[0:00]Chúng con xin thành kính cung thỉnh quý thầy khởi niệm cho toàn thể hội chúng.
[0:11]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:26]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:39]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:51]Chúng con xin cung thỉnh sư phụ an tọa. Chúng con xin kính mời quý thầy cô cùng quý Phật tử chúng ta đồng an tọa.
[1:01]Có có cái vị vị sư ở nước ngoài nào vừa mới tới, just... Ủa hỏi có ai dịch cho ngài nghe không con? Có người nào bên cạnh dịch chưa? Someone translate for the monk? À con ngồi con ngồi gần con dịch đi ha.
[1:38]Thỉnh thỉnh ngài ngài ngài đứng lên chút để thay cái ghế cho sang trọng chút.
[1:48]Ngài nhìn hơi xéo xéo xuống rồi. Thôi thỉnh lên đây con, thỉnh lên đây ngài ngồi với sư phụ. Con bưng cái ghế bê ghế lên mời ngài lên đây ngồi đi con, ngồi đây con. Ngài dùng nội lực giữ lại không cho bê lên. Thôi đành chịu.
[2:06]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên Hòa thượng Thích Thích Thanh Viên, Phó Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Hà Nam cũng là Trưởng Ban Kiểm soát của Giáo hội Phật giáo tỉnh Hà Nam. Hôm nay ngài quang lâm với cái cái tình đạo. Ngài nói là ngài để ngài thính pháp, nhưng cũng là một cái vinh dự cho hội chúng, cho cái pháp hội của chúng ta. Chúng con xin một lần nữa xin được bày tỏ lòng yêu kính đối với ngài. Cho tràng pháo tay đi, tràng pháo tay.
[2:50]And dear monk, which country you were from, are you from? America? Oh, excellent. Dạ, vị sư đến từ nước Mỹ, không biết có cái nhân duyên gì lại ghé ở đây, hay quá nhờ. Thôi vậy thôi để lát rồi con lấy thông tin rồi ta nói sau.
[3:14]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay ta nghe tiếp cái loạt bài Tứ Diệu Đế. Hôm nay qua tới phần Diệt Đế, cái mức độ chuyên môn cũng rất là sâu, nên ta cố gắng lắng lòng nghe nha, đừng có để phí.
[3:33]Ta biết rằng Đức Phật giảng dạy cái bài pháp quan trọng đầu tiên trở thành cái xương sống, trở thành cái tuyên ngôn cho đạo Phật mãi muôn đời sau là bài Tứ Diệu Đế, gồm có bốn điều quan trọng: một là Khổ, hai là Tập, ba là Diệt, bốn là Đạo, đúng rồi, bốn cái điều vậy.
[3:58]Thì cứ nói cái quả trước và nói cái nhân sau. Đầu tiên Đức Phật nói ý nghĩa về Khổ, nó là cái quả, rồi sau đó mới nói Tập là nguyên nhân của cái khổ. Thì bây giờ tới phần thứ ba là Phật nói cái quả trước, Diệt Đế là cái cảnh giới của sự an vui, thoát khổ. Rồi tới phần thứ tư lại là cái nhân, đó là Đạo Đế, con đường để đưa đến cái quả này. Thì cái cái quy trình, cái logic của Tứ Diệu Đế là lạ như vậy. Cái logic của Tứ Diệu Đế không phải là nói nhân trước quả sau, mà lại là nói quả trước nhân sau, nha. Khổ là cái quả rồi mới nói cái Tập là cái nhân. Hôm nay ta học về cái quả, sự an vui. Nói khổ rồi, bây giờ bắt đầu Đức Phật giới thiệu về cái vui.
[4:55]Và Đức Phật giới thiệu về cái vui
[5:01]để cho chúng ta yên tâm rằng khi ta tu theo Phật pháp, ta hiểu được cái khổ của cuộc đời là nó khốc liệt, nó tàn bạo, nó dai dẳng như vậy, nhưng trong đạo Phật ta có cảnh giới của sự sự an vui, có con đường đưa đến sự an vui, chứ không phải đạo Phật nói về khổ rồi bi quan rồi chán nản. Nói về khổ để nhận định thẳng thắn cái bản chất của cuộc đời, nhưng rồi ta có con đường thoát khổ, ta có cái nơi đạt được sự an vui, thoát khổ đó. Đây là cái độc đáo trong trong đạo Phật. Mà ta kiên nhẫn đi qua cái bài Khổ tới bài Tập, hôm nay ta sẽ được nghe giới thiệu về cái sự an vui trong đạo Phật là cái gì, để chúng ta hướng về đó, ta đặt mục tiêu về đó.
[5:57]Và ta hiểu một điều thế này: rõ ràng là chúng ta sống để làm gì, tu để làm gì nếu không tìm được sự an vui. Thì nếu ta cứ tu mãi, ta cứ sống mãi, trôi lăn trong luân hồi mãi mà không bao giờ đến được cái bến bờ an vui thì cái việc tu hành đó là nonsense, vô nghĩa. Buộc ta phải có một lúc đi đến cái kết quả của cái sự an vui, sự an vui đời đời, vĩnh viễn, mãi mãi, đó là mục tiêu của đạo Phật. Tuy nhiên, cái vui đó là gì lại là một vấn đề khác hẳn, một vấn đề khác hẳn. Cái vui trong đạo Phật là cái điều mà một người bình thường không hiểu nổi. Cái khó chính là chỗ này. Khi ta nói: "Tôi đi tìm vui",
[6:57]thì mỗi người sẽ có một cái mục tiêu của cái vui, cái hạnh phúc hoàn toàn khác nhau, tùy theo phước của ta, tùy theo đạo đức của ta, tùy theo trí tuệ của ta, chứ không có ai hiểu về cái sự an vui giống nhau cả. Ví dụ bây giờ,
[7:20]ta gặp một người người nghèo, họ đi làm vất vả ở cái đô thị, khi đi làm việc này khi đi làm việc kia và chạy kiếm tiền để ở nhà trọ. Mỗi tháng phải lấy tiền để trả tiền cho chủ nhà, mà nếu mà tháng nào mà không có nhiều việc làm thì cái tiền trả tiền nhà trọ không đủ, đừng nói tới tiền ăn. Ăn là hết sức là bóp bụng, bóp miệng, tiết kiệm chi tiêu, tiết kiệm ăn uống, mặc dù biết rằng khi mình tiết kiệm ăn uống thì mình không đủ sức khỏe để lao động, nhưng vì cái tiền trọ nhà nó căng thẳng quá, phải trả tiền nhà để tối còn về có cái chỗ để nằm. Thì bây giờ mới hỏi người đó: "Cái cái ước ao lớn nhất trong cuộc đời anh là gì?
[8:10]Cái mà anh cảm thấy rằng cuộc đời anh mà để gọi là vui là cái gì?", ổng trả lời không có bao giờ suy nghĩ, không cần suy nghĩ: "Tôi ước ao có được một cái nhà của riêng mình, tối về có chỗ đặt cái lưng, không còn phải bận tâm trả tiền nhà hằng tháng", niềm vui chỉ nhiêu đó thôi. Tại vì ổng quá khổ vì cái không nhà, quá khổ vì cái ở nhà trọ phải đóng tiền hằng tháng, quá vất vả, giờ cái mơ ước là tôi có một chỗ đặt lưng, cái đặt lưng nó chừng mấy mét vuông thôi, mà có nhà vệ sinh hoặc đi vệ sinh chung ai biết, tối về có một chỗ đặt cái lưng của nhà mình, không phải trả tiền nhà hằng tháng. Tất cả hạnh phúc, tất cả mơ ước ổng chỉ nhiêu đó. Tại vì sao vậy?
[8:49]Tại vì phước ổng chỉ chừng ấy, đạo đức chỉ chừng ấy và trí tuệ chỉ chừng ấy, niềm mơ ước chỉ là vậy. Nhưng mà nếu ta hỏi Bác Hồ: "Niềm vui mơ ước Bác Hồ là gì?", thì Bác Hồ trả lời làm sao, ai nhớ? Bác Hồ trả lời làm sao? Bác Hồ có mơ ước có cái nhà để buổi tối về đặt lưng không? Không. Bác Hồ: "Tôi mơ ước cái gì? Nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được gì? Ấm no, hạnh phúc, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành tử tế, ai cũng tin nhân quả." Có không? Có câu sau không kìa? Không có hả?
[9:32]Như vậy ta so sánh á, một bậc vĩ nhân nha, cái mơ ước của họ không còn là cái gì của riêng tư nữa mà mơ cho cả một đất nước này. Mơ cho cả một đất nước này, lúc đó là đất nước ta còn rất là nghèo khổ, vất vả, còn trong chiến tranh, đánh Pháp, đánh Mỹ, đủ thứ rất là vất vả. Nhưng bây giờ nếu Bác Hồ còn sống đến giờ này, à! Ta lại hỏi Bác Hồ cái hạnh phúc, cái ước mơ của Bác là gì? Ta sẽ nghe trả lời khác liền. Bây giờ ai dám thay Bác Hồ trả lời, ví dụ nha, cái chuyện giả tưởng á, thì Bác sẽ trả lời sao? Bác sẽ trả lời sao?
[10:11]Bác sẽ trả lời rằng cái ước mơ của tôi là gì? Cái thế giới này được hòa bình, được hạnh phúc, được đạo đức mà trong đó người Việt Nam chúng ta là những người mà đem đến cái hòa bình, cái hạnh phúc, đạo đức đó cho toàn thế giới này, ta sẽ nghe Bác trả lời sôi nổi liền. À. Thì có thể bây giờ bây giờ thì Bác Hồ không còn để nói câu đó cho ta nghe, nhưng những người truyền nhân của Bác, hậu duệ của Bác dường như đang thực hiện cái ước mơ mà Bác chưa tiện nói thành lời đó. Là những thế hệ lãnh đạo sau Bác đang từng bước từng bước để thực hiện cái ước mơ đó, một thế giới Việt Nam đóng góp xây dựng một
[10:54]thế giới hòa bình, hạnh phúc và đạo đức là như vậy. Nha.
[11:04]Ta so sánh giữa một cái ông mơ ước một cái chỗ để đặt lưng và cái mơ ước của một vĩ nhân, ta thấy hai khoảng cách đó lớn. Còn chúng ta, mơ ước của chúng ta nằm ở chỗ nào? Mơ ước của chúng ta nằm ở chỗ nào?
[11:23]Có một ngày nọ đẹp trời, có một
[11:29]thanh niên nam nhắn tin cho sư phụ thế này: "Thưa sư phụ, con vừa lấy vợ." Ừ, thì tới lấy vợ thì thì thân lớn tuổi phải lấy vợ. "Nhưng con không lấy được một người trong Chúng thanh niên. Con đành phải lấy bên ngoài, nhưng thấy cô này nhà cũng có thờ Bồ Tát Quan Âm, thôi cũng rất an ủi. Nếu hôm nay con có ngồi đang nghe sư phụ giảng thì sư phụ sorry lấy kể câu chuyện con ra cho mọi người nghe nha, nếu con có nghe đang nghe."
[12:01]Như vậy cái ước mơ của của em thanh niên này là là gì? Cưới được một người vợ trong Chúng thanh niên mà không không được. Tụi con thấy Chúng thanh niên có giá chưa? Đó.
[12:22]Đó là một ước cũng là một ước mơ đấy, và họ tin rằng ví dụ như có một người vợ đạo đức biết tu hành như vậy thì chắc là mình sẽ sẽ hạnh phúc, ý là như vậy vậy. Còn rất nhiều người khác trong chúng ta, mỗi người đều có một cái ước mơ và ta yên tâm rằng nếu ta đạt được cái mục tiêu đó cuộc đời ta yên vui, hạnh phúc. Và cái ước mơ đó ta nhớ lệ thuộc vào ba điều: một là cái phước của ta nhiều hay ít, hai cái đạo đức của ta nhiều hay ít, và ba là trí tuệ của ta nhiều hay ít, vậy đó. Và thường thường vậy ở đó có cái màn hình hay sao thấy che khoảng đó vậy con? À không hả? Và thường thường thì
[13:11]dựa vào ba điều đó, cái phước đức, đạo đức và trí tuệ, chúng ta tự dệt cho mình một mục tiêu của tương lai là thoát khỏi những cái cái khổ của hiện tại, đi tìm một cái hạnh phúc ở tương lai nào đó. Tuy nhiên, lác đác đây đó trong cuộc đời này xuất hiện những cái nhà triết học, những nhà đạo học, những nhà tôn giáo học giới thiệu chúng ta về một cái hạnh phúc khác, một cái niềm vui khác, khác hẳn so với suy nghĩ của chúng ta. À, ví dụ như ta mơ ước giống như một cái em đó mơ ước là lấy được một người vợ trong Chúng thanh niên Phật Quang, rồi cất được một cái nhà, mua được một chiếc xe, có một công việc làm ổn định, rồi đẻ khoảng hai đứa con trai,
[13:58]một đứa con gái, ví dụ tất cả ước mơ chỉ là như vậy thôi. Nhưng một ngày nọ bỗng nhiên gặp một nhà đạo học đạo mạo mới nói thế này: "Tất cả những điều ước mơ của con là điều tầm thường, phù phiếm." Nói: "Ủa, vậy thế nào mới là một cái ước mơ, một cái mục tiêu ý nghĩa cao đẹp của cuộc sống?" "À, con phải tu. À, con phải tu. Con phải bỏ vợ, bỏ con đi. Chúng thanh niên hay không Chúng thanh niên con cũng bỏ đi, con đừng cần. Nhà bỏ đi, xe bỏ đi, đi theo ta lên rừng, lên núi nha. Mỗi ngày hái rau rừng ăn, sống một cuộc đời đạm bạc, thanh bai, không cầu mong bất cứ điều gì. Và con ngồi con lim dim con tụng câu thần chú này
[14:44]thì con sẽ điều khiển được cả ma, cả quỷ, quỷ thần khắp nơi phải lại chầu phục con. Lúc đó con là một nghĩa là một vị một vị đạo sĩ đắc đạo, cái này mới là cái điều ý nghĩa." Nếu ta nghe nói như vậy thì thì cảm giác của ta thế nào? Nếu có người gợi ý cho ta một cái mục tiêu cao đẹp như vậy thì ta nghĩ gì?
[15:13]Nghĩ gì?
[15:18]Nếu nghe cái sự gợi ý như vậy, ai là người đồng ý bỏ tất cả đi theo ông đạo sĩ lên rừng tu giơ tay lên cho sư coi. Có ba bà già đồng ý hả, hết thời rồi. Bốn người, năm người. Rồi rồi, còn lại là không chịu phải không? Còn lại thôi thôi thôi, rồi thôi con cảm ơn đã được gặp thầy. Nice to meet you here, enough is enough here. Thôi đủ rồi, tôi không nói nữa, thôi thầy cứ đi lên rừng đi con về lại với vợ con nha. Khó lắm mới cưới được Chúng thanh niên chứ đâu phải là dễ, cho nên là thôi ngài cứ về núi, còn con con về với vợ con, nghe nó đang kêu là tới giờ nấu cơm rồi, không nó chửi chết. Thấy con cũng ở trong hội, ví dụ vậy.
[15:59]Cái tại sao là khi ta nghe một người gợi ý một cái mục tiêu khác với mục tiêu ta, có người động tâm, có người không động tâm?
[16:12]Nãy hầu hết là không động tâm. Ngài nói gì nói, kệ ngài, con không động tâm, con quay trở lại với cái nhà lầu con, xe hơi con, cô vợ đẹp và con ngoan, đủ rồi, cuộc đời con đầy đủ. Nhưng có người nghe, động tâm. Như hồi nãy có hai bà già gần chết đã giơ tay đồng ý đi theo, mà động tâm.
[16:37]Động tâm sao? Là cảm thấy: À, mơ hồ trong cái sự tu tập này có một cái gì đó thuộc về tâm linh siêu nhiên, phi thường, đặc biệt, nó không phải là những điều vật chất của thế gian tầm thường nữa, không phải chỉ nhà, chỉ xe với tiền, cơm ăn, áo mặc nữa mà cái gì thuộc về về tinh thần, về tâm linh, về những cõi giới cao siêu hơn, có thể nhìn xuyên qua khỏi vật chất để thấy được các cõi giới khác, vân vân. Cái này hay hơn nhiều chứ. Ta nâng một cái tầm tâm linh của mình, nâng cái tâm thức của mình lên tới mức độ tâm linh cao hơn, thích hơn nhiều chứ. Và mình động tâm, và được, thế là móc điện thoại ra nhắn tin cho vợ:
[17:19]"Từ biệt em, đây là tin nhắn cuối cùng, nha, anh theo thầy học đạo." Rồi sau đó nhắn xong rồi vất điện thoại xuống và cuốn gói đi theo thầy. Thì thật sự sau đó thì mình không biết chuyện gì xảy ra nhưng đại khái có những người chấp nhận mục tiêu này, mặc dù cái số này là ít. Nhưng có những người không chấp nhận, nhưng có những người chấp nhận, lý do tại sao vậy? Ta nói trở lại là do phước, đạo đức và trí tuệ. Cái trí tuệ ta cảm nhận được là ngoài cái đời sống vật chất bình thường này, thực sự ta còn nhiều cái cõi giới, nhiều cái cảnh giới, nhiều cái con đường mà ta cần phải khám phá. Và người này bị động tâm, bị thôi thúc.
[18:01]Đây là một trường hợp, bây giờ còn trường hợp khác thế này. Cũng vậy, ta đang sống với người vợ đẹp cưới từ Chúng thanh niên, mua được chiếc xe, cất được cái nhà lầu, có mấy đứa con. Bỗng một ngày đẹp trời, ta gặp được một tu sĩ. Thì sau khi nói chuyện, cái người tu sĩ mới gợi ý ta thế này: "À, những điều của con con đang sống trong cuộc đời vậy, thật sự nó cũng là phù phiếm, là tạm bợ. Có những lúc con sơ sẩy, con có thể tạo tội và khi tạo tội thì con xuống địa ngục. Nên vì vậy, chắc ăn nhất con hãy theo ta để tôn thờ Thượng đế." À. Tôn thờ tức là cầu nguyện Thượng đế. "Và như vậy bảo đảm rằng sau khi con chết con được lên cõi
[18:49]cõi trời, đó mới là nơi an vui, đó là nơi của sự sống đời đời, không bao giờ bị đau khổ nữa." Ta đồng ý không? Thấy khoái rồi thấy không? Khoái mới vỗ tay. Đó, khi ta đồng ý cái mục tiêu là ta ta cầu nguyện với Thượng đế, ta làm các điều thiện để khi chết ta được lên cái cõi trời sống với Thượng đế, cũng là một loại mục tiêu mà nghĩ rằng cái mục tiêu đó làm cho ta thoát khổ. À, cũng là một mục tiêu như vậy. Mà tại sao ta chấp nhận? Vì duyên ta ngang đó, phước ta ngang đó, đạo đức ta ngang đó, trí tuệ ta ngang đó, ta chấp nhận cái mục tiêu này và ta ta đi theo. Nên vì thế ta thấy à có người chọn con đường này,
[19:38]người chọn con đường kia, người chọn đạo này, người chọn đạo kia, ta cũng đừng thắc mắc. Tại vì giữa cái thế gian này phức tạp, đa dạng, nhiều căn duyên này thì mỗi người ta có duyên khác nhau, phước khác nhau, đạo đức khác nhau, trí tuệ khác nhau nên ta hình dung về cái vui, về cái hạnh phúc hoàn toàn khác nhau. Và chưa bao giờ, rất hiếm người có thể hiểu được cái niềm vui mà Đức Phật giới thiệu. Chưa ai hiểu nổi, ngay cả các thầy, các sư cô. Nói thẳng một câu: kể cả các thầy, các sư cô ta tu hành xuất gia lâu năm cũng chưa thể hình dung nổi cái niềm vui mà Đức Phật giới thiệu trong cái Diệt đế.
[20:27]Trong cái phần Khổ, Tập, Diệt, Đạo thì Diệt là Phật giới thiệu về cái niềm vui mà ta phải hướng về, nhưng không mấy người có thể hiểu được, ngay cả những người đi tu theo đạo Phật, chứ đừng nói người ngoài. Đó là lý do cả cái thế gian tám chín tỷ người này không không mấy người thật sự hiểu được cái Diệt đế là cái cõi an vui mà Phật giới thiệu, không mấy người. Và đó là lý do thật sự ta nói ta phát bồ đề tâm, ta tu hành, ta có lý tưởng, nhưng lý tưởng ta bị lệch, bị sai, bị cạn và không đạt được, không nhắm được tới cái mục tiêu thực sự mà Đức Phật nói về cái cõi an vui đó, không có được. Hôm nay khi ta nói về Tứ diệu đế, nói tới phần Diệt đế,
[21:16]ta đang nói tới cái niềm vui mà Đức Phật giới thiệu cho chúng ta. Dễ hiểu không? Dễ hiểu không? Không bao giờ dễ hiểu! Thầy đã nói lại cả thầy, cô tu hành nhiều năm trong đạo Phật cũng chưa chắc hiểu điều này. Vì điều đó nó quá cao siêu! Nhưng khi ta nói về Tứ diệu đế, về tuyên ngôn của Phật, buộc ta phải giới thiệu, phải nói cho ra, nói cho bằng được cái niềm vui mà Đức Phật giới thiệu cho chúng ta, cái mục tiêu mà chúng ta tu hành đi theo Phật, dù rằng cái ý nghĩa này cực kỳ cao siêu, khó hiểu, vượt tất cả mọi loài ngôn ngữ. Nghĩa là mọi cái trí thức của thế gian, mọi nhà bác học, mọi người đẳng cấp gì nhất thế gian không ai hình dung nổi.
[22:05]Đó là lý do khi Đức Phật ngài đắc đạo rồi, ngài ngài bị do dự liền. Ngài nói cái cõi giới cao siêu như thế này, giữa cái thế gian này bao nhiêu người có thể hiểu được? Làm cho ngài bị do dự ngay lúc đó liền. Ngài bảo cao siêu quá. Nên đấng trời Phạm Thiên mới hiện xuống thỉnh Phật thuyết pháp, nói thôi thỉnh Thế Tôn thuyết pháp, tại vì coi vậy trong cái thế gian này cũng có những đóa sen chưa nở, còn những búp sen, những ngọn sen, nhưng mà chờ ánh sáng của Thế Tôn rọi đến, họ, những cây sen đó sẽ vươn lên và nở thành những đóa hoa sen rực rỡ. Con cúi thỉnh Thế Tôn thuyết pháp. Thế là bắt đầu Đức Phật nhận lời. Từ hôm đó Đức Phật nhận lời,
[22:48]trời đất rung chuyển liền, vì từ cái cái khó quá, khó quá. Và thời Đức Phật vậy, có nhiều vị đệ tử Đức Phật chứng A-la-hán thì các vị đó vững niềm tin nơi cái Diệt đế mà Phật dạy, nhưng sau Phật, sau Phật những người đắc đạo vắng dần, vắng dần, vắng dần. Bây giờ nói tới cái Diệt đế, cái cõi giới an vui Niết bàn mà Đức Phật giới thiệu thì không còn ai hiểu nữa, không còn ai hiểu nữa và đạo Phật dần dần chỉ còn là hình thức từ từ, hình thức từ từ, không còn được đạt được cái đỉnh cao, không còn đạt được cái bề sâu, không còn đạt được cái sự hoàn hảo tuyệt vời như cái buổi ban đầu Đức Phật dạy nữa.
[23:30]Nên hôm nay khi ta nghe về cái Diệt đế này, ta đang chạm tới cái cốt lõi của đạo Phật, một điều cực kỳ khó khăn và là một điều chắc chắn thế này: không ai hiểu nổi. Nhưng dù không hiểu, ta vẫn phải cố gắng mà lắng nghe, cố gắng mà hình dung, cố gắng mà cảm nhận và cầu xin Phật cho con đủ niềm tin với cái Diệt đế mà Phật dạy, cho con đủ cái trí tuệ để hình dung được cái sự cao siêu nơi cái Diệt đế của Phật dạy, và cúi xin Phật độ cho con mãi mãi đi trên con đường Phật đạo để đạt được cái Diệt đế mà Phật đã truyền dạy cho đến muôn đời sau. A Di Đà Phật. Cái Diệt đế của Phật dạy chúng ta nó vượt hẳn lên tất cả mọi cái niềm vui mà con người chúng ta có thể
[24:31]hình dung được, từ cái vật chất cho tới cả cái tâm linh luôn. Cả cái quyền lực hay vật chất thế gian, cả của những tâm linh những cõi giới nào đều đều chưa phải là Diệt đế mà Đức Phật giới thiệu cho chúng ta, vì cái cõi giới đó cao siêu quá, cao siêu quá. Nên chúng ta cố gắng lắng nghe. Không hiểu cũng hãy chấp nhận để đó ghi vào lòng mình. Vì vì cái mà ta chấp nhận cái ý nghĩa của Diệt đế đó là ta gieo vào lòng mình một cái nhân của sự giác ngộ cao siêu về sau. Dù ngay bây giờ chúng ta chưa hiểu được, nhưng cứ cố gắng chấp nhận, cố gắng chấp nhận, cố gắng đón nhận, vì những điều thầy sắp nói đây nó không phải của thầy, mà là của ai?
[25:18]Điều Phật dạy. Nên dù không hiểu vẫn cố gắng chấp nhận vào trong lòng mình nha, ghi vào lòng mình, khắc vào tim mình và nó trở thành một cái nhân quả cho muôn đời sau, ta không bao giờ lạc lối nữa nha. Vì...
[25:44]Ta vừa nói tới cái chữ vui, ta phân tích cái chữ vui này một chút xíu. Cái Khổ đế mình nghe Khổ đế nhiều quá rồi, nay mình nghe phân tích vui. Bây giờ cái vui của chúng ta là gì?
[25:57]Mỗi người khác nhau lắm và nhiều loại vui. Có người chỉ nghe một bản nhạc hay, thấy thấy vui. Có người nghe một lời khen, mình thấy vui. Rồi có người đến chỗ tụ tập đông người ăn uống, trò chuyện rồi thấy vui. Rồi có người thích đi câu cá rồi thấy vui. Rồi có người lên chức thì thấy vui, có người được một số tiền lớn thì thấy vui, nghĩa là cái mà để tạo nên cái vui chúng ta nó rất là đa dạng trong cuộc sống này. Và tất cả những cái vui đó đều là gì? Cảm giác. Nhớ giùm, đều là cảm thọ, là cảm giác cả. Và cái cảm thọ, cái cảm giác có một đặc tính là nếu kéo dài thì sẽ bị boring, nhàm chán. Đây là cái đau, cái tạm bợ của cảm thọ.
[26:55]Cái gì ta nhìn ta thấy ta ước muốn đó, ta vui đó, nhưng sự thực nó kéo dài thì ngay lập tức nó trở thành nhàm chán. Đây là điều đau khổ đó, điều rất là bức xúc. Ví dụ nói bây giờ: "Ôi, tôi đợi cuối tuần chủ nhật nghỉ tôi đi câu cá, đi câu cá vui sao? Có mấy ông bạn cũng đi câu chung, ngồi nói chuyện tào lao rồi cầm theo cái bia trong cái thùng đá rồi đi câu lâu lâu giật được con cá nó ăn mồi mình nên thấy vui". Nhưng cho ổng câu luôn một tháng đi, ổng trở thành nghĩa là ngư dân thứ thiệt đi, bắt đầu thấy là cái gì? Khổ! Ngồi rất là khổ, ngồi chờ từng con cá vất vả, nắng nôi, mưa gió, đem lên bữa được bữa không bán chẳng
[27:36]được mấy đồng tiền hết, về vợ nó chửi xả chó mạ, nghe? Nói: "Ông là đồ ăn hại, tháng này không đủ tiền để đóng tiền học cho con, câu được có mấy con cá". Rồi bắt đầu đủ thứ chuyện, không giống như là một niềm vui của một ngày chủ nhật, mình câu buổi sáng về được một con, hai con gì cũng vui. Bây giờ trở thành một cái nghề rồi, cái câu cá không phải vui nữa. Hoặc là bây giờ vậy, ta nghe một bài nhạc rất là hay, giống như hồi nãy cái bài của thầy Pháp Tâm á, nghe tiếng mưa reo, ta nghe rất là hay, nhưng bắt ta nghe từ sáng tới trưa, trưa tới chiều, chiều tới tối, tối tới mai, mai tới mốt, mốt tới kia thì làm sao?
[28:09]Điên liền chứ đừng có nói là vui là hay nữa! Vì nó là cảm thọ mà cảm thọ kéo dài thì đều boring, nhàm chán. Tất cả đều như vậy. Ví dụ ta ăn món này: "Trời ơi ngon quá! Ăn thích quá!", nhưng mà cho ăn bữa nay, mai, mốt, sang năm ăn liên tiếp luôn thì làm sao? Thà là tự vẫn chết sướng hơn ăn nữa, phải không ạ? Cái cái cái cảm giác gọi là vui mà nó kéo dài, nó trở thành đau khổ. Và đây là lý do tại sao người ta phải ăn phở thay cơm, đừng có buồn.
[28:47]Nói tại sao ngày xưa anh yêu tôi, ha, anh thề là chung thủy với tôi, đời đời chỉ một mình tôi, cả cái thế gian này chỉ có một mình em, nha: Bao nhiêu hư ảo về theo gió, thâm thẳm trùng dương một tiếng em, mới là vậy tôi mới chịu lấy anh. Bây giờ thì anh có tự nhiên có bồ nhí là sao? Đâu có biết rằng vì nó là quy luật, quy luật đau đớn của ngũ ấm. Cái cảm giác nào rồi cũng trở thành nhàm chán, dù rất hạnh phúc. Đó là vậy. Nên từ đây về sau ta để ý, khi ta là người học đạo tu hành rồi, ta cẩn thận kiểm soát cái cảm giác của mình. Khi mà xuất hiện cảm giác vui ta phải thấy nó, đây là một cảm giác, đây là một cảm thọ và nếu cảm
[29:31]thọ này kéo dài lâu thì cái vui sẽ là gì? Trở thành nhàm chán, chứ không phải thật. Vì vậy khi ta học Khổ đế, ta thấy nó quá khổ, vì ta đi tìm cái vui, coi chừng ta bị nhầm vào cái gì? Cảm giác. Ta bị nhầm vào cảm giác thì có thật là vui không? Có vui chỉ là tạm mà thôi. Không có cái thật vui trong cuộc đời này nếu cái vui đó chỉ là cảm giác. Và vì vậy Đức Phật giới thiệu cho ta một cái niềm vui trong cái Diệt đế, nó không thuộc về feeling, không thuộc về cảm giác, nó là cái vượt khỏi cảm giác. Chính vì điều này ta mới thấy đạo Phật là cao siêu, ta mới thấy đạo Phật là cao siêu vì cái niềm vui mà Phật
[30:24]đem đến cho chúng ta không thuộc về cảm giác. À. Ví dụ như khi ta ngồi thiền, vui không? Vui không? Khi ta ngồi thiền có vui không? Nói: Dạ ngồi thiền đâu có vui gì. Ngồi thiền rất vui. Nếu tâm ta được thanh tịnh, trong cái thanh tịnh đó nó xuất hiện cái cảm giác hỷ lạc, cái hạnh phúc đó nó vẫn là một cảm giác làm cho ta rất vui, rất hạnh phúc và cứ thích ngồi mãi. Đó là lý do mà tại sao các người tu hành họ rất thích ngồi thiền, vì thiền định là một loại hạnh phúc. Nhưng nó có hai mức độ: Một loại cái tâm thanh tịnh mà vẫn còn cảm giác hỷ lạc đi theo nên cái hạnh phúc này chưa tuyệt đối, vì vẫn còn cảm giác hỷ lạc nó bám theo cái thiền định.
[31:27]Khi tâm ta thanh tịnh, lập tức não ta nó tiết ra vô số chất hạnh phúc, chất hóa chất của hạnh phúc là dopamine. Khi tâm ta lắng xuống một cái, không suy nghĩ nữa, não tuôn ra ồ ạt chất dopamine làm người ta ngập tràn hỷ lạc và hạnh phúc. Thì cái thanh tịnh này là đúng, nhưng cái cảm giác hỷ lạc đi kèm theo lại là sai, nhưng ta không bỏ được, cứ phải đi qua nó thôi. Đừng chấp nhận nó mà đi qua nó. Bằng cách gì? Bằng cách biết thẳm sâu trong nội tâm mình vẫn còn vô minh, chấp ngã. Bằng cách gì để vượt qua hỷ lạc đó? Vẫn là bằng gì? An trú tâm sâu ở dưới đáy bụng, hội âm. Bằng cách gì? Bằng cách giữ hơi thở chậm, ít, êm.
[32:16]Tất cả những kỹ thuật đó, những đạo lý đó giúp cho ta đi xuyên qua thiền định mà không bị cảm giác hỷ lạc chi phối. Hỷ lạc có đó! Khi ta thanh tịnh thì buộc hỷ lạc phải có, nhưng ta đi xuyên qua nó luôn, không vướng lại nó. Vì sao? Vì cái thanh tịnh của thiền định là đúng, nhưng cái cảm giác hỷ lạc bám theo là sai. Nhưng thường ta không tách ra nổi. Hễ ta thanh tịnh, hạnh phúc nổi lên là ta chụp lấy cái cảm giác hạnh phúc đó liền và cho rằng ta đã đạt được gì? Đạt được niềm vui trong đạo quả, trong Niết bàn, nhưng không ngờ ta chụp nhầm lại tên giặc trở lại một lần nữa, nó cũng là cảm giác mà thôi. Ghê chưa!
[33:01]Ta thấy cái cảm giác nó bám theo ta là như vậy. Từ khi ta chưa biết tu, ta vui với miếng ăn, ta vui với lời khen, ta vơ... vui bởi cái giàu sang, ta vui bởi cái quyền chức, ta vui bởi những cái trò giải trí, đều là cảm giác. Đến khi ta bỏ hết để ta đi vào thiền định, tâm ta được thanh tịnh rồi thì nó lại cũng tiếp tục xuất hiện cái cảm giác an vui lừa ta một lần nữa. Mà nếu ta không đủ tỉnh táo, không đủ trí tuệ, ta chụp cái cảm giác hỷ lạc đó, ta ở lại với nó làm sao thì có phải là được giải thoát không? Không. Vẫn kẹt trở lại cái cảm giác. Mà cảm giác vẫn là một trạng thái thấp chứ không phải là cái bản ngã
[33:42]ở chiều sâu, chưa đạt tới bản ngã, vẫn chỉ là cảm giác mà thôi. Khó không? Khó,
[33:56]khó.
[34:07]Hôm nay nói về cái Diệt đế, cái bài đầu tiên của Diệt đế thì ta giới thiệu về quả vị A-la-hán. Đây là đỉnh cao của Diệt đế. Những bài sau ta sẽ nói về những quả vị thấp hơn: A-na-hàm, Tư-đà-hàm, Tu-đà-hoàn và các cõi giới chư Thiên thấp dần. Cái Diệt đế này rất là phức tạp và dài. Hôm nay ta nói về A-la-hán một chút xíu. Thì khi ta nói về A-la-hán ta bị một cái lỗi thế này: Chúng ta là những người chưa chứng A-la-hán mà dám nói về cảnh giới A-la-hán thì đó là một điều dường như là nói dối, dường như là phạm thượng, dường như là tăng thượng mạn, một sự kiêu mạn. Nhưng mà không nói thì không đủ hết đạo lý của Phật dạy, mà nói thì ta phạm phạm lỗi.
[35:02]Nên vì vậy hôm nay về chúng ta ngồi đây với nhau, người nói về quả vị A-la-hán, người nghe về quả vị A-la-hán phải thành tâm sám hối với Phật: Xin Phật cho phép chúng con được nói, được nghe về quả vị A-la-hán dù chúng con chưa đạt được, nhưng mà xin cho chúng con được nói, được nghe để con giữ cái niềm tin này, con giữ cái sự hình dung này mà con đi mãi trên con đường Phật đạo. Tất cả chúng ta đều thành tâm cầu nguyện như vậy nha, rồi bắt đầu mới nghe về quả vị này.
[35:39]Diệt đế là một trạng thái chứng đạo thuộc về tâm linh siêu việt. Đỉnh cao của Diệt đế là quả vị A-la-hán hoặc là quả vị Phật. Về quả vị giải thoát giác ngộ thì Phật và A-la-hán hay đại Bồ tát bằng nhau, nhưng về các công hạnh độ sinh, về các công đức thì có sự khác biệt giữa A-la-hán, đại Bồ tát và và Phật. Ví dụ như các vị A-la-hán vậy, có những vị A-la-hán chứng đạo nhưng mà có duyên hóa độ chúng sinh nên các ngài rong ruổi đi các nẻo đường để giáo hóa. Nhưng có những vị A-la-hán khi chứng đạo xong rồi mới phát hiện mình không có duyên độ chúng sinh, mình ra nói không ai nghe. Mặc dù mình đắc đạo mà nói người ta không tin, người ta không tin rồi nhiều khi
[36:26]người ta phỉ báng, người ta đọa địa ngục tội, cái ngài nhập Niết bàn luôn. Ngài nhập Niết bàn để ở trong Niết bàn ngài mới hỗ trợ cho các vị khác, ngài theo dõi các chúng sinh để âm thầm hỗ trợ giáo hóa chứ không trực tiếp giáo hóa, vì trực tiếp giáo hóa lại bất lợi cho chúng sinh. Đây là một điều rất là lạ. Chúng ta thấy vậy, chúng tất cả chúng ta là những kẻ vô minh, ngu si, phàm phu. Chúng ta nhìn chúng ta không biết ai là phàm, ai là thánh. Mà lỡ cái người đó là thánh nhưng mà mình nghĩ họ là phàm, mình kiếp sau khó trở lại làm người. Và các ngài vậy, thương mình, sợ mình đọa, các ngài hay tránh mặt.
[37:09]Thầy nói đừng có nói xa xôi tới A-la-hán, chỉ cần một vị Tu-đà-hoàn xuất hiện giữa cuộc đời thôi là là mối đe dọa cho chúng ta.
[37:19]Cái vị đó ở chung với chúng ta nhưng mà ta không hiểu, cứ nghĩ là người nọ như người nấy, trong lòng ta không đủ sự kính trọng, nhiêu đó thôi, kiếp sau mình cũng tàn mạt, kiếp sau mình đi ăn mày á. Kiếp sau mình khổ sở vô cùng chỉ vì mình không hiểu được cái vĩ đại của một người bên cạnh mình là Tu-đà-hoàn, tại họ mang hình tướng con người mà, họ cũng chưa có thần thông lắm, nhưng họ là Tu-đà-hoàn. Chết như vậy. Còn mà một người mà chứng A-la-hán thì chỉ có hai con đường: Chứng A-la-hán một phải xuất gia để mang hình tướng Sa-môn cho chúng sinh đừng coi thường, hai nhập Niết bàn tức khắc. Tại vì nếu mang hình tướng thế tục mà tồn tại giữa cuộc
[38:01]đời, chúng sinh họ nhìn mình, họ không kính trọng thôi, đủ để đọa súc sinh, địa ngục, dễ sợ chưa?
[38:11]Nghĩa là chưa cần xúc phạm một bậc A-la-hán, không cần, thí dụ ta nhìn thấy một vị A-la-hán ta không khởi được cái tâm kính trọng, chỉ vậy thôi, đủ để đọa súc sinh và địa ngục. Bởi cái sự xuất hiện của bậc thánh thực sự cũng là một mối đe dọa rất là lớn. Nhưng mà nếu may mắn chúng sinh nào nhìn vị đó, biết vị đó vĩ đại, lòng mình có cái sự kính ngưỡng thì phước vượt lên tới trên các cõi Trời liền. Đó, nên các vị thánh họ dè dặt cái sự xuất hiện của họ ghê lắm là vậy, vì ảnh hưởng tới cái phước và tội của chúng sinh rất là lớn. Nên ở đây cái người mà thành tựu được Diệt đế đỉnh cao là cái người không để điện thoại reo khi nghe pháp như vậy.
[39:03]Đỉnh cao của Diệt Đế là trạng thái giải thoát giác ngộ hoàn toàn. Ta gọi là một bậc A La Hán hay là một Đức Phật hay là một vị Đại Bồ Tát, cảnh giới giải thoát. Còn việc hóa độ chúng sinh lại là một duyên riêng của từng người. Đó là một trạng thái chứng đạo tuyệt đối. Ta không có ngôn ngữ để diễn tả trạng thái này.
[39:27]Mọi lời nói diễn tả trạng thái này đều sai. Nên có những thiền sư mà người ta hỏi quá mà ổng cứ im lặng à, tại không biết nói cách gì để diễn tả. Người nói: "Dạ, thưa đó là một cảnh giới thanh tịnh, vô cùng nội tâm thanh tịnh". Nói cũng không đúng. Tại vì cái nội tâm thanh tịnh nó là những mức thiền mà không biết ở mức nào. Không phải, diễn tả không phải. "Đó là trạng thái vô cùng sáng suốt" cũng chẳng phải. Nghĩa là không không có ngôn ngữ để diễn tả, thực sự không có ngôn ngữ để diễn tả. Và Đức Phật cũng vậy, chẳng bao giờ có thể diễn tả được rõ ràng. Ngài chỉ nói một vài lời tượng trưng thôi:
[40:13]tịch diệt, chấm dứt mọi sự đau khổ, chấm dứt mọi sự tái sanh. À, việc làm đã xong, phạm hạnh đã thành. Nghe chả hiểu cái gì, chả hiểu phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong là cái gì. Tức là Đức Phật cũng không có ngôn ngữ để diễn tả rõ ràng về cái trạng thái Niết Bàn, A La Hán này, không diễn tả. Và chúng ta cũng không có ngôn ngữ, không có một nền triết học nào trên thế giới hiểu được trạng thái của một vị A La Hán cả. Đó là lý do đa phần chúng sinh có thể rất dễ lạc vào ngoại đạo. Tại vì cái ngôn ngữ của ngoại đạo, mục tiêu của ngoại đạo, đường lối của ngoại đạo nó dễ hiểu, nó gần với con người, dễ hiểu.
[40:58]Còn cái trạng thái của chứng đạo của một bậc A La Hán không có ngôn ngữ để diễn tả. Và chúng ta vì không hiểu nên chúng ta không đi theo, và khi chúng ta không đi theo, chúng ta lạc ra ngoài, ra ngoài khỏi đạo Phật. Đây là một điều rất là bất lợi, rất là thiệt thòi cho chúng sinh như chúng ta. Nên khi hôm nay nói câu này chúng ta phải dâng lên Phật một lời ước nguyện, một lời cầu xin. Xin là: "Dù con không đủ trí tuệ để hình dung, để hiểu về cảnh giới chứng ngộ A La Hán, nhưng con nguyện thề đời đời kiếp kiếp con hướng về đạo quả A La Hán, hướng về để tu tập cho thành tựu bằng được đạo quả A La Hán này.
[41:44]Xin Phật dìu dắt con mãi mãi". Ta phải cầu nguyện như vậy, chứ hiểu hiểu không nổi. Và Đức Phật đưa ra một số biểu hiện thôi, chứ còn định nghĩa bản chất của A La Hán định nghĩa không được, nhưng Đức Phật cho ta một số biểu hiện để ta dựa vào biểu hiện đó mà ta hiểu được. Đây là vị A La Hán.
[42:17]Một trong những định nghĩa của bậc A La Hán là đạo đức siêu việt.
[42:25]Cái đạo đức siêu việt đó Đức Phật nói là diệt trừ năm thượng phần kiết sử, tức là năm bản năng còn sót lại ở trong trong tâm sâu thẳm của mình. Năm cái bản năng này nó như thế này, năm kiết sử này nó như thế này: thứ nhất là, cái câu này đúng là nói không biết bao giờ mới xong, thứ nhất là sắc ái, hai là vô sắc ái, ba là dải đãi, bốn là kiêu mạn, năm là vô minh. Một bậc A La Hán là năm cái cái kiết sử cuối cùng này biến mất luôn. Mình nghe mình chả hiểu: "Ủa, vậy có gì đâu cao siêu?". Nhưng cái vĩ đại là ở chỗ đấy. Cái dải đãi thì vừa rồi sư phụ giảng ở cái Từ Tân tuần trước nha, nói về cái kiết sử dải đãi, dành nguyên một bài nói về nó. Giờ trở lại nè.
[43:14]Cái kiết sử đầu tiên mà một bậc A La Hán, còn năm cái còn lại đó mà ngài một bậc A La Hán xóa hết trong năm cái đó, cái thứ nhất được liệt kê là sắc ái. Sắc ái là gì? Nhiều người bị hiểu lầm lắm. Sắc ái, ái này là cái quyến luyến đối với cõi trời Sắc giới. Nó dài như vậy đó. Nghĩa là sao? Nghĩa là thường có nhiều vị A Na Hàm
[43:46]khi bỏ thân người sinh lên cõi trời Sắc giới. Cõi trời Sắc giới là một cõi trời rất là cao siêu. Ở cõi đó các ngài còn thân hình lớn mênh mông như là bao nhiêu cái cái cái cái cái núi, ngọn núi vậy, mà không có cái dục. Rất cực kỳ thanh tịnh. Và cái cõi đó cực kỳ an vui, cực kỳ hạnh phúc, cực kỳ tốt đẹp, hào quang, hương thơm, mọi thứ đều nó thật là đẹp, không ta không diễn tả hết được, ai sinh lên rồi thì sẽ biết. Có ai sinh lên xuống lại thì kể cho mọi người nghe nha, chứ những cái sự tốt đẹp của cõi trời Sắc giới ta không ta cũng không, cái ngôn ngữ của của của loài người ta cũng không diễn tả hết được, không diễn tả hết được những cái
[44:32]điều vi tế như vậy trong cái cõi trời Sắc giới. Ví dụ như trong cõi trời Sắc giới vì không còn dục, cái thức ăn của các ngài nó không phải là thức ăn nữa. Các ngài rất ít khi thụ hưởng một cái gì, nhưng mà khi thụ hưởng về cái năng lực là một điều nhẹ nhàng, thanh bay, thuộc về tinh thần, thuộc về trí tuệ. Cái hạnh phúc, cái cảm giác của hạnh phúc lúc nào cũng ngập tràn, cũng tràn đầy. Ở đó không không nóng quá, không có lạnh quá, không có tối tăm.
[45:07]Mà một ngày thoáng qua của cái cõi đó là bằng mình cả mấy trăm năm, cả mấy ngàn năm ở đây. Những những điều đó rất là khó lý giải. Ví dụ cái hào quang, cái ánh sáng ta ta phải cần một cái nguồn ánh sáng từ nơi mặt trời chiếu xuống. Khi trái đất ta quay qua cái góc ngược lại thì ta rơi vào bóng tối. Nhưng mà ở trên những cõi trời đó các ngài sáng, tự nó sáng, tự mỗi vùng, mỗi nơi tự nó là ánh sáng, chứ ta không cần một cái nguồn ánh sáng để rọi lên cái cảnh giới đó. Hiểu không ạ? À ví dụ ta nhìn thấy mặt nhau, tự gương mặt người đó sáng để ta thấy. Ta cầm cánh hoa, tự cánh hoa nó là sáng, chứ không cần một cái nguồn sáng rọi cho cánh hoa đó, mà cánh hoa nó tự sáng.
[45:52]Và các vị cũng vậy, cũng không cần phải một cái cần phải một cái đôi mắt như kiểu ta để nhìn mọi vật, mà các ngài bằng tâm của mình nhìn mọi vật, hiểu vật đó tròn thế nào, vuông thế nào, đẹp thế nào, xấu thế nào, xấu thì không có trên đó, nhưng bằng tâm các ngài nhìn ra được mọi thứ. Mà bằng tâm các ngài nhìn được tâm nhau, cho nên trong tâm các ngài chỉ còn có yêu thương mà thôi. Cái cái cõi trời đó vĩ đại như vậy. Hôm bữa Trung thu sư phụ giảng cũng không hết là bởi vì không tiện giảng rồi. Không cần phải điện thoại di động réo rắt mà ồn như thế này. Các ngài các ngài dù ở đâu vậy, muốn biết về nhau,
[46:30]muốn liên lạc với nhau, muốn trao đổi với nhau là từ tâm thẳng tới tâm. Và các ngài hạnh phúc bởi vì sao? Luôn luôn biết tâm nhau và luôn luôn biết rằng mình yêu kính nhau. Nhưng ở cõi này tại sao chúng ta còn đau khổ? Bởi vì ta không thương nhau. Mà tại sao chúng ta phải tìm lại với nhau dưới mái chùa để được yên vui, để được hạnh phúc? Bởi vì khi về với chùa ta có yên trí một điều là chúng ta không ghét nhau, phải không ạ? Chứ chưa nói thương nhau. Còn những người hơi thân nhau một chút xíu thì mới là thương nhau. Và ta biết rằng ở nơi cái mái chùa này ta hạnh phúc, ta hạnh phúc bởi vì không có ghét, và nếu có chỉ có yêu thương.
[47:16]Nơi nào có yêu thương, nơi đó có hạnh phúc. Mà ở trên cõi trời là vậy, các ngài không cần nói ra, trong tâm giữa tâm và tâm chỉ có sự yêu thương, chỉ có sự tôn trọng, nên đó là một cõi hạnh phúc. Và chính những cái hạnh phúc quá sâu sắc từ tâm hồn cho tới ngoại cảnh, tới y phục, tới dung mạo, tới tóc tai, hương thơm, ánh sáng, mọi thứ nó quá tuyệt vời, nên các ngài xuất hiện một cái tâm quyến luyến cực kỳ vi tế. À. Cái này nó cực kỳ vi tế, chính các ngài cũng không thấy. Đây mới ghê.
[47:59]Ví dụ như có người bà con dưới quê lên mình nhà mình ở nhà chơi, đi đâu nó đi đâu nói là đi đi kiếm việc làm.
[48:09]Ở đây hay đi tới lui cả, nghĩa là tới buổi về ăn cơm, không có buổi đi đi xin việc làm chỗ này việc làm kia. Một tháng sau cái bà vợ mới hỏi: "Cái thằng em của anh sao nó cứ ở đây hoài?". Nói: "Thì nó đang đi kiếm việc làm". "Ủa sao nó đi kiếm hoài vậy, không thấy nó có việc làm?". Cái cái ông anh mới ra mới nói khéo, nói khéo là kiểu vợ anh cũng không muốn chú ở đây hoài, nhưng mà nói thì cũng không biết phải làm sao cho không mất lòng. Tại bà vợ bả cũng hơi bị dữ. Mà sao lúc này cái kiếp này, cái thời đại này bà vợ dữ nhiều quá, dữ hơn hồi xưa thì phải? Có đúng không cà? I am sorry. Biết rồi. Nói xa nói gần.
[48:50]Rốt cuộc cái khi ông ông ông ông chồng cứ nói với thằng em họ nói xa nói gần, nói xa nói gần: "Chú tìm được hay không tìm được việc làm thì chú nói rõ, chứ chú cứ nấn ná trong nhà này hoài chị khó chịu". Thì ông này ổng mới xì ra: "Thực em chẳng muốn đi đâu, em mê cái nhà này". Mê, vì sao? Nhà đẹp, villa, có vườn cây, có mấy tầng, có máy điều hòa, máy lạnh, bếp núc cái gì bước ra bước vô sạch sẽ, mọi thứ đẹp quá, quyến luyến không muốn đi. Thực sự là cái chỗ đó. Và cái quyến luyến đó gì? Nó ăn sâu trong tim, mình đã thụ hưởng cảnh đó, mình quyến luyến mình không rời đi và thấy được, thì cái cảnh mà cõi trời Sắc giới nó còn siêu đẳng hơn cái đó nữa.
[49:35]Và các vị ở trên đó ngay cả vị A Na Hàm tâm cực kỳ thanh tịnh rồi mà vẫn còn bị vướng cái gì? Cái quyến luyến cái cõi trời cao siêu đó. Cái quyến luyến nó cực kỳ vi tế, ta không nhìn ra được, nhưng chỉ có Đức Phật mới nhìn thấy. Sắc ái à là một cái bản năng đáng sợ.
[49:55]Hôm nay sư phụ giảng tới đâu sư phụ giảng nha, đừng có hối về, được không?
[50:03]Nãy giờ nói được mới có một câu đầu mà nó hết gần tiếng đồng hồ rồi, chà. Làm sao đây ta? Có gì ngủ lại đây nha? Rồi không.
[50:23]Vì nói về A-la-hán mà không nói về chỗ này ta không thấy cái vĩ đại của các ngài, cái sắc ái nha. Cảnh giới cao siêu vậy, cái sự quyến luyến vi tế, nhưng mà tới A-la-hán rồi các ngài mới diệt được nó, mà chỉ Đức Phật mới thấy được cái sắc ái này. Chính một bậc A-na-hàm không tự mình thấy cái quyến luyến vô hình của mình đối với cõi trời sắc giới, cõi trời rất cao siêu. Bây giờ nói tới cái thứ hai là vô sắc ái, nghĩa là gì? Cái quyến luyến đối với cõi trời vô sắc giới. Cõi trời vô sắc giới là cõi trời không còn hình tướng, chỉ còn tâm thôi. Vậy có gì để quyến luyến? Không có cảnh giới, không có lâu đài,
[51:00]không có địa ngục, không có hào quang, không y phục, không hình tướng, không gì hết, chỉ có tâm thôi, nhưng cái vi diệu của cõi trời vô sắc ái đó vẫn là một điều cực kỳ hạnh phúc, an vui trong sâu thẳm và làm cho một vị A-na-hàm quyến luyến. Cái quyến luyến sâu thẳm đó các ngài cũng không tự thấy, chỉ Phật mới thấy và khi một vị chứng A-la-hán mới dứt được cái vô sắc ái này. Cái chỗ này vi tế vô cùng mà cái ta quyến luyến cái cõi trời vô sắc ái này á, một vị A-na-hàm quyến luyến vô sắc ái này nếu mà được nói ra các vị sẽ nói thành một lý thuyết luôn, thành một đạo lý luôn, ca ngợi cái cõi vô sắc ái này,
[51:45]làm cho chúng sinh hướng về cõi vô sắc ái này xem như đó là Niết bàn tối thượng. Nếu để các ngài mà nói được các ngài sẽ dựng lên cả một lý thuyết luôn về cái vô sắc ái. Nhưng mà thường là ít ít có vị nói về điều đó vì nó cũng cao siêu, nói thì cũng chẳng ai nghe thôi các ngài không thèm nói. Nhưng mà nếu nhỡ như các ngài sinh về cõi vô sắc ái không còn hình tướng, chỉ còn cái tâm mênh mông bao la khắp vũ trụ cũng là một cái điều làm cho các ngài quyến luyến. Cái tâm quyến luyến nằm ở đâu? Hổng có, hổng thấy luôn á, cực kỳ vi tế và chính các ngài không biết mình bị, chỉ Phật mới biết mình bị, mà đến khi chứng A-la-hán mới hết được cái vô sắc ái này.
[52:27]Vậy ta thấy cái A-la-hán cao siêu không? Vượt ngoài ngôn ngữ của chúng ta. Một cái một cái kiết sử nữa là cái giải đãi, là cái lười. Nói ủa, vị thánh mà còn lười à?
[52:44]Từ cái tâm thanh tịnh cực độ nó tạo ra cái lười, mà cái lười này có gì? Có lý thuyết, có biện minh, có đạo lý. Không cần làm gì, nha, động tâm làm gì là tạo nghiệp. Thiện hay ác gì cũng là hai mặt của một vấn đề. Nghĩa là dù là miếng quý như cái miếng vàng, như cái mạt vàng mà rớt vào con mắt cũng xót giống như cái hột bụi đất rớt vào con mắt, cả hai bình đẳng. Nên không cần phải làm thiện, không cần phải làm ác. Không làm ác đã đành, cả thiện cũng không cần làm, nghe đã tai không? Nghe rất đã tai, nhưng đó là cái gì? Sự ngụy biện từ cái kiết sử giải đãi nó xuất hiện mà chính các vị A-na-hàm cũng không biết mình mắc lỗi đó luôn.
[53:33]Chỉ Phật mới nhìn thấy và đến một vị chứng A-la-hán mới chấm dứt được cái giải đãi, cái kiết sử lười biếng đó. Vì cái lười biếng đó nó sâu xa, nó vi tế và nó thanh cao.
[53:46]Cái chết là cái lười mà lười thanh cao, khác với cái thằng nó lười nhớt thây, không chịu nấu cơm cho phụ việc nhà với bố mẹ nó, nói: "Sao con không làm gì con?". Nó: "Giờ thất nghiệp nhiều quá ba ơi, con cũng xin đi làm mấy bữa không có, thôi ở nhà phụ". Rồi cái nhà: "Sao giờ này con chưa dậy?". Nói: "Tại cũng không có chuyện gì đi làm nữa thôi con từ từ dậy cũng được". "Nó đi lau nhà đi con". "Thì từ thì thôi cứ vài tháng lau lần chứ lau chi mỗi ngày, hai ba ngày lau lần uổng, có bụi đâu". Tức là lười nhớt thây. Rồi cái cuối cùng chịu không nổi: "Thôi tao tao cưới con vợ cho mày để mày có trách nhiệm".
[54:25]Sau khi cưới vợ về thì bà vợ bả làm sao? Bả cũng bả cũng xá, bả bả bỏ luôn tại vì lười quá. Cái lười đó nó không thanh cao. Cái lười đó ta gọi là lười nhớt thây, ta gọi là con người vô trách nhiệm, không có động lực để sống, chỉ sống bám sống nhờ và cái lười đó cái lười hèn hạ, cái lười thấp kém. Còn cái lười của một bậc A A-na-hàm là cái lười thanh cao, không vướng bận điều gì trong cuộc đời này, không động tâm không bận tâm vì bất cứ điều gì, không tạo ra phiền não, không làm phiền tới ai. Còn cái ông bố cái ông con mà ổng lười trong nhà đó ổng làm phiền tới bố mẹ. Cái không làm gì của ổng làm cho bố mẹ rất khó chịu và ổng hết phước từ từ.
[55:10]Mỗi ngày ổng đều ăn cơm, bà mẹ nấu xong là ổng thấy có mặt, à, ăn xong sàng qua sàng lại đi ngủ mất. Bà mẹ, ông bố lại đi rửa chén, lấy lương hưu mình nuôi nó. Tức là cái sự không làm gì đó nó làm phiền mọi người, làm phiền gia đình trước rồi từ từ mới làm phiền hàng xóm sau. Còn cái cái lười của một bậc A-na-hám A-na-hàm là không làm phiền tới ai. Cái làm phiền rất là rất là thanh cao. Và do đó các ngài có đủ lý luận để bảo vệ cái lười của mình, đâu ngờ rằng cái lười đó là một bản năng phi đạo đức mà các ngài còn vướng lại lần cuối. Cho đến khi các ngài chứng A-la-hán rồi mới diệt được nó, mới phát hiện rằng là cái mà mình biện minh không làm gì,
[55:54]không cần làm gì, không vướng chuyện gì, không bận tâm gì chỉ là gì? Chỉ là một sự ngụy biện, biện minh cho cái kiết sử giải đãi mà thôi. Ghê sợ như vậy.
[56:10]Một cái kiết sử nữa là kiêu mạn, à cái này mới ghê chưa.
[56:22]Kiêu mạn là thấy mình hay, thấy mình hơn người. Mà một bậc A-na-hàm đắc đạo cao siêu đến như vậy, phép lực thần thông cao siêu đến như vậy mà vẫn còn còn bị cái cái vướng đạo đức là vẫn còn kiêu mạn.
[56:41]Ví dụ cái người bình thường chúng ta là một phàm phu, chúng ta mắc cái tật tự cao. Tự cao là khinh người khác.
[56:52]Thì cái đó là do chúng ta phàm phu tâm còn loạn động không biết tu hành, nên mình tự cao thì thôi chấp nhận. Thì người tự cao sau này đọa hết à, tự nhiên thân phận trở thành thấp hèn. Và có những người tự cao chết đọa luôn súc sinh luôn, hoặc là chết đọa vào những cái nghề rất là là là hèn kém luôn, chỉ vì cái tự cao. Nên tuy chúng ta chưa diệt được cái kiêu mạn, chúng ta chưa diệt được cái kiết sử kiêu mạn vì tới A-la-hán mới diệt được, thì ta phải kiềm chế nó để mà đừng đọa về sau. Đó là lý do mà mỗi ngày chúng ta tu hành chúng ta đều phải phát nguyện, lúc nào cũng tác ý nhớ mình chỉ là gì? Là gì?
[57:33]Cát bụi, cỏ rác, vô minh, tội lỗi. Lúc nào cũng nhắc đi nhắc lại mãi trong tâm mình mỗi ngày như vậy để mình đừng có kiêu mạn. Mà từ từ cái đạo đức của sự khiêm hạ nó hiện ra nơi cái tác ý mỗi ngày đó. Mỗi ngày cái đạo đức khiêm hạ nó hiện ra là hiện như thế nào? Nó hiện là ví dụ bây giờ ta gặp người nghèo hơn mình thì lúc đó coi coi mình đã khiêm hạ chưa? Nếu mình thấy một người nghèo hơn mình bắt đầu trong tâm khởi lên cái ý ồ thằng này nghèo hơn tao, là thua, cái kiêu mạn còn còn thô quá, phải sám hối. Làm sao ta gặp được cái người nghèo hơn mình mà mình vẫn yêu quý, vẫn tôn trọng. Rồi ví dụ như bây giờ mình là một tiến sĩ, mình gặp một người thạc sĩ trong
[58:25]đầu khởi lên cái ồ thằng này thua tao, nó mới thạc sĩ tao tiến sĩ. Cái đó là gì? Kiêu mạn, còn thô. Người ta kêu người ta cao thạc sĩ coi chừng người ta giỏi hơn mình ở những lĩnh vực khác. Nên phải tìm mọi cách để diệt trừ cái kiêu mạn của mình đi. Đó là những cái bình thường á. Hoặc là mình có nhan sắc, mình gặp một người không nhan sắc thì trong lòng mình trong đầu mình đã tự chê người ta, khen mình. Đó là những cái kiêu mạn mà ta vô số điều để ta kiêu mạn. Và vì vậy khi ta biết tu ta cũng phải vô số tác ý để kiềm chế cái cái kiêu mạn của mình lại, giữ cho mình trong khiêm hạ. Đó là tùy trí tuệ của mỗi người và tùy cái nguyện lực của mỗi người.
[59:11]Nhớ như vậy, kiêu mạn là một loại kiết sử mà ta không tự mình diệt trừ, kiềm chế được. Ta phải luôn luôn sao nhờ gì? Nhờ lễ Phật mà cầu xin: "Xin Phật gia hộ cho con giữ được mình trong khiêm hạ, biết yêu thương, biết tôn trọng mọi người, mọi loài". Nhờ cái lời cầu nguyện đó mà khi chúng ta gặp nhau trong cuộc đời này mình không khởi ý niệm chê bai ai hết. Nhờ như vậy mà kiếp sau không bị đọa, chứ còn cái kiêu mạn nó khủng khiếp lắm nó mạnh đến đến nỗi một vị A-na-hàm tâm cực kỳ thanh tịnh rồi mà kiêu mạn còn nằm ở trong. Các ngài cũng không tự thấy đâu, ngài không tự thấy, chỉ đến Đức Phật mới thấy.
[59:58]Và đến khi các ngài chứng A-la-hán các ngài mới diệt được nó, mới biết rằng ồ, mười ngàn năm qua ta bị kiêu mạn chi phối. Tại vì khi trong cái cảnh giới của A-na-hàm các ngài ở trong đó mười ngàn năm, có khi ngài ở trong đó một triệu năm trong cảnh giới A-na-hàm và cái kiết sử kiêu mạn vẫn còn tồn tại. Ghê như vậy. Giờ nói tới cái kiết sử cuối cùng là vô minh, tức là một vị A-na-hàm chứng ngộ cao siêu rồi nhưng cái kiết sử cuối cùng là vô minh vẫn còn tồn tại tới khi chứng A La Hán mới mới hết. Vô minh là gì? Ta không có câu định nghĩa, cũng không ai biết nó là gì trừ khi ta chứng A La Hán xong ta mới biết cái đó là vô minh.
[1:00:43]Biết thì đã nó đã tan vỡ rồi, hết rồi, đã chứng A La Hán rồi, nên cái kiết sử vô minh này ta không nói, ta không giải thích nhiều vì không nói được, chỉ biết tạm thời gọi là ngu. Gọi mà ta dùng cái chữ ngu cho nó dễ hiểu, chứ vô minh đó nó cao siêu hơn, nó thâm sâu hơn cái chữ ngu rất là nhiều. Ngu hơn nhiều, nhưng mà thôi mình không biết làm sao giải thích, cứ nói hễ dạ vô minh là gì thầy? Là ngu đó con, vậy cho nó gọn, chứ thật sự nó dễ sợ hơn cái ngu nhiều lắm, dễ sợ hơn cái ngu nhiều lắm. Mà bây giờ có có mấy có mấy cái mức độ ví dụ như nói nói ngu ngu ngu cái mì cay của Hàn Quốc là có bảy độ cay phải không?
[1:01:26]À thì ngu ta ví dụ ta có bảy độ ngu ví dụ vậy, ví dụ
[1:01:33]à ví dụ như à
[1:01:37]nói ông bố ổng ổng ổng kêu thằng con khách tới cái có có đổ một cái chén nước ra ổng kêu thằng con con con lấy lấy khăn lau lau cái chỗ nước đổ cho bác con. Bị nó dính lên nhiều khi một ly cà phê nó đổ lên cái áo của ông khách đổ luôn xuống sàn nhà, ổng kêu cái thằng con lại lau thằng con lật đật lấy đồ ra lau. Lau xong cái ông bố ổng lắc đầu ổng: "Sao con ngu quá vậy con?" Nó: "Dạ có gì ba?" "Cái áo này má mày mới mua 2 triệu mày lấy ra mày làm cái giẻ lau để lau cà phê này về má mày chửi từ tao cho tới mày cũng không còn sống nổi qua 3 ngày. Ngu quá vậy con." Tức là ngu đây là cái ngu cấp độ thứ nhất.
[1:02:12]Lấy cái áo hàng hiệu của bà má mà đi đi lau cái miếng cà phê đổ dưới sàn, ngu cấp độ thứ nhất. Rồi ngu cấp độ thứ hai
[1:02:22]từ từ nó nhiều, ngu còn nhiều cấp độ lắm ha. Rồi ví dụ như là là
[1:02:35]đi vào làm bài thi à cá không ăn muối cá ươn, viết tiếp câu thứ hai à
[1:02:43]thì thằng bé nó làm câu thứ hai xong thì cô giáo mới gọi điện về mắng bố mẹ: "Ông bà sống với nó làm sao mà nó nó nó làm cái gì thế gì cô?" "Tôi cho nó cái câu hai câu ca dao tục ngữ từ Việt Nam biết là cá không ăn muối cá ươn kêu nó viết câu thứ hai thì nó viết là mà con không ăn muối thì trăm đường con con không nêm muối thì thì thì á thì à thì trăm đường nữa là canh canh canh không ngon. Ở đâu ra câu này vậy?" Nói vậy nó nghĩ ra, sao mà nó ngu dữ vậy? Là ngu cấp độ thứ hai, tức là làm bài không được. Vậy ngu cấp độ thứ ba là gì? Nhiều thứ lắm. Ta từ từ ta sẽ thấy trong cuộc sống này có nhiều khi chuyện đó nên làm hay chuyện đó
[1:03:24]không nên làm ta không đủ sức phán đoán. Nhiều khi ta mò mẫm, ta làm đại thôi. Thì cái không đủ sức phán đoán không biết người đó nói thật với mình hay nói giả với mình, không biết đầu tư này thuận lợi hay không thuận lợi, cái không biết không biết không biết không biết đó cũng là ngu. Ngu ở nhiều cấp độ.
[1:03:43]Còn cái ta không biết được những cõi giới siêu hình, ta không biết được trạng thái của các vong dưới địa ngục, các ngạ quỷ, ta không biết được trạng thái của các chư thiên thì đó là cũng gọi là ngu ở cấp độ rất cao. Còn một vị A Na Hàm cái ngu cái gọi là vô minh nó nằm ở cái thẳm sâu, nằm ở cái thẳm sâu ta không định nghĩa được. Nhưng đại khái như vậy, đây là kiết sử cuối cùng của một vị A Na Hàm là vô minh mà tới khi chứng A La Hán thì mới chấm dứt được. Nên ta gọi là một vị A La Hán là đạt được cái Niết Bàn, đạt được cái chứng đạo cao siêu là dứt được cái năm kiết sử cuối cùng này, vậy ta hiểu cái Niết Bàn chứng đạo là gì chưa?
[1:04:25]Hiểu chưa? Ai hiểu? Không hiểu nổi. Nãy giờ nói đã đời rồi chưa ai hiểu. Chứng đạo là gì phải không ạ? Không ai hiểu. Dễ sợ như vậy thì bây giờ Đức Phật mới đưa ra cái dấu hiệu khác để định nghĩa cái sự chứng đạo là Tam Minh Lục Thông.
[1:04:44]Dấu hiệu của sự chứng đạo là Tam Minh Lục Thông. Là khi một vị mà họ đạt được Tam Minh Lục Thông là họ có thể nhớ lại được vô lượng kiếp của mình. Tới vô triệu triệu triệu ức ức tỷ tỷ kiếp từ từ thuở xưa sửa xưa sừa luôn, nhớ lại hết luôn. Kiếp đó ta sinh ra ở đâu? Cha mẹ tên gì? Ta làm những hành nghiệp gì? Ta chịu đã đau khổ gì? Hưởng được cái phúc báu gì? Rồi những kiếp trước nữa, kiếp trước nữa, kiếp trước nữa tới vô tận vô tận vô tận luôn. Có khi ta làm con ốc sên, có khi ta làm con rùa, có khi ta ở trên chư thiên. Nhớ hết luôn tới vô lượng kiếp của mình mà nhớ rất rõ từng chi tiết, rất là kỹ và nhớ luôn cả từng cái ý niệm trong kiếp thứ một ngàn đó
[1:05:28]có một lần ta đã vừa khởi một ý niệm và một cái ý niệm đó đến 500 kiếp sau nó mới thành cái quả báo là một vị A La Hán nhớ đến như vậy. Thì ta hiểu A La Hán là gì chưa? Cũng chưa. Đó cũng là một dấu hiệu gọi là Túc Mạng Minh. Nhớ hết vô lượng kiếp của mình là Túc Mạng Minh.
[1:05:49]Rồi
[1:05:59]Cái cái Túc Mạng Minh này khi mà ta hiểu Túc Mạng Minh là nhớ lại cái vô lượng kiếp của mình, trong đó nó có đi theo cái nhân quả và nhân duyên. Tại sao đời này ta gặp nhau? Tại vì 30 kiếp trước có xảy ra một chuyện gì đó. 30 kiếp trước có một lần ta đi lạc bước ở trong rừng đói.
[1:06:25]Đi ngang qua thấy cái nhà của một tiều của một người nông dân, một người tiều phu ở ven rừng à ta đến đó ta ta xin một miếng cơm, một miếng nước. Thì có một cái bà lão ra bả thấy bả tội, bả xin nhưng sau đó thì có một người ra giật lấy cái bát cơm của ta, đuổi ta đi. À thì một người thương ta muốn giúp ta, ta mới ăn được có hai muỗng cơm là bị giật cái bát cơm lại. Thì một người ghét ta, phá ta, một người thương ta, giúp ta trong cùng một hoàn cảnh và cái điều đó kiếp sau nó không trở lại liền, 20 kiếp sau nó mới trở lại. Ta mang cái tình yêu thương đối với cái bà lão nhưng ta mang cái mối hận
[1:07:09]thù với cái người con trai của bà lão đã giật cái bát cơm của ta. Ta mang 20 kiếp sau ta gặp lại hai người đó họ vẫn gặp lại nhau trong cái tình thân của mẹ con gặp lại, nhưng ngày hôm nay ta gặp lại hai người đó một bên ta ta thù hận, ta trả thù, một bên ta yêu thương, ta giúp đỡ nhưng hai người đó họ lại là mẹ con với nhau trở lại, họ có duyên gắn bó với nhau trở lại. Ta xử làm sao? Đó, luân hồi nó phức tạp như vậy. Luân hồi nó không đơn giản như vậy. Có những tình huống ta rơi vào cảnh rất khó xử chỉ bởi vì bởi sao? Chỉ bởi vì những kiếp xưa kiếp xưa những tình huống rất là éo le, rất là ngang trái, không đơn giản chút nào.
[1:07:50]Và như vậy chúng ta đi qua luân hồi hết kiếp này tới kiếp kia, biết bao nhiêu là thương yêu, biết bao nhiêu là thù hận, biết bao nhiêu là ngang trái, bao nhiêu đắng cay, bao nhiêu thuận duyên, bao nhiêu nghịch cảnh. Chằng chòng chất chồng chất, chồng chéo chồng chéo, đan qua xen lại nó dệt thành những vô số những kiếp sống nối tiếp nối tiếp nhau mà ta không còn đường để thoát ra. Giống như chúng ta tự dệt cho mình một cái lưới và cái lưới đó nó chằng chịt chằng chịt và chúng ta giống như một con kiến bò trên cái lưới đó hết qua mắt này tới qua cái lưới kia, hết qua mắt kia tới qua cái cái khâu cái cái cái
[1:08:30]cái cái cái cái cái sợi nọ không có con đường để thoát ra. Chính vì vô lượng kiếp chồng chéo chồng chéo, đan xen đan xen giữa đúng và sai, giữa thuận và nghịch, giữa khổ và vui, giữa khổ đau và thù hận, ta không còn đường để thoát ra. Là khi ta nhớ lại vô lượng kiếp của mình ta thấy kiếp sống của con người, kiếp con sống của nhân sinh thật là cay đắng. Chỉ có một điều là lúc đó tâm của một vị A La Hán đã thanh tịnh nên các Ngài không còn có cái xót xa. Vì thường khi mà chúng ta nhớ lại cái chuyện quá khứ chúng ta thường sẽ bị rơi vào một số tâm trạng. Tâm trạng như thế này ví dụ như khi ta nhớ lại một cái kiếp sống đó.
[1:09:19]Lúc đó là chiến tranh xảy ra tức là vua ra lệnh đàn ông con trai phải ra chiến trường không cản được. Thế là ta phải khăn gói, vợ gói cho ta một cái khăn, cho ta một nắm cơm gì đó nói: "Thôi anh đi đường khỏe." Thì ta bồng đứa con gái lên ta hôn nó một cái rồi bắt đầu bỏ đi, đi theo cái là cái đoàn quân gọi đi ra chiến trường. Thì ta đi rồi thì ta không biết vì ta chết, chết. Ta không biết rằng khi ta quay lưng đi ở nhà con nhỏ con đứa con gái ta nó khóc nó vật lên vật xuống mà nó xỉu luôn, ta không biết. Ta không biết, rồi nó cứ bệnh nó ốm mỗi ngày nó cứ hỏi mẹ: "Ba đâu mẹ? Ba đâu mẹ?" Mẹ vợ mình cũng chỉ khóc chứ không biết nói lời nào rồi ta ra chiến
[1:10:02]trường ta bị giết chết rồi kiếp đó đi mất, ta không biết chuyện gì xảy ra. Nhưng bây giờ chứng A La Hán rồi nhớ lại kiếp đó nhìn lại cái cảnh đó lòng ta làm sao? Nếu không đủ thanh tịnh không ai đủ sức bình tĩnh để nhớ lại vô lượng kiếp khổ đau của mình. Chỉ cần nhớ lại cảnh đó thôi, bỏ lại đứa con nó khóc vì xa cha, khóc vật khóc vã, khóc nhớ đêm nhớ ngày, hình ảnh người vợ héo hon trông chồng không ai chịu nổi, không ai cầm lòng nổi trước những cái điều mà ta nhớ lại đó. Nhưng may mắn khi ta nhớ lại những điều đó cũng là lúc ta đã hết vô minh, ta đã thanh tịnh nên lòng mới bình thản để nhớ lại những kiếp đó chứ không nhớ lại không nổi.
[1:10:46]Hoặc ta nhớ lại một cảnh một cái người nào đó họ thù hận ta, họ mưu hại ta, họ vu khống ta, họ dìm ta xuống đến ta bị đày đọa, bị tù đày
[1:10:58]tiếng xấu còn gieo rắc bao nhiêu người nghĩ. Lúc đó, nếu chúng ta không đắc đạo, nhớ tới cảnh đó rồi lòng ai cũng sôi sục hận thù. Ai cũng sôi sục hận thù. Nhưng rất may, khi nhớ được kiếp trước thì ta cũng đã chứng đạo, đã hết vô minh, nên lòng ta thanh tịnh đi qua cái nỗi oan ức đó bình thản, không giận. Hoặc chính ta có những lúc lầm lỗi, có những lúc lầm lỗi. Ví dụ cái kiếp đó, ta phạm một cái lỗi lầm rất là nghiêm trọng: ta đã lừa dối, ta đã
[1:11:32]ác độc, ví dụ vậy. Nếu vậy, nếu ta nhớ lại cái cái lúc mà ta ác độc, ta lừa dối, ta sẽ cực kỳ hổ thẹn nếu ta chưa đắc đạo. Nhưng cũng may là ta đã đắc đạo rồi, tâm đã thanh tịnh rồi, nên khi nhớ lại ở cái khoảng kiếp đó, khoảng 1600 lẻ mấy kiếp đó, có một lần ta đã gian dối, ta đã ác độc thì ta biết thôi chứ không hổ thẹn. Chứ nếu mà bình thường, biết cái lỗi mình như vậy, đập đầu vô tường chết liền vì quá hổ thẹn. May là như vậy. Nên ta thấy để có thể nhớ lại vô lượng kiếp trước, ta cần một nội tâm cực kỳ thanh tịnh. Còn nếu một nội tâm không thanh tịnh mà nhớ lại những kiếp đó rồi, chính ta sẽ chết vì những cảm xúc. Vì sao?
[1:12:18]Vì những kiếp sống luân hồi quá khổ đau, quá ngang trái, quá cay đắng, quá nhục nhã, đầy hận thù và thương ghét trong đó. Sợ chưa? Sợ.
[1:12:35]Cái thứ hai, cái minh thứ hai là Thiên Nhãn Minh. Thiên Nhãn Minh cái này là không phải thấy cho mình nữa, mà thấy tất cả những chúng sinh khác, thấy vô số vô lượng chúng sinh khác, thấy hết. Giống như thấy chính mình vậy đó. Giống như thấy chính mình, giống như thấy vô lượng kiếp của chính mình. Của ai thế nào biết hết, tâm người ta đã suy nghĩ thế nào, người ta làm hạnh nghiệp gì, đã đi qua những khổ đau, những ngang trái, những cái thiện và cái ác thế nào của mỗi người, biết sạch. Biết như biết chính mình. Cái người đó họ không tự biết họ, nhưng một vị A La Hán biết về họ hết, biết rõ, biết tỏng tòng tòng không còn sót một cái thứ gì.
[1:13:12]Và biết một điều quan trọng: tất cả là nghiệp, tất cả là nhân quả chi phối. Tất cả là nhân quả chi phối, họ sinh về nơi đó, họ được cái gương mặt như thế, họ được cái tài năng như thế, được tài sản như thế, chỉ bởi vì những kiếp xưa kiếp xưa họ đã làm những hạnh nguyện gì. Tất cả đều có nhân quả, chứ không có cái gì ngẫu nhiên cả. Nên khi tối kỳ kỳ tới Giao thừa cuối năm nay, thầy sẽ giảng cái bài Nền tảng của vũ trụ, thầy sẽ nói lại cái quy luật của nhân quả là một yếu tố quan trọng của vũ trụ mà chúng ta phải phải xác định, phải khẳng định. Nên cái người nào mà không tin nhân quả là một điều bất hạnh cho người đó,
[1:13:58]còn người nào tin được nhân quả, phải nói đó là một cái thiện nghiệp rất là lớn. Cái may mắn của chúng ta hầu hết của những người ngồi đây đều là những người tin nhân quả, tin sâu nhân quả, cái hạnh phúc của chúng ta là như vậy. Thì khi mà ta được cái Túc Mạng Minh thấy kiếp trước của mình, rồi ta được cái Thiên Nhãn Minh, ta được cái Thiên Nhãn Minh, ta thấy được kiếp của vô số chúng sinh chứ không phải một mình mình nữa hay là một người nào đó, thấy hết sạch, từ trên cõi trời cho tới xuống địa ngục, không sót cái điều gì. Và có những chúng sinh ta không quan tâm nữa, ví dụ có những con bọ, những con ong,
[1:14:40]những con kiến, vì sao mà nó từ đâu mà nó đọa dần dần xuống còn con kiến không còn ngày trở lại, thôi ta không quan tâm, không quan tâm. Nhưng mà những chúng sinh hơi có giá trị là biết sạch, cần biết là biết hết, không sót một điều gì. Và một điều thú vị là vô số chúng sinh trong cái thế giới này coi vậy chứ cũng rất nhiều người có liên quan tới ta. À. Một cái người thí dụ như ở một cái nước xa xôi bên kia, không ngờ 800 kiếp trước cũng đã từng là anh chị em với mình. À, rồi không ngờ một cái bà mà già rụng không còn cái răng nào, chưa kịp làm răng ở cái xóm bên kia nghĩa là mấy chục kiếp trước bả là
[1:15:23]vợ mình, ví dụ may quá kiếp này không chứ còn chắc chết, ví dụ vậy. Nghĩa là vô số vô số chúng sinh coi vậy chứ cũng rất nhiều chúng sinh đã có liên quan với mình, đã có ân nghĩa với mình ở một cái góc độ nào đó. Ví dụ như bây giờ việc chúng ta ngồi với nhau ở đây trong một pháp hội cũng không phải ngẫu nhiên. Như sư phụ, như thầy, thầy cũng không có đủ sức nhìn mặt từng người, biết hết từng người, nhưng mà thực sự giữa chúng ta cũng có cái duyên nào đó từ từ nhiều kiếp rồi, từ nhiều kiếp. Ví dụ một kiếp nào đó thầy là ăn mày ở bên đường, thầy hát, hát cái
[1:16:04]cái người chủ nhà, bà vợ bả nói với ông chồng á: "Ông ra cho ông cái ăn mày đó một đồng, ông đi chỗ khác ông hát, ông hát dở quá. Đứng hát hoài khổ." Cái ra cho một đồng, nói: "Đi qua chỗ kia hát giùm." Thế mình đi qua chỗ kia hát, thế nên mình mắc nợ hết người này tới người kia trong vô số kiếp, bây giờ mình phải tìm cách trả nợ lại bằng cách mà thuyết pháp cho người ta nghe, chứ không người ta giận, chứ thiệt không biết đường được, không biết đường được. Nhưng chúng ta đều có duyên với nhau và yêu quý nhau vì những cái ân nghĩa từ từ kiếp nào đó. À có cái điều thế này nữa. À có khi ta mắc cái nghiệp cô đơn.
[1:16:45]Tại sao vô số chúng sinh trong vô số luân hồi đan xen qua lại, mà tại sao kiếp này ta cô đơn? À thì ra cô đơn không phải là ta thiếu duyên với chúng sinh, mà ta ta lầm một cái đạo lý trong một khoảnh khắc thôi, chứ không phải là ta thiếu duyên với nhau. Vô lượng kiếp làm sao mà không có duyên với nhau được, nhưng mà chỉ bởi vì ta lầm một cái đạo lý, à trong đó có một kiếp nào đó rất gần đây, à ta thường hay có ý nghĩ cuộc đời này quá phiền toái, nên thôi ở một nơi nào một mình cho nó yên thân yên phận, à cho nó bớt phiền toái, chỉ cái ý nghĩ đó lên mà nó cứ lặp đi lặp lại lặp đi lặp lại, nên kiếp này ta rơi vào cảnh cô đơn. Rồi nghĩ:
[1:17:34]"Trời ơi, sao đời tôi khổ quá, cô độc cô đơn, không có ai, không có duyên với ai, tôi không có duyên với chúng sinh." Không phải không có duyên với chúng sinh, vô lượng kiếp thì chắc chắn chúng ta có duyên với nhau rất nhiều, nhưng kiếp này ta phạm một ta ta vướng vào cái nghiệp cô độc chỉ bởi vì phạm một ý nghĩ sai lầm ở một kiếp nào gần đây thôi, chỉ là vậy. Còn mà tại sao chúng ta có duyên với nhau đông vui, quây quần bên nhau, gặp nhau kính yêu, hạnh phúc, tất cả tràn đầy lý do gì vậy? Cũng bởi vì một cái thiện nghiệp nào đó chúng ta đã đã gieo. Gieo ở chỗ là gì? Ở chỗ là lúc nào gặp ai cũng kêu gọi mọi người thương nhau.
[1:18:15]Cuộc đời này nó đúng là nó phù phiếm, đúng là nó tạm bợ, đúng là nó ngắn ngủi, nên hãy tiếc từng giây phút trong cuộc đời này mà sống thương yêu nhau, giúp đỡ nhau, tôn trọng nhau. Nhờ cái ý nghĩ đó, nhờ cái lời kêu gọi đó mà một kiếp nào chúng ta lại xuất hiện giữa loài người, giữa cộng đồng, mọi người quây quần chung quanh ta, thương yêu, vui vẻ, ý là như vậy. Nên trong cái vô lượng kiếp của ta, vô lượng kiếp của chúng sinh, tất cả đều là nhân quả chi phối cả. Và cái nhân quả chi phối đó, chúng ta hiểu rất rõ cái luật nhân quả nó nghiêm khắc tới chừng nào và nó linh động ở chỗ nào. Luật nhân quả cực kỳ nghiêm khắc nhưng cũng có cái chỗ kẽ để có cái sự linh động.
[1:19:07]Như vừa rồi thầy giảng ở Từ Tân vậy, chúng ta đi dắt xe đi ra làm, nhớ không? Dắt xe đi làm buổi sáng, tự nhiên thấy người nóng ruột, xốn xang, mắt cứ giật giật giật giật, thì ông bà mình dặn đó là gì? Điềm báo sắp có chuyện xui. Thôi ta đi vào ta thắp nhang, ta cầu xin, ta cầu xin ở trên độ để cho bữa nay con đừng có bị xui. Sau khi thắp nhang xong đi ra thì mất chiếc xe.
[1:19:42]Nói sao kỳ vậy ta, mới mới mới thắp nhang cầu Phật xong đi ra mất chiếc xe. Nhưng mà chính nhờ mất chiếc xe đó ta tránh một một cái tai nạn gãy chân. Chứ đáng lẽ hồi nãy đi xe ra đường thì chưa tới sở làm đã bị tông xe gãy chân nằm bảy tháng, nhưng mà nhờ ta vào ta xin ra mất chiếc xe, của đi thay người. Đó, đó là sự linh động của luật nhân quả. Nhưng mà luật nhân quả rất là khắt khe. Ta không đường nào ta trốn cái tội ta được, không đường nào trốn cái tội. Mà thường là chúng ta không hiểu về về luật nhân quả nên ta
[1:20:23]ta hay phạm tội. Cũng giống như một người không biết luật pháp sẽ là một người dễ phạm tội hơn người có học luật. Cái người học luật rồi á trong các các cái luật họ có cái phân cái khung tội khi mà ảnh ra tòa ảnh dính khung tội nào bị mấy phạt mấy tháng hay phạt hành chánh bao nhiêu tiền hay phạt mấy năm tù, vân vân. Là ai phạm tới tội nào thì bị xử hình xử tử hình thì biết hết rồi cái đâm ra mình giữ mình, mình không dám không dám ơ làm bậy.
[1:20:57]À ví dụ như có một lần có cái ông đó ổng dắt vợ ổng lên gặp thầy, ổng kể tội vợ ổng ra quá chừng và ổng nói: "Con là một luật sư. Ờ cái tội vợ con như vậy nhưng con chưa bao giờ đụng tới vợ con." Tức là không bao giờ có cái tác động vật lý mà gây tổn hại tới vợ con tại vì ổng biết luật mà. Đó, chúng ta nhờ biết luật mà ổng không tránh được, đó thì ổng mới hỏi ừm lời khuyên răn thì thầy khuyên thế này khuyên thế kia rồi hai vợ chồng về. Không biết tới giờ sao ổng chưa bao giờ gặp lại.
[1:21:31]Thì luật nhân quả vậy. Luật nhân quả nghiêm khắc hơn luật pháp của quốc gia. Nghiêm hơn nhiều lắm. Ví dụ bây giờ
[1:21:45]ta nhìn qua nhà hàng xóm,
[1:21:49]ừm ta thấy nhìn qua cái cửa sổ ta nhìn xuyên qua lọt qua cửa sổ nhà hàng xóm, nó cũng cách xa xa. Ta thấy họ lăng xăng làm gì làm gì. Cái ta ngồi ta nói: "Trời ơi, vừa về nhà chút lăng xăng như mấy con chó." Cái câu nói đó luật pháp có bắt ta không? Không. Chẳng ai nghe, chẳng ai kiện cáo, không ai bắt bớ gì ta cả. Nhưng chỉ một câu nói đó thôi, ta bỏ thân này ta đọa làm chó. Luật nhân quả là vậy. Sợ vô cùng. Nghiêm khắc vô cùng. Khắt khe vô cùng. Nói ta cứ nhớ câu chuyện ông già chồn, ổng truyền cái tư tưởng là khi một người đắc đạo cao siêu không bị luật nhân quả chi phối, ổng đọa làm chồn mười hai ngàn năm.
[1:22:45]Ta sợ cái luật nhân quả không?
[1:22:50]Nên khi một vị A-la-hán mà chứng được tam minh, thấy có được túc mạng minh biết cái nhân quả của mình, chứng được thiên nhãn minh biết được nghiệp của tất cả chúng sinh, mới sợ nhân quả, mới sợ cái sự khắt khe của luật nhân quả. Nhưng mà lúc đó là các vị đã thuần thiện, không bao giờ làm gì bậy. Còn ta bây giờ vô minh, chưa có túc mạng minh, chưa có thiên nhãn minh, ta sơ hở một chút là tạo nghiệp, sơ hở một chút tạo nghiệp. Mà cái khuynh hướng tạo nghiệp lúc nào nó cũng nhiều hơn cái khuynh hướng làm điều làm điều thiện. Nhớ như vậy. Tất cả chúng ta đều bị như vậy. Ta sơ sẩy chút xíu ta làm điều bất thiện liền.
[1:23:34]Còn điều thiện rất khó làm, điều thiện rất khó làm. Giống như bây giờ nhiều khi thầy mua một chiếc xe hơi, như chùa nói các đệ tử nói: "Thưa Sư phụ, chùa mình thiếu xe, thì Sư phụ cố gắng dành giùm mua cho tụi con một chiếc xe thêm." Thì thôi nói là: "Từ từ con, để Sư phụ dành dành giùm cái đã." Tới khi dành giùm nói tụi con mua, mua thì bắt đầu phải lựa cái tính năng à xe đó mình sẽ dùng trong trường hợp nào, đi những đoạn đường nào, nên cần cái tính năng an toàn nó như thế nào. Và thầy phát hiện một điều: không bao giờ vô tình có một tính năng tốt. Không bao giờ. Không bao giờ cái hãng xe khi họ thiết kế xe,
[1:24:17]họ chế tạo xe vô tình có một tính năng tốt mà họ không biết. Nhưng mà cái dở thì sao? Thì luôn luôn có sẵn trong xe. À cái trục lái đó dở, cái cầu lái đó dở, cái bánh xe đó nó không chuẩn, bộ thắng nó không êm thế này thế kia, số nó gài không tốt, vân vân, rất dễ xảy ra. Còn mà để mọi cái hoàn thiện đều nằm trong sự sắp xếp, nằm trong sự tính toán của nhà sản xuất. Cái tốt là cái gì? Phải có tính toán, có sắp xếp, có chủ động, có chủ ý, có cân nhắc, có đào tạo, có rèn luyện, có chuẩn bị. Còn cái xấu không cần, tự nó xấu rất dễ xảy ra. Cuộc sống của chúng ta cũng vậy, đừng cần ai nhắc điều gì, mở miệng ra là nói bậy, sơ hở một chút là làm điều ác.
[1:25:07]Còn để chúng ta lúc nào cũng nói một điều đúng đạo lý, làm một điều thiện thì phải làm sao? Phải được dạy dỗ rất là kỹ lưỡng, chăm chút cẩn thận từng ly từng tí. Nên chúng ta vậy, trong từng ngày, từng giờ đi qua năm tháng, ta rất sợ mình làm điều sai quấy. Vì sơ hở là làm điều sai quấy liền, bản chất tự nhiên của chúng sinh là làm bậy. Còn để cho chúng ta mà từng giờ, từng phút, từng ngày, từng tháng đi qua năm tháng, đi qua cuộc đời mà luôn luôn làm được điều thiện thì người đó phải là người có sự tu tập rất kỹ lưỡng, được sự rèn luyện, dạy dỗ, kèm cặp, cân nhắc rất chặt chẽ thì chúng ta mới không rơi vào, không sơ sẩy làm những điều sai quấy.
[1:25:55]Cái điều thiện khó hơn rất là nhiều. Mà khi một vị A-la-hán vậy, vì chứng được túc mạng minh, thiên nhãn minh rồi, thấy được tất cả kiếp của mình, thấy được kiếp chúng sinh rồi, thấy nhân quả chi phối tất cả, các vị biết rõ hành vi nào, ý nghĩ nào tạo ra cái nghiệp như thế nào biết hết, nhưng mà có cái xui là các ngài không bao giờ phạm nữa, không bao giờ làm bậy. Còn chúng ta thì sao? Cứ phạm hoài. Rất là đáng thương, rất là đáng thương chúng ta, cứ phạm lỗi hoài vì vô minh.
[1:26:31]Giờ một cái minh thứ ba, trong cái tam minh, cái minh thứ ba là gì? Lậu tận minh.
[1:26:39]Trời ơi, mới được có mấy dòng mà hết một tiếng rưỡi rồi, gần hết tiếng rưỡi rồi. Chà chà.
[1:26:51]Khuya khuya mình về nha, khuya về.
[1:26:59]Cái thứ ba là lậu tận minh. Lậu nghĩa là sơ suất, lậu tận là không có sơ suất. Cái chữ này cũng rất là khó dịch. Không có sơ suất nghĩa là gì? Không có sơ suất về lỗi lầm. Thì các ngài đâu có lỗi lầm nữa, tâm cực kỳ thanh tịnh rồi làm gì còn lỗi lầm, nên ta dịch cái chữ lậu tận là không còn sơ suất lỗi lầm cũng rất là cạn. Chữ lậu tận này có nghĩa là
[1:27:31]không còn điều gì hiểu sai nữa về cái đạo lý, về chân lý nữa.
[1:27:38]Người chứng lậu tận minh là người thấy được mọi đạo lý của vũ trụ này, của vũ trụ, của pháp giới này. Đó là lậu tận minh. Và cái đặc biệt của lậu tận minh là thấy được Tứ diệu đế. À. Thấy Khổ, Tập, Diệt, Đạo cực kỳ thấu đáo. Ví dụ như cái đợt này ta nói về Tứ diệu đế trong hai mươi tám bài
[1:28:08]thì các ngài thấy về Tứ diệu đế, các ngài có thể nói thành hai ngàn bài vẫn chưa hết Tứ diệu đế. Các ngài thấy tới mức độ thấu đáo như vậy. Mà hai ngàn bài mình nghe ngán không? Không. Nếu được nghe các vị giảng về Tứ diệu đế trong hai ngàn bài, ta càng nghe càng say, càng mê, càng nghiện và có khi ngồi nghe đắc đạo luôn cũng có nữa. Cái sự thấu đáo của các ngài về cái lậu tận minh đó là như vậy, là thấu rõ mọi chân lý của vũ trụ, trong cái chân lý vũ trụ đó thấu rõ về luật nhân quả, đường đi của luật nhân quả rất là tinh vi, thấu rõ một điều sự đau khổ của con người, của chúng sinh là gì, thấu rõ rất kỹ.
[1:28:49]Khổ đế, Tập đế thấy rất là rõ và thấy Diệt đế, thấy Đạo đế rất là rõ, nên cái phần Lậu tận minh này là một trí tuệ mênh mông mà chúng ta bàn hoài, bàn hoài cũng không bao giờ hết là vậy. Thôi, lướt qua đi. Có cái Lục thông nữa, một biểu hiện của các vị A-la-hán nữa là là Lục thông. Là ba cái minh đó biến thành thông rồi thêm ba cái thông khác là tha tâm thông, thiên nhĩ thông, thần túc thông. Tha tâm thông nghĩa là biết tâm của chúng sinh. Thường một vị thiền sư đó, khi các vị ngộ đạo ở mức độ thanh tịnh thì mình ngồi gần các vị như vậy là các vị đọc được tâm mình hết á, nghĩ cái gì các vị biết hết.
[1:29:33]Đó là gọi là cũng có cái tha tâm thông ở mức độ nhỏ. Hoặc là cao hơn là không ở ngồi trước mặt các ngài, nhưng mà các ngài muốn biết về mình, dù ở xa các ngài hướng tâm về mình, các ngài biết mình đang nghĩ gì luôn, thì ở khoảng cách xa xa. Mà đó, cái tha tâm thông đó chưa phải là của vị A-la-hán. Của vị A-la-hán là các ngài biết tâm của súc vật, biết tâm của ngạ quỷ, biết tâm địa ngục, biết tâm của các vị trên cõi trời, biết hết, ở cõi giới nào biết hết, gọi là tha tâm thông.
[1:30:08]Biết tới mức độ như vậy, cho nên ở cõi đó mình không giấu được điều gì. Hiện nay, thế giới này bằng cái kỹ thuật, chúng ta cũng biết về nhau rất là nhiều do các camera CCTV quan sát khắp nơi, ai làm gì cũng bị biết hết trơn thế giới. Cho nên bây giờ tội phạm khó mà thoát là vậy. Hồi xưa đi giết người rồi trốn đi đâu khi ba, bốn chục năm tìm không ra. Bây giờ ta thấy vừa giết người xong tuần sau công an lại bắt mất tiêu. Vì cái hệ thống an ninh giờ nhờ kỹ thuật hỗ trợ. Còn ở trên cõi trời thì do cái cấu trúc của cõi trời, tâm của các vị chư Thiên đều biết rõ lẫn nhau, nên không ai giấu ai điều gì, tất cả chỉ ở trong điều thiện mà thôi.
[1:30:54]Còn ở các vị A-la-hán thì tâm các ngài biết sạch hết tất cả mọi điều, mọi ý nghĩ của chúng sinh. Và có khi các ngài không muốn biết thì các ngài yên trong thanh tịnh. Khi các ngài muốn biết thì đừng hòng ai giấu điều gì với các ngài. Cái ý nghĩ mình bí mật nhất trong tâm mình các ngài đọc được hết, mà các ngài đọc được những ý nghĩ mà chính mình chưa kịp nghĩ ra.
[1:31:26]Chính mình chưa kịp nghĩ ra.
[1:31:31]Mà có khi mình nghĩ rồi mình quên, mình không thấy rõ. Các ngài đọc được luôn. Ví dụ mình lái xe đi qua một con đường cái vèo, mình nghĩ gì? Nói "Dạ đâu có nghĩ gì. Đâu có nghĩ gì đâu, tại mắc lo lái xe." Nhưng mà các ngài sẽ liệt kê cho mình những ý nghĩ trên một đoạn đường hai phút mình đi từ cái đầu đường kia lái qua cái con ý nghĩ này, trong hai phút đó mình có bao nhiêu ý nghĩ tạo thành nghiệp. Còn những ý nghĩ vẩn vơ thì không tạo thành nghiệp thì thôi các ngài bỏ. Ngài liệt kê một cái vèo đi qua hai phút nè: "Anh đã suy nghĩ những điều này đây. Thứ nhất, đi ngang cửa hàng vịt quay anh hơi thèm,
[1:32:11]có không?" Tác ý thèm rất là nhanh, thoáng qua một cái, "Lâu quá không ăn vịt quay", đúng không? Ngồi ngẫm nghĩ: "À, có có, lúc mắt nhìn thấy cái hơi có thèm, nhưng mà rồi mắc lái xe rồi quên." "Anh thấy có một cái cô gái mặc áo hở hang, anh có hơi dòm hơi hơn một giây, đúng không?" "À có, có." "Trong đó có cái thích phải không?" "Có." Tức là không giấu được nữa, cái thoáng đã qua, mà nếu nói: "Thôi thầy đừng có nói cho mẹ, vợ con biết." Như vậy. Tức là những ý nghĩ thoáng qua rất nhanh, rất nhanh, rất nhanh của ta, chính ta cũng quên, chính ta cũng không để ý là ta có, nhưng các ngài đọc cái rẹt, không sót một điều gì.
[1:32:48]Còn hơn cả máy vi tính là cái tha tâm thông. Còn cái con kiến, con ong, ví dụ như con ong nó vừa bay ra khỏi tổ, nếu các ngài mà muốn biết, ngài biết nó sẽ bay về hướng nào để đi tìm hoa. Con ong vừa bay ra khỏi tổ, thực sự cái trực giác của con ong nó đã cảm nhận cái hướng tây có một vườn hoa vừa nở, mà trong cái tổ của nó cách xa tới ba cây số, nhưng nó cảm nhận được cái hướng tây có một cái vườn hoa vừa nở, kéo nhau nó bay về đó hết. Và các ngài, các ngài A-la-hán ngài cũng không thấy cái vườn hoa đâu, nhưng mà các ngài nhìn con ong vừa bay ra khỏi tổ, các ngài biết à cái tâm của nó hướng về cái phía
[1:33:26]tây, nó sẽ bay về hướng tây để tìm hoa. Và rồi các ngài hướng về hướng tây, các ngài thấy một vườn hoa vừa nở. Biết hết, không còn sót điều gì, cả cái ý nghĩ của con kiến, của cả con ong, chứ đừng nói của con người. Biết hết mọi chuyện, cái tin. Thế giới này mở bày ra hết mọi thứ, không ai giấu được điều gì với một vị A-la-hán, tha tâm thông. Thiên nhĩ thông là nghe hết mọi điều, âm thanh mọi điều.
[1:33:56]Ta nói với ý nghĩ gì, nói ngôn ngữ gì, cái tiếng động thì thầm trong lòng đất có ý nghĩa gì, cái sự sôi sục của cái cái dung nham có chuẩn bị nổ ra thành động đất hay không hay hay là vẫn sôi sục xì xèo ỳ ầm ỳ ầm ỳ ầm âm thầm trong lòng đất, các ngài nghe hết, biết hết. Và thậm chí trên sao Mộc thổi gió bão ầm ỳ ầm ỳ trên đó, ngài nghe hết, biết hết. Và mặt trời mặt trời chúng ta là phản ứng nhiệt hạch ép lại với nhau để ép các nguyên tố hydro lại, nguyên tử hydro lại biến thành heli, trong quá trình nhiệt hạch đó nó phát sinh ra nhiệt và ánh sáng. Cái âm thanh nó kinh hồn, khủng khiếp, tại vì ta không nghe được, nếu ta nghe, nó còn hơn cả những vụ nổ.
[1:34:41]Rồi những tất cả mọi điều gọi là thiên nhĩ thông, những điều ta không nghe được, các ngài nghe được hết. Đặc biệt thần túc thông. Thần túc thông của một vị A-la-hán một thân biến thành cả ngàn thân, bay lên hư không, hiện thân hình nhỏ, hiện thân hình bé bé, đi xuyên qua vách núi. Tất cả húy biến biến nghĩa là biến hóa đó, thần túc thông có nghĩa là biến hóa, các ngài có thể biến hóa, có thể phi hành, phi thường làm gì cũng được. Đó là cái đặc biệt như vậy. Nghe tới thần cái gì mình không mê, mà nghe nói thần túc thông biến hóa vô lượng là nghe rất là mê, rất là mong mình chứng được A-la-hán để mình không thèm ngồi nghe Pháp dưới này nữa mà sẽ ngồi lơ lửng trên
[1:35:25]hư không cho người ta sợ chơi, nha, ráng mình tu như vậy.
[1:35:36]Về cái thần thông các vị A-la-hán, ta đọc lại kinh điển nhất là trong Nikaya, ta sẽ thấy rất là nhiều. Nhưng hôm nay thì mình không có thời gian, nhưng đại khái là như vậy. Nên đây Đức Phật không có một định nghĩa về cái cảnh giới
[1:35:56]không có cái định nghĩa cụ thể về cảnh giới Diệt đế, Niết bàn, mà Ngài chỉ đưa ra những tính chất, những biểu hiện thôi, và dựa vào những tính chất, những biểu hiện của Tam minh, của Lục thông, của đạo đức, ờ ta tự mình hình dung ra cái sự cao siêu, vĩ đại của một bậc A-la-hán. Đó gọi là niềm vui trong Phật đạo, đó là điều Đức Phật muốn chúng ta đạt tới mà chúng ta phải tự hiểu chứ Phật cũng không có không có ngôn ngữ để diễn tả, thế gian này không có ngôn ngữ để diễn tả.
[1:36:33]Khi một vị chứng A-la-hán rồi thì các ngài biết nghiệp của mình: "À, đời này chứng A-la-hán rồi nhưng mà còn sót lại một số nghiệp đời xưa chưa trả xong." Và các ngài chủ động trả, chọn cái lúc để trả. Giống như ngài Mục-kiền-liên vậy á. Ngài Mục-kiền-liên khi ngài chứng A-la-hán rồi, ngài mới phát hiện rằng ngài bị cái nghiệp đánh chết, bị đánh tới chết. Nhưng mà ngài không cho nó xảy ra. Ngài cứ làm các Phật sự, đến khi phù phụ với Đức Phật mọi điều cũng viên mãn rồi thì ngài mới cho phép ngoại đạo nó vô đánh ngài. Nó vô đánh ngài tơi tả, ngài ngồi yên, rồi nó đánh ngài dập xương dập thịt hết.
[1:37:17]Sau khi nó thấy ngài nát xương nát thịt hết, chỉ còn một đống máu lè nhè rồi nó yên trí ngài đã chết rồi nó bỏ đi. Khi nó bỏ đi rồi ngài dùng thần thông thu hình lại, thu hình lại như cũ bay về đảnh lễ Đức Phật rồi mới ngồi kiết già nhập Niết bàn, nhập Niết bàn luôn. Cho nên ngài tự tại như vậy, nghĩa là biết còn một số nghiệp phải trả thì thanh thản mà trả.
[1:37:43]Một một điều một vị A-la-hán phải làm nữa là các ngài giữ duyên lành với chúng sinh. Cái giữ duyên lành với chúng sinh này rất là khó vì chúng sinh lúc nào cũng sân si, lúc nào cũng tự ái, lúc nào cũng nóng nảy, thù hận, ganh tị. Không phải dễ mà
[1:38:10]hóa độ chúng sinh, không phải dễ. Ví dụ bây giờ một người đến với thầy, làm đệ tử thầy. Nghe nói thầy là thầy giảng dễ hiểu. Ừ, thì tới xin làm quy y, làm đệ tử thầy. Vậy là ngon chưa?
[1:38:41]Khi làm đệ tử Thầy thì Thầy dạy phải nghe lời, đúng không ạ? Phải. Nhưng mà có nghe không? Không. Thầy nói cái gì nó êm tai thì nghe, mà không êm tai thì cự, giận. Không có dễ chút nào, chứ không phải là để làm đệ tử Thầy rồi ngoan đâu. Bây giờ hôm nay đến với Thầy cái Thầy mới nói: "Sao hôm nay Thầy nhìn thấy mặt con đăm đăm mà thấy ghê quá vậy hả? Nãy giờ con sân si có cái tâm nghĩ xấu gì trong bụng vậy?" Thế là bắt đầu hầm hầm Thầy, giận Thầy rồi đó. Nghe Thầy chê, Thầy rầy cái bắt đầu tự ái, giận người ta. Chúng sinh là như vậy. Mà vì Thầy không phải là A-la-hán, cho nên giận Thầy không có tội nhiều.
[1:39:29]Còn lỡ như Thầy là A-la-hán mà khởi tâm giận Thầy một cái, đi đứt ba chục kiếp không trở lại. Nguy hiểm như vậy. Nên rất là may mình có một vị Thầy không phải A-la-hán, tha hồ mình giận ổng, mình ghét ổng, không sao.
[1:39:48]Chứ nếu mà gặp một ông thầy A-la-hán rồi coi chừng, cẩn thận cái ý nghĩ của mình nha. Khởi nhẹ một cái là đi đứt vài chục kiếp á, không có lấy lại được á. Nên một vị A-la-hán mà giữ duyên lành với chúng sinh, các ngài cẩn thận là vì điều đó đó. Lúc nào ta cũng nghe các ngài ái ngữ, các vị ái ngữ lắm. Tại vì các ngài ái ngữ là không phải ngài sợ mình, mà ngài sợ mình chết, sợ mình đọa. Cũng giống như cũng giống như là có trong xóm đó có hai thằng nó gây lộn nhau, một cái thằng thì nhỏ con có tí xíu à, đứng ngang vai thằng kia, thằng kia lớn con nó đứng hơn cả cái đầu á. Rồi thằng nhỏ cứ rượt theo thằng lớn đánh,
[1:40:27]đánh, thằng lớn cứ né né né né né rồi chạy mất tiêu. Thì cái bác ở trong đó mới nói là: "Ủa sao con con con con con lớn con vậy mà con sợ nó dữ vậy?" Nói: "Dạ, con sợ con quánh lại nó chết." Cái người ta có đạo đức vậy. Người ta thắng, nhưng người ta sợ hậu quả của mình. Thì cũng vậy, khi một vị A-la-hán đến với mình, các ngài nói năng nhẹ nhàng, từ tốn, tử tế. Có khi các ngài rầy cái lỗi của mình, các ngài rầy rất khéo, rất lịch sự, vòng vòng vo Tam Quốc giống như đúng mẫu người Bắc Kỳ, nói vòng vo nó không hiểu gì hết. Bắc Kỳ. Vì sao? Vì nói thẳng sợ mình giận, mình tự ái. Mà chúng sinh luôn luôn là như vậy, rất dễ giận, rất dễ tự ái.
[1:41:17]Mà khi mình giận ai, mình tự ái với ai, đụng nhầm A-la-hán thì sao? Đi đứt coi chừng trăm kiếp không trở lại được á. Nên các ngài giữ duyên lành với chúng sinh, các ngài rất cẩn thận là vậy, nhẹ nhàng, từ tốn, khéo léo. Mà tội nghiệp, đúng là tu tới đắc đạo rồi mà vẫn phải nhã nhặn. Nhã nhặn, khéo léo vì sợ chúng sinh tự ái. Có lỗi rành rành ra đó mà nói nó có lỗi là nó giận à. Á! Nên cái nhiệm vụ mà gọi là giữ duyên lành với chúng sinh là một điều vất vả. Ví dụ như bây giờ có một vị A-la-hán các ngài đi khất thực trên đường, rồi mình đến mình gặp ngài, mình cúng dường. Mình cũng không biết các ngài là A-la-hán, nhưng mình nhìn thấy các ngài
[1:42:02]có vẻ thanh tịnh quá, cái lòng mình khởi lên một cái niềm tôn kính, đâu biết rằng khởi cái niềm tôn kính đó lên, ba trăm kiếp sau mình đắc đạo. Nhờ một chút đó. Rồi các ngài đi mất, các ngài không trở lại. Mình đắc đạo là nhờ cái duyên mình gặp một vị thầy khác. Nhưng mà thật ra cái duyên ban đầu chỉ bởi vì lúc đó mình sớt thức ăn vào bát của một vị A-la-hán với cái niềm tôn kính, vậy mà ba trăm kiếp sau mình đắc đạo. Chỉ một cái niềm đó thôi. Rồi và các ngài giữ cho mình cái duyên đó, cái niềm tôn kính đó. Bây giờ ví dụ bây giờ mình bắt chuyện, mình mình hỏi ngài: "Thưa ngài, ngài từ đâu đến đây?" Nói:
[1:42:44]"À ta Thầy ở cái tinh xá đằng kia con." "Dạ, con ngài có thời gian con mời ngài ghé qua nhà con gần đây để cho con được cúng dường và hỏi thăm đạo lý." Thế là ngài ngài ghé, ngài đi vào, ngài mình cúng dường thức ăn, rồi mình mới hỏi: "Ngài à thưa ngài, con có thằng con mà nó cứ bệnh hoạn hoài và những năm về sau này nó bệnh đến nỗi nó không đi được." Giờ ngài trả lời sao? Đây chỗ này mới khó của một vị A-la-hán nè. Nếu vị A-la-hán mà nói như thế này: "Cái thằng con con nó bệnh nó không đi được á là do kiếp xưa nó đi đào đường của người ta, đường người ta đang đi vậy nó đi nó đào đường. Nó chặn người ta không cho người ta đi
[1:43:36]để nó làm cái gì cho nó đó, mà con là người sai nó làm chuyện đó. Cho nên đời này nó què và con phải nuôi nó." Nói đúng nhân quả đó thì mình nghe lọt tai không? Bắt đầu giận à. Cái ông này ở đâu đâm bang nói bậy, con người ta con cưng người ta vậy, nói nó đi đào đường, nói tôi sai nó. Nghe giận, mặc dù đó là sự thật. Nên khi một vị A-la-hán mà nói chuyện với ta, các ngài cẩn thận vì sợ ta tự ái, ta giận lên một cái ta đi đứt liền, không có ngày trở lại. Nên các ngài sẽ nói rất là khéo. Các ngài nói: "Thôi đây cũng là cái cộng nghiệp của gia đình, rồi con ráng sám hối ha, rồi ráng thôi tìm đường của
[1:44:19]ai mà hư đó, đắp lại cho người ta đi." Chứ ngài không nói lỗi của mình, chứ sự thật đó là lỗi của mình. Nhưng mà nói đúng cái lỗi ra mình giận liền. Nên các vị A-la-hán khi tiếp xúc với mình, các ngài giữ duyên với chúng sinh nhất là bằng cái ái ngữ. Cái phong thái từ hòa, yêu thương và ái ngữ để đừng khơi dậy cái sân si của mình. Tại vì sao? Tại mình lúc nào cũng gì? Sẵn sàng sân si. Mình vậy đó, mình dễ thương vậy đó, đụng cái sân, đụng cái si à. Và vô tình tạo nghiệp rất là nặng, các ngài cẩn thận điều đó vô cùng. Ta thấy hạnh nguyện của một vị A-la-hán như vậy đó, các ngài tinh tế, sâu sắc, nhìn một điều nhìn cho muôn ngàn kiếp về sau cho mình.
[1:45:03]Đấy.
[1:45:10]Chà! Các ngài gọi là cảm ứng đạo giao nan tư nghì.
[1:45:20]Các ngài ở xa nhau, nhưng lúc nào cũng như một chỗ với nhau, nghĩa là vô lượng các vị A-la-hán từ những ngàn xưa cho tới các vị A-la-hán chứng ngày hôm nay, các vị ở trong hang sâu, ở trên núi cao, trong hang động, tất cả đều cảm ứng với nhau như là một. Vị A-la-hán đó ổng chứng hồi tám triệu năm trước ở trong Niết-bàn, một vị A-la-hán mới chứng ở đây trong đời này, các vị vẫn gì? Cảm ứng với nhau như trong khoảnh khắc của hiện tại, không hề chia cắt bởi cái thời gian. Nói không, ông đó A-la-hán cũ rồi, tôi mới là A-la-hán mới, không có chuyện đó. Nghĩa là dù tám triệu năm trước, dù tám tỷ năm trước cho đến
[1:46:05]cái vị A-la-hán vừa mới chứng hôm nay cũng giống như là ngang với nhau, bằng với nhau, cùng một khoảnh khắc với nhau. Rất là tuyệt vời, rất là đẹp. Cái đạo là như vậy, cảm ứng đạo giao nan tư nghì, cái này ta không hiểu nổi, nhưng nó là như vậy, đẹp như vậy.
[1:46:25]Một vị A-la-hán là một vị mà hiểu hết tất cả chỉ bởi vì các ngài đã trở thành tất cả.
[1:46:40]Ngài hiểu cả cái thái dương hệ này bởi vì ngài đã trở thành thái dương hệ. Ngài hiểu hết một con kiến bởi vì ngài đã trở thành một con kiến. Ngài hiểu một nguyên tử bởi vì ngài đã trở thành một nguyên tử. Ngài hiểu cả cái pháp giới vũ trụ bao la này bởi vì ngài chính là pháp giới vũ trụ bao la này.
[1:47:07]Và dĩ nhiên nơi cái cảnh giới của một vị A-la-hán là không còn đau khổ. Không còn đau khổ là vượt qua khỏi cái cảm giác và vượt qua khỏi lầm lỗi. Tất cả chúng ta đau khổ là do gì? Cảm thọ. Nhưng cái mức thanh tịnh, cái mức định của một vị A-la-hán là vượt khỏi cảm thọ, cảm giác, không bao giờ có đau khổ. Vượt khỏi luôn cái nguyên nhân của đau khổ là lầm lỗi, là vô minh các ngài vượt qua khỏi. Nên mới nói một vị A-la-hán chứng đạt đạo quả là chấm dứt đau khổ, dập tắt đau khổ, bởi vì các ngài vượt qua khỏi cảm thọ và không bao giờ có lỗi lầm. Những điều đó đấy. Các ngài có thể tự tại an trú các mức thiền, các mức định một cách tùy ý.
[1:48:00]Muốn nhập Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách tự tại theo ý muốn của mình. Gọi là các ngài dùng gọi là tâm mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng, đó là cái cách các ngài nói. Ngài muốn nhập mức định nào thì nhập. Mà đến cái mức độ đó thì các chư thiên tử ở trên các cõi trời, phước có lớn hết cỡ nào cũng phải quỳ mà đảnh lễ một vị A-la-hán. Nên vào cái thời xưa cũng vậy, Tôn giả Đại Ca Diếp á, nhiều khi Tôn giả hay nhập định cả cả cả mấy ngày, bảy ngày thì vua trời Đế Thích rất thích cúng dường Tôn giả Đại Ca Diếp, vì rất kính trọng.
[1:48:46]Mà vua trời Đế Thích thì ổng lớn còn hơn cả mấy chục ngàn cái quả núi á, nhưng mà muốn hiện thân cúng dường ngài Đại Ca Diếp thì ngài ổng phải thu thân ổng lại nhỏ bằng cái thân của cõi người để mà mang thức ăn cõi trời, nhưng mà cũng ổng cũng biến hóa lại để sớt bát vào ngài Đại Ca Diếp cúng dường, bày tỏ cái sự kính trọng. Vì ta biết vậy, ở cõi trời có phước có lớn cỡ nào lớn cỡ nào, cũng không thể nào bằng cái nội tâm siêu việt, giác ngộ của một bậc A-la-hán. Đấy là như vậy.
[1:49:29]Các vị A-la-hán không bao giờ nói tâm mình bao la trùm khắp, bởi vì không còn cái khái niệm không gian lớn hay là nhỏ, gần hay là xa. Các vị A-la-hán không bao giờ nói thời gian xa xôi, vì quá khứ, hiện tại hay vị lai là ở một chỗ.
[1:49:53]Hiểu không? Hiểu là thành A-la-hán rồi đó. Thôi, hôm nay ta dừng lại cái bài Diệt đế đầu tiên ở đây. Lần sau thì ta vẫn tiếp tục nói về những ý nghĩa của vị A-la-hán lần nữa. A-la-hán phải nói tới hai bài. Hôm nay như vậy ha. Hôm nay nghe, nghe có thể là ta hiểu, có thể là ta không hiểu, nhưng xin vui lòng giữ chặt niềm, niềm tin. Ai có thể tin được cái cảnh giới A-la-hán, ai có thể tin được cái ý nghĩa A-la-hán, thì người này đã gieo cái nhân đắc đạo cao quý trong tâm mình, trong nghiệp của mình, trong vô lượng kiếp luân hồi, con trên con đường Phật đạo vô lượng của mình nha. Thì chúc mừng điều đó, chúc lành điều đó.
[1:50:42]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:50:48]Dạ chúng con xin kính mời quý thầy cô, toàn thể hội chúng chúng ta cùng khởi thân trang nghiêm để đọc lời hồi hướng. Chúng con cũng Chúng con cũng rất là cảm niệm công đức của Hòa thượng Thích Thanh Viên, của vị sư đến từ bên Mỹ đến đây tham dự pháp hội của chúng con trong cái bài pháp thiêng liêng này. Dạ vâng ạ.
[1:51:12]Nguyện pháp giới chúng sinh, cùng
[1:51:22]tinh tấn tu hành, thoát chốn ngã vô minh, đồng viên thành Phật đạo.