Transcript: Giáo Giới Cho Giới Tử Tăng - Đại Giới Đàn Đắc Pháp

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 56:23

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:30]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Một ngày, một cái ngày quan trọng trong cuộc đời của các giới tử, bởi vì các thầy được bước lên thêm một cái tầng giới pháp nữa để trang nghiêm tự thân mà tu hành chứng đạo.

[0:53]Thực ra, để cho Phật pháp trường tồn, chúng ta cần bốn điều. Thứ nhất, có những người tu chứng được Thánh quả, ít nhất cũng từ Tu Đà Hoàn tới Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán. Tức là còn có người tu chứng thì đạo Phật còn tồn tại. Còn nếu không ai tu chứng hết thì đạo Phật có nguy cơ bị suy tàn, hoại diệt. Yếu tố thứ hai để cho Phật pháp trường tồn là Tăng Ni giữ gìn được giới hạnh nghiêm túc, có đạo đức, có phẩm hạnh, có oai nghi. Yếu tố thứ ba là Tăng Ni là những người giáo hóa giỏi, biết hoằng pháp, biết độ sinh. Vì nếu một đạo Phật mà không có người biết hoằng pháp, độ sinh thì đúng là đạo Phật cũng sẽ suy tàn, vì không có không có

[2:00]môn đồ, không có đệ tử, không có người nối tiếp. Và yếu tố thứ tư là cần phải ý thức hộ pháp, là bảo vệ đạo pháp. Ý thức này cũng quan trọng. Từ xưa đến nay đạo Phật chúng ta cứ thường xuyên bị chống phá hoặc công khai hoặc ngấm ngầm, mà người đệ tử Phật chúng ta nhiều khi ngây thơ không hiểu hết, vô tình ta bị ta bị rơi vào cái âm mưu chống phá nếu ta không có cái ý thức hộ pháp. Nên trong bốn cái điều để cho Phật pháp trường tồn đó, một là phải tu cho chứng, hai là giới luật phải nghiêm túc, ba là phải biết giáo hóa, bốn là phải biết hộ pháp, thì giới đàn này là một trong bốn yếu tố đó, nhấn mạnh về giới luật.

[2:50]Đưa quý thầy lên một cái tầm, lên một tầng bậc giới pháp nữa để cho các thầy phải xác định lại cái phẩm hạnh của mình, để cho các thầy xác định lại cái lý tưởng tu hành của mình, để cho các thầy gánh lên vai mình cái trách nhiệm nhiều hơn đối với đạo pháp. Thường thì là khi người tín đồ, Phật tử họ nhìn các thầy, các cô thì họ sẽ

[3:24]thường hay đánh giá thầy, cô tu lâu chưa, giới luật gì, giới phẩm gì, giáo phẩm gì để họ phân trong tâm họ ra cái niềm kính trọng. Vì nhìn thì không biết ai chứng quả hay không, cho nên cứ dựa vào hình tướng là cái giới phẩm để đặt cái niềm kính trọng. Thì khi quý thầy mà mình lên được một mức giới, nghĩa là mình bước thêm một tầng bậc trong cái cái cái tầm kính trọng của mọi người,

[3:56]nó cũng là một cái sự khuyến khích, nhưng thực sự nó cũng là một cái trách nhiệm. Khi chúng ta nhận lãnh thêm một tầng giới pháp, nghĩa là chúng ta nhận lãnh thêm một tầng trách nhiệm đối với đạo pháp, chứ đừng có lấy cái cái góc cạnh mà được người ta cung kính mà mình mừng, phải thấy đây là trách nhiệm, bởi vì đây là lý tưởng sống của ta. Đạo pháp là con đường ta đã chọn, sống chết gì cũng chỉ trong đạo mà thôi. Và càng bước, càng lúc khi cái đạo hạnh ta đã đủ, Bổn sư ta cho phép thì ta nhận thêm, lãnh thọ thêm giới pháp có nghĩa là lãnh thọ thêm trách nhiệm với Phật pháp, chứ không phải ta cầu cái sự cung kính,

[4:51]cúng dường của người khác. Nhớ như vậy, nhận lãnh giới pháp tức là nhận thêm cái trách nhiệm. Cái việc mà tu chứng thì thật là khó phân định, khó đánh giá, nên ta cứ hay dựa vào giới luật để phân hạng, thì thôi cũng chỉ tương đối mà thôi. Có cái sự chứng quả thì một cái vị Thánh, một vị Thánh Tăng đó tự nhiên có cái sức mạnh nội tại, có thể thuyết phục, có thể cảm hóa được chúng sinh, đó là điều chúng ta không có tránh khỏi. Hễ một vị nào mà đắc đạo, tự nhiên vị đó có cái nội lực kỳ lạ, mà khi ta đứng trước mặt vị đó, ta bị xúc động, ta cung kính, ta vâng lời, ta thừa sự. Nên hễ mà còn có những vị chứng đạo thì Phật pháp còn tồn tại.

[5:50]Khi ta xuất gia, tất cả ước mơ của ta, tất cả tâm tư của chúng ta phải làm sao cho đắc đạo, đó là điều hiển nhiên như vậy. Đó là cái thứ nhất, đó là yếu tố quan trọng nhất để làm cho Phật pháp trường tồn. Yếu tố thứ hai là yếu tố của giới luật. Khi Phật tử người ta nhìn vào cái màu áo của các thầy, cạo cái tóc, mặc áo cà sa, tức là chúng ta tuyên bố với mọi người rằng chúng ta là những người có đạo đức, có giới, có luật, có phẩm hạnh, có sự thúc liễm, không làm gì sai. Khi chúng ta mặc bộ đồ này là ta tuyên bố như vậy, không có viết cái chữ trước ngực tôi là người đạo đức, nhưng cái áo này thay lời muốn nói tôi là người đạo đức.

[6:44]Và khi tất cả mọi người, quần chúng, chúng sinh bên ngoài nhìn thấy các thầy mặc cái áo này, một là họ có cái niềm tin các thầy là người có giới luật, có phẩm hạnh, có đạo đức và có nhiều cái kinh nghiệm tu tập đạo đức để có thể dạy cho họ. Vì bên ngoài nhiều cái khổ đau, phiền muộn, phức tạp, rắc rối, gian dối, xấu xa, bạc ác, nhưng mà nơi những người mặc cái bộ đồ này vào là những người vượt qua những cái thường tình đó của thế gian, là những người có thể có kinh nghiệm phân tích, chia chẻ, chỉ dạy cho người đời họ họ được đi theo để họ bớt sai lầm và bớt cái cái tội lỗi của họ. Đầu tiên họ đặt cái niềm tin, nhưng cái thứ hai họ nghi.

[7:43]Nhìn ông thầy vậy không biết ổng có đàng hoàng không, thời nay là như vậy. Nên khi một người họ nhìn thấy các thầy trong cái áo cà sa, trong cái tăng tướng thì họ có cái niềm tin, họ có niềm hy vọng để họ có được cái nơi nương tựa, nhưng không tránh khỏi trong đầu họ có sự nghi ngờ. Và khi họ nghi ngờ thì họ xét nét các thầy. Thầy thì cái lời ăn, tiếng nói, cử chỉ, đi, đứng có nghiêm trang, tề chỉnh, đàng hoàng, thanh tịnh và trong sạch hay không. Nếu sau một thời gian tiếp xúc, họ thấy rằng các thầy mỗi một lời nói đều đàng hoàng, mỗi một lời xưng hô đều cẩn thận, dù là gặp những người thân không bao giờ mình

[8:32]có cái lời xưng hô bỗ bã, kiểu dung tục, mà nói những lời nào đó nó ý tứ cẩn thận, không nói những lời thừa, không nói những lời bậy, rồi quan sát thấy các thầy đối xử với nhau ở trong đạo hết sức là từ ái, tử tế, đối với Phật tử nhiều khi Phật tử phức tạp đủ tình cảnh, đủ loại người, quý thầy cũng kiên nhẫn, nhẫn nhục và trong và giáo hóa, đối với những người khác giới, nhất là người nữ, các thầy có cái khoảng cách rất là nghiêm túc. Thì khi mà họ quan sát thấy những điều đó rồi thì họ mới đặt niềm tin lên các thầy, đặt niềm tin nơi cái tăng tướng, nơi cái đầu tròn, nơi cái áo vuông này. Mà khi họ đặt được niềm tin rồi thì quý thầy có phước.

[9:18]Chưa có thuyết pháp gì nhiều, chỉ cái đạo hạnh của mình thôi mà đã làm cho người ta tin kính Tam Bảo, quý thầy rất là có phước, cái điều đó quan trọng lắm á. Còn nếu mà đầu tiên họ nhìn thấy cái áo cà sa của mình vậy, đến khi họ tiếp xúc gần một chút xíu họ phát hiện nhiều lỗi quá, phát hiện nhiều lỗi, cái lời nói của mình bỗ bã, không nghiêm túc, đi đứng vung vích kiểu giống người đời, ham vui, thích hưởng thụ, rồi không có biểu lộ của cái từ bi, không có cái siêng năng sự giáo hóa, mà thấy người nữ thì cứ xáp xáp lại gần, họ nghi liền, là họ mất niềm tin liền. Mà khi họ mất niềm tin thì dù các thầy chưa làm gì lỗi cũng đã tổn phước.

[10:09]Nên cái mà cái thân tướng đoan nghiêm, cái giới hạnh đàng hoàng đã là một bài pháp không lời, mà cũng không phải là một bài pháp, mà là nghìn bài pháp không lời khiến cho Phật tử bên ngoài họ đặt được niềm tin với đạo. Mà ta biết trên cuộc đời này cái niềm tin á nó quan trọng, niềm tin nó cho người ta sức mạnh để người ta sống,

[10:38]Ví dụ như người ta có thể gặp đau khổ, người ta có thể bị lừa dối, người ta có thể thất vọng, nhưng họ gặp một người tu sĩ đàng hoàng, nghiêm trang, đạo mạo khuyên họ một vài lời, họ thêm sức mạnh để vượt qua những cái khó khăn trong cuộc sống.

[11:01]Rồi sau này vậy, đến lúc nào đó quý thầy cũng phải giáo hóa, cũng phải đi thuyết pháp, cũng đi làm việc đạo, làm việc Phật sự, thì cái nền để cho mình làm Phật sự, cái nền để cho mình thuyết pháp cũng chính là những cái giới hạnh căn bản như thế này. Nếu mình có một bề dày của việc trì giới, giữ gìn cái ngôn hạnh đàng hoàng, mình có cái nền, có cái sức mạnh, có cái tự tin để nói lên cái lời đạo lý của Phật cho mọi người nghe. Còn nếu mình không có cái nền của cái giới luật, của cái phẩm hạnh, tự nhiên chính các thầy không mạnh miệng để dạy ai,

[11:52]và cái lời nói có ráng nói ra khi mà nghe rồi nói lại cũng không đủ sức mạnh để thuyết phục người khác tin theo. Vì cái lời nói chứ nó nhẹ lắm. Mình nói nó theo gió nó bay à, người ta nghe không được thì thôi. Cái lời nói nó nhẹ. Nhưng mà cái lời nói đó mà nó xuất phát từ một cái đời sống đạo hạnh nghiêm túc đàng hoàng, khổ công có bề dày, thì cũng cái lời nói nhẹ như gió thoảng đó, nó là cái sức mạnh ngàn cân đi vào lòng người ta, nó thay đổi và chuyển hóa tâm hồn của người khác. Cái giá trị của cái lời nói dựa trên một cái thân giáo, trên một cái nền tảng đạo hạnh lớn, rất là mạnh. Trong cái buổi giáo giới hôm nay thì chúng ta không

[12:44]thể, không có thời gian để nói ra từng giới, mà sau khi thọ giới rồi thì các thầy phải học, phải học về luật, tức là phân tích ra từng giới đó. Mỗi giới mà Phật dạy trong giới Sa-di, trong cái giới Tỳ-kheo, nó có cái lý do của nó. Tại sao Phật chế cái giới đó, tại sao ngài Ưu-bà-li đề nghị chế cái giới đó trong cái hoàn cảnh nào, và cái tầm quan trọng của cái giới đó như thế nào, và đối với thời đại ngày hôm nay nó còn phù hợp không? Nếu nó không phù hợp thì cái gì là cái tương tự? À. Thì vì có nhiều điều thời bữa nay hết phù hợp rồi. Chính là ngày xưa vậy, ngài Ca-diếp cũng quở trách ngài A-nan:

[13:34]Lúc Thế Tôn nói rằng có những cái giới sau này có thể thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp, tại sao ông không hỏi cụ thể giới nào? Ngài A-nan mới thú nhận lúc đó là ngài đau khổ khi nghe Đức Phật nói ngài sắp nhập Niết bàn nên không còn đủ tâm trí tỉnh táo để đào sâu vào những điều đó nữa, nên ngài xin sám hối. Rồi ngài Ca-diếp quở xong rồi nói vì không nghe chính từ kim khẩu Đức Phật dặn giới nào có thể giữ, giới nào có thể thay đổi cho linh hoạt theo thời đại, thôi ta nhất trí cứ giữ nguyên hết. Đó là lý do mà ngày hôm nay ta giữ nguyên. Tuy nhiên cái việc mà Đức Phật có nói có thể linh hoạt, cho ta một cánh cửa mở ra sự linh động.

[14:19]Linh động nhưng không phải là lỏng lẻo. Linh động mà không phải lỏng lẻo nghĩa là sao? Nghĩa là thế này: ví dụ như có cái giới trong đó cấm một Tỳ-kheo ôm một cái túi lông dê đi trên một đoạn đường dài. Giới đó ta nghe ta cười, mình giờ này làm gì ôm cái đống cái bao lông dê đi chi ngoài đường trời. Vì cái... mà cái hoàn cảnh hồi xưa vậy, hoàn cảnh hồi xưa là khi người nông dân người ta cắt cái lông dê giống như lông cừu vậy đó, người ta có thể cúng dường lên chư Tăng để làm cái gối nằm hay là cái nệm nằm khi mùa đông nó lạnh. Thì... thì khi người ta cúng, không biết người ta chở đưa đến cách nào

[15:03]và các Tỳ-kheo nhận cách nào, nhưng mà việc một Tỳ-kheo mà ôm một cái túi lông dê mà đi dài dài trên con đường, nó rất giống với mấy cái người đi rao bán hàng rong, nhìn nó không oai nghi. Đi một đoạn đường ngắn từ cái nhà nào đó về tinh xá ngay thì được, về rồi bắt đầu thôi sử sử dụng, nhưng mà cái đoạn đường dài quá thì không được phép, tìm cách khác. Nếu có thọ nhận cái đống lông dê đó, một cái bao lông dê đó, phải tìm cách khác, chứ không có vác ngoài đường kè kè kiểu mà giống như người đi bán, đi bán dạo. Ý nghĩa nó là vậy. Bây giờ thì mình đọc cái đoạn giới đó xong cái mình thấy thời này làm gì có việc vác lông dê, thôi giới này bỏ.

[15:43]Ta bỏ mà ta không có cái thay thế, ta không hiểu sâu cái ý nghĩa, ta không thay thế bằng cái giới khác, tự mình phải thay thế bằng giới khác. Mình phải hiểu thế này: cái giới đó nhằm ngăn một cái Tỳ-kheo mà có một cái hành vi mà bị nhầm lẫn với cái người buôn hàng rong bên ngoài, làm người ta mất cái kính trọng, người ta phàn nàn, nói ổng đã đi tu rồi, ổng đi bán hàng rong. Nên vì cái lý do này mà Phật chế giới, thì ngày hôm nay ta phải thay đổi chứ ta không được bỏ. Ta phải thay đổi, nghĩa là ta đừng mang vác, đừng chở cồng kềnh, hoặc là kéo cái xe ba bánh gì đó mà nhìn, ủa sao ông thầy đi ổng kéo xe ba

[16:29]bánh ổng bán kẹo kéo hay gì đó, không được. Này ví dụ như ngày xưa không có cái xe máy, bây giờ thì ta có xe máy, thầy tu bây giờ ta chạy xe máy đầy đường không ai nói gì. Nhưng mà cách đây 60 năm mà một thầy tu mà chạy chiếc Honda đó là có vấn đề, người ta nhìn hoài á. Thời đó bắt đầu mà chạy chiếc xe đạp người ta đã nhìn rồi, rồi từ từ lên chiếc Honda, bây giờ thì nó thường, giờ chạy vèo vèo đầy hết trơn. Thì bắt đầu ta phải suy nghĩ chút: cái thời đại cho ta chiếc xe chạy, nhưng nếu thời xưa điều này cũng là khó coi. Thì nếu quý thầy có phải chạy chiếc xe máy, xin vui lòng chạy rất cẩn thận,

[17:14]giữ đúng luật giao thông, và ngồi trên xe mình có cái gương mặt của một người Tỳ-kheo tế nhị, đàng hoàng, nghiêm túc, chứ không có chạy lượn lách, chạy nhanh, chạy mà có cái gương mặt giống như thụ hưởng, khác liền. Là giới luật có lỏng, có có thay đổi, linh hoạt, nhưng mà cái tinh thần của giới luật đem đến cho cái chúng sinh này hình ảnh một người thầy tu nghiêm trang, cẩn túc, thiêng liêng, cao quý phải là một điều không bao giờ thay đổi, nhớ như vậy. Nên khi các thầy thọ giới xong lúc mà truyền giới thì chỉ truyền có bốn cái giới trọng thôi, còn tức là 244 cái giới khác phải về mà học.

[18:00]Có khi ở chùa tổ chức dạy, có khi Giáo hội tổ chức dạy, nhưng dạy thì dạy, chính mình phải là người yêu cái giới, đọc cái giới và suy ngẫm những cái giới mà bây giờ giống như không còn áp dụng được thì nó phải thay đổi bằng cái giới nào. Ví dụ như bây giờ có cái giới trong Ba-dật-đề là nếu Tỳ-kheo mà biết cái người đó là giặc thì không được đi chung.

[18:31]Giới này rất dễ bị người ta bỏ qua, nhưng cái giới này có một ý nghĩa rất là tế nhị, rất là hay, rất là sâu sắc. Giặc là ai? Thì có hai loại giặc: một là giặc cướp, hai là giặc chống lại nhà nước. Ừ, thì mình là một người Tỳ-kheo không được đi chung, hồi xưa là nói đi chung đường, nhưng ngày hôm nay ta phải hiểu cái ý nó lớn hơn là không cùng cánh, không cùng phe với những người thứ nhất là vi phạm pháp luật, thứ hai là họ chống đối cái chính trị của nhà nước ta. Bởi vì sao? Để là một thầy tu tốt thì ta phải là một công dân tốt cái đã. Ta phải tuân thủ luật pháp, bảo vệ luật pháp, ta cũng... mà ta phải yêu nước, cũng phải bảo vệ hệ thống

[19:23]chính trị của mình, đó là điều bắt buộc. Để ta làm một thầy tu tốt phải là một công dân tốt, và những điều đó không ngờ là trong giới luật ngày xưa Phật cũng đã chế xong hết rồi vậy. Rồi vậy. Ngoài cái giới đó, cái nghĩa của giới chính là đừng làm chuyện sai lầm bậy bạ, ý nghĩa là vậy. Sai lầm bậy bạ là những chuyện gì? Cái nặng nhất vẫn là cái sắc dục.

[19:56]Cái thứ hai là cái sân hận,

[20:01]thù ghét đánh nhau chửi nhau. Thứ ba là tham lam, ăn cắp đồ bậy bạ. Rồi cái thứ tư nữa là cái sự kiêu mạn. Kiêu mạn cứ muốn người ta phải kính trọng mình nên bày đặt nói dối. Nói dối, bịa chuyện rằng mình chứng đạo để cho người được người ta kính trọng, mai mốt nó xuống địa ngục liền. Giới là đừng làm điều gì sai lầm. Mà cái sai lầm là ở đâu ra? Sai lầm là ở trong nội tâm ra. Giới là ngăn giữ ở hình tướng trên lời nói và việc làm. Nhưng cái lời nói việc làm là đều cái gốc từ tâm. Ta phạm giới nghĩa là ta nói lời sai, ta làm điều sai chỉ bởi vì tâm ta sai.

[20:55]Tâm ta sai. Tâm ta sai là sai cái gì? Bởi tham, sân, ích kỷ, hưởng thụ, kiêu mạn, đố kỵ. Những điều đó gây bất lợi cho chúng sinh mà làm mất đạo tâm của chúng sinh. Ta đọc kỹ ta sẽ thấy toàn bộ hệ thống giới luật của Tỳ-kheo có cái mục tiêu rất là rõ: giữ gìn đạo tâm cho chúng sinh. Đọc rồi các thầy sẽ thấy như vậy. Mặc dù ta nói rằng giới là nền thềm thang của định, định là thềm thang của tuệ. Giới, định, tuệ đều thuộc về bản thân của ta: "Tôi giữ giới, tôi không làm điều sai để tôi được đắc trong thiền định. Mà khi tôi đắc trong thiền định thì tôi có trí tuệ, biết hết mọi điều, biết hết mọi đạo lý, biết mọi điều đúng, điều sai".

[21:55]Ý là bản thân, nhưng sự thực nếu chúng ta học lại lịch sử từng giới, vì sao Phật chế giới đó, vì sao Phật chế giới kia, ta thấy có rõ ràng một mục tiêu là giữ đạo tâm cho chúng sinh. Nếu có một người than phiền: "Con thấy ông thầy đó ổng làm chuyện đó không được, Thế Tôn ơi!", là Phật kêu chế giới liền.

[22:18]Hoàn toàn là giữ đạo tâm cho chúng sinh. Nên cái việc mà các thầy giữ giới á, ta thấy là trong bốn yếu tố mà để làm cho Phật pháp trường tồn: một là đắc đạo nè, hai là giới luật nè, ba là giáo hóa nè, bốn là hộ pháp nè, thì cái giới nó nằm ở cái mức thứ hai. Nhưng mà thực sự, nó vừa là giới là thềm thang của việc đắc đạo, mà giới cũng là gì? Sức mạnh để giáo hóa. Khi mà các thầy giữ được giới luật là các thầy củng cố được đạo tâm cho chúng sinh. Cái ý nghĩa nó lớn lao, cao quý, quan trọng. Lúc đó mình không có quan trọng, cái giới phẩm mình không quan trọng, cái sự cung kính của mọi người cho mình không quan trọng,

[23:06]cái y Tỳ-kheo hay cái thẻ Tỳ-kheo hay giấy tăng tăng tịch chứng điệp rồi không quan trọng, mà cái quan trọng của chữ Tỳ-kheo hay Sa-di chính là làm cho, giữ gìn cho, tăng trưởng cho đạo tâm của chúng sinh. Đó mới là cái trách nhiệm của các thầy khi các thầy thọ thêm giới pháp, cái đó nó quan trọng ghê lắm. Bây giờ ta nói trở lại thế này.

[23:39]Trong luật pháp á, họ có quy định là cái người phạm tội là cái người làm sai, hoặc là không làm mà sai.

[23:56]Trong luật cái đó ghi ghi rõ lắm, ừ. Có khi làm mà sai, có khi không làm mà sai. Làm mà sai là làm sao? Dễ. Ví dụ mình đánh, cướp của, giết người, tức là làm mà sai. Có khi không làm mà sai là sao? Tức là thấy cái người ta trong tình trạng nguy hiểm, mình có thể cứu được mà không cứu. Vi phạm pháp luật liền, người ta bắt mình được liền, vi phạm luật hình sự, có thể ở tù, vì chỉ vì không làm, vì cái đó không làm mà sai. Ví dụ như thấy cái xe lửa sắp tới, cái chắn chắn đường để ngăn chặn người ta lại để cho xe đừng chạy qua là để bảo vệ an toàn. Mà lúc đó mình tới nơi thì mình mới phát hiện cái người mà họ gác cái chắn

[24:40]của đường tàu á, họ đâu mất rồi, ông đó đâu mất rồi, không có ai. Mà mình nghe tiếng còi hú đằng kia, mà mình đang đứng bên đây, mình đi tới chỗ cái cái chắn gác, cái barie có thể thả xuống, mình không thả. Cứ cho ai đi qua đi qua, mà tàu lửa nó tới hú hú chạy tông chết bao nhiêu người. Khi mà họ tới họ điều tra, cái ông gác chắn đi đâu mà trong camera có ai quay thấy mình có đứng đó mà mình không gác thả kéo chắn xuống giùm cho cái ông gác, mình bị bắt ở tù liền, vì không làm mà sai trong luật pháp. Và trong giới luật mình cũng có khi như vậy. Trong giới luật của mình, ví dụ như là ta không can ngăn huynh đệ ta, để huynh đệ ta phạm sai lầm là ta cũng phạm giới luôn.

[25:27]Mà đó cũng là gây cái nhân cho ta phạm giới về sau. Nên buộc ta phải can ngăn huynh đệ ta nếu phát hiện huynh đệ ta sắp phạm sai lầm. Ý nghĩa nó là như vậy. Nhưng mà cái điều này, toàn bộ gốc của giới luật là để cho ta đừng làm sai,

[25:50]đừng nói sai. Mà muốn đừng làm sai, đừng nói sai thì tâm ta phải làm sao? Đừng có sai.

[26:01]Rồi bây giờ, ví dụ cái người tâm sai, người đó mới phạm giới. Nghĩa là tâm người đó có tham, có sân, có si, có dục, có ái, người đó mới phạm giới. Thì bây giờ làm sao giữ giới?

[26:21]Tâm đã sai rồi thì làm sao giữ giới?

[26:36]Nói: "Tôi dùng tâm thanh tịnh để giữ giới". Không, tâm lúc đó hết thanh tịnh rồi. Tâm nó đã sân, si, ái, tùm lum rồi, không có thanh tịnh. Dùng tâm đó giữ giới hết được rồi, tại tâm hư rồi. Vậy dùng cái gì để giữ giới? Nói: "Khởi lên ý chí để giữ giới". Ý chí không có. Khi tâm đã hư rồi, ý chí biến mất, không có sức bật, không có nghị lực để giữ giới, để chống lại cái cám dỗ, để chống lại cái sân si. Không có, hết sức rồi. Vậy ta dùng cái gì để giữ giới?

[27:14]Mà nếu thật lòng cứ nhìn kỹ vào nội tâm, các thầy sẽ thấy rằng trong tâm mình còn những điều đó không? Còn tham không? Còn sân không? Còn si, còn ái không? Còn không? Nói thật coi. Hết chưa? Nếu hết thì đừng có ngồi đó, hết thì lên bàn kia ngồi. Ngồi đây tức là những cái tâm mà tham, sân, si, ái còn không? Còn không? Còn, phải xác định điều đó. Bây giờ trong cái tâm còn tham, sân, si, ái thì làm sao giữ giới?

[27:59]Ý chí cũng không có, hết xài được rồi. Nên đây, đây là những cái phương pháp để ta giữ giới: Thứ nhất, ta cần một hội chúng để nương tựa lẫn nhau. Vì ta, khi một mình ta, cái sai không ai nhìn ai ngó, ta sẽ sai luôn. Nhưng nếu ta ở trong một hội chúng, người này nhìn người kia, tự nhiên ta có cái sức mạnh của huynh đệ, của đại chúng giữ ta lại, ta không dám làm bậy. Vì ta còn một chút tàm, chút quý, chút hổ thẹn, chút tự trọng, ta không muốn làm sai để cho người khác phải coi thường. Mà đây, để để có được cái sức mạnh này của tàm, của quý này thì ta phải ở trong hội chúng. Do đó, đừng ai có cái ý nghĩ lìa chúng đi sớm.

[28:54]Lúc nào cũng phải gắn bó với chúng, xây đắp cho chúng, vun bồi cho đại chúng thì mình có rất là có phước. Còn cứ nghĩ đi sớm rất là dễ hư, vì cái yếu tố, điều kiện đầu tiên để giữ giới ta bị hỏng khi ta tu một mình. Chỉ có một hạng người tu một mình mà thành công, đó là căn cơ của Độc Giác Phật. Không cần thầy, ở một mình vẫn đắc đạo. Còn tất cả chúng ta đều là những người còn phàm phu, không có căn cơ Độc Giác Phật, ta phải tu với đại chúng, phải yêu kính đại chúng. Bất cứ giá nào cũng phải gắn bó với đại chúng, và chính đại chúng là cái sức mạnh đầu tiên để cho ta giữ giới. Đó là yếu tố thứ nhất.

[29:42]Yếu tố thứ hai là cái công đức mà ta lễ kính Phật, Bồ Tát.

[29:51]Mà khi ta lễ kính Phật, Bồ Tát ta phải hiểu sâu sắc về các Ngài, để khi ta lạy các Ngài, lòng ta dâng trào cái niềm tôn kính cao độ. Chính nhờ cái lòng tôn kính Phật đó, ta có cái phước, ta có cái sự gia hộ thầm thầm của Phật. Nên trong khi nội tâm ta còn tham, còn sân, còn si, còn ái, nhưng cái phước của Phật nó cũng nằm ở trong tâm ta, cái phước mà lễ kính Phật nằm trong tâm ta. Có bỗng nhiên ta thấy có cái sức mạnh để chiến đấu. Ví dụ như ta ta thích cái cái số tiền đó, thích cái áo đẹp đó, thích chiếc xe đó. Cái thích đó là thuộc về cái tham, nhưng nhờ cái phước ta lễ kính Phật suốt bao nhiêu năm qua, thì bỗng nhiên khi ta vừa khởi cái tâm,

[30:37]động tâm thích một cái gì, thì có một cái ý niệm lạ nó khởi lên nó chặn ta lại, nói thôi, mình không cần phải tham, người tu rồi không cần những điều này. Cái ý nghĩ thứ hai nó khởi lên đó, chính là cái phước chặn ta lại, giữ làm cho ta giữ được giới, giữ được tư cách, giữ được oai nghi, không liếc, không nhìn, không nói những lời đùa bỡn mà có bộc lộ cái tâm tham thích chiếc xe của người ta. Mình giữ lại được, kềm miệng mình lại được, chính là nhờ cái phước lễ kính Phật. Hoặc là có một người nào đó họ đến họ mắng chửi ta xối xả, thì ta sân, ta giận.

[31:18]Thì bình thường khi ta sân, ta giận như vậy, ta sẽ phản ứng lại. Ta sẽ nói bậy, nói bạ hoặc là phản ứng một cách mà người ngoài họ nhìn vô thấy trời cái ông thầy tu ổng tu nè. Họ không nói cái người mà người đời chửi ta, nhưng mà ta chửi lại thì họ chỉ chê ta chứ họ không có chê người đời, tại người đời đến chửi nhau là bình thường, nhưng mà ông thầy tu ổng chửi lại người ta là một chuyện khác á. Thì nếu cái tâm ta sân khởi lên cái ta chửi lại họ, ra giống như họ. Hai đứa giống nhau. Ông thầy chùa với không phải thầy chùa giống nhau tại hai bên chửi lộn nhau. Nhưng mà do ta lễ kính Phật mỗi ngày,

[31:56]khi ta vừa nổi sân, cái phước của Phật giữ tâm ta lại, ta kiềm chế lại. Thực ra nếu cái người biết tu tập thiền định thì họ tắt cái sân trong chớp mắt liền, không có sân. Nếu tâm người đó thanh tịnh, họ không có sân. Nhưng mà lỡ trong trường hợp ta chưa đắc thiền định, tâm ta còn sân, thì thật sự lúc này là lúc mà chỉ nhờ cái phước lễ kính Phật giữ tâm ta lại, ta không bộc lộ ra, rồi ta từ từ ta đè nén cái sân mình lại được, rồi ta thôi bình tĩnh coi như nhẫn nhục rồi quay vào, cho nó chửi gì đó nó chửi. Rồi khi mà nhìn thấy nó chửi ta mà ta im lặng ta đi vào, bỗng nhiên ta được tiếng thơm rất là lớn.

[32:37]Người ta nói ông thầy đó ổng chân tu thiệt nha, ổng hiền ghê nha. Họ không biết giới luật, không biết gì hết trơn, thấy ổng thầy hiền từ, nó chửi ổng quá chừng ổng nhịn kìa. Người đời họ chỉ nói câu đó thôi, nhưng mà trong lòng họ đã len lỏi một cái gì? Cái lòng yêu mến đối với đạo, vì cái nhịn của ta, ta chặn được cái sân của ta. Chớ tâm ta không còn nhưng mà thực sự là nhờ Phật. Rồi ví dụ như có người nữ họ đến họ cúng dường, họ vừa có vẻ khá giả, họ vừa có vẻ xinh đẹp, mà coi bộ họ cũng có tình cảm với ta, mà quý thầy nhớ, quý thầy nhớ kiếp trước quý thầy là đi tu hay quý thầy có gia đình? Nhớ không?

[33:16]Có ai nhớ được tiền kiếp không?

[33:20]Hử? Quý thầy nhớ quý thầy có chắc kiếp trước quý thầy cũng đi tu không? Hay là quý thầy cũng có lập gia đình rồi? Có không? Có chắc không? Có nhớ không? Không. Và quý thầy có chắc là suốt 100 kiếp qua quý thầy hoàn toàn thanh tịnh không hề có hôn nhân gia đình không? Cũng không. Thì nếu mà không hoàn toàn ế suốt 100 kiếp, tức là có đã từng có hôn nhân suốt cả 100 kiếp qua hay là lác đác lác đác bao nhiêu kiếp, thì như vậy mình đã có vợ chưa? Có không? Có chứ. Lỡ đời này đi vô chùa thì sao? Vô chùa thăm sao? Vô tình đi vô thắp nhang lạy Phật mà cái người đó đúng là vợ của mình kiếp trước thì chuyện gì xảy ra giữa hai người?

[34:10]Khi đôi mắt vừa nhìn thấy nhau,

[34:15]duyên xưa bộc khởi lên liền. Duyên xưa bộc khởi lên liền, một cái tình thương mến tự động nó khởi lên không bao giờ tránh được, đó là nghiệp. Nhưng mà ngay lúc đó, nếu mà ta không có cái phước duyên lễ kính Phật, ha, động, đúng là tương tư liền. Cái cô kia về cũng tương tư, mình ở trong chùa cũng tương tư. Tu mà lúc thật ra không còn gì để tu nữa. Vì tâm nó động mà. Nhưng nếu trong bao nhiêu năm qua, từ trước khi đi xuất gia cho tới trong suốt thời gian xuất gia, ngày nào ta cũng lễ kính Phật, không có dừng, không sót, không thiếu, mà lễ kính Phật với cái niềm tin hiểu, tôn kính Phật tuyệt đối, thì ngay khi mà ta gặp cái duyên của cái

[35:02]ái, lẽ ra ta phải động tâm, nhưng mà cái phước lễ kính Phật nó xuất hiện trong tâm ta chặn ta lại, giữ ta lại, níu ta lại với đạo. Ta có động tâm nhưng ta luôn từ bỗng nhiên có những cái ý nghĩ rất là tốt đẹp khởi lên giục ào ạt ào ạt chặn ta lại, xóa ta lại, diệt đi những cái ý niệm về ái đi, khiến ta bình tĩnh lại. Rồi lặng lẽ ừ ví dụ lỡ có tiếp cô đó thắp nhang lễ Phật rồi, rồi cô đi quay về, mình cũng quay vào bên trong, lòng cái sự vương vấn mất dần mất dần là do cái phước lễ kính Phật. Mấy cái điều đó, đó là cái yếu tố thứ hai để giữ giới là lòng tôn kính Đức Phật. Hoặc là ta tôn kính, lễ kính các bậc Bồ Tát,

[35:48]giống như là trong hạnh nguyện Phổ Hiền, Thập Hạnh Phổ Hiền là: "Nhất giả lễ kính chư Phật." Mà Ngài nguyện cái hạnh của Ngài đó, hư không có tận nhưng cái hạnh của Ngài cũng không bao giờ tận. Cái lòng tôn kính, cái hạnh lễ kính của Ngài đối với Đức Phật là không bao giờ cùng tận, ta cũng phải học cái điều đó. Lúc nào cũng phải lễ Phật, lúc nào phải tôn kính Phật, chính nhờ cái phước đó mà giữ cho ta một cái tâm trong sạch và nhờ cái tâm đó có sức mạnh mà ta giữ được giới. Ta cũng lễ kính các vị Bồ Tát. Rồi nếu may mắn trong đời ta, ta gặp những vị chân tu, đắc đạo là cái phước cực lớn á. Ta nhớ lúc nào cũng cung kính các Ngài.

[36:30]Đó là cái phước hiện tiền. Thấp hơn nữa ví dụ những vị tôn túc trong giáo hội, những người đáng kính trong cuộc đời, ta luôn luôn cố gắng tìm hiểu để mà tôn trọng. Nhờ cái phước mà kính trọng bậc đáng kính, ta có cái phước để giữ giới. Đó là yếu tố thứ hai giữ giới. Yếu tố thứ ba giữ giới nữa là lòng từ bi.

[37:01]Lòng từ bi coi vậy cũng là một sức mạnh để cho ta giữ giới. Ngày nào vậy, đối trước bàn Phật, lễ Phật rồi, tác ý khởi tâm từ bi yêu thương chúng sinh. Mới ban đầu chỉ là một cái tác ý, một cái ước nguyện, một cái tưởng tượng không có thật, là: "Con nguyện lòng yêu thương tất cả chúng sinh." Cái câu nói đó cũng không có kết quả. Mình cứ tụng, cứ nguyện rồi cũng chẳng thấy mình thương ai. Nhưng ngày nào cũng nguyện cái câu đó, 5 năm sau, 7 năm sau, bắt đầu tâm từ bi xuất hiện chút, chút xíu. Tự nhiên mình nhìn mọi người, mình thấy thương. Nhìn tất cả mọi người xa lạ, lòng thương mình tỏa ra tự nhiên.

[37:53]Nhìn chim trời, cá nước, lòng mình thương tự nhiên, thương từ từ tới thương từng chiếc lá cây. Mà khi cái lòng thương lớn lên như vậy, tâm ta có một cái sức mạnh. Có cái sức mạnh để giữ được giới luật, khiến cho ta có cái ý chí. À cái điều đó, những cái gợi mời, những cái cám dỗ, những cái nghịch cảnh có thể làm cho ta tan vỡ cái đạo hạnh của mình, nhưng mà nhờ ta có khởi tâm từ bi, ta có quán từ bi, có ước nguyện từ bi, và từ bi bắt đầu nảy mầm trong tâm ta, tự nhiên ta có cái sức mạnh ý chí, ta vượt qua được cái nghịch cảnh khó khăn đó, ta vượt qua được cái nghịch cảnh cám dỗ đó để giữ gìn cái đạo hạnh cho mình.

[38:39]Nên cái yếu tố thứ ba là yếu tố từ bi rất là quan trọng. Nhiều có những người nhiều khi tu suốt ba chục năm nhìn thấy họ khô queo, không có chút từ bi nào trong tâm. Bởi vì sao? Vì suốt 30 năm qua họ quên, mỗi ngày không quán từ bi.

[38:59]Nên các thầy mà nếu mà quên quán từ bi thì 30 năm sau, 50 năm sau các thầy cũng bị cái lỗi đó. Tuy làm ông hòa thượng mà trong tâm không có chút từ bi nào và không có chút đạo hạnh nào. Mà nhớ từ bây giờ còn kịp, mỗi ngày phải lạy Phật xin cho được cái tâm từ bi tỏa khắp ngàn nơi, nhớ như vậy thì 30 năm sau mới có kết quả. 30 năm sau, 50 năm sau thì mình mới là một con người có từ bi, chứ không có đơn giản. Cái lời nguyện từ bi một hai năm, hai ba năm chưa thấm đâu, không có kết quả đâu. Nhưng kiên trì nguyện hoài, ngày nào cũng nhắc tới nhắc lui, phải dặn lòng mình yêu thương tất cả chúng sinh.

[39:39]Cứ dặn lòng mình như vậy qua 5 năm, 7 năm, 10 năm bắt đầu mới có một chút từ bi. Mà có một chút rồi là tâm ta bắt đầu có cái sức mạnh và sức mạnh nó hỗ trợ cho ta giữ giới. Đó là yếu tố thứ ba. Yếu tố thứ tư để cho ta giữ giới nữa là tâm khiêm hạ. Thấy mình tầm thường, nhỏ bé. Càng tu là càng thấy mình tầm thường, nhỏ bé. Tại sao vậy? Bởi vì cái mục tiêu giác ngộ giải thoát của Đạo Phật là vô ngã. Ta đi từ từ tới cái vô ngã thì bản ngã của ta nó nhỏ dần, nó bé dần, nhỏ dần, nó bé dần. Trên con đường mà nó cứ nhỏ dần, bé dần đó thì ta xuất hiện một cái đạo đức, một cái tâm lý đạo đức mà ta gọi là khiêm

[40:27]hạ, không thấy mình là quan trọng, không thấy mình hay. Lúc nào cũng nhớ rằng mình là tầm thường, nhỏ bé, mình chỉ là cát bụi, là cỏ rác và với bất cứ mọi người chung quanh mình, ai mình cũng rất dễ tôn trọng người ta. Trong từng cái lời ăn tiếng nói, ai mình cũng rất dễ tôn trọng người ta. Thấy đứa bé mình cũng không dám coi thường, thấy người nghèo cũng không dám coi thường, thậm chí thấy con chó cũng không dám coi thường, vì nó mới đọa chớ mai mốt nó lên làm người lại bây giờ. Mình cũng thương yêu. Thì cái tâm khiêm hạ, tại sao vậy? Tại vì cái tâm kiêu mạn là cái tâm phá hủy toàn bộ đạo đức của mình.

[41:13]Tâm kiêu mạn khủng khiếp vô cùng. Tâm kiêu mạn là tâm thấy mình hay. Và tất cả mọi đạo đức khác sụp đổ hết, nhớ như vậy. Mà đặc biệt vậy, là cái tâm kiêu mạn nó làm phát sinh cái tâm ái dục rất là mạnh. Nên cái người giữ được tâm khiêm hạ thì ái dục cũng lắng theo, còn người mà khởi tâm kiêu mạn thì cái dục nó động lên trước. Ví dụ như ta thấy cái người đó cũng người ít nói, bỗng nhiên nghe ổng phạm tội về dâm dục thì ta biết một điều: ổng ít nói chứ trong đầu ổng đầy cái kiêu mạn ở trong á, trong đầu lúc nào cũng nghĩ là mình hơn người khác thì thế nào cũng bị phạm về cái... cái sắc dục. Ta cẩn thận cái điều này.

[42:04]Vì vậy, lúc nào cũng giữ mình khiêm hạ là một yếu tố hỗ trợ cho giới hạnh, nhớ như vậy. Bằng mọi cách phải tìm cách giữ mình cho khiêm hạ, tự mình dặn lòng mình, tự mình sám hối, tự mình tác ý, làm sao đó thì làm, phải giữ cho được tâm khiêm hạ. Vì nó có một cái nghịch lý thế này, những cái đạo lý cao siêu đều hứa hẹn cho ta một cái kết quả cao lớn, cao quý.

[42:39]Và cái kết quả cao quý đó ta chưa đạt được, nhưng mà chỉ hy vọng cái kết quả đó thôi, ta đã kiêu mạn rồi và nửa đường ta đã gãy mất rồi. Chưa đạt được kết quả, ở đây ta gãy mất rồi, vì cái kiêu mạn. Đây là một nghịch lý khiến cho chúng sinh rất khó tu hành đắc đạo. Ví dụ bây giờ mình tu chưa chứng A-la-hán, nhưng mà mình nghĩ tới cái quả vị A-la-hán vĩ đại vô cùng, mình nghĩ rồi mình hả đi về con đường đó, A-la-hán thì chưa chứng, nhưng mà cứ nghĩ về cái quả vị A-la-hán mãi là mình kiêu mạn. Và mình kiêu mạn mình gãy giữa đường luôn. Rất là oan uổng, rất là oan uổng nghe các thầy.

[43:22]Mà rất nhiều cái người dạy đạo hay bơm cho chúng sinh cái tà kiến, khiến cho chúng sinh kiêu mạn, rồi chúng sinh cứ đọa mãi không có đường đi ra. Nên các thầy phải tự chắt lọc lấy, chứ cái chỗ này là chỗ tế nhị, ta cũng không nêu ra ai là ai được. Quý thầy phải đem hết cái trí tuệ của mình, đem cái công đức lạy Phật của mình cầu xin cho con có trạch pháp, biết được đâu là đúng, đâu là sai, đâu là chánh kiến, đâu là tà kiến để con đừng bị nhầm mà thọ lãnh một cái đạo lý, một cái giáo lý bơm cho mình khiến mình tà kiến, mình kiêu mạn mà không hay. Cẩn thận điều đó, vì điều này không ai dạy ai được đâu,

[44:06]trừ khi mà các thầy nằm ở trong một cái dòng nào đó, được một bậc thầy sáng suốt họ phân tích cho từng điểm thì mình tránh. Còn nếu không, quý thầy phải tự mình giữ lấy mình, hễ nghe ai nói đạo, nghe ai giảng đạo, đọc một cuốn sách đạo, phải thông minh mà tự biết rằng cái này nó có ẩn chứa cái kiêu mạn trong đó hay không. Nếu một cuốn sách này, nếu một bài giảng này mà nó ẩn chứa cái cái mầm mống của sự nguy hiểm làm cho mình kiêu mạn thì dừng nó lại liền, đừng nghe nó nữa. Vì sao? Vì nếu mà có kiêu mạn, quý thầy phạm giới á. Nên ta nhớ lại coi, bốn điều để giúp ta giữ giới: Một là gì? Hội chúng.

[44:51]Ở trong hội chúng giúp ta giữ giới. Hai là gì? Công đức lễ kính Phật. Ba là gì? Tâm từ bi. Bốn là gì? Tâm khiêm hạ, nhớ như vậy. Quý thầy muốn giữ gìn giới hạnh cho vuông tròn, lâu dài thì trau dồi bốn cái điều này, giữ gìn bốn điều này để nó hỗ trợ cho mình giữ gìn giới luật như vậy.

[45:25]Giới á thì tập trung nhiều ở cái việc mà tránh ô nhiễm, tránh sai lầm, nhưng giới cũng có một cái ý nghĩa khác là đừng để người ta hiểu lầm về chư Tăng. Ví dụ như hồi nãy mình nói có cái giới đừng có ôm cái bao di... bao lông dê mà đi trên đoạn đường dài. Nói về ô nhiễm thì cái đó chả có gì ô nhiễm, nhưng chỉ ôm cồng kềnh nó giống người bán hàng rong quá, làm người ta phê bình thì Phật cấm liền. Đấy. Hoặc là giới mà cấm đi chung với giặc, biết nó là giặc mà đi chung thì dễ gây sự hiểu lầm là mình cũng là giặc hay sao, bộ mình phản triều đình hay sao? Đó, rồi gây rồi làm cho rối loạn cái đời tu của mình

[46:02]là người ta theo dõi mình tùm lum phiền vô cùng. Đó là cái cũng là một cái giới, là trong đó nó không có ý nghĩa ô nhiễm, nhưng nó lại có ý nghĩa là tránh người khác hiểu lầm. Đó, nên khi trong cái cư xử, trong cái lời nói, trong hành động đừng để người ta, cố gắng đừng để người ta hiểu lầm. Người ta tổn phước, mình cũng bị tổn phước lây. Giới luật cũng có nghĩa là như vậy. Thường á, cái ô nhiễm á là cái bản năng tự nhiên của chúng sinh. Ta nhớ trong Tứ Diệu Đế, bản chất của chúng sinh của cuộc đời là đau khổ. Nguyên nhân của đau khổ là vô minh ái dục. Nên vô minh ái dục là bản chất, bản năng tự nhiên của tất cả chúng sinh, của chúng ta.

[46:52]Ngồi đây vậy, tất cả chúng ta đều là nhiễm ô, đều là ái dục, nhớ như vậy. Nếu cần một giây chúng ta dừng tu thì cái nhiễm ô ái dục khởi lên liền, ngay tức khắc khởi lên liền. Nhớ vậy, bản chất của tất cả mỗi người chúng ta là nhiễm ô, là ái dục, nó là điều tự nhiên, giống như cuộc đời này tự nhiên là đau khổ vậy. Điều đó Phật đã dạy trong Tứ Diệu Đế như vậy. Nhưng

[47:26]nếu ta không có công đức tu hành thì cái bản năng của nhiễm ô ái dục khởi lên ầm ầm liền, làm cho ta

[47:37]phạm sai lầm hay là phạm giới. Nên vì vậy là

[47:44]ta phải dùng nhiều cách để ngăn chặn cái việc phạm giới, không cho tâm ta sai. Hồi nãy ta nói bốn yếu tố để làm cho ta giữ được giới: một là hội chúng, hai là lễ kính Phật, ba là từ bi, bốn là khiêm hạ. Rồi ta nghĩ giữ giới rồi ta mới được cái thiền định, nhưng không. Trong khi ta tu tập giữ giới bốn yếu tố kia, ta phải tu tập thiền định liền. Vì sao? Vì định nó giữ lại giới. Giới nó sinh định nhưng định nó cũng giữ lại cho giới luật. Người tâm thanh tịnh thì cũng rất khó phạm giới. Và ta nói rằng có thiền định rồi mới có trí tuệ, nhưng không. Trí tuệ nó cũng giữ lại cho giới luật. Ta có trí tuệ, ta biết đúng biết sai,

[48:32]ta không có phạm vào điều sai, tức là không phạm vào giới luật. Ta hiểu sâu xa giới luật. Ta hiểu cho tới cái cái yếu tố tâm của giới luật chứ ta không hiểu cái giới luật trên tướng, vì giới tức là tướng...

[48:49]Nhớ như vậy, nói là Giới lên Định lên Tuệ, nhưng thực sự Tuệ giữ lại Giới và Định cũng giữ lại Giới. Nên khi ta ráng tu tập thiền định, giữ nhiếp tâm thanh tịnh thì ta cũng khó phạm giới. Do ta kiểm soát được cái ái nhiễm, kiểm soát được cái tham, kiểm soát được cái sân, kiểm soát được cái kiêu mạn, nên ta giữ được giới. Rồi khi ta có trí tuệ, ta trạch pháp, biết cái nào đúng cái nào sai, ta cũng giữ được giới. Nên ta đừng nghĩ giới định tuệ là ba tầng bậc, mà ta nghĩ nó là gì? Một vòng tròn như là một cái tam giác vậy đó. Cái này nó hỗ trợ kia, kia hỗ trợ cái nọ lại. Giới giúp cho tuệ và tuệ giúp cho giới,

[49:29]giới giúp cho định và định giúp cho giới, như định giúp cho tuệ và tuệ giúp cho định. Thì nên phải tu tập thiền định, nhiếp tâm thanh tịnh để mà, mà giữ giới. Còn có một yếu tố nữa để giữ giới nữa là nhân quả. Ta thường khuyên huynh đệ ta giữ giới, ta ngăn chặn huynh đệ ta phạm giới thì ta cũng giữ được giới luôn. Đây cũng là yếu tố rất là thú vị. Nên mình tu không phải là gì, tu cho mình không, mà mình còn tu cho đại chúng, tu cho thầy mình, tu cho tất cả chúng sinh. Nên phần mình giữ không sai, nhưng phải liếc mắt nhìn huynh đệ, đừng để huynh đệ phạm sai lầm. Đó cũng là một cái công đức mà khiến cho ta không bị phạm giới.

[50:17]Còn nếu ta thấy huynh đệ mình có nguy cơ bị phạm giới, phạm sai lầm, ta bỏ mặc thì thế nào ta cũng phạm giới. Nhớ như vậy. Nhớ vì vì tu là có cái sự liên đới với nhau rất là, là nhiều.

[50:37]Ta để ý cái thế này nữa nà. Nếu ta giữ giới là một thiện pháp, nhưng mà vì ta cứ chăm chăm giữ giới rồi ta trở thành người khó tánh, bắt bẻ người này bắt lỗi người kia thì ta trở thành một người ác. Trong đạo Phật gọi cái đó là giới cấm thủ, là cố chấp. Thấy ông đó ổng giữ giới nghiêm túc rồi mình tưởng ổng...

[51:08]Thấy ổng giữ giới nghiêm túc mình tưởng ổng đạo đức, không ngờ ổng lại là người phạm đúng cái giới cấm thủ, khó tánh, bắt bẻ, cố chấp tùm lum, không ai ở gần được, mất cái từ bi luôn. Nên các thầy cũng cẩn thận, nên ta cố gắng vậy, giữ được giới nghiêm túc nhưng không rơi vào giới cấm thủ, không bắt bẻ, cố chấp. Nhớ vậy. Rồi nó có một cái điều nữa là tình trạng đồng tính. Đồng tính nghĩa là cái người tuy là thân hình nam, nhưng cái tâm lý là của người nữ. Và điều đó bây giờ xảy ra rất nhiều, mà không phải từ bây giờ, từ thời Phật xa xưa thời nào cũng có tình trạng đó. Mà tại sao có cái tình trạng đồng tính?

[51:50]Là bởi vì chúng ta tái sinh qua lại giữa nam và nữ nhiều quá. Thấy vậy chớ, các thầy thấy mình là nam chớ coi chừng đời xưa mình nữ không hay. Việc tái sinh giữa nam và nữ rất dễ dàng. Nên ví dụ đời trước ta là nữ, đời này ta là nam, thân hình là nam, nhưng mà cái tâm lý tính khí người nữ vẫn còn tồn tại chưa có hết. Và nhiều khi mình thấy tơ tưởng người nam, rồi mình biến thành đồng tính liền. Và một người đồng tính mà lọt vào trong Tăng đoàn thì sao? Cực kỳ khó chịu. Nên Phật cũng ngăn cấm cái chuyện đó dữ lắm. Tuy nhiên bây giờ thì nếu mà nói theo cái nhân quyền, cái luật pháp, thì người ta cũng không...

[52:30]nói không ai muốn chuyện đó, họ lỡ họ sinh ra họ bị như vậy, nên luật pháp cũng không có cái phân biệt đối xử. Nhưng mà ở đối với trong đạo thì ta phải thôi phải tự xử với mình nghĩa là làm sao, ráng vượt qua ái dục để ta không còn phải cái ái của nam hay cái ái của nữ gì nữa, vượt hết qua ái dục. Có một lần vậy, tôi đi đến cái chùa đó để giảng, có con bé nó lại nó quỳ xuống nó khóc, nó nói thưa Thầy, con là người đồng tính. Con nữ nhưng con yêu người nữ, bây giờ con phải làm sao? Tôi trả lời con đừng yêu ai nữa, con phải cắt đứt mọi ái dục. Thôi chứ không còn có cách đổi để cho con yêu từ người nữ bây

[53:10]giờ con đổi qua con yêu người nam, không có hết, con bỏ luôn, không yêu ai nữa thì con mới trị được cái bệnh này. Thì là việc đổi từ nam qua nữ rất là dễ dàng, quý vị. Nên ta không có kỳ thị vì ta biết luân hồi tái sinh cực kỳ khổ đau và phức tạp. Mà hiểu như vậy chỉ để ta ta ráng mà tiến tu. Cuộc đời này nó tầm thường, nó tạm bợ, không ổn định, phức tạp vậy. Rồi một điều nữa trong giới luật nữa là ngăn cấm ta những cái giới thô, nhưng dạy bảo ta từng những tế hạnh nho nhỏ, giúp cho ta biết cư xử cuộc đời một cách đàng hoàng, tử tế, thông minh, khéo léo, có văn minh, có lịch sự, mà không có ai chê trách được mình.

[54:02]Đó là những cái tế hạnh. Mà mấy cái tế hạnh này thì trong giới Tỳ kheo á, hay là giới Tỳ kheo ni đó, có dạy, có dạy khoảng khoảng là gần 200 giới.

[54:15]Nhưng mà 200 giới nó vẫn không đủ. Vì đạo Đức Phật dạy tới tới nghĩa là bốn bốn ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, tám chục ngàn cái tế hạnh, bốn ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh. Và những điều đó không có sách nào liệt kê được hết. Cái điều đó ở đâu ra? Trong trí tuệ của ta. Khi ta tu hành, khi ta có định lực, khi ta có trí tuệ, thì ta cư xử một cách rất là cẩn thận từng điều, mà những cái điều ta cư xử cẩn thận đó, giới không ghi. Cả 248 giới Tỳ kheo không có, nhưng mà tự trí tuệ ta có, ta có đầy đủ hết. Quý thầy nhớ cái tinh thần của giới là vậy. Khi thọ giới rồi quý thầy sẽ được học từng giới một, học rất là kỹ.

[55:03]Nhưng mà nhớ, học để mình hiểu, học một phải biết mười, chứ không phải học từng chữ trong đó đâu. Vì có nhiều điều không dùng được nữa, ta phải đổi qua cái khác cho phù hợp với thời đại. Nhiều khi đi đường tôi thấy thầy tu đội cái gì đó, cái mũ bảo hộ chạy chiếc xe, mình nhìn thấy ngồi thấy kỳ kỳ, mình nói không biết Phật còn sống không biết Phật có cho kiểu này không. Nhưng mà biết làm sao giờ vì cái thời đại ai cũng vậy, mình không làm khác đi được thì đành. Thì thôi, nghĩa là cái tướng của ta trong thời đại này nhiều khi cũng khó tách biệt với thế gian thì thôi ráng giữ cái tâm của ta. Ráng giữ cái tâm ta không có bám víu với thế gian,

[55:42]nhưng vẫn yêu thương tất cả chúng sinh, vẫn hết sức cố gắng giáo hóa. Để chi? Để cho Phật pháp trường tồn, để cho chúng sinh có nơi mà nương tựa. Xin chúc cho tất cả các thầy đắc được giới thể thiêng liêng, thành tựu được giới tướng trang nghiêm nha, để làm chỗ nương tựa cho chúng sinh mà cũng là cái công đức để cho mình được đắc quả Thánh. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.