[0:09]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:24]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:37]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:50]Mời quý Phật tử ngồi xuống.
[1:05]À Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:12]Cái vụ ký tên ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam thì làm chưa? Chừng nào? À à. À thưa quý quý quý thầy, cùng quý Phật tử, hiện nay chúng ta đang phát động chương trình ký tên ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam. Thì một lát nữa có ai đưa để ký tên á, mời quý Phật tử tham gia ủng hộ nha.
[1:40]Một lát nữa mình nói, một lát mình nói điều đạo lý đó một chút. Hôm nay chúng ta nghe tiếp Bát Nhã Tâm Kinh bài thứ tư. Hôm trước chúng ta đang nói về Thức uẩn, thì hôm nay chúng ta nói tiếp. Chúng ta biết rằng để thấy cái uẩn là không thì chúng ta phải biết cái uẩn đó rất rõ. Mà khi biết nó rất rõ rồi mà chúng ta không còn lệ thuộc vào nó, vượt qua khỏi nó, thấy nó là vô nghĩa thì chúng ta mới được quyền thấy cái uẩn đó là không, chứ không có phải khi không nói ngang nói đại nó là không. À cái gì nó cũng phải có cái lý, cái tình chứ không phải nói đại. Đây là cái chín chắn của một người học trí tuệ Bát Nhã,
[2:31]vì có thể chúng ta bị bắt chước một cách vô lý và lố bịch. Chúng ta nghe nói rằng cái gì cũng không, nên bắt chước hễ ai nói đưa ra một khái niệm nào chúng ta liền gán cái chữ không cho khái niệm đó, và tưởng rằng mình như vậy là mình giỏi, nhưng không ngờ như vậy là lố bịch, kiêu ngạo, là là ẩu và và tổn công đức nhiều lắm. Ví dụ như những chúng sinh ở trước mặt chúng ta cũng vậy, là những người mà ta phải thương yêu cái đã, nhưng mà ta chưa hề thương yêu được họ mà đã nói, "Ờ, chúng sinh nào cũng là không." thì như vậy chúng ta mang tội rất nặng vì chúng ta tổn hại lòng từ bi, đồng thời mang thêm cái tội khinh thường con người.
[3:20]Cho nên chữ "không" phải sử dụng hết sức là cẩn thận. Nên ngay cái câu đầu khi mà nói rằng, "Bồ Tát thực hành trí tuệ Bát Nhã thấy năm uẩn là không." thì phải có cái lý, có cái tình chứ không phải nói đại. Và cái lý, cái tình đó ở đây chúng ta phân tích trong ba lần trước là vị Bồ Tát hiểu biết mỗi uẩn là cái gì, và cái sự chứng ngộ của mình vượt ra khỏi từng uẩn, không bị lệ thuộc bởi từng uẩn đó, thấy từng uẩn đó vô nghĩa vì mình có một cái đời sống khác, một hạnh phúc khác, cái chân lý khác không lệ thuộc vào uẩn nên mới dám nói thấy uẩn đó là không. Nhưng mà trong các uẩn đó thì cái khó nhất là Thức uẩn. Vì sao vậy?
[4:09]Bởi vì Thức uẩn là cái biết rất thanh tịnh. Thật ra nói là thanh tịnh chứ Thức uẩn không hoàn toàn thanh tịnh, mà bởi vì cái hoạt động của Thức uẩn quá nhanh nên chúng ta tưởng là Thức uẩn không có dao động, lúc nào cũng hằng hằng bất biến. À ví dụ như là ánh sáng vậy, chúng ta bật điện, ánh sáng tràn ngập căn nhà trong tức khắc, à và chúng ta cứ nghĩ rằng là ánh sáng là lúc nào cũng thường xuyên hiện hữu, không có lay động. Nhưng mà với những thiết bị khoa học cực kỳ tinh vi, người ta mới đo được rằng vận tốc ánh sáng là khoảng 300.000 km/s. Chứ còn nếu với với con mắt thường, chúng ta vẫn tưởng là ánh sáng không có đi,
[4:56]không đến, lúc nào cũng có sẵn, nhấn nút là có liền, không đi không đến. Nhưng mà chỉ với những cái thiết bị cực kỳ tinh vi mới biết ánh sáng có đi, có đến. Thì Thức uẩn cũng vậy. Thức uẩn cực kỳ nhanh, cho nên trong cái nhanh đó chúng ta tưởng Thức uẩn là hoàn toàn thanh tịnh. Ví dụ như khi mắt chúng ta nhìn thấy mọi vật mà mình không có vọng tưởng, không suy nghĩ, nhưng mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, tâm vẫn tỉnh táo biết rõ thì cái trạng thái đó chính là Thức uẩn.
[5:30]Và nghĩa là không lệ thuộc vọng tưởng, không lệ thuộc vào ngoại cảnh. Ngoại cảnh có thể tối, có thể sáng, có thể màu xanh, có thể màu đỏ. Và có thể lúc đó không có suy nghĩ gì hết, nhưng cái biết vẫn tồn tại, vẫn thanh tịnh thì đó chính là Thức uẩn. Vì Thức uẩn quá vi diệu, quá thanh tịnh nên hầu hết là nhiều vị tu hành đến chỗ này rồi cho là cứu kính. Một điều nữa là thế này, là khi mà tâm ta thanh tịnh, vọng tưởng lắng xuống, tưởng ấm không có hoạt động, hành ấm cũng thanh tịnh, lắng dần lắng dần thì Thức uẩn, như chúng ta biết là một cái biết thanh tịnh, thì lúc đó khi vọng tưởng không còn thì cái biết đó càng lúc càng vi diệu, biến thành trực giác thần thông luôn.
[6:23]Chúng ta biết được những điều mà trước đây chúng ta không biết được. Chúng ta nhìn ra được nhiều điều trong cuộc sống này, chúng ta nhìn được nhiều điều trong cái tâm hồn con người cũng như nhìn vào những cái đạo lý bí ẩn của vũ trụ, mình lại từ từ thấy ra hết. Cũng chính cái Thức uẩn này đủ khả năng làm điều đó vì đó là cái biết. Nghĩa là chưa đợi chứng tới cái mức độ mà vượt qua khỏi Thức uẩn, chỉ ngang chỗ tâm thanh tịnh thôi mà Thức uẩn đã phát huy cái diệu dụng cùng cực lạ lùng. Vì thế, cái người mà tâm thanh tịnh, cái biết nó phủ trùm và cái biết nó thấm sâu vào trong mọi vấn đề của cuộc sống này tạo thành cái trực giác,
[7:04]tạo thành cái thần thông thì chúng ta cứ tưởng mình trở thành thánh. Nên á, ví dụ thấy Sắc uẩn là không: dễ. Khó hơn là thấy Thọ uẩn, tại vì Thọ uẩn là vô hình, chi phối tâm hồn chúng ta rất mạnh mà mình tu rất cao rồi mới vượt qua được Thọ uẩn, thấy Thọ uẩn là không: khó hơn. Thấy Tưởng uẩn lại khó hơn gấp ngàn lần. Rồi thấy được Hành uẩn là không: khó hơn gấp triệu lần. Rồi ngang tới Thức uẩn: hầu hết chịu thua, hầu hết chịu thua. Nghĩa là trong vũ trụ này, chứ chúng ta không nói trên hành tinh này, tại hành tinh này không được mấy người đâu, khắp trong vũ trụ này tất cả những người đạo sĩ của
[7:45]vũ trụ đấy, của thiên hà hết thiên hà này tới thiên hà kia, không nói riêng Trái Đất đâu, tu tới chỗ mà Thức uẩn thanh tịnh rồi đều tưởng mình chứng đạo hết, bởi vì giống như mình thấy được vũ trụ rồi. Nhưng không ngờ vẫn chưa phải. Đến chỗ này rồi chúng ta mới biết Phật đạo cao siêu là vậy. Chỉ đến khi nào có những vị Phật xuất hiện, tiếp theo đó là những vị A La Hán chứng đạo, những vị đó mới thật sự thoát khỏi Thức uẩn để có thể đi vào trong cái bản chất cuối cùng của vũ trụ, nghĩa là trong một giọt nước mà nắm hết vũ trụ ở trong đó. À đây là điều, nghĩa là một hạt bụi mà thấy hết được vũ trụ luôn, thì lúc đó là phải đến Phật với Phật mới
[8:26]hiểu được, còn người phàm phu không hiểu được. Mà vì sao như vậy? Vì sao nó khó vượt qua như vậy? Bởi vì cái Thức uẩn là tới đó hầu hết người ta không còn đường đi nữa. Bởi vì cái biết thênh thang, mênh mông trùm phủ rồi, mà cái gì cũng biết, người ta tưởng ngang đó là đã chứng đạo viên mãn rồi. Nhiều khi chúng ta ngồi đây chúng ta tu tâm thanh tịnh, mình hướng tâm về một người nào cái mình biết về người đó liền, người đó đang làm cái gì, đang nghĩ cái gì liền. Thì chúng ta cứ tưởng vậy là mình chứng đạo. Không, đó cũng chỉ là diệu dụng của Thức uẩn thôi.
[9:03]Ở đây đó, thức uẩn tuy có cái gốc ở não bộ, tức là vì là cái biết, cho nên vẫn dính với não bộ chúng ta khi chúng ta còn sống. Chỉ trừ khi chúng ta chết, cái não bộ hoại thì cái linh hồn, cái thần thức thoát ra khỏi thân, lúc đó thức uẩn mới không cần dựa vào cái bộ não này nữa. Còn khi chúng ta sống thì thức uẩn vẫn có dựa vào bộ não này. Nhưng mà dù dựa vào bộ não, nhưng nếu tâm ta thanh tịnh thì thức uẩn vẫn phủ trùm cả trời đất. Mà hôm nãy chúng ta nói á, cái mức độ phủ trùm của hành ấm á là cả trời đất này, còn thức uẩn phủ trùm cả một thái dương hệ này chứ không phải là ít. Nên cái người mà họ đạt được cái hành uẩn thanh
[9:53]tịnh, còn lại cái thức uẩn là cái biết phủ trùm thì họ đều có một cái cảm giác giống nhau là tâm mình phủ trùm như cả một thái dương hệ. Cái phủ trùm thái dương hệ đó nó không phải là một ảo tưởng đâu, họ biết nhiều chuyện. Nên các thiền sư hay nói câu thiền ngữ bí ẩn mà nhiều khi chúng ta không hiểu. Nhưng sự thực là các ngài nói cái điều các ngài thấy chứ không phải bí ẩn. Ví dụ như câu nói thế này, có một người hỏi là ừm: "Thế nào là Phật?", hay "Thế nào là ý tổ sư?". Thì cái vị thiền sư trả lời: "À, là cầm cái gậy khều mặt trời, mặt trăng". Mình nghe nói câu nói không ăn nhập: "Ủa, nói thế nào là Phật, hay thế nào là ý tổ sư từ Ấn Độ sang,
[10:38]tại sao lại trả lời là cầm cái gậy khều mặt trời, mặt trăng?". Tức là cái gậy các ngài nắm trong tay nó ngắm ngắn vậy, nhưng mà ngài đưa lên khều cái tới mặt trời, mặt trăng. Thật ra cái đó không phải là không phải các ngài nói chơi, mà các ngài nói cảnh giới của tâm, ngài thấy sao ngài nói vậy, vì các ngài thấy tinh tú trời đất trong tâm mình hết, vì thức uẩn lúc đó nó phủ trùm. Nên cảm thấy nằm trong tầm tay của mình, thấy rờ là tới. Nên các ngài không nói chơi, mà vì chúng ta không đạt cảnh giới đó nên mình tưởng các ngài nói chơi, hay nói bí ẩn, chứ các ngài không có giấu gì, nói thì nói ra hết nhưng mà mình không hiểu được vì mình không tới thôi, ừ.
[11:16]Nếu mà không có Phật xuất hiện thì hầu hết các bậc thánh, các bậc đạo sĩ chỉ đạt được cái thức uẩn mà phủ trùm cả cái tinh hệ liền cho là đắc đạo Niết bàn viên mãn, rồi an trú trong cái định đó vài triệu năm, rồi sau đó thoái bộ lui xuống trở lại. Nhưng mà chỉ đợi khi có Phật xuất hiện là do Đức Phật dạy ta cặn kẽ, rồi lúc đó ta chứng tới đó rồi, gặp Phật trình, Phật bảo: "Chưa!". Nhờ vậy đó mà vị đó nỗ lực dụng công thêm cho tới cái ngày vượt khỏi thức uẩn để chứng luôn A la hán. Nên chỗ này, nếu không có một vị Phật xuất hiện, tất cả những vị thánh đều đứng ngang đó hết. Và cái thứ hai nữa là nhờ có Phật xuất hiện mà chúng ta có lòng tôn kính Phật,
[12:05]nên khiến chúng ta có cái phước để có thể đắc đạo vượt khỏi thức uẩn. Còn khi mà không có Phật xuất hiện, chúng ta không có người để tôn kính, nên chúng ta không có cái phước để bước thêm tới cái thánh vị cao hơn nữa. Nên cái lòng tôn kính Phật rất là quan trọng. Nhưng mà chúng ta không may mắn, chúng ta xuất hiện trong lúc này không có Phật, vì vậy thường chúng ta ít có tôn kính ai, hay là không có lòng tôn kính Phật đầy đủ, vì vậy người đời nay khó tu là vậy đó. Nên để bổ sung cho cái sự thiếu may mắn của chúng ta thì chúng ta lúc nào trong tâm cũng phải nuôi dưỡng lòng tôn kính Phật tuyệt đối.
[12:44]Nhớ như vậy. Là dù không gặp Phật ra đời, nhưng mà trong tâm ta lúc nào cũng tôn kính Phật tuyệt đối. Một ngày phải chịu khó bỏ ra một ít thời gian, ít nhất là phải lễ Phật mười lễ với tất cả tấm lòng của mình, với tất cả sự thiết tha của mình, còn ai có thời gian thì lễ nhiều hơn, rất là tốt. Nhớ như vậy. Chúng ta lạy Phật với tất cả lòng tôn kính mà mỗi ngày thấm thấm thấm thấm đến cái ngày nào mà khi lạy xuống, chúng ta nghĩ vì Phật chúng ta chết, chết dễ dàng liền, không sợ thì lúc đó là bước vào cửa được, làm đệ tử Phật thật sự được. Ừ, chứ còn cái ý niệm đó chưa xuất hiện thì coi vậy chứ mình
[13:27]vẫn đứng ngoài cửa, chưa phải thật sự là đệ tử của Phật. Dĩ nhiên Phật chẳng bắt mình chết đâu, nhưng mà tự mình cảm thấy thân tâm này, cuộc đời mình thật sự mình dâng hết cho Đức Phật, đặt vào bàn tay của Đức Phật. Sống là sống vì Phật mà sống, chết vì Phật mà chết. Và điều mà Phật muốn mình là làm cái gì? Là thương yêu chúng sinh. Cho nên vì vậy vì tôn kính Phật, vì dâng cuộc đời của mình cho Phật nên chúng ta sẽ thương yêu nhau, thương yêu tất cả chúng sinh. Được không? Được không? Cười mỉm chi không à, nghi quá, nghi ngờ.
[14:08]Khi một vị đại Bồ tát hay một vị đại A la hán mà chứng được vô ngã, chấm dứt vô minh thật sự thì vượt khỏi thức uẩn. Lúc đó mới biết thức uẩn coi vậy chứ vẫn còn sinh diệt, vẫn còn đến, vẫn còn đi. Cũng giống như khi một nhà khoa học mà chế được cái máy mà đo được tốc độ ánh sáng thì mới biết rằng thì ra ánh sáng vẫn còn đi, vẫn còn đến, chứ không phải là tuyệt đối là lúc nào cũng có sẵn, không có. Cho nên các vị đại Bồ tát, đại A la hán chấm dứt được vô minh, thoát khỏi thức uẩn mới biết được thức uẩn là sinh diệt. Còn trước đó thì cứ tưởng thức uẩn là tuyệt đối rồi, vì quá phủ trùm, quá có sẵn.
[14:57]Như vậy, đây là điểm khác nhau, thì chúng ta ở mức độ của mình không hiểu nổi những điều này. Nhưng mà chúng ta nghe kinh giảng như vậy thì mình cố gắng học và nguyện trong lòng mình, nguyện với Phật là xin Phật gia hộ cho con sau này dù cho con chứng được tới chỗ thức uẩn thanh tịnh, phủ trùm có sẵn khắp nơi, con vẫn tỉnh táo để biết thức uẩn đó vẫn còn sinh diệt để con có thể đạt được cái sự vô ngã hoàn toàn, chấm dứt vô minh hoàn toàn để chứng được như Phật đã chứng. Mình có cái lời phát nguyện như vậy thì một kiếp nào đó, không biết 5 kiếp sau, 10 kiếp sau hay 1.000 kiếp sau, mình chứng được tới đó nhưng do cái lời nguyện ngày hôm nay
[15:38]chúng ta không kẹt lại và chúng ta còn cái hướng, vẫn còn nỗ lực tiến lên đi tiếp nữa là nhờ cái lời nguyện như vậy. Còn nếu không, chúng ta không phát cái lời nguyện đó từ bây giờ thì sau này khi mà chứng tới cái cảnh giới đó rồi quá thanh tịnh, quá phủ trùm rồi, là chúng ta tưởng mình đã viên mãn rồi đứng lại thì thật là uổng, uổng bao nhiêu đời tu, mai mốt sẽ thoái lui lại liền. Mình tưởng mình đủ rồi là mai mốt lui trở lại liền. Còn một vị mà đại Bồ tát á, khi mà vượt khỏi thức uẩn chứng được cái bản thể Niết bàn rồi thì ngôn ngữ không diễn tả được, ngôn ngữ không thể diễn tả, nó không còn cái không gian nữa.
[16:18]Ví dụ như khi trong cái thức uẩn á vẫn còn cái không gian, ví dụ người đó nói là: "Cầm cái gậy khều mặt trời, mặt trăng", tức là lúc đó cái tâm vẫn còn cái lượng lớn nhỏ, chỗ này là nhỏ, chỗ kia là lớn mênh mông, là trời đất là mênh mông, tinh hệ là mênh mông, vũ trụ là mênh mông, là tâm mênh mông lớn như thế. Nhưng mà khi cái người mà chứng tới Niết bàn rồi á, nó tắt mất cái khái niệm về không gian nên không còn cái lớn và nhỏ nữa. Lúc đó cái lớn cái nhỏ nó nó như nhau thật sự mà không phải trên lý thuyết, không phải nói rằng chứng Niết bàn rồi à: "Thấy một hạt bụi này cũng bằng cả đất trời, thấy một giọt nước này bằng cả một đại dương"
[16:57]thì câu nói đó là câu nói của lý thuyết. Còn một vị mà chứng Niết bàn á thì nói một giọt nước bằng một đại dương bởi vì trong một giọt nước này các vị biết hết một đại dương. Trong một hạt bụi này các ngài biết hết cả đất trời. Tức là trong một cái hạt bụi này các vị biết hết cả vũ trụ. Có cái biết thật sự, biết rõ vấn đề trong đó hết, cho nên mới gọi là một hạt bụi mà là cả một đất trời, chứ không phải chỉ trong lý thuyết nói: "À, một giọt nước mà bằng cả một đại dương" cũng chỉ là lý thuyết. Nên có ông thiền sư nói một câu rất là hay, nói: "Ai cũng biết là một hạt nước rớt xuống cái hồ, ai cũng biết, nhưng có ai biết rằng cả cái hồ rớt lại vào trong một giọt nước?".
[17:43]Thì cái câu đó là cái không gian nó bình đẳng, nhưng mà câu đó chưa chắc ăn, nhiều khi vẫn chỉ là lý thuyết. Còn một vị Bồ tát thật sự á thì qua một giọt nước biết hết cái hồ có bao nhiêu con cá trỏng, biết hết. Qua một hạt bụi biết hết vũ trụ có những vấn đề gì trong đó, chứ không phải là lý thuyết, biết thật luôn, biết tới sự tới lý của nó hết luôn. Đó. Nên cái khác nhau giữa một vị mà thấy thức uẩn mênh mông khác với một vị đại Bồ tát vượt khỏi thức uẩn luôn. Thì đến mức độ này các ngài mới nói là thức uẩn là không, mới gọi là chiếu kiến ngũ uẩn giai không, thức uẩn là không, tới mức độ chứng ngộ cao này mới được gọi là không.
[18:23]Nên chúng ta thấy để nói cái câu là thấy được ngũ uẩn giai không mình tu chừng bao lâu, mấy năm? Mấy năm? Mấy triệu triệu triệu triệu triệu triệu triệu năm mới biết được chưa? Không đơn giản tí nào. Và chúng ta thấy Phật đạo mà chúng ta đang đi theo thật là quá sức vĩ đại, quá sức vĩ đại. Chứ còn mình không biết gì Thức uẩn, tu cũng chưa tới đâu, đụng nói Thức uẩn là không, là là chúng ta nói hơi vội vàng. Ngoài ra, trong tâm chúng ta còn gì nữa? Còn cái khối tình cảm nữa nha, nằm trong Hành ấm để mà thương ghét nữa. Thương ghét, ham muốn, chán chường, nhiều chuyện lắm. Cái mà cái thương ghét á, chúng ta phân tích ra nó
[19:09]vài triệu vấn đề trỏng, vài triệu cái tình cảm. Nhưng mà trong từ điển chúng ta chỉ có ghi chừng khoảng là năm sáu chục từ: thương, ghét, giận, muốn, thích, khoái, ước ao, mong mỏi, ngán, ớn, chán, chê, đó à. Nghĩa là chúng ta ghi được khoảng chừng năm sáu chục từ, nhưng mà sự thật những trạng thái của tình cảm á phân tích ra cũng phải là vài triệu cái trạng thái của cái ham muốn. Nhưng mà mình không đủ sức nhìn, phân tích ra hết. Từ điển cũng không diễn tả hết, ngôn ngữ không diễn tả hết, cho nên thôi chúng ta tạm chấp nhận khoảng năm sáu chục từ trong cái từ điển à đủ dùng rồi. Ngoài ra chúng ta còn một khối ký ức nằm trong Thức ấm nữa.
[19:53]À là những cái nhớ của chúng ta cũng nằm trong đó. À chúng ta có những cái khuynh hướng chúng ta cũng cất trong Thức ấm. Chúng ta học được nhiều kiến thức chúng ta cũng cất giấu trong ký ức à để mà truy cập ra mà xài. Khi cần nhìn ai cái chúng ta có thể nhớ tên, hoặc liên tưởng đến sự kiện nào mình hồi tưởng lại, nó cũng là cái cái ký ức. Và một điều nữa là chúng ta có cái nghiệp chi phối chúng ta nên tạo thành cái mỗi uẩn khác nhau giữa người này và người khác. Ví dụ như cái Sắc ấm là cái hình dáng, thân thể không ai giống ai hết là do nghiệp chúng ta trùng trùng trong quá nhiều kiếp, chúng ta gieo nhân khác nhau, cho nên người này khác người kia một chút.
[20:33]Ví dụ ngay cả anh em sinh đôi chứ mình lấy thước mình đo căng ra cái tay chân hai ngón tay người này người kia lệch nhau chừng nửa ly cũng có chứ không hoàn toàn giống. Đo hai cái lông mày chứ người này có cái sợi nó dài hơn sợi người kia chút, dù là sinh đôi vẫn khác nhau. Bởi vì cái nghiệp khác nhau cho nên là Sắc uẩn không ai giống ai. Rồi đi vào trong Thọ uẩn cũng vậy, cái cảm xúc của mỗi người cũng không ai giống ai. Nghĩa là có thể một người họ đứng trước cái rừng cây xanh họ họ dạt dào xúc động và thương yêu chất ngất, nhưng có người đi qua cái rừng cây xanh thì thương là thương chút chút thôi, không quan trọng.
[21:09]Hoặc là có người nghe nói tới nạn nhân chất độc màu da cam nằm đó như một đống thịt không còn là con người thì nghe đứt ruột thương yêu, nhưng có người cũng thờ ơ. À cái cảm xúc khác nhau là do nhân quả chúng ta đã gây nên khác nhau. Rồi cái Tưởng ấm con người cũng khác nhau. Có người khi hình dung vấn đề gì là hình rõ ra như cái sự việc hiện trước mắt mình, nhưng có người hình dung thì thấy nó mờ mờ mờ không rõ lắm. Rồi Hành ấm cũng vậy, Thức ấm cũng vậy, là do nghiệp nên khác nhau hết. Một vị mà chứng đạo, tịnh hóa được từng uẩn một, thoát ra từng uẩn một thì biết rõ các uẩn là đa dạng, phong phú nhưng vẫn là hạn chế, sinh diệt,
[21:50]vô nghĩa, không đáng bám giữ và cũng có nghĩa là thoát khỏi đau khổ luân hồi. Ở đây cái vế cuối cùng, cái ý cuối cùng của câu đầu: "Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách". "Độ nhất thiết khổ ách" là vượt qua tất cả mọi đau khổ. Thì cái người nào mà tu tâm thanh tịnh, đủ sức biết rõ từng uẩn, vượt qua tất cả từng uẩn thì thấy tất cả đau khổ không còn nữa. Và như vậy cái câu đầu này thật là thấm thía. Ngay đầu bài kinh này đã lấy cái mục tiêu cao cả nhất là cái gì? Mục tiêu cao cả nhất của một người tu hành trong đạo Phật là gì? Đọc lại nha. "Khi một vị Bồ Tát Quán Tự Tại thực hành thâm sâu trí tuệ Bát
[22:37]Nhã, thấy các uẩn đều là không nên vượt qua được tất cả đau khổ." Trong câu này, mục tiêu cao nhất của sự tu hành là gì? Hử? Là chấm dứt được tất cả đau khổ. Đồng ý không? Cho nên cái ý đó được nêu lên trong cái câu đầu tiên của bài kinh là nhờ thấy được năm uẩn là không, nhờ hành thâm Bát Nhã Ba La Mật thấy được năm uẩn là không nên đạt được một kết quả để các ngài tự hào là vượt qua tất cả đau khổ. Như vậy cái mục tiêu cuối cùng vẫn là chấm dứt đau khổ. Như vậy trùng với cái đạo lý nào? Tứ Diệu Đế, đúng không? Thật là trùng hợp. Và chính vì cái bài Bát Nhã Tâm Kinh có cái câu đầu tiên, ngay câu đầu tiên đã khẳng định được cái chân lý của
[23:31]Tứ Diệu Đế là lấy mục tiêu thoát khổ làm cái điểm tới, làm cái sự tự hào của một vị đại Bồ Tát, cho nên chúng ta cho rằng bài Bát Nhã Tâm Kinh này thuộc hệ Đại thừa Phật giáo nhưng mà có cái điểm xuất phát là ngay giáo lý nguyên thủy rất là chân chính. Vì vậy là một bài kinh rất đáng tin tưởng. Còn nếu một giáo lý nào đó mà rời khỏi Tứ Diệu Đế thì lập tức ra khỏi đạo Phật liền. Có phát triển gì đó phát triển cũng ra khỏi đạo Phật, hay gì hay cũng không còn là đạo Phật nữa. Bất cứ một giáo lý nào nói cao siêu tới đâu thì nói, xin vui lòng giữ được cái gốc Tứ Diệu Đế. Và bài Bát Nhã Tâm Kinh này ngay câu đầu tiên đã xác
[24:14]định mình giữ được cái gốc Tứ Diệu Đế là vì sao? Là vì cho rằng cái mục tiêu thoát khỏi đau khổ là mục tiêu đáng tự hào của một vị đại Bồ Tát. Cho nên câu đó không nói là: "Chiếu kiến ngũ uẩn giai không nên thành Phật." Nếu mà cái câu đầu tiên mà nói như vậy, chúng ta không tin bài Bát Nhã Tâm Kinh này. Hoặc là nói là vì cái vị này chiếu kiến ngũ uẩn giai không nên được đưa lên bàn thờ thờ, chúng ta sẽ bác bỏ bài Bát Nhã Tâm Kinh này liền. Nhưng chính vì ngay câu đầu đã khẳng định cái niềm tự hào, cái mục tiêu tối hậu là chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách, vượt qua tất cả đau khổ nên chúng ta
[24:55]kính trọng bài Bát Nhã Tâm Kinh này vì có cái gốc Tứ Diệu Đế rất là rõ. Và ngay câu đầu tiên này đầy đủ Khổ - Tập - Diệt - Đạo luôn, rất là đặc biệt.
[25:07]Cái câu đầu tiên này rất là hay thế này. Quán Tự Tại Bồ Tát "hành thâm Bát Nhã Ba La Mật", cái chữ "hành" đó là cái Đạo nào, trong cái Khổ - Tập - Diệt - Đạo là cái nào nào?
[25:21]"Hành thâm Bát Nhã", tức là thực hành thâm sâu trí tuệ Bát Nhã thì là trong cái Tứ Diệu Đế là Khổ - Tập - Diệt - Đạo trùng với cái cái Đế nào? Trùng với Đạo Đế. Đạo Đế tức là tu hành, nhớ không? Bát Chánh Đạo là sự thực hành tu tập. Bát Chánh Đạo là sự thực hành tu tập là Đạo Đế. Ở đây nhiều người như chưa nghe Tứ Diệu Đế, nghe thấy ngơ ngơ ngơ ngớ, cười quá à. Về nghe lại nha, nghe bộ Tứ Thánh Đế giùm thầy. Đạo Đế là sự thực hành tu tập, cho nên trong cái câu mà "hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa" thì đó là Đạo Đế, là sự thực hành. "Chiếu kiến ngũ uẩn giai không", thấy được năm uẩn là năm uẩn là không thì là thấy được bản chất của của đau khổ là Khổ Đế.
[26:13]Cho nên vượt qua tất cả được khổ ách là Diệt Đế. Nhưng mà cũng nêu lên được bản chất của của cái cái Tập Đế. Nghĩa là cái Tập Đế đó nằm nơi cái mà thấy được ngũ uẩn á. Cái ngũ uẩn vừa là Khổ Đế, vừa là Tập Đế. Vì trong cái Khổ Đế, chúng ta nhớ có câu là "ngũ ấm xí thạnh khổ", thấy không? Năm ấm này là một khối khổ. Cho nên á khi mà thấy được năm ấm là không thì đó là thấy được nguyên nhân của khổ, thấy được bản chất của đau khổ, nhờ thực hành trí tuệ Bát Nhã và đạt được kết quả là vượt qua tất cả đau khổ, như vậy.
[26:54]Nãy giờ thầy nói tới Tứ Diệu Đế hình như nhiều người ngơ ngơ muốn ngủ hết trơn. Lý do tại sao? Là tại vì chưa hiểu được, chưa hiểu được Tứ Diệu Đế cho nên nghe hơi ngơ ngơ. Xin vui lòng về thỉnh băng Tứ Thánh Đế nghe giùm nha. Vì muốn hiểu Bát Nhã phải hiểu Tứ Thánh Đế cho cặn kẽ, cũng giống như là bài Bát Nhã Tâm Kinh ngay từ câu đầu đã khẳng định cái chân lý của Tứ Diệu Đế. Nếu chúng ta mà rời bỏ Tứ Diệu Đế, chúng ta sẽ hiểu sai đạo Phật. Nên những ai ngồi đây nghe bài Bát Nhã này, xin về nghe lại căn bản Tứ Diệu Đế. Nếu mà chúng ta không thấy rõ được bản chất đau khổ của cuộc đời thì chưa hiểu được Tứ Diệu Đế,
[27:34]mà chưa hiểu được Tứ Diệu Đế thì sẽ không hiểu được Bát Nhã Tâm Kinh. Nhớ như vậy, về chịu khó nghe giùm Tứ Thánh Đế. Có cô Phật tử đó, cổ làm trong cơ quan. Sau khi cổ nghe xong Tứ Thánh Đế, cổ mới nói với những người bạn trong cơ quan, người đồng nghiệp, nói cuộc đời này bản chất là khổ. Những người kia phản đối: "Không, đời đâu có khổ, cũng có khi vui thấy mồ. Cũng đi chơi vui, ăn mặc đẹp là vui, khi có tiền vui, lâu lâu có ai họ chọc ghẹo mình thấy mình cũng thích, vân vân, vui." Cái cổ bèn đưa cho cái bộ Tứ Thánh Đế nghe, nghe mấy băng đầu là Khổ Đế. Nghe xong vô cười cười: "Đúng, đời là khổ." Đó là sự giác ngộ đầu tiên.
[28:16]Đó là sự giác ngộ đầu tiên. Tức là nói đời là khổ không phải là cái bi quan mà vì chúng ta biết được có cái hạnh phúc lớn hơn nhiều. Cho nên biết những điều mà chúng ta theo đuổi trong cuộc sống này rất là hạn chế, rất là đau khổ. Đó là căn bản Tứ Diệu Đế. Thì khi muốn hiểu điều này, chúng ta về nghe lại Tứ Thánh Đế. Hôm nay chúng ta không đào sâu, không đào sâu nhưng mà thầy nhắc sơ một chút xíu vậy thôi. Bây giờ chúng ta qua câu thứ hai, mỏi mòn ha. Bữa nay mới qua tới câu thứ hai, dễ sợ. "Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị." Nghe hiểu không?
[29:01]Chữ Nho. Dịch thế này, "Này Sariputta", cái chữ Xá Lợi Tử, Sariputta, tức là người con của cái dòng họ Sari. Ừ. Là Sariputta. "Cái hình hài này, cái hình sắc này chẳng khác gì với cái sự trống rỗng, cái sự trống rỗng chẳng khác gì với hình hài này. Hình hài này chính là sự trống rỗng, sự trống rỗng cũng chính là hình hài này. Hãy suy diễn tiếp thọ cũng như thế, tưởng như thế, hành cũng như thế và thức cũng như thế." Nghĩa là, "Mỗi uẩn đều chẳng khác với sự trống rỗng, đều chính là sự trống rỗng." Cái câu nó câu nguyên bản kinh như vậy. Thì ở cái câu này, không chứng minh, không chứng minh dài dòng tại sao mà chỉ kết luận thôi.
[29:51]Chỉ kết luận là cái hình sắc này chẳng khác gì với sự trống rỗng và kết luận chắc như đinh đóng cột, nói mấy câu, "sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc." Đó là lời nói rất là xác quyết. Mà chúng ta biết á ở trong cái thời đại ngày nay chúng ta á, chúng ta đòi hỏi phải giải thích, phải chứng minh trước khi kết luận. Nhưng mà người xưa thì họ kết luận như đinh đóng cột, mà bởi vì đó là cái nhìn của một vị Thánh, cái thấy của một vị Thánh, nên chúng ta tin các ngài chắc có lý, đúng. Chúng ta không dám bác và chúng ta tự mình đi tìm sự sự chứng minh, sự giải thích.
[30:34]Và thế là từ ngày có cái bản kinh này tới đây ít ra cũng mấy ngàn, mấy trăm ngàn cái lời giải thích để chứng minh cho cái ý là sắc bất dị không, không bất dị sắc. Dị tức là khác á, bất dị là chẳng khác. Sắc chẳng khác với sự trống rỗng, tức là hình hài, sắc là hình hài này, hình thể này, thân xác này. Thân xác này chẳng khác gì với sự trống rỗng, sự trống rỗng chẳng khác gì với thân xác này. Mà cái cái vế thứ hai còn độc địa hơn nữa, chẳng khác còn nhẹ ha, bắt đầu quất thêm một câu dữ dội hơn nữa: "Thân xác này chính là sự trống rỗng. Sự trống rỗng chính là thân xác này." Cái chẳng khác nó còn nhẹ, mình đã không hiểu rồi,
[31:22]mà ngài quất thêm một câu là "chính là" thì chúng ta càng mờ mịt. Tại vì mình không được quyền nói đại, nói gì phải có tình có lý, phải giải thích, phải chứng minh. Các ngài thấy như thế nên các ngài nói như thế, còn chúng ta chưa thấy như thế nên chúng ta cần một lời giải thích, một lời chứng minh, phải không? Nên ai mà thấy rồi thì không cần nghe tiếp, có quyền ngủ.
[31:50]Còn mà ai mà chưa thấy như thế, có cần một lời giải thích thì xin lắng nghe tại hạ nha, lắng nghe tại hạ chút xíu. Thì xưa nay á cũng mấy ngàn cái bài giảng về cái bài Bát Nhã Tâm Kinh và đụng tới cái đoạn ách yếu chỗ này, đụng tới cái chìa khóa này. Tại nguyên đoạn kinh dài dài dài dài chứ ngay chỗ này là chìa khóa của cái xương sống, cái trái tim của cái bài Bát Nhã Tâm Kinh. Nếu chúng ta nói ha là trong 600 quyển Bát Nhã thì bài Bát Nhã Tâm Kinh này là bài kinh chính yếu nhất, là bài đỉnh cao nhất, thì trong cái bài Bát Nhã Tâm Kinh này đoạn kinh này là chính yếu nhất, là đỉnh cao nhất. "Này Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác không,
[32:41]không chẳng khác sắc, sắc chính là không, không chính là sắc. Những uẩn còn lại: thọ, tưởng, hành, thức cũng đều giống như vậy." Nghĩa là cái đoạn này, cái câu này là chìa khóa của trí tuệ Bồ Tát. Nếu ai hiểu được câu này là người hiểu được trí tuệ Bồ Tát. Hiểu được trí tuệ Bồ Tát không có nghĩa là chứng được giống như Bồ Tát, mà hiểu được để thấy Bồ Tát vĩ đại như thế và chúng ta thì thì tầm thường như thế. Hiểu được như thế để chúng ta ngộ được một điều vô cùng có giá trị, đó là gì? Là Phật và Bồ Tát là cả một đại dương mà ta chỉ là một giọt nước, Phật và Bồ Tát là cả một ngọn cao sơn mà ta chỉ là một hạt bụi.
[33:31]Hiểu được điều đó là điều giá trị nhất trong sự tu hành. Còn hiểu không được thì tưởng sao? Tưởng ta cũng là Phật. Hiểu đó rất là nguy hiểm. Còn chúng ta hôm nay học cái câu này là câu chìa khóa nhất, ách yếu nhất, quan trọng nhất, chính yếu nhất của bài Bát Nhã Tâm Kinh: "Sắc bất dị không, không bất dị sắc." Nghe nói vòng vòng xót ruột.
[33:59]Nhiều vị đã đi tìm một cái lời giải thích có tính vật lý cho cái câu này. Nói sao? Nói sở dĩ gọi thân xác này là không bởi vì xác thân này được hợp bởi bởi tứ đại, tứ đại là đất, nước, gió, lửa. Bây giờ thì mình gọi là hợp lại bằng những cái gì? Những phân tử ha, những tế bào, những mô, những cơ, những xương, những mạch, vân vân, những chất dịch. Gọi là do hợp bởi nhiều thứ cho nên nó chỉ là một cái nhân duyên chứ không phải là một cái gì mà nó tự nó có bền vững, hầu hết chúng ta nghe câu giải thích như thế. Hoặc là nói ví dụ như cái nhà này tuy nói có mà không bởi vì nó là nhân duyên, phải không?
[34:47]Được hợp bởi nhiều thứ rồi từ từ nó sẽ tàn hoại. Đó là thường thường người ta hay giải thích vật lý như vậy, căn bản và và dễ hiểu, nhưng đó chỉ là căn bản chứ cái đó không phải là trí tuệ của Bồ Tát. Hoặc là có nhiều người nói sắc chẳng khác không bởi vì nơi thân xác này có nhiều cái lỗ lỗ hổng, là có những chỗ nó rỗng này nọ nó soi ra thấy nó rỗng, thế nên là này chẳng khác gì không. Nhưng mà đó là một lời giải thích hơi hơi dễ dãi, chứ sự thực ví dụ như nhiều người mà người ta không chịu, người ta sẽ bắt bẻ. Người ta nói bây giờ nói cái nhà này là không, nhưng mà không có cái nhà này không biết ở đâu á.
[35:25]Tuy nói nó không, nhưng làm ơn đừng bán, đừng đập, đừng đốt cho tôi ở một chút. Ví dụ nói là cái thân này là không, nhưng xin vui lòng đừng tự tử nha, đừng tự tử, hãy để tôi sống vài năm cho yêu đời lắm. Như vậy vì sao? Bởi vì còn cần đến xác thân này để tôi sống và để yêu thương, để tôi làm những việc lành và tôi làm những bổn phận đối với gia đình, đối với cha mẹ tôi, đối với con cái tôi, đối với đất nước, quê hương của tôi. Tôi cần cái thân này, cho nên các ngài nói nó không thì các ngài cứ nói, nhưng mà xin vui lòng đừng hại tôi, đừng giết tôi, đừng đập tôi vì tôi còn còn xài nó. Cho nên tôi vẫn còn thấy nó là cần, mà thấy nó là cần tức nó là có.
[36:10]Cũng như cái nhà này, các ngài cứ nói không, nhưng xin vui lòng đừng đập, đừng đốt, đừng bán, đừng giành giựt của tôi, vì tôi còn cần để tôi ở, cho người thân của tôi ở, cha mẹ tôi ở, vợ tôi ở, con tôi ở, cháu tôi ở. Và tôi còn cần tức là nó vẫn là có. Chính cái nhu cầu, cái công dụng, cái lợi ích của nó làm cho nó luôn luôn hiện hữu, đúng không? Giờ mình nói không, nhưng mình dám ra ngoài đường ở không? Không. Chính vì nó cần, nó có công dụng, nó có lợi ích nên nó nó hiện hữu, nó tồn tại, nó có thật.
[36:53]Có cái ông đó cũng vậy á, ổng ổng có cái bàn gãy ổng không chịu đóng, hỏi ổng, ổng nói coi như không. Nhưng mà lại tát ổng bạt tai, ổng nói: "Đừng quá đáng." Tại ổng cũng còn cần, còn cái thân này, đừng có hại nó. Cho nên cái mà mình giải thích theo cái kiểu vật lý đó thì mình sẽ bị người ta hỏi, cái công dụng của nó vẫn còn cần thiết. Và chính vì cái công dụng nó còn cần thiết nên nó vẫn rất quan trọng và chúng ta vẫn thấy nó là có. Nhưng mà Bồ Tát đã dựa vào đâu để mà nói rằng sắc chẳng khác với không? Hình hài này chẳng khác với sự trống rỗng? Dựa vào đâu các ngài nói như vậy? Thì ở đây muốn hiểu điều này chúng ta sẽ nghe một cái ví dụ.
[37:37]Các bậc Thánh mà xem sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc không phải bằng lý luận mà bằng cái tâm an định. Nhớ, bằng cái tâm an định mà các ngài thấy sắc bất dị không, không bất dị sắc. Chúng ta nghe câu ví dụ: Vào một ngày đẹp trời có một người Phật tử đến gặp thầy trụ trì chùa Từ Tân. Sau khi chắp tay chào thầy, nghe nói thầy đang cất chùa, đến những giai đoạn đang hoàn thiện, thì cũng xin cúng dường thầy 5 triệu. Cái đưa bao thơ ra, đếm từng tờ và đủ 5 triệu, 50 tờ giấy 100 tiền mới. Và sau đó là chào thầy ra đi. Thầy cũng dễ chịu, thầy bỏ tiền vô túi, chuẩn bị cất vô tủ thì người đó chợt quay lại:
[38:26]"Thưa thầy, cho con xin lại 1 triệu, con tính lộn, con tính lộn." Thì thầy mới nói câu này: "Ờ không sao đâu con trời, 5 triệu cũng vậy, 4 triệu cũng vậy mà, vậy là cũng quý rồi." Thầy móc ra thầy đếm đếm đủ 10 tờ 100.000đ đưa lại người đó và người đó chào ra đi. Chúng ta nghe câu này: Là 5 triệu thì thầy cũng thấy như thế, mà khi lấy đi bớt 1 triệu thầy cũng thấy, tâm thầy có động không? Không, bởi vì thầy mới nói: "Ờ 5 triệu, 4 triệu cũng vậy." Như vậy thầy vừa mới kết luận một câu mà hoàn toàn ngược với toán học là 5 triệu bằng 4 triệu. Thầy vừa nói một câu rõ ràng nơi miệng thầy, phải không?
[39:07]Khi họ lấy lại 1 triệu rồi, nói: "Con quên lộn, con cúng thầy có 4 triệu à, quên, hồi nãy quên, thầy cho con lại 1 triệu", thì thầy mới nói câu: "Ờ ôi 5 triệu, 4 triệu gì cũng vậy mà con." Rõ ràng miệng thầy vừa nói một câu 5 triệu bằng 4 triệu. Điều này hoàn toàn ngược với toán học của thế giới cũng như toán học của Việt Nam, ngược hoàn toàn. Mà tại sao thầy nói như vậy? Chúng ta nhớ nha, trong toán học có câu này: Chúng ta muốn chứng minh a = b thì chúng ta phải nhờ một cái trung gian c. Vì a = c, b cũng bằng c nên a = b. Đồng ý không? Có ai cãi không? Không, phải không?
[39:45]Vì 5 triệu tâm thầy bất động, 4 triệu tâm thầy cũng bất động nên 5 triệu bằng 4 triệu. Chịu chưa? Đồng ý không? Đồng ý. Chưa. Chưa, cái này còn rùng rợn hơn nữa. Một ngày đẹp trời, có một người tới gặp thầy, nói: "Thưa thầy, phải thầy là thầy Thích Viên Giác, trụ trì chùa Từ Tân không? Một thầy rất là đẹp trai và giảng pháp hay được không? Mập mạp, đẹp đẽ..." Thầy nói: "Dạ không dám, nhưng mà tại hạ là đây." Nói: "Dạ có người đưa con cúng thầy 5 triệu." Cúng thầy 5 triệu. Nói lý do, nói: "Dạ con không biết, người ta gửi cúng thì thôi cúng thầy 5 triệu. Ờ thôi chào ra đi." Thầy bắt đầu bỏ túi và quay vào cất
[40:31]trong tủ, nhưng chưa được 5 phút sau, người đó: "Thưa thầy, con nhầm, thầy cho con xin lại." Hết 5 triệu qua chùa khác, không phải, không phải chùa này. Thì lúc đó thầy cười cười: "Ờ nói không sao đâu con, ô việc cũng vậy, có không thì cũng vậy mà." Thầy mới đưa lại 5 triệu đó, người đó đi te te một nước mất tiêu, không bao giờ gặp lại trên cuộc đời này nữa, ví dụ vậy. Thì ở đây,
[40:56]rõ ràng là thầy vừa nói một câu ha: "Ờ không sao đâu con, trời ơi, cúng không cúng tiền 5 triệu hay không gì cũng vậy." Thầy vừa nói một câu là hoàn toàn ngược với toán học thế giới: 5 triệu hay không triệu nào cũng bằng nhau. Phải. Hoàn toàn ngược với toán học thế giới. Thì cũng vậy, cái công thức hồi nãy là vậy: vì a = c, b cũng bằng c, nên a = b. 5 triệu tâm thầy bất động, không triệu tâm thầy cũng bất động, nên 5 triệu bằng không triệu. Có ai cãi không? Hợp lý không? Hợp lý hoàn toàn. Mà đây chính là trí tuệ Bát-nhã của Bồ Tát, tức là cái lý luận mà sắc bằng với không, sắc bất dị không, là không phải là chúng ta chứng minh
[41:44]bằng vật lý, mà đi xuyên qua cái tâm an định, tâm an định. Chính vì có cũng bất động, có nhiều cũng bất động, có ít cũng bất động, nên nhiều và ít bằng nhau. Chính vì có, tâm ngài cũng bất động, mất hết, tâm ngài cũng bất động, cho nên có và không bằng, bằng nhau. Chịu chưa? Đồng ý không? Đó. Thì bây giờ, chúng ta đem cái đó quay lại với cái hình hài này.
[42:17]Có hôm, một ngày đẹp trời,
[42:21]thì thầy trụ trì chùa Từ Tân đi vào bệnh viện thăm trẻ em là nạn nhân của chất độc màu da cam. Nạn nhân chất độc màu da cam là gì? Tức là trong thời gian chiến tranh, à những người Mỹ họ đã bay trên máy bay, họ rải xuống một cái chất để khai quang, làm cho cây cối chết hết. Cái chất đó gọi là tác nhân cam, Orange Agent. Thì cái chất đó nó là một loại dioxin rất là độc. Thì những người mà sống trong những vùng đó, họ uống những nguồn nước, họ ăn trái cây, bị thấm vào cái Orange Agent đó, là tác nhân cam đó. Thì đời họ thì không sao, nhưng khi họ lập gia đình, họ đẻ ra những đứa con đều là quái thai. Nhiều khi nhìn vô không có con mắt,
[43:10]không có mũi, hoặc là chỉ là một đống thịt bầy nhầy, cứ sống vậy thôi mà không còn là con người, mà thua cả một con chó. Con chó nó còn có tư duy, nó còn hoạt động, còn nạn nhân màu da cam có người không có trí tuệ, không còn có sự sống, chỉ là một màu đen tối, sống như chết, sống thua cả cái chết. Thì khi mà thầy trụ trì đi vào thăm những cái nạn nhân chất độc màu da cam đó, thì có một người y tá sau khi nhìn thầy và nhìn những em, những trẻ mà bị nạn nhân màu da cam thì khen: "Thầy đẹp nhất ở đây." Đẹp nhất ở đây, quá đúng không trật đường nào.
[43:54]Rồi sau khi mà tặng quà từ thiện cho các em xong, rồi tình cờ có một người rủ thầy, xin thầy đi đến nghĩa là thầy chứng minh cho cái Hội Người mẫu Việt Nam, cả nam và nữ. Thế là thầy cũng đi vào để chứng minh, thì có một người đứng nhìn thầy và nhìn những cái người mẫu, nói rằng: "Thầy xấu nhất ở đây."
[44:17]Thì hồi nãy á, nói khen thầy đẹp nhất ở trong cái chỗ mà nạn nhân màu da cam, thầy cũng cười cười, tâm không không mừng, không động. Tới một lát sau mà khi đi vào cái chỗ người mẫu mà nghe nói đẹp ghê lắm, thầy cũng chả biết người mẫu vì chưa bao giờ gặp, thì nghe nó đẹp ghê lắm, thì khen thầy là xấu nhất ở đây, thầy cũng chẳng buồn, tâm vẫn bất động. Cho nên nói đẹp cũng như thế, xấu cũng như thế, cho nên đẹp và xấu bằng bằng nhau, vì tâm thầy đều bất động.
[44:50]Xấu cũng bất động, đẹp cũng bất động, nên đẹp và xấu bằng nhau. Đồng ý không? Đồng ý. Rồi bây giờ tới lên một mức độ cao hơn nữa, là không phải cái thân này đẹp và xấu nữa, mà thân này có hay là không đều bằng nhau, cho nên là cái thân này chẳng khác với cái không có thân. Có thân hay không có thân cũng như vậy mà thôi. Chỗ này dễ hay khó? Rất là khó, phải tâm đạt được sự bất động rất là cao, phải không? Sống với cái thân cũng được, mà chết không còn cái thân này nữa, tâm vẫn bất động. Chứ hầu hết người ta đều bị bị xao động, bất an khi bỏ cái thân này. Ví dụ như có một người họ bị tai nạn họ chết,
[45:40]như đang đi trên đường tông xe một cái rầm, họ không còn thời gian hôn mê. Họ không còn thời gian hôn mê, hoặc là họ hôn mê một cái rồi 10 phút sau trên đường đi cấp cứu họ chết luôn. Khi họ chết rồi thì họ ra khỏi thân xác họ, và còn cái linh hồn, họ ra khỏi thân xác họ. Và lúc đó cái tâm trạng của họ là sao? Cực kỳ đau khổ. Cực kỳ đau khổ. Vì sao vậy? Vì biết rằng mình mất hết tất cả. Cái xác nằm đó người ta chở đi trên xe, cái hồn bay theo biết, máu chảy đầm đìa, còi hú ầm ầm ầm chạy đi, mình bay theo cái cái xác của mình. Và nhớ nhà mình, con mình, rồi mình không nuôi được nữa mặc dù tình thương đang dào dạt, vợ mình không nuôi được nữa mặc dù
[46:28]đang rất thương yêu, cái nhà mình chuẩn bị xây, hết xây được rồi, là cha mẹ mình để báo hiếu, hết báo hiếu được rồi. Bao nhiêu điều ước mơ còn đầy trong tâm, bao nhiêu khắc khoải, bao nhiêu trăn trở còn đầy trong tâm, nhưng ngang đây chấm dứt hết bởi vì thân này không còn. Nên một cái người mà họ chết ngang như vậy, họ đau khổ khủng khiếp lắm, đau khổ ghê gớm. Rồi lúc đó cộng thêm cái thấy người thân mình lại ôm cái xác khóc. Thì cái linh hồn còn đau khổ lên gấp bội lần mà không nói được. Thì chúng ta mới thấy là lúc mình có thân á thì mình vui, mà chết mất cái thân này thì mình buồn. Nhưng một vị Bồ Tát, cái định của ngài nó vượt khỏi sự sống chết,
[47:10]nên tuy sống mà không chấp thân và ngài biết trước, ngài muốn bỏ thân lúc nào ngài bỏ một cách tự tại như các thiền sư, cho nên vẫn không hề lay động khi mà mất cái thân này. Cho nên có thân cũng không buồn, mà không có thân cũng không buồn, vẫn bất động, vẫn an nhiên. Như vậy thì có thân và không thân bằng bằng nhau. Thì đây là cảnh giới của Thánh trong cái thiền định rất sâu mới đạt được như vậy. Chứ còn như chúng ta mà có nói thì chỉ là mình nói chơi thôi chứ mình không đạt được. Vì sao vậy? Mình thử tưởng tượng lỡ một lát nữa mà có ai đụng xe gãy mất một cánh tay của mình, mình chịu nổi không? Chịu không nổi.
[47:53]Hay gãy mất cái chân, chịu không nổi. Đó, tại vì mình không đủ sức định, không đủ sức định. Khi nào mình thật sự định sâu, lỡ một lát ra chặt cái tay mất, mình không buồn, thì người đó sắc bất dị không đó, không bất dị sắc. Còn mình thử tưởng tượng lát nữa mà có người ra chặt mất cái tay mình, mà tâm mình động hay không động? Rất là xao động, thì mình chưa đạt được cái thấy sắc bất dị không, phải không? Phải. Thì cái ví dụ này nó buộc ta phải nhìn tới như vậy đó. Còn hầu hết chúng ta chấp thân, vui theo thân, buồn theo thân. Nhìn gương thấy đẹp chút, ôi sao bữa nay em thấy em trẻ ra. Còn nay trời sao nó nhăn nhăn vậy, không có kem gì xoa cho nó bớt,
[48:36]với bao nhiêu hiệu Biore rồi gì đó, bao nhiêu lại cứ mua Thorakao, rồi... Thầy không xài nên thầy không nhớ tên, thầy không biết tên. Đại khái vậy đó, tức là mình vui mình buồn theo cái sự biến đổi của cái thân này, chứ đừng nói mà không có cái thân này càng chịu không nổi. Nhưng mà chỉ bậc Thánh tâm cực kỳ thanh tịnh, an nhiên tự tại đối với sinh tử. Sinh, tâm cũng như thế; tử, tâm cũng như thế thì mới dám nói là sắc tức là không, không phải là dễ, không phải là dễ. Ừm. Cho nên nói mà sắc tức thị không là đòi hỏi cái sức định của Thánh cao lắm chứ không phải dễ. Ừm. Các vị thánh á, khi mà chết á thường có hai cách chết.
[49:21]Một á là các ngài để thân lại, các ngài ngồi thiền để cái nhục thân lại vài ba trăm năm vẫn còn ngồi đó. Hoặc là thiêu rồi lấy xá lợi đem thờ. Và cả hai cách đều đều để lại cái gì đó cho đời sau tôn thờ, phải không? Có hai cách đều để lại cho đời sau tôn thờ. Ngoại trừ Đức Phật và các vị A-la-hán là để cho người sau tôn thờ là vì lợi ích của chúng sinh, chứ hoàn toàn mình không còn cần cái vinh quang nữa. Không còn cần là để cho người ta phải thờ mình, nhưng biết người ta thờ mình, người ta có phước. Cho nên là thôi để lại xá lợi hay để lại nhục thân cho chúng sinh thờ, cho chúng sinh có phước,
[50:04]chứ còn chính mình không ham, không cảm thấy vinh quang vì chuyện đó. Cũng giống như quý thầy cũng vậy, nhiều khi quý thầy không ham tiền nhưng mà biết Phật tử cúng dường là Phật tử có phước nên phải nhận, chứ mình nhận mình cũng mang nợ và phải tu cực lắm chứ không phải dễ. Nhưng mà thương Phật tử nên cắn răng mà mà nhận, chứ không sướng. Đau khổ mà nhận, phải không? À. Chứ thực sự là không tham. Đó là cái người chân tu họ như vậy á, chứ không phải đưa tiền mà mừng đâu. Đưa tiền thấy nghĩ: "Thôi, mình nhận cái này hi vọng người đó sau này họ sẽ gặp may mắn trong cuộc sống của họ." Thì Phật, Bồ Tát cũng vậy, khi chết á để thân lại mà cho chúng sinh
[50:44]thờ là thương chúng sinh á, chứ không phải là vì cái vinh quang của mình. Nhưng mà còn có những vị chưa đạt được cái vô ngã đó, khi để thân lại, để lại xá lợi hay để lại nhục thân vẫn còn một chút cảm thấy vinh quang, vẫn còn. Nhưng mà riêng ngài Phổ Hóa là không. Ngài Phổ Hóa là một thiền sư kỳ lạ, cũng giống như một người thị hiện, ngài trở lại để phụ với ngài Lâm Tế giáo hóa. Khi ngài Lâm Tế là ngài Nghĩa Huyền á, ngài lại cái xứ đó kêu là cái xứ Lâm Tế nên lấy cái tên Lâm Tế gán cho ngài luôn, chứ tên ngài là Nghĩa Huyền. Ngài đến đó thì nơi cái chùa đó là có ngài Phổ Hóa ở sẵn, mà ngài Phổ Hóa thì ổng thần thông diệu dụng dữ lắm.
[51:26]Thấy ổng đây là lát mà thấy ổng ngoài chợ rồi. Thấy ngồi trong phòng, ra chợ thấy ổng đang giỡn như nít ngoài trỏng. Thế là ngài Phổ Hóa này ổng thần thông ổng phân thân được nữa. Ờ. Thế là có khi ổng ngồi thiền đó thì thấy ổng ngủ ổng thấy ổng ngồi ổng gục lên gục xuống gục lên gục xuống, rồi lại cái đánh ổng cái bốp, tự nhiên chỉ thấy có cái mền không à với cái gối, không thấy ổng đâu hết, mà mới thấy ổng ngồi gục lên gục xuống. Ổng thần thông như vậy. Mà hồi nhỏ là lúc ổng tu là ổng đã lý lắc rồi. Ở trong chúng, ông thầy mới hỏi là, hỏi đạo lý, cái ổng nhảy ổng lộn một vòng trên không rớt xuống.
[52:03]Cái cách trả lời của ổng là vậy, thay vì người ta trả lời là: "Đạo là thế này, đạo thế kia", ổng trả lời bằng cách là ổng nhảy ổng lộn một vòng trên không rớt xuống. Ngài Phổ Hóa ổng lý lắc từ xưa. Tới chừng sau này lớn lên, ổng phụ với ngài Lâm Tế. Ngài Lâm Tế thì điềm đạm, chững chạc, đâu đó, đức độ. Ổng thì tối ngày cứ dùng thần thông để đùa, để giỡn. Nhưng mà vì biết ổng là thánh cho nên không ai giận, không ai giận. Tới ngày ổng chết ổng còn vẫn chưa bỏ cái tật nghịch. Hôm nay ổng vô ổng xin cái hòm. Ổng xin, người ta lật đật cho tại ổng, người ta biết ổng là thánh á, cho là có phước, cho ổng là sẽ được nhiều người mua hòm mình.
[52:39]Nghĩa là mốt bán hòm sẽ đắt lên, biết như vậy nên cho liền.
[52:46]Mà cái hòm nhẹ không? Nguyên cái hòm nhẹ không? Nặng thấy mồ, nhưng mà ổng vác khơi khơi trên vai ổng đi. Ổng đi ra ngoài cửa Đông, ổng nói: "Bữa nay tui tui chết." Thế là người ta rần rần kéo theo. Cái ổng nói: "Thôi, hôm nay không chết, để mai." Cái mai cái ổng vác hòm qua cửa Tây. Ổng nói: "Hôm nay tui chết." Cái người ta rần rần kéo theo. Ổng nói: "Thôi, không chết nữa." Cái bữa sau cái ổng đi cửa Nam, đi cửa Bắc á, cái thấy người ta chán rồi người ta nghĩ ổng lừa, không đi theo nữa. Cái ổng để hòm xuống, ổng kêu người đi đường đóng đinh lại giùm. Ổng chui vô trỏng nằm. Người kia thấy lạ, để đinh sẵn búa đóng đóng cốp cốp cốp gài vô hết.
[53:23]Rồi ổng đó, bắt đầu ổng đóng xong ổng đi ổng đồn, ổng la lên. Ổng nói: "Ý, có cái ông nào, ông sư nào nhờ tui đóng đinh cái hòm." Thế là người ta kéo lại rần rần người ta coi. Người ta coi thì thấy cái hòm vẫn nằm ở đó. Rồi người ta thấy hòm bắt đầu người ta tin là ổng trỏng, bị bị đinh là do cái người ngoài người ta gài, thì người ta lạy, lễ. Nhưng mà bắt đầu cái người ta cạy ra, tại không biết có thiệt, tại ông này ổng có cái tật hay nghịch. Cái mới đầu lạy xong lát nói: "Ê, mà biết ổng còn ở trỏng thiệt không? Ổng là chuyên môn nghịch nha, thấy ổng ở trỏng ổng biến mất á." Cái người ta xúm nhau người ta lấy xà beng người ta cạy mấy đinh nhổ ra.
[53:55]Nhổ bật cái nắp hòm lên thì mất cái xác. Lúc đó trên trời trên hư không nghe tiếng mõ: cóc cóc cóc cóc xa dần, xa dần rồi mất luôn. Tức là ngài Phổ Hóa ổng chết theo cái kiểu là không để nhục thân, không để xá lợi và làm biến mất cái thân mình luôn, bỏ luôn thân luôn, bỏ thân vào trong hư không luôn, không để lại cái gì hết. Một cái chết lạ lùng nhất xưa nay. Chứ hầu hết ai cũng để lại cái dấu vết, riêng ngài Phổ Hóa không chịu để gì hết, ổng phủi ổng đi luôn. Thân ổng làm tiêu mất trong hư không, không để lại dấu vết. Giống như cái chuyện mà khoa học giả tưởng á, sau này họ bắn cây súng, bắn trúng người nào cái
[54:33]người đó biến mất luôn, không để lại dấu vết. Kiểu đó cũng ngài cũng vậy. Thì những người như vậy cái thân này đối với họ quan trọng không? Thì người đó đúng là "sắc tức thị không, không tức thị sắc". Họ tự tại đến cái mức độ như vậy. Còn chúng ta chưa đủ cái định như thế, thân đối với chúng ta cũng còn rất là quan trọng. Cho nên bây giờ mà nếu chúng ta nói "sắc bất dị không, không bất dị sắc" thì nó chưa đúng. Vì sao vậy? Bởi vì chúng ta chưa được cái tâm an định. Là đẹp chúng ta còn vui, xấu chúng ta còn buồn. Là còn nguyên tay chân thì mừng, mà chặt bớt cái tay chân thì đau khổ, thì chưa đạt được "sắc bất dị không, không bất dị sắc".
[55:15]Chừng nào mình định tới cái mức độ bốn triệu bằng năm triệu hoặc là năm triệu bằng không triệu thì người này khá rồi, phải không? Hoặc là mình tự tại có thân để sống cũng được, mà chết bất ngờ bỏ cái thân này vào cát bụi cũng vậy, không buồn, thì lúc đó mới tạm gọi là biết được rằng, thấy được rằng, hiểu được rằng "sắc bất dị không, không bất dị sắc". Đồng ý không? Có ai cự nự không? Không nha. Ừ. Mà nghe có lý không? Có lý há? Ừ. Tuy nhiên ở đây thế này, hồi nãy chúng ta nói câu này là "sắc chẳng khác với không, không chẳng khác với sắc", thì sắc và không vẫn còn là hai, đúng không? Vẫn còn là hai.
[56:05]Ví dụ như nói thế này: "Ôi! Anh cũng như tui, tui cũng như anh", nhưng mà sự thật vẫn còn anh và tui. Mặc dù nói là "cũng như", nhưng mà sự thật là đã vẫn còn là hai, đúng không? Thì nói: "Ờ năm triệu cũng bốn triệu không sao, năm triệu cũng bằng như bốn triệu", nhưng vẫn còn năm triệu và bốn triệu. Nên vẫn còn là giới hạn, chưa hoàn toàn tự tại. Cho nên mới câu thứ hai, câu kế tiếp quất theo một câu nữa mới khủng khiếp: "Sắc tức thị không, không tức thị sắc", chính là một luôn. Nghĩa là không còn nói là hai con người nữa, không còn nói: "Ôi anh cũng như tui, tui cũng như anh", không có. Đã trở thành anh tức là tui,
[56:45]tui tức là anh trong một cơ thể, một linh hồn duy nhất. Không còn tách ra hai người đứng hai bên để mà nói bằng nhau nữa. Không còn nói là ông ông Hải bằng ông Sơn nữa, mà ông Hải, ông Sơn như là đã nhập chung lại một chỗ thành một con người duy nhất. Đó là cái câu thứ hai: "Sắc tức thị không, không tức thị sắc". Hình hài này, thân xác này tức là sự trống rỗng.
[57:11]Đạt được mức độ cao hơn nữa, khó hơn. Từ cái còn hai mà để thấy bằng nhau là đòi hỏi tâm mình rất là định, bất động trong mọi tình huống mới thấy được hai cái đó khác nhau mà như nhau. Nhưng mà phải định lên gấp trăm lần nữa bắt đầu mới thấy hai cái đó là lúc nào cũng chỉ là một. Định phải cao hơn rất nhiều mới thấy hai cái đó chính là nhau, chỉ là một mà thôi. Thì cái định như thế nào mà để có thể thấy được "sắc tức thị không, không tức thị sắc"? Ở đây ví dụ thế này. Như lại chúng ta trở lại cái câu chuyện mà có cái cái ví dụ mà một người đưa năm triệu xong lát lại lấy đi năm triệu mà thầy trụ trì vẫn bất động, vẫn bất động.
[57:54]Nên hai cái trạng thái đó nó khác nhau. Nhưng mà vì thầy bất động, tâm thầy không động, không buồn không vui theo nó, cho nên năm triệu hay không còn đồng nào vẫn như nhau, nhưng hai cái đó khác nhau. Còn cái mà năm triệu chính là không triệu, không triệu chính là năm triệu là nó không phải là cái ví dụ mà một người cúng rồi lấy đi nữa, mà thầy đã có năm triệu sẵn, nhưng mà ngay trong lúc mà thầy cầm cái năm triệu đó, thầy đã thấy nó là không. Hoàn toàn tâm không dính gì với cái năm triệu đó hết. Hoặc là nói luôn năm tỷ. Hoặc là ví dụ trong túi chúng mình có năm tỷ, bây giờ thử tưởng tượng, tất cả chúng ta ngồi đây
[58:34]thử tưởng tượng mình đang có năm tỷ trong túi. Có ai có năm tỷ thiệt thì giơ tay cho thầy biết cho thầy xin địa chỉ. Có ai? Giấu hết trơn ha. Thôi được, nhưng mà tưởng tượng mình đang có năm tỷ thì nghĩ coi tâm mình đang như thế nào. Tưởng tượng đi. Ví dụ bất ngờ có một phép màu hiện ra, tự nhiên trong túi mình nó phình lên một cục tiền, năm tỷ. Tưởng tượng đi. Thì tâm mình sao?
[59:02]Nó khác đây là không đợi có người lại lấy năm tỷ đó, mình vẫn bất động mà để gọi là năm tỷ và không tỷ là không, mà tâm mình định là ngay đang có năm tỷ đó mà tâm bất động hoàn toàn, vẫn coi như không, vẫn coi như mình không có đồng nào. Vẫn coi như mình không có đồng nào ngay đúng lúc đó luôn. Đây là cái thấy nó lớn hơn, nó vượt hơn, chứ không phải đợi thay đổi hai hoàn cảnh. Ngay khi mình đang có năm tỷ mà vẫn xem như mình không có đồng nào thì cái đó mới gọi là năm tỷ tức là không tỷ. Đồng ý không? Đồng ý không? Chỗ này phải hiểu cho ra nha. Không hiểu ra được mình không hiểu được cái đoạn kinh quan trọng nhất của bài Bát Nhã Tâm Kinh.
[59:43]Nghĩa là ngay khi đang có năm tỷ mà vẫn thấy như mình không có đồng nào. Cái tâm phải đang định như vậy, định như vậy đó. Được không? Được không?
[59:56]Chừng nào có thử 5 tỷ rồi mới biết. Vì sao vậy? Ví dụ bây giờ mình nói ví dụ, mình tưởng tượng thì mình không có thật, phải không? Cho nên mình có thể nói: "Ờ, nếu có 5 tỷ, tôi sẽ coi như là không có đồng nào." Câu đó nói được, nhưng mà nếu một ngày đẹp trời nào đó mình có thật, mình có thật 5 tỷ thì làm sao? Bắt đầu mình khác nhiều thứ lắm, bắt đầu nó khác. Con người đi làm sao? Nghênh nghênh, dòm coi ai không ra gì, phải không? Bắt đầu lên giọng thiên hạ nói chuyện đồ, chùa có thèm tới nữa không? Không thèm tới, hàng xóm không thèm chơi, ví dụ vân vân. Nghĩa là cái là con người đổi tánh liền.
[1:00:36]Tức là chúng ta hoàn toàn bị ảnh hưởng bởi bởi cái 5 tỷ đó. Chỉ có những người mà tu hành rất là sâu, ví dụ có 5 tỷ mà vẫn coi như không. Coi như không rồi mà có xài không? Coi như không mà có xài không? Chà, coi chừng.
[1:00:55]Coi như không, coi chừng nha! Nếu mà có ai nói: "Tôi là tự tại nên tôi coi 5 tỷ như không", rồi đem 5 tỷ ra trước đường đó, đứng trên lầu rải xuống, rải xuống cho ai muốn lượm lượm, bởi vì tôi coi 5 tỷ như không, thì người đó có tự tại không? Không, cũng tự tại đó, nhưng mà hơi ngu.
[1:01:15]Bởi vì Bồ tát không có ngu vậy. Bồ tát có cái kỳ cục vầy nè: đang có 5 tỷ mà vẫn coi như mình không có đồng nào, nhưng mà xài từng đồng rất kỹ. Bồ tát kỳ khôi vậy đó. Không ai ăn gian được đồng nào, mà dùng đồng nào là chắc cú đồng đó. Dùng đồng nào là bảo đảm mỗi đồng đó tăng thêm đạo tâm cho chúng sinh, chứ không bao giờ xài phí một đồng nhỏ, mặc dầu lúc nào cũng coi như không có tỷ nào. Bồ tát khôn vậy đó, chơi kỳ vậy chứ Bồ tát. Thì cũng vậy, cái nói mà sắc tức thị không này là không phải đợi chúng ta đổi qua hai trạng thái để chúng ta thấy tâm mình dù ở trạng thái nào cũng là bất động, cho nên mới nói là:
[1:01:56]có thân cũng như không thân, không thân cũng như có thân. Nhưng mà Bồ tát tâm định đến nỗi mà ngay khi đang có thân này mà vẫn thấy như là không thân, cái tâm định đến như vậy, cho nên mới tuyên bố rằng là: sắc tức thị không, không tức thị sắc. Còn chúng ta chưa đạt được cái định đó, cho nên chúng ta đang còn sống, đang lệ thuộc cái thân này, thân này rất là quan trọng đối với mình, phải không? Rất là quan trọng đối với mình. Còn Bồ tát đang có thân mà cái định nó vượt khỏi trời đất rồi, cái tâm mình thênh thang vượt khỏi trời đất, sống cũng được, chết cũng như thế, sống vẫn tự tại, chết vẫn tự tại, lúc nào làm cũng được.
[1:02:37]Đang có thân mà không lệ thuộc thân, nên đang có thân mà vẫn coi như không thân, thì đó mới là sắc tức thị không, không tức thị sắc. Còn chúng ta nghe nói, biết như vậy thôi, biết trí tuệ Bồ tát như vậy thôi, chứ không làm nổi, chưa làm nổi.
[1:02:56]Nên từ cái mà sắc bất dị không để tiến lên cái sắc tức thị không, nó đòi hỏi cái định vượt lên trên gấp mấy chục lần nữa, chứ không phải dễ. Cái kia là dòng đời cứ thay đổi nhưng tâm mình bất động, còn cái thứ hai mà sắc tức thị không là ngay khi nó như thế này mình đã không còn chấp nó nữa, ngay khi đang có đã không chấp. Đó. Rồi bắt đầu qua tới cái cái vế tiếp là: thọ, tưởng, hành, thức lần lượt cũng như vậy hết, nghĩa là thọ bất dị không, không bất dị thọ, thọ tức thị không, không tức thị thọ, phải không? Rồi tưởng cũng vậy, chúng ta cũng lặp đi là: tưởng bất dị không, không bất dị tưởng, tưởng tức thị không, không tức thị tưởng.
[1:03:41]Nghe ngủ chưa? Mấy chữ Nho không à, ráng chịu khó nghe không? Không nói, nói mà đầy đủ ngủ hết. Nhưng mà khi mà mỗi uẩn mà tăng lên như vậy á thì cái đòi hỏi sức định còn cao hơn nữa. Hồi nãy chúng ta nói cái thân thôi, nghĩa là các vị Bồ tát á đang có thân này mà vẫn coi như không có, đó là ngài chứng được sắc tức thị không. Nhưng mà cái thọ ấm vô hình nó còn vi diệu hơn, mà ngay khi đang có cái thọ mà ngài vẫn thấy thọ như là không có, thì chứng được cái thọ tức thị không. Đang có cái tưởng ấm mà tâm quá thanh tịnh nên coi như không, chứng được tưởng tức thị không. Đang có hành ấm nhưng mà hành ấm hoàn toàn trong thanh tịnh
[1:04:21]trong kiểm soát của ngài, nên hành tức thị không. Đang trong cái biết cực kỳ thanh tịnh nhưng mà cái định nó còn vượt hơn khỏi cái biết đó nữa, nên thức tức thị thì không. Là đòi hỏi cái sức định này là tới cùng trời tận đất, tới chỗ chứng ngộ hoàn toàn mới có thể thấy được cái chỗ mà thức tức thị không, không tức thị thức. Nghĩa là nếu mình chứng được cái sắc tức thị không là mình cao siêu hơn bao nhiêu lần rồi, thì tới cái thức mà tức thị không là Bồ tát đã chứng được cái trí tuệ và cái định cao gấp mấy triệu lần ban đầu. Nhớ như vậy, mấy triệu lần ban đầu. Dễ không? Tu dễ không?
[1:05:02]Vì như vậy, bây giờ chúng ta nghe chư Thánh hiển bày cái trí tuệ các ngài qua cái câu là: "sắc tức thị không", và các ngài nói các ngài thấy cũng vậy: "thức tức thị không", thì chúng ta bắt đầu lường được cái sự vĩ đại các ngài chưa? Bắt đầu lường được, phải không? Là ngài đúng thực sự là một đại dương mà chúng ta chỉ là một giọt nước, ngài là một ngọn cao sơn mà chúng ta chỉ là một hạt bụi. Đúng thật sự. Cho nên khi mà chúng ta học cái bài Bát-nhã này á, cái người mà học đúng á thì càng học Bát-nhã thì càng thấy mình thấy mình sao? Tầm thường, phải không? Thấy mình tầm thường, nhỏ nhoi, và càng thấy chư Thánh là cực kỳ vĩ đại.
[1:05:47]Đó là người học đúng. Còn cái người học sai á thì thấy sao? Thấy Thánh cũng như phàm, ai cũng như ai, Phật cũng như tui. Đó là học sai đó, vì ai cũng không á. Đó là người học sai, học không hiểu. Không thấy được cái tầm thường của mình thì người đó học sai. Còn cái người mà càng học Bát-nhã chừng nào mà càng thấy rõ sự tầm thường của mình chừng nấy, người đó đã học đúng giáo lý Bát-nhã. Vì sao mà thấy được sự tầm thường của mình? Bởi vì hiểu được sự vĩ đại của chư chư Thánh, chư Phật. Còn mà học Bát-nhã mà không thấy được sự vĩ đại của chư Phật, nên cứ tưởng mình còn còn ngon lành. Nhưng mà học hiểu được thật sự rồi mới biết mình
[1:06:30]quá tầm thường, đó là người hiểu đúng Bát-nhã. Vì vậy, chúng ta học Bát-nhã rồi cho đúng đường, chúng ta đạt được sự khiêm hạ nhiều lắm. Học được sự khiêm hạ là thấy mình tầm thường. Chúng ta đạt được một cái tâm nữa mà rất quý nữa là tâm ngưỡng mộ chư Thánh, tâm ngưỡng mộ chư Thánh. Nghĩa là khi học được Bát-nhã rồi, lòng mình đối với Phật, với chư Bồ tát là mình kính trọng không còn bờ bến nữa, thì đó là người đi đúng con đường Bát-nhã. Còn người mà học Bát-nhã rồi, rồi coi Phật, Thánh gì cũng như ai như ai là người đó rơi vào tà kiến, hiểu sai Bát-nhã. Mà hiểu sai thì con đường đi về đâu? Đọa lạc ba ác đạo:
[1:07:10]súc sinh, địa ngục, ngạ quỷ. Nhớ như vậy. Còn người học đúng đường rồi, tự nhiên trong tâm bừng bừng với sự ngưỡng mộ đối với chư Phật, chư Thánh vì biết các ngài quá vĩ đại, mình quá tầm thường, nên cái sự tôn kính đối với Phật là không bờ, không bến. Người như vậy là đúng. Nãy giờ mình phát sinh được tâm đó chưa? Chút xíu nào chưa? Phải ráng chiêm nghiệm điều này nha! Hồi nãy chúng ta nói cái sự an định vĩ đại mới thấy được những điều đó, vậy ừ. Bây giờ chư Thánh á, các ngài thấy sắc tức thị không hoặc là thức tức thị không, bởi vì cái sự chứng ngộ cao siêu, cái thiền định thâm sâu của các ngài mà chúng ta chưa được, cho nên chúng ta
[1:07:59]tránh một cái lỗi là bắt chước nói như mình đã được, phải không? Tránh cái lỗi đó, đồng ý không? Ví dụ bây giờ có người nói: "Ủa, sao hôm nay anh ăn mặc gì đâu mà anh đi dự tiệc cái đám cưới con gái tui mà anh ăn mặc gì tồi tàn quá vậy?" Mình mới trả lời: "Sắc tức thị không mà." Thì cái câu trả lời đúng hay sai? Sai, bởi vì sao? Bởi vì bắt chước, phải không? Bắt chước chư Thánh mà mình chưa đạt được, nên câu trả lời đó là là sai.
[1:08:36]Vì mình chưa bao giờ đang sống với thân này mà thấy như không còn thân, cái định mình chưa đủ, cái tâm mình chưa trùm hết trời đất, cho nên câu nói đó là bắt chước của Thánh, nên thành ra kiêu mạn và ẩu tả, ngang tàng. Trả lời như vậy không được. Phải trả lời sao mới đúng? Ví dụ như mình đến đám cưới nhà người ta, người ta bắt nói: "Trời ơi, sao anh đến dự đám cưới con gái tui mà anh mặc đồ gì đâu mà nó sình xoàng quá?" Thì thôi nhớ bài học hôm nay, đừng có nói: "Sắc tức thị không", mà phải nói làm sao? Nói làm sao? "Tôi tôi đãng trí, tôi quên thay đồ" thì nghe còn dễ được, phải không? Thì nghe được. Phải nói thật thà, thẳng thắn, dù là thua thiệt,
[1:09:20]nói vậy, chứ đừng có lập lờ mà lươn lẹo để mà lên lên lương, không cần điều đó.
[1:09:30]Vì vậy bổn phận hiện nay của chúng ta là gì? Đối với cái cái trí Bát Nhã của chư Thánh, bổn phận của chúng ta là gì? Hiện nay mình bắt đầu từ đâu?
[1:09:43]Chúng ta bắt đầu từ cái việc mà nắm vững giáo lý Tứ Diệu Đế trước, phải không? Chúng ta thực hành Bát Chánh Đạo cái đã. Thực hành Bát Chánh Đạo một cách vững chắc, kỹ lưỡng. Chúng ta biết tạo phước bằng Chánh nghiệp, và biết làm giàu bằng Chánh mạng nữa.
[1:10:02]Vì sao vậy? Thì có lần chúng ta đã nói nhau trong Tứ Thánh Đế phải không? Người Phật tử phải biết làm, biết làm giàu, để làm chi vậy? Mới có điều kiện mà làm phước giúp đời, làm giàu trong cái chân chính khi mình có phước. Điều đó rất cần thiết. Giàu sang, tiền bạc cũng là một phương tiện, bởi vì tiền bạc là đầy tớ mà. Khi mình biết Đạo rồi, tiền sẽ là đầy tớ của mình. Còn mình không biết Đạo thì tiền là ông ông chủ sai khiến mình, làm mình nô lệ, làm mình mình tôn thờ nó. Còn khi mình biết Đạo rồi thì tiền là đầy tớ để mình làm những điều tốt cho cuộc đời. Cho nên làm giàu không có lỗi, chỉ sợ mình không biết Đạo á, càng làm giàu càng hư, càng tham.
[1:10:45]Nhưng mà biết Đạo rồi thì càng giàu càng có lợi. Mình sẽ đem đồng tiền đó làm nên những điều tốt đẹp cho cuộc sống này. Nên đó là bây giờ chúng ta bắt đầu để có thể hiểu được Bát Nhã bằng cách nắm vững Tứ Diệu Đế, tu tập Bát Chánh Đạo, trong đó làm phước theo Chánh nghiệp. Đó, Phật tử thì biết làm giàu bằng Chánh mạng, còn người tu thì không phải làm giàu. Người tu thì nhờ sự giúp đỡ của Phật tử để mà lo phụng sự cho Đạo, đó người tu vậy. Do đó là chúng ta có cái khởi điểm rất là cẩn thận và cái phương châm của chúng ta ghi khắc trong lòng là thế này: chúng ta thà là một phàm phu chân chính hơn là một vị thánh giả tạo.
[1:11:35]Thà là một phàm phu chân chính hơn là một vị thánh giả tạo. Thế nào là một phàm phu chân chính và thế nào là một vị thánh giả tạo? Một phàm phu chân chính nghĩa là người đó là người biết mình còn dở, phải không? Biết mình còn tầm thường và ráng thực hành những lời dạy của Phật một cách rất căn bản. Đó là một phàm phu chân chính. Còn thế nào là một vị thánh giả tạo? Đó là một người lúc nào cũng mở miệng mà bắt chước lời của các vị vị thánh. Lúc nào ai đụng tới: không, sắc tức thị không. Đó, đó là một vị thánh giả tạo. Nói: ô Phật cũng như tui. Đó là một vị thánh giả tạo. Còn cái người phàm phu chân chính là gì?
[1:12:20]Gặp tượng Phật cúi đầu lạy với tất cả sự tôn kính của mình. Bây giờ, chúng ta hãy nghe lời như vậy là hãy ráng là một phàm phu chân chính, và chúng ta sẽ được công đức mỗi ngày một tăng trưởng, phước mỗi ngày một lớn, vì biết mình dở nên phải bòn mót từng chút công đức, biết khiêm tốn và biết ngưỡng mộ. Biết khiêm tốn là thấy mình dở, biết ngưỡng mộ đối với những bậc Thánh đáng kính, biết tôn trọng mọi người chung quanh mình, đó là một phàm phu chân chính. Thì người phàm phu chân chính này công đức càng ngày càng càng lớn. Còn một vị thánh giả tạo là làm sao? Lúc nào cũng ra vẻ đường bệ, ngon lành, mở miệng là nói như ta đây đã được thanh
[1:13:05]tịnh, tâm này như không, sắc tức thị không, thì đó là vị thánh giả tạo, thì phước từ từ tổn giảm, tại vì không còn cái tâm khiêm tốn và không còn cái tâm ngưỡng mộ nữa, cho nên phước bị giảm lần lần. Và phước giảm, nếu mà nặng quá, có thể bị điên loạn luôn đó. Rất là đáng sợ. Cho nên là phàm phu chân chính ngon lành hơn là vị thánh giả tạo.
[1:13:33]Có một lần, à có một cái trường Phật học đó mời một nhà sư Đài Loan tới giảng. Thì như ông giảng bằng tiếng tiếng tiếng Hoa, thì có người ta mới dịch lại. Thì khi vào đầu bài giảng, ổng mới hỏi tăng ni thế này: Các vị có thấy mình là Phật không? Thì biết ý của ổng, thì mọi người nói thấy, nhưng mà thấy nhưng cười, tại Đạo Phật Việt Nam mình coi như cẩn thận, bên mấy nước khác mới ẩu thôi. Nghĩa là cái tiên đề của họ tu là đầu tiên thấy mình là Phật.
[1:14:05]Thì như vậy là họ rơi vào cái lỗi gì? Là một vị thánh giả tạo và công đức sẽ càng lúc càng tổn giảm. Bữa đó mà ai ừ một câu là người đó tu thêm ba trăm năm nữa để lấy lại công đức. Còn ai mà biết khôn không ừ, cười thôi thì không mất phước. Cho nên cái người giảng sư mà đi mà hỏi một câu để mong cho người ta ai cũng tự nhận mình là Phật là người đó đi giết hết căn lành của người này tới người kia. Giết hết, giết hết, tàn sát hết mọi công đức luôn, bởi vì tập cho người ta làm một vị thánh giả tạo. Nên đó là cái tà kiến, cái sai trong Đạo Phật. Và một trường hợp khác, có một cái đạo đó, mình không muốn nói tên, vì muốn muốn hạ thấp giá trị của Đức
[1:14:50]Phật, cho nên khi mà tín đồ đến với họ, họ dặn tín đồ phải xem mình như Phật. Ai mà không biết xem mình như Phật là bị họ quở trách. Thì cái người mới đầu ngờ ngợ nhưng sau quen, tự xem mình là Phật. Khi mà tự xem mình là Phật rồi thì còn nhìn thấy Phật trên bàn thờ là là đáng kính nữa không? Không. Họ hạ nhục Đức Phật, họ tiêu diệt Đạo Phật bằng cách đó, tức là tập cho cái người tín đồ tự coi mình là Phật. Thì cái người tín đồ đó là trở thành một vị thánh giả tạo rồi, công đức tiêu hết rồi, nhưng mà cái điều nguy hiểm là họ diệt hết Đạo Phật luôn, làm cho người ta mất đi cái lòng tôn kính Phật.
[1:15:28]Đó là cái âm mưu mà diệt Đạo Phật nguy hiểm nhất. Nên vì vậy, chúng ta gặp một người nào mà có cái giáo lý kiểu đó, chúng ta phải quyết liệt chống đối họ nha, giải thích cho họ, phủ nhận họ. Mà họ chưa chịu thì đeo theo họ tới ngày nào họ chấm dứt cái luận điệu đó, không cho họ làm một vị thánh giả tạo, không cho họ gieo rắc cái tà kiến đó trong Đạo Phật để giữ thiện căn cho những người khác. Nhớ như vậy nha, chúng ta không buông tha những cái người mà tự coi mình là Phật, không buông tha. Chúng ta phải giải thích cho họ để tới ngày nào họ trở thành một phàm phu chân chính để chúng ta cứu cuộc đời của họ.
[1:16:06]Chịu không? Phải chịu cực như vậy nha. Hễ thấy một người có tà kiến, phải đeo theo, giải thích cho bằng được cho tới cái ngày nào họ trở lại là một phàm phu chân chính. Bởi vì sao? Bởi vì những cái giáo phái ác độc, những cái tà kiến nguy hiểm cứ tập cho người ta làm một vị thánh giả tạo. Nhưng mà ngày hôm nay điều đó phải chấm dứt bằng tất cả những người đệ tử Phật chúng ta ngồi đây, ai cũng phải có cái bổn phận là ngăn chặn cái hiểm họa này, cái hiểm họa là gieo rắc làm những vị thánh giả tạo khắp nơi. Bây giờ chúng ta phải cản lại điều đó, phải giúp cho mọi người trở lại là một phàm phu chân chính để họ có công đức mà tiến lên.
[1:16:46]Nhớ nha, chúng ta phải hứa như thế, phải nguyện lòng như thế. Được không?
[1:16:55]Giờ chúng ta có chuyện chút xíu, chúng ta nói về chất độc màu da cam một chút. Là hiện nay, à trong cả nước chúng ta phát động cái việc mà ký tên ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam, nên chúng ta là người Việt Nam, chúng ta có bổn phận làm việc này là để ngăn chặn bớt, để giải tỏa bớt, làm giảm thiểu đi cái nỗi đau khổ của những gia đình mà có những người con bị nhiễm chất độc màu da cam, sống không còn là con người nữa. Giờ chúng ta không biết làm gì để chúng ta góp một tay đối với những người đáng thương đó, chúng ta chỉ xin ký một chữ ký. À chúng ta nhìn trên nhân quả Đạo Phật thì chúng ta biết rằng là những người mà bị nhiễm chất độc màu da
[1:17:44]cam thì chắc là cũng có cái nhân gì đó đời trước, nhưng cái lòng từ bi mà Phật dạy chúng ta buộc chúng ta phải thương chúng sinh, thương những người đau khổ, dù có khi biết cái khổ đó là do cái nhân quả đời trước, nhưng mà bổn phận ta là phải thương yêu những người đã lỡ sai lầm tạo nhân. Ví dụ như mình gặp một người họ quá nghèo khổ, mình không thể nói là: ôi tại người đó đời trước hạ tiện chi giờ khổ ráng chịu, không được nói như vậy. Mà biết như vậy đó nhưng mà vẫn phải thương yêu, chứ không được lấy cái nhân đó ra để rầy, để mắng họ. Nhớ như vậy, là vẫn phải thương yêu để giúp đỡ. Có lần á, có một người hỏi thầy, nói:
[1:18:25]Thưa thầy, con giới thiệu Đạo Phật với người khác, thì người kia mới hỏi: Trong Đạo Phật có ai làm được như Mẹ Teresa của Thiên Chúa giáo không? Là đi cứu giúp những người nghèo khổ. Trong Đạo Phật có ai làm được như vậy chưa? Cái người đó nói: Dạ con hổng biết đường đâu trả lời, nên về hỏi thầy. Và đây câu trả lời của thầy. Thầy nói: Hãy nói với người ta thế này: Đợi cho chúng sinh đau khổ rồi đi cứu giúp thì rất là dễ thấy, dễ nổi bật, nhưng không hay bằng những người âm thầm dạy người ta gieo nhân lành để người ta không bao giờ đau khổ, để người ta không cần phải cứu giúp. Và Đạo Phật làm công việc đó.
[1:19:00]Đạo Phật là âm thầm dạy người ta gieo nhân lành để người ta không bị rơi vào cảnh khổ. Còn những đạo khác chờ đi kiếm những người gieo nhân ác rồi người ta đau khổ rồi đi cứu giúp là chỉ xử lý cái cái ngọn, còn Đạo Phật xử lý cái gốc, mà xử lý cái gốc thì khó thấy. Ví dụ như bây giờ thầy nói, như thầy ngồi đây, trước mặt thầy không biết bao nhiêu người, ví dụ như nhiêu đây là những người đang tàn tật, nghèo khổ, rồi thầy đi thầy cho quà từng người, thì nổi không? Nổi liền, báo chí lại đăng liền. Nhưng bây giờ bao nhiêu đây người, thầy chỉ dạy đừng làm ác để đừng bao giờ đau khổ, thầy có nổi không?
[1:19:32]Không, không ai để ý, không báo chí nào lại đăng hết. Cho nên vì vậy, cứ nhìn trên bề mặt thì thấy những người đi làm thiện cứu người nghèo khổ có vẻ nổi, nhưng mà sự thật không hay bằng những người âm thầm đi gieo rắc điều thiện, đi gieo rắc cái niềm tin hiểu luật nhân quả, những cái điều đó mới thật sự cứu thế giới này hơn. Hãy về trả lời với người ta như vậy.
[1:19:57]Ờ thì trả lời mấy câu hỏi trước. Đeo vàng dưới cổ chân có tội không? Chắc là không. Xin Thầy giải thích cho con: Phật Thích Ca tu thì để tóc, còn Thầy thì không để tóc?
[1:20:14]Không, Ngài cũng cắt tóc chứ. Ngài cắt tóc, nhưng mà tượng thờ á thì hay hay để cái tóc là để ý là một cái quý tướng của Phật lúc Ngài mới sinh ra là tóc Ngài từng lọn, từng lọn xoắn xoắn xoắn rất là đẹp. Nó không phải xoắn như kiểu mà những người Phi châu mà xoắn tít tít tít tít lại. Ngài xoắn từng lọn lớn lớn lớn mà rất là đẹp mà là một trong quý tướng. Nên khi mà thờ Phật, người ta hay tạc như vậy để biểu lộ quý tướng thôi, chứ không phải là là không.
[1:20:43]Chúng con là là những hội viên của Hội Người Mù quận 11. Chúng con đang làm Phật sự bằng cách đem băng giảng của quý Thầy cho các anh chị em trong Hội Người Mù, nhưng mà hoàn cảnh khó khăn nên không có được nhiều và xin sự ủng hộ. Thì nếu như vậy là quý Phật tử ai có lòng thì gặp hai vợ chồng là pháp danh là Minh Tấn và Diệu Kim thì nói chuyện thêm giùm Thầy nha. Người nào đó pháp danh là Minh Tấn và Diệu Kim, thì có muốn người ai có ủng hộ cho cái băng giảng cho Hội Người Mù thì liên lạc với hai vị này giùm Thầy. Con xin hỏi Thầy: Ngài Mục Kiền Liên có phải là Địa Tạng Bồ Tát không? Trong sử sách thì là không.
[1:21:17]Trong sử sách thì không có ghi sự liên hệ Ngài Mục Kiền Liên là là Ngài Địa Tạng Bồ Tát, nên chúng ta cũng không kết luận được như vậy. Tuy nhiên, thật sự là ở dưới ở dưới địa ngục có những vị Bồ Tát họ thường hay giáo hóa phía dưới. Những vị tội nhân nhiều khi ngoài cái lúc bị giam, bị cầm ra, có những người những vị Bồ Tát cũng giảng dạy ở dưới đó. Mình muốn đặt tên gì đó đặt. Các Ngài không quan trọng cái tên đâu.
[1:21:42]Con là một người Việt Nam từ Úc về. Vài ngày nhờ Phật tử đưa nghe Thầy giảng. Người Phật tử đó bảo là Thầy là người giảng pháp sai vì Thầy bảo kinh Lăng Nghiêm và kinh Pháp Hoa là không do Đức Phật để lại và vì vậy Thầy sắp bị bắt.
[1:21:59]Thật sự á, người ta đồn Thầy bị bắt, đồn Thầy bị chết, đồn Thầy bị xe tông, đồn đủ mảng hết trơn. Thật ra đó, hệ thống Kinh tạng Đại thừa không phải Phật thuyết, đó là một sự thật lịch sử. Sau này những vị có học đàng hoàng đều biết hết á. Những vị tiến sĩ mà ra nước ngoài học ai cũng biết. Nhưng mà tuy nhiên là cái hệ thống Kinh tạng Đại thừa đó nhiều tư tưởng rất là hay như chúng ta đang học bài kinh Bát Nhã Tâm Kinh đó. Sự thật cái nguồn gốc cũng không phải từ Đức Phật đâu, nhưng một vị Bồ Tát nào mà nói lên những cảnh giới rất là hay và phù hợp với Tứ Diệu Đế, cho nên là chúng ta vẫn phải cúi đầu học hỏi thôi.
[1:22:29]Nhưng về lịch sử thì phải như vậy, phải công nhận như vậy. Nhưng mà hễ là chân lý thì luôn luôn là được sự gia hộ. Thầy nói ví dụ như Thầy có viết cái bài tụng là bài Lời Khấn Nguyện á, xin cho con mãi mãi là đó lòng thương yêu không cùng. Có nghe Phật tử có tụng bài đó chưa? Thì bài đó là Thầy viết chứ đâu phải Phật viết đâu, nhưng mà đúng với ý Phật, cho nên ai tụng cũng cảm thấy có linh nghiệm hết. Thân tâm thanh tịnh rồi mà được may mắn nữa, lại được Phật gia hộ. Cái gì đúng thì luôn luôn Phật gia hộ, chứ không phải là hễ nói đúng lời Phật đâu. Phật không cần mình phải nói đúng lời Phật, nhưng mình đúng đạo lý là Phật Phật thương liền, Phật cưng liền à, không sao hết, ha!
[1:23:04]Thưa Thầy, những trẻ nhỏ của xã hội văn minh hiện tại chỉ cần trò chơi điện tử và phim hoạt hình, chừng nào Thầy mới có chuyện cổ tích về Phật và chuyện về nhân quả cho chúng con? Chừng nào ai cho Thầy tiền thiệt nhiều, Thầy làm cho coi. Làm Thầy ước mơ đó lâu rồi. Thầy ước mơ dựng một bộ phim 100 tập về cuộc đời Đức Phật, nhưng mà chuyện nó vĩ đại quá, mình không đủ sức làm. Đạo Phật mình không đủ tập hợp với nhau khả năng tài chánh để làm, cho nên Thầy vẫn để đó là một ước mơ. Nhưng mà Thầy xin gửi ước mơ vào tất cả mọi người, một ngày nào đó mọi người chung tay góp sức, mình có những đạo diễn giỏi, diễn viên giỏi thì thì làm được.
[1:23:44]Hồi đó Thầy cho mỗi người một vai.
[1:23:50]Thầy, dạo này con vào website chuaphatquang.net không còn thấy hình ảnh hay một chút gì liên quan đến chùa Phật Quang mà thay vào đó là hình ảnh và bài vở của Trúc Lâm Thiền Viện và Thường Chiếu. Thầy có hỏi, tại vì cái cái trang web của chùa mình ở bên Mỹ điều hành, người Phật tử bên đó điều hành chứ Thầy cũng không biết, mà máy của Thầy tốc độ nó chậm quá, Thầy cũng không vô xem được. Thì hôm trước thì Thầy thấy bình thường nhưng hôm nay Thầy cũng không biết sao, thì Thầy có hỏi thì người ta nói vẫn bình thường. Chỉ có đăng cái bài Cuối Hàng Dương là cái bài mà ngày xưa cái lúc Thầy viết Thầy còn ở Thường Chiếu thôi,
[1:24:18]chứ họ nói cũng không có gì thay đổi, nên Thầy không biết là tại sao. Hay là có bị một hacker nào không thì Thầy không có biết. Để từ từ coi lại nha. Bốn băng Góp Nhặt Cát Đá Thầy giảng từ năm 93 rất hay, nhưng tiếng ếch nhái ảnh hưởng kêu lớn quá làm át mất tiếng của Thầy. Xin Thầy vui lòng giảng lại khi có dịp. Chứ Thầy lại khoái nghe tiếng ếch nhái trong bài giảng, ha, có vui lắm hết trơn. Nhiều khi Thầy giảng dở đó, cái nhờ nó, nó kêu ền oang rồi cái nghe nó hay. Lúc đó vì Thầy giảng kế bên cái bờ suối đó, trong cái nhà sàn sát bên bờ suối á, à, lúc Thầy trò có mấy người ngồi nói chuyện nhau, tiếng ếch nhái nó phụ thêm.
[1:24:55]Một số Phật tử nói rằng Thầy quyết định chấm dứt khóa giảng pháp vào ngày mùng một mỗi tháng: Hỡi Thầy, sao lại thế này? Sao nói nghe viết nghe thảm não hay sao đó. Chúng con năn nỉ, van nài Thầy mà đừng có bỏ chúng con giữa trần gian muôn màu này nha Thầy. Con nói nhỏ câu này. Con nói nhỏ câu này, tức là: Chúng con vô tình hay mà cố tình làm điều gì tội lỗi giữa trần tục lụy này thì Thầy ráng chịu, tại Thầy không giảng à. Ghê quá, hù dọa quá. Xin Thầy giải thích cho chúng con câu nói: Tất cả ai trong chúng ta đều có thể là Phật. Thì câu này thì đúng. Ai cũng có thể là Phật nếu mình tu đúng đường Phật dạy,
[1:25:32]nhưng mà khẳng định mình là Phật thì là tà kiến, là một vị thánh giả tạo liền. Khi con quy y, Sư phụ của con có nói phải xem Tăng như là Phật sống, xin Thầy giải thích. Phải xem Tăng như là Phật sống, thật ra trong cái quy y Tam Bảo là quy y Phật, Pháp, Tăng, không muốn nói nhưng hôm nay Thầy nói thẳng luôn, là quy y Phật là tôn kính Đức Phật, đúng rồi nè. Quy y Pháp là lời dạy của Phật nè. Quy y Tăng, xin thưa là những vị Thánh Tăng đắc đạo thì mới lòng tôn kính như Phật. Còn những vị Tăng mà không phải là Thánh, chưa chứng đạo thì phân ra hai loại: chân Tăng và giả Tăng. Chân Tăng là những người chưa đắc đạo nhưng rất có
[1:26:13]lý tưởng, ráng sống, ráng tu theo lời Phật dạy. Những người đó cũng rất đáng kính. Còn giả Tăng thì mất lý tưởng rồi, tuy còn hình tướng, thì những người đó chúng ta phải không ủng hộ. Chứ không phải là vì có hình tướng mà mình coi như Phật sống là sai nha. Thưa Thầy, có người càng tu theo Phật Pháp, lạy Phật, niệm Phật siêng năng thì càng khó khăn, khốn đốn, chuyện xui hiện ra cản phá liên tục khiến người đó nản chí, mất niềm tin nơi Phật Pháp. Đứng trước hiện tượng này, có thể giải thích bằng mấy cách? Cái việc mà mình càng tu mà càng gặp chuyện xui á thì trong cái giáo lý mình thực hành có điểm sai.
[1:26:47]Thầy không muốn nói là trả nghiệp, tại trả nghiệp là đổ thừa chuyện quá khứ. Ví dụ như nói tụng kinh Pháp Hoa rồi tự nhiên gặp chuyện xui là đổ nghiệp quá khứ để trả cho hết. Câu giải thích đó cũng không sai, nhưng mà không chuẩn. Chỉ biết chắc là trong cái sự tu hiện tại, trong cái giáo lý hiện tại của ta có cái gì đó sai lầm. Bây giờ hỏi Thầy như vậy khơi khơi thì Thầy không biết sai điểm nào, chứ còn nếu gặp người đó, người đó trình bày cái sự tu hành thì Thầy sẽ biết ngay sai chỗ điểm nào, gỡ bỏ cái điểm đó ra là hết xui liền, là càng tu càng hên. Nếu có gặp chuyện xui là tự nhiên nó lướt qua nhẹ.
[1:27:19]Ví dụ nhà bừng cháy nhưng không cháy, chữa kịp. Xe đụng nhưng mà không có té gãy chân, gãy tay, chỉ trầy sơ sơ thì cái đó có. Tức là trả nghiệp nhưng mà được giải bớt, giải bớt hết, chỉ còn phất phớt, phất phớt thì đúng. Mà thường gặp may mắn là đi đúng đường, đó là mình tu đúng. Còn tu sai thì chứ chịu không nổi, chịu không nổi, mình có cái gì sai đó, mình chưa biết. Con là con út trong gia đình, mẹ và anh chị con có thói quen nói xấu, công kích, chỉ trích người khác gay gắt, nghiệt ngã. Con rất khổ tâm về chuyện này, nhưng lời nói của con không có giá trị góp ý. Con sợ lây nhiễm về tâm linh và quả báo sau này trổ ra, con có gánh nhiều không?
[1:27:51]Người hỏi câu này rất khôn. Khi mình mà nghe người này chỉ trích người kia mà mình nghe tâm mình không có phòng vệ, mình sẽ bị nhiễm theo, mình có ý coi thường cái người kia, phước mình mất từ từ, mất lây. Cho nên nếu mình không cản được, mình phải cầu nguyện, cầu nguyện cho gia đình con là đừng có chỉ trích ai hết. Cầu nguyện cho con lúc nào cũng không nói xấu ai hết, lúc nào con cũng tôn trọng con người. Nó vậy mới không là lây. Hỏi câu này là khôn á. Thưa Thầy, sau đám ma, con thấy nhiều gia đình hay mở băng cassette hay mở đĩa VCD quý Thầy tụng kinh. Nhiều người nói mở băng đĩa không giúp gì cho người thân,
[1:28:24]vong linh siêu thoát, mà phải mời quý Thầy bằng xương bằng thịt tụng kinh mới linh. Trong phòng học của con, con cũng hay mở đĩa Địa Ngục về những vong linh xung quanh và thân nhân có siêu thoát, lợi ích gì không Thầy? Sự thật là vẫn lợi ích nếu mà cái lời kinh đó có ý nghĩa, có đạo lý, họ nghe được hết, người âm nghe được hết nha. Còn nếu mà có quý Thầy trực tiếp thì thêm cái tâm linh của những vị tu chân chính thì càng thêm lợi ích. Còn nếu không thể nào mời quý Thầy liên tục được, quý Thầy cũng rất là bận, thấy gia đình cũng không phải có điều kiện, thì mình mở những cái băng nào mà mình biết là mình hiểu được thì người âm hiểu được.
[1:28:55]Còn mình không hiểu thì người âm cũng không hiểu, nhớ như vậy. Thì người âm vẫn nghe và vẫn được lợi ích nha, không sao hết, ừ. Kính thưa Thầy, một người có cặp mắt u buồn, nhiều tròng trắng và to hơi trợn, người có tướng này kiếp trước đã gieo nhân gì và tâm lý như thế nào, phải tu hành thế nào để chuyển đổi tướng mạo và cuộc đời? Người tròng trắng nhiều, mắt to hơi trợn là vì kiếp xưa hay trợn mắt. Không, Thầy nói thật á, hay trợn mắt để làm uy với người khác, để hăm dọa, làm tướng dữ với người khác, để đe dọa người ta cái gì, để la mắng người ta cái gì thường xuyên nhiều quá, nên kiếp này cái tướng nó hiện ra luôn.
[1:29:29]Và xin thưa, quả báo nó chờ đợi. Mình không biết là ngày xưa mình trợn mắt để làm cái gì. Nếu mà trợn mắt chỉ để chửi mắng người ta không á thì nó đơn giản, mà trợn mắt mà để hành hạ người ta đó như những người đồ tể ác độc á thì cái quả báo chết thảm là chờ đợi tương lai đó, không tránh được. Nhất là thêm cặp mắt buồn là quả báo đang chờ đợi rồi đó. Hễ đôi mắt buồn buồn là bảo đảm tai nạn cuộc đời sẽ có. Cho nên cái người mà bị đôi mắt hiện ra như vậy rồi á, rất là khó chuyển nghiệp trong đời này. Bây giờ là phải làm phước cực độ. Nếu mà có bao nhiêu tiền dốc ra làm cho nhiều, đi cứu đời, giúp người, truyền bá băng sách,
[1:30:03]đem niềm vui cho con người thật nhiều, khiêm tốn, thương yêu, tôn trọng con người, giúp người từng chút, thì hy vọng là nghiệp còn phân nửa. Thay vì người ta đâm mình chết liền, người ta đâm chết từ từ, không chết liền. Nhớ, thê thảm đó, thê thảm đó. Tướng mắt mà như vậy là đời trước mình dữ lắm chứ không phải không. Giờ phải ráng mà hiền, phải làm phước dữ lắm mới chuyển được. Thưa Thầy, nhà con bán quán cà phê thường mở nhạc não tình, ủy mị, đau khổ, sầu thương. Con sợ bị ô nhiễm tư tưởng. Làm thế nào mà mình sống giữa một rừng nhạc tình, phải chịu đựng nghe mà không bị làm ô nhiễm? Cái này Thầy không biết nha.
[1:30:40]Hay nhất là từ đây về sau đừng mở nhạc tình ủy mị nữa mà mở nhạc đạo. Hồi nãy Bảo Phúc hát á, mở mấy nhạc đó nha, đừng mở nhạc tình nữa. Ai muốn uống uống, không uống thì thôi không cần, vậy đó, có gan chơi vậy. Vô nói: "Sao không mở nhạc tình?" Nói: "Không uống thôi, mà hễ uống cà phê tui là phải nghe nhạc đạo. Mà không nghe kia mở băng giảng cho họ nghe luôn, ai thích uống không thích, thích thì thôi, nghỉ chơi." Đó, mình coi ai đói cho biết, coi ai cần cho biết. Thử coi, lì coi, coi được không.
[1:31:07]Phật tử chúng con nghe tin Thầy nghỉ giảng chúng con rất buồn. Kính thỉnh Thầy đừng nghỉ giảng mùng một. Sự thật cái này Thầy nói cho nghe, nào giờ Thầy giảng cũng nhiều, giờ Thầy có giảng thêm nhiều cũng vậy à. Cho nên Thầy bớt giảng lại để Thầy có thể rảnh Thầy làm những việc khác cũng rất là lợi ích, chứ Thầy không ở không. Cả đời Thầy không bao giờ ở không một giây phút nào. Những lúc thấy Thầy nằm sải soàng ra đó là lúc Thầy đang mệt, dưỡng sức để tiếp tục làm tiếp. Hoặc có những lúc nhiều khi thấy Thầy mở một cuốn phim lên Thầy coi, là lúc đó cuốn phim có một cái gì quan trọng Thầy cần nghiên cứu,
[1:31:37]hoặc là Thầy tập nghe lại tiếng Anh, Thầy không bao giờ ở không, ở không. Cho nên ví dụ Thầy không giảng là có lý do rất chính đáng, chứ Thầy không phải là tiếc công tiếc sức đâu. Cũng có cái gì đó vì Phật Pháp, vì chúng sinh đó nha.
[1:31:54]Con xin hỏi thờ Quan Âm Bồ Tát mà không thờ Phật được không? Thì Quan Bồ Tát với Phật là một không sao nha. À, được tuốt luốt không có gì hết. Con có người chị hễ ai đến gặp chị than vãn khóc lóc kể những nỗi khổ của mình là chị con giúp đỡ tiền. Có khi họ khổ thật có khi bị lừa nữa, nhưng đồng nghiệp cho chị là dễ tin người có phần bất bình cho chị con, nhưng chị con nói nếu họ lợi dụng hoặc lừa mình thì họ có tội, chứ thấy họ khổ nếu không cho thì bị day dứt. Tại sao họ không đến với người khác mà đến với mình, có lẽ kiếp trước mình đã nợ họ? Còn nếu không thì coi như họ đóng kịch cho mình xem vì thấy họ cũng diễn cực khổ lắm.
[1:32:27]Chị con thường gặp những người này lắm mà những lúc như vậy chị rất khó xử vì vừa bị đồng nghiệp chê cười và không biết mình làm có sai không? Xin Thầy hoan hỷ chỉ rõ. Cái người mà nói được như vậy là tâm làm sao? Cũng rất là tốt phải không? Biết người ta lừa mà vẫn vẫn có một cái câu giải thích để không ghét người ta. Đó là người rất là từ bi. Từ bi nhưng mà cái từ bi mình á nhiều khi nó phải đem đến cái lợi cho người ta thì mới là từ bi, còn cái từ bi này chỉ là tốt phần mình thôi, nhưng mà chưa lợi cho người khác. Nên ví dụ như cái người nào mà mình chắc là khổ thật á thì nên giúp, còn nếu biết người ta lừa á thì nên nói
[1:32:59]người ta nghe, giải thích người ta đừng làm như vậy nữa, để ngăn cho người ta cái điều khổ tương lai. Hồi nãy Thầy vừa nói phải không? Cái giá trị của đạo Phật là giúp người ta gây nhân lành để người ta đừng có khổ kiếp sau. Cho nên vì vậy, biết người ta lừa thì nên giải thích cho người ta để người ta đừng lừa nữa. Như Thầy bây giờ là Thầy ít có chuyện mà cho tiền người ăn xin nữa lắm. Hồi nhỏ Thầy ai xin cũng cho nhưng bây giờ thì không. Vì sao? Bởi vì mình cho như vậy mình khuyến khích người ta thành cái nghề, mà có khi những người ăn xin một ngày người ta thu nhập cao hơn những người lao động chân chính nữa. Nó không đáng.
[1:33:29]Nhưng mà đôi khi có những người lành lặn Thầy lại cho, vì biết có những người nhiều khi lành lặn cái đang lúc đang bí thật sự, chứ không phải là họ muốn làm xin ăn. Lúc đó Thầy lại giúp, nhưng có người lấy xin ăn làm cái nghề thì dứt khoát không cho, để họ nên chuyển nghề. Như vậy, cho nên mình thương là không phải lúc nào cũng chiều, nhớ như vậy, thương không phải là chiều, mà thương là giúp người ta làm điều tốt. Giống như cha mẹ thương con không phải lúc nào cũng chiều, mà phải biết cứng rắn dạy con, như vậy đó, phải không? Thưa Thầy tiền con gái con nuôi con, tiền đó con đưa làm phước có được không Thầy?
[1:33:59]Được, cả hai mẹ con sẽ được hưởng phước sau này. Thưa Thầy kiếp này con ăn ở thật thà, đạo đức mà con cứ bị oán, bị mang lời ăn tiếng nói là nghiệp gì? Vì đời xưa cũng hay nói bậy người ta. Thưa Thầy con gái của con mới 34 tuổi bị gai cột sống là nghiệp gì, làm sao cho cháu khỏi bệnh này? Gai cột sống thì Thầy không biết nhưng mà nó đau lưng. Thì cái đau lưng á là do một cái nhân quả. Mắc cười như Thầy có một chú đệ tử vậy, chú cứ bị đau lưng, đi khám bệnh chữa bệnh cũng cực. Cái một đêm đó chú cầu nguyện sao nằm mơ thấy một kiếp xưa lúc đó chú làm tướng, đánh một cái trận bắt được cái tên giặc.
[1:34:30]Khi bắt được giặc thì chú báo lên cấp trên phải xử lý sao, ở trên nói cái tên này quá nguy hiểm, để không được phải giết nó đi. Chú lấy dao chú đâm một cái, chú nhớ cái cái dao đâm xuyên qua, đâm cắn vào xương sống cong cái gươm luôn, máu xịt vào ướt người. Và rồi chú nói một lần ấy, chú nằm mơ thấy đi săn là là bắn mũi tên vào cái lưng của một con hươu. Một kiếp xưa nào mặc áo của cái thổ dân. Kiếp xưa xưa vậy mà bây giờ nó cứ rớt cái nghiệp lại, lâu lắm rồi mà nghiệp nó rớt lại cái cũng đau lưng hết một thời gian rồi mới chữa mới hết, như vậy. Cho nên mình đau lưng có thể một nghiệp gì đó, bây giờ mình ráng phóng sanh, làm phước nè, rồi từ từ hết, không sao hết.
[1:35:06]Rồi rền... rồi tùy duyên khiến mình có cơ hội chữa bệnh. Thưa Thầy hai vợ chồng con sống hạnh phúc, chồng con chết chiến tranh năm 72 là liệt sĩ, kiếp sau con lại muốn làm vợ anh ấy có gặp lại không Thầy? Cái tình yêu bất diệt ấy chưa? Tình yêu này mà là làm phim được chứ chơi sao?
[1:35:27]Khi mình muốn quá thì sẽ được, nhưng mà không chắc là kiếp sau, không chắc là kiếp sau. Bởi vì cái nhân duyên vợ chồng á nó kỳ khôi lắm. Nó kỳ khôi là có khi cái nghiệp nó không ăn khớp với nhau, cho nên ví dụ như đời này là mình phải sinh làm người Việt Nam, cái người kia họ sinh qua ở bên Tàu, không làm vợ chồng được. Hoặc là đời này mình sinh ra, năm nay mình 50 tuổi, người đó mới đẻ 3 tuổi thì làm sao làm vợ anh ta được? Nó không ăn khớp. Cho nên mình muốn làm vợ, để đó, sừng qua đổi lại, sạt qua rồi đến kiếp nào đó bắt đầu cái tuổi chấp nhận được, hoàn cảnh có thể chấp nhận được, cái phước tương đương với nhau được, bắt đầu mới thành vợ thành chồng.
[1:36:02]Nó vậy, cho nên nhiều khi tâm nguyện ở đời này chứ 10 kiếp sau mới trở lại làm vợ chồng nhau được, còn trong khoảng 9, 10 kiếp đó tự nhiên lấy người này lấy người kia. Cho nên cái luân hồi nó không có đẹp. Đó là lý do tại sao mà Đức Phật nói vậy á: thấy luân hồi rồi mình chán cuộc sống lắm, thích giải thoát liền là vậy đó. Thấy luân hồi rồi chán vô cùng, chán cuộc sống, chán sinh tử. Biết cái bản chất cuộc sống rồi thấy mệt, thấy không đẹp, nó không đẹp như mình tưởng, không đẹp như mình tưởng. Xin Thầy từ bi hoan hỷ cho con biết, ở nhà tư gia có thể thờ Phật quay vào trong, đối diện với bàn thờ tổ tiên quay ra ngoài sân được không? Không.
[1:36:36]Nhớ tuyệt đối cấm này nha. Thờ kiểu này là ông bà mình tiêu á, và con cháu từ từ lụn bại luôn. Gia đình dòng họ đó thua luôn. Cho nên phải thờ Phật chỗ trang trọng nhất, ông bà là phụ một bên quay lại thôi, giống như ông bà mình chầu về phía Phật thì ông bà mình sẽ có phước và gia đạo tự nhiên được yên, con cái nó phát triển. Nhà con thờ Đức Quan Âm Bồ Tát và hai bên có thờ thêm hai vị là một là Quan Thánh, một là bà Cửu Thiên, như vậy có đúng không thưa Thầy? Dĩ nhiên là không đúng đâu, bởi vì Quan Thánh thì thì không phải phải là một vị thánh trong đạo Phật được ghi trong kinh điển mà chỉ là trong sử của Tàu thôi.
[1:37:11]Trong sử của Tàu, ông là vị tướng giỏi. À rồi mà người Trung Hoa thì rất là tin ông bởi vì thấy ông có cái chiến công á, nhưng mà sự thật thì thì cái binh nghiệp cũng không vẻ vang lắm bởi vì cái nhà Hán không dựng lại được, Lưu Bị sau này nhà Hán cũng mất luôn nên không có để lại một sự nghiệp lớn ở đất nước Trung Hoa. Còn riêng ông thì giỏi võ thôi chứ không có gì. Tuy nhiên, tương truyền là sau này ông có vô chùa, ông ông giữ chùa để làm hộ pháp á, thì hy vọng như vậy thì ổng có phước thôi, nhưng mà để thờ như một vị Bồ Tát thì không đúng, không có đúng ha. Còn Cửu Thiên Huyền Nữ tức là cái tín ngưỡng của thầy bói.
[1:37:43]Những người thầy bói họ hay nói là có bà Cửu Thiên Huyền Nữ, nhưng sự thực thì thì không thấy ghi trong kinh điển. Chỉ có điều chúng ta biết thế này: là ở trên cõi trời á là có nhiều vị thánh, có những vị thánh mang hình thức nam, có những vị thánh mang hình thức nữ, mà có những vị có uy đức rất là lớn chứ không phải là không, những vị đó cũng như Bồ Tát, phước họ cực kỳ lớn. Thì nhiều khi mình biết chính xác vị đó, mình thờ vị đó thì vị đó họ cũng che chở cho mình, họ cũng hướng dẫn, dìu dắt cho mình, chứ không phải không, nhưng mà mình không biết là ai. Nguyện đem công đức này, hướng về
[1:38:24]khắp tất cả, đệ tử và chúng sinh, đều trọn thành Phật đạo.