Transcript: Thời Hoàng Kim - Kinh Kim Cang 01

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:32:51

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:08]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:24]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:38]Xin cung thỉnh Thượng tọa an tọa, xin cung thỉnh toàn bộ Phật tử an tọa.

[0:46]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta

[0:54]bắt đầu trao đổi với nhau về ý nghĩa của kinh Kim Cang.

[1:00]Thật ra, kinh Kim Cang thì rất nhiều tăng ni cũng như Phật tử đã được nghe qua, học qua. Vì vậy mà nhiều người cũng đã hiểu được đại khái, khái quát về cái nghĩa lý cao siêu của kinh Kim Cang rồi. Tuy nhiên, chúng tôi với thầy trụ trì cũng cảm thấy là ở nơi đạo tràng Từ Tân này, chúng ta cần lặp lại, giảng lại cái bộ kinh này một chút. Thì cứ vậy, giáo lý đạo Phật là cứ mỗi một lần nghe là một lần mới. Do đó là biết đâu trong lần trao đổi này cũng sẽ tìm ra được nhiều điều thú vị gì đó. Còn nếu mà ai cảm thấy nghe quen thuộc thì cứ xem như lần đi nghe kinh này làm cho mình dễ ngủ, không sao hết.

[1:58]Kinh Kim Cang này chúng ta nói về xuất xứ một chút xíu, lịch sử kinh, là kinh Kim Cang thuộc về hệ thống kinh điển Đại Thừa.

[2:09]Đúng nguyên cái tên là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Vào khoảng giữa kinh chúng ta sẽ nghe chúng ta sẽ nghe chính Đức Phật đặt cái tên này, còn bây giờ chúng ta cứ gọi là kinh Kim Cang cho gọn. Hệ thống kinh điển Đại Thừa thì xuất hiện sau Đức Phật khoảng từ 200 năm trở đi cho tới 600 năm cho tới 1.000 năm. Những loạt kinh mà ở đỉnh cao của Đại Thừa như Pháp Hoa, Niết Bàn vân vân thì thì xuất hiện sau Đức Phật khoảng 600 năm. Còn những bản kinh mà thuộc về hệ thống Tịnh Độ hay Mật Tông thì xuất hiện sau Phật khoảng cả ngàn năm nữa, rất là lâu. Còn kinh Kim Cang này xuất hiện rất là sớm. Và trong bản kinh Kim Cang này thì tuy

[2:57]là thuộc hệ Phật giáo Đại Thừa nhưng mà vẫn còn rất gần với Phật giáo nguyên thủy. Chúng ta sẽ thấy cái hình ảnh trong kinh cũng khá đơn giản như là những bài kinh nguyên thủy. Là tên của những vị Bồ Tát lớn mà nào giờ chúng ta nghe quen thuộc của hệ thống Đại Thừa như là Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Quan Âm, Bồ Tát Phổ Hiền, Bồ Tát Đại Thế Chí, hoặc là những Đức Phật ở các phương như Phật Dược Sư, Phật A Di Đà, Phật A Súc, hoàn toàn không được nhắc tới, là tên hoàn toàn. Nghĩa là trong khung cảnh vẫn chỉ có là các hàng tỳ-kheo mà tập trung xoáy nhất là ngài Tu-bồ-đề. Cuối kinh thì mới có thêm là khi mà Phật đã thuyết kinh

[3:45]này rồi thì tất cả trời, người, A-tu-la, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, nam rồi cận sự nam, cận sự nữ đều hoan hỷ, tín thọ, phụng hành, chỉ có chừng ấy thành phần. Còn những kinh Đại Thừa khác thì mà liệt kê ra những thành phần mà tham dự thì chúng ta choáng ngợp luôn. Chúng ta choáng ngợp là sao? Là ngoài những người có mặt thì còn có quốc vương, đại thần, những vị Bà-la-môn, các tôn giáo khác tham dự. Còn trong thế giới siêu hình thì có nhạc thần Càn-thát-bà, có Dạ-xoa, có Tứ Thiên Vương, nghĩa là rất nhiều rất nhiều Thiên Long Bát Bộ tham dự. Rồi có những vị đại Bồ Tát từ nhiều thế giới cõi Phật cũng đến tham dự.

[4:34]Thậm chí như trong kinh Pháp Hoa là có Phật Đa Bảo từ quá khứ cũng xuất hiện trở lại luôn. Nên những thành phần tham dự trong các bộ kinh Đại Thừa lớn thì cực kỳ hùng tráng, cực kỳ là đa dạng, phong phú. Nhưng đó là những kinh Đại Thừa mà đã phát triển cho đến giai đoạn tột đỉnh. Còn riêng kinh Kim Cang thì xuất hiện rất là gần thời nguyên thủy, nên khung cảnh vẫn còn rất là đơn sơ mà chúng ta đọc chúng ta thấy, không có mấy người, vẫn khung cảnh rất là đơn giản trong cái khu vườn Kỳ Viên đó thôi. Các tỳ-kheo vẫn là đối tượng chính cho Phật thuyết pháp, nghĩa là hầu hết là chỉ giảng cho người tu,

[5:18]chứ không có nói sự tham dự cư sĩ mà cuối bài thì mới nói là có cư sĩ. Thì chúng ta hiểu giống như là vào buổi chiều khi Phật thuyết pháp, thì lúc Phật đang thuyết thì cư sĩ cũng lác đác đi tới đi tới để mà thăm thăm tinh xá, thăm chư tăng rồi nghe Phật thuyết pháp luôn. Riêng có một nhân vật chính của kinh là ngài Tu-bồ-đề, ngài Subhuti, được nâng lên thành cái nhân vật kiệt xuất, đại biểu cho một cái người có cái trí tuệ Bát Nhã sâu sắc để hiểu về cái tánh không của Phật. Là sự xuất hiện của ngài Tu-bồ-đề ở trong kinh Kim Cang cũng như một loạt các kinh Bát Nhã khác trở nên vượt trội, qua mặt luôn ngài Xá-lợi-phất,

[6:02]ngài Mục-kiền-liên, ngài Ca-diếp, ngài Ca-chiên-diên, ngài Phú-lâu-na hết luôn. Mặc dù là ở vào cái thời nguyên thủy hoặc là những kinh điển khác thì cái hình ảnh của ngài Subhuti, ngài Tu-bồ-đề có vẻ lu mờ, nhưng mà bước qua cái hệ thống kinh tạng về Bát Nhã, Kim Cang thì ngài Tu-bồ-đề trở nên nổi bật, vượt trội một cách kỳ lạ. Ở đây nếu mà chúng ta có nghiên cứu kinh bộ Đại Bát Nhã, bộ Đại Bát Nhã 600 quyển, một đống, chất một đống. Trong đó cái hội Bát Nhã đó gồm nhiều nhiều kinh trong đó: Tiểu phẩm Bát Nhã, Hộ Quốc Nhân Vương Bát Nhã, Đại phẩm Bát Nhã, nhiều nhiều lắm. Thì toàn là nói lý Không.

[6:49]Nói lý Không mà dùng những ngôn từ trừu tượng mà chúng ta có thể nói thế này, là chỉ có trong ngôn ngữ Ấn Độ, Phạn ngữ mới có những cái từ đó để nói, chứ còn những ngôn ngữ hiện đại nhất ngày hôm nay cũng không có đủ những cái từ để mà diễn tả lại cái nghĩa lý trừu tượng của kinh điển Bát Nhã. Chính vì vậy là khi những vị dịch giả từ cái kinh Bát Nhã từ Sanskrit qua Trung Hoa, có nhiều vị không biết dịch, cũng phải để phiên âm lại để nguyên chứ không dịch nổi. Như chúng ta nghe những từ như là A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, Bát Nhã vân vân, những cái từ đó đều là của tiếng Ấn Độ để nguyên phiên âm qua lại, chứ không dịch.

[7:32]Rồi bây giờ chúng ta dịch những bộ kinh Bát Nhã từ chữ Nho đó sang Việt Nam thì tiếng Việt Nam mình cũng không có từ để dịch hết những cái ngôn ngữ của cái kinh điển cổ, và nhiều vị cũng đành phải để nguyên chữ Nho lại, chữ Phạn để nguyên lại luôn. Và do đó, khi một người mà muốn nghiên cứu cái hệ thống kinh điển Bát Nhã thì họ phải là một học giả rất là chuyên sâu, hiểu từ rất là kỹ thì đọc bộ kinh đó mới nổi. Chứ còn hầu hết đa phần chúng ta, nếu chúng ta chỉ giở một bộ kinh Bát Nhã vào một cái trang nào gần gần, chúng ta đọc giỏi lắm hai trang, ba trang buông ra liền, tại không hiểu gì hết.

[8:11]Về cái ngôn từ cực kỳ phức tạp, mà cái nghĩa lý nghĩa lý về tánh không quá trừu tượng, nó vượt khỏi cái đời sống bình thường của con người. Cho nên chúng ta không hiểu, mà đọc cái gì không hiểu thì tự nhiên cái trí não mình nó mệt và nó buồn ngủ. Do đó, ví dụ khi chúng ta đi nghe giảng, một trong những nguyên nhân mà làm cho chúng ta buồn ngủ là chúng ta không hiểu. Cái người giảng sư mà giảng mà cái người nghe không hiểu thì rất là dễ ngủ, do đó. Mà trong kinh bộ Đại Bát Nhã đó, thì ngài Tu-bồ-đề vẫn là nhân vật chính, nhưng mà xuất hiện thêm là có hình ảnh ngài Xá-lợi-phất là trí tuệ bậc nhất cũng đối đáp với Phật,

[8:51]rồi chư thiên trên trời xuống, những vị cực kỳ trí tuệ cũng đối đáp với ngài Tu-bồ-đề, và xuất hiện hình ảnh ngài Văn Thù, một vị Bồ Tát tượng trưng cho trí tuệ để luận bàn với nhau về tánh không Bát Nhã. Thì đó là những bộ Đại Bát Nhã về sau, cũng triển khai về tánh không, cũng đưa nhân vật là tôn giả Tu-bồ-đề lên thành nhân vật chính. Nhưng mà cái thành phần tham dự đã đa dạng rất nhiều. Riêng kinh Kim Cang là bộ kinh cũng về hệ tư tưởng Bát Nhã, nhưng mà khung cảnh cực kỳ đơn sơ, không có ai hết. Chúng ta chỉ nghe lời đối qua đáp lại của ngài Tu-bồ-đề với Phật là chính, chứ còn không có ai hết.

[9:30]Chính vì lý do như vậy, cho nên chúng tôi có tham vọng viết một cuốn truyện về kinh Kim Cang này. Là cùng một kinh Kim Cang này, chúng tôi viết một cuốn truyện, chúng tôi dựng lại khung cảnh thời đó, hư cấu lại, để cho ví dụ một người không có nghe giảng mà đọc cái cuốn truyện đó cũng thấy cái nghĩa lý nó trở nên rõ ràng hơn, rõ ràng hơn. Thì chúng tôi cũng đang viết, chắc cũng cũng còn lâu mới xong. Bây giờ thì thời gian này chúng ta chịu khó nghe giảng trực tiếp vào trong cái bài kinh như vầy. Ở đây chúng tôi có dịch từ chữ Nho sang chữ Việt. Và ngoài phòng phát hành đây có phát hành. Quý Phật tử muốn theo dõi đó, thì chịu khó người thỉnh một cuốn mà coi.

[10:13]Thì chúng tôi có đối chiếu cái bản chữ Nho với chữ Việt. Quý Phật tử cứ về cứ xem trước. Nếu mà xem xong hết mà hiểu hết thì mình khỏi nghe giảng cũng được, không sao hết. Trong kinh Kim Cang này, chúng ta sẽ nghe Phật có nhắc đến từ Bồ Tát. À, mặc dù không có các vị Bồ Tát lớn như chúng ta vẫn biết là ngài Quan Âm, Văn Thù, Phổ Hiền, Thế Chí, Dược Vương gì không có, nhưng mà từ Bồ Tát vẫn được nhắc đi nhắc lại với một cái ý rất là rộng rãi. Nghĩa là, bởi vì nếu mà theo nguyên thủy á thì trong những vị tu hành á thì phân biệt theo cái cấp độ mà hình thức là gồm có những vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, và cư sĩ là ưu bà tắc, ưu bà di, ha.

[11:00]Còn nếu mà nói theo quả chứng á thì phân biệt là đây là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, là phân biệt theo quả chứng. Nhưng mà trong kinh Kim Cang thì hai cái loại phân biệt đó thì không có, mà Phật chỉ nói chung trong một từ là Bồ Tát thôi. Là khi nói đến một người biết tới Phật pháp, có phát tâm tu hành, đang tu hành, hay có tu chứng rồi, thì Phật chỉ dùng chung một chữ là Bồ Tát. À, nên cái nghĩa Bồ Tát bao quát hết tất cả những người phát tâm tu tập, gồm cả cư sĩ nam, cư sĩ nữ, tỳ kheo, tỳ kheo ni, gồm cả những vị từ Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán luôn. Nên từ Bồ Tát trong kinh Kim Cang có cái nghĩa lý rất là rộng rãi.

[11:45]Ví dụ như là quý Phật tử mà ngồi dự ở đây, mình có phát tâm tu tập một cách chân chính là dường như là mình cũng được Phật gọi là Bồ Tát. Ừm, bởi vì cái từ Bồ Tát là một hữu tình giác ngộ, một hữu tình có lý tưởng giác ngộ, một hữu tình đang đi trên con đường tu tập giác ngộ, nên đều được gọi là Bồ Tát. Do đó ở đây là có thể chúng ta cũng được gọi là Bồ Tát, nhưng mà là Bồ Tát nhí, Bồ Tát nhí, chứ không phải là Bồ Tát lớn đừng ham nha, nhớ như vậy, Bồ Tát nhí. Cho nên lát mình ra nhau mình gọi nhau Bồ Tát cũng được, là chào Bồ Tát Diệu Quang, chào Bồ Tát là gì đó, cũng được hết trơn á, nhưng mà thêm chữ nhí vô giùm không có lỗi.

[12:31]Ở đây chúng tôi dịch cái kinh Kim Cang này từ cái bản chữ Nho mà thông dụng ở Việt Nam chúng ta vẫn dùng, các trường Phật học vẫn dùng, là bản chữ Nho của ngài Cưu-ma-la-thập ngài dịch lại. Thì trong đó có một vị thái tử bên Trung Hoa họ phân thành 24 đoạn, nhưng mà khi chúng tôi dịch lại thì chúng tôi bỏ những đoạn phân đó để cho cái bài kinh nó được liên tục luôn. Bây giờ chúng ta giới thiệu về ngài Tu-bồ-đề một chút về cái nhân vật này. Ngài Tu-bồ-đề á là thật ra lại là cháu của ông Cấp Cô Độc, gọi ông Cấp Cô Độc bằng bác, là bác ruột. Là ông Cấp Cô Độc là một trưởng giả giàu có của nước Kosala, sống ở nơi kinh thành Savatthi là Xá Vệ.

[13:14]Từ cái thành Savatthi của nước Kosala là một cường quốc, một cái giống như là một đế quốc vậy đó, Kosala vậy. Ấn Độ thời đó chia ra rất nhiều nước, nhưng mà có hai quốc gia lớn: ở phía bắc là nước Kosala, ở phía nam là nước Magadha hay mình gọi là Ma-kiệt-đà. Thì quốc vương của cái nước Kosala á là cũng tên là vua là Maha Kosala, sau đó ông truyền ngôi lại cho vua Ba-tư-nặc, vua Ba-tư-nặc là con. Còn cái nước mà Ca-tỳ-la-vệ của Phật á là một tiểu quốc nhỏ, nội thuộc, bị nội thuộc của cái vương quốc Kosala này, chứ còn Thích Ca, dòng họ Thích Ca ở Ca-tỳ-la-vệ chỉ là một tiểu quốc nhỏ. Thì sau này vua Ba-tư-nặc bị người cháu của mình là vua Lưu

[14:01]Ly đó thoán ngôi, rồi sau đó vua Lưu Ly mới đem quân qua tàn sát diệt chủng cái dòng họ Thích Ca luôn để trả thù. Thì đó là một cái nghiệp sau này chúng ta biết. Nhưng mà Đức Phật của chúng ta thì sau này ngài xuất gia thì ngài đi dần về phương nam, ngài tu hành đắc đạo truyền bá, khi truyền đạo ngài dần dần ngài quay trở về cái nước lớn là cái nước đế quốc mà khống chế cái nước của mình, nhưng mà ngài lại qua đó ngài giáo hóa rất thành công ở cái nước Xá Vệ. Thời đó là vua Ba-tư-nặc giống như là bạn của Đức Phật vậy đó, vừa là đệ tử của Phật mà vừa như là bạn vì hai người đó trạc lứa với nhau, vì cha của Đức Phật là vua Tịnh Phạn đồng thời

[14:39]với quốc vương Maha Kosala, hai người ngang hàng nhau. Thì khi quốc vương Tịnh Phạn sinh ra người con là Phật, thì bên đây ông quốc vương Maha Kosala cũng sinh ra một người con là vua Ba-tư-nặc, thì hai người đó ngang lứa. Trong khoảng thời Đức Phật còn trẻ thì ngài đã có từng gặp quốc vương Ba-tư-nặc, cũng giống như là ngài đã đi sang thăm cái kinh đô của Xá Vệ hoặc là quốc vương Ba-tư-nặc đã đi coi như là đi kinh lý sang cái Ca-tỳ-la-vệ. Cái đó là những chuyện thuộc về lịch sử, hai người như là bạn nhau, nhưng mà vua Ba-tư-nặc bởi vì kính trọng cái trí tuệ giác ngộ của Phật cho nên vẫn xem mình như

[15:18]là một đệ tử và ủng hộ sự giáo hóa của Đức Phật trong cái đất nước Kosala. Cái kinh thành Xá Vệ so với quê hương Ca-tỳ-la-vệ của Đức Phật không xa nhau, cách chỉ có vài trăm cây số, rất là gần, cho nên đi bộ qua lại cũng không phải là khó nên họ vẫn thường đi qua lại để trao đổi buôn bán với nhau. Thì trong cái kinh thành Xá Vệ đó gồm những nhà quý tộc của cái cường quốc, của cái đế quốc Kosala, và trưởng giả Cấp Cô Độc là một trong những người quý tộc cực kỳ giàu có của kinh thành đó. Và chúng ta phải hiểu một cái người quý tộc thì không bao giờ chỉ là một người giàu đơn sơ mà họ có cái thế lực cắm ở trong chính quyền.

[15:59]Và em ruột của ông Cấp Cô Độc lại chính là cha của ngài Tu-bồ-đề, mà em ruột của vua Cấp Cô Độc đó lại là cố vấn cho vua Ba-tư-nặc. Ổng làm cái chức là quân sư đó, là một chức là mưu sĩ hay là quân sư, là cố vấn cho vua Ba-tư-nặc. Nên cái quyền lực của anh em hoặc là dòng họ của ông Cấp Cô Độc rất là lớn, nên chỉ có ổng mới dám mà đến thương lượng với thái tử Kỳ-đà mua bứt cái khu vườn mà cúng cho Phật, phải không? Chứ khu vườn đó của ông thái tử, dân mình dám lại hỏi mua không? Có dám giỡn chơi vậy đó không? Không, phải không? Không dám giỡn chơi. Mình nói bây giờ ví dụ nghe nói đất của ông chủ tịch quận

[16:39]thôi, mình cũng không dám tới hỏi mua nữa, chừng nào ổng kêu bán thì thôi chứ không có, phải không? Huống hồ là một thái tử! Cho nên vì vậy là bởi vì ông Cấp Cô Độc cái quyền lực rất lớn mới dám gọi thái tử Kỳ-đà tới muốn hỏi là tôi muốn mua miếng đất đó để cúng dường đức Thế Tôn, ý thái tử nghĩ sao. Ông kia nể ông Cấp Cô Độc, khu vườn mình rất thích mà phải đành phải bán thì chúng ta phải biết là cái thế lực của ông Cấp Cô Độc nhỏ hay lớn? Lớn kinh hồn lắm! Nghĩa là vua chúa rất nể, thái tử mà phải nhượng bộ, cái khu vườn đang rất thích mà ổng hỏi mua phải bán liền là quyền lực Cấp Cô Độc kinh hồn lắm, không phải đơn giản.

[17:15]Thì trong tương truyền là nói ổng đem vàng ổng trải ra tới đâu thì ổng mua tới đó. Sự thực tế thì không có vậy đâu, thực tế thì không phải như vậy, vàng ai mà dữ kinh hồn như vậy. Tuy nhiên là vì quá nể Cấp Cô Độc mà thái tử Kỳ-đà buộc phải nhường lại, nhường lại thôi, đó, sự thật là vậy, bởi vì em của ông Cấp Cô Độc là cố vấn cho vua cha, cho nên cái tiếng nói rất là mạnh. Thì ngài Tu-bồ-đề lúc đó là một công tử ở trong cái cảnh quyền quý, giàu sang. Bởi vì cha mình là cố vấn vua mà, công tử quyền quý ghê gớm. Tuy nhiên có một cái điều lạ là lúc mà ngài sinh ra có một cái điềm lành xuất hiện, không biết điềm lành hay điềm dở,

[17:54]mà lúc ngài vừa lọt lòng mẹ thì toàn bộ kho đụn, nhà cửa trong nhà ngài biến trống bốc hết, không còn cái thứ gì trong nhà hết. Nghĩa là vàng bạc, châu báu, nghĩa là gạo cơm, bàn ghế, tôi tớ gì biến mất hết, chỉ còn có vài người thân đứng thôi. Rồi xong một lúc sau từ từ mọi cái thứ mới hiện trở lại, là cái chuyện rất là lạ. Thì lúc đó cha của ngài Tu-bồ-đề đó mới thấy cái hiện tượng lạ, không hiểu, không hiểu là cái điềm tốt hay xấu, mới gọi một cái nhà mà gọi là mình gọi là nhà tiên tri, một người biết coi điềm đó trong cung vua, tại trong cung vua mấy cái vị quan mà chuyên coi về bói quẻ rồi nhiều lắm.

[18:35]Thì mới ổng cũng là cố vấn vua nên ổng ổng có quyền, ổng mới mời một vị chuyên về cái chiêm tinh cho hoàng cung đến để xem mặt đứa bé, đồng thời hỏi về cái điềm kỳ lạ là con trai tôi sinh ra tự nhiên mọi cái đồ vật trong nhà biến mất hết một khoảng thời gian rồi bắt đầu mới từ từ hiện ra lại thì đó là điềm gì. Thì vị chiêm tinh đó mới trả lời thế này: "Đây là điềm là sau này công tử là người thấu rõ cái nghĩa không đệ nhất trên thế gian này." Ổng nói nhiêu đó thôi. Thì hỏi: "Nghĩa là cái gì?" thì ông chiêm tinh gia cũng không biết đường trả lời. Ổng nói: "Tôi chỉ biết vậy, mà điềm này không xấu, mà nói tốt thì cũng không dám

[19:16]nói là tốt, nhưng mà công tử sẽ là một người mà xem tất cả mọi chuyện trên đời này như không, như không." Đó là cái câu trả lời của ông chiêm tinh gia, không ngờ là chính vì sau này ngài đắc đạo mà ngài xem được mọi điều trên thế gian này như không, là câu trả lời như vậy. Thì lúc đó không ai giải thích được hết, không ai hiểu được hết cái lời nói của ông chiêm tinh, cái chuyện như vậy. Thì ngài sống trong cuộc đời rất là sung sướng, nhưng do là con của một cố vấn, một công tử nên ngài cũng được học về văn chương, về võ thuật, là những kiến thức về trị quốc an dân ngài được học hết. Giống như Đức Phật của chúng ta cũng vậy,

[19:54]thuở còn làm thái tử cũng đã được học về văn chương, về võ thuật đều là siêu đẳng, thì ngài Tu-bồ-đề cũng không thua, ngài Tu-bồ-đề cũng không thua. Sau này ông Cấp Cô Độc có duyên gặp được Phật, quy y làm đệ tử, và phát tâm cúng dường Đức Phật một cái miếng đất để lập nên ngôi tịnh xá mà ông nghĩ rằng cái ngôi tịnh xá đó sẽ khiến cho cái đất nước Kosala của ông được thấm nhuần tư tưởng của Phật giáo, bởi vì nằm ngay kinh đô mà. Nghĩa là cái Kỳ Viên tịnh xá của ông Cấp Cô Độc là nằm ngay kinh đô của đất nước Kosala, có nghĩa rằng cái đạo này được vua Kosala công nhận, và có nghĩa rằng khuyến khích toàn dân Kosala phải tin theo Phật pháp.

[20:38]Cái ý của ông Cấp Cô Độc rất là lớn chứ không phải đơn giản. Nghĩa là ngoài cái việc chúng ta cứ tưởng rằng ông cúng Phật và chúng Tăng một cái ngôi tịnh xá gần kinh đô như vậy là để ông được tới lui học đạo cho dễ, không phải, cái ý ông không có nhỏ như vậy. Cái ý ông là muốn đó là một kinh đô của Phật giáo trong toàn cõi cái đất nước Kosala của ông. Đó là cái tâm hộ pháp của ông Cấp Cô Độc rất vĩ đại, rất vĩ đại. Mà khi cất cái tịnh xá đó thì khi Đức Phật đồng ý rồi, ông mua được của thái tử Kỳ-đà rồi thì ông dựng lên nhiều ngôi nhà, nhiều ngôi nhà quy hoạch có kiến trúc bài bản rất là đẹp. Là ông yêu cầu, ông mời cái kiến trúc sư của hoàng cung thiết

[21:17]kế cái khu tịnh xá đó với những nhà ngang dãy dọc, khu nào dành cho Phật, khu nào dành cho chúng Tăng, cái tắm thì có một cái ao, ao nước rất là lớn, rồi những cái dãy nhà vệ sinh, những nơi để thuyết pháp, giảng đường, và rừng cây được tôn trọng nên khu vườn đó rất là đẹp. Thì khi mà khu vườn đã xây cất xong, thì ông mới thỉnh Phật và chúng Tăng về để chứng minh và chấp nhận và nhận lấy cái khu Tịnh Xá đó, gọi là buổi lễ chứng minh. Thì Đức Phật và chư Tỳ kheo đã đến cái Tịnh Xá trong cái ngày long trọng đó, rất là đông. Thì ông Cấp Cô Độc cũng mời gần hết tất cả những bà con thân thuộc của mình, kể cả vua Ba-tư-nặc, những hàng quan đại thần đến để

[22:03]dự cái lễ mà ông cúng cái ngôi Tịnh Xá cho Đức Phật. Buổi lễ đó rất là lớn, và ngài Tu-bồ-đề cũng được đến dự trong ngày hôm đó. Khi mà ngài đến dự, thì trước đó có nghe nói là bác mình theo Phật, thỉnh thoảng thấy vài vị Tỳ kheo đi qua lại trên đường đi khất thực, rồi lâu lâu có nghe đi giảng, nhưng mà ngài chưa hiểu lắm. Lúc đó ngài cũng còn trẻ, còn nhỏ. Nhưng mà hôm mà ông Cấp Cô Độc cúng cái Tịnh Xá, buổi lễ rất long trọng thì được bác mình gọi để tới dự. Khi mà ngài tới dự thì ngài mới thấy Đức Phật quá đẹp, tướng mạo quá, nhìn không biết nói gì cho hết nữa.

[22:45]Nói là đẹp trai như thầy trụ trì của chúng ta đây thì cũng phải thua xa lắc xa lơ, như vậy. Nói thầy trụ trì đừng buồn nha. Như vậy đành phải vậy. Nghĩa là dung mạo Ngài quá tuyệt vời, quá kỳ vĩ, nghĩa là vừa uy nghi vừa từ ái, mà rực rỡ như là một ánh mặt trời, mà từng bước đi, từng cử chỉ của Đức Phật đều bình an, đều giải thoát, chứng tỏ một cái nội lực sung mãn và một sự bình an vô hạn. Rồi Đức Phật thuyết pháp trong ngày đó. Hôm đó là trước đông đảo của tứ chúng, vừa Tỳ kheo, Tỳ-kheo-ni, quốc vương, đại thần, cư sĩ, trưởng giả đầy hết, Đức Phật đã thuyết một bài pháp. Và ngài Tu-bồ-đề ngay lúc đó quyết định đi tu, quyết định đi tu.

[23:31]Thì khi ngài quyết định đi tu như vậy thì cha ngài cũng phân vân, vì thấy con mình là một công tử được đào tạo để sau này kế nghiệp của mình, để giữ gìn cái dòng họ luôn luôn là dòng dõi quý tộc thân cận với vua. Bây giờ con đi tu thì cũng hơi hơi xót lòng. Nhưng mà vì tôn kính Đức Phật, đồng thời có sự khuyến khích của ông Cấp Cô Độc, nói: "À, chú nên cho cháu đi tu thì đây là công đức lớn." Ông Cấp Cô Độc thì ổng quá mộ đạo đi. Vì vậy mà cha ngài cũng đành phải bấm bụng, thắt lòng mà cho ngài đi xuất gia. Ngài đi xuất gia thì không bao lâu ngài chứng A-la-hán do cái duyên lành từ nhiều kiếp.

[24:08]Khi chứng A-la-hán rồi, thì ngài được Đức Phật khen về những cái hạnh thế này, đây là một điều rất lạ nha, là từ bi đệ nhất. Rất là lạ. Chúng ta thấy thế này, nói về tâm từ bi á thì các vị A-la-hán đều giống nhau, đều là từ bi vô hạn. Nhưng mà ngài Tu-bồ-đề không biết là cái tâm ngài như thế nào, ngài cư xử với mọi người, với chúng sinh như thế nào mà lại được Đức Phật khen là trong hàng mười đại đệ tử của Phật, chúng ta bây giờ nói mười đại đệ tử chứ sự thật trong thời nguyên thủy Đức Phật tới năm sáu chục đại đệ tử lớn, những người xuất sắc lận. Thì trong những hàng đại đệ tử của Ngài mà được có những cái

[24:45]nhất nhất nhất nhất á thì ngài Tu-bồ-đề là từ tâm đệ nhất. Vì ngài đối xử với mọi người thương yêu hòa nhã thế nào đó, mình không biết hết, nghĩa là kinh điển không ghi lại đủ. Nhưng mà chúng ta cũng đoán là cái lòng từ, cái sự nhẫn nhục, sự tha thứ, cái bao dung của ngài đối với huynh đệ, đối với cư sĩ hoặc là đối với những loài súc sinh là ngài có những cái cử chỉ gì đó để rồi được ca ngợi là từ tâm đệ nhất. Và ngài cũng được ca ngợi là ngài đạt được cái vô tránh tam muội. Vô tránh tam muội, chữ vô tránh tức là không có cãi, không có hơn thua. Thì nhập định rồi tam muội tức là đại định là chánh định.

[25:26]Mà chánh định không có hơn thua, thì nhập định rồi ai cãi lộn nữa. Nhưng mà tại sao lại có cái tên là vô tránh tam muội? Là bởi vì trong cuộc sống của ngài, ngài vượt hẳn nhiều các vị Tỳ kheo ở chỗ này: là thường thường á đây là cái bệnh của tất cả chúng ta, Đạo Phật chúng ta có một hệ thống lý thuyết, lý luận rất là sắc bén, rất là phong phú, rất là lớn. Cho nên khi nhiều người mà hiểu được một số lý thuyết, cái giáo lý của Phật thường hay có cái khoe khoang, hơn thua và tranh cãi với nhau chút chút. Có không? Mình bây giờ có không? Mình nghe hiểu đạo rồi đôi khi mình vẫn đem ra để hơi cãi nhau chút để

[26:08]chứng tỏ rằng mình hiểu cái này hơn chút, kia hơn chút, đúng không? Đó. Mà những điều đó nó rất là vi tế, mà riêng ngài Tu-bồ-đề là không hiểu như thế nào mà trong đời sống cái sự bình an, sự tự tại, cái nụ cười của ngài mà làm cho người ta thấy được nơi ngài không còn có một chút tâm hơn thua dù rất nhỏ, kể cả trong giáo lý. Kể cả trong giáo lý hay trong đời sống, trong thái độ thì ngài đạt được sự bất động, bình an thế nào để gọi là ngài không có cái sự hơn thua, nên được khen là ngài nhập được vô tránh tam muội. Và trong hệ thống Đại thừa thì ca ngợi ngài là giải Không đệ nhất, tức là hiểu được lý Không đệ nhất.

[26:50]Thì cái chữ mà giải Không đệ nhất, hiểu được lý Không đệ nhất này nó ứng với cái điềm mà lúc ngài sinh ra mà ông chiêm tinh đã nói là: "Sau này đứa bé này sẽ trở thành một người mà xem tất cả mọi việc trên đời chỉ là hư vô, là Không."

[27:09]Do ngày xưa là không có máy cassette để thu băng, chữ viết cũng không thông dụng, cho nên cái cuộc đời và hành trạng của ngài Tu-bồ-đề là chúng ta không được biết lại hết, nên có nhiều điều của lịch sử rất là quý giá mà biến mất theo thời gian. Do đó chúng ta không hiểu hết cuộc đời của ngài, chứ nếu chúng ta biết được nhiều thì có lẽ là là cũng là một cái hạnh phúc cho chúng ta lắm. Có một câu chuyện trong kinh Bát Nhã rất là lãng mạn nói về ngài Tu-bồ-đề, là một hình ảnh rất là đẹp. Có một lần đó ngài nhập định, ngài ngồi thiền. Ngài ngồi thiền mà nói rằng ngài đã an trú trong nghĩa Không, và cái nghĩa Không đó nó chấn động lên các tầng trời.

[27:53]Nên chư thiên đã đem hoa đến rải để cúng dường ngài. Tức là ngài ngồi bất động đó, nhưng mà hoa trời cứ trên trời cứ bay xuống bay xuống, bay chung quanh ngài. Nhưng mà vừa chạm đất là biến mất, vừa chạm đất là biến mất, chứ không có chất thành đống như mình để cho mình hốt. Hoa trời mà mình hốt không được. Nhưng mà cứ thấy nghĩa là nếu mà đứng nhìn từ xa thì thấy cứ hoa rơi hoa rơi xuống, mùi hương thơm ngào ngạt ngào ngạt mà rớt xuống đất thì biến mất, rớt xuống đất biến mất. Đó. Thì lúc đó là chư thiên sau khi mà rải hoa cúng dường ngài, thì có một vị nào đó mới chắp tay nói vang vang bên tai của ngài, nói là:

[28:29]"Chúng con đang nghe ngài thuyết pháp về tánh Không."

[28:35]Thì trong định ngài cũng trả lời, ngài nói thế này: "Nhưng ta không có thuyết pháp về tánh Không." Ngài nói câu đó. Mà thật ra cái câu nó dài hơn, cái câu nó thế này, cái câu mà ngài Tu-bồ-đề thường trả lời thế này: Khi mà chư thiên nói đó: "Con đang nghe ngài thuyết một bài pháp tuyệt vời về tánh Không." Thì cái câu trả lời của ngài thế này: "Này các thiên tử, không có ta để thuyết pháp về tánh Không, cũng không có tánh Không để cho ta thuyết pháp." Cái câu trả lời của ngài như vậy thì lúc đó cái tiếng của chư thiên lại vang lên tiếp: "Thật là tánh Không tuyệt vời!" Và mưa hoa tiếp tục rơi chung quanh ngài tôn giả.

[29:16]Đó là câu chuyện đẹp, câu chuyện rất là lãng mạn về ngài như vậy. Cho nên ai mà muốn hoa trời rơi đó, cứ ngồi nhập định mà cứ xem mọi việc là Không, biết đâu bữa nào đó được hoa rơi nha.

[29:31]Nói rằng cái nghĩa rằng Không tưởng rằng chỉ có trong kinh điển Đại thừa, nhưng kỳ thực là bàng bạc trong các kinh điển Nguyên thủy, có nhiều vị cũng nói về tánh Không. Ví dụ như ngài Cù-la, ngài Cù-la cũng là một vị Tỳ kheo ngài chứng A-la-hán, ngài nói lên bài kệ, trong đó ngài có nói hai câu là: "Ta quan sát thân này, trong ngoài đều trống rỗng." Cái chữ trống rỗng là hư không đó, cũng là đồng với cái nghĩa Không này. Kinh Nguyên thủy thì ít nói về nghĩa Không, mà kinh Đại thừa thì chuyên nói về nghĩa Không, cho nên đề cao ngài Subhuti trước khi chuyển qua ngài Văn Thù. À đây là một điều rất là lạ, rất là lạ,

[30:09]không biết sao, không biết sao các vị mà thiết lập những kinh điển Đại thừa thì ban đầu thì tôn vinh ngài Tu-bồ-đề, nhưng ở khoảng chừng mấy trăm năm sau cái chuyển qua toàn là dùng ngài Văn Thù không. Bây giờ chúng ta giới thiệu về cái nghĩa Không chút. Chúng ta nghe vòng vòng như vậy trước khi vào kinh nha, coi kinh dễ hiểu không. Có ai buồn ngủ không? Nghe kinh Kim Cang mà ngủ là có khi được hoa trời rơi đó. Hoa trời rơi hay là hay roi thầy trụ trì gì đó.

[30:42]Chúng ta nói về nghĩa Không thế này. Vào thời Đức Phật nguyên thủy á, thì hay nói về lý vô thường để cho người tu không vướng mắc, tham đắm vào mọi thứ trên đời. Vô thường nghĩa là gì? Vô thường là là không có cái gì tồn tại mãi, tức là hay thay đổi. Là mọi việc trên đời, mọi thứ trên đời, cái gì rồi cũng thay đổi. Hiểu như vậy cho nên cái là khi sống trong cuộc đời, khi được mọi điều là lòng mình đã chuẩn bị cái tư tưởng chờ đợi cái ngày nó nó rời khỏi cái tầm tay của mình, rời khỏi tầm tay của mình. Là cái lý vô thường là như vậy. Nên có một câu chuyện của thời nay thì người ta nói rằng, có một ông nhà giàu,

[31:30]ông có bốn người vợ, rồi trước khi ổng bệnh ổng chết, ổng nói rằng ổng rất là thương bốn người vợ đó, thì ổng muốn là bốn người vợ chết theo ổng. Nhưng mà khi ổng hỏi cái người thứ nhất, thì người thứ nhất nói rằng là tiếc rằng chỉ đưa chàng tới mộ rồi đi về, chứ không thể đi theo được, thôi thông cảm, phải kiếm người khác. Ổng mới hỏi cái người vợ thứ hai mà ổng nói rằng ổng rất là thương yêu, thì người này nói rằng là theo ông tới mộ, rồi nhưng mà không có đi theo ông qua bên kia thế giới, ở đó thôi. Ở đó thắp nhang xong thì được, chứ không có đi theo ông qua bên kia thế giới. Còn rồi cái người vợ thứ ba, khi ổng đòi chết theo ổng thì người này nói

[32:17]là cô phải nhanh chóng trở thành vợ người khác liền, chứ không thể mà theo ổng được, thôi ông thông cảm, thôi yên tâm mà chết, biết vậy. Rồi có người vợ thứ tư, thì người này chấp nhận đi theo ổng qua bên kia thế giới. Cái câu chuyện đó thì đó là một chuyện ví ví von, là cuộc đời của chúng ta có bốn điều: Một là chúng ta có người thân, người thân của mình trong cuộc sống; thứ hai chúng ta có cái thân thể này; và thứ ba chúng ta có tài sản; thứ tư chúng ta có cái tâm hồn. Khi chúng ta chết á thì những người thân quyến của mình đưa mình tới mộ rồi sao? Khóc vài tiếng rồi đi về, phải không? Tượng trưng cho cái người vợ mà ổng hỏi nói thôi đưa chàng

[32:55]tới mộ rồi đi về chứ không không không có đi theo được. Còn cái người vợ thứ hai tượng trưng cho cái cơ thể của mình, ở đó giữ mộ, nhưng mà không đi theo mình qua bên kia được. Rồi từ từ cái thân nó mục rã thôi, nghĩa là mình đầu thai hoặc là mình đi qua thế giới kia thì cái thân nằm ở mộ đó thôi, giống như là một người ở đó thắp nhang thôi chứ không chết theo. Còn người thứ ba là tượng trưng cho tài sản, thì khi mình chết rồi thì tài sản nó phải chuyển qua thành nó của người khác, giống như là người vợ nói thôi chết rồi phải đi lấy chồng khác liền, tức là tài sản thành của người khác. Chỉ có người vợ thứ tư chết theo là tượng trưng cho là

[33:25]cái tâm hồn của mình, hay là cái nghiệp của mình. Những gì mình đã gây sẽ đi theo mình mãi mãi, là vậy. Thì trong thời nguyên thủy, Đức Phật hay nói về lý vô thường để chuẩn bị, để dạy chúng ta một cái nhìn đối với mọi điều trên đời là không có gì bền vững. Kể cả những cái mà người ta hứa với nhau, mà chúng ta gọi là thề non hẹn biển. Ở đây có ai thề non hẹn biển chưa? Có không? Có giơ tay lên thử coi. Có, thấy không? Nhiều người. Có nhiều người, có ai thề non hẹn biển đó. Đó, thì cái lời thề đó đó làm cho người ta hy vọng rằng vào một cái tình cảm bất diệt, thì cái đó cũng không bao giờ có được, rồi sẽ cũng thay đổi.

[34:13]Huống hồ là những cái hữu hình hữu hoại như là nhà cửa, tài sản và dung mạo của mình, phải không? Cái dung mạo mình nó từng giờ từng phút thay đổi, từng giờ từng phút thay đổi. Nghĩa là mười năm trước chúng ta đẹp hơn, trẻ hơn, mười năm sau thì chúng ta tàn úa già hơn. Chỉ trừ những người mà có tu tập và làm công đức nhiều, thì mười năm sau đẹp hơn. Không, nói thật nghiêm chỉnh nha, đây không có nói đùa. Không tin, là mười năm nữa thì ai cũng biết cơ thể mình sẽ già, nhưng mà nếu người nào tu tập tốt, làm công đức nhiều, mười năm sau tự nhiên lại đẹp hơn dù mình già hơn, mà gọi là đẹp đẹp lão.

[34:58]Đó, do đó để đánh giá cái sự tu tập, cái công đức của mình tốt như thế nào, tiến như thế nào, mỗi ngày chúng ta phải xem gương, đúng.

[35:12]Kế đó là thời nguyên thủy Đức Phật nói tới lý vô ngã. Vô ngã tức là không có một cái ta chân thật ở bên trong. Đức Phật ví dụ là giống như một cây chuối, nó có nhiều lớp, mình đi tìm một cái lõi cứng thì không bao giờ được hết, phải không? Cứ gỡ từng lớp từng lớp cho tới khi mà thành một cái lõi mềm nhất rồi tiêu luôn. Nghĩa là không có một cái bền vững nằm giấu kín bên trong. Thì như vậy cái vô ngã cũng là vô... cũng là vô thường. Vô ngã cũng là vô thường, bởi vì không có một cái lõi bền vững bên trong. Thì như vậy vô ngã cũng là vô thường, từ cái vô thường mà ra thôi. Khi mà chuyển sang Đại thừa á, thì bắt đầu nói tới chữ Không.

[35:52]Nhưng mà chữ không của chữ Nho khác, chữ không của Việt Nam khác à. Cùng phát âm là không, nhưng mà hai ý nghĩa khác nhau. Đây là chỗ mà chúng ta dễ bị lầm. Thì hôm nay chúng ta xác minh lại, xác định lại một chút. Chữ không trong chữ Nho có nghĩa là rỗng. Rỗng. Rỗng nghĩa là làm sao? Rỗng là ví dụ mình có cái vỏ bên ngoài, nhưng bên trong nó trống, gọi là rỗng, phải không? Rồi sau này mình dùng cái chữ rỗng theo cái nghĩa bóng, là giống như một người ở bên ngoài có bộ đẹp đẽ như vậy, nhưng bên trong cái nội tâm thì rất là tầm thường. Đó, thì cũng gọi là rỗng. Ví dụ một cô gái chê một anh chàng, nói chuyện với nhau:

[36:31]"Coi chứ cái thằng đó nó rỗng." Tức là nổ cho vui vậy thôi chứ chả làm được cái gì, tâm hồn cạn cợt, tầm thường, thì gọi là rỗng. Có lần nào, giờ có ai chê vậy chưa? Có ai bị chê chưa? Đó là rỗng. Còn cái chữ không Việt Nam nghĩa là làm sao? Nghĩa là nghĩa là hổng có, nghĩa là không có. Ví dụ như đây là cái ly, bây giờ đang có, rồi đem cái ly đi mất thì chỗ này không có cái ly nữa, thì đó là không có. Còn cái ly đang có nhưng mà ở bên trong nó, nó rỗng. Đó, hai cái chữ không khác nhau như vậy. Nha, nhớ nhớ để ý như vậy một chút.

[37:12]Cái chữ Không trong Đại thừa đó, còn có ý là duyên hợp nữa. Là ví dụ như chúng ta nói cái nhà là do nhiều điều kiện ráp lại, thấy không? Do nhiều yếu tố, nhiều cái vật chất, nhiều thành phần ráp lại thành cái nhà. Ở trong đó gồm có là vật liệu: cát, đá, xi măng; gồm có cái công lao động; rồi gồm có một cái khoảng không gian; và gồm có thời gian để tồn tại. Tức là một cái vật thể nào mà khi xuất hiện gồm nhiều yếu tố, thì chúng ta để ý tới bốn yếu tố để tạo thành một vật thể. Yếu tố thứ nhất là chất liệu vật chất; yếu tố thứ hai là công sức để ráp những cái thành phần đó lại; yếu tố thứ ba là một khoảng không gian mà vật thể đó chiếm;

[38:02]yếu tố thứ tư là cái khoảng thời gian mà vật thể đó tồn tại. Thì do nhiều yếu tố hợp thành, cho nên cái chủ thể đó, cái existence, không biết kêu cái gì, cái đó nó không thật, không có tồn tại thật, chỉ gọi là duyên hợp mà gọi là giả có. Nên chữ Không trong Đại thừa cũng hàm cái ý là duyên hợp. Duyên hợp rồi thôi, rồi sẽ một ngày nào đó duyên nó không gắn bó với nhau nữa, nó tan rã ra, thì nó thay đổi. Thì cái chữ mà "một ngày nào đó" thì nghĩa là gì? Cũng là vô thường. Nên chúng ta thấy, tức là cái tác động của vô thường, của thời gian mà làm mọi vật thay đổi, nó xuyên suốt trong mọi nghĩa Không.

[38:47]Dù chúng ta nói đó là cái vô ngã, thật ra cũng là vô thường; dù chúng ta nói đó là cái duyên hợp, cũng là vô thường. Nên cái vô thường là cái gốc mà ngày xưa thời nguyên thủy, Đức Phật dùng ngay cái gốc là vô thường luôn, cái gì cũng vô thường, là tóm hết mọi cái nghĩa không trong chữ vô thường. Nhưng về sau thì hệ thống Đại thừa phát triển thêm cho phong phú, nên có nhiều cái nghĩa Không ở trong đó. Đó, nhưng chúng ta biết là đều từ cái vô thường. Tuy nhiên thế này, trong khi mà chúng ta học cái nghĩa Không của Đại thừa, chúng ta sẽ đụng chuyện thế này: là khi mà cái nhìn của hệ thống Đại thừa nói mọi thứ trên đời là

[39:28]Không, thì hầu hết con người ta khó chấp nhận, khó chấp nhận.

[39:35]Cái chỗ này là chỗ để đo coi cái căn cơ một người có thiện căn tu hành từ đời trước hay không là chỗ này. Bây giờ mình cứ mình cứ hỏi một số người, mình sẽ biết. Ví dụ như mình hỏi người đó: "Anh có xem mọi chuyện trên đời này là phù du hư ảo chăng?" Người đó gật đầu nói: "Có, tôi thấy mọi chuyện trên đời thật là phù du hư ảo," thì mình biết người này có thiện căn tu hành. Chứ còn bình thường một người, ví dụ họ đang phải tất bật lo làm ăn, mọi điều để có cuộc sống sung túc, giàu có, mình hỏi họ: "Anh có xem mọi điều trên đời là phù du hư ảo chăng?" Họ cười cười, họ giới thiệu mình đi về Biên Hòa,

[40:18]hoặc có khi họ từ bi họ cho tiền xe, ví dụ vậy. Cho nên chúng ta thấy là khi mà chúng ta nói theo cái giáo lý của trí tuệ Bát Nhã là mọi vật trên đời là không, thì chúng ta đừng tưởng là mọi người nhanh chóng đồng tình. Sẽ có nhiều người họ nghĩ rằng: một, chúng ta điên; hai là chúng ta chúng ta tiêu cực quá. Đạo Phật này làm cho mọi người thụ động quá. Nên không phải dễ hiểu cái nghĩa không, không phải dễ để mọi người chấp nhận xem mọi việc trên đời là không, không phải dễ như vậy. Cho nên do đó là khi mà chúng ta đem những cái nghĩa không này mà chúng ta muốn nói với người khác á, chúng ta phải có một cách trình bày khéo hoặc là gặp đúng người,

[41:02]đúng việc, chứ không phải là gặp ai cũng đem cái nghĩa không Đại thừa ra nói. Vì có khi chính chúng ta hiểu không tới, chúng ta truyền cái nghĩa không đó xong thì cái người đó cũng rơi vào hư vô luôn. Người đó trở thành thụ động, lười biếng và không chịu làm gì cả, tại vì nói mọi chuyện trên đời là không. Thì đó là mình gieo cho người ta một cái chấp không sai lầm. Mà thật ra rất nhiều rất nhiều người đệ tử Phật trên thế giới này, khi nghiên cứu kinh điển Đại thừa đã rơi vào chấp không, kể cả hàng những người đệ tử Phật ở Việt Nam. Rất nhiều người đã hiểu nghĩa không thì trở thành ra chấp không luôn, không thấy gì hết.

[41:44]Do đó, cái nghĩa không này rất nguy hiểm. Nguy hiểm là sao? Là nếu hiểu sai, đời tu hành của mình mất luôn, mình không tạo được công đức gì nữa, rơi vào chấp không. Đó, còn mình hiểu đúng thì làm cho đạo đức mình tăng trưởng. A! Đây là một điểm mà chúng ta sẽ thấy trong kinh Kim Cang là cái nghĩa không của kinh Kim Cang liên quan rất chặt chẽ với đạo đức. Chứ không phải là cứ nhìn mọi việc cho không để giải thoát, mà không ngờ rằng nhìn mọi việc cho không để tăng trưởng đạo đức. Đây là một điều rất đặc biệt của kinh Kim Cang mà trong những kỳ tới khi đi dần vào bên trong chúng ta sẽ thấy cái thâm ý

[42:24]của Phật cũng như của ngài Tu Bồ Đề rất rõ về điều này. Còn hiện nay vậy là không phải mọi người đều dễ chấp nhận nghĩa không là vì sao? Bởi vì mọi thứ trên đời nó đều có cái công dụng của nó, công dụng của nó nên đừng nói nó là không. Ví dụ, như là cái ghế mình đang ngồi giờ mình nói nó là không, mình nghe nói được không? Bây giờ mình thôi mình không cãi làm chi mít lòng với ông giảng sư, ổng nói ghế hay không thì kệ ổng, chứ mà nó có để mình ngồi. Nếu không có nó thì mình sao? Bỗng nhiên mình đang ngồi vậy mà cái ghế mình biến mất một cái thì chuyện gì xảy ra? Chuyện gì xảy ra? Đó, tưởng tượng ra thôi phải không?

[43:09]Cho nên nói nhiều nó kỳ, nói toạc ra nó kỳ. Chứ ví dụ mình đang ngồi dựa lưng như vậy bỗng cái ghế biến mất, thì sao? Lịch bịch gì đó, đại khái, đó. Cho nên tự nhiên mà mình nói cái ghế này là không, không chấp nhận vì nó có cái công dụng của nó. Như chiếc xe ví dụ như chiếc xe Future mình mua hai mươi mấy triệu, bây giờ hãy theo tinh thần Đại thừa, nói là duyên hợp giả có, nó như không, mình chịu không? Chịu không? Chịu với điều kiện là ờ ai nói là không cứ cho tôi nè, tôi lấy liền. Ờ chứ còn tui là có không nói. Cho nên mọi vật trên đời mình khó nói nó là không lắm vì nó có cái công dụng. Như cơm ăn mình nói là không được không?

[43:50]Được, khi nào mình no rồi thôi. Còn đang đói vậy, ai mà nói không là gây lộn liền á, phải không? Nó không. Nên cái việc mà để nhìn mọi thứ trên đời mà nói là không á, chúng ta phải hiểu vì sao chứ không phải đụng đâu cũng nói là không. Mà khi nghiên cứu vào kinh Kim Cang, chúng ta sẽ thấy cái nghĩa không này liên quan chặt chẽ tới đạo đức. Mà đây là điều rất là thú vị. Do đó, khi mà học kinh Kim Cang mà học được cái nghĩa không này chúng ta thấy đạo đức mình tăng trưởng lên. Lòng từ bi lớn lên, tâm khiêm hạ nghĩa là được củng cố. Và do đó mới nói rằng ai hiểu được kinh Kim Cang này, người đó được công đức rất lớn là vì vậy.

[44:30]Bởi vì cái nghĩa không của Kim Cang dựng được cái đạo đức của chúng ta. Đó, đó là từ từ chúng ta nói tiếp. Có một cái chữ không khác được dịch từ cái chữ vô. Cái chữ vô trong chữ Nho nghĩa là dịch qua là không, là không có luôn đó. À ví dụ nói cái ly này cái mình đem cất, đem giấu đi thì được gọi là vô, nghĩa là không có cái ly nữa. Đó, còn nói cái ly này không, với chữ Nho là rỗng, nó có đó mà nó rỗng. Còn mình lấy đi mất rồi thì gọi nó là vô. Một cái nghĩa nó là như vậy, ừ. Tuy nhiên là nói nghĩa gì nghĩa thì cái lý vô thường, vô ngã vẫn là căn bản mà chúng ta không bao giờ được quên, không bao giờ được rời xa, ừ.

[45:09]Còn cái nghĩa không thì gồm hai nghĩa mình để ý, nên tùy trường hợp mà hiểu, một là rỗng, hai là không hiện hữu. Còn trong kinh Kim Cang này chúng ta sẽ bắt gặp một cái nghĩa không mới. Nghĩa không mới nhớ nha, nhớ nha. Là xem như không, là xem như không.

[45:28]Nhớ, cái nghĩa quan trọng cái chữ không quan trọng trong kinh Kim Cang này là xem như không. Mà không cần lý luận là vì sao nó không, mà xem nó như không dù biết nó đang hiện hữu. Đây là cái nghĩa không của kinh Kim Cang, chúng tôi nhắc đi nhắc lại để quý Phật tử để ý là một nghĩa không mới trong kinh Kim Cang là xem như không. Biết rằng việc đó tồn tại, biết rằng việc đó tồn tại nhưng tâm mình không dính vào đó, không xem là quan trọng nên tuy vật đó tồn tại mà nó không hề có giá trị gì đối với tâm hồn của mình hết. Mình xem nó như không. Và ví dụ thế này. Ví dụ bây giờ à mình là người tu hành tốt, cái mình đi ngang qua cái mình thấy

[46:19]mình thấy có một cái có một cái a có một cái đồng hồ nào đó đắt tiền có ai để quên ở bên cái ghế đá.

[46:29]Rồi mình có lượm không? Có lượm không? Nói thiệt nghe đi. Nói nhỏ nhỏ thôi không nói lại cho ai biết đâu. Có lượm không? Thôi không đi ha. Tại vì mình tu mà nói lượm kỳ. Coi như mình không lượm mà lòng mình cũng không động tâm mà không tham nữa. Biết đồng hồ đó đắt tiền, biết nó có, biết nó đắt tiền, mà lòng không hề tham bởi vì mình có đạo đức của người Phật tử là không nhặt của rơi. Vì nhặt của rơi mà xài giống như ăn cắp thôi, vì người ta mất người ta rất đau khổ, nên mình không bận tâm. Mà lúc ấy chỉ nhìn quanh quất coi có ai để mình nhắc kêu người ta lấy. Hoặc là mình thấy thầy trụ trì mình nói:

[47:05]"Thưa thầy, có người để quên cái đồng hồ ở đâu đó thầy cất để coi như người ta đến xin lại", phải không? Đó là cái thái độ chuẩn. Thì cái việc mà có cái đồng hồ cái giá trị nó ví dụ có cái đồng hồ đó giá trị nó là 10.000 đô la. Ví dụ vậy, nó được cẩn kim cương, hột xoàn, dây bằng vàng ròng gì đó không biết, đẹp vô cùng. Nhưng mà lòng mình không tham thì nó đối với mình là sao? Cũng như là không. Như vậy, đây là cái không của kinh Kim Cang là xem như không mặc dầu vẫn biết nó có. Đó, chỗ này đồng ý chưa, thông chưa? Đó, đây chúng ta nhớ, vì cái không nó liên quan đến đến đạo đức. Đó, cái không này xem như không bởi vì là đạo đức. Vì sao?

[47:47]Nếu mình xem nó có là mình mất đạo đức. Đây, chính vì yếu tố đạo đức mà xem mọi việc như không. Và bây giờ cũng vậy, ví dụ như bao nhiêu cái lời khen tặng đến với mình. Khen thì họ có không? Cái lời khen là có thấy không? Ví dụ mình làm được những điều tốt cái mọi người vang lên những tiếng khen ngợi, mà lúc đó mình biết nếu mình mình giữ lấy, mình lắng nghe, mình vui mừng vì cái lời khen đó thì tâm mình sao? Sẽ động, sẽ chấp, kiêu mạn. Và vì vậy để cho mình đừng có chấp, đừng có động, đừng kiêu mạn thì mình phải xem những lời khen đó như không. Mặc dầu lời khen đó vẫn có. Rồi đồng ý chưa? Đó, thì chỗ này là cái chìa khóa để đi vào kinh Kim Cang, phải hiểu như vậy.

[48:34]Thì ở trong suốt kinh Kim Cang như vậy, khi chúng ta hiểu được chỗ này rồi thì lần lần mình đi vào kinh Kim Cang mình rất dễ hiểu. Là không cần giải thích tại sao nó không, mà chỉ vì nếu cho nó là có thì nó đánh vào tâm hồn, đánh vào đạo đức mình liền. Chứ không phải phủ nhận nó không có, nhưng mà bởi vì nếu mình chấp nó có thì tâm hồn mình tan vỡ, đạo đức mình sụp đổ nên phải coi nó là không. Đây là cái nghĩa độc đáo của kinh Kim Cang như vậy. Đây là chỗ mà chúng ta để ý. Là cái giai thoại mà vua Lương Võ Đế gặp Tổ Bồ Đề Đạt Ma nghe hết rồi phải không? Nghe hết chưa? Có cần kể lại không? Sao có người ăn gian quá à.

[49:20]Có một lần đó, Tổ Bồ Đề Đạt Ma khi đến Trung Quốc, thì theo như truyền thống, theo như truyền thống của đạo Phật, là đạo Phật ở đâu thì thường là gắn bó với chính quyền ở đó để hành đạo, vì thời Đức Phật cũng vậy, Ngài giữ cái mối quan hệ đối với các vị quốc vương rất là tốt. Nên sau này các đệ tử Phật cũng đều như vậy, là người đệ tử Phật ở đâu thường là trung thành ở đó, trung thành với đất nước đó, với chính quyền ở đó, rồi sống hài hòa với chính quyền tại đó, để mà cùng xây đời dựng đạo. Nhớ như vậy. Chớ đạo Phật đến mình chống chính quyền ai cho mình truyền đạo, phải không? Đó, cho nên đạo Phật luôn luôn ở đâu vậy là sống hài hòa

[50:01]đều với cái thể chế tại đó hết, để mà phụ với cái đất nước đó xây dựng cuộc đời, mà đồng thời cũng nhờ cái chính quyền đó giúp đỡ để mình dựng dựng đạo. Đó là nguyên tắc mà các vị thánh tăng xưa nay đều như vậy và Tổ Bồ Đề Đạt Ma cũng như vậy. Nên khi Ngài đặt chân đến Trung Quốc là Ngài vào kinh đô Ngài ra mắt, gặp vua Lương Võ Đế. Mà vua Lương Võ Đế cũng nghe tiếng có một vị danh tăng từ Ấn Độ đến nên cũng mời Ngài đến gặp. Thì vua Lương Võ Đế là một vị vua mà rất là mộ đạo. Ổng làm vua mà có lần ổng buồn buồn, không biết buồn hay vui, ổng mời ổng chiêu tập hết quần thần, cư sĩ nam nữ, chư tăng trong kinh thành lại,

[50:44]ngồi ổng đắp cà sa, ổng ngồi ổng giảng kinh Phóng Quang Bát Nhã. Nghĩa là ổng vua mà ngồi giảng kinh Bát Nhã, một kinh nghĩa lý rất là cao siêu. Xây không biết bao nhiêu ngôi chùa, giúp đỡ cho không biết bao nhiêu người được xuất gia, mà hỗ trợ những cái đàn để in kinh ấn tống rất là nhiều, vì vua rất là đặc biệt. Thì khi mà nghe tin có một vị danh tăng, vị thánh tăng, vị đắc đạo từ Ấn Độ đến, ông mời vào cung. Thì Ngài Bồ Đề Đạt Ma cũng đến kinh đô gặp. Thì trong đó nói chuyện qua lại rất là nhiều điều, nói chuyện qua lại rất nhiều điều, nhưng mà giống như không có duyên, với lại Tổ Bồ Đề Đạt Ma Ngài nói những câu

[51:18]ngắn gọn mà ấn tượng quá, ông không hiểu hết. Rồi cuối cùng ông hỏi một câu rất là lãng xẹt. Vua Lương Võ Đế hỏi: Trẫm đã cất chùa, in kinh, độ tăng rất nhiều, có công đức gì chăng? Thì Tổ Bồ Đề Đạt Ma trả lời một chữ một là: Không. Thì chữ Không đó chính là không của kinh Kim Cang, là xem như không, chứ không phải là không. Nhưng mà vua Lương Võ Đế không hiểu nổi, cứ tưởng là không là không có gì hết. Cho nên vua chới với, hoang mang, cái tâm huyết của mình suốt bao nhiêu năm trời mà ngày nay nói hổng có, nên ông ngờ ngợ, không biết ông thầy chùa Ấn Độ này ổng nói có đúng không? Cho nên sau đó Ngài cũng hơi lạt nhạt và Tổ Bồ Đề Đạt Ma

[52:02]là vượt sông Trường Giang ra đi, rồi lên Thiếu Lâm ngồi. Chớ nếu lúc đó mà vua Lương Võ Đế hiểu cái Không của kinh Kim Cang là xem như không, để nó không đánh vào đạo đức của mình, thì có lẽ là vua Lương Võ Đế đã quỳ xuống lạy Bồ Đề Đạt Ma và có khi trở thành Đệ Nhị Tổ chứ không phải ngài Huệ Khả nữa. Nhưng mà cái thời cơ của lịch sử đó, cái giây phút trọng đại đó, giây phút hiếm hoi thiêng liêng đó đã trôi qua và không có một điều tốt đẹp gì xảy ra. Cho nên ngày hôm nay chúng ta không có một ông vua làm Đệ Nhị Tổ, mà phải chờ đến một người tráng sĩ, một người tướng quân đánh đông dẹp tây cực kỳ giỏi võ, rồi cuối cùng quay vào chùa tu hành và chặt cái ngón tay mình

[52:47]để làm lễ cầu Pháp, là Huệ Khả mới có một cái Nhị Tổ thứ hai ở Trung Hoa. Chúng ta nhớ một điều, Tổ Huệ Khả là một người cực kỳ giỏi võ, là một vị tướng quân đánh đông dẹp tây. Cực kỳ, bởi vì cầm con dao mà chặt một cái đứt ngón tay mình, cái người đó nghĩa là cái nội công không phải tầm thường. Quý vị không tin, quý vị lấy dao chặt thử coi mấy cái. Không tin về làm thử đi, lấy dao xuống dưới bếp mượn chặt thử coi mấy cái đứt. Còn Ngài rút dao Ngài bập một cái đứt, ngón tay rớt xuống liền dưới tuyết liền, thì phải biết rằng người này là rất giỏi võ. Cho nên phải đợi đến một vị tráng sĩ nghĩa là đông tây

[53:25]rong ruổi trên yên ngựa đánh đông dẹp bắc, rồi một ngày kia hối hận là khoác áo nạp vào chùa quỳ dưới tuyết suốt đêm, rồi chặt đứt cánh tay mình cầu Pháp, chúng ta mới có người Tổ thứ hai. Còn cái giây phút thiêng liêng giữa Tổ Bồ Đề Đạt Ma và vua Lương Võ Đế thì đã trôi qua một cách hờ hững, nhạt nhòa, không để lại điều gì cả. Bởi vì sao? Bởi vì vua Lương Võ Đế không hiểu được cái Không của kinh Kim Cang là xem như không, để cho những điều đó, những điều mà mình làm được, những cái vinh quang mà mình có được, những cái thành tựu mà mình gặt hái được, những điều đó nó không đánh vào cái đạo đức của mình, không làm cho mình kiêu mạn.

[54:09]Nhớ như vậy. Và nó đã trôi qua. Do đó, cái Không này đó, ví dụ chúng ta nói thế này, ví dụ mình nói bây giờ chúng ta nói theo kinh Kim Cang: Cái bàn này là không. Thôi bây giờ chúng ta nói bình thường đi, không nói theo kinh điển gì hết. Bây giờ chúng ta đang cái bàn này, chúng ta nói: Cái bàn này là không. Thì câu nói này có mâu thuẫn. Mâu thuẫn vì sao? Bởi vì nếu cái bàn này thực sự không, mình đã không kêu cái chữ cái bàn ra, phải không? Cái câu đó là: Cái bàn này là không, câu đó là mâu thuẫn. Vì nếu không có cái bàn thì không ai nói cái bàn hết. Mình đã kêu cái bàn ra thì nó đã có rồi, rồi sau đó mình mới gán nó là không, vậy câu đó là mâu thuẫn.

[54:50]Ví dụ bây giờ chúng tôi nhìn các Phật tử, chúng tôi nói: Các Phật tử đang ngồi đây nè là không, câu đó mâu thuẫn. Vì nếu không có thì chúng tôi đã không nói là: Các Phật tử đang ngồi đây, phải không? Do đó, ngay cái chủ đề của cái câu đó nó đã chứng tỏ rằng những cái chủ thể đó đã tồn tại, mà rồi tới cái phần mà vị ngữ, cái phần mà túc từ mới nói nó là không, thì nó là một cái chủ ngữ và một vị vị ngữ mâu thuẫn với nhau. Nên ở đây là khi chúng ta nói: Cái bàn này là không, thì phải theo kinh Kim Cang mới đúng. Tức là cái bàn là có đó, nhưng vì lý do nó đánh vào đạo đức gì của mình đó, mà mình xem nó như không thì mới chấp nhận được.

[55:31]Và chỉ xem nó như không khi nào nó đánh vào đạo đức mình thôi. Còn nếu nó không đánh vào đạo đức mình, thì có cần phải xem nó như không không? Không, cứ để cái bàn này mà làm Phật sự, không cần phải bận tâm nói nó có hay không. Chừng nào mà cái bàn đó làm cho mình ích kỷ, cái bàn nó làm cho mình kiêu mạn, cái bàn nó làm cho mình tranh cãi, mình gây gổ, mình giành giật với ai đó, thì ngay lúc đó phải coi nó là không liền, để nó đừng đánh vào đạo đức của mình. Đồng ý chưa? Đó, từ đây về sau như vậy.

[56:10]Cảm ơn! Cảm ơn nhưng mà phải coi như? Không!

[56:23]Một cái điều cảnh giác mà khi chúng ta tu tập cái nghĩa Không là thế này, là nếu mình không hiểu cái chỗ mà giữa cái nghĩa Không và đạo đức tương quan á, mình cứ coi cái gì cũng không á, là coi chừng tâm mình rơi vào cái tiêu cực, thụ động, mất từ bi, mất từ bi. Bởi vì đến lúc mà đi vào kinh Kim Cang chúng ta sẽ gặp cái đoạn là coi chúng sinh như không nữa. Trong khi cái lòng từ bi thì phải làm sao? Phải coi chúng sinh là? Là có mình mới thương được chứ, phải không? Mà nếu coi là không thì mình hết thương, lòng từ bi mất liền. Đây là điều chúng ta cảnh giác. Nghĩa là chúng ta xem như không mà chỉ coi cái nào nó đánh vào đạo đức thôi.

[57:02]Còn nếu mình không hiểu, nhiều khi mình đi đây đi kia mình cũng nghe nói đạo Phật nói cái gì cũng không, gì cũng không, thế mình nhìn mọi điều là không, thì tâm từ bi mình mất dần, mất dần. Hồi đó chúng tôi cũng bị nữa. Hồi lúc chúng tôi mới tu, chúng tôi còn cư sĩ, cũng nghe các vị thầy dạy là xem mọi điều trên đời như là huyễn hóa, như hư vô, như huyễn hóa, như một giấc mộng, như chiêm bao. Lúc đó chúng tôi cũng lặng lẽ, lúc còn cư sĩ chứ chưa đi tu, ví dụ cũng đang đi học như vậy, đang ăn uống trước chỗ đông người, thì mọi người vui chơi ồn ào nhưng trong tâm mình lúc nào cũng lặng lẽ xem mọi điều là không, kể cả con người.

[57:41]Lúc đó thấy tâm mình thì yên thiệt, nhưng mà mãi sau này mới biết nó là sai, nó sai. Bây giờ chúng ta bắt đầu vào kinh. Trong kinh thì như mọi cái kinh khác cũng nói là: Dư thị ngã văn, nhất thời Phật tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên. Thôi đừng nói chữ Nho ha. Nói chữ Nho nghe mau ngủ lắm, để lát trưa rồi nói, trưa ăn cơm xong rồi đọc. Này á tôi nghe như vầy: Có lần Phật cùng đại chúng đến 1250 vị Tỳ kheo ở tại vườn Cấp Cô Độc, nước Xá Vệ. Cái chữ Nho đó ghi là Xá Vệ quốc, nhưng mà ghi như vậy là trong thực tế về kinh điển là trật á nha, tại vì Xá Vệ, Savatthi chỉ là một cái thành thôi chứ không phải là nước.

[58:25]Nước là nước gì? Kiều Tát La, tức là Kosala á, nên trong kinh mà ghi Xá Vệ quốc là không phải, là Xá Vệ thành. Nhĩ thời Thế Tôn thực thời, trước y trì bát nhập Xá Vệ đại thành khất thực. Thôi đừng nói nữa, nói hết đoạn này ngủ á. Đến giờ thọ trai, Thế Tôn đắp y mang bát vào thành Xá Vệ khất thực. Chỗ này dùng thành là đúng nè. Mà thành lớn nên trong chữ Nho gọi là nhập Xá Vệ đại thành. Thế Tôn thong thả đi qua từng nhà khất thực, rồi đi về tịnh xá. Thọ thực xong Thế Tôn dọn bát, xếp y, rửa chân và trải tọa cụ ngồi lên. Cái đoạn này nói ngắn, cả một sinh hoạt rất dài của Phật nói một câu một cái

[59:03]hết, nhưng mà sự thật không phải vậy, sự thật không phải đơn giản vậy. Lúc mà 1.250 vị Tỳ kheo với Phật, thì Phật có đi khất thực mình không? Cũng hết 1.250 vị đi khất thực. Nó thành một đoàn người rất là dài, phải không? Từ Tịnh Xá đi ra khỏi khu rừng đó, bắt đầu mới gặp con đường cái. Rồi từ đường cái đó mới đi đến chỗ cổng thành, rồi từ cổng thành mới đi vào trong thành. Đi vào trong thành mà 1.250 người thì biết bao nhiêu người cúng dường mới đủ cho số này, phải không? Chứ không phải là đơn giản đâu. Cái hình ảnh nó lớn lao lắm trong mỗi buổi sáng. Một buổi sáng nó trở thành một cái sự kiện của mỗi ngày như vậy đó.

[59:41]Nghĩa là trong suốt thời gian mà Đức Phật ngụ tại đó, thì sáng nào dân chúng cũng chứng kiến cái cảnh một đoàn tu sĩ cực kỳ đông đi vào vào thành khất thực. Mà không phải là ai cũng cúng dường đủ hết 1.250 vị. Tức là có những vị nhiều khi đang đi lỡ trên đường, không có gì bên mình, gặp Phật và chư Tỳ kheo thì sao? Chỉ quỳ bên đường đảnh lễ thôi, không cúng gì hết. Rồi có những người họ chuẩn bị được thức ăn mà ngày đó cái vị đó ví dụ họ chuẩn bị chỉ cúng được có ba người thôi, thì họ để sẵn thức ăn của ba vị. Mà họ nhìn vô thức ăn họ biết không ngon, họ né cho Đức Phật đi qua. Đức Phật đi qua rồi cái họ đợi những vị đi sau á, họ mới bước ra, họ đảnh lễ.

[1:00:22]Cái vị đó mới tắp vào bên để không có cản trở cái đoàn người phía sau đi tiếp. Cái vị mới sớt bát cho vị Tỳ kheo, sớt được ba vị rồi cái đảnh lễ, lui ra. Thì ba vị đó nếu mà cảm thấy rằng phần ăn mà cái người cư sĩ cúng dường mình chưa đủ á, thì đi tiếp. Vì các vị ngày ăn có bữa à, cho nên các vị biết cái bụng của mình á. Cái bụng là ví dụ như người cư sĩ này cúng ba vị Tỳ kheo, nhưng mà mỗi cái bát như vậy nó chỉ được nửa cái bát à, nên chưa đủ ăn. Quý vị sẽ ôm bát đi tiếp tục, thong thả đi tiếp. Sẽ gặp một vị nào đó họ thấy còn đi họ biết các vị chưa đủ ăn thì họ sẽ cúng tiếp, cúng cơm, cúng thức ăn vào đó.

[1:00:57]Còn những người nào có những người giàu có, họ có thể cúng, buổi sáng này họ cúng được 50 vị mà thức ăn họ ngon, cái họ đón Đức Phật họ cúng liền, để cho có phước. Họ đón ngay đầu đoàn người. Họ cúng, dâng cúng 50 vị đảnh lễ xong, rồi những vị kia sau khi chú nguyện cho gia chủ, cho thí chủ được tốt lành rồi mấy vị sẽ tách đoàn người quay về sớm. Tại vì đầy rồi. Còn những vị mà bát mình vẫn còn trống hay còn lưng tiếp tục đi vào thành, đi vào thành để cúng. Thì trong cái thành nó tấp nập lắm, nhiều khi có những đoàn người đi tới đi lui buôn bán, có những đoàn ngựa xe khắp nơi họ đi vào thành Xá Vệ để họ buôn bán, những thương nhân ở khắp nơi tới.

[1:01:31]Họ kéo trâu, kéo bò, kéo dê, kéo ngựa đi rổn rảng rổn rảng trên đường. Có những tiếng rao, những tiếng la và chúng ta sẽ gặp có những binh lính họ mặc quân phục, họ cầm giáo cầm mác đi để kiểm tra an ninh trật tự. Nên cái khung cảnh nó hùng vĩ chứ nó không đơn giản như vậy. Nên sau này ai mà làm phim lại hỏi thầy thì thầy chỉ cho làm phim. Dựng những cái cảnh như vậy nó nó hùng tráng lắm chứ không phải nói một vài chữ như trong kinh đâu. Mình phải hiểu như vậy. Nhưng mà đây là để ngắn gọn, cho nên là các vị nói để chuẩn bị đi vào cái nghĩa kinh cho sớm. Nhưng khi mình đọc những đoạn kinh này mình đừng

[1:02:03]có hiểu theo cái nghĩa khô khan như vậy. Mình phải hiểu cái khung cảnh nó hùng vĩ, rực rỡ lắm. Có thể thế này là chúng ta phải hiểu Đức Phật ngài như một ánh mặt trời, phải không? Rồi chư Tỳ kheo như những ánh mặt trời nho nhỏ, đều là những vị thánh tăng mà. Nên một cái đoàn thánh tăng mà xuất hiện giữa thế gian đi vào cái một đoàn người nghiêm trang, thanh tịnh, trầm hùng, nề nếp mà đi vào trong thành nó giống như một dòng sông mặt trời đi trôi vào cái thành đó. Cả thành như rực sáng lên bởi sự xuất hiện của các vị thánh. Rồi lần lần cái dòng sông mặt trời đó đi hết đi qua trở lại, nó trả lại cho cái thành Xá Vệ với cái sự

[1:02:39]ồn ào, náo nhiệt, tầm thường trở lại như cũ. Mình phải hiểu như vậy. Thì lúc mà Đức Phật và chư Tỳ kheo khất thực xong thì các ngài không ăn bên lề đường như là ở những nơi khác. Có một số nơi Đức Phật mà không ở một tịnh xá rõ ràng ngài đi du hóa, ngài khất thực xong ngài đến một cái gốc cây nào đó ngài ngồi ăn. Nhưng có phải ngồi ngồi một mình không? Không, ít nhất có ngài thị giả. Mà nếu Đức Phật hơi lớn tuổi chút thì có ngài ngài A Nan làm thị giả. Mà chung quanh đó cũng sẽ có ít nhất hai ba chục Tỳ kheo đi theo với ngài. Nhưng trong kinh thì không ghi, chỉ thấy một Đức Phật đi khất thực, ngồi gốc cây ăn, rồi trả lời vài câu Pháp rồi đi về tịnh xá.

[1:03:18]Mình tưởng pho tượng Đức Phật cô độc, không có. Kinh ghi nói như vậy nhưng mình phải hiểu là rất là đông. Thì cũng vậy, khi mà cái đoạn diễn tả mà Đức Phật đi qua từng nhà khất thực, thọ thực về tịnh xá, mình phải hiểu là đông người rần rần rần rần đi theo. Nhưng mà trong thanh tịnh, rất đông nhưng mà rất thanh tịnh. Tuy nhiên cái đoạn này cho chúng ta một cái ý niệm thế này, là cái khung cảnh Kinh Kim Cang rất là bình dị, khác hẳn với Kinh Pháp Hoa. Tại vì hình ảnh Kinh Pháp Hoa thì có vẻ siêu thực và thần bí. Chúng ta sẽ thấy là cái đạo tràng để mà Phật giảng Kinh Pháp Hoa thì sao? Đức Phật ngồi trên tòa sen phải không?

[1:03:56]Ngồi bất động, phóng quang từ giữa chặn mày chiếu xa muôn vạn na do tha thế giới phía phía đông. Chư Tỳ kheo ngồi đây, chư thần, chư thiên và tập họp đầy không gian. Chư Bồ Tát các thế giới cũng về tập họp đầy cả không gian hết. Nghĩa là vì cái không gian của Kinh Pháp Hoa đó là các vị ngồi từ dưới đất lên trên các tầng trời, các tầng không gian á, ngồi đầy cả bầu trời như vậy. Và ngợp bầu trời trở nên rộng vô tận vô biên để cho chư thánh về. Cái hình ảnh nó cực kỳ siêu thực, tráng lệ và đẹp. Còn cái khung cảnh trong Kinh Kim Cang thì cực kỳ bình dị và thực tế. Do đó, cái quan điểm của Kinh Kim Cang vẫn trong cái

[1:04:32]thời kỳ mà Đạo Phật chuộng thực tế, chuộng thực tế. Mà thực tế là một tính cách quý của của Đạo, chúng ta hãy nhớ điều này. Vì nếu rời xa thực tế thì cái Đạo đó không ích lợi cho cuộc đời nữa. Kỳ tới, mùng 1 tới chúng ta sẽ nghe giảng về Tứ Thánh Đế trong Bát Chánh Đạo mà phần Chánh Mạng. Chánh Nghiệp thì vẫn chưa xong, chúng ta sẽ nói cho hết Chánh Nghiệp để đi vào Chánh Mạng. Trong Chánh Mạng là là cái cách để mình có mà sống sinh kế, mình kiếm ăn, có ăn cho đúng mình mới tu được. Cho nên trong cái việc tu hành là Bát Chánh Đạo mà Phật đặt cái Chánh Mạng vào trong đó, tức là phải biết làm ăn để sống mà tu.

[1:05:17]Như vậy Đạo Phật có thực tế không? Rất thực tế, rất thực tế. Như ông bà mình nói là có thực mới vực được đạo. Vực là cái gì? Vực là xây dựng, dựng lên được á. Chứ nghe nói có thực mới giật được đạo, giống như giật đạo mà giật cái gì. Thực mới vực được đạo. Vực tức là vực dậy á, là dựng đứng dậy, là xây dựng được đạo pháp. Có thực mới vực được đạo. Thì trong Bát Chánh Đạo Phật đã để cái Chánh Mạng ở trỏng á. Nên chúng ta phải hiểu giáo lý Đạo Phật rất là thực tế. Và như vậy không cho phép chúng ta hiểu một Đạo Phật rời xa khỏi cuộc đời. Tức là chúng ta tu theo Đạo Phật, chúng ta ứng dụng cái giáo lý

[1:05:59]của Đạo Phật, làm cách nào đó để mình được hạnh phúc, được an vui nơi bản thân mình, nơi gia đình mình và nơi cộng đồng mình. Những người đó phải được ích lợi từ nơi sự tu hành của chúng ta, chứ không phải chúng ta hiểu Đạo Phật chúng ta tu xong rồi thì cái người chung quanh gia đình chúng ta thấy chúng ta giống như không còn tồn tại trong gia đình nữa. Vậy bây giờ hỏi: "Lúc này ảnh làm sao chị?" "Không biết nữa, ảnh tu tu vậy tôi cũng không biết nữa. Rồi còn tôi thôi lo làm ăn nuôi con, còn ổng ổng tu à." Tức là giống như ông chồng không còn tồn tại trong gia đình nữa. Thì cái tu đó là không thực tế.

[1:06:34]Tức là cái sự hiện diện của mình đối với gia đình không gây một ảnh hưởng gì nữa, không gây một sự tốt đẹp gì nữa. Ít ra phải nói: "Ảnh lúc này sao chị?" Nói: "À, ảnh lúc này mắc coi việc nhà với dạy con cái. Còn tôi thì tôi đi bán lo kinh tế gia đình." Thì ít ra là trong đầu người vợ, ông chồng vẫn còn tồn tại, phải không? Tức là ổng còn lo việc gia đình nè, ổng dạy đạo đức cho con cái nè, dạy dỗ con cái, chăm sóc gia đình, người vợ rảnh tay để đi. Còn nói: "Tôi không biết nữa, lúc này ổng làm gì ổng tu gì đó tôi cũng không biết nữa. Tôi vừa lo làm ăn nuôi con dạy con" là chết à. Như vậy là tu như vậy là trật, là một Đạo Phật không ứng dụng gì

[1:07:10]được, không đem lại ích lợi gì cho khung cảnh chung quanh mình. Và chúng ta phải hiểu Đạo Phật rất thực tế. Chớ nếu mà huyền hoặc mà không thực tế thì Đạo Phật sẽ bị xa lánh dần dần. Đây là điều chúng ta phải cảnh giác điều này. Bây giờ thế nào là một Đạo Phật thực tế? Một Đạo Phật thực tế là thế này, là tuy Đạo Phật nó không trực tiếp làm thành cơm ăn áo mặc, không có sản xuất kinh tế cho đất nước, nhưng mà phải gián tiếp thúc đẩy những điều đó.

[1:07:42]Không trực tiếp thôi nhưng phải gián tiếp. Không trực tiếp tạo ra cơm ăn áo mặc cho gia đình, không trực tiếp sản xuất làm kinh tế cho đất nước, nhưng phải gián tiếp làm ra được những điều đó. Nghĩa là phải gián tiếp tạo ra cơm ăn áo mặc cho gia đình, cũng phải gián tiếp thúc đẩy kinh tế sản xuất cho đất nước mới gọi là một Đạo Phật thực tế. Gián tiếp là làm sao? Gián tiếp nghĩa là nghĩa là xúi.

[1:08:12]Nhưng mà xúi này không phải là mình mình giống như ông giám đốc mà chỉ huy một công trường. Gián tiếp có nghĩa là mình giúp cho mọi người có đạo đức hơn, nhiệt tình hơn, năng động hơn, chịu cực hơn, biết làm phước hơn, thích làm công đức hơn. Thì tự nhiên những người mà sống trong cuộc đời này họ được cái tư tưởng đó của Đạo Phật tưới vào trong tâm hồn, họ trở thành con người tốt, họ năng động, họ siêng năng, họ chấp nhận hy sinh, chịu cực để họ tạo nên những điều tốt đẹp cho cuộc đời. Đó, Đạo Phật phải như vậy, phải góp phần như vậy, phải gián tiếp thúc đẩy những điều tốt đẹp nó như vậy. Đó. Chứ không phải Đạo Phật là tách rời ra khỏi cuộc đời, nói cái gì cũng không.

[1:08:57]Ví dụ như bây giờ một người đệ tử Phật, thậm chí là một người xuất gia đi, coi cái gì cũng không hết. Nhưng mà quần áo ai làm cho mặc, phải không? Có dám nói không rồi ở trần ở truồng không? Không. Bởi vì quần áo mình vẫn phải có người cực khổ dệt, may, buôn bán đem tới cho mình. Rồi nói cái gì cũng không hết, có dám bỏ cơm bỏ nước không ăn không uống không? Không. Vẫn phải lệ thuộc ăn uống là cũng phải biết bao nhiêu người nông dân làm lụng, rồi nhà máy xay xát, rồi vận chuyển mới tới mình có mình nấu ăn. Rồi phải có cái bếp ga nấu cho mình ăn nữa chứ giờ cũng hết chụm củi được rồi, giờ chụm củi khói đen nhà hàng xóm la làng, phải không? Đó.

[1:09:35]Vì vậy mà Đạo Phật phải thực tế. Mình biết ơn cuộc đời và mình đóng góp lại cho cuộc đời bằng cái tinh thần, cái tâm hồn. Cái tinh thần, cái tâm hồn đó nó tạo ra hai giá trị. Nó tạo ra hai giá trị. Giá trị thứ nhất là nó giúp cho cuộc đời này trở nên tốt đẹp. Con người ta sống tốt với nhau, người ta siêng năng để làm lụng và xây dựng cuộc đời. Tức là cái hai giá trị. Giá trị thứ nhất là giúp xây dựng cuộc đời. Giá trị thứ hai là giúp... Ai biết? À biết ra khỏi cuộc đời, à tức là giải thoát á. Tức là giáo lý đạo Phật đi qua cái sự tu hành của chúng ta phải tạo thành hai giá trị: một giá trị là giúp xây dựng cuộc đời,

[1:10:27]và giá trị thứ hai là giúp chúng ta thoát ra khỏi cuộc đời. Phải có cả hai nha, mới đúng là đạo Phật, chứ một cái không phải đạo Phật. Thí dụ nói rằng à đạo Phật chỉ là giúp xây dựng cuộc đời thì không phải đạo Phật, bởi vì mục tiêu đạo Phật là giải thoát, giác ngộ; hoặc là nói là đạo Phật chỉ có đưa tới giải thoát mà không hề giúp xây dựng cuộc đời, hiểu vậy cũng sai luôn. Nếu mà không giúp đỡ cuộc đời thì không bao giờ ra khỏi cuộc đời. Chúng ta để ý điều đó như vậy, ha. Cho nên đạo Phật phải thực tế, không trực tiếp xây dựng cuộc đời nhưng phải gián tiếp giúp xây dựng cuộc đời. Vì những cái điều mà gọi là thực tế, thúc đẩy gồm có những điều thế này nè:

[1:11:07]Thứ nhất là phải giúp cho mọi người tin nhân quả tội phước nên họ hăng hái làm việc. Đây là điểm quan trọng. Vì những người mà tin nhân quả rồi á thì họ sẽ làm việc hăng hái, còn cái người mà không tin nhân quả sẽ làm việc một cách lười biếng. Chỉ có chút xíu này thôi đã là một điểm rất quan trọng. Chúng ta sẽ thấy những người Phật tử chân chính, hiểu đạo, tin vào tội phước mà đi làm việc ở những cơ quan á đều là những người mà được cơ quan khen hết. Có không? Có, bởi vì sao? Vì họ hăng hái làm việc, nhiệt tình làm việc, đóng góp mà không kể tới lương bổng. Họ vì sao? Vì họ biết rằng cái lương ít nhiều là do phước, phải không ạ?

[1:11:48]Mà quan trọng bây giờ mình làm lụng nhiệt tình là để để gieo nhân. Vì vậy, trong tất cả những cơ quan, kể cả của nhà nước hay của những cái hãng tư nhân, mà nếu đó là một cái người nhân viên thuần thành, là một Phật tử thuần thành, thì chắc chắn người nhân viên đó sẽ được cấp trên khen thưởng. Vì chính vì họ hiểu nhân quả tội phước, đó là yếu tố thứ nhất. Cái thứ hai nữa là giúp cho quan hệ giữa người và người thắm thiết tốt đẹp bằng cái tâm từ bi thương yêu nhau, cho nên họ có thể hợp tác với nhau trong việc xây dựng cuộc đời. Vì chúng ta biết, những cái công trình mà lớn đều phải là do sự hợp tác,

[1:12:26]đoàn kết, còn nếu chia rẽ thì chúng ta không bao giờ làm được điều gì lớn. Và cái tinh thần hợp tác có được là do chúng ta biết thương yêu nhau, và đạo Phật phải cung cấp cái tình thương yêu giữa người và người đến với cuộc đời này, để con người ta có thể hợp tác với nhau làm nên những điều kỳ diệu cho cuộc sống này. Chứ còn nếu chia rẽ, chúng ta sẽ mãi mãi chỉ làm những điều rất nhỏ. Thì chúng tôi cũng vậy, chúng tôi đi ví dụ từ miền Nam ra miền Trung, miền Bắc mà để ý ở đâu mà chỉ có những ngôi nhà nho nhỏ nho nhỏ thì biết ngay là cái tình đoàn kết ở cái khu đó không có cao. Tức là khi một người cất nhà, những người khác không có tới phụ,

[1:13:05]vì họ biết một mình mình cất nên họ cất cái nho nhỏ nhỏ à. Còn nếu cái khu nào đến mà gặp những cái nhà lớn, nhiều, mình biết là cái khu này người dân đoàn kết nè. Tại vì khi họ muốn cất cái nhà, khi họ muốn cất cái nhà thì họ biết là làng xóm sẽ đến á, nên trong đầu họ thiết kế một cái nhà to thì đúng là người mỗi người mỗi dựng lên... dựng lên, mỗi người đến góp một tay dựng cái nhà lên như vậy. Tại vì có nhiều cái cây cột bình thường á, ở vùng quê cái cột mình hai ba cái ôm như thế này, bằng tay, là chừng năm người dựng lên không nổi, thì phải chừng mười mấy hai chục người mới kéo cái cột đó lên được, mà phải là cái tình làng nghĩa xóm mới được.

[1:13:44]Thì cũng vậy, cái kinh tế đất nước của chúng ta hiện nay vậy. Chúng ta muốn có những công trình lớn, những sản phẩm đặc sắc, thì cũng phải là một sự hợp tác của rất nhiều người qua nhiều công đoạn: từ cái người thiết kế, chế tạo máy, những người nghiên cứu, lên chương trình vi tính, đủ hết, mới thành một cái sản phẩm độc đáo được. Mà muốn có sự hợp tác như vậy, phải có tình thương yêu chân thành, phải có tình thương yêu chân thành. Và đạo Phật phải có bổn phận đem cái tình thương yêu chân thành đó đến với cuộc đời này, đó là cái thứ hai. Mình muốn nói mọi người thương nhau thì bản thân mình phải làm sao?

[1:14:17]Phải phải thương trước, chứ mình xúi người ta thương nhau còn mình đụng ai cũng ghét thì thì không có được, nha, nó vậy đó. Một điều nữa là đạo Phật phải giúp mọi người hoá giải những hận thù, xung đột để sống với nhau yên lành. Tại sống với nhau mà cứ gây lộn hoài sống được không? Không, cũng không làm ăn được nữa. Rồi điều nè là góp phần giảm bớt cái tội phạm cho xã hội, nên giúp cho ngành tư pháp bớt cái gánh nặng cho ngành tư pháp, trật tự trị an và giúp cho người ta đỡ tốn tiền chi vào cái việc bảo vệ. Chúng ta nghe ở những làng quê đó, ví dụ người nông dân thì cái rẫy của họ mênh mông mấy mẫu

[1:14:55]như vậy, đâu có rào mà giữ nổi hết, nên cái ranh là tự biết với nhau thôi. Ví dụ cái ranh đất của người nông dân này bước bước cái qua cái đất người kia, đâu có rào nổi, phải không? Nghèo mà. Đất thì tỉ người năm ba mẫu năm ba mẫu, rồi trồng lên được một cái tỉ như một cái một rẫy bí đao, nhưng mà có cái người ác lại cái ban đêm đi nó cắt cái gốc hết trơn. Nghĩa là tưới tới gần ra trái rồi nó đi nó cắt gốc hết thì sao? Chuyện gì xảy ra? Đầu tư vô đó biết bao nhiêu tiền của, thậm chí vay của ngân hàng mà nó cắt gốc hết là coi như bức nghèo, đói luôn. Đói chết rồi có thể đi ăn mày luôn. Thì như vậy là cái ác tâm của người này nó phá hoại cái đời sống của người kia.

[1:15:36]Và bổn phận của đạo Phật là ngăn chặn cái ác tâm đó lại, chứ đừng để đến cắt gốc dưa hấu người ta hay bí đao người ta rồi đi tìm, điều tra, bắt cực lắm. Tức là phải ngăn chặn từ cái tâm để con người ta đừng hận thù, đừng xung đột, đừng phá hoại nhau, và như vậy cũng góp phần xây dựng kinh tế cho nhau nữa. Mà đạo Phật phải làm được điều đó, tức là chúng ta phải đem những tư tưởng về tội phước, về từ bi, bác ái, sự nhẫn nhục, sự thương yêu, sự độ lượng để cho con người ta đừng có ghét nhau, đừng phá hoại nhau. Đó, do đó bớt nhiều cái chi phí và góp phần xây dựng cái kinh tế đất nước mạnh lên, là như vậy.

[1:16:14]Nên đạo Phật phải thực tế, phải thực tế. Chúng tôi sẽ nói trở lại vấn đề mà thực tế hay không thực tế của đạo Phật vào một lần khác, hén. Tại vì không khéo chúng ta tu hành theo đạo Phật, chúng ta chỉ ước mơ mà. Nhiều khi hỏi một người đi tu theo đạo Phật là làm cái gì, câu trả lời mà có thể không sai lắm là ước mơ. Ước mơ là làm sao? Là tới mỗi buổi chiều chúng ta tới chùa chúng ta tụng kinh, chúng ta tụng những cái lời hay ý đẹp, chúng ta nguyện nhiều câu nguyện nghĩa là rùng rợn, nghĩa là phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, phải không? Chúng pháp môn vô lượng thệ nguyện học, chúng sinh vô biên thệ nguyện độ

[1:16:55]gì đó, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành, nguyện không à, nguyện. Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả, nguyện không à. Nguyện là sao, đủ thứ những lời nguyện cao siêu, phải không? Rồi sau khi mà tụng kinh, sau khi mà dứt tiếng kinh, cất chuông, cởi áo ra thì làm gì? Không làm gì hết, xong rồi. Tức là chúng ta chỉ ước mơ mà không bao giờ bắt tay thực hiện một điều gì cụ thể, thì đạo Phật đi tới về đâu? Không bao giờ phát triển được. Cho nên vì vậy đã đến lúc chúng ta phải những điều mà chúng ta ước mơ trong cái bài kinh tụng á, chúng ta phải lên kế hoạch trong đời sống để làm. Ví dụ mình nói là phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,

[1:17:35]phiền não phải biết phiền não là những thứ gì và phương pháp đoạn mỗi thứ là cái gì. Và một tuần này chúng ta sẽ đoạn được cái nào, phải quyết tâm tu tập dứt cái đó đi. Ví dụ biết mình còn cái sân thì mình thề một tháng tới dứt cái sân. Bằng cách nào? Phải có phương pháp. Hoà tháng sau nữa: diệt cái tham. Ừ. Cái tháng sau nữa: trừ cái tật ăn hiếp thầy mình, ví dụ vậy. Đó, ví dụ. Thì nghĩa là phải có kế hoạch thực hiện cụ thể, phải không? Thì mới gọi là phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Còn cái gì nữa ta, phiền não gì nữa? Là nghe giảng mà ngủ. Dứt kỳ này là phải dứt chấm dứt chứ không nói gì hết trơn á.

[1:18:18]Nghĩa là phải có kế hoạch cụ thể để mình phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, chứ còn không mà tụng xong xuống rồi không không làm gì nữa hết trơn á thì đạo Phật chỉ là một đạo của ước mơ và vĩnh viễn không bao giờ phát triển được. Vì nói: "Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ" là một lời nguyện rất đẹp, phải không? Độ hết chúng sinh, nhưng chúng sinh là ai, gần là ai, xa là ai? Và trong tháng này mình phải độ được bao nhiêu người, phải lên kế hoạch. Sau khi tụng bài kinh đó xuống rồi phải ngồi viết kế hoạch là tháng tới nghĩa là tuần sau phải leo qua cái nhà hàng xóm độ nói giảng đạo họ nghe, phải không? Đó.

[1:18:49]Rồi rồi tháng sau nữa là phải bò qua hàng rào của nhà bên đó nói chuyện người kia nghe về đạo Phật, phải độ chúng sinh vô biên, phải có kế hoạch, chứ không phải là nói trước Phật mơ ước rồi thôi không làm gì nữa. Cái nhược điểm của chúng ta bị cái này: chúng ta ước mơ quá lớn và không thèm làm một cái gì cả. Tới lúc phải thay đổi. Cho nên những điều mà chúng ta nói về một đạo Phật thực tế giống như cái đoạn đầu kinh Kim Cang á là kinh Kim Cang tại sao đoạn đầu nói một cái chi tiết rất là nhỏ? Là để chỉ cho mọi người biết rằng toàn bộ kinh Kim Cang này là là thực tế. Nghĩa là người học kinh Kim Cang tuy học lý không nhưng phải nhớ là phải thực tế.

[1:19:30]Vì Phật sợ hoặc là cái người viết lại bộ kinh này sợ mình hiểu kinh Kim Cang trên mây, cho nên dựng cái bối cảnh kinh rất là bình dị, rất là thực tế để nhắc cho tất cả chúng ta để hiểu được kinh Kim Cang này phải thực tế, còn hễ chúng ta rời thực tế là hiểu sai kinh Kim Cang. Mà lần lần đi vào sâu kinh chúng ta sẽ thấy điều đó rất là rõ. Bây giờ chúng ta định nghĩa lại thế nào là một đạo Phật huyền hoặc, thiếu thực tế? Tức là chúng ta xây dựng một thế giới riêng cho đạo Phật mà không liên quan gì với cuộc đời hết, tức là ở ngoài đời bước vô chùa là khác mà từ chùa bước về nhà mình là khác. Thì đó là một đạo Phật không thực tế.

[1:20:09]Có nhiều khi ví dụ hứa hẹn một công đức lớn lao ở vị lai nhưng mà nhiều khi sai nhân quả...

[1:20:17]Gieo nhân thì ít mà đòi hưởng quá nhiều thì cái đó làm đạo Phật huyễn hoặc, không thực tế. Ví dụ như bây giờ mình mang một cái nải chuối đến mình cúng Phật, đó thấy không, nhưng mà mình cầu cái gì? Thử nói nhỏ nghe coi. Nói nhỏ nghe coi. Đó, đó là những cái mà mình gieo cái nhân rất ít mà mình đòi hỏi cái quả trở lại rất là lớn, là đạo Phật nó không thực tế. Hoặc là mình nói là mình trì câu thần chú này công đức vô lượng, thì đó sai nhân quả. Hễ công đức là phải làm cái gì lợi cho chúng sinh, vậy thôi. Cho nên có những điều cái đó gọi là không thực tế, cái đó phải thay đổi lại. Rồi có những cái gì? Có những cái ảo tưởng tự cho mình là đáng kính,

[1:20:58]mà trong khi nhân cách của mình chưa thuyết phục người khác. Ví dụ bây giờ nói một ừm người Tỳ kheo đi, là người này cạo cái đầu trọc, đắp cái cà sa vô, rồi thọ một số giới, rồi tự nhận mình là là thầy của thiên hạ, tự cho mình rất đáng kính, nhưng trong khi cái phẩm chất thật sự của mình chưa thay đổi bao nhiêu kể từ lúc mình xuất gia, từ khi mình còn ở ngoài thế gian đi vào chùa tu, cái phẩm hạnh chưa thay đổi nhiều mà trong lòng cứ ảo tưởng là Phật tử gặp mình phải lạy, bởi vì mình là Tỳ kheo phải rất đáng kính, đó cũng là một ảo tưởng mà cũng làm cho đạo Phật không còn thực tế nữa. Rồi chừng nào mà mình có cái nhân cách thuyết phục được người khác

[1:21:40]á thì cái màu áo cà sa mình mặc mới xứng đáng, phải không? Rồi quý Phật tử cũng vậy, có nhiều người hiểu cái lý của thiền cứ nói: "Tâm này là Phật, chúng sinh Phật đồng nhau", rồi cái sinh ra kiêu mạn. Cái đó là ảo tưởng tự cho mình là đáng kính, tự cho mình bằng Phật. Mà trong khi nhân cách bình thường trong cuộc sống của mình có đáng kính không? Làm ở cả xóm ghét á. Đó, nhưng mà cứ ảo tưởng rằng cho mình đáng kính vì một cái giáo lý nào đó thì như vậy cũng gọi là đạo Phật này không thực tế. Tới lúc cũng phải sửa lại. Rồi cái lòng từ bi mà ít, mỗi ngày không huân tập thêm thì cũng là một đạo Phật không thực tế,

[1:22:21]bởi vì đạo Phật là đạo của thương yêu mà mỗi ngày mình không tập thương yêu thì mình không có đem được cái gì tốt vào cuộc đời này, mình vẫn tách xa khỏi cuộc đời, cũng là một đạo Phật không thực tế. Rồi một cái điều nữa là ít hiểu biết về con người, về cuộc đời nên không thể hướng dẫn ai được hết. Trong khi Đức Phật có một cái danh hiệu là Thế Gian Giải. Thế Gian Giải nghĩa là gì? Nhớ cái tên Phật không? Thế Gian Giải: "Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn" á, nhớ không? Trong đó có cái tên là Thế Gian Giải là hiểu biết hết về cuộc đời. Một trong những danh hiệu của Phật là hiểu biết hết về cuộc đời.

[1:22:58]Thì một người tu theo đạo Phật cũng vậy, phải hiểu biết rất nhiều về cuộc đời để mới có thể dạy được cuộc đời, phải không? Chứ mình không hiểu gì về người ta hết, mình dạy người ta sao được. À ví dụ như con người đến gặp ông thầy, nói: "Thưa thầy, hai vợ chồng con gây gổ, bất hòa, xin thầy dạy." Thì nếu mà ông thầy ổng không biết gì về cái chuyện hôn nhân gia đình vừa hết, ổng ổng dạy được cặn kẽ không? Không, dạy không thực tế. Chỉ nói: "Ờ thôi, con ráng nhịn đi con, mình tu theo đạo Phật mình ráng nhịn nha con." Rồi. Rồi có nhịn được không? Không, nó không giải quyết được vấn đề. Là phải hiểu y như là Sư Bác Trụ trì ở đây,

[1:23:39]Sư Bác Trụ trì ở đây hiểu mấy chuyện đó cặn kẽ lắm. Thí dụ vậy, là vì sao à vì sao mà trong đêm mà không mơ cùng một giấc chiêm bao, ví dụ vậy. Đó, từng chút từng chút sẽ phân tích rồi lúc đó mới dàn xếp, giải quyết, cố vấn, tư vấn thì mới dạy người ta được, người ta về người ta sống yên vui, hiền lành được, phải không? Đó, cho nên phải biết về cuộc đời chứ không phải là quay lưng với cuộc đời hết đâu. Đó là một điều như vậy. Đó là chúng ta nói về một cái đạo Phật phải thực tế mà trong kinh Kim Cang ngay từ đoạn đầu đã dựng một khung cảnh kỳ lạ. Đó là, đáng lẽ vào kinh là không cần phải nói những cái này,

[1:24:17]mà tự nhiên lại nói là Thế Tôn đắp y, mang bát vào thành khất thực, thong thả đi qua từng nhà, có thêm những chi tiết như vậy. Khất thực rồi đi về tịnh xá. Tiếng rôm rả vậy. Thọ thực xong Thế Tôn dọn bát, xếp y, rửa chân và trải tọa cụ ngồi lên, cả rửa chân cũng nói luôn nữa. Thì như vậy để làm chi? Đây là cái ẩn ý, hãy nhắc chúng ta trước khi vào kinh Kim Cang phải hiểu đạo Phật là đạo thực tế. Những nghĩa lý trong kinh này đều rất thực tế. Bởi vì chuẩn bị là trong kinh nói những điều cực kỳ trừu tượng mà chúng ta cứ tưởng là trừu tượng luôn thì hiểu sai kinh Kim Cang, do đó đoạn đầu kinh đã nói những điều như vậy.

[1:24:54]Rồi bây giờ, đoạn tiếp chúng ta sẽ thấy thế này: "Nhĩ thời, Trưởng lão Tu-bồ-đề tại đại chúng trung tức tùng tòa khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất trước địa..." Nói chữ Nho không, lát ngủ hết, thôi nói chữ Việt. Khi đó, Trưởng lão Tu-bồ-đề đang ngồi chung với đại chúng, bỗng quỳ lên với đầu gối bên phải chấm đất. À! Chúng ta thấy rất là lạ nha, vì hồi xưa lúc mà quỳ lên là quỳ một chân, giống như cái trong phim mình thấy là: "Muôn tâu bệ hạ" đó, quỳ một chân. Một cái chân lên như, à thì ra ngày xưa theo kinh là ghi quỳ vậy, không hiểu làm sao nữa. Còn mình bây giờ mình quỳ hai đầu gối chấm đất, phải không?

[1:25:27]Còn hồi xưa chỉ nói là đầu gối bên phải chấm đất thôi, còn chân trái không. Tức là quỳ: "Muôn muôn tâu bệ hạ" mà trong cải lương mình hay coi đó, mình thấy vậy. Vén áo bày vai phải và chắp tay cung kính bạch Phật rằng: "Hy hữu Thế Tôn, Như Lai thiện hộ niệm..." Nè: "Bạch Đức Thế Tôn là bậc tôn quý hiếm hoi giữa đời, là Đấng Như Lai luôn khéo hộ niệm cho chư Bồ Tát, luôn khéo dạy dỗ truyền trao cho chư Bồ Tát. Kính bạch Thế Tôn, nếu có người thiện nam, thiện nữ nào phát tâm cầu giác ngộ tối thượng thì nên dựa vào cái gì và hàng phục nội tâm bằng cách nào?" Cái câu là: "Vân hà ưng trụ, vân hà hàng phục kỳ tâm?".

[1:26:08]Cái câu này "vân hà ưng trụ" tức là nên trụ vào điều gì, "vân hà hàng phục kỳ tâm" thì hàng phục cái nội tâm này như thế nào. Cái chữ mà "nên dựa vào điều gì" á thì cái trong kinh nói đơn giản quá nên chúng ta không hiểu, mà chúng ta có thể hiểu thế này, là nên dựa vào cái quan điểm giáo lý nào để tu. Tại vì Phật nào giờ giảng rất nhiều, phải không? Bây giờ họ muốn có một cái gì nó cô đọng nhất, cốt lõi nhất để họ nắm lấy, họ tu. Và họ đi tìm một cái gì cô đọng hết. Ví dụ như có người sang gặp các thiền sư, nói kinh điển nhiều quá bây giờ nghe không có thời giờ, bây giờ xin ngài nói một câu cho gọn thế nào là đại ý Phật pháp?

[1:26:51]Quý Phật tử nghe này chưa? Phải không? Đó, có nhiều thiền sinh tới gặp một thiền sư nói: "Bạch Hòa thượng, thế nào là đại ý của Phật pháp?" Nói một câu đi gọn, chứ bây giờ chỉ một đống kinh trong cái nhà, trong kinh Tạng kinh Các coi không nổi, xin một câu cho gọn thế nào đại ý Phật pháp? Thì trong đây cũng vậy, "vân hà ưng trụ" là Phật nói gọn một cái quan điểm giáo lý nào đó để cho chúng con dựa vào đó mà chúng con hàng phục được cái nội tâm này. Đây. Thì ở đây đó, mà tại sao mà bất chợt là sau khi ăn cơm thì ngài Tu-bồ-đề hỏi câu này? Vì vào cái thời đó đó, thường là thế này, là Đức Phật ít có nghỉ trưa.

[1:27:32]Mình không biết như thế nào, nhưng thường Đức Phật ít nghỉ trưa. Là ngài khi ăn cơm xong thì ngài hay thuyết pháp. Lúc đó, ngài A Nan mới đi gọi hết đại chúng lại vân tập ở pháp đường hoặc là các ngài đến, bữa nào Đức Phật muốn thuyết pháp á ngài vân tập hết. Đức Phật leo lên cái tòa. Cái tòa đó không có, không có đẹp lắm, nhưng mà chỉ như một, nhiều khi một phiến đá hay là một cái mặt bàn, à một cái bàn nào đó, Đức Phật lên đó ngồi kiết già. Ngài ngồi mà ngài không có giảng như là chúng tôi, ngồi mà quơ tay quơ chân đâu. Ngài ngồi cái tay ngài cũng có đưa tay chút xíu, ngài, thực tế ngày xưa trong Ấn Độ cũng có những cái

[1:28:06]cử chỉ nhưng mà ngài ngồi ngài bất động ít khi nhìn, ít khi nhìn và đôi mắt giống như là trong định. Ngài ngồi ít có nhúc nhích lại như mình, không giống như chúng tôi ngồi mà nãy giờ li la li lắc, đây không có. Đức Phật ngồi bất động. Mà tại sao khi mà về đầu thời kinh ngài Tu-bồ-đề chợt quỳ hỏi câu này? Là nói một thiện nam, thiện nữ có lý tưởng tìm cầu sự giác ngộ tối thượng, đây là phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm. Thì chỗ này không phải là người chứng đạo mà người đi tìm cái đó, người khát khao điều đó, có lý tưởng tu hành và muốn tìm cái sự giác ngộ tối thượng, thì bây giờ Phật nói gọn giùm cho con

[1:28:47]là dựa vào quan điểm nào để tu hành để mà hàng phục được cái nội tâm của mình. Vì cái vất vả nhất của người tu là sao? Là hiểu được cái giáo lý cho chuẩn xác và nhiếp được tâm mình trong thanh tịnh, phải không? Nhiếp được tâm mình là cái chìa khóa để đi vào đạo. Chứ còn chúng ta tu gì tu mà tâm mình không vào được định thì vẫn là một cái cái đứng bên ngoài, vẫn là một cái nỗi khổ tâm. Do đó, và nhất là vào thời Đức Phật, thiền định được chú trọng thì người tu phải nhiếp được tâm mình. Và nhiều người tuy có cầu giác ngộ giải thoát nhưng mà không nhiếp được tâm. Hết giờ rồi, sao giờ? Hết giờ. Thôi lần sau nha.

[1:29:31]Thôi hẹn kỳ sau, hẹn kỳ sau.

[1:29:37]Giờ để trả lời vài câu... Theo con được biết, xuất gia đi tu thì quý thầy đi tu nhiều hơn quý cô. Còn người đời đi chùa, quý bà nhiều hơn quý ông. Hay, ai hỏi câu này hay. Con có nghe nhiều chị em nói là: Tôi nói chồng tôi nhiều lắm mà chồng tôi không đi đến chùa. Vậy thầy có phương pháp nào dạy cho chúng con để chúng con nói cho quý ông đi chùa? Cái này phải hỏi sư bác, sư bác nói hay lắm.

[1:30:01]Sở dĩ mà mà quý thầy đi tu đông hơn bên ni á, thật ra bên ni vẫn đông hơn tăng đó. Tính ra lại chùa ni đó, thì vẫn đông hơn tăng. Nhưng mà người nam đi tu đông hơn bởi vì làm một tỳ kheo tăng á, thì được cái vai vế trên tỳ kheo ni. Cũng giống như bên Hồi giáo á, là người nam họ siêng đi đền lắm. Vì sao vậy? Bởi vì bên Hồi giáo, cái người nam được quyền lợi tuyệt đối. Còn người nữ giống như một công cụ. Mà nơi cái môi trường mà người nam được quyền lợi thì họ sẽ tham gia nhiều. Làm tỳ kheo tăng thì có quyền lợi hơn tỳ kheo ni, đứng vai trên, nên người ta đi tu nhiều. Còn ở cư sĩ thì nam nữ cư sĩ giống nhau thì các ông không được quyền lợi gì lắm.

[1:30:40]Mà phải vô bị ông thầy trẻ măng mà kêu ổng bằng thầy, xưng con nữa, khó chịu. Ngang bướng lắm, mấy ông hay ngang lắm. Cho nên người nam đi chùa mà xưng con được với quý thầy phải nói là đạo đức rất là tốt. Rất là tốt, chứ không phải dễ. Con đang gặp khó khăn và bối rối quá, không biết việc làm của con tội hay phước. Thư, con hay đi chùa cúng dường hay đi cứu trợ giúp đồng bào nghèo bão lụt, việc làm này chồng con thấy tốn kém không hài lòng. Con sợ dùng tiền chung trong gia đình để làm phước mà có người không vui thì sẽ không có phước, nên con bàn với chồng con sau khi chi phí cho việc chung trong gia đình, số còn tiền dư lại chia hai.

[1:31:12]Á, ý kiến độc đáo à ta. Mỗi người giữ riêng để xài, lúc đầu chồng con đồng ý, do đó mỗi tháng con dư ra vài ba trăm ngàn nên con muốn làm gì cũng dễ dàng. Nhưng con cũng bị chồng con kiếm chuyện hoài, thậm chí xuyên tạc việc làm của con là xấu. Chắc có lẽ con còn sai điều gì mà chưa tìm ra. Xin thầy chỉ dạy con tháo gỡ. Phần tiền riêng của con, con dùng làm phước có tội không? Nếu mà thỏa thuận rồi đâu có tội, phải không? Ông chồng đồng ý là tiền dư ra chia hai, sáng kiến độc đáo. Cái này nên nhân ra cho mọi người biết được chưa? Hay chưa? Con biết theo đạo Phật, biết đi chùa làm phước. Mỗi ngày cứ bị người thân làm phiền não và mỗi lần làm

[1:31:47]phước, con tự thấy mình tạo cho người thân bị tội. Việc tu tập của con có bị mất phước không? Không, cái này cứ phải lì mà làm tới. Là vì sao vậy? Là bởi vì một kiếp nào đó, mình có ngăn cản người khác tu hành làm phước lúc mình chưa hiểu đạo ở kiếp xưa nào đó. Bây giờ tới lúc mình bị trả cái quả đó, cái bị ngăn cản hoài. Cho nên phải kiên nhẫn, một lúc nào đó nó sẽ qua. Đó, đây hầu hết là bị như vậy. Vì đâu phải là mình đã biết đạo từ vô lượng kiếp, mình bắt đầu biết đạo kiếp nào đó. Và trước cái lúc mà biết đạo, mình cũng hay chê bai, dèm xiểm, cản trở người khác tu hành. Vậy đó, phải không?

[1:32:20]Có, chứ không phải không đâu. Ví dụ, có người đi tu khó khăn, gia đình không cho, vì lúc xưa mình chưa biết đạo, con mình xin đi tu, mình cũng cản. Nó vậy, cái chuyện đó bình thường. Cái bài kinh Kim Cang này, thôi chúng ta cũng phải nghe nhiều lần. Bữa nay là lần đầu nên mình nghe dông dài, chớ những lần sau thì đi vào thẳng kinh á, thì chúng ta sẽ học được cái nội dung của kinh nhiều hơn, chứ không có nói dông dài, dai dẳng như bữa nay. Như vậy, hén. Thôi, bây giờ chúc cho quý Phật tử là biết xem mọi điều như không nếu mà điều đó ảnh hưởng tới đạo đức của