một thời gian nào đó tôi không biết là vào thời điểm nào, Đạo Phật bị suy thoái, người ta không còn cái công phu tu hành rõ rệt nữa, và đành lấy cái thời tụng kinh làm coi như là công phu tu hành.

[1:00:44]Cho nên mới có cái chữ là công phu đi công phu chiều, công phu khuya gọi là tu á, sự thực không phải. Nên bây giờ mình phải đổi quan niệm đó lại, hễ công phu tức là phải tọa thiền hoặc lạy Phật, gọi là tu, còn tụng kinh không phải. Tụng kinh là có thể coi như học, nhắc lời Phật dạy thôi. Một cái nghi lễ mỗi ngày đứa con phải đến chào người cha của mình rồi đến trước chánh điện tụng bài kinh ngắn, nhắc lời Phật dạy để hun thêm cái lý tưởng tu hành, không phải tu. Tu là kiểm soát tâm hồn mình, là đối xử với con người, tọa thiền, kinh hành, niệm Phật, vân vân, đó mới là công phu. Cho nên vì vậy, chúng ta nên bớt giờ tụng kinh lại,

[1:01:24]tăng giờ ngồi thiền lên, tôi đề nghị như vậy. Chùa tôi là bỏ hẳn cái thời tụng kinh buổi khuya, chỉ có 6:30 tụng thời nửa tiếng rồi còn lại là những công việc khác. Không coi lắm. Đó là cái việc mà tổ chức học tại chùa, nó có những điểm khái quát như vậy. Bây giờ chúng ta nói về trường một chút. Ở các học viện của thế gian á hoặc là đại học thì họ đều có cái gọi là cái phòng thí nghiệm. Mà phòng thí nghiệm, nơi thực hành này là nơi cực kỳ quan trọng. Có những cái học viện, có những đại học mà cái phòng thí nghiệm của họ lớn hơn cái giảng đường. Nên cái giảng đường đối với họ là phụ, mà cái phòng thí nghiệm mới là chính.

[1:02:08]Có những cái phòng thí nghiệm nó lớn tới mấy cây số, quý thầy tin không? Ví dụ như họ làm cái máy về gia tốc để bắn những cái hạt, những hạt mà thấp những hạt electron bắn nó gia tốc cho nó tăng cái vận tốc lên để phá vỡ nó ra, tìm cái cấu trúc của nguyên tử của những hạt nhỏ như vậy. Những cái máy gia tốc nó dài tới mấy cây số, nó lớn hơn cái giảng đường. Mà ví dụ như một sinh viên không phải là họ học xong họ ra trường rồi họ mới đi phát minh, không có, nhiều khi tại trường của họ họ có những phát minh lớn. Vì phòng thí nghiệm dữ dội lắm, nên những cái học viện của thế gian á cái phòng thực hành thí nghiệm rất quan trọng để đánh giá cái lý thuyết,

[1:02:49]họ vừa học và họ nghiên cứu vừa học vừa thực hành liền là nhờ cái lab, laboratory. Nhưng mà bên các trường của học viện Phật giáo mình thì lại thiếu, thiếu một cái lab để thực hành. Nghĩa là hễ xây cái trường thì chỉ coi có cái giảng đường thôi, để ngồi có đóng bàn đóng ghế vô rồi xong rồi làm cái trường học á, mà không có cái chỗ để thực hành. Cái chỗ thực hành đó là gì? Cái thiền đường để ngồi thiền, cái thư viện để nghiên cứu, một cái cái xưởng cái phòng vi tính để học về vi tính, những nơi để viết luận văn, rồi cái những cái môi trường để đi thực tập bên ngoài, lấy kinh nghiệm trở về viết luận văn,

[1:03:29]rồi những cái phòng ngoại ngữ, vân vân, những cái phòng đó quan trọng. Nhưng mà bên Phật giáo mình không có, nên đây là một cái thiếu. Chúng ta sau này mở một cái trường, chỗ này là chỗ phải bổ sung lại. Hễ mở cái trường thì cái phòng để thực hành là cái phòng lớn hơn cái giảng đường, nhiều khung, nhiều bộ phận mà phải quan trọng hơn cái giảng đường. Vì chính thời gian thực hành nhiều làm cho người ta giỏi. Ở đây có một cái quý thầy mình ví dụ như đi học lên cao cấp á là cái tổ chức của trường Việt Nam mình là dạy cho tăng ni tập ngồi nghe suốt 4 năm, ngồi nghe. Trong khi á đúng ra phải như thế này,

[1:04:11]ví dụ mỗi môn học là phải cho đi thực hành liền. Ví dụ bây giờ chúng ta học cái môn sinh hoạt giáo hội là tăng ni sinh sau khi hết cái môn đó phải đi về một cái giáo hội nào đó xem cái tình hình sinh hoạt, cơ cấu tổ chức, ưu khuyết nào về viết báo cáo, viết luận văn. Cái đó cái thực hành đó quan trọng, chứ không phải là luyện cho tăng ni cứ ngồi kiên nhẫn mà ngồi nghe như vậy hết năm này qua năm kia rồi đi ra lấy cái mảnh bằng không biết làm cái gì hết. Tại chưa từng được thực hành trong trường, cho nên đây là cái mà chúng ta cần bổ sung. Có nhiều cái môn á ví dụ môn thiền định là phải tọa thiền, siêng năng vào trong học

[1:04:49]viện rồi thiền phải giỏi hơn ở chùa nữa. Chúng ta phải phân ra hai loại giáo lý để đỡ mất thời giờ. Một loại giáo lý căn bản là học tới đâu thực hành tới đó, một loại giáo lý để nghiên cứu để tự nghiên cứu có sự hướng dẫn, tự nghiên cứu có sự hướng dẫn. Ví dụ thế này, ví dụ bây giờ mà nói về luật nhân quả thì giáo lý này được hướng dẫn một chút rồi quý thầy thực hành, kiểm chứng lại nhân nào quả đó, đi ra bên ngoài người ta quả đó thì nhân gì, phải đi thực hành. Rồi thiền định, Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế, vân vân, những cái căn bản như vậy là phải được học và được hướng dẫn tại chỗ kỹ lưỡng. Nhưng rồi có những cái cái môn thì để cho tăng ni sinh tự nghiên cứu

[1:05:36]được hướng dẫn á, ví dụ bây giờ nói tăng ni sinh nghiên cứu bộ kinh Hoa Nghiêm thì tăng ni sinh mới vào thư viện bấm máy vi tính lên, đọc cái bài kinh đó, đọc cái lời chú giải bên cạnh, đọc hết rồi trong bao nhiêu tuần á, sau đó viết lại bài luận văn tóm tắt lại những điều mình nhận ra được từ kinh Hoa Nghiêm gọn lại, nộp, chấm điểm. Đó là tức là có những cái môn mà tự nghiên cứu theo có sự hướng dẫn để đỡ mất thời gian, chứ còn không biết, vô trường nói à bắt đầu học bộ kinh Hoa Nghiêm quất luôn 3 năm là mới hết bộ kinh đó, chưa chắc hết nữa. Mà nhiều khi nói một đoạn gặp mấy thầy nói dông nói dài nói

[1:06:10]hoài, học không biết chừng nào mới hết bộ Hoa Nghiêm. Nên có những cái môn không nên là để ngồi nghe mà nên để tự nghiên cứu vì tài liệu trong thư viện có rất nhiều, không nên. Mà hầu hết là lên tới học viện đại học rồi á thì cái thời gian mà để nghiên cứu này nhiều hơn là cái thời gian mà ngồi nghe trong lớp. Vào ngồi nghe là chỉ thầy hướng dẫn cách làm thôi. Ví dụ hôm nay mình học về đề tài là luật pháp, trong đó liên quan luật tôn giáo thì ông thầy ổng hướng dẫn một số sách cần phải đọc, ổng nói nguyên tắc căn bản cái phương pháp để nghiên cứu môn học này, phương pháp viết luận văn, rồi, ra khỏi lớp.

[1:06:48]Nghe 2 tiếng đồng hồ xong bắt đầu đi vào thư viện lục hết những sách đó, bấm máy vi tính ra đọc, rồi bấm máy vi tính vào mạng internet đi qua bên nước ngoài coi họ nói gì luật pháp của họ, rồi bên luật Việt Nam thế nào, luật tôn giáo thế nào. Rồi sau khi đã viết bài tổng kết đem nộp ông thầy 2 tuần sau, xong môn đó. Có cách học phải chủ động như vậy, tự nghiên cứu như vậy, trao đổi hỏi nhau chứ không phải là cứ le lên có một ông thầy ngồi nói hoài nói hoài ở dưới cứ ngồi nghe hoài nghe hoài 4 năm ra lấy cái bằng, rồi tôi tốt nghiệp rồi. Rồi tốt nghiệp xong đi ra làm gì? Nói: "Dạ, chưa biết làm gì hết, đang chờ ai chỉ thì mới làm nữa", thì đúng là hơi uổng.

[1:07:21]Cho nên vì vậy cái mà nghiên cứu thực hành nó mới quan trọng, mà cái cách đào tạo lên cao là cách tự nghiên cứu chứ không phải là thụ động ngồi nghe. Nó để đỡ mất thời giờ vì cái kinh điển quá nhiều đi, nếu mà ngồi giảng từng môn, ví dụ nói học bộ A Hàm thế là triển khai cái môn đó mấy năm trời, làm chi? Nên nhiều khi tăng ni sinh đi học các trường cứ than là thời gian học quá căng thẳng là vì do mình không biết sắp xếp lại, học cái kiểu đó thì đúng là căng thẳng là phải, không có thời giờ. Mà để tự nghiên cứu nó đỡ mất thời giờ, nó lẹ hơn. Rồi một điều nữa ở trường học là cái môn đạo đức phải là một môn học chính xuyên suốt nhiều năm.

[1:08:02]Giống như ở chùa nãy tôi nói vậy, ở chùa môn đạo đức cũng quan trọng, ở trường môn đạo đức cũng quan trọng vì người tu sĩ đạo đức là quan trọng. Cái môn đó hệ số phải cao hơn các môn khác. Cho nên có một lần tôi giảng thì tôi trách tôi trách cái giáo dục phổ thông. Ví dụ như trường nào bây giờ bắt đầu cũng đề cái bài là bảng là "Tiên học lễ, hậu học văn" phải không? Tức học lễ là học đạo đức, còn học văn là học kiến thức. Nhưng hỏi cái giờ đạo đức mấy giờ? Mấy tiết? Nói dạ một tiết một tuần, hay là môn nào môn công dân thì đâu có coi môn đó quan trọng mà gọi là tiên học lễ, hậu học văn. Chừng nào mà nghĩa là học sinh vào lớp học học luôn bốn tiết về môn đạo đức

[1:08:43]mỗi tuần mà môn đó hệ số cao hơn môn toán thì cái đó mới gọi là chính sách giáo dục là coi nặng đạo đức để xây dựng lại một thế hệ con người mới. Nhưng ngày nay dường như là chúng ta vẫn chưa chú trọng về cái đó, nên môn đạo đức vẫn còn rất là lỏng lẻo vì chúng ta chưa có một lý luận mạnh về cái môn đạo đức này, vẫn còn rất là là ít, đó cũng là một điều đáng buồn. Thì trong chùa vậy, trong chùa cái môn đạo đức phải là môn môn quan trọng. Rồi một môn học nữa là môn Nhân quả Nghiệp báo, phải là cái nền tảng quan trọng. Thì cái, vì sao? Vì cái giáo lý về nhân quả nghiệp báo nó là xuyên suốt hết tất cả mọi

[1:09:22]giáo lý của đạo Phật, nhưng mà chúng ta chưa có một môn gọi là môn Nghiệp báo học hay Nhân quả học cho các trường Phật học, chưa có. Như phần tôi thì tôi cố gắng viết hai cuốn sách đó thôi, chứ cũng chưa có thành một cái môn học. Đây là điều mà sau này quý thầy phải hệ thống lại thành một môn gọi là môn Nghiệp báo học. Có thể là tôi chưa làm được điều này thì tôi gởi gắm cho quý thầy phải làm lại điều này. Soạn thành một môn từng bài rõ ràng, phải không? Tức là soạn ra là 30 bài. Bài thứ nhất nói về gì? Tới đủ 30 bài nói về môn Nghiệp báo học, phân tích cộng nghiệp, biệt nghiệp như thế nào, là biến nghiệp như thế nào, một cái nhân này mà nó biến

[1:10:01]thành bao nhiêu loại quả báo, một cái quả báo này có thể là do bao nhiêu cái nhân, rồi cái nghiệp á nó bị thay đổi theo những cái duyên nửa chừng như thế nào, phải được phân tích hết thành môn học rất là cặn kẽ cho Tăng Ni. Môn này mình soạn được, hiểu rồi mình tự soạn được. Có thể tôi không soạn nhưng tôi giao quý thầy soạn. Hả? Nhắm soạn nổi không? Ráng ha? Mấy thầy? Ngửa người. Môn này quan trọng mà chưa có trong mấy trường Phật học. Đó. Rồi có những cái môn mà nãy chúng ta nói á thì ở trường cũng bắt buộc phải dạy là âm nhạc nè, mỹ thuật nè, luật pháp, y tế căn bản, ngoại ngữ, võ học. Ở trường cũng phải cho dạy, chùa không biết có dạy không

[1:10:39]nhưng vô trường phải được học lại mấy môn đó. Quan trọng. Rồi có những cái môn thế này, môn học về giao tiếp ứng xử. Cái môn đó mình chưa được học. Mà môn đó quan trọng để bước ra làm việc lắm. Vì khi mình ra mình gặp cái người khác đạo, mình biết mình nói chuyện với người ta như thế nào để hợp lý. Ví dụ gặp người Thiên Chúa, mình có cái cách nói như thế nào? Vì mình không hiểu gì về người ta hết, thế nào nói cũng dễ gây lộn. Rồi gặp người già biết đạo thì xử sự, người già không biết đạo, người trí thức phải xử sự làm sao, em bé phải xử sự sao, người nghèo phải xử sự sao, người giàu phải xử sự làm sao?

[1:11:16]Mấy cái đó phải biết. Rồi có những cái mẫu câu chúng ta phải học để làm tiêu chuẩn. Tôi nói ví dụ, ví dụ có cái câu mà phải biết, ví dụ như có những cái câu phải học là: "Không biết tôi nói điều này có làm cô phiền lòng hay không, nhưng nếu được, xin cô cho phép tôi trình bày." Đó, những mẫu câu vậy phải học, Tăng Ni phải học. Hoặc là mình đến gặp người muốn trình bày, mình nói là: "Tôi biết ông rất bận, nhưng xin ông cho tôi được tiếp ông, gặp ông trong 5 phút vì có vấn đề tôi nghĩ là cần thiết đối với ông và đối với chúng tôi." Đó, những mẫu câu như vậy phải được học trong giao tiếp ứng xử. Rồi ví dụ như cái mẫu câu mà đối với người

[1:11:55]nghèo, người nghèo thì nhiều khi họ có khi là người nghèo cũng ít học, có khi người nghèo học nhiều, nhưng mà cái áo thì tơi tả, người thì gầy guộc và họ đang mặc cảm ngồi một cái góc, mình phải biết có cách nói chuyện, cách nói chuyện để họ đến chùa họ thấy họ nhận được cái tình thương yêu, được cái sự ấm áp của quý thầy. Chứ nhiều khi lơ lơ hả: "Vô chùa hả? Ừ, ra sau ăn cơm đi." Thua, đó là thua đậm. Không được. Nghĩa là gặp cái người nghèo mình biết người ta dễ mặc cảm, mình nói: "À, Phật tử mới tới hả? Đã dùng gì chưa? Thôi thầy mời ra phía sau ăn cơm nha." Nói thêm chút xíu vậy. Đó, những cái mẫu câu phải học, đó là môn Giao tiếp ứng xử.

[1:12:34]Môn đó phải học khoảng chừng tám chín chục tiết mới được, rất nhiều. Nhớ cái đó là cái mình cũng thiếu á, phải soạn, quý thầy soạn môn đó mai mốt đi dạy ở trường. Mình đi đi hỏi hết vòng vòng có những câu nào hay đem vô hết. Rồi cái môn về hoạt động Giáo hội là cũng phải được học. Nên có nhiều người chỉ có học kinh điển, tới chừng đi ra mà đi vào trong ban đại diện, ban tri sự là không biết làm. Làm theo cảm tính, theo thói quen à vì không được học, cho nên đây phải học. Học ví dụ thế nào? Ví dụ là, ví dụ như cái người làm Chánh đại diện huyện thì phải biết hết từng chùa trong huyện mình, phải tới tận nơi.

[1:13:11]Chùa đó có ưu điểm gì, khuyết điểm gì. Hễ cái ưu điểm thì học tập cho các chùa khác biết, hễ khuyết điểm mình tới mình giúp đỡ họ vượt qua điều đó liền. Ví dụ như phát hiện ra cái chùa đó là ít tu, mình tới mình khuyên liền. Mình nói: "Thầy cố gắng thầy tổ chức cho chúng trong chùa tu thêm chứ để lơi lỏng buông lung quá bên ngoài người ta phản ánh. Cố gắng." Mình đến mình khuyên, giúp đỡ liền. Rồi hoặc là tới gặp cái chùa đó nói: "Chùa thầy ở đây mà chung quanh thầy nhiều người chưa phải Phật tử, thầy ít làm việc quá, thầy phải làm việc đắc lực thêm. Tôi sẽ cho người tới phụ thầy giảng trong những ngày rằm,

[1:13:47]sám hối, ngày Chủ nhật để thu hút tổ chức Gia đình Phật tử đồ vân vân lại." Tức là người làm việc Giáo hội là tới từng chùa mà lo giúp người ta chứ không phải là ngồi ở trên văn phòng đợi người ta đem giấy tới xin ký rồi còn nhăn nhăn cự nự, không có. Tức là cái cách làm việc Giáo hội phải có biết cách làm năng nổ để tạo thành cái môi trường mạnh, tập hợp được sức lực của toàn thể Tăng Ni lại làm việc cho Phật pháp. Cái môn đó phải được nghiên cứu, giảng dạy kỹ lưỡng. Rồi cái môn điều hành một ngôi chùa. Là bước ra nếu mình là trụ trì hoặc là tri sự, giáo thọ, việc trong chùa thế nào phải biết làm việc

[1:14:20]để khai thác tối đa lợi ích của một ngôi chùa cho chúng sinh. Tức là ví dụ mình được giao một ngôi chùa có thờ Phật, có chánh điện, có tăng xá, có giảng đường, có nhà bếp, vân vân, thì mình phải tổ chức chùa đó làm sao để cho từ nơi này Phật pháp lan tỏa ra. Chứ không có lãnh ngôi chùa rồi ngồi ở trong đó hưởng như ở cái nhà lầu, không được. Đó là cái cách điều hành, tổ chức Bát quan trai, tổ chức tăng chúng tu học, vân vân, phải làm cho mạnh lên, khai thác cái năng suất tối đa cái chùa đó lên. Đó vậy. Rồi hoặc là cái môn học về Phương pháp diễn giảng thì phải được học kỹ, môn này phải học vài ba trăm tiết mới có thể giỏi được, phải thực hành rất nhiều.

[1:15:00]Nên cái thì giờ mà học kinh bộ, kinh này hay kinh kia bớt đi, tự nghiên cứu, những cái môn mà thực tế quan trọng khác phải được học ở trong trường. Rồi tăng ni sinh phải được gởi đi thực tập, viết luận văn kết thúc môn học. Phải đi vào thực tế, đi đến từng cái chùa coi nghiên cứu cái chùa đó ông thầy ổng điều hành chùa sao hay dở, viết bóp, viết rồi mình nhận định mình viết luận văn. Đi đến Giáo hội viết luận văn, vân vân. Đi vào môi trường này, môi trường kia để mà viết luận văn. Đó là đi thực tập, nghiên cứu, viết luận văn chứ đừng có ngồi ở trong trường mà nghe riết không biết gì hết. Chỉ nghe có ông thầy ổng nói nhăng nói cuội gì nói bốn năm năm.

[1:15:39]Rồi phải ứng dụng lời dạy của giáo thọ rồi đi vào trong thực tế kiểm tra lại. Cái cuối cùng cái ý cuối cùng mà tôi mơ ước đó là tiến dần đến loại hình cái trường Phật học quốc tế. Tức là nếu trường mình mà được môn học hợp lý, trong đó có thì giờ ngồi thiền kỹ lưỡng, tu hành đạo đức đâu đó, và trong đó tăng ni chúng đều nói tiếng Anh hết, nói với nhau bằng tiếng Anh hết, biến thành cái trường quốc tế. Tức là người nước ngoài có thể về Việt Nam để học đạo Phật mà mình không cần phải đi ra ngoài du học nữa. Nhưng điều đó hơi khó vì cái tiếng Anh ở Việt Nam mình không phổ thông lắm, không có được phổ biến nhiều.

[1:16:21]Nhưng mà tôi nghĩ ngày nào phải làm như vậy, chúng ta phải có cái hướng như thế. Nên quý thầy ráng học tiếng Anh, ráng học tiếng Anh. Còn điều chúng ta nhắc lại là công đức là nền tảng của việc tu và học. Thiếu phước á mình học không có giỏi, đó là điều chắc chắn. Thiếu phước mình tu không khéo léo, là việc dụng công trong tâm mình nó sẽ hời hợt, cạn cợt và không suôn sẻ. Ông thầy mình ổng dạy đúng mà mình thực hành trật lất à vì thiếu phước. Cho nên vì vậy là song song với việc tu và học thì cái việc mà tạo phước, làm việc thiện, sống đời vị tha phải được chú trọng. Tức là ban giám hiệu phải tạo điều kiện cho tăng

[1:17:04]ni sinh làm được nhiều điều phước thiện. Thì những điều gì mà có thể khiến giúp cho tăng ni sinh làm điều phước thiện? Điều gì?

[1:17:19]Gần nhất á, trước hết á là tập cho nghĩa là tăng ni sinh giúp đỡ lẫn nhau, phải không? Trong đời sống biết thương yêu, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và trong tu hành. Đó là phải để ý và kiểm tra coi coi họ sống còn ích kỷ hay không, phải nhắc liền. Bắt đầu là khuyến khích họ giúp đỡ nhau rồi người này biết tương trợ người kia là thấy được rồi đó. Bắt đầu phải tổ chức những việc từ thiện bên ngoài để tập cho làm. Dù thấy con đường làng hư, ngày nào đó mình lên chương trình lên kế hoạch ngày đó cuốc xẻng lại ban, xới đồ lại cho người ta đi qua lại cho dễ dàng. Rồi hoặc là trong nhà có người nghèo, lên chương trình bữa nào đó lại sửa giùm

[1:17:58]cái nhà người ta gần sập, tức là chỉnh trang lại làm nhà tình thương hay đại khái vậy, nhà tình thương, nhà tình nghĩa gì đó, cứ tham gia làm. Rồi ví dụ những nạn cứu trợ như vậy, ví dụ nghe tin nạn lụt dữ dội thì cũng tập cho tăng ni sinh đi tìm gom đồ lại để tổ chức đi cứu trợ. Đợi nước rút rút bớt rồi mình đi tới mình cứu trợ người ta. Còn nước đầy quá coi chừng lọt dưới, nguy hiểm. Đợi nước rút tới mình lại mình an ủi, thăm rồi có buồn không, có lạnh không, phải không? Dạ. Còn lúc mà đang nước nhiều quá thì thôi mình chờ một chút, xong. Đó là những công tác từ thiện xã hội. Thì những việc làm như vậy á là giúp cho Tăng Ni tăng được cái phước lên.

[1:18:35]Có phước rồi họ học mới giỏi, họ tu mới giỏi. Đó là cái nguyên tắc như vậy mà điều này chúng ta phải nhớ duy trì suốt cuộc đời của mình. Làm ban giám hiệu thì tổ chức cho Tăng Ni như vậy, nhưng mà tự mỗi người tăng ni sinh phải biết làm phước suốt cuộc đời mình. Ở đây á, khi nào mà nói tới cái môn Phương pháp diễn giảng thì tôi sẽ nói kỹ, bây giờ nói sơ thôi. Ví dụ làm một người giảng sư, làm một người giảng sư mà thành công á thì chuyện gì xảy ra? Chuyện gì xảy ra? Được những cái gì xảy ra đến với mình? Hử? Được nhiều người tôn trọng, phải không? Rồi gì nữa? Dễ được cúng dường tài vật. Này tôi đang nói ai chứ không phải nói tôi nha, đừng nghĩ tôi được.

[1:19:28]Tức là rồi có có có danh tiếng, đại khái vậy. Thì đời sống nó được là dễ chịu, tiện nghi, tức là đời sống được người ta cung phụng đầy đủ. Làm giảng sư mà thành công rồi thì phước lành nó tới theo những cái này, nhiều cái nó cứ tới dần tới dần như vậy. Rồi nhiều người không biết cứ tưởng: "Hễ giảng sư giỏi được cái này nên cố gắng làm giảng sư giỏi." Lầm cái sai. Thực sự á nó là cái nhân mà mình được mọi người tôn trọng thì cái nhân nó nằm ở đâu? Trước đây mình phải biết tôn kính các bậc Thánh, biết tôn trọng mọi người. Thì giảng sư này chỉ là cái trung gian thôi, chứ không phải là cái chánh nhân.

[1:20:10]Giảng sư không phải chánh nhân mà chỉ là cái trung gian. Cho nên trước đây mình đã có một cái quá trình tích lũy là tôn kính Phật, tôn kính các bậc Thánh. Rồi được cúng dường thì cái chánh nhân nằm ở đâu? Vì trước đây mình hay cúng dường, bố thí hay làm phước, chứ không phải tại làm giảng sư mà được cái này. Quý thầy có tin là có những giảng sư nghèo không? Thiếu ăn không? Quý thầy có thấy chưa? Tôi có thấy rồi đó. Chứ không phải không phải hễ làm giảng sư là được này đâu, mà phải do cái phước trước đó là mình sống một đời vị tha, có bao nhiêu tiền cho hết. Quý thầy đã từng có tiền cho hết chưa?

[1:20:50]Có chưa? Người nào có, người đó sẽ làm giảng sư được. Mà ngày xưa xin thưa là tôi cũng vậy, có nhiêu tiền móc cho hết, cúng hết. Thì tôi cũng vậy, phải như vậy thôi. Rồi ví dụ được danh tiếng là tại sao, cái nhân nằm ở đâu? Mình hãy ca ngợi điều tốt của bậc Thánh cho mọi người biết. Hễ ai có cái gì hay là mình đem mình nói cho mọi người biết, không đố kỵ, không ganh tị. Còn trường hợp thấy người ta hay mà cứ sợ người ta giỏi quá hơn mình, cứ đi nói xấu người ta là chết tươi. Là đời này đời sau không thành công được điều gì hết. Cho nên cái nhân quả trong đạo Phật mà cũng là đạo đức, hễ mình thấy người khác hay mình phải ca ngợi, mà thấy người khác dở thì giấu lại.

[1:21:36]Đó là đạo đức. Rồi được mọi điều tiện nghi trong cuộc sống là do đâu? Hay giúp đỡ mọi người. Cho nên cái giảng sư nó là trung gian thôi, sự thực là bao nhiêu phước mình đã làm trong quá khứ của nhiều kiếp á nó mới thành tựu những cái này cho kiếp này. Vì vậy, do bao nhiêu phước này nó dồn lại cái nó tạo ra thành người giảng sư hay. Đây mới là cái nhân. Nhưng nó tạo thành một người giảng sư giỏi. Vì vậy một người mà muốn làm giáo thọ tốt thì một người đó phải làm phước rất nhiều trong quá khứ. Thiếu làm phước không bao giờ làm giảng sư hay được, quý thầy nhớ điều đó giùm. Nhớ điều đó. Nên từ bây giờ là phải lo cái điều này, lo tạo phước từ bây giờ.

[1:22:20]Như cái kinh nghiệm của tôi hồi còn ở trong chúng vậy đó. Tôi hồi còn ở trong chúng là chỉ là một người rất tầm thường nhưng mà luôn luôn lo cho huynh đệ mọi điều hết. Lo được cái gì lo bất kể, bất cứ chuyện nhỏ chuyện lớn giúp ai được gì giúp liền. Tôi không có nói là tôi khoe đâu, nhưng mà không ngờ nó thành cái nhân, không ngờ nó thành cái nhân. Thì dĩ nhiên là những điều tôi làm nó không có lớn lắm vì vì khả năng mình còn ít, nhưng mà cái tấm lòng mình là như vậy. Nhiều khi tôi hay khoe mình chút xíu, nhiều người nghe băng tức. "Ông này ông toàn ngồi giảng khoe hoài..." Không biết. Mà chúng ta để ý nhiều vị giảng sư khác cũng vậy,

[1:22:56]những người mà giảng sư có tiếng tăm là lúc họ còn nhỏ cái khuynh hướng mà sống vị tha của họ đã thể hiện rồi, nên cái phước lành nó tích lũy biến họ thành người nói hay. Mà nhiều khi họ nói không hay người ta cũng khoái nữa, kỳ khôi vậy đó. Nên ở đây đó, ở đây có cái tức cười mà tôi thấy báo chí họ dùng cái danh từ rất là chính xác nha, là ví dụ một ca sĩ mà hay á, được nổi tiếng á, người ta gọi là gì? "Chiếm được cảm tình của khán giả", chứ họ không nói người đó hát hay. Câu rất chính xác: "Chiếm được cảm tình của khán giả." Là người đó nhiều khi hát chưa chắc hay, nhưng mà khán giả cứ khoái,

[1:23:40]cứ đòi có người đó, thế là tự nhiên nổi tiếng rồi có tiền nhiều. Mà nhiều khi như với cái lỗ tai tôi nghe thì tôi cũng là đi vào âm nhạc từ hồi nhỏ nên mình tinh tế về âm nhạc lắm, nghe cái giọng hát chút xíu nhúc nhích là biết người này hay dở cỡ nào liền. Nghe nhiều khi thấy người đó không hay mà cứ nổi tiếng thôi, thành ngôi sao như thường, mà cứ chiếm được cảm tình khán giả thì nói câu này rất là đúng là vì đời trước làm phước á. Người này kiếp trước có thể là người hay thương yêu mọi người, hoặc là hay làm từ thiện hay đi cứu trợ nạn lụt, vậy mà qua đời sau lên hát được nhiều người khoái.

[1:24:15]Cho nên quý thầy cố gắng mà đi cứu trợ nạn lụt nhiều, có thể đời sau quý thầy lên hát người ta khoái. Người ta nói mình hát hay thôi, nhiều khi hát không hay mà người ta vẫn khoái, vẫn nói mình hát hay. Đó, sự thực. Vì có những người ca sĩ thật tôi nghe tôi biết liền, biết cái trình độ người này ngang xương, không có trường lớp kỹ, tự phát lên mà cứ nhiều người khoái, đó là cái phước. Nên vì vậy một người giảng sư cũng vậy đó, cả một đời mình phải sống thật sự trọn vẹn đạo đức, cẩn thận kiểm soát từng chút từng chút, làm lợi ích cho mọi người. Tới ngày đó đó nó tích lũy cái kinh nghiệm đó thành lời giảng,

[1:24:50]mà nó tích lũy cái phước đó biến thành sự thành công. Đó, mình để ý vậy. Cái điều cuối cùng chúng ta nói trong cái vấn đề tu và học là tình đồng song. Quý thầy có nghe cái này chưa? Tình đồng song. Nghe chưa? Chưa. À, này nó hơi lạ, hơi ít. Tình đồng song này tức là tình bạn học đó. Mà tại sao như vậy thì để từ từ mình giải thích. Chúng ta có mấy cái tình mà thuộc lại đồng, kể nghe coi, hồi sáng quý cô kể ra nhiều cái hay lắm. Đồng chí, đúng rồi, đó là người chung cái chí hướng đối với lý tưởng về chính trị, về quốc gia, để đấu tranh gì đó, đồng chí. Rồi đồng gì nữa? Đồng đội, à ở trong đội thì cũng được. Đồng gì nữa?

[1:25:31]Hả? Đồng bào, đồng nghiệp, phải không? Đồng bào tức là mình cùng một dân tộc rồi, đồng nghiệp là coi làm cùng nghề, rồi đồng gì nữa? Đồng hương, tức là người đi xa mà biết người là cùng quê với nhau, đồng hương. Rồi đồng gì nữa? Nhưng mà những cái đồng khác thì không được kể vô vì nó không thuộc về tình cảm. Ví dụ đồng bạc, đồng hồ, đồng tiền thì thôi không được kể vì nó không có về tình cảm. Giờ thì đây có cái tình đồng song gọi là tình bạn học. À tại sao đồng song gọi là tình bạn học? Là vì hồi xưa không có đèn, cho nên người ta phải kê cái bàn nó ra ngoài cửa sổ để ngồi ngồi cạnh nhau mà học, chen chúc quanh cái bàn của cửa sổ mà học.

[1:26:12]Thì cái cửa sổ hồi đó cái song thường là nó song đứng như thế này, chứ giờ nó không có cái song sắt mà hình đủ thứ như vậy, ngày xưa là cái song đứng, cho nên cùng ngồi chung cái song với nhau tức là cùng bạn học, là tình đồng song. Cái tình đồng song nó hay. Hay là vì sao? Vì lúc đa số mà chúng ta còn đi học á, mình không phải mưu sinh, không phải kiếm sống, nên cái tâm tư của mình nó đơn sơ, nó ngây thơ, và nó nó đẹp, tâm tình con người ta, tâm hồn nó đơn giản. Nên cái lúc đó mình nghĩ về nhau là không có thủ đoạn hơn thua nha, không hơn thua nên cái tâm nó đơn sơ. Mấy chục năm sau gặp lại, nhiều khi mình đang trở thành con người thủ đoạn

[1:26:52]rồi, nhưng mà gặp lại cái người bạn học tự nhiên mình vẫn sống lại với cái cách của con người ngày xưa là là đơn sơ, chân thật với nhau. Nên cái tình đồng song nó lạ. Đến lớn lên rồi đó mình mới kết bạn, lúc đó mình mình là một doanh nhân, cái người cư sĩ là một doanh nhân, họ thủ đoạn, họ kết bạn với ai là tính toán: chơi với người này có lợi không có lợi, nó sẽ lợi dụng mình cái gì, mình sẽ lợi dụng lại cái gì, mua bán làm sao, đó là làm bạn với doanh nhân. Nhưng mà cái người doanh nhân cũng con người tính toán thủ đoạn như vậy, gặp lại người bạn học ngày xưa khác liền, không dùng thủ đoạn nữa, nhớ lại cái tình bạn. Vì lúc đó sao?

[1:27:26]Trong lớp chia nhau cái miếng kẹo cắn làm đôi, phải không? Đi ăn cái ăn cục cà rem rớt xuống rồi lật đật chụp lên chạy ra ngoài rửa vô ăn tiếp, ví dụ vậy, rồi chia nhau cái miếng táo, miếng đồ, nó thành ra kỷ niệm đẹp của cái đời học trò đơn sơ, và nó thành cái cái chất liệu đi suốt cuộc đời, nên cái tình đồng song coi chứ nó đẹp. Quý thầy vậy, sống với nhau bây giờ mình không có hơn thua, không tranh giành. Mấy chục năm sau quý thầy người làm hòa thượng, làm thượng tọa, làm chức này chức kia, mình có thể phải có cái bản lĩnh, cái giữ kẽ. Nhưng mà gặp lại người bạn học, bạn đồng song mình vẫn khác liền, bỗng nhiên thấy nó dễ chịu,

[1:28:02]thư giãn, mình sống trở lại cái tâm tình đơn sơ ngày xưa liền. Cái tâm lý này rất là hay. Tình đồng song quan trọng mà mình phải nuôi dưỡng nó suốt đời để sau này hỗ trợ nhau cùng làm Phật pháp. Cái người ngoài đời á, cái tình đồng song đem cho họ những giây phút thư giãn lúc mà cuộc đời căng thẳng. Nhưng mà tình đồng song trong đạo là để hỗ trợ nhau làm việc đạo. Khi quý thầy người làm trụ trì chùa này, người làm chánh đại diện nơi kia, người làm giảng sư ở xứ nọ, thì có một cái chung quan điểm Phật pháp gì rồi mình phối hợp nhau cùng làm cho nó tốt đẹp. Nên cái tình đồng song phải được tận dụng, duy trì để thành tựu việc Phật pháp.

[1:28:42]Mà muốn xây dựng cái tình đồng song cho nó đẹp thì ngay từ bây giờ mình phải sống cho tốt với nhau, là phải thương yêu, giúp đỡ nhau trong tu hành, trong học tập, trong đời sống để nó thành cái ấn tượng, thành cái kỷ niệm đủ sức mạnh để duy trì suốt đời. Còn nếu bây giờ mà mình cứ giành ăn đồ với nhau thì cái tình đồng song sẽ biến mất. Ở đây ai hay giành ăn? Hy vọng là không có, ha. Rồi một điều cuối cùng nữa để cũng gọi là cái tình trong cái việc học là vấn đề thu học phí của tăng ni. Thì tôi nghe nói là một số trường Phật học bắt đầu thu học phí của tăng ni một năm một triệu, quý thầy có nghe chuyện đó không? Có.

[1:29:21]thì tôi cũng hơi rầu chuyện đó, vì nếu mà thu học phí như vậy cái tình của tăng ni đối với trường Phật học nó mất cái thiêng liêng. Quý thầy có thấy điều đó không? Hễ mình vào học cái trường gọi là Phật học mà phải đi chạy cho được một triệu đóng vô đó, mất cái tình. Mà trong khi trước đây từ nào giờ là học không đóng tiền. Nhà trường tìm cách kêu gọi vận động để mà lo cho tăng ni hết. Vì nếu mà kêu tăng ni đóng thì tăng ni đi kiếm ở đâu ra? Cũng chạy kiếm Phật tử xin phải không? Thì thôi bây giờ ban giám hiệu hy sinh đi xin giùm cho tăng ni. Có người nói mà nếu mà không kêu đóng tiền không đủ tiền trả giáo thọ.

[1:29:58]Nếu không đủ tiền trả giáo thọ, mình nói thẳng giáo thọ là xin dạy miễn phí. Thẳng câu vậy. Vì nếu người giáo thọ nào mà không có tiền không dạy người đó không xứng đáng đứng trên bục giảng giảng Phật pháp. Phải không? Giảng Phật pháp mà buộc có tiền mới giảng người đó không có đạo đức. Phải hy sinh. Mình cả một đời mình được biết bao nhiêu người nuôi cho mình để thành một ông thầy giáo thọ mà bây giờ mình đi giảng đòi lấy tiền. Không được. Có tiền đưa, không có thôi. Đó phải là hy sinh hoàn toàn tự nguyện thì nhà trường vậy cũng phải tự nguyện mà nuôi tăng ni học, không được bắt đóng tiền. Ở ngoài đời một năm đại học là 1,4 triệu mà trong Phật học một triệu

[1:30:33]nó gần bằng nhau, mà cái giá trị ở ngoài đời họ có giá hơn, vì họ học họ ra họ lấy được mảnh bằng họ đi làm kiếm tiền được. Những kiến thức họ thực tế. Ở trong Phật học biết dạy sao, kinh này qua kinh kia có thực tế đem ra đi làm kiếm tiền không? Mà lấy một triệu, hơi nặng. Nhưng có một lần vậy tôi được một bức thư. Được bức thư không biết của ai đó thì hơn phân nửa bức thư là khen tôi. Nói, "Con kính ngưỡng thầy, thầy giảng hay thế này rồi giảng sâu sắc." Rồi sau đó phần còn lại bức thư thì, "Thầy cho con 2 triệu." Con đóng tiền học, vì giờ là trường phải đóng tiền. Mới đầu nghe phần đầu bức thư tôi cảm thấy dễ chịu vô cùng, hoan khoái.

[1:31:14]Tới đọc phần cuối bức thư rồi cái hừm chưng hửng ngỡ ngàng. Thì tôi mới biết là cái việc lúc này là các trường Phật học bắt đầu thu tiền, đây là điều rất là đau. Tôi không thích chuyện này, không thích. Phật pháp là phải tự nguyện cho không, chứ không có được có cái giá của Phật pháp, vì nó vô giá. Rồi cái trường hợp đó rất là khó xử thì tôi thấy thế này, lòng tôi thì tôi cũng hay thương người lắm, tôi hay giúp đỡ. Đối với tăng ni mà quen tôi hay chia sẻ lắm, chùa có gì cũng chia sẻ. Nhưng có điều là mình chưa có nhiều thôi. Nhưng mà trường hợp một bức thư gửi tới xin tiền như vậy đó thì cũng có thể mình không biết thực tế là ai là ai, phải không?

[1:31:50]Hoàn toàn chưa gặp mặt, thì trong thư cũng nói rõ là chưa gặp thầy, để nghe băng giảng thôi, vì thầy cho con 2 triệu đóng tiền học nè, con biết thầy tốt lắm. Thì khổ cái là bây giờ nếu mà tôi theo địa chỉ tôi gửi ra 2 triệu thì tôi tin rằng lập tức có hai chục bức thư bay vô liền. Phải không? Đấy, rồi người khác thấy được xin tiếp nữa, thì có nước bán chùa, bán chùa cũng không đủ nữa. Cho nên là tôi cũng hay giúp đỡ hay san sẻ trong khả năng mình có được và trong những cái duyên trước mắt có thể gặp gỡ được, chứ đâu có dám bao đồng hết chuyện thiên hạ nổi, không đủ sức, tuy là lòng rất là xót xa.

[1:32:26]Quý thầy đừng gửi thư cho tôi kiểu đó nha. Nên tôi mong muốn là ví dụ sau này quý thầy lớn lên mà tổ chức trường phải là xin cứ miễn phí, mình nuôi tăng ni trọn lòng để cho những người tăng ni này lớn lên họ hy sinh vì Phật pháp, cũng như bây giờ mình hy sinh cho họ thì sau này họ mới hy sinh cho Phật pháp, cho chúng sinh. Còn giờ mình tính tiền nữa, họ tính tiền lại với chúng sinh