Lời giảng: Động Và Tĩnh

  • Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Thời lượng: 1:30:58

Toàn văn lời giảng, chép từ phụ đề. Bấm vào mốc thời gian để nghe đúng đoạn đó.

[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Mời quý Phật tử ngồi

[0:22]xuống.

[0:28]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay, chúng ta cũng tiếp tục cái loạt bài về sự khác biệt của những cặp phạm trù đối lập. Thì chúng tôi định là cái bài hôm nay là bài cuối cùng của cái loạt bài sự khác biệt. Tại vì đều 20 bài rồi thì thôi mình chuyển qua đề tài khác. Tuy nhiên là vì chúng tôi thấy còn có một số cặp đối lập cũng còn quan trọng quá. Trong cái lý luận về đạo Phật, có một số cặp ví dụ như chúng ta vẫn chưa nói như có và không. Những đề tài đó cũng quan trọng mà mình chưa có nói. Cho nên thôi, bài hôm nay vẫn chưa chấm dứt. Rồi chừng nào mà Phật cho chấm dứt rồi thì mình chấm dứt.

[1:05]Phật bắt mình giảng nữa thì thôi cứ giảng nữa. Đề tài hôm nay là "Động và Tĩnh". Không biết quý Phật tử nghe riết có ngán chưa ta? Mấy cái sự khác biệt này ngán chưa? Hả, hỏi thiệt á. Chưa ngán nói nữa, còn ngán thôi mình nghỉ. Chứ cứ nói những cái cặp phạm trù ngược nhau như vậy không biết có mích lòng ai không? Nhưng mà sự thực là những lý luận này cần thiết lắm á. Những cái bài mà chúng ta nói ở Ngọc Thành ở đây đó là cái bài nó có tính cách nó phát triển và chuyên sâu về lý luận của đạo Phật. Có những loạt bài ví dụ như những loạt bài mà chúng tôi giảng ở Từ Tân, "Đạo Phật với xã hội" thì dành cho người trí thức,

[1:43]những người mà chưa có cái niềm tin về tôn giáo, về đạo Phật. Thì nghe những bài "Đạo Phật và xã hội" có thể là cái cửa ngõ để đến với đạo. Còn cái loạt bài mà "Sự khác biệt" mà chúng ta trao đổi với nhau ở Ngọc Thành ấy, là những bài mà có tính cách là cho những người chuyên sâu hơn, là những Phật tử à quý thầy, quý cô mà đã hiểu đạo rồi thì mình đào sâu thêm cái lý luận để mình củng cố thêm. Tại vì đạo Phật có cái là nó nhiều khía cạnh, nên chúng ta hiểu cái gì một chiều nó đều không có đúng. Cho nên, chúng ta đem so sánh những cái điều mà nó ngược với nhau, chúng ta tìm ra lẽ phải chân chính nơi đó.

[2:24]Ví dụ như hôm nay vậy, cái bài "Động và Tĩnh" cũng vậy. Thì nào giờ đó, người thế gian họ họ luôn luôn phải tìm cái động để mà hoạt động, để mà vận động, để mà tồn tại. Đạo Phật chúng ta thì thường là đi tìm cái yên tĩnh. Nhưng vì vậy, chúng ta nghĩ rằng cái tĩnh là cái cốt lõi, cái quan trọng. Rồi chúng ta thiên về cái tĩnh, nhiều khi nó cũng trật nữa. Cho nên hôm nay vậy, chúng ta đem cái động và tĩnh ra đối chiếu lại để chúng ta thấy và chúng ta hiểu vấn đề nó chính xác hơn. Thì những cái cặp phạm trù khác từ trước tới giờ cũng vậy, chúng ta đem ra đối chiếu so sánh hết, rồi chúng ta mới phát hiện ra là chúng ta không

[3:03]có đi một chiều được, mà phải có cái trung đạo, có cái uyển chuyển, linh hoạt tùy lúc, tùy khi mà để đạt được cái chân lý, cái lẽ phải. Vì cuối cùng cái quan trọng là làm sao mà chúng ta hành xử, chúng ta suy nghĩ nó đúng với đạo lý nhất. Còn nếu mà chúng ta bị thiên kiến, nhìn một bên thì chúng ta làm ứng xử hay tu tập không có đúng với đạo lý, thì kết quả tốt nó không có đến. Đây là điều khó nè. Đây là điều khó là ở chỗ là từ cái nhân ban đầu mà chúng ta đúng thì kết quả nó mới tốt đẹp. Còn cái nhân mà chúng ta sai thì kết quả sẽ xấu. Nên nhiều người vậy, nhiều khi tu theo đạo Phật cả một đời, bỏ ra mấy chục năm vậy mà không có kết quả tốt.

[3:44]Như có một lần vậy, chúng tôi gặp cô Phật tử thì cô này cô thuần thành lắm. Cô thuần thành nghĩa là cái thời gian mà chúng tôi mới vào đạo để quy y thì cô đã là một Phật tử thuần thành lâu năm rồi. Tức là tôi chưa có xuất gia, mới quy y thì cô đã là một Phật tử thuần thành. Rồi ngày hôm nay gặp lại nhau thì dĩ nhiên là cô không có biết tôi là ai. Tại vì lúc đó cô nổi tiếng, còn tôi chỉ là một cái chú điệu tầm thường trong chùa nên không ai để ý. Mà lúc đó cô là một người Phật tử có tiếng tăm, giàu có lắm, thuần đạo, ủng hộ nơi này, ủng hộ nơi kia rất là mạnh. Thì qua mấy chục năm sau khi chúng tôi xuất gia như vậy được mấy chục năm thì

[4:20]gặp lại, thì cô không có biết tôi là ai, nhưng mà tôi biết cô rất là rõ. Nên tôi hỏi cô như vậy vậy, cô công nhận là đúng hết như vậy. Nhưng chỉ có điều là cô nói ra những cái tình trạng, những kết quả của cô trong hiện tại thì rõ ràng nó là một sự bế tắc, bế tắc từ đời sống cho tới tâm hồn. Thì cô hỏi tôi tại sao? Thì tôi mới nói rằng: "Từ ngày xưa là tôi đã nhìn thấy cô đã đi con đường không đúng rồi. Thấy cô đã đi sai, nhưng mà lúc đó thì đâu ai nghe mình nói." Nhận xét từ lúc đó thôi, mình âm thầm giữ trong bụng không nói, giờ gặp lại thì mới khuyên. Thì cô hỏi là sai chỗ nào, tôi phân tích ra một loạt một cái là cô thấy đúng hết trơn.

[4:58]Cô mới công nhận rằng mấy chục năm qua cô đã đi không đúng, gieo nhân rất là nhiều, làm nhiều điều phước thiện, nhưng mà không ngờ là những hạt giống gieo trên đất cằn khô, nên ngày hôm nay không kết thành hoa, thành quả, mà cuộc đời rơi vào bế tắc, bất an. Cho nên cái điều mà chúng ta trao đổi với nhau hết cái hội giảng này cho tới cái hội giảng kia là mục đích là chúng ta tìm ra cái lẽ phải chân chính nhất để cho chúng ta tu tập đi cho đúng đường. Vì nhiều khi mình nhiệt tình, mình cương quyết giữ lập trường đi một con đường nào đó, nhưng mà không ngờ nó sai. Sai trong đường tơ kẽ tóc mà mình không thấy.

[5:34]Mình vẫn thấy là à mình làm việc trong đạo là chắc có kết quả, mà không ngờ không phải. Nó sai trong đường tơ kẽ tóc rồi, mấy mươi năm sau cái đi hẳn qua đường khác, mình không đạt được kết quả gì đúng cả. Đây là điều rất uổng, rất phí. Nhưng vì vậy vậy mà chúng ta cứ cố gắng trao đổi với nhau hoài vậy. Ở đây, cái việc mà đi tìm cái lẽ phải thì dĩ nhiên nó có nhiều cái cách để tìm, mà chúng ta tạm thời phân ra làm hai loại là hữu sư trí và vô sư trí á, như truyền thống mà kinh luận vẫn nói. Hữu sư trí là chúng ta nhờ tham khảo, học hỏi, rồi cũng thêm một ít tư duy của mình, thêm một ít thực hành của mình, thế mình nắm được lẽ phải.

[6:15]Nơi cái hữu sư trí á, nó có một cái hay là mình nhanh chóng lĩnh hội được từ nơi một cái vị thầy nào đó, một tác phẩm nào đó. Nhưng mà có một cái dở là dĩ nhiên mình phải lệ thuộc, vì cái tự trí tuệ mình chưa đủ. Nên đó là hữu sư trí, nhưng mà cái hay là mình nắm bắt lẹ vì cái người khác họ đi tìm, mình quan trọng là mình nắm bắt cho đúng thôi. Nhưng mà cái dở, cái khó nữa là quan trọng cái ông thầy mình học có đúng hay không. Vì nếu ông thầy mình học mà sai thì mình dễ bị lãnh hội sai. Mình chưa đủ trình độ để phân biệt như một người có vô sư trí. Người có vô sư trí, họ tự họ họ biết đúng sai hết.

[6:53]Còn cái người mà đi tìm chân lý bằng vô sư trí á, thì ở đây là ví dụ như họ tiếp cận vấn đề thì họ tìm thấy đạo lý, thấy lẽ phải liền, thấy luôn luôn thấy liền. Tự họ tìm ra hết, mà ai nói đúng hay sai biết liền. Mà từ những điều chưa được nói, họ vẫn có thể mở ra một chân trời mới để nói, cái đó gọi là vô sư trí. Thì ở đây cái vô sư trí dĩ nhiên nó là công đức của nhiều đời mới có, mà nếu có được cái vô sư trí thì tự mình vững vàng mình đi, mình là chỗ dựa cho chính mình thì điều đó rất là tốt đẹp. Tuy nhiên là điều đó hiếm. Người mà đạt được vô sư trí vững chắc như vậy, trên thế gian này rất là ít có.

[7:28]Còn đa phần chúng ta vẫn phải dùng cái hữu sư trí, nghĩa là tinh tấn chịu khó học hỏi. Nhưng mà trong cái việc mà tinh tấn chịu khó học hỏi để cho đúng đạo lý thì cái khó là đúng ông thầy, tìm thầy cho đúng. Tìm thầy cho đúng là một vấn đề quan trọng, vì cái người giảng rất nhiều, người viết sách rất nhiều, nhưng mà người thật chuẩn thì thật là hiếm có nữa, rất là hiếm có. Thì vấn đề đó ở chỗ khác chúng ta nói lại. Hôm nay, chúng ta nói về đề tài động và tĩnh một chút. Động là cái gì? Dĩ nhiên cái động có nhiều cái ý nghĩa, mà chúng ta trao đổi với nhau qua từng một vài cái điểm căn bản thôi, chứ mình không có nói hết được, vì nói nó thì nó mênh mông.

[8:10]Trước hết á, chúng ta định nghĩa rằng động có nghĩa là nội tâm chúng ta phải hoạt động, phải suy nghĩ, phải tính toán. Nó ngược với cái tĩnh của nội tâm là một nội tâm an tĩnh, thanh tịnh. Đó, nó ngược lại như vậy. Thì một cái nội tâm mà phải hoạt động, phải suy nghĩ, phải tính toán, chúng ta còn gọi là là bận tâm, chúng ta còn gọi là sự bận tâm. Thì trong cuộc sống chúng ta đó, hầu như tất cả chúng ta đều bị bận tâm. Từ nhỏ đến lớn, chúng ta luôn luôn bị bận tâm. Quý Phật tử có thấy điều đó không? Chúng tôi cũng vậy. Chúng tôi từ nhỏ chúng tôi tiếc, chúng tôi tiếc là mãi khi tới lớn mình mới hiểu được đạo.

[8:54]Chứ nếu từ nhỏ mà hiểu được cái điểm mấu chốt này thì có lẽ giờ này mình đã khá hơn chút. Vì hồi nhỏ vậy, chúng tôi đi trên đường cứ tự nghĩ: "Ủa, tại sao trong đầu mình luôn luôn cứ phải suy nghĩ?" Mình nhận thức ra điều đó mà không biết tại sao. Mà lúc đó gia đình thì không phải đạo Phật, nên mình không biết con đường để mà thiền định, dừng cái suy nghĩ đó lại. Chứ ngay lúc đó, cái lúc đó khoảng chừng năm, sáu tuổi, mà ngay lúc đó có một gặp được một vị thầy chỉ cho ra chỗ đó, tập đừng suy nghĩ thì bây giờ mình đã thành con người khác rồi. Nhưng mà tiếc rằng lúc đó không có thầy chỉ dạy, rồi mình đâu biết phương pháp để dừng sự suy nghĩ,

[9:32]mà dòng đời thì cứ trôi, cứ phải học hành, gặp việc cứ phải vui chơi như vậy, rồi không có bao giờ biết dừng sự suy nghĩ. Nhưng mà hiểu ra được một điều là bộ não chúng ta luôn luôn hoạt động. Giống như ông Krishnamurti vậy, ông nói rằng: "Trên thế gian này, người giàu cũng như người nghèo, người khôn cũng như người ngu, đều mắc chung một bệnh là hay suy nghĩ." Ông nói một câu trúng chóc hết trơn, không trật đường nào, không lọt đường nào hết. Thì chúng ta cũng vậy, cái bộ não chúng ta hay suy nghĩ. Có khi nó thành một cái khuynh hướng suy nghĩ, nhưng ở đây là chúng ta nói là vì bổn phận mà mình phải bận tâm, vì bổn phận.

[10:12]Cái bổn phận mà phải bận tâm á, tức là nó có một cái áp lực, một sự thúc đẩy, một sự lôi kéo, một sự mời gọi nào đó làm chúng ta phải bận tâm. Nghĩa là một sự thúc đẩy buộc chúng ta phải bận tâm. Nó khác nhau là một sự thúc đẩy buộc chúng ta phải bận tâm và một sự lôi kéo khiến chúng ta phải bận tâm. Một sự thúc đẩy khiến chúng ta phải bận tâm nghĩa là sao? Nghĩa là áp lực bổn phận với gia đình chúng ta, với đời sống của mình. Ví dụ, khi một người đang rơi vào cái sự bế tắc, cùng quẫn, là gia đình mình đang chuẩn bị không có đồ ăn Cái đó là bổn phận đối với gia đình buộc mình phải suy nghĩ trong

[10:52]đầu coi giờ phải tìm đâu ra tiền, mượn đâu ra tiền hay kiếm đâu có việc làm thì cái áp lực đó gọi là đẩy chúng ta phải suy nghĩ. Hoặc là trong chuyện gia đình ví dụ người đã có gia đình, có con cái, giờ con cái lớn lên tới năm đó phải thi chuyển cấp lên cấp 3, buộc mình phải suy nghĩ tìm coi cái trường nào là tốt với cái mức độ trình độ của nó thi vào trường nào thích hợp, cho nên cái đó gọi là những áp lực là do bổn phận chúng ta buộc chúng ta phải bận tâm suy nghĩ, đó là cái thứ nhất. Còn cái nữa là có một cái phía trước nó mời gọi nó lôi kéo khiến chúng ta phải suy nghĩ thì cái đó hoặc là những cám dỗ

[11:33]là chúng ta thấy người ta rủ mình ví dụ bày trò nhậu cái mình ham nhậu phải suy nghĩ mua cái gì, kiếm đâu ra tiền lại xèo nậy vợ con đưa anh ít tiền ví dụ vậy những cái đó, hoặc là những cái trò vui trên cuộc đời mà mình bị mời gọi thế mình cũng phải suy nghĩ, phải bận tâm để tìm cách mà hưởng thụ nó. Hoặc là những cái việc tốt, những việc từ thiện là chúng ta gặp ví dụ năm nay miền Tây bị lũ lụt, chúng ta thấy xót xa cái cảnh đồng bào mình mà thấy trên ti vi chiếu nước tràn ngập hết trơn vậy, nhiều người chết, tài sản bị thiệt hại rồi người ta không có sống. Cái đó làm mình phải suy nghĩ. Cái đó lòng từ thiện, lòng vị tha của mình nó lôi kéo khiến mình phải

[12:15]suy nghĩ bây giờ mình phải làm cái gì để đóng góp một phần nhỏ. Thế là mình nghĩ tới chuyện là kêu gọi lẫn nhau đi quyên, đi góp rồi đến coi cái chùa nào mà tổ chức thì mình đến hợp tác để cùng đi. Thì những cái điều tốt đó cũng là cái gì nó mời gọi, nó lôi kéo phía trước khiến chúng ta phải suy nghĩ. Cho nên cái bận tâm suy nghĩ chúng ta phân tích lại: một cái là áp lực từ phía sau đẩy tới, hai là cái sự mời gọi từ phía trước. Mà cái sự mời gọi từ phía trước nó cũng có hai cái: một là những cám dỗ, sa đọa, hưởng thụ cũng lôi kéo chúng ta; hai là những việc từ thiện nó cũng lôi kéo khiến chúng ta

[12:55]phải bận tâm suy nghĩ, là cả hai cái mà luôn luôn chúng ta bị những điều đó buộc cứ phải bận tâm suy nghĩ hoài. Ở đây cái bận tâm suy nghĩ đó nói theo cái kéo và cái đẩy, bây giờ chúng ta lật ra hai cái lực khác nữa là có khi cái bận tâm đó là vì việc tốt, có khi bận tâm đó vì việc xấu. Ví dụ như chúng ta bận tâm là làm việc từ thiện nè, chúng ta bận tâm về việc học đạo, chúng ta bận tâm khi tư duy giáo lý. Đó là những việc tốt, những cái bận tâm đó có lợi lắm. Những cái bận tâm mà vì tư duy giáo lý là ví dụ như là hôm nay chúng ta được nghe nói về cái tính vô thường của vạn hữu, thì trong một buổi giảng chắc chắn

[13:36]là ông thầy không bao giờ giảng hết được, chỉ cho mình một cái hiểu căn bản nhưng mà trong đời sống bắt đầu tự mình tìm thấy, tự mình tư duy. Vì khi mình đi trên xe mình nhìn cuộc đời, mình thấy có điều nào mà người ta có thể... Khi mà áp dụng cái lý vô thường như vậy, thấy mọi cái vô thường, bản thân mình vô thường, tâm mình có an không? Rồi khi mà nói lý vô thường lại người ta sẽ chống đối đạo Phật, những người mà họ không tin, họ vẫn còn mình gọi là mê đời đó, chưa có niềm tin với đạo, họ sẽ phản bác, họ nói rằng đạo Phật bị tiêu cực, bi quan chăng? Đó là nghĩa là những cái đó gọi là tư duy về giáo lý.

[14:12]Tuy là chưa ai chống nhưng mình đã liệu trước mọi điều, rồi khi mình áp dụng thử mình xem nội tâm mình có bình an, thanh tịnh hay không, đó gọi là tư duy về giáo lý. Hoặc là việc học đạo, học đạo như là chúng ta đến chùa mình cũng phải suy nghĩ, "À hôm nay mình đi bằng xe gì, đi trên tuyến đường nào để tới tịnh xá đây?", vân vân; hoặc là ở đâu tổ chức khóa tu thiền rồi mỗi ngày mình tu thiền mình sắp xếp vào giờ nào, vân vân. Những điều đó cũng là những cái bận tâm, nhưng mà những bận tâm tốt, những bận tâm có lợi. Cho nên có những người chống nói rằng hễ khởi niệm là sai lầm, người đó là một cực đoan.

[14:52]Nghĩa là mình nói là tạo hóa cho chúng ta một cái tâm để suy nghĩ là một phương tiện tốt, là phương tiện tốt, nhưng chỉ cái là mình dùng nó vào việc bậy thôi thì từ đó đi vào trong sai lầm, đọa lạc. Cũng giống như tiền bạc vậy, tiền bạc hay phương tiện tự nó không có xấu, mà coi coi mình xài nó vào việc gì mới thành xấu thôi. Thì cái suy nghĩ cũng vậy, mà nếu chúng ta bận tâm vì điều xấu thì cuộc đời của mình đi luôn vào mê mờ tăm tối; còn nếu mình bận tâm để giúp người khác, bận tâm để tư duy giáo lý, bận tâm để tu tập thiền định thì những điều đó hoàn toàn tốt hết. Còn những việc xấu á là ví dụ như chúng ta suy nghĩ những

[15:32]điều mưu mô, xảo quyệt hại người, lừa gạt người; rồi cái tức tối vì thấy người ta hơn mình, gọi là tức tối vì thấy có người cạnh tranh với mình thì những cái suy nghĩ đó là những cái bận tâm xấu đưa chúng ta đi vào trong cái đọa lạc. Hoặc là những người mà suy nghĩ về những chuyện sa đọa, trụy lạc; hoặc là bình thường trong đời sống mình để tư tưởng mình lang thang vẩn vơ mà không biết làm chủ dừng nó lại. Thì những tư tưởng lang thang vẩn vơ, nó cứ tự nó nghĩ chuyện này nghĩ chuyện kia hoài, đó cũng là một cái suy nghĩ không tốt. Trong đạo Phật gọi là mất chánh niệm. Cho nên chúng ta phải có cái cảnh giác ở chỗ đó.

[16:10]Nghĩa là cái chuyện bình thường nó tới nó khiến mình phải suy nghĩ một cách tự nhiên mà mình quên mình đang suy nghĩ á thì không có lỗi, nhưng khi mình đang ý thức rằng mình đang suy nghĩ mà mình không buông là mình có lỗi. Chỗ này lát chúng ta nói lại cái ắt yếu, cái tội hay cái phước trong việc tu tập ngay chỗ này. Ví dụ nhiều khi mình đang bận tâm một chuyện tốt, chuyện xấu không biết, lúc đó mình chợt tỉnh ra mình thấy mình đang bận tâm, đang suy nghĩ mà để cho nó suy nghĩ tới luôn, tiếp luôn thì người này gieo cái nhân không giải thoát nữa, đường tu không tiến nữa. Đây là một cái tội rất nặng,

[16:43]à nó có chút xíu trong tâm thôi mà thành cái tội rất nặng. Thấy tội không giết ai, không hại ai hết nhưng mà tội rất nặng. Thấy mình đang suy nghĩ mà không chịu buông, cứ nói: "Ờ, cho suy nghĩ tới." Chỉ một niệm nhỏ chút xíu đó thôi thành cái tội 5, 10 kiếp sau chưa trả nổi. Cái tội này chắc quý Phật tử chưa bao giờ nghe ai kết tội này hả? Có nghe chưa? Chưa. Tội này rất nặng. Cho nên hôm nay chúng ta nói với nhau bài này là để tránh cái tội đó. Hễ mình đang bận tâm suy nghĩ dù chuyện tốt hay chuyện xấu mà hễ biết rằng mình đang bận tâm, lập tức buông liền thì người này thành cái phước. Chỗ này nó không có chỗ mà không tội không phước nha.

[17:19]Ở đây nó hoặc tội nặng hoặc phước lớn, chứ không có cái không tội không phước chỗ này. Hễ mỗi khi chúng ta chợt tỉnh ra rằng: "À, tâm mình đang suy nghĩ.", ngay lập tức phải buông liền, giữ thanh tịnh liền, dù đang suy nghĩ chuyện tốt. Còn ngay lúc đó mình thấy mình đang suy nghĩ mà cứ để cho nó suy nghĩ tiếp thì cái nhân đó, cái niệm đó phải nói là sám hối 5, 10 kiếp chưa hết. Đây là điều rất là lạ. Có lẽ quý Phật tử hơi ngạc nhiên nói: "Tại sao cái tội này mà nặng dữ vậy? Không biết thầy có nói quá đáng?" Ở đây nó có cái quả báo của nó là nếu mà cái tâm chúng ta phải bận rộn, phải suy nghĩ mà toàn là bận rộn với chuyện vị tha không,

[17:59]bận rộn với chuyện làm lợi ích cho người không, làm yên vui cho mọi người... Nhớ là làm yên vui cho mọi người, đem đến sự bình an cho mọi người thì cái quả báo của nó là nó tạo thành một nội tâm thanh tịnh và một hoàn cảnh yên ổn, thuận lợi về sau. Nhớ như vậy. Và những khổ đau không đến gần chúng ta được. Giống như chúng ta có cái áo giáp, một áo giáp một khoảng rất xa. Nếu tâm mình hoàn toàn thuần thiện, nghĩa là mình chỉ nghĩ điều tốt cho mọi người, luôn luôn nghĩ điều ích lợi, trong tâm không hại ai, không ghét ai, chỉ có thương yêu thôi, chỉ làm điều lợi ích chúng sinh thôi, tâm hoàn toàn như vậy, cái quả báo từ từ về sau là về tâm chúng ta được bình yên.

[18:40]Rồi những điều nghịch cảnh có đến với mình, không bao giờ nó đến trực tiếp với mình hết, nó đến khoảng cách cách đó mấy cây số có người chặn lại giùm, đến nó cách mấy cây số có người chặn lại giùm. Đó là cái nhân quả. Nghĩa là ai muốn hại mình thì tức là nghịch cảnh gì nữa, nhưng mà ngày xưa cái phước mình chưa có là hại mình te tua tới bản thân mình thê thảm luôn. Nhưng mà qua bao nhiêu năm mình sống một đời hoàn toàn vị tha với nội tâm hoàn toàn chỉ nghĩ làm lợi ích cho người khác và làm được, thì ví dụ ai muốn hại mình họ tự nhiên họ gặp đâu đó bị chặn đứng tại chỗ, gặp đâu đó bị chặn lại tại chỗ.

[19:12]Đây là cái nhân quả, và suốt cuộc đời mình còn lại chỉ có niềm vui thôi. Mà tâm dễ vào định khi mình tu tập thiền định như vậy. Ở đây vậy chúng ta nhớ điều đó. Nhưng mà cái suy nghĩ đó đó là làm lợi ích cho chúng sinh, tức là đem yên vui. Chúng ta nhớ cái chữ đem yên vui cho người, làm cho người đừng bận tâm, làm cho người đừng đau khổ, luôn luôn chỉ cho người yên vui, thoải mái, hạnh phúc, đừng đem tới sự xao động. Nhớ như vậy. Cho nên có những cái trường hợp mà chúng ta thấy ví dụ như có một số người họ như những ca sĩ, ca sĩ mà họ hát những bài hát kích động tình cảm, kích động sự xao động quá đáng, họ nhảy, họ giựt nhiều quá;

[19:53]hoặc hát những bài gào thét, vừa rồi mà báo cũng lên tiếng phê bình những bài nhạc não tình gào thét, người ta gọi là than thuê khóc mướn, gào thét rồi dữ dội làm cho cái người lớp trẻ mà thích những bài nhạc đó cái tâm cũng bị xao động khi thưởng thức những bài nhạc đó thì cái người nghệ sĩ mang tội nặng lắm, tâm bất an suốt hết kiếp này kiếp kia; hoặc là những cái cuốn phim, những vở kịch mà khi trình chiếu ra cái người coi họ không có nhận được đạo lý cao thượng mà họ chỉ bị kích động cái ham muốn, cái hưởng thụ thì những cái diễn viên, những nghệ sĩ đó đều mắc quả báo chung hết, là tâm mình sẽ luôn luôn bất an, bận rộn, không bao giờ yên tĩnh được.

[20:33]Nên ở đây có một lần mà Đức Phật phê bình về những người mà hát kịch là như vậy. Chỉ khi nào mà trong cái phương tiện nghệ thuật đó chúng ta cho con người được sự bình yên nội tâm thì mới có phước thôi. Ví dụ như những bài nhạc đạo, hoặc là những bài nhạc kêu gọi con người yêu thương nhau Thì khi mà những bài đó được trình diễn, người ta nghe người ta xúc động bởi cái tình thương lớn, tâm người ta tự nhiên mạnh lên, bình an lên, thì người nghệ sĩ mới có phước. Thì trong cuộc sống cũng vậy, là khi ví dụ người ta đang trong cơn nguy biến, mình đưa tay giúp đỡ làm người ta yên ổn lại, người ta không còn đau khổ nữa, thì đó là một cái phước giúp cho mình được an ổn.

[21:13]Hoặc người ta đang xao động, hận thù, buồn rầu, mình nói những điều để người ta dập tắt được những điều đó, tâm người ta bình an lại thì nội tâm mình sẽ được bình an về sau. Nên nó là một sự công bằng thì chúng ta hiểu rồi. Cho nên ở đây là chúng ta muốn nói cái sự bận tâm thì nếu chúng ta còn phải bận tâm, mà chắc chắn là chúng ta còn, vì ở đây là chưa có ai đắc định hoàn toàn hết. Có ai đắc định hoàn toàn thì giơ tay lên cho tôi biết nha, chứ không biết ngồi trên này hơi hỗn nếu ở dưới kia có một người tâm đã đắc định hoàn toàn. Còn mà nếu chúng ta chưa đắc định hoàn toàn, nghĩa là tâm chúng ta còn động, nghĩa là còn phải bận tâm,

[21:54]thì chúng ta nhớ mình chỉ bận tâm với cái ý niệm là hoàn toàn vị tha thôi. Cả cuộc đời này đem hết cho mọi người, cho nhân loại, cho chúng sinh, không có sống cho mình nữa, phải nhớ như vậy. Cái điều này nó quá lý tưởng. Nó quá lý tưởng nói rằng trời quý thầy quý cô xuất gia rồi mới được vậy chứ tụi con cư sĩ làm sao mà lý tưởng như vậy được nữa? Không, đừng nghĩ như vậy. Hễ chúng ta là đệ tử Phật thì chúng ta đều phải có cái bổn phận là đem hết cuộc đời mình sống cho mọi người. Dù đó là người xuất gia hay tại gia. Nhưng chỉ có điều là người tại gia thì thực hiện dễ hơn. Tại vì người xuất gia là không bị áp lực bổn phận gia đình,

[22:31]còn người tại gia thì bị bổn phận gia đình ràng buộc bớt lại, cho nên lý tưởng giống nhau, nhưng mà người thì làm ít hơn, người làm nhiều hơn, nhưng mà lý tưởng phải giống nhau một khi chúng ta đã là đệ tử của Đức Phật. Cho nên vì thế, mỗi khi mà chúng tôi làm lễ quy y, chúng tôi đều dặn Phật tử vậy, kể từ ngày hôm nay, quý Phật tử đã trở thành đệ tử Phật, quý Phật tử đã bước sang một đời sống mới, không còn được quyền sống như cũ nữa, từ đây không được sống cho mình nữa. Chúng tôi dặn điều đó rất rõ. Thì cái lý tưởng đó phải giống nhau, giữa người xuất gia và tại gia giống hệt, nhưng chỉ có người xuất gia làm được nhiều,

[23:08]thì làm được nhiều mới đi xuất gia, còn nếu không làm được nhiều thì khoan đi xuất gia, vì như vậy mình chưa xứng đáng, chừng nào mình nguyện làm, còn người cư sĩ sẽ làm ít hơn. Nói ít hơn chứ nhiều người cư sĩ làm rất là tốt, nhiều người cư sĩ làm rất là tốt. Có những người cư sĩ như chúng tôi được biết cũng xả thân vì đạo, vì chúng sinh không sẻn tiếc. Nên vậy, mà nếu chúng ta còn bận tâm thì xin hãy bận tâm vì điều đó, vì đó là điều sự thực là đem lợi cho mọi người mà cũng là chuẩn bị cho điều tốt cho chúng ta trong tương lai. Nó vui hết. Tuy nhiên ở đây thế này, là chúng ta phải cẩn thận gạn

[23:45]lọc hết những cái mục tiêu danh lợi, vị kỷ ngấm ngầm. Là sao? Ví dụ như khi chúng ta đi làm điều phước, nhưng mà chúng ta thầm kín trong đó cầu mong cái điều phước, hoặc là cầu mong cho người khác khen ngợi mình, hoặc là cầu mong là mình nhờ những việc làm thiện này mình tiến thân từ từ, thì những cái mục tiêu vị kỷ ngấm ngầm đó nó sẽ phá hoại công đức chúng ta về sau, mà là đến lúc nào đó chúng ta hưởng phước rồi họa nó sẽ tới. Nên có những người mà tại sao hưởng phước rồi họa sẽ tới là vì còn những cái ý niệm vị kỷ, cầu lợi, cầu danh ngấm ngầm trong tâm mà mình chưa xóa hết được. Vì nếu mà cái tâm chúng ta, khi tâm vị tha đó thì nó chuẩn bị cho tâm mình đi vào

[24:29]yên tĩnh tương lai, nhưng mà trong cái vị tha đó đó nó lẫn cái vị kỷ thì sau khi mình tâm yên tĩnh rồi nó có sẽ lúc nó tái khởi cái sự loạn động trở lại. Tâm vị kỷ đưa đến loạn động, tâm vị tha đưa đến bình an. Chúng ta nhớ cái công thức như vậy, tạm thời như vậy. Dĩ nhiên đào sâu nó còn nhiều vấn đề phức tạp lắm, nhưng chúng ta nhớ vậy, hễ trong tâm mình mình chỉ nguyện sống một đời cho chúng sinh thì chúng ta chuẩn bị cái định về sau mình sẽ đạt được, cái thiền định đạt được. Còn nếu tâm mình vị kỷ thì cái loạn động nó luôn luôn nó phải tới, nhớ như vậy. Rồi trong vị tha mà pha lẫn vị kỷ thì chúng ta sẽ được tâm thanh

[25:04]tịnh thời gian, rồi cái loạn động nó tái khởi trở lại, đó như vậy, nghĩa là nhân quả nó như vậy, chúng ta nói trước. Đó là cái động. Bây giờ chúng ta nói về cái sự an tĩnh của nội tâm. Sự an tĩnh của nội tâm nghĩa là gì? Tức là sự nghỉ ngơi, không suy nghĩ, là sự nghỉ ngơi cũng là sự an vui, là hạnh phúc. Là sự nghỉ ngơi, là an vui, là hạnh phúc. Ở đây là cái điều như vậy, làm nhiều khi chúng ta chưa đạt được cái nội tâm an tĩnh thì chúng ta không hiểu được đạo Phật đi tìm cái sự an tĩnh nội tâm không suy nghĩ để làm gì. Nhưng mà những người, những vị thánh mà đã có thực hiện được nội tâm an tĩnh

[25:45]thì đều biết một điều rõ ràng đó là một điều đại hạnh phúc, điều đại hạnh phúc mà không có hạnh phúc nào trên thế gian này có thể so sánh được. Nên các vị thánh biết được điều đó nên các ngài luôn luôn cứ mãi mãi kêu gọi chúng ta phải tu tập thiền định để đạt được cái nội tâm yên tĩnh, dứt hết mọi sự suy nghĩ. Cho nên ở đây chúng ta định nghĩa, nếu cái động là sự bận tâm, hoạt động, suy nghĩ, tính toán, thì cái an tĩnh, cái không suy nghĩ là sự nghỉ ngơi, là an vui, là hạnh phúc. Chúng ta khẳng định luôn, đó là an vui, là hạnh phúc, khi mà không suy nghĩ, đó là hạnh phúc. Chúng ta gắn chặt nhau trong một cái định nghĩa như

[26:24]vậy, không tách rời ra nữa, luôn luôn như vậy. Thì đó là mức độ cạn, còn nếu mà ở mức độ sâu xa đó, thì cái sự an tĩnh sâu xa đó nó đưa đến trí tuệ, thần thông diệu dụng luôn. Nên cái mà tâm hồn an tĩnh là cả một điều rất vĩ đại chứ không có đơn giản, rất là lớn lao, rất là vĩ đại. Cho nên vì vậy mà Đức Phật cứ mãi mãi, cũng như chư thánh cứ mãi mãi kêu gọi chúng ta phải tu tập thiền định để đạt được sự bình an của nội tâm là vì vậy, vì các ngài đã hưởng được cái kết quả cao siêu, lớn lao quá, nên các ngài muốn mọi người cũng phải đều được như vậy. Thì ở đây, cái tâm an tĩnh là một cái điều vi diệu,

[27:07]cao cả, thì nói vậy là rồi đó, nhưng chính vì nó là một điều cao cả vi diệu, nên nó lại nguy hiểm cho một người đeo đuổi nó, là sao vậy? Là ví dụ như khi chúng ta tu tập thiền định để chúng ta đi tìm cái điều cao cả đó, chúng ta dễ bị cái tự hào, chỗ đó thôi, chút xíu đó. Cuộc đời nó vậy, nó cứ lẩn quẩn lẩn quẩn, có những điều nó ràng buộc, những phản ứng phụ nó ràng buộc, nó lôi kéo làm cho mình khó giải thoát là vậy đó. Cái sự bình an, sự giải thoát, sự tự tại là nội tâm an tĩnh trong thiền định, nó điều đó cao cả lắm, mà chúng ta biết nó cao cả, chúng ta mới đi tìm. Chứ nếu nó không cao cả thì mình ở nhà mình ngủ

[27:49]sướng hơn, đi tìm cái thiền định làm chi. Nhưng mà khi chúng ta đi tìm cái cao cả thì chúng ta cũng bị cái kiêu mạn nó khởi lên đi theo liền, cái tự cao nó khởi lên theo liền. Đó là tâm lý, tâm lý hết sức là bình thường, luôn luôn xảy ra, luôn luôn xảy ra mà hễ nó xảy ra thì nó kéo chúng ta thấp trở lại. Bất cứ điều gì cũng vậy. Ví dụ như một cái tôn giáo vậy, như có một cái giáo phái nào đó mới nổi lên, thì cái người giáo chủ họ phải khẳng định rằng cái tôn giáo của họ, cái giáo điều của họ là cao cả nhất trên thế giới này, không có tôn giáo nào bằng hết, họ phải nói như vậy, người ta mới tin người ta đi theo.

[28:25]Thì cái người tín đồ mà đi theo một cái gì cao cả nhất, hơn hết mọi điều khác trên thế gian này, thì họ phải nghĩ họ làm sao? Họ cao cả hơn mọi tín đồ của các tôn giáo khác hết. Cái tâm lý nó luôn luôn bắt buộc phải xảy ra. Quý Phật tử có đồng ý với chúng tôi điều đó không? Có đồng ý cái suy luận đó không? Đồng ý không? Hễ mà mình nghe ông giáo chủ mà nói cao nhất mình mới theo, nhưng mà khi mình theo cũng có nghĩa mình coi người khác thấp hơn mình hết. Đó là cái hệ quả. Mà khi mình suy nghĩ như vậy thì tâm kiêu mạn mình khởi, tâm tự cao khởi, thì đây là điều nguy hiểm. Nên chúng ta cẩn thận về điều này một chút,

[29:04]khi chúng ta cùng nhau đi tìm sự an tĩnh của nội tâm như vậy. Cho nên ở đây là chúng ta biết cái sự an tĩnh của nội tâm là điều cao siêu, nhưng mà cẩn thận với cái tâm kiêu mạn của mình. Ở đây chúng ta để ý điều này, là mình nói ông trời sinh, nói ông trời sinh là cách nói cho dễ nói chứ sự thực không phải ông trời sinh, mà do nhân duyên của tạo hóa, vũ trụ, thiên nhiên tạo thành là tạo cho chúng ta con bộ não, và cái khuynh hướng của não là hoạt động liên tục, khuynh hướng của não là hoạt động liên tục. Làm những cái kích động, những cái phản ứng từ dưới những cái thần kinh tay, chân, mình, mẩy chúng ta nó phản ứng lên trên não bộ

[29:48]và não bộ đáp ứng điều khiển xuống dưới thần kinh phía dưới lại. Ở phía dưới nó có hệ thần kinh tự động của thực vật, tự tim mình cứ đập, bao tử cứ co bóp, ruột cứ nhồi thắt, mạch máu cứ nhảy, thì những cái đó chúng ta không điều khiển nó được, chúng ta không dùng suy nghĩ điều khiển nó được. Còn có những cái chúng ta phải có cái suy nghĩ, có ý thức mình mới điều khiển. Ví dụ như mình muốn nhấc cái tay lên, mình có ý thức rõ ràng mình mới nhấc lên. Nhưng mà trong tay mình mạch máu nó đang chạy thì tự nó chạy, mình không điều khiển được. Thì cái đó do hệ thần kinh trung ương, thần kinh thực vật nó tự nó điều khiển, chi phối hết mọi điều.

[30:23]Nên bộ não chúng ta, chúng ta nhiều khi đang ngồi không ấy, sự thực là nó xử lý thông tin dữ dội lắm á. Nó phản hồi lấy từ dưới chân với mình mẩy của mình đi lên trên để làm gì và nó điều khiển xuống dưới. Cho nên, ví dụ mình không có suy nghĩ những tư tưởng đi, thì bộ não vẫn đang hoạt động. Và cái hoạt động âm thầm của vô thức đó nó kích động cái ý thức chúng ta hoạt động. Thế là chúng ta suy nghĩ điều này, suy nghĩ điều kia. Rồi những cái điều mà chúng ta mắt thấy, tai nghe nó rớt vào trong tâm mình, thế là buộc mình cũng phải tiếp tục suy nghĩ điều này, suy nghĩ điều kia mãi. Cho nên cái khuynh hướng của não bộ là luôn luôn hoạt động liên tục.

[30:56]Những cái tế bào não á, nó có những cái đầu xináp, trong danh từ y khoa gọi là những đầu xináp á, nó nối nhau để nó trao đổi tín hiệu từ cái tế bào não này lan qua những tế bào não khác. Nó cứ lây lan, lây lan. Hễ một cái hoạt động nhỏ cái lây lan, lây lan thành ra toàn bộ một cái chuỗi hết tế bào não này tới tế bào não kia xúm nhau hoạt động rung động lên. Cho nên khuynh hướng của não bộ là hoạt động liên tục. Chính vì vậy mà rất nhiều nền văn minh trên thế giới không bao giờ nói tới thiền định. Họ chỉ nói tới tư tưởng thế này, tư tưởng thế kia, chứ ít ai nói tới thiền định. Những tư tưởng gia mà nói tới thiền định là hiếm mà thuộc về xưa, cổ.

[31:37]Ở đây, chúng ta có một vài cái nhà tư tưởng, nhà hiền triết lớn của nhân loại nói về thiền định. Bên Tây phương có Pythagore là ông tổ toán học. Ông cũng sống đồng thời với Đức Phật á, ông mà đưa ra cái công thức mà tổng bình phương hai cạnh góc vuông bằng bình phương cạnh huyền á. Không biết thầy có nhớ lộn không, đúng không? Gì? Đúng ha, đó là ông Pythagore. Ông đó là có thần thông nha. Ông đó là ông Pythagore đó ông sống đồng thời Đức Phật, ổng sống Hy Lạp và ổng có thần thông. Ổng kêu gọi là luôn luôn tâm không được suy nghĩ. Và ổng có một người học trò lỗi lạc là Joseph cũng là người không bao giờ suy nghĩ.

[32:10]Những người đó có thần thông hết. Đây là điều lạ. Vào trong cái thời đại đó nhiều vị thánh xuất hiện. Thì bên Đạo Ấn Độ cổ, họ tu tập yoga, họ có nhiều người cũng đắc được thần thông, đắc được thiền định. Rồi bên Trung Hoa thì có Lão Tử cũng người có thiền định, đắc thần thông, viết lại cuốn Đạo Đức Kinh, luôn luôn kêu gọi cái thiền định, sự định tâm. Mà lỗi lạc nhất là có Đức Phật, một người mà sự định tâm đã đạt tới tuyệt đối, đó, để gọi là Đấng Giác Ngộ. Thì cái việc mà kêu gọi cái thiền định hiếm hoi lắm. Còn những tư tưởng mà lý luận, giải thích, phân biệt về xã hội, về tâm lý con người thì đầy hết, đầy nghẹt hết.

[32:50]Cho nên là trong cái dòng lịch sử về tư tưởng của nhân loại, thì những cái nền văn minh mà kêu gọi thiền định ít, nhưng may mắn cũng có một số vị và cũng để lại cái dấu ấn trong lịch sử của loài người. Chứ thường là do cái bộ não nó thích hoạt động nên con người ta cũng thích suy nghĩ. Vì vậy mà cho rằng cái sự khám phá, khuyến khích tu tập thiền định của Ấn Độ nè, Trung Hoa nè và nhất là Đạo Phật, chúng ta phải xem đó là một cái phát minh vĩ đại của loài người. Chớ đa phần, chúng ta cứ theo thói quen mà cứ suy nghĩ, phân tích này kia nọ mãi thôi. Ở đây không biết quý Phật tử có xem cái phim Chiến tranh giữa các vì sao chưa?

[33:33]Phim khoa học giả tưởng của Mỹ, Star Wars. Phim này cũng hay. Phim này là khoa học giả tưởng, cho nên trong bộ phim nói về những kỹ thuật cao ghê lắm. Những phương tiện mà phi thuyền mà bay từ cái hành tinh này tới hành tinh kia là những cái vô cực kỳ hiện đại, tối tân, kỹ thuật cao, bây giờ thì mình không có được. Như họ thoát được trọng lực, họ tạo ra được trọng lực, họ bay có thể bay hơn vận tốc ánh sáng, ví dụ như vậy. Những việc mà súng bắn này kia nọ thì thôi. Á, nhưng mà đặc biệt, họ vẫn để lại một cái góc, một cái góc trong cái tác phẩm đó là cho những người hiệp sĩ Jedi á. Những người này là những người mà có cái nội tâm

[34:12]mạnh, có cái tâm linh mạnh, là đánh võ thì bằng nội công, bằng khí công của Trung Hoa, mà bằng cái tâm linh đoán được ý nghĩ người khác, tiên liệu mọi điều, này kia nọ, là có những hiệp sĩ Jedi lại không phải là người mà thích sử dụng phương tiện kỹ thuật cao mà chỉ thích sử dụng cái sức mạnh của nội tâm bên trong. Nghĩa là nguyên cái toàn bộ cái bộ phim đó họ đề cao kỹ thuật cao, nhưng họ lại để dành một cái góc, một mảng quan trọng cho những người, mà đây là toàn là những nhân vật chính thôi. Những nhân vật chính trong phim thì toàn là những hiệp sĩ Jedi, là những người mà sử dụng cái sức mạnh của nội

[34:49]tâm họ gọi là nội công, y như Trung Hoa vậy. Có nghĩa là gì? Là ý những nhà làm phim, cái ý tưởng nhà làm phim cho rằng, cho rằng Trái Đất chúng ta đó, coi vậy chớ từ trước đến giờ không phải là cô độc trong vũ trụ. Đã có nhiều nền văn minh trong vũ trụ đến tiếp xúc với loài người và đã để lại cái dấu ấn của họ, đã trao truyền lại cái nền văn minh của họ cho nhân loại. Khi họ đến Ai Cập thì họ để lại những cái dấu ấn đó về cái tín ngưỡng, về kỹ thuật manh nha ở đó. Họ trao cho cái khuynh hướng của những người Tây phương thích đi về kỹ thuật, nhưng đặc biệt họ đã để lại Trung Hoa hay Ấn Độ về cái nội công, khí công.

[35:30]Nên cho rằng cái nơi Trái Đất mình là nơi tụ hội của nhiều nền văn minh vũ trụ thì ở đây cũng là một cái ý tưởng mình không biết là có hay không có, nhưng chúng ta cũng trân trọng cái suy nghĩ đó. Nên họ không cho rằng cái nền văn minh Trung Hoa, võ thuật, khí công mà mình thấy trong phim Tàu, phim Hồng Kông á, họ không cho đó là mê tín tưởng tượng của người Trung Hoa, mà họ trân trọng, họ xem đó là sự thật và cho rằng nó kế thừa một cái nền văn minh từ trong vũ trụ. Mà cái kỹ thuật đó, hay mình nói cái đạo học, cái nghệ thuật đó, nó đòi hỏi cái nội tâm an tĩnh, nội tâm an tĩnh. Nên vì vậy, cái người mà làm bộ phim Star Wars đó cũng giống như

[36:09]là những bậc đạo sư, những bậc thánh sư đặc biệt trong lịch sử loài người, là những người biết được rằng nội tâm an tĩnh là một điều quý giá, cao cả mà chúng ta phải đi tìm, nó vậy. Tuy nhiên ở đây chúng ta để ý điều này: là cái hạnh phúc của cái nội tâm an tĩnh á, vì nó quá cao cả, cho nên nó đòi hỏi nó có cái giá phải trả xứng đáng với nó, luôn luôn như vậy. Đó là sự công bằng. Còn nếu mà nó không có cái giá xứng đáng phải trả thì nó sẽ là hư rỗng. Nói vậy nghĩa là sao? Nghĩa là thế này: tức là nếu chúng ta chưa có một quá trình bận tâm để đem yên vui, hạnh phúc cho mọi người, chúng ta chưa có làm được điều đó,

[36:56]chưa có công đức điều đó, mà mãi lo đi tìm cái sự an tĩnh nội tâm cho mình, thì đó là thứ nhất, chúng ta rơi vào vị kỷ liền. Đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai là chúng ta sẽ không tìm thấy nó, vì chúng ta chưa có cái đánh đổi xứng đáng. Cái sự an tĩnh nội tâm chỉ có khi chúng ta được đánh đổi bằng cả một đời mình sống hy sinh vị tha cho mọi người. Đây là yếu chỉ quan trọng. Nếu chúng ta tin rằng sự an tĩnh nội tâm là quan trọng thì chúng ta phải đánh đổi điều đó bằng cả một cuộc đời mình sống hy sinh cho mọi người hết, không kể gì tới thân mình, thì chúng ta mới xứng đáng hưởng được cái hạnh phúc của sự an tĩnh nội tâm.

[37:41]Còn nếu chúng ta chưa từng có cái đóng góp, có cái giá phải trả như vậy, có sự đánh đổi xứng đáng như vậy thì chúng ta sẽ không tìm được, hoặc chúng ta tìm được rồi nó sẽ mất. Là sao? Là nếu trong quá khứ hoặc kiếp này, hoặc những kiếp trước chúng ta cũng có làm được một số việc từ thiện vị tha, lợi ích cho chúng sinh, nhưng mà cái tâm chúng ta chưa tuyệt đối, cái công lao đó chưa nhiều, thì đời này chúng ta gặp thiền định, chúng ta đi tìm sự an tĩnh nội tâm, chúng ta sẽ tìm được, nhưng tìm được một chút thôi, một chút nho nhỏ thôi, và một lúc nào đó nó sẽ hết, nó sẽ hết. Chúng ta đừng tưởng rằng thiền định là cái vĩnh

[38:26]cửu nha, vì cái gì nó cũng có nhân có quả hết. Thiền định nó là một cái quả thánh, thì ở đây là nếu cái nhân vô tận thì cái quả là vô tận, nếu cái nhân là hữu hạn thì cái quả là hữu hạn. Rất nhiều thiền sư ở trong một đời đó chứng được thiền định, lên làm thiền sư nổi danh. Nhưng qua một đời sau, rớt trở lại thành một người tầm thường đi. Có khi rớt lại là một cư sĩ tầm thường hẳn luôn. Đây là điều có thật. Tại vì sao vậy? Là vì cái quả làm thánh của vị đó gieo hữu hạn trong những đời trước, không tuyệt đối. Cho nên đời này được đắc định trong một kiếp này, trong mấy chục năm cuối đời đó thành công, nhưng qua đời sau mất, không còn nữa.

[39:13]Mà đó là những người có phước á. Những người không có phước mất ngay hiện đời luôn. Những người không có phước á, ví dụ đoạn đầu đời mình tu mình đắc được định, tới chừng năm, mười năm trước khi chết, cái định biến mất, mình trở thành người loạn động như cũ lại. Đó là do cái phước mình gieo vô hạn, không tuyệt đối, nghĩa là tâm mình không thương yêu chúng sinh trọn vẹn, tức là trong cái việc làm vị tha mình còn tính toán bí mật để tìm danh, tìm lợi cho mình, thì cái định mình tìm được nó cũng sẽ hữu hạn và sẽ biến mất. Ở đây vậy, thì cái chuyện mà kiếp trước qua kiếp sau không ai kiểm chứng được.

[39:47]Ví dụ như chúng ta nói rằng cái vị đó kiếp này đắc đạo, là một thiền sư, khi ông tịch thì chắc ông về cái cõi Phật an vui vĩnh viễn. Thì chúng ta nói chắc ông về an vui vĩnh viễn mình cũng chỉ đoán thôi mà không ai thấy hết. Có ai thấy không? Có ai thấy không? Thì cái người thấy thì người bằng ông đó rồi. Cho nên là chúng ta đoán à vị đó danh tiếng, đắc đạo, tịch chắc về cõi Phật an vui, mình cũng chỉ đoán mà mình không chắc. Hoặc bây giờ như chúng ta nói, là người đời này đắc định, nhưng mà không phải là cái định tuyệt đối, nên đời sau rớt trở lại làm người cư sĩ bình thường. Rồi mình cũng chỉ không có căn cứ, mình cũng chỉ nói với nhau có ai tin

[40:30]có duyên thì tin, không có duyên không tin, chứ cũng không có chắc. Cả hai chúng ta, khi nói hai cái điều cái kiếp sau của một cái vị thiền sư là chúng ta đều không có chắc chắn là sẽ như thế nào. Chúng ta thường dễ tin rằng vị đó sẽ lên luôn cõi trời, cõi Phật ở luôn chờ đợi, hoặc là nói rằng cái do cái phước vị đó hữu hạn, đắc được định trong mấy chục năm của kiếp này, qua kiếp sau mất, trở lại người bình thường, mình cũng chỉ phỏng đoán mà không chắc chắn, không chắc chắn. Nên ở đây nếu nói kiểm chứng thì chúng ta không có phương tiện để kiểm chứng, trừ một vài người có cái nhân duyên. Chúng tôi nói một vài người có nhân duyên là có một số người

[41:07]có nhân duyên đã biết được điều đó, đã kiểm chứng được: à là vị đó đã an trú trên cõi Phật lâu dài, hoặc vị đó đã trở lại cõi người và rất vất vả, thì có một vài người có duyên mới biết điều đó. Mà chúng ta cũng không tiện nói điều đó ra, chúng ta không tiện nói điều đó ra. Là vì sao vậy? Là vì sự thực nếu mà vị đó an vui trên cõi Phật, tồn tại lâu dài thì đó là điều tốt đẹp. Khi mình kể ra đó thì mọi người có tín tâm đối vị đó, tồn tại tiếp tục tu. Nhưng nếu trường hợp có một vị đời trước là một vị thiền sư nổi tiếng nhưng đời sau rớt lại làm người bình thường, mà nếu mình có duyên mình biết điều đó mình kể ra

[41:48]làm người ta mất tín tâm với vị đó, mình cũng mang tội. Thôi để người ta cứ an vui trong niềm tin đó mà tiếp tục tu hành, hổng sao hết. Tuy nhiên chúng ta phải hiểu là trên nhân quả nó có cái giá của nó. Khi nào lòng chúng ta tôn kính Phật tuyệt đối, thương yêu chúng sinh tuyệt đối thì cái thiền định sẽ có tuyệt đối. Còn nếu mình xét thấy trong tâm mình những điều đó chưa tuyệt đối, đời sống này mình chưa có nguyện dâng hết cuộc đời này mình cho chúng sinh, thì nếu sau này mình tu tập có thiền định thì thiền định đó là hữu hạn, không tuyệt đối. Một ngày nào đó nó biến mất, hoặc kiếp này hoặc kiếp khác.

[42:25]Cho nên vì vậy chúng ta phải mở tấm lòng mình cho tới tuyệt đối là vậy. Đó là chúng ta định nghĩa về động và tĩnh như vậy. Giờ chúng ta trở lại với chính con người của mình, thì nơi cái đời sống bình thường này, nơi từng con người của chúng ta, thì chưa có ai đạt được cái nội tâm an tĩnh hoàn toàn, phải không? Trong thực tế, ở đây chúng ta phải thú nhận là cái lý thuyết là như vậy, nhưng trong thực tế chúng ta chưa đạt được sự an tĩnh hoàn toàn, đúng không? Đúng không? Hay có ai đạt được rồi? Đạt được rồi thì giơ tay lên nha. Vì ở đây á, cả cái người ngồi giảng cũng như người ngồi nghe đều chưa đạt được nội tâm an tĩnh hoàn toàn.

[43:10]Rõ ràng nơi chúng ta, chúng ta chưa được an tĩnh hoàn toàn, có khi chúng ta còn bị xao động, mà có khi chúng ta đạt được an tĩnh. Có những lúc chúng ta đi chùa, chúng ta lạy Phật, niệm Phật thấy tâm mình yên tĩnh, hoặc có khi chúng ta tọa thiền, chúng ta thấy tâm mình yên tĩnh. Nhưng mà ngoài những lúc đó, những lúc khác, chúng ta thấy tâm mình xao động. Đó chúng ta là bị thay đổi giữa động và tĩnh, động và tĩnh liên tục như vậy. Ừm. Thì ở đây là chúng ta vì bị duyên nghiệp, vì bổn phận, vì sự bắt buộc của hoàn cảnh, chúng ta phải chấp nhận sự bận tâm, không thể trốn được, không thể trốn được.

[43:50]Người nào mà vội vã trốn thì sẽ rơi vào ích kỷ, là trốn nợ, rồi về sau thất bại.

[44:00]Chúng ta nhớ nói tại sao, ví dụ bây giờ là một người đó là ông chồng trong gia đình, là có vợ có con, mà hoàn cảnh vợ con chưa yên ổn, nhưng mà ông thích tu quá, ông thích tìm sự yên tĩnh của nội tâm quá, ông để bức thư lại: "Em yêu quý, phải không? Mặc dù anh yêu và quý em dữ dội lắm, khủng khiếp lắm, nhưng mà anh phải đi tìm sự an tĩnh nội tâm. Anh giao cho em bảy đứa đó, em ráng nuôi nó, làm gì đó làm." Đi rồi cái cuốn gói đi mất. Thì cái người như vậy là họ trốn cái bổn phận của họ để họ đi tìm sự an tĩnh nội tâm. Thì như vậy về mặt đạo đức mình thấy là sao? Trật, phải không? Trật, không được như vậy.

[44:46]Nó giống hệt như một người đau khổ thiếu nợ quá tự tử chết, y chang nha, hai cái đó y hệt nhau. Hôm trước á có lần chúng tôi có giải thích vấn đề tự tử tội hay phước với cái khóa tu thiền vừa rồi ở Từ Tân. Nói tự tử tội hay phước? Nói không chắc tội hay phước, tùy cái động cơ tự tử là gì. Nếu mình chết để mình trốn cái khổ của mình á thì đó là tội vì trốn nợ. Nhưng nếu mình chết thì cái chết của mình mà làm người khác an vui thì cái đó rất là phước, có phước rất lớn. Cho nên cái tự tử không có chắc tội hay phước. Thì cái việc mình đi tu cũng vậy, hay bỏ trốn vào thất tu cũng vậy nữa. Nếu cái việc mình bỏ đi tu là một vài người buồn nhưng sau này rất nhiều người

[45:27]an vui thì việc đi tu đó tốt, hoặc là mình đi nhập thất tu thiền đó tốt. Còn ngược lại mà mình để cho ví dụ như em yêu quý của mình và bảy đứa con nuôi làm gì đó làm. Ở đây là vì bổn phận, vì duyên nghiệp nên chúng ta phải chấp nhận sự bận tâm không tránh né. Và sao? Và chấp nhận bận tâm nhiều hơn nữa để làm chi nữa? Là ngoài cái bổn phận bắt buộc mình còn ráng làm thêm một số điều phước nữa. Chính cái điều phước này gỡ cái nghiệp chúng ta ra khỏi thế gian này. Nên cái phước quan trọng lắm, làm gì làm, làm phước vẫn là quan trọng. Nên có nhiều người phê bình chúng tôi là khi giảng cứ khuyến khích làm phước

[46:08]hữu lậu, không khuyến khích người ta tu cái vô lậu đó cho giải thoát. Thì chúng tôi mới trả lời thế này: Là sự thực á, cái gọi là phước hữu lậu chứ nó hỗ trợ cái việc tu tập vô lậu, nó là căn bản của cái vô lậu đó, đừng coi thường. Vế thứ hai là khi chúng ta tạo phước mà cứ gọi là hữu lậu như vậy đó, mà nếu chúng ta tu không giải thoát được thì chúng ta có cái vốn phước này để sống. Có vốn để sống. Thì chúng ta vẫn sẽ sống một đời khỏe khoắn thôi. Nghĩa là bây giờ mình chịu cực làm phước, tới già mình sống khỏe, qua kiếp sau mình sống khỏe. Còn hơn cái người đòi cao siêu vô lậu, không chịu làm phước hữu lậu,

[46:48]mà không ngờ cái vô lậu không đạt được mà phước hữu lậu cũng không có để mà sống. Cuối đời già khổ sở vô cùng, qua kiếp sau lang thang lếch thếch. Chúng tôi đã từng gặp, chúng tôi đã từng gặp một cái ông giỏi, trí thức và thích vô lậu thôi không thích hữu lậu. Cả một đời không thèm làm phước gì hết, chỉ thích tu vô lậu, tới về già không chốn nương thân, không chốn nương thân. Cho nên ngồi thấy thấm thía, cho nên chúng tôi chủ trương vậy. Chính cái phước hữu lậu là cái nền tảng tu tập cho vô lậu và chính nó cũng là cái vốn liếng để sống. Vì vậy là trong cái đời thường chúng ta ai cũng còn phải động tâm

[47:26]suy nghĩ vì bổn phận, chúng ta chấp nhận điều đó không trốn. Chẳng những không trốn mà còn chấp nhận nhiều hơn nữa, giống như kỳ rồi chúng ta giảng cái bài nói hơn và kém á là chúng ta chấp nhận chịu cực thêm chút nữa đó để làm phước thì cũng vậy, chúng ta chấp nhận bận tâm thêm chút nữa để làm được những điều phước. Ví dụ bây giờ nói một người cha trong gia đình bận nuôi một người vợ và vài người con, và mình làm đầy đủ bổn phận nuôi vợ nuôi con mình thì không có dư, điều đó không có dư, chết rồi không có phước đem theo. Còn nếu mình làm nuôi vợ nuôi con mình ổn định rồi mà mình ráng thêm chút bận tâm nữa để làm phước giúp mấy người hàng xóm nữa,

[48:05]giúp chùa từ thiện nữa, giúp phòng thuốc Nam nữa, thì ngoài việc trả nợ với vợ con rồi mình còn có phước dư để đem theo. Mà ở đây là chỗ mà Phật tử chúng ta phải làm. Đây là cái khôn ngoan của người Phật tử chúng ta phải làm. Ngay cả người già nhiều khi mình cảm thấy mình xong bổn phận với cuộc đời rồi, con cái đã lớn hết rồi, bây giờ chúng nó nuôi mình rồi, cũng xin đừng ngồi đó mà hưởng, cứ tiếp tục làm phước để mà mang đi qua kiếp sau. Cái phước là phải làm cho tới vô tận, cho tới cái ngày nhắm mắt cuối cùng thôi. Cái ngày nhắm mắt mình nằm trên giường bệnh mình rên hừ hừ hừ hừ rồi, con cái lại thăm ngoắc ngoắc lại:

[48:42]"Con đem ít lít gạo qua cho hàng xóm giùm bố hởm con." Nghĩa là không làm được cũng phải sai bảo con mình làm. Nghĩa là cái gọi là làm phước là làm cho tới chết, tới nhắm mắt vẫn còn làm, nó là như vậy đó. Giống như trong cái truyện mà Thoát vòng tục lụy, Thoát vòng tục lụy có câu chuyện hay về Quốc sư Ngọc Lâm. Thì câu chuyện đó làm chúng tôi nghĩ rằng có cái hư cấu thêm chứ sự thực cũng không hẳn như vậy hết. Nhưng mà tuy nhiên câu chuyện hư cấu về một con người rất là đẹp. Thì cái chết của Quốc sư Ngọc Lâm đẹp ở chỗ này, là ông đi du phương, ông không ở trong hoàng cung để hưởng cái vinh quang của một vị Quốc sư, mà ông đi du phương nơi này qua nơi kia.

[49:20]Thì đến tuổi già, lúc ông đến ghé một cái ngôi chùa nó tàn tạ thì ông khởi cái tâm làm phước là ông muốn cất ngôi chùa này lại, nhưng mà sức cùng lực kiệt rồi. Nhưng ông nghĩ là ông còn một cách để giúp cái ngôi chùa này được trùng tu là ông ngồi đó ông chết. Thế là ông chào mọi người trong chùa rồi ông ngồi kiết già tại đó, ông tịch tại chùa đó luôn. Thì vị Quốc sư tịch tại chùa nào thì cái chùa đó làm sao? Thì thôi quan quân xúm lại mà xây chùa lên liền, thành di tích liền. Cho nên tới chết rồi vẫn còn nghĩ chuyện cất chùa làm phước. Nên câu chuyện đó không biết thực hay hư nhưng là tấm gương đẹp cho chúng ta.

[49:55]Thì chúng ta cũng vậy, phải tâm nguyện làm phước cho tới ngày chết, cho tới khi mà cái chết của mình vẫn đem lại một cái điều lợi ích cho người khác thì rất là hay, rất là đẹp mà câu chuyện về Quốc sư Ngọc Lâm là một tấm gương tiêu biểu như vậy. Cho nên vì vậy là hồi nãy đó chúng ta bận tâm vì bổn phận, mình chấp nhận bận tâm thêm chút nữa để làm phước. Bận tâm đúng là bổn phận thôi, bận tâm thêm nữa là làm phước, rồi đó là tốt. Bây giờ, rồi tranh thủ những lúc mà có thể được, mình lập tức mình buông bỏ vọng tưởng liền, giữ nội tâm thanh tịnh liền. Tức là tranh thủ trong cái động mà lách đi tìm cái tịnh

[50:38]để gieo cái nhân điều đó, gieo gọi là nhân vô lậu. Chúng ta trả bổn phận cuộc đời, chúng ta làm phước hữu lậu, tất cả đó là cái nền. Bắt đầu chúng ta xây dựng cái vô lậu là lách vào những lúc nào đó yên tĩnh, tranh thủ là giữ tâm thanh tịnh liền. Thì những lúc nào mà chúng ta lách được để giữ nội tâm thanh tịnh khi mà chúng ta đang bận rộn trong cuộc đời này? Người xuất gia thì dễ, người xuất gia có thời có khóa, mình dễ sắp cái thời khóa để mình tu tập ngồi thiền, nhưng mà ví dụ người tại gia mà phải bận rộn thì mình lách vào những lúc nào? Ai có kinh nghiệm xin cho biết? Ai có kinh nghiệm xin cho biết là thường quý Phật

[51:20]tử lách vào lúc nào để mà nhiếp tâm thanh tịnh? Lúc coi phim Cảnh sát công lộ là thua rồi, không có nhiếp tâm được. Hay Khang Hy vi hành là thôi cũng chịu chết, không nhiếp tâm được.

[51:37]Qua 12 giờ tối quá, lúc đó giờ ngủ mình cũng tranh thủ ngủ, tranh thủ ngủ. Đừng để mất sức khỏe, không, cẩn thận điều này. Đừng để mất giấc ngủ quá, nó sẽ nguy hiểm bộ não mình. À thì được, nếu mà cảm thấy khỏe thì được, tức là đó là lúc tu thiền, đó là một ý kiến của Phật tử. Rồi có ai có ý kiến gì khác nữa? Hử? Bỏ coi phim. Đó, tấm gương sáng cho Phật tử nha, bỏ coi phim. Rồi gì nữa? Lúc nào nữa? Hử? À được, tốt.

[52:17]Rồi còn chị gì Nhàn nói gì? Chú ý trong công việc làm hả? Chú ý trong công việc làm, cũng là một cái ý. Và còn đây là ý của thầy, ý của thầy. Thì ý của thầy cũng giống như ý của quý Phật tử vậy. Nghĩa là sắp xếp lúc ngồi thiền, ha, giống như đạo hữu Thiện Huệ nói. Rồi bớt coi phim, ừ thôi thầy thì không có bị cái đó. Chỉ lâu lâu đó, thầy nghe mà giới thiệu bộ phim khoa học giả tưởng có tâm linh thì thầy mới đi lùng tìm để về coi thử coi. Coi coi họ suy nghĩ điều gì về tâm linh, về khoa học. Những bộ phim đó thầy coi. Ví dụ The Sixth Sense, giác quan thứ sáu, mình coi thử coi nó là cái gì, ví dụ vậy.

[52:55]Rồi trên đường đi, ví dụ như quý Phật tử đạp xe trên đường hay mình đi xe gắn máy trên đường á thì lúc đó đi làm cái gì? Niệm Phật thôi, tốt thôi có gì đâu, phải không? Lúc đó niệm Phật hay quán thân này vô thường rất là tốt, vậy đó. Mà niệm Phật trên đường còn được an toàn nữa, được chư Thiên che chở mình đi đỡ tai nạn nữa, phải không? Rồi trong công việc làm, ở những công việc nào mà không phải bận tâm quá đáng thì mình có thể vừa làm việc vừa niệm Phật được nữa. Vừa thấy thân này vô thường chứ đừng có chú ý công việc nhiều. Tại vì sao vậy? Là mình tận tụy thôi, chứ mà đừng có chú ý mà gọi là, thầy gọi là một cái dằn ép á.

[53:33]Vì chú ý vào công việc dễ bị dằn ép á. Cho nên mình làm việc một cách bình thản, tận tụy mà giữ tâm thanh tịnh. Nghĩa là mình lợi dụng được những lúc có thể được giữ tâm thanh tịnh, vì đó là cái bổn phận chúng ta. Như hồi nãy mà chúng tôi nói vậy, là khi mà phát hiện được tâm mình động phải buông liền, dù tâm đang nghĩ điều thiện. Điều đó quan trọng. Điều xấu, điều ác phải bỏ liền không nói rồi, ngay cả điều thiện đang suy nghĩ cũng bỏ luôn, phải giữ tâm thanh tịnh. Là vì sao vậy? Vì cái ý niệm thiện tự nó tồn tại ở trong thâm sâu, không cần phải suy nghĩ. Vì chúng ta hiểu đạo rồi, tự điều đó nó tồn tại thâm sâu.

[54:13]Mình giữ nội tâm thanh tịnh để cho đừng có gieo cái nhân động loạn. Còn cái điều thiện chúng ta chấp nhận nó nhưng mà đừng khởi thành vọng tưởng. Đừng khởi thành cái ý niệm có ngôn ngữ rõ rệt, thô. Ví dụ, ví dụ mình đi trên đường, mình nhìn thấy mọi người cái mình khởi cái tâm mình thương yêu mọi người, thì đó là một cái động. Nhưng mà cái động đó nó do cái đạo lý mà mình tích lũy lâu ngày mình khởi lên thì cái tự nhiên đó không sao. Nhưng khi mình đang suy nghĩ là à, mình nguyện thương yêu hết những người mà mình đang thấy xuôi ngược trên đường đây, nguyện như vậy. Rồi lúc đó mình chợt mình nghĩ mình đang suy nghĩ nha, buông liền.

[54:50]Dù cái suy nghĩ đó đang tốt. Vì sao vậy? Vì cái ý niệm từ bi mà hồi nãy vừa khởi nó đang tồn tại đó, mình đâu có bỏ nó đâu. Mình chấp nhận ý niệm đó nhưng mình không suy nghĩ nữa, để nó tự tồn tại tự nhiên trong thâm sâu. Còn trên bề mặt ý thức, mình giữ tâm thanh thản trở lại. Chỉ khi nào mà tâm mình cảm thấy mình bực dọc, ví dụ mình đi trên đường, mình thấy người ta đi lạng lách hoặc đi cái gì lố lăng mà làm mình có thể bực á, thì lúc đó mình lại khởi tâm trở lại. Tâm thương yêu mọi người để nó vượt qua cái bực đó mà tiếp tục đi nữa. Đó, nó là như vậy. Nghĩa là chúng ta tranh thủ lách trong đời sống của mình để giữ được tâm thanh tịnh.

[55:28]Còn mà cái việc chúng ta phải bận tâm với cuộc đời, bận tâm làm phước thì chấp nhận bận tâm. Tuy nhiên, lách giữa cái bận tâm đó vào những khoảnh khắc nhỏ để chúng ta giữ được nội tâm thanh tịnh. Chúng ta nói nó là khoảnh khắc nhỏ, vì sao? Vì thời gian chúng ta bận tâm thì nhiều, mà những khoảnh khắc có được để giữ tâm thanh tịnh thì ít. Nhưng người nào mà trân trọng từng cái khoảnh khắc nhỏ thì sau này sẽ có được những khoảng thời gian lớn. Đó là nhân quả. Đó là nhân quả. Trong cái luật nhân quả nó có cái luật thế này: những cái điều tốt lành mà chúng ta biết quý giá từng chút thì những cái điều tốt lành đó sau này sẽ có rất lớn đến với chúng ta.

[56:12]Ví dụ, chúng ta có một đồng, hai đồng nhỏ nhưng mà chúng ta không xài phí, chúng ta biết quý nó, làm cái việc gì có lợi, có tốt, thì sau này chúng ta sẽ có 1.000, 2.000. Nếu 1.000, 2.000 mà mình biết quý trọng, mình làm việc hợp lý, sau này có 1 triệu, 2 triệu. Nó vậy đó. Còn ví dụ như bây giờ mình có 1 triệu, 2 triệu mình giàu, cái mình thấy một đồng, hai đồng coi thường mình bỏ, không cần, sau này lần lần mình không còn có 1 triệu, 2 triệu luôn, mất luôn. Cũng trong nhân quả, ví dụ như có những người mà họ trồng cây lên có cây ăn trái, rồi khi mà ăn không hết, họ bỏ rớt luôn, họ không cần tới vì họ nghĩ họ dư, sau này cây đó không ra trái nữa, nhân quả.

[56:53]Còn nếu mà họ ăn không hết nhưng họ biết có người khác cần, họ chịu khó lượm hết, bởi vì cái nào của trời đất thì đều quý hết. Ăn không hết nhưng mà vẫn lượm, vẫn hái một cách trân trọng đem tặng người khác thì sinh vào đời nào là đều có hoa quả sum sê hết. Mình biết quý thì nó mới tồn tại và phát triển. Cũng giống như có những người mà vì lý do gì đó họ gọi là kế hoạch hóa gia đình, nhất là những người trẻ mà vì họ lỡ lầm họ phải kế hoạch, họ phải bỏ cái bào thai đi một cách chủ động, thường họ rơi luôn vào cái bệnh vô sinh luôn. Không có con được nữa vì họ đã không quý giá nó và mất luôn. Đó là cái nhân quả nó vậy.

[57:33]Thì ở đây cũng vậy, trong cái việc tu tập, trong cái hoàn cảnh mà chúng ta rất bận rộn nhưng mà chúng ta tranh thủ những cái khoảnh khắc nhỏ để giữ tâm thanh tịnh. Được khoảnh khắc nào mình quý cái khoảnh khắc đó để giữ tâm thanh tịnh. Giữ bằng cái niệm Phật, giữ bằng cách quán thân vô thường, vân vân. Thì sau này chúng ta sẽ có những khoảng thời gian rất dài được nhập thất, an ổn tu hành cả mấy tháng, mấy năm luôn. Đó là như vậy á, nó là nhân quả là như vậy, tự nhiên nó thuận tiện. Ừm. Cho nên ở đây có những lúc mệt chúng ta ngả lưng trên ghế, đừng có ngả lưng nghĩ chuyện tào lao, cứ niệm Phật hay quán thân vô thường đều tốt hết á.

[58:11]Tuy nhiên là trong cái quan trọng á là chúng ta phải chuyên sâu tọa thiền. Đó là điều quan trọng, phải có những giờ giấc tọa thiền chuyên sâu. Mà chúng ta cũng mong mỏi làm sao cái đất nước chúng ta áp dụng được cái thiền định vào trong học đường. Nếu mà trẻ em, học sinh, sinh viên được tập thiền định chính khóa và được học về nhân quả đạo đức kỹ thì đất nước này chuyển mình không bao lâu, sẽ trở thành đất nước vượt bậc siêu việt liền. Vừa rồi trên bài báo Sài Gòn Giải Phóng có đăng một cái tiểu phẩm nhỏ của ông nào đó, thì nói là: "Tiên học văn". Cái ông kia nói: "Đời này là tiên học văn". Cái ông nói:

[58:50]"Đâu có, tiên học lễ". Nói: "Học lễ là làm sao? Là trước phải học đạo đức rồi mới sau học kiến thức". Nói: "Vậy trong trường á là giờ đạo đức thế nào?" Thì nói là: "Giờ công dân giáo dục đó. Một tuần được mấy tiết? Một tiết à. Một giờ chỉ một tiết, mà coi đó là cái môn không quan trọng, môn phụ". Thì ông kia mới nói: "Ủa, nếu mà một giờ chỉ có một tiết mà được coi là một môn phụ thì cái chủ trương mà nói tiên học lễ hậu học văn đâu có đúng. Mình đâu có coi nó quan trọng đâu mà nói là tiên học lễ hậu học văn. Nếu mình nói tiên học lễ hậu học văn là coi đạo đức là quan trọng thì một tuần môn đó phải học được ba tiết bốn tiết,

[59:25]mà cái hệ số nó phải đặt ngang hàng với môn Toán. Cái ứng xử giữa con người với nhau và khi thi phải đặt cái môn đó là môn quan trọng hàng đầu thì mới được gọi đất nước đó là tiên học lễ, hậu học văn". Cho nên rõ ràng chúng ta mất một mảng lớn về đạo đức trong học đường, nên chúng ta mong mỏi một ngày nào đó Nhà nước phải nhìn lại, Bộ Giáo dục phải nhìn lại điều này. Muốn xây dựng đất nước vững mạnh, cái giờ đạo đức phải tăng lên, cái phương pháp dạy đạo đức phải hoàn thiện lại, đưa được nhân quả vào, đưa được thiền định vào thì đất nước chúng ta sẽ là một đất nước vượt bậc. Còn những trường hợp mà có những người mà do

[1:00:00]duyên phước được nhập thất, ví dụ như quý thầy, quý cô mà có một vài cư sĩ cũng được, được cái phước nhập thất tới một vài tháng nào đó chuyên sâu thì đó là cái phước nó đã đến, là do chúng ta đã từng quý từng khoảnh khắc nhỏ để giữ tâm thanh tịnh thì sau này chúng ta sẽ được những khoảng một vài tháng, một vài năm để tu tập thiền định như vậy. Nhưng mà chỉ có một điều là cẩn thận, khi bước vào thất là phải nghĩ tu vì chúng sinh mà tu, thì người đó vào thất không trở ngại. Còn nếu cái người vào nhập thất bế môn mà nghĩ tu cho mình đắc đạo riêng mình thì việc nhập thất sẽ gặp chướng ngại, chúng ta để ý điều đó.

[1:00:36]Với một điều nữa chúng ta cảnh giác nữa là đừng vội vã vào nhập thất khi mà trước đó mình chưa có tạo phước nhiều. Phải tạo phước cho nhiều rồi hãy nhập thất, nhớ điều đó. Bây giờ chúng ta nói qua cái khái niệm về động và tĩnh trong cái nhân cách cuộc sống một chút. Là cái sự điềm đạm cũng là một cái tĩnh, mà sự nông nổi con người cũng là cái cái động. Thì ở đây cái người mà càng lớn tuổi á thì càng điềm đạm, cho nên người ta nhìn cái sự điềm đạm của một người mà người ta đánh giá cái sự trưởng thành, sự chín chắn của người đó. Còn nếu nhìn cái người hiếu động thì người ta biết người này còn còn trẻ tuổi, đó như vậy.

[1:01:17]Thì cái sự hiếu động nó cần cho cơ thể phát triển, nên mấy đứa nhỏ đó cơ thể nó kích động sự hiếu động lắm nên nó phải vận động hoài. Nhờ cái vận động đó mà nó lớn lên được, chứ đứa trẻ mà nó không vận động nó không lớn được. Cho nên người lớn mình bắt đứa trẻ: "Ngồi im nghe con, có khách tới ngồi im", nó khó chịu lắm, không hợp. Cho nên ở đây là cái nhiều khi người lớn cứ bắt con nít phải theo mình nó cũng không có hợp vì cơ thể buộc nó phải vận động. Nhưng mà mình cũng phải tập cho nó điềm đạm dần dần dần dần, chứ đừng có để nó hiếu động nó quen, lớn lên tới cái tuổi đó là phải điềm đạm rồi mà nó còn nhảy lất cất lất cất nữa thì thua, không có được.

[1:01:53]Chúng ta thấy sự vận động nó cần thiết nhưng mà sự điềm đạm nó dưỡng bộ não. Cái sự hiếu động nó cần cho cơ thể phát triển và sự điềm đạm nó để nuôi dưỡng bộ não. Cái văn hóa của Đông phương ngày xưa đó họ tìm được một nguyên tắc vàng, nguyên tắc đó là lấy tĩnh để thắng động. lấy tĩnh để thắng động và họ áp dụng cái này trong võ học, trong chiến tranh, trong quân sự, trong tình báo, trong chính trị, trong kinh tế. Cái nguyên tắc mà lấy tĩnh thắng động, cái tĩnh là cái gì nó điềm đạm, chậm rãi, khoan thai và kín đáo cái đó gọi là tĩnh, còn cái động là cái gì nó bộc lộ, nó lăng xăng, xao động nó gọi là động.

[1:02:35]Thì khi mà ông thầy mà dạy võ cho đệ tử á thì ổng dạy thế, dạy đồ hết. Nhưng mà trong cái đánh nhau với đối phương á ông thầy ổng dạy là điềm đạm, quan sát, tỉnh táo, biết rõ chủ động nhưng mà đánh một cách thâm trầm. Đánh một cách đánh mà như không đánh thì sẽ dễ chiến thắng hơn là mình cứ lốc sốc nghĩa là còi nhào vô đánh tấn công ào ào, cái người đó vậy dễ thua. Còn cái người mà điềm tĩnh, biết tiến, biết thoái đúng lúc cái người đó dễ thắng. Hoặc trong chiến tranh cũng vậy là biết giấu lực lượng của mình. Tức là di chuyển một cách yên tĩnh, biết người, biết ta nhưng mà không bộc lộ, không phô trương lấy cái tĩnh mà thắng được cái động.

[1:03:16]Thấy khi người địch họ kéo quân ầm ào họ xâm lăng mình lấy cái tĩnh, lấy cái tan biến trong rừng, trong núi tức là phân hóa lực lượng địch thì lại dễ thắng. Như trong cái trận mà quân Nguyên, quân Mông Cổ qua nước Việt Nam mình lần thứ ba thì lần này là lần phục thù. Tức là 30 năm trước đánh thua một trận rồi sau đó 27 năm sau đánh lần thứ hai qua thua một trận, 3 năm sau chuẩn bị binh mã kéo qua đánh một trận nữa. Thì lần này vua nhà Trần, vua Trần Thánh Tông, Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông lo thì mỗi lần chiến tranh là phải lo thì hỏi ông Trần Hưng Đạo thì ông Trần Hưng Đạo ông có một số mưu sĩ chung quanh ông rất là giỏi.

[1:03:55]Nên ông vào triều ông tâu là: "Lần này thế giặc dễ đánh." Trong khi kéo qua rần rần theo ba cái đường mà toàn binh mã mạnh, lần này ông nói thế giặc dễ đánh. Vì ổng nhìn sao, ổng nhìn thấy thế đang động, kéo qua với tâm hận thù, với tâm là hiếu thắng. Thì ổng nói tâm đang động, địch đang động nên ta dùng cái tĩnh rất dễ đánh. Mà quả nhiên là trận thứ ba đánh rất là lẹ, phá tan liền. Từ đó là quân Mông Cổ sợ không dám qua lần thứ tư nữa. Đã có một ông vua nghĩ đến trận đánh thứ tư qua Việt Nam nhưng mà ông đó chết vội cái ông con lên kế sợ quá bãi binh không bao giờ dám nghĩ tới việc đánh Việt Nam nữa.

[1:04:30]Ba lần mà nhất là lần thứ ba đánh quá oai hùng vì địch quá động mà ta quá tĩnh nên đánh tan địch liền. Thì trong chiến tranh như vậy, trong tình báo, trong chính trị cũng đều như vậy. Nên người xưa họ nói cái người khôn ngoan là người dùng tĩnh thắng động. Thì cái người mà biết yên lặng quan sát không bộc lộ là cái người bình tĩnh thì cái người này dễ thành công. Còn cái người mà bộp chộp, vội vàng không quan sát, không tỉnh táo chưa thấy chưa gì hết, vội vàng manh động người này dễ thất bại thì trong cuộc sống là như vậy. Rồi một điều nữa là cái sự lăng xăng cũng là một cái thiếu phước. Nên ở đây ví dụ mình nhìn một người đó mình nhìn vào cái đôi mắt của

[1:05:10]họ, mình thấy họ có một cái gì nó an ổn, trầm tĩnh thì mình phải hiểu rằng trong cái tủ họ trong đó có năm, bảy chục cây vàng trong. Nhìn vào đôi mắt họ bình yên lắm, họ không sợ, mai đói rét gì không sợ. Nhưng mà nhìn vào đôi mắt của một người mình thấy nét lo âu còn ở trong đó là mình biết cái lu gạo đang lưng. Nó như vậy, nó sự thực như vậy. Cho nên ở đây cái điềm đạm nó cũng là dấu hiệu của cái phước. Nên đây là một cách chỉ cho quý Phật tử biết bói. Dòm người đó giàu hay không mình nhìn vào cái nét bình an hay cái nét thảng thốt, lăng xăng của họ là biết họ có phước hay không. Ví dụ một cái doanh nhân ông đó mình nhìn vào ổng là ông tổng

[1:05:48]giám đốc, mập bự, cầm điện thoại di động, đi xe hơi đời mới. Nhưng mà nhìn sâu vào đôi mắt thấy một cái nét lo âu thì biết ông này sắp sửa phá sản, nợ không, khó khả năng chi trả. Rõ ràng như vậy. Cho nên tại sao có những đại gia mà ra tòa đó mà mình thấy trước khi mà họ bị bắt bị ra tòa là mặc dù bên ngoài vẫn là một ông giám đốc đi xe đồ ngon lành, nhà cửa sang trọng nhưng nhìn sâu trong đôi mắt cái nét lo âu thảng thốt đã hiện ra. Nhưng cái người mà lăng xăng cũng là dấu hiệu phước bị suy giảm. Ví dụ trong trường hợp chúng ta đang bị rơi vào hoàn cảnh đó, chúng ta đừng lăng xăng vì lăng xăng là càng hao tổn thêm.

[1:06:23]Trong trường hợp đó ráng sám hối thôi. Sám hối lạy Phật, cầu nguyện làm được những điều phước nho nhỏ và chấp nhận nghịch cảnh tới với mình. Bình an như vậy, vậy đó mà từ từ qua nghiệp. Đừng làm thêm việc sai lầm, nhất là đừng có đổ nợ vay tiền đầu này trả đầu kia thì càng chết sớm nữa, cứ chấp nhận. Ở đây là cái tĩnh thường là có ưu thế hơn cái động. Đó là quy luật người xưa đã tìm, tuy nhiên mình đừng có chấp tĩnh rồi trở thành thụ động, nhút nhát và không dám dấn thân. Ví dụ chuyện xảy ra mình nói: "Thôi, tĩnh lúc nào cũng thắng động, cứ ngồi yên chờ." Ngồi yên chờ thì nước lụt thấy trôi nhà mất.

[1:07:00]Nước nguồn mới đổ xuống lật đật mà cuốn gói mà leo nóc nhà mà lấy ghe, lấy đồ mà xúm nhau mà chạy. Chứ lúc đó không lấy tĩnh thắng động nước nó chảy ầm ầm mình ngồi đây chờ một lát. Nên chúng ta biết tĩnh thắng động nhưng mà đừng có chấp cái đó trong những hoàn cảnh không đúng thì không có tiện. Nói tĩnh, nói động rồi thì chúng ta trở lại, chúng ta nói một Đạo Phật vừa thâm trầm mà vừa năng nổ. Là Đạo Phật chúng ta thì thâm trầm, yên tĩnh lắm. Chúng ta thấy Đạo Phật mình không có lăng xăng hoặc là không có chuộng cái sự huyên náo như một số tôn giáo khác. Nên chùa chúng ta thường chúng ta không xây dựng

[1:07:38]nơi khu đông dân cư, mình né né một chút. Còn ở những tôn giáo khác thì vì họ cho rằng có trách nhiệm phải chăn dắt cái tín đồ nên họ phải xây dựng ở nơi trung tâm của khu dân cư. Đạo Phật mình thì chuộng cái tĩnh nên né qua một bên một chút. Nên chúng ta thấy nhìn vô đó mình đánh giá được cái trạng thái tĩnh hay động, cái tính cách tĩnh hay động của tôn giáo. Đạo Phật là tĩnh. Tuy nhiên, trong cái tĩnh đó nó phải có cái sức mạnh tiềm tàng, có sự năng nổ của nó chứ không phải Đạo Phật yên tĩnh rồi trở thành thụ động. Vì rất nhiều trăm năm qua, nhiều ngàn năm qua, chúng ta đã hiểu sai về một Đạo Phật yên tĩnh trở thành thụ động, sai.

[1:08:19]Ở đây chúng ta nhớ một Đạo Phật yên tĩnh, trầm lặng nhưng rất năng nổ. Tĩnh mà động, chớ không có chấp trong cái tĩnh một chiều. Tĩnh mà động nghĩa là gì? Nghĩa là ví dụ khi chúng ta làm Phật sự thì người đệ tử Phật, nói người đệ tử Phật là cả Tăng Ni và Phật tử nha, nói chung như vậy, là chúng ta rất quyết tâm, rất khéo léo khi chúng ta giáo hóa người khác. Ví dụ như chung quanh chúng ta còn nhiều người chưa biết Đạo, chúng ta quyết tâm làm cho họ theo Đạo. Cái quyết tâm đó là sự năng nổ. Nhưng mà cái quyết tâm đó sao, mình làm một cách trầm tĩnh, khéo léo, nhẹ nhàng. Nếu mà nói chữ dụ là mình dụ hồi nào họ không hay.

[1:09:01]Nếu mình giả vờ dùng chữ dụ, mà không phải là dụ, nói theo Đạo Phật là độ. Mình độ họ theo Đạo Phật một cách khéo léo mà họ không hay. Như vậy đó thâm trầm, ví dụ mình tới mời họ đi ăn kem, bữa nào có món ăn mời họ, từ từ nói năm ba câu Đạo Phật họ nghe từ từ từ, tới một ngày nào đó cái mình đưa băng, đưa sách cho họ nghe, họ mến mình cái họ cũng nghe, họ coi cái họ theo Đạo Phật hồi nào họ không hay. Tới khi họ giật mình họ tỉnh lại họ biết bị mình dụ thì họ đã đi quy y xong rồi. Đó đó là thành công.

[1:09:32]Đó là một Đạo Phật như vậy đó, thâm trầm, tĩnh lặng nhưng mà quyết tâm cho bằng được, chứ không bao giờ mà buông xuôi. Nghĩa là chung quanh mình còn một người nào mà chưa biết Đạo Phật thì mình còn quyết tâm độ tới cùng. Chứ mình không nói dụ tới cùng nghe nó kỳ, mình nói quyết tâm độ tới cùng. Mà kể cả những người của đạo khác luôn nữa. Ví dụ gần nhà mình có cái ông đó ông đạo khác, nhưng mà mình thấy ông này tốt, mình cũng quyết tâm là chia sẻ giáo lý Đạo Phật với ổng. Mình không có nghĩa là kêu ổng bỏ đạo ổng theo Đạo Phật, không cần. Nhưng mà làm sao ông ở đạo ổng mà ông vẫn hiểu được Đạo Phật,

[1:10:07]hiểu được nhân quả Đạo Phật thì cái đó là mình thành công. Kể cả người của đạo khác chúng ta vẫn tới gần gũi và độ luôn. Nói độ luôn chớ không có nói dụ hơn, mích lòng. Rồi ví dụ như là trong khi Phật tử với nhau mà khi chúng ta bàn luận đạo lý thì có nhiều điểm mình chưa đồng ý với nhau thì nhớ là chúng ta bàn cãi trong trong ôn hòa, điềm tĩnh, chứ không có tranh hơn thua. Vì nói mà như không nói, động mà không động. Đó là cái phong cách của người đệ tử Phật là chúng ta làm việc Phật sự vậy, cương quyết vô cùng, quyết tâm vô cùng nhưng mà làm trong cái ôn hòa, nhẹ nhàng. Hoặc là chúng ta nói chuyện đạo với nhau vậy, nói mà như không nói gì cả.

[1:10:49]Trao đổi đạo lý với nhau nhẹ nhàng, có điều chưa đồng quan điểm, để đó từ từ giải quyết chứ không có tranh hơn để không chứng tỏ rằng mình giỏi hơn người khác. Cái mà nói để chứng tỏ mình giỏi hơn người khác là cái điều nguy hiểm, cái bản ngã nó tăng lên vì vậy. Ừm. Nên cái mà nói rằng một Đạo Phật thâm trầm, năng nổ là đòi hỏi người đệ tử Phật chúng ta vậy, rất quyết tâm trong việc làm Phật sự nhưng mà làm trong ung dung, đỉnh đạc, không bộc lộ, không khoe khoang, không hiếu thắng. Hiếu thắng là cái động, muốn chứng tỏ mình là giỏi, muốn chứng tỏ mình nổi bật, muốn chứng tỏ mình hơn người đó là động, sai liền.

[1:11:27]Chúng ta làm mà trong cái khiêm tốn, yên tĩnh, thầm lặng mà quyết tâm. Đó là tĩnh mà động, động mà tĩnh, làm mà như không làm. Một Đạo Phật phải như vậy và người đệ tử Phật cũng phải như vậy. Chúng ta phân biệt giữa cái động của phàm phu và cái dụng của Thánh. Vì bậc Thánh thì mình thấy ông đâu có ngồi một chỗ hoài, đâu phải là hễ làm Thánh tức là ngồi kiết già cho tới chết rồi nói ông đó là tĩnh tuyệt đối, không phải. Tâm hồn của vị Thánh thì yên tĩnh tuyệt đối nhưng mà các ngài vẫn bước ra làm việc, vẫn giáo hóa, vẫn độ chúng sinh. Thì cái độ chúng sinh đó là cái dụng khác với chúng ta. Chúng ta lao xao theo chuyện đời là vì cái động, chúng ta là cái động của phàm phu.

[1:12:10]Còn bậc Thánh trong cái thanh tịnh đó khởi lên được điều gì thì cái đó gọi là cái dụng của Thánh. Vậy cái dụng và cái động nó giống nhau nó khác nhau chỗ nào? Thật ra cả hai cái đều giống nhau hết, nó đều từ trong tâm khởi ra hết. Nhưng mà vì tâm chúng ta còn động nên cái khởi nó ra nó thô. Còn cái vị Thánh là tâm yên tĩnh nên cái khởi ra nó tế quá mình tìm không thấy dấu vết. Ví dụ như bây giờ chúng ta cũng tu cái tâm từ bi rồi chúng ta cũng nguyện trong lòng, chúng ta nói trong tâm là: "Con nguyện thương yêu tất cả những chúng sinh trước mặt con như thế này." Cái câu nói đó nó là nó là động.

[1:12:44]Mặc dù cái động rất là tốt nhưng nó là cái động vì nó thô. Còn bậc Thánh á ổng nhìn ổng thương yêu ổng không nói, trong tâm ổng không khởi câu là con nguyện thương yêu nhưng mà tâm đang thương á. Cho nên nó tế hơn nhưng nó vẫn là từ bi. Chúng ta vẫn khởi cái từ bi bằng ý niệm, vị Thánh cũng khởi cái từ bi ý niệm nhưng ý niệm chúng ta nó có ngôn ngữ, nó có chậm rãi nó khởi ra. Còn cái ý niệm của vị Thánh nó nó không có ngôn ngữ mà nó tràn đầy. Nó vô hình, vô tướng, đọc không thấy mà tràn đầy, mà làm cho mọi loài mọi người, kể cả cầm thú đứng gần đó đều thấy dễ chịu. Chúng ta đến gần một vị Thánh mà có lòng từ bi mình nghe tươi mát liền,

[1:13:25]tâm hồn mình được ấm áp, được nương tựa, được che chở liền. Còn mình đến một cái người mà chưa có lòng từ bi, ví dụ như quý Phật tử gần tôi vậy, quý Phật tử thấy khó chịu là vì tâm tôi chưa có từ bi. Nó còn dữ quá. Mà sở dĩ tôi dữ là thực ra là vì Phật tử ăn hiếp nhiều quá, nên dữ. Nên ở đây là cái động của phàm phu và cái dụng của thánh như vậy. Mình nói động phàm phu là cái động tốt á, chứ cái động xấu là mình bỏ không nói rồi. Cái động tốt và cái dụng của thánh nó khác nhau. Nhưng mà tuy nhiên là cái bên thô, bên rất tế và tràn đầy mà rất là tế. Ở chỗ này như thế này, ví dụ khi chúng ta thấy một người dưới

[1:14:07]mình làm điều sai, chúng ta phải rầy, phải rầy để sửa họ. Tại sao phải rầy? Tại vì thế này, là người á mà có ý thức á, mình kêu họ lại mình nói nhẹ nhàng: "Điều này con làm sai." Họ sửa liền. Nhưng có những người mà nói nhẹ nhàng không nghe, phải làm mặt ngầu, phải làm mặt hình sự thì bắt đầu mới sợ. Mà có người làm mặt hình sự cũng không sợ luôn, thì phải làm sao? Phải cầm roi đánh. Mà có người cầm roi cũng không sợ luôn, thì phải làm sao? Phải đem nhốt. Không, đó là như vậy đó, nó là cái trình tự của xã hội. Nên trước hết là Nhà nước phải giáo dục quần chúng. Giáo dục cho quần chúng có ý thức,

[1:14:45]mà có những người không giáo dục thì phải kêu lên cảnh cáo. Ví dụ như công an phạt cái người đó là lần này cảnh cáo anh, nhưng mà không phạt. Nhưng lần sau: "À, anh đã được bị cảnh cáo lần trước, lần này anh vi phạm", bắt đầu phạt. Nhưng mà phạt tiền, mà lần nữa vi phạm nữa, không phạt tiền nữa, bắt bỏ tù luôn, giam luôn. Mà có những tội nguy hiểm, nghiêm trọng là giam cả 10 năm luôn, 20 năm luôn. Cho nên nó là cái tiến trình mà giáo dục và chế tài nó buộc phải như vậy, chứ không có chấp được một chiều, tùy đối tượng như thế nào. Thì ở đây chúng ta cũng vậy. Mình nói với những người dưới mình, như em út, con cái mình vậy.

[1:15:20]Có những người mình nói một tiếng phân tích phải trái, họ biết, họ sửa liền. Nhưng có người lại phải làm mặt ngầu họ mới sợ. Rồi có người có khi phải đánh đòn. Nói giam nhốt thì mình dĩ nhiên không có nhà tù để giam nhốt. Nhưng mà nếu mà đến đánh đòn mà vẫn không sợ, không sửa thì con người hết xài rồi. Người đó là sau này để cho pháp luật xử lý. Nên cái ý thức họ quá kém đi, họ làm người mà ý thức quá kém. Ý thức họ đã gần như thú vật rồi, chuẩn bị gần như thú vật rồi. Nên tới khi mà người ta đã tỏ thái độ quyết liệt về cái sai, mà mình vẫn không thấy cái sai của mình thì người này quá kém. Thế còn thường thường cái người thứ nhất,

[1:15:57]mà người này hơi hiếm, là chỉ cần nói phải trái nhẹ nhàng thì người này nghe. Mà đa phần á, đa phần trên cuộc sống này thì phải hơi làm mặt ngầu một chút người ta mới nghe. Đa phần như vậy. Bản thân chúng ta cũng vậy, hồi nhỏ cũng vậy phải không? Ba má mình phải làm mặt ngầu mình mới sợ không, đúng không? Đó, phải đó mình cứ thú tội trước bình minh đi, nó vậy, hồi nhỏ chúng ta cũng vậy. Thì bây giờ chúng ta cũng dùng những cái biện pháp lần lượt như vậy đối với người dưới mình. Thì trong trường hợp mà cái người phải dùng tới biện pháp làm mặt ngầu mới sửa người ta được, thì người thánh cũng làm mặt ngầu mà phàm phu

[1:16:33]cũng làm mặt ngầu mới sửa người ta được, cả hai đều giống nhau. Nghĩa là ví dụ mình thấy một đứa con của mình sai, mà nó là phải làm mặt ngầu thì mình sao, mình phải phải gầm mặt lên, phải mắng, phải không? Phải rầy, la lớn tiếng. Một bậc thánh mà gặp cái người mà dữ như vậy cũng như vậy luôn. Trong đạo Phật có cái từ gọi là đạo nộ. Cái nộ, nộ là giận dữ đó, cái giận dữ của đạo. Thì ở đây nó khác nhau cái đạo nộ với cái mà phẫn nộ thường tình như thế nào? Thì khi mà chúng ta là người phàm phu, mà khi chúng ta phải làm mặt ngầu để mà tỏ thái độ với ai thì chúng ta bị động tâm, bị giận thiệt. Chúng ta phiền não thiệt. Còn bậc thánh á họ ngầu mặt lên,

[1:17:13]nhưng mà không phải, tâm họ không có gì trổng hết trơn. Nhưng mà vì với cái người đó phải ngầu, nên cái nét mặt họ phải nghiêm khắc lại, hình sự lại, nhưng mà sự thực trong tâm họ trống bốc ở trổng à. Nó khác với mình, mình ngầu lên cái trong tâm mình lộn xộn trong trổng luôn, bốc lửa ở trổng luôn. Nó khác nhau giữa thánh và phàm phu như vậy, khác nhau. Đây quý Phật tử phân biệt được chưa? Cho nên ở đây chúng ta gặp một bậc thánh mà nghiêm khắc, sắc mặt họ gọi là đạo nộ, mình đừng có đánh giá tâm họ phiền não nha, họ đang là thị hiện thôi. Nhưng mà đôi khi có nhiều thầy mình cũng hơi lợi dụng cái chữ đạo nộ đó,

[1:17:45]cũng làm mặt ngầu mà ở trong giận tùm lum trổng, thì cũng hơi bị lạm dụng. Rồi cái tình thương yêu cũng vậy. Ví dụ như khi chúng ta gặp một người quen, thân yêu chúng ta phải biểu lộ tình cảm trong lúc nào đó cần thiết. Chúng ta phải biểu lộ cái sự ân cần, trìu mến thương yêu. Đến nắm tay, chia sẻ, an ủi trong lúc chia tay trong buổi chiều gió lộng ví dụ sao vậy, thì cũng phải có biểu lộ tình cảm. Thì bậc thánh cũng biểu lộ tình cảm mà kẻ phàm phu cũng biểu lộ tình cảm giống nhau. Nhưng mà khác một cái làm sao? Là mình thế là trong buổi chia tay đó lòng mình bùi ngùi đau xót, nhưng mà bậc thánh họ cũng biểu lộ tình thương yêu á mà trong lòng họ tĩnh.

[1:18:23]Nhưng bên ngoài họ vẫn thương yêu, vẫn trìu mến, nhưng bên trong họ không có gì, bên trong vẫn là từ bi bình đẳng và thanh tịnh. Nhưng bên ngoài thể hiện giống nhau không? Thể hiện giống nhau. Nhiều khi cũng ôm hôn thắm thiết bình thường quá hà, nhưng mà cái người phàm phu thì trong tâm xao động bởi tình thương mến, luyến tiếc; nhưng mà người thánh, ví dụ họ ôm hôn thắm thiết mà trong tâm không có gì trổng hết. Nó có trường hợp đó nữa, một sự thị hiện thôi. Vì ví dụ bản thân chúng tôi vậy, nhiều khi gặp một bà cụ già, cụ già bằng mẹ mình vậy, nhiều khi bà cụ cũng Phật tử thuần thành rồi thương mình quá, bà cụ chia tay ra đi bà cụ lại

[1:18:57]ôm chầm lấy thì mình thầy cũng ôm bà cụ, nói: "Thôi kệ, bà già ráng đi ngoan, khỏe." Rồi cái thôi, cái nhưng bà cụ thì bà khóc sướt mướt còn mình thì ít khóc hơn một chút, vậy thôi. Đó, thì nó có những cái khác nhau. Thì dĩ nhiên là chúng tôi thì không phải là thánh. Nhưng mà ở đây chúng tôi nói phân biệt chút xíu để vậy, để chúng ta thấy cái động của phàm phu và cái dụng của thánh như vậy. Bây giờ chúng ta qua nói cái ý nghĩa về động và tĩnh trong sự vận hành của vũ trụ vậy. Trong vũ trụ này, có những sự vật, những sự việc á phát triển nhờ vận động. À ví dụ như đứa trẻ nó phải vận động, cơ thể nó mới lớn.

[1:19:36]Hoặc là ví dụ như là gió thổi cái cây nó lay lay như vậy, chính gió thổi cây lay lay cũng là làm cây vận động để cây lớn đó. Nếu không có gió, cây sẽ không lớn như vậy. Cho nên ngoài những yếu tố là ánh nắng nè, không khí, nước, phân, xin thưa là cái sự xao động của gió cũng là một yếu tố làm cây lớn đó. Nhưng mà có những sự vật, sự việc thì nhờ yên tĩnh mà phát triển. Trong vũ trụ này nó có cả hai mặt. Cho nên có cái câu mà châm ngôn của bên Tây phương là: "Đá lăn mãi không mọc rêu." Tức là cục đá nó phải để yên trong một chỗ ẩm á, từ từ rêu mới mọc. Còn nếu cứ thả lăn lăn lăn hoài thì không có mọc rêu.

[1:20:12]Giống như Việt Nam mình có câu gì tương tự gì quên mất rồi ta? Cái gì mà không có nuôi dưỡng lâu ngày thì cũng không có thành công đó, không có ấp ủ lâu ngày không có thành công, không có xuất hiện được. Bên Tây phương thì có: "Đá lăn mãi không mọc rêu." Có những cái vì trong cái yên tĩnh từ từ nó thành tựu. Ví dụ như chúng ta làm sương sa hay yaourt để yên á, từ từ nó thành, chứ mình cứ lắc thì nó không thành. Hoặc là như bê tông á, trộn bê tông người ta phải đừng cho nó kết dính bằng cách phải giữ cho nó động. Hễ mình để yên cái nó đặc cứng lại liền. Thì có những cái như vậy, nó phát triển nhờ vận động,

[1:20:43]có những cái nó phát triển ở trong yên tĩnh. Thì ở đây nó cũng tạo thành hai cái trường phái: là bên Tây phương á họ lại chủ trương là giúp con người phát triển bằng cách vận động. Họ tạo ra những trò chơi điện tử cho trẻ em ngồi vận động đầu óc, nghĩa là bấm điện tử và xử lý cho thật nhanh để tập cho nó nhanh nhạy đầu óc, là họ chủ trương như vậy. Còn bên Đông phương á chủ trương cho đứa trẻ phát triển bằng cách gì? Giữ cho nó yên tĩnh. Là những gia đình mà họ biết về khí công, biết Thái Cực quyền là từ nhỏ dạy con ngồi luyện nội công rồi. Đánh Thái Cực quyền, những bài quyền mà đánh chậm chậm

[1:21:20]chậm chậm, rồi hoặc là đứng yên tĩnh hít thở, hoặc là ngồi kiết già mà dẫn khí đi để rèn luyện nội công. Mà đúng là những đứa nhỏ đó trở thành phi thường. Ở đây cái nguyên tắc mà tĩnh thắng động một lần nữa lại được xác minh, được xác chứng, là cái lối mà luyện nội công của Trung Hoa đó, họ luyện trong yên tĩnh, sau này họ thành con người phi thường. Còn cái lối mà luyện ngoại công của Tây phương á là luyện cơ bắp, luyện bằng cách vận động á thì họ thành tựu đến một mức nào đó thì bị giới hạn trở lại, giới hạn lại. Như chúng ta nghe nói mà cái kỷ lục nhảy cao của Olympic là hai thước mấy, hai thước ba, hai thước mấy phải không?

[1:21:58]Kỷ lục nhảy cao, cái kỷ lục về nhảy cao của thế giới. Nhưng mà từ ngày xưa, có những ông cụ già nhảy qua khỏi nóc nhà thì họ nhảy khoảng năm thước như vậy. Thì cái kỷ lục đó là nhờ toàn luyện nội công mà có chứ không phải nhờ luyện ngoại công. Vì luyện ngoại công thì mình đạt kỷ lục thế giới hết mức rồi là hai thước mấy, nhưng mà những cái người mà họ biết phi thân trong võ thuật của Đông phương họ nhảy năm thước mấy, khiếp như vậy. Nghĩa là họ có thể ôm cắp một vật nặng hay cắp một người nhảy lên nóc nhà, nhảy qua nóc nhà họ chạy đi luôn. Mà chuyện đó có thực, là do cái lối luyện trong cái tĩnh, yên tĩnh mà thành tựu.

[1:22:34]Còn cái lối luyện động coi vậy chứ nó hạn chế. Nên ở đây, trong vũ trụ nó có những cái sắc thái là động và tĩnh. Thì có những cái phát triển nhờ vận động, có những cái phát triển nhờ yên tĩnh. Thì cả Đông phương khai thác khía cạnh tĩnh để phát triển, Tây phương khai thác khía cạnh động để phát triển. Thì ở đây mỗi cái nó đều có cái cần thiết của nó, chứ không phải là bên nào dở, bên nào hay. Tuy nhiên, cái tĩnh để luyện đi sâu xa hơn, đi xa hơn. Mà trong cái tĩnh đó thì thiền định chính là con đường mà đi tìm cái tĩnh tuyệt đối. Thiền định đi tìm cái yên tĩnh tuyệt đối. Nơi cái yên tĩnh tuyệt đối này, cái người hành giả

[1:23:17]phá được chấp ngã của mình để rồi thành tựu được tất cả, trở thành toàn thể vũ trụ, toàn thể vạn hữu, toàn thể chúng sinh. Nên đây là một lý tưởng rất là cao. Khi mà họ thành tựu được cái thiền định tuyệt đối rồi thì họ trở thành một đấng giác ngộ, biết tất cả, thương yêu được tất cả. Nên cực kỳ của cái tĩnh biến thành cái cực kỳ của cái gì? Bao hàm hết mọi cái vận động trong vũ trụ này. Đó là cái lý thuyết rất là đẹp của đạo Phật. Dĩ nhiên là hiếm người nào đạt được. Mà đó là con đường của đạo Phật, mà con đường của chúng ta đang đi. Hôm nay chúng ta trao đổi với nhau về cái đối lập giữa động và tĩnh để chúng ta nhìn

[1:23:57]hai mặt vấn đề mà chúng ta biết áp dụng trong sự tu hành của mình, lách giữa cái động để tìm cái tĩnh, lấy cái tĩnh làm cái cốt lõi để mà giữ được cái động mà hành xử cái động, vân vân. Có ai hỏi gì thêm không? Mời mời lên đây hỏi. Dạ kính thưa thầy. Con có đọc qua quyển sách Trở về thiên đàng thì trong đó có nhân vật Vũ có nói có đoạn như thế này, con chưa hiểu. Là nói là: Ông muốn đi tìm cái hạnh phúc đích thực và cái lẽ sống tuyệt đối. Thì con hỏi thầy hai cái đó nó có không? Hay là một cái cụm từ để giả tạo cho người ta mơ màng tìm đến? Mà có một triết gia nói câu thế này: Mọi con người sinh ra trên đời này đều có một cái khổ riêng tư và mất mát.

[1:24:46]Nó có đối lập với nhau không? Cảm ơn anh. Để hỏi cái nhân vật Thái Vũ đã nói những câu đó thì mình phải đi tìm cái tác giả, chứ còn ở đây thì chúng tôi cũng không có biết. Tuy nhiên thì chúng ta có thể hiểu như thế này một chút: Mọi chuyện trong đời này nó không bao giờ nó là hoàn hảo, nó tương đối phải không? Hễ cái tốt thì có cái xấu, cái xấu có cái tốt. Ví dụ cái người đó có nhân cách cao cả nhưng mình ở gần mình cũng phát hiện vài cái nhược điểm nho nhỏ. Nó là con người vậy. Rồi cái hạnh phúc chúng ta tìm được bên cạnh nó cũng vài một cái mất mát, một vài cái sự phải đánh đổi. Ở trong cuộc sống này mọi cái nó không hoàn hảo,

[1:25:24]nhưng mà không hoàn hảo đối với những con người bình thường, còn đối với những người phi thường, họ luôn luôn khát khao tìm cái gì thật là hoàn hảo, thật là tuyệt đối. Mà chính Đức Phật chúng ta là người đi tìm cái đó và Ngài đã tìm được. Thì tâm trạng của Thái Vũ là vậy. Giữa một cái cuộc sống mà lao xao, sống động người ta tương đối quá, cái tốt cái xấu nó bằng nhau quá, thì Thái Vũ muốn đi tìm một cái tốt nó chiếm ưu thế trong cuộc sống này. Cái hạnh phúc thực sự nó không phải là cái giả dối, cái phải đánh đổi nhiều, mà cái gì nó trọn vẹn hơn. Nên cái lý tưởng và đi tìm không tìm thấy được nơi cái đạo Kitô,

[1:26:00]nên Vũ đã lang thang đi tìm nơi này nơi kia cho tới ngày gặp được cha Độ. Và mình muốn hiểu hơn được vấn đề này thì mình cố gắng đi kiếm địa chỉ của Thái Vũ và cha Độ mình bàn thêm, còn ở đây thì mình không có biết rành lắm. Thì không biết ai viết cuốn đó thì mình đi tìm lại mình hỏi lại ha. Rồi. Còn cái trong đời mà ai cũng có một cái mất mát, đau khổ thì thường thường chúng ta thấy như vậy, thì chúng ta nói nó đều có cái giá. Chúng ta nói mọi điều luôn luôn phải dựa vào luật nhân quả. Chúng ta có mất mát, có đau khổ nhiều, ít hầu hết đều do cái nhân quả đời trước. Chúng ta gieo cái nhân nhiều thì quả nhiều, gieo nhân ít quả ít.

[1:26:37]Có những người mà sống thánh thiện từ nhiều kiếp, đời này họ sinh ra họ an vui nhiều và cái đau khổ rất ít. Còn nếu mà đời trước chúng ta hơi chịu khó quậy một chút thì đời này mình hơi gặp rắc rối một chút, nói vậy thôi. Nên nó có sự đánh đổi và khi mình vững tin nơi luật nhân quả rồi thì cái vấn đề còn lại là chúng ta cố gắng làm điều tốt thôi, làm điều lợi ích cho người khác. Còn cái gì đến với mình, những mất mát khổ đau đến với mình là không bận tâm nữa. Chúng ta chỉ bận tâm là mình có gây mất mát, đau khổ cho ai hay không, hãy đem được niềm vui cho ai hay không thôi. Còn cái gì đến với mình, bình thản chịu đựng ha.

[1:27:13]Người bị hồn ma nhập vào ra một cách dễ dàng là do nghiệp duyên gì? Có nợ với người đó, tức là đời trước có oan trái, có nợ. Và sẵn đây chúng ta nói luôn là trường hợp cái bệnh ung thư á, bệnh ung thư là bệnh mà những tế bào phát triển một cách tự do, không thuốc, không phương pháp nào kiềm chế được nó hết. Nó giống như một cái sinh vật nào nó dính trong người mình nó tự nó phát triển luôn. Thì xin thưa, đó chính là cái tâm linh của những chúng sinh mà mình đã ăn đó. Ví dụ cái người họ ăn mặn nhiều quá, ăn tôm, ăn cá nhiều quá thì chúng ta nhớ là tất cả chúng sinh đều chấp thân. Cái người chết rồi đó vẫn bám theo cái thân mình mà

[1:27:49]đi, thì những con vật nhỏ nhỏ, con tôm, con cá, ăn thịt này kia nọ nó vẫn đi theo cái thân của nó, mà cái thân đó nó chui trong bụng mình mất rồi thì nó đi ra rồi, nhưng mà những con vật nó ở lại.

[1:28:22]Ngày trung thu nơi ngôi chùa thân yêu, nhìn trăng lên bên lưng đồi cheo leo, nghe tiếng kinh bay theo làn mây chiều.

[1:28:35]Ngồi gần nhau cho tâm hồn tìm ra, lòng từ bi lan trên ngàn đường xa. Thấy ta là ngọn gió qua cây lá, là suối reo quanh khe đá sa bờ.

[1:28:52]Trong đêm trăng xin nhớ lời Phật trao, tâm an vui theo chánh pháp nhiệm màu, đời chóng qua như những lần thay áo, sóng vô thường giục cơn cuốn mau.

[1:29:09]Ngồi lại đây cho tay tìm bàn tay, tình anh em không bao giờ đổi thay, dù mai xa trên muôn ngàn chân mây, lòng xin luôn luôn ghi khắc đêm này.

[1:29:42]Ngày trung thu nơi ngôi chùa thân yêu, nhìn trăng lên bên lưng đồi cheo leo, nghe tiếng kinh bay theo làn mây chiều.

[1:29:55]Ngồi gần nhau cho tâm hồn tìm ra, lòng từ bi lan trên ngàn đường xa. Thấy ta là ngọn gió qua cây lá, là suối reo quanh khe đá sa bờ. Trong đêm trăng xin nhớ lời Phật trao, tâm an vui theo chánh pháp nhiệm màu,

[1:30:20]đời chóng qua như những lần thay áo, sóng vô thường giục cơn cuốn mau.

[1:30:29]Ngồi lại đây cho tay tìm bàn tay, tình anh em không bao giờ đổi thay, dù mai xa trên muôn ngàn chân mây, lòng xin luôn luôn ghi khắc đêm này.

[1:30:46]Lòng xin luôn luôn ghi khắc đêm này. Lòng xin luôn luôn ghi khắc đêm này.