[0:14]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:21]Mời quý phật tử ngồi xuống.
[0:28]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta bắt đầu trao đổi với nhau, phân tích với nhau về cái bài kinh tụng Bát Nhã Tâm Kinh. Thì những ai mà đến với đạo Phật mà có đi chùa tụng kinh thì đều có tụng qua bài kinh này. Đây là một bài kinh mà không bao giờ bị bỏ quên ở các thời khóa tụng. Ví dụ như nếu người ta tụng kinh dài thì ngoài cái bài kinh chính thì thế nào cuối cùng người ta cũng tụng cái bài Bát Nhã Tâm Kinh này. Và coi như là nếu trong cái thời tụng trước có gì sai sót thì cái bài tâm kinh này sẽ lấp đầy tất cả, sẽ chữa lành tất cả những cái sai sót đó. Người ta tin rằng có cái cao siêu như vậy.
[1:26]Còn khi mà người ta không có thời giờ tụng thì nhiều khi đến nơi, người ta chỉ tụng một bài Bát Nhã này mà thôi là cũng coi như đầy đủ cái ý nghĩa tu hành, cái bài quan trọng. Còn có những cái nơi, những thiền viện thì trong cái khóa lễ chính tụng kinh thì chỉ tụng bài kinh này, bài Bát Nhã Tâm Kinh này. Nên vì vậy, chúng ta có thể xem là hầu hết các chùa của Phật giáo Bắc tông rất là quý trọng cái bài Bát Nhã Tâm Kinh này. Và xem rằng đây là cái bài kinh tối cao trong đạo Phật. Ai mà không biết cái bài kinh này thì coi như là người chưa phải hiểu được, nắm bắt được tư tưởng của Phật giáo Đại thừa.
[2:15]Và chúng ta thấy là cái bài Bát Nhã Tâm Kinh này, nhất là bài bằng chữ Nho, được viết lên nhiều nơi. Có những cái bia người ta viết nguyên bài kinh, có những cái trống là viết nguyên bài kinh, có những cái chuông người ta khắc lên đó nguyên một bài kinh Bát Nhã Tâm Kinh. Và chúng tôi đã từng trông thấy là có một cái mền để đắp của một vị hòa thượng là in nguyên cái bài Bát Nhã Tâm Kinh bằng chữ Nho này, và để cho vị hòa thượng đắp, chứ còn người thường không ai dám đắp, người ta trân trọng như vậy. Và trong bài Bát Nhã Tâm Kinh này, có một cái câu nói thường xuyên được mọi người hay nhắc đi nhắc lại mà có khi là người ta cũng không hiểu hết.
[3:01]Ở trong cái phim mà nói tới đạo Phật người ta cũng dẫn cái câu đó, ở trong cải lương của Việt Nam người ta cũng dẫn câu đó. Chúng tôi nhớ hồi nhỏ thì cũng chưa bao giờ biết cái bài Bát Nhã Tâm Kinh này, nhưng mà khi coi cải lương thì thấy ông Hữu Phước ông đóng vai nhà sư, lúc đó chuyện gì xảy ra đó lâu quá không nhớ, mà chỉ thấy là ông đứng chắp tay, ông hát một bài cải lương, ông sư cũng hát một bài cải lương, rồi ổng nói câu, "Sắc tức thị không, không tức thị sắc". Nhớ có nhớ cái đó, cái thành thử miệng nó dễ nhớ đó, nó lặp qua lặp lại cái dễ nhớ, thành thử trong đầu cứ nhớ chữ đó. Nên sau này khi lớn lên rồi gặp đạo Phật thì mới thấy
[3:43]rằng cái câu đó, "Sắc tức thị không, không tức thị sắc", là nằm trong cái bài Bát Nhã Tâm Kinh. Và như vậy rất là, rất là nổi tiếng. Rồi sau này cũng vậy, xem những cái phim của Hồng Kông, những cái phim kiếm hiệp thì thỉnh thoảng chúng ta gặp những vị sư cũng nói câu này, "Sắc tức thị không, không tức thị sắc". Hoặc là chúng ta xem truyện kiếm hiệp của Kim Dung thì có những lúc có những nhà sư cũng đã nói tới câu này là "Sắc tức thị không, không tức thị sắc" như là một triết lý sống mà lại cũng giống như là một bí kiếp võ công. Nếu mà ai nắm được cái tinh thần mà "sắc tức thị không, không tức thị sắc" thì người đó sẽ luyện thành một cái môn võ công
[4:26]siêu đẳng, có thể làm là đệ nhất cao thủ trong chốn giang hồ, ví dụ vậy. Nên hôm nay chúng ta bàn với nhau cái bí kiếp này, thì biết đâu chúng ta sẽ luyện thành một môn võ công nghĩa là thượng đẳng, rồi ai cũng sẽ trở thành nghĩa là cao thủ của giang hồ hết, không sao.
[4:45]Thì trong đạo Phật chúng ta là được chia làm hai cái tông phái chính: một là Nam tông, hai là Bắc tông. Thì Nam tông là những người mà theo cái tinh thần của đạo Phật nguyên thủy, nghĩa là họ giữ những bài kinh gốc từ thời Đức Phật, mà thường là được sử dụng trong cái ngôn ngữ Pali.
[5:10]Thì những vị sư như vậy thường có cái khuynh hướng là bảo thủ, nghĩa là không muốn có một sự thay đổi. Bởi vì mỗi một sự thay đổi đều có thể dẫn đến cái sự sai lầm mà các vị đó rất là sợ sai. Sợ sai rồi rơi vào cái tà kiến thì mang tội đời đời, hại mình mà hại người khác. Cho nên các vị sư Nam tông nguyên thủy, chúng ta còn hay gọi là Theravada đó, tức là vị Thượng Tọa bộ, thì có khuynh hướng bảo thủ. Và ngược lại là một cái Đại Chúng bộ theo Bắc tông Đại thừa là những người có khuynh hướng cải cách, cho rằng đạo Phật khi mà đi qua mỗi một thời đại là nên thay đổi cho phù hợp với tâm tình với thời đại.
[5:54]Và cái chuyện đó cũng xảy ra từ sau khi Đức Phật nhập diệt. Lúc đó khi mà 500 vị A La Hán kết tập ở cái hang là Tất Bát La để kết tập kinh điển của Phật, để trùng tụng lại kinh điển của Phật, thì lúc đó ngài Ca Diếp là Thượng thủ bởi vì ngài rất là lớn tuổi, ngài lớn tuổi hơn của Phật. Và ngài sống một đời rất là mẫu mực, đồng thời là một vị A La Hán chứng đạo thật sự, đủ tam minh lục thông. Cho nên đương nhiên ai cũng xem như là một ngài là một vị Thượng thủ thì ngài mới điều hành cái buổi mà cái hoạt động mà kết tập trùng tụng kinh điển của Phật đó. Thì lúc đó ngài mới hỏi lại từng người mà đã từng sống với Phật hay liên
[6:41]quan với Phật để nêu thành cái chứng cứ cho cái việc kết tập kinh điển. Thì lúc đó là có ngài A Nan là thị giả theo hầu Phật và có cái trí nhớ tuyệt vời, là những điều gì Phật nói qua một lần là ngài nhớ như là in trong lòng, không có sai. Nên vì vậy, ngài được cử làm người mà tụng lại các lời dạy của Phật. Thì có một điểm là lúc đó Phật có nói câu này, lúc mà khoảng 3 tháng trước khi nhập diệt Phật có nói câu này: là vì cái tâm tình, vì cái hoàn cảnh mà Phật đã chế ra nhiều giới luật, là như tỳ kheo tới 248 giới, 250 giới và tỳ kheo ni tới 350 giới, 348 giới gì đó. Thì Phật nói là có những cái giới sau này sẽ không còn
[7:32]thích hợp, sẽ tùy nghi mà thay đổi, chế bỏ đi. Thì ngài A Nan thì ngài thấy buồn quá, nghe tin là Phật báo là Phật sắp nhập diệt nên ngài buồn, ngài không có hỏi cặn kẽ là ví dụ như giới nào. Đến khi mà Phật nhập diệt, 500 vị A La Hán kết tập kinh điển đó thì ngài Ca Diếp mới hỏi là, "Thế hiền giả, tôn giả có hỏi Phật, hỏi Thế Tôn là giới nào nên giữ và giới nào nên bỏ không?". Thì ngài A Nan mới thú thật là ngài không có hỏi. Và ngài Ca Diếp đã trách ngài A Nan phạm một cái lỗi là không nghĩ đến cái tiền đồ của Phật pháp mai sau, mà hỏi cho cặn kẽ từng điều như vậy. Làm bây giờ làm chúng ta sẽ không biết là giới nào nên giữ, giới nào nên bỏ.
[8:20]Và sau khi vì không biết rõ giới nào nên giữ, giới nào nên bỏ, nên cuối cùng 500 vị A La Hán đã nhất trí là thôi giữ hết lại toàn bộ giới điều, không thay đổi nữa. Nào giờ sống được như thế, bây giờ cứ tiếp tục sống như thế. Và do đó là những cái vị mà Thượng thủ thì thường thôi cứ giữ nguyên Phật dạy như thế nào, mọi người đã tu đã chứng được thì cứ giữ như thế, nên cái Nam tông là như vậy. Còn Bắc tông thì đại diện cho Bắc tông là ngài Phú Lâu Na. Vào trong thời đó, ngài Phú Lâu Na cũng là một vị A La Hán, là một nhà hùng biện xuất sắc. Ngài khác với ngài Ca Diếp, ngài Ca Diếp thì thường sống tĩnh lặng, lặng lẽ, ít có tiếp xúc.
[9:03]Nhưng riêng ngài Phú Lâu Na thì ngài rất là hoạt bát và hay hoạt động, ngài là một người hùng biện rất là giỏi. Ở nơi đâu mà có những người mà chống Phật hay hiểu lầm giáo lý, ngài đến ngài giải thích rành mạch và cho người ta cật vấn, hỏi cỡ nào ngài cũng trả lời được. Cho nên ngài Phú Lâu Na rất là xuất sắc về phương diện đó. Thì ngài Phú Lâu Na lại chủ trương là phải cải tiến. Thì lúc đó giữa ngài Ca Diếp và ngài Phú Lâu Na có một cái đoạn đối thoại, thì trong đó ngài Ca Diếp chủ trương thôi cứ giữ lại những gì mà Phật đã dạy. Ngài Phú Lâu Na thì nói, "Theo như những gì mà tôi đã hiểu từ Thế
[9:42]Tôn thì Phật pháp không phải là cứng ngắc như vậy, mà chúng ta có thể thay đổi uyển chuyển để phù hợp với tâm tình của con người. Và tôi sẽ đi theo con đường mà tôi nghĩ là đúng với ý của Thế Tôn". Thế là ngài giống như ngài sẽ sống độc lập. Ngài cũng hòa hiệp với Tăng đoàn nhưng mà con đường truyền giáo của ngài là rất là cởi mở và cải tiến. Và không biết là có phải là từ nơi ngài Phú Lâu Na đã gieo rắc những cái chủng tử về cải cách đó hay không, mà 100 năm sau, 200 năm sau, 300 năm sau và về sau này thì đạo Phật có cái khuynh hướng cải cách cũng rất là mạnh, thành ra một cái tông phái mới gọi là Đại Chúng bộ hay Bắc tông.
[10:24]Thì Nam tông hay Bắc tông, chúng ta chưa kết luận được là Tiểu thừa hay Đại thừa. Và dù cho nhiều người cứ nghĩ rằng là Bắc tông là Đại thừa và Nam tông là Tiểu thừa, nhưng xin thưa điều đó không chính xác. Vì sao vậy? Bởi vì Tiểu thừa và Đại thừa lại là một cách hiểu khác nữa. Nên hôm nay chúng ta phải nói cái chỗ Tiểu thừa, Đại thừa để chúng ta mới hiểu bài kinh Bát Nhã này là nằm ở chỗ nào. Cứ đừng có nói vội bài kinh Bát Nhã này là Đại thừa nha, đừng nói vội. Chúng ta phải hiểu Đại thừa, Tiểu thừa là gì cái đã. Thì thời gian gần đây, chúng tôi hay định nghĩa hay phân tích thế nào là cái cửa ngõ của Đại thừa và Tiểu thừa.
[11:11]Và hôm nay nhắc lại một chút là thế này: là chúng tôi hay hỏi tăng ni hay Phật tử là cái
[11:22]Cái đặc nét nhất, cái yếu chỉ coi là quan trọng nhất của đạo Phật là cái giáo lý nào? Chúng tôi hay hỏi như vậy thì mỗi người cũng theo cái hiểu của mình mà trả lời cách này cách kia. Thì cuối cùng thì tôi tôi xác định lại để cho mọi người nắm luôn: là cái nét rõ nhất của đạo Phật, cũng giống như là cái yếu chỉ quan trọng nhất của đạo Phật là giáo lý về luân hồi, về luân hồi. Là người đệ tử Phật phải hiểu về luân hồi rất là rõ, là phải chiêm nghiệm nơi chính mình rất là rõ về cái ý nghĩa luân hồi, là ai cũng phải thấy rằng chúng ta có mặt ở đây là không phải có mặt một kiếp duy nhất, phải không?
[12:08]Chúng ta đã từng có mặt rất nhiều đời nhiều kiếp và tương lai cũng cũng sẽ còn tiếp tục có mặt trở lại. Cái đó gọi là là luân hồi. Và trong cái vô lượng kiếp luân hồi đó, có những lúc chúng ta rất là vinh quang và có những khi chúng ta rất là hèn kém. Đó, điều đó nó là một cái nghịch lý, nó là một cái sự thật cay đắng, phũ phàng. Vì trong những người ngồi đây nghe giảng, biết đâu đã có những người từng là vua của cả một đế quốc, hay có những người nữ đã từng là hoàng hậu của một cái quốc vương rất là lừng lẫy, không biết được. Nhưng mà ngày nay có khi là người xe đạp không có mà đi, có khi như vậy.
[12:51]Nên ai mà không có xe đạp đi thì đừng buồn, vì biết đâu đời xưa mình từng là hoàng hậu hay là bá chủ thế giới, ví dụ vậy, thôi đừng buồn. Luân hồi nó vậy đó, nó nó chán ngán và nó cay đắng vậy đó. Rồi cũng vậy, là có những người, ngay cả những người xuất gia cũng vậy, có những người xuất gia đời này có vẻ tầm thường nhưng mà ngày xưa đã từng là một thiền sư nổi tiếng, à ai ai cũng quy phục, có thể như vậy. Cuộc đời kỳ khôi, nghĩa là cái luân hồi nó nó thật là kỳ lạ và nó ngang trái, nó cay đắng, nên phải hiểu cho tới cái đó. Cái người mà hiểu như vậy rồi mới thấy thế này: có những kiếp chúng ta biết làm phước, tạo nên công đức
[13:33]là qua đời khác chúng ta vượt lên trên, thành một cái người vinh quang hiển hách. Qua đời khác chứ chúng tôi không nói là qua kiếp sau nha. Tại vì có những cái công đức lạ lắm, đời này mình làm công đức lớn, cực khổ nhưng đời sau không hưởng mà năm kiếp sau mới lên làm vua. Kỳ lạ như vậy, luân hồi như vậy đó, chứ nó không phải là kiếp sau hưởng liền. Nó đúng nhân, đúng duyên, đúng thời cơ mà mới thành tựu, chớ không phải kiếp sau hưởng liền. Thì có những kiếp vậy, chúng ta đã tạo nên công đức rồi chúng ta hưởng được cái vinh quang hiển hách không lường được, rồi trong cái hưởng phước tột độ đó, đôi khi chúng ta có cái kiêu mạng,
[14:12]chúng ta có lầm lỗi để những kiếp nào đó chúng ta rơi xuống làm người hèn hạ. Rồi trong cái thân phận hèn hạ đó, chúng ta có cái căn lành rồi chúng ta lại biết tạo phước, cực khổ tạo phước rồi vươn lên từ từ, ngoi lên trở lại rồi một lúc nào đó lại là một cái người quyền quý giàu sang. Rồi trong cái quyền quý giàu sang, thế rồi sao? Quậy, rớt xuống lại. Bắt đầu khi mà mình nghiệm được như vậy rồi mình phát sinh cái cảm giác gì trong lòng? Hả? Cứ luân hồi cứ vậy hoài, rồi mình phát sinh cảm giác gì? Chán, chán. Đồng ý không? Đồng ý không? Phải đồng ý chỗ này rồi mới nói tiếp chuyện Phật pháp được, không đồng ý chỗ này là không nói được nữa.
[14:58]Có ai đi coi bói chưa? Hễ mà nói đúng, ông thầy bói nói hỏi mình công nhận đúng ổng mới nói tiếp, nói: "Không công nhận đúng không nói nữa." Vậy vì thì ông thầy giảng cũng vậy, ông thầy chùa cũng vậy á. Giảng hỏi: "Đồng ý không?" Đồng ý nói nữa, không đồng ý nghỉ chơi, không nói nữa. Như vậy, nghĩa là trong cái luân hồi sinh tử đó, chúng ta nghiệm ra cho hiểu cho kỹ, bắt đầu mình có cảm giác chán. Và khi chán cái luân hồi thì mình muốn cái gì? Muốn muốn giải thoát, không muốn bị cái luân hồi trôi lăn nữa. Mình muốn tìm một cái niềm hạnh phúc nào đó nó không có vinh quang, không hiển hách, không lẫy lừng, nhưng mà nó bình an.
[15:37]Thôi, bình an, đừng trôi lăn nữa mệt quá. Thấy vinh quang rồi rớt, vinh quang rồi rớt nó thấy mệt, thấy sợ. Thôi, bây giờ chỉ xin một cái gì đó bình an. Đó, nên cái người mà biết đi tìm một cái hạnh phúc bình an là mình hiểu người đó là sao? Người đó trưởng thành, người đó có trí rồi. Đó, giờ chúng ta nhìn lại, chúng ta gặp những người, nhất là những người lớn tuổi á, chứ những người nhỏ tuổi không hiểu điều này. Những người lớn tuổi họ đã đi qua cuộc đời vinh quang, cay đắng đủ thứ, à cái gì cũng có hết. Rồi có những lúc họ sung sướng họ giám đốc, rồi có những lúc đi tù, rồi có những lúc phải ra nghĩa là ra
[16:16]ngoài tù xong thì vợ đã bỏ rồi, rồi cưới bà khác lên làm ăn lại nữa, leo lên được hơi khá giả chút xíu rồi con phá, ví dụ vậy. Rồi tới già khi mình nhìn lại cuộc thăng trầm cuộc đời cái bắt đầu nói: "Thôi, xin cho tôi hai chữ bình an." Đó, là cái người đó là trưởng thành rồi, chín chắn, chững chạc rồi, là vậy đó. Còn ai mà chưa nói được cái câu đó thì chưa có trưởng thành. Người nào mà chưa nói: "Thôi, xin cho tôi hai chữ bình an" thì người đó còn quậy, đúng không? Nên nghiệm đạo lý của Phật pháp cũng vậy, nghĩa là ai hiểu được luân hồi tới cái mức mà buột miệng nói: "Thôi, xin cho tôi yên nghỉ ở chỗ nào đó, cho tôi một chỗ giải thoát nào bình an.
[17:00]Tôi không cần vinh quang, à tôi không cần giàu sang, tôi không cần hiển hách, tôi cần một sự bình an, sự giải thoát bình an" thì người đó bắt đầu hiểu Phật pháp. Mà đó là Phật pháp Tiểu thừa. Đó, đó là cửa ngõ, mà điều đó đúng. Tiểu thừa này là đúng, mà phải nghiệm ra chỗ đó bắt đầu mới hiểu Phật pháp. Còn nếu chưa thấy chán luân hồi sinh tử, vẫn còn ham, à vẫn còn ráng: "Thôi, kiếp này nghèo ráng tạo phước cho đời sau mình khá một chút" thì người này chưa có biết cầu xin hai chữ bình an, thì chưa hiểu được Phật pháp Tiểu thừa, chưa hiểu Phật pháp Tiểu thừa. Tức là người này còn sẽ tái sinh, sẽ còn hưởng phước,
[17:42]rồi còn gây nghiệp, còn sân, còn si, còn tham, còn đắm, đủ thứ nên chưa bảo đảm. Chừng nào mà hiểu được cái chán ngán luân hồi rồi muốn tìm cái giải thoát bình an, lúc đó mới hiểu được Phật pháp Tiểu thừa. Rồi kế đến, sau khi mình nghiệm thấy bản thân mình như vậy, rồi mình nhìn vô số chúng sinh cũng như vậy, thấy ai cũng vậy, cũng trôi lăn, cũng khi lên vinh quang rồi lại rớt xuống hèn kém, rồi thấy chúng sinh ai cũng cũng đáng thương như vậy. Thấy luân hồi là đáng chán và lúc đó khởi tiếp một cái ý muốn gì? Muốn cho tất cả chúng sinh đều giải thoát, thì người này bắt đầu hiểu được Phật pháp Đại thừa, nhớ nha!
[18:26]Bây giờ ai nói: "Tiểu thừa, Đại thừa là sao?" thì mình lấy cái chỗ này ra mình giải thích cho người ta, chứ đừng nói lấy kinh. Ví dụ nói: "À nếu Đại thừa là tu theo kinh Pháp Hoa là Đại thừa, tôi kinh Hoa Nghiêm Đại thừa, tôi kinh Di Đà Đại thừa." Nói: "Không, xin lỗi, bỏ hết mấy kinh đó qua một bên giùm." Tại vì những bản kinh đó hiểu sai vẫn thành Tiểu thừa, nhất là bài Bát Nhã này. Á là hệ thống Bát Nhã là hệ thống kinh tạng Đại thừa, nhưng mà hết 99,99999% người ta hiểu thành Tiểu thừa, nhớ như vậy. Cho nên đừng nói kinh điển này là Đại thừa, kinh điển kia là Tiểu thừa. Mà hỏi: "Tiểu thừa, Đại thừa khác nhau chỗ nào?" thì chúng
[19:11]ta phải dẫn cái luân hồi ra trước và nói: "Nếu ai nghiệm được cái luân hồi mà chán ngán sinh tử luân hồi, muốn cầu giải thoát, người đó hiểu Phật pháp và Phật pháp Tiểu thừa." Cũng là căn bản, là đúng không sai, mà không có này thì đừng nói Đại thừa. Phải có Tiểu thừa này trước, còn ai chê Tiểu thừa này là mất gốc đạo Phật liền, mất liền, đó. Rồi bắt đầu rồi ai thấy chán giùm cho tất cả chúng sinh và cũng muốn tất cả chúng sinh đều giải thoát như thế thì bắt đầu hiểu Phật pháp Đại thừa. Nằm ngay chỗ đó là gốc để phân biệt Tiểu thừa, Đại thừa, chứ mình không dựa vào không dựa vào kinh, nhớ như vậy.
[19:52]Cùng một bài kinh nguyên thủy mà bị gọi là Tiểu thừa, nếu ta hiểu đúng như tinh thần lúc nãy sẽ trở thành Đại thừa. Còn một bản kinh gọi là Đại thừa nhưng mà hiểu theo cái kiểu cá nhân vẫn là Tiểu thừa. Thì như vậy, bài kinh Bát Nhã này được xem là hệ thống Bắc tông, và vì Bắc tông nên người ta nghĩ rằng Đại thừa, nhưng xin thưa chưa chắc, chưa chắc. Hôm nay và từ trong mấy bài sắp tới chúng ta sẽ phân tích cái Bát Nhã này và chúng ta sẽ phân biệt rõ khi nào thì bài Bát Nhã Tâm Kinh này trở thành là một ngoại đạo phá đạo Phật, khi nào cái bài Bát Nhã Tâm Kinh này là Phật pháp Tiểu thừa, và khi nào thì bài Bát Nhã Tâm Kinh này mới đúng là Phật pháp Đại thừa.
[20:43]Bài Bát Nhã Tâm Kinh này có ba cách hiểu. Nhớ như vậy, nghĩa là chúng ta gặp một cái chùa tụng Bát Nhã, chúng ta sẽ hỏi và họ sẽ lúng túng liền. Bởi vì cái bài Bát Nhã Tâm Kinh này có ba cách hiểu: Một cách hiểu thứ nhất, đây là một công cụ của ngoại đạo phá tiêu đạo Phật. Cách hiểu thứ hai, đây là một cái giáo lý Tiểu thừa làm cho đạo Phật trở thành tê liệt, thụ động luôn, không còn năng động nữa. Và cách hiểu thứ ba là Đại thừa. Và cách hiểu cái bài Tâm Kinh này mà đúng là cái cách thứ ba để trở thành Phật giáo Đại thừa đó, thì trên thế giới này chỉ có 0,00001% hiểu được.
[21:31]Hầu hết là bị hiểu theo hai cách trước, là cũng tự nhận mình là đạo Phật, nhưng mà đã hiểu bài kinh Bát Nhã này thành cái cách của ngoại đạo để phá tiêu đạo Phật, mặc dù đêm nào cũng tụng. Hoặc là hiểu theo cách thứ hai là Tiểu thừa, để làm cho đạo Phật trở thành thụ động, nhu nhược. Bài này rất là nguy hiểm. Hiểu được thì rất là cao siêu, mà hiểu sai thì thật là tồi tệ. Mà chúng ta biết trong đạo Phật á, hiểu đúng hay hiểu sai cũng thành cái quả báo rất là lớn. Như cái chuyện ông già chồn chúng ta đã nghe, ông hiểu sai mà ông đọa thành từ một vị thiền sư lỗi lạc, có danh tiếng, đọa thành con chồn suốt 500 lần
[22:18]như vậy do hiểu sai và truyền cái hiểu sai của mình đi. Thì bài Bát Nhã này cũng vậy, nếu chúng ta hiểu sai và truyền bá cái hiểu sai của mình lan đi, thì quả báo của chúng ta cũng rất là nặng nề, khủng khiếp. Cho nên vì cái lo, vì cái lo là cái bài kinh này là một bài kinh được phổ biến rất là rộng rãi trong đạo Phật, nhưng mà chúng tôi lo là cái số người mà hiểu chính xác cái bài kinh này để trở thành Phật giáo Đại thừa quá ít. Cho nên hôm nay vậy mạo muội chúng ta đem ra mổ xẻ, phân tích, trao đổi với nhau để chúng ta xác định lại cái ý nghĩa cao siêu của bài kinh này. Và khi nói cái chữ cao siêu, thì chúng ta phải
[23:03]để ý một lần nữa là hiện nay chúng ta đang cao siêu hay là chúng ta đang
[23:10]xiêu xiêu? Đang hả? Chúng ta đang xiêu xiêu, chưa có cao, chưa có cao siêu như Bồ Tát. Nhưng bài kinh này đó, nếu hiểu đúng á là cảnh giới của Bồ Tát tối cao, những vị Bồ Tát mà trong vô lượng kiếp đã làm nên không biết bao nhiêu công đức, đã thành tựu không biết bao nhiêu là thiền định, thì tu cái bài kinh này chính xác, bài kinh của Đại thừa. Còn chúng ta không phải là cảnh giới của Bồ Tát mà chúng ta tu theo bài kinh này, thì chúng ta dễ hiểu sai rồi dễ lạm nhận, cứ tưởng mình giống như Bồ Tát. Thế là ai làm cái gì mình cũng nói: "Thôi, sắc tức thị... thị không". À ví dụ như là mình lại cái mình...
[24:04]mình vô nhà người ta cái mình thấy người ta có cái đồng hồ đẹp, cái mình lấy mình bỏ túi, cái người ta hỏi: "Sao anh lấy cái đồng hồ tui?" Mình nói: "Sắc tức thị không". Cái người ta lại túm áo mình người ta giựt lại, cái mình nói: "Thôi, không tức thị sắc, tôi trả cho anh đó". Dạ. Thì nó không phải, không phải, không phải là... là sắc tức thị không, không tức thị sắc mà mình ứng dụng trong cái đời sống tầm thường như vậy, không phải. Mà đây là cảnh giới rất là cao siêu của Bồ Tát nha, chứ mình học mà hiểu sai vậy đó, người ta mới mua một tô phở người ta để đó, mình lại bưng tô phở mình chạy đi mình ăn, người ta nói:
[24:36]"Sắc tức thị không, không tức thị sắc", không phải, cảnh giới đó không phải. Thì trong cái hệ thống Bắc Tông á là có một cái bộ kinh lớn nhất là bộ kinh Bát Nhã, gọi là bộ Đại Bát Nhã, trong đó có nhiều cái bài Bát Nhã như là bài kinh là Nhân Vương Bát Nhã, Phóng Quang Bát Nhã, Tiểu Phẩm Bát Nhã, Đại Phẩm Bát Nhã, rất là nhiều. Nhưng mà kết tập những bài Bát Nhã đó là tất cả 600 quyển theo cái kinh tạng chữ Nho, tức là 600 quyển chất một đống, chất một đống. Và nhiều người cho rằng là những bài kinh này được Phật thuyết trong 25 năm, nhưng không phải, không phải như vậy. Nhưng đó là cái bộ kinh mà được viết dài nhất trong đạo Phật,
[25:21]còn cái bộ kinh mà ngắn hơn là bộ Đại Bảo Tích và bộ Hoa Nghiêm, nhưng mà bộ lớn nhất vẫn là bộ Đại Bát Nhã. Bộ Đại Bát Nhã 600 quyển này thì kể lại một cái pháp hội mà không bao giờ chấm dứt, trong đó Phật nè là chủ trì nè, rồi vô số các vị A La Hán, Thinh Văn, vô số các vị Bồ Tát, vô số các vị thiên tử cõi trời về câu hội, đầy cả một cái hư không, đầy cả cái thế giới để nói với nhau về cái đạo lý Bát Nhã này, nói về những cái không mà những cái không mình nghe rùng rợn luôn, mình nghe không hiểu, không hiểu nổi. Cái cái không như vậy cho nên người ta cho rằng là bộ Bát Nhã hay tư tưởng Bát Nhã
[26:03]là cái tư tưởng cao nhất của Phật giáo Đại thừa, cao nhất. Thì trong cái cao nhất đó, nó có một cái đỉnh mới gọi là bài... chính là bài Bát Nhã Tâm Kinh này. Cái bài kinh này được ngài Huyền Trang khi mà ngài đi sang Ấn Độ để thỉnh kinh, rồi về thì ngài mang cái bài kinh này về, ngài dịch. Và cái bản dịch của ngài Huyền Trang là bản dịch mà được phổ biến cho tới ngày hôm nay. Hôm nay mà chúng ta tụng cái bài mà là "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách" chính là bản dịch của ngài Huyền Trang. Và bản dịch này dường như do cái đức của ngài Huyền
[26:44]Trang sao, trở nên chiếm ưu thế trong toàn thể đạo Phật, không có bài nào mà được phổ biến như vậy. Thì ở đây cái bài này là giống như là Bát Nhã là cao nhất của Phật giáo Đại thừa, thì cái bài Bát Nhã Tâm Kinh này lại là cao nhất của Bát Nhã, giống như là cái đỉnh của các các đỉnh, top của các top, vậy đó. Bài kinh này không quá 300 chữ, nhưng mà từ xưa đến ngày hôm nay, rất nhiều vị giảng sư đã giảng bài kinh này. Ngày hôm nay chúng ta cũng giảng bài kinh này, và sau này rồi sẽ có, có nhiều người tiếp tục giảng bài kinh này. Và chúng ta mong một điều là cứ những người đi sau là giảng hay hơn người đi...
[27:32]đi trước để cho Phật pháp càng lúc càng... càng rành mạch, càng rõ ràng, càng sáng tỏ hơn. Là đó là như vậy. Nói rằng như biển cả mênh mông, lớp sóng sau đè lớp sóng trước, là cứ người sau cứ lấy cái đà của người đi trước để mình đào sâu thêm, mình làm bàn luận cho nó kỹ lưỡng hơn, đó là điều mừng cho Phật pháp. Nên vì vậy, ví dụ như hôm nay chúng ta trao đổi với nhau về bài Bát Nhã này là chúng ta cũng đã dựa vào những thành tựu của những vị thầy, những vị tôn túc đi trước chúng ta, và chúng ta có bổn phận đào sâu hơn, kỹ hơn. Bởi vì các ngài đã giảng tới 10 rồi mình giảng còn 9, 8 thì mình mang tội với các ngài, mình cô phụ công ơn của các ngài.
[28:18]Vì vậy, bởi vì các vị tôn túc trước mình đã giảng 10 thì mình phải giảng được nhiêu? Mười mấy, 20, 30 tùy mình, phải không? Nhưng ví dụ như mình giảng được 15, thì sau này cái đàn hậu tấn của mình thì giảng được mấy? Phải hơn, phải thành 20, 30 nếu mình giảng được 15. Tức là người sau dựa vào cái thành tựu, cái phân tích, cái mở ra của người đi trước mà mình tiến vào sâu hơn, sâu hơn. Đó là bổn phận, chúng ta cũng hy vọng như vậy là sau này sẽ có nhiều người phân tích bài này hay hơn là chúng ta phân tích hôm nay. Bây giờ chúng ta đi vào bài kinh. Cái tên kinh đầy đủ là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, đó là tên chữ Nho.
[29:07]Và chúng ta dịch theo văn phạm chữ Việt thì phải dịch làm sao? Dịch ngược lại, phải không? Cái bản kinh là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, mình dịch thì Kinh Tâm Đa Mật Ba La Nhã Bát Ha Ma. Mình dịch phải... phải ngược lại. Nhưng mà cái đầu tiên á, cái chữ tâm ở đây nghĩa là gì?
[29:34]Chữ tâm có nghĩa là chính yếu. Cái gì chính yếu dịch là tâm. Ví dụ như là mình thấy mấy cái chỗ mà luyện thi đều là kêu là cái gì? Trung tâm luyện luyện thi. Chỗ mà chuyên nghiên cứu về bệnh nhiệt đới thì gọi là trung tâm bệnh bệnh nhiệt đới. Dạ. Ví dụ như chúng tôi đây cũng là trung tâm bệnh nhiệt đới. Bệnh hoài. À. Rồi có vài cái người mà họ thi đại học hoài không đậu, năm này năm kia cứ phải họ luyện thi hoài, những người đó cũng là trung tâm luyện thi đại học, ví dụ vậy. Thì cái gì mà tâm á là cái gì chính yếu, cái gì chính yếu cho nên cái gọi là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh có nghĩa là bài kinh chính yếu
[30:13]nói về trí tuệ, sự viên mãn của của trí tuệ Bát Nhã. Cái chữ tâm là vậy. Ngoài ra cái chữ tâm còn có một nghĩa nữa là đáng được ghi khắc trong lòng. Phải không? Cho nên Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, mình có thể dịch là: Một bài kinh đáng được ghi khắc trong lòng nói về sự viên mãn của của trí tuệ Bát Nhã. Là như vậy. Chứ tâm đừng dịch là trái tim nha. Đừng dịch là trái tim đập thịch thịch không có gì trỏng hết. Hôm trước, lúc mà chúng ta nói chuyện với nhau về bài kinh Kim Cang, chúng ta cũng đã giải thích cái chữ Bát Nhã Ba La Mật Đa rồi, phải không? Nhưng hôm nay vì cái bài kinh thì nó trùng
[30:58]tên, chúng ta buộc cũng phải nhắc lại để cho nó đầy đủ chứ không thể mà nói phớt, chứ không thể mà giới thiệu sản phẩm, muốn hiểu bài này xin nghe bộ Kim Cang. Giống như mình tiếp thị sản phẩm, cũng kỳ. Thôi đành phải giải thích lại một chút. Cái chữ mà Ba La Mật Đa tiếng Phạn là pāramitā, nghĩa là sang bờ bên kia, to the other shore, to the other shore, tức là sang bờ bên kia. Là tại sao cái chữ sang bờ bên kia mà lại lọt trong cái tên kinh? Là bởi vì nó trở thành một thành ngữ quen thuộc của Ấn Độ. Ngày xưa ở Ấn Độ, cái cái ngành đóng thuyền không có xuất sắc như là phía Đông Á. Ở phía Á Đông, Á Châu á, Trung Hoa,
[31:48]Việt Nam, Nhật Bản đã có cái công nghệ đóng thuyền rất là sớm nên họ đã di chuyển bằng thuyền bè, có những trận thủy chiến trên biển, trên sông rất là khủng khiếp là do cái kỹ thuật đóng tàu bè đã đã đến, có mặt rất là sớm. Còn Ấn Độ vào cái thời đó, cái kỹ thuật đóng tàu bè không có. Cho nên là cái việc mà vượt con sông, đi từ bờ bên này qua bờ bên kia là một cái kỳ công. Nghĩa là ai có cái chuyện gì đó mà vượt sông qua bên kia là xem như một sự thành công vĩ đại. Cho nên người nào mà đã sang được tới bờ bên kia, đã to the other shore, thì cái người đó là một người dễ sợ lắm, giỏi lắm, vĩ đại, thành công lắm.
[32:32]Nên vì cái chữ nó trở thành một thành ngữ và được đưa vào trong kinh, nghĩa là tượng trưng cho nghĩa là sự viên mãn, cái sự thành tựu lớn lao, một sự gặt hái lớn lao, một cái kết quả lớn lao, một sự hoàn hảo. Nên cái chữ là pāramitā, Ba La Mật Đa nghĩa là một sự thành tựu lớn lao. Còn cái chữ đầu là Ma Ha Bát Nhã. Cái chữ Ma Ha trong tiếng Phạn có nghĩa là lớn. Ma Ha Bát Nhã, Bát Nhã là chữ prajñā có nghĩa là trí tuệ. Ma Ha Bát Nhã nghĩa là đại trí tuệ hay là trí tuệ lớn lao. Thì Ma Ha Bát Nhã là đại trí tuệ, Ba La Mật Đa là sự viên mãn, Tâm Kinh tức là bài kinh chính yếu. Chúng ta dịch lại là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là bài
[33:19]kinh chính yếu nói về sự viên mãn của của cái trí tuệ lớn lao. Là bạn dịch dài dòng như vậy. Còn ai mà có khả năng dịch gọn thì cứ dịch. Còn ở đây chúng ta lấy nghĩa nên buộc phải nói nó rườm rà. Cái chữ Bát Nhã là prajñā đó, là trí tuệ nhưng mà không phải là ám chỉ cái trí tuệ bình thường. Vì vào thời xưa ở Ấn Độ, lúc đó có nhiều vị đạo sĩ, nhiều vị thuật sĩ, nhiều vị sa môn là sau một thời gian tu hành là bỗng nhiên họ có thần thông, họ biết chuyện này chuyện kia. Khi mà tiếp xúc với cái người thường, cái người thường hỏi, họ đáp những chuyện rất là bí mật. Là ví dụ như là đến nói thưa ngài,
[34:04]là ba đứa con của con nó vào rừng và ba ngày chưa thấy trở về. Thì ông kia ổng nói là còn hai đứa, một đứa cọp ăn rồi, hai đứa kia lát về tới giờ. Một lát đúng y chang vậy. Tức là các ngài có cái trí tuệ thần thông và những vị mà có cái trí tuệ cỡ đó đó mới được gọi là Bát Nhã, prajñā. Chứ còn ví dụ cái người đời dù có học giỏi gì giỏi, có lý luận có hay gì vẫn không được dùng cái chữ prajñā này nha. Vẫn không được dùng. Nó khác nhau, khác rất là rõ. Vì vậy cái chữ Bát Nhã là một chữ rất là thiêng liêng, rất là cao quý và dành cho những người mà tu tập đi xuyên qua thiền định đến cái mức độ là có thể có cái trí tuệ thần thông
[34:46]chứ không phải là cái trí tuệ bình thường mà có được.
[34:54]Còn chúng ta dùng cái tâm phàm phu loạn động mà để tìm hiểu cái trí tuệ của Bồ Tát này, nghĩa là hôm nay chúng ta học cái bài kinh Bát Nhã này nghĩa là chúng ta mình dùng theo chữ người là lấy tâm tiểu nhân mà đo lòng quân tử. Nghĩa là chúng ta lấy cái tâm phàm phu loạn động của mình mà muốn tìm hiểu trí tuệ của của Bồ Tát. Thì như vậy dễ hay khó? Rất là khó. Rất là khó vì sao? Bởi vì thường là chúng ta không hiểu nổi. Thì trong cái mà không hiểu nổi, không hiểu đúng, không hiểu chính xác đó, chúng ta sẽ phát sinh hai cái hệ quả. Thường là chúng ta phát sinh hai cái hệ quả. Một á là chúng ta không hiểu,
[35:42]rồi quay lưng, chán nản đối với cái giáo lý Bát Nhã này. Là ví dụ là chúng ta là con người thực tế, thấy rõ ràng là tin có nhân quả, tin có luân hồi, tin có sự gia hộ của chư Phật, nhưng mà vẫn biết làm sao? Vẫn vẫn biết rằng bàn tay ta làm nên tất cả, với sức người sỏi đá cũng thành cơm khét, ví dụ vậy. Thì họ tin là phải có cái công lao của mình thì mình mới xây dựng được cuộc đời được, chứ không có ngồi không mà nói là chuyện thần thánh, huyền hoặc mà tiền bạc, nhà cửa sẽ đến với mình. Mình là con người thực tế nhưng mình là con người quy y Phật nên mình tin vào đạo đức, tin vào nhân quả. Nhưng mà không có cái chuyện là tự nhiên mọi chuyện đến,
[36:31]mình phải đổ công sức ra để xây dựng cuộc đời này. Cái người thực dụng như vậy bây giờ vô cái nghe nói cái gì cũng không. Đến thưa thầy, vợ con giận con và đòi ly dị. Cái ông thầy trụ trì nói: Mọi chuyện trên đời là không, không vợ, không chồng, không con, không cái. Con trợn mắt dòm ông thầy. Mới nói: Ủa, thầy nói gì vậy? Nói: Con phải tập quán trí tuệ Bát Nhã là không có, chưa bao giờ con kết hôn và cũng nên không bao giờ ly dị. Nói: Thầy nói cái gì, con có ký giấy rõ ràng ra tòa, có giấy chứng nhận kết hôn đàng hoàng. Nói: Không, chưa hề có tòa mà cũng không hề có luật sư. Tức là ông thầy thì ổng nói gì cũng không theo kiểu Bát Nhã,
[37:13]còn cái người này thì thực dụng gì cũng có rõ ràng. Bà vợ bả giận bả xách gói về nhà bên cha mẹ vợ ở rồi, bây giờ đòi ly dị nữa mà tới hỏi ông thầy, ông thầy nói gì cũng không rồi biết làm sao giải quyết. Thì cái người như vậy họ không hiểu, phải không? Nghe vậy hiểu không? Hiểu, nghĩa là mình ráng kềm giữ, mình không không có gây lộn với ông thầy là là hay lắm, là giỏi lắm rồi. Thôi xá thầy ba xá trốn đi luôn, không bao giờ tới cái chùa Không đó nữa, không bao giờ thề không bao giờ gặp mặt cái ông thầy cái gì cũng không đó nữa. Tức là không hiểu nổi rồi chán nản bỏ cái lý Bát Nhã, quay lưng đi luôn.
[37:46]Đó là trường hợp của người thứ nhất. Là mình thấy cái gì cũng có mà vô ông thầy nói gì cũng không là nghe không có ăn rơ rồi. Nghe thấy thấy khó chịu cái lỗ tai. Rồi đó là trường hợp thứ nhất. Bây giờ trường hợp thứ hai là ví dụ có cái người đến gặp ông thầy nói: Thưa thầy, sao bấy lâu nay con không làm được cái gì, đi xin việc làm đâu cũng không có? Cái ông thầy ông mới nói lý Bát Nhã. Ổng nói: Con phải coi cuộc đời như không, không nghề, không nghiệp, không lương, không tháng, không ăn, không uống, không con, không ta, không thầy, không trò, không đi, không đến, chưa từng chết, chưa từng sinh ra.
[38:23]Đó con phải, cái người này nghe không hiểu nhưng mà thấy cũng lạ lạ ha. Vậy đi tu được thầy? Rồi đi tu. Nhưng mà chưa từng tu mà cũng chưa từng không tu nghe không con? Đi tu thì đi tu theo liền. Cái cái người này thì tự nhiên là chấp nhận. Nghĩa là cái người như vậy nghe cái gì cũng không thì cũng chẳng hiểu ất giáp gì mà thấy sao thấy ngồ ngộ bộ cũng cao siêu à, cái đi tu theo luôn, bỏ hết đi tu. Thì người như vậy là hiểu đúng hay sai? Sai. Tức là chấp nhận nhưng mà hiểu sai. Đó đó là hai cái tâm trạng của cái người mà tìm hiểu giáo lý Bát Nhã này. Là một là không hiểu, quay lưng bỏ đi, chán nản.
[38:58]Hai là chấp nhận nhưng hiểu hiểu trật, hiểu trật. Thì đây đó, chúng ta hôm nay chúng ta trao đổi bài này để chúng ta tránh hai cái điều đó, tránh hai cái điều đó. Là một là chán nản với giáo lý Bát Nhã cao siêu này, hai là hiểu sai trở thành đọa, đó như vậy.
[39:21]Cái ý nghĩ vậy là: Thứ nhất là chúng ta thấy cuộc đời này nó quá thật, nào giờ mình buồn theo cuộc đời, mình vui theo cuộc đời, bây giờ vô gặp ông thầy ổng nói gì cũng không, mình không hiểu, không chê, nhưng không chấp nhận và không tìm hiểu tới nữa, đó vậy. Còn hoặc là vì mình tin là Phật pháp cao siêu, nói đây là bài kinh rất là cao, cho nên mình chấp nhận, ông thầy nói gì cũng không, mình chấp nhận, rồi mình trở thành Tiểu thừa, làm cho đạo Phật trở thành thụ động, nhu nhược, hết sinh khí. Đó là cái trường hợp thứ hai đó. Ừ. Mà để nói về cái trường hợp mà người hiểu thứ hai, hiểu sai thế này.
[40:03]À ví dụ bây giờ mình gặp cái ông tỉ phú,
[40:09]cái mình sau khi mình bắt tay với ổng, cái mình hello rồi what's your name rồi how are you rồi phải không? Rồi mới hỏi: "Lúc này nhà anh ở đâu, nhà làm sao?" Ổng mới nói là: "Cái nhà tôi trống không à. Nhà tôi trống không." Cái mình nói: "Trời ơi, nghe ông tỉ phú tưởng sao, cũng nhà giống mình, trống không, không có gì hết." Nghĩa là sao? Vì cái nhà mình cũng trống không, nhà mình trống không. Tức là cái nhà mình đó là cái nhà mà làm sao? Nhà dột mà cột xiêu, phải không? Không bàn, không ghế, không chén, không đũa, không ly, không tách, chẳng có bao giờ có ông khách nào tới ghé thăm. Thì mình hiểu cái nhà trống không là giống như cái nhà cái nhà của mình đó.
[40:51]Cho nên khi mà mình hỏi ổng cái nhà anh ở đâu, nhà anh làm sao làm sao tôi biết nhà, ổng nói: "Ờ, nhà tôi ở bên đó, ở quận 1 đó cái nhà trống không, không có gì á, là cái nhà tôi á." Cái mình ủa mình rút tay lại không bắt nữa. Tại nghe nói ổng tỉ phú mình mới nắm tay chặt chẽ để kết tình thân ái, nghe ổng nói nhà trống không mình rút tay ra: "Ủa, sao giống nhà mình vậy?" Cũng trống không, cũng nhà dột cột xiêu, nhà mình không chén, đũa, không gạo, không cơm, không nước uống, không ly, không tách, không khách nào không ma nào tới thăm hết. Sao ổng cũng vậy cà? Cái mình cũng tưởng nhà trống không là vậy.
[41:18]Nhưng mà có phải vậy không? Không. Cái nhà ông tỉ phú nhà ổng trống không là bởi vì ổng dọn cho trống để vì quá nhiều người tới chơi nên nó chật. Nhưng mà cái nhà trống không của ổng là cái gì? Cái ngói ổng là bằng cái gì? Bằng ngọc. Ừ. Đá là đá granite, nghĩa là vách tường có những bức tranh mà bức tranh là khắc bằng vàng, bằng đá quý, nghĩa là dưới chân lót đây là những tấm thảm mắc tiền. Đó, từ ngoài cửa vô thì hai con bẹc-giê hôm thấy đi ban ngày ổng nhốt mất tiêu rồi. Đó ví dụ cái nhà trống của người ta là cái gì nó cực kỳ nó đẹp mà dọn trống để chứa được nhiều người, nhưng mình không hiểu, mình cứ nghĩ như nhà trống của
[41:55]mình á, cái nhà dột cột xiêu nhà quạnh quẽ không ai tới. Thì cũng vậy đó, nghĩa là khi mà mình hiểu cái nghĩa Không của Đại thừa á, coi chừng mình hiểu theo kiểu cái nhà trống của mình, cái nhà dột của mình nha. Nào giờ đó, nào giờ mà chúng ta đã nghe nói về cái nghĩa Không của Bát Nhã thì coi chừng là mình hiểu theo kiểu sao? Mình tưởng cái nhà Không của ông tỉ phú mà là cái nhà cái nhà dột của mình không có ma nào nào đặt chân vô. Sửa lại giùm. Nên hôm nay là chúng ta bắt đầu xét lại hết mọi cái lý Không mà trước đây mình đã hiểu. Hôm nay phải xét lại hết nha. Trước giờ đã hiểu chưa? Đã có nghe về Bát Nhã chưa?
[42:41]Có rồi phải không? Có nhiều người đã nghe về Bát Nhã rồi, thậm chí đã nghe giảng bài Bát Nhã Tâm Kinh này rồi thì ngày hôm nay xin vui lòng xét lại. Bởi vì sao? Bởi vì coi chừng trước đây mình đã hiểu cái lý Không theo kiểu cái nhà cái nhà dột của mình. Phải không? Nay phải hiểu lại. Bây giờ bắt đầu chúng ta sẽ hiểu lại cái lý Không, cái lý Bát Nhã mà làm sao nó hiện ra một cái kết quả là thế này: là mọi người thương yêu nhau, mọi người cùng hợp tác, chung tay, góp sức xây dựng Phật pháp, xây dựng cuộc đời thì đó mới là cái Không của Đại thừa, đó mới là cái nhà trống của ông tỉ phú. Nhớ như vậy. Chớ còn mình hiểu cái Không nào giờ
[43:27]mà mình trở nên là thụ động, lười biếng, dãi đãi và kiêu ngạo! Cái chết nữa là kiêu ngạo đó! Túi không có một đồng mà kiêu ngạo trên đời này không ai bằng tui. Nghĩa là chưa chứng được cái pháp gì mà cứ nghĩ mình coi cái gì cũng không là mình đã cao siêu rồi. Thì cái đó là hiểu cái nhà trống của ông tỉ phú tưởng là giống như cái nhà trống của mình, mà nói cái cái Không. Hôm nay phải xét lại hết. Nếu mình thấy nào giờ mình hiểu cái nghĩa Không mà mọi người xa lánh mình, không ai ưa mình, mà mình chẳng làm được cái gì cho nên hồn nên tướng, rồi ai cũng chia rẽ với nhau, chẳng ai làm gì cả, bên cạnh hàng xóm nhà mình có người chưa biết
[44:08]Phật pháp mình cũng chẳng quan tâm giúp người ta biết Phật pháp thì cái Không nào giờ mình hiểu đó xin vui lòng sửa lại. Đó là hiểu lầm, hiểu lầm mang tội chết luôn. Giống như vậy, tôi nghe kể chuyện là cái ông thầy ổng kể chuyện, ổng đến thăm cái nhà người cư sĩ thì cái ông chồng á là người tu theo Bát Nhã, bà vợ thì quá đau khổ. Bởi vì ông chồng ổng càng tu Bát Nhã chừng nào thì bà vợ càng đau khổ, càng héo hon, càng mòn mỏi, càng cực khổ, vất vả chừng nấy. Bởi vì sao vậy? Bởi vì ổng không làm gì cả, không làm gì cả. Vô nhà đó là thấy cái bàn gãy hết một chân. Nói: "Ủa, sao anh không sửa cái bàn lại? Để cái nồi cơm nghiêng nghiêng á."
[44:49]Nồi cơm mà bị ổng nấu cũng sống sống khét khét để nghiêng nghiêng nữa. Ổng nói: "Coi như không đi, sửa làm chi." Bà vợ thì gương mặt chịu đựng, héo hon. Bởi vì bả làm cô giáo cho nên là bả có cái phẩm giá của một cô giáo nên không có phản ứng, không bất mãn thì ráng cày đi kiếm lương từng đồng từng cắc về nuôi ông chồng Bát Nhã này. Còn cái ông chồng Bát Nhã này thì cái gì cũng không. Tu Không gì đó, gì cũng không hết á, ờ. Rồi khi ông thầy tới thăm, cái ổng nói: "Con báo cho thầy một tin mừng là con hết chấp rồi, con hết chấp." Thì nghe ông thầy ổng còn rầu thêm nữa! Cứ kiểu mà cứ ổng cứ Đó là sai.
[45:27]Bát Nhã đó là hiểu sai nên nó sinh âm hệ quả là xấu, không có tốt. Còn cái người hiểu Bát Nhã mà đúng á thì khi mình bước vô mình thấy cái người chung quanh của người đó gương mặt rạng rỡ, hạnh phúc là người đó hiểu Bát Nhã đúng. Tại họ đem được niềm vui cho người chung quanh. Bản thân họ có thể cực nhưng mà cực nhìn gương mặt vẫn an vui và đặc biệt là người chung quanh họ luôn luôn vui. Người chung quanh họ luôn luôn hưởng được cái hạnh phúc từ cái người mà tu cái giáo lý Bát Nhã. Còn mà cái ông Bát Nhã kia sợ quá, ông Bát Nhã ổng càng Bát Nhã chừng nào thì bà vợ bả càng chết trân chừng nấy mà không dám nói.
[46:07]Tại nói sợ ổng Bát Nhã cái ổng bỏ nhà ổng đi luôn ra ngoài đường ổng ở, ổng coi cái gì cũng như không, ổng ra gốc cây ổng ở thì bả đêm hôm, người phụ nữ ở một mình nhà không dám, sợ, phải cần có một người đàn ông ổng bầu bạn. Thôi kệ, ổng bát nhã, tám nhã hay chín nhã gì cũng được, miễn ổng ở giùm trong nhà cho cái người khác đừng vô quậy cũng được, đừng ai hiếp cũng được, thôi chịu đựng cày mà nuôi ổng Bát Nhã này. Đó. Nên giờ phải hiểu lại. Phải hiểu làm sao hễ nơi nào có Bát Nhã thì nơi đó ngập tràn niềm vui và tình thương yêu, sự siêng năng, sự nỗ lực, sự hợp tác, sự chung sức để xây dựng cuộc đời, xây dựng Phật pháp, đó mới là Bát Nhã nha.
[46:45]Đó. Nói chung á là hễ là Đại thừa thì tự nhiên nó phải có cái sức hút đến với nhiều người. Còn Tiểu thừa thì sao? Thì mọi người giãn ra, ai về nhà nấy, làm gì đó làm. Còn Đại thừa thì tự nhiên mọi người đến với nhau, chung tay góp sức với nhau, thương yêu được với nhau, đó là Đại thừa. Đó. Chúng ta hiểu cái lý Bát Nhã này đó, hiểu cái lý Không này làm sao cuối cùng phải thành tựu được cái mục tiêu đó, chớ không nếu hiểu sai là chúng ta thờ ơ với cuộc đời, chúng ta không có lo giáo hóa cho ai hết thì đó là hiểu rất là sai lầm. Bây giờ chúng ta đi vào bài kinh. Nãy giờ nói dông nói dài giới thiệu, giới thiệu sơ sơ
[47:40]thì không ai mà lải nhải nói nhiều vậy, không biết này Bát gì đây nữa mà nói hoài. Cái đoạn thứ nhất là chúng ta nghe tụng nè: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách." Có ai chưa nghe đoạn này không? Nghe hết rồi phải không? Nói chung đến với đạo là đã nghe hết rồi, nghe muốn nhão như cháo. Bổn dịch như thế này: "Khi Bồ Tát Quán Tự Tại thực hành sâu xa Bát Nhã Ba La Mật liền soi thấy năm uẩn đều là trống rỗng và thế là ngài vượt qua tất cả đau khổ." Câu đơn giản như vậy. Kìa câu nghe sướng không? Sướng. Nghĩa là chỉ cần thấy năm uẩn là Không khi ngài thực hành Bát Nhã sâu xa
[48:28]thì ngài liền chấm dứt tất cả đau khổ hay vượt qua tất cả đau khổ. Cái chữ mà "độ nhất thiết khổ ách", "nhất thiết" là tất cả, "khổ ách" là đau khổ đó. Chữ "độ" có nghĩa là vượt qua, độ nghĩa là đưa là vượt qua, đi qua. Thì mình dịch sát nghĩa là vượt qua tất cả đau khổ, còn mình dịch thoát tức là chấm dứt được tất cả đau khổ, đó vậy. Thì trong cái đoạn đầu tiên này chúng ta thấy nó có mấy cái chữ để làm chúng ta chú ý. Thứ nhất là "hành thâm", thực hành sâu, là thế nào là cạn, phải không? "Năm uẩn", phải không, ngũ uẩn, à "đều trống rỗng", rồi đó. Rồi "độ là vượt qua nhất thiết khổ ách", khổ là cái gì?
[49:11]Là trong cái câu này ngắn này nó có vài cái chữ làm cho chúng ta chú ý nhưng mà toàn cái đoạn văn này, toàn cái câu này thì nghe rất là là đơn giản, dễ hiểu, à thấy giống như là kết quả đến rất là dễ dàng. Đây là gọi là nhập đề trực khởi. Vào là đưa vấn đề ra và giới thiệu và kết luận liền. Đưa vấn đề ra là có một vị Bồ Tát tên là Quán Tự Tại khi ngài thực hành Bát Nhã Ba La Mật một cách sâu xa, ngài có được cái khả năng thấy được năm uẩn là Không, kết quả là ngài vượt qua tất cả đau khổ. Tức là bài kinh này ngay câu đầu là xong hết luôn, giới thiệu hết toàn bộ cái tính năng, tên gọi và cái kết quả của cái bài kinh này luôn, rất là gọn lẹ.
[49:55]Còn những đoạn dài dài phía sau là giải thích. Thì do cái bài kinh này đơn giản, gọn lẹ như vậy cho nên chúng ta phải phải cực khổ mà phân tích, vì chúng ta không thể một lúc hiểu liền cái đoạn này được. Muốn hiểu cái đoạn này như thế nào thì chúng ta hãy nghe kể một câu chuyện, câu chuyện tiểu thuyết tình cảm về một cây xoài.
[50:21]Ở cái nhà đó à có cây xoài mà cái trái rất là thơm ngon, tức là ngon hơn xoài cát Hòa Lộc, ngon hơn xoài Thái Lan, à ngon hơn nói chung là rất là ngon. Nghĩa là mỗi khi mà cây xoài đó mà ra trái là ai đi ngang cũng thèm. Và cái ông già, ông này ông già, ông chủ nhà thì ổng luôn luôn là gửi xoài tặng cho hàng xóm lấy thảo và không bao giờ bán nha, tuyệt đối không bao giờ ổng bán một trái nào. Mà khi ổng gửi xoài ổng tặng hàng xóm và tuyệt đối không bao giờ cho ai cái hột. Thằng cha này cũng kỳ khôi. Nghĩa là gọt cắt đàng hoàng, che đậy sạch sẽ đem qua gửi, hột cất lại, ăn giới thiệu sản phẩm chơi,
[51:01]không bán mà không cho hột, thành thử cây xoài nó không có nhân giống được. Vì vậy mà ngày hôm nay chúng ta không biết cây xoài đó là là gì, nên không ai ăn được là vậy, chỉ nghe kể mà thèm thôi, chứ không. Nghĩa là ai mà xin ổng trái sống, ổng cũng vậy, ổng gọt ra rồi ổng giấu cái hột lại. Muốn về ăn nước mắm chấm đường gì đó thì nó làm, nó làm, ăn chín thì ăn chín, nhưng mà cái thằng cha nó kỳ khôi. Thì ổng rào giậu cẩn thận, thì ổng có đứa cháu nội, đứa cháu nội nó hay dẫn bạn bè vô vườn thì ổng mới sợ là mấy cái thằng bạn á nó hái trái đem về nó nhân giống ra, chắc ổng cũng có ích kỷ gì không biết nữa, nên ổng rào kỹ.
[51:38]Thì thằng cháu nội này luôn luôn là nó biết là cả cái làng này mê cây xoài này nên nó hay khoe về cây xoài. Thì một lần đó đó, cái ổng mới đi quanh quanh cái cây xoài ổng chơi, tại vì ổng này ổng thương cây xoài lắm. Thì ổng mới nghe cái đứa cháu nội của ổng nói chuyện với mấy đứa bạn. Cái mấy đứa nó cãi nhau là cái trái xoài từ đâu, thì nó mới nói rằng: "Trái xoài từ đọt xoài mà ra, chứ từ đâu mà ra?" Tụi nó cứ cãi nhau lăng xăng vậy, thì cái thằng cháu nội nó nói là: "Xoài từ đọt mà ra, xong chuyện. Mày thấy rõ ràng cái đọt xoài có trái." Thì bỗng nhiên không biết ổng động tâm chuyện gì, ổng mới ngoắc thằng cháu nội lại, ổng mới thổ lộ cuộc đời của ổng.
[52:16]À, thế là chúng ta mới biết là vì sao mà ổng kỳ khôi như vậy. Ổng mới kể rằng ngày xưa lúc mà ổng còn trẻ thì ổng mới rời quê hương, à ổng đi lên rừng, lên cái vùng mạn ngược ổng buôn bán, làm ăn ở trển, tức là cái chí làm giàu. Lúc mới xin ông cố mớ tiền giắt theo lưng, theo bạn bè đi ngược lên cái mạn ngược, vào trong những xóm dân tộc á, mà lúc đó còn rừng thiêng nước độc, lúc đó rừng còn dày lắm. Ổng vào đó ổng buôn bán những cái món lạ của cái người dân tộc đem về đổi với người Kinh, rồi đem những món mà người dân tộc cần như là cá khô, muối, này kia nọ, quần áo, vải vóc đem ngược lên mạn ngược để buôn bán.
[52:55]Thì có một lần đó ổng đến cái buôn đó, ổng đến thăm cái nhà đó có một cô sơn nữ, à hồi xưa mình gọi là sơn nữ tức là cái người con gái mà mà dân tộc á, dân tộc ít người, thì cô này rất là đẹp. À người sơn nữ mà cổ rất là đẹp, cổ đẹp cũng gần bằng mấy người ngồi đây vậy đó. Thì ổng mới phát hiện cái gia đình này có một cây xoài rất là ngon. Thì ổng mới xin và mua nhưng mà cái ông kia cũng kỳ khôi không bao giờ bán và cho. Không biết kỳ khôi không biết, bởi vậy giờ này mình cũng chưa có trái xoài đó ăn là vậy đó, toàn mấy người kỳ khôi không. Nhưng mà ổng cứ nài nỉ, ổng thấy cái trái xoài ăn thử miếng ngon quá
[53:29]đi, ổng mới nài nỉ ổng đem về ổng sẽ nhân giống, làm lập một cái vườn ở dưới miền Kinh và nếu cái vườn xoài này thành công là ổng không còn phải đi ngược xuôi buôn bán vậy nữa, chứ đi cũng oải rồi. À, ổng xin được trái xoài giống, rồi ổng mang theo cô sơn nữ này về luôn, ổng trồng một vườn xoài. Đó, là xong chuyện cuộc đời ổng vậy là tốt đẹp. Ổng nghĩ mơ ước gọn ghẽ thôi, chứ không cần tới Tường Vân nghe pháp gì nữa hết trơn á, không có. Thì ổng xin hoài ông kia không cho. Có cái ông chủ nhà đó, cái ông người dân tộc không cho mà còn bắt đầu nói nặng nữa. Thì thôi ổng đi về, ổng về nhưng mà không ngờ là
[54:01]đêm đó ổng ngủ nửa đêm thì có tiếng gõ cửa. Ổng mở cửa thì ổng thấy cô sơn nữ đó tới, tặng ổng một giỏ xoài. À, rồi sẵn ổng cũng có tình ý, cái hai người coi như đêm đó cũng tâm sự, hứa hẹn đại khái gì đó, cũng đi đến tình cảm với nhau. Nhưng mà rồi cái chuyện vỡ lở ra là cái ông già ổng biết. Ông già đó ổng biết thì ổng mới phạt cái cô gái là bỏ lên rừng năm ngày để coi bẫy, tại cái người dân tộc họ hay đánh bẫy trong rừng và chuyện đó đáng lẽ của con trai nhưng mà ổng giận quá, ổng bắt con gái nó nằm trên rừng năm ngày để coi bẫy. Và qua tới ngày thứ sáu không thấy con gái về thì ổng đi vô rừng ổng tìm thì mới thấy cô đã bị cái giặc cướp nó hãm hại, giết chết.
[54:43]Cái chuyện rất là đau lòng. Và ông này ổng buồn bã, ổng không quên mang theo cái giỏ xoài đi về miền xuôi và từ đó vĩnh biệt cái miền rừng núi, giữ lại một cây để trồng, không có trồng nhiều cây. Khi mà cây kia lên tốt rồi là ổng hủy hết những hạt giống kia khác và ổng rào giậu, ổng chăm sóc rất là cẩn thận. Ổng rất là thương bởi vì đó một mối tình nào đó của ổng. Nên là cái cây xoài lớn lên mà ổng cảm thấy giống như có cái linh hồn cô kia về ở với ổng như vậy. Và ổng mới dạy đứa bé thế này, nói: "Con đừng có cái suy nghĩ đơn giản là trái xoài nó sinh ra từ nơi đọt, mà con phải hiểu là nhờ vào thứ nhất là cái giống tốt, phải không?
[55:22]Nhờ vào bao nhiêu là ngày tháng chăm sóc và nhất đó là kỷ niệm buồn của đời ông mà hôm nay ông mới tâm sự cho con." Nó muốn hiểu cái đoạn Bát-nhã này thì phải hiểu câu chuyện tình đó đó. Rồi hiểu chưa?
[55:37]Nghĩa là làm sao?
[55:41]Nghĩa là chúng ta đừng có nghĩ một cái kết quả lớn lao nó đến từ một cái nơi nào đó gần gũi, mà phải biết rằng nó có cái nguồn gốc rất là rất là sâu xa. Nên cái câu mà nói là khi Bồ Tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, soi thấy năm uẩn là không thì liền lập tức vượt qua đau khổ, mình đừng nghĩ đơn giản theo câu kinh đó. Cũng giống như đừng giống như đứa bé mà thấy cái xoài sinh ra từ từ đọt xoài, mà phải biết cái xoài đó đi ra từ cái cây xoài mà xuất phát từ một chuyện tình, chuyện tình buồn nào đó, một cái chuyện gì đó cay đắng xa xưa của người ta, chứ không phải là đơn giản. Thì cũng vậy, chúng ta biết trong đạo Phật có một cái pháp
[56:18]tu của Đại thừa gọi là Lục độ, tức là Lục Ba-la-mật. Nghĩa là cái gì? Khi một vị Bồ Tát mà muốn thực hành thành tựu công hạnh của Bồ Tát, phải thực hành sáu phép cho tới cái mức độ vô biên viên mãn, đó là Lục Ba-la-mật. Thứ nhất là Bố thí Ba-la-mật, thứ hai là Trì giới Ba-la-mật, thứ ba là Nhẫn nhục Ba-la-mật, thứ tư là Tinh tấn Ba-la-mật, thứ năm là Thiền định Ba-la-mật, rồi mới thành tựu được cái thứ sáu là Bát-nhã Ba-la-mật. Đó, cho nên đừng có nói là trái xoài sinh ra từ đọt xoài, mà nó phải sinh ra từ năm giai đoạn trước kia. Giống như đừng nói Bát-nhã là hễ thực hành thâm cái là có được kết quả là vượt
[57:04]qua đau khổ, mà sự thực là nó phải đi qua năm cái Ba-la-mật trước đó. Mà năm cái Ba-la-mật trước đó là mình thực hành á là hết cơm hết cháo, hết bao nhiêu kiếp này qua tới kiếp kia, chứ không phải là dễ dàng. Nên vì vậy mà muốn hiểu Bát-nhã Ba-la-mật thì phải hiểu năm Ba-la-mật trước đó. Nhưng mà hôm nay chúng ta không phải là có thời gian để chúng ta đào sâu năm Ba-la-mật trước đó, cho nên là chúng ta sẽ nói phớt qua thôi, vì mình xoáy vào cái Bát-nhã là chính, ha? Hôm nay chúng tôi nhắc lại năm Ba-la-mật chút xíu để rồi chúng ta mới đi vào cái Bát-nhã Ba-la-mật để chúng ta hiểu rằng: muốn ăn cái trái xoài kỳ khôi đó là biết bao nhiêu là
[57:46]là ý nghĩa, bao nhiêu thời gian, bao nhiêu kỷ niệm nằm nơi cái trái xoài đó, vậy. Bố thí Ba-la-mật nghĩa là gì?
[57:58]Bố thí Ba-la-mật nghĩa là cái công hạnh của một vị Bồ Tát mà hết đời này sang đời kia lúc nào cũng sống một đời vị tha. Vị tha thương yêu con người, không bao giờ sống vì mình, không bao giờ làm một điều gì đó chỉ cho mình. Thậm chí khi ăn cơm cũng không phải vì mình mà ăn, mà vì ai mà ăn? Vì vì chúng sinh mà ăn, để có sức khỏe mà lo việc đạo, cũng như vậy. Cho nên là một vị Bồ Tát lúc nào cũng đặt cái lợi ích của chúng sinh lên, dù nhiều khi nhìn trong hành động thấy giống như là vị đó đang lo cho mình vậy. Giống như quý thầy vậy. Ví dụ như là bây giờ quý thầy đi ra một cái xứ lạnh rồi quý thầy mua một cái áo ấm
[58:45]mắc tiền, áo ấm hai ba lớp, dày, đẹp, mắc tiền, thì mình nói ông thầy đó là sao? Sang, xe sua, điệu, chảnh, đại khái là như vậy, đại khái mình nói vậy. Nhưng mà mình nhìn bên ngoài thôi, chứ sự thật bên trong coi chừng ông thầy đó nghĩ khác, phải không? Ông thầy đó ổng nghĩ rằng: thôi kệ mua cái áo này để cho nó ấm để có sức khỏe mà mà làm Phật sự cho tốt. Ổng chỉ nghĩ đơn giản vậy thôi, chứ không phải là vì ổng muốn đẹp. Nhưng mình nhìn bên ngoài có khi mình đánh giá sai. Thì cái Bố thí Ba-la-mật là vậy đó, phải cân nhắc từng hành động nhỏ cho tới hành động lớn là động cơ chỉ là vì làm lợi ích cho chúng sinh, đó là Bố thí Ba-la-mật.
[59:28]Chứ bố thí không phải là đem của đem cho, cái bố thí cái nghĩa rất là lớn là đem cả cuộc đời mình đem cho, chứ không phải là là đem tiền mà cho. Đem cả cuộc đời mình cho, đem cả cuộc đời mình sống sống vì chúng sinh, đó gọi là Bố thí Ba-la-mật. Ví dụ như khi một vị Bồ Tát thuyết pháp thì không phải là thuyết pháp để đem lại danh vọng cho mình, mà chỉ là vì vì làm lợi ích chúng sinh. Khi vị đó làm những việc từ thiện cũng là không lấy danh mà chỉ là vì lợi ích chúng sinh, hoặc là khi vị đó trốn một chỗ yên lặng tu là cũng vì lợi ích chúng sinh, chứ không phải là vì cái sự thành tựu của mình. Nên cái Bố thí Ba-la-mật là vậy, là trọn vẹn
[1:00:10]sống vị tha, hy sinh tất cả vì chúng sinh mà trong vô lượng kiếp vậy đó. Không có một tư tưởng nhỏ ích kỷ trong lòng mình tồn tại, là như vậy. Thứ hai là là Trì giới. Trì giới nghĩa là giữ cái khuôn phép, không làm những điều sai lầm. À. Ví dụ không được ỷ: "À, tôi là tôi sống lợi cho chúng sinh nhiều quá rồi, bây giờ tôi có thể là lâu lâu giận chửi người ta một cái cũng được." Không được. Tức là sống hy sinh rồi, nhưng mà không được làm điều sai, là phải giữ gìn những cái giới hạnh. Thì trong giới hạnh có rất nhiều điều, hôm nay chúng ta không có nói hết, nhưng mà đại khái là vẫn sống một đời mô phạm,
[1:00:52]chuẩn mực, đàng hoàng, nghiêm túc trong mọi khía cạnh, không có làm điều sai lầm, mà phải sống không có một cái tì vết mà nhiều kiếp như vậy, nghiêm chỉnh, đoan trang, đức hạnh, đàng hoàng như vậy.
[1:01:09]Cái thứ ba là Nhẫn nhục Ba-la-mật. Nhẫn nhục tức là chịu đựng nghịch cảnh. Tại sao phải đưa cái Nhẫn nhục Ba-la-mật vào trong cái phép tu của một vị Bồ Tát?
[1:01:21]Bởi vì sao? Bởi vì cuộc đời vốn là nghịch cảnh vô tận. Cuộc đời là nghịch cảnh vô tận. Vì vậy Bồ Tát phải có sức nhẫn nhục vô vô biên. Nếu không có sức nhẫn nhục vô biên thì không chịu đựng nổi cái nghịch cảnh vô tận mà sẽ thoái tâm, hoặc là động tâm rồi gây nghiệp. Cho nên là để đi được trong cái luân hồi này và có thể làm được lợi ích chúng sinh, đứng vững được trong Phật pháp thì Bồ Tát phải có cái sức chịu đựng ghê gớm đối với mọi nghịch cảnh của cuộc đời. Tại sao cuộc đời là nghịch cảnh? Bởi vì thứ nhất, trong vô lượng kiếp chúng ta cũng gây tạo nghiệp nhiều trong vô lượng kiếp. Và thứ hai, bản chất của luân hồi luôn luôn là đau khổ.
[1:02:09]Và thứ ba là trong khi một vị Bồ Tát làm một điều thiện thì luôn luôn có dính một cái điều ác đi phụ theo. Luôn luôn như vậy, nhớ như vậy. Không có một điều thiện nào mà hoàn toàn thiện, nhớ như vậy. Điều thiện nào cũng dính theo một điều ác hoặc lớn hoặc nhỏ.
[1:02:31]Nghiệm lại coi phải không? Nghiệm coi phải không?
[1:02:39]Nhiều người sẽ nghi ngờ nói tại sao làm điều thiện lại dính theo điều ác? Bây giờ chúng ta ví dụ nha, một cái ví dụ đơn giản nhất. Ví dụ bây giờ mình thấy cái người hàng xóm nghèo, mình mang qua 20 ký gạo hay là 50 ký gạo mình đem cho. Thì điều đó thiện không? Ác chỗ nào? Ai tìm ra cái ác coi? Người ta nghèo mình đem cho. Đúng đạo lý, đạo lý con người, tôn giáo nào cũng phải ca ngợi điều đó. Vậy mà có điều ác lọt trỏng rồi đó. Hử? Không, mình không kể. Mình không kể. Mình không kể, ừ. Đây là những điều ác nè. Nho nhỏ đi theo: Thứ nhất, gạo đó mình lấy đâu ra? Nhà mình mấy người? Như vậy có phải là mình lấy của gia đình mình phải không?
[1:03:38]Chứ không phải là của riêng mình. Tức là mình lấy của chồng, của vợ, của con mình đem cho người ta. Điều đó ác không? Một chút ác rồi đó, phải không? Có thể là nó không lớn lắm, nhưng có một chút. Đồng ý không? Đồng ý. Thứ hai, người nghèo kia mới phát hiện ra một điều: nghèo có lý hà nha, người ta thương người ta cho, nghèo hoài có bộ ngon à, chứ giàu không khá, giàu mà không đi làm cực mà người ta xin nữa, nghèo được người ta cho. Cái tư tưởng đó tốt hay sai? Như vậy mình gieo người ta điều sai thì mình ác hay thiện? Điều thứ hai, ác chút xíu không? Đồng ý không? Điều thứ ba đây: Một bữa nọ mình đi làm về, tự nhiên thấy người trong nhà mình
[1:04:22]mặt ngầm ngầm hầm hầm hết, ngầm ai cũng ngầu ngầu ngầu hết. Rồi cái mình nói chuyện gì? Cái người ta nói tại ba á! Cái mình không biết chuyện gì, nói tại ba gì? Không, ba cho bả mấy chục ký gạo bây giờ bả cứ gõ cửa bả xin này xin kia hoài chịu hết nổi. Ác hay thiện? Đồng ý chưa? Đó, một chuyện mình thấy rất là tốt phải không? Nhưng mà rồi vẫn có những cái hệ quả ác ngầm ngầm. Đó là mình nói một chuyện đơn giản nhất chứ chưa nói tới những chuyện phức tạp phức tạp khác nữa. Tạp, đơn giản. Ví dụ, bây giờ ông quan tòa ổng thấy cái tay này buôn bán ma túy. Tội, với cái số lượng mua bán ma túy đủ để cho dựa cột.
[1:05:04]Ổng tuyên án tử hình. Và điều ổng làm thì ai cũng mừng hết á, tại cái tay này nguy hiểm quá đi, phải như vậy. Cái điều ổng làm thì ổng nghĩ là thiện, nhưng mà dù sao giết một mạng người vẫn là một chút ác. Rồi cái người đó còn bao nhiêu là người người thân nữa. Còn bao nhiêu người thân nữa. Như vậy, như có một lần bản thân tôi cũng vậy, nhận đứa bé làm con nuôi, thằng bé làm con nuôi vì ba nó đã bị dựa cột. Bị thi hành án xong xuôi luôn vì cái tội như vậy đó. Mà đứa bé nó gì? Nó vô tội, nó ngây thơ, nó đàng hoàng, nó mộ đạo nữa. À, có những cuộc đời, những mảnh đời ngang trái như vậy đó. Nên chúng ta thấy trên đời này nghĩa là khi chưa biết đạo,
[1:05:49]khi chưa muốn làm điều thiện thì chúng ta đã làm vô số điều ác. Và đến khi chúng ta biết đạo, chúng ta muốn làm điều thiện thì trong mỗi điều thiện đều cũng dính theo những điều ác chút chút. Và như vậy trong cái luân hồi sinh tử này cái điều ác là là vô tận. Do đó, thế nào chúng ta cũng phải chịu những cái nghịch cảnh rất là nhiều. Và chính vì vậy một vị Bồ Tát phải đủ cái sức mạnh để nhẫn nhục vô biên đối với những nghịch cảnh đó. Đồng ý chưa? Nên vì vậy mà cái pháp nhẫn nhục Ba La Mật được đưa vào trong sáu pháp, trong sáu công hạnh tu của một vị Bồ Tát là như vậy, ừ. Còn nếu sống ở đời mà mình không đủ sức chịu đựng
[1:06:31]nghịch cảnh thì mình chưa phải là đệ tử Phật. Nhớ như vậy, nghịch cảnh tràn đầy, và một người đệ tử Phật phải đứng vững, phải đứng vững, không bao giờ lay chuyển, không bao giờ để tâm hồn mình lay động, như vậy, ừ. Cái thứ tư là tinh tấn Ba La Mật. Tinh tấn là nỗ lực không ngừng, nhưng mà cái nỗ lực này thường là dành cho thiền định. Là vì sao vậy? Bởi vì việc tu thiền rất là rất là khó, cực kỳ khó. Nghĩa là chúng ta đánh vỡ cái nội tâm của mình để phá hết chấp ngã vô minh mà tìm được sự giải thoát an lạc. Điều này không hề dễ một chút nào hết. So với vô lượng kiếp, cũng với cái tâm hồn đó mình đã làm bao nhiêu điều
[1:07:11]điên đảo, bây giờ lật ngược cái tâm đó đánh vỡ tâm đó ra để cho được bình an thanh tịnh giải thoát thì không dễ chút nào hết, rất là khó. Cho nên có những người tu thiền ba năm lại than, "Thưa thầy, con không hề tiến bộ." Tôi nói, "Tốt, không tiến là tốt." Tại vì ba năm mà tiến thầy lo lắm. Người tu mà mau tiến thế nào cũng đi dạy bậy. Cái người tu thiền á mà tiến dễ dàng quá, mình dạy thiền người ta dạy sai. Cái người tu thiền mà cực khổ đó thì mình có nhiều kinh nghiệm để mình dạy cho người sau. Nên vì vậy là chúng ta phải xác định một điều là việc tu tập thiền định rất là khó. Là do vì cái điều gì?
[1:07:57]Do vì cái nội tâm của chúng ta rất là khó phá. Nghĩa là chúng ta cầm cái búa tạ xồi mình đập vỡ một cái căn nhà không bao lâu. Chính vì chúng ta là đập vỡ một căn nhà không lâu, kể cả bê tông cũng không lâu, cho nên mới đi đâu cũng thấy là khoan cắt bê bê tông. Dễ dàng, ai cũng làm được. Bốc số điện thoại lên là có người vác máy lại xồi một lát là sập nhà. Phá cái nhà không khó, nhưng mà kêu cái ông đó, ông khoan cắt bê tông đó, "Ông hãy khoan cắt nội tâm của ông", thì ổng đâm đầu ổng chạy liền. Không bao giờ khoan cắt được nội tâm của mình. Thì đó là cái chuyện mà chúng ta làm trong âm thầm lặng lẽ mà không biết năm này qua năm kia,
[1:08:37]kiếp này qua kiếp kia cũng chưa chắc là xong được. Vì vậy là cái việc mà phá vỡ nội tâm của mình đi đến thiền định rất là khó. Do đó Bồ Tát phải có cái sức tinh tấn phi thường. Sức tinh tấn phi thường: tu 5 năm chưa đắc đạo, 5 năm nữa; 5 năm chưa đắc đạo, 5 năm nữa, 5 năm nữa; và 5 kiếp nữa, 500 kiếp nữa không bao giờ thoái tâm. Người như vậy mới là đệ tử Phật. Chứ còn tu một hai lần, xong nói, "Trời, đi dự khóa thiền mấy lần chưa thấy gì hết trơn. Thôi trốn ở nhà mấy bữa đó đi chơi sướng hơn." Thì người đó không phải là không phải là tinh tấn Ba La Mật của một đệ tử Phật nha. Nên phải ráng, phải ráng.
[1:09:19]Ai muốn tu thiền thì đến đây quý thầy quý cô hướng dẫn cho mỗi tháng một lần. Ở đây chùa Từ Tân có mở khóa thiền mỗi tháng một lần, từ chiều thứ sáu tới sáng chủ nhật. Sáng chủ nhật nghe giảng vậy xong rồi ra về luôn. Tương lai về sau thì chắc là chúng tôi sẽ ngừng giảng vào mùng một buổi chiều. Tương lai mỗi tháng chỉ giảng một lần vào sáng chủ nhật này thôi, là sau khóa thiền. Bây giờ lúc này cũng già yếu rồi đó, cũng già yếu rồi cho nên không giảng nhiều được nữa.
[1:09:48]Và cái thứ năm là thiền định Ba La Mật. Là mình tu bao nhiêu tu, cho tới công hạnh gì công hạnh, cuối cùng phải đi vào con đường thiền định. Vì nếu không có thiền định thì chúng ta không thể giải thoát giác ngộ được, phải không? Và cái công phu thiền định này phải thực hiện thật là thật là liên tục, đều đặn và chuyên sâu và cho có kết quả trong hết kiếp này cho tới vô lượng kiếp khác. Là cái thành tựu của một người đệ tử Phật chính là cái thiền định. Giống như khi ta ca ngợi Đức Phật cũng vậy, là chúng ta nói đến Phật chúng ta nói hai điều. Nghĩa là có thể là có vô số điều để chúng ta ca ngợi Phật, nhưng có hai điều chính yếu nhất:
[1:10:29]Thứ nhất, là Phật là một người mà sống vị tha trong vô lượng kiếp, hoàn toàn vị tha. Thứ hai, Phật là một người mà thành tựu được thiền định phi thường từ trong vô lượng kiếp. Đó, có hai điều chính. Còn vô số điều nữa mà chúng ta có thể ca ngợi Phật. Ví dụ như thầy trụ trì ở đây, hôm qua nói chuyện với chúng tôi một điều là khi mà ngài giảng về Phật ở trong cái giáo lý thì thầy trụ trì đã giảng là có những cái giáo lý mà thầy không đồng ý. Ví dụ nói về Phật thì người ta nói là Phật Báo thân, Phật Hóa thân rồi Phật Pháp thân, giảng xong rồi cái người học không biết Phật là ai. Thấy nó mờ mờ nhạt nhạt chẳng hiểu gì hết.
[1:11:12]Và thầy nói yêu cầu phải giảng là đúng Phật Thích Ca. Chính cuộc đời Phật Thích Ca mà kể ra hết được những cái hay đó mới là một giảng sư giỏi. Thầy nói như là ví dụ như là cái sự xuất hiện của Đức Phật là một cuộc xuất hiện rất là đẹp, phải không? Sinh trong khu vườn, trong đoàn tùy tùng là thân phận của một hoàng tử rồi khi ngài lớn lên xuất gia ngài hành đạo, cuối cùng chết cái chết do mình chọn lựa, báo trước cho đệ tử biết 3 tháng. Đi du hành đến cái khu rừng có hoa Sa la thơm ngát cực kỳ tinh khiết và chủ động giảng một bài pháp rồi nằm kiết tường thị tịch. Nghĩa là đó là một con người mà từ lúc sinh ra cho tới lúc chết đi
[1:11:55]là mọi cái diễn biến cuộc đời nằm trong bàn tay chủ động của mình. Và đó là một vị thánh duy nhất trên thế gian này làm được điều đó, còn giáo chủ của các tôn giáo khác đều không làm được điều đó. Giáo chủ các tôn giáo khác đều chỉ là may rủi. Còn chỉ duy nhất có giáo chủ của đạo Phật là Phật Thích Ca là người làm chủ vận mệnh của mình. Từ lúc mình sinh ra tới lúc mình chết là hoàn toàn mình điều khiển được cái đời sống của mình. Và thầy nói chỉ một nội điểm nhỏ đó thôi chúng ta đã thấy Phật là vĩ đại và nghe như vậy chúng ta thấy là lòng tôn kính Phật tăng lên. Chứ còn những giáo lý trong những bài giáo lý Phật học mà nói về Phật
[1:12:33]Hóa thân, Báo thân, Pháp thân nghe riết không biết Phật là ai. Nên hôm qua thầy trụ trì trao đổi với chúng tôi như vậy, chúng tôi thấy cái ý của thầy rất là hay nên hôm nay cũng trân trọng trích dẫn và giới thiệu lại chứ không phải là đạo nha. Không phải là đạo bài giảng à, xin có nguồn gốc đàng hoàng chứ giờ sợ nghe nói mấy cái đạo lắm, mấy cái ăn cắp á, không dám. Thì như vậy trong cái năm Ba-la-mật để làm cái thềm cho Bát Nhã Ba La Mật thì có một cái Ba-la-mật cuối cùng là Thiền định là chúng ta phải đi qua cái công phu thiền định đầy đủ kết quả chuyên sâu. Như vậy nghĩa là năm cái Ba-la-mật: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
[1:13:14]thiền định thực hành cho sâu xa, chúng ta vươn lên cao thành một con người mới. Bởi vì nội cái đời sống mà vị tha trong nhiều kiếp đã nâng tầm chúng ta lên thành một cái công đức vô lượng, thành một vị thánh sừng sững đầy uy lực. Rồi cái trì giới, cái nhẫn nhục, cái tinh tấn, cái thiền định làm chúng ta trở thành một vị thánh thực sự vinh quang vĩ đại giữa vũ trụ này. Thì phải như vậy, phải có năm cái công hạnh đó đưa chúng ta ngang tầm vừa là công đức, vừa là uy lực mà vừa là công phu vượt lên ngang tầm của một vị thánh của vũ trụ rồi thì lúc đó mới nói tới trí tuệ Bát Nhã. Dễ hay khó? Phải hiểu đạo Phật như vậy và phải hiểu lý Bát Nhã là như vậy,
[1:13:55]tức là nói chuyện Bát Nhã là nói chuyện của một vị Bồ Tát của vũ trụ của vũ trụ, cấp vũ trụ chứ không còn là cái cấp mà quốc gia nữa nhớ như vậy. Thường thường chúng ta nhớ chúng ta hay phân loại cầu thủ gì đó ở cấp phải không? Cầu thủ này là cấp cấp trường tiểu học mới đá ở trong sân tiểu học ráng vậy. Rồi cầu thủ này là tuyển thủ cấp cấp tỉnh, rồi tuyển thủ quốc quốc gia, rồi tuyển thủ cấp khu vực, rồi tuyển thủ quốc tế. Hôm nay cái mùa Euro rồi đó thấy gì hết. Đi đâu cũng nghe nói Euro. Thật ra thầy không bao giờ coi, không bao giờ coi. Không thích. Nhưng mà đại khái như vậy thì những vị thánh cũng vậy,
[1:14:33]ví dụ như là trong một cái đạo tràng, trong một cái chùa thì trong đó có một cái Phật tử xuất sắc thì mình khen ngợi, mình nói đây là Phật tử gương mẫu nhưng mà phải thêm chữ bổ sung là cấp là cấp chùa. Phải không? Cấp chùa thôi. Nhưng mà nếu cái người Phật tử đó làm được cho nhiều chùa nữa, cả một cái tỉnh luôn là chùa nào cái vị Phật tử đó cũng có mối quan hệ và cũng hỗ trợ vừa là tạo cái điều kiện để cho chư tăng hòa hợp đoàn kết mà vừa là ủng hộ Phật sự các chùa cho phối hợp với nhau hòa hợp, đều đặn, tốt đẹp thì mình gọi đó là Phật tử mẫu mực cấp cấp tỉnh. Rồi bỗng nhiên có một vị cư sĩ mà xuất sắc
[1:15:14]có thể làm được Phật sự chung với Giáo hội Trung ương, đi tỉnh này qua tỉnh kia làm được hết rồi là rất là mẫu mực, rất đàng hoàng mà không có kiêu ngạo, không kiêu mạn gọi là Phật tử mẫu mực cấp cấp quốc gia. Đó rồi từ từ tới cấp quốc tế ha, nhưng mà tới cấp quốc tế là hết hơi rồi, không ai tới. Còn mà tu theo cái năm Ba-la-mật trước á thì trở thành là Phật tử mẫu mực cấp cấp vũ trụ của Thiên hà, cấp vũ trụ cho nên nghĩa là chúng ta đang ngồi đây, mình chưa được cấp nào hết mà mình chuẩn bị nói chuyện về nghĩa là một vị thánh cấp vũ trụ. Cho nên chúng ta đang nói chuyện vượt cấp, đang nói chuyện vượt cấp mà vượt tới năm, sáu cấp như vậy thì sao?
[1:15:55]Nó quá cái tầm với của mình. Nó quá cái tầm với vì vậy rất là khó. Chúng ta học bài kinh này chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn vì chúng ta chưa phải là con người sống hoàn toàn vị tha với cuộc đời này. Đúng không? Còn ích kỷ không? Còn, phải không? Thú nhận trước bình minh á. Trì giới nghiêm túc chưa? Chưa, phải không? Ai chửi có cự lại không? Có, đàng hoàng. Rồi tinh tấn hay giãi đãi? Giãi đãi, ngồi thiền thì bữa được bữa không. Đó, coi mình cỡ đó đó, cho nên bây giờ mà mình nói chuyện tới trí tuệ của một vị thánh cấp vũ trụ là mình với tay, vung tay quá. Không, làm cái này quá trán, buông tay nó quá
[1:16:34]quá độ ngoài ngoài không gian thượng tầng khí quyển á, với không tới. À cho nên chúng ta hiểu điều này cho nên chúng ta thứ nhất là thông cảm với nhau. Nếu mà mình hiểu nó không tới thì thôi cũng đừng ai trách ai. Nhưng mà cố gắng hiểu cho đúng, đừng để hiểu sai mà mà mang tội. Vì vậy là không phải ngang xương mà chúng ta nói chuyện Bát Nhã liền. Không phải ngang xương mà mình nói là hành thâm Bát Nhã Ba La Mật đa để chiếu kiến ngũ uẩn giai không liền được, không thể như vậy. Chúng ta đang nói chuyện của những bậc thánh cao siêu đó. Cho nên chúng ta đang nói cái chuyện Bát Nhã này giống như cái gì?
[1:17:11]Giống như cũng cái người dân dã nghèo nàn nhưng mỗi lần mà uống nước trà với ai á bắt đầu cũng nói chuyện là bàn về sách lược bảo vệ hòa bình thế giới. Phải không? Khống chế giá dầu mỏ Trung Đông, nối lại quan hệ hữu nghị hai nước Triều Tiên hay là giải trừ vũ khí hạt nhân hay là đầu tư chứng khoán ở cổ phần mà công ty đa quốc gia ví dụ vậy. Nghĩa là ổng không có một đồng tiền nào trong túi á, móc tay vô túi á thì cái túi nó lủng à. Đó nên không cần phải bỏ tiền trổng, bỏ cũng rớt, nhưng mà hễ nói chuyện thì nói chuyện trời ơi đất hỡi đâu không thì y như mình đang chuẩn bị, chúng ta cũng đang như vậy á.
[1:17:43]Chúng ta đang là những người dân dã mà nói chuyện là giải trừ vũ khí hạt nhân của thế giới vậy đó, y như vậy á. Là mình đang là những người phàm phu nghĩa là tâm ích kỷ còn, giới chưa chuẩn, thiền định chưa sâu mà nói chuyện Bát Nhã. Nhớ như vậy nha, nhớ như vậy. Là chúng ta cũng đang nổ, nhớ như vậy đang nổ. Thì vì vậy chúng ta thấy thế này là nhưng mà nó đỡ một cái là gì? Là hôm nay chúng ta khi khẳng định điều này rồi thì chúng ta biết là chúng ta là những người tầm thường mà nói chuyện cao siêu thì nó cũng đỡ trướng, nó đỡ trướng. Còn hơn là cái người mà tầm thường mà tưởng mình cao siêu. Cái đó mới chết á.
[1:18:23]Cái đó mới chết. À ví dụ mình trở lại cái ví dụ mà nói chuyện giải trừ vũ khí hạt nhân thế giới. Ví dụ như hai người cùng nói chuyện là bảo vệ hòa bình thế giới, hai ông không có một đồng xu dính túi, ông nào cũng vậy hết trơn á. Trà thì mới xin đâu được miếng trà bỏ vô đó, nước nấu chưa sôi nữa, còn hôi khói nữa ví dụ vậy. Mà đang ngồi nói chuyện bảo vệ hòa bình thế giới nghĩa là phải không? Ngăn chặn khủng bố gọi là Bin Laden ví dụ vậy. Thì một người đó nói mà vung tay vung chân mà cứ tưởng mình giống như là Tổng thống Bush tới nơi vậy, là phải bắt nó đầu này, phải chặn nó đầu kia rồi phải ngăn ngừa, phải khống chế ngõ nọ để bắt cho được nó.
[1:18:56]Ổng nói y dòm tưởng ổng là ổng Bush đâu đó, mới về Việt Nam thăm. Còn ông kia đó thì nói khiêm tốn hơn thì nói: "Nói chứ các lãnh đạo thế giới cũng điên đầu vì khủng bố ha, các nhà lãnh đạo nước ta là chắc cũng là phải rất là cẩn thận." Thì ổng nói đó thì đúng là chuyện cao siêu nhưng mà ổng nói trong cái cách khiêm khiêm tốn là biết là chuyện này là chuyện của của những người mà họ có tầm cỡ, có uy, có quyền lực. Còn mình chỉ là cái người mà mới xin được miếng trà miếng trà uống ké, nó khác. Đó, thì hôm nay chúng ta vậy, chúng ta bàn chuyện Bát Nhã giống như vậy là mình không có vung tay vung chân mà nói vun vút y như mình là
[1:19:32]Bồ Tát cấp vũ trụ mà mình khiêm tốn khiêm tốn, nhỏ nhẹ thôi. Cái chuyện này là chuyện của thánh, chúng con là những người còn còn phàm phu nhưng mà cũng ngưỡng mộ chư thánh cho nên là học trí tuệ của thánh. À chúng con học chư thánh bởi vì chúng con muốn gieo nhân để làm để làm thánh chứ chúng con biết thân phận chúng con còn là là phàm phu, phàm phu chai, chai cứng vậy. À hôm nay là như vậy đó nên chúng ta học với cái tâm khiêm tốn vì biết mình chưa đủ công đức. Chúng ta học với cái tâm ngưỡng mộ chư thánh vì biết ngài đã thành tựu vô lượng công đức làm được những điều mà mà ta chưa làm được.
[1:20:12]Chúng ta học với cái tâm thành kính để gieo duyên với trí tuệ Bát Nhã, tuyệt đối không được học để khoe khoang, ngang tàng. Vì sao vậy? Bởi vì cái giáo lý Bát Nhã đó chúng ta hiểu sai một chút chớ chúng ta sẽ trở thành những cái tay ngang tàng, lì lợm, ngoan cố, cố chấp, kiêu mạn không ai chịu nổi. Nói không nghe nữa, cái người mà dính cái lý không này rồi mà hiểu sai rồi đó, cái gì cũng thấy là không rồi đó thì sau này có ai khuyên để đi lui trở lại, nói đó là con đường của Bồ Tát, chúng ta chưa phải, chúng ta phải trở lại lui anh với tôi đi cuốc đất, đắp lại từng con đường trong làng lại cho người ta đi cái
[1:20:51]đã, khoan nói chuyện cái gì cũng không, thì người này không chịu, nói: "Không, đối với tôi gì cũng không, đường không, xá không, cuốc không, không." À thì họ sẽ lì, ngang tàng và kiêu ngạo khi mà đã hiểu sai cái lý Bát Nhã. Rất là nguy hiểm. Còn chúng ta học với tâm khiêm tốn cho nên là biết thánh là như vậy đó, nhưng mà còn phần mình thì sao? Thì vẫn phải đi ra đường thấy rác thì phải phải lượm. Như vậy, chúng ta làm những câu chuyện hèn mọn nhất để gieo những cái duyên lành nhỏ nhặt nhất mà từ đó bước lên dần dần. Đó chứ chúng ta không được phép học mà ngang tàng rồi đi lý luận gặp đâu cũng bác, mang tội chết luôn, đọa làm súc sinh liền. Phải không?
[1:21:31]Cái người học Bát Nhã xong rồi đi nói, đi nổ là sẽ đọa nha, đọa rất là nặng.
[1:21:39]Và chúng ta cũng vậy, cũng phải tâm nguyện thực hành năm Ba-la-mật trước để mà đủ công đức, sau này mới thành tựu được cái Ba-la-mật thứ sáu này.
[1:21:51]Thì tới cái câu là Bồ Tát thì hành thâm Bát Nhã Ba La Mật, bởi vì các ngài có năm Ba La Mật trước rồi ngài mới là "chiếu kiến ngũ uẩn giai không". Tức là thấy năm uẩn này là trống rỗng thì các ngài vượt qua được đau khổ.
[1:22:09]"Thấy năm uẩn là trống rỗng" nghĩa là làm sao?
[1:22:14]Nghĩa là làm sao? Ví dụ như thế này. Ví dụ như là mình nghe nói ở cái làng kế bên
[1:22:26]có một ông lão, ổng rất là đẹp. Ổng đẹp lão, nghĩa là râu tóc bạc phơ mà dài, râu năm chòm dài tới rốn, tóc bới củ tỏi theo thời xưa. Nghĩa là dáng đi thì ung dung thoát tục, mắt sáng như sao, mặt mày hồng hào, là một con người giống như tiên, đại khái như vậy, mình đồn, ha. Rồi mình nghe nói, có một người cũng nói thế này: nói: "Nhưng mà ông lão đó có cái thẹo dưới chân, có thẹo dưới chân". Thì như vậy cái người mà nói rằng ông lão đó đẹp như tiên đó có cái thẹo dưới chân, thì cái điều kiện mà để biết rằng ông lão có thẹo dưới chân thì trước hết phải thấy cái gì? Phải gặp ông, gặp ông lão trước, phải không?
[1:23:09]Phải sống gần với ổng trước và có một lúc nào đó ổng rửa chân ổng vén cái quần lên, mình thấy cái thẹo nằm dưới dưới gần cái bắp vế của ổng. Tức là người phải rất gần với ông lão mới phát hiện ra được một cái khuyết nhỏ nhỏ trên cái dung mạo một con người mà người ta khen là toàn mỹ, đẹp từ đầu cho tới chân, ngón tay ngón chân, gương mặt hồng hào rồi là cái gì cũng đẹp, nhưng mà tự nhiên có một người nói rằng biết ông có một cái khuyết là có cái thẹo nơi bắp vế. Vì sao? Vì lỡ trong cái mùa Euro nào đó đã có đua xe hồi xưa kia. Cho nên vậy, ví dụ thôi.
[1:23:44]Thì hễ nói được cái khuyết điểm của ông lão, bắt buộc phải người đó, nếu gọi là không phải là người nói dối, phải là người đã từng gặp ổng, sống gần với ổng và sống rất nhiều ngày, mới thấy ổng đã lần nào rửa chân vén lên thấy vết sẹo do bô cháy, bô cháy bô. Thấy té xe do chạy quá tốc độ quy định mùa Euro, ví dụ vậy. Thì cũng vậy, nếu nói là: "Thấy năm uẩn là không" thì buộc cái người đó phải thấy cái gì trước? Thấy rõ cái gì trước? Thấy rõ năm uẩn là gì, phải không? Phải thấy năm uẩn là cái gì cái đã rồi mới được nói năm uẩn này là không. Đồng ý không? Chưa bao giờ thấy năm uẩn cái gì là cái gì hết mà mở miệng nói:
[1:24:29]"Ôi, đối với tôi năm uẩn là không", thì người đó là người nói dóc, nói dối. Có lần vậy, hồi đó chúng tôi nhớ hồi còn cư sĩ, lúc đó trước khi đi tu, hình như cái chuyện này có kể ở đâu rồi, không chừng, thì có nghe có gặp cái ông cư sĩ vậy đó. Ngồi nói chuyện với ổng, ổng nói chuyện Bát Nhã, ổng vung tay vung chân y như Bồ Tát vậy. Ổng nói: "Đối với tôi năm uẩn là không!" Cái gì cũng không. Thì bây giờ khi mà nói tới bài kinh này nhớ tới ông đó vậy. Thì chúng ta nói vậy, nói là để thấy năm uẩn là không, trước khi thấy là không thì phải thấy năm uẩn là như thế nào cho rõ. Thì năm uẩn là gì? Là sắc, thọ, tưởng, hành và thức ấm.
[1:25:16]Đó là năm cái thành phần để cấu tạo thành thân và tâm của chúng sinh. Nhớ như vậy. Theo đạo Phật, theo sự phân tích của thời Đức Phật, chính Đức Phật, thì thân và tâm ta được tạo thành bởi năm thành phần không tách rời nhau. Đó là sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Đó là sự phân tích của chính Đức Phật. Nên sau này vậy, khi mà phân tích về tâm lý của chúng sinh thì chúng tôi luôn luôn dựa vào cơ cấu năm uẩn của Đức Phật để lại và cảm thấy rằng mình rất là yên tâm. Còn nếu dựa vào một cái lý thuyết nào khác thì chúng tôi thấy không bảo đảm. Khi mà phân tích về tâm lý, tâm thức, đường đi của tâm, đường đi của tâm niệm của chúng sinh,
[1:26:04]luôn luôn cứ dựa vào cơ cấu năm uẩn thì rất là yên tâm mà thấy rất là hợp lý. Và như vậy, chúng ta sẽ nói về sắc uẩn trước.
[1:26:15]Chúng ta thấy năm uẩn là không, nhưng mà chúng ta phân biệt điều này chút: là năm uẩn của Bồ Tát và năm uẩn của phàm phu là khác nhau. Năm uẩn của phàm phu là cái gì? Năm uẩn của phàm phu là là ngũ ấm xí thạnh khổ. Trong Tứ thánh đế chúng ta học rồi, phải không? Trong các phần nỗi đau khổ của chúng sinh thì thân tâm này là một khối khổ nha. Chúng ta sẽ thấy cái thân này là cái cục nợ, là tù ngục giam hãm chúng ta, không giải thoát được. Còn cái năm uẩn của Bồ Tát là cái gì? Năm uẩn của Bồ Tát là năm điều kỳ diệu bởi vì công năng tu luyện của nhiều kiếp và của cái kết quả của cái công đức được gây tạo một cách sung mãn.
[1:27:03]Năm uẩn của phàm phu khác mà năm uẩn của Bồ Tát khác.
[1:27:08]Bây giờ chúng ta nói qua sắc uẩn vậy. Chúng ta sẽ phân tích sắc uẩn, tức là hình hài này, là hình thể này. Thì hình thể của phàm phu và hình thể của Bồ Tát cũng khác nhau cả trời cả vực vậy đó. Là sắc uẩn của phàm phu chúng ta là cái gì? Là xấu hay đẹp? Xấu xí nè, gì nữa? Bệnh hoạn, phải không? Suy yếu, già nua, tàn tạ và chắc chắn sẽ chết, phải không? Còn sắc uẩn của Bồ Tát là gì? Là đẹp đẽ nè, mạnh khỏe nè, tươi trẻ nè, sạch sẽ nè và luôn luôn mát mẻ.
[1:27:47]Bồ Tát. Nghĩa là hai uẩn nó khác nhau, nên kỳ sau chúng ta sẽ phân tích về sắc uẩn giữa phàm phu và Bồ Tát rồi để chúng ta mới hiểu là tại sao Bồ Tát thì thấy uẩn là không, mà chúng ta khoan thấy uẩn là không. Vì hai cái trình độ khác nhau, nên chúng ta học bài này là học trí tuệ của Bồ Tát, mình không được lạm nhận là vậy đó. Chúng ta sẽ phân tích nó sẽ hơi dông dài một chút, nhưng mà cẩn thận. Nhờ như vậy, chúng ta hiểu đúng được cái "không" của Bát Nhã, hiểu "không" để chúng ta sống thế nào mà mọi người chung quanh chúng ta sẽ sẽ vui vẻ, sẽ hạnh phúc, nhớ như vậy. Chớ đừng có hiểu Bát Nhã xong rồi đi về
[1:28:27]rồi bắt đầu nhà mình như cái đám ma là không được, nhớ như vậy. Thôi thì hôm nay chỉ là lần đầu, chúng ta chưa nói được nhiều, nhưng cũng là xin chúc cho quý Phật tử là thanh lọc được thân tâm mình trong sạch, làm được nhiều công đức để chúng ta tiếp tục theo dõi những bài kinh Bát Nhã này. Và chúng tôi chưa có quyết định là nghỉ ngày mùng một, ha, nhưng mà chỉ báo rằng trong tương lai xa thì sẽ chỉ giảng vào cái sáng Chủ nhật thôi, sáng Chủ nhật của khóa thiền. Quý Phật tử có thể đến đây tham dự khóa thiền từ chiều thứ sáu và tới sáng Chủ nhật thì nghe giảng luôn. Lúc đó thuận tiện, nhiều việc quá chúng tôi sẽ nghỉ
[1:29:06]luôn cái buổi chiều mùng một, chỉ sáng Chủ nhật. Và chúc cho mọi người cũng đẹp đẽ, mạnh khỏe, tươi trẻ, sạch sẽ và mát mẻ luôn.
[1:29:21]Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả,
[1:29:36]đệ tử và chúng sinh đều trọn...