Transcript: Thuyết Trình Tứ Thánh Đế

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:17:58

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:08]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên chư tôn đức tăng ni. Hôm nay chúng ta nghe nói về đề tài Tứ Diệu Đế thấy thường ha? Tại nói Tứ Diệu Đế ai cũng biết khổ, tập, diệt, đạo, ai cũng thuộc lòng. Nhưng mà hôm nay chúng ta học Tứ Diệu Đế với cái cách khác. Thứ nhất là bởi vì ta biết rằng Tứ Diệu Đế như là một tuyên ngôn của Đạo Phật. Khi Đức Phật đắc đạo, thấu suốt hết mọi sự lý của tam giới, thì Ngài nhìn thấy cái chân lý là Tứ Diệu Đế. Bây giờ ta nghe lại nói: "Ờ, Tứ Diệu Đế là gì? Là đời là khổ theo tám loài khổ, rồi nguyên nhân khổ là do Tập đế là ái, rồi có cái Diệt đế là cái Niết bàn hết khổ,

[0:50]rồi để đạt được cái Niết bàn hết khổ đó ta có Bát Chánh Đạo là Đạo đế". Nói roẹt thuộc ai cũng thuộc hết trơn. Nhưng mà nếu chỉ đơn giản mà nghe dễ hiểu như vậy thì không gọi là Đức Phật là đấng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ta phải hiểu ẩn chứa trong đó có cái gì cực kỳ vĩ đại ở trỏng á. Mà nhiều khi ta học nhiều quá, ta thuộc quá, ta xem thường. Cái xem thường đó cái làm ta dễ bị lạc vào tà kiến. Lạc vào tà kiến là sao? Là vì có lúc nào đó ta hiểu một cái đạo lý ta đang tu nó lạc ra khỏi Tứ Diệu Đế một chút xíu là ta bắt đầu rơi vào tà kiến. Chính vì vậy, một người đệ tử Phật suốt đời là phải nắm vững Tứ Diệu Đế.

[1:31]Giống như là người Tề Thiên á, ổng nhảy đâu ổng nhảy không bao giờ ra khỏi bàn tay của Như Lai á vậy. Mà nếu là ta là một người có chánh kiến, hiểu đúng Đạo Phật á, mình nói Đông nói Tây, mình tu Đông tu Tây, tu Nam tu Bắc, không bao giờ ra khỏi Tứ Diệu Đế thì ta ở trong chánh kiến. Còn nếu mà ta ra khỏi Tứ Diệu Đế chút xíu là ta lạc vào tà kiến liền lập tức á. Nên Tứ Diệu Đế rất là vi diệu. Bây giờ mình nói mình học bao nhiêu quyển kinh Đại thừa, xin thưa là nếu mà bản kinh đó mà ta hiểu mà ra khỏi Tứ Diệu Đế là bản kinh đó tà kiến liền. Dù ta học Tiểu thừa hay Đại thừa cái gì cũng không biết,

[2:05]Phật thừa, Duyên thừa, Nhất thừa không biết, xin đừng bao giờ ra khỏi Tứ Diệu Đế. Nên Tứ Diệu Đế vậy tuy nói rất là gọn mà bao hàm khắp mọi sự lý của pháp giới chúng sinh. Nhưng mà chỉ vì ta hiểu không hết thôi. Cái người tu càng cao thì càng hiểu Tứ Diệu Đế lớn hơn. Tu cao hơn, hiểu lớn hơn nữa. Còn ta tu thấp thì ta hiểu Tứ Diệu Đế rất là đơn giản. Cho nên chỉ đánh giá một cái trí tuệ của một cái người tu Phật ở chỗ là xem họ hiểu Tứ Diệu Đế cỡ nào. Mình nói nghe nói Tứ Diệu Đế mà mình thấy họ hiểu thường thường, không tôn trọng lắm, thì thấy nó thường thường, biết ngay cái người trí tuệ người này rất thấp.

[2:44]Còn mình hỏi một người về Tứ Diệu Đế mà mình thấy họ xúc động, họ xúc động, họ tôn kính Tứ Diệu Đế, mình phải mình phải đảnh lễ người đó. Tại vì trí tuệ người đó rất là cao. Nên Tứ Diệu Đế không đơn giản. Nên hôm nay chúng ta học là không có học như trong Phật học viện, mà ta nói về Tứ Diệu Đế hôm nay là ta nói cho những người đã đi qua trường lớp và học để làm thầy, chứ không phải học như là một người học trò. Vì ta đang học ở trường hạ, học ở trường hạ khác với học ở Phật học viện. Cho nên hôm nay chúng tôi trình bày Tứ Diệu Đế có tính cách đưa ra những đề cương, những điểm nhấn và trong những lần học kế tiếp theo sau thì chúng tôi

[3:24]không còn giảng nữa, mà chúng tôi chỉ là người giám sát, điều chỉnh. Còn trong lớp ta chia tổ chia nhóm để lên thuyết trình từng cái ý từng ý. Chính vì vậy là những thời sau là không biết ai là trưởng lớp đấy ta? Tại vì cái bài học Tứ Diệu Đế này là ta học để thuyết trình chứ không phải là ta học để mà nghe. Nên do đó là hôm nay chúng ta nghe những điểm nhấn của Tứ Diệu Đế, rồi qua những kỳ tới thì nhờ thầy trưởng lớp chia lớp ra thành từng tổ nhóm. Cái đó là việc của lớp tự điều hành với nhau. Rồi những kỳ sau bắt đầu là thầy cho đăng ký thuyết trình. Bắt đầu lần sau là bắt đầu thuyết trình cho tới hết tới cuối hạ luôn.

[4:01]Còn chúng tôi là giáo thọ thì chúng tôi chỉ đứng giám sát, điều chỉnh và chấm điểm thôi. Và cuối hạ ai điểm cao, điểm thấp thế nào thì ta tính lên đó thành tích ta nộp lên trên Ban điều hành trường hạ để ta phát thưởng. Nên hôm nay là chúng ta học để xoáy sâu, để nâng cao về cái giáo nghĩa Tứ Diệu Đế chứ không còn học để nghe. Do đó mọi người học là rất là chủ động, thắc mắc đứng lên hỏi liền hoặc là chúng tôi hỏi thì phải đáp liền. Nghĩa là nó có sự đối thoại. Cái cái người ngồi dưới không phải là học trò mà là gì? Ngồi ngồi dưới á là sếp của giáo thọ. Thấy cái này không chịu, không, nói cái này không chịu, xin đứng lên hỏi

[4:39]để quay cái ông giáo thọ coi mức độ ổng trình bày thấu đáo tới cỡ nào. Tại vì mình đang tập làm thầy. Tuy nhiên mình cũng phải khiêm cung chút, tại vì ông giáo thọ này ổng hơi ốm mà xấu nữa, phải cẩn thận. Ăn hiếp hung quá ổng té ổng xỉu. Cái nguồn gốc của Tứ Diệu Đế chúng ta mà nghe lại như thế này, nếu chúng ta nghe lại trong nguyên kinh văn á, chút xíu rồi ta thấy cái nguồn gốc. Thứ nhất là vào cái đêm thành đạo, chúng ta nghe nói Đức Phật sau khi nhập được Tứ thiền, Ngài bắt đầu xuất hiện Túc mạng minh. Túc mạng minh là gì? Là... Dám quên lắm á. Mình nhớ lại từng kiếp của mình phải không? Nhớ từng kiếp cho đến vô lượng kiếp luôn rồi tới cái kiếp đầu tiên luôn là

[5:25]cái gì thì cái này thôi ta không nói nữa, cái này đó là một vấn đề khác. Sau khi thấy được hết vô lượng kiếp của mình rồi, bắt đầu Đức Phật mới quan sát sự lưu chuyển của chúng sinh trong tam giới và thấy chúng sinh lưu chuyển theo cái nghiệp của mình và thấy rõ thấy mọi cảnh giới, thấy mọi đường đi, thấy cấu trúc của vũ trụ của thế giới như thế nào biết hết, vân vân. Rồi sau khi thấy hết mọi điều của thế gian như thế, như là nắm một trái xoài trong lòng bàn tay, bắt đầu Đức Phật mới mới thấy Tứ Diệu Đế để chứng Lậu tận minh. Sau khi thấy Tứ Diệu Đế, được gọi là chứng Lậu tận minh, thì mới được gọi là Phật.

[6:03]Còn trước đó dù thấy được vô lượng kiếp, dù thấy hết cả tam giới như trong lòng bàn tay, thấy hết hạnh nghiệp của tất cả chúng sinh, vẫn chưa được gọi là thành Phật. Vì vậy, ta hiểu cái ý nghĩa mà thấy được Tứ Diệu Đế rồi mới được gọi là chứng Lậu tận minh để thành Phật, ý nghĩa nó rất lớn. Ý nghĩa nó lớn như thế nào? Ý nghĩa nó lớn thế nào, ta cho một ví dụ rất là nhỏ nhỏ lại. Hôm trước chúng tôi cũng có cái ví dụ lúc mà giảng ở bữa Phật đản trên chùa cũng nói lại, bây giờ lặp lại chút xíu ha. Chúng ta thấy thế này: giữa cái chúng ta biết và cái đạo lý chúng ta rút ra được là hai chuyện khác nhau.

[6:41]Chúng tôi có ví dụ, ví dụ như có một người đó họ có thần thông, không biết họ tu Mật tông hay là tu Thiền tông hay tu Tịnh Độ tông không biết, bỗng nhiên họ có cái trực giác thần thông, họ đọc được tâm người khác. Một lần đó họ được mời đi ăn đám cưới, thì khi vô trong đám cưới họ thấy cô dâu chú rể rất là xinh đẹp. Thì họ thấy là mọi người đều chúc tụng, nâng ly chúc tụng cô dâu chú rể, chúc cho hai người trăm năm hạnh phúc. Thì ông này ổng là có thần thông, ổng mới nhìn vô tâm những cái người mà đang chúc đó, ổng mới thấy miệng nói một điều mà tâm nghĩ một điều khác. Miệng thì cứ chúc cho người ta trăm năm hạnh phúc,

[7:18]nhưng mà trong tâm sôi sục lên vì ganh tị. Cũng như gặp nói là chúc mừng cho anh là được người vợ đẹp, nhưng mà chính cái người chúc đó trong tâm lại thèm khát, thèm thuồng cái cô dâu. Ổng mới ngồi mới thấy đó là cái biết, cái thần thông nó tạo ra cái biết. Nhưng sau đó ổng mới suy nghĩ thế này, ổng nói hai cái cô dâu chú rể này đúng là có phước, giàu sang, xinh đẹp, đám cưới rộn rã, long trọng, nhưng mà vì có phước có xinh đẹp như vậy nên phải chịu cái sự ganh tị, rồi chịu cái sự xỉa xói, ham muốn của người khác, rồi sẽ nhiều chuyện rắc rối xảy ra nữa. Cho nên ổng mới hiểu ra được một điều, rút ra được một cái điều kết luận

[8:03]là trên đời này không có cái gì vui trọn vẹn dù mình rất có phước. Ổng rút ra được một câu kết luận. Giống như Đức Phật á, nếu mà nói về phước thì không ai bằng Ngài hết, phải không? Nhưng mà suốt cuộc đời giáo hóa của Đức Phật có yên ổn không? Có yên không? Không bao giờ yên. Hết thế lực này chống tới thế lực kia chống. Trong đệ tử chống, ngoài đáo đạo chống, rồi có những cái quốc vương hiểu lầm họ cũng thờ ơ lạnh nhạt, rất nhiều. Mà nói về phước thì không ai bằng Đức Phật, nhưng mà cũng không bao giờ yên. Cho nên vì vậy một cái ông mà ổng có thần thông ở trong đám cưới ổng rút ra một kết luận:

[8:42]"Trong cuộc sống này không có gì vui trọn vẹn dù mình rất có phước." Thì cái việc á mà ổng có thần thông ổng thấy tâm người khác là một chuyện, mà cái ổng có thêm cái trí tuệ để ổng rút ra được một câu kết luận đạo lý là trên đời này không có gì vui trọn vẹn là một chuyện khác hẳn. Cái thứ nhất là thuộc về thần thông, mà cái rút ra được cái minh triết thứ hai đó, cái đó mới gọi là trí tuệ của bậc thánh, của một bậc đạo sư. Cái trí tuệ của bậc đạo sư là cái mà ổng rút ra được cái đạo lý để có thể ổng sống và dạy người khác. Thì cũng vậy, ở cái buổi ban đầu mà Đức Phật có thần thông á, Ngài chứng được Túc mạng minh để thấy được vô lượng kiếp của mình,

[9:21]Ngài chứng được Thiên nhãn minh để thấy được tất cả mọi chuyện của tam giới chúng sinh là một chuyện, nhưng mà cái thấy được Tứ Diệu Đế để rút ra được một cái đạo lý của Tứ Diệu Đế thì mới gọi là cái minh triết để thành một bậc đạo sư muôn đời của chúng sinh. Đó mới mới gọi là thành Phật. Nên ta thấy cái Tứ Diệu Đế mà ta học đi học lại từ thời mới vào Đạo Phật, ta tưởng là bình thường, nhưng không phải. Đó, chính vì cái đó mới có một Đức Phật xuất hiện. Nhưng mà ta cứ tưởng là bình thường tại ta học đơn giản quá, nói cho gọn. Chứ mà thấy Tứ Diệu Đế bằng cái trí tuệ của Phật là nói thành muôn triệu quyển kinh không bao giờ hết.

[10:01]Chúng ta phải hiểu như vậy để chúng ta tôn trọng Tứ Diệu Đế và cách chúng ta học là không có ngồi nghe, mà chúng ta phải chuẩn bị để để thuyết trình. Mà vì lý do là ta không có thời gian để cho từng người lên thuyết trình, do đó buộc ta phải chia tổ chia nhóm. Chia tổ chia nhóm mà trong tổ trong nhóm bàn với nhau cái ý. À cho nên chấm là chấm người nào đó đứng lên đại diện hoặc là vài người đứng lên đại diện cho nhóm mà thuyết trình, nhưng mà điểm là điểm tính chung cho cho cả nhóm như vậy. Tứ Diệu Đế thì là khổ, tập, diệt, đạo, ta biết rồi. Bây giờ Khổ đế

[10:39]Cái chữ Khổ đế là chân lý về cái sự khổ. Chân lý về sự khổ nói cái câu ngắn gọn thế này: Bản chất cuộc đời là đau khổ. Câu đó đơn giản như vậy: Bản chất cuộc đời là đau khổ. Nhưng mà đau khổ như thế nào? Thì Phật tạm phân ra mấy loại khổ? Mấy? Mấy? À, 8 nha. Giờ này mà nói không thuộc là chết á. Thứ nhất là: Sinh, lão, bệnh, tử; ái biệt ly; oán tắng hội; cầu bất đắc; ngũ ấm xí thạnh. Ví dụ bây giờ có người hỏi: Thưa sư cô, ngũ ấm xí thạnh khổ là gì? Ta trả lời làm sao? Ngũ ấm xí thạnh khổ là sao?

[11:43]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch thầy giảng sư cùng kính thưa chư tôn đức tăng ni. Con xin nói về ngũ ấm xí thạnh khổ, đó là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đó là ngũ ấm xí thạnh khổ. Nam Mô A Di Đà Phật. Sắc thọ tưởng hành thức là ngũ ấm, còn xí thạnh? Dạ, xí thạnh tức là cái thạnh hoặc suy đó bạch thầy. Cái nó chống đối với nhau. Nam Mô A Di Đà Phật. Dạ dạ, rồi cảm ơn, cảm ơn, mời sư... Đó là một là một cái ý suy nghĩ, nhưng mà để trả lời cho thấu đáo cho một cái người họ hỏi mà cái người đời nay á, Phật tử đời nay họ trí thức cao lắm. Chúng ta nhớ là sau này chúng ta ra trường chúng ta làm việc,

[12:27]chúng ta đối diện với một lớp người Phật tử có trí thức rất cao, chứ không còn là những người nông dân như cỡ 100, 200 năm trước nữa. Bây giờ là chúng ta gặp người bình thường ít nhất họ xong lớp 12 hoặc họ đã xong một đại học hoặc có người hai đại học, ba đại học, có người thạc sĩ, tiến sĩ. Bây giờ họ mến đạo Phật họ vô chùa, thì mình trả lời làm sao á mà phải thỏa mãn được cái hiểu của họ mà vượt hơn cái hiểu của họ, họ mới nể tăng ni mình được. Mình phải trả lời mà nó rất là thấu đáo mà rất là thực tế và rất khoa học, rất khoa học nhưng mà là Phật học. Nên cái sự chiêm nghiệm về những điều này phải sâu xa lắm, một cái đơn giản nhỏ.

[13:06]Phật, tôi nói là trong cái tám khổ có cái đầu tiên là sinh là khổ. Sinh nghĩa là gì?

[13:14]Sinh nghĩa là gì? Sinh nghĩa là gì? Ai trả lời?

[13:25]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch giảng sư và chư tôn đức tăng ni. Theo con nghĩ thì chữ sinh ở đây là, khi sinh á là cuộc sống mà sinh được sinh ra. Sinh ra thì người người mà sinh và người được sinh là đều bị khổ, tại vì khi sinh thì sự đau đớn của người mẹ và cái người được sinh thì cũng phải đau đớn. Và cuộc sống chúng ta thì luôn gặp nhiều cái khó khăn cuộc đời, đau khổ nhiều cái, do vậy là sinh là khổ. Dạ, cảm ơn thầy. Tức là thầy nói ba nghĩa, mà thầy nói một cái rẹt như vậy là ba nghĩa. Nên nhớ lần sau mình phân ra ba để người ta nghe người ta dễ hiểu. Trong cách trình bày của một giảng sư á, thì nó có mấy ý mình chia từng ý rất

[14:10]rõ ràng, người ta nhìn chứ thầy nói một rẹt nghe không biết thầy nói ý nào. Thứ nhất, thứ nhất cái ý sinh của thầy có nghĩa là đẻ. Thầy nói tới người mẹ đẻ con đau, phải không? Rồi cái thầy nói cái sự ra đời của một đứa bé, phải không? Đứa bé được sinh ra rất khổ, phải không? Là ý thứ hai. Và cái ý thứ ba là: cuộc sống. Nghe thầy nói cái rẹt cả ba ý liền, nhưng mà thầy nghe nói một chùm lại. Nhất nhớ như vậy khi mình nói mình phân ra từng ý, từng ý, từng ý rất là rõ. Thì trong cái sinh lão bệnh tử á nó ám chỉ hai cái này hơn, mà sự thực nó ám chỉ cái ba, thứ ba nhiều hơn: Cuộc sống của chúng ta vốn là đau khổ.

[14:47]Thì ngay cái chỗ này, chỗ này là bắt đầu có người họ cãi mình nè. Những người mà họ không tin đạo Phật, không phải là Phật nói gì họ tin liền tại họ không phải kính Đức Phật, họ là một người ngoại đạo hoặc là không biết tôn giáo, họ sẽ hỏi mình là: Tôi thấy sống trên đời không phải là chỉ là đau khổ, mà sao? Có lúc thì khổ, có lúc thì vui, họ nói vậy. Thành thử đạo Phật chỉ nói rằng cuộc đời chỉ là đau khổ, tôi e rằng đạo Phật, sao? Bi quan, yếm thế, thụ động, tiêu cực. Và một cái đạo lý mà dạy cho người ta cái khuynh hướng bi quan, yếm thế, thụ động, tiêu cực thì tôi nghĩ không phải là một tôn giáo tốt, họ nói họ công kích mình liền.

[15:30]Ngay đầu tiên là sẽ có người phản bác đạo Phật mình liền chỗ này, nếu mình không trả lời cho nó thật là thấu đáo, mình làm mất uy tín đạo Phật cái người ta không theo đạo Phật. Còn mình gặp cái người đó, ngay cái đầu tiên ngay cái ải đầu tiên của chữ sinh là khổ này, mà mình trả lời thật thuyết phục, thật hấp dẫn thì người ta mới kính trọng đạo Phật, có thể người ta theo đạo Phật. Cho nên giải thích cái này giùm, thì cái này hôm nay chúng ta không nói, để dành thuyết trình là ví dụ quý thầy, cô nào mà cảm thấy bức xúc vì cái câu hỏi của người đó. Nếu có một người họ nói: Tôi thấy cuộc đời có khổ, có vui mà đạo Phật chỉ

[16:03]nói khổ không, tôi thấy đạo Phật bi quan. Bây giờ ta lập một bài thuyết trình 15 phút để ta trả lời cho người đó, cái tổ nào đó. Rồi, già là khổ, này biết dễ biết không? Dễ biết không? Già, yếu rồi khổ ha, dễ hiểu. Nói dễ hiểu chứ mà khi ta nói ra không thấu đáo, không hấp dẫn thì mình chưa thể làm thầy thiên hạ được. Cái vấn đề chúng ta học ở đây là thế này: chúng ta học để làm thầy người khác, để dạy cho chúng sinh, để giáo hóa chúng sinh. Do đó, cái vấn đề nào chúng ta phải nhìn thật sâu, chứ không có nhìn hời hợt được. Nên trả lời câu: Tại sao cuộc sống là khổ? Phải nhìn cho ra cho hết. Hoặc nói:

[16:44]Tại sao tuổi già là khổ? Vì sẽ có những người họ nói: Bây giờ tôi tuổi già một đời bây giờ tôi an nhàn, tôi không làm nữa, tôi có con, có cháu nó lo cho tôi, tôi sung sướng, tôi không thấy già là khổ. Nhưng mà tại sao đạo Phật nói già là khổ? Mình trả lời cho ra người ta, trả lời cho thật thấu đáo, thật thuyết phục cho mọi người. Hôm nay chúng tôi không nói là bởi vì chúng tôi không có nói cho tăng ni sinh thường thường, mà chúng tôi đang nói cho những người để làm thầy, nên chỉ gợi ý thôi. Rồi quý thầy, quý cô về soạn bài mà trả lời, nha. Hôm nay là chỉ nhá nhá, úp úp mở mở. Ví dụ như là nói bệnh là khổ thôi biết rồi, tử là khổ thôi biết rồi.

[17:24]Thật ra cái tử là khổ á nó không đơn giản đâu. Chết là khổ, không đơn giản chút nào như là chúng ta vẫn hiểu. Vì sao vậy? Bởi vì chúng ta thấy có những người khi họ đau khổ quá thì họ làm sao? Hả? Hả? Họ tự tử. Và như vậy họ nghĩ rằng tử là hết, chết là hết. Hết? Hết đau khổ, phải không? Hết đau khổ. Nên ta nghe câu chuyện có một cái cô gái cổ lên cái cái cầu, cổ đứng cổ nhìn dòng nước, rồi cổ đâm đầu cổ nhảy xuống. Người ta mới chụp cổ lại kịp, hỏi: Vì sao? Nói: Tại vì người yêu bỏ đi lấy lấy vợ. Thì người ông kia mới nói: Thôi, cô chết cô vậy không nên. Người yêu chết thì nếu cô thất tình quá thì cô cứ vào chùa

[18:15]cô đi tu, chứ không cần phải chết như vậy, ví dụ vậy. Như là Lan và Điệp vậy đó thôi được rồi đừng chết. Mà tại sao cổ đau khổ quá cổ nhảy sông cổ tự tử? Tại vì cổ nghĩ rằng chết là là hết khổ. Mà tại sao đạo Phật lại nói chết lại là đau khổ?

[18:35]Có nhiều người ta nói chết là hết, nhiều người đau khổ quá kê súng vô đầu bắn cái đùng, nói vậy hết đau khổ. Mắc nợ nhiều quá người ta đòi tứ tung cái treo cổ tự tử. Rồi cái bị người ta nói nhục nhã quá mà mình không có mà nói oan không thể nào trả lời được, uống thuốc độc chết. Nghĩa là người ta đau khổ tột cùng người ta lại tự tử, và người ta nghĩ rằng tự tử chết như vậy là chấm dứt mọi cái điều của cuộc sống này, chấm dứt luôn cả cái đau khổ. Thế mà tại sao Phật lại nói chết là đau khổ? Ta hiểu cho ra vấn đề cho thấu đáo ha. Cho ra vấn đề cho thấu đáo. Cái đau khổ chính là cái phía sau của cái chết á, phía sau cái chết.

[19:12]Ví dụ có cái cô gái đó là cổ thương một anh chàng, hai người hứa hẹn thề non hẹn biển với nhau. Bất ngờ cái anh chàng kia gặp một cái cô gái giàu đẹp hơn cái ảnh bỏ cô này ảnh đi cưới vợ cô kia. Thì cô này cổ là người hiền lành, cổ không có tới đám cưới để cổ quậy, nhưng mà cổ buồn quá rồi cổ cổ làm sao? Cổ tự tử cổ chết. Cổ tự tử cổ chết cổ nghĩ rằng như vậy là mọi chuyện hết, không khổ nữa. Nhưng mà sự thật sau cái chết nó mới đau khổ nhiều hơn là vì gì? Lúc cổ chết rồi cái thần thức của cổ đó, nó cứ vất va vất vưởng, vất va vất vưởng nó theo anh chàng kia thì thấy gì? Thấy anh chàng kia sống hạnh phúc,

[19:52]ân ái, âu yếm với cô vợ thì cái nỗi đau khổ nó làm sao? Nó còn gấp bội lần, gấp trăm lần. Còn hồi trước chỉ nghe, nghe hắn bỏ mình hắn lấy vợ. Còn bây giờ mình thấy rõ ràng hai người nắm tay nhau đi âu yếm trên đường chiều nhuộm nắng rồi ha, nâng cho nhau từng cái muỗng ăn rồi rót cho nhau từng cái chén nước rồi gắp cho nhau từng cái miếng cơm đồ, lồng lộn lên mà lúc đó đâu còn chết lần nữa được, chết lần thôi không chết lần nữa. Cho nên ta nghĩ là sau cái chết cái đau khổ còn dữ dội hơn nữa. Cho nên nó sinh, lão, bệnh, tử. Những điều đó ta chiêm nghiệm lại nó sâu sắc, kỹ lưỡng để ta giảng cho chúng sinh.

[20:28]Vì sau này quý thầy, quý cô buộc mình phải là những những người thầy của của chúng sinh. Ta đi học xong về để làm thầy, có thể chùa ta về là tổ chức những buổi giảng, những buổi dạy cho Phật tử luân phiên nhau mình dạy. Trụ trì cũng phải biết giảng, phó trụ trì, tri sự trong chúng gì cũng phải biết giảng hết á. Mà hễ giảng, dạy cho người khác thì mình phải hiểu sâu hơn, sâu hơn người nghe. Vì cái người nghe đến chùa sự thực họ đọc sách cũng nát hết trơn rồi. Bây giờ là Phật tử sách đầy, họ nghe kiến thức họ rất là nhiều. Những điều đó họ đã đọc. Họ đến họ ngồi họ nghe thấy thầy đó cũng nói: Ủa, y như sách mình đọc. Cái nói:

[21:09]Thầy cũng như mình. Như mình. Cho nên vì vậy buộc là ta phải có cái độc đáo, độc lập riêng của mình bằng cái sự tu dưỡng của bản thân và cái sự chiêm nghiệm của chính mình. Những cái điều như vậy, chút chút chút chút như vậy. Ái biệt ly nghĩa là gì?

[21:28]Thương mà phải xa lìa. Thương là thương ai?

[21:34]Thương ai?

[21:38]Cái ái này á, nên sau này có một lần cái nhiều người nghe Đức Phật nói ái biệt ly cứ hiểu đơn giản là mình thương một người nào đó mà mình phải xa người đó mình đau khổ. Nên ngài Xá Lợi Phất ngài mới giảng lại, ngài nói không phải. Ngài nói cái ái này không phải là thương một con người mà bất cứ điều gì ta thích, ta ưa. Ví dụ mình có cây viết đẹp mà bữa nào mất tiêu cái làm mình cũng buồn, tiếc một chút, ví dụ vậy. Còn có nhiều khác nhiều thứ hơn nữa, ví dụ ta quá thích tài sản đi, mà có một lần nào đó là nước cuốn trôi, lửa cháy rồi ta phát điên lên được, bởi vì đó là cái ta ưa thích. Hoặc là ta thích một cái chức vụ gì đó

[22:16]mà rồi cái chức đó phải mất, bị bị phải thuyên chuyển đi vân vân, ta cũng đau khổ. Những cái gì ta thích chứ không phải là riêng chỉ con người. Thì cái điều này mà ta nói cho nó sâu xa, lý thú từng ví dụ cụ thể, cái người nghe họ sẽ rất là thấm thía. Và mục tiêu để họ chuẩn bị cái tinh thần là đừng yêu ái cái gì nhiều quá, tuy ngày hôm nay nó như thế mà phải coi nó như không, để chuẩn bị cho một ngày nào đó nó rời khỏi tầm tay của mình. Bây giờ ta có người bạn thân ở trong lớp học với nhau như thế này, ta rất là yêu quý người đó, tại thấy người đó có những đức tính tốt, người đó hiểu ta, chia sẻ với ta những lúc buồn vui,

[22:55]những lúc khó khăn, những lúc khổ sở, ta yêu quý quá, ta thích quá. Nhưng mà phải nhớ cái ái biệt ly của Phật nói. Và vì vậy, là ta phải chuẩn bị là cái tình thương yêu giữa người và người thật ra nó mong manh như sương khói. Ngày nay như vậy chứ qua ngày mai mất tiêu khác rồi. Hoặc là như người thế gian vậy, là khi lớn lên thì bắt đầu họ yêu một người kia, rồi họ lập gia đình với người đó, cứ ngỡ tưởng rằng là sẽ trăm năm hạnh phúc, nhưng mà không ngờ là tới năm năm sau cái hôn nhân gia đình đã bắt đầu trở thành bi kịch. Cái con người mà họ yêu thương ngày xưa, bây giờ đã biến thành một người khác rồi, không còn cái người đó nữa.

[23:38]Đó là cái thực tế của cuộc sống. Cái người mà họ yêu thương của năm năm trước, bây giờ biến thành con người khác rồi. Ví dụ như cái người con gái mà ngày xưa họ thấy là thướt tha, yểu điệu, mái tóc dài bay trong chiều gió lộng, tà áo thướt tha đi qua bên cái hàng dậu mà những bông hoa bụp đỏ rơi rớt dưới chân nàng, vân vân. Nhưng mà tới chừng mà cưới về thì sao? Bả cằn nhằn từ sáng tới trưa, từ trưa tới chiều tối. Làm cái gì bả cũng cười, đi đâu bả cũng hỏi. Thí dụ bả ba, mỗi lần bả lườm một cái là như là ác quỷ Dracula. Mới cái con người mà ngày xưa dịu dàng, e thẹn, e ấp mà ta nghĩ rằng ta yêu thương được cả

[24:18]đời, sao bây giờ biến thành như một con quỷ sứ vậy nè trời? Rồi mất tiêu rồi, hoặc là cái cô thương anh chàng, thương anh chàng thấy anh chàng là đầy nam tính của người đàn ông ha, có trách nhiệm, thêm một chút đẹp trai, thêm một chút lãng mạn, ví dụ như biết đàn, biết hát, đôi mắt buồn buồn, trầm lặng, thôi con người quá lý tưởng, con người đẹp như Alain Delon còn hơn Lương Triều Vỹ, Lưu Đức Hoa, quá thích. Nhưng mà khi cưới ba năm cái bắt đầu trở thành có thấy gì, bợm nhậu, đi chơi không bao giờ về nhà. Tới chừng con bệnh cái nói thôi em lo đi, anh mắc ở nhậu với bạn bè chút xíu. Có một lần thót thấy chở cô nào ngồi sau xe, ví dụ vậy.

[24:57]Nói tại sao cái con người mà đầy trách nhiệm, đầy nam tính, mà ngày xưa hứa yêu mình suốt đời, trên đời anh chỉ yêu mình em, bây giờ thành cái thằng nào á, thằng đểu cáng nào không. Nên cái ái biệt ly về cái con người ngày đó nó mất rồi, là nó không phải là cái con người đi đâu vắng, cũng cái con người đang ở cạnh mình đó, nhưng mà cái tính chất nó mất rồi, gọi là ái biệt ly nữa. Cái mà mình thương yêu không còn nữa. Và đây là cái quan trọng mà tăng ni phải hiểu, đó là lý do tại sao mà quý thầy quý cô phải đi tu là vậy. Bởi vì biết chắc rằng cái con người mà mình thương yêu sẽ thành quỷ. Có lần chúng tôi giảng đùa về hôn nhân

[25:33]cho mấy mấy mấy gia đình Phật tử trẻ trẻ trẻ, thanh niên, giảng về hôn nhân, tình yêu hôn nhân, cười chết mồ luôn. Mới nói à, cái người á mà tụi con mà mà phải chọn á, để tụi con có thể sống được hạnh phúc được á, thì đó là một người phải rất là đạo đức, rất là thông minh, rất là hiểu đạo, rất là biết tu hành. Những cái người như vậy á thì họ mới có thể sống một đời sống hôn nhân vững vàng, hạnh phúc được. Tại vì đời sống hôn nhân rất là sóng gió chứ không phải dễ, nhiều chuyện trục trặc: lúc có tiền, lúc không tiền; lúc nhiều tiền quá cũng bị thử thách, mà lúc không có tiền cũng bị thử thách.

[26:12]À thành thử phải người rất đạo đức, rất có trí tuệ, à rất là hiểu đạo, rất thông minh thì mới có thể sống qua đời sống hôn nhân được. Nhưng mà xin thưa rằng những người mà rất rất rất rất đó, họ vô chùa tu sạch hết trơn rồi. Tụi con tìm không ra đâu, đừng mất công, nghe chưa. Cho nên khi mà ta giảng về những cái điều nho nhỏ đó, thì một cái điều nhỏ ta có thể giảng thành mấy bài được cho cho Phật tử nghe, vì những cái sâu sắc như vậy. Còn cái ngũ ấm xí thạnh á là chúng ta nghe trên lý thuyết là năm ấm chống trái, giống như ngũ hành tương sinh tương khắc. Cái xí thạnh đó nó còn có cái nghĩa, có nhiều người dịch là hừng hực.

[26:51]Hì, chữ hừng hực hay lắm nha, có điều là nghe nó không có văn hoa, nó không văn chương, không tri thức thôi, chứ chữ hừng hực hay lắm á. Tức là cái năm ấm của ta mà nó điều hòa nhẹ nhàng á, ta khỏe, đó là lý do tại sao ta phải tu thiền. Ta tu thiền là ta làm cho năm ấm lắng dịu xuống, lắng dịu xuống nó không hừng hực nữa, để ta đi vào định và ta đắc đạo. Còn cái năm ấm mà nó hừng hực, căng thẳng á, bây giờ nó dùng chữ stress á, cái từ stress rất là hay, ta dịch là hừng hực, người xưa gọi là xí thạnh. Tức là năm ấm nó động quá, cả cái người ta như bị đốt cháy. Mà trong cái stress này nè, nó căng thẳng đến mức độ ta gọi là bệnh trầm uất.

[27:32]Trong cái từ của khoa học mới gọi là bệnh trầm uất. Depress trầm uất hay là dạng suy nhược thần kinh và tột cùng của nó là gì?

[27:45]Tột cùng là bệnh tâm thần. Này rất là đau khổ. Cho nên Phật đưa ra cái khái niệm khổ của cái ngũ ấm xí thạnh là là thân tâm căng thẳng, trầm uất mà có thể tới bệnh tâm thần là Phật nói rất thấu đáo về cái khổ của con người. Trong cái chữ ngũ ấm xí thạnh, nó ám chỉ bệnh tâm thần kinh là bệnh điên, tức là người điên là một tức là cái tột đỉnh của cái ngũ ấm xí thạnh, còn cái mà căng thẳng trầm uất là của cái khởi đầu. Nên khi ta nói về ngũ ấm xí thạnh, ta phải nói tới cái đó luôn, thì người nghe họ mới thấy rằng ta rất hiểu về y học, về khoa học, về tâm lý, về xã hội, về cuộc sống, và Đạo Phật bao trùm được luôn những vấn

[28:24]đề của xã hội như vậy, họ nghe họ mới sợ Đạo Phật. Họ nói Đạo Phật hay quá, mà đúng là Đức Phật đã nhìn thấy, chỉ có cái điều là cái từ ngày xưa cô đọng quá, làm không diễn tả được hết. Thì bổn phận của ta ngày hôm nay là ta phải giãi bày ra cho hết những điều mà Đức Phật đã nói rất cô đọng. Nó là vậy. Chứ nhưng ta có nói hay, nói trời trăng mây nước đông tây nam bắc không bao giờ ra khỏi bàn tay của Như Lai là vậy á. Bây giờ ta có nói gì mới thiệt mới, mà nói sai thì thôi đúng là ra khỏi bàn tay Như Lai rồi vì nó thành tà pháp rồi. Ta nói cái gì thiệt hay, thiệt mới mà hễ vẫn còn là đúng thì vẫn

[29:00]nằm trong bàn tay của Như Lai, vẫn nằm trong Tứ Diệu Đế à. Như Đức Phật đâu nói bệnh tâm thần kinh, nhưng mà sự thật ngũ ấm xí thạnh là bệnh tâm thần kinh, bệnh điên rồi đó. Hừng hực, hay thiệt hay. Không biết sư vị nào, vị nào đời xưa dịch trong cái bản văn cổ á, ngũ ấm xí thạnh có người hỏi là: Bạch hòa thượng, ngũ ấm xí thạnh là gì? Cái hòa thượng này: Năm ấm hừng hực. Cái người ta viết vô trong cái văn bản xưa, những cái bài kinh bản dịch từ cổ nhất mới nhất của Phật giáo Việt Nam mình là dịch là năm ấm hừng hực. Mà ổng ông hòa thượng cũng hay thiệt á. Mày nghe chữ kỳ, kỳ nhưng mà rất là hay.

[29:39]Cái hôm nay là bản chất cuộc đời là đau khổ, cái chỗ này là cái thử thách trí tuệ của người đệ tử Phật á.

[29:49]Ta mà chưa thấy rõ bản chất cuộc đời là đau khổ hoàn toàn, thì ta chưa có trí tuệ trong Đạo Phật. Mặc dù có một lúc nào đó, đôi khi ta có cái cảm thọ vui khởi lên. Ví dụ như chùa mình đang cần cất, tự nhiên có người đem cho một đống tiền, vui không? Vui chứ. Hoặc là mình sau bao ngày tháng học hành vất vả, mình thi đậu điểm cao, vui không? Vui, đều là những cảm thọ vui, mà những cảm thọ vui đó nó xuất hiện rất nhiều trong cuộc sống của ta tùy thuộc vào cái phước của ta nữa. Ví như đời xưa mình đã tạo nhiều cái phước rồi thì bảo đảm đời nay nó sẽ nhiều lần chúng ta được những cơ hội gì đó, những cái may mắn gì đó mà những

[30:28]cái điều đó nó làm cho tâm ta xuất hiện cảm giác vui, cảm thọ vui. Nhưng dù có cảm thọ vui, ta vẫn thấy nó vẫn là đau khổ. Phải nhìn ra cái đó rồi mới gọi là người hiểu được Đạo Phật á, đó là hiểu được Khổ đế. Cho nên vì vậy, chỉ có Phật với A-la-hán hiểu được Khổ đế tới tột cùng, còn tất cả chúng ta ngồi đây không ai hiểu được Khổ đế tới tột cùng. Ta hiểu một phần, phần còn lại là do tin, tin Phật mà thôi. Tức là chỗ đó ta không thấy đó là khổ, nhưng vì ta tin Phật, Phật nói bản chất cuộc đời là khổ nên ta tin chắc là nó cũng khổ, chứ thấy là ta thấy không nổi. Nhưng tôi nhớ hồi đó có một lần lúc đang còn ở trong chúng tu,

[31:11]thì có cái anh bạn hàng xóm, cái ảnh nghe tin mình đi tu cái ảnh vào chùa ảnh thăm. Ảnh tới chùa ảnh thăm rồi cái ngồi nói chuyện, thì cũng khuyên bảo ảnh về ráng tu tại ảnh nào giờ ảnh cũng chưa có hiểu Đạo Phật lắm, hôm nay mới bắt đầu ảnh tìm hiểu tại ảnh thấy có người bạn trong xóm mà đi tu vậy, cái ảnh cũng tò mò, ảnh hiểu. Thì mới nói ảnh câu này thôi. Nói: Đạo Phật thì mênh mông giáo lý, nhưng mà bây giờ đặt vấn đề với anh một câu này: Ngày nào đó tay anh cầm một chồng tiền, bây giờ một chồng tiền thấy nó đơn giản chứ hồi xưa mà cầm một chồng cái này là khủng khiếp lắm á, ngày nào đó tay anh cầm một

[31:45]chồng tiền mà anh vẫn thấy bản chất vẫn là khổ, tức là anh hiểu Đạo Phật. Ngồi ảnh nhíu mày ảnh nói không hiểu. Không biết bữa nay ảnh hiểu chưa nữa, tại rồi từ đó không gặp lại nữa. Thế là những lúc mà ta thấy ta được rất nhiều, những lúc mà ta thấy ta vui rất nhiều, mà ta vẫn hiểu bản chất nó là đau khổ, thì ta là người rất có trí tuệ. Đó là Khổ đế. Cho nên cái phần Khổ đế này, cái phần riêng phần Khổ đế này không, ai xung phong mà thuyết trình về đề tài này, thì là tạo nên một cái nền tảng rất là chắc về Tứ Diệu Đế. Nên mong như vậy. Cái Khổ đế chúng ta giảng được rất nhiều đề tài, riêng cái Khổ đế.

[32:23]Giờ qua tới Tập đế. Tập đế là nguyên nhân của đau khổ. Nguyên nhân của đau khổ là gì? Nguyên nhân của đau khổ là gì? Cứ tự do nói, đừng theo sách vở, bằng cái chiêm nghiệm của chính mình.

[32:42]Quý thầy, quý cô hãy mạnh dạn trả lời, thậm chí hỏi ngược lại. Dạ, nguyên nhân khổ là do vô minh. Tuyệt vời! Nói vô minh không bao giờ trật hết trơn á. Thầy nãy thầy nói tham lam đó thầy, tham lam là hệ quả của vô minh. Nói vô minh nghĩa là nắm trọn hết trơn, nắm nắm hết không còn cái gì trật hết trơn á. Vô minh nhưng mà vô minh là gì? Hổng biết à, ai biết vô minh là gì khen hay à. Ai mà biết được vô minh là gì thì thưởng ngay một chuyến quay Trung Quốc liền hổng nói tiếng nào. Tại vì sao? Sự thật, khi ta chứng A-la-hán ta mới biết vô minh là gì. Đó là lý do mà cái chữ vô minh này chẳng có ai định nghĩa được hết trơn á.

[33:26]Nhưng mà hễ ta nói vô minh là nguyên nhân của đau khổ là xin thưa không bao giờ sai. Nhưng mà tuy nhiên, bây giờ ta vì niềm tin với Phật cho nên ta chấp nhận: "Dạ thưa vô minh là nguyên nhân đau khổ", thì Phật tử lại hỏi là: "Thưa thầy, thưa cô, thầy cô nói nguyên nhân đau khổ là vô minh, vậy vô minh là gì?". Mình không trả lời nổi luôn, tại chính mình cũng không biết nữa, mà mình ngừng ngừng ngang đó rồi cái người ta không hiểu. Mà người ta không hiểu thì mình không làm tròn trách nhiệm của một người Sa-môn đệ tử Phật mà giáo hóa cho chúng sinh. Cho nên vì vậy, ta phải hạ thấp cái vô minh này thêm

[34:01]mấy tầng bậc để lần lần cho cho người nghe họ hiểu. Từ vô minh sinh ra cái gì? Tham hả? Sớm quá, sớm quá. Cái đó là nói 12 nhân duyên đó còn cực kỳ khó hiểu nữa. Một lát để ta so sánh. Cái 12 nhân duyên nó chính là quá trình này nè. Đúng ra 12 nhân duyên là từ cái vô minh mà đi tới đau khổ á là 12 nhân duyên á, nhưng 12 nhân duyên nó có một cái đường đi triết lý của nó hơi cao, lúc nào đó ta sẽ nói về điều đó. Bây giờ ta nói theo kiểu bình dân học vụ chúng ta trước. Nghe cho dễ hiểu, cho người nghe dễ hiểu. Chứ vô minh duyên hành, hành duyên thức, đố ai biết á. Vô minh duyên hành, hành duyên thức,

[34:39]thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, đố ai biết á. Cái đó là một cái bài giảng chuyên sâu. Tức là cái mà 12 nhân duyên mà để hiểu được là phải giảng cho Tăng Ni mà Tăng Ni có tu tập, tu tập chân thành mới hiểu nổi, còn Phật tử mình mà vô minh duyên hành, hành duyên thức, thôi thua. Sâu lắm. Cho nên bây giờ ta đang nói kiểu bình dân học vụ cho Phật tử nghe. Vô minh tạo ra cái gì? Hơi sớm, còn mấy bước nữa. Phải không? Do vô minh ta mới thấy có cái cái ta. Bắt đầu nó hơi rõ hơn chút xíu rồi. Vô minh là cái gì ta hổng hiểu nhưng mà nói chấp có cái ta bắt đầu mình thấy hơi rõ rõ ra, phải không thưa thầy?

[35:18]Hơi nó rõ lên một chút. Khi mà ta chấp có cái ta rồi, ta mới phát sinh một cái tâm lý, tâm lý gì?

[35:29]Mình ngừng ngang nói chuyện chút xíu cho vui. Vừa rồi có một cái một bài viết của mấy Phật tử nói: "Bây giờ cái lực lượng trong giáo hội này là Ni đông hơn Tăng và cư sĩ thì còn đông hơn Ni nữa, đúng không ạ?". Nhưng mà công việc trách nhiệm thì thường gom về cho ai? Cho Tăng. Nên có người kiện, có người kiện. Mà đúng ra sau này cũng vậy, sau này ta phải phát huy cái năng lực của Ni giới và cư sĩ lên. Giờ tiếp nè, khi mà ta có cái chấp ta rồi thì nó phát sinh tâm lý gì kế tiếp?

[36:08]Ích kỷ. Ai vậy? Đúng là giỏi luôn, chính xác luôn. Ủa, đọc sách rồi? Trời đất, đọc cái giáo trình của người ta rồi còn Cầm Trời ơi, tưởng hay quá chứ ai biết đâu.

[36:27]Thấy có ta rồi bắt đầu có ích kỷ phải không? Tức là chỉ muốn cho mình. Và khi chỉ muốn cho mình rồi nơi mới phát sinh ra cái tình cảm, tới đây mới gọi là cái ái nè, là nguyên nhân của đau khổ là do ái là bắt đầu Phật nói ngang chỗ này cho chúng sinh dễ hiểu. Tức là có thương có ghét. Hai trạng thái cái tâm lý này. Mà Phật nói nguyên nhân của đau khổ là Phật cắt ngang đây Phật nói: "Thương ghét á". Mà trong 12 nhân duyên cũng nói vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập... duyên duyên ái, cũng ngang chỗ này. Cũng ngang bắt đầu chỗ này là ta thấy có quy trình.

[37:03]Mà phải có cái tâm lý này có thương điều này, có thích điều kia, có ghét điều nọ, có chán, có bỏ, thù hận, có đam mê cái nọ, bắt đầu mới thành chuyện. Người ta mới làm cái gì? Có thương có ghét rồi mới có cái gì? Mới tạo nghiệp. Bắt đầu mới làm mới quậy á. Có thương có ghét rồi bắt đầu mới có quậy, tức là tạo nghiệp. Thời ta đã nâng đỡ người này, ta đã chà đạp người kia, ta đã giết hại, ta đã nâng đỡ, ta đã cứu sống người nọ, tức là từ thương ghét này bắt đầu ta tạo nghiệp. Thì trong nghiệp này nó có nghiệp lành có nghiệp dữ, hai loại, là do cái tâm lý thương ghét. Mà khi đã tạo nghiệp rồi thì sao?

[37:46]Khi đã tạo nghiệp rồi thì sao?

[37:51]Thì nghiệp lực buộc ta phải phải

[37:56]phải tái sinh. Và cái chữ sinh này ta gặp ở đâu? Chữ sinh này ta gặp ở đâu? Sinh lão bệnh tử khổ nè, khởi đầu của cái sự khổ. Đó, ta nhớ là tám khổ thì cái sinh là ở đầu, đó. Như vậy là rõ ràng là nguyên nhân vô minh mà thầy đã nói nè. Cái thương ghét mà thầy nói tức là cái tham lam đây nè thầy, dạ, còn thầy kia nói vô minh là nói đây luôn. Thì trong cái tiến trình á, cái diễn trình đó từ cái vô minh tới tái sinh bắt đầu thời điểm đau khổ là có cuộc sống, ta có đời sống là có đau khổ là nguyên nhân. Tuy nhiên, ví dụ như là bây giờ ta nắm cái quá trình này rồi, ta nắm quá trình là nguyên nhân của sinh là đau khổ

[38:35]mà quá trình nó đi ngược lại là tới vô minh. Mà khi ta giảng, ví dụ khi sau này khi ta thuyết trình, ta thuyết trình ở trong lớp này, trong lớp hạ này, hoặc là sau này khi ta giảng những cái lớp giáo lý tại chùa ta thì những mỗi cái giai đoạn này, mỗi giai đoạn này ta thuyết trình thành những bài pháp rất là hay. Phân ra những bài pháp rất hay. Ví dụ mình lấy ra cái ích kỷ mình giảng. Cái người mà cao thì người ta mới giảng lên từ từ từ từ từ từ từ. Tới cái chỗ vô minh thì không ai giảng nổi, thì thôi ta bỏ ngang đây. Nhưng mà ví dụ ta dạy cái lớp giáo lý mà nguyên nhân của đau khổ đó, tái sinh là đau khổ á, bắt đầu ta giảng về cái tạo nghiệp trước,

[39:09]là cái thấp nhất, dễ hiểu nhất và hấp dẫn nhất ha. Mình nói: "Trong đời sống con người, ta có tạo nghiệp lành, nghiệp dữ, nghiệp thiện, nghiệp ác". Là những nghiệp thế nào là nghiệp lành, thế nào là nghiệp dữ, thế nào là thiện, thế nào là ác, ta giảng cái này chừng ba bốn chục bài được về nhân quả. Cái này được, phải không? Quý thầy cô đồng ý không? Bài này giảng rất là hấp dẫn, tại vì nói về nghiệp chúng sinh là mênh mông thiên địa, đủ thứ chuyện trên đời hết. Một cái niệm khởi nhè nhẹ trong đầu mình đã thành nghiệp. Ví dụ mình thấy một cái người đáng kính, mình khởi tâm kính trọng là đã thành cái nghiệp lành.

[39:43]Còn mình thấy một người đáng kính mà mình mình coi thường là thành cái nghiệp dữ, vân vân. Đó, cái tạo nghiệp này nó từng chút từng chút. Hoặc là một cái người mà khi gặp ai cũng vui vẻ nở một nụ cười cũng thành cái nghiệp rất lành trong suốt cuộc đời của họ. Sau này những kiếp sau sinh ra mặt mày họ tươi đẹp như hoa, là chỉ vì cái tâm họ hoan hỉ với mọi người. Dù kiếp đó họ chưa đẹp, kiếp đó họ chưa đẹp, nhưng mà họ có cái hay là trong suốt đời sống gặp ai họ cũng chắp tay chào, cười tươi, cười làm cho mọi người dễ chịu, thấy họ dễ chịu, chứ không phải nhập mình cứ chầm quầm chầm quầm đi đâu thấy chầm quầm là đời sau mình mặt mình xấu như ma liền.

[40:19]Còn cái người đó họ xấu nhưng gặp ai họ cũng cười tươi đẹp, kiếp sau đẹp liền. Thì những cái đó cũng thành nghiệp lành nghiệp dữ, cho nên cái bài mà tạo nghiệp mà ta giảng á là mênh mông thiên địa, giảng ba bốn chục bài chưa hết đề tài này. Rồi bắt đầu cao hơn ta giảng về tâm lý thương ghét là xuất hiện nơi con người có yêu điều này, chán điều kia. Thương điều này nhưng tại sao thương? Tại sao chán? Hoàn cảnh nào làm ta thương, hoàn cảnh nào làm ta chán? Mà nguyên nhân tại sao? Tại vì cái gì lợi cho ta thì ta thương, cái nào không lợi cho ta thì ta ta chán. Tại sao ta ta thích cái nhà giàu? Ta thích cái nhà cao vì cái nhà cao ta ở sướng. Ghét cái nhà tranh?

[40:55]Vì nhà tranh ở lạnh lẽo, chật. Tại sao ta thương người đó? Tại người đó cho ta tiền nhiều, giúp đỡ ta nhiều. Tại sao ta ghét người đó? Người đó tối ngày nói xấu ta không. Tức là xoay quanh cái bản ngã này mà ta có cái tâm lý tâm lý thương ghét. Cho nên cái bài thương ghét này giảng được là khoảng bốn năm bài. Ta phân tích ra thành bài giảng, ta có thể giảng cho Phật tử nghe bốn năm bài về tâm lý thương ghét, tại sao thương, tại sao ghét. Mà cái lợi của cái giảng cái phân tích tâm lý thương ghét này sau đó là gì? Là người Phật tử họ nghe được rồi á, họ bắt đầu kiểm soát cái tình cảm họ lại được.

[41:25]Khi họ thấy họ thương ai, họ mới phát hiện ra: "À, ta thương người đó vì ta ích kỷ, có lợi cho ta. Tại sao ta ghét người đó? Tại vì bất lợi cho ta". Từ đó họ kiểm soát được, cái họ từ từ họ nhẹ bớt cái thương ghét này mà họ sẽ bớt tạo nghiệp. Nên khi ta phân tích kỹ cái tâm lý thương ghét này rồi, ta cũng làm lợi cho chúng sinh rất là nhiều. Tức là không có gì hay bằng biết rõ chính mình và chiến thắng được chính mình, mà khi biết được cái bản chất thương ghét trong lòng mình là ta bắt đầu kiểm soát được tâm hồn mình từ từ từ từ, rất là hay. Rồi bắt đầu cao hơn tới ích kỷ. Giảng tới cái bài này thì giảng bắt đầu khó giảng

[42:01]từ từ rồi, tại tâm lý nó trừu tượng dần dần. Ích kỷ là gì? Chỉ muốn lợi cho mình, chỉ muốn lợi cho mình. Là đời sống con người ta hầu hết chỉ muốn lợi cho mình. Thế sẽ có người hỏi mình liền: "Thưa thầy, thưa cô, con thấy đâu phải ai cũng muốn lợi cho mình? Trong đời sống này con thấy đã có nhiều người biết hy sinh, phải không? Biết phụng sự cho tha nhân, biết vị tha, biết nhường cơm sẻ áo. Và có những người đã hy sinh trong thầm lặng mà không ai biết hết. Và như vậy, nếu nói rằng luôn luôn chúng sinh vô minh, luôn luôn chúng sinh chấp ngã để rồi luôn luôn chúng sinh ích kỷ, con không tin". Con người ta vẫn có người vị tha.

[42:40]Trong lịch sử đã chứng tỏ có người vì nước quên thân, vì đạo quên mình, vân vân. Thì đâu phải là ai cũng ích kỷ như mà theo cái công thức này. Mình trả lời sao? Trả lời sao? Ở bài này thầy trưởng lớp cũng khuyến khích mọi người làm thành bài thuyết trình chỗ này để trả lời câu đó cho người ta. Nha. Thì cái nhóm nào mà lên mà trả lời cái này á là giúp cho toàn bộ đại chúng của mình sau này khi ai hỏi câu đó mình không bí nữa. Tại đã có một cái nhóm đứng lên thuyết trình cái đề tài này rồi. Nhớ chia tổ, chia nhóm ra thuyết trình nha, ở đây nhiều đề tài hấp dẫn lắm. Tứ Diệu Đế không là mình làm hết mùa hạ này chưa xong.

[43:20]Cứ thay phiên nhau lên thuyết trình cả mùa hạ này chưa xong. Nó ích kỷ là gì? Tại sao vẫn có người vị tha mà cái công thức này? Rồi chấp ngã, chấp ngã là gì? Tưởng có một cái ta thật, có cảm giác như có một cái ta thật ở đây, khác với mọi người, khác với mọi vật. Mà Phật nói đó là cái chấp, vì nó chỉ là một cái ảo giác không có thật. Nó không có thật, mà ta thấy rất thật. Ta thấy rất thật. Tại sao là ta thấy rất thật mà Phật nói là không có thật? Nó khác nhau chưa? Đây chỗ này là chỗ trừu tượng, cực kỳ trừu tượng. Cái chỗ này phải người đã vào thiền định mới bắt đầu nhìn thấy nó, tại sao nó không thật.

[44:02]Thấy nó thôi chứ chưa có hết nổi đâu, tại vì diệt được chấp ngã là thành A-la-hán mất tiêu rồi. Diệt chấp ngã là bứt luôn vô minh rồi, còn gì nữa đâu. Cho nên, ngang cái bài chấp ngã này là bài khó giảng cho Phật tử rộng rãi được, mà chỉ giảng cho Tăng Ni, giảng cho những Phật tử mà đã có cái công phu tu tập nhiều, chứ không có giảng rộng rãi được vì rất là trừu tượng. Đòi hỏi chính bản thân mình phải có tu hành rất nhiều, mà mình phải có biện tài cực kỳ là khéo léo, tinh tế mới có thể trình bày cái đề tài chấp ngã này được, mà chính bản thân mình cũng phải suy nghiệm rất là nhiều. Đó thì bây giờ mình ngồi một cách thực tế đây,

[44:41]mình thấy rất rõ là mình thấy có cái ta thật khác với mọi người, mọi vật. Và ta làm cái gì cũng trên cái ta đó hết. Bây giờ mình đọc lại kinh, Đức Phật cũng thấy có cái ta. Đức Phật cũng nói à, "Ta sẽ đi đường này, các Tỳ-kheo hãy đi đường kia", vân vân. Như vậy rõ ràng Phật cũng có ta. Tại sao nói Đức Phật vô ngã? Mà tại sao nói là cái ngã không thật, mà mình thấy rất rõ, vân vân? Những điều đó phải được trình bày, bới móc ra hết. Đây là tới cái giai đoạn tu hơi cao, quý thầy, quý cô mình phải tu rất là nhiều trong thiền định với chiêm nghiệm rất nhiều để hiểu điều này. Mà ta hiểu được điều này, công đức ta rất là lớn,

[45:16]mà trong việc giáo hóa chúng sinh cũng rất là dễ dàng, rất là dễ dàng. Cố gắng. Còn tới vô minh thôi miễn bàn, tới nó cảnh giới của chứng ngộ ta không nói nổi, ta không nói được thành lời. Rồi cái cái tiến trình mà từ vô minh cho tới tạo nghiệp tái sinh á, ta có thể phân thành 12 nhân duyên được. Nhưng cái đó thôi một bài khác. Giờ qua tới Diệt đế. Diệt đế là gì? Người ta hay hiểu lầm cái chữ "diệt", nhiều người mà mới học Phật á, nghe cái chữ "diệt" cái ớn. Ai trả lời Diệt đế, "diệt" là gì? Mô Phật! Diệt đế là cũng như cái vị thầy mới vừa nói, tức là dứt, tức là mình triệt tiêu những cái mà vừa

[46:05]rồi nó Mấy cái vòng vòng nãy giờ nãy giờ nói. kết tập, nó kết tập từ cái gốc vô minh đó, kết tập chứa nhóm, thì mình diệt cái này, tức là mình chuyển hóa nó. Dạ. Mình chuyển hóa nó khi nó mới vừa ló ra là mình hiểu được nó và mình cắt đoạn nó đi. Mình không cho nó bò ra nhiều. Dạ. Dạ. Mô Phật! Thiệt ra quý thầy trả lời lầm thành Đạo đế hết rồi. Đó là cái tu. Quý thầy đang nói về cái tu, mà tu tức là Đạo đế. Nên chữ "diệt" hay gây hiểu lầm. Có ai có ý kiến gì thêm? Diệt, chứ cái chữ "diệt" á gây cho ta hiểu lầm rất nhiều. Vì ta cái chữ "diệt" này chúng ta thấy nó giống như là một một động từ, một hành động tiêu diệt.

[46:53]Sự thật Diệt đế là một danh từ.

[46:58]Thực sự Diệt đế là một danh từ, một noun, chứ không phải là một cái verb. Ai bước vào đạo Phật cũng đều bị lầm bởi chữ Diệt đế này. Diệt đế đúng nghĩa nó mà ta nói cho nó tích cực lên á, chính xác á, là thánh quả Niết-bàn. Nó là một danh từ, một cái noun. Còn ta nghe chữ "diệt", ta tưởng tiêu diệt, một hành động tiêu diệt, cho nên ta cứ tưởng phải tu, ta trả lời như tu, không phải. Tu là thuộc qua Bát Chánh Đạo là Đạo đế rồi, còn Diệt đế là danh từ, noun, là thánh quả Niết-bàn. Những quả thánh ta có thể kể từ Tu-đà-hoàn cho tới A-la-hán, còn nếu ta nói theo Đại thừa, ta sẽ nói những cái phẩm vị

[47:41]Bồ-tát cho tới cái Phật quả viên mãn, vân vân. Nhưng mà nghĩa nó là thánh quả, đắc đạo. Đây là trạng thái đắc đạo mà nơi đó không còn

[47:54]không còn khổ đau, không còn khổ đau. Nơi cái trạng thái đắc đạo đó không còn khổ đau, gọi là Diệt đế.

[48:04]Thì cái này, vì là cảnh giới chứng ngộ, cho nên ta rất là ngại dùng lời để diễn tả. Trong kinh Đại thừa hay diễn tả về cảnh giới chứng ngộ, hoặc một số thiền sư hay diễn tả về cảnh giới chứng ngộ, nhưng mà trong thời Nguyên thủy, Đức Phật tiết kiệm lời diễn tả về cảnh giới chứng ngộ. Ngài chỉ nói một vài lời rất cô đọng. Cho nên khi mà Ngài nói cô đọng quá, cái người ta không hiểu. Ngài cứ nói là đời là khổ, khổ, khổ, khổ, để cho mọi người tu. Cái có một Bà-la-môn lại gặp Phật hỏi: "Bạch Thế Tôn, con nghe nói Thế Tôn đã từng tu hành khổ hạnh, và dưới cội cây bồ-đề đắc thành Phật quả, có đúng không?" Phật nói:

[48:56]"Đúng." Nói: "Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn đắc thành Phật quả, Thế Tôn nói rằng mọi điều trên đời là khổ, có đúng không?" Đức Phật nói: "Đúng." Cái vị đó nói này: "Bạch Thế Tôn, như vậy con kết luận rằng khi một người đắc đạo thì người đó sẽ nhìn thấy mọi điều trên đời là khổ. Như con kết luận như vậy có đúng không?" Phật nói: "Sai." Phật mới nói rằng: "Khi một người đắc quả giải thoát, người đó thấy mọi điều đều là thanh tịnh giải thoát." Tới lúc đó đó Phật mới tiết lộ cái thấy của một người giải thoát, còn tất cả những bài kinh trước đó Phật đều nói tất cả là khổ. Cho nên trong kinh Nguyên thủy, Đức Phật rất hạn chế diễn tả cảnh giới chứng ngộ.

[49:43]Mà riêng qua tới kinh Đại thừa thì nói tràn lan hết. Nói "tâm như hư không, chiếu bừng cả pháp giới, không đến không đi, bao trùm cả ba thời mười phương", đó những cảnh đó đều là cái diễn tả về cảnh giới chứng ngộ, mà thời Nguyên thủy Đức Phật rất là hạn chế không nói. Hoặc các thiền sư cũng vậy, hay nói về cảnh giới chứng ngộ, nhưng mà thời Nguyên thủy thì ít nói. Nên cái để diễn tả những cảnh giới chứng ngộ này thì thường ta ta không dám nói, ta không dám nói. Vì ta nói ta sợ tạo thành cái kiến giải cho người học. Cho nên đó là lý do tại sao mà những cái công án các thiền sư ta không được quyền giải thích là vậy.

[50:21]Ví dụ cái người có hiểu cũng bỏ bụng để đó luôn, rồi ai hỏi mình, mình cũng trả lời cách móc ngoéo nào đó thôi chứ không trả lời. Nên có ông thiền sư cái ngày đó ổng ổng ổng ở cái cái vùng Đa Phước hay chùa Đa Phước trong đó có cái rừng tre mênh mông, rồi có một người mới ổng là nổi tiếng đắc đạo nên có một cái thiền sinh mới đến hỏi: "Bạch Hòa thượng, thế nào là rừng tre Đa Phước?" Ổng trả lời: "Một cây, hai cây nghiêng." Ông kia không hiểu, nói: "Dạ, thưa con không hiểu, xin Hòa thượng nói thêm." Ổng trả lời: "Ba cây, bốn cây cong."

[51:01]Hỏi ổng rừng tre thế nào thì ổng trả lời thì tre nó có cây nghiêng có cây cong có gì đâu, hỏi hoài. Nhưng mà nếu mà ổng chỉ trả lời tre thì có phải ổng đắc đạo không? Không. Trong mấy cái mà ổng nói nghiêng nói cong á, nó có cái gì ẩn chứa đạo lý giải thoát á. Cái quả chứng của ổng á nó ẩn trong đó đó. Mà ví dụ cái cái công án được viết lại trong sử, trong tục tạng, viết lại rồi người sau ta đọc tới thì có người đọc không hiểu nhưng có người họ hiểu. Ví dụ có người họ tu đến mức độ nào đó, họ đọc là họ hiểu liền. Họ hiểu cảnh giới ông thiền sư kia tới đâu liền. Nhưng mà hiểu rồi cũng làm ơn nín giùm luôn, không được diễn tả.

[51:34]Bởi vì đụng tới cái thánh quả Niết-bàn này mình dùng lời, mình dễ gây ngộ nhận, rất là khó. Nhưng ta nêu ra một vài tiêu chuẩn, ta ghi nhận lại tiêu chuẩn để không bị lầm là nơi Thánh quả Niết bàn này nó có ít nhất ba tính chất. Dĩ nhiên là vô số tính chất mà ta nói ít nhất là ba tính chất trên lý thuyết. Thứ nhất là hết khổ đau. Hết khổ đau này mà ta hay dùng cái chữ mà có vẻ tối tối là tịch diệt á, tịch diệt hết khổ. Nói về lợi ích cho bản thân á: tịch diệt, vắng lặng, thanh tịnh, hư vô gì đó, nói vô số điều gì đó là tất nhiên là bản thân mình là không còn đau khổ nữa, là tính chất thứ nhất.

[52:18]Tính chất thứ hai của cái Thánh quả này là lòng từ bi vô hạn. Cái người đắc quả rồi cái người đó buộc phải có lòng từ bi yêu thương chúng sinh, chứ không thể nói người đắc quả rồi mà nhìn mọi điều như là cây đá à không có. Cái lòng từ bi phải trải ra mênh mông, một tiếng chim hót mình cũng gởi cái từ bi đến đó, mặc dầu tâm rất thanh tịnh nhưng mà lòng từ bi mình đã gởi đến con chim rồi. Nhìn rừng cây xanh lòng từ bi mình đã tràn ngập hết rồi, mặc dầu lòng vẫn thanh tịnh nhưng mà cái từ bi luôn luôn lan tỏa. Và cái tính chất thứ ba nữa là trí tuệ, rất là sáng suốt, rất là thông minh, hiểu nhiều việc về đạo lý, về cuộc sống

[53:02]mà khi đi vào những kỹ thuật gì cần thiết trong cuộc sống thì cũng rất là lanh, cũng rất là thông minh. Đó là ba tính chất căn bản của cái Thánh quả. Cho nên nếu ta không biết, ta chỉ xoáy vào một cái tính chất thì sẽ làm giảm bớt cái giá trị của cái Diệt đế. Ta chỉ nói ờ Diệt đế là gì? Là nơi hoàn toàn vắng lặng, không còn đau khổ nữa thì nghe giống như có một cái gì nó cõi gì đó nó trống trơn, buồn tẻ. Và nhiều người chê đạo Phật bi quan, thụ động bởi vì chúng ta chỉ trả lời cho cái người nghe có một yếu tố là tịch diệt, vắng lặng làm cho họ hiểu lầm đạo Phật. Nên vì vậy, từ đây về sau khi mà ta giảng về Diệt

[53:42]đế thì ta phải giảng đầy đủ ba tính chất này. Dĩ nhiên là tới ba triệu tính chất nhưng mà đây là ba tính chất căn bản ta phải nắm. Là trong Thánh quả Niết bàn này ngoài cái tịch diệt, hư vô, chấm dứt mọi đau khổ luân hồi tái sinh ta còn có cái từ bi và trí tuệ mênh mông, vũ trùm. Ở đây vì cái Diệt đế là cái quả chứng trừu tượng quá cho nên ta khó nói thành lời. Nhưng ta đánh giá cái thiện căn tu hành của một người là qua cái chỗ hiểu của cái Diệt đế này. Ta đi tu ta chưa chứng quả, chưa chứng quả mới đi tu chứ chứng rồi đi tu làm chi? Chứng rồi mình lên mình làm Thánh cho nó sướng chứ đi tu làm chi?

[54:26]Vì ta chưa chứng quả nên ta phải đi tu. Nhưng mà cái người tu á mà tự nhiên đối với cái Thánh quả Niết bàn này tự nhiên có cái niềm tin rất là mạnh, có cái cảm nhận rất là sâu thì người đó có căn tu đắc đạo. Người đó có thiện căn rất là lớn. Đời người đó có thể vất vả, đôi khi cũng có phạm sai lầm nhưng chắc chắn sẽ đi tới quả chứng. Còn cái người mà đối với cái Diệt đế, đối với Thánh quả Niết bàn ba cái tính chất này mơ mơ hồ hồ, không quan tâm, ta biết người này thiện căn tu hành rất thấp. Tu bữa nay không biết hoàn tục bữa nào hoặc là nếu mà cứ nằm dài trong chùa cũng không lợi ích cho chúng sinh được vì cái cảm nhận về Diệt đế này ít quá, thấp quá.

[55:10]Do đó là ta đánh giá cái căn tu của một người ở nơi cái cảm nhận của người đó đối với Niết bàn, dù người đó chắc chắn là chưa chứng quả. Nhưng mà người nào đối với Thánh quả Niết bàn có cái niềm tin mãnh liệt, có cái khát khao, có cái cảm nhận sâu xa, đó là người có thiện căn tu rất là dày, người đó rất đáng kính dù chưa chứng. Còn người nào tu vòng vòng vòng đủ thứ chuyện, nhiều khi lấy được bằng cấp cao, làm chức to đúng không ạ? Nhưng mà đối với Thánh quả Niết bàn này cái cảm nhận rất là cạn, không hướng tới nhiều, không khát khao nhiều, người đó căn tu rất là ít, rất là ít, tu lâu mà không có phước, không có là phước điền cho chúng sinh nương tựa được.

[55:53]Qua tới Đạo đế, Đạo đế là phương pháp tu để ta đạt được cái Thánh quả Niết bàn thì gồm có mấy điều?

[56:03]Mấy điều? Tám điều: Bát Chánh Đạo, nha. Bát Chánh Đạo không được suy nghĩ, nhắm mắt nói một cái rẹt liền. Ai đứng lên giơ tay nói cái rẹt liền không suy nghĩ? Nói chứ làm đệ tử Phật Bát Chánh Đạo không được quên nha, không được thua, không được không được quên, phải thuộc như cháo. Bắt đầu là Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh... Chánh... Tạm thời là thôi coi như ta thuộc, nhưng mà nói thiệt kiểm tra kỹ một vài người sẽ có người lộn đó nha. Nhưng mà không được lộn nha, vì đây là những cái rất là căn bản, không được lộn. Chánh kiến là gì? Chánh kiến là gì?

[56:54]Chánh kiến là hiểu đạo lý cho đúng á. Nhưng muốn hiểu đạo lý cho đúng thì phải làm sao? Phải? Phải học. Mà học làm sao? Học phải gặp đúng thầy, đúng minh sư thiện hữu. Trên con đường ta đi tìm Chánh kiến mà nếu ta vô duyên không gặp được minh sư coi như cuộc đời ta bỏ, kiếp đó bỏ, cầu qua kiếp khác gặp ông thầy khác. Tại vì không gặp minh sư là hiểu sai rồi. Mà ta không có Chánh kiến rồi thì bảy cái Chánh còn lại coi như bỏ luôn, trật đường. Nên cái Chánh kiến cực kỳ quan trọng. Nhưng mà còn những cái Chánh sau á như Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp là thuộc về hành động hoặc là Chánh niệm, Chánh định là tu hành rồi á thì những

[57:38]cái Chánh đó nó cũng bổ sung lại cho Chánh kiến. Ví dụ như bây giờ ta hiểu nhân quả, hiểu từ bi nó lơ mơ thôi. Học thì có hiểu đó, học thì à ông thầy ổng nói là từ bi là ta ngồi ta thương yêu khắp chúng sinh, là người thân, kẻ oán rồi côn trùng hay là chúng sinh trên cõi trời, cõi người, dưới địa ngục đều thương hết, lý thuyết là như vậy. Nhưng mà ta phải ngồi ta tư duy, ta ngồi trước bàn Phật ta rải lòng thương yêu, rồi trong đời sống ta tập thương yêu. Mà cứ tâm thương yêu mà không giúp ai đồng nào có phải thương yêu không? Nói xạo, nói dốc á. Cho nên hễ đã thương rồi phải thò tay ra móc túi vô lấy ra cái gì hoặc là

[58:14]làm cái gì giúp nhau chia sẻ nhau cái gì trong cuộc sống mới gọi là từ bi. Cho nên để từ cái Chánh kiến mà hiểu được từ bi, ta phải có cái Chánh tư duy mà quán từ bi và ta phải có cái Chánh nghiệp thực hành cái việc mà thương yêu giúp đỡ chúng sinh. Nên ba cái đó từ cái Chánh kiến, Chánh tư duy tới Chánh nghiệp nó liên quan với nhau. Rồi bắt đầu ta đi vào thiền định, ta chứng được Chánh niệm hoặc thậm chí ta chứng luôn Chánh định, lúc đó lòng từ bi nó tuôn trào, nó bung rộng ra thì ta thật sự tới lúc đó ta mới bổ sung trở lại cái Chánh kiến của ta về từ bi hiểu như thế nào. Chứ không phải hễ mà học là hiểu, không có đâu.

[58:50]Học, hiểu một phần, thực hành trong Chánh tư duy, thực hành trong Chánh ngữ, trong Chánh nghiệp, thực hành trong Chánh niệm, trong Chánh định bắt đầu mới hiểu trở lại cái Chánh kiến của ta. Nên Bát Chánh Đạo nó là một cái vòng tròn hỗ tương lẫn nhau chứ không phải là cái này sinh ra cái kia rồi không sinh ngược lại đâu, nó là hỗ tương lẫn nhau hết. À trong cái Chánh kiến á căn bản nhất là luật nhân quả nghiệp báo nha. Ta đến với đạo Phật, ta tu theo Phật mà không hiểu kỹ nhân quả là một cái thiếu sót rất lớn về Chánh kiến. Hôm nay thì không có nói. Còn Chánh tư duy là ta thanh lọc cái nội tâm của mình thuần thiện,

[59:27]đạo đức và làm sao mỗi cái suy nghĩ khởi lên đều phù hợp với đạo lý. Cái chỗ này là khó. Cái ải này nhiều người không vượt qua được. Nhiều khi tu suốt đời chưa đạt được cái điều này. Tu suốt đời mà đôi khi có những ý nghĩ khởi lên nó sai với đạo lý mà không tự biết để sửa. Có khi tới già rồi vẫn chưa xong. Có khi mười kiếp rồi vẫn chưa được cái này. Còn nếu người nào mà ta có cái căn lành á kiểm tra mình rất là kỹ, kiểm soát rất là kỹ, từ mỗi ý nghĩ khởi lên đều đối chiếu với ý nghĩ mình đối với giáo lý như vậy là có phù hợp hay không, chỉnh lại liền, sửa lại liền. Ví dụ bây giờ ta đi ta gặp mấy người mà cái người đó mặt mày đanh đá,

[1:00:07]hung tợn, nói năng bặm trợn cái mình mới nghĩ trong bụng mình: "Cái mặt thấy ghét." Thì cái ý nghĩ tự nhiên thôi tại cái người đó đúng là thấy ghét thiệt. Hung dữ, nói năng bặm trợn, chửi tục chửi bậy um tùm cái mình khởi lòng thấy ghét. Thì ngay cái đó mình suy nghĩ lại liền mình nói coi thấy ghét như vậy có đúng với đạo lý không? Có không? Không. Nhưng mà đạo lý dạy ta như thế nào? Phải, phải thương xót khi thấy chúng sinh lầm lỗi, chứ không được ghét. Ta rất ghét điều ác, điều xấu, nhưng không được ghét người xấu, người ác. Đó là chánh kiến, đó là đạo lý. Và ta buộc phải uốn nắn cái suy nghĩ mình lại liền.

[1:00:48]Mình vừa mới ghét cái người xấu, phải sám hối liền. Niệm Phật một câu liền: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, xin cho con biết thương xót, thương yêu người xấu, mong cho cái người xấu này đừng xấu nữa, biết Phật pháp để tu hành. Phải sám hối liền, đó gọi là chánh tư duy, nhưng điều đó ta làm âm thầm thôi. Nhưng một đời ta vậy, cứ lúc nào cũng chỉnh sửa từng cái tâm niệm của mình cho phù hợp với đạo lý thì ta đang tu tập chánh tư duy, mà người như vậy là người công đức rất là lớn. Những người như vậy được chư Phật, chư thiên theo hộ trì, tại họ ráng chiến đấu với từng sai lầm trong nội tâm của họ.

[1:01:25]Thế gian không biết, loài người không biết họ, nhưng chư thiên biết họ. Và những người đó luôn luôn được chư thiên hộ trì, luôn luôn được quỷ thần kính nể, tại vì từng cái ý nghĩ họ đã uốn nắn cho đúng đạo lý. Nhưng mà phải can đảm dữ lắm, chứ thường ta khởi lên cái ta tưởng ta đúng luôn. Cái mặt thấy ghét, mặt không ai ưa, không thèm nói chuyện đâu. Nhưng mà mình nói mình cứ làm tới làm tới luôn, mình tưởng mình nghĩ là đúng rồi, mà không ngờ cái sai này nó kéo theo cái sai kia. Còn chỉ những người rất gan dạ, dừng lại, tự thấy mình sai, sám hối với Phật, đổi ý niệm mình lại: chánh tư duy. Rồi chánh ngữ.

[1:02:02]Chánh ngữ là cái gì? Là, là lời nói. Nhưng mà thời đại ngày nay, ta phải hiểu cái chữ "ngữ" nó rộng hơn, là không phải chỉ miệng nói với vào tai người kia, mà có khi là sao? Chữ viết. Có khi là sao? Gõ vi tính. Có khi người câm truyền thông với nhau, cũng là cũng là chánh ngữ. Tức là mọi phương tiện truyền thông với nhau đều gọi là ngữ hết, ngôn ngữ. Mà chánh ngữ tức là, tu tập chánh ngữ là thế này: ta phải dùng cái phương tiện truyền thông mà ta có thể tạm gọi là ngôn ngữ, ta phải dùng cái ngôn ngữ để đem đến cho chúng sinh thứ nhất là,

[1:02:46]thứ nhất là sự an vui, thứ hai là đạo lý, đạo lý. Cho nên cái người nào mà khi ta tu tập ở trường xong, rồi ta về chùa ta, ta ở, mà ta thường hay hoằng pháp, hay tổ chức thuyết giảng, mở những lớp dạy đạo đức cho học sinh, cho thiếu nhi, cho Phật tử, thứ bảy, Chủ nhật, rằm, 14, sám hối, vân vân, thì người đó là đang tu tập chánh ngữ rất là tốt. Vì luôn luôn dùng lời nói của mình để đem đến thứ nhất là sự an vui, thứ hai là đạo lý cho người. Không nói cái điều gì làm người ta buồn, người ta tức, người ta khổ, người ta giận, người ta tự ái. Không được như vậy. Đôi khi có nghiêm khắc cũng là để dạy dỗ,

[1:03:31]chứ không phải là cái chính, không phải là cái chính là tu tập chánh ngữ. Mà suốt cả đời như vậy, cẩn thận từng lời nói, hễ nói cái gì chỉ là điều đem lại an vui và đạo lý mà thôi. Không nói chơi, không nói bậy, không nói tục, không nói điều xấu, điều ác, vân vân. Còn chánh nghiệp là mình gây tạo vô số công đức lành, gọi là chánh nghiệp. Mà chánh nghiệp thì nó vô số thôi, nhưng mà ta kể ra một vài điều căn bản: thứ nhất là kính tin Tam Bảo, thứ hai là thương yêu hóa độ chúng sinh, thứ ba là tu dưỡng rèn luyện bản thân. Ngay cả tập thể dục cũng là chánh nghiệp nha, tức là ta tập thể dục cho khỏe người cũng là chánh nghiệp.

[1:04:12]Rồi ngăn chặn, cảm hóa kẻ xấu, ủng hộ, ngợi khen người tốt, rồi bảo vệ chánh pháp khỏi nguy cơ bị người ta phá hoại. Đó, những cái đó đều là là chánh nghiệp. Mà khi có chánh nghiệp rồi đó, ta phải tu như vậy tới 3 năm, 5 năm, 10 năm, 20 năm, bắt đầu phước ta mới sung mãn từ từ lên. Mà khi phước sung mãn lên rồi, bắt đầu mới có chánh mạng. Chánh mạng là một đời sống dễ dàng, tự nhiên ta sung túc, không bị đói, bị kém nữa. Không còn phải chạy bữa trước lo bữa sau nữa, mà lúc đó thoải mái. Còn người thế gian khi mà chánh nghiệp có rồi thì họ được quyền chọn cái nghề nào đó họ thích. Chúng ta nhớ điều này, khi ta không có phước á, ta phải làm cái nghề bị bắt buộc.

[1:04:53]Ví dụ cái người nói: "Dạ, sao anh đi bán cà rem chi cực vậy?", nói: "Dạ con không còn biết cái gì để làm nữa, chỉ còn có thể bán cà rem." Không chọn lựa nào khác nữa, no choice, không còn chọn lựa nào khác nữa là chỉ có đi bán cà rem. Vì họ không có chánh nghiệp, không có phước nên cái mạng của họ bị ép. Còn cái người họ giàu, họ nói: "Nay tôi buôn bán nhà đất, mai tôi à tôi xin vô sở tôi làm, mốt là tôi tôi mở một cái kinh doanh công ty", muốn làm gì đó làm. Tức là họ được quyền chọn lựa cái nghề của họ, và trong cái chọn lựa đó thì hãy chọn cái "chánh", tức làm cái nghề gì mà cứ tăng thêm phúc, tăng thêm phúc.

[1:05:29]Còn nếu ta không có phúc, ta không chọn lựa được. Giống như có người hỏi chúng tôi, hỏi nói: "Sao nhiều người chết mà lâu đầu thai quá? Như trường hợp cái cô Phan Thị Bích Hằng mà đi tìm mộ liệt sĩ á, quý thầy quý cô có nghe không?" À, nói: "Nhiều người 40-50 năm rồi, 60-70 năm rồi vẫn chưa đầu thai, nói là tại sao vậy?" Chúng tôi trả lời: "Đâu có dễ đầu thai, làm gì có chuyện dễ đầu thai." Tại sao? Nói sao khó? Thì mình muốn đầu thai là phải có cái nhà họ chịu thương mình, họ nuôi mình từ nhỏ tới lớn thì mình mới đầu thai vô được. Còn mình đầu thai đại vô, nó đẻ xong cái nó quăng thùng rác liền. Đầu thai làm chi?

[1:06:05]Cứ chờ, cứ làm ơn chờ. Mà chờ ai? Chờ cái người nào mà mình đã thương yêu, đã lo lắng cho họ, có duyên nợ với mình. Bây giờ họ thành người trước rồi mình vô đó mình làm con họ để họ lo lại mình. Ví dụ như những cái người lính chiến đấu ngoài chiến trường, thì lúc ở trong chiến trường như vậy họ đã xách cơm cho ông thủ trưởng, đã vác súng cho ông thủ trưởng, đã lo lắng cho ông thủ trưởng, rồi ông thủ trưởng cũng chết luôn. Ổng chết rồi ổng đầu thai lại, ổng mới thành ổng lớn lên, rồi ổng cưới vợ, bắt đầu mình mới vô đó mình đầu thai, ổng mới thương mình chứ, tại mình có ân nghĩa với ổng mà. Thì trong quá trình mà chờ cho ổng chiến thắng xong,

[1:06:37]ổng ra ổng làm cán bộ, ổng già, ổng về hưu rồi ổng chết, rồi bắt đầu ổng đẻ vô gia đình nào đó rồi từ từ ổng lớn lớn lên ổng lấy vợ rồi bắt đầu mình mới đầu thai được, đâu có mau được. Mà nếu không ai chịu thương mình hết, đâu có đầu thai được. Cho nên không dễ. Còn cái người mà họ có phước á, lúc họ sống trên đời họ gieo ân nghĩa quá chừng, nhà nào cũng thương họ hết thì chết họ dễ đầu thai không? Rất dễ. Chọn nhà nào cũng được, thấy thích nhà nào vô nhà đó. Nói: "Vô nhà này á mình nữa mình lớn lên làm tiệm vàng, vô nhà kia lớn lên nữa mình đi học, vô nhà nọ lớn lên mình làm cán bộ", lựa lựa lựa lựa thôi vô làm cán bộ sướng, đầu thai vô.

[1:07:08]Là được quyền chọn lựa, tại vì mình quá có nhiều phước, mình ân nghĩa gieo quá nhiều. Cho nên cái người nào mà lúc sống á mình sống cho thật tốt, chết rất dễ đầu thai. Còn mà sống ích kỷ thì chết khó đầu thai. Thì chánh nghiệp, chánh mạng cũng vậy. Chánh nghiệp mà mình thật là sung mãn thì chánh mạng mình rất là dễ, sống đời sống sung túc, thong thả, thoải mái, rồi muốn làm nghề gì cũng được, muốn đi tu cũng được. Đi tu không bị đói, mà không đi tu ở ngoài đời cũng làm nghề gì cũng được. Thì đó, nhờ chánh nghiệp mới có chánh mạng. Sau khi có chánh mạng rồi, đời sống no đủ, thanh thản rồi bắt đầu tới chánh gì?

[1:07:41]Chánh gì? Chánh tinh, tinh tấn. Tới lúc này bắt đầu mới nói tới quyết tâm tu tập. Lạ chưa? Từ cái chánh kiến, chánh tư duy, chánh nghiệp đều là phải tu hết chứ. Nhưng mà tại sao tới chuẩn bị tu thiền mới nói tới chánh tinh tấn? Lúc này mới nói tới cái quyết tâm tu tập. Vì sao vậy? Bởi vì những cái chánh kia đó, mình tu lâu tu mau gì cũng không ép. Nhưng mà đụng tới cái chánh niệm, tức là ngồi thiền, bắt chân tu theo một pháp môn nào đó thì ta không biết tùy người, ta không có ý kiến. Người pháp môn này người pháp môn kia, ta không có ý kiến. Nhưng mà khi bắt đầu vào thiền định rồi thì cực kỳ khó khăn.

[1:08:21]Ngồi thiền thì đau chân, ngồi không nhúc nhích, tê mỏi đủ thứ hết. Đủ thứ chuyện, tâm thì loạn mà bắt phải ngồi cho yên. Nếu lúc đó không có quyết tâm phi thường thì không ai vượt qua được, không ai tu tiếp được hết á, tu 3 ngày bỏ. Mà trong khi cái nghiệp của ta phải tu 40 năm bắt đầu tâm mới bắt đầu yên. Mới 25 năm tâm chưa nhúc nhích, mà phải 40 năm mới yên. Mà tới 10 năm ta bỏ rồi thì vĩnh viễn không bao giờ đắc đạo. Vì vậy phải có cái chánh tinh tấn là cái quyết tâm phi thường dù tu không kết quả cứ tu hoài, quyết tâm tu hoài tu hoài, tinh tấn tu đều tu đều tới đủ 40 năm bắt đầu mới bùng vỡ nội tâm được, không phải dễ.

[1:09:02]Cho nên phải có cái chánh tinh tấn trước cái chánh niệm là vì vậy, là vì vậy. Còn cái chánh định, cái chánh định là phải đi qua bốn cái mức thiền từ Sơ thiền tới Tứ thiền thì những cảnh giới đó rất là thú vị, rất là cao. Hôm nay ta không có thời gian để diễn tả. Bây giờ ở đằng sau cái giáo trình này, chúng tôi có những câu hỏi gợi ý nên quý thầy quý cô sẽ dựa vào những câu hỏi này gợi ý và ta chia tổ nhóm để lập những đề tài thuyết trình về Tứ Diệu Đế. Bắt đầu kỳ sau mà khi chúng tôi trở lại dạy thì thỉnh quý thầy lớn lớn cũng phụ trong ban giám khảo chấm bài, có thầy Thích Minh Hòa phụ để chấm bài giùm.

[1:09:42]Còn những người thường ưu tiên cho lớp trẻ, ưu tiên lớp trẻ là chia nhau tổ nhóm để thuyết trình nha. Những câu hỏi gợi ý thế này: ví dụ như nếu có ai nói rằng: "Đời có khi khổ, khi vui thì ta trả lời làm sao?", đấy ha, hoặc là nói rằng có người nói rằng: "Phật giảng Tứ Diệu Đế khi mới vừa đắc đạo, cho nên mà cái gì nó mà mà giảng mà lúc ban đầu có khi nó còn thiếu sót, do đó cần phải bổ sung thêm về sau." Mà nếu mà mình nói là Phật giảng Tứ Diệu Đế mà còn thiếu sót chưa ổn, phải giảng thêm nữa thì như vậy không khác gì mình chê cái trí tuệ của Phật đắc đạo. Mà đúng là có nhiều người sau này le te sửa Tứ Diệu Đế đó nha.

[1:10:19]Đó là hiểu sai đó, là ta phải đứng vững chỗ này, bảo vệ Đức Phật. Mà không phải là bảo vệ Đức Phật vì thiên vị, mà đây là một sự thật, ha. Hoặc là tám cái điều khổ

[1:10:32]nói tổng quát người ta không thấy nó là khổ, người ta không thấy cái khổ đó nó bức xúc trong đời sống của mình. Cho nên vì vậy ta cần những cái bài thuyết trình nói về cái tám khổ này thật là chi tiết, tỉ mỉ, hấp dẫn để cho cái người nghe họ thấy rõ đúng là cuộc đời họ bị bao quanh bởi những đau khổ và họ phải tu hành. Nên đây cũng là một cái đề tài ta cần phải phải triển khai. Như Diệt Đế vậy, nãy ta nói Diệt Đế là cái quả chứng, mà diễn tả về quả chứng thì rất là trừu tượng, nhưng mà buộc ta phải giảng. Vì sau này quý thầy quý cô đi ra giảng về Tứ Diệu Đế, không thể bỏ qua Diệt Đế được. Mà Diệt Đế là quả chứng mà mình giảng mình lơ mơ lơ mơ,

[1:11:10]người ta thấy ủa đạo Phật tu không có gì hết trơn, tu làm chi. Cho nên vì vậy, dù cái Diệt Đế rất trừu tượng mà ta phải giảng cho rất hấp dẫn. Ta giảng hấp dẫn rồi, chúng sinh họ mới phát tâm tu theo đạo Phật. Cái gì cũng có thể giảng dễ được hết, Khổ Đế giảng dễ giảng nè, Tập Đế dễ giảng nè, Đạo Đế dễ giảng nè. Nhưng mà cái Diệt Đế đó là cái chỗ để người ta hướng tới, người ta tu. Tu hay không là do Diệt Đế đó. Ta giảng về Diệt Đế nào cực kỳ hấp dẫn, cao quý, lôi cuốn thì mọi người mới hứng thú, phát tâm Bồ đề mà tu theo đạo Phật. Còn ta nghe Diệt Đế ta giảng mơ mơ mơ mơ, giảng không rõ, người ta không tu theo đạo Phật

[1:11:47]là lỗi tại ta, lỗi tại cái người hoằng pháp. Do đó là ta phải cố gắng giảng Diệt Đế cho hấp dẫn và ai phải chịu trách nhiệm giảng về Diệt Đế? Cho nên cái nhóm nào, cái tổ nào á thầy nhớ phân công, cứ khuyến khích một vài nhóm diễn tả cái Diệt Đế, thuyết trình về Diệt Đế. Diễn tả được Diệt Đế mà hấp dẫn là công đức cực kỳ lớn, làm cho chúng sinh họ nghe họ mới mê đạo Phật mà họ tu. Chớ ví dụ như vì do Diệt Đế mình giảng lơ mơ quá cho nên người ta theo ngoại đạo hết. Người ta nói: "Tôi theo đạo Phật tôi không biết tu để làm gì nữa, còn tu theo cái đạo kia họ nói lên cõi trời, cõi trời cái gì sung sướng muốn gì cũng có,

[1:12:22]có sữa, bánh, mật bay đi thế này thế nọ, mặc quần áo đẹp thế kia." Nói có rõ, "Còn tu theo đạo Phật là được cái Diệt Đế, mà Diệt Đế là gì? Nói không có gì hết trơn." Mình thua liền, đạo Phật mình suy tàn vì không có người giảng Diệt Đế hấp dẫn. Nhớ điều đó. Cho nên vì vậy, người nào mà giảng Diệt Đế hấp dẫn, người đó làm cho đạo Phật hưng thịnh, làm cho nhiều người sẽ hướng về Phật pháp để mà quy y và tu tập. Cho nên khuyến khích là trong nhóm ta ai đó ráng mà phát tâm giảng cái bài Diệt Đế cho hấp dẫn. Ví dụ như là việc giữ giới và trau dồi đạo đức là nằm trong đế nào? Giữ giới. Chánh nào? Chánh nào? Chánh nghiệp.

[1:13:07]Chánh nghiệp là việc giữ giới, trau dồi đạo đức là Chánh nghiệp á. Ừ. Rồi cái việc mà ta sơ suất về giới luật, ta không nói phạm giới, nói phạm giới nghe ghê quá, ghê hồn, ta ta sơ suất về giới luật, có bị không? Có bị không? Ngay cả quý thầy lớn của ta cũng có từng bị, phải không? Cái việc ta vẫn dễ bị sơ suất về giới luật. Thì ta sơ suất về giới luật á, đôi khi ta biết ta sám hối, ta tu tỉnh lại để vượt qua. Nhưng mà cái người bên ngoài họ nhìn vô đó, họ cứ nói này nói kia, cũng gây làm khó chịu cho Tăng đoàn. Cho nên vì giờ vậy, có ai khi thuyết trình đề tài này là Chánh nghiệp mà chuyên về cái phần giữ giới,

[1:13:54]có ý kiến đề xuất gì để cho Tăng Ni vui thích mà trau dồi giới hạnh? Tức là không xem cái giới luật làm cái gì nó nặng nề, gò bó mà cảm thấy vui thích để trau dồi giới hạnh thì hãy thuyết trình đề tài này, cũng rất là rất là lợi ích. Ha, có ai xung phong giảng đề tài này? Hoặc là Chánh niệm, tức là pháp môn để tu tập nhiếp tâm. Nhưng mà hiện nay á thì có nhiều pháp môn. Có người tu thiền, có người tu thiền Bắc tông, có người thiền Tổ sư thiền và có người thiền Nguyên thủy, mà thiền Nguyên thủy cũng rất nhiều loại nữa. Và có người Bắc tông thì có người thì niệm Phật, có người trì chú, tức là những pháp môn.

[1:14:33]Thì bây giờ chúng ta đặt vấn đề thế này: Đâu là điểm chung cho mọi pháp môn để cho ta vẫn là một đạo Phật chung đồng? Tại vì nếu là cái này khác cái kia hẳn á thì như vậy là không phải một đạo Phật mà nhiều đạo Phật khác nhau. Do đó ta phải chứng minh cho mọi người thấy là tuy rằng các chùa tu nhiều pháp môn khác nhau nhưng phải có cái điểm chung. Và nếu ai không giữ được điểm chung đó là người đó tu sai, người đó ra khỏi đạo Phật. Đồng ý cho tu khác á, tu pháp môn khác nhưng anh phải giữ cho được cái điểm chung này. Và điểm chung đó là chỗ nào? Thì ai xung phong hãy trình bày điều này ra trong những lần tới nha.

[1:15:14]Hoặc là ví dụ bây giờ mà ta đi qua Lào, vào một buổi sáng ta sẽ thấy nhiều người tập trung đến chùa để nghe các sư giảng. Các sư giảng thế này: Là quý Phật tử đừng tham lam, đừng có làm gì hết á, làm gì nữa nó lại có cái mong cầu, có cái mong cầu rồi có cái tham lam, có tham lam rồi mình không tu hành giải thoát được. Cho nên cái người Lào họ không làm gì hết, họ không làm ăn, không làm kinh tế, không làm gì hết. Đường hư trước nhà họ ổ gà họ không sửa, không sửa, ngồi ngó. Hỏi sao không làm? Nói để cho Việt Nam làm. Việt Nam mình hầu như nuôi hết nước Lào luôn. Nhà có cái nhà lá, điện thì xài do Việt Nam cung cấp,

[1:15:53]xài chùa, nhưng mà mua cái máy lạnh về gắn xài cho nó sướng. Thành Việt Nam mình là người trả thuế để trả tiền cho Lào. Thì thôi, vì từ bi, vì tình anh em láng giềng ta chấp nhận bao cho họ. Nhưng mà cái quan điểm mà các sư dạy cho Phật tử là đừng làm gì hết là một quan điểm sai lầm hoàn toàn. Và chính điều đó làm cho Hồi giáo bước vào. Hồi giáo nó cực kỳ năng nổ, nó đi cho tiền, nó dụ theo đạo, mà theo đạo rồi nó bắt nó khống chế giữ luôn suốt đời, ai ra khỏi đạo nó giết liền. Và thế là Hồi giáo xâm nhập từ từ vào cái quốc gia đạo Phật, lấy lần lần, lấy lần lần tín đồ. Campuchia cũng vậy, Thái Lan cũng vậy, Hồi giáo cực kỳ tinh vi.

[1:16:28]Cho nên vì vậy, ta sẽ thấy nó có cái mâu thuẫn là nếu là ta xa lánh cuộc đời hết để ta lo tu thiền thì ta sẽ bị rơi vào khuynh hướng thụ động như là số các quốc gia Đông Nam Á đang bị. Và thụ động rồi, Phật giáo suy yếu rồi thì các ngoại đạo nó sẽ xâm nhập thay thế. Đó là cái thứ nhất. Còn bây giờ ta dấn thân vào cuộc đời để ta hóa độ chúng sinh thì liệu ta có bị đắm luyến thế gian hay không? Thì như vậy cái giải quyết cái mâu thuẫn này như thế nào? Cái mâu thuẫn mà ta vẫn tinh tấn tu hành để giải thoát vượt khỏi cuộc đời và một cái ta phải dấn thân để giáo hóa chúng sinh, lan tỏa cuộc đời, làm gieo rắc điều thiện cho cuộc đời này mà không

[1:17:11]đắm luyến thế gian này, cái mâu thuẫn này phải xử lý như thế nào? Và ai phải thuyết trình đề tài này? Đó, thầy Trưởng lớp nhớ phân công ra, phân nhóm ra. Ban Trụ trì trường hạ cũng hộ trì cho chúng con để chúng con có những bài thuyết trình đẹp, hay sắp tới như vậy nha. Rồi lúc đó là những lần tới bắt đầu là giảng, còn chúng tôi ở cương vị giáo thọ, chúng tôi không giảng nữa. Tới đây khỏe. Chỉ ngồi nghe, điều chỉnh, định hướng và chấm điểm thôi. Và cái thành tích là tới cuối hạ chúng ta phát thưởng thi đua. Xin cám ơn chư tôn đức đã lắng nghe, quý Tăng Ni đã chăm chú theo dõi, cám ơn hết tất cả.

[1:17:52]Xin chúc cho chư Tăng Ni một mùa hạ an vui, tinh tấn. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.