[0:00]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Tại sao ta phải tu thiền? Tại sao ta phải tu thiền? Nếu mà nói theo Đạo Phật, ta sẽ nói Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, nói cái đó. Mà ta không có thời gian nên ta nói vắn tắt một chút.
[0:19]Loài người được xem là giống loài thông minh nhất Trái Đất. Dưới loài người, nhiều cái loài vật khác cũng có thông minh và từ từ ngu dần dần. Thì cái đặc điểm của một người thông minh khác với cái người ngu ở cái chỗ là người thông minh cứ cố gắng đi tìm một cái gì vượt lên hơn nữa, hơn cái thân phận hiện tại của mình. Đó là đặc điểm của người thông minh. Nói như vậy những người an phận họ ngu à? Hông, nhiều khi họ thông minh quá rồi họ lại an phận nên mình hổng dám có ý kiến. Nhưng mà hễ là loài người thông minh thì cứ tìm tòi mãi, tò mò mãi, phát triển mãi, phát minh mãi để tìm một cái gì hay hơn cái hiện tại.
[1:07]Đó là đặc tính của người thông minh. Và tiếc là giống loài chúng ta là giống loài người nên chúng ta là thuộc loại người cứ đi tìm một cái gì nó hay hơn hiện tại. Đó là đặc điểm của chúng ta là như vậy. Thì hầu hết loài người trong mấy nghìn năm qua hoặc là mấy chục nghìn năm qua cứ đi tìm một cái cách gì để vượt khỏi thân phận của mình, hay hơn chính mình ngày trước bằng cái con đường suy nghĩ. Suy nghĩ, làm lụng, tìm tòi, phát minh, đối chiếu, tính toán, sáng kiến, đủ thứ hết. Và đi bằng cái con đường đó, đi bằng con đường suy nghĩ, suy luận, tính toán đó, đến ngày hôm nay họ xây dựng được một thế giới văn minh như thế này.
[1:52]Và cũng đau khổ như thế này. Đánh nhau tưng bừng khắp nơi á. Đó, đó là cái kết quả do cái thông minh và đi tìm cái sự vượt khỏi thân phận mình bằng cái con đường của sự suy nghĩ, phát minh, tìm tòi, sáng chế. Thì thế giới ngày hôm nay là kết quả của điều đó. Và loài người cứ theo đuổi con đường đó, con đường đi tìm sự tiến bộ bằng suy nghĩ. Nhưng có những bậc đạo sư, không biết vì lý do gì hay là sự truyền thừa từ những bậc thánh nào, thì họ lại đi tìm một con đường khác: đi tìm sự tiến bộ bằng cái sự dừng sự suy nghĩ lại. Đây là một điều rất kỳ lạ, rất là ngạc nhiên. Vì chúng ta nghĩ rằng trong cái đơn giản,
[2:41]chúng ta tính toán, chúng ta suy nghĩ, ta mới làm được việc này, thành công được việc kia. Vậy mà ngừng sự suy nghĩ lại có thể tìm thấy được nhiều điều đặc biệt mới mẻ, thì đây là điều nó ngược hoàn toàn với cái suy nghĩ thông thường. Nhưng mà có những bậc thánh họ đã thành tựu điều đó. Và họ truyền dạy cái con đường thiền định qua nhiều nghìn, nhiều nghìn năm. Tuy nhiên, cái con đường thiền định mà dừng sự suy nghĩ để thay đổi chính mình, để tiến bộ chính mình, thì
[3:20]vì nó im lặng và nó bí truyền, cho nên không có một cái hệ thống khoa học rõ ràng về cái thiền định này. Và ông thầy cứ truyền dạy cho trò, đệ tử không ngộ đạo nữa thì tắt. Rồi người khác nghe cứ thực tập theo, được hay không được rồi tắt. Và cứ vậy cứ, thế giới này cứ trong lịch sử cứ chớp tắt chớp tắt. Lâu lâu lóe lên một bậc đạo sư rồi lại mất, lâu lâu lóe lên bậc đạo sư rồi lại mất. Cho đến khi Đức Phật của chúng ta, với cái cái cái cái bản chất siêu phàm, Đức Phật cũng tìm thấy con đường thiền định giống như những bậc đạo sư trước đó. Nhưng cái hay của Phật là Ngài không thỏa mãn cái kết quả mà Ngài đạt được mà đã được các bậc đạo sư khác công nhận, ấn chứng.
[4:14]Các bậc đạo sư khác như ngài Uddaka Rāmaputta vậy, công nhận là đây là tột đỉnh của đạo, thì Đức Phật lại thấy chưa phải. Và Ngài đã đi tìm con đường khác. Và chính vì Ngài tìm được con đường khác, ta có được một Đạo Phật giác ngộ, vô ngã, siêu việt. Ở trong thời của Đức Phật vậy, nhiều vị A-la-hán chứng cũng đã đạt được tới mức độ đó: giác ngộ, vô ngã, phi thường. Nhưng sau Phật rồi, bắt đầu ngay chính trong Đạo Phật vậy, cái nó lui dần lui dần về cái sự nhận thức về sự giác ngộ về thiền định, trở lại y hệt như là các ngoại đạo Ấn Độ từ thời xưa, cũng bị lui lại trở lại. Nên hôm nay vậy, mấy nghìn năm ta tiếp nhận cái thiền
[5:01]định của Đạo Phật, coi chừng cũng chỉ ngang cỡ của các ngoại đạo thời Ấn Độ và trước thời Đức Phật á, ngang thời Đức Phật và trước thời Đức Phật, chứ chưa phải là sự giác ngộ tột cùng như Đức Phật.
[5:17]Và một điều nữa là cái cái sự tiến bộ của loài người mà đi bằng con đường thiền định á, nó hay mà cũng không chắc là hay. Bởi vì sao vậy? Bởi vì khi người ta đạt được thiền định, người ta trở nên siêu phàm, người ta hiểu hết cả vũ trụ, nhưng người ta cũng có thể rơi vào cái trạng thái bị động. Cái sự giáo dục, sự truyền bá không có mạnh. Nên Đạo Phật, nên cái con đường mà cao siêu đó lại cũng không phát triển mạnh mẽ. Đây là một cái nhược điểm của những người mà nhập được định, họ trở nên thụ động. Như cái nền khoa học á, họ lập ra cả một hệ thống giáo dục trường học, bắt tất cả các em phải đi học.
[6:00]Lớn lên phải đi học, cha mẹ mà không cho con đi học là coi chừng bị phạt, bị bắt. Nên ai cũng đi học, và ai cũng có thể học được. Nhưng cái thiền định nó không phải là một khoa học rõ ràng, và phải ông thầy tìm đệ tử căn cơ dạy. Cả cái thế giới này mà nếu học kiểu đó thì được mấy người giác ngộ? Và thế giới vậy cứ mãi chìm trong cái tăm tối vì thiền định không trở thành một khoa học để có thể mà buộc tất cả mọi người đều phải học. Đây là một cái nhược điểm, nên ta đi tìm một cái con đường thiền định mà ai cũng phải tu được, ai cũng phải học được. Và cái cái siêu việt của thiền định là nếu ta đạt được cái cái
[6:38]sự giác ngộ tột cùng như Đức Phật thì ta nắm hết được vũ trụ, ta hiểu hết được vũ trụ, hiểu được hết bản chất của vũ trụ. Hiểu được hết bản chất của vũ trụ, ta dùng cái chữ gọi là giác ngộ, enlightenment, giác ngộ. Và khi ta hiểu hết được bản chất của vũ trụ là giác ngộ thì ta cũng giải thoát luôn. Giải thoát nghĩa là cái luân hồi sinh tử này không còn lôi kéo ta được nữa, ta thoát khỏi luân hồi sinh tử. Khi ta tìm thấy được bản chất của vũ trụ thì ta cũng dừng lại được cái luân hồi sinh tử của chính mình. Nhưng cái vấn đề là làm sao ta dạy được cái điều đó để cho tất cả mọi người ai cũng có thể học được giống như
[7:19]cái khoa học hiện nay, giống như toán học, vật lý, sinh học? Khi người ta phát minh ra được, tìm tòi được, người ta viết thành tài liệu và ai cũng có thể học được. Học dở học giỏi đi, nhưng mà đều học được. Còn thiền định thì chưa có được hệ thống một cách rõ ràng như là một môn khoa học và cứ giáo dục truyền thừa theo kiểu thầm lặng trong tông phái, thầy trò nên không phổ biến cả thế giới được. Ta phải làm cho thế giới hiểu một điều này: Thiền là một khoa học, thiền là một môn thể dục trí não, ai cũng phải, bắt buộc phải học, phải tập. Giống như toán á. Giống như bây giờ nói toán, ít nhất là phải cộng trừ
[8:00]nhân chia phải biết để sống làm con người chứ. Nếu cộng trừ nhân chia mà không biết thì cái người này không sống trong trong cuộc đời được. Không biết cộng, biết trừ, hổng biết buôn bán, không biết mua gì hết trơn thì thì thì không sống được cuộc đời được. Mà cái cộng trừ nhân chia cơ bản là thấp nhất á, thực sự là quá thấp. Chứ sống trong cuộc đời ngày hôm nay, ta phải biết nhiều hơn cái cộng trừ nhân chia. Ví dụ như ta phải biết định lý Ta-lét, biết về những tỉ lệ thức, rồi
[8:28]ít nhất là phương trình đồ thị, giỏi giỏi tí nữa thì lượng giác, ai giỏi tí nữa thì vi phân, tích phân. Giỏi vi phân, tích phân... quên sạch gần hết rồi nha. Nên là những điều đó nó nằm trong cuộc sống cả, và được hệ thống lại ai cũng có thể học được. Bây giờ ta phải thiền định phải làm sao như vậy, thành một cái hệ thống mà ai cũng học được, từ bé bắt đầu biết nhận thức là bắt đầu học được thiền định cơ bản. Vì cái lợi ích của thiền là làm cho người ta vượt khỏi đau khổ. Đó là cái mục tiêu chính của Đức Phật dạy ta là vượt khỏi đau khổ. Nhưng trong khi ta chỉ nghĩ là mình vượt khỏi đau khổ thì không ngờ ta tìm thấy được cả vũ trụ trong
[9:06]đó, ta hiểu được cả bản chất của vũ trụ. Và khi hiểu được cả bản chất của vũ trụ, ta giải thoát luôn, dừng lại luôn hồi sinh tử, thật sự chấm dứt mọi khổ đau. Đây là cái lợi rất lớn của thiền định. Chỉ có vấn đề là chưa phổ biến được vì cái cách truyền bá hay là cái cách giải thích chưa thành một cái giáo trình khoa học để bắt buộc mọi người đều phải học. Nhưng ngày hôm nay vì cái môn thể dục là bắt buộc phải học trong nhà trường, ta tới trường ta học chỉ là học văn hóa thôi, học kiến thức chữ nghĩa, nhưng bây giờ trong trường bắt buộc phải có giờ thể dục vì nó quá cần thiết cho con người. Sau này cũng vậy, sau này đến ngày nào đó các nhà khoa học phải
[9:44]lên tiếng với các chính phủ phải học thiền, vì con người ta suy nghĩ nhiều quá, và hiện nay bộ não mọi người đều trục trặc. Cái... cái tỷ lệ mà bệnh tâm thần kinh cách đây khoảng hơn 40 năm đó là 7%, nhưng ngày hôm nay khi người ta thống kê con số chính xác hơn cái số người bị bệnh hư về thần kinh này kia nọ là khoảng 30 phần... phần trăm. Con số lớn quá, cứ ba người có một người bị bệnh gì trong đầu á. Dòm thấy mặc đồ đẹp đẹp vậy chứ mà kiểm tra ra coi chừng trong não có cái gì ở trỏng trơ. Thấy hơi khờ khờ, khùng khùng, mát mát gì đó chứ không phải là bình thường đâu, đấy, cứ ba người dính một người.
[10:23]Mấy người ngồi trong hội trường này thì thấp hơn chút, tại vì mình nhờ mình theo Phật á, thì cái đầu mình nó đỡ khùng chút. Chứ còn cái thế gian ngoài kia người ta khùng nhiều lắm á. Vì người ta suy nghĩ, tính toán hơn thua, đấu tranh, rồi giận hờn, ghét bỏ, úi, đủ thứ chuyện nên não người ta hư luôn. Còn mình theo Phật, tâm mình từ bi đạo đức nên cái tệ... tỉ lệ trong đây nó hơi thấp hơn một chút, vậy nha. Ở ngoài người ta ba người thì hết một người bị hư, mình trong đây thì ba người...
[10:49]ít ít chút, đỡ hơn một chút, vậy. Nên đến ngày nào đó, thiền định sẽ phải trở thành một môn khoa học bắt buộc với loài người. Và những cái người mà ngồi đây nghe bài thiền này, tối có ngồi thiền là những con người tiên phong cho thế giới này, giúp cái thế giới này vượt lên. Tại vì nếu mà ta kêu gọi thiền định mà lúc đó không có ai tu thiền cả thì mọi người không có thuyết phục. Nhưng khi ta nói đến thế giới cần phải tu tập thiền định thì đã có sẵn bao nhiêu đây con người, mấy ngàn con người đây đang tu tập, có kết quả, có hiệu quả, tâm hồn được bình an, bớt những cái phiền động, bớt được những đau khổ,
[11:25]có sáng suốt hơn thì mình thuyết phục được thế giới. Cho nên những con người đang ngồi đây nghe cái bài về thiền, có thực hành về thiền là những người đang dẫn thế giới đi vào một nền văn minh khác. Ta không có trái ngược lại, ta không có xung đột với cái văn minh hiện có. Những cái văn minh suy nghĩ, tìm tòi, phát minh kỹ thuật hiện có, ta không xung đột, nhưng ta bổ sung lại. Bởi vì cái văn minh hiện nay nó ghê quá, nó từ từ đi tới chế tạo vũ khí bắn nhau ì xèo bên kia kìa, chết quá chừng chết. Thì ta có một cái nền văn minh của cái tâm tĩnh lặng. Mà cái nền văn minh của một nội tâm tĩnh lặng nó không
[11:57]có hận thù, không có ganh ghét, mà đem đến thực sự cái hạnh phúc, yên vui, thanh bình cho cái thế giới này. Nên ta không có chống cái nền văn minh kia, nhưng ta cần nhân loại có một cái nền văn minh bổ sung, đó là nền văn minh của... của thiền định là như vậy. Thiền định là gì? Thiền định là định tâm, không vọng tưởng, không suy nghĩ. Và cái định tâm không vọng tưởng, không suy nghĩ đó nó sâu cạn có nhiều lớp. Có khi ta mới yên yên thì cũng cả... đã thấy mình hạnh phúc. Ví dụ như ta nói đây là đi cái gì đó, tìm nơi mặt hồ tĩnh lặng, nơi chữa lành, rừng hoang tâm hồn thanh thản. Mới có thanh thản thôi mình thấy đỡ khổ rồi.
[12:47]Nói cái thế gian phức tạp quá, vô rừng ở mấy ngày thấy thanh thản, cũng may rắn chưa cắn, cho nên thấy rất là thanh thản. Thì mới thanh thản thôi là đã đỡ khổ rồi. Còn cái thiền nó cho ta không phải thanh thản nữa, cho ta cái sự tĩnh lặng, bình an sâu trong nội tâm. Cái hạnh phúc đó g... lớn gấp triệu lần cái thanh thản mà người đời cứ phải đi chữa lành, đi vô rừng, vô núi tắm sông, tắm biển, đi du lịch, du liếc rồi tùy... phiền lắm mà tốn tiền lắm. Còn ở đây không tốn tiền mà cái hạnh phúc rất là sâu xa.
[13:18]Nên cái thiền định tức là định tâm, không suy nghĩ, không vọng tưởng. Và cái mức sâu cạn nhiều lớp như vậy, mới ban đầu nó cho ta cái sự thanh thản, sau tới tu chánh niệm, tới bình an, cho tới nhập định, mà nhập định nhiều lớp, cho tới tận cùng vô ngã luôn là thành công. Nhưng mà sự thật là ta rất khó đi tới vô ngã, bởi vì ngang ở mức độ ngang chừng chừng nào đó ta bị một cái cảm giác của sự kiêu mạn, tự khen mình. Ngang đó cái phước nó dừng lại và ta mai mốt lui trở lại. Rất nhiều người bị điều đó. Rất nhiều người bị chứng được một thoáng thiền rồi qua những kiếp sau từ từ lui lại trở thành người bình thường.
[14:02]Rất nhiều người đang ngồi trong hội chúng này đã từng bị điều này. Những kiếp xưa đã tu tiến rất là cao, chỉ bởi vì tự khen mình, chưa biết rằng nó chưa phải tột cùng, nhưng mà đã khen mình vội. Thế là từ từ những kiếp sau rơi dần, rơi dần, rơi dần xuống. Cho đến kiếp này, ngồi đây trong hội chúng này, trở thành một người học lại từ buổi đầu, chứ trước đây có nhiều kiếp trước cũng cao siêu lắm chứ không phải không, không biết được. Nhìn thấy mặt khờ khờ vậy chứ coi chừng ngày xưa cũng là thiền sư không ấy chứ, không phải. Nhưng mà lỡ tự khen mình nhiều quá, cái thành ra nó hư, rất là uổng. Cái đó là cái khó đó, cái khó chúng ta khó giác ngộ chỉ bởi vì từ lúc tâm ta
[14:42]yên cho tới cái chứng tới vô ngã tột cùng, khoảng giữa đó ta bị kiêu mạn. Mà cái kiêu mạn này nó... nó lây lan từ ông thầy qua tới trò, từ tông này qua tới tông kia và có sự cạnh tranh. Ai cũng quảng cáo con đường mình hay nhất và cứ... cứ khi mà quảng cáo cao siêu chừng nào thì cái người học theo dễ bị kiêu mạn chừng nấy. Đây là cái nguy hiểm của thiền. Đó là lý do mà bao nhiêu ngàn năm qua, tức là từ lúc Đức Phật cho đến bây giờ là 2600 năm rồi, ta vẫn còn ngồi đây. Chỉ bởi vì ta tu tiến đến mức độ nào đó ta bị lui lại. Mà cái lui đó chính là do kiêu mạn làm ta không đi đến tột cùng của sự vô ngã, đấy.
[15:25]Thì hôm nay ta biết cái bệnh đó rồi thì mình có cách chữa, có cách chữa. Thế bây giờ cái vấn đề là thế này, thiền là phương pháp dừng sự suy nghĩ để làm cho vọng tưởng tắt đi, không khởi lên nữa, nguyên... đó là một mục đích của thiền. Mà định sâu cho tới vô ngã, đó, con đường đi của thiền là như vậy. Thì vấn đề vọng tưởng, bây giờ vấn đề là ta đối phó vọng tưởng, vọng tưởng nó cứ tự suy nghĩ. Tại sao đầu ta nó cứ tự suy nghĩ hoài? Bây giờ ta nói im không nghĩ nữa nha, có được không? Không, nó không nghe lời mình. Cái đặc điểm của vọng tưởng là nó không nghe lời mình. À, vậy nó là ai? Không biết nó là ai mà nó không nghe lời mình vậy thôi à.
[16:10]Kêu cứ suy nghĩ hoài, im coi. Kệ mình, nó cứ suy nghĩ, hết chuyện này tới chuyện kia. Là nó vọng tưởng là cái gì nằm ngoài sự kiểm soát của mình, ngoài ý muốn của mình. Thiển thử ra mình với nó không biết ai là chủ. Mình muốn yên nó không yên, nó dẫn mình đi miết. Cũng giống như là mình nuôi một con mèo á, mới ban đầu là nói ờ tôi là ông chủ, con mèo này là của tôi. Nhưng qua mấy ngàn năm rồi con người mới ngộ ra một điều không, con mèo mới là chủ của tôi. Tôi phải nâng niu, phải nựng nịu nó, không có ngoe nguẩy mà nó làm chảnh dữ lắm. Con mèo mới là chủ, mới là boss của tôi chứ không phải tôi.
[16:50]Cũng vậy á, mới đầu ta nghĩ ta làm chủ cái tâm này, tôi suy nghĩ chuyện này, tôi suy nghĩ chuyện kia, nhưng ta ngẫm lại cho kỹ ta mới phát hiện hình như không phải là mình suy nghĩ mà cái suy nghĩ nó dẫn mình đi, chứ không phải mình là người suy nghĩ, mà cái suy nghĩ nó dẫn mình đi từ vấn đề này sang vấn đề kia. Rồi đến ngày hôm nay mình gặp Phật pháp nói về thiền định, cái mình muốn thiền định để dừng mọi sự suy nghĩ lại. Lúc đó mình mới phát hiện ra là thì ra là cái suy nghĩ nó là chủ mình chứ không phải mình làm chủ cái suy nghĩ. Đây là vấn đề. Nên nhiều người tu vất vả, mình tu nhiều năm rồi không dừng được sự suy
[17:30]nghĩ, không nhập được vào định là chỉ bởi vì vọng tưởng nó khó quá. Nhưng hôm nay ta mổ xẻ vấn đề này. Có ba yếu tố tạo nên vọng tưởng. Ba yếu tố tạo nên vọng tưởng, nhớ giùm này, vì bắt đầu đi vào chuyên môn hơi khó rồi đó. Một là sinh lý của cơ thể, hai là tâm lý đạo đức và ba là nhân quả nghiệp báo.
[18:03]Ba yếu tố này góp phần tạo nên suy nghĩ, tạo nên vọng tưởng. Cái thứ nhất là sinh lý cơ thể là bộ não mình được cấu tạo để suy nghĩ, và nó không chịu dừng, vì bản chất của sinh lý của não là phải luôn luôn suy nghĩ. Những cái xung động, những cái trao đổi chất ở trong não, những cái hóa chất, những cái xi-náp của não mà nó nối nhau từ tế bào não này qua tế bào não kia luôn luôn kích ứng nhau liên tục, liên tục, rất là căng thẳng. Và bản chất của cơ thể là suy nghĩ, bản chất của não bộ là suy nghĩ. Ví dụ ta đi bình thường ta nhấc chân nhấc tay thế này thì mọi cái cử động của ta đây nó não đi xuống và nó đánh ngược lên não.
[18:52]Từ não nó điều khiển cái tay ló ra ló vô mà cái tay ló ra ló vô này nó đánh ngược lên trên não, thế là não cứ phải hoạt động. Nếu não không hoạt động mình chết chứ không phải là mình nhập định. Vì bản chất của sinh lý cơ thể là vậy, não. Cho nên cái vấn đề xử lý xử lý cái vọng tưởng đầu tiên phải hiểu về cái sinh lý não cái đã. Và trong cái sinh lý não này thì yếu tố nào làm cho bớt vọng tưởng? Đây là một yếu tố. Yếu tố thứ hai là yếu tố tâm lý đạo đức. Ta động tâm ta suy nghĩ bởi vì trong cái tâm lý ta nó có những cái tổ hợp kích động cái vọng tưởng, ví dụ như tham. À, trong tâm lý ta nó có một ổ tham trỏng thì cái tham này nó cứ kích động ta
[19:37]phải suy nghĩ, phải tìm tòi, phải ham muốn, phải tính toán chuyện này chuyện kia để ta có thêm được tiền, ta có thêm được nhà, ta có thêm được danh, ta có đủ thứ hết, đó tham, rồi hoặc là ta sân, ta giận, ta tự ái, à ta phiền não. Những cái ổ đó, những cái ổ là những cái tập khí, là những cái triền cái, những cái kiết sử đó, nó cứ kích động suy nghĩ ta. Ví dụ ta thấy một người nào đó giàu sang, cái ta động tâm. Ta động tâm là hoặc ta tham, ta muốn ta giàu như họ, hoặc ta ganh tị, ta thấy sao họ giàu hơn mình, mình thua họ. Hoặc ta thấy một người đẹp, rồi ta thấy tại sao họ đẹp hơn mình, vân vân. Vậy đó.
[20:19]Thì những cái đó, những yếu tố thuộc về tâm lý đạo đức á, những cái đó nó kích ứng tạo nên vọng tưởng. Hoặc là ích kỷ. Ích kỷ là cứ lo cho mình. Thì cứ tưởng mình nghĩ mình cho mình mình không bận tâm tới ai, không ngờ cứ tưởng ích kỷ là yêu chính mình, không bận tâm đến chuyện người khác là tâm mình yên, không! Cứ càng lo cho chính mình, càng nghĩ về chính mình thì vọng tưởng lại cuồn cuộn như là sóng thần. Đây là điều rất là lạ. Còn những lúc mà mình nghĩ cho người khác, coi vậy chứ vọng tưởng lại yên, nó lại nhẹ, lại liên quan đến cái đó. Nên nhiều nơi đây là yếu tố thứ hai, tức là yếu tố tâm lý đạo đức á, yếu tố của tâm lý nó tạo nên vọng tưởng.
[21:00]Rồi yếu tố thứ ba là yếu tố nhân quả nghiệp báo. Nhân quả nghiệp báo là những cái tội, cái phúc ta làm trong quá khứ và bây giờ nó tâm ta được yên hay không. Ví dụ như kiếp trước ta hay làm động tâm người khác thì kiếp này mình rất khó mà tu thiền định. Còn nếu kiếp trước ta làm cho người khác yên tâm thì kiếp này khi ta tu tập thiền định, mình dễ yên tâm hơn. Vậy làm cái gì mà làm cho người khác động tâm? Nó nhiều chuyện lắm, nhiều chuyện. Ví dụ như thế này, ví dụ như một cái người ăn trộm
[21:36]cả ngày, vì ăn trộm này cũng nghèo, cứ đi lang thang lang thang đi tìm cái thấy có chiếc xe đạp ai hở đó, cái vội lấy mất.
[21:46]Không ngờ chiếc xe đạp đó để cả nhà nó đi bán bánh. Ổng sửa soạn ổng đem bánh ra ổng gác đi, ổng chở đi vòng vòng bán hàng xóm, lấy mất xe đạp cái là bữa đó không bán bánh. Cả nhà căng thẳng đi tìm chiếc xe và lo không biết làm sao bánh làm sao đem đi bán, rồi làm sao mà khiêng đi được hết nẻo đường này nẻo đường kia để rao bán bánh. Thì lấy có chiếc xe đạp cái giá trị của nó bây giờ nhiều khi chỉ chừng mấy trăm ngàn, triệu, nhưng cái căng thẳng mà mình gây cho cả một gia đình đó họ phải chịu đựng. Nên ta đừng tưởng mình làm người khác động tâm là phải làm chuyện gì lớn lao, không! Nhiều khi một chuyện nhỏ nhưng cái động nó lây lan qua
[22:21]nhiều người cũng là làm cho người ta động tâm. Còn ví dụ như mở một cuộc chiến tranh, đánh một cái,
[22:33]chết một người thôi, chỉ cần chết một người thôi là cả cái xóm họ đau khổ, họ căng thẳng. Mấy cái đó là cái mà ta làm người khác động tâm. Rồi còn có một cái nữa, nhiều khi ta làm người khác động tâm mà mình không muốn nhưng cái mặt mình nó làm. Là cái gì? Ai hiểu? Nhật Chiếu Ngộ có hiểu chuyện đó không? Dạ.
[23:02]Mình không muốn làm ai động tâm nhưng cái mặt mình nó làm, dễ ghét vậy đó.
[23:11]Ở đây ai thấy cái mặt mình làm người khác động tâm, giơ tay lên sư phụ coi! Nhiều người thời trẻ cũng huy hoàng lắm đó nha, làm cho bao nhiêu người động tâm đó. Bây giờ mà tu không biết bao giờ mới được. Cô Lãnh thì sao? Có không? Có làm ai động tâm không? Ghê lắm. Đó, còn người kia nữa, cái áo đo đỏ đó đó, có không? Có không? Đó, ít nhất các ông này. Vậy nó có những cái nghiệp nhiều khi giống như vô tình nhưng mà ta làm người khác động tâm mà mình không muốn và nó cũng thành nghiệp. Cái khổ của ta trong luân hồi là thế này: có những cái nghiệp ta vô ý mà vẫn thành nghiệp, cực kỳ đáng sợ. Đây là cái điều mà chúng sinh rất là khó thoát.
[23:57]Nên vì vậy, hễ như một vị Bồ Tát mà hiện thân ở cuộc đời, nhiều khi các vị không hiện cái tướng đẹp mà hiện cái tướng vừa chừng, nghiêm trang vậy thôi chứ không dám hiện cái tướng đẹp. Bởi vì tướng đẹp lại làm người khác động tâm, mà chúng sinh thì lại rất dễ động tâm. Do cái nghiệp, cái kiết sử thẳm sâu trong mình rất dễ động tâm. Nên cái rồi nhiều cái loại nghiệp mà làm cho ta bị quả báo là động tâm, đời này rất khó tu tập. Đó ta hiểu ba cái yếu tố không? Nhắc lại, ba yếu tố tạo nên vọng tưởng: một là gì? Sinh lý cơ thể. Hai là gì? Tâm lý đạo, đạo đức. Ba là gì? Nhân quả nghiệp báo. Ba cái yếu tố đó tạo nên vọng tưởng.
[24:49]Bây giờ ta mổ xẻ từng cái yếu tố. Giờ mấy giờ rồi ta? 8:00. Chắc nói trước khi gà gáy sẽ xong.
[25:05]Nghe cái sợ, nghe cái động tâm liền ha?
[25:10]Cái yếu tố thứ nhất là sinh lý cơ thể. Bộ não chúng ta sinh ra là cứ suy nghĩ. Tuy nhiên, nó không phải hoàn toàn như vậy, nên trời đất vẫn cho ta một lối thoát là trong cái cơ thể vật chất này ta còn có một cái cơ chế khí lực vô hình. À! Khoa học ngày nay thì chỉ mới nhìn thấy tế bào, thấy vật chất này thôi. Nhưng ở những cái ngành y học khác, nhất là phương Đông, thì còn thấy ta còn có một cái khí lực vô hình nó bám theo cơ thể tạo thành cái sức khỏe cho ta. Ví dụ ta nhìn một người cái ta thấy: Ồ, bữa nay nhìn thấy anh khỏe quá ha, mặt mày có rạng rỡ. Ổng không lên được cân nào. Ổng có thể như là ổng 55 ký ổng cũng 55 ký,
[26:01]ổng 65 ký ổng vẫn 65 ký nhưng mình nhìn cái mặt bỗng nhiên sáng lên. Thì cái gương mặt sáng lên đó cũng không phải là do ổng thêm hồng cầu. Tại vì cái yếu tố thêm hồng cầu nó cũng không thành cái cái cái lấp lánh, cái cái phản ánh sáng nơi gương mặt. Nhưng mình thấy rất là tươi, rất là sáng lên thì đó chính là cái khí lực vô hình, ta hay gọi là điện sinh học. Mỗi người chúng ta đều có cái điện sinh học đó hay gọi là có cái khí lực vô hình, ai cũng có cái đó. Người ít, người nhiều, người sáng, người tối. Và cái đó nó cũng thay đổi theo nhiều trường hợp. Ví dụ người khỏe thì cái khí lực nó sung mãn, người yếu khí lực nó kém.
[26:38]Cái người thiện tâm, cái khí lực vô hình nó rất là sáng. Còn người tâm ác thì cái khí lực đó rất là mạnh và rất là đen đúa. Đó, nó nó vô hình nhưng nó tồn tại nơi con người của chúng ta và nó chi phối sức khỏe bên trong của chúng ta. Ví dụ bây giờ nói tim yếu, ta tìm coi lý do tại sao tim cái cơ tim ta nó nó nó nó đập không mạnh? Thì y học Tây nghĩ là nó thiếu máu, thiếu máu cơ tim. Nhưng mà các ngành y học khác người ta nói nó thiếu cái khí lực vô hình ở trong đó. Vì thiếu khí lực vô hình nên tim nó đập không nổi. Hoặc giống như ta bị xẹp cái đĩa đệm làm đau lưng mà ta nói rằng nó thiếu cái co collagen gì đó,
[27:21]nhưng mà đối với ngành y học khác thì cho rằng bị thiếu cái khí lực nó nâng cái đĩa đệm, căng cái đĩa đệm phồng ra. Nên cái yếu tố mà gọi là khí lực vô hình nó tràn ngập trong cơ thể và điều chỉnh, nó giữ gìn cái sức khỏe cho chúng ta và nó cũng ảnh hưởng tới yếu tố tâm định hay là động. Và ở đây thì các nhà
[27:45]các nhà y học thời xưa vậy, họ tìm ra được một cái yếu tố này rất là hay là nếu cái đầu của chúng ta, nếu ở phía trên đầu chúng ta mà nhẹ, lực không bị dồn lên trên, mà lực nó tụ ở phía dưới bụng nhiều thì tâm ta yên tĩnh. Đây chính là cái cái gỡ rối cho ta. Chứ còn bình thường ta bệnh gì nó cũng làm tâm ta động hết. Ta nóng gan, ta gan ta yếu cũng làm động tâm suy nghĩ. Tim ta yếu, cái nhịp tim đập nhanh cũng làm đầu ta suy nghĩ mạnh hơn, vọng tưởng mạnh hơn. Cái phổi ta yếu cũng làm vọng tưởng mạnh hơn. Bao tử ta mà đau cũng làm vọng tưởng mạnh hơn. Mà đặc biệt mà thận mà suy một cái rồi là mất ngủ
[28:28]luôn, vọng tưởng căng thẳng luôn, stress luôn. À! Hứ, nên vì vậy là cái cái cơ, cái bắp, cái bắp chân của ta vậy, cái chân mà yếu cái là vọng tưởng trên đầu rất là mạnh. Nên cái yếu tố cơ chế sinh lý nó vậy. Và ở đây ta điều chỉnh cái khí lực nó lại. Ta không điều chỉnh cơ chế sinh lý bằng cái chữa từng cái, không phải chữa tim cho nó bớt vọng tưởng, không phải chữa thận, chữa gan từng cái từng cái cho nó bớt vọng tưởng. Nhưng có đó, cũng phải ăn uống làm sao để cho đừng để hư thận, đừng để tiểu đường, đừng để đau gan, kia nọ thì cũng làm cho ta bớt vọng tưởng. Nhưng mà tuy nhiên, cái yếu tố khí lực vô hình vẫn là điều quan trọng nhất.
[29:11]Ta điều chỉnh làm sao mà khí lực ta lắng xuống dưới bụng thì đầu ta bớt vọng tưởng. Đó là cái người xưa họ tìm được rất là là lâu rồi. Mà để cái cái khí lực nằm ở dưới này cho nó yên tĩnh thì ta thường để tâm ở dưới này. Hì ví dụ cái để tâm xuống dưới bụng nó bí mật. Ví dụ ta vẫn cười, vẫn nói, vẫn nhìn mọi người nhưng lúc nào cũng để ý dưới bụng, chia thêm một tâm để ý dưới bụng để cho lực nó lắng xuống. Chứ còn khi ta vừa mở mắt chào đời một cái, lực bắt đầu chạy lên. Thì mở mắt ra là nhìn thấy, kêu ba ba má má, tai bắt đầu nghe, những cái giác quan cứ nằm trên đầu không! Nên khi mà giác quan ta khởi động để tiếp nhận thế
[29:54]giới thì mọi sự chú ý của ta cứ lên trên đầu và lực ta nó cứ chạy dần chạy dần lên trên đầu. Nó chạy đến khi nào nó bốc lên đầu hoàn toàn thì ta đứt hơi thở, chết liền. Tức là cái khí lực mà không còn ở dưới bụng thì ngay đó chết liền. Đó là nguyên tắc. Hễ mà ta thấy người nào yếu cà giặc cà dẹo, họ còn chút khí lực dưới bụng, dồn hết lên đầu rồi nhưng còn chút dưới bụng và người đó trong tâm lý rất căng thẳng, rất hoảng sợ. Đụng cái giật mình liền tại vì họ bất an vô cùng. Còn nếu ta cứ để tâm ở dưới bụng này, làm gì làm nhưng mà tâm cũng biết dưới bụng một chút, lực nó lắng xuống. Vậy mà ta bớt cái vọng tưởng rất là nhiều.
[30:34]Đó là bí quyết của người xưa. Ngoài ra, còn cái bí quyết nữa là
[30:42]Cái vọng tưởng của ta nó gắn với hơi thở, nghĩa là khi ta động tâm thì hơi thở nó mạnh, khi ta tâm nó bình tĩnh thì hơi thở nó nhẹ. Đó là yếu tố, đó là hơi thở là kết quả của của tâm. Tâm động thì hơi thở mạnh, tâm thanh tịnh thì hơi thở nhẹ. Nhưng cũng ngược lại. Bây giờ ngược lại, ta điều khiển cái tâm cái hơi thở nhẹ thì tâm ta cũng yên lại. Đó, nó có nó tính tương tác: định lý thuận và định lý đảo. Đó, nếu nói định lý thuận: tâm động thì hơi thở mạnh, tâm yên thì hơi thở nhẹ. Nhưng bây giờ ngược lại, ta chủ động giữ cho cái hơi thở nó yên tĩnh, ơ giữ cho hơi thở nó nhẹ thì tâm ta cũng bớt động, đó là cơ chế sinh lý.
[31:35]Cái này ta gọi là chỉ, là kỹ thuật. Nên những cái kỹ thuật về cái để tâm dưới bụng đó làm cho khí lực lắng xuống cũng là một bí quyết để tịnh tâm, hoặc là điều khiển hơi thở cho nhẹ lại cũng là một bí quyết để để tịnh tâm. Nó thuộc về cái gì? Yếu tố gì? Ta đang đối phó với yếu tố gì trong ba yếu tố? Sinh lý cơ thể. Đó đó. Ta nhớ ba yếu tố mà làm nên vọng tưởng: một là sinh lý cơ thể, hai là tâm lý đạo đức, ba là nhân quả nghiệp báo. Nãy giờ ta đang nói về cái yếu tố đối phó với yếu tố sinh lý cơ thể là ta đang nói về sinh lý cơ thể nên cái phép này gọi là phép chỉ, tức là những kỹ thuật. Nên khi ta nghe nói tới tu chỉ,
[32:22]tức là những kỹ thuật mà đối phó với cái sinh lý cơ thể. Tức là sinh lý cơ thể nó đang tạo nên vọng tưởng và ta hiểu về nó, ta có những phương pháp để làm cho vọng tưởng lắng xuống bớt xuống. Và có những trường hợp nhiều khi có những người cái thượng căn, nhiều đời họ cũng tu tốt làm sao, đời này họ chưa xử lý qua cái yếu tố thứ hai là tâm lý đạo đức, cũng chưa xử lý cái nhân quả đạo đức, mới cái yếu tố thứ nhất là sinh lý cơ thể, họ đắc định luôn, mà nhập rồi nó đắc đạo luôn cũng có nữa. Có những người như vậy, lạ vậy. Mà khổ, mà mấy người đó mà đi dạy là không dạy ai được hết trơn á. Tại họ chưa có tu tập được nhiều, tức là họ chứng nhanh quá,
[33:01]cho nên đến khi đó khi họ dạy, họ không phân tích ra đủ ba cái yếu tố tạo nên vọng tưởng này, họ cứ đứng ngang ở chỗ sinh lý cơ thể, họ dạy mấy cái phép chỉ là những kỹ thuật để dừng tâm thôi, họ không biết về cái tâm lý đạo đức là phép quán chiếu, cũng không biết về cái nhân quả nghiệp báo để sám hối để tác ý thế này thế kia, thành thử chúng sinh lại không được lợi ích. Đó. Còn cái người nào mà họ hiểu hết cả ba yếu tố này, họ dạy mình thì mình rất là đỡ. Lúc mình tự quan sát mình, mình biết mình kẹt ở chỗ nào và mình điều chỉnh cái chỗ đó, mình sửa chỗ đó. Nhưng mà cái đầu tiên vẫn là yếu tố sinh lý cơ thể là làm ơn cái gì?
[33:41]Lắng tâm ở dưới dưới bụng. Làm ơn cái gì? Giữ hơi thở nhẹ. Mà chúng ta hay dùng ba chữ là gì? Chậm, ít, êm. À. Nào giờ ta cứ tưởng là ta thở nhiều thì sẽ được nhiều oxy, mà nhiều oxy thì khỏe.
[34:05]Nhưng gần đây thì khoa học lại phát hiện ngược lại: ít oxy khỏe hơn. Rất kỳ lạ. Vừa rồi có một bài báo, mới đọc, nói họ tìm một cái phương pháp trị tiểu đường rất là kỳ lạ và cả khoa học bất ngờ. Lý do là họ cứ phát hiện những người ở vùng núi cao cái tỉ lệ bị tiểu đường rất là thấp so với dưới đồng bằng thấp. Thì họ nói tại sao mà cái người ở vùng cao lại là ít bị tiểu đường? Thì người ta hiểu đặc điểm của người ở vùng cao là cái gì? Là cái gì? Oxy loãng. Ở vùng cao oxy bị loãng, nghĩa là những người đó họ họ hấp thụ oxy ít hơn người người dưới đồng bằng. Thì nói: "Ủa, cái yếu tố mà oxy loãng thì tức là cái hồng cầu nó tải oxy
[35:00]ít thì có liên quan gì tới việc tiểu đường?" Thì thường thường ta nghĩ cái tiểu đường liên quan nhiều là ở tuyến tụy. Tuyến tụy ta tiết được insulin nhiều thì ta không bị tiểu đường, mà người nào tuyến tụy tiết insulin ít quá thì ta bị tiểu đường. Nào giờ căn bản, đó là cái kiến thức căn bản của y học về bệnh tiểu đường. Mà nhờ sau này y học tiến bộ ta mới biết điều đó, chứ hồi xưa vua chúa chết vì bệnh tiểu đường hết mà không hay. Còn bây giờ thì ta mới biết bệnh tiểu đường mà đến nỗi người ta nói tiểu đường là ông tổ của mọi loại bệnh, câu đó rất là đúng. Đường nó tăng cao, sinh ra đủ thứ bệnh.
[35:35]Nhưng vừa rồi vậy, người ở vùng cao lại ít bị tiểu đường, mà vùng cao là không khí loãng, oxy thấp. Thì sau đó họ mới khi mà họ thấy yếu tố đó rồi họ mới đào sâu họ tìm hiểu thì họ phát hiện một điều là khi mà người ta ít oxy trong máu thì hồng cầu nó tăng cái tính năng, nó hấp thụ lấy hết đường trong máu đi. Tại vì tiểu đường tức là đường trong máu nhiều và nó không thoát ra được, không có đưa vào trong tế bào được. Thiếu insulin nó không vào trong tiếng tế bào nên nó cứ kẹt ở trong máu và làm cho cái chỉ số glucose trong máu nó cao, ra bệnh tiểu đường. Và cái máu mà nhiều glucose đó nó đi tới đâu nó phá tới đó,
[36:16]nó tới não hư não, tới tim hư tim, tới thận hư thận, tới gan hư gan. Thì bây giờ không cần insulin để đưa cái đường đó vào trong tế bào mà thành béo phì nữa. Mấy cái người mà ví dụ ăn nhiều mà không bị tiểu đường thì buộc người đó phải béo phì, như Hồng vậy đó, hiểu không? Ừ. Tại vì sao? Vì cái insulin, cái tuyến tụy nó tốt quá, nó tiết, nó đưa hết tất cả đường vào trong tế bào. Còn đây cái người vùng núi họ lạ một điều là oxy ít thì hồng cầu tự nó giải phóng, nó lấy nó lấy đường trong máu đi. Đây là một phát hiện chấn động đó. Thế giới đọc bài báo đó xong ai cũng ngỡ ngàng, sư phụ cũng ngỡ ngàng.
[36:58]Và khi ngỡ ngàng thì sư phụ rất mừng là chính cái phương pháp thở của mình chậm, ít, êm là giúp cho mọi người bớt tiểu đường. À.
[37:10]Rất là lạ. Nào giờ chùa mình nhớ không? Mình là chậm, ít, êm mà đã chậm, ít, êm rồi thì mình không có thở oxy nhiều, mình không hấp thu oxy nhiều, dù mình sống dưới đồng bằng, oxy mà rồi đặc biệt ví dụ cái phương pháp khí công của chùa mình tập là gì? Cái thở khí công là gì? Nhớ không? Hít vô nhanh bằng mũi, thổi ra chầm chậm bằng miệng. Cái cách đó oxy có vô nhiều không? Không. Cái cách đó cũng là một cách hấp thu oxy rất là thấp. Mà đặc biệt của cái phương pháp mà hít vô nhanh bằng mũi, thổi ra chầm chậm bằng miệng lại là phương pháp làm cho ta lắng đọng để ta đánh đòn và nó phát nội lực. Lúc đó khi ta đánh đòn rất dễ buông lỏng toàn thân, cảm giác toàn thân.
[37:59]Đây là trong cái võ thuật. Ví dụ khi thường thường cái người muốn đánh đòn mạnh á, người ta phải gồng cái cái cái cánh tay người ta lên, người ta đánh một cái là phải gồng lên, gồng lên thì coi như là mình đánh mạnh. Nhưng mà cái người mà họ hiểu khí công thì họ không họ không gồng bàn tay. Họ buông lỏng toàn thân và biết toàn thân. Thấy không? Và họ đánh bằng cái ý thôi. Ví dụ khi họ đánh vào cái bao cát, họ muốn nó mạnh thì cái lực vào bao cát nó mạnh, chứ họ không phải gồng bàn tay. Không có điều chỉnh cái lực mình bằng đánh cho mạnh để rầm được cái bao cát nó nó tác động một lực mạnh, không, họ chỉ bằng cái ý thôi.
[38:28]Ờ họ muốn tăng cái lực lên chút thì họ vẫn buông lỏng thì lực tác động vào bao cát rất là mạnh. Thấy ra rất là lạ và cái đó cũng là một lối mà ít oxy. À, không ngờ trong một trạng thái ít oxy nào đó, cơ thể ta lại bừng lên cái sức sống, lại khỏe hơn. Nhưng mà ít quá thì nó nín thở, nó tắt thở, nó chết thì ráng chịu, sư phụ không có bảo đảm điều đó à. Nên ít, ít vừa vừa thôi. Vậy cái chữ "ít vừa vừa" là cái chỗ nào? Nhiều oxy quá, coi vậy chứ là bệnh, phải không? Biết rồi. Ít oxy quá là thiếu oxy lên não cũng chết. Cho nên ta cần ít oxy mà ít vừa vừa thôi. Ít vừa vừa là ít làm sao? Có một lần sư giảng cái bài, nhớ không?
[39:17]Sư nói thế nào? Thở chậm, ít, êm, tìm ra được cái hơi thở mà dính với tâm. Nhớ không? Đó. Khi ta thở chậm, ít, êm, ta dò ta tìm và ta thấy ngang chỗ này tâm mình dính vào hơi thở là nó yên luôn á. Nó yên trong hơi thở. Khi mình thở như vậy tâm mình nó yên, tức là hơi thở dính với tâm là như vậy oxy mình hấp thu không thừa, không thiếu. Đây là cái cảm nhận tự nhiên chứ không có thước đo, không có hít vào mấy lít, thổi ra mấy lít, không có con con số mà đây là cảm nhận của của cá nhân. Nhiều khi sư phụ cho ai cái thang thuốc, cái họ hay nhắn tin hỏi một câu rất dễ ghét: "Liều lượng làm sao thầy?" Thì thầy trả lời nè, người trả lời:
[40:02]"Con tự cảm nhận." Không nói nữa, mệt quá à. Thì mỗi người có người béo, người gầy khác nhau, bệnh nặng, bệnh nhẹ nó khác nhau thì mình uống thuốc mình tự cảm nhận chứ. Uống cái liều vô đây không hết bệnh thì uống tăng liều, rồi nếu mà nó hết rồi thì thôi giảm liều, tự cảm nhận chứ sự thật không có công thức cho tất cả mọi người. Cái hơi thở cũng vậy, chậm, ít, êm, nhưng bao nhiêu? Thực sự ta không có con số mà bằng cái cảm nhận bằng cái chỗ mà tự cảm nhận để biết cái hơi thở chậm, ít, êm của mình mà dính vào tâm, để tâm dính vào đó mà yên. Thì cái này nó là cảm nhận của của cá nhân. Mà nói tới cảm nhận của cá nhân thì liên quan tới cái gì?
[40:48]sự thông minh của mỗi người. À. Cho nên, cái người ngu tu thiền khó hơn người khôn.
[41:01]Cái người ngu á, cái sức cảm nhận cái hơi thở chậm ít êm dính lấy tâm chưa, nhận không ra. Tại ngu mà. Còn cái người thông minh á, khi mà họ thở chậm ít êm họ cảm nhận là dính được với tâm rồi. Họ yên chỗ hơi thở, cường độ này là là êm rồi thì họ biết đây là chỗ mình dính với tâm. Mà không đem cái mình ra cho người khác được. Người khác họ cơ chế cơ thể họ riêng, tâm lý sinh lý họ khác, nên mỗi người khác nhau và tự cảm nhận. Và cái tự cảm nhận đó lại lệ thuộc vào mức độ trí tuệ. Mình nói chữ ngu với khôn nghe nó hơi thô, cho nên mình sửa lại tùy thuộc vào mức độ trí tuệ. Người trí tuệ quá thấp, đáng lẽ mình dùng chữ ngu
[41:43]đó, nhưng mà chữ ngu thì nghe nó xúc phạm quá, nghe nó bôi bác quá, nên ta dùng trí tuệ quá thấp. Nghe thôi, trí tuệ quá thấp. Thì cái mức cảm nhận của mình nó không nhạy. Mức độ cảm nhận nó không nhạy. Nó cứ trật vuột, trật vuột hoài. Còn cái người mà trí tuệ ở mức độ cao đó thì họ nhạy, họ cảm nhận được cái đó. Nói: "Như vậy con thuộc mức độ trí tuệ rất thấp thì làm sao con cảm nhận được cái chỗ mà hơi thở dính với tâm? Mức độ trí tuệ con thấp." Khi mà con nói con mức độ trí tuệ con thấp là con đã hơi khôn rồi. Tại con dùng chữ con né qua đó là con hơi khôn rồi đó. Chứ đáng lẽ con nói con ngu mà con đã tránh được
[42:24]cái chữ ngu là con đã khôn chút rồi đó.
[42:29]Bây giờ làm sao cho mình khôn lên? Tại vì khôn rồi mới cảm nhận được cái hơi thở đó. Làm sao cho khôn lên? Ai biết? Ở đây ai khôn? Dòm mặt ai cũng khôn hết. Thấy khờ khờ chứ khôn quá đi. Làm sao khôn lên? Đây, hôm nay sư nói cái bí quyết để cho khôn lên ở đây.
[42:56]Quan sát mọi người cần cái gì để giúp người ta.
[43:02]Cái đó là yếu tố làm mình khôn lên đó, ngộ vậy.
[43:14]Đợi người ta hỏi, nhờ vả mình mới giúp. Mình có giúp thì mình có phước, chứ không khôn. Nhớ giùm điều này. Ví dụ như có người nói ờ: "Anh anh chở tôi đi bệnh viện chút nha. Sao tôi ngồi tôi đau quá, nhà tôi không còn ai hết trơn." Thế là mình lấy xe mình chở đi, mình là tốt bụng, thì người như vậy giúp người ta như vậy là mình có phước, nhưng không khôn, nhưng không tạo ra quả báo khôn. Thế tạo ra quả báo khôn là làm sao? Thế là mình ngồi bên nhà mình, mình nhìn bên kia sao nó im ru, tới giờ này đáng lẽ nó nấu cơm mà không thấy ai hết trơn, mình chạy qua hỏi: "Anh bị gì vậy?" Nói: "Hơ nhà đi vắng hết trơn mà giờ tôi đau bụng quá không có
[43:53]ngồi dậy nổi." Thì mình nói để tôi chở anh đi bệnh viện. Tức là người ta chưa nhờ mà mình đã biết người ta cần, thì cái nhân quả đó là sau này mình khôn khôn không ai chịu nổi, đó như vậy.
[44:10]Đoán được cái người ta cần để giúp khi người ta chưa có bày tỏ, đó là nguyên nhân sau này tạo thành một cái sức thông minh không ai chịu nổi. Nhớ như vậy. Nên từ đây về sau vậy, rồi khi ta cả một cuộc đời của mình hay bao nhiêu năm của mình mà cứ đoán người khác cần cái gì để giúp, chứ đừng đợi người ta nhờ. Đoán vậy đó chứ nhìn dòm mặt sư biết là nghèo. Đó đó, nhớ giúp nha, nhớ người nghèo đó vậy. Rồi rồi.
[44:40]Cứ mình đoán người ta mà mình giúp được á, qua 5 năm sau, qua 10 năm sau, bỗng nhiên mình thông minh vượt bực. Rồi đem cái thông minh đó vào trong thiền định. Ngồi thiền thở chậm, ít, êm, tìm ra được cái chỗ hơi thở dính với tâm. Thì lúc này tìm ra được liền vì trí tuệ thông minh mình đã ở ở mức độ cao. Ta dùng chữ mức độ cao chứ đừng nói là khôn. Đó là cái, nên ở đây là những kỹ thuật. Ta gọi là phép chỉ, hay gọi là kỹ thuật là để đối trị với cái cơ chế sinh lý cơ thể trong việc đối đối trị với, tương tác với, deal with, vọng tưởng, đó.
[45:20]Cơ sinh lý cơ thể là một yếu tố tạo nên vọng tưởng và ta có những phép chỉ, những cái kỹ thuật để đối trị với vọng tưởng. Bằng để tâm ở dưới bụng cho lực lắng xuống, khéo thở hơi thở chậm, ít, êm và khéo thở chậm, ít, êm để cho hơi thở dính vô tâm. Thì khi thở vậy là tự nhiên tâm đã bắt đầu nhiếp lại. Có những người vậy nói: "Nhiều khi con chưa có ngồi thiền được nhưng con đang đi làm việc mà con ráng thở chậm, ít, êm cái là vọng tưởng tắt liền." Đó là vậy, người đó cũng khôn đó. Người đấy cũng khôn. Nhưng mà để cảm nhận được thế nào là hơi thở dính với tâm đòi hỏi cái trí tuệ. Mà muốn có trí tuệ thì lại thuộc về nhân quả một lần nữa.
[46:04]Người sống trong đời tử tế, chưa đợi người khác nhờ mà mình đã tìm cách giúp người ta. Vậy đó. Nên nhớ nha, nhờ sư phụ không bao giờ kêu nhờ vả ai hết nha, nhớ vậy đó, nhớ vậy.
[46:25]Ngoài ra, để giữ cái cơ chế sinh lý cơ thể mà ổn định để cho bớt vọng tưởng thì ta khéo léo trong đời sống của mình nhiều thứ lắm. Khi ta ngồi, ta đứng, ta đi, ta vận động, ta tập thể dục thì chọn những cái loại nào mà hỗ trợ sức khỏe cơ thể để không bị căng thẳng mà làm cho cơ thể khỏe để bớt vọng tưởng. Nhớ, một cái người khỏe mạnh cũng sẽ ít vọng tưởng hơn cái người bị yếu, cơ thể bị suy yếu, nhớ giùm như vậy. Nên khi ta thấy một người than họ yếu, ta phải hiểu ngay nội tâm họ đang động loạn. Mà cái động loạn nó không phải là do tâm lý mà do cơ thể. Nên cái người yếu rồi là biết tâm tùm lum, đang suy nghĩ tùm lum.
[47:10]Còn con thì sao con? Nãy giờ con sao? Sáng giờ con sao? Đó đang bệnh than vậy đó, đó, đó biết như vậy. Cái người yếu tự nhiên tâm loạn. Đây là một nguyên tắc.
[47:22]Và vì vậy, ta phải biết luyện tập cơ thể để cho cơ thể đừng bị suy yếu. Cái luyện tập cơ thể ta cũng phải khéo léo chọn cái phương pháp. Nên trong Đạo gia của Trung Hoa rồi họ có phương pháp luyện tập cơ thể Thái Cực quyền đó tập, thấy tập ra võ thuật, ra nội lực mà không làm cho tâm loạn. Vì cái lối tập họ nhẹ nhàng, lối tập họ nhẹ nhàng, họ buông lỏng. Họ buông lỏng rồi làm thành thử ra là họ cũng khỏe cơ thể lên nhưng mà lại làm cái tâm họ không loạn. Còn mà tập mà cứ hít hít hít thở thì coi bị cái tâm lại loạn. Thấy cơ thể mạnh lên nhưng nó cũng kích động cái vọng tưởng lên. Nên trong việc rèn luyện để cho cơ thể khỏe mạnh,
[48:02]vì cơ thể khỏe mạnh là một yếu tố giúp cho tâm yên, nhớ giùm như vậy. Còn tâm cơ thể bệnh yếu rồi, tâm sẽ động loạn. Nhưng mà khi ta nghe nói cơ thể mạnh lên thì tâm nó yên cái ta tập ất đụi ất đụi, không ngờ nó cũng làm căng não lên, vì lực nó chạy lên não. Cho nên tập luyện để cho khỏe mạnh nhưng cũng khéo chọn cái lối tập luyện mà hỗ trợ cái tâm mình để yên. Thái Cực quyền hoặc là cái Thái Hư Thần Công của cái Phật Quang Quyền của ta chính là một cái phương pháp mà luyện có sức khỏe nhưng mà mà tâm yên. Ví dụ như ta cũng tập những thế chiến đấu, ta tập đánh, nhưng mà ta không không cái cái lực của ta không dồn ra tay.
[48:42]Tại vì khi mà lực mà dồn ra tay này, cái não nó căng. Đây là một yếu tố. Ví dụ khi ta tập đánh bao cát, ta ta đánh cho mạnh vào bao cát, não ta căng liền vì lực nó chạy ra ngón bàn tay. Nhưng mà nếu ta buông lỏng, tâm ta để nơi người, ta đánh, đánh mà tâm mình để toàn thân, mình buông lỏng toàn thân thì lực lại không căng. Người khỏe lên, có lực rất nhiều mà đầu lại không căng. Là lực không chạy lên đầu và không tạo nên vọng tưởng. Càng tập thì tâm càng thanh tịnh, lạ như vậy. Cứ đánh theo kiểu Thái Hư Thần Công, càng đánh thì tâm lại càng thanh tịnh. Vì buông lỏng mà lực lại có mạnh lên. Đây là cái điều rất là hay.
[49:17]Một lát nữa thì gặp thầy Nghiêm Giám hỏi về cái Thái Hư Thần Công, tập về đánh cho nó khỏe người. Vừa khỏe người để giữ cái vọng tưởng lại, nha, mà lại không bị lực chạy lên đầu. Đó là nãy giờ ta nói về cái cơ chế về đối trị với sinh lý cơ thể tạo nên vọng tưởng. Ta sống một đời khỏe mạnh, lựa chọn những loại thức ăn nó không có kích động vọng tưởng, rồi biết hoạt động, biết vận động, biết điều chỉnh hơi thở, biết để tâm ở dưới bụng, vân vân. Đó là những kỹ thuật đối phó với cái yếu tố sinh lý cơ thể làm cho vọng tưởng nó lắng xuống. Bây giờ ta nói qua cơ chế về tâm lý đạo đức.
[49:59]Mệt chưa?
[50:05]Như nãy ta nói vậy, là những loại tập khí, những cái khuynh hướng bất thiện, những cái khuynh hướng bất thiện hồi xưa kinh Phật gọi là hắc pháp, là cái là cái thứ cái gì đen đen ở trong tâm á, hắc pháp cái cái đồ đen ở trong tâm, là gọi là những khuynh hướng bất thiện, là những cái ổ kích động vọng tưởng.
[50:28]Thì trong những cái đó đó, nó những cái là chấp ngã, thấy mình là quan trọng và ích kỷ. Nên ai mà kêu mình yêu chính mình là những người hại mình đó, tại vì cái ích kỷ nó gây vọng tưởng kinh hồn lắm. Tôi nói: "Tôi không liên quan tới ai, không quan tâm tới ai, tôi không có động tâm"? Không. Chính vì không quan tâm tới ai, tâm mình mới cuồng loạn, điên luôn. Ngồi trong nhà đó là bắt đầu xé quần xé áo mà khóc cười một mình á, bởi vì chỉ nghĩ tới chính mình. Đây là điều rất là lạ. Cái cái người mà càng yêu chính mình là càng mau phát điên vì tâm rất là loạn. Còn cái người sống một đời vị tha, cứ nghĩ tới người khác,
[51:05]giống như mà thấy bên nhà hàng xóm tự nhiên sao im ru giờ này nấu cơm không nghe gì hết trơn, mình lật đật chạy qua hỏi mà phát hiện người ta bệnh chở đi. Cái đời sống vị tha vậy chứ mà tâm mình lại yên lành. Tại vì có yếu tố vị tha ở trỏng, nên trong nhiều cái khuynh hướng bất thiện thì cái khuynh hướng chính để mà tạo ra vọng tưởng là vị kỷ, ích kỷ, chỉ biết phần mình, chỉ lo cho phần mình. Đó là khuynh hướng chính á. Và ngay cái khuynh hướng này là ta phải đối trị, ta đã đối trị từng phần, từng phần từng loại tâm lý đạo đức, dựng lên lại từng cái đạo đức cho tâm hồn mình cho đến khi hoàn thiện luôn.
[51:40]Cái đầu tiên là ích kỷ, gỡ được ích kỷ rồi, rất nhiều cái đạo đức khác đi đi theo, rất nhiều cái đạo... gỡ được ích kỷ. Bây giờ bây làm sao gỡ được ích kỷ đây? Làm sao gỡ được ích kỷ? Ích kỷ nó là bản năng tự nhiên. Trong kinh Phật gọi là thân kiến. Tất cả chúng sinh sinh ra tự nhiên ích kỷ. Trừ trường hợp bắt đầu một vị Thánh chứng Tu-đà-hoàn. Sở dĩ ta gọi, mà vị chứng Tu-đà-hoàn chưa phải là cái chứng đắc thần thông cao siêu đâu, họ cũng khá bình thường, nhưng chỉ bởi vì họ không còn ích kỷ và ta phải lạy họ, gọi họ là Thánh. Vì cái ích kỷ khó quá, cái ích kỷ khó vượt qua quá. Nên ai mà vượt qua được cái ích kỷ rồi, ta phải gọi họ là Thánh.
[52:30]Đó là đương nhiên thôi, họ xứng đáng để gọi là Thánh. Nên những vị mà Tu-đà-hoàn rồi, Đức Phật ca ngợi dữ lắm á. Có nhiều khi có những vị sinh lên cõi trời vậy đó, phước hưởng phước vậy chứ vẫn chưa phải là Tu-đà-hoàn. Khi mà được Phật giáo hóa rồi cái vị đó mới chứng Tu-đà-hoàn. Lúc đó tâm vị đó mới thật sự là vị tha, không còn sống cho mình nữa, mà chỉ sống vì chúng sinh. Ta gọi đó là Thánh. Có nhiều khi vị đó chưa phải cao siêu trong thiền định, nhưng chỉ bởi vì không còn ích kỷ, vị đó vĩ đại vô cùng. Nên rất khó chứ không phải là dễ. Mà để dựng lên được một cái cái gọi là vị tha tự nhiên, nghĩa là mình sinh ra đời sống là tự nhiên vị tha,
[53:17]để có thể mà diệt trừ cái ích kỷ, thì một lần nữa chỗ này: thứ nhất, ta phải có lý tưởng, xác định cái mục tiêu sống vị tha.
[53:31]Thấy sống vị tha là một đời sống đẹp mà ta phải đạt cho bằng được, dù ta chưa đạt được. Và đó là yếu tố thứ nhất là xác định mục tiêu. Thứ hai, lạy Phật. Lạy Phật mà xin. Xin năm này qua năm kia, 10 năm, 20 năm, 30 năm, khi cả cuộc đời xin Phật rồi, tới chừng gần chết rồi mới bừng vỡ cái đó, mới có thể bắt đầu một cuộc sống vị tha hoàn toàn, không còn ích kỷ. Nhưng mà trên con đường đó, bắt đầu ta nhận ra cái ích kỷ của mình từng chút, từng chút trong cuộc sống này. Đó, trước khi mà ta diệt được ích kỷ, thì cái đầu tiên nhớ giùm Sư cái này, ba bước này sau này Sư sẽ nhắc tới nhắc lui cái ba bước này. Ba bước nè:
[54:11]đầu tiên là ta ích kỷ. Bước thứ hai là ta phát hiện cái ích kỷ của mình trong ý nghĩ, trong hành động, trong lời nói. Và cái thứ ba là kết quả không còn ích kỷ nữa. Nhớ giùm Sư cái công thức ba bước này nha, tại vì sau này ta sẽ áp dụng cái này trong thiền định rất là nhiều. Sư nhắc lại lần này: thứ nhất là ích kỷ, nghĩa là phàm phu bình thường không có gì để nói, là bước thứ nhất. Cái thứ hai là biết mình ích kỷ là đang tu đó, khi cái cái trí tuệ đạo đức mình tăng lên rồi, tự nhiên mình mở miệng mình nói mình nói: "Ủa, nói câu này ích kỷ quá", thôi dừng lại không nói nữa. Hoặc là bước vô bàn ăn cái thấy cái bánh ngon lại chụp một cái cái:
[54:50]"Ủa, người ta đến sau mình, mà mình mà vì mình đi trước, mình thấy cái bánh ngon mình chụp trước cái ích kỷ đây", cái mình phát hiện. Tức là từng cái hành động, từng cái lời nói mình phát hiện cái lỗi của mình ích kỷ là cái bước thứ hai là do bắt đầu có trí tuệ, bắt đầu có lý tưởng. Đó, và cái thứ ba là hết ích kỷ. Hết ích kỷ này thì đó là một người mà từng những ý nghĩ nhỏ nhỏ trong cuộc sống này không bao giờ sống vì cho mình nữa. Bất cứ làm cái gì vì chúng sinh mà làm, vì chúng sinh mà sống, vì chúng sinh mà ăn, vì chúng sinh mà thở, không có làm gì cho mình nữa. Cuộc sống này là của mọi người.
[55:30]Thì đó là bước thứ ba. Là cái người này mà ta sống gần mấy người này ta hạnh phúc lắm, ta nhẹ nhàng lắm. Tại vì ta yên tâm một điều là họ không bao giờ họ tranh giành, đối phó hay làm hại gì mình hết trơn. Sống gần họ chỉ có vui và hạnh phúc, mình quậy họ thôi chứ họ không bao giờ quậy mình. Cái người mà họ vị tha là vậy đó. Mình buồn quá mình quậy họ cho vui, chứ còn họ không bao giờ quậy mình tại họ sống họ vị tha rồi. Mà để đó nhớ ba bước giùm Sư: bước đầu tiên là mình đang còn ích kỷ. Nhiều người đang ngồi trong đây đã bớt ích kỷ rất nhiều do nhiều ngày tháng tu theo Phật pháp, ta biết lễ Phật,
[56:07]ta biết phát nguyện thì nhiều người trong đây đã đi qua bước thứ hai. Là mỗi khi mình làm một hành động gì mình phát hiện ích kỷ mình dừng lại, có không? Có không? Có, rất là nhiều, phát hiện ra. Thì đó là mình đang chuyển rồi đấy. Chưa chứng Tu-đà-hoàn nhưng mình phát hiện những cái ý nghĩ, những hành động mình nó thuộc về ích kỷ mình dừng lại liền. Đó là ta đang ở bước thứ hai, là do nhiều năm mình tu theo Phật pháp nên được cái này. Còn ở ngoài kia, chúng sinh ngoài kia chứ họ ích kỷ là ích kỷ luôn á, giành nhau cho tới chết luôn á. Như vừa rồi vậy, Sư có nghe tin có một cái gia đình vậy, có một người bị mất.
[56:44]Cả nhà lại làm đám tang thương tiếc, gửi Sư cái hình, Sư nhìn cái hình nó mất, thiếu một người. Sư mới hỏi: "Ủa, sao lại trong đám tang cả gia đình có hết mà lại thiếu một người?". Nói vì, nói: "Vì người đó giận cả nhà". Nói: "Giận cái gì mà đám tang mà không dự?". Nói: "Tại vì ông bố bán nhà chia tiền không đều.
[57:06]Giận luôn cả gia đình, đám tang chị mình không về luôn." Cái cái đó chỉ vì chia tiền không đều. Ta thấy đó nó là những điều nó trong cuộc sống này là như vậy, ngoài kia là như vậy và đó là thế gian đau khổ. Còn mình khi mà mình hiểu á thì bố ổng chia tiền tốt, thì tiền đó chia cho người khác, anh chị mình có nhiều, không cho mình thì cho anh chị mình, những người khác có nhiều hơn chút vậy tốt. Còn mình còn hai bàn tay, còn cái phước của mình, còn biết tu theo Phật pháp chả bao giờ đói được. Rồi cứ sống mà phước. Tiền nhiều thật ra chả làm cái gì. Mai mốt Sư sẽ nói tiếp về cái tiền, hôm nào Sư rỗi Sư nói về tiền tiếp.
[57:46]Thì cái cái trong cái cơ chế thứ hai về tâm lý đạo đức thì để tạo nên vọng tưởng thì ích kỷ là điều điều căn bản nhất, mà lại cũng khó vượt qua nhất, mà vượt qua được rồi, đó là điều cao thượng nhất. Ví dụ ta thấy một vị Thiền sư ổng nhập được định, ổng có thần thông á, mà lủi thủi ổng sống trong cốc, ổng ở trong hang trong núi hoài chả thấy ổng làm gì. Tại thiền định thì khá nhưng tâm vị tha chưa mở ra. Cho nên hài lòng với cái định của mình, an vui trong cái định của mình, hưởng thụ trong cái định của mình và không làm được gì lợi ích cho ai. Thấy thì giống như hỏi ổng thì nói ổng không ích kỷ tại tâm ổng thanh tịnh,
[58:28]nhưng hành động rất là ích kỷ tại không làm điều gì lợi cho người khác. Nên cái ích kỷ coi vậy chớ khó vượt qua. Khi ta nhập được định rồi, cái thụ động nó khởi lên rồi, nó ôm cái ích kỷ ta lại, nó bảo vệ cái ích kỷ ta, ta chết trong cái ích kỷ đó luôn. Còn những người mà họ chứng Tu-đà-hoàn, họ vượt được cái ích kỷ rồi, thì khi họ nhập được định một cái rồi, cái định nó bó cái ích kỷ không có tại không còn ích kỷ, thì những vị đó họ sẽ bước ra họ giáo hóa, một đời sống vì chúng sinh, đem cái đạo lý, đem cái đạo pháp của Phật cho mọi người, cuộc sống nó đẹp hơn rất là nhiều. Cho nên cái ích kỷ là cái nguồn tạo ra vô số vọng tưởng trong đầu ta.
[59:07]Nên cố gắng như vậy, cái tâm lý đầu tiên mà ta phải vượt qua là ích kỷ. Mọi người tự tự tìm hiểu, tự quan sát chính mình.
[59:18]Nhưng có người quan sát rất nhanh và có người quan sát rất chậm. Có người quan sát rất nhanh là sao? Vừa mới chụp cái bánh là biết: "Ồ, cái bánh này ngon, rồi bao nhiêu người khác chưa có", mình dừng tay lại, đó là nhanh. Còn có những người chậm là sao? Thấy bánh ngon chụp ăn xong, ăn xong rồi ngồi: "Tội nghiệp mấy người kia quá ha, mình ăn mất tiêu rồi".
[59:45]Thì nó cũng thuộc trí tuệ nữa, à cũng lệ thuộc trí tuệ. Cái người có trí tuệ ta phát hiện ra cái ích kỷ mình nó nhanh hơn người khác, còn cái người trí tuệ rất là thấp, mình tránh cái chữ ngu nha, nói ngu nó kỳ. Cái người trí tuệ rất là thấp thì ích kỷ xong rồi mới phát hiện: "Trời ơi, nãy giờ mình ích kỷ quá ha". Rồi thôi, bỏ qua, mai mốt ích kỷ tiếp. Do phát hiện chậm quá, nên nó lại lệ thuộc trí tuệ một lần nữa này. Bây giờ qua cái khác. Cái ích kỷ thì nó sinh ra cái gì? Tham. Ích kỷ rồi muốn mọi thứ về cho, về cho mình. Cái thứ hai là tham là muốn, muốn sở hữu nhiều. Muốn sở hữu nhiều cho mình.
[1:00:28]Mà tại sao con người ta thích sở hữu nhiều? Vì khi mình có nhiều, tự nhiên mình có hạnh phúc. Ủa, đây rất là lạ, rất là lạ. Mình không biết đây là một cái cảm giác rất tự nhiên. Hễ mình có tiền nhiều, mình thấy hạnh phúc. Chưa chắc xài được. Mà chưa chắc dám xài, nhất là những đồng tiền mà gọi là đồng tiền từ cái vi phạm pháp luật. Có nhiều chứ đâu dám xài đâu, vì xài bị lộ, bị lộ rồi công an họ tới điều tra bắt chết à. Cho nên có nhiều tiền mà vẫn phải sống như nghèo, nhưng cái cảm giác có tiền nhiều vẫn làm cho mình thấy hạnh phúc. Ấy rất là lạ. Rồi có những người không có phước, cho nên không thể có tiền nhiều,
[1:01:11]và lòng rất muốn có tiền nhiều, mà muốn coi chừng làm bậy nó thành ra tội. Còn có những người có phước nên có tiền nhiều, và cảm thấy có tiền nhiều rất là hạnh phúc. Mà mình được quyền có tiền nhiều vì tiền đó hợp pháp, mà do mình có phước cho nên có tiền nhiều và tiền hợp pháp. Nhưng coi chừng tâm tham cũng nằm ngay chỗ đó. Tâm tham cũng nằm ngay chỗ khi mình có tiền nhiều. À. Như vậy muốn hết tham phải sao? Đem cho hết hả? Không, cái đó sư phụ không xúi à. Không xúi à. Vì phải sử dụng đồng tiền phải chính xác nữa, khổ vậy đó. Sử dụng đồng tiền khi mình đưa ra, đưa vào để đầu tư, làm ăn hay để cho, để tặng, hay để tiết kiệm cực kỳ trí tuệ.
[1:01:56]Có một số nước họ không thích cho người dân có tiền tiết kiệm, nhưng cái bản năng tự nhiên của con người, ví dụ như mình xài 10 triệu, nhưng mà trong tủ mình có 500 triệu, lòng mình rất là bình yên tại có tiền dự trữ. Đụng chuyện cái có tiền, thì gia đình rất là bình yên, cái yên tâm. Mình nhìn nét mặt người đó yên tâm là mình biết là người đó họ có tiền tiết kiệm. Và điều đó là cái quyền của con người, được có tiền tiết kiệm để đề phòng những khi bất trắc, tai nạn hay bệnh tật. Nên ví dụ như mình cho tiền, biết họ có tiền nhưng mình vẫn cho, nhưng mà họ sẽ tích lũy trong cái tiền tiết kiệm của họ, và cái tiết kiệm đó đem đến một sự yên tâm.
[1:02:33]Và cái yên tâm vì có tiền tiết kiệm là một cái quyền của con người, nhân quyền, ta không được đụng tới. Nhưng chỉ có cái tiết kiệm nó nhiều quá đi, thì bắt đầu trở thành tham. Vì cái cái ranh giới giữa cái tiết kiệm để được yên tâm và tiết kiệm quá nhiều thành ra cái tham là nằm ở con số mấy? Con số nào là vừa? Thái Khương, Huynh Thái Khương, bao nhiêu là vừa? Không nói được phải không? Đó, cũng tùy tâm, tùy phước, tùy hoàn cảnh và tùy trí tuệ của con người. Mình cảm thấy là với số tiền tiết kiệm này mình yên tâm và nó không trở thành cái tham. Còn có một số người thì cứ gom vô cho nhiều, nó thành tham hồi nào không hay dù
[1:03:15]mình có phước đó, nhưng nó cũng đã thành tham, nên đây là chỗ phải cẩn thận. Như sư phụ cũng vậy, sư phụ cũng phải tiết kiệm, tại đệ tử đông quá. Chứ nếu có nhiêu xài hết, có nhiêu xài hết lỡ có chuyện gì rồi đệ tử sư phụ sao? Buộc sư phụ phải tiết kiệm và cái số tiền đó sư phụ không gọi là cái số tiền mà mình tích tích lũy vì tham lam, mà đó là một sự bảo đảm cho đệ tử của mình. Lỡ sư phụ có chết, đệ tử sư phụ vẫn còn tiền để mà sử dụng. Thì phần đó là bí mật. Sống để bụng chết, chết đưa lại cho đệ tử, chứ không phải sống để bụng. Đó.
[1:03:53]Chứ sư phụ không có giữ gì cho mình đâu, thật sự á. Những đệ tử mà thân tín với sư phụ biết là sư phụ chả còn giữ gì cho mình nữa hết trơn á. Từ bây giờ là đã buông hết rồi, buông mọi thứ. Mà mình chỉ yên tâm là mình có một phần tiết kiệm để bảo vệ cho đệ tử của mình, vậy thôi. Nên cái tham là bắt đầu cái mà ta muốn có nhiều và làm cho ta rất là động tâm, tạo thành vọng tưởng. Rồi cái gì nữa làm tạo thành vọng tưởng nữa? Là cái sân, cái giận, cái giận hờn là tạo vọng tưởng nhanh lắm. Mà cái giận này thật ra nó nhiều loại: nó tự ái, phiền não, giận, thù, căm hờn, ghét. Thì cái đó nguyên một khối tiêu cực á, tiêu cực mà nó nóng nảy và tiêu
[1:04:32]cực, thì những cái ghét nó chưa thành giận nhưng cái ghét cũng là một tâm lý xấu, cũng tạo thành vọng tưởng, nên sư phụ dặn hoài: "Sống sao trên đời đừng ghét ai. Cứ lục tìm hết trong tâm mình, đừng để những cái ác cảm tiềm ẩn nó còn tồn tại trong tâm mình vì nó là nguồn của vọng tưởng. Sống làm sao cuối cùng nhìn ai không ghét ai hết trơn, lọc ra cho hết, sạch trong tâm mình. À. Rồi tự ái, tự ái là gì? Là người ta xúc phạm danh dự của mình. À. Mình đẹp mà người ta nói mình không đẹp, à mình giỏi mà người ta nói mình không giỏi, hoặc là người ta cướp lời của mình, mình đang phát biểu người ta đè người ta nói:
[1:05:11]"Đừng nói nữa, nói...", đó mấy cái đó nó xúc phạm danh dự làm cho ta tự ái. Rất nhiều loại tự ái. Đó, nên cái tự ái là một cánh cửa khó vượt qua, ráng vượt qua. Còn giận sôi lên, nóng nảy lên, hoặc là căm thù để bụng mà thề phải trả thù, vân vân, những cái đó đều là thuộc loại cái tâm lý xấu của cái sự nóng nảy, tiêu cực và hung dữ, ác. Nó nó thuộc về ác. Cái mà ghét nè, giận nè, tự ái nè, thù, mấy cái đó đều tạo thành vọng tưởng và ta phải có cái phương pháp để diệt nó. Mà Phật dạy cái diệt nó bằng cái gì? Tâm từ bi. Đó, cứ quán từ bi mỗi ngày mình nguyện thương yêu chúng sinh. Mình mỗi ngày mình nguyện khi nghe thầy mình
[1:05:56]giảng mình không có bị buồn, buồn ngủ.
[1:06:08]Là nguyện thương yêu, cái cái mà cái lời nguyện thương yêu mỗi ngày chúng ta nguyện vậy chứ năm năm sau, bảy năm sau mới có kết quả. Như ta cầu nguyện: "Xin Phật gia hộ cho con không còn ghét ai trên cuộc đời này. Xin Phật gia hộ cho con con yêu thương được tất cả chúng sinh." Cái câu đó nhẹ nhẹ nhẹ vậy mà ngày nào mình cũng phát nguyện như vậy, vậy chứ năm năm sau, bảy năm sau bắt đầu nó mới có kết quả chứ không có kết quả liền. Qua năm năm, bảy năm, mười năm sau bắt đầu mình thấy lòng mình rất là nhẹ. Những cái chuyện mà đáng lẽ ngày xưa là mình ghét tự nhiên bây giờ mình không ghét nữa, có những con người,
[1:06:39]những việc làm mình đáng lẽ phật ý bây giờ mình không có động tâm nữa. Những con người đó mình cần hướng dẫn, cần dạy dỗ, cần giúp đỡ người ta vượt qua cái đó thôi chứ mình không có giận. Không dạy được thì thôi, cũng không ghét, nhưng mà tìm cách giúp người ta, vậy thôi, để người ta vượt qua cái lỗi lầm, không ghét ai nữa. Đó là cái cái nhưng mà cái đó là phải phát nguyện thực sự, mà phải có công đức lễ Phật thì ta mới vượt qua được cái tâm lý xấu đó như vậy. Rồi cái gì nữa? Tâm lý xấu gì nữa? Nhiều lắm: tham vọng. Tham vọng nó không phải tham vật chất, mà nó tham vọng về thường là danh lợi, cũng là một cái làm cho ta phát sinh vọng tưởng dữ dội.
[1:07:30]Rồi cái gì nữa?
[1:07:33]Nó có một cái nó bản năng của chúng sinh, đó là sắc dục. Con người sinh ra trên đời này ở trong cái cõi Dục này thì ai cũng bị cái ái dục, đó là điều tự nhiên. Còn mình sinh lên Sắc giới thì hết, nhưng mà ở trong cái cõi này cả cái cõi trời Dục giới trở xuống cũng còn đều bị mà. Còn xuống tới súc sinh thì thôi khỏi nói rồi. Nhưng mà con người mình là lấp lửng, lấp la dằng co của giữa cái sắc dục. Và cái sắc dục này là một vấn đề rất là tế nhị, mà lại là một vấn đề rất cơ bản, cũng là một vấn đề rất là lớn lao. Để một người tu tập mà đạt được tới cái vô dục phải nói mình rất là đáng đáng kính, vì đó là bản năng tự nhiên rất là khó vượt qua.
[1:08:18]Nên khi một người ví dụ người ta chưa thể vượt qua được, mình không trách, vì đó là bản năng tự nhiên. Mà nếu người ta vượt qua được, rất vĩ đại, vậy thôi, để mình không có chê, không có trách. Nhưng mà lý do nào để có sắc dục hay không có sắc dục? Sư phụ hay nhận được mấy cái câu hỏi đó trong tin nhắn hay hỏi, hỏi nói: "Thưa thưa thầy, con con cứ bị sắc dục giày vò, khổ sở." Họ viết dài dài lắm, sư phụ không nhớ luôn hết, đại khái sư phụ chỉ nói trả lời câu này: "Con lễ Phật chưa đủ." Rồi thôi, không trả lời nữa. Cái công đức lễ Phật là như vậy. Ta tôn kính bậc thánh tự nhiên cái dục trong người mình giảm dần giảm dần.
[1:09:04]Không nói dào dạt, chứ còn nếu phân tích cái cơ chế của dục ra thì nhiều lắm, phân tích nhiều lắm. Thôi vậy chi, thôi cái gốc thôi, nắm cái gốc, này con lễ Phật chưa đủ. Này, rồi một người khác lại nhắn tin, nói: "Sao con thích nhìn những bộ phận nhạy cảm của người nữ?" Nhìn hoài người nữ. Cái cái cái cái này thì nó hơi phức tạp nên sư trả lời hơi dài một chút. Sư nói là những cái bộ phận nhạy cảm của người nữ nó có cái điện sinh học. Đó, cái điện sinh học nó đánh vô cái đạo đức và lý trí của con người. Nên khi lý trí và đạo đức của mình không đủ á thì mình bị những cái bộ phận nhạy cảm của người nữ nó tác động
[1:09:42]vào tâm mình làm mình động lên liền, mình ham thích. Còn khi mà cái lý trí và đạo đức mình vững chắc thì những cái đó nó không đánh mình được, không đánh mình được. Thì cái, ví dụ mình theo xem phim hình ảnh rồi nó phơi bày tùm lum lòng không động tâm, không động tâm. Vì những cái điện sinh học đó không đánh vào tâm mình được vì mình có lý trí và có đạo đức vững vàng, ha. Hôm rồi, hôm rồi mình nhân cái cái dịp gặp các các cư sĩ thọ giới, sư có nói về cái cơ chế
[1:10:16]mà quán bất tịnh, hôm đó hôm đó cả một bài dài. Hôm nay không tiện nói lại vì nói cái đó nó hơi dài. Thì cái sức định mình tới đâu mình nhìn cái con người mình thấy cái gì. Với bình thường mọi người chúng ta chỉ nhìn cái nét mặt ở ngoài da. Ngoài da. Nhìn nhau vậy để nhìn cái da này thôi. Qua khỏi lớp da đó thì sao? Máu, rồi mủ, cả một cơ chế sinh học phức tạp và đáng sợ. Như trong cái phim mà CSI của Mỹ, là Crime Scene Investigation, điều tra hiện trường vụ án, mỗi khi có cái xác chết, có án mạng là người ta đem về người ta giải phẫu tử thi để tìm cái cái cái vì sao người đó bị chết, mà khi tìm được vì sao người chết thì phát hiện ra
[1:11:08]cái cách thức người kia giết, mà tìm ra cái cách thức người kia giết rồi có thể suy luận ra thủ phạm là ai là ai. Đó là đi ngược lại, điều tra hiện trường vụ án thường đem xác về mổ. Thì hôm đó về cái người mà điều tra họ vô họ gặp cái bác sĩ pháp y. Cái người bác sĩ pháp y mới mở ra coi cái mặt ở đây cắt da, cắt xéo ôi xả xả tùm lum người mổ xẻ tùm lum hết trơn. Thì bỗng nhiên cái người bác sĩ pháp y nói một câu có vẻ triết lý thế này: "Ở ngoài cái da thì khác nhau, lột cái da ra rồi ai cũng giống nhau". Câu nói cực kỳ triết lý. Và tất cả chúng ta nhìn nhau là chúng ta nhìn ngoài da hết à. À, người này đẹp, người kia xấu,
[1:11:49]da này sáng, da này hơi sẫm, ờ thế này thế kia, á. Nhưng mà với cái người có sức định họ nhìn qua khỏi cái da. Họ nhìn qua khỏi cái da. Họ biết cái da này là phước nghiệp của con người, nhưng qua khỏi cái da là bản chất sinh lý học của con người. Và trong cái bản chất sinh lý học của con người cực kỳ phức tạp và bất tịnh, và căng thẳng. Chúng ta đang ngồi khoanh tay, ngồi thanh thản nghe pháp nhưng cơ thể ta cả tỉ tỉ tế bào đang hoạt động căng thẳng để ta sống. Nó dừng cái ta chết liền. Mình đang ngồi yên, sự thật là các tế bào đang hoạt động rất căng thẳng. Nên Phật nói: "Khổ" là vậy đó. Chứ ta không thanh thản.
[1:12:29]Mình ngồi yên chứ từng cái tế bào của mình, từng cái men vi sinh của mình trong người nó hoạt động quá chừng ở trong á, căng thẳng để ta được ngồi yên, được sống như thế này. Nên khi một người mà họ có sức định, họ nhìn qua khỏi cái da. Nên nhìn con người cười vui bắt tay vậy cho vui, "Ờ, anh khỏe không?" này nọ chứ, nhưng tâm họ không dừng lại ở cái da, họ nhìn con người nhìn vào trong khỏi cái da. Mà khi định sâu hơn nữa, họ nhìn vô tới cái tâm. Còn tâm con người là vô minh, là chấp ngã, là ích kỷ, là hơn thua, là tham lam, là giận hờn, và có một số tánh tốt kèm theo. Họ nhìn vô tới cái tâm.
[1:13:02]Và nếu họ định sâu hơn nữa, họ nhìn vào con người, I am sorry, nonsense, vô nghĩa, thực sự vậy. Ta ngồi chơi với nhau cho vui vậy thôi chứ tất cả chúng ta là vô nghĩa. Nói thì nghe buồn, I am sorry. Nhưng mà phải nói thật, I have to say a truth. We are nonsense. Chúng ta vô nghĩa. Nên tùy theo cái sức định của mình mà mình nhìn con người. Và đó là cái cách mà các bậc thánh họ vượt qua ái dục, quý vị. Chứ cái sắc dục là một vấn đề rất là nặng nề. Nhất là tuổi bắt đầu mới lớn, cái nội tiết tố sinh dục nó nó phát triển từ từ. Thế là người ta bắt đầu phải yêu. Phải yêu. Mà cái yêu đó nó cũng không phải thơ mộng gì lắm.
[1:13:51]Là vì nên thơ nhạc nó kích thích thêm, làm cho cảm giác như tình yêu là một cái gì thơ mộng đẹp đẽ, nhưng sự thật nó là sự thúc đẩy của của nội tiết tố. Ờ thành ra gọi là cái nghiệp á, chúng ta rớt vào trong một dòng nghiệp. Tới năm đó ta như vậy, tới năm đó như vậy, tới năm đó như vậy. Và cuộc đời là như vậy. Nên hiểu điều đó rồi từ từ ta vượt qua được được sắc dục, sống một cách bình thản, sống một đời cao thượng, quý vị. Rồi cái gì làm cho ta động tâm nhiều nữa?
[1:14:22]Nãy giờ ta nói cái ích kỷ nè, tham lam nè, giận hờn, tham vọng nè, sắc dục nè.
[1:14:30]Coi vậy chứ những cái đó nó không nguy hiểm bằng một cái
[1:14:36]kiêu mạn. Cái kiêu mạn, cái nghĩ mình hay, cái đó mới là tàn độc, phá tan hết tất cả công đức của chúng ta, vùi chúng ta xuống địa ngục luôn, xuống hố sâu luôn, là kiêu mạn. Cái này mới đáng sợ. Và làm cho vọng tưởng ta cuồn cuộn và làm ta phát điên luôn. Khi ta cứ nghĩ mình hay sẽ có ngày ta phát điên. Hầu hết những người bị bệnh tâm thần đều tự khen mình nhiều quá và xúc phạm người khác, đè người khác, chê bai người khác để đề cao mình. Tất cả người đó đều end up at
[1:15:14]tâm thần, chấm dứt ở bệnh tâm thần hết. Nên mình nhìn thấy người rất tâm thần điên điên thì mình biết hồi xưa cũng xúc phạm chửi bậy ai, ngày xưa cũng tự khoe kiêu mạn quá tâm thần. Hử. Có một lần có cái em đó bị tâm thần rồi cái bớt bệnh cái người nhà mới đem về nhà. Sau đó biết chùa mới đem lên chùa để gởi ở công quả. Sư cũng biết mấy thầy cô nhận chứ sư cũng không rành. Cái sau đó mới có người mới mét sư nói: "Hát á, cái ông đó hồi xưa ổng ở bệnh viện ở Biên Hòa, tâm thần Biên Hòa". Cái bữa gặp ổng lén, nói: "Ủa con trước con ở bệnh viện tâm thần hả?" Ổng trả lời xấc bấc: "Dạ, hồi đó con làm giám đốc ở đó đó!" Như vậy ổng hết bệnh chưa?
[1:15:54]Không biết sao ai không biết ai đem vô nhà không biết ai đem về không biết nữa. Ổng trả lời câu đó là trất lất rồi. Hiểu rồi ha. Mà nói rất là thật lòng nha. Nói rất gương mặt ổng rất thật lòng lắm chứ không hề nói dối. Hử. Hỏi cái ổng trả lời liền á. Ừ, sư hỏi thật tình để mình biết bệnh tật thôi, mình biết là nếu xác định như vậy là đúng là ngày xưa có cái tiền sử bệnh như vậy để mình có cái phương pháp rồi hỗ trợ. Hỏi: "Sư nghe nói con ở bệnh viện tâm thần?" "Dạ, con làm giám đốc ở đó đó!" Rồi, rồi xong, tôi hỡi ôi luôn, tôi nói. Nên cái kiêu mạn rất là đáng sợ. Cho nên ta điểm qua, thực ra nó còn nhiều cái tâm lý,
[1:16:32]khuynh hướng bất thiện ẩn sâu ở trong đó mà ta phải vượt qua. Đây là cả một quá trình vất vả. Đây là lý do mà ta nói rằng cái người để đạt được thiền định cũng là người đạo đức rất là rất là tốt là như vậy. Trong cái quá trình mà để tu tập thiền định để tâm được yên, ta phải vượt qua bao nhiêu cái hàng rào của cái cái đạo đức. Những cái thử thách đạo đức rất là lớn và đây là công trình rất là lâu dài mà đòi hỏi rất là thông minh, có thiện chí. Biết mình tham có quyết tâm diệt cái tham hay không hay là chấp nhận cái tham? Biết mình kiêu mạn có quyết tâm diệt cái kiêu mạn hay không hay là khoái trá vì mình kiêu mạn?
[1:17:15]Thấy mình ích kỷ mà có chịu vượt qua ích kỷ không hay là coi nó là việc bình thường? Đây là vấn đề. Nên là ta phải thấy từng cái sai của mình để vượt qua, để tu tập để vượt qua. Mà vượt qua từng cái yếu tố, từng khuynh hướng bất thiện đó thì mình mới tu thiền để mà mà vào định được. Và đây còn một cái nữa, là những cái chấp mà chỗ này là Phật dạy nè, đây là Phật dạy. Giống như trong kinh Quán tự ngã: "Thấy mình là cái gì thì cái đó sẽ mất", nhớ không ạ? Thì bây giờ để đối trị với những cái tâm đó ta phải thấy mình là cái gì thì cái đó sẽ mất. Đầu tiên ta phát hiện thấy mình là cái gì? Tham. Khi ngồi thiền á thấy mình là tham.
[1:17:59]Cái câu nói mà thấy mình là tham á trong thiền gọi là cái gì? Phép quán. Đó. Quán là nhìn thấy sự thật. Đó, ngồi thiền khi ngồi thiền như vậy nhớ à mình là người tham lam. Cái câu nói nhè nhẹ đó là phép quán và chính nó là gì? Diệt trừ cái tham vì nó đi vào cái công thức thấy mình là cái gì thì cái đó sẽ mất. Hoặc là mình ngồi thiền cái mình đó mình tự quán mình tự nhắc: "Ừ, đây là mình là người ích kỷ, mình là người ích kỷ." Vậy đó từ từ ích kỷ nó mất. Cái gì mà cười tui vậy?
[1:18:36]Dạ. Người ta minh họa, ha người ta thị phạm. Kêu là thị phạm rồi cái móc cái đó. Đó, thì cái mình mình cứ tự nói mình như vậy đó, vài ba tháng sau cái ích kỷ nó mất, lạ như vậy. Hoặc là mình là người sân cũng vậy, mình ngồi mình cứ ngồi thiền, mình cứ quán chiếu đó. Cái câu này gọi là quán phép quán á, phép quán tức là tự nhắc mình cái lỗi của mình, cái dở của mình. Thì đó thấy mình là sân đó, mình mình ngồi thiền mình cũng vậy, mình nói: "Ừm, mình còn sân hận, mình còn sân hận, còn cái tánh ghét người ta vậy". Nhắc vậy, mấy tháng sau tự nhiên nó mất. Ồ, vậy đó, lạ. Hoặc là mình là kiêu mạn, mình thấy mình, thấy mình là cái gì thì cái đó sẽ mất.
[1:19:16]Và đó chính là phép quán. Thì trong những cái phép quán đó nó có một cái thế này: "Thân này là là vô thường", vì mình sao? Mình có một cái tâm lý đạo đức dở, mình có một cái tâm lý dở là chấp thân. Ai cũng thấy thân mình là quan trọng, nên Phật dạy quán thân vô thường chút, để đừng chấp thân, cái chấp đó nó căn bản. Hoặc là mình nhìn thế gian, mênh mông bên ngoài, tâm mình phóng ra tùm lum hết, ừm, rồi muốn khám phá thế giới thế này thế kia, ta phải thấy thế giới này là vô thường và nguy hiểm. Đó là phép quán, nhận thức được chưa. Và có một cái phép quán là ta phải giữ hết kiếp này tới kiếp kia,
[1:19:56]dù mình vào được định rất sâu, thậm chí mình tu thiền mà có đắc được thần thông, có bay lên trời, có chui xuống đất được được hết rồi thì một phép quán cuối cùng vẫn phải giữ, đó là thấy mình là thấy mình là? Ồ, excellent! Giỏi ghê ta. Đúng là thấy mình là vô minh tội lỗi. Nhớ như vậy cái câu thần chú đó, đem theo hết kiếp này tới kiếp kia. Dù mình chứng đắc cỡ nào vẫn phải giữ cái câu đó. Cái bài kinh Quán Tự Ngã đó thấy mình là cái gì thì cái đó sẽ mất, câu đó quan trọng lắm á để mình suy nghiệm, mình biết mình nên nghĩ mình là thế nào, nên quán chiếu mình là như thế nào, cái đó quan trọng, nhớ như vậy.
[1:20:37]Nên cứ thấy mình là vô minh tội lỗi, mà sau này mình không bị thoái đọa. Chứ đa số cái người mà khi tu thiền đến chứng được một cái gì đó rồi thì cứ tưởng mình cao, tưởng mình đã xong, tưởng mình đã giác ngộ, tưởng mình có Phật tánh, sau này bị đọa hết. Thấy mình là Phật tánh thì mai mốt nó thành ma tánh á, vì nó mất cái Phật tánh á. Còn cứ thấy mình là vô minh tội lỗi, tu tới đâu tới, tiến tới đâu tiến, cứ nhớ ôm cái câu vô minh tội lỗi, vậy mà không bị thoái đọa. Những kiếp sau mình cứ tiến lên dần, tiến lên dần, mình độ được nhiều chúng sinh, Phật pháp không bị suy tàn. Ngày hôm nay sự thật là Phật pháp bị suy tàn.
[1:21:16]Như ông sư đó, sư cũng than, cái đời sống hôm nay nó cũng cô độc, các chùa than như vậy, suy tàn. Trong cái suy tàn, trong nhiều lý do bị suy tàn, chỉ bởi vì cái người tu thấy mình cao siêu, cái người tu quên mất mình vẫn là vô minh tội lỗi. Nên đây là phép quán. Cái phép chỉ là để đối phó với, đối trị với cái cơ chế sinh lý cơ thể; còn phép quán để đối trị với cái gì? Về cái tâm lý, tâm lý đạo đức, nhớ như vậy. Còn cái thứ ba, yếu tố thứ ba tạo nên vọng tưởng là cái gì? Nhân quả nghiệp báo, đúng rồi, nhân quả nghiệp báo. Nếu những đời nào đó ta có gặp một vị thánh mà ta đảnh lễ, cúng dường, thừa sự, cung kính thì ta có cái nhân để chứng thánh.
[1:22:06]Thì nhiều khi ta tu cũng không nhiều, nhưng mà lại rất là dễ chứng đắc. Mà mấy người này là cái họa á. Chứng rồi mình dạy bậy hết trơn à.
[1:22:20]Đây là cái cái họa cho đạo Phật á. Những người tu dễ chứng chỉ vì đời xưa có tôn kính một bậc thánh nào, cái phước đó đủ để đời này được chứng, chứng thiền hay chứng thánh không biết nhưng có chứng. Những người đó gây họa. Tại sao vậy? Vì dạy sai. Dạy sai là là dạy sao mà gọi là dạy sai?
[1:22:46]Này dạy sai là như thế này đây: Ví dụ ta gặp một người giàu, ta mới nhờ cái người đó nói: "Ông dạy cho tôi cách làm giàu". Thế là ổng nói thế này, ổng nói đó: "Buổi sáng đó anh phải ăn một tô phở, ha, ngon, rồi sau đó anh mặc một bộ vest thế này, anh phải đi xe Rolls-Royce, rồi buổi trưa anh phải ăn thế này". Mình nghe xong mình có làm giàu được không? Không. Tại vì sao vậy? Tại vì ổng không biết cách làm giàu, ổng tự nhiên ổng giàu, bất ngờ ổng giàu. Ví dụ ổng trúng Vietlott cái ổng giàu. Và những cái điều mà ổng nói với mình là không phải cách làm giàu, mà là diễn tả cuộc sống giàu sang.
[1:23:31]Thì khi mà ổng diễn tả cuộc sống giàu sang, mình lầm tưởng đó là cách làm giàu, thế mình bắt chước ổng. Thế là buổi sáng mình cũng ăn tô phở, mặc đồ vest, lái Rolls-Royce thì mình chịu được mấy ngày? Chịu được ba ngày hết vốn à, rồi mình còn nghèo hơn lúc trước nữa. Tại vì nghe ổng hướng dẫn lầm, thay vì ổng hướng dẫn mình cách làm giàu, ổng diễn tả đời sống giàu sang. Thế mình bắt chước cái đời sống giàu sang đó mình hết phước luôn, mình cạn nguồn tài nguyên luôn. Nên các thiền sư mà dạy sai là cái đó đó. Mình đến mình lạy: "Ngài dạy con tu thiền". Thế là ổng không có dạy mình tu thiền mà ổng diễn tả cái trạng thái chứng ngộ:
[1:24:11]"Tâm ta thanh tịnh thế này, tâm ta ngời sáng thế kia". Thế mình nghe ổng cái mình bắt chước, mình cũng tụng niệm vậy: "Tâm ta thanh tịnh thế này, tâm ta ngời sáng thế kia", ba bữa mình hết vốn, mình vô nhà thương điên luôn, hết vốn à. Đó là mấy người đó làm mang họa đó. Nên có một người có một cái ông đó ổng giàu, có một ông phóng viên mới lại hỏi: "Ông cho tôi biết tại sao ông giàu, thành công như thế? Ông có thể kể từ bước đầu cho tôi không?" Ổng nói: "Cái ngày đầu tiên tôi mua ba trái táo ở cái đường cuối kia, tôi lau dọn sạch, tôi bày trên cái mâm cho đẹp, tôi đem ra ngoài cuối đường tôi bán và tôi được lãi 50 cent. Đó.
[1:24:55]Ngày thứ hai vậy tôi cũng mua được sáu trái, tôi lau sạch, tôi bưng chưng dọn cho đẹp đem lại cuối đường tôi bán cho xe đi ngang, tôi lời được một đô la. Ngày thứ ba, ông nội tôi chết, ông để lại tôi một triệu đô, cái tôi giàu luôn".
[1:25:14]Vậy ổng có làm giàu không? Ổng đâu biết gì đâu, ổng đi ổng ngồi bán đó tới đời nào ổng giàu. Chỉ vì ổng may. Ổng may là có ông nội chết để lại một triệu đô, cái may mắn bất ngờ đó nên thật ra ổng không biết cách làm giàu. Và bây giờ hỏi ổng vô ích, mình cũng không học được cái gì. Thì đây là cái họa của những người mà được phước lớn đời xưa bây giờ dễ chứng, họ tu sơ sơ chứng mất tiêu. Ta học mấy người đó ta mang họa liền, tại họ không có dạy từ cái căn bản đi lên, mà họ vô họ cứ diễn tả cảnh giới chứng ngộ. Và đây là cái bệnh của vô số thiền sư đời xưa. Ta đọc lại các các là các các thiền ngữ của các
[1:25:54]thiền sư, họ toàn diễn tả cảnh giới chứng ngộ. Và ta bắt chước theo, ta cạn vốn, ta hết phước, hết tu luôn, và Phật pháp suy tàn luôn. Nên ta cần tìm cái người mà họ dạy ta từ cái bước căn bản tu tập, từ cái nghèo khó đi lên, từ cái mà lau từng cái trái táo đem ra bán mà lấy vài xu. Cứ vậy đó mà đi lên từ từ. Ta biết phải đi làm gì? Bữa nay đi lấp một cái hố đường, mai đi nhặt mớ rác, mốt đi trồng một cây xanh, ngày kia đi thăm một người già neo đơn, từng chút, từng chút như vậy. Đi lên từng chút. Rồi ngày nay ta lễ Phật, ta tụng một bài kinh Quán Tự Ngã, vân vân. Vậy đó, ta từng chút, từng chút đi lên để bòn mót cái phước
[1:26:39]mình tích lũy dần, tích lũy dần cho đến khi nó tràn đầy. Phước là gì? Có hai ý nghĩa: Một là ta ủng hộ bậc đáng kính, tôn kính bậc đáng kính như những bậc thánh. Hai là gì? Giúp đỡ chúng sinh. Phước là do hai cái việc này mà mà thành. Một là thừa sự, tôn kính bậc thánh; hai là giúp đỡ chúng sinh. Thừa sự, tôn kính bậc thánh thì cái này hơi khó á, tại không biết tìm thánh ở đâu ra. Rất là khó, khi nào ta hên thì ta mới tìm được những bậc thánh, mà nhiều những vị thánh họ sống thầm lặng nên ta cũng khó nhận ra, đó là vậy. Nhưng nếu may mắn ta tìm được thì ta rất là có phước, thừa sự, cung kính bậc thánh.
[1:27:23]Hai, giúp đỡ chúng sinh, cái này thì sẵn lòng. Chung quanh ta đầy chúng sinh hết, ngó qua ngó lại cũng đâu chúng sinh, nên tìm cách giúp đỡ nhau. Lúc nào trong đầu ta cũng vậy, cố gắng giúp đỡ mọi người. Giúp mọi người là làm cái gì?
[1:27:40]Giúp mọi người là làm cái gì?
[1:27:44]Ta có một cái thang, nhiều việc phải giúp mọi người: từ cái chống đói, có miếng ăn, có mặc, có nhà ở, có kiến thức, có việc làm, có thu nhập, trị được bệnh tật, biết được đạo lý và tu tập thiền định, đạt được giác ngộ. Đó là cái thang mà ta giúp, ta coi họ còn thiếu cái gì thì ta giúp cái đó. Ví dụ cái người đó muốn tu nhưng mà thật ra họ vẫn thiếu ăn, ta giúp cái ăn. Có người ta giúp cái ăn rồi nhưng họ thiếu kiến thức, ta giúp kiến thức. Nhưng rồi sao? Tất cả phải hướng về giác ngộ. Như hôm trước bữa nào hình như Giao thừa Sư có nói phải không? Cả cái cuộc đời vất vả chúng ta sẽ là vô nghĩa nếu chúng ta không hướng về giác ngộ.
[1:28:28]Hôm Giao thừa Sư cũng có nói cái điều đó, nhớ không kìa?
[1:28:34]Thì cái giúp chúng sinh chính là như vậy. Mình nhìn một người mình muốn giúp họ thì mình coi giúp họ cái gì từ trong cái thang từ ăn uống cho tới mặc, tới học hành cho tới lên tới giác ngộ. Phải tới cái giác ngộ. Hễ giúp ai rồi trong đầu phải cầu họ tới được cái cái giác ngộ. Gieo duyên, giúp họ là gieo duyên, nhưng mà cái gieo duyên này để sau này ta tiếp tục đẩy họ đi vào con đường giác ngộ, chứ ta không có giúp khơi khơi, giúp rồi bỏ nửa chừng, giúp rồi ngang đó ngừng lại, không có. Hễ giúp ai trong đầu phải nghĩ tới ngày nào người này phải tu đắc đạo. Chứ không có giúp khơi khơi, giúp nửa chừng.
[1:29:10]Nhớ như vậy. Thì ta tích luỹ cái này nó qua hết kiếp này tới kiếp kia cái phước ta mới đủ lớn. Ta vừa nói ba yếu tố mà nó tạo thành vọng tưởng, cũng là ba cái phương pháp để ta đối trị vọng tưởng mà tu tập thiền định. Thứ nhất là gì? Sinh lý cơ thể, và đối trị với sinh lý cơ thể là cái gì? Phép chỉ, tức là những kỹ thuật. Cái yếu tố thứ hai để tạo thành vọng tưởng là gì? Cái yếu tố tâm lý đạo đức. Và để thiết lập tâm lý đạo đức này ta dùng cái gì? Phép quán, tức là đạo lý. Và thứ ba, yếu tố tạo thành vọng tưởng và thiền định là gì? Nhân quả nghiệp báo. Và để đối trị với những cái nghiệp báo xấu ta làm cái gì?
[1:29:55]Làm phước, rất là nhiều. Đó là ba cái như vậy. Cái bản đồ ta thảy ra hết cách làm như vậy. Cứ như vậy mà tu tập. Được chưa? Chưa. Vì ta chưa biết Kanda. Vì ta chưa biết Kanda.
[1:30:14]Kanda là một điểm kỳ lạ, dưới rốn sáu phân, ở ngoài da, không nằm trong sâu cũng không nằm ngoài không khí, chính xác ngoài da và không có cảm giác rõ ràng. Đừng có đòi hỏi nó là một điểm mà cụ thể, rõ ràng, không có. Nó trừu tượng và ta phải tự tìm ra, nhận ra, an trú tâm nhẹ nhàng nơi đó. Và Kanda nó là cái gì? Công năng nó là gì? Nó công năng làm cho ta bớt tán loạn vọng tưởng. Và nó có công năng là gì? Tạo cái lực âm thầm. Và có công năng là gì? Làm cho ta dễ nhận ra những cái sai của mình. Ví dụ ta bị động loạn, ta biết ta bị động loạn. Ta còn tham, nó làm cho ta biết ta, ta còn sân, an trú Kanda biết ta còn sân.
[1:31:03]Tức là cái Kanda nó gom tâm ta lại và làm cho ta biết các nhược điểm còn của mình để cho ta quán cái phép quán tự ngã, ta còn cái đó. Và cuối cùng là ta còn vô minh, tội lỗi. Và khi ta an trú ở Kanda nó giúp cho ta nhắc cho ta nhớ cái điều đó, ta vẫn là vô minh, tội lỗi. Nhớ cái Kanda rất là hay. Lát nữa mình hát cái bài Kanda với nhau cho vui.
[1:31:31]Khi mà ta biết ba cái yếu tố tạo nên vọng tưởng: sinh lý cơ thể, tâm lý đạo đức và nhân quả nghiệp báo, ta tu tập và ta biết luôn cái Kanda là một yếu chỉ đặc biệt thì chắc chắn việc tu của ta phải có kết quả. Phải có kết quả.
[1:31:52]Nên sư phụ hay dặn các đệ tử á, sư phụ tu tập thì sư phụ không có kết quả, nhưng những người tu theo sư phụ bắt buộc phải có kết quả. Không có kết quả là đánh đòn á. À phải có kết quả. Còn sư phụ thì được miễn cái đó là sư phụ không có kết quả là là không ai được phiền sư phụ, nói: "Sao thầy tu thầy không có kết quả?". Không, sư phụ là trường hợp đặc biệt ngoại lệ, không kết quả. Nhưng ai tu theo sư phụ mà không có kết quả là chết á. Là ăn đòn á. Nên là phải có kết quả. Rồi kết quả là gì? Kết quả trong tu tập thiền định là gì? Kết quả thì từ cạn cho tới sâu dần, sâu dần. Sâu nhất là ta đạt được vô ngã, giải thoát, giác ngộ.
[1:32:38]Nhưng mà cạn nhất bước đầu của việc thiền định là cái cảm giác ta ngồi thiền không muốn xả, cứ thích ngồi thêm. Đó là dấu hiệu đầu tiên, dấu hiệu đó chưa là gì đặc biệt cả. Chưa có gì đặc biệt, nhưng thích ngồi thêm chút nữa, nó là bước đầu. Rồi sau đó về ta cứ tiếp tục mà thấy mình vô minh, tội lỗi, thấy mình là là loạn động, là ngu si, đó ta thấy những cái mặt trái, mặt dở của mình như vậy. Giữ hơi thở chậm, ít, êm, đó tâm cứ an trú ở Kanda. Và nó cứ tới đâu nó tới, nhưng ta hiểu mình thích ngồi thêm đó là một cái kết quả. Nhưng dù kết quả gì, dù vào sâu định tới đâu, thậm chí dù có thần thông, thì vẫn cái câu thần chú không
[1:33:21]bao giờ được quên là "Vô minh tội lỗi" để đừng bị đoạ lại. Quên câu đó kiếp sau ta đoạ lại liền. Là vì sao vậy? Bởi vì khi tâm ta vào định thì nó xuất hiện một loạt cái tà kiến. Cái tà kiến thứ nhất là tự khen mình là hay, tà kiến này khủng khiếp, kiêu mạn. Cái tà kiến thứ hai là thụ động. Được rồi, vì cái định nó khoá tâm mình lại, mình không thích làm gì nữa, cho nên mình mất từ bi và không có siêng năng để giáo hoá, không có siêng năng để đem cái Phật pháp này xây dựng thế giới thành một tinh cầu giác ngộ. Nhớ bởi vậy lý do mà sư phụ bắt mọi người mỗi ngày phải thề cái điều đó, xin với Phật như vậy,
[1:34:05]ta tu tập để rồi xây dựng thế giới này thành một tinh cầu giác ngộ. Nhờ cái lời thề đó mà sau này khi ta nhập vào định rồi, bắt đầu cái lời nguyện nó đánh vào tâm ta, nó không cho ta thụ động ngồi yên một chỗ mà ta sẽ đứng lên để bước đi, như vậy. Chứ còn không không có cái lời thề đó, sau này mình vào định rồi mình ở yên chỗ luôn á, rơi vào thụ động luôn. Và cái gì thụ động, cái gì lười biếng nó rất gần với cái ác độc. Nhớ như vậy. Mình tưởng mình không làm gì hại ai, "Tôi đâu phải ác, tôi hiền mà, không làm gì hại ai", nhưng mà không làm gì đồng nghĩa với ác độc. Cái thụ động cũng là một loại ác độc.
[1:34:44]Cho nên vì thế vì khi ta có kết quả, tâm nó bắt đầu yên, nó vào sâu dần, sâu dần thì cái tâm mà khen mình nó khởi dậy, rồi thì thụ động không làm gì. Đó là một cái. Hai cái đó rất là rất là đáng sợ. Ngoài ra, Phật còn dạy cái sắc ái, vô sắc ái này kia nọ, mấy nhiều cái vậy. Mệt chưa? Nói: "Chưa" mà méo xẹo cái mặt à. Mai thì chúng ta có một chút Phật sự trong Văn Quang ha, ai có duyên thì vô đó phụ. Còn không thì thôi, không ép.
[1:35:18]Ngồi suy nghĩ một phút, hai phút coi có cần gì hỏi để sư phụ sẵn sư phụ trả lời luôn nha.
[1:35:27]Thật ra khi mà tâm mình yên á, nó xuất hiện nhiều cái trạng thái lạ, nhiều cảm giác lạ, và rất nhiều cảm giác đó là ảo giác, đó ta cẩn thận. Ví dụ thấy giống như mình ngồi giữa hư không, không dính gì với đất cũng là một loại ảo giác. Rồi à hoặc là thấy hào quang, những cái đó đều là những ảo giác nguy hiểm làm cho mình thấy mình cao cao siêu, nguy hiểm mấy cái đó nguy hiểm, lại ảo giác. Đôi khi mình có thần thông cũng đều là những chướng ngại. Hoặc là như trong a khi mình ngồi thiền á, cái dụng công nó chuyên chú, cái trạng thái nó khác, còn khi mình trong đời sống mình không ngồi thiền mình bước
[1:36:08]tới bước lui mình làm việc, cái trạng thái của một người thanh tịnh nó cũng khác. Mà Đức Phật dạy về cái Tứ niệm xứ á là cái ta áp dụng trong đời sống mình á, đi tới đi lui mình lúc nào tâm cũng an trú nơi thân. Đó là giai đoạn đầu là quán thân trên thân. Nhưng mà sau một thời gian dài khi mình ngồi thiền tâm mình định sâu á thì mình bước đi bước lại trong đời sống mình không còn thấy là cái thân nữa mà chỉ là một cảm giác vô hình, đó là bắt đầu giai đoạn thọ, quán thọ trên thọ. Còn khi vào định sâu hơn nữa mình đi tới đi lui trong đời sống không phải là một cảm giác đó nữa, nó là một cái biết sâu thẳm, tức là quán tâm trên tâm.
[1:36:47]Còn mà tới quán pháp trên pháp, tức là phát hiện ra được bản chất của vũ trụ rồi, là tới vô ngã rồi. Trong Tứ niệm xứ nó lại khác. Cho nên trong đời sống mà mình làm gì mình cũng thấy rõ toàn thân mình, mình đang ở giai đoạn quán thân trên thân. Tứ niệm xứ cũng là những giai đoạn để mình đo, mình biết như vậy. Dịch ra đi con, Pháp Nguyên dịch ra cho mọi người nghe luôn con.
[1:37:15]Ổng ổng nói tiếng Ấn Độ không biết sư nghe được hay không nè.
[1:37:21]First of all, very good evening, great master to you. Welcome. My my question is regarding
[1:37:30]since it's been only a month I've been practicing meditation now, about 1 and 1/2 month only. So, before one week approx, I I don't have much pain, but right now it's been around 3, 4 days, so all the pain is only in the knee portion after 45 minutes, I can sit till 45 minutes, but up if I cross 45 minutes, then I don't know, I can't concentrate in my breathing and I can't see my body parts. Yeah, so the pain goes in the knee portion. So, that is only my question right now. So, how to overcome it? Sư nghe được chết liền á. Dạ, con con xin phép được dịch a. Dạ là sư đã ở chùa của mình và tu tập được khoảng 1 tháng 1 tháng rưỡi. Dạ, thì...
[1:38:24]Thôi thôi, con dịch trật nữa rồi con. Ổng mới ngồi thiền được 1 tháng rưỡi, nhưng về chùa được có vài ngày. Dạ, dạ. Ừ. Thầy à.
[1:38:35]Dạ, thì câu hỏi của sư là sư có thể ngồi được khoảng 45 phút, nhưng mà khi mà qua khoảng 45 phút á thì bắt đầu là bị đau cái đầu gối rất là nhiều và lúc đó là không có thể nào mà tập trung vô cái hơi thở hay là quán toàn thân được ạ. Dạ, đó là câu hỏi của sư ạ. Ừ. Con con dịch cho sư như thế này: Ai mới ngồi thiền cũng bị cái đau chân nó hành hạ. Và đó là một challenge, một cái sự thử thách. Ta phải chịu đau mà vẫn thiền định, vẫn biết hơi thở, vẫn biết bụng dưới
[1:39:15]và không có phiền não. Cho nên thiền định là một phương pháp mà làm cho ta bình an trước mọi điều của cuộc sống. Vì mình đã đi qua những lúc đau chân kinh khủng mà tâm không phiền, không giận, vẫn bình tĩnh theo dõi hơi thở, sau này cả thiên hạ có chửi mình, kệ họ.
[1:39:34]Có đem mình nhục mạ, đem danh dự mình ra chà đạp, cũng chả cần gì. Nhớ, nên cái thiền định làm cho ta nhẫn nhục được. Vì mình đã nhẫn được với cái đau của mình thì cái là thiên hạ nói gì cũng vô nghĩa, vậy thôi. Mình chỉ sợ mình làm sai đạo lý với Phật thôi. Thế còn cái thị phi của bên ngoài không quan tâm. Nên thấy nó cũng vừa là trả cái nghiệp. Cái đau chân cũng là trả cái nghiệp quá khứ, nhưng cũng là rèn luyện mình cái tâm hạnh nhẫn nhục mọi điều.
[1:40:11]Đau chân mà không phiền, không giận, đau chân mà vẫn phải bình an, đau chân mà vẫn phải an trú dưới bụng, dưới hơi thở, sau này cái nghịch cảnh cuộc đời bỗng nhiên mình cũng nhẹ nhàng là vậy, nó là vậy. Rồi sau này khi mà phước tăng, cái sức định nhiều, bỗng nhiên cái đau chân nó hết, tự nhiên mình ngồi được lâu hơn. Nói sư vậy đi con. When your good karma increases, when your mind becomes calmer, and then the pain of the knee, the pain of the legs would be nonsense. Yeah, and you can sit, you can sit meditation longer, longer. Yeah. And you don't want to give up. You don't want to stop meditation.
[1:41:02]You like, you love to sit forever. That's it.
[1:41:18]Có ai hỏi gì nữa không?
[1:41:22]Thôi nghỉ ha, cũng được 2 tiếng rồi đó con. Ừ, được 2 tiếng. Gần được 2 tiếng. Thôi chúng ta hồi hướng đi con, chúng ta hồi hướng đi. À Canda, Canda, chưa chưa chưa! Còn Canda, Canda. Con dịch cái bài Canda cho ổng nghe nha con. Nè, con nhìn nè. Canda đi con. Mọi người hát theo nha. Ai mà nhìn miệng hổng thấy hát theo là có chuyện à.
[1:41:54]Nắng đã khuất bóng một buổi chiều, lòng mang lo âu biết bao điều.
[1:42:05]Có chú chiến mã đang mừng
[1:42:10]vui, ngươi sẽ cùng ta đi trọn nẻo. Xa xa dưới xóm từng mái nhà, mọi người yên giấc mộng êm đềm,
[1:42:23]sứ mạng người đời không thay đổi, vòng luân hồi như bóng nghiêng che.
[1:42:33]Những sắc hoa vương khắp khu vườn, bây giờ tìm hương lại đâu được?
[1:42:47]Không có ta ai dìu dắt lối? Cho đời ngập tràn ngàn khổ đau. Dù lòng này tha thiết thương quê nhà, một vầng trăng sáng giữa trần gian, còn nhiều điều cay đắng trong đời, chỉ tiếc thời gian trôi qua mau.
[1:43:16]Mong ngày mai sẽ gặp lại, nhất quyết quay về thọ đại ân. Trách đời còn nhiều điều áo xiêm, lòng này chỉ biết có tha nhân. Xin hãy ôm lòng người áo nâu, kể người nghe bao nỗi chông gai, đường dài cùng con đi lặn lội, lại sưởi
[1:43:44]lòng nhau lúc ngút ngàn.
[1:44:01]Kìa chú chiến mã của Canda, không được sống như ở trần gian, đang nằm kề bên ta thầm lặng, lòng người rộn lên nỗi xót xa.
[1:44:18]Ngày xưa có một chú Canda, đã từng theo gót chân cha, trút bỏ niềm đau trong
[1:44:30]lòng, gạt lệ mà nhìn người ra đi. Tiếng vó câu nghe gõ vào đêm, và người hầu quay gót ra về, mắt lệ ngập tràn chan chứa, khóc cho người một lần ra đi. Ai đã thấu hiểu lòng Canda? Người ấy không sống cho riêng mình, buông bỏ mọi niềm âu lo, luân hồi rồi sẽ có ngày qua. Ánh trăng vỡ tan rơi trên thềm hoa, có người lẳng lặng khóc thầm,
[1:45:23]sống giữa trời đất thanh cao, chỉ mong người đời bình an.
[1:45:35]Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng ta cùng nhau hồi hướng. Nguyện ba đời chúng sinh, cùng đền ân chư Phật, bỏ bản ngã vô minh, đồng tiến thành chánh đạo.