Lời giảng: Bồ Tát Đại Thừa

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:01:36

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]Năm nay tự nhiên mưa bão bất thường do khí hậu nóng lên. Khí hậu nóng lên nên mùa mưa đến sớm hơn rồi những cơn bão nó sẽ thành hình sớm hơn, người ta không lường được là cuối mùa mưa là chuyện gì. Thời tiết đầy xáo trộn hết.

[0:27]Cách đây 60 triệu năm, trên trái đất này có tồn tại một cái giống loài mà gọi là làm chủ cái địa cầu này đó, đó là loài khủng long. Lúc đó khủng long là bá chủ trái đất này. Rồi sau đó không biết tại sao bỗng nhiên khủng long tuyệt chủng sạch hết luôn, không còn tồn tại. Bây giờ người ta cứ đi tìm những bộ xương để muốn hiểu về cái khủng long đó là như thế nào, thì người ta tìm được ra rất nhiều loài khủng long đã sống trên trái đất. Nhưng mà tại sao cái khủng long nó tuyệt chủng? Tại vì khủng long là một loài mà nó phá hoại môi trường khủng khiếp. Do cơ thể nó quá lớn nên nó tiêu thụ cái thức ăn rất là nhiều.

[1:09]Nghĩa là nó ăn thịt động vật lẫn nhau nè rồi nó ăn luôn cả cây lá rừng. Nó phá hoại môi trường quá khủng khiếp. Cuối cùng nó mắc cái quả báo là nó bị tuyệt chủng. Nghe vậy rồi ta nghĩ cái gì? Nhưng mà khủng long nó không ngờ rằng 60 triệu năm sau lại xuất hiện một cái giống loài tàn phá môi trường còn hơn khủng long nữa. Đó là con gì ạ? Con người. Hay ta, con người chính xác vậy. Con người cũng ăn thịt sạch sẽ hết tất cả những con vật. Dưới đáy biển bắt hết cá, bay lên trời bắt hết chim, vào rừng bắt hết thú, rồi cưa phá rừng hết. Tức là cái con người hiện nay, cái thân thì nhỏ hơn khủng long, nhưng mà nhờ thông minh nó chế ra máy móc á,

[1:50]cho nên phá hoại môi trường nhiều hơn khủng long. Khủng long vì phá hoại môi trường mà đã tuyệt chủng thì con người cũng phá hoại môi trường và phá hoại nhiều hơn nữa, thì con người sẽ làm sao ạ? Con người sẽ làm sao ạ? Con người cũng sẽ bị tuyệt chủng. Đó là cái tin buồn ta báo cho nhau biết á. Nếu con người cứ tiếp tục phá hoại môi trường như thế này. Vậy là muốn không phá hoại môi trường nữa thì phải sao ạ? Ta chỉ còn một con đường duy nhất là vào chùa đi tu thôi. Dạ hết ạ. Kính thưa quý thầy, quý cô và quý Phật tử. Như thông lệ mọi năm, chúng ta lại hân hoan vui mừng đón mừng cái ngày lễ trọng đại trong đạo Phật.

[2:38]Là ngày kỷ niệm Đức Phật đã đến với trần gian. Cứ theo cái truyền thống của thế giới mà ta tổ chức vào ngày Rằm tháng Tư, nghĩa là ngày mai. Đêm trước cái ngày lễ chính đó là ngày 14 này thì ta có những cái sinh hoạt ngoại khóa để đón mừng. Chiều vừa rồi ta có cái buổi tọa đàm rất là lý thú. Khi ta nghe hai Phật tử nói về công lao, cái công đức truyền bá Phật Pháp. Một là của đạo tràng Phật Đắc ở Đắk Lắk. Hai là của cá nhân một cái Phật tử ở Hà Nội. Đã chịu thương, chịu cực, chịu khó mà cố gắng đem giáo lý đến mọi miền như thế nào. Thì ta nghe hai vị đó kể chuyện rất là lý thú và hết sức là cảm động.

[3:27]Vào buổi tối thì chúng ta có một buổi ngồi thiền, có một buổi thuyết pháp rồi buổi văn nghệ. Thế là xong buổi tối nay, rồi ta có thể cắm trại ngủ lại. Ta sẽ biết thế nào là ngủ giữa rừng, giữa núi cho biết với người ta. Và ngày mai thì 8 giờ ta sẽ bắt đầu cái lễ chính thức. Trong buổi lễ chính thức thì Thầy cũng có nói một bài Pháp. Thường cái bài Pháp mỗi năm đều là kể chuyện về cuộc đời của Đức Phật. Bây giờ theo đúng chương trình, ta sẽ nghe cái bài Pháp của tối 14 hôm nay. Và cái bài hôm nay cái tựa đề là Bồ Tát Đại Thừa. Như ta biết á, trong đạo Phật của ta á, coi vậy chứ có rất nhiều hệ phái mà chia ra làm hai hệ phái chính.

[4:14]Một là Bắc Tông Đại Thừa và Nam Tông Nguyên Thủy.

[4:20]Bắc Tông Đại Thừa là những người mà ăn chay, tu tập theo kinh điển Đại Thừa, mặc những cái y phục hơi gần giống với cái dân tộc là người như thế này. Chùa Phật Quang ta là nối tiếp cái dòng của Bắc Tông Đại Thừa. Còn bên hệ phái Nam Tông Nguyên Thủy thì họ sẽ ăn mặc giống như là thời Ấn Độ ngày xưa. Tức là một tấm vải vuông rất là dài, quấn quấn quấn che từ trên xuống dưới. Quấn theo một kỹ thuật nào đó. Thì những vị đó thường là ai cúng gì ăn nấy, kể cả thức ăn động vật. Trung thành với cái kinh điển Nguyên Thủy mà nghĩ rằng giữ một số điều luật quan trọng. Có cái sự khác nhau giữa hai hệ phái

[5:04]và có những thời gian rất dài hai hệ phái chống nhau kịch liệt. Gây nên một sự chia rẽ. Nhưng mà ngày hôm nay, trước cái khuynh hướng hòa bình đoàn kết của thế giới thì đạo Phật cũng phải đi tìm lại cái tiếng nói chung. Cho nên cái người bên này cũng bắt đầu nghiên cứu cái người bên kia. Tức là Nam Tông Nguyên Thủy cũng ghé mắt qua xem Đại Thừa nói gì. Và bên Đại Thừa Bắc Tông cũng ghé mắt qua xem Nam Tông Nguyên Thủy tu hành ra sao để tìm cái điểm chung như vậy. Trong sự khác biệt giữa Nam Tông Nguyên Thủy và Bắc Tông Đại Thừa đó có nhiều điểm khác nhưng mà trong đó có một điểm là các vị Bồ Tát Đại Thừa.

[5:44]Các vị Bồ Tát Đại Thừa như Ngài Bồ Tát Quan Âm, Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Di Lặc, vân vân... thì được tất cả những người tín đồ Phật tử của Bắc Tông Đại Thừa sùng kính không khác gì Phật. Thậm chí là tỷ như thờ một tượng Phật Bổn Sư Thích Ca trong chính điện, hoặc bên cạnh người ta còn thờ Bồ Tát Quan Âm, Bồ Tát Di Lặc, Bồ Tát Văn Thù. Rất là trân trọng. Nhưng mà bước qua đến Nam Tông Nguyên Thủy thì ta sẽ thấy là không có một Bồ Tát nào cả. Và các Ngài không tin, cũng không chấp nhận cái hình tượng Bồ Tát Đại Thừa đó như thế. Và đôi khi chẳng những không tin, có người đã nói những lời bất kính. Nên hôm nay ta sẽ nói cho nhau nghe Bồ Tát Đại Thừa là như thế nào.

[6:31]Để ta hiểu rõ là nếu ta gặp một vị mà tu theo Bắc Tông Đại Thừa thì ta cũng góp ý vị đó, ta cũng trao đổi được với vị đó, bàn bạc được với vị đó về cái ý nghĩa của Bồ Tát Đại Thừa. Còn nếu như ta gặp một vị tu bên Nam Tông Nguyên Thủy mà họ cũng chẳng tin Bồ Tát Đại Thừa, ta cũng biết cách để ta nói chuyện với họ, là Bồ Tát Đại Thừa là gì. Ta sẽ có một cái kiến thức, kiến thức này cũng khá quan trọng trong tâm đạo, trong cái kiến thức về Phật học của chúng ta khi nói về Bồ Tát Đại Thừa. Và ta hiểu được Bồ Tát Đại Thừa rồi thì ta sẽ thấy mình là như thế nào, cái sự tôn kính mình đối với các vị Phật Bồ Tát là như thế nào là đúng mức.

[7:15]Giờ trước hết ta định nghĩa Bồ Tát là gì? Chữ Bồ Tát là nói theo tiếng Sanskrit, tiếng Phạn á, là Bodhisattva. Bồ Đề Tát Đỏa, Bodhisattva. Ghép hai từ lại. Chữ Bodhi là Bồ Đề đó, có nghĩa là trí tuệ hay trí giác. Còn cái Sattva có nghĩa là hữu tình. Ghép cái Bodhisattva lại có nghĩa là... đừng có theo nghĩa, theo chữ á thì có nghĩa là một hữu tình giác ngộ. Hữu tình, một hữu tình giác ngộ, hay một chúng sinh có cái trí giác, hay chúng sinh có trí tuệ. Là nếu dịch mà từ chữ theo từng chữ á thì ta dịch như vậy. Nhưng mà nếu dịch theo cái ý á thì ta phải hiểu thế này: Bodhisattva, tức là Bồ Tát á, có nghĩa là một chúng sinh

[8:03]có trí tuệ, có khát khao, có ước mơ, có cái sự hướng tới, có cái lý tưởng hướng về cái sự giác ngộ. Định nghĩa như vậy nó dài dòng nhưng mà có thể nó mới lấy được hết cái ý của cái chữ Bồ Tát ra. Nên ta nói lại. Như vậy cái chữ Bồ Tát nó có nhiều nghĩa, rộng và hẹp khác nhau, sâu và cạn khác nhau. Cái nghĩa ta nói dài dòng: đó là một chúng sinh, một hữu tình mà có tâm hướng về lý tưởng giác ngộ. Đó là một Bồ Tát, nói theo nghĩa rất là rộng. Hay nói theo văn hồi xưa là một chúng sinh mà có phát tâm Vô Thượng Bồ Đề thì gọi là Bồ Tát. Như vậy ở đây, nếu bất cứ ai mà ta có cái khát khao, cái lý tưởng hướng về sự giác ngộ thì ta đều được gọi là một hữu

[8:57]tình giác, là một Bồ Tát theo nghĩa rộng, theo nghĩa cạn, theo nghĩa thấp. Như vậy ở đây nếu mà ai nhìn vào tâm mình mà thấy mình có sự khát khao hướng về lý tưởng giác ngộ giải thoát thì ta đều được xếp vào hạng Bồ Tát. Đó là cái ý nghĩa căn bản. Vậy ở đây chúng ta có chưa ạ? Có dự phần không? Có không?

[9:25]Thực sự á, khi mà Thầy hỏi câu này, thì ở đây có một số người có, và một số người không có. Sao vậy? Bởi vì trong tâm của những người ngồi đây đó, có một số người hiểu về giáo lý nhiều, hiểu về nỗi khổ của trần gian nhiều, hiểu về cái sự vĩ đại của Đức Phật nhiều. Và trong lòng tôn kính Phật, trong lòng nhìn thấy trần gian vô thường đau khổ tạm bợ, và trong lòng khởi lên có cái ước mơ thật sự là mình phải tu để đạt được cái sự giác ngộ giải thoát. Thì cái số người đó đó trong tâm có cái lý tưởng giác ngộ giải thoát thì người đó được gọi là Bồ Tát. Nhưng mà còn có một số người đang ngồi trong pháp hội này

[10:10]sự thật là chưa hiểu hết về sự vĩ đại của Đức Phật. Cũng chưa thấy cuộc đời này thực sự là đau khổ lắm. Và trong lòng cũng không có khát khao mãnh liệt là phải đi tìm sự giác ngộ giải thoát. Cho nên chưa gọi là Bồ Tát, tức là chưa có lý tưởng giác ngộ. Thầy nói vậy có trúng tim đen không ạ?

[10:32]Nên vì vậy muốn có cái lý tưởng giác ngộ giải thoát ta phải hiểu rất là nhiều, hiểu rất là sâu về Đức Phật, về giáo lý của Đức Phật. Mà muốn hiểu sâu về Đức Phật, về giáo lý của Đức Phật á thì chính ta phải nỗ lực tu tập rất nhiều.

[10:50]Chứ còn nếu ta chưa tu ta không hiểu được lời Phật dạy. Cũng không hiểu được sự vĩ đại của Đức Phật. Ví dụ như là khi ta nhìn thấy một người khác giàu sang cái ta còn vọng động tâm mình lên cũng muốn giàu sang như họ, thì ta chưa hiểu được lời Phật dạy. Bởi vì tâm ta còn vọng động, còn tham lam, còn hơn thua. Hoặc là nghe ai chê ta một câu, ta tự ái thì cái đạo lực ta còn kém quá, ta chưa tu được nhiều. Nên ta chưa thể hiểu được sâu sắc lời Phật dạy. Vì vậy cũng không hiểu được sự vĩ đại của Đức Phật. Do đó học hiểu và cái thực hành, hai cái luôn luôn phải đi chung với nhau. Không bao giờ có chuyện có một người rằng à thôi để tui học

[11:35]cho hết kinh Phật, tui biết hết rồi tui bắt đầu tu. Thì người đó không bao giờ hiểu hết về đạo lý của Phật dạy. Cái ngày nào mà ta đặt chân đến chùa, ta quy y theo Phật, thì ngày đó ta phải luôn luôn làm cả hai việc. Một là học giáo lý và hai là thực hành liền. Vì có hành mới hiểu, có hiểu mới hành. Có hành mới hiểu, có hiểu mới hành. Có hành mới hiểu, hiểu mới hành. Hai cái đó phải đi song song với ta suốt cả kiếp này sang kiếp khác. Chứ còn nói đợi hiểu rồi mới hành, không bao giờ có, không bao giờ có. Vì vậy ta phải thực hành từng bước. Nói đừng tham, về tập làm sao cho đừng tham. Nói đừng giận, tập làm sao cho đừng giận liền.

[12:16]Chứ đừng có đợi, đừng có đợi là để tôi hiểu nhiều nhiều rồi tôi sẽ bắt đầu tôi tu. Bây giờ tôi sẽ nhịn anh, bây giờ tôi không nhịn anh nha. Tôi chưa tu. Không được, từ bây giờ là phải tập nhường nhịn liền, nhẫn nhục liền. Khiêm hạ hiền lành liền, bắt đầu liền. Và phải bắt chân ngồi thiền như hồi nãy là quý thầy đã giảng dạy vậy. Ta về nhà ta tập bắt chân, sẽ tê, sẽ đau, tâm cứ vọng động, cứ loạn tưởng. Nhưng cứ phải chiến đấu. Cứ như vậy rồi ta mới hiểu được đạo lý Phật dạy. Lúc đó khi mình nhìn đời, ta mới thấy hiểu được ý nghĩa vô thường, ý nghĩa của sự đau khổ. Thế nào là sự thánh thiện, thế nào là sự cao cả,

[12:53]thế nào là sự vượt qua khỏi cái tham lam sân hận. Lần lần ta mới hiểu được sự vĩ đại của Đức Phật. Mà cái hiểu sâu như vậy rồi á, bắt đầu ta mới có một lý tưởng hướng về sự giác ngộ thật sự. Lúc đó mới gọi mình là Bồ Tát. Còn bây giờ ta mến đạo, ta đến chùa, ta kính Phật, nhưng mà tất cả đều sơ sơ, sơ sơ. Nên ta chưa được xếp vào hàng là hữu tình giác, là Bodhisattva hay gọi là Bồ Tát. Đó là Thầy nói theo nghĩa, nghĩa thấp. Bây giờ nói cái nghĩa Bồ Tát nghĩa cao hơn là thế này. Những ai trong tâm thì có đạo lý, mà ở bên ngoài thì dấn thân tận tụy để giúp đời cứu người thì ta gọi đó là... gọi đó là Bồ... Bồ Tát.

[13:42]Cho nên vì vậy ví dụ ta thấy một ông thầy thuốc ông đi chữa bệnh cho mọi người mà ông không có màng đến cái tiền chữa bệnh. Ai cho nhiêu cho rồi về cũng lấy cái tiền đó lại để mua thuốc đi chữa người khác. Chứ dường như ông không hưởng lợi. Ông chỉ tận tụy cả đời đi chữa người này, đi chữa người kia. Khi đến khi ta hiểu được cái công hạnh của ông ta nói: "Trời ông đó là Bồ Tát á, ông đó là Bồ Tát á." Như vậy cái chữ mà một người trong lòng có đạo lý rồi nguyện đem cả cuộc đời của mình để dấn thân hy sinh làm lợi ích cho chúng sinh thì đều được gọi là... là Bồ Tát. Đến mức độ này thì cái ý nghĩa của Bồ Tát đã cao hơn một chút rồi.

[14:21]Nên vì vậy tất cả những người chúng ta ngồi đây, cái số người mà được xếp vào hàng Bồ Tát thứ hai này bắt đầu rất là ít, phải không? Tức là những người mà có đạo lý trong tâm mà dành cái cuộc đời mình để đem lợi ích cho mọi người. Hoặc đem giáo lý truyền bá. Hoặc giúp người chuyện này, giúp người chuyện kia cả đời không tính công, không kể công, thầm lặng. Khiêm hạ hiền lành mà cứ âm thầm giúp đời. Thì những người đó đều được gọi là Bồ Tát. Ở đây được mấy người? Thầy tin là có. Thầy tin là tất cả những người chúng ta đang ngồi ở đây có những người cũng đang thực hành cái công hạnh Bồ Tát như thế.

[14:59]Nhưng mà vì hễ là Bồ Tát thì không nói ra, cho nên là ta không biết. Cho đến khi nào mà mọi người biết thì người đó đã làm được quá nhiều việc rồi thì mọi người mới biết. Đây là ý nghĩa thứ hai của Bồ Tát. Và những người mà có đạo lý trong lòng mà đem cả cuộc đời để dấn thân hy sinh cho người như vậy thì ta biết rằng chắc chắn người đó chết sẽ lên cõi... lên cõi Trời. Hưởng nhiều cái vinh quang, được nhiều cái quả lành. Bây giờ cái ý nghĩa thứ ba cao hơn nữa, ý nghĩa của Bồ Tát nữa là thế này: là chỉ những ai mà đắc được cái quả Thánh rồi, nghĩa là lòng có đắc đạo nhưng dĩ nhiên là chưa phải đắc đạo tột cùng.

[15:39]Nhưng mà cái người này đó, chấp nhận đi trong luân hồi để cứu độ chúng sinh, để giáo hóa chúng sinh, để gần gũi với chúng sinh. Thì đây là ý nghĩa rất là cao. Nên những vị này đó thường khi họ xuất hiện ta thấy họ đã đặc biệt rồi. Có những người giống như là có thần thông đâu rồi á. Họ chẳng thấy tu gì hết mà tự nhiên có thần thông. Và cái cuộc đời của họ, họ làm cho mọi người hiểu biết đạo lý, tăng trưởng được đạo tâm. Ví dụ như là thời gian trước, ở chùa Ấn Quang có một vị Thầy mà người ta hay cho rằng đó là Bồ Tát. Đó là Thầy gì? Ai biết? Ai nhớ không? Thầy Minh Phát á, Thầy Minh Phát. Thầy Minh Phát ở Ấn Quang thì mọi người thấy Thầy cũng bình thường.

[16:25]Cũng đi vào tu, giống như ông có phép lạ đâu từ đời nào. Chuyện kể về Thầy Minh Phát thì cũng rất là nhiều cái huyền thoại. Hồi lúc mà Thầy mới xuất gia thì Thầy cũng có cái duyên cũng gặp Thầy Minh Phát vậy. Thầy cũng hay kể chuyện này kể chuyện kia cho Thầy nghe. Nhưng mà cái cách kể của Thầy khiêm tốn và kín đáo. Nên làm cho Thầy rất là kính trọng Thầy Minh Phát. Tức là người ngoài đồn Thầy Minh Phát là cao siêu thần thông. Nhưng mà khi lúc đó Thầy tiếp xúc với Thầy Minh Phát mà Thầy hỏi, Thầy hỏi là con nghe người ta đồn về Thầy thế này, đồn về Thầy thế kia, thì Thầy Minh Phát cũng kể lại cho Thầy nghe những câu chuyện đó.

[16:59]Nhưng mà Thầy kể lại với một cách là... là không phải là do Thầy hay. Không phải là do Thầy hay mà được điều này được điều kia. Thầy kể một cách khiêm tốn. Nhưng mà chính vì Thầy kể một cách khiêm tốn, không lấy cái hay về mình thì làm cho ta càng kính trọng Thầy. Còn một số người mà tự xưng mình là giáo chủ, có chuyện ai làm gì ngẫu nhiên cũng quơ về cho mình, tự nhận là "À đó là do tui gia hộ cho đệ tử, nên đệ tử tui được thế này được thế kia", thì ta thấy biết ngay đó là tà đạo. Còn Thầy Minh Phát này rất là hay. Lúc mà Thầy viên tịch thì cũng để lại nhiều cái điều lạ lắm. Chuyện kể như thế này, chuyện kể rằng lúc đó là

[17:32]Hòa Thượng Thiện Hòa là Phó Tăng Thống đó. Có một bé gái đến xin xuất gia, Hòa Thượng không chịu. Hòa Thượng nói: "Đây Hòa Thượng chỉ nhận Tăng. Tại chùa này chùa Tăng." Thì cô bé đó về nhà chết liền. Chết xong thời gian cái sau gia đình khác lại sinh ra một cái cậu bé. Cậu bé đó lại lớn lên chút xíu đến xin Hòa Thượng xuất gia. Hòa Thượng nói nhỏ quá không nhận. Cái cậu bé đó mới có vẻ giận mới nói thế này: "Bữa đầu nói người ta là con gái không cho xuất gia, bây giờ người ta làm nam rồi cũng không cho xuất gia." Hòa Thượng thấy ngạc nhiên. Hòa Thượng mới sực nhớ là có một cô bé gái cách đây bao nhiêu

[18:04]năm á đến xin Hòa Thượng không cho nên Hòa Thượng nhận. Khi mà vào thì Thầy thường hay lãnh cái nhà bếp. Mà Thầy lãnh cái nhà bếp là Thầy cáng đáng cái nhà bếp rất là tốt. Là ngày đó bao nhiêu khách đến Thầy dọ kêu nấu bao nhiêu phần ăn là chính xác. Cứ hễ 100 phần là thấy bữa đó thế nào cũng có 100 khách. Cứ nhiều rồi cứ nhiều chuyện nhiều chuyện nó nó linh thiêng như vậy. Nên một thời gian dài người ta rất là tin Thầy. Rồi những cái người mà dân lơ xe tài xế ở Ngã Bảy gần đó rất là du thủ du thực thì một phép về nó quy y nương theo làm đệ tử hết. Thì những trường hợp mà có những vị họ đắc quả đâu đời nào đó,

[18:37]khi họ trở lại ta không thấy họ tu gì nhiều nhưng mà họ có những khả năng phi thường và cái đời sống của họ thực sự là đạo hạnh. Họ có đạo đức, có sự hy sinh, sự dấn thân, sự cứu độ chúng sinh thì ta biết đây là hàng Bồ Tát thứ ba. Hàng Bồ Tát thứ ba là người đã từng đắc quả ở những kiếp trước. Bây giờ thị hiện xuống tiếp cận với chúng sinh mà giáo hóa làm lợi ích cho chúng sinh. Đây là hàng thứ ba. Thì trong đây có ai không ạ? Trong đây có ai giơ tay lên để Thầy... Thầy đảnh lễ? Nên những vị đó hỏi là câu đùa thôi, chứ sự thật mà những vị thật là Bồ Tát chân chính thì không ai khoe mình là Bồ Tát cả, như vậy.

[19:20]Và cao hơn, ý nghĩa thứ tư của Bồ Tát là thế này: là những vị đã đắc quả tột cùng, tâm hoàn toàn là Vô Ngã, chứng được Tam Minh Lục Thông đầy đủ. Và không nhập Niết Bàn, cũng chưa thành Phật. Nhưng mà cứ để cái cảm ứng của mình để cứu độ chúng sinh khắp nơi. Đây là những vị ta gọi là những vị Đại Bồ Tát. Chư vị thần thông rất là lớn. Cảm ứng khắp nơi, cứu độ khắp nơi. Có khi thị hiện ra đời, có khi không có mặt ở đời nhưng mà tâm lúc nào cũng trùm phủ chúng sinh để mà giáo hóa. Tại vì các vị này là thần thông rất là lớn. Có khi một thân mà hiện ra nhiều thân ở vô số cõi để mà cứu độ chúng sinh.

[20:01]Cái hành trạng của những vị Đại Bồ Tát thế này thì ta không lường được. Có khi ta đi trên một chuyến xe khách, ta ngồi gần một cái bà già hom hem. Nói cho ta vài câu làm cho ta yên lòng. Nhiều khi ta không biết rằng đó là một vị Đại Bồ Tát hiện thân ra, không biết. Tại những vị đó là hành tung bất chợt lắm. Bên lịch sử của các Thiền sư cũng kể vậy, có những cái bà già vậy, một ông Thiền sư đi tầm đạo chỉ gặp một bà già bán bánh bả nói cho vài câu là điếng người liền. Cái kiến giải vượt bậc luôn. Nên ta hiểu rằng là thực sự có những vị Đại Bồ Tát mà hiện thân cùng khắp để giáo hóa chúng sinh. Đây là hàng Đại Bồ Tát đã chứng đầy đủ Tam Minh Lục Thông rồi.

[20:40]Mà chưa làm Phật, không làm Phật cũng không nhập Niết Bàn để mà cảm ứng giáo hóa chúng sinh. Đó là ta định nghĩa Bồ Tát trên... trên bốn hạng. Thì cái hạng mà cao nhất, hạng Đại Bồ Tát thì ta không có phần. Ta không có phần, ta chỉ kính ngưỡng các Ngài. Hạng mà thứ ba, tức là những vị đã đắc quả Thánh trở lại để tiếp cận chúng sinh thì lác đác trong cuộc đời thỉnh thoảng ta có gặp. Cái hạng thứ hai là những người mà có đạo lý trong tâm mà đem cả cuộc đời của mình để sống vị tha hy sinh làm lợi ích cho mọi người mà chưa phải là đắc quả nhưng mà cũng được mọi người xưng tụng là Bồ Tát. Thì cái hạng này ta thấy có nhiều chứ không phải là ít.

[21:21]Còn hạng số một, tức là hạng căn bản nhất là bất cứ ai thực hành và hiểu đạo lý sâu xa đến nỗi lòng mình có cái rừng rực mà khát khao đi tìm cầu sự giác ngộ giải thoát đúng nghĩa thì đều được gọi là Hữu Tình Giác, là Bồ Tát, Bồ Tát nghĩa thấp nhất. Thì ở đây chúng ta cũng chỉ được một phần cái số đó thôi chứ không phải là chúng ta được hết. Nên bốn hạng Bồ Tát như vậy. Bây giờ ta sẽ nghe giới thiệu về vài vị Bồ Tát. Vị Bồ Tát nào nổi tiếng nhất ạ? Vị nào? Quan... Ngài Quan Âm, Ngài Quán Thế Âm. Ngài Quan Âm thì xuất hiện trong vài bộ kinh Đại Thừa nhưng mà Ngài nổi tiếng nhất là trong bộ kinh Pháp Hoa ở cái phẩm Phổ Môn.

[22:07]Trong bộ kinh Pháp Hoa ở phẩm Phổ Môn giới thiệu về công hạnh của Bồ Tát Quan Âm quá đặc biệt. Ai cần cứu độ bởi một hình thức nào, bởi một phương tiện nào thì Ngài đều hiện ra phương tiện đó để cứu độ. Mà gần như là vô điều kiện. Và trong thực tế trong cuộc sống đã có rất nhiều người khi gặp tai ách, khổ đau mà niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Âm đã được linh nghiệm, đã được cứu giúp. Có không ạ? Có không? Có rất nhiều, có rất nhiều. Chính bản thân Thầy cũng vậy, chính bản thân Thầy trong đời mình đã nhiều lần niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Âm cũng đều có cảm nhận cái sự linh nghiệm. Thầy nhớ có một lần nhỏ nhất thế này,

[22:48]có một lần đó khi Thầy đi vào một cái chùa, khi đi ngang cái tượng Bồ Tát Quan Âm lộ thiên Thầy đứng đó Thầy chắp tay Thầy mới nói: "Xin Bồ Tát gia hộ cho con đi xuất gia." Thầy vừa dứt lời cái trên đầu Thầy rớt xuống hai giọt sương. Hai giọt sương nghe mát lạnh. Thì đúng 2 tháng sau Thầy vào chùa luôn. Ngài cho câu trả lời liền, lạ lùng như vậy, cho câu trả lời liền. Cái đặc điểm của Bồ Tát Quan Âm là thế này, cái hạnh của Ngài là Tầm Thinh Cứu Khổ. Tầm Thinh Cứu Khổ nghĩa là ai có điều gì khổ, bó tay rồi mình không còn loay hoay không còn gì xử lý được nữa mà cầu tới Ngài thì Ngài đều ra tay cứu giúp một cách gì đó mà ta không thấy.

[23:27]Vô hình, vô ảnh. Bỗng nhiên cái tai ách của ta được vượt qua liền. Mà điều này quá nhiều người cảm nhận. Có một lần khi Thầy giảng về bộ kinh Pháp Hoa, Thầy có kể một câu chuyện lạ lùng nhất. Lúc đó là Thầy chỉ được nghe qua trung gian thôi. Qua trung gian là trên một chiếc tàu đi vượt biên hồi xưa. Thì cái tay mà nó tổ chức vượt biên nó không ngờ nó là tay lừa đảo. Khi mà tàu ra tới biển rồi, nó đập đầu từng người nó thả xuống biển chết hết. Nó lấy hết vàng, giết hết sạch cả một chuyến tàu đó luôn. Chỉ riêng có một bà thì lúc bà bị đập đầu bà niệm Bồ Tát Quan Âm. Khi nó quăng bà xuống biển, bà không chìm. Bà nổi trên mặt nước.

[24:05]Mà nổi từ ngoài biển mà trôi luôn vào cái cửa sông luôn. Trôi luôn vào cửa sông dưới miền Tây và được người ta cứu lên. Bà sống lại bà đi tố giác, rồi công an họ mới đi tìm ra bắt được cái tay đó, lần đó hình như xử tử hình luôn. Vì tay đó là bị cái tội vừa lừa đảo mà vừa là thảm sát người ta. Mới ban đầu là Thầy chỉ nghe câu chuyện qua trung gian nên Thầy kể lại. Khi Thầy kể vào trong bài giảng, cái bài giảng nó đi, đi không ngờ gặp lại đúng cái bà đó. Cái bà đó mới lên chùa. Cái bà đó là một nhân chứng thật. Bà lên chùa bà mới tặng Thầy cái cuốn tập mà chính bà viết hết về cái câu chuyện đó.

[24:40]Về cái điều mà gia đình đã từ ban đầu đi tổ chức vượt biên như thế nào. Ông chồng đã bà đã bị dễ tin người ta như thế nào rồi bị lừa đảo lên ghe từng chuyến đi thế nào rồi cái tay đó bắt đầu giết người như thế nào. Khủng khiếp lắm. Rồi khi bà niệm Phật thì giống như là trong kinh Pháp Hoa đã nói. Cái người mà rớt xuống nước khi mà niệm Bồ Tát Quan Âm thì không chìm. Và bà thấy tưởng là kinh nói đùa cho vui. Nhưng mà khi bà bị đập đầu quăng xuống biển thì bà niệm Bồ Tát Quan Âm bà nổi lên liền. Bà trôi luôn vào trong cái cửa sông. Trôi đến khi được người ta vớt lên. Bà viết lại hết tỉ mỉ tỉ mỉ từng chi tiết.

[25:14]Bà lên đây bà gặp Thầy và bà tặng luôn cái cuốn tập đó. Rồi lúc đó không biết bây giờ cái cuốn tập đó ai còn giữ đâu. Không biết còn để chỗ nào ráng lùng ra giùm Thầy. Nếu mà lùng ra được để sau này mình in lại, in lại cho Phật tử đọc cho vui. Biết về cái câu chuyện câu chuyện có thực á. Khi bả lên thăm Thầy được thì khoảng 2 3 năm sau Thầy nghe tin là bả bệnh rồi bả mất. Nhưng mà đó là có thật. Mà đó là trường hợp đặc biệt nhất, trường hợp lạ lùng nhất mà linh ứng nhất, thấy rất là lạ. Còn trong cuộc sống của mọi người vô số điều chúng ta cũng gặp. Nhưng mà có người nói Thầy thế này: "Nói thưa Thầy, con niệm Bồ Tát Quan Âm không linh.

[25:46]Con niệm con thấy không có kết quả." Thì lúc đó Thầy trả lời liền. Thầy nói thế này: Mỗi khi ta gặp cái chuyện đau khổ, tai ách, ta cầu nguyện Ngài để Ngài cứu độ, tức là ta mượn cái phước của Ngài. Ngài bằng cái lòng từ bi Ngài cho ta mượn cái phước của Ngài để ta vượt qua cái tai ách. Vì cái tai ách này là cái quả báo đời trước của ta tới lúc ta phải trả. Thay vì ta trả một cách can đảm nhưng mà ta không đủ sức trả. Cho nên ta đã gọi đến Ngài. Vì sao mà ta không đủ sức trả? Ví dụ thế này: Ví dụ như là đời trước ta mắc nợ một cái người nào đó 10 triệu. Bây giờ tới lúc nó đòi 10 triệu nhưng mà ta chỉ có 2 triệu. Thì ta gọi đến Ngài:

[26:31]"Bồ Tát ơi cho con đừng trả. Cứu con cái sự đòi nợ này." Thì bỗng nhiên là cái người kia không đòi ta nữa mà lấy ta có 2 triệu, còn 8 triệu giống như ai trả giùm ta. Là chính Bồ Tát đã trả giùm ta. Chính Bồ Tát đã trả giùm ta. Và ta mắc nợ Ngài cái phần 8 triệu đó. Là bởi Ngài dùng cái thần lực của Ngài để cứu ta qua cái tai nạn chứ không phải Ngài cho không. Tại vì nhân quả mà, nhân quả là tuyệt đối. Nhưng mà sau khi ta vượt qua cái tai ách đó rồi rồi ta không làm phúc để bù lại. Ta quỵt nợ. Cái lần sau cái ta gặp tai nạn, ta lại cầu Ngài nữa. Cái lần này Ngài kiên nhẫn Ngài cứu ta một lần nữa.

[27:08]Cái ta thấy cái bộ dễ ăn à, mình cứ quậy thì cứ quậy mà hễ có tai nạn cứ kêu Quan Âm không sao hết. Tới lần thứ ba Ngài cho ta một lần nữa, Ngài cứu ta một lần nữa. Sau khi ta thoát nạn rồi ta vẫn không làm phúc để bù lại. Thì đến lần thứ tư thì... "thôi nhé". "Đủ rồi nhé". Không. Từ đó ta cầu Quan Âm không linh nữa. Vì ta không tin nhân quả. Ta không biết rằng cái tai ách của ta là cái quả báo đời trước của ta. Cái việc Ngài cứu ta chỉ là cho mượn phước. Ngài không có thể cứu mãi được. Nhưng ta không hiểu điều này, ta cứ ỷ lại vào Ngài. Rồi sau khi thoát tai ách rồi ta lại sống chơi bời, dễ duôi, giải đãi, đọa lạc.

[27:51]Nên tới lần thứ tư rồi là không bao giờ cầu nguyện được điều linh ứng nữa. Vì vậy những ai trong đời mình mà đã từng cầu nguyện tới Bồ Tát Quan Âm để cứu giúp thì xin thưa hãy nhớ lại những món nợ đó mà hết sức mà sống tốt đẹp làm mọi điều phúc trong đời này. Nhớ giùm điều đó nha. Ta đang mắc nợ Ngài đấy.

[28:15]Rồi một Bồ Tát khác rất là nổi tiếng nữa là Bồ Tát gì ạ? Bồ Tát gì? Bồ Tát Di... Bồ Tát Di Lặc. Bồ Tát Di Lặc được cho biết rằng Ngài đang ở trên cung trời Đâu Suất. Và Ngài là người mà cai quản sự tu hành của cõi Người và cõi Trời luôn. Tức là những người mà tu hành ở cõi Người và cõi Trời đều được Ngài xem xét quản lý theo dõi hết. Tất cả chúng ta ngồi đây cũng vậy. Nếu ta không có thật lòng tu thì Ngài không quản lý. Nhưng mà người nào trong tâm mình thiết tha tu tập, chân chính tu tập đều được Ngài quan sát liền, Ngài theo dõi liền. Vì Bồ Tát Quan Âm thì nghe tiếng để cứu giúp còn Bồ Tát Di Lặc

[28:56]thì theo dõi những người tu tập để mà giáo hóa hướng dẫn. Nên có rất nhiều trường hợp có những người mà phát tâm tu tập thiền định. Nói rằng à 4 giờ con dậy con ngồi thiền. Hôm đó tới 4 giờ cái đồng hồ không reo gì đó, tự nhiên có người lay mình cái mình dậy để ngồi thiền. Có không ạ? Có nhiều không? Có nhiều trường hợp như vậy. Đó là cái sự linh ứng của Bồ Tát Di Lặc. Ngài theo dõi hết tất cả mọi người tu tập để Ngài nhắc nhở Ngài dìu dắt cho mọi người đi đúng hướng. Đến khi nào thì Ngài buông ta ra không độ ta nữa? Khi nào ta bỗng nhiên tự kiêu, cao ngạo. Là ta tu ta được một chút gì đó có kết quả.

[29:36]Ta bỗng nhiên thấy mình rất là giỏi rồi, ta kiêu mạn, không còn nghe ai nữa thì Bồ Tát bó tay không độ ta được nữa. Thì lúc đó ta có thể đi vào cái cõi ma để ta phát điên lên liền. Ta sẽ bị tâm thần liền. Đó là lý do tại sao mà có nhiều người tu hành rồi bị phát điên là vì trong cái tu của mình có sai, có dằn ép và có sự kiêu mạn. Thì Ngài không độ ta được nữa. Nên vì vậy ngày nào mà ta còn khiêm tốn, hiền lành, cung kính Tam Bảo thì lúc nào ta cũng được trong cái sự theo dõi, trong cái bàn tay dìu dắt của Bồ Tát Di Lặc. Vì vậy ai mà tinh tấn tu hành cũng hãy nhớ tới Bồ Tát... Bồ Tát Di Lặc là...

[30:15]là như vậy. Có một vị Bồ Tát rất là nổi tiếng nữa là Ngài Văn Thù. Ngài Văn Thù thì Ngài hay trợ duyên tu hành cho chúng sinh. Ngài Di Lặc thì quản lý, còn Ngài Văn Thù thì trợ duyên. Nghĩa là ai tu tập, Ngài hay bí mật bằng cách này cách kia để giúp cho cái sự tu hành của mình được nhiều sự tiến bộ. Tự nhiên thấy người đó tu hành cái đưa đẩy khiến người đó để gặp một chân sư, một người dạy dỗ đàng hoàng để người đó nâng cao cái trình độ lên. Thấy người đó tu tập rồi cái Ngài khiến... đưa đẩy Ngài xui khiến để cho gặp được một cuốn kinh tốt, hoặc là đưa đẩy xui khiến để nghe một bài giảng hay,

[30:50]làm cho người đó bước lên thêm một bước nữa trong sự tu tập. Thì cái việc mà trợ duyên đó, bí mật, xui khiến đưa đẩy để cho ta đến với những cái đạo lý cao cả, càng ngày càng cao hơn, càng ngày càng cao hơn, thì đó là sự trợ duyên của Bồ Tát Văn Thù. Mà tất cả chúng ta đều có mà ta không biết. Tất cả mọi người chúng ta ngồi đây là chúng ta đã được bí mật sự trợ duyên của Bồ Tát Văn Thù mà nhiều khi ta không biết. Hãy nhớ đến Ngài ha. Còn một vị Bồ Tát nữa, đó là Bồ Tát Phổ Hiền. Bồ Tát Phổ Hiền thì Ngài là dạy chúng sinh trên nhân quả. Nên là gieo nhân để được đắc đạo. À, làm phước mà để được đắc đạo.

[31:31]Đó là cái hạnh của Ngài Phổ Hiền. Nên ở đây khi mà ta thấy ai làm phước mà ta chê là phước hữu lậu là ta không hiểu ý của Ngài Phổ Hiền. Ngài Phổ Hiền dạy ta từng cái phước nhỏ mọn nhất trên đời đều có thể giúp cho ta khai mở tâm linh đạt được sự giác ngộ hết. Ví dụ ta thấy một cái đinh trên đường, ta lượm đi. Ta thấy cái miễng chai, cái gai góc ta sợ người sau đi giẫm lên, ta nhặt đi. Thì tất cả những công hạnh nho nhỏ nho nhỏ đó đối với Bồ Tát Phổ Hiền đều là sự trợ duyên để đưa đến sự đắc đạo hết. Ngài Phổ Hiền dạy ta những cái công hạnh đó. Ta thấy một người ốm đau, ta chăm sóc. Thấy một người đi xa, ta đón tiếp.

[32:12]Thấy cái người khốn khổ, ta ủi an. Vân vân... Những cái điều mà ta làm phúc được trên đời như vậy thì đối với Bồ Tát Phổ Hiền đều có thể hồi hướng để cái phước đó đưa đến sự giác ngộ hết. Nên vì vậy là ai mà tu tập theo chùa Phật Quang đều bị buộc là phải làm phước rất nhiều. Cái người nào mà tu theo Thầy là Thầy bắt phải làm phước rất là nhiều. Làm phước đến vô hạn. Không tính công, không chấp sức của mình. Cứ làm mãi làm mãi, thương người giúp đời, thương người giúp đời, cứ làm mãi làm mãi như vậy. Bởi vì sao? Bởi vì Ngài Phổ Hiền đã dạy ta rồi. Từng cái công hạnh nho nhỏ, từng việc phước nho nhỏ

[32:48]đều có thể hồi hướng về cho sự giác ngộ được hết. Nên đó là cái công hạnh của Ngài Phổ Hiền. Nên ai mà hễ làm một điều phúc là đều lọt vào cái tầm nhìn của Ngài Phổ Hiền để Ngài độ ta bước lên thêm trên cái công hạnh như thế. Một vị Bồ Tát khác cũng nổi tiếng không kém nữa là Ngài nào? Ngài Địa Tạng. Bồ Tát Địa Tạng thì có một cái điều lạ thế này. Bồ Tát Địa Tạng có một điều lạ là bên Nam Tông họ không có tin. Vì sao vậy? Bởi vì nguyên cái tạng kinh Đại Thừa của Ấn Độ không có kinh Địa Tạng. Mà kinh Địa Tạng chỉ có từ bên Trung Hoa thôi. Và như vậy, theo các nhà sử học nghiên cứu thì chính người Trung Hoa đã viết ra cái kinh Địa Tạng này.

[33:36]Và người ta cho rằng kinh mà được viết sau Phật thì Bồ Tát Địa Tạng không có thật. Và có nhiều người đã không tin Bồ Tát Địa Tạng dựa vào cái sử học. Nhưng mà ta phải hiểu thế này. Trên đạo lý có những điều các nhà sử học không hiểu nổi. Khi ta lật cái bản kinh Địa Tạng ra ta đọc thì ta thấy điều gì? Trong đó nói về cái gì? Tội phước nhân... tội phước nhân quả không à. Đúng không? Đều nói về tội phước nhân quả. Và nói rằng Bồ Tát Địa Tạng luôn luôn thị hiện ở dưới địa ngục. Tại vì ở dưới địa ngục có rất nhiều chúng sinh phạm tội ở dưới đó. Những chúng sinh phạm tội ở trên cõi trần gian này có khi là luật pháp không biết nên không xử phạt.

[34:19]Có khi luật pháp biết để xử phạt mà xử ít quá tại cái luật trần gian nương tay quá. Nhưng mà tội thì còn. Mà phạt thì chưa xong. Khi chết xong xuống địa ngục phạt tiếp. Ở dưới đó thì tùy cái tội mà mọi người sẽ bị xử phạt. Có người chỉ bị giam thôi, cứ ngồi giam cho hết hạn. Có người vừa bị giam mà vừa bị những hình phạt đau đớn để bù lại cái tội mà ở trên trần gian này ta đã lọt tội, ta đã lọt được pháp luật. Nhưng mà lòng của các vị Bồ Tát thì không bỏ bất cứ chúng sinh nào. Biết rằng chúng sinh phạm tội là do vô minh. Do vô minh. Ta sai lầm, ta không biết đó là điều sai. Chứ nếu mà lúc ta phạm tội ta biết đó là điều sai không ai dám phạm tội.

[35:03]Ví dụ như là trong cơn giận, ta đánh một người rồi cái người đó gãy cổ chết. Thì khi bắt ra thì ta nói thế này. Thứ nhất, tôi không biết là cái cú đánh của tôi sẽ làm người đó gãy cổ chết. Tôi không biết. Đó có cái chữ không biết là vô minh á. Cái thứ hai, tôi nghĩ rằng cái tôi đánh người đó là điều chính đáng. Vì người đó xúc phạm tôi. Người đó chửi cha, mắng mẹ tôi. Nên cái việc mà người đó chửi cha mắng mẹ tôi làm xúc phạm tôi, động tới tâm tình của tôi, đụng tới cái tự ái của tôi, đụng tới cái lòng hiếu thảo của tôi, nên tôi đánh người đó là chính đáng. Và thứ hai tôi không biết rằng khi tôi đánh người đó gãy cổ thì chết.

[35:42]Nên cái việc mà đáp lại một cái câu chửi của người khác bằng cái đánh người ta tôi không biết đó là sai. Chữ không biết một lần nữa là chữ vô minh. Tôi cũng không biết là đánh người ta gãy cổ. Chữ không biết một lần nữa cũng là vô minh. Cho nên tất cả chúng sinh khi phạm tội đều không biết mình đã phạm tội. Chứ không biết đó gọi là vô minh. Nên Chư Phật mới nói rằng chúng sinh vì vô minh mà phạm tội. Mà khi phạm tội rồi, dù biết hay không biết đều phải bị quả báo. Mà khi bị quả báo, xuống địa ngục rồi thì đau khổ vô cùng. Mà lúc đó, lúc người ta chưa bị giam cầm, chưa bị quả báo thì ai cũng ương ngạnh,

[36:21]ai cũng kiêu ngạo, không ai thấy mình có lỗi hết. Nói là cãi tới cùng. Ví dụ bây giờ ta gặp cái người mà chuyên môn lừa đảo. Ta sẽ nói họ thế này: "Anh mà lừa đảo thế này, sau này anh mắc quả báo anh chết." Thì người này nói: "Quả báo thì tôi không có biết, và tôi cũng không có tin. Bây giờ tôi chỉ cần biết thế này, thằng nào khôn thằng đó sống. Ai ngu để tôi lừa ráng chịu." Nên ta sẽ thấy là khi mà ta gặp những người phạm tội á ta sẽ thấy họ rất ương bướng. Họ không nhận tội. Và chính vì họ ương bướng họ không nhận tội, họ cứ xông tới xông tới để làm lỗi. Và khi người đó chết đều xuống địa ngục hết.

[36:55]Vì họ lừa được pháp luật trên trần gian nhưng mà xuống địa ngục không lừa được. Bị phạt, bị phạt rất là nặng. Mà khi bị phạt rồi cái bản ngã nó mới xuống. Lúc đó mới hết sự ương bướng. Lúc đó mà đứng mà gặp quỷ sứ mà nói nha: "Tui không tin nhân quả!" thì nó lấy cây nó đập cho một cái bốp! Tin không? Không dám nói nữa, nín. Nó đập cái nữa, tin chưa? Làm thinh đó, nó đập cho cái nữa, đập tới chừng nào? Nói: "Dạ tin, tin, tin, tin rồi. Đừng đập nữa." Rồi bắt đầu bây giờ kể ra từng tội. Ngày đó, tháng đó ngươi lừa cái người này ngươi lấy bao nhiêu tiền người ta, người ta tự tử người ta chết luôn. Người ta không còn tiền sống.

[37:28]Tội đó thấy chưa? Thấy đó là tội chưa? Chưa thấy phải không? Đập cho chừng nào thấy. Lúc đó ta sẽ thấy là cái sự mà xét tội dưới địa ngục á là không có bằng cái lý luận như trên trần gian. Mà bằng cây, bằng dao. Chưa nhận tội đập cho chừng nào nhận tội. Nên lúc đó cái người bị đọa xuống địa ngục rồi thì bản ngã tan vỡ. Không còn kiêu ngạo được nữa, không còn ngã mạn được nữa. Phải ngồi mà nghe. Phải ngồi mà nghe xử từng tội, từng tội một và đau đớn vô cùng. Mà lúc đó là thân thì bị trói, bị đánh nên nói tội nào phải nhận tội đó bị người ta nói không có oan. Khi mà nhận tội hết rồi, bản ngã xuống rồi đó,

[38:02]lúc đó quỷ sứ mới giao cho Bồ Tát Địa Tạng. Nói cái thằng này bản ngã nó mềm rồi. Bây giờ nó chịu nghe đạo lý rồi nè. Thì Bồ Tát Địa Tạng sẽ giải thích cho nghe. Nên là các vị Bồ Tát dưới đó là vậy, chịu khó, chịu thương, bám theo chúng sinh. Nhưng mà vai trò là cũng nhờ quỷ sứ dữ lắm á. Nếu không có cái người quỷ sứ mà họ cứng rắn thì mấy cái người phạm tội cứ tiếp tục ương bướng, kiêu mạn thôi. Mình làm tội không thấy mình làm tội. Ngay cả khi giết người, muốn giết người, không nghĩ đó là tội. Nói tại sao mày giết người? Nói dạ tôi được lệnh cấp trên. Nói cấp trên chỉ huy mày sai thì mày phải từ chối chứ tại sao mày làm tội?

[38:35]Nói tui đâu có biết. Đó, cái chữ không biết đó là vô minh đó. Mà biết hay không biết gì cũng phải trả quả báo thê thảm hết. Thì đến khi nào mà ta nhận được cái tội, ta biết đó là cái lỗi, cái ngã ta hạ xuống thì đưa qua Bồ Tát Địa Tạng, Ngài mới dùng cái lời từ tốn Ngài phân tích cho ta nghe. Đó là cái công hạnh của Ngài Bồ Tát Địa Tạng ở dưới địa ngục. Và đó là chuyện có thật. Dù kinh Địa Tạng không xuất phát từ Ấn Độ, nhưng mà hành trạng của một vị Bồ Tát mà luôn luôn hiện hữu ở dưới địa ngục để cứu độ chúng sinh là chuyện có thật. Vì vậy mà ta kính lễ Ngài hết lòng, với tất cả tấm lòng của chúng ta là điều rất là xứng đáng, là như vậy nha.

[39:16]Nhưng mà Nam Tông Nguyên Thủy không tin. Nam Tông Nguyên Thủy họ không tin. Bây giờ ta gặp một vị sư mà quấn áo vòng vòng vòng vòng á ta nói về các vị Bồ Tát thì các vị sư cười từ chối liền, không tin. Vì sao vậy? Vì nói rằng là những kinh Đại Thừa là xuất hiện sau Phật vài trăm năm mới có. Cho nên những gì mà thuộc về kinh Đại Thừa đều không có thật. Các Ngài kết luận rất là đơn giản. Chỉ vì Phật không nói nên điều đó không có. Đây là điều rất là đơn giản. Và gây ra một cái sự chia rẽ lớn trong đạo Phật. Và kinh Nguyên Thủy không bao giờ nhắc tới những vị Bồ Tát này cho nên những vị Bồ Tát đó không có thật.

[39:58]Nên chùa Nguyên Thủy không có thờ tượng Bồ Tát. Ta đến cái chùa Nam Tông ta sẽ không bao giờ thấy có tượng Bồ Tát Quan Âm. Và có nhiều vị đã nói những lời bất kính.

[40:11]Có một vị Thầy ổng tu theo Bắc Tông Đại Thừa mà ổng tu theo một cái tông gì đó, không biết, nhưng mà ông rất coi thường cõi âm. Ông nói rằng à cái chúng sinh mà cõi âm nó không thật, không có, không đáng để quan tâm. Thì khi ông về trụ trì một cái ngôi chùa đó, cái ngôi chùa đó không biết là hồi xưa đó có một cái trận đánh rất là ác liệt nên đã nhiều người chết. Thì cái ông chủ chùa vào đời xưa đó ổng mới lập ra một cái đền, ổng mời hết tất cả những vong linh của chiến sĩ chết về đó ông thờ. Nên cái chùa đó nổi tiếng ma, ma kinh hồn, ma kinh khủng. Nghĩa là ai mà vô, kể cả ngủ trưa là đuổi chạy không kịp ra khỏi chùa.

[40:49]Chùa mà ma không chứ không có người. Thì khi ông thầy ổng đến ổng trụ trì, ổng nhận cái trụ trì chùa đó, khi người ta cho ông biết nói: "Thưa Thầy chùa ma rất nhiều. Vì hồi xưa là có nhiều người chết rồi ổng lập cái đền ở đây ổng mời mấy vong về nên vong ở đầy chùa và ma rất nhiều." Thì ông thầy ổng nói một câu thế này: "Ma cỏ gì? Tụi bây nói bậy nói bạ." Ổng ở được vài hôm ổng phát một cơn bệnh, ổng nằm xuống tới bây giờ chưa ngồi dậy mười mấy năm. Vật liền. Khi ta coi thường cái chúng sinh ở cõi đó ta bị quả báo liền. Thì cũng vậy, có một vị Hòa Thượng trong tâm lúc nào cũng bất kính các vị Bồ Tát Đại Thừa.

[41:29]Nói tới Quan Âm, cười lắc đầu không tin. Nói tới Di Lặc, cười lắc đầu không tin. Rồi vị đó cũng vậy, cũng nằm xuống mười mấy năm chưa chết. Nằm sống đời sống thực vật luôn. Vì cái quả báo là ta bất kính Bồ Tát Đại Thừa. Thì bây giờ ta sẽ thắc mắc cái câu hỏi thế này: Nếu nói theo kinh điển của Bắc Tông Đại Thừa thì những vị Bồ Tát là có thật, có sự linh ứng và nhiều người đã nhận được sự linh ứng đó. Thế nhưng tại sao theo sử học, sử học là khoa học nha, thì kinh Nguyên Thủy Phật không nói đến. Mà những kinh Đại Thừa xuất hiện sau Phật tới 600 năm mới nói về các vị Bồ Tát Đại Thừa. Cho nên nếu mà nói theo khoa học của ngành sử

[42:11]thì đúng là Bồ Tát Đại Thừa không có tồn tại, không hiện hữu. Thế nhưng tại sao kinh Đại Thừa lại nói và thế nhưng tại sao thì khi ta cầu nguyện đến các vị Đại Thừa, ta đều được sự linh ứng như vậy? Cái dấu hỏi chấm rất lớn nằm ngay đó. Và nếu ta trả lời được câu này, ta giải thích được câu này thì ta mới hiểu được tính chất của Bồ Tát Đại Thừa là gì. Và lúc đó ta có thể đến nói chuyện với các vị Nam Tông được và xóa đi cái ranh giới chia rẽ giữa Nam Tông và Bắc Tông như thế này. Đây là chuẩn bị đi vào cái mốc câu hỏi quan trọng, xin mọi người lắng nghe cho kỹ.

[42:47]Bồ Tát Đại Thừa có giống với Địa Mẫu không ạ? Có giống Địa Mẫu không? Giống không? Không. Mặc dầu nhiều khi người ta thờ cái hình Địa Mẫu rất giống với Bồ Tát Quan Âm. Cũng hình một người nữ. Bồ Tát Quan Âm có giống với Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc không ạ? Không, cũng chẳng giống. Mà nhiều khi thờ giống nhau, cũng hình hai người phụ nữ nhìn rất giống nhau. Nhưng mà khác rất xa. Khác chỗ nào? Khác cái chỗ ý niệm của ta gửi về đó. Khi ta nghĩ đến Bồ Tát Quan Âm, cái ý niệm mà ta nghĩ về Bồ Tát Quan Âm là ta nghĩ rằng đây là một người đã chứng Vô Ngã, được Tam Minh Lục Thông như Phật dạy. Đây là người hiểu được Tứ Diệu Đế,

[43:36]biết được đời là khổ, nguyên nhân của khổ và Niết Bàn thoát khổ và Bát Chánh Đạo đưa đến cái Niết Bàn cao siêu như thế. Nên khi ta lạy Bồ Tát Quan Âm là ta lạy cái ý niệm đó, cái ý niệm của Chánh Pháp mà Phật đã dạy. Còn khi ta gặp một người Địa Mẫu, ta có thấy có cái ý niệm đó không? Không, nó hoàn toàn là một kinh điển nào ngoài đạo Phật, không bao giờ nói đến Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, hay Nhân Quả, hay Vô Ngã. Cho nên hai cái ý niệm nó khác nhau. Nên một bên là ngoại đạo, một bên là... một ý niệm của đạo Phật. Mặc dầu kinh Phật không nói tới. Kinh Phật không nói tới nhưng khi ta gửi đến một cái vị nào cái

[44:17]ý niệm đúng với kinh Phật thì sự linh ứng xuất hiện liền. Tại sao? Tại vì Bồ Tát không tên. Bồ Tát không có tên. Ta có tên tại vì sao? Tại vì thứ nhất ta chấp cái tên của mình. Khi cha mẹ đặt ta cái tên gì thì ta chấp ta là cái tên đó. Luật pháp công nhận ta là cái tên đó. Rồi bây giờ ví dụ ta tên là Mít. Thì có người kêu cái chữ "Mít" ra chửi ta thấy bị tự ái. Còn nếu mà ta không chấp cái tên Mít thì họ cứ đứng trước cửa ta họ kêu cái chữ Mít họ chửi. Chửi nguyên một ngày, ta cũng cười ta không giận. Vì sao vậy? Cứ hỏi sao anh không giận? Nói anh chửi Mít chứ đâu có chửi tui. Nói anh tên Mít mà. Nói dạ giữa tên và tôi nó khác nhau.

[45:04]Tôi không có giống gì với cái tên hết. Tôi và cái tên, cái tên không phải tui, không phải là của tui. Cha mẹ đặt thì lúc đó ổng nhớ nhớ ổng đặt đại tên Mít, nhiều khi ổng qua bữa sau ổng đặt tên Xoài cũng không chừng.

[45:26]Ta không chấp cái tên là của mình thì ta không bị phiền não.

[45:45]Và Bồ Tát là vậy,

[45:52]Ngài không chấp tên.

[46:10]Cho nên kêu Ngài là Quan Âm cũng được, kêu Ngài

[46:28]Văn Thù, kêu Ngài Phổ Hiền

[46:40]cũng được. Kêu Ngài

[46:52]là Đại Thánh, Tiểu Thánh gì cũng được hết, không quan trọng.

[47:25]Nhưng miễn là khi ta đảnh lễ một vị đó, ta nghĩ rằng đó là vị thương yêu khắp tất cả chúng sinh. Vị đó hoàn toàn Vô Ngã. Vị đó chứng Tam Minh Lục Thông. Vị đó thông suốt Tứ Diệu Đế thì lập tức các Ngài cứu độ ta liền, Ngài cảm ứng với ta liền. Vì vậy mà Bồ Tát Đại Thừa nói là không có mà lại là rất là... rất là có. Là chính vì điều này vậy. Cái chỗ này rất là khó hiểu, Thầy không biết mọi người có hiểu không ạ?

[47:55]Khi Thầy giảng á, Thầy không có thích hỏi là có hiểu không ạ. Vì khi mà hỏi hiểu không ạ là một câu hỏi bất lịch sự. Giống như là người nghe ngu lắm vậy đó. Cho nên Thầy thường là Thầy không dám hỏi là hiểu không ạ. Nhưng mà khi mà Thầy vừa nói nãy giờ thì buộc lòng Thầy phải hỏi hiểu không ạ. Tại cái này nó khó hiểu vô cùng.

[48:16]Bây giờ ví dụ ta gặp một vị Nam Tông, cái vị Nam Tông nói cho ta thế này: "Cái Bồ Tát là không có, tại vì kinh Phật không nói." Thì ta mới trả lời thế này. Ta nói: "Cứ theo cái chữ nghĩa, nghĩa là cái khuôn chữ như thế nào các anh hiểu y như vậy thì làm sao anh hiểu được Phật. Tại vì ý niệm về Phật nó cao hơn chữ nghĩa nhiều lắm. Ví dụ như Phật bắt anh ăn ngọ anh ăn ngọ. Phật bắt anh đi không được nhúc nhích là anh đi nghiêm không nhúc nhích. Nhưng anh phải hiểu có một cái gì nó cao hơn những cái chữ nghĩa đó. Vì vậy khi mà Phật chế ra giới luật rồi lại Phật lại quở một cái nữa là Giới Cấm Thủ.

[48:56]Anh chấp vào giới điều một cách nguyên tắc là Phật gọi đó là một tính chất của phàm phu, không chứng Thánh. Vì cái người nào mà bắt đầu chứng Tu Đà Hoàn là người đó vượt qua được Giới Cấm Thủ, không có chấp giới điều. Biết điều nào đúng, điều nào sai để làm trong từng trường hợp một cách rất sáng suốt, chứ không chấp vào giới điều. Cũng vậy, anh cứ chấp kinh, chấp chữ, chấp nghĩa thì anh không hiểu được Phật, không hiểu được Bồ Tát Đại Thừa." Họ hỏi: "Vậy chứ làm sao mới là không chấp?" Nói thế này: "Khi ta gọi tên một vị Bồ Tát thì cái tên đó cũng vô nghĩa, không quan trọng. Cái tên nó không quan trọng.

[49:28]Nhưng cái quan trọng là ta gửi cái ý niệm đến vị đó là gì. Khi ta gửi đến ý niệm đến vị đó, đó là một vị Vô Ngã, tràn ngập từ bi trí tuệ, thông suốt Tứ Diệu Đế, Nhân Quả, đầy đủ Tam Minh Lục Thông, thì ta đã gửi đến một ý niệm của Chánh Pháp và lập tức ta được sự linh ứng liền. Còn các anh cứ chấp cái tên. Các anh nói trong kinh không có chữ Quan Âm thì anh không tin không có Quan Âm, nên cái đó gọi là Giới Cấm Thủ. Giới Cấm Thủ, chứ chẳng gì là hay ho đâu." Cho nên cái quan trọng của Phật Pháp là vượt hơn những cái chữ nghĩa đó để đi trong cái ý niệm thật sự. Đây là ý niệm của Chánh Pháp và kia là ý niệm Phi Pháp.

[50:05]Cái ý niệm mà Phi Pháp thì lập tức trở thành ngoại đạo. Còn ý niệm của Chánh Pháp thì lập tức trở thành Chánh Đạo. Cho nên rất nhiều vị Bồ Tát ở trong kinh điển ta nhiều khi thấy kinh Nguyên Thủy không có nhưng mà sự thật khi ta gửi đến vị đó một cái ý niệm của Chánh Pháp thì là vị đó có thật. Ta đạt được sự cảm ứng liền. Ta đạt được sự gia hộ liền. Vì vậy ta đừng chấp tên. Miễn là ta có ý niệm Chánh Pháp thì khi ta cầu nguyện một vị Bồ Tát trong ý niệm Chánh Pháp, ta sẽ nhận được sự linh ứng. Và đó là ý nghĩa của Bồ Tát Đại Thừa. Nên cái sự hoạt dụng của Bồ Tát Đại Thừa rất là phong phú khiến cho Phật Pháp thích ứng với chúng sinh để hóa độ.

[50:48]Những vị nào mà tu theo Bồ Tát Đại Thừa thì không còn gò bó mình trong khuôn mẫu nữa mà tự trí tuệ của mình biết trong từng trường hợp cái nào đúng, cái nào sai nên làm, nên thay đổi, chứ không có cố chấp. Còn cứ cố chấp theo khuôn mẫu của người xưa thì lại là không phải đúng với Phật Pháp. Nó rơi vào Giới Cấm Thủ liền. Vì vậy mà ta thấy cái hoạt dụng của Bồ Tát Đại Thừa nó không giống với cái khuôn phép mẫu mực của Tăng đoàn Tỳ kheo đời xưa. Ví dụ như một vị Tỳ kheo đời xưa đó là không có đi đến nhà người ta gõ từng cửa để mà giáo hóa. Ngồi một chỗ thôi, trong tinh xá thôi. Ai muốn cầu đạo thì đến mà cầu đạo, hỏi đạo lý thì sẽ trả lời.

[51:25]Chứ các Ngài không có đi lung tung. Nhưng mà các vị Bồ Tát Đại Thừa khác ạ. Những vị mà tu theo hạnh Đại Thừa thì tới gõ cửa từng người ạ. Đi tới gõ cửa từng người để giáo hóa à. Tới gõ cửa từng người, đi vào nhà thế tục mà tâm không nhiễm thế trần. Không hơn thua, không danh lợi, không cầu mong cái gì cho mình. Chỉ mong cho chúng sinh biết Phật Pháp và đi đến từng nơi để giáo hóa. Hai hình ảnh nó ngược nhau. Nên cái sự hoạt dụng của Bồ Tát Đại Thừa lớn hơn nhiều. Nếu là Phật tử thì sẽ năng động dấn thân đến với từng người để đem Phật Pháp đến cho con người. Nếu là một Tỳ kheo thì cũng mở rộng hoạt động hơn

[52:02]chứ không còn là ru rú ở trong chùa mình nữa. Nếu mà Bồ Tát đó là một chư Thiên trên trời thì lúc nào cũng năng động đi kiếm người này kiếm người kia để phù hộ. Thấy ai là tốt thì đến giúp cho người ta để tốt thêm. Còn nếu là một Đại Bồ Tát thì thần lực phủ trùm để mà tùy duyên ứng hóa. Cho nên cái người mà hiểu theo tinh thần của Bồ Tát Đại Thừa lúc nào cũng lấy chúng sinh, lấy cái việc mà hóa độ chúng sinh làm cái cuộc sống của mình. Chứ không còn sống cho mình và cũng không có chấp cái khuôn phép nữa. Tuy là không chấp khuôn phép nhưng mà không bao giờ làm điều gì sai. Đó là cái khác nhau. Còn người cứ tưởng mình là Bồ Tát Đại Thừa,

[52:41]xông xáo vào đời nhưng mà làm đâu sai đó, làm đâu phạm đó, làm đâu ô nhiễm đó thì không phải là Bồ Tát Đại Thừa. Cái khác là Bồ Tát Đại Thừa là dấn thân, giáo hóa nhưng không ô nhiễm, không có phạm sai lầm. Vì vậy cái khó của những người đệ tử Phật mà tu theo tinh thần của Bồ Tát Đại Thừa là tuy gần gũi chúng sinh nhưng mà giữ cho mình được cái đạo đức mẫu mực. Đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai là làm vô số việc phước cho đời nhưng mà để hướng về cái giác ngộ tâm linh chứ không cầu cái sự giàu sang. Cái thứ ba nghĩa là tận tụy dấn thân làm bao nhiêu việc tốt mà không bao giờ chấp công. Cái điều này rất là khó.

[53:20]Chứ còn bất cứ tất cả chúng ta, ta làm được việc gì tốt cho đời ta đều kể công, chấp công, cứ nhớ cái công của mình. Thì cái Bồ Tát Đại Thừa khác ở chỗ là làm vô số điều tốt cho đời mà quên, không nhớ, không nhớ mình đã làm, quên mất cái công mình đi. Cái chỗ này là chỗ cực khó. Ai mà tu được cái chỗ này, giúp đời giúp người mà không bao giờ kể công thì người đó là đi đúng Bồ... Bồ Tát đạo như vậy nha. Thời gian không còn, Thầy chỉ còn khoảng 2 phút nữa thôi. Thôi Thầy nói vài điều một chút. Thầy nói về kinh Đại Thừa một chút. Kinh Đại Thừa á, có nhiều người nói là không có thực tế vì sau Phật mới có.

[53:58]Tức là 600 năm sau Phật Niết Bàn kinh Đại Thừa mới xuất hiện. Tuy nhiên nhiều đạo lý trong kinh Đại Thừa hay tuyệt vời luôn. Ví dụ như bộ Đại Bát Nhã. Bộ kinh Đại Bát Nhã là dạy hành trạng của Bồ Tát. Hành trạng của Bồ Tát là gì? Là đem hết sức lực của mình để làm lợi ích cho chúng sinh mà không được chấp công. Hoặc là kinh Kim Cang dạy điều gì? Dạy cho một vị là dù chứng được quả Thánh mà không thấy mình là Thánh. Đạt được một thành công mà không thấy mình là thành công. Còn cái kinh Bát Nhã Tâm Kinh mà ta tụng hằng ngày đó là gì? Đó là tóm tắt cái tinh thần tự tại và đạo đức của một vị Bồ Tát. Mà rất là khó hiểu.

[54:41]Ví dụ chữ sắc tức thị không, không tức thị sắc. Ta nghe đi nghe lại rất là nhiều. Hỏi ồ cuộc đời sắc sắc không không, hơi đâu mà sống mà mất lòng với nhau, ví dụ vậy. Cuộc đời sắc sắc không không, ta cứ nghe chữ sắc sắc không không thì cái chữ đó là trong cái kinh Bát Nhã Tâm Kinh. Thì ta không hiểu hết. Nhưng mà những cái kinh đó nếu hiểu sâu đó là cái tinh thần tự tại và đạo đức của một vị Bồ Tát. Làm mọi điều mà không chấp điều gì hết. Sống giữa trần gian mà không vướng nhiễm thế trần. Vân vân, đó là cái tinh thần của... của Bồ Tát. Bây giờ khi chúng ta hiểu rằng công hạnh của Bồ Tát cao cả như vậy, làm mọi điều mà không chấp công

[55:24]thì chúng ta cố gắng học được cái hạnh này của Bồ Tát nha. Ta sẽ hứa với Phật rằng là con cũng nguyện đem cả cuộc đời của con để sống vì tất cả chúng sinh. Làm lợi ích cho chúng sinh, giúp chúng sinh thoát đau khổ, giúp cho chúng sinh biết Phật Pháp. Nhưng mà xin Phật gia hộ cho con để con đừng chấp công của mình. Nếu người nào mà phát nguyện được như vậy thì người đó đã đặt được cái bước chân mình lên trên con đường của Bồ Tát Đại Thừa. Và cái đạo quả của một người như thế nó mở vô hạn ở mai sau, không có thể nói hết được. Nên qua cái bài Bồ Tát Đại Thừa này Thầy cũng xin chúc cho tất cả quý Phật tử,

[56:03]chứ không chúc quý Thầy, quý Thầy thì hiểu sâu điều này rồi nên không nói nữa. Xin chúc cho quý Phật tử. Thứ nhất là ta hiểu đạo đến mức độ là đủ phát lên trong lòng mình một cái lý tưởng mãnh liệt cầu sự giác ngộ giải thoát. Cái thứ hai, xin chúc cho tất cả quý Phật tử được đặt chân trên con đường của Bồ Tát Đại Thừa bằng cách là sống một đời sống hoàn toàn vị tha, làm lợi ích cho mọi người mà không bao giờ chấp công. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.