[0:09]Kính bạch Thượng tọa, người xưa thường nói là có thức đêm mới biết đêm dài và có thực sự trải qua một đêm dài như đêm nay thì chúng con mới thấy rằng cái người mất ngủ có nhiều cái nguyên do: hoặc là buồn quá mất ngủ, vui quá mất ngủ, lo quá mất ngủ. Nhưng mà chúng con đêm nay vì nôn nóng đặng chờ nghe Thượng tọa thuyết giảng nên chúng con mất ngủ. Kính bạch Thượng tọa! À trong nhạc phẩm Chuyện Hẹn Hò tác giả Trần Thiện Thanh ông có nói rằng: "Đợi một giây nghe bằng thế kỷ sầu". Như vậy là chúng con đã đợi từ hôm qua cho đến hôm nay không biết bao nhiêu là thế kỷ sầu. Và đợi cho đến cái thời khắc này,
[0:54]tăng ni và Phật tử chúng con đã nhất tâm tề tựu đông đủ về đây. Và kính bạch Thượng tọa, vào giờ này đạo tràng của chúng con đã trang nghiêm thanh tịnh. Trước khi vào buổi giảng, chúng con thành kính cung thỉnh Thượng tọa cùng toàn thể đạo tràng niệm Phật cầu gia hộ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:24]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:42]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:56]Chúng con thành kính cung thỉnh Thượng tọa cùng toàn thể đạo tràng đồng an tọa.
[2:05]À Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay coi như là chúng ta trao đổi với nhau bài giáo lý này cũng là bài cuối cái mùa hạ năm nay là cũng xong phần Tứ nhiếp pháp. Thì bài cuối là phần Đồng sự. Mục đích của Tứ nhiếp pháp là chúng ta cũng nhắc đi nhắc lại là tìm cách chiếm cảm tình của chúng sinh. À trong cái chiếm cảm tình của chúng sinh á thì Đức Phật cũng dạy chúng ta dựa vào luật nhân quả để làm cho chúng sinh vừa thương mình mà vừa mắc nợ mình thì mình mới dễ mà nói người ta nghe. Thì đó là nguyên tắc dựa trên nhân quả. Thì những cái phần mà bố thí và lợi hành thì làm cho chúng sinh mắc nợ mình, còn cái phần mà ái ngữ
[2:55]và đồng sự thì làm cho chúng sinh thương mình mà không có mắc nợ. Nhưng mà cũng là một trong những cách để chiếm cảm tình. Mà có cảm tình rồi thì gặp nhau cũng dễ nói chuyện. Hôm trước chúng ta có nghiên cứu cái phần ái ngữ là cái cách dùng lời nói khéo léo, lịch sự, à nhã nhặn, chan chứa tình cảm để chiếm cảm tình. Thì hôm nay Phật lại dạy chúng ta một cái phương pháp thứ tư là đồng sự nghĩa là tan vào trong, hòa vào trong giống như mọi người, giống như cái đối tượng mà mình đến để mình mình muốn gieo cái duyên lành để giáo hóa. Thì cái phương pháp đồng sự nghĩa là như vậy đó. Mình hay dùng cái chữ hòa đồng hòa đồng á, hiện nay là với cái ý nghĩa như vậy.
[3:50]Còn ngày xưa thì trong kinh văn dịch là đồng sự. Đồng sự nghĩa là thể hiện sự tương đồng, không có cách biệt với những người mà ta muốn chiếm cảm tình để kết duyên giáo hóa. Đó là cái câu định nghĩa chuẩn. Mà tạo ra cái sự tương đồng không cách biệt đó nó là một cái trí tuệ, cái sự bản lĩnh vừa cũng là cái đạo đức của cái người tu mình. Thường nhiều người dù chưa có biết Phật pháp mà nếu họ là một người có trí tuệ, à có cái đạo đức mà có cái bản lĩnh thì họ cũng rất là dễ hòa đồng vào cái môi trường mà họ xuất hiện. Đây là điều tự nhiên. Chúng ta cứ xem lại bản thân mình rồi sẽ thấy là nếu mà mình là một con người có đạo đức,
[4:44]tự nhiên mình đến với ai mình luôn luôn thích tan vào với cái nhóm đó, mình không thích làm ra sự nổi bật. Còn nếu mà mình nhìn thấy một người mà họ bướng bỉnh, họ kiêu mạn thì họ xuất hiện ở đâu họ vẫn giữ cái bản sắc riêng của họ, họ không thích giống ai. Nên cái mà không thích giống ai hết thì nó cũng chứng tỏ một cái đạo đức kém, một cái bản ngã lớn hay một sự kiêu mạn ngấm ngầm. Còn cái khuynh hướng mà gặp ai mình cũng thích cho giống giống chung với nhau hết thì đó là biểu lộ của cái của cái đạo đức. Nên chúng ta xem lại mình. Có thể điều này chúng ta có mà chúng ta không để ý. Hầu hết những người ngồi ở đây
[5:29]đã đến với Phật pháp, biết nghe pháp thì đều là những người đạo đức. Chúng ta nhớ lại suốt cuộc đời của mình vừa qua mấy mươi năm qua, để ý kỹ coi. Thường là khi mình đến với những người nào mình cũng hay muốn giống với họ. Cái mà mình muốn giống với mọi người chung quanh, đó là dấu hiệu của đạo đức tự nhiên, không cần ai dạy. Hễ đạo đức thì tự nhiên là như vậy, tức là không muốn khác với mọi người. Ừ ông bà mình cũng hay nhắc những cái điều nhẹ nhẹ như vậy, ví dụ như là nói câu là: "Nhập giang tùy khúc, à nhập gia tùy tục". Là khi mà đi vào một con sông thì phải tùy cái theo cái khúc sông đó.
[6:12]Nghĩa là con sông mà người ta đi ghe trên sông như vậy, có những cái khúc sông nó nó nó nó lững lờ, nó bình an thì người ta chèo một cách thoải mái, thong thả hay nghỉ ngơi. Có những cái khúc sông mà nó gay gắt, nó uốn quanh, nó chảy xiết thì người ta phải căng thẳng, giữ cái tay buồm, giữ cái mái chèo, cũng như giữ cái bánh lái cho thật là kỹ để vượt qua những lúc đó. Hoặc là có những lúc mà nó lững lờ ở trên mà nó ngấm ngầm ở dưới thì cũng tùy theo cái con nước đó mà xử sự cho thích hợp, gọi là nhập giang tùy khúc. Và để lấy cái đó làm cảm hứng thì cái cái vế thứ hai ông bà mình dạy là nhập gia tùy tục.
[6:56]Khi mình đến một gia đình nào thì mình phải hòa theo cái tập quán của gia đình đó, chứ không thể bắt cái gia đình đó đổi theo cái lối sống của mình. Đó đây là điều chúng ta phải nhớ. Là người ta có sẵn cái lối sống người ta thì cái lối sống đó nó không phải là vượt quá cái giới hạn của cái thuần phong mỹ tục. do đó chỉ là những điều nhẹ nhàng thì mình nên hòa với, nên đi theo, nên bắt chước, à nên xử sự cho giống với cái phong tục của người ta. Ví dụ mình bước vào một gia đình mà người ta có cái tục lệ là khi ăn cơm thì nghĩa là mời hết mọi người. Thì mình cũng phải mời hết mọi người ăn cơm. Ví dụ có người họ không có mời hết từng người mà chỉ mời tổng quát, ví dụ:
[7:46]Mời bố mẹ, các anh chị ăn cơm. Thì mình cũng bắt chước mời một cách tổng quát như vậy. Hoặc là có gia đình họ không mời. Họ không mời thì mình mời cái giống như hơi trơ trọi, cái mình cũng bày tỏ một cái gì ân cần chút xíu, nhưng mà thôi cũng lơ luôn. Hoặc là thì có những cái gia đình ví dụ khi ăn cơm thì họ để một cái nồi cơm ở chỗ khác, ai ăn thì cứ lại đó mà múc, chứ không có người nào múc giùm người nào hết thì mình cũng làm xử sự giống người ta. Hoặc là mình đến đâu mà thấy ăn cơm, trước khi ăn cơm người ta để cái chén lên đầu, mình không biết ất giáp gì thôi cứ để chén lên đầu. Tại nhiều khi cái người đó họ tu theo đạo Phật á,
[8:19]còn mình không ví dụ mình chưa biết cái vụ mà vô ăn cơm cúng cúng, vô mình tính nghĩa là nghe nói mời ăn cơm xong là tính là mình chiến đấu nhanh gọn liền để mà cho bị có mấy cái món ngon quá mình chậm tay sợ nghĩa là sẽ thất bại trên chiến trường á, mình tính chụp giật liền nhưng mà thấy người ta để chén lên đầu, thôi dòm cũng không biết ất giáp, thôi cứ để chén lên đầu đi, thấy người ta để xuống thì để xuống vậy đó, rồi xong chuyện. Đại khái là nhập gia tùy tục, để sao? Thấy cho giống nhau như vậy người ta dễ vui. Lát nữa thì chúng ta sẽ nêu ra một số điển hình về cái đồng sự, một cái bản lĩnh đồng sự để chúng ta bắt chước,
[8:56]để thấy cái người Phật tử mình phải đồng sự như thế nào. Cái quan điểm của cái đồng sự á thì tuy nói là làm cho giống với mọi người, nhưng mà chúng ta có cái trí tuệ của mình để chọn lọc là những điều gì mà nên làm cho giống và những điều gì thì phải lánh, chứ không phải là ai làm gì cũng phải làm cho giống hết. Đấy đây là một điều tế nhị. Ví dụ như là nó có những cái khổ tâm, như có những người Việt Nam mình vậy, đến những cái vùng của người dân tộc, có những món ăn mình ăn không được. Mà không ăn thì người ta nghĩ rằng mình coi thường người ta, mà ăn thì cực kỳ đau khổ. Tình huống mà đồng sự coi nó hết sức là khó khăn.
[9:37]Không biết ở đây quý Phật tử có bị chưa ta? Có bị chưa? Mình thì biết trước mấy nhà đó thôi thì đừng ghé. Ờ mai mốt ví dụ mình độ bằng cách khác, mình tứ nhiếp pháp cách khác chứ không có tứ nhiếp pháp mà bắt chước món ăn, ví dụ vậy, ừ. Tại sao mà cái đạo lý, cái phương pháp đồng sự nó trở thành quan trọng mà Phật phải đặt vào trong cái tứ nhiếp pháp như vậy? Bởi vì nó có một cái tâm lý căn bản là như thế này: Tâm lý căn bản là con người cảm thấy dễ chịu, gần gũi với cái người mà giống mình. Đó, đây là nguyên tắc. Thì chúng ta để ý thế này, cái tâm lý thế này: Ví dụ như là trong một gia đình có nhiều thế hệ,
[10:16]thế hệ ông nội bà nội là khoảng 7 8 90 tuổi, rồi thế hệ của bậc cha mẹ trung niên là 4 50 tuổi, rồi thế hệ của cái lớp mà anh chị lớn lớn khoảng 2 30 tuổi, rồi cái thế hệ của lớp trẻ nhỏ hay con cháu chừng 10 tuổi, 15 tuổi vậy, chúng ta sẽ thấy thế này: Là mỗi cái lớp tuổi tự nhiên nó hình thành một cái nhóm bạn riêng của nó. Ừ. Ví dụ cái lớp trẻ mà 10 tới 15 tuổi thì nó cũng chỉ thích chơi với 10 15 tuổi, còn cái lớp mà 2 30 tuổi cũng chỉ thích chơi với 2 30 tuổi. À ví dụ bây giờ ví dụ có gia đình đó cha mẹ rất là thương yêu con cái, ví dụ là người cha mẹ khoảng chừng 3 40 tuổi, rồi lúc đó con của mình thì chừng
[10:59]10 15 tuổi, thì cha mẹ thương yêu cái gì cũng chiều chuộng và nghĩ rằng con mình hạnh phúc trong cái tình thương yêu của mình vì cái gì mình cũng chiều hết. Nhưng đến lúc nào đó vô tình cái dắt con mình đi chơi, ví dụ đi chùa đi, thì mình vừa mới buông tay con mình ra một cái quay lại dòm thấy là thấy nó đã chạy theo mấy cái cái đứa bạn cùng tuổi nó liền. Là nó ngồi nó giỡn chơi, nó nói chuyện rất là vui vẻ. Thì lúc đó người cha mẹ mới hiểu ra một điều là con mình thiếu một cái gì đó mà mình không cho nó được. Đó là cái gì? Đó là cái ngây thơ, cái bình đẳng, cái giống nhau, cái trò chơi, cái cảm nghĩ, cái sở thích,
[11:37]cái sức khỏe, cái năng nổ của cái tuổi trẻ mà cha mẹ mình không có nữa. Có đúng vậy không quý Phật tử? Có thấy vậy không? Thấy không? Có những người nhìn không nói trả lời là biết người đó chưa vợ chưa con gì. Con người ta vậy, luôn luôn thích với những người cũng giống mình. Hoặc là mình đi chùa cũng vậy. chúng ta để ý ví dụ như có một cái nhóm, từng nhóm tự nhiên nó thành lập thành cái nhóm từng cái nhóm huynh đệ huynh đệ với nhau. Tự nhiên có cái nhóm cái người trung lưu họ sống sống với nhau ngang cái lứa tuổi đó, có sở thích giống giống, cái nó thành một nhóm. Rồi có cái nhóm cái người mà họ bình dân hơn họ đến chùa
[12:16]thì họ cũng nói chuyện với nhau dễ chịu hơn, không kiểu cách, xề xòa sao cũng được, cái thành lập thành một nhóm chơi với nhau. Nên đến chùa coi vậy chớ mà nó dễ bị tách ra trong cái từng nhóm từng nhóm là theo cái bản năng của mình. Nếu mà người trụ trì không khéo dạy, không khéo dạy thì nó cứ tách tự nhiên ra mỗi nhóm, giàu chơi giàu, nghèo chơi nghèo liền. Chỉ khi nào mà cái người trụ trì có bản lĩnh dạy kỹ á thì cái người người nghèo họ có cái đạo lý nên khiến họ có cái tự tin của họ và cái người giàu họ xóa đi cái kiêu ngạo của họ, cho nên thì tự nhiên giàu và nghèo mới chơi với nhau nhẹ nhàng được.
[12:57]Chứ còn nếu buông ra đừng dạy thì nhóm nào theo nhóm đó liền. Cái là khuynh hướng con người ta tận trong sâu thẳm là vẫn thích gần gũi, giao du, kết thân, kết tình, tiếp xúc với cái người giống giống mình. Đó là cái khuynh hướng tự nhiên. Và chính vì có cái tâm lý đó mà Đức Phật mới dạy cho những người đệ tử Phật tu cái hạnh Bồ-tát là phải biết đồng sự. Bồ-tát tu hạnh đồng sự, nghĩa là chỗ này là chủ động mình tìm đến với người ta, mình làm cho giống người ta để được người ta thương mến, để tiếp cận người ta, hòa vui với người ta, nói chuyện làm quen, kết tình rồi giáo hóa người ta. Cho nên Bồ-tát là phải chủ động như vậy.
[13:44]Cái chữ Bồ-tát là chúng ta dùng với nghĩa rộng, mà một người đệ tử Phật mình bất cứ ai cũng phải biết tu cái hạnh Bồ-tát này. Nghĩa là mình chủ động đồng sự với mọi người mà gieo duyên lành giáo hóa. Cho nên cái tâm lý này rất là hay mà coi vậy không phải dễ. Chúng ta phân tích một lát thấy coi vậy chứ nó vẫn hơi khó. Như vừa rồi có một cái danh thủ người Anh là Beckham đến thăm Việt Nam. Mấy thầy có theo dõi thấy vụ đó không? Quý thầy có thấy không? Thử lòng quý thầy coi có mê bóng đá không chứ không gì hết trơn á. Quý thầy đây coi bộ hiền, nhà quê quê hiền, quý thầy trên thành phố là nghe là nhao nhao biết liền.
[14:24]Còn quý Phật tử có biết vụ đó không ta? Biết phải không? Thấy không? Cái cô đó mà còn biết nữa. Danh thủ Beckham đến thăm Việt Nam thì ổng ổng không có thời gian để học tiếng Việt Nam làm chi. Ổng học một câu một duy nhất là: "Xin chào Việt Nam". Thì lúc ở sân vận động thì người ta các fan á ngưỡng mộ đông lắm, ngồi đầy trên đó, ổng chỉ chắp tay ổng chào theo kiểu Việt Nam, theo kiểu đạo Phật Việt Nam, rồi ổng nói một câu là: "Xin chào Việt Nam". Trời ơi, thiếu điều bao nhiêu trái tim con người muốn vỡ tung vì sung sướng! Vì quá thương, quá thương cái người đó chịu khó nói một tiếng Việt Nam của mình thôi, làm cho mình cảm động vô cùng. Mà vì cái gì?
[15:06]Vì họ chịu nói tiếng của mình, tức ổng đó ổng chứng tỏ cái sự hòa đồng của ổng, ổng muốn cho giống người Việt Nam. Đó, đó làm cho người ta cảm động. Đây là cái tâm lý như vậy, phải không? Mà đó là một điển hình. Hoặc là chúng ta đi trên đường phố, ở dưới Sóc Trăng mình thì không có thấy xe xích lô ha, có xe lôi. Sáng nay chúng tôi cũng thử đi xe lôi. Sài Gòn có xích lô nè, Hà Nội có xích lô, thì có nhiều người Tây đi du lịch họ thấy cái xích lô ngộ ngộ đó, cái xứ họ không có, cái họ cũng thuê xích lô họ leo lên họ ngồi. Thì khi mà người Việt Nam mình cái tâm lý nhìn thấy một người Tây mà đi xích lô như vậy, cái xích lô nó bình dân quá,
[15:48]tự nhiên mình đâm ra mình có cảm tình với người Tây đó. Không biết có đúng không ta? Có đúng không? À mà có một cái trường hợp nó còn đặc biệt hơn là đi xích lô nữa là có một ông Tây đó ổng đến gặp ông xích lô, ổng hỏi bây giờ ổng đi trong chừng 2 3 tiếng đồng hồ vậy bao nhiêu tiền. Bác xích lô ổng mừng, ổng thấy trúng mánh 2 3 tiếng, ổng ra cái giá bao nhiêu tiền mấy trăm ngàn gì đó. Giờ rồi sau đó cái anh này nói: "Nhưng mà tôi trả anh thêm 50.000 nữa với điều kiện là anh lên ngồi cho tôi lên tôi đạp tôi chở anh đi". Ồ, ông xích lô nghĩa là trong đời không bao giờ ước mơ được có cái người Tây mà đạp xích lô chở mình ngồi, mình biến thành chủ lại.
[16:25]Không biết là do đạp xích lô nhiều quá cái nó có phước hay sao, tự nhiên giờ có tới có ngày được Tây đạp cho mình đi vòng vòng thành phố chơi. Ổng ngồi mà ổng sung sướng vô cùng! Đằng sau ông Tây cũng hớn hở nữa, ổng cũng thử làm tài xế xích lô đó, chạy một lát chạy vô đường cấm công an thổi lại rồi xong chuyện, hết phim. Có nhiều người vậy, người Việt Nam có con định cư ở nước ngoài, rồi cái người con nghĩ là vì cái đạo hiếu của Việt Nam, cho nên tìm cách bảo lãnh cha mẹ mình để sang mà sống với mình. Thì người cha mẹ già nghe con mình bảo lãnh đi nước ngoài vậy cũng thích, tại vì dù sao nghe nói nước ngoài cũng là nước phát triển,
[17:04]à có nhiều cái điều hay điều lạ mà Việt Nam không có. Mà nghe nói là người ở nước ngoài nghe cũng sang, người ta cũng thích, cho nên cũng làm thủ tục rồi đi. Đi chừng 6 tháng đòi về, nghĩa là con làm giấy tờ không kịp vậy đó. Là vì sao vậy? Bởi vì rớt vào một cái môi trường hoàn toàn xa lạ. Là con cái thương thì thương thiệt nhưng mà con mình mắc đi làm, nó giao một cục nợ lại cháu nội cháu ngoại đó ở nhà coi giùm đó, thay vì đi mướn người babysitter nghĩa là cái người mà trông trẻ thì thôi sẵn ba mẹ qua ba mẹ coi giùm con đỡ tốn tiền, phải không? Thì nó đi làm suốt, mà hai vợ chồng thay nhau đi làm tối mờ tối mịt
[17:45]mới về, rồi mình không dám đi ra đường, ra đường sợ lạc đường, không biết chữ, không biết cái tiếng nước ngoài, mà không hề có một cái người già nào để mà nhai trầu tỏm tẻm mà ngồi đánh tứ sắc. Hoàn toàn trong cái môi trường xa lạ, chịu không nổi, bức xúc không thể chịu nổi, căng thẳng còn hơn là bị ai chửi ai mắng nữa. Sống 6 tháng chịu không nổi đòi về liền. Chỉ trừ trường hợp những người nào mà rớt trong cái cộng đồng có những người già già giống mình ở để nói chuyện, những người đến trước rồi họ dìu dắt, họ dắt mình đi chùa rồi thì tâm lý được giải tỏa. Còn cái người mà sống kiểu không quen ai hết thì hơn ở tù, căng thẳng đòi về liền.
[18:22]Nên chúng ta thấy cái môi trường mà được giao tiếp với những người tương đồng với mình là một nhu cầu rất là bức xúc. Ví dụ chúng ta sống trong cái đất nước mình thì chúng ta thấy bình thường, tại đi đâu cũng là người Việt Nam mà thậm chí quen nhau quá rồi mà rồi tới nước phải gây lộn luôn, tại không có chuyện gì nữa, thương hoài cũng chán, thôi lâu lâu gây lộn. Vậy chứ mà khi chúng ta rớt vào môi trường không có một người Việt Nam nào hết, chúng ta mới thấy yêu quê hương tha thiết, yêu con người tha thiết. Nghĩa là thậm chí cái điều mà người ta chê như là một cái một cái đoạn đường nó cũng có một cái vũng sình,
[18:58]vũng lầy 10 năm không ai thèm lấp, nhưng mà khi mình đi xa quê hương rồi cái vũng sình nó trở thành cái nỗi nhớ của mình, nỗi nhớ. Không biết đây có ai có tâm lý không? Ừ, chứ chúng tôi vậy. Nhưng mà như thủa nhỏ thì thủa chúng tôi còn nhỏ, lúc đó Sài Gòn đường đất không à, chứ không có đường nhựa như bây giờ. Thấy đường đất và có những ngôi nhà còn có những cây mận, có cây ổi, có cây me kia đó, thậm chí mà có những cái bụi chuối mà người ta còn bắt rắn có nữa, hồi mấy chục năm trước ở Sài Gòn vậy đó. À đến khi đi xa rồi, đi tìm lại những cái nơi mà mình đã ở thì cảnh vật thay đổi hết sạch, đường tráng nhựa, tráng xi măng hết, không còn cái bóng cây nào nữa.
[19:39]Tìm lại những đứa bạn mà ngày xưa chơi bắn bi bên lề đường với nhau thì nó đứa chết, đứa đi đâu mất không còn đứa nào. Mà lúc đó mình thấy yêu lại cái con đường đất, cái vũng sình ở bên góc đường, ờ từng cái bụi cây vậy đó. Thì cái tâm tình con người ta là vậy đó. Nhưng mà đó là tại sao mà hình thành được cái lòng yêu nước, một lát nữa chúng ta cũng sẽ nói. Vì chính vì có những người giống mình quá, cho nên cái môi trường mà những người giống mình làm cho chúng ta dễ chịu, và chính vì cái tâm lý đó mà Đức Phật dạy chúng ta đồng sự để đánh vào cái tâm lý đó, làm cho mọi người sẽ thương mình mà sau này mới dụ người ta theo đạo được.
[20:17]Khi mà chúng ta đọc vào những cái tiền thân của Phật, à Đức Phật trong nhiều kiếp là một vị Bồ tát. Ngài đến với muôn loài để giáo hóa chúng sinh mà một cái điều đặc biệt nữa là có khi Ngài thị hiện vào cái loài thú luôn. Ừm. Nói về trên nhân quả, loài súc sinh là loài kém phước, nhưng khi một vị Bồ tát vì lòng thương chúng sinh cho nên không có nề hà chuyện đó, thấy mình có duyên với loài nào là thị hiện vào cái loài đó liền để mà dẫn dắt, mà kết duyên. Mà trong cái truyện tiền thân của Đức Phật, chúng ta hay bắt gặp Đức Phật thị hiện vào cái loài vượn, loài khỉ. Ừm. Câu chuyện kể có một cái kiếp đó, mà nhiều kiếp nhưng mà có một kiếp tiêu biểu,
[21:01]Đức Phật thị hiện vào trong cái đàn vượn và do cái phước của Ngài cũng như cái trí tuệ của Ngài cho nên Ngài trở thành con vượn đầu đàn to lớn. Thân thể to lớn hơn cả cái bầy vượn cho nên bầy vượn sợ tự nhiên nghe lời và Ngài biến thành cái con vượn đầu đàn. Dĩ nhiên là loài vượn không có cái ngôn ngữ như chúng ta nhưng mà chúng cũng biết giao tiếp với nhau bằng những tiếng kêu ré trong cổ họng, cái âm thanh kêu sắc nhỏ lớn thế nào á thì nó là một cái ngôn ngữ mà chúng hiểu với nhau được. Thậm chí chúng có những cái trực giác chưa nói nhưng mà con này hiểu con kia muốn gì, cái loài vượn như vậy.
[21:41]Thì con vượn đầu đàn vậy dìu dắt, giữ bảo vệ cái đàn vượn cho nó đừng có bị nguy hiểm và giữ nó không làm những điều bậy để cho đàn vượn nó không có bị mang nghiệp. Ví dụ như là à biết ở đó là một cái khu mà người ta trồng lúa, trồng bắp thì thường những loài khỉ mà biết ở đâu có lúa bắp thì tới tuốt ăn phá chứ không cần biết hậu quả, không biết đó là tội phước. Hễ chỉ thấy là phá. Nhưng con vượn đầu đàn này là Bồ tát cho nên biết đi vào đó mà hái bắp thì đời đời sau này nếu mà được cái duyên trở lại làm người thì sẽ là người vô cùng đói khổ. Cho nên con vượn đầu đàn này không bao giờ cho đàn vượn mình tới ăn bắp của người ta.
[22:26]Chỉ trừ trường hợp mà ví dụ như bắp bẻ rồi, nó lên những cái bắp non nhỏ vẫn còn hàng thì đến nó ăn được. Đó là vị Bồ tát cho cái đàn vượn là không có tạo nghiệp thêm, sống vui vẻ với nhau, hiền lành với nhau, mà xử sự đâu đó thông minh và tránh những cái nguy hiểm. Mà tránh những nguy hiểm như thế nào? Truyện kể có một lần là nơi cái hồ đó có cái con quỷ La Sát, nó núp ở dưới cái hồ, nó ẩn cái bóng không ai nhìn thấy thì nó chờ những con thú mà con thú nào hiền á, chứ cọp beo thì nó không dám, những con thú hiền xuống dưới uống nước thì nó bắt, nó nhận chìm dưới nước chết rồi nó ăn thịt luôn.
[23:06]Cái chuyện đời xưa là có quỷ La Sát, còn đời nay thì chúng ta không có gặp con quỷ La Sát ở những cái bờ hồ, mà chúng ta gặp quỷ La Sát ở đâu? Chuyện này thì chúng tôi cũng không biết ở đâu, mà chúng tôi có nghe đồn, không biết có đúng hay không, là chúng ta đi ngang cái nhà nào mà thấy có một người đàn ông quá sợ vợ thì hãy tin rằng trong nhà đó có một con quỷ La Sát. Người ta nói như vậy chứ tôi không biết có thiệt hay không nha, đừng có mắng tôi tội nghiệp. Tôi không biết, không biết chuyện đó. Ừ. Rồi, ngày nay thì như vậy, còn chuyện hồi xưa thì có con quỷ La Sát nó nằm dưới bờ hồ. Thì một lần đó, khi mà đi tìm đến cái bờ hồ đó thì đàn vượn
[23:45]mới nhao nhao muốn chạy xuống để mà uống nước thì con khỉ đầu đàn thét lên một tiếng kêu đàn vượn nó dừng lại. Thì lúc đó con vượn mới nhìn mới nhìn là mới nhìn cái dấu chân. Tại mà khi cái bờ hồ nó đầm lầy trong cái khu rừng um tùm như vậy thì đất nó mềm nó như sình vậy đó thì có những dấu chân những con thú đi xuống để uống nước thì cái con vượn đầu đàn, tức là Bồ tát mới nhìn cái dấu chân đi xuống đi xuống như vậy, những cái dấu chân cọp á đi xuống á thì thấy có dấu chân đi lên. Nhưng mà dấu chân chồn đi xuống thì không thấy dấu đi lên nữa, hoặc là dấu chân con cáo, con thỏ đi xuống thì không thấy đi lên nữa.
[24:24]Cái Bồ tát mới phát dấu hiệu là có một cái sự nguy hiểm ẩn giấu nơi cái hồ này cho nên không cho các con đi xuống uống nước. Thì đàn khỉ ngồi tiu nghỉu có kêu lên tiếng chí choé mà biểu lộ rất là muốn uống nước mà con đầu đàn không cho. Thì con con khỉ đầu đàn, tức là vị Bồ tát á, tiền thân của Phật Thích Ca đó, Ngài mới đi vòng vòng bờ hồ vòng vòng bờ hồ, nghĩa là Ngài đã tìm cách làm sao lấy được nước cho đàn khỉ mình uống mà không cho cái cái mối nguy hiểm dưới này nó bắt đi cái đàn của mình. Thì Ngài mới lấy cái cọng cỏ. Cọng cỏ lúc đó là bên bờ có nhiều cái lau sậy mà cái lau sậy vào thời xưa đó, cái cọng lau đời xưa,
[25:08]cọng sậy đời xưa đó nó không có rỗng ruột từ rễ mà lên tới ngọn như bây giờ, kinh kể như vậy, mình không biết thực hư thế nào, nhưng mà trong kinh kể vào thời xưa cái cọng lau sậy nó có nhiều mắt mà mỗi mắt thì nó như mắt tre nó chận ngang chận ngang. Thì Bồ tát mới nhìn quanh chỉ thấy có những cái cọng sậy rất là dài, cọng sậy dài tới mấy chục thước. Do rừng rậm mà, người đời xưa rừng chưa phá, rừng rậm mấy chục thước thì Bồ tát bẻ một cọng sậy lên, mới dùng cái cái thần lực ba-la-mật của mình, cái hạnh nguyện Bồ tát nhiều đời của mình chú nguyện thế này: "Nguyện cho tất cả những cọng sậy này rỗng ruột từ rễ tới ngọn." Khi Ngài chú nguyện
[25:48]điều đó xong thì toàn bộ những cái bụi sậy chung quanh cái bờ hồ đó rỗng ruột suốt từ dưới dưới rễ lên tới ngọn hết bằng cái hạnh nguyện ba-la-mật của Ngài. Thế là Ngài đứng trên bờ thả cái ống sậy xuống, Ngài ngắt cái đầu, Ngài Ngài hút lên và Ngài hút nước nó chảy lên được, cái Ngài mới sau đó mới ra lệnh cho đàn khỉ cũng bắt chước Ngài là bẻ hết những ống sậy cắm xuống mà ngồi trên bờ hút. Thì con quỷ La Sát ở dưới không làm gì được, cái nó hiện thành cái hình với một cái dáng vẻ tức tối là nó không có lừa được cái bầy bầy vượn này xuống mà uống nước để mà nó bắt ăn thịt. Thì trong cái truyện tiền thân nói rằng
[26:28]là trong cái kiếp này, cái chữ kiếp tức là một lần mà trái đất nó tận thế đó nha. Trong kiếp này có ba cái thần thông của Phật, có ba cái thần thông mà tồn tại suốt một kiếp. Cái thứ nhất là tất cả những cọng sậy đều rỗng suốt từ rễ lên tới ngọn bởi vì do cái thần lực ba-la-mật của Phật, một câu chú nguyện vào lúc đó. Cái thần thông thứ hai tồn tại mãi là nơi cái khu vực mà của nhà cái người người thợ gốm thì không bao giờ có mưa. Cái câu chuyện này nó nằm qua một cái sự tích khác, vì mà kể nó hơi dài dòng. Tại có một lần đó Đức Phật bị mưa đó, cái trong cái cái cốc mà Đức Phật ở bị mưa, cái người thợ gốm đó đã gấp rút quá,
[27:15]dở tóc cái mái tranh của mình đem lên che cho Phật liền, chấp nhận nhà mình ướt. Chính vì ông làm điều đó cảm động quá, Trời Đế Thích không bao giờ cho mưa rớt xuống cái nhà ông nữa và nói cái thần thông đó tồn tại tới bây giờ. Thì bây giờ mình không kiểm chứng được tại mình không biết cái vị trí cái người thợ gốm nó ở đâu trên đất nước Ấn Độ nữa, nhưng mà truyện đó được ghi trong kinh điển vĩnh viễn không mưa nữa. Cái thần thông thứ ba là cái hình trên mặt trăng, cái hình hơi giống con thỏ, hình khuyết đen đen hơi giống con thỏ là vĩnh viễn tồn tại không thay đổi hết kiếp này. Cái chuyện như vậy, nhưng mà cái câu chuyện chúng ta vừa nghe vừa
[27:49]rồi á là chúng ta thấy cái việc mà đồng sự chúng ta học được nơi Đức Phật là chúng ta đến với cái chúng sinh nào, đến với con người nào, chúng ta hãy cư xử cho giống với con người đó để mà có thể kết cái tình thân dễ dàng rồi giúp người ta đến với đạo. Còn cái đồng sự mà Phật làm á thì mình làm không nổi. Bởi vì hóa hiện sinh vào trong cái loài vượn để mà dìu dắt mà giáo hóa cái loài vượn thì thần thông đó mình không làm nổi, nhưng đó cũng là cái hạnh đồng sự. Chúng ta nhớ cái gương Đức Phật để nhớ là từ đây chúng ta luôn luôn vậy, sống với muôn loài chúng sinh, mình luôn luôn làm cái gì cho giống với mọi người,
[28:31]cư xử cho giống với mọi người, đừng có làm điều khác lạ. Bồ tát hay đến với chúng sinh theo hình dáng mà chúng sinh thích. Ừ. Cho nên nhiều người có những cái dịp nằm mơ hoặc thấy những cái ảo ảnh mà Đức Phật hiện ra, Bồ tát Quan Âm hiện ra theo hình dáng mà mình thích. Tùy theo phước lực của mình, tùy theo cái tâm tình của mình mà Bồ tát đã hiện ra như vậy. Hoặc là ví dụ như là nhiều người tin rằng Bồ tát Quan Âm mang hình dáng của một người mẹ thì những người đó thường hay thấy Bồ tát Quan Âm trong cái thân người mẹ hiền hiện ra đến với mình. Có ai đã nằm mơ thấy Bồ tát Quan Âm chưa? Có nhiều người có rồi đó.
[29:20]Có người thì thấy Bồ tát hiện ra rực rỡ, sang trọng, ừ sáng chói. Nhưng có người thấy Bồ tát hiện ra bà mẹ quê nhăn nheo, hiền lành, chống gậy nhưng mà nói những lời nói cực kỳ trí tuệ, sâu sắc, vân vân. Nó tùy trường hợp như vậy. Rồi người thấy Phật cũng vậy, có người thấy Phật là thấy Phật hiện ra giữa hư không, hào quang sáng chói. Nhưng có người thấy Phật theo cái hình dáng của một cái người bình thường như một đất nước Ấn Độ quấn một cái y cũ mốc, ừ ngồi trên cái bệ đá để mà thuyết pháp. Đó là theo cái tâm tình của mình mà Phật và Bồ tát đã đến với mình. Tuy nhiên thế này, là cái người mà bản ngã nhẹ thì dễ hòa đồng với mọi người,
[30:14]mà cái người mà bản ngã nặng, kiêu mạn thì rất khó hòa đồng với người khác. Đây là nguyên tắc. Chúng ta nhớ là thường á cái người mà kiêu á thì buộc người ta phải đến với mình, người ta phải giống mình, người ta phải chiều mình. Đó nguyên tắc. Chứ không chịu mình đến với người ta, mình chiều người ta, mình làm cho giống người ta. Còn ở đây là cái người mà bản ngã nhẹ, thấy mình không quan trọng nữa thì mình dễ đến với người ta trước. Ví dụ như một ông viên chức à cấp cao, mà nếu ông là một người có cái ngã lớn thì ông thường ngồi ở nơi cái văn phòng của mình, đợi cái người dân à là có cái việc gì cần,
[31:05]cầm đơn tới à năn nỉ, xin xỏ, lạy lục thì ông mới ngồi trên đó mà xét cho hay không cho. Đó là mình chưa nói tới cái người mà có ý gian mà muốn muốn tham nhũng, muốn hối lộ, mình chưa nói, một người bản ngã lớn thôi. Còn cũng bây giờ một cái người viên chức cũng cái chức lớn nhưng mà cái ngã nhẹ, cái ngã nhẹ tự nhiên thương dân hơn thì nhiều khi không có ngồi một chỗ mà hay đi xuống tới dân. À và thay vì ngồi văn phòng mát, ổng lặn lội ổng chạy xe xuống à xuống tới dân để coi coi dân tình sao. Thì thấy một cái nhà tranh lụp sụp là ghé vô thăm, thăm rồi hỏi coi gia đình mấy người, kinh tế rồi làm cái gì, cày được mấy mẫu đất,
[31:55]à rồi con cái học hành sao, rồi sao mà không cất nổi cái nhà. Thì ổng xuống tới nơi ổng cũng ngồi trên cái cái cái ghế mà nó có ba chân, hễ mà nghiêng cái rớt luôn. Rồi ngồi uống cái miếng nước mà người dân họ không dám mời vì nước họ dơ quá, ừ trong đó có thể là có lăng quăng hay có sida gì ổng không biết nhưng mà ổng cứ ngồi ổng uống tỉnh, uống tỉnh rồi sau đó ổng về mới uống kháng sinh ba bữa sau, nhưng lúc đó cũng uống bình thường. Thì à để hỏi cho ra rồi mới biết rằng cái địa bàn mà mình quản lý á thì nó có nhiều cái phức tạp mà cái cấp dưới của mình không bao giờ báo cáo, họ che đậy hết.
[32:35]Mình phải trực tiếp đi như vậy mới biết. Thì cái người mà làm được như vậy là cái người bản ngã họ nhẹ, cái đạo đức họ có. Cho nên cái bản lĩnh mà để hòa đồng với người khác á là phải từ cái đạo đức, cái trí tuệ mà trong đạo Phật chúng ta gom lại dùng chữ là bản ngã nhẹ, ít có chấp ngã thì mới làm được công việc đó. Rồi trong cuộc sống cũng vậy, trong cuộc sống bây giờ ví dụ như là mình nói quý thầy, quý cô mình á mình đến một cái hội trai tăng à có đông người, đằng kia cũng có nhiều quý thầy, quý cô lạ, mình không quen biết ai, ừ không quen biết ai, mà nếu mình là cái người mà bản ngã nặng á thì ai kệ người ta,
[33:15]thầy nào chùa nào kệ, mình cứ ngồi đây thản nhiên ngồi uống nước, ừ chỗ mình mình ngồi, nước ly mình mình uống, chả cần quan tâm tới ai. À lúc đó biết cái bản ngã mình nặng. Còn ví dụ mình là bản ngã nhẹ đó thì trong lúc gặp đông quý thầy, quý cô vậy, à thì thường à mình gặp mình dễ cười, nhìn nhau ánh mắt thân ái, mà thấy lạ hay bước tới, chủ động bước tới chắp tay chào, rồi hỏi: "À thưa thầy, thầy ở chùa nào tới đây?", ví dụ vậy. Nghĩa là mình chủ động tới trước, chứ không phải đợi ông thầy đó ổng tới chào mình, mà mình tới chào trước. Nên a chúng tôi hay đùa, nhiều khi chúng tôi đến một cái gia đình
[33:56]nào đó, có khi đến có công việc thì thôi, gặp mấy đứa con nít. Mà con nít thời nay thì nhiều khi nó không có nhạy trong cái việc chào người lớn lắm, chứ hồi xưa đó, vào thế hệ của chúng tôi á, con nít gặp người lớn chào lẹ lắm. Nhưng mà thời nay hơi chậm chút. Chúng tôi gặp đứa con nít nào ấy mà nhìn qua mình chờ nó khoảng một giây để cho nó nhìn mình, trong một giây thôi, trong một giây mà thấy nó không chào mình thì mình chào nó trước. Nói: "Thầy chào con." Sau khi nói: "Thầy chào con" xong, nói thêm câu nữa: "Kỳ này thầy thắng con một-không tại thầy chào con trước." Mình đùa, đùa nhưng mình nhắc nó, nhắc nó mà mình không rầy
[34:35]căng thẳng, mình không làm ra mặt ngầu là tại sao không biết chào thầy, thấy người lớn không biết chào. Mình chào nó trước, thiện chí vui vẻ, rồi nói đùa một câu: "Rồi, kỳ này một-không, thầy thắng con." Lần sau mà nó nhớ, cái nó tới nó gặp mình nó chào trước, lúc mình chưa kịp nhìn thấy nó cái nó đã chào, quay lại nói: "Rồi, kỳ này một đều, con thắng thầy lại một-không." Vui vui như vậy nhưng mình nhắc mình dạy, rồi cha mẹ nghe cái đó hết hồn. Cha mẹ nghe là biết ông thầy ổng nhắc khéo, nhưng mà nhắc một cách không căng thẳng làm đứa trẻ nó vui, nó vui mà nó học được bài học là phải chào. Có một cái câu chuyện cũng lâu lắm, chúng tôi nghe kể lại không
[35:13]rõ, thì à trong chiến tranh có những người bộ đội họ làm việc ở à hậu phương, họ làm về việc hậu cần hay là giấy tờ, rồi có những người thì họ phải chiến đấu ở chiến trường. Thì theo nguyên tắc của quân đội, cái người nào mà cấp nhỏ phải chào cấp lớn. Thiếu úy thì phải chào trung úy trước thì người trung úy mới chào sau. Đó là nguyên tắc. Cũng có người họ thắc mắc họ mới hỏi: "Ví dụ như hai người cùng là trung úy mà một người thì chiến đấu ở chiến trường, một người làm việc ở hậu phương thì ai chào ai trước?" Cái câu trả lời là: "Người lịch sự chào trước." Rất là thông minh. Nghĩa là khi chúng ta hạ mình, chúng ta đến trước là cái ngã chúng ta nhẹ.
[36:05]Dùng cái chữ là người lịch sự ở đây mình phải hiểu là cái người có đạo đức, cái người bản ngã nhẹ hơn. Thì bây giờ người Phật tử chúng ta cũng vậy, hay là quý thầy, quý cô mình cũng vậy. Ví dụ người Phật tử ở bên ngoài đời thì thường để ý theo tuổi tác, bây giờ mình học theo cái tứ nhiếp pháp của Phật dạy, có khi mình đã bảy chục tuổi rồi, mà mình gặp cô đó mới đến chùa chừng hai, ba chục tuổi, thì đáng lẽ mà theo ngoài đời á là mình phải đợi cái cô đó chào mình trước, nhưng bởi vì mình lỡ học cái bài tứ nhiếp pháp của Phật rồi, thì thôi mình phải đành phải chịu thua. Thì cổ cũng chưa biết mình là ai, mình cũng chưa biết cổ là ai, thì gặp cái là:
[36:41]"À, bác chào con, con mới tới chùa hả con?" Đó là mình tứ nhiếp pháp, là mình đã đồng sự trước, đến với người ta trước, là lúc đó cái ngã mình đã nhẹ, mà mình bắt chước Đức Phật một chút xíu xìu xiu xỉu, đó. Phật dám đi làm con vượn, còn mình chỉ chào trước thôi là mình đã đồng sự một chút. Hoặc là quý thầy, quý cô mình cũng vậy, nhiều khi gặp nhau trên nguyên tắc á là cái người tuổi đạo nhỏ phải chào cái người tuổi đạo lớn trước. Nhưng mà mình mới gặp nhau, biết ai tuổi đạo mấy tuổi mấy tuổi bây giờ? Thì chẳng biết mấy tuổi mấy, nhưng hễ gặp nhau thì người lịch sự chào trước, không biết tuổi đạo ha? Đồng ý không quý thầy?
[37:22]Đồng ý ha, vậy đó. Thì cái dấu hiệu đó, cái dấu hiệu nào một người nào hòa đồng trước, đó là người đạo đức trước. Hiện nay nó có cái phong trào mà chúng tôi cũng thấy cũng hơi lo, trong cái lớp trẻ hoặc là lớp cái người giàu, người mới giàu mà không có đạo đức lắm là họ thích xài cái hàng không đụng ai, gọi là không đụng hàng, cái từ gọi là không đụng hàng, nghĩa là họ mua một cái áo thì phải làm sao đừng có cái áo thứ hai, tại mặc ra mà có cái áo giống, coi mình không không đặc biệt, không nổi. Hoặc là họ làm kiểu tóc mà phải không giống ai. Không giống ai là sao? Nào giờ người ta quăn, thả dài,
[38:04]ép suôn, cong trước cong sau, hoặc là cạo hai bên để cái bờm, bây giờ cái người này họ làm kiểu tóc mà cạo một đường ngay giữa trọc lóc, để hai bên tóc dài uốn quăn để chơi vậy đó, nói là không đụng hàng, ví dụ vậy. Hoặc là họ mua một đôi giày, thật ra mình dòm ai mình đâu thèm dòm cái đôi giày người ta làm chi phải không? Thì mình gặp nhau mình nhìn là nhìn cái gương mặt là khả ái hay không, đàng hoàng hay không, nụ cười tươi không, để ý răng có giả hay không, ví dụ chút đỉnh là hết rồi. Chứ đâu ai dòm đôi giày, mà có những người đi mua đôi giày để ý phải hỏi người cái đôi giày này có sản xuất nhiều hay không,
[38:38]đừng có nhiều người giống thì tôi mới mua, à vậy đó. Nên bây giờ còn có cái phong trào gọi là xài hàng không đụng, là mình phải hiểu cái bản ngã con người thời nay khá lớn. Và đó là một điều đáng lo cho đạo đức xã hội chứ đó không phải là hay. Khi người ta giàu rồi cái ngã nó lớn lên rồi, cứ muốn xài hàng không đụng, đó là dấu hiệu đáng buồn chứ không phải là hay. Cho nên nói vậy đừng ai bắt chước mà rẽ cạo một đường ở giữa nha. Có cạo, cạo hết như quý thầy, quý cô ngon vậy đó.
[39:10]Khổng Tử nói cái câu thế này, là: "Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa." Thì chữ Nho ngày xưa dịch về cái chữ hòa đồng hơi khác với mình, chứ mình đọc mình hiểu cái nghĩa nghĩa thật bên trong, chứ còn theo chữ thì có thể bị lẫn. "Quân tử hòa nhi bất đồng" thế này: cái người quân tử á, quân tử theo cái đạo Nho tức là người có đạo đức, có phẩm chất thanh cao, ừ có bản lĩnh, có nhân lễ nghĩa trí tín, có trung hiếu, vân vân, gọi là người quân tử. Là cái người đó đó hòa mà không có đồng. Hòa là sao? Tức là khi họ đi vào một cái môi trường lạ, đi vào nơi có nhiều con người lạ thì họ hòa theo cái người đó liền, nhưng mà bên trong không đồng. Không đồng là gì?
[40:03]Là bên trong vẫn giữ vững cái phẩm chất thanh cao của mình, cái sĩ khí, cái hoài bão, cái lý tưởng, cái lập trường của mình, chứ không có biến mất cái bản chất đó, cái bản chất tốt đẹp của một người quân tử đó, mặc dầu bên ngoài họ vẫn hòa. Đó là bản chất của người quân tử. Ví dụ như họ bước vào môi trường của những người à đang đang đánh bài đi, ví dụ vậy. Thì cái những người kia, ví dụ đánh bài không có vẻ sát phạt lắm, chứ sát phạt thì chắc người quân tử không bước vào. Ví dụ họ chỉ đánh bài cho chơi vui thôi chứ không phải là cái sát phạt nặng. Cái mấy người kia ra: "Hỏi anh, vô đây đánh với tôi một ván coi."
[40:45]Thì có những cái loại bài mà phải có trí tuệ thì mới đánh thắng được. Vì chúng tôi cũng không có rành lắm nên chúng tôi không biết lắm. Nhưng mà có những loại bài nghe nói là phải đoán cái bài của người ta rồi mình mình binh, mình sắp xếp cái bài của mình sao đó. Quý thầy có biết không ta? Quý thầy có biết không vậy? Quý cô có biết không? Có bài gì tiến lên, tiến lên là làm sao ta? Không biết. Tiến lên là làm sao ta? Có ai biết không? Biết không? Mấy đạo hữu có biết không, cái bài tiến lên, tiến xuống gì đó? Có cái loại bài gì đó mà phải đoán được bài của người ta rồi sắp xếp bài của mình, cho nên đánh cũng trí tuệ.
[41:21]Ví dụ, bây giờ một vị đệ tử Phật mà gọi là một người quân tử theo như Khổng Tử nói, cũng là một người Bồ Tát, hạnh Bồ Tát theo Tứ Nhiếp Pháp, à bước vào một cái nơi mà người ta đang đánh bài, người ta mời mình đánh, đánh cho vui, kiểu đánh bài cho vui không sát phạt lắm, thì mình cũng ngồi cũng đánh, cũng đánh với người ta, nhưng mà thật ra trong tâm mình không có ham vui theo điều đó, chỉ đánh cho hòa đồng chút xíu thôi, rồi âm mưu tính chuyện khác. Một lát từ từ mình nói chuyện với người ta, nghĩa là vừa đánh bài bắt đầu nói chuyện triết lý, bắt đầu nói chuyện văn chương, bắt đầu nói chuyện thơ,
[41:59]chuyện nhạc, rồi đi qua tới chuyện đạo lý và cách sống, nói một lát mà từ từ người ta bỏ bài hết trơn rồi người ta tham gia hào hứng mà nói về đạo lý thì đó là một người đệ tử Phật thành công. Hoặc là một người quân tử đúng nghĩa hòa nhi bất đồng, hòa theo, giống mọi người, nhưng mà bản lĩnh mình, phẩm chất mình mình giữ chặt chẽ, không có ngả theo, không có biến mất theo như là cái môi trường chung quanh của mình. Á, còn tiểu nhân đồng nhi bất hòa, tiểu nhân đồng nhi bất hòa là làm sao? Nghĩa là cái người tiểu nhân, nghĩa là cái người xấu á, người hèn mọn, hay ganh tị, hay đố kỵ, hay ích kỷ, không trung, không hiếu gọi là người tiểu nhân.
[42:40]Người tiểu nhân thì đồng mà không có hòa. Nghĩa là làm sao? Là cái bản chất của người tiểu nhân á giống nhau hết, cũng là hơn thua, cũng ganh tị, cũng ích kỷ, nghĩa là cũng ham vui, cũng sa đọa, giống nhau hết. Bên trong như vậy, bản chất giống nhưng mà không bao giờ hòa là làm sao? Gây lộn tối ngày, đúng không? Đúng vậy. Nghĩa là trong cái môi trường mà có nhiều người tiểu nhân, mình nghe họ giống nhau hết, đều là cá mè một lứa, cũng ích kỷ, cũng tham lam, cũng ham vui, cũng sa đọa mà hay gây gổ với nhau, mà thậm chí có thể nghĩa là vì một cái sự tranh giành có thể rút dao đâm nhau được, đó là tiểu nhân đồng nhi bất hòa.
[43:23]Còn quân tử thì hòa nhi bất đồng. Á, vậy. Cho nên ở đây theo như Khổng Tử nói mà chúng ta đối chiếu với cái Tứ Nhiếp Pháp này, tức là hòa nghĩa là cái giống về bên ngoài, cái hình thức, cái cư xử, còn cái đồng là cái giống về cái bản chất, cái tính tình, cái lập trường. Cho nên người quân tử, cái phẩm chất thanh cao, ờ cái sĩ khí tốt đẹp của mình thì không bao giờ để mất, như vậy. Giờ chúng ta kể cho nhau nghe vài cái mẫu điển hình về đồng sự ờ nổi tiếng. Vào cái thời mà nhà Trần của chúng ta, thì lúc đó bên nhà Nguyên, bên Mông Cổ chuẩn bị qua đánh nước ta một lần nữa. Đã đánh lần đầu vào thời vua Trần Thái Tông mà đã thua.
[44:13]Tới cái đời vua Trần Nhân Tông, 30 năm sau, bắt đầu họ chuẩn bị quân đội lại, lương thực lại, đem quân qua đánh nữa, tại cái mộng của họ là bá chủ thế giới. Lúc đó, vua quan nhà Trần cũng phải chuẩn bị để đối phó với giặc. Thì trong cái đối sách với giặc mà do Thượng tướng Trần Quang Khải bàn bạc với Trần Hưng Đạo, với với Đại tướng Trần Hưng Đạo và đặc biệt là Đại tướng Trần Hưng Đạo thì ông có nhiều cái môn khách, cái chữ môn khách có nghĩa là những người cố vấn á, ông đi vời, ông hỏi ý kiến của rất nhiều người, về ý kiến. Trong đó có một cái môn khách đặc biệt là Trương Hán Siêu nữa, thì lập cái đối sách để mà chuẩn bị đón quân Nguyên qua mà đánh.
[44:59]Trong cái kế hoạch mà được vạch ra đó thì Trần Quang Khải cũng như Trần Hưng Đạo nhìn thấy cái lực lượng rất quan trọng để có thể làm phên giậu cho mình ở cái rừng núi phía Bắc và Tây Bắc, đó là dân tộc ít người. Họ có những thủ lĩnh, họ thiện chiến, họ rành, thông thạo cái đường núi của họ mà họ chiến đấu rất giỏi, nhất là cái nghề bắn tên của họ bách phát bách trúng. Người ta nghe kể rằng là ví dụ có những cái cây mà nó cao cao tuốt tuốt tuốt lên trển, cái người này họ không leo lên để họ bắn một con gì trên đó đó. Có người ví dụ một con khỉ nó bị bị dồn lên trên cái ngọn cây, cái người thứ nhất họ leo nửa chừng họ bắn hết tên rồi mà không tới,
[45:43]thì cái người thứ hai đó bắn lên, bắn tên vô cái người thứ nhất mà bắn ghim đúng ngay cái búi tóc, bắn trật chút vô não là chết liền. Thì cái người leo nửa chừng mới rút cái Thì phải làm sao mà lôi kéo được những cái bộ tộc ít người ở miền Tây Bắc đó về trở thành người của triều đình mà phụ chiến đấu chống quân Nguyên? Mà muốn đến thương lượng với họ thì phải hiểu về cái phong tục tập quán, ngôn ngữ của họ. Mà không biết làm sao, tự nhiên trên trời sai xuống một người là Hoàng tử Trần Nhật Duật. Hoàng tử Trần Nhật Duật là một con người kỳ lạ, sống ở triều đình ở Thăng Long mà tối ngày cứ học cái tiếng dân tộc
[46:19]ít người ở miền Tây Bắc không, mà học cái quan dân cái phong tục tập quán á. Cho đến khi mà cần phải lôi kéo những bộ tộc đó về cho triều đình Thăng Long thì vua sai Trần Nhật Duật đi. Ổng đi vào, ổng nói những cái ngôn ngữ, những cái thành ngữ mà đúng là của người dân tộc để bày tỏ cái thiện chí, hiếu hòa, kết thân. Ổng uống rượu bằng uống rượu cần mà thường thường mình uống rượu cần là làm sao? Có cái vò rượu, thọc cái ống vô hút, phải không? Nhưng mà hút như vậy chưa ngon, hút bằng mũi. Bịt một mũi lại, để một ống vô hút! Thường mình hút nước lạnh không là cái mũi mình đã chịu không nổi rồi, tại vì cái niêm mạc của mũi á nó rất là mỏng,
[47:03]nó dễ bị xót khi mà đụng nước muối hay đụng cái rượu nó cay. Mà cái người dân tộc thượng thừa, cái hàng mà trưởng lão á, uống bằng miệng không đã, nó cay không đã mà hít vô mũi nó cay cái phần niêm mạc của mũi à nó mới đã. Mà cái người mà hút được tới cái mức độ này á là cái bậc tiền bối của cái bộ tộc đó. Mà không biết sao ông Trần Nhật Duật đâu ở Thăng Long mà ông đã tập được tới cái bản lĩnh đó. Vô khi mà đặt cái bình rượu cần ra, ổng cầm cái bình rượu cần, ổng nhét vô mũi, ổng hút một cái rọt! Nghĩa là mấy trùm thủ lĩnh là phục lăn liền, mới thấy đây là người của mình, hàng tiền bối của mình.
[47:38]Thế là Trần Nhật Duật nói gì cũng nghe hết, sau đó mới đặt điều kiện là: "Bây giờ chúng ta liên kết lại để bảo vệ cái đất nước này. Đây là giang san chung, mặc dù là dân tộc chúng ta có nhiều ngôn ngữ, vẫn là giang san chung của cha ông. Phải bảo vệ, liên kết với triều đình". Nên nhờ như vậy mà trong cái trận đánh quân Mông Cổ hai lần, chúng ta đã nhờ cái công sức rất nhiều của những anh em người dân tộc ở vùng Bắc và Tây Bắc. Đó là nhờ cái hòa đồng, nhờ cái đồng sự của Trần Nhật Duật mà đã thành công như vậy. Đó là một cái đồng sự nổi tiếng nhất trong cái lịch sử của Việt Nam mình. Hoặc là bây giờ vậy, hầu hết các nước trên thế giới là hay sử dụng tiếng Anh.
[48:19]Do đó, người Việt Nam chúng ta hay là nhà nước chúng ta vẫn chủ trương là đẩy mạnh cái học ngoại ngữ từ em bé luôn. Bây giờ đang thí nghiệm là cho từ cấp một đã phải học học tiếng Anh. Còn các cán bộ, viên chức thì phải biết tiếng Anh, phải có bằng B, ví dụ vậy, thì mới có thể là được tiếp tục mà giữ cái chức vụ của mình, còn không là thay đổi liền. Tại sao mà chúng ta phải học ngoại ngữ? Là cũng vì đồng sự, là phải làm sao biết được ngôn ngữ mà các nước trên thế giới nói, chúng ta mới có thể làm ăn với họ được, thương lượng với họ, bàn bạc với họ hoặc là có thể sống chung hòa bình với họ được.
[48:56]Cho nên cái đồng sự về ngôn ngữ là một yếu tố rất quan trọng. Giống như là ông Thủ tướng Mahathir Mohamad của Mã Lai vậy, ông thúc đẩy cả nước phải học tiếng Anh cho giỏi. Ông nói câu này: "Có thể bạn không thích người Mỹ, nhưng bạn phải học tiếng Anh, bởi vì đó là một cái nhu cầu giao tiếp của thế giới". Ông rất là hay. Thường là ông không thích cái văn hóa của Mỹ vì văn hóa đó ông nói là xô bồ và nó dễ sa đọa quá nên ông không có thích. Tuy nhiên, ông lại bắt dân mình, ra một chính sách khuyến khích học đường phải học tiếng Anh từ nhỏ tới lớn, cho nên người Mã Lai đang tiến lên từng bước về ngoại ngữ.
[49:35]Vì đây họ cũng học được cái của từ cái đất nước là Singapore, vì Singapore là học song song hai ngôn ngữ: một cái ngôn ngữ của người Singapore, đồng thời một tiếng Anh làm chuẩn. Nhờ vậy mà người Singapore họ có cơ hội để họ làm ăn với người nước ngoài nhiều. Việt Nam mình cũng đang bước trên cái con đường đó. Thì cái mà học ngoại ngữ chúng ta đừng nghĩ là mất thời giờ, hãy nghĩ đó là một cái cách đồng sự. Mà nhất là người Phật tử, mà cao hơn nữa là Tăng Ni, nghĩa là Tăng Ni chúng ta phải học Anh văn thật giỏi, không nói gì hết. Mà đây là một cái chiến lược quan trọng mà Đức Đạt Lai Lạt Ma ổng đã làm được.
[50:12]Khi những người Tây Tạng họ di tản sang Ấn Độ, họ lập cái làng Dharamsala để họ ở với nhau, thì Đức Đạt Lai Lạt Ma đã khuyến khích là những tu sĩ Tây Tạng phải học tiếng Anh cho giỏi. Mà đúng là 10 năm sau, 20 năm sau, thế giới mới thấy cái hiệu quả của cái chính sách đó. Bây giờ các tu sĩ Tây Tạng thoải mái đi khắp thế giới mà truyền đạo. Cái đạo của Mật tông Tây Tạng đúng hay sai thì mình chưa có dám phê bình. Nhưng mà thấy rằng cái hiệu quả họ dễ dàng truyền đạo. Nên vì vậy, trong các cái cái việc về đồng sự, chúng ta cần cái đồng sự về ngôn ngữ. Cho nên trong các trường trung cấp Phật học phải học về tiếng Anh
[50:53]một tuần như vậy hai lần ít nhất, còn nếu mà bốn lần là rất tốt. Chùa cũng phải tự học tiếng Anh, không đợi là gửi cho chúng của mình mà đến trường để học, mà làm sao cái người trụ trì trong chùa phải mời giáo viên tiếng Anh về dạy đều đặn, đều đặn một tuần hai ba lần. Là cái chúng nào mà đi học ở trường thì được học ở trường, chúng nào lớn tuổi hoặc là chưa đi học ở trường thì ở ngay tại chùa cũng đã được học tiếng Anh. Phải làm sao nhanh chóng cải thiện, mình tăng được cái trình độ về ngoại ngữ để sau này tăng ni của mình có cơ hội mà có thể mở mang đạo pháp đi khắp nơi. Vì sao vậy? Bởi vì Phật giáo trên thế giới rất thiếu,
[51:35]rất thiếu, đang rất cần những cái người gọi là cán bộ của đạo Phật đi truyền đạo khắp nơi trên thế giới, mà trước hết là tiếng Anh. Cho nên quý thầy quý cô vậy, phải học tiếng Anh, nếu có cơ hội đi nước ngoài để mình mở mang đạo pháp là điều rất tốt. Hiện nay thì rất là nhiều tăng ni cũng đã đi nơi này nơi kia nơi nước ngoài, đó cũng là một cái hay. Nhưng mà sợ đi ra mình không có gì để dạy người ta, không biết nói tiếng người ta, không có đạo lý để dạy người ta, không có kinh nghiệm thiền quán để hướng dẫn người ta, không biết khí công để chỉ người ta, không có cái tư cách đạo đức để làm người ta tâm phục khẩu phục, thì mình đi ra ngoài thì rất là mắc cỡ.
[52:14]Nhưng mà nếu mình có giỏi về giáo lý nè, mình giỏi về thiền quán, có một tư cách cao, rồi mình giỏi ngoại ngữ nữa, thì đúng là mình đi ra ngoài, mình làm sáng danh cái đạo Phật Việt Nam, thì đây là một điều rất là tốt đẹp. Đó là nhất là tăng ni. Còn những người Phật tử của mình mà biết tiếng Anh cũng rất là tốt. Có những lãnh tụ chính trị rất là khéo đồng sự. Ví dụ như khi họ đi thăm nông dân, thì họ mặc cái quần áo nông dân luôn, họ mặc áo bà ba, rồi đi xuống ruộng cầm cái máy cày cày ruộng với nông dân luôn, hoặc là cày thử con trâu với nông dân. Hoặc là đi ra thăm chiến sĩ mặc quân phục, thấy vậy, chứ không có làm ra vẻ khác lạ.
[52:54]Đây cũng là cái đồng sự. Như chúng tôi có cô Phật tử, cô này thì có cái tâm đạo rất là tốt, hiểu đạo lý cũng sâu, nhân duyên chưa xuất gia được nhưng mà thích xuất gia, thì cô là người thường hay giao lưu gặp gỡ các Phật tử để mà giúp cho mọi người có cái mối quan hệ tốt và giữ đạo tâm với nhau. Nhưng mà hễ mà cô đi đến với cái người nghèo á, thì cô mặc quần áo xuề xòa. Nhưng mà đến với Phật tử giàu, thì bắt đầu đeo hột xoàn, đeo vòng vàng, mặc đồ thiệt là modern vô đi tới. Mà đó là đồng sự, mà điều đó rất là tốt. Mà điều đó thì chúng tôi chưa hề nhắc nha, mà tự cô làm được. Bởi vì sao? Bởi vì như chúng ta nói với nhau lúc nãy, cái bản lĩnh về cái đồng sự hòa đồng á
[53:40]là cái bản lĩnh tự nhiên của một người có trí tuệ, có đạo đức mà bản ngã nhẹ. Nên khi mà bản ngã nhẹ, thì tự nhiên người ta biết phải hòa đồng, phải làm cho giống với những người mà mình đến. Thì trường hợp cái cô Phật tử này cũng là vậy đó. Nhưng mà cũng may là cổ cũng khá giả, nên hễ cần có vòng vàng là có đeo vô liền. Thì mình có thể mình không khá giả nhưng mình cũng bắt chước được, bằng cách làm sao? Bằng cách gì? Mua vàng giả. Đeo vàng giả, hột xoàn giả nó có một cái là lòng mình thanh thản lắm. Sao vậy? Không sợ, có giật giật... giật mất công không làm gì. Có một cái phim của Thành Long, phim Thành Long lại là phim
[54:17]hành động về võ thuật, quý thầy có hay coi không? Các thầy có coi không? Vậy là quý thầy dở chứ chúng tôi luôn luôn coi. Hễ phim Thành Long nào là đem về hết, đem về cho chúng coi hết. Là bởi vì cái phim của ổng có cái vui, mà cái võ thuật mà nó có cái ý về đạo đức nữa, à, lâu lâu coi giải trí mà những cái phim nó không có hại. Trong các phim Thành Long có cái phim là ổng đóng cái vai cảnh sát đi phá án, có một cái bọn tội phạm nó đóng vai một cái giáo phái ở trên núi cao. Cái tội phạm nhưng mà nó đội lốt một cái giáo phái, có những cái giáo sĩ, bọn này thì nó buôn lậu cả ma túy, rồi nó hay về làng là lấy lương thực chở đồ lên vậy, mà cả chở cả gái lên nữa.
[55:01]Thì Thành Long trong cái vai chính đó là phải đột nhập vào đó để phá án, đại khái vậy. Thì lúc mà anh đột nhập vào, thì anh mới đánh ngã một cái tay giáo sĩ, anh mặc cái bộ đồ đó vô. Ỷ mặc đồ rồi nên đi công khai, không còn phải bò trong vách, trong hốc nữa. Anh đi thì gặp một cái tay giáo sĩ thiệt nó đi ngược chiều, thì tay kia mà gặp cái cùng giáo phái với nhau, thì tay kia mới chào, chào một cái là nắm tay để trên ngực ảnh cúi xuống, ảnh nói cái câu gì đó. Còn Thành Long ta thì bị quen ở châu Á đó, cái thấy chào cũng chắp tay: "A mi thò phò", tức là A Di Đà Phật, chắp tay ảnh chào. Thì hai bên cùng chào nhau,
[55:40]đi ngược chiều, đi ngược chiều thì cái tay kia mới giật mình: "Ủa, sao thằng này nó chào lạ vậy?" Cái tay giáo sĩ thiệt đó nó mới đi qua hai ba bước khỏi Thành Long rồi, nó mới nhăn mặt lại. Cái nó quay lại nó nhìn, nó thấy cái lối chào không đúng á, tức là Thành Long lúc đó không có đồng sự được, mà bị phát hiện. Thế là một màn đánh đấm nhau nữa. Ta nhớ như vậy. Mai mốt mà mình đi phá án ở đâu phải chào cho đúng người ta, chứ không phải lúc nào cũng "A mi thò phò" cũng không được. Chúng ta có nghe cái câu mà người ta nói là "Trẻ lên ba cả nhà học nói" không? Có nghe không? Cô giáo dạy văn là chắc có nghe, còn quý Phật tử có nghe không?
[56:14]Đó là lúc mà đứa trẻ nó lên ba á, nó phát âm không có rõ, ngọng ngọng. Mà không hiểu sao cả nhà cũng hay nói ngọng theo cho vui. Có không? Có. Ờ, ví dụ như ăn á thì "ùm" đi con, "ùm", "ùm" không hiểu nghĩa gì luôn. Mà tại sao cả nhà phải nói ngọng theo nó vậy? Tại sao? Thương, phải không? À đấy, cái yếu tố nằm chỗ đó. Đúng không? Mình thương ai mình giống người đó, cho nên bây giờ mấy cái lớp mà trẻ trẻ mà nó ái mộ ca sĩ nào á, hay bắt chước trang phục mà bắt chước kiểu tóc của ca sĩ đó, bởi vì nó ái mộ, thương cái thần tượng của nó. Quý Phật tử có thương quý thầy quý cô không? Thương không? Vậy là đâu có thương gì đâu, nói miệng không, đâu có thương. Nói:
[56:59]"Con thương thầy lắm", thấy không, không có giống gì hết trơn á. Nhưng cũng có, cũng có là nhiều khi cũng bắt chước mặc cái áo vạt khách, phải không, chút đỉnh chút xíu vậy thôi. Nghe hỏi cái sợ liền. Ở Việt Nam mình có cái người miền Huế ngộ lắm. Cái người miền Huế là họ hay có khả năng là đổi cái giọng nói. Gặp người Huế với nhau họ nói giọng Huế, gặp người Bắc nói giọng Bắc, gặp vô miền Nam nói giọng Nam. Cũng là cái khả năng đồng sự mà người Huế thường như vậy, người khác thì ít được. Các miền khác thì miền nào giữ miền đó à, nhưng riêng người Huế họ thích ứng rất là nhạy về cái giọng nói.
[57:36]Bây giờ, đạo Phật mình á, hiện nay mình có hai tông phái chính là Bắc tông và Nam tông, phải không? Mà riêng có cái hệ phái Khất sĩ thì hơi giống bên đây một chút, bên kia một chút, cũng hơi dung hòa. Mỗi hệ phái như vậy mỗi tông vậy có một cái lối lạy Phật khác nhau. Ví dụ như bên Khất sĩ với Nam tông á, thì mình cứ quỳ mà lạy, phải không? Cứ quỳ mà lạy, không đứng lên. Nhưng Bắc tông thì sao, mỗi lần lạy thì thì mình đứng lên, rồi mới quỳ xuống lạy lại. Khi mình đồng sự á, mình đến chùa Bắc tông á, thì mỗi lần lạy mình cũng cũng đứng lên. Nhưng khi mình đến chùa Nam tông, thì sao? Cứ quỳ mà lạy, chứ đừng có đứng lên, phải không?
[58:19]Hoặc là quý thầy mình cũng vậy, mình đồng sự ví dụ như mình là Bắc tông, nhưng khi mình đến cái tịnh xá của Khất sĩ hay mình đến cái chùa của Nam tông, ừ cứ quỳ mà lạy thôi, khỏi đứng lên cũng được. Như vậy đó là một cái cũng thể hiện đồng sự. Còn nếu mình qua bên Ấn Độ, qua Tây Tạng, thì lạy làm sao? Lạy làm sao quý thầy biết không? Nằm, nằm dài luôn. Tức là khi đứng lên mà lạy xuống rồi là nằm xuống, hai cái tay duỗi soải dài, hai chân soải dài, nằm ép mặt, ép ngực xuống luôn vậy là mới đủ biểu lộ lòng tôn kính. Còn nếu mà chưa có dán sát người xuống đất, thì chưa đủ biểu lộ lòng tôn kính ở cái cái phía đó như vậy.
[59:02]Cho nên, trong cái kinh mà chúng ta hay đọc thấy đó là "Năm vóc gieo sát đất", tức là đầu mình tay chân á, gieo sát đất thì mới đủ để biểu lộ lòng tôn kính. Còn mà quỳ như mình, quỳ bằng cái đầu gối với đầu đụng đất thôi, cũng chưa đủ. Thì đây thì thôi, mình cứ tùy ha, đến xứ nào mình làm theo giống như vậy. Cái trong cái tâm lý thế này, ví dụ như khi một người đó họ thuộc cái thành phần khác, họ biết mình là thành phần khác mà thấy mình chịu khó hòa đồng, họ sẽ vui hơn. Ví dụ như là mình là một người đạo Phật cái mình đến gặp cái người bổn đạo Cao Đài. Người Cao Đài họ chào làm sao? À đúng rồi, thầy đã biết á, nắm hai tay lại như vầy nè, nắm tay.
[59:52]Lâu quá quên hồi nhỏ về. Họ biết mình là người đạo Phật, chắp tay chào. Nhưng mà khi mình gặp cái người Cao Đài cái mình nắm tay mình chào, tự nhiên trong lòng họ rất là vui. Tức là biết rằng mình cũng quý họ, mình cũng thương họ, nên mình cũng hòa đồng mình chào cho giống họ, họ vui liền. Tại vì chúng ta phải hiểu cái tâm lý mà nãy cái câu nói mà trẻ lên ba cả nhà học nói đó, mình thương ai, mình mới muốn giống người đó. Cho nên tuy mình đạo Phật mà gặp người Cao Đài mình chào như vậy thì người Cao Đài cũng sẽ vui liền, tại họ biết mình thương họ, quý họ. Đó, cái tâm lý là như vậy. Còn ví dụ như vì trong cái cộng đồng
[1:00:31]có cái nề nếp mà nếu trong cộng đồng đó có con người mà họ cư xử khác đi thì cái người đó chọc giận cả cái cộng đồng. Ví dụ như là trong cái cái cộng đồng của mình ở đây, nhiều đời mình theo đạo Phật. Rồi con cái thì lễ phép với cha mẹ, đi thưa về trình, ăn cơm phải mời, gặp người lớn tuổi là phải biết tôn trọng. Ví dụ đây là một cái văn hóa của cái cộng đồng đó, không thể khác được. Chợt nhiên xuất hiện một cái đứa trẻ nó đi đâu học về, nó về gặp người lớn không chào nó đứng thẳng cười cười thì coi chừng ăn bạt tai. Tại vì là cái... bởi vì dân trong đó không chấp nhận cái cái cái người mà đi ngược
[1:01:16]lại cái văn hóa đẹp đẽ của cái xóm làng, của cộng đồng đó. Hoặc là tới giờ ăn cơm thì phải mời. Dù là có vẻ hình thức, dù là tới giờ ai cũng phải ăn, không mời cũng phải ăn, nhưng mà phải mời để bày tỏ cái sự tôn trọng, cái sự ưu ái, dù là hình thức, phải mời. Mà để vô ăn mà không mời là mọi người trừng mắt nhìn liền, chừng nào mời mới cho ăn. Trong cái cộng đồng mà có cái nề nếp, nếu mà mình không có hòa đồng, mình bẻ gãy cái sự tương đồng thì tự mình chọc giận người ta mà tự mình bị loại ra khỏi cộng đồng đó liền. Nên cái nguyên tắc mà làm cho giống rất là quan trọng chứ không phải là dễ. Tuy nhiên có một cái điều là cái hòa đồng phải có cái giới hạn. Sao vậy?
[1:02:03]Mình không thể bắt chước theo kẻ xấu được. Nói là hòa đồng nhưng mà đừng bắt chước theo kẻ xấu. Ví dụ, ví dụ như là mình quen biết với một số người đó, hôm nọ vô tình đi ngang thì người ta đang nhậu. Mới đầu mình nghe cười nói ồn ào vui vẻ, rồi nghe có người gọi mình thì đúng gọi tên, nhìn lại là thấy toàn trong nhóm bốn năm người đó quen cả, thì mình cũng bước vào mình chào. Thì mình học theo đạo Phật là đồng sự, bước vào nhưng mà vào phát hiện là không phải là họ họ ngồi ăn tiệc bình thường mà đang nhậu. Cái văn hóa nhậu của mình nó gây đau khổ, nghĩa là gây không biết bao nhiêu tang thương,
[1:02:38]chết chóc, đổ vỡ trong cái đất nước này. Cái văn hóa nhậu của mình nó kỳ cục làm sao đâu. Nói không biết có đụng chạm không? Có ai nhậu thì tha thứ cho tôi, tại hạ xin cáo lỗi.
[1:02:52]Khi mình gặp cái nhóm người bạn, nhìn bước lại gần thì mới té ngửa ra họ đang nhậu chứ không phải là họ đang ăn tiệc bình thường. Hồi nãy thì mình tính là tưởng họ ăn tiệc gì bình thường thì mình cũng đồng sự vô mình làm vài tô chơi. Nhưng mà vô gặp nhậu, uống rượu bê tha bậy bạ rồi mặc quần đùi đồ, ôi kỳ quá. Thì mấy cái này không có đồng sự được, mấy cái này không được đồng sự. Mà mấy cái này mình nói một cái lời nào đó nhẹ nhàng chào rồi phải đi. Trong cái mà mình dứt khoát mình bỏ đi, không đồng sự với họ thì họ sẽ hiểu là mình không thích điều này. Thì lúc đó mình chưa có giải thích dài dòng được,
[1:03:29]nhưng mà cái cương quyết mình không có tham gia cái tiệc nhậu, lần lần mình sẽ làm cho họ đổi. Chứ còn nếu mình chiều theo họ, vô cũng: "Thôi mà, anh làm một ly đi mà rồi hãy đi đâu đi. Ly ly nữa đi mà!" Rồi một lát không đi đâu được nữa, làm hết một chai rồi thôi ngồi đó ngả lăn luôn. Cho nên bị lừa, cho nên mình đồng sự cái gì chứ nhậu là không có đồng sự được. Cho nên cái hòa đồng nó có giới hạn. Hoặc là người ta đánh bài, người ta kêu mình vô để mà đánh bài kiểu sát phạt là dứt khoát cái đó không có đồng sự. Cái đó mình phải chẳng những là mình không có đồng sự mà còn phải kêu công an lại bắt giùm người ta nữa cho họ chấm dứt cái tệ đó đi.
[1:04:06]Thấy đánh bài đâu kêu công an bắt đó. Hoặc là có cái nhóm bạn nào mà nó hút chích, hút chích xì ke mà biết phát hiện ra tụi nó hút chích xì ke thì phải cương quyết là báo địa phương lại đưa đi cai nghiện liền, chứ không được để yên. Một người Phật tử biết một người nào đó bị nghiện xì ke mà không báo địa phương tới quản lý đưa đi cai nghiện, mình mang tội đó, mang tội. Vì sao vậy? Cái người nghiện nó bị lây, lây nhanh hơn si-đa. Tại sao lây nhanh hơn si-đa? Bởi vì cái tiền mua ma túy rất là mắc nên cái người mà hút chích lâu họ không làm gì ra tiền thì không bao giờ có tiền lâu dài để tiếp tục hút chích.
[1:04:52]Họ phải làm sao để có tiền? Làm sao? Không phải, ăn trộm cũng không ăn trộm được nhiều đâu. Bán! Mà muốn bán có người mua thì phải làm sao? Phải rủ người ta để cho người khác nghiện mình mới bán được. Cho nên hễ một người nghiện thì lập tức nó sẽ tìm cách gây thêm năm mười người khác nghiện để để nó bán mà có lời và nó hút chích tiếp. Cho nên nó lây cái tỉ lệ nó theo cái theo cái cấp số nhân nó lên rất nhanh, lên rất là nhanh và nguy hiểm cho cái xã hội vô cùng. Do đó một cái việc thiện của một người Phật tử là thấy đâu bán là phải tố, thấy ai nghiện là phải báo để ngăn chặn cái tệ nạn cho xã hội.
[1:05:37]Mà phải dứt khoát nha, phải làm cho mạnh mẽ chứ không có nương tay à. Nên có những cái mà chúng ta không có hòa đồng, không có đồng sự mà phải cứng rắn thuyết phục những cái người xấu đó thay đổi theo mình. Ví dụ như mình có những người bạn họ hay nhậu thì những lúc mà họ tỉnh, họ không nhậu mình ngồi nói chuyện với họ về đạo lý, khuyên họ bỏ rượu, làm những điều phước. Để dành thời gian và tiền bạc đó làm những điều phước, bởi vì một tiệc nhậu mấy trăm ngàn có khi anh giúp được một người đó họ sống, mua được sáu mươi ngày gạo. Cho nên nhậu làm chi, vừa mang tội, mất tư cách mà không có phước.
[1:06:15]Có những điều chúng ta phải cương quyết mà có khi mình cương quyết quá người ta theo mình thì mình làm được những điều phước. Người Phật tử mình có một cái nhược điểm thế này là mình không cứng rắn chuyển người khác theo mình mà thường là thụ động, im lặng. Chúng ta để ý coi, kể cả quý thầy, quý cô mình cũng vậy, người Phật tử mình cũng vậy, mình hay bị một cái nhược điểm rất lớn là thụ động, im lặng trước cái sai của người khác. Thấy người khác sai, mình hay tránh mất lòng bằng cách là im lặng không nói gì, đâu có ngờ cái im lặng đó là mang tội. Cho nên từ đây về mình phải cứng rắn. Khi thấy người khác sai, cố gắng mình nói người ta
[1:06:57]để giúp cho người ta vượt qua, nói bằng cách nào đó người ta vẫn thương mình mà người ta thay đổi, như vậy. Mà quan trọng nhất là những Phật tử trẻ đó. Cái Phật tử lớn coi vậy chứ ổn định, cái người xấu họ bớt từ từ. Cái người lớn tuổi thường là điềm đạm, chững chạc. Cái xấu, cái sôi nổi, cái bồng bột nằm nơi lớp trẻ. Cho nên cái người mà Phật tử trẻ phải có bổn phận là chuyển hóa các bạn mình. Chớ thường cái tội lỗi hay sinh ra từ nơi lớp trẻ. Ví dụ như trong cái nhóm đó sáu đứa chơi với nhau, chỉ cần một đứa hư là năm đứa còn lại hư liền. Tại vì trẻ tuổi dễ bị dụ dỗ. Cái đứa mà nó hư á thì nó lại quyết tâm, nó lại cứng rắn, nó lại lì, nó lại bướng.
[1:07:42]Cái đứa ngoan á thì lại là rụt rè, nhút nhát, đúng không? Đứa ngoan thường là rụt rè, nhút nhát mà đứa nó xấu á thì nó bướng và bướng cho nên nó mạnh mẽ, nó lôi kéo năm đứa còn lại đi theo nó quậy phá, hư luôn. Cho nên người Phật tử trẻ phải thay đổi. Cha mẹ mình có con trẻ mình phải dạy con mình. Con chơi với bạn mà con thấy bạn con có cái tật xấu nào đó, con phải quyết tâm khuyên nó bỏ. Ví dụ nó chửi thề, con phải nói làm sao nó chấm dứt cái chửi thề. Là ví dụ như nó lén coi mấy cái phim đồi trụy, con phải khuyên nó chấm dứt cái việc mà coi phim đồi trụy. Ví dụ con thấy nó thích đánh bài, con phải khuyên cho nó chấm dứt, bỏ đánh bài.
[1:08:24]Tức là người Phật tử của mình á lúc này là phải mạnh dạn không có đồng sự. Cho nên đồng sự có giới hạn, mà có những lúc là phải đi ngược lại hoàn toàn để lôi kéo những người xấu trở lại, điều đó lại có công đức. Chứ còn cái đồng sự dễ mà nhiều khi trở thành nhu nhược và thụ động, nên cái đồng sự, cái hòa đồng có cái giới hạn. Hoặc là người Phật tử mình làm công chức, công chức trong cơ quan á thường hay có cái tệ là kéo bè kéo cánh để làm điều sai thì cái người Phật tử mình á phải không có đồng sự điều đó, phải dứt khoát không có hùa theo cái bè cánh nào đó để mình tìm một cái chỗ đứng rồi để cùng làm điều sai hoặc là cùng tham nhũng.
[1:09:06]Điều đó là đạo lý không cho phép mà luật pháp cũng không cho phép. Mặc dầu trước mắt là có thể mình bị yếu thế, bị đè, bị này kia nọ, nhưng mà hãy tin rằng là cái phước của mình một ngày nào đó sẽ cứu mình. Chứ có nhiều người nói: "Bây giờ mà không hùa theo họ, họ loại trừ mình liền, sống không nổi." Thật ra vì tâm mình đã bị khiếp nhược, đã nhu nhược và yếu đuối, chứ nếu nhiều người cùng cứng rắn không theo kẻ xấu thì kẻ xấu phải thay đổi. Cho nên đây là cái dứt khoát không có đồng sự mấy cái xấu này. Hoặc là trong đạo Phật nha cũng vậy, tuy nói là đạo Phật chứ chúng ta thấy không phải ai cũng hiểu đúng đạo Phật đâu.
[1:09:47]Có nhóm này, có nhóm kia rồi nhóm hiểu theo cái đạo lý này, cái nhóm hiểu theo đạo lý kia. Và có những đạo lý chuẩn xác và có những đạo lý cũng không chuẩn xác. Nên nhiều khi mình sợ mất lòng mình không dám nói gì, thôi ai tu sao tu, hoặc là "ai tu nấy biết, ai ăn nấy no" vậy đó, "ai tu nấy chứng". Cái câu nói đó cũng rất là vô trách nhiệm. Thế mình phải có cái biết chuyển hóa, khi mình thấy người huynh đệ mình không có phải đi con đường chuẩn của đạo Phật, mình phải khuyên người ta lánh ra, đi trở lại, đừng có sa đà. Ví dụ mình thấy người huynh đệ mình theo đạo Phật, bỗng nhiên có hôm tự nhiên họ thờ mẫu, lên đồng là mình phải dứt khoát
[1:10:28]cứng rắn lôi họ lại, kéo họ lại, giải thích họ lại chứ đừng có buông họ đi luôn. Buông họ đi luôn là mình cũng mang tội nữa. Mấy cái đó không có đồng sự. Hồi nãy đó, chúng ta kể chuyện một trường hợp người phật tử, một cái cô phật tử khi mà cô đến nói chuyện với người giàu thì cô ăn mặc sang trọng, đeo vòng đeo vàng. Bây giờ mình không phải là một người có vòng có vàng mà không phải có đồ sang trọng thì đối với cái người giàu thì sao? Đây cũng là một bài toán của đồng sự. Trường hợp ví dụ như mình không giàu, mình dường như khó có thể đồng sự với người giàu, phước không bằng nhau không đồng sự nổi.
[1:11:11]Người giàu muốn đồng sự với người nghèo thì được. Mình chỉ cần thay bộ đồ là đi xuống đồng sự với người ta. Nhưng mà người nghèo muốn đồng sự người giàu rất là khó, là vì cái cách sống người ta, cách tiêu xài người ta mình theo không nổi. Mấy cái đó không đồng sự được, mà mình ráng bắt chước thì nó sẽ rơi vào cái gì? Cái bệnh là bệnh bệnh học làm sang, phải không? Cái bệnh học làm sang thì nhìn vô là dòm thấy nó trơ trẽn và tức cười. Đó! Thà mình cứ ở yên, bình thản trong cái thân phận của mình, vậy mà người ta nể. Ví dụ cái người đó họ giàu, mình không giàu. Mặc dù là Phật dạy mình phải đồng sự,
[1:11:53]nhưng mà trong trường hợp cái phước mình ít hơn người ta, mình đồng sự không được thì mình cứ bình thản trong cái thân phận của mình. Mình giữ đạo lý của mình, giữ cái tư cách của mình, không cần phải bắt chước người giàu, vậy mà người ta nể mình. Tới chừng nào một ngày nào đó mình giàu lên thì mình cũng sẽ đồng sự với người ta, mình sẽ đồng sự đưa Phật pháp đến với người ta, còn bình thường thì mình không có để rơi vào cái bệnh là học làm sang. Có những trường hợp mà khác lạ mà lại làm người ta thích. À! Hồi nãy chúng ta nói cái tâm lý là giống người ta, người ta thích, nhưng có những trường hợp khác lạ làm người ta thích.
[1:12:33]Ví dụ có một lần lên chùa chúng tôi vậy, có hai cô phật tử ở bên Lào cổ tìm qua cổ thăm thì cổ mặc đồ theo người người Lào là quấn cái xà rông á, quấn cái váy, cái váy dài, họ cứ quấn vậy thôi. Mà tự nhiên mọi người lại rất là thích. Tại nào giờ mình quen mặc quần ống rồi đó, tự nhiên mình thấy cái người mà quấn xà rông lên chùa cái mình lại thấy thích, là cái khác mà lại thấy làm cho mọi người thích như vậy. Chứ không phải là khác mà kỳ cục người ta không thích đâu nha. Khác nhưng mà nó đẹp, nó hay hay nó có cái gì nó lạ, nó cổ truyền, nó quý hiếm vẫn làm thích. Ví dụ bây giờ vậy, trong bao nhiêu con người chúng ta ngày
[1:13:14]nay là tóc model hết, uốn hết, bỗng có người vẫn giữ chặt cái đầu tóc bới, mọi người khác tự nhiên sẽ thích. Thử đi thử giờ bới tóc đi. Ở đây có ai bới tóc không? Nè, được một hai cụ nè. Đó, đó là đồ cổ quý hiếm chứ không phải dễ đâu. Hoặc là ví dụ vậy, ví dụ như là một thầy mình đi vào một cái xóm làng đó họ chưa biết đạo Phật, chưa biết tam quy ngũ giới, Phật pháp là gì hết, mà quý thầy mình mặc cái áo tràng đà, mình bước vào cái xóm đó mình đi thăm hỏi. Đến nhà người này mình thăm hỏi, kia thăm hỏi để mình gieo duyên mà, để coi tại sao cái xóm này chưa có ai tới độ, sao mà tại sao cả làng này không ai biết đạo Phật hết.
[1:13:57]Vì cái lý tưởng độ sinh mình phải đi tới. Nhất là nghe cái xóm nào mà chưa biết đạo là càng phải đi tới nữa. Nhưng mà khi đi tới như vậy không có phải là quý thầy mình đồng sự mà vẫn phải mặc bộ đồ thầy tu phải không? Mặc bộ đồ thầy tu mà càng lạ chừng nào nhiều khi làng dân họ thích chừng nấy. Họ kéo ra coi ngộ ha, có cái ông trọc đầu mặc đồ kỳ quá, ra coi coi là sao. Thế mà khi mà ra thì không ngờ là thầy mình nói chuyện điềm đạm, đạo đức, từ bi, sâu sắc, cái thấy họ thích rồi lần lần mình gieo duyên để mà giáo hóa đạo Phật, vậy thấy không? Đó! Thì có những cái lạ mà làm người ta thích chứ không
[1:14:32]phải luôn luôn là phải giống người ta thích đâu. Nhưng mà cái lạ đó nó phải bảo đảm nó có cái giá trị về đạo đức, về nội tâm, về trí tuệ, à chứ không phải lạ mà kỳ cục người ta thích. Ví dụ như là nào giờ mà thấy người ta vẽ hai cái lông mày hai bên á, cái mình cạo mất một cái, mình vẽ một cái cho đậm thôi, như vậy. Lạ mà nó không có cái giá trị về mỹ thuật, về trí tuệ, về đạo đức thì người ta không thích. Có những cái giá trị mà mọi người đã tôn trọng thành như là một cái chân lý thì chúng ta không được làm khác, vì làm khác là người ta ghét liền. Như nãy chúng ta nói, ví dụ như lòng hiếu thảo là con cái phải
[1:15:15]phải thương yêu, quý trọng, đỡ đần, nuôi dưỡng cha mẹ mình thì đó là cái đạo lý bất biến, không thể sai được. Có nhiều quốc gia họ không có cư xử theo lòng hiếu thảo nhưng họ vẫn tôn trọng cái đạo lý đó. Người Việt Nam có sẵn thì cái đạo lý hiếu thảo này phải được nuôi dưỡng hoài, mà trong cái cộng đồng đó nếu có người con bất hiếu thì sẽ bị lên án liền. Đó, có những cái điều mà không thể khác. Hoặc là ví dụ như sự chung thủy giữa vợ chồng vậy thì đó là một cái đạo lý đẹp mà nước nào cũng phải công nhận, và ai làm khác đi sẽ bị phê phán, bị lên án liền. Hoặc ví dụ như là lòng yêu nước, đó vẫn là một cái đạo
[1:15:56]lý đẹp muôn đời mà không ai có thể nói khác đi được. Ví dụ có thể là cái nước khác á họ giàu hơn mình, họ mạnh hơn mình, họ đẹp hơn mình, họ văn minh hơn mình, đất nước mình có thể nghèo hơn nhưng mà mình vẫn yêu thương đất nước mình hơn. Cái đạo lý về cái tình yêu nước là không thể thay đổi được. Mà nếu ai vì thấy cái đất nước mình nghèo mà bỏ cái tình yêu nước đi, không yêu nước mình nữa mà yêu một cái đất nước giàu hơn, mạnh hơn thì cái con người đó không có đạo đức, không có đạo lý. Nên đây là những điều mà chúng ta phải khẳng định, những điều không thể thay đổi được. Khi mà chúng ta nói về cái Tứ Nhiếp Pháp thì chúng ta nhắc tới bổn phận,
[1:16:40]hôm qua chúng tôi có nói hôm nay nói lại, là khi một người đệ tử Phật chúng ta trông thấy một cái xóm nhà, một cái nhóm người mà chưa biết Phật pháp, chúng ta phải lân la, hòa đồng, tiếp cận để giới thiệu Phật pháp vì đó là lý tưởng. Nhớ cái lý tưởng sống của người đệ tử Phật mình là ở chỗ này, chứ không phải là mình chỉ tìm đến cái ngôi chùa đâu. Không phải cái con đường đi của mình chỉ là từ nhà đến chùa, hoặc là từ nhà đến sở làm, đến chợ, đến trường, rồi về nhà, rồi tới chùa, không có. Cái bước chân đi của người đệ tử Phật của mình nó phải đi về những nơi chưa có Phật pháp. Đây là lý tưởng, nhất là quý thầy quý cô.
[1:17:22]À quý thầy quý cô á thì phải đặt chân trên nhiều cái nẻo đường, mà những nẻo đường nào chưa nghe có tiếng niệm Phật, chưa nghe có những người biết nhân quả thì quý thầy quý cô phải đặt chân tới trước để tìm hiểu. Rồi tùy duyên, có thể là trực tiếp mình sẽ đến đó hoặc là nhờ quý cư sĩ đến đó tìm hiểu trước. Trước hết là chúng ta phải đồng sự rồi sau đó chúng ta sẽ giáo hóa. Đồng sự là sao? Là mình phải tìm hiểu cái ngôn ngữ, tập quán, cái văn hóa của đời sống của cái nhóm người đó, của cái xóm làng đó, rồi từ từ chúng ta sẽ đến với họ. Mà muốn như vậy mình phải làm quen với một hai người trong cái xóm đó cái đã.
[1:18:08]Làm quen để biết, khi biết trước rồi mình sẽ đàng hoàng mình đến để mình nói chuyện với họ, rồi mình tìm cách là giúp đỡ họ theo cái bố thí, cái lợi hành, rồi gây cảm tình rồi đem Phật pháp đến. Nên nhớ như vậy, cái bước chân của người đệ tử Phật phải đi trên mọi nẻo đường mà nhất là những nơi mà chưa có Phật pháp thì mình càng phải tìm tới cho nhiều, chứ không phải là cái đường đi mình chỉ có từ chùa đến nhà, nhắc lại như vậy, và phải xem lại trong cuộc đời của mình. Ví dụ như mình chỉ đi từ chùa tới nhà thì mình không có đi đúng lời Phật dạy. Mình phải đi ra những chỗ khác, những nơi mà chưa biết Phật pháp để mà đem Phật pháp đến cho họ.
[1:18:50]Chúng tôi nói câu này chúng tôi nhìn những người phật tử bên đây, những người lớn tuổi bên đây, tại những người phật tử nhiều người rơi vào cái thụ động, chỉ biết chùa và nhà. Nhưng mà ngày nay phải khác đi, chúng ta học theo Tứ Nhiếp Pháp của Phật, chúng ta phải biết cái hạnh đồng sự là tìm đến những nơi chưa có Phật pháp, hòa đồng với họ, gieo rắc cái duyên với họ, rồi giáo hóa Phật pháp. Phải kiểm điểm ngày hôm nay là cuối mùa hạ, sang năm sẽ cuối mùa hạ một lần nữa là một năm sẽ trôi qua, chúng ta coi coi mình có làm được điều này hay không. Chúng ta có đi về một nơi mà có người chưa biết Phật
[1:19:30]pháp để đem Phật pháp đến với họ hay không. Một năm nữa hẹn nhau ha, hẹn gặp lại, coi có độ được hay không nha. Hay một năm sau hỏi lại cũng chỉ đi từ chùa tới nhà thì đây là một điều làm cho mọi người thất vọng nha. Còn quý thầy mình sẽ sao? Sẽ có nhiều thành tích nha, sẽ nhiều thành tích đi về những nơi mà nhiều người chưa biết Phật pháp. Thế mà lỡ mình đi tới những nơi mà gặp có tôn giáo khác rồi thì sao? Hả? Ví dụ mình đến cái gặp cái xóm đó họ theo đạo Thiên Chúa hay Tin Lành hết rồi thì sao? Thì có phải đi ra không? Đi gặp những cái nơi mà họ đã theo tín ngưỡng khác, ví dụ như là Thiên Chúa, Tin Lành thì mình càng phải tới lui nhiều hơn nữa.
[1:20:15]Nhưng mà nhớ mặc áo giáp chống đạn thôi, nhưng phải đi vô nhiều hơn nữa. À vì sao vậy? Là bởi vì thứ nhất, chúng ta rất là thương yêu tôn giáo bạn. Ví dụ cái người đó họ không thờ Phật, họ thờ Chúa à, mà cái quan điểm của chúng ta cũng như quan điểm mà đại đoàn kết dân tộc là dù khác tôn giáo vẫn phải là là đoàn kết, hòa hợp. Bởi vì sao? Bởi vì cái sự đoàn kết của toàn dân tộc Việt Nam, chúng ta không để cái sự chia rẽ xảy ra, vì lý do tôn giáo mà người Việt Nam chia rẽ với nhau. Do đó là khi thấy một cái xóm làng nào đó hoặc là một cái số người dân tộc họ theo đạo Tin Lành hay theo đạo Thiên Chúa thì chúng ta càng phải đến với họ,
[1:21:01]vì thứ nhất chúng ta thương yêu tôn giáo bạn, đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai là chúng ta cũng muốn giới thiệu cho những người của tôn giáo bạn biết thế nào là Phật pháp. Dù họ đã thờ Chúa rồi nhưng mình vẫn đến nói, mình không có cái ý là giành tín đồ, không có ý để mất lòng như vậy, nhưng mình vẫn tìm cách để giới thiệu họ về Phật pháp là thế này là luật nhân quả, và có những điều cũng trùng với lời Chúa dạy như Chúa nói: "Các ngươi phải gặt những gì mà các ngươi đã gieo". Mình mới nói với họ trong đạo Phật nói về điều này rất nhiều, triển khai mình đào sâu thêm. Đó. Mình nói tới một ngày nào đó hoặc là họ phải theo đạo Phật hoặc là họ phải đánh
[1:21:45]mình ra, văng ra khỏi cửa, hai cái sẽ có một cái, nhưng mà cứ nói hoài. Có một lần vậy, chúng tôi lúc mà lên núi trồng rừng thì cái trồng rừng cực nhất á là bảo vệ. Tại người dân họ hay lên họ chặt cây lắm. Cho nên việc bảo vệ rừng rất là vất vả, mà cái người mà chặt rừng nhiều á là cái dân ở dưới làng, mà dân dưới làng là một xóm đạo. Cho nên trong cái việc mà để bảo vệ rừng, chúng tôi phải vận động cả nhà nước, vận động báo chí và vận động cha xứ luôn. Trong bức thư mà gửi cho ông cha xứ, chúng tôi đã đồng sự chúng ta đã dùng cái ngôn ngữ của của Thiên Chúa giáo để nói chuyện với cha xứ, để nhờ cha xứ nói con chiên đừng có lên mà chặt phá rừng của chùa nữa.
[1:22:31]Bức thư dài trong đó có một câu chúng tôi nhớ mà ổng cha ổng thích quá. Ổng đọc cái bức thư đó ra trước nhà thờ trong ngày lễ Chúa Nhật để mà dặn con chiên không được lên trên trên chùa phá rừng nữa. Câu đó như thế này là: "Chúng ta không được phép phá hủy những gì mà Chúa đã tạo dựng." Thì rừng là cái Chúa tạo dựng, mà nói theo họ, Chúa tạo ra mọi thứ á, con người, con ngỗng, con vịt, trâu bò Chúa cũng tạo, rừng Chúa cũng tạo ra. Chúa đã tạo rồi mà sao con chiên Chúa cứ đi phá riết rồi chịu không thấu vậy đó, nói vậy. Không ngờ ông cha ổng khoái câu đó, cái ổng đọc bức thư lên và ổng dặn Chúa không được lên phá Phật nữa.
[1:23:09]Nhờ đó mà cũng bớt phá rừng đi rất là rõ. Đó là một cách chúng ta đồng sự về ngôn ngữ, theo cái ngôn ngữ họ hiểu, họ tin như vậy mà cũng được cái việc là bớt được cái phá rừng. Thì chúng ta cũng vậy, chúng ta sẽ đến với những người tôn giáo bạn à chúng ta nói những ngôn ngữ họ hiểu. Rồi sau đó từ từ mình đưa đạo Phật vào, mình giới thiệu đạo Phật để chi vậy? Để cho tôn giáo bạn, ví dụ như là họ có mến Chúa yêu người gì đó không biết, nhưng họ phải thấy đạo Phật là hay. Để chi vậy? Để họ không được chia rẽ với đạo Phật. Đến chi vậy? Để cho đất nước Việt Nam này không phải vì tôn giáo mà người dân Việt Nam chia rẽ với nhau. Vì sao vậy?
[1:23:54]Bởi vì nếu người Việt Nam mình chia rẽ với nhau vì vì lý do tôn giáo thì ngoại bang họ sẽ chen vào, họ phá hoại đất nước mình liền. Cho nên do đó, cái người đệ tử Phật mình bước chân trên mọi nẻo đường, nơi nào chưa có Phật pháp, mình đến gieo rắc Phật pháp cho họ biết. Nơi nào đã có tôn giáo bạn, chúng ta càng phải đến để giới thiệu Phật pháp đến với tôn giáo bạn. Đến chi vậy? Để cho đất nước chúng ta sống với nhau trong cái hòa bình, yên vui, không có chia rẽ. Bây giờ ví dụ một người Phật tử lớn tuổi, mình gặp một người Phật tử thiếu nhi, mình muốn hòa đồng, nhiều khi trẻ chưa biết gì về Phật
[1:24:34]pháp thì người lớn mình mình phải biết chơi đùa, hỏi han, à vui vẻ rồi sau đó mình giải thích về Phật pháp cho các trẻ nghe. À ví dụ mình nói về nhân quả đừng có dùng ngôn ngữ người lớn, đừng có nói là: "Đối với nghiệp thiện ác mà chúng ta đã gây tạo thì một kiếp nào đó chúng ta phải nhận lại quả báo khổ vui." Nói câu này em bé nó không hiểu. Phải nói cái cụ thể, nói nếu mà con đánh bạn con, mai mốt sẽ có người đánh lại con, câu đó dễ hiểu. À nếu con giúp, con cho cái người nghèo một ít tiền thì sau này tự nhiên con sẽ dễ có người cho con tiền. Hoặc là nếu mà con cho bạn con cái tập vở để bạn con có vở học thì sau này con sẽ được học giỏi.
[1:25:23]Đó những cái câu nhân quả phải nói như vậy, chứ đừng nói lý thuyết quá cao siêu. Đó, đó là đồng sự với trẻ để mà hướng dẫn trẻ ngoài những cái mà mình chơi vui khác. Còn gặp người cụ già vậy, người cụ già thì cái lo lắng về cái gì? Lo lắng là về sức khỏe, già rồi hay bệnh, rồi già rồi lo cái chết sắp tới thì mình phải nói chuyện về những điều đó, phải nói về bệnh tật, về dưỡng sinh, rồi lần lần nói qua cái chết, chết chưa phải là hết. Chúng ta theo nghiệp của mình, chúng ta sẽ về ở một nơi nào đó. Từ từ bắt đầu nói về nhân quả đầy đủ rồi, cái cụ đó nghe xiêu lòng rồi thì dụ đi tới chùa Đại Giác, ví dụ vậy.
[1:26:06]Với người nghèo thì mình phải cư xử bình dân, ăn mặc đơn giản và giúp đỡ, quan trọng phải giúp đỡ. Cái người khó khăn hơn mình mình phải giúp đỡ rồi mới nói chuyện đạo. Chứ không phải là tới mỗi lần lại cái ngồi uống hết nước trà của người ta mà không không có chịu gì giúp người ta rồi đi về, mai mốt người ta thấy mình người ta trốn mất. Nói trời ơi, nấu bình trà cực quá ổng ngồi ổng uống nói chuyện tào lao đâu không, không nghe gì hết trơn.
[1:26:48]Đêm qua lại một đêm trôi qua, lòng vẫn nhớ hoài về cha.
[1:26:56]Bao năm nhọc nhằn gian nan, hy sinh suốt đời cho đàn con. Cha vẫn luôn dạy dỗ chúng con, sống sao nghĩa tình trước sau. Lúc con ốm đau, người đêm trắng đêm, mắt sâu thâm quầng chăm lo.
[1:27:24]Nhớ hoài ngày tháng thơ dại, bên mái tranh nghèo đầy tình thương. Nhớ hoài hình bóng cha già cho con sưởi ấm đêm trường đê. Bóng cha già nay đã khuất xa về cuối nẻo đời. Mất cha rồi con mới hiểu, không đau thương nào xót xa hơn. Những ân tình con không biết sao để viết thành lời. Hỡi cha hiền, cha có hiểu, con thương cha nhiều lắm cha
[1:28:19]ơi.
[1:28:44]Đêm qua lại một đêm trôi qua, lòng vẫn nhớ hoài về cha.
[1:28:52]Bao năm nhọc nhằn gian nan, hy sinh suốt đời cho đàn con. Cha vẫn luôn dạy dỗ chúng con, sống sao nghĩa tình trước sau. Lúc con ốm đau, người đêm trắng đêm, mắt sâu thâm quầng chăm lo.
[1:29:20]Nhớ hoài ngày tháng thơ dại, bên mái tranh nghèo đầy tình thương. Nhớ hoài hình bóng cha già cho con sưởi ấm đêm trường đê. Bóng cha già nay đã khuất xa về cuối nẻo đời. Mất cha rồi con mới hiểu, không đau thương nào xót xa hơn.
[1:29:52]Những ân tình con không biết sao để viết thành lời. Hỡi cha hiền, cha có hiểu, con thương cha nhiều lắm cha ơi.
[1:30:08]Bóng cha già nay đã khuất xa về cuối nẻo đời. Mất cha rồi con mới hiểu, không đau thương nào xót xa hơn. Những ân tình con không biết sao để viết thành lời. Hỡi cha hiền, cha có hiểu, con thương cha nhiều lắm cha ơi. Bóng cha già nay đã khuất xa về cuối nẻo đời.