[0:10]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:28]Hôm nay chúng ta tiếp tục cái loạt bài về những điều khác biệt. Hôm nay chúng ta nói về cái đề tài khác biệt giữa giới tại gia và giới xuất gia. Chúng ta phân tích hai cái giới tu hành này, những điểm giống và những điểm khác nhau như thế nào, để chúng ta xác định cái vị trí của mình, xác định cái sự tu hành cho thích hợp, và biết những lúc nào nó vượt qua những cái ranh giới đó. Thường á thì mà chia chia chẻ, phân tích chi li á thì hay gọi là bốn chúng hay năm chúng gì đó, là: Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tức là cư sĩ nam, cư sĩ nữ; rồi tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni; có khi là thêm là sa-di, sa-di-ni, Thức-xoa-ma-na thì gọi là bảy chúng.
[1:25]Đó là phân tích kỹ theo giới. Nhưng mà nếu mình phân tích tổng quát thì chỉ có hai giới là giới cư sĩ và giới tu sĩ. Cả hai cùng là đệ tử Phật, cùng là những người hướng về con đường giác ngộ giải thoát của Đức Phật, nhưng lại ở hai cái hoàn cảnh khác nhau. Là người cư sĩ tại gia còn có nhiều trách nhiệm với gia đình, còn người xuất gia, chữ xuất gia nghĩa là đi ra khỏi nhà, người đó không còn trách nhiệm với gia đình nữa. Cái chữ xuất gia người Tàu dịch là xuất gia, còn tiếng Anh nó dịch là chữ renounce, là từ bỏ.
[2:21]Nhưng mà nói là bỏ cái cái gia đình đi, từ bỏ đi, vậy chứ mà lại có nhiều cái việc phải làm khác, lại có cái trách nhiệm khác. Trong hai cái giới như vậy đó, thì giới xuất gia được xem như là anh, là chị, là thầy; giới tại gia thì được xem như là em út, là học trò. Nói vậy không phải tại tôi đã xuất gia tôi binh, mà cái bình thường là như vậy. Bất cứ tôn giáo nào cũng vậy, cái người tu sĩ luôn luôn ở cái vị trí cao hơn cái người cư sĩ. Vì sao? Vì cái người tu sĩ là họ chuyên tâm đối với việc hành đạo, cho nên luôn luôn họ đứng ở vị trí cao hơn. Nhưng mà tuy nhiên, là nói là giới cư sĩ tại gia là em, là út, là học trò, nhưng mà
[3:20]đó là do cái mình nhìn trên thực chất á, mình gọi là như vậy. Là ví dụ như là mình nhìn bên ngoài vào, thì thấy là người tu sĩ cao hơn, người cư sĩ thấp hơn. Rồi tự quý Phật tử cũng tự thấy mình nhỏ hơn, nên gặp quý thầy, quý cô mình xưng con là vậy đó. Đó là cái cái tự mình nhận thấy như vậy, chứ còn mà trên cái danh nghĩa chính thức, thì không có ai bắt buộc điều đó, mà người ta chỉ xem người cư sĩ là bạn, chữ hữu, đạo hữu tức là bạn. Ở nước ngoài, thì người ta dịch rõ ràng lắm. Những người laity, tức những cư sĩ, là friend, là bạn. Còn chữ Trung Hoa ngày xưa dịch gọi là đạo hữu, tức là bạn đạo.
[4:10]Thì cái này coi vậy chứ nó lại cũng có cái phân biệt ở trong. Phân biệt ở trỏng là sao? Là cái người xuất gia là đạo chính thức, mà người cư sĩ tại gia là bạn của cái đạo đó thôi. Nên cũng còn hơi ở ngoài rìa. Cứ nói tới nói lui cũng chê một chút à. Mà sự thật á thì nó... không mà cũng chê thiệt. Nhưng mà lát mình phân tích mình thấy vấn đề nó không đơn giản như vậy. Tại vì có những trường hợp mà người cư sĩ họ lại tu tốt hơn, hoặc có khi cái phước họ lại lớn hơn. Đây là điều rất là lạ. Nó không có cố chấp. Không cố chấp không hẳn là cái người xuất gia luôn luôn lại là có có giá trị thật nhiều hơn cư sĩ đâu.
[4:56]Giá trị thực thôi, chứ còn trên hình tướng thì thấy luôn luôn người xuất gia có vẻ cao hơn. Nhưng mà còn cái giá trị thực là khác á. Là không căn cứ vào hình thức được, mà còn nhiều cái cái yếu tố để mình đánh giá. Thì như vậy trong cái hai giới mà đệ tử của Phật đó, thì chúng ta thấy cái người đầu đàn là người tu sĩ, còn cái người bạn, người em là người cư sĩ. Bây giờ chúng ta sẽ nói từ từ những cái điểm khác biệt. Những điểm khác biệt. Thứ nhất là bổn phận. Là người tại gia, chữ tại gia là ở tại nhà, thì ở lại với bổn phận gia đình, làm các trách nhiệm đối với những người trong gia đình mình,
[5:45]như là cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cháu, họ hàng, với công sở, vân vân. Đó, đó là người tại gia bị đặt trong một cái trách nhiệm chằng chịt, bắt buộc như vậy. Nếu không làm tròn là có tội. Đây là một cái vấn đề đạo lý hẳn hoi. Đi tu rồi thì cái trách nhiệm nó nhẹ đi, và nhiều khi người ta có quyền phủi đi luôn, không cần. Nhưng mà người tại gia cư sĩ, thì cái đạo lý, cái đạo đức để sống là làm tròn trách nhiệm với gia đình. Không thể mà mình là cư sĩ tại gia mà lại lơ lơ làm công việc của người xuất gia được. Đây là chỗ chúng ta phải để ý. Vì có nhiều người cư sĩ cũng phát tâm rất là tốt. Là sao?
[6:42]Là thấy cái hạnh xuất gia của quý thầy, quý cô nhẹ nhàng, thênh thang, không ràng buộc gì hết, cũng thích. Cho nên bỏ mặc ba mẹ mình làm gì đó làm, mà vợ mình bả làm gì đó bả làm, con cái ai nuôi nó kệ, cứ đi chùa làm việc đạo, thì đây là cái quan điểm sai. Quan điểm sai. Cứ nghĩ như vậy là mình mình tu tốt, nghĩ như vậy là mình à mình tinh tấn tu hành, không có bị thế gian hệ lụy ràng buộc, nhưng không ngờ đó là một điều không thích hợp, không thích hợp với cái nhân duyên của mình. Và khi không có thích hợp với nhân duyên của mình, nó thành nó thành cái mất đạo đức mà không hay, và làm cho những người thân của mình họ ghét đạo.
[7:35]Nhiều có nhiều ông chồng á là ổng chửi bới chùa, hay là ổng nói bậy mấy ông thầy là do mấy bà vợ cứ bỏ nhà mà đi chùa riết. Tại ổng bực quá, ổng thì đâu có hiểu đạo gì đâu. Mà hễ bước về nhà hỏi: "Má đâu rồi?" - "Dạ, má đi lại ngoài chùa." Hầm hầm không nói, mồ đẻ lên giờ. Nói chùa từ ổng nhịn, 5 10 lần ổng nhịn, mà tới lần 20 là ổng không có nhịn nữa. Lý do là tại vì không có làm đúng cái bổn phận của mình. Như trong cái trong cái bài giảng mà "Đạo Phật Trong Đời Sống Gia Đình", nói về quan hệ vợ chồng thì chúng tôi có nói thế này. Một người mà muốn bước ra khỏi cái thế gian này, thì phải trả cho hết nợ, là phải đối xử rất tốt với
[8:25]thế gian này mới bước ra khỏi cái thế gian này được. Thì cũng vậy, ví dụ như mình đang là người cư sĩ tại gia mà chợt bước nào đó mình có cái ý muốn, mình có cái tâm yêu thích đời sống xuất gia và mình muốn từ bỏ gia đình để đi tu, thì xin nhớ điều đầu tiên là phải trả cho hết nợ với gia đình mình. Tức là phải đối xử tốt hơn bình thường. Bình thường ví dụ mình lo cha mẹ, anh chị, vợ chồng mình lo chút chút, chút chút. Nhưng mà hễ mà khởi cái tâm xuất gia rồi đó, thì phải cày mà lo làm tất cả mọi điều tốt đẹp. Phải thương yêu hết sức, phải làm đủ hết để ta trả nợ, đến khi cái người thân của mình á,
[9:10]họ nhận được nợ rồi họ không giữ chân mình nổi nữa. Đây là điều rất là lạ. Đây là điều rất là lạ. Cái điều này quý Phật tử ai muốn xuất gia làm thử thì biết. Như bây giờ mà mình đòi đi đòi đi tu, cái cha mẹ không cho, thì mình cứ sống thật tốt, đủ thứ chuyện hết. Chừng một hai năm như vậy, mày phước bắt cái nợ mình trả từ từ được rồi, cái mình xin xuất gia, cái cha mẹ tự nhiên cái không muốn cản, cảm thấy khó cản trong tâm, không dám cản nữa. Đây là điều lạ. Còn nếu mà mình cứ lơ lơ láo láo bỏ lơi gia đình, ai làm gì đó làm, cái nợ mình còn đầy ở nhà đó mà cứ chạy ra đằng chùa, tới chừng mà xin xuất gia coi chừng không được, nếu mà cái nợ chưa hết.
[9:58]Đó là mình nói người tại gia muốn đi xuất gia. Còn bình thường trên cái đạo lý của con người đối với gia đình và đối với xã hội thì cả cái thế gian này không phải là một cái chùa, cả cái thế giới này không phải là một ngôi chùa, mà thế giới này vẫn còn nhiều cái điều phức tạp, nhiều điều ràng buộc bởi từng cái gia đình, từng cơ cấu từng gia đình, gia đình. Nên nhà nước mình nói là: "Gia đình là tế bào của xã hội" là vậy. Là do cái lòng thương yêu ban đầu của nam nữ, rồi người ta thành lập gia đình với nhau, rồi sinh con đẻ cái, thế là cái mối quan hệ từ từ nó chằng chịt, phức tạp, chằng chịt, phức tạp.
[10:40]Và đặt cái con người trong một cái bổn phận bắt buộc. Cho nên những thánh hiền từ xưa đã quy định rất nhiều điều để ràng buộc con người với những cái mối quan hệ đó, như là đối với cha mẹ thì phải có hiếu. Phải có hiếu là phải thương yêu kính trọng, nuôi dưỡng, lo lắng, đỡ đần, vâng lời, vân vân, rất là nhiều. Thì hôm nay chúng ta không có phân tích từng mối quan hệ. Nào có cái duyên khác thì chúng ta sẽ nói như cái lòng hiếu như thế nào, mà tổng quát là vậy. Rồi đối với vợ chồng phải sống cho nó đúng cái đạo nghĩa vợ chồng như thế nào để vừa an vui, hạnh phúc mà có thể làm được nhiều việc thiện, rồi có thể tu tập được, vân vân.
[11:29]Rồi đối với anh chị em...
[11:32]Rồi với con cái mình phải lo cái bổn phận nó như thế nào. Rồi những mối quan hệ ít hơn là họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp. Đó là những cái mối quan hệ nó lỏng dần lỏng dần, nó ít cái bắt buộc. Còn cái mối quan hệ bắt buộc là mối quan hệ đối với cha mẹ, vợ chồng, con cái. Nếu mà không tròn là có tội. Người cư sĩ mình cũng phải hiểu điều này, chứ không được cứ nghe nói tới là đạo Phật là đạo xuất gia, xuất thế gì đó, giải thoát tam giới gì đó, cái mình không quan tâm đến cái trách nhiệm mình hay là mối quan hệ mình với những người trong gia đình mình thì đây là một điều sai nhân quả. Mình càng tu càng có tội.
[12:17]Nên là cái chỗ để ý, càng tu càng có tội. Chứ đừng có tưởng là mình cứ đi chùa riết mà mình gọi là tu tập tốt, không phải đâu, vì mình đang còn cái tư cách người cư sĩ. Chừng nào mà thành nhân duyên xuất gia rồi thì khác, bắt đầu mình bước sang một đời sống khác hẳn. Đây là chỗ quý Phật tử cẩn thận. Còn cái người xuất gia thì do một cái duyên phước, cho nên có thể rời bỏ cái bổn phận đó để hướng đến một cộng đồng mới, một cái trách nhiệm mới. Nói thế cũng có trách nhiệm mà, chứ đừng có nghĩ là mình từ bỏ gia đình, mình renounce cái thế gian này rồi mình tới một chỗ không còn trách nhiệm để mình sống cho nó khỏe, không có chuyện đó đâu.
[13:03]Chính cái người xuất gia lại là người từ bỏ cái trách nhiệm nhỏ để nhận cái trách nhiệm lớn, chứ không phải sống cho vui. Mà thường thì chúng ta hay nghĩ rằng cái người xuất gia vào chùa dễ tìm được một cái đời sống thanh bình, yên ả. Khi mà ở ngoài đời đôi khi mình mình khổ, mình cực, mình có cái điều gì khó giải quyết, vân vân, cái mình đi chùa cho nó xong chuyện, không phải vậy. Như trường hợp mà mình cứ xem cái chuyện mà Lan và Điệp từ xưa tới giờ đó, khi người ta thất tình thì người ta cứ chỗ mà đơn giản nhất để mình gởi thân là vào chùa. Nó không đơn giản như vậy. Rồi có khi buồn chuyện đời vì cái vợ chồng gây lộn nhau thì cái đi tu.
[13:55]Rồi có người thi đại học không đậu, buồn đi tu. Rồi cái xin việc làm hoài không được, cái vô chùa đi tu. Không phải. Chùa không phải là nơi như vậy, mà là một nơi người ta nhận lấy cái trách nhiệm đối với tất cả chúng sinh. Đó, đây là chỗ phải xác định lại, chứ không phải là đơn giản. Mà nhận trách nhiệm đối với chúng sinh là nhận trên phương diện nào? Mình nhận trách nhiệm đối với chúng sinh không có nghĩa là mình vô chùa rồi mình lo ăn lo mặc cho cho thiên hạ hả? Không phải, mình chỉ lo cái gì? Lo cái giáo dục đạo đức cho mọi người, giáo dục Phật pháp cho mọi người. Đó! Đó là cái trách nhiệm của người xuất gia mà nếu không làm
[14:43]tròn trách nhiệm này là có tội, chứ không có đơn giản. Cũng giống như người cư sĩ tại gia, nếu không lo lắng, thương yêu được cho cha mẹ, vợ chồng, con cái mình thì là có tội thì người xuất gia cũng vậy. Nếu không có làm được một cái bổn phận gì, thực hiện được cái trách nhiệm gì đối với chúng sinh thì cũng là có tội, mà cái gì có tội thì nó đều có cái quả báo đau khổ của nó. Quả báo đau khổ đó. Như người cư sĩ, nếu mình không lo cho cha mẹ mình, mình bất hiếu với cha mẹ mình thì chắc chắn cái cảnh khổ nó chờ mai sau rồi. Chắc chắn đến lúc nào đó hoặc là mình bị con mình nó bất hiếu lại, hoặc là tự nhiên cuộc đời mình rơi vào những cái thất bại kỳ cục lắm.
[15:33]Rồi hoặc là ví dụ như mình ruồng rẫy vợ con, mình tranh giành với anh chị em, vân vân, nếu những cái mối quan hệ đó mình không giải quyết tốt thì kiếp này hoặc kiếp sau mình rơi vào những cái khốn đốn không thể tưởng tượng được. Khốn đốn! Như có cái ông á, nãy giờ toàn kết tội các ông không, thôi kệ. Mình đàn ông mình chịu đựng ha, cứ nói xấu mấy ông mấy ông chịu đựng được, không sao. Tại với lại cái giảng đường mình đây người nữ nhiều hơn á, mình chịu thua. Có ông đó vậy, ông lúc mà đang còn đương thời thì ông ông cũng mở rộng lòng thương yêu của ông đến với một cái cô khác ngoài người vợ của mình.
[16:15]Cho nên người vợ và ông cũng đành phải chia tay. Do cái có lẽ lúc đó ông sống không tốt hay sao, về sau ông bị cái quả báo là cái bà vợ sau bỏ, rồi ông không còn việc gì để làm, không ai nuôi nấng rồi rơi vào cái hoàn cảnh khổ không thể tưởng, phải đi xin ăn. Đi lần lần về tới đúng lại cái nhà của vợ mình, của con mình ngày trước. Thì bà vợ bả không cho vô, mà bả đóng cửa. Đi xin, ngồi ở đó thì con gái nó thương thì nó đem cơm ra cho ba ăn, nó lấy tiền giấu đưa cho ổng. Cái bà vợ lạnh lùng không cho vô nhà. Mà bả làm vậy cũng hay thiệt. Cứng thiệt. Mà rồi ổng thì cũng buồn bã thì ăn xong bát cơm rồi lại chống gậy đi tiếp, đi xin ăn tiếp.
[17:00]Có những người đó là cái quả báo, quả báo là mình đã sống không đúng với cái bổn phận của mình cho nên nó thê thảm như vậy. Nói nói mấy ông, mấy ông đừng có buồn nha. Ở đây chắc không ai sao ha, không sao. Đó vậy. Còn ngược lại cái người xuất gia cũng vậy. Cái người xuất gia mà vào chùa, mình từ bỏ cái trách nhiệm hết, từ bỏ hết không phải để cho khỏe, không phải để sướng, mà lại nhận trách nhiệm mới là làm sao tu nè, học nè, rồi bắt đầu làm việc giáo hóa, làm lợi ích cho mọi người. Mà cứ kiểm lại trong một đời tu, một đời tu mấy chục năm cho tới khi chết mà kiểm lại không có làm gì được bao nhiêu điều
[17:46]lợi ích mà nhận người ta cúng dường nhiều quá thì phải biết là cái gì nó chờ mình ở phía sau, sau khi chết. Có nhiều trường hợp, nếu mà mình còn có tư cách thì mình sẽ trở lại làm người mà một người vô cùng nghèo khổ, chỉ làm quần quật cho người ta bóc lột để trả nợ và không được làm người xuất gia. Còn nếu mà mình tư cách không tốt thì chắc chắn qua kiếp sau làm súc vật để trả nợ. Nên cái quả báo nó còn nặng hơn nữa vì sao? Vì lúc mà mình làm người xuất gia, mình đón nhận một cái sự tôn trọng của người khác nhiều quá thì nó là cái đền bù. Là người tại gia không ai trọng mình thì tới chừng về sau này mình cũng không có bị cái gì quá đáng,
[18:38]còn mà mình ở vị trí xuất gia mà người ta trọng mình quá, thế chừng nó rớt cái rớt luôn, rớt luôn tới súc sinh luôn. Đó là cái đáng sợ. Cho nên là quý Phật tử đó mà muốn xuất gia phải cân nhắc kỹ, cân nhắc cái ý chí, cái quyết tâm của mình cỡ nào, chứ đừng có cái nông nổi, bồng bột. Vì như tôi biết có cái chùa đó cũng khá nổi tiếng, bề thế nên nhiều người tập trung lo xuất gia dữ lắm. Rồi xuất gia rồi tới chừng kéo nhau đi ra cũng hàng loạt loạt luôn, một lần hai ba chục, một lần cũng hai ba chục đi ra luôn. Thì mình không biết cái đường lối giáo dục ở trong đó nó như thế nào, nhưng mà ta hiểu rằng là những người đó một là cái phước xuất gia họ không đủ
[19:26]mà đã vội nông nổi xuất gia, hoặc là cái sự tu hành trong đó nó có cái gì sai đó, chứ nó phá vỡ cái phước xuất gia của người ta hết, phá vỡ cái phước làm tăng. Cho nên cái người này phải lui lại đời sống thế tục. Thì mình không có đi sâu mình không hiểu được, đó, nhưng mà cái điều này nó không đơn giản. Mà đã lỡ xuất gia mấy năm rồi mà bỏ đi ra, cái phước mình nó giảm tuột xuống dưới. Như có một người kể như vậy. Ông nói ông có hai người con đi vô xuất gia trong cái chùa đó vài năm cái hai đứa hoàn tục hết trơn. Rồi ông mới than, ông nói: "Hồi nó mới vô tu á, như ông Thánh vậy đó. Hiền lành, dễ thương, dòm thấy là muốn nựng.
[20:15]Bây giờ nó đi ra rồi, trời ơi nó mình ba nó nói nó không có nghe nữa, nó dữ, lì, nó gì không hiểu được cái đó là cái gì nữa." Đó, chúng ta thấy thà là không xuất gia, mà xuất gia là phải cho đàng hoàng, chứ xuất gia lỡ dở dở ương đi ra mất phước rồi tuột mất tư cách của mình luôn, tức là phước mà hết cái tư cách nó cũng hết luôn. Đây cũng là cái chỗ mà quý thầy, quý cô mình phải để ý khi nhận người xuất gia là vậy đó. Nên nhiều khi quý thầy, quý cô mình cũng từ bi, nghe ai xin tu cái muốn cho người ta tu để người ta được lợi ích cái gì đó. Mình nghĩ rằng việc cho người ta xuất gia là một cái việc làm phước lớn.
[20:54]Nhưng đâu có ngờ là nhiều khi cái người đó họ chưa đủ duyên, đủ phước, chưa đủ lý tưởng, chưa đủ quyết tâm thì lại hại họ về sau và hại luôn Phật pháp nữa. Vì cái người xuất gia mà xấu nhiều quá đi đâu cái nó đập vào mắt người ta, nó đập vào mắt người ta, cái người ta từ bỏ Phật pháp luôn. Như có cái vùng nó vậy, thì tôi cũng không muốn nói tên làm chi. Cái vùng đó là cái vùng chùa, khu vực có chùa không. Chùa không mà lại còn có cả cái trường để dạy cho Tăng Ni nữa. Cho nên ở trong cái khu vực đó, người dân họ họ nhìn thấy người tu hằng ngày, mấy Tăng Ni đi ra đi vô qua lại vô quán vô xá mua đồ đi vô rồi sinh hoạt đầy mắt họ.
[21:39]Mà đó mới khổ đó. Khổ gì? Tại cái người tu tốt thì thấy ít. Bắt đầu thấy có mấy ông lén lén ban đêm bò rào đi ra, mua những thức ăn mà người tu không nên ăn. Đâu có giấu ai được, đâu biết. Hoặc là nhiều khi thấy mấy thầy nhỏ nhỏ lén lén đi ra ban đêm ta đi vô cái chỗ mà hát karaoke với những bài mà thầy tu không nên hát. Rồi cứ nhiều cái đập vô mắt vậy, thì từ từ những người mà họ coi như có lập trường vững chắc với Đạo, họ thâm tín Phật pháp, tin sâu Phật pháp, y pháp bất y nhân, thì ai làm tội nấy chịu, họ cứ mặc kệ, họ cứ tu theo Phật pháp, vẫn cứ ăn chay, niệm Phật, vẫn làm lành, lánh dữ. Còn mấy thầy, mấy cô làm sai thì người ta ráng chịu.
[22:31]Nhưng mà có những người họ chưa hề biết Phật pháp là cái gì hết trơn. Họ ở chùa từ từ họ thấy, ủa sao kỳ như là kỳ. Thế bắt đầu công kích Phật pháp. Đó. Thì nên việc mà nhận người tu xuất gia mà những người đó họ không làm tròn cái trách nhiệm của họ, là một điều phá hủy Phật pháp. Nên cẩn thận, có thầy Thiện Minh Tâm, ổng có viết cái cuốn "Độ cho người xuất gia là những điều cần phải xét lại", ổng cũng phân tích điều này cũng rất là kỹ, cũng hay. Cho nên ở đây dù là người tại gia hay người xuất gia, không có ai được quyền ở không hưởng nhàn hết. Không có ai ở không hưởng nhàn hết. Chúng ta có mặt trên cuộc đời này mà nghĩ rằng
[23:19]mình tìm cái con đường sướng để mình đi là một điều tôi nói hơi nặng, ngu si.
[23:27]Tôi nói hơi nặng mà tôi phải nói, nói cho biết sợ. Nghĩa là mình sống cách nào cho sướng, rồi tìm cái việc nào làm cho nó nhàn mà có tiền nhiều, hay là làm quen với cái cô nào mà cổ giàu giàu rồi mình đỡ, nghĩa là trong đầu mình nghĩ toàn cái chuyện đó thì xin thưa đó là một cái suy nghĩ hết sức là ngu si. Sống trên đời phải hy sinh. Chính cái người mà lúc nào cũng nghĩ mình chấp nhận cái cực phần mình để lo cho người khác, đó là người khôn ngoan, người sống đó là người khôn ngoan. Rồi chúng ta sẽ thấy khi sống như vậy chúng ta thấy cực mà mình hạnh phúc. Còn cái người nhàn nhàn, từ từ bắt đầu phiền não xuất
[24:10]hiện, đau khổ nó kéo tới, rồi không ra gì hết. Nếu mình là người tại gia thì cũng vậy, cũng phát nguyện là lo cho mọi người, lo cho mọi người, làm rất nhiều điều thiện, siêng năng, không bao giờ nghĩ tới chuyện hưởng nhàn, phải nghĩ như vậy. Còn người xuất gia thì còn phải cực nhiều hơn nữa. Phải ngày đêm tu học, rồi đến khi có đủ khả năng rồi thì từng bước từng bước chịu cực, chịu vất vả mà đem giáo pháp đến cho mọi người, không bao giờ có cái ý nghĩ là mình đi tu là hưởng nhàn, mình có phước rồi có cái chùa lớn lớn rồi để cái thùng phước sương người ta tới cúng, rồi tới khui thùng ra đi chợ, không có được nghĩ như vậy.
[24:57]Mà phải nghĩ rằng ngày hôm nay, tuần hôm nay mình đã làm được điều gì cho Phật pháp. Đó, nên cái bổn phận là vậy, không ai được hưởng nhàn. Cái điểm khác biệt giữa hai giới nữa là cái hình thức. Hình thức thì dễ biết không? Hình thức thì đầu tiên mình nhìn ở đâu mình biết là sự khác biệt? Nhìn cái đầu, đúng, ai thông minh đó. Một bên thì có có tóc, một bên thì người ta gọi là trọc lóc.
[25:31]Mà bên có tóc nhiều khi còn được quyền uốn nữa, thấy không? Uốn kiểu này uốn kiểu kia, xì-tôi gì đó, gì đời mới gì đó, ha? Gì đó, đó đó. Còn người xuất gia thì đành chịu, đành chịu, muốn uốn cũng không có sợi nào để uốn hết trơn. Cũng là nỗi khổ ghê gớm. Thứ hai nữa là cái gì? Thứ hai nữa là trang phục, phải không? Trang phục, người tại gia thì mặc modern thoải mái, phải không? Chứ áo bông, quần bông gì tự do, rồi cứ thi đua nhau mà sắm đồ, chỉ có cái đừng có cái bắt chước Tây phương quá, nó hở hang quá không nên, tại mình là người Á Đông vậy thôi. Còn người xuất gia thì có vài bộ đồ cái cái cái mẫu căn bản.
[26:23]Ví dụ bộ vạt khách là cái cải biên lại của bộ đồ bà ba, vậy thôi. Còn cái áo áo tràng này là giống là cái quốc phục cũng cải biên lại một chút, hoặc là quấn một đống gì đó, như quý cô đây thì là bắt chước theo cái Ấn Độ hồi xưa. Hay đại khái là hơi giống người thế gian, cải biên đi một chút cho có phân biệt. Hồi xưa thì người Ấn Độ họ mặc kiểu này này, quấn như đống này. Cho nên cái người xuất gia cũng cũng mặc giống như vậy, nhưng mà nhuộm màu đi hoặc là cắt nó thành từng miếng rồi ráp lại cho nó phân biệt để làm chi? Để ăn trộm khỏi lấy. Không, đây là sự thật đó. Tại ngày xưa mà nếu nguyên một xắp vải mà
[27:09]Tăng Ni mà quấn như vậy thì ở ngoài đời ăn trộm nó lấy được nó mặc được. Vì lý do đó nên Phật mới chế ra là cắt lại thành từng ô từng miếng. Nó vừa có ý nghĩa gì đó nhưng mà vừa ăn trộm chê, chê quê. Quấn vô thì không giống ai, nó không phải là modern. Modern cái thời đó là nó miếng vải nó liền. Nhờ vậy yên ổn không có lo mất cắp. Cũng là cái mà làm cho nó nó hơi sai biệt đi so với người thế gian một chút. Hồi xưa cũng vậy, đồ cũng giống người thế gian rồi cải biên đi một chút, bây giờ cũng vậy. Cái bà ba cải biên chút thành vạt khách, áo dài cải biên chút thành áo tràng. Đó, một chút xíu thôi vừa đủ cho nó có khác biệt.
[27:51]Nếu mà cái thời đại bây giờ mà Phật xuất hiện, lọt trong cái đất nước Âu châu thì chắc Phật cũng mặc đồ vest. Chuyện bình thường à, nhưng mà có khi cải biên một chút gì đó. Chắp thêm một cái đuôi cái gì dính dính vô trỏng. Như ví dụ như ông Krishnamurti vậy, người ta cũng xem ông là một thánh nhân giải thoát thì ông cũng mặc sơ mi, quần tây đàng hoàng, đi nơi này nơi kia giảng mà tư cách rất là siêu việt. Như khi ông ngồi kiết già ngồi giảng bất động hai tiếng đồng hồ không nhúc nhích, chỉ ngồi yên lặng nói chuyện thôi. Nhưng mà cái tư cách rất là phi thường mà vẫn mặc mặc đồ tây bình thường. Cho nên cái hình thức nó không có nói hết được.
[28:32]Mà dù sao thì do cái tu sĩ cho nên vẫn có hình thức khác để phân biệt, để phân biệt. Đạo nào cũng vậy. Chỉ có chỉ có trừ Đạo Thiên Chúa, các cha khi đi ra đường họ mặc thường phục thì mình khó biết, mình khó biết. Rồi cái chỗ ở. Chỗ ở thì như người tại gia thì ở ở nhà, thì tùy theo cái điều kiện kinh tế mà mình cất nhà lầu hay cất nhà trệt. Còn người xuất gia thì ở chùa, tịnh thất, tu viện. Còn cái việc mà ở chùa nó như thế nào thì đây là một cái bài khác, chúng tôi sẽ giảng.
[29:16]Một lần nào đó chúng tôi sẽ giảng cái đề tài Phật pháp và ngôi chùa để cho chúng ta thấy cái việc cất chùa nhiều, cất chùa to là nên hay không, lần khác ha. Bây giờ cái sự khác biệt nữa là giới luật.
[29:37]Người tại gia cư sĩ khi đến với Phật pháp thì mình được thọ năm giới, phải không?
[29:47]Những khi mình tu Bát quan trai thì thọ tám giới. Rồi có một số cư sĩ phát nguyện thọ thêm cái giới Bồ-tát, vài chục giới nữa.
[30:01]Còn người xuất gia thì Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thì giữ tới 250 giới, Tỳ-kheo-ni thì giữ tới 348 giới, rồi lại thêm 58 giới Bồ-tát nữa.
[30:15]Thật ra cái giới nó chi ly lắm, nhưng mà cái quan trọng là để thể hiện được cái oai nghi, cái đạo đức. Nên cái gốc của giới là đạo đức. Nếu mình nắm được cái gốc đạo đức thì mình không có sợ. Còn nếu mình không nắm được cái gốc đạo đức, mình chỉ đi trên giới thì nhiều khi mình sẽ bị lúng túng trong nhiều trường hợp. Khi có những lúc nào đó mình chấp vào cái giới không nói dối, phải nói thật, nhưng cái điều mình nói thật lại gây tổn hại cho người khác. Lúc đó mình lúng túng mình không biết phải làm sao. Đó là mình chỉ đứng trên giới. Còn nếu mình đứng trên đạo đức thì mình biết liền, biết lúc đó nên nói hay không nên nói.
[30:59]Nó là như vậy.
[31:03]Thì mình coi giới luật là cái hình thức thôi, một hình thức nhỏ của đạo đức chứ không có viên mãn đâu. Coi chừng chứ căn cứ trên giới luật nó không có chuẩn lắm. Không có chuẩn, vì sao? Vì cái ngày đầu lúc mà Phật mới thành lập Tăng đoàn, Phật không hề chế giới. Tức là cái người người mà đến xuất gia với Phật là chỉ học giáo pháp thôi chứ không có nói giới luật, mà lúc đó không ai phạm. Vì cái người Ấn Độ cái thời đó đó, với những cái vị thánh từ cái thời Phật, họ có cái căn cơ đạo đức này sẵn. Cho nên chỉ có cái là họ chưa hiểu giáo pháp, chưa hiểu đường đi, thì đến nhờ Phật dạy để hiểu. Còn những cái tư cách đạo đức bình thường thì họ khá thuần.
[31:51]Người xưa họ đặc biệt như vậy. Cho nên thời đó đến Phật không có chế giới. Rồi sau này, khi Tăng đoàn phát triển đông, có nhiều người đến, thì có những người họ đạo đức không có hoàn chỉnh nên họ có làm những điều sai, Phật mới bắt đầu chế giới luật. Đó, nên giới luật đó là nó có tính cách đối phó trong hoàn cảnh. Hễ sai có ai than phiền thì Phật chế một giới, rồi làm điều sai có ai than phiền Phật chế một giới nữa. Mà nhiều cái giới nó ngớ ngẩn lắm, nhiều cái nó không có thích hợp với bây giờ nữa. Như có một lần có một vị Tỳ-kheo đó, ai cho ổng đống lông dê để mà về làm áo lạnh gì, mặc áo ấm gì đó, cái ổng dồn một bao bự vô cái ổng vác đi.
[32:40]Ổng đi cả mười mấy do-tuần, dặm đường gì đó, ổng đi. Thì mà vác một cái bao bự sự mà đi thì chắc nó cũng không nặng lắm, bao lông dê thì nó không nặng, nhưng mà mấy người cư sĩ họ nhìn họ chướng mắt. Tại vì họ quen nhìn hình ảnh ông Tỳ-kheo sao? Ôm bình bát phải không? Đi ung dung tự tại. Thấy ổng ưng khề nệ, tưng tưng đi. Khề nệ vậy, mấy cư sĩ nói: "Ủa, không giống thầy tu", cái lên mách Phật. Cái Phật Phật lại ra cái giới: "Từ đây Tỳ-kheo cấm không được vác một cái bao lông dê đi mười do-tuần". Nhưng bây giờ mình nghe một cái giới đó mình thấy nó ngớ ngẩn. Nó ngớ ngẩn, bây giờ có ai vác lông dê mà đi mười
[33:23]do-tuần chi nữa, điều con xe nó chở đi thôi. Thành thử nhiều cái giới trong cái hoàn cảnh đó nó không có thích hợp. Hoàn cảnh nó vậy chứ bây giờ tới mình không thích hợp. Do đó mình đến với đạo Phật thì mình tìm lại cái gốc đạo đức để mình ứng xử. Đó, những cái giới căn bản thì luôn luôn phải giữ: dâm, đạo, sát, vọng, tử, phải không? Những cái căn bản đó thì giữ kỹ. Còn lại rất nhiều những cái giới khác thì mình tùy nghi, khi mình làm coi đạo đức hay không đạo đức, đúng hay không đúng. Nó là cả một sự suy xét kỹ lưỡng của trí tuệ chứ không có có chấp trên hình thức nữa. Vì phải nhớ là nếu giới nó là cái điều cực kỳ quan trọng
[34:06]thì 13 năm đầu thành lập Tăng đoàn Phật phải chế giới liền. Nhưng mà thành lập Tăng đoàn suốt 13 năm, là cái số Tỳ-kheo tăng mà lên không biết bao nhiêu ngàn người, Phật vẫn không chế giới. Điều đó ta hiểu rằng giới lúc đó không quan trọng. Mà sau này vi phạm mới chế, chế là do mấy ông Tỳ-kheo á nhiều, tức là lục quần Tỳ-kheo, có sáu Tỳ-kheo quậy tưng bừng hết trơn. Quậy dữ dội lắm nên Phật phải chế giới nè, chế cho đầy ra hết, nên nó đối phó nè. Còn nếu mà có cái đạo đức, nắm được gốc đạo đức rồi, thì lại mình sẽ hiểu luôn, hiểu luôn, à lúc nào nên làm điều gì, không nên làm điều gì, là nắm được cái gốc.
[34:48]Còn cái giới sai biệt của người xuất gia và tại gia thì ý nghĩa như thế này: là cái đạo đức mà yêu cầu đối với người tại gia thì ít hơn. Là vì người tại gia, cư sĩ phải lăn lộn, tranh đấu cuộc đời, phải đối phó đủ chuyện hết để nuôi thân, nuôi gia đình mình, nhưng trong cái cuộc mà đấu tranh sinh tồn quyết liệt đó, nên nếu mà lúc nào cũng hiền như ông Phật thì người này họ không sống nổi, không sống nổi, nên Phật không có bắt buộc nhiều, không có cấm đoán nhiều. Thì cho ví dụ: đừng giết người, đừng giết những thú vật lớn, đừng trộm cắp, ráng giữ luật pháp căn bản của xã hội, không được tà dâm, ngoại tình, không được nói bậy,
[35:46]mất tư cách, không được dùng những chất làm say như là rượu, hồi xưa thì có rượu, giờ có thêm bia, thêm ma túy rồi vân vân, thì giờ mình cũng phải cấm hết. Trong đó thì những cái căn bản luật pháp họ cũng quy định như vậy, thì đạo Phật cũng quy định như vậy. Còn ngoài ra những cái đó thì mình được tự do hơn. Tự do hơn, ví dụ như là người xuất gia thì không được hát nhạc. Thôi bây giờ hát nhạc đời, nhạc đạo chắc được, tại vì tôi cũng hát nhạc đạo, chứ nói cấm nhạc đạo luôn rồi kẹt tôi. Cho nên cho nên cứ coi như là người xuất gia thì không được hát nhạc đời, nhưng mà người cư sĩ thì thì được hát, cái đó không có lỗi, Phật không có cấm.
[36:33]Hoặc là người tại gia thì không được đeo dây chuyền, mà người người xuất gia không được đeo dây chuyền, người tại gia thì thì được. Nghĩa là còn nhiều cái vấn đề nhiều vấn đề nữa. Ví dụ người xuất gia thì không được mang giày cao gót, người tại gia thì thì được, phải không? Nên cái ràng buộc, cái cấm đoán hai bên nó khác nhau là vì sao? Vì người tại gia không thể hiện hết cái tinh thần của đạo Phật được,
[37:04]với người tại gia còn bị ràng buộc bởi sinh kế. Thứ nhất là họ không thể hiện cho tinh thần giải thoát của đạo Phật là gì? Đạo Phật là đạo giải thoát thanh tịnh, nên người xuất gia là người phải thể hiện cái điều đó, là người xuất gia phải thể hiện được cái giải thoát thanh tịnh đó. Thể hiện cái giải thoát thanh tịnh đó thì phải làm sao? Thì phải không được chưng diện, khoe khoang, lòe loẹt, vui đùa, ham chơi, vân vân, những điều đó là không được. Mà người tại gia thì không bắt buộc là phải thể hiện cái tinh thần đó của đạo Phật. Cho nên người tại gia được quyền đi chơi vui, đi công viên nước rồi đi karaoke,
[37:51]nhảy đầm thì hổng biết có ai nhảy chắc không, rồi có hả? Ghê vậy. Thế nên là họ không bị cấm đoán bởi những điều đó. Đó là cái thứ nhất, là sự thể hiện cái đạo Phật đó. Rồi còn nói là vì bận cái sinh kế, nên người tại gia nuôi người xuất gia mà. Mà khi bận rộn với sinh kế thì cũng phải cực lắm. Ví dụ bây giờ có cái món hàng đưa ra, người ta trả mình 50.000, 50.000 bán được rồi, nhưng mà nói:
[38:33]"Nãy người ta mới lại trả em 60.000 mà em chưa bán đó chị". Mà chả ai trả đâu, bịa xạo nói chơi vậy. Nhưng mà cái cái cái mánh lới của người buôn bán vậy đó, nói để cho trúng tim đen người ta. Cái người kia thấy vậy cũng nói: "Thôi 55 nha", cái người mình cũng mừng trong bụng: "Nói thiệt em cảm tình với chị lắm em mới bán". Đó, thành thử người tại gia trong cái mà sinh kế, đấu tranh, đủ thứ chuyện, phải luồn luồn lách lách, nên không có thể hiện được tinh thần giải thoát, phóng khoáng, thanh thản. Tuy nhiên tuy nhiên chúng ta thấy thế này: là năm cái giới cấm mà dành cho cư sĩ nó quá quá yếu đuối, nó ít, không đủ.
[39:21]Một thời gian rất dài mấy ngàn năm qua, những người cư sĩ mà khi đến với Phật, quy y thọ năm giới, không làm này không làm kia rồi thôi, không cần làm cái gì nữa hết, không cần có cái trách nhiệm gì đối với cuộc đời để tăng trưởng công đức cho mình, mà để hỗ trợ cho sự phát triển của Phật pháp, chứ không cần gì nữa hết. Cho nên 3 năm không tới gặp ông thầy Bổn sư mình cũng không sao, không ăn chay bữa nào cũng không chết ai, không tụng kinh lạy Phật bữa nào cũng không ai rầy rà. Thì chính cái điều đó làm đạo Phật yếu dần, yếu dần. Yếu dần. Đây là lý do tại sao mà đạo Phật có mặt trước Thiên Chúa giáo,
[40:02]có mặt trước Hồi giáo, mà bây giờ thì đạo Phật trên thế giới chỉ có ba trăm mấy chục triệu tín đồ, còn Thiên Chúa giáo, Hồi giáo là cả tỉ, tỉ mấy tín đồ, là chính vì người tại gia khi quy y chỉ nhận có năm giới mà không nhận thêm trách nhiệm gì với đạo nữa. Vì vậy là chúng tôi đã gan dạ mà chế thêm: khi một người đến quy y với tôi thì ngoài cái truyền năm giới cấm, tôi trao thêm cho bảy điều nguyện để gìn giữ. Thì bảy điều nguyện này là những cái phát nguyện tự nguyện, là mình nhận thêm trách nhiệm đối với Phật pháp. Ở đây thì có một vài người chắc quy y với tôi ngồi ở đây, nói bảy điều nguyện hổng biết còn nhớ điều nào không.
[40:53]Mấy người đó đó. Thì trong đó có một điều nữa là Phật hóa gia đình. Tức là mình đã biết đạo Phật rồi, thấy được Phật pháp là chân lý rồi thì phải làm cho cả nhà mình theo đạo Phật. Đó là một bổn phận, một lời nguyện thiêng liêng khi mình quy y. Hoặc là ví dụ như là mỗi ngày phải phải lễ Phật.
[41:18]Đó là một cái lời nguyện, một lời nguyện thiêng liêng mà mình phải gìn giữ. Nhờ mỗi ngày mình lạy Phật như vậy thì cái tâm đạo mình tăng tiến lên, tâm đạo tăng tiến lên nên mình có thể tu tập được tiến bộ, rồi có thể giúp đỡ người khác được nhờ cái đạo tâm nó tăng lên như vậy. Tới bảy điều lận, do đó nhờ như vậy mà có thể tăng cái sức mạnh của đạo Phật lên từ từ, từ từ. Khi tôi đưa ra bảy điều nguyện như vậy á, thì cũng có nhiều chùa họ không đồng ý. Không đồng ý là vì sao? Vì nói rằng là xưa để lại làm sao thì bây giờ cứ y như vậy mà làm, chứ còn chế thêm chế bớt rồi họ thấy gan quá họ không dám.
[42:05]Thấy thì cũng hay nhưng mà không dám. Thì cái không dám là cái nhát, không can đảm. Cho nên có những lúc chúng ta phải can đảm, can đảm có những cái mới để tăng thêm sức mạnh cho đạo Phật. Chứ còn nếu cứ như vậy thì chúng ta thấy bây giờ thêm 1000 năm nữa, thì lúc đó tín đồ đạo Phật mình chỉ còn chừng trăm triệu, mà những đạo khác nó tăng lên hai ba tỷ á, mình sẽ thấy đó là lỗi của tăng ni ngày hôm nay không gan dạ đưa thêm những điều nguyện cho cư sĩ. Cho nên giờ quý Phật tử ở đây thì trong đây thì chắc là không được mấy người quy y với tôi trong cái thính giảng đường này, trong đạo tràng này, mà tôi mong rằng những Phật tử,
[42:49]những người quy y với tôi thì không nói, thì đã nhận bảy lời nguyện rồi, làm hay không thì cũng chưa kiểm tra. Nhưng mà còn những người mà không quy y với tôi thì thì tôi cũng thiết tha mong quý Phật tử đó về nhà mượn cái bảy điều nguyện coi, phát nguyện để thực hành, thực hiện bảy điều nguyện đó. Mình làm cái điều đó không phải cho mình, mà cho Phật pháp mai sau, cho Phật pháp mai sau. Đó là người cư sĩ là phải bảy điều nguyện như vậy, còn người xuất gia đó ôm mấy trăm giới cấm tùm lum hết, cấm này cấm kia, cấm nọ cấm cấm, không làm gì được hết. Nhưng mà xin có một cái, xin có một cái là phải sống hết sức vị tha, hết sức vị tha.
[43:38]Người tại gia khó lòng mà sống vị tha trọn vẹn được. Vì sao? Vì còn trách nhiệm với gia đình. Thí dụ thấy hàng xóm nghèo, cho nhưng phải tính lại cái số gạo mình còn cho gia đình mình là ăn được bao lâu, rồi mình còn phải làm ra tiền để mua thêm được nữa hay không. Nghĩa là thương á, ví dụ mình là người biết Phật pháp, thấy hàng xóm nghèo cũng thương á, nhưng mà muốn cho cũng phải tính lại gia đình, nên không thể nghĩa là nghĩa là sống hoàn toàn mà nghĩ tới người khác được. Đó, mình phải cân nhắc. Còn người tại gia thì không còn có gia đình để mà lo nữa, mà thấy ai cũng là chúng sinh bình đẳng, cho nên giúp ai được thì giúp.
[44:23]Mà nói vậy chứ như như bản thân tôi, tôi thấy tôi cũng bị hạn chế. Hồi lúc mà tôi chưa có chúng á, tức là chưa có đệ tử, không nghĩ tới chuyện mà mình phải có chùa có đệ tử á thì hễ tiền mà vào trong túi tôi mà để đó là tôi cảm thấy đó là cái tội, phải tìm người để cho, để bố thí, cúng dường liền, không được để. Mà cái mặt của tôi thì gầy ốm, bệnh hoạn, cho nên Phật tử dòm thấy là rớt nước mắt, móc tiền cho. Nhưng tôi được cúng dường lắm, hồi còn ở trong chúng kìa, dòm thấy cái mặt nó là xanh xanh, lựng bựng là người ta cho tiền, không khéo chết tội nghiệp. Mà cho thì tôi không có dám xài, cho rồi là tôi luôn luôn quan
[45:05]sát huynh đệ của mình coi ai cần là tôi giúp lại liền. Vì mình không có gì để giữ. Có một lần bà mẹ, con cô đó lại cúng tôi bao thơ, tôi cũng chả biết trong đó bao nhiêu, bỏ... Cô đó vừa quay đi, tôi móc bao thơ ra thối và tôi cúng lại cho một thầy khác liền, không giữ gì lại cho mình. Nhưng đến khi bắt đầu tôi phải chuẩn bị để mà mở, xây dựng một cái đạo tràng, cái chùa, chuẩn bị nhận đệ tử thì không có dám bảo ai như vậy nữa, không còn có dám mà đụng đâu cho tiền đó nữa, mà phải thủ. Thấy người ta tội đó, thấy ông thầy đó tội thì cúng dường ổng mấy chục ký gạo, ít tiền, ít thôi, so với tiền mình đang có
[45:45]trong túi thì cho, trích ra một ít thôi, vì còn nghĩ tới cái chuyện kia, nên không có dám bảo như lúc trước nữa. Rồi bây giờ thì đệ tử đông thì còn hà tiện hơn nữa, hà tiện lắm, mỗi lần mà muốn giúp đỡ cúng dường ai, cúng dường chùa nào thì phải hỏi lại đệ tử, người thủ quỹ, quỹ còn bao nhiêu. Thì thấy quỹ đó rồi thì mình mới nghĩ, mình cân đối theo cái quỹ đó mà trích ra một phần để cúng dường bên kia, không có dám bảo như lúc trước nữa. Đó là xuất gia đó, vị tha mà còn bị hạn chế, nên người tại gia còn kẹt nhiều hơn nữa, không dám làm hết. Nhưng mà dù sao mà người tại gia biết làm phước cũng là tốt lắm rồi.
[46:26]Bây giờ mình coi vợ, chồng, con cái mình giống như chúng sinh, mình lo cho họ hoàn toàn không nghĩ tới mình nữa, cũng là vị tha. Rồi khi mà tìm duyên bố thí cho người bên ngoài cũng là vị tha. Thì cũng như tôi vậy, khi tôi xuất gia thì tôi cũng nguyện sống một đời vị tha. Thì tôi lo cho đệ tử tôi cũng là vị tha, hoặc là khi gặp một vài người khác mà giúp đỡ họ cũng là vị tha, nên cũng là vị tha, dù người gần hay người xa mình như vậy. Thì cả hai giới xuất gia hay tại gia đều phải tập sống vị tha. Đó là cái đạo đức quan trọng của Phật giáo. Nếu chúng ta lo cho mình thì chúng ta quay lưng lại với Phật pháp.
[47:14]Đây là điều chúng ta để ý, ai cũng phải thực hiện như vậy. Kế nữa là cái sự bổ tương giữa hai giới.
[47:24]Người xuất gia là được cái lợi là không còn bận cái trách nhiệm đối với gia đình cho nên có thể dồn hết thời gian để tu học rồi có kinh nghiệm. Có kinh nghiệm để làm cái gì? Để hướng dẫn cho người cư sĩ tại gia. Đó. Còn người cư sĩ tại gia thì sao? Thì vất vả làm ăn, cực khổ kiếm tiền, vừa nuôi thân nuôi gia đình, rồi còn lại ủng hộ Tam bảo, nghĩa là giúp đỡ người xuất gia. Đây là cái tương quan. Để chi vậy? Để được học hỏi giáo pháp với người xuất gia. Ở đây mình thấy ai lời?
[48:09]Mới nghe thì tưởng đâu mấy ông thầy tu ổng có lời. Phải không? Người ta làm cực thấy mồ, chỉ ngồi nói mấy cái cái có tiền. Nếu mới nghe thì mình thấy như vậy đó. Tại vì suy nghĩ người đời có khi như vậy. Có một lần có một cái buổi họp, có mấy ông cán bộ Mặt trận với mấy thầy thì họp về vấn đề mà cứu trợ bão lụt miền Trung á. Mấy cán bộ mấy em nói là quý thầy nên đóng góp để cứu trợ bão lụt. Cái điều đó đúng không? Đúng, phải không? Rồi mấy có một thầy nói là tụi tôi làm gì có tiền mà đóng góp cứu trợ bão lụt. Ông cán bộ ổng nói câu này. Ổng nói: "Quý thầy đừng nói như vậy. Quý thầy ngồi nói một tiếng đồng hồ bằng tụi tôi cày một năm."
[49:06]Có trường hợp đó chứ không phải không. Cho nên nhiều khi người cư sĩ họ làm vất vả lắm, còn ông thầy ổng giảng thời pháp có khi là cũng được cúng dường rất là nhiều, nhất là những vị mà nổi tiếng. Tôi thì chưa được cái đó đâu. Nhưng mà có nhiều trường hợp như vậy. Ở đây thì nếu mà mình nhìn khách quan mình thấy người xuất gia là lời quá hả, nhàn nhàn sao tiền nhiều, còn người tại gia làm cực thấy mồ luôn mà đem tiền đi đổi, đổi cái gì? Đổi cái lý thuyết đem về. Cái tiền là cái thành gạo ăn được sống được, còn cái lý thuyết mình đem về bụng không biết để làm cái gì. Như bây giờ nè tôi ngồi nói vậy ví dụ có Phật tử phát tâm cúng tôi bao thơ trăm
[49:49]ngàn thì trăm ngàn đó là mua được bao nhiêu là gạo hả là tôi ăn được. Còn quý Phật tử nghe một thời giảng tiếng rưỡi về không biết thành cái gì, đem về ổng xài đâu được hết trơn, nó đâu mất tiêu rồi, mòn ra nữa. Tiếng rưỡi nãy nghe nghe giờ đâu mất. Đó, rồi thấy giống như là đổi một cái có thực, lấy một cái hư ảo đem về. Đây là cái mà ở bên ngoài người ta có quyền phê bình như vậy. Mà tôi cũng đã từng dùng cái lý luận đó để tôi phê bình những người mà họ tu đường tà, họ lừa gạt tín đồ. Là họ hay cho cái lời hứa hẹn. Nghĩa là người tín đồ tới, họ nói con hãy tin ta, con tin ta thì con sẽ được cứu rỗi, con chết con được lên thiên
[50:37]đường, ngày tận thế sập xuống thì chỉ có con sống vì con tin ta. Còn mấy cái đám kia nó ngu nó không có tin ta cho nên tận thế là nó chết hết. Mà tận thế sắp tới rồi, đây là tờ giấy nè con đọc nè, nhật thực toàn diện, nhật thực nè. Đó, con tin ta lại đây. Thì tôi phê bình thế này: là người Phật tử, người tín đồ đem cái tiền thiệt tới mua một cái lời hứa, mua một hi vọng hi vọng hão huyền. Còn cái ông thầy, ông sư phụ thì ổng bán cái lời hứa bằng bằng tiền thiệt. Qua cái đó người ta phê bình được. Thì trong đạo Phật mình nhiều khi cũng gần giống. Nhưng mà đó nên thoạt nhìn thì thấy Thì thấy mấy thầy mấy cô mình
[51:23]đem lời nói tới tìm về, nhưng mà sự thật thì không phải vậy. Cái sự hỗ tương nó nó cao quý hơn nhiều lắm. Cao quý như thế nào? Cao quý ở chỗ là người cư sĩ làm ăn vất vả, nhưng mà người cư sĩ này hiểu đạo nên biết rằng cái giáo lý của Đức Phật để lại nó là ánh sáng của cuộc đời, nó làm cho người ta sống đạo đức, người ta thương yêu nhau hơn, và người ta an lạc hạnh phúc hơn. Nội cái giáo lý nhân quả thôi mà tin được thì người ta làm lành lánh dữ, rồi giáo lý từ bi, rồi giáo lý thiền định, vân vân, những điều Phật dạy thật là vô giá, không có gì có thể tính kể được, so sánh được, mua bán, gắn giá được.
[52:17]Và họ biết rằng quý thầy quý cô là những người dồn hết thời giờ để tu để học, những người đó họ giỏi hơn mình. Mình mắc bận làm ăn, mắc bận gia đình, vợ chồng con cái, nên mình không có chuyên sâu, thì thôi cho quý thầy quý cô ổng tu một tháng đi, ổng cực khổ ổng ngồi thiền ổng tụng kinh ổng học trong một tháng, cái một tháng mình tới mình cho ổng 50.000, 100, nhưng mình học được cái kinh nghiệm tu của ổng trong suốt một tháng vừa qua, tính ra lời hơn nhiều. Thế là ổng cực khổ ổng tu một tháng, mình biết được cái kinh nghiệm đó về mình tu. Mình đỡ vất vả, à tuy mình cũng đi làm vất vả nhưng mình khỏe ở mặt khác.
[53:00]Ổng chỉ nói là bây giờ là quán từ bi thương yêu chúng sinh thì lòng mình được an vui, đạo đức tăng trưởng và phước rất là lớn. Ổng làm, ổng làm, mình nghe chớp được câu đó về, tối mình rải tâm như vậy, thực hành được như vậy, và quả nhiên mình thấy như vậy, quả nhiên mình thấy lòng mình an lạc, mọi người chung quanh mình tự nhiên trở nên hài hòa với mình. Như có một cái chú đệ tử của tôi, chú kể về kinh nghiệm đấy, chú nói có một lần chú đi chợ, tự nhiên có hai đứa nhỏ đi đằng sau, kè kè đằng sau thì có một đứa nó nói vậy, nó nói: "Bần tăng là kẻ tu hành, à bao nhiêu gái đẹp để dành bần tăng".
[53:46]Chậc, thì khi mà chú nghe cái câu đó đó, cái chú mới khởi lòng từ bi hướng về đứa nhỏ đó, chứ không có quay lại trợn mắt cự, không có, vẫn im lặng đi nhưng mà khởi lòng từ bi hướng về cái đứa nhỏ vừa nói câu đó. Thì ngay lúc đó có phản ứng, tự nhiên cái đứa đi bên cạnh nó nạt nó liền, la nó liền: "La mày không được hỗn". Đó là cũng là cái nhân quả bí mật, tự nhiên có người binh vực mình lại. Chứ còn nếu mà lúc đó mà chú quay lại chú cự, trợn mắt coi chừng cái thằng thứ hai nó hùa theo bạn nó chửi luôn nữa, bị cái vùng đó vùng đạo Thiên Chúa mà. Cho nên chúng ta thấy mình áp dụng được một chút lời dạy
[54:26]của Phật, cái mình thấy cuộc đời nó thêm một chút vui. Nên nhiều khi mình nghĩ à thôi mình làm lụng cực khổ mà giúp đỡ cho quý thầy quý cô họ có họ sống, họ tu họ học, họ dạy mình một điều hai điều, mình áp dụng cuộc sống thấy nó vui, cái đó cũng thật là có giá trị, thật là có giá trị, phải không? Và cái mà giá trị của giáo pháp, nhiều khi những kinh điển Đại thừa kể còn dễ sợ lắm. Như có một lần nói tiền thân của Phật là vì thiết tha, lúc đó Ngài là vua Ngài thiết tha tìm cầu giáo pháp thì lúc đó có một vị Bồ Tát mới thị hiện nói: "Cho Ngài tôi có giáo pháp nhưng mà Ngài muốn đánh đổi nó Ngài...
[55:12]Ngài muốn có được nó Ngài phải đánh đổi bằng những cái điều vô giá chứ không có ngồi khơi khơi như vậy được". Thế là Ngài xuống Ngài quỳ đảnh lễ liền, kêu: "Chưa đủ. Ngài có dâng cho tôi cái giang sơn này?". Ngài nói: "Rồi, dâng liền". Nói: "Chưa", nhưng ra nhiều điều kiện rất là khắt khe, rồi để cho bốn câu kệ nào đó, nhưng mà Ngài được bốn câu kệ đó Ngài ngộ được và Ngài thấy đúng xứng đáng, xứng đáng với tất cả những cái gì trên thế gian này mà Ngài đánh đổi. Dù là chỉ bốn câu kệ nhưng mà làm cho tâm Ngài bừng ngộ, Ngài an lạc giải thoát, vào được cái định sâu, mà thấy đúng đúng là giá trị vô cùng.
[55:52]Còn cái tiền của trên thế gian chất đống coi vậy chứ vô nghĩa mình không đem theo được. Cho nên ở chỗ này chúng ta thấy là cái giá trị của giáo lý, cái hạnh phúc của tinh thần, cái ánh sáng cái chân lý để đưa chúng ta đến cái an ổn, hạnh phúc vĩnh hằng thì giá trị vượt hơn tất cả mọi tiền bạc vật chất trên thế gian này. Do đó mà nhiều khi người cư sĩ chấp nhận trích bớt cái thu nhập của mình để giúp đỡ cho đời sống tu học của tăng ni là như vậy. Mà khi hỗ tương qua lại chúng ta làm cho Phật pháp được phát triển. Đây là mình nói đúng đó nha, còn trật thì dĩ nhiên không có không có gì hay rồi. Đúng là người xuất gia chuyên tâm tu học
[56:41]và người tại gia giúp đỡ đời sống để học được cái điều mà tăng ni họ đã tu được cái gì đó. Đó là cái sự hỗ tương qua lại giữa hai giới. Mà ở đây chỗ này, cái khó là cái này: tuy ở vị trí xuất gia đó mà cái người tu sĩ vẫn phải hướng dẫn được cái người tại gia sống tốt trong cái vị trí cư sĩ của họ. Nghĩa là cái người xuất gia không hề có gia đình, không có vợ chồng, không con cái, nhưng mà phải dạy được cho người tại gia sống tốt được trong cái vị trí đó, đó là cái khó. Đó là ăn thua cái trí tuệ, cái sự quan sát, cái lòng vị tha từ bi của mình làm sao mình hiểu được, thông cảm được cái khó khăn,
[57:26]cái phức tạp của đời sống tại gia mà khuyên bảo người ta. Ở đây chứ quý thầy làm cũng thành công lắm, nhiều khi đứng bên ngoài lại sáng. Rất nhiều cư sĩ là có những nỗi khổ trong cái gia đình mình đến gặp quý thầy, mấy ông thầy có vợ con gì đâu mà hỏi, mà nhiều khi quý thầy khuyên một hai câu về thấy an lạc liền. Nó cũng cái hay như vậy. Rồi dạy cho người cư sĩ ý thức được để bảo vệ môi trường, dạy cho người cư sĩ giáo dục được con cái, và dạy cho người cư sĩ cái cách tu tập để giải thoát luôn. Đây là cái hay như vậy, chứ không phải là người cư sĩ là không tu được, người cư sĩ vẫn tu tập giải thoát được,
[58:08]nên người xuất gia phải dạy được cái điều đó. Còn người tại gia thì trích bớt thu nhập gia đình để giúp cho người xuất gia.
[58:20]Đây là điều quan trọng: vì sự tồn tại của Phật pháp, không được để có cái tâm cầu phước.
[58:30]Chỗ này là chỗ quan trọng. Rất nhiều chùa hễ mà nói tới cúng dường, cúng cho có phước mà, cúng cho có phước, dạy cho người cư sĩ cái ích kỷ. Cái cầu phước là cái ích kỷ vô cùng, mặc dù điều đó đúng, hễ cúng dường là có phước, nhưng mà mình vì cái quả báo đó mà mình cúng dường thì rơi vào cái ích kỷ rồi. Mà nhất là bên Nam tông, bên Nam tông là bị cái này dữ lắm, đó là người cư sĩ được khuyến khích cúng dường vì cầu phước. Đây là chỗ một lần nữa mà chúng ta thấy nhiều khi người ta chê Tiểu thừa cũng dám đúng chứ không phải không. Mình không muốn phân biệt, nhưng mà cái tinh thần như vậy rõ ràng là ích kỷ.
[59:16]Nên ở đây người cư sĩ phải được hướng dẫn thế này: là nếu đem tiền, vật cúng dường chùa là chỉ một lòng mong cho Phật pháp được tồn tại, quý thầy quý cô tu hành tiến bộ dạy lại cho những người khác, không phải dạy một mình mình, không phải là mình cúng dường 500.000, 1 triệu để mình được ông thầy dạy cho mình mình, mà mình mong ông thầy đó ổng dạy được tất cả những người khác. Nghĩa là tuy cái hành động mình nhỏ mà cái tâm mình rất lớn. Có thể đồng tiền mình cúng ít, có thể nghèo quá bữa đó không có tiền gặp thầy móc đỡ 5.000 lẻ ra cúng thầy cũng đỡ, nhưng mà cái lòng của mình góp thêm một chút công sức
[1:00:01]để thầy giáo hóa tất cả những chúng sinh khác. Đó, đó là cái cái tâm nguyện của người cư sĩ, cái sự hỗ tương qua lại như vậy. Rồi cái điều này nữa là: người cư sĩ tại gia cũng cần phải biết cái việc của Giáo hội để cần mà mình góp ý thẳng thắn. Tại Giáo hội là những người xuất gia tập hợp lại, có bầu ra ban trị sự, ban đại diện, vân vân, để mà Giáo hội mới quản lý tăng ni, người tu chùa nào, ra đúng sai gì đó mới có quản lý. Tuy nhiên cái tiếng nói của người cư sĩ cũng khá quan trọng, là vì sao? Vì chính người cư sĩ cúng dường, mà người cư sĩ đi quan sát bên ngoài nữa, nên thấy điều này làm thích hợp,
[1:00:54]Giáo hội làm vậy là đúng, chư tăng làm vậy là đúng hay sai, mình cũng cần phải biết qua để góp ý, góp ý chứ không có chỉ trích nói xấu. Nhớ, quý Phật tử nhớ giùm điều đó. Là thấy Giáo hội làm điều đó không đúng, mình tìm cách góp ý một cách chân tình, nhã nhặn, khiêm tốn, chứ không có đi rêu rao công kích chỉ trích, nhớ như vậy. Hoặc là người cư sĩ đến chùa vậy, mình góp ý việc trong chùa với tăng ni nhưng góp ý mà không lấn át, nhớ giùm ha. Bởi vì việc quyết định cuối cùng vẫn thuộc về quý thầy quý cô, mình lúc nào cũng lui lại đứng ở vị trí thấp một chút, nhưng mà mình cũng được góp ý nghe, nhưng đừng có lấn át, đừng nghĩ mình cúng dường nhiều rồi muốn nói gì nói.
[1:01:44]Như vậy có một lần có cái cô cư sĩ cổ cũng có tiền thì thỉnh thoảng lên chùa tôi cúng dường, cúng dường xong thì bắt đầu đưa ra nhiều yêu cầu. Tôi không bao giờ làm, không bao giờ tôi làm. Rồi thì cổ ghét, không bao giờ tới chùa tôi nữa, huề.
[1:02:04]Nhưng mà cái ví dụ như đây là cái bản lĩnh của người xuất gia, đừng có để cái người cư sĩ họ cúng dường mình nhiều họ sai mình. Mình cố gắng làm theo đúng lương tâm đúng lẽ phải, còn lại để Phật pháp xét chứ đừng bao giờ nghe cái người cúng dường nhiều. Có trường hợp cái người mà họ cúng dường nhiều họ nói đúng thì mình nghe, nhưng mà họ nói trật thì không nghe, mình phải quan sát. Thứ nhất là cái thái độ họ nói trong khi họ đề nghị cái điều gì với chùa, cái cách nói của họ kiêu mạn là dứt khoát mình phải cứng rắn liền, để trị cái kiêu mạn của họ đi. Thì đây là bản lĩnh của người xuất gia. Thì để nói cho quý cư sĩ biết, ví như lỡ sau này quý Phật tử
[1:02:49]giàu lên thành tỷ tỷ tỷ phú gì đó, đem một đống tiền lại cúng dường thì nhớ là mình cũng chỉ góp ý đừng lấn át. Và một điều nữa, đến chùa là mình học hỏi đừng đòi hỏi. Học hỏi nó khác mà đòi hỏi nó khác. Như có lần cách đây không lâu, có một số Phật tử lên thăm tôi, cái họ cúng dường bữa nồi chè. Thì họ ý muốn là mời hết mấy cô mấy chú trong chùa ăn, tối mời ăn chè nói chuyện đạo rồi cho vui. Tôi nói, "Không được. Lúc này để yên mấy cô mấy chú học không có thì giờ. Chúng tôi không có tổ chức. Họ yêu cầu nấu thì nấu, nhưng đem lên mời không ăn." Thì bắt đầu họ sùng, tức. Sao họ không làm theo yêu cầu của họ?
[1:03:41]Thì đó là cái sai, đó là cái sai. Tức là đòi hỏi. Đến chùa là nhớ mình học hỏi chứ không có đòi hỏi, góp ý chứ không có lấn át. Đây là việc nó vậy. Nhưng mà làm như vậy thì cúng được chút mà thái độ đó cái thành ra tổn phước mạng. Lúc nào cũng cố gắng đến chùa mình tùy thuận với quý thầy quý cô. Chừng nào mà ví dụ mình thấy quý thầy quý cô sai quá mình không thể học được thì đi chùa khác, phải không? Chứ đâu có cần đứng đó mà cãi lẫy làm chi. Còn trong một số trường hợp nào đó thì khiêm tốn lại, có khi quý thầy quý cô đúng mà mình sai, nên đừng có chấp cái ý kiến của mình. Có khi ý mình sai phải lắng nghe.
[1:04:23]Bây giờ nói qua cái sự tu hành. Về mặt hoàn cảnh đó, người xuất gia dễ có điều kiện tu hành hơn người tại gia. Tuy nhiên, vẫn có những người tại gia mà có phước thì tu dễ. Ví dụ thế này, nhiều khi cái người đó mà xuất gia vào một cái chùa nhằm cái chùa chuyên môn se nhang, se nhang mất thì giờ lắm ngồi đó mà se mà không biết có vừa se vừa niệm Phật không. Thế nếu vừa se vừa niệm Phật thì không sao, còn ngồi se bận rộn chuyện này bận rộn chuyện kia thì tuy xuất gia mà vẫn không thuận tiện tu học. Còn với những người tại gia nhiều khi họ có phước giàu có, tiền nhiều quá cái cất cái cốc ở sau vườn,
[1:05:06]tối ngày ngồi ngồi thiền riết, thành thử tuy tại gia mà lại rất thuận tiện tu học. Cho nên, cái nói hoàn cảnh căn bản là người xuất gia dễ tu, chưa cũng không chắc. Nó tuy ăn thua cái phước, ăn thua cái phước nhiều hay ít. Rồi cái giáo pháp cũng vậy, cái sâu cạn có thể khác nhau. Như bây giờ nói cái thiền định, thì cái người xuất gia cái chí là quyết tâm cầu giải thoát rốt ráo, có thể là bỏ hết công việc, dồn hết công việc nhập thất ngồi thiền, kế định rồi cứ ráng mà ngồi ráng mà ngồi bỏ hết công việc. Nhưng mà người tại gia nhiều khi không được như vậy. Cũng học cái giáo lý thiền nhưng mà ứng dụng được chừng mức nào đó thôi.
[1:05:57]Ví dụ như chỉ ứng dụng được chánh niệm tỉnh giác trong đời sống. Nghĩa là cố gắng trong đời sống lúc nào cũng giữ được tâm thanh tịnh thì như vậy là đạt rồi với người cư sĩ. Nhưng mà người xuất gia như vậy thì chưa đạt. Người xuất gia mà lúc nào đời sống cũng thanh tịnh thì chưa phải, còn phải đi sâu hơn nữa nhiều hơn nữa, cái yêu cầu nó khó hơn. Cùng một con đường nhưng mà cái đòi hỏi cái yêu cầu nó khác nhau. Thường thường á, đa phần là giáo pháp của Phật thì có thể được cả hai giới áp dụng tu giống nhau chứ không có không có khác.
[1:06:37]Hoàn cảnh có thể khác nhưng mà cái cái giáo, giáo pháp để tu không khác. Ví dụ như niệm Phật, người xuất gia tinh tấn niệm Phật miên mật, người tại gia cũng tinh tấn niệm Phật miên mật cũng xong, hai bên giống nhau hết. Người xuất gia vừa làm việc vừa làm vườn niệm Phật, người tại gia á là vừa làm việc ở công sở cũng ráng vừa niệm Phật cũng có thể được, áp dụng được hết. Ví dụ như quán từ bi, khi ngồi xuống mình quán từ bi khắp chúng sinh, thương yêu tất cả chúng sinh như vậy thì cả hai giới tại gia xuất gia đều áp dụng được như nhau hết, không có khác. Chỉ có cái thế này, là người tại gia khi mà mỗi khi ngồi thiền hay lạy Phật mà
[1:07:26]khởi lòng thương yêu khắp tất cả chúng sinh, thì đó là cái nhân để xuất gia. Vì xuất gia là không còn một cái tình thương yêu nhỏ, mà mở rộng cái tình thương yêu cho đến vô hạn. Nhưng bây giờ mình chưa xuất gia nhưng mà lòng mình đã như vậy, lòng mình nguyện mở cái thương yêu đến vô hạn thì đó là nhân để xuất gia. Nên quý Phật tử mà ngày nào cũng rải lòng thương yêu đến tất cả chúng sinh, đó là chuẩn bị cho cái việc xuất gia về sau. Còn cái người xuất gia mà quán từ bi thì được cái gì? Thì được hai điều. Thứ nhất là không rơi trở lại cái vị trí tại gia, không có bị hoàn tục, hoặc là kiếp sau tiếp tục đầu thai lên ra đời đi tu tiếp.
[1:08:21]Đó là do kiếp này mình quán từ bi, đó là cái thứ nhất. Cái lợi ích thứ hai của người xuất gia khi quán từ bi, là chuẩn bị cái nhân để làm Thánh.
[1:08:33]Một trong những tính chất của Thánh là lòng thương yêu con người thương yêu chúng sinh vô hạn. Không thể có vị Thánh mà không thương chúng sinh, đó là cái bắt buộc. Cho nên, cái người xuất gia mà quán từ bi mà quán sâu đậm miên mật quán kỹ lưỡng, quán mạnh mẽ thì người đó chắc chắn sẽ chứng Thánh, chắc chắn sẽ chứng Thánh. Trong đời sống họ đã thể hiện được cái từ bi với mọi người. Trong lời ăn tiếng nói, trong cái nhìn, cái cử chỉ tay chân, sự giúp đỡ, sự khuyên lơn thể hiện được từ bi, rồi từ từ cái tâm họ sẽ vào định sẽ chứng Thánh đi. Vì quán từ bi là cái nhân để chứng Thánh. Người cư sĩ cũng vậy thôi, nhưng mà người cư sĩ do cái phước chưa
[1:09:20]đủ thì mình dùng cái quán từ bi để bước lên vị trí xuất gia.
[1:09:26]Người tại gia mà lễ kính Phật thì cũng vậy, sẽ từ từ thành người xuất gia. Người xuất gia lễ Phật thường xuyên để đừng bị rớt lại tại gia. Cho nên, có những người đi tu rồi nhiều khi hiểu được cái giáo lý gì không biết cái không thèm lạy Phật. Thì đúng là năm bữa nửa tháng rồi ra đời. Lạy Phật phước rất quan trọng, cái công đức mà lễ Phật quan trọng lắm. Mình mà không lạy Phật, cái nhân cách mình từ từ nó mất dần mất dần. Tự nhiên mình hư, tự nhiên mình sân si, tham lam, đố kỵ bậy bạ. Nhưng mà nếu mình siêng lạy Phật, tự nhiên mình nhẹ cái tham, nhẹ cái sân, bớt nóng, bớt giận, bớt tham đủ thứ.
[1:10:14]Cái tư cách từ từ tăng lên. Đây là những điều vi diệu mà tôi muốn nói nhiều. Cả hai giới đều cần áp dụng hết để tăng phước mình lên, giống nhau hết. Người tại gia bố thí làm phước chi vậy? Để có cái phước làm nền tảng cho cái đời sống dễ dàng rồi thuận tiện tu tập.
[1:10:39]Đây là cái quan trọng, như có người nói: Bây giờ con muốn tu thiền, nhưng mà nhà con quá nghèo, phải làm đầu tắt mặt tối, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, bây giờ làm sao mà mà tu thiền? Thì có nhiều thầy mà tu dạy mà không căn bản thì nói câu này: Nghèo kệ nghèo! Phải không? Cái Phật tánh này không giàu không nghèo, cứ tu! Nói câu đó về người kia cũng không biết đường đâu tu, ổng tiếp tục ổng cày ổng ăn cơm, ăn áo mặc, làm tâm coi như là nó nó bất an. Đó, cái lối dạy như vậy không có căn bản. Vì sao? Chúng ta phải hiểu một điều: không có phước, đừng có hòng nhiếp tâm trong thiền định, đừng có hòng ngộ đạo gì trơn hết á, thiệt!
[1:11:27]Cho nên với cái người mà họ như vậy, thì phải khuyên họ làm phước. Cái phước đó chính là tu. Đối với cái người mà đang thiếu phước thì tạo phước chính là tu, đừng đòi cái tu gì khác. Giúp ai được từng chút gì ráng giúp, dù một hột cơm cho một con kiến cũng phải làm. Đó, vân vân. Thì tích lũy phước qua nhiều như vậy, lần lần cái đời sống nó thay đổi từ từ. Ráng làm phước qua ba năm sau, năm năm sau, bảy năm sau, bắt đầu đời sống mình dễ dàng. Lúc đó cơm đủ ăn, áo đủ mặc, tự nhiên tâm mình nó nhàn nhàn, thơi thới lại, không còn quá bận nữa, không quá bận bịu nữa, lúc đó mới có thể nói tới chuyện nhiếp tâm lại.
[1:12:10]Còn cái người mà rơi vào cảnh khốn cùng, đừng có nói tài, đừng có nói tài là ngồi đó tự tại, kệ cuộc đời, không có chuyện đó đâu. Chúng ta phải hiểu cái nghiệp nó dồn mình vào đường cùng để cho tâm mình mất an. Mục đích của nghiệp là làm cho tâm mình bất an, phải nhớ cái điều đó. Cho nên hễ tâm bất an, phải hiểu là thiếu phước. Đừng có nói nghiệp kệ nghiệp mà tâm tao cứ kệ tâm tu, không có chuyện đó đâu. Hễ mà nghiệp nó dồn mình rồi là nó làm cho mình bất an. Không có ai mà nói chuyện mà đang thọ nghiệp mà tâm bình an, không có chuyện được. Thọ nghiệp mà tâm bình an phải là có cái phước lớn rồi,
[1:12:54]cũng đã qua quá trình tu tập rồi, đã qua một thời gian sống có phước để tu rồi, chứ không phải dễ. Cho do đó người cư sĩ, mình hãy bố thí cúng dường làm phước để tạo cái nền tảng cho đời sống không khó khăn, không bị dồn vào chỗ bất an. Cho nên chúng ta thấy bây giờ nói đừng nói cái người cư sĩ, nói người xuất gia cũng vậy. Có những người xuất gia họ thanh thản, sống một đời nhẹ nhàng, thong thả, tu hành dễ dàng, nhưng có những người xuất gia không có chỗ nương thân, ở vài bữa người ta đuổi mất, đi qua chỗ khác ở được bữa người ta mời đi chỗ khác. Đến đây chính quyền nghi kỵ, qua tới chỗ khác người cư sĩ hắt hủi.
[1:13:39]Nội mà bây giờ nói làm sao yên được? Chiều nay không biết mình tới ở đâu, mình đang đi trên đường nè, bưng cái túi đãi đi trên đường không biết phải ghé ở đâu. Trong đầu ngồi tính cái chuyện mà ghé đâu đỗ đêm nay, nó căng cái đầu chứ đừng có nói mà vừa đi vừa thong dong niệm Phật, không có chuyện đó đâu. Cho nên cái phước nó làm cho mình dễ dàng và làm tâm mình nó yên rồi mới đi sâu vào định. An hay bất an là cái phước nền tảng. Cho nên mình làm đủ cái chuyện phước để cho đừng bị bất an, đừng bị dồn vào chỗ đó, rồi từ từ mới ngồi lên mà tu. Người cư sĩ là vậy. Còn người xuất gia, sống một đời vị tha là để làm gì?
[1:14:22]Để gieo cái nhân vô ngã. Mà vô ngã là mục đích tối hậu của đạo Phật. Quý Phật tử đừng nghe người ta lừa vì danh từ. Có nhiều người họ nói tới đây là chứng được cái tâm viên giác tối thượng thừa, ở đây là Phật tánh là là tối thượng gì đó, nghe mấy cái chữ mà nó thiệt kêu thiệt cao là coi chừng bị lừa bởi danh từ. Cái cao thật sự lại là cái không có gì hết, chính là cái vô ngã. Cái không còn gì hết, đó lại là cái tối cao. Bữa hôm có một lần có có ông thầy, ổng ngồi ổng mới hỏi tôi, nói là cái điều mà tôi nói là vô ngã là cái tối cao, ổng cũng có cái cảm nhận là nó hay. Tôi nói đây là một sự thật, đây là một sự thật.
[1:15:09]Cứ thử, khi mình ngồi thiền, như một người ngồi thiền tâm được định rỗng rang không còn gì hết, thì đây, nếu cái người mà không có thiện căn, phước, thì nhận cái tâm rỗng rang an định đó rồi cho mình ngon. Rồi thôi được rồi, tôi đã chứng được một phần, tôi đã thấy được tánh. Nhưng cái người mà có thiện căn á, trong cái tâm rỗng rang đó, họ vẫn thấy họ còn một cái ta trung tâm, vẫn còn thấy một cái gì là riêng là ta khác với mọi người, họ cảm thấy đó là cái ràng buộc, bức xúc, họ không chấp nhận. Họ đi nữa. Đây là chỗ mà Đức Phật ngày xưa đã từ bỏ các đạo sĩ ra đi đó. Lúc mà Ngài học với ông Út Đầu Lãm Phất,
[1:15:56]Ngài chứng được Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là cái định rất cao. Ngang đó là người ta coi như là mình chứng Thánh hết. Nhưng mà Đức Phật với trí tuệ của vị Phật tương lai siêu việt, Ngài vẫn cảm thấy còn cái ta riêng tư gì trong cái cảnh giới đó. Trong cái định vô cùng sâu đó, cái tâm vô cùng rỗng rang thênh thang bao trùm hết, mà Ngài vẫn nhận ra còn cái ta tiềm tàng, tiềm tàng, vẫn còn cái gì riêng nơi chính mình, nơi chính mình, và Ngài biết đó là bản ngã. Nên Ngài đã bỏ đi, Ngài bỏ đi và Ngài tìm được cái tìm được chỗ đó, chỗ vô ngã. Nơi sau này khi mà Ngài chứng được cái tận cùng là cái chỗ gì?
[1:16:39]Không còn cái riêng tư, không còn cái ta, rất sâu không còn cái ta, và lúc đó Ngài trở thành tuyệt đối, trở thành toàn thể vũ trụ luôn là vậy. Đó là chỗ đó. Nên cái người xuất gia làm phước là không phải để cầu phước nữa, mà để gieo cái nhân vô ngã, là sống hết cho mọi người, không còn gì cho mình nữa, là để gieo cái nhân vô ngã. Người tại gia thì tu tập thiền định khó hơn, nhưng cũng có thể đạt được các kết quả nếu đủ phước. Người xuất gia thì thuận tiện hơn, mà phải quyết liệt để hướng tới cái sự chứng ngộ viên mãn. Có khi là phải qua nhiều kiếp chứ không phải một kiếp đâu. Tại vì mình á cái trí tuệ kém á, mình nhìn thấy chuyện gì cũng năm hai năm,
[1:17:29]nhưng mà cái trí tuệ các bậc Thánh nhìn thấy một lần chục kiếp, trăm kiếp. Thấy tính cái chuyện gì là tính một trăm kiếp sau chuyện này sẽ thành tựu, vậy nên mới bình tĩnh. Còn mình là đòi kiếp này phải chứng liền, kiếp này mà không chứng là khóc á. Còn các vị Thánh không có, gieo một cái nhân này để năm chục kiếp sau cái quả nó xuất hiện.
[1:17:54]Các kết quả của người tại gia và người xuất gia nhiều khi nó cũng không nhất định là ai hơn ai đâu. Có khi cư sĩ tại gia lại được cái định sâu hơn cái người xuất gia luôn, nên chuyện này không có biết chừng. Không có hẳn là thấy cái người đó cạo đầu mặc áo cà sa mà nói rằng cái người này định hơn cư sĩ luôn luôn, không có. Có những người cư sĩ ở nhà tu vậy vẫn làm đầy đủ bổn phận mà tâm vẫn vào định như thường. Nên ở đây nó ăn thua cái phước gì đó, không phân biệt. Nghĩa là họ không có cái duyên phước để làm người xuất gia, nhưng họ có cái duyên phước để chứng được thiền định. Hai cái điều này không có dám đánh giá ai hơn ai thua ai hết, không dám đánh giá.
[1:18:35]Do đó, cái chắc ăn nhất là mình cứ tôn trọng mọi người, cứ tôn trọng. Ví dụ cái người cư sĩ thì có bổn phận tôn trọng các huynh đệ cư sĩ của mình, tôn trọng người xuất gia. Người xuất gia cũng vậy, người xuất gia tôn trọng huynh đệ xuất gia của mình nhưng cũng phải tôn trọng người cư sĩ, vì đâu biết chừng là trong những người cư sĩ này có những người họ đạt được cái định cao hơn mình. Không biết chắc. Đó, đó là cái sự thật như vậy. Người mà tại gia mà sống được như người xuất gia thì vẫn tu tiến như thường. Có những người tại gia họ vẫn không thay đổi hình thức, vẫn để tóc, vẫn mặc đồ thường phục, nhưng mà họ sắp xếp được hoàn
[1:19:20]cảnh gia đình, họ không phải đi làm, ở nhà họ nghiên cứu, học, tu tập, họ làm phước, rồi có khi các anh em bạn đạo tới nói chuyện họ góp ý cho sự tu hành được, thế họ làm y như người xuất gia luôn, thì họ vẫn tu rất tốt, vẫn tiến được đạo như thường. Là họ tuy tại gia mà sống đời sống như người xuất gia thì không có sao hết, vẫn chứng được đạo như thường, không có phân biệt. Còn người xuất gia mà nếu không khéo, không khéo tổ chức để cho cái đời sống mình bận rộn như người thế tục coi chừng thua á, coi chừng thua. Cứ làm chuyện này làm chuyện kia lăng xăng hết rồi đúng là thua luôn người người cư sĩ.
[1:20:00]Đây là chỗ phải cẩn thận. Bây giờ nói về sự truyền bá giáo hóa, người xuất gia đó thì có đủ tư cách để đăng đàn thuyết pháp. Ví dụ như là quý thầy thì có quyền lên để ngồi trên bục để giảng về giáo pháp. Thế còn quý cư sĩ thì thường không có tư cách đó đâu, hiếm, cũng có một vài trường hợp nhưng hơi hiếm, đa phần là cái đăng đàn thuyết pháp là chuyện của người xuất gia. Còn người tại gia thì hỗ trợ, hỗ trợ cho cái việc giáo hóa của người xuất gia bằng cách gì? Bằng cách gì? bằng cách rủ người ta đi nghe pháp. Nghĩa là ông thầy đó ông giảng pháp, mình không giảng được, thôi mình rủ người này rủ người kia đi, cũng là một cách.
[1:20:47]Nghĩa là hỗ trợ nhau để truyền bá chánh pháp, phải không? Rồi truyền bá kinh sách, truyền bá băng giảng. Đó cũng là cái phụ tiếp với người xuất gia để truyền đạo. Nghĩa là ông thầy ổng giảng được một bài, có khi thu được cái băng. À cái băng nào mình chê thì thôi mình quăng, còn cái băng nào thấy hay cái mình đưa người khác nghe nữa, nó tăng thêm được cái số người nghe Phật pháp thì đó cũng là y như mình thuyết pháp. Có một lần cái tôi nói, tôi nói đùa đùa. Có lần có người cư sĩ mới nói là: "Con đem băng của Thầy cho người này nghe, người kia nghe rồi thấy người ta thay đổi, người ta biết tu thấy mừng." Thì tôi mới nói đùa:
[1:21:27]"Vậy là chia phân nửa phước với Thầy." Tôi nói vậy. Vì công là Thầy giảng thì phân nửa thì đưa băng người ta nghe thì phân nửa. Thì tôi nghĩ vậy là chắc chia đôi. Nhưng mà không ngờ trong bữa tối tôi ngồi thiền, tôi mới hướng tâm về cái việc đó xem cái nhân quả phước đức như thế nào thì tôi mới ngạc nhiên là tôi phát hiện không phải như vậy. Là khi cái người cư sĩ mà đưa cái băng giảng của tôi cho người khác nghe á thì người đó được hưởng chín phần phước mà tôi được có một phần. Khi tôi hướng tâm về tôi mới biết như vậy. Là vì sao? Vì tôi giảng rồi tôi vô tư. Nhưng mà cái người đưa băng á phải suy xét,
[1:22:12]phải tính toán, phải quen biết, phải thuyết phục đủ cách hết trơn, phải bận tâm với cái người kia rồi mới đưa băng cho người ta. Phải không? Như thấy cái gia đình đó mình ngồi coi, nhắm không biết nghe băng có chịu không nha, ngồi nói chuyện, dụ dụ. Giảng hay cái băng này nghe được nè. Nói dụ đã đời mới đưa cái băng cho người ta. Cho nên chính cái công lao, cái bận tâm đó làm được phước nhiều hơn nhiều. Cho nên tôi giảng như thế này xưa giờ được có một phần, mà cái người đưa băng cho người khác được chín phần lận. Tôi nói vậy nghe quý Phật tử nghe dụ đó về ráng đưa băng cho được hưởng chín phần.
[1:22:51]Rồi người cư sĩ còn có thể làm đàm đạo giải thích cho nhau được. Thí dụ có những lúc mình không đi chùa, rồi cái ngồi gặp nhau, cái đem một câu chuyện đạo lý, một cái giáo lý nào đó thắc mắc hỏi qua đáp lại cũng là cái cách để truyền bá giáo pháp được, phải không? Hoặc là góp tiền in kinh ấn tống, thấy có cuốn sách nào, cái đạo lý nào quan trọng hay, muốn cho nhiều người biết, một mình in không nổi thì mình mình rủ nhiều người lại góp tiền lại in, xin giấy phép nhà nước rồi in, chứ đừng có in chui nhà nước bắt. Về nhân quả thì thế này: Khi mà một người cư sĩ á cung kính cúng dường Phật, cúng dường A La Hán nè, cúng dường những vị hiền Tăng thì sẽ được phước làm Tăng.
[1:23:39]Đó, đó là phải khẳng định. Ví dụ như là quý thầy quý cô giờ này mà được làm người xuất gia thì có nghĩa là một kiếp nào đã từng quỳ xuống lạy đảnh lễ bậc Thánh nào đó rồi nên đời này được xuất gia. Còn quý Phật tử mà còn làm cư sĩ thì không chắc là đời trước mình chưa xuất gia đâu. Có khi đời trước đã từng xuất gia rồi. Nếu mà mình mở đạo nhãn ra mình nhìn xuống đây nhiều khi đây hơn phân nửa là ngày xưa đầu trọc rồi, coi chừng. Mà giờ đi lang thang tóc mọc lại, không biết được. Nó không biết, có cái sự đắp đổi qua lại giữa người xuất gia và người tại gia nó kỳ khôi lắm. Như cái người làm Tăng cũng vậy,
[1:24:22]nếu mà không làm tròn bổn phận của mình, một đời tu hành mà không làm lợi ích cho ai, qua đời sau rớt văng ra làm cư sĩ liền.
[1:24:32]Cho nên người xuất gia cũng phải làm phước ghê lắm, đời sau mới được làm người xuất gia trở lại. Người cư sĩ cũng vậy, đi chùa học hỏi giáo pháp, cúng dường, tu tập, đời sau được làm người xuất gia. Mà khi làm người xuất gia cái ỷ ta đây coi mình hơn người tại gia thì đời sau rớt làm người tại gia lại liền. Đây là điều rất là lạ. Người tại gia kính trọng người xuất gia thì sẽ được làm người xuất gia. Còn người xuất gia coi thường người tại gia thì cũng sẽ được làm người tại gia. Cho nên cái người xuất gia mà khôn á là đối với cư sĩ mình vẫn tôn trọng. Không ai chê không ai khinh hết thì mình tiếp tục được làm người xuất gia.
[1:25:16]Thì cũng kỳ lắm, giống như mấy thầy vậy đó, mà đối với các ni mà coi thường, tại trong đạo Phật có hơi có bất bình đẳng là ni thua Tăng, nhiều khi quý thầy đối với quý cô mà coi thường là kiếp sau sẽ được làm ni cô liền.
[1:25:33]Cho nên tôi sợ, tôi không dám khinh ai, không dám chê quý cô. Ai cũng quý trọng hết trơn. Cái người mà xuất gia mà mất nhân cách nặng là đời sau có thể đọa làm súc sinh, đọa địa ngục luôn không biết chừng. Còn những trường hợp mà hoàn tục, có những người tu không trọn, có những người tu mà trong một đời đó tu không có trọn, nửa chừng hoàn tục thì mình phải xét trong hai trường hợp: là khi hoàn tục rồi họ còn nhân cách hay mất nhân cách? Nếu mà họ hoàn tục rồi mà nhân cách vẫn còn tốt thì phải hiểu rằng cái người này cái phước làm Tăng họ không đủ thôi. Đời trước họ gieo cái nhân gì không đủ nên khi ra khỏi chùa rồi nghĩa là trở lại đời sống cư sĩ
[1:26:23]mà tư cách vẫn còn tốt thì người này không sao, phước không có tổn lắm. Vì họ lúc mà làm Tăng họ cũng đàng hoàng, nhưng mà chỉ hết phước làm Tăng thôi thì bước ra làm cư sĩ thì phước không có tổn. Nhưng mà nếu cái người đó hoàn tục rồi mà mình thấy cái tư cách không có thì sau này đọa nặng, khốn đốn. Nên có nhiều người nói thấy mấy ông thầy tu mà ra đời khó làm ăn, khó làm ăn. Quý Phật tử có nghe chuyện đó không? Nói mấy người tu rồi mà ra hoàn tục là làm ăn không được, nó cũng lý do đó đó. Vì lúc ở trong chùa mình hưởng nhiều quá, hưởng cái sự tôn trọng, hưởng cái sự cúng dường mà không bố thí thì đúng là ra đời làm ăn không được, hết phước rồi.
[1:27:10]Nhưng mà cũng có những người hoàn tục rồi mà vẫn làm ăn được. Nó có những cái như thế này: là lúc ở trong chùa siêng năng làm phước, siêng năng công quả.
[1:27:24]Chỉ có cái là khởi cái kiêu mạn gì trong giáo pháp nên mất phước làm Tăng. Nhưng mà do sống tốt với huynh đệ, do siêng năng công quả nên khi ra làm cư sĩ vẫn làm ra tiền để sống được. Cho nên cái nhân quả nó nhiều lắm. Nó chằng chịt không biết được. Người cư sĩ đến chùa đó thì đừng có đòi hỏi chư Tăng làm theo ý mình, còn người xuất gia thì đừng có đòi hỏi cái sự cúng dường quá đáng. Cả hai bên đừng ai đòi hỏi ai hết, cứ tự giác thôi, cứ tự giác. Nghĩa là cái người xuất gia lúc nào cũng cố gắng làm lợi ích cho mọi người, còn người tại gia cũng vậy, tâm nguyện mình cũng lúc nào cũng cố gắng giúp đỡ
[1:28:10]cho người tu, đó vậy thôi chứ đừng ai nhắc nhở ai, đừng có kêu réo ai hết. Nghĩa là cả hai giới thì chúng ta đều cố gắng góp công góp sức hỗ trợ nhau để cùng làm cho Phật pháp hưng thịnh.
[1:28:31]Và chúng ta thấy này: trên cái tương đối thì đúng là có phân biệt người xuất gia, người tại gia và cho rằng người xuất gia ở vị trí cao hơn người tại gia. Nhưng mà nếu đứng trên con mắt của các vị Bồ Tát, các vị Thánh thì các Ngài không có phân biệt, không có phân biệt điều đó. Nên như nói như hạnh Quán Âm, Bồ Tát Quán Âm tùy duyên thị hiện. Khi cần độ người đó với hình thức là Tỳ kheo thì Ngài hiện thân thành vị Tỳ kheo để độ. Khi cần độ người đó với hình thức một cư sĩ thì Ngài hiện thân thành một cư sĩ để độ. Miễn làm sao cho chúng sinh được lợi ích chứ không cần phải phải bày tỏ cái giá trị của mình.
[1:29:18]À không cần là à mình là Bồ Tát, hễ thị hiện với chúng sinh là phải thị hiện Tỳ kheo cho người ta nể, không có. Nghĩa là mang hình thức nào mà miễn người chúng sinh họ nghe được. Nói là thị hiện chứ không phải đích thân Ngài thị hiện đâu, Ngài xúi người này độ người kia thôi. Nghĩa là Ngài tác động âm thầm trong tâm để người này đem giáo lý đến cho người kia. Nghĩa là ví dụ có cái ông đó, bây giờ ổng không có tin tôn giáo, ổng ghét đạo, ghét ghét thầy chùa, nói thẳng vậy. Bây giờ mà kêu một ông thầy chùa tới nói chuyện đạo thì ổng ổng không nghe. Nhưng mà có cái điều là ổng thích là người nữ, mà người nữ phải đẹp thì tác động cho một người nữ cư sĩ nào
[1:30:02]đó ở đây, ví dụ ở đây có mấy cô nào đẹp, thấy cô nào cũng đẹp chứ sao, thì cho một cô trong cái số cô này đến gặp ổng, thủ thỉ ngồi nói chuyện phân tích mà ổng lại chịu nghe. À ổng thấy có lý, nhân quả có lý à, giải thoát luân hồi ờ ừ cũng được. Thì người đẹp nói thì nghe mà ông thầy chùa nói không nghe. Nó có trường hợp nên tùy người nên không quan trọng là phải dùng hình thức nào, miễn làm sao cho chúng sinh lợi ích là được. Nên những vị Thánh ở trên là vậy đó, họ nhẹ nhàng. Mình thì tạm thời vì trong cái thế giới tương đối mình phân biệt ra là xuất gia, tại gia cho nó có tôn ti trật tự. Nhưng mà khi vượt lên trên của sự tu hành,
[1:30:46]vượt lên trên của sự giải thoát rồi, đối với lòng vị tha vì chúng sinh rồi thì cái hình thức tại gia hay xuất gia nó không quan trọng lắm. Mà quan trọng ở cái tâm tu hành của mình và quan trọng ở cái mình làm lợi ích được cho người khác hay không vậy thôi. Chịu chưa? Chịu. Hết giờ luôn rồi, trời đã mưa. Có ai hỏi gì không? Sợ thì hết giờ rồi. Thôi nghỉ ha. Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều...