Transcript: Người Nhớ Tiền Kiếp - Pháp Cú 19

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:12:12

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:10]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta nghe tiếp à lần thứ 19 bài Pháp Cú. Hôm nay chúng ta cũng à học được ba bài kệ. Cái bài kệ như thế này: "Người nhặt các loại hoa, ý đắm say tham nhiễm, các dục chưa thỏa mãn, thần chết đã mang đi". Sở dĩ Đức Phật nói bài kệ Pháp Cú này bởi vì có một cái tích chuyện sau đây: Vào trong thời Đức Phật đang còn tại thế, lúc đó ở trên cõi trời Đế Thích, có một vị trời thế lực cũng rất là lớn, gọi là Malabhari, thì dạo chơi nơi cái vườn với cả mấy trăm thiên nữ.

[1:01]Thì à phước của các vị trên cõi trời rất là lớn, cho nên a là mọi cái cảnh nó đều hiện ra như cái ý muốn của mình. Và vì phước lớn nên các vị không có phải bận tâm mọi việc mà thường hay hưởng phước và vui chơi với nhau. Thì những cái trò chơi trên cõi trời, hễ muốn điều gì thì cái điều đó nó hiện ra. Cho nên các vị rất là sung sướng, khoái lạc, tự tại. Thì hôm đó các vị chơi trên cái khu vườn của cõi trời, thì trong cái số mà cả ngàn thiên nữ cùng với vua trời đang đi dạo chơi, họ đang hứng những cái cành hoa để kết lại thành những tràng hoa, họ tung lên cho nó bay giữa giữa bầu trời như vậy để cho vui đùa với nhau.

[1:48]Rồi các vị cứ lựa những cái hoa đẹp kết thành tràng rồi quăng lên trời cho nó tụ thành những cái hình này hình kia lơ lửng lơ lửng rồi từ từ đón cho nó rơi xuống, thế là các ngài làm nhiều trò. Thì trong đó có một cái cô thiên nữ, cô bay lên trên một cái cành cây, cô hái cành hoa, nhưng ngay lúc đó bất ngờ cô chết, cô biến mất liền như một ngọn đèn tan không để lại dấu vết, rồi cô sinh xuống cõi người. Cô sinh vào trong một cái gia đình giàu có ở thành Savatthi, Xá-vệ, lúc đó là Đức Phật và chư Tăng cũng đang ở đó. Khi sinh ra đời thì cô nhớ liền cái tiền kiếp của cô. Cô sinh ra lúc nào cô cũng nhớ mình là người của cõi trời không phải cõi này.

[2:31]Mình có một cái người chồng đầy thế lực tên là Malabhari. Đó là cái người này rất là tuyệt vời, mặc dầu thì ông cũng nhiều vợ, có cả mấy trăm bà vợ như vậy, nhưng mà sống đều là thiên nữ với nhau, họ sống hài hòa, vui vẻ, phước rất là lớn, tánh ông rất là tốt. Mà cô rất là thương yêu người chồng của mình. Cho nên sinh vào đây chợt nhớ lại cõi trời xưa, cái người chồng tuyệt vời của mình như vậy, lòng cứ thương nhớ. Cứ lớn lên dần dần, dần dần, rồi cô gặp được Đức Phật, cô quy y Phật, rồi cô làm, nỗ lực làm các công đức. Rồi được gả chồng cũng phải có chồng. Năm 16 tuổi là đã được gả chồng. Gả chồng rồi cũng sinh được đứa con.

[3:14]Trong suốt thời gian đó là cô chỉ làm mỗi một việc duy nhất là làm các công đức, cúng tập trung cúng dường Phật và chư Tăng, chỉ với một lời nguyện ước là: "Xin cho được sớm trở về lại với cõi trời, với cái người chồng của mình". Mà cô thường hay kể chuyện đó với mọi người thì mọi người không biết thực hư ra sao. Nhưng mà thấy cô cũng là một người có cái phong cách của một thiên nữ, tại người rất là đẹp, là đi đứng đoan trang, yểu điệu, tư cách, phẩm hạnh đàng hoàng nên họ cũng có vẻ tin. Không phải là một người mà ảo tưởng nói dối. Nhưng mà từ nhỏ đã nói với cha mẹ là: "Con là từ trên cõi trời con chết xuống đây, chồng con vẫn còn trên đó,

[3:55]con chỉ mong một điều, làm các công đức để trở về lại với chồng con trên cõi trời". Cô cứ nói vậy là riết rồi gia đình, họ hàng cũng biết, làng xóm ai cũng biết chuyện đó. Cho nên thường hay gọi cô là người tôn vinh chồng, bởi vì hễ mà ai hỏi: "Chồng cô là sao?", cô ngồi mà cô cứ ca ngợi hết cái đức tính này tới đức tính kia của ông chồng cô. Nghĩa là cái vị mà vị trời Đế Thích đó đó, tại vì trên đó ngoài cái vua trời Đế Thích ra là có nhiều vị thiên tử rất là đại thế lực, uy đức rất là lớn, nên cô vậy từ nhỏ 3, 4 tuổi mà cứ tối ngày cứ khen chồng mình không, rồi tới lớn lên từ từ, từ từ như vậy.

[4:32]Đến khi gặp được chúng Tăng, làm bao nhiêu công đức lành, cúng dường chúng Tăng, cũng quỳ lạy trước Phật và chư Tăng thế này: "Hôm nay con dâng cúng phẩm vật này, xin Đức Thế Tôn và chư Tăng chứng minh cho con để con được trở về với chồng con ở trên cõi trời". Cô nói thẳng, không sợ. Nghĩa là ai có nói điên, tâm thần, cô cũng không sợ, cô nói thẳng cái ý nghĩ của cô. Mà khi ai hỏi chuyện cô, cô cứ tôn vinh chồng, cô ca ngợi chồng cô, cho nên cô được đặt cái tên là người tôn vinh chồng. Năm cô 20 tuổi thì cũng ngày đó là cô cũng đến cúng dường hầu hạ với chư Tăng, nghe Pháp xong về tới nhà, bất ngờ chết liền.

[5:15]Giống như mình gọi là nhồi máu cơ tim mình chết hay tai biến não rồi ngã xuống chết liền, nhưng mà cô đi rất là êm thắm. Rồi cũng ngay lúc đó thì cô hiện trở lại trên cõi trời và cái cuộc vui mọi người chưa tàn, mới đi qua mấy tiếng đồng hồ. Cuộc vui chưa tàn bởi vì thời gian cõi trời và cõi người nó khác nhau. Thì lúc đó ông ông trời đó ông mới hỏi: "Ủa, nãy giờ nàng đi đâu?" Thì không thấy tại vì cái chết của cô đột ngột quá, nó không giống như cái chết bình thường của một một người cõi trời. Cái người cõi trời chết nó vẫn có báo trước. Trường hợp cô này rất là lạ, biến mất một cái rồi mấy tiếng đồng hồ sau hiện ra trở lại.

[5:55]Không ai biết rằng trong khoảng thời gian đó cô đã ở hết 20 năm ở cõi người. Thì cô mới nói rằng là cô vừa mới chết, cô sinh xuống hết 20 năm ở cõi người, và bây giờ thì sau khi làm các công đức cúng dường Phật Thế Tôn, cô chỉ cầu nguyện để trở về và cô được như nguyện nên bây giờ là hiện ra trở lại. Sau khi các tỳ-kheo vào làng khất thực thì mới nghe tin, ngày hôm sau mới nghe tin là cô vừa mất ngày hôm qua thì mọi người đều thương tiếc. Các tỳ-kheo mà chưa chứng đạo thương tiếc, nói rằng tội ghê, ít có thấy người Phật tử nào mà thuần thành như vậy, là hết lòng lo phụng sự chúng Tăng như vậy.

[6:38]Đâu biết rằng cô làm bao nhiêu công đức chỉ với một mục tiêu là không có tu hành, không giải thoát, không giác ngộ gì hết trơn á, chỉ về với ông ông chồng mình thôi. Cho nên cô này cũng rất lạ. Rồi chư Tăng cũng khen một cái người phụ nữ thật là là tốt bụng, tử tế, chu đáo đối với Tam Bảo. Còn những người mà đã chứng đạo thì thanh tịnh hơn, bình an hơn, biết cội nguồn hơn. Đến khi trở về tịnh xá thì chư Tăng mới kể lại với Phật: "Bạch Thế Tôn, cái cô Phật tử đó mới ngày hôm qua còn khỏe mạnh, cúng dường hầu hạ chư Tăng, ngày hôm nay chúng con vào làng thì cô đã chuẩn bị thiêu rồi. Không biết sự tình như thế nào?" Phật mới nói:

[7:20]"Không, cô đó đã sinh lên cõi trời về lại với người chồng của mình. Và cái chết nó đến đột ngột như vậy cũng là cảnh báo cho mọi người hãy nhớ rằng trên thế gian này mọi điều đều tạm bợ, những cuộc vui ta chưa hưởng hết thì thần chết đã mang ta đi." Nên Đức Phật mới nói bốn cái câu kệ đó: "Người nhặt các loại hoa, ý đắm say tham nhiễm, các dục chưa thỏa mãn, thần chết đã mang đi". Câu này nói vừa chuyện cõi trời mà vừa chuyện cõi người. Bây giờ ta ta phân tích câu chuyện này một chút xíu. Thường thì à các tôn giáo hay tin rằng có một cái cõi trời sau khi chết. Nhưng mà hiểu về cõi trời đó như thế nào thì tùy các tôn giáo.

[8:08]Các tôn giáo mà thần quyền xuất phát từ Do Thái, rồi sau này trở thành cái đạo Công giáo của La Mã hoặc là trở thành cái Hồi giáo của Ả Rập thì đều tin rằng có một cái cõi trời, trên đó người ta sống sung sướng. Nếu lúc mà còn làm con người, người ta làm mọi điều đẹp lòng Chúa, Hoặc là có một cõi địa ngục để đày đọa mọi người vĩnh viễn nếu lúc sống người ta làm những điều ác độc. Nhưng mà theo toán học thì ta thấy trên cuộc đời này không bao giờ có cái điều gì mà nó tuyệt đối đúng hay tuyệt đối sai. Nó đều lẫn giữa đúng giữa sai, giữa cái tội lỗi và cái điều phước thiện, giữa cái thiện và cái ác.

[8:55]Cuộc sống là như vậy. Nên sau này người ta mới có cái gọi là fuzzy logic á, là cái toán tập mờ, tức là nó lai lai này chút, lai chỗ kia chút. Ví dụ như bây giờ ta định đánh thuế thu nhập, là hễ người nào mà có thu nhập một tháng là 5 triệu thì đóng thuế, thì nghĩ mức đó vừa. Nhưng sẽ có một người là chỉ 4.999.000, nó thiếu 1 đồng nữa đủ 5 triệu phải không? Thì ta thấy là nếu đánh thuế cái người 5 triệu, còn cái người thiếu 1 đồng nữa 5 triệu thì không bị đánh thuế, thì ta thấy có công bằng không? Không công bằng. Cho nên cái toán học mà nó răn rắc như vậy, nó luôn luôn nó có một cái gì đó nó không công bằng, nó không có ổn.

[9:36]Nên vì vậy, lần lần người ta mới phát triển cái loại toán tập mờ, tức là không để có cái việc chặt ngang cái con số 5 triệu đó cái lọt mất cái người mà trước đó thiếu 1 đồng. Thì cái toán tập mờ nó sẽ làm cho mọi việc công bằng hơn, không để có những cái con số như vậy. Ví dụ nói là cái người mà vị thành niên phạm tội thì không có truy xét, đợi đủ 18 tuổi mới truy xét, thì tính đếm hết ngày, ngày sinh tháng đẻ đếm từng ngày năm nhuận năm không, thằng này nó thiếu một ngày nó đủ 18 tuổi thì hôm qua nó mới giết người nên không truy xét. Nên ta thấy là chỉ vì thiếu một ngày mà không truy cứu tội nó, trong khi nó là quỷ sứ.

[10:16]Nên vì vậy, cái luật của trần gian nó không có không hợp lý lắm, không có chắc lắm. Nên nơi đạo Phật, Đức Phật mới mở ra cả một cái vũ trụ quan nó hoàn chỉnh hơn, hợp lý hơn. Nên nói địa ngục cũng không phải là chỉ có một cái lò lửa để đốt con người, mà có nhiều cái tầng địa ngục khác nhau: tội vừa vừa, tội nặng, nặng dữ dội, cực ác thì sao, thì sao, vân vân. Cõi trời cũng vậy, cái người làm điều thiện tới mức độ nào thì hưởng cõi trời nào, mà cái người tu đến mức độ nào, thánh thiện đến mức độ nào thì có cái cõi nào, nhiều cái tầng trời khác nhau phù hợp theo các loại quả báo. Nên vì vậy, cái vũ trụ quan về cõi trời và địa ngục trong

[10:56]đạo Phật nó hợp lý hơn, công bằng hơn, công bằng hơn. Riêng trong cõi trời rất là năng động, cai quản cái cõi thế gian của mình, có phước cũng rất là lớn, gọi là cõi trời Ba Mươi Ba, hay ta còn gọi là cõi trời của vua Đế Thích nha. Cõi trời đó rất là thắng ý, sung sướng, mà cũng hầu hết như mọi cõi trời khác là chư thiên tử thường muốn cái gì thì cái điều đó hiện ra. Ví dụ như một người thiên nữ họ về đến cái lâu đài của họ ở, họ thích có một cái áo lụa nhẹ thì ngay lập tức thân hình họ thành một cái áo lụa liền, màu trắng, đẹp, nhẹ nhàng. Đến khi họ đến họ dự cái hội với các chư thiên khác, họ muốn có một bộ đồ trang nghiêm theo như thế này thì lập tức

[11:45]thân họ hiện ra bộ đồ rực rỡ, nghiêm trang, lộng lẫy, đẹp đẽ. Họ thích cái mái tóc của họ buông xõa như thế này thì ngay lập tức mái tóc buông xõa dài bay theo gió. Họ muốn cái mái tóc họ được vấn theo từng lớp từng tầng từng tầng theo nhiều tầng nhiều, có đính hoa, có cài trâm thì lập tức mái tóc biến thành đính hoa, có cài trâm. Nó đặc biệt như vậy, muốn cái gì được cái nấy. Nên vì vậy, những người ở cõi trời họ nhìn xuống cái cõi thế gian họ họ thấy thương, bởi vì thấy cõi người vất vả, vất vả mà không toại nguyện, không có toại nguyện. Ví dụ như ta cũng vậy, ta nhìn một con kiến, một đàn kiến nó đi nó bò bò từ từ vào nhà bếp,

[12:27]nó lấy một một cái hột gạo thôi, nó bưng đi rất là vất vả, phải không? Trong khi mình làm sao? Mình chỉ cần thò tay là nắm ra một nắm gạo hay là nấu cái gì cái là đã có bữa ăn ngon. Mình nhìn thấy con kiến nó phải vất vả đi bao nhiêu cái cây số của nó mới lấy được một hột gạo bưng về, thì cũng vậy, cõi trời nhìn ta cũng vậy. Thấy mấy cô gái muốn đẹp á, phải không biết bao nhiêu tiền vô mỹ viện, nhuộm tóc cho đỏ, cắt môi, cắt mắt rồi làm cực quá, quá tội nghiệp! Rồi đi sắm đồ thời trang đồ, ôi quá cực! Để dành tiền ki cóp cả năm trời làm mua một bộ đồ hết tiền, rồi còn nhiều thời trang tầm bậy tầm bạ nó hở hang tùm lum

[13:07]ra hết, cho nên chư thiên họ thấy họ rất là tức cười. Trong khi ở trên kia là họ muốn cái gì là được cái nấy. Tuy nhiên, chỉ những người có phước mới được như vậy, là đời xưa á ai muốn cái điều gì chính đáng mình thường hay giúp, thấy điều đó chính đáng mình hay giúp. Ví dụ ai xin tiền đi nhậu mình không cho, nhưng mà thích có một bộ đồ đẹp mình cho tiền mua liền, tức là luôn luôn đáp ứng, luôn luôn giúp đỡ mọi cái ý muốn của chúng sinh mà ý muốn chính đáng cho liền. Thì người đó vậy, khi lên cõi trời muốn cái gì được cái nấy. Có những người trên đời này không phải là cõi trời mà muốn cái gì cũng

[13:46]được cái nấy thì cũng gọi là na ná, xem xem cái phước của cõi trời. Tuy nhiên, nó có quy luật thế này, là khi ta có phước thì ta hưởng phước, hưởng phước xong thì thì hết phước, đó là quy luật. Nên vì vậy, đây là cái điều khác nhau giữa đệ tử Phật và và cái người không phải đệ tử Phật. Là cái người mà không phải đệ tử Phật á, trước đây là người tốt bụng, thấy ai thiếu thốn mình giúp, thấy ai cần gì mình cho luôn luôn. Thì khi mình cho là mình có cái ý muốn cho người khác hưởng, nên bây giờ tự nhiên phước ra cái mình cũng hưởng, đó là chuyện rất bình thường. Nên ta nói: "Ủa tại sao người đó sang trọng,

[14:36]giàu có mà ta không có cái gì ta phiền trách được?", bởi vì người đó đang hưởng cái phước của mình. Vì đời xưa họ muốn cho người khác hưởng nên bây giờ họ được hưởng một cách tự nhiên, không ai khó chịu hết, ra vậy. Nhưng mà chỉ có một cái là hết phước rồi thì sao? Bắt đầu cuộc sống nó chật vật lại, những điều mình muốn bắt đầu nó khó có hơn. Hồi xưa mình muốn có liền, bây giờ muốn bắt đầu nó khó có, đó là dấu hiệu phước đã đã suy giảm. Còn người đệ tử Phật khôn hơn một chút là có phước không hưởng hết. Có phước không hưởng mà để dành cái phước đó lại, dồn vào cái việc tu tập tâm linh. Bởi vì cái việc tu tập tâm linh,

[15:17]thiền định cần cái số phước, phải đầu tư cái phước rất là lớn. Thiếu phước ngồi thiền không vô. Nên đó là lý do mà người đệ tử Phật chân chính không có ngu dại gì có phước hưởng hết. Lúc nào hễ thấy mình dư dả thì luôn luôn tìm cách tiếp tục giúp người, cúng dường, bố thí, làm phước, vân vân, đủ thứ hết, để không có hưởng. Còn có bao nhiêu tiền mình cứ xài hết rồi cái tâm linh không bao giờ tiến bộ được. Còn người đệ tử Phật dành dụm được chút tiền dư dả là tìm cách giúp người, rồi nhờ vậy mà khi bắt chân ngồi thiền, tâm mình yên hơn, mau hơn, để dồn vào trong tâm linh. Cõi trời chết á, sự thật là cũng không có đột ngột như cái cô thiên nữ đó.

[16:08]Cô này là một trường hợp trong nhiều trường hợp khác, chứ ta đừng tưởng là lấy cái cô này mà làm ví dụ cho mọi trường hợp của chư thiên, chứ không phải là hễ chư thiên chết cái bất ngờ tan mất như là một ngọn đèn như ngọn đèn dầu nó tắt á. Không phải như vậy, nhưng đây là trường hợp đặc biệt, đó, là cổ chết cái tan biến mất tiêu luôn, không còn dấu vết, giống như một người biến mất trong hư vô. Còn đa phần chư thiên chết cũng có những dấu hiệu báo trước giống như con người mình vậy. Giống như con người mình là cũng phải bệnh, phải xanh xao, phải già nua vậy đó. Ờ có cái dấu hiệu gì, trừ những người tai biến,

[16:45]nhồi máu cơ tim chết bất ngờ thì cũng có những trường hợp bất ngờ, cũng có trường hợp báo trước. Thì trên chư thiên cũng vậy, thường ở trên chư thiên mà chết thì cũng có những dấu hiệu báo trước là thế này: là cái hào quang đó bắt đầu nó lu dần lu dần lại, yếu dần, hết. Rồi bắt đầu cũng là người cõi trời mà lại có cảm giác mệt mỏi, bệnh hoạn, chứ người cõi trời không có bệnh, nhưng mà khi có dấu hiệu mệt mỏi, bệnh hoạn là cũng sắp chết. Rồi cái thân hình của chư thiên đó mất cái hương thơm, chứ chư thiên luôn luôn tỏa ra cái hương thơm, vậy. Rồi cái dấu hiệu thứ tư là khởi tâm nhàm chán thiên xứ.

[17:26]Khởi tâm nhàm chán thiên xứ là tự nhiên động tâm lên muốn sinh vào cõi khác, cái ý muốn nó cứ thôi thúc thôi thúc nhẹ nhẹ ở trong tâm, không còn vui với cái cõi mình đang ở. Rồi cái dấu hiệu thứ năm nữa là nếu ngài đeo hoa, tự nhiên cái nghiệp nó khiến hoa héo, không còn tươi luôn luôn nữa. Chứ còn thường chư thiên đeo hoa tươi hoài tươi hoài, không héo. Còn cái hoa của một người sắp hết phước cõi trời nó bắt đầu nó nó héo đi. Đó là cái trường hợp. Còn cái hào quang, ở đây sẵn cái dịp mà giảng bài này, thầy cũng tiết lộ cái nguyên tắc mà tại sao người ta chụp hình ăn ảnh và không ăn ảnh. Chúng ta có nghe nói người chụp hình ăn ảnh mà không ăn ảnh không?

[18:07]Ăn ảnh là thế này, tức là cũng con người đó mà khi chụp hình, nhìn vào trong hình nó đẹp hơn bên ngoài thì gọi là ăn ảnh. Còn cái người mà không ăn ảnh á, chụp hình ra thấy lại xấu hơn bên ngoài, gọi là không ăn ảnh. Tại sao có hiện tượng là ăn ảnh, không ăn ảnh? Tại sao? Thì đây là đây là rất là hay. Hôm trước thầy gặp một cái ông ổng thẩm phán, ổng lại có cái thú vui là ổng thích chụp ảnh, ổng hay đi sưu tập những cái máy chụp hình tốt, ổng hay chụp hình này hình kia, và ổng nói câu này cái làm lý giải ra mọi điều. Ổng nói là trong thiên nhiên nó có những cái màu, những cái sắc mà mắt mình nhìn không thấy,

[18:48]nhưng mà cái ống kính á nó lại ghi nhận được cái màu sắc đó. Ví dụ như ta nhìn ta thấy cái hoa nó nó đỏ như thế, cành lá nó xanh như thế, là mắt mình thấy. Nhưng nếu mà ống kính nó thấy á, ống kính nó thấy màu đỏ hơn hoặc là xanh hơn. Nên cái ống kính nó nhận ra được cái những cái ánh sáng, những cái sắc màu mà mắt con người nhìn hổng ra. Nên khi ta chụp vào, ta rửa ra, ta mới thấy: "Ồ, thiên nhiên nó đẹp như thế!" Chớ còn mắt mình nhìn thấy cây nó cũng xanh xanh vừa vừa, nhưng mà chụp qua ống kính đó, xanh nó tươi hơn. Như vậy. Thì cũng vậy, nơi mỗi con người ta có cái hào quang mà mắt mình nhìn hổng thấy.

[19:27]Ví dụ chúng ta nhìn qua một loạt, ta thấy người này cũng đẹp một chút, xấu một chút, đẹp chút, xấu chút. Nhưng mà sự thật, mỗi người có cái hào quang mà cái ống kính chụp cái nó lấy được cái hào quang đó mà mắt mình nhìn không thấy. Mà người có hào quang nhiều á thì ống kính nó bắt được cái hào quang đó nhiều nên khi rửa hình ra đẹp hơn. Cho nên nếu mà ta đi chụp hình mà ta thấy ăn ảnh là lúc đó ta biết cái thời điểm ta chụp hình là ta đang có gì? Có hào quang. Như vậy đây là điềm lành và những thời gian sắp tới ta sẽ có nhiều may mắn. Thì Chư Thiên cái hào quang đó nó hiện rõ ra nên ai cũng nhìn thấy nhau như vậy.

[20:05]Mà khi hào quang lu bớt là coi chừng, coi chừng. Thì cũng vậy, con người cũng vậy. Có những người họ có thần thông, họ gặp cái người sắp chết họ biết. Thấy người kia đang khỏe xăm xổng vậy á nhưng mà họ nhìn vô họ thấy hào quang tắt hết rồi. Ta nhìn ta hổng thấy, tại ta thấy người đó vẫn đủ mắt, mũi, miệng. Mà cái người họ có con mắt họ nhìn thấy tối lại, họ biết rồi, hết. Họ nói: "Thôi anh ráng tu nha." 7 ngày sau ông kia chết thiệt. Còn cái việc mà nhớ lại kiếp trước là chuyện cũng thường hay xảy ra ở trên thế giới này. Mà chuyện nó xảy ra nhiều đến nỗi cái hãng Hollywood của Mỹ cũng làm một cái bộ phim về điều này, là cái phim Birth.

[20:44]"Birth" là sinh ra. Do nữ diễn viên Nicole Kidman á, diễn viên nổi tiếng đóng vai chính với một thằng bé. Chuyện kể rằng là cái người chồng của cô chạy bộ buổi sáng, chạy jogging buổi sáng mùa đông, chạy băng qua những con đường tuyết. Mà ổng chạy quá đi, ổng chạy quá cho đến khi mà ổng vừa chạy qua dưới chân cầu thì ổng đột quỵ rồi ổng gục chết dưới chân cầu luôn. Rồi sau này người ta phát hiện người ta đem đi chôn rồi làm lễ đàng hoàng. Nhưng mà ổng không ngờ ổng tái sinh vào đúng cái tòa nhà cũ của ổng. Đó là tòa nhà, building nó nhiều tầng, nhiều apartment á, nhiều phần nhiều căn hộ chung cư. Sinh ra làm thằng bé.

[21:22]Thằng bé lớn lên nó nhìn nó nhớ vợ, nhớ cô vợ. Mà cô vợ thì đã tòng ngồng hai mấy tuổi rồi, còn thằng bé nó mới có mấy tuổi. Lúc nào nó cũng đăm đăm, buồn buồn, rầu rầu, nó đeo theo cổ. Nó nói rằng nó yêu cổ, nó là chồng của cổ. Nên bởi vậy cái nhớ luân hồi nó khổ là vậy đó. Đó là lý do tại sao ta không nên nhớ kiếp trước á. Nhớ kiếp trước rồi nó rắc rối lắm. Người đắc đạo nhớ được, mình hổng đắc đạo mình nhớ, mình gặp người ta người lớn: "Ôi! Ông này trước con tui chứ gì!" Cái nó nó nó nó rắc rối. Bà già nói: "Ôi! Bà này trước vợ tui chứ gì!" Cái chuyện nó kỳ khôi. Cho nên thôi đừng nhớ cho nó khỏe.

[22:01]Cái thằng bé này nó nhớ cho nên nó nó gây rắc rối. Cô kia thì cổ sắp sửa yêu một ông, cổ sắp sửa là lấy thêm một ông chồng nữa thì thằng bé nhảy vô nó phá đám. Nó kể lại đúng những kỷ niệm cũ. Cô kia sửng sốt liền. Những chuyện bí mật chỉ có hai người biết nó kể ra hết luôn. Khi mà nó ngồi nó nghe nhạc, cái chân nó cứ đá tằng tằng vô cái cái cái bàn, cái ghế của nó thì đúng cái cách ngày xưa ông chồng cũng làm như vậy. Cô này cô nhớ ông chồng mỗi lần nghe nhạc là chân ổng cứ đá phập phập vô cái ghế, thằng bé nó ngồi nghe nhạc nó cũng đá y như vậy, nên cổ xúc động, cổ từ hôn với ông kia để chuẩn bị

[22:33]bưng thằng bé đi trốn, nuôi nó, dặn nó là cổ sẽ nuôi nó tới năm nó 19 tuổi là lấy vợ được thì hai người cưới nhau, chuẩn bị như vậy. Thì lúc đó là cổ cũng là ba mấy bốn mươi gì rồi nhưng mà bất chấp, tại vì cái tình yêu đối với người chồng cũ còn mà những dấu hiệu nó hiện ra rõ quá. Nhưng mà rồi sau này thằng bé nó mới phát hiện ra một điều là trong kiếp trước lúc nó lấy vợ nó có bồ nhí.

[22:59]Cái người đó người ta đưa cái cái bức thư đó lại cái nó nhớ lại đúng rồi, ngoài cái người vợ này nó còn có bồ nhí nữa. Cho nên nó cũng không chung thủy và bây giờ nó phá hoại cái tình yêu đang tới hợp lý của cô này thì nó cũng ác. Cho nên một lần cái lúc nó đang cổ bưng nó vô để cổ bế lên bồn tắm cổ tắm cho nó thì nó mới nói thật là những chuyện nó nói vừa rồi nó dối không có thật, nó hổng phải chồng cổ gì hết. Thế là thôi, cái cổ mới quay lại với cái người yêu để chuẩn bị cưới. Rồi thằng bé trở lại sống một cuộc đời bình thường. Cái bộ phim nó nói như vậy. Nói chung là cái người mà viết kịch bản đó cũng rất là

[23:34]là quan tâm tới vấn đề này và rất là sâu sắc như vậy. Thì cái cô này cổ nhớ cái kiếp trước, nhớ người chồng của mình nên biết làm phước và dùng cái lời nguyện để định hướng cái quả báo của mình. Đó, đây là một trong những đặc tính của Bồ Tát thì cô này cô cũng làm giống như vậy. Cái đặc tính của Bồ Tát là siêng làm phước mà luôn luôn định hướng cái quả báo của mình. Ví dụ thế này. Ví dụ như bây giờ cũng có một con đường nó hư, nó hư hỏng, người ta đi qua lại người ta cứ phải té, bị sình lầy hoặc là rất là khổ sở thì một số người xúm nhau rủ nhau đi đắp đường, đắp con đường đó lại để cho mọi người đi qua liên

[24:19]lại cho nó ổn định ở dưới làng quê. Thì những cái người mà không phải là Bồ Tát á, đắp đường rồi vui vì thấy mình làm được một điều thiện và tin nhân quả nên cầu mong rằng nhờ cái phước đắp đường này mà sau này mình sẽ mua được một chiếc nghĩa là Mercedes gì đó, Mercedes gì đó, hạng E-Class gì thôi cũng được. Mà được, sẽ được. Khi đắp một con đường để cho người ta đi thì sau này cái phước mình sẽ được như vậy, phải không? Đi đường sẽ không bị tai nạn tầm bậy tầm bạ mà lần lần có xe có cộ rồi thoải mái đi. Nhưng mà ở trong cái nhóm đó có một cái ông ổng phát tâm Bồ Tát nên ổng không có phát nguyện như mấy người kia là

[24:57]được có xe hơi đời xịn mà ổng phát nguyện thế này. Ổng nói rằng: "Nguyện hôm nay con đắp cái con đường này cho mọi người qua lại, xin được kết duyên lành với tất cả chúng sinh. Những ai đặt chân một bước chân đi qua khúc đường này đều có duyên lành với con và sau này cùng với con tu hành để thành tựu được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác." Ổng định hướng quả báo đi theo hướng khác. Cho nên sau này cứ mọi người cứ đi qua đi lại đi qua đi lại, kết duyên với ổng hết, mắc nợ ổng hết. Đến lúc nào đó ổng hiện thân để mà giáo hóa chúng sinh thì người ta cứ nườm nượp tới để mà nghe pháp và tu hành cùng với ổng.

[25:40]Cho nên vì vậy, Phật tử mình biết khôn, mình làm điều phước gì thì mình định hướng cái quả báo mình theo cái hướng mà mà tu tập tâm linh, giáo hóa chúng sinh hay hơn hơn là định hướng được được phước như cái cô Chư Thiên này, làm bao nhiêu phước chỉ mong được về cõi trời. Thật ra cái điều này ta cũng thông cảm một chút. Thông cảm nè, bởi vì cái vị thiên tử mà chồng của cô này đó là ông cũng rất là là vĩ đại, con người rất là vĩ đại, có trí tuệ, có tài năng, có đạo đức nên được cái thế lực rất lớn trên cõi trời. Và cái người phụ nữ họ thường hay có cái tâm là bị bị lệ thuộc với cái người cái người chồng của mình,

[26:25]cái người mà mình đã thần tượng, mình tôn thờ, rồi thì mình muốn gắn bó mãi mãi trong nhiều kiếp cho nên cái tâm lý của cô là không vượt ra khỏi. Cuộc đời cô kiếp này và mãi mãi kiếp sau chỉ xin được làm chiếc bóng của chàng. Cổ đâu kiếp nào cổ thề á. Cho nên bây giờ là cứ lên cõi trời rồi mà lọt xuống cõi người cũng xin trở về lại bởi vì cái lời xưa thề nặng quá, chỉ xin được làm chiếc bóng của chàng mãi mãi. Rồi khi mà về cái cõi này, lúc mà sinh xuống cõi này thì cô cũng có chồng có con nhưng mà tình yêu thì sao? Hướng về trên cõi trời. Nên chúng ta thấy là luân hồi là như vậy. Khi chúng ta luân hồi sinh tử từ kiếp này qua kiếp kia, ta bị thay chồng đổi vợ.

[27:14]Ta bị thay chồng đổi vợ. Mà ví dụ như kiếp xưa ta bên Trung Hoa ta có chồng như thế, có vợ như thế; kiếp khác ta đầu thai qua Ả Rập ta có chồng như thế, có vợ; rồi sau đầu thai về Việt Nam mình có chồng như thế, có vợ như thế. Nếu hên á thì mình không có gặp lại cái người trước. Nhưng mà nếu xui gặp lại, có chồng rồi, có vợ rồi gặp lại thì chuyện gì xảy ra? Chuyện gì xảy ra? Nó luôn luôn làm ta phát sinh cái tình cảm, luôn luôn vậy. Nên cái hiện tượng này là hiện tượng rất phổ biến trong xã hội mà ta khó trách cứ là đang có vợ chồng ổn định mà bỗng nhiên bị người khác hớp hồn. Người chồng mình không biết, người vợ mình không biết.

[28:05]Đây là cái điều mà để ta hiểu rõ bản chất cuộc đời, ta nói thẳng để ta hiểu rõ bản chất cuộc đời không có gì là tuyệt đối quý giá hết. Thấy người chồng mình ổng cực kỳ ngoan, tiền bao nhiêu ổng đưa mình xài hết, thậm chí đôi khi ổng hơi sợ mình nữa. Thấy chồng tui là tui quản lý chắc. Không, ba tháng nay con tim ổng rớt qua bên cái nhà hàng xóm mất rồi. Mình không hay. Hoặc là cũng vậy, người chồng thấy người vợ đảm đang, chung thủy, ổn định đâu đó không có gì sai, hai tháng nay hồn phiêu diêu đâu mất tiêu rồi. Đó là một cái cái hiện tượng có thật. Nhưng mà nếu nếu xã hội này không có cái đạo lý,

[28:45]không có cái luân thường, không có luật pháp mà giữ gìn thì xã hội rối tung beng lên hết luôn. Người ta sẽ phá gia đình rồi tan vỡ hết mà Tây phương đang bị. Tây phương luật pháp họ xử rất là nhẹ, đạo lý thì không có cho nên họ thay chồng đổi vợ liền liền ngay trong kiếp này làm gia đình không ổn định, con cái rất là khổ sở. Còn Á Đông ta từ xưa cái điều này được quy định trong đạo lý và bây giờ luật pháp của nhà nước cũng quy định trong luật pháp, vừa có cái truyền thống đạo lý vừa có luật pháp nên ta ổn định hơn các nước Tây phương. Nói ổn định hơn thôi chớ cái lối sống Tây phương nó đang tràn ngập

[29:26]vào Việt Nam và cũng phá tan hết rồi, hiện nay đang phá tan hết. Nên vì vậy, ta phải giữ lại cái đạo lý này, ta phải giữ lại cái đạo lý này. Khi mà biết cái sự tình luân hồi sinh tử như vậy, ta bị thay chồng đổi vợ ra nhiều kiếp như vậy thì ta phải ý thức một điều: Thứ nhất là chúng sinh đáng thương hơn đáng trách. Đôi khi có những sự lạc lòng bởi vì cái duyên xưa nó trở lại, nó làm người ta vào trong ngang trái là chúng sinh đáng thương hơn là đáng trách nên không có lên án là vậy. Nhưng không phải là chiều theo cái khuynh hướng đó. Phải không? Vì nếu chiều theo là xã hội tan vỡ hết, gia đình tan vỡ hết.

[30:08]Cho nên vì vậy ta không trách nhưng không cho phép.

[30:14]Cái quan điểm của đạo Phật ta là vậy. Ta không có khủng khiếp cực đoan, hễ mà người phụ nữ vi phạm mới đem người ta ra chọi đá tới chết, đó ác, không hiểu được luân hồi nhân quả là gì. Thấy người ta phạm tội cái là giết người ta. Tuy nhiên, ta cũng không buông tuồng như Tây phương là chìu theo. Cho nên ở đây, cái quan niệm của đạo Phật của ta là cũng là quan niệm của Á Đông của ta, là ta không lên án nhưng không cho phép. Nhớ như vậy. Ta nhớ cái quan điểm này để mà ứng xử. Cái cô này, cô Patipujika này á, tức là người tôn vinh chồng này, cô có cái may mắn là cô được sinh vào cái thời của Đức Phật và có chúng Tăng phi phàm.

[30:58]Cho nên cô có cái cơ hội cúng dường làm phước rất là, rất là ân cần. Và cô hiểu được nhân quả, vì nhớ kiếp trước ở cõi trời, cho nên tin điều thiện điều ác và hiểu nhân quả rất kỹ, nên tập trung làm bao nhiêu điều phước để cúng dường Phật và chúng Tăng, để cầu phước. Cái may như vậy. Cho nên cái phước cô phục hồi rất là nhanh. Chứ còn nếu như chúng ta muốn phục hồi cái phước cõi trời của mình, mình phải làm lụng, tạo công đức vất vả suốt cả một đời như vậy, chứ không phải dễ, nhiều khi chưa đủ. Còn cô này cô may gặp Phật với chúng Tăng là ruộng phước mênh mông, gieo một hưởng triệu triệu lần. Cho nên là khi cô đem hết thành ý của mình để cúng dường Phật

[31:43]và chúng Tăng, nên phước cõi trời cô phục hồi rất là lẹ. Cô không còn phải ở lâu và cô chết trở lại cõi trời liền. Cho nên ở đây, cái hiện tượng mà chết trẻ á mà ta nói là cái người này sao? Chết yểu, không may mắn, nhưng mà đó là tùy người. Có người do hết nợ sớm để họ về cái cõi trời trở lại. Cho nên cái người mà chết trẻ có mấy trường hợp, một trường hợp là do người này đời trước gây cái nghiệp nặng, hay sát sinh cho nên kiếp này bị chết sớm, gọi là yểu mạng. Những cái mơ ước mình không được hoàn thành, rồi phước chưa tạo được nhiều, những cái dự định làm không hoàn thành được, rồi phải chết ngang,

[32:27]chết xong rồi vất va vất vưởng, đó gọi là cái người yểu mạng vì ác nghiệp. Còn có những người mình thấy họ đang vui vẻ, tốt, không có gì hết, bỗng chết ngang. Chúng ta tưởng là họ yểu mạng, nhưng không phải. Họ chỉ có nợ ở trần gian này một chút thôi, rồi họ về cõi trời rất là nhanh, cho nên chúng ta không đánh giá được. Thấy cái người mà chết vội, không có đánh giá được nha. Phải biết nhân biết quả rồi mới nói. Còn cái việc thế này, cái cô này cô chết cũng lạ mà cô trở lại cõi trời cũng rất là lạ. Khi cô chết, cô tan biến giữa hư không, rồi khi cô trở về cũng vậy, cô hiện ra trở lại như cái thân cũ giữa cõi trời.

[33:10]Trường hợp cô rất lạ, chứ còn nếu một người bình thường á không phải như vậy. Một người bình thường á, ví dụ khi ở trên cõi trời mà sắp chết á thì thân thể mất hào quang, cảm giác bệnh hoạn, vân vân như nãy ta nói á, rồi mới tan biến ra để vào cái thai mẹ ở dưới này. Mà khi trở lại cõi trời, làm bao nhiêu công đức rồi á, chết cũng vậy, cũng bệnh, cũng báo trước rồi mới từ từ chết. Khi chết, được chư Thiên đón tiếp đàng hoàng. Lúc đó trong cái nhà của mình có nhiều cái tiếng nhạc, có cái hào quang, rồi khi thần thức ra khỏi thân là được chư Thiên đón về trời. Đó là bình thường mọi người. Còn cô này lạ lắm, tắt một cái mất tiêu,

[33:52]tới khi mà sinh lại cõi trời cũng lại hiện ra trở lại như cũ. Chính vì cái câu chuyện này mà nhiều vị sư Nam tông đã hiểu lầm. Nhiều vị sư Nam tông cho rằng chết là đầu thai liền, không có cái giai đoạn trung gian chờ đợi. Hôm vừa rồi cũng vậy, có một ông sư Thái Lan, ông à, dĩ nhiên ông không biết tiếng Việt, thì có một người Phật tử mới dịch cho ổng nghe cái bài Điều Sóng Thần Muốn Nói của chùa mình, thì ổng thích quá, ổng mới đòi đến gặp thầy. Thì thầy mới nhờ ổng là dịch cái cuốn Nhân Quả Công Bằng để đưa qua Thái Lan. Thì ổng cùng với quý thầy chùa mình á dịch, mấy người Phật tử biết tiếng Thái Lan đã dịch qua dần dần, dịch qua.

[34:31]Dịch tới cái đoạn mà thầy nói là: Người chết có giai đoạn vất vưởng làm ma khi mà chưa có duyên đầu thai, ổng không chịu. Ổng nói: Chết đầu thai liền theo cái điều ổng đã được học. Thì quý thầy mình không, quý thầy nói: Trong thực tế, thực sự là chết không đầu thai liền. Hai bên không ai chịu ai hết, quý thầy mình không chịu làm phim nữa. Nếu nói sư không đồng ý, không làm nữa. Thì ổng cũng tiếc, tại ổng thấy cái giáo lý, bài đó rất là hay, mà bây giờ vì chỗ đó mà không làm tiếp, cũng tiếc. Rồi cứ nói qua nói lại, đêm nằm ngủ ma hiện ra liền.

[35:07]Đêm nằm ngủ thấy một cái cô gái tóc dài xõa ra, đứng nhìn ổng mắt trơ ra. Sáng dậy ổng nói: Có ma thiệt. Nó hoảng, thôi làm tiếp. Bắt đầu ổng mới chịu là là đồng ý theo ý mình làm tiếp. Sau này khi mà ổng sắp về Thái Lan rồi thầy có gặp, thầy mới nói thế này: Đạo Phật là đạo của sự thật, sự thật như thế nào, ta phải biết chính xác như thế. Sự thật là người chết có những khi họ không đầu thai được, họ vất vưởng một thời gian, đó là sự thật, ta phải biết. Còn cái mà ví dụ như bên Đại thừa Bắc tông nói 49 ngày đầu thai chỉ là lý thuyết thôi, đừng tin. Bởi vì 49 năm chưa đầu thai. Còn bên Nam tông mà nói chết đầu thai liền cũng

[35:50]chỉ là lý thuyết thôi, không đầu thai. Nên phải biết đạo Phật là đạo của sự thật, cái gì sự thật ta dựa vào đó để ta ta phân tích mà ta học hỏi, chứ đừng có loan theo lý thuyết. Thầy nói vậy rồi ổng cũng ngẫm nghĩ ngẫm nghĩ rồi thôi, ổng ổng đem về, ổng đưa cái đĩa về bên đó cũng rất là thích. Còn cái trường hợp mà thời gian cõi trời và cõi người không tương thích nhau, cái cô đó cô về đây cô sống 20 năm, trên cõi trời mới có mấy tiếng đồng hồ, cuộc vui chưa tàn. Nên lúc đó là chư Thiên sau khi mà nghe người vợ của mình trở lên lại kể, thì cái chư Thiên cái ông cõi trời đó, cái ông Thiên tử đó ông mới than, ổng nói:

[36:31]Cõi người thật là thiếu phước mà đời sống thật là ngắn ngủi. Tại trên chư Thiên là họ thọ 1000 năm, mà 1000 năm của họ tính ra là bằng khoảng 36 triệu năm của mình. Lúc đó trái đất mình tan hoại, tận thế, sóng thần, ôi đủ thứ trò hết, thì mới qua một kiếp của chư Thiên đó. 36 triệu, lúc đó loài người nhiều khi chưa xuất hiện nữa, chưa xuất hiện. Khủng long chết tới chết lui, bão đánh vô đánh ra đủ thứ hết. Nên vì vậy, chúng ta thấy là nhìn cái kiếp của cõi người rồi nhìn cái kiếp của cõi trời, đôi khi ta thấy thân phận làm người nó hẩm hiu, nó tạm bợ, vụng vặt. Ta cứ tưởng 100 năm đời người là dài,

[37:15]ta cứ đắm theo những cái danh lợi rồi mưu hại, làm khổ sở nhau. Chứ nếu ta biết cái thời gian của vũ trụ nó vô tận như vậy, đời người thật là vô nghĩa, mình không đáng để mà tập trung hết cái cái sức của mình để làm điều ác nha, chỉ có đem hết tâm hồn trái tim của mình để làm điều thiện cho cuộc đời nếu ta biết cái cuộc đời ngắn ngủi. Nhưng mà cũng có cái ưu điểm trở lại của cõi người là ta tu tập lại có kết quả hơn. Cho nên nhiều chư Thiên á sau khi mà họ học được một số điều rồi, họ hay xin phát nguyện xuống cõi người để tu và làm các công đức, tại trên cõi trời khó làm được công đức, ai cũng sướng quá.

[37:58]Nơi cõi người này còn nhiều chúng sinh đau khổ, còn nhiều chúng sinh si mê lầm lạc không biết đạo lý, cho nên về đây mình dễ giáo hóa, dễ làm phước hơn. Với cái sự vất vả thiền định ở cõi người nó dễ chứng nhanh hơn cõi trời. Ví dụ trên cõi trời á, mình tu một kiếp sẽ chứng mất ngàn năm, là 36 triệu năm ở cõi người. Còn sinh xuống cõi người nhiều khi tinh tấn chừng hai kiếp à là chứng đạo, hay ba kiếp là chứng đạo, thì vẫn còn rất là lời. Cho nên nhiều vị Bồ-tát rồi đã thích xuống cõi người tu là vậy đó. Tính về thời gian nó lời hơn nhiều, lời hơn nhiều. Cho nên, tuy chúng ta ở đây cõi đây khổ, thời gian nó ngắn ngủi,

[38:41]thân phận con người bèo bọt, mây trôi, nhưng nó còn cái lời là khi ta dụng công tu thiền, ta được lời rất nhiều về thời gian, ta chỉ có cái lời đó. Do đó, mọi người cố gắng tu hành, cố gắng làm phước giúp người và cố gắng tu thiền. Nhé, đó là cái lợi thế của ta, chứ sau này lỡ về cõi trời lại không được cái lợi thế này. Lúc đó đòi xuống cõi người nữa mất công. Thôi bây giờ đang ở cõi người, cố gắng làm mọi điều vất vả để thương yêu cuộc đời, giúp đỡ cuộc đời, tử tế với con người rồi nỗ lực hành thiền ngày đêm. Thì khi mà cô mất như vậy thì chư Tăng kể lại, Đức Phật mới nhân cái cơ hội đó để khuyên mọi người

[39:27]là phải ráng tu, đừng mất thời gian mà hưởng các cuộc vui của dục lạc, vì không biết tử thần đến lúc nào. Nó như người nhặt các loài hoa, nhặt hoa là tượng trưng cho mình ham vui á. "Ý đắm say tham nhiễm, nhưng mà các dục chưa thỏa mãn, thần chết đã mang đi", là như vậy. Đâu có biết rằng mình đang hát karaoke, mình đang đi vô vũ trường, mình đang đi du lịch, mình đang đánh bài bạc, đang hẹn với bồ, bất ngờ chết, thần chết mang đi. "Các dục chưa thỏa mãn, thần chết đã mang đi". Vì vậy, xin vui lòng đừng karaoke, đừng vũ trường, đừng đánh bài và đừng có ham đi chơi đồ nhiều, đừng bồ bịch nhiều, nha, vì không biết thần chết mang đi lúc nào.

[40:13]Giờ ta học bài Pháp Cú kế tiếp nè: "Như ong đến với hoa, khéo léo lấy chút mật, không làm hại hương sắc, cũng vậy, thánh vào làng". Cơ sở dĩ mà có cái bài kệ này là từ cái câu chuyện à vào thời Đức Phật cũng ở Kỳ Viên, cũng ở Xá-vệ,

[40:37]Thì lúc đó, Đức Phật buổi sáng sớm ngài dùng Phật nhãn nhìn khắp thế gian xem coi ai là người có duyên đáng để độ. Thì từ Kỳ Viên, tức là ở ở thủ đô của nước này, Phật nhìn qua tới thủ đô của cái nước phía nam là nước Magadha á, nơi cái thành Vương Xá, có cái ông chủ ngân hàng, trong này tên là Kosiya. Ổng giàu có nhưng mà không bao giờ bố thí. Và hà tiện kể cả với vợ và con mình. Nghĩa là vợ con ổng cũng phải sống thiếu thốn như người nghèo. Ổng ích kỷ cực độ, hà tiện cực độ, không muốn chi tiêu cái gì. Một đồng vô chỉ vô thôi, không có xuất ra. Mỗi lần mà xuất ra ổng đau khổ vô cùng. Nhờ vậy mà được vua tin cậy.

[41:23]Vua tin là cái người này giữ tiền không mẻ. Cho nên giao ổng làm chủ toàn cái kho bạc. Nên ta thấy cái người hà tiện là không phải là bị ghét hết đâu nha. Người hà tiện không ngờ cũng có cái chỗ dùng, là vua giao giữ tiền. Thì trong kinh nói thế này, giống như một cái hồ nước bị ma ám, không ai dám xuống lấy nước xài, cũng vậy, cả cái tài sản lớn lao của ổng không ai dùng được một đồng nhỏ. Kỳ lạ như vậy. Thì có một lần, ổng đi vào hoàng cung để hầu vua Bimbisāra. Trên đường về, thì đúng là cái ngày mà Đức Phật đã chọn tới lúc phải độ ổng rồi đó. Thì về, trên đường về, ổng không dám đi xe ngựa,

[42:05]ổng sợ phí, tốn tiền thuê người thuê xe đó, nên thôi thà đi bộ về cho nó đỡ tốn tiền. Ổng đi bộ mà khi mà đi ra khỏi hoàng cung rồi thì ổng sợ đi nó mòn dép, lột đôi dép lên cầm đi, xách đi, đi chân không chơi cho nó đỡ hư dép. Siêu đẳng. Ở trong cung vua thì đi dép cho có nghi lễ, bước ra khỏi hoàng cung rồi, liếc liếc không thấy ai là cúi xuống móc dép ra bỏ túi đi chân không đỡ mòn dép. Thì khi ổng đi đến cái khúc chợ, lúc đó ổng thấy một cái bà bả bán cái bánh, cái mùi bay thơm phức ra. Thì ổng nhiều ngày nhiều tháng ổng ăn uống kham khổ á, cho nên cơ thể ổng bắt đầu cái lúc nó đòi. Ổng thèm quá!

[42:47]Mà ổng cắn răng để đi luôn chứ không mua, mua sợ tốn tiền. Đúng cái lúc cái nghiệp nó khởi lên, cái cơn thèm và cơ thể nó kích thích, bắt đầu ổng phát bệnh luôn. Ổng về tới nhà ổng nhảy vô giường ổng nằm, ổng rên. Bà vợ nói: "Ông bị bệnh gì?" Ổng nói: "Không". Cái bả hỏi gặng riết lại, cái ổng bắt đầu ổng mới tiết lộ, ổng nói đi ngang thấy người ta có cái bánh ngon quá. Bả nói: "Trời ơi! Có cái gì ổng làm dữ vậy? Được rồi, bữa nay tôi sẽ nấu luôn nồi bánh đãi cả nhà ăn". Ổng nói: "Ế! Sao có chuyện mà đãi cả nhà? Không có chuyện đó". Bả biết rồi, bả nói: "Thôi thôi thôi được, để tôi nấu tôi với ông ăn". Ổng nói:

[43:21]"Ủa, bà cũng cần ăn nữa hả?" Mọi người sợ chưa? Sợ chưa? Mới nói trên đời ổng này được vào tập Guinness là vậy đó, Guinness đó. Bà vợ bả lắc đầu thôi, nhưng mà thấy sợ ổng chết. Sợ ổng thèm bánh rồi ổng chết cái mới lấy cũng lấy về. Thì về chợ Tân Bình mua miếng sô-cô-la, miếng va-ni rồi miếng sữa, miếng kem, miếng đậu đem về mới giấu hết vào người bưng lên trên cái lầu bảy. Nhà ổng cũng lớn, có lầu bảy. Để ổng tự tay ổng chiên cái nào ổng ăn cái đó cho nó ngon. Nhưng mà khổ cái là mới chiên được ít chưa kịp ăn thì Phật sai ngài Mục-kiền-liên tới. Thì ngài Mục-kiền-liên tới hiện ra giữa hư không ngay cái cửa sổ.

[44:04]Ổng đang chiên mà cái ổng thấy thoang thoáng sa-môn hiện ra thì ổng hiểu ngay là mấy ông thầy tu hay đi làm sao? Hay đi khất thực. Ổng thấy vậy cái ổng quay lưng lại, ổng không thèm không thèm nhìn. Ổng làm ngơ không thấy để khỏi phải cho. Mặc dầu là ổng biết là ngài đứng trên hư không á, tại trên lầu bảy mà. Ổng quay lưng lại ổng xoay xoay cái bếp qua ổng ngồi ổng chiên tiếp. Thì ngài lại hiện ra bên đây. Cái ổng quay chỗ khác ngài lại hiện ngay chỗ đó. Cái ổng bực quá! Ổng nói: "Ông mà bay hết cả nhà tôi tôi cũng không cho nữa". Ngài bay hết cả nhà. "Làm cho hết khói cái nhà này tôi cũng không cho".

[44:36]Ngài làm khói bung hết cả nhà, ngợp cay mắt luôn, ổng sợ quá. Ổng nói: "Bà bà, cho ổng một cái cho ổng đi cho rồi". Thì bà vợ mới đưa cái cái rổ bánh chiên nó nhỏ nhỏ dầu ở trong đó nó hứng lại để nó đỡ hao á, cầm cái rổ đưa ngài. Lấy một cái đưa nhưng mà lấy ra một cái nó dính luôn cả chùm. Khi mà ngài đặt một tay vô ngài cầm là lúc mà bả bỏ vào trong bát thì nó dính theo, giật không ra. Bị thần thông của ngài mà. Ổng mới nắm ổng giật lại, ổng ghì lại, giật cho bằng được. Giật toát mồ hôi cái bỗng nhiên nó toát nó hết cái cơn bệnh và hết cái cơn thèm. Tại nó chỉ là cái bệnh thôi, một dạng bệnh tâm lý chứ không phải là ai thèm đến như vậy.

[45:16]Đó là một dạng bệnh nó xuất hiện. Hết cơn bệnh rồi cái ổng chợt tỉnh ra lại. Ổng mời ngài vào ngồi. Lúc ổng mới tỉnh ra: "À, có một người có thần thông như vậy". Chứ lúc trước, thần thông siêu phàm của ngài ổng không thấy luôn, ổng chỉ thấy cái bánh thôi. Giờ bắt đầu thì ngài vào ngồi ngài không ăn mà ngài thuyết pháp cho ổng. Rồi duyên xưa bắt đầu ổng tỉnh ngộ. Cái ngài Mục-kiền-liên nói: "Hãy đem cái số bánh này về cúng dường Phật và chúng Tăng ở Kỳ Viên". Ổng mới nói ổng nói: "Trời, cái đó là cách đây đó là gần mấy ngàn cây số". Ngài Mục-kiền-liên nói: "Không sao, hãy đi với ta. Hãy đi xuống cầu thang".

[45:49]Thì không ngờ là cái nhà ổng là ở Vương Xá thành cách đó mấy ngàn cây số, mà ổng đi xuống cầu thang thì chân cầu thang nằm ở Kỳ Viên, ở thành Xá-vệ, do thần thông của ngài Mục-kiền-liên. Đến đó ổng gặp Phật và ổng dâng cúng các cái bánh thì Đức Phật cũng bí mật dùng thần thông của mình hiện ra vô số vô số số bánh cho, cúng đầy đủ tất cả chư Tăng, kêu dân lại bố thí. Rồi bánh còn dư đem ra đổ một cái hóc, bây giờ vẫn còn gọi là hang bánh, cái vị trí đó vẫn còn tên là cái hang bánh. Sau khi mọi người dùng thọ thực xong, Đức Phật thuyết pháp cho ổng nghe, ổng chứng quả Tu-đà-hoàn luôn cả hai ông bà.

[46:26]Từ đó, khi mà ổng trở về lại, cũng leo cái cầu thang đó leo lên thì trở lại ở Vương Xá thành, ổng đem hết tất cả tài sản của mình để làm các điều phúc, cúng dường chúng Tăng. Cái câu chuyện như vậy. Thế thì Đức Phật mới khen ngài Mục-kiền-liên là đã khéo dùng thần thông hoá độ cho ông này biết cúng dường nhưng mà ổng không thấy bị tổn thương. Và Đức Phật có vẻ: "Giống như ong đến với hoa, khéo léo lấy chút mật, không làm hại hương sắc, cũng vậy Thánh vào làng". Thế ta phân tích cái chỗ này nhé. Cái bài kệ này nhắc nhở các vị tỳ-kheo phải cẩn thận khi ta đi khất thực hoặc là khi vận động cúng dường.

[47:11]Phật sự thì mênh mông, rất nhiều việc, rất nhiều việc. Vì vậy quý thầy, quý cô hay vận động Phật tử cúng dường, chuyện đó là chuyện rất bình thường. Nhưng mà nếu chúng ta vi phạm cái điều này, khi như con ong lấy mật mà lấy mật rồi phá cái hoa luôn là sai với lời dạy của Phật. Phải làm sao mà cái người Phật tử cúng dường ta rồi mà lòng họ vẫn toàn vui, vẫn còn vui. Phải như vậy đó. Phải làm sao như vậy. Thì làm sao đó không biết, mà họ cúng rồi vẫn còn vui. Chứ không phải là họ cúng mà rồi mà lòng họ buồn và họ không muốn gặp lại ta nữa thì đó là sai. Thì làm sao để mà cúng mà người ta vẫn vui?

[48:01]Thì nó có mấy cái điều thế này, chúng ta cân đối thế này. Điều thứ nhất là khả năng tài chánh của người đó. Thí dụ như ta người đó cúng ta 100.000đ nhưng mà họ sẽ hụt cái số tiền mà họ dùng cho gia đình họ, họ phải khổ sở, họ phải chạy tìm cách khác để bù lại thì như vậy sau khi cúng xong, dù họ có thương ta gì thương thì họ vẫn không không vui. Thứ hai nữa là thế này: xem coi cái đạo tâm của người đó như thế nào. Ví dụ như cái người có đạo tâm lớn á thì dù có họ có hao hụt gia đình nhưng họ vẫn vui. Còn người đạo tâm còn ít quá thì chỉ cần lấy mất đi một phần của gia đình họ đã buồn rồi. Mặc dù họ biết là cũng phải giúp đỡ chư Tăng một chút,

[48:46]nhưng mà đạo tâm còn nhỏ nên họ không vui khi mà phải tốn tiền. Nhưng nó đơn giản thôi, ví như cái người đó họ có thể cúng một triệu, họ vẫn vui, nhưng có người cũng có tài sản giống như vậy mà đạo tâm ít, cúng 50.000đ họ đã buồn rồi. Nên đây nó lệ thuộc vào cái đạo tâm và lệ thuộc vào cái số tiền tài sản người ta có. Và lệ thuộc cái thứ ba nữa là cái duyên với mình nữa, cái duyên. Ví dụ cái người Phật tử đó họ có duyên với mình thì họ cúng dường mình họ thấy vui. Còn không có duyên mà năn nỉ kêu họ cúng, họ bực trong lòng, không vui. Cho nên vì vậy mà đi vận động tùm lum là điều rất nguy hiểm,

[49:29]vì ta không biết là cái người kia tài sản họ có hay không, đạo tâm họ có hay không và họ có duyên với mình hay không. Nên cứ đi vận động tầm bậy tầm bạ là ta gieo rắc nỗi buồn khắp trần gian này. Mà nhiều khi á là quý thầy quý cô mình hay có cái nhu cầu là xây cất, mà xây cất thì tốn tiền khủng khiếp lắm. Người ta cúng 50.000đ, 100.000đ thì rất là lâu mới đủ để cất, nên cứ phải đi xin. Mà đi xin rồi là ta vi phạm vào ba điều đó. Thứ nhất là tài sản người đó nhiều hay ít. Thứ hai, đạo tâm người đó có dày hay không. Thứ ba, người đó có duyên với mình hay không. Trong khi cái duyên của ta với chúng sinh rất là ít,

[50:07]ta mà ta đi vận động tùm lum là đúng là làm cho mọi người buồn và bực. Bài kệ này Phật dạy người tỳ-kheo, người tu phải hết sức cẩn thận khi mà vận động khuyến hoá cúng dường, giống như con ong đến với hoa, khéo léo lấy chút mật, chứ đừng lấy quá rồi phá huỷ làm cái hoa nó tàn nó hư luôn, không làm hại hương sắc, không làm hoa mất mùi, không làm hoa nó bị gãy cánh, cũng vậy Thánh vào làng. Cũng vậy, khi một vị tỳ-kheo đi vào làng để khất thực hay một tỳ-kheo đi vào để khuyến hoá nhẹ nhàng, khéo léo vậy. Ta sẽ thấy cái điều nghịch lý nơi cái ông gia chủ này, ông Kosiya này, là ổng có cái nhân để đắc đạo,

[50:57]mà đắc cái quả Tu-đà-hoàn là lòng hoàn toàn vị tha. Bằng cớ là sau khi ổng đắc được quả Tu-đà-hoàn rồi, ổng đem hết tài sản mình ra ổng làm vô số điều thiện. Nhưng mà tại sao giây phút trước đó ổng là một con người keo bẩn kỷ lục thế giới luôn? Tại sao? Đã là cái người tốt thì phải có cái nhân tốt trước rồi, cái người vị tha phải có cái nhân vị tha rồi mới chứng cái quả vị tha được. Tại sao ông lại giây phút trước là một người cực kỳ hà tiện, giây phút sau biến thành một người rất là rộng rãi, vị tha? Vì sao? Lý do là thế này: lý do cái miệng ở đời trước. Tức là đời trước ổng chê người nào... Kiếp xưa ổng cũng là một người rất là rộng rãi,

[51:44]cho nên đời này mới được phước có tài sản lớn, phải không? Nếu không mà rộng rãi bố thí thì làm sao đời này có tài sản lớn? Nhưng mà thấy người khác hà tiện mới chê: "Anh là đồ hà tiện nhất thế giới. Anh thấy tôi không? Tôi phải sống thoải mái như thế này". Chê người ta riết, kiếp này mình hà tiện nhất thế giới. Cho nên có nhiều cái lỗi ta phạm không phải tại ta xấu mà chỉ vì ta chê cái người xấu. Do đó ta cẩn thận cái miệng của mình. Cái khẩu nghiệp nó gây ra cái tội khủng khiếp mà không tốn tiền, mà nghiệp gây rất là nặng. Nên có những người vậy, như ta nghe câu chuyện Châu Lợi Bàn Đặc cũng vậy.

[52:23]Ngài đắc A-la-hán trí tuệ phi phàm, nhưng mà trước cái giây phút đó ngài là người cực kỳ ngu tối, chỉ bởi vì đời xưa chê bai người khác học dở. Rồi bây giờ phải trả quả báo đó một thời gian rồi mới phục hồi cái phước mình lại, trở thành một người trí tuệ, cũng vậy. Ngài Mục Kiền Liên thì ngài nổi tiếng với việc là sử dụng thần thông để độ những người khó độ, chúng ta nhớ điểm này. Ngài dùng thần thông để độ những người khó độ. Như cái ông Kosiya đó, nếu là một người khác thì sợ không độ nổi. Đến mà cứ nói thuyết pháp ổng không nghe, ổng thấy mặt ổng đã quay lưng lại rồi, ổng sợ xin à, thì làm sao mà độ.

[53:05]Nhưng ngài Mục Kiền Liên dùng thần thông cho ổng nể rồi sau đó thuyết pháp, chúng ta nhớ vẫn phải là thuyết pháp. Nhưng mà trước đó phải có thần thông. Đời bây giờ cũng vậy, cũng rất nhiều người khó độ, nhất là những người gì? Có tiền, có chức. Những người đó rất khó độ.

[53:27]Bản ngã họ rất là lớn, họ nhìn vào ông thầy tu họ thấy bình thường, thua họ. Một ông thầy tu không hơn họ, tiền bạc không nhiều hơn họ, trí tuệ không hơn họ, bản lĩnh không hơn họ. Họ có bản lĩnh, họ thành công, thành công lừng lẫy, dưới tay họ là bao nhiêu nhân viên, bè bạn của họ là những người quyền chức lớn mà giàu sang nữa. Một ông thầy tu nghèo hèn, cái áo rách vai, sờn, đi chiếc xe đạp cọc cạch, làm sao mà đủ tư cách đứng thuyết pháp cho ổng nghe? Ông đó ổng nghe lời ai? Một cái người như vậy thì nghe lời ai? Chỉ nghe lời của ông nào biết coi địa lý, phải không? Mả ông để chỗ này, nhà ông xây hướng kia ông sẽ khá lên;

[54:09]biết trấn yểm, biết pháp thuật. Nói chung là biết quá khứ vị lai: "À, ngày đó ông đi hướng đó tốt, ông gặp người nọ thành công". Mấy là những người hơi có vẻ cái gì linh linh, huyền bí chút xíu á thì cái người đó họ lại nghe. Chứ còn thuyết pháp nói đạo lý nhân nghĩa ở đời, họ không tin. Đúng không? Đúng không? Cho nên những người mà hôm nay ngồi trong pháp hội nghe thầy giảng đều là những người có căn lành hết. Vì có nhiều người cũng có thể là giàu có mà vẫn chịu khó lắng nghe giáo pháp thì biết rằng mình có căn lành lớn. Chứ còn bình thường cái người giàu có sang trọng không ngồi đây, đi kiếm mấy ông thầy pháp hay đồ đó, thầy nào có thần thông,

[54:50]mật tông á để giúp cho họ giàu thêm, quyền chức thêm thôi. Chứ còn nghe giáo pháp để tu hành, để buông xả, để giải thoát thì ít có trường hợp đó xảy ra. Cho nên trong cuộc sống cũng vậy, có nhiều người bặm trợn, du côn, du thủ du thực, ác độc, mafia hoặc là quyền cao chức trọng giàu có, không được độ bởi giáo lý mà chỉ nghe theo những người có thần thông. Hồi xưa vậy, ở chùa Ấn Quang có Thầy Minh Phát, mấy Phật tử có nghe tiếng không? Thầy Minh Phát cũng được truyền tụng là một người có thần thông thì Thầy cũng độ được những người rất là khó độ. Có những cái tay bặm trợn ở bến xe du côn vậy á,

[55:31]không ai nói nghe, gặp Thầy Minh Phát độ là tin liền, vì Thầy có thần thông. Hoặc là có những người quyền cao chức trọng tới với Thầy, phán cho vài câu tin liền, vì Thầy có thần thông. Ngài Mục Kiền Liên nổi tiếng là thần thông đệ nhất. Nói là đệ nhất là sao? A-la-hán nào không có thần thông? Ngài Xá Lợi Phất cũng thần thông vậy, ngài Ca Diếp cũng thần thông vậy. Nhưng mà tại sao lại gọi ngài Mục Kiền Liên là thần thông đệ nhất? Chỉ bởi vì ngài Mục Kiền Liên sử dụng thần thông để giáo hóa rất khéo léo. Rất khéo léo. Ví dụ ngài Phú Lâu Na thì ngài thuyết pháp rất khéo léo, nên gọi là thuyết pháp đệ nhất.

[56:11]Ngài Ca Chiên Diên thì nghị luận, nói qua nói lại một lát là người ta phải tin theo Phật, rất khéo léo. Mục tiêu là để giáo hóa. Và ngài Mục Kiền Liên dùng thần thông, nhưng mà dùng xong rồi dẫn dụ người ta vào đạo rất khéo léo. Nên sau khi mà ông kia ổng ổng thoát được cái cơn bệnh ảo tưởng của cái thèm bánh và hà tiện, ngài thuyết pháp cho ổng nghe, ổng mềm lòng liền. Vì vậy mà được Phật khen. Ở đây, các ông thầy pháp bói toán mà cho phép cho bùa, phong thủy, trấn yểm á, làm cho người ta nghe lời nhưng mà không có đạo lý cho người ta. Còn ngài Mục Kiền Liên thì có thần thông và có đạo lý, đó là cái khác nhau, ta phải để ý như vậy.

[56:53]Có một cái câu Phật quở ở trong đây nữa là: như hồ nước bị ma ám, không ai xuống đó lấy nước được để dùng hết. Cũng vậy, cái tài sản của ông như là một hồ nước bị ma ám, không ai được hưởng cái lợi chút nào, cả vợ con cũng phải sống vất vả vì cái sự hà tiện của ông. Chúng ta nhớ, nếu mình có tài sản thì đừng để tài sản đó như là hồ nước bị ma ám, mà phải đem ra sử dụng có lợi cho đời. Sử dụng có lợi cho đời là sao? Là hai việc: một là ta mở cái doanh nghiệp nào đó để thu hút được nhiều lao động, tạo cho nhiều người có công ăn việc làm. Chứ đừng có đầu tư những cái lời nhiều mà không cần phải thuê công nhân, đầu tư cái đó hơi ác.

[57:39]Nên ta nên mở doanh nghiệp đầu tư cái nào đó mà lấy được nhiều lao động thì phước ta lớn hơn, vì ta giúp được nhiều người có công ăn việc làm. Còn nếu mà ta không mở doanh nghiệp hoặc đã mở rồi mà vẫn còn dư tiền thì nên đem làm những việc từ thiện. Thì như vậy tài sản của mình không phải là hồ nước bị ma ám, mà đó là hồ nước thơm mát mà muôn loài đều về đó để để sử dụng, để ăn uống, để để nương tựa. Bây giờ tới cái chuyện thứ ba: "Chẳng nên xét nét người, lỗi lầm nhiều hay ít, chỉ nên xét chính mình, lầm lỗi đã hết chưa?". Nhưng câu chuyện này cũng đơn giản, là có một phụ nữ theo làm đệ tử của một ẩn sĩ lõa

[58:25]thể là Pathika, cúng dường, cung phụng rất là chu đáo. Ta sẽ ngạc nhiên là tại sao lại đi theo làm đệ tử một người lõa thể? Vì thời đó bên Ấn Độ có một cái phái tu khổ hạnh lõa thể, họ ít có mặc quần áo, không mặc quần áo, họ chỉ che vừa đủ và họ sống cực kỳ là khắc khổ, đồng thời họ có những cái lối tu khổ hạnh nhìn rất là phi thường. Phi thường, ví dụ họ đứng một chân, co một chân lên, dang hai tay ra đứng giữa trời nắng, đứng mấy ngày. Mình nhìn thấy sợ không? Mình làm không được nên sợ liền, nể liền, nghĩ rằng ông này cao siêu. Đó, có những cái lối như vậy. Cho nên cũng được nhiều người Ấn Độ thời đó họ tôn thờ,

[59:09]họ đi theo, thì cái người phụ nữ này là như vậy. Thì trong khi cô hết lòng cúng dường cái ông ẩn sĩ này thì cô lại nghe danh tiếng Đức Phật, lúc đó Đức Phật cũng ở gần đó. Nghe nói Đức Phật cao siêu, đức độ phi phàm thì bà mới đến thưa với sư phụ của bà là: "Thầy cho con đến nghe, đến Đức Sa-môn Gotama". Ông thầy ổng cản, ổng không cho đi, nói: "Thôi, không có đi, không cho". Thì bà cũng ngoan ngoãn vâng lời không đi, nhưng mà cái duyên xưa nó cứ thúc đẩy, bà cứ ray rứt ray rứt. Nên bà mới nói con trai bà: "Thôi, thầy không cho mẹ đi, thôi bây giờ con mời cái Sa-môn đó lại đây để mẹ cúng dường, được nghe pháp".

[59:48]Thì nói là mẹ không cãi lời của thầy mà vẫn được nghe pháp từ Sa-môn Gotama, nghĩ như vậy. Thì khi đứa con nó đi thì gặp ông thầy, ông thầy cản, ổng nói: "Không, con bị lỡ con đến á, con chỉ đường trật á, cho ngày mai ổng tới ổng tới trật chỗ khác. Thì cái phần mà cúng dường đó thì thầy với con ăn, cô nấu chắc ngon". Nhưng mà khổ một cái là đây là một một trong những cái dấu hiệu của Phật chúng ta nhớ thế này: khi mà Đức Phật đắc đạo rồi, tất cả mọi nẻo đường trên thế gian này đều mở ra. Đức Phật biết tất cả mọi con đường, dù là con đường hẻm. Từ ở trên thiên giới xuống tới tận địa ngục, trong mọi tất cả mọi cõi mọi giới, từ cái hang cái hóc của con chuột,

[1:00:33]con chồn, con cáo nếu cần đi không bao giờ nhầm đường, không cần phải hỏi ai. Đây là đặc tính của Đức Phật. Cho nên ngày hôm sau Đức Phật cùng với một số đệ tử đến nơi nhà bà để bà cúng trai tăng và thuyết cho bà nghe. Khi mà bà đang ngồi nghe pháp Phật thì ông kia ổng mới biết là Đức Phật đã đến đó được cúng dường và đang thuyết pháp, ổng mới sân lên, ổng mới bước ra, ổng chửi bà quá chừng rồi ổng ngoe nguẩy ổng bỏ đi, ổng về cái cốc gì ổng tu. Thì lúc đó bà mới rất là phiền, rất là giận. Bà mới so sánh hai cái nhân cách, một bên là Đức Phật điềm đạm, thanh cao, siêu phàm, một bên ông kia sân si vì ganh tị bữa ăn.

[1:01:21]Bà thấy ông rất là tầm thường rồi bà buột miệng bà mới nói ra điều đó. Bà buột miệng bà nói ra, bà nói: "Con được ngồi bên Thế Tôn như là ngồi bên một ánh mặt trời sáng, như được ngồi bên một dòng nước mát vô tận, rồi như là giữa trưa nắng con được ngồi dưới một bóng cây để che mát mình. Những lời của Thế Tôn, con thấm từng câu từng chữ và cõi lòng mình mở ra. Con biết rằng từ đây con có được con đường, con có được ánh sáng, con có được bậc chân sư. Trong khi cái người ẩn sĩ kia con nuôi bao nhiêu năm, con cung phụng không thiếu một điều gì, thế mà vẫn còn ganh tị, hơn thua, sân si, không biết phép lịch sự." Bả ngồi bả chê quá chừng chê.

[1:02:07]Bả chê cũng lại thuộc loại cũng trình độ, cũng hơi có trình độ, có bằng cấp, nên Đức Phật đành phải ngăn lại bằng cái bài kệ là: "Chớ nên xét nét người lỗi lầm nhiều hay ít, chỉ nên xét chính mình lầm lỗi đã hết chưa?" Đức Phật khuyên bà bởi vì thấy lúc đó bà bực lên bà công kích ông kia dữ quá, nên Đức Phật không nỡ. Đức Phật cái từ bi vậy đó. Biết rằng ông kia cũng sai thiệt, nhưng mà thấy một người công kích một người, Đức Phật không nỡ. Nhân cái đó ngăn lại và cũng để lại một bài học muôn đời cho cho tất cả chúng ta. Tất cả chúng ta là ta hay bới móc, hay xét lỗi người khác, hay rình rập, hay tìm tòi.

[1:02:52]Mà ta có cái bệnh tâm lý lạ lắm là hễ mà nói xấu được người khác á mình mừng gì đâu, vui. Ai xấu có nghĩa là mình tốt, ta có cảm giác á, nên ta thích nói xấu. Mà thích suy diễn xấu cho người khác. Có không? Đây cái bệnh rất là lạ. Ví dụ như bây giờ ta thấy một người đi bộ qua lại ở trước nhà thì ta nghĩ sao? "Đồ làm biếng, không có chuyện gì làm ăn mới đi qua đi lại hoài." Đâu biết rằng người đó đang sao đây? Đang kinh hành trong thiền định phải không? Không biết. Nên ta hay suy diễn xấu, mình cứ nghĩ để chê người khác. Ví dụ như mình thấy một người tối ngày cầm một cuốn sách đọc, cái mình nói sao?

[1:03:37]"Đồ mọt sách!" Cũng chê một cái. Đâu biết rằng người ta có cái điều gì lý thú trong cái quyển sách đó, có gì nó lợi ích, nó làm người ta tăng trưởng kiến thức và nhân cách người ta, rất là giá trị. Còn mình hễ thấy cái gì là chê. Rồi ví dụ như mình đi chùa cái mình thấy người ta mặc đồ đẹp, mình nói làm sao? "Điệu hạnh!" Thích chê. Nhưng mà nhiều khi người ta nghĩ là người ta xuất hiện với một bộ đồ đẹp trước mặt mọi người cũng là sự tôn trọng mọi người, người ta không nghĩ là đẹp để người ta gây sự chú ý, mà chỉ nghĩ rằng mình đàng hoàng nghĩa là mình tôn trọng người khác. Ví dụ như mình hàng xóm thấy cái người hàng xóm đi chùa cái hỏi:

[1:04:18]"Sao thấy cái chị đó hay đi chùa?" "Thì ác quá mà, phải đi cho bớt tội chứ làm chi!" Cũng chê một cái. Trong khi là người ta đi chùa là người ta thành tâm, thiện ý, mình cũng chê được một cái. Gì cũng chê. Hoặc là ta thấy một người có quan điểm yêu nước cái nói: "Thì nịnh chính quyền mà, chắc tính kiếm cái chức chủ tịch xã, phường gì đây á!" Cũng chê một cái. Đó là cái bệnh của nhiều người trên đời. Cho nên hôm nay chúng ta học cái bài này Phật dạy là để ta trị cái bệnh hay chê, lúc nào cũng rình rập, coi coi người kia có lỗi có phải như thế nào để chê một tiếng. Mà cái tâm nghĩ xấu người khác, chê người khác nó tạo thành cái nghiệp

[1:04:59]về sau ta cứ thất bại, ta cứ phạm lầm lỗi là vì miệng hay chê. Mà càng chê càng nguy hiểm. Khẩu nghiệp không tốn tiền nhưng mà gây cái nhân quả rất là, rất là lớn. Vì vậy là ta phải làm ngược lại hai điều. Thứ nhất là ta canh chừng cái lầm lỗi của mình, và thứ hai là mong cho mọi người tốt lên. Nhớ hai điều đó. Canh cái lỗi của mình thôi. Hễ mình làm cái gì cũng coi chừng mình đang có một cái động cơ xấu, mình canh lại mình. Ví dụ như hôm nay mình rủ người khác đi chùa, tốt không? Tốt quá đi chứ, nhưng phải coi có cái động cơ xấu nó lẫn đi theo không, là mình muốn chiếm cảm tình người ta, hay là mình muốn kiếm ít phước,

[1:05:50]nó có cái động cơ gì nó hơi ích kỷ chút mình phải biết, phải không? Chứ không phải là vì lòng thương yêu một cách trọn vẹn. Lúc nào mình làm một điều tốt cũng phải coi chừng có cái điều xấu lẫn theo, huống hồ là làm một điều xấu. Làm điều xấu thì dở hẳn rồi, vậy mà khi ta làm điều tốt, ta vẫn coi chừng có cái ẩn ý xấu mà chính ta không tự biết được. Thì ngày hôm nay, lúc nào ta cũng canh chừng, cũng rình rập tận trong thâm tâm của mình để coi chừng cái điều xấu nó lẫn theo những cái việc tốt mà ta làm. Đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai, tận trong thâm tâm ta, ta mong cho mọi người là tốt. Thấy ai làm cái điều gì dở tận cùng rồi mình cũng không chê

[1:06:34]bai, không ghét, mà mong cho người ta trở thành người tốt. Còn ai đã làm việc tốt thật rồi thì ta rất vui mừng. Sống trên đời, ta nên sống được như vậy, có cái tâm như vậy thì ta sẽ rất là an vui. Nhớ như vậy hai điều, nhắc đi nhắc lại. Thứ nhất: xét lỗi mình cho kỹ, xét lỗi mình cho kỹ. Thứ hai: là mong cho mọi người là tốt, như bài kệ Đức Phật dạy: "Chỉ nên xét chính mình, lầm lỗi đã hết chưa?" Nhưng mà trường hợp nào thì ta được phép quan sát lỗi của người? Trường hợp nào? Vì nếu mà sống trên đời mà ta không nói lỗi người khác không phải là cái hay, giống như trong nhà nước mà nói là phải biết phê bình, góp ý vậy đó.

[1:07:20]Tại nếu không có sự góp ý thì xã hội không tiến bộ. Nếu báo chí không phanh phui những vụ tiêu cực thì xã hội không tiến bộ. Cho nên vì vậy, ta cần có những cái lúc mà có sự góp ý, nhưng khi nào thì phải góp ý, nên góp ý? Thì trong phạm vi nhỏ là ta nói với nhau, còn báo chí là phạm vi lớn nè. Khi thế này thì mình được quyền mình nói lỗi người khác nè: Khi mình rất thương yêu con người, mình rất độ lượng với con người, và rất kín đáo thì mình được quyền xét lỗi người khác. Vì lúc đó mình xét lỗi người khác không còn có ý chê trách nữa, mà chỉ vì muốn người đó tốt lên. Nên nếu tâm ta chưa có cái từ bi mênh mông trong trời đất thì chỉ nên xét lỗi mình.

[1:08:10]Còn khi nào mà tâm ta thương yêu tràn ngập chúng sinh rồi thì ta tự do xét lỗi người khác. Lúc đó Phật cho phép ta xét lỗi người khác để làm thầy người khác. Nhớ như vậy, hai cái điều khác nhau. Ví dụ, một cái người thầy rầy ta, trách ta, người đó được quyền vì người đó thương ta. Hãy nhớ như vậy. Chỉ có người thương ta mới được quyền rầy ta, còn người không thương ta mà rầy ta, ta làm sao? Ta rất là khó chịu, ta tự ái liền, phải không? Nhưng mà khi ta biết người đó rất thương ta thì người đó kêu ta lại nói cái lỗi của ta, ta không giận mà ta sẽ chịu sửa, đó là quy luật. Thì cũng vậy, Phật chỉ cho phép những người mà thương yêu chúng sinh

[1:08:54]mới được quyền xét lỗi của chúng sinh để dạy dỗ chúng sinh. Vì cái người mà đủ lòng thương yêu chúng sinh thì người đó là đàn anh, người đó là làm thầy. Cho nên vì vậy, nếu ta chưa đủ lòng thương yêu, từ bi với chúng sinh thì hãy huân tập, tu dưỡng cái lòng từ bi đó và đừng xét lỗi ai hết, cứ thấy lỗi mình là chắc ăn. Còn đến khi 5 năm sau, 10 năm sau, 20 năm sau, ta tu tập được lòng từ bi mênh mông, ta thương yêu từng ngọn cây cọng cỏ thì lúc đó ta được quyền xét lỗi người mà lúc đó ta rất là sáng, rất là tinh, rất là sắc. Ai nhúc nhích cái biết liền, biết lỗi nơi thế nào, biết mà không nói, biết mà vẫn kín đáo để giữ danh dự cho người

[1:09:38]ta, biết để góp ý sửa riêng thôi chứ không có đem nói tràn lan. Mà khi mình tu được lòng từ bi mênh mông rồi, mình sẽ hiểu điều đó như vậy, phải không? Khi mình có trách nhiệm mình dạy dỗ trong cái hội chúng của mình, trong cái tổ chức của mình thì mình cũng được quyền xét lỗi của người khác. Vì mình có trách nhiệm nên phải xét lỗi, nhưng mà đừng có ghét, cũng phải đặt trên cái nền tảng từ bi. Khi mình cùng chung xây dựng cái cộng đồng tu hành, ví dụ trong một ngôi chùa với nhau, trong một tăng đoàn, chúng tăng với nhau, trong một đất nước, một xã hội chung với nhau hay là chung một thế giới với nhau, ta có trách nhiệm để xây

[1:10:18]dựng thì ta cũng phải đôi khi xét lỗi, nhưng cũng phải trên cái lòng từ bi. Ví dụ khi ta thấy cái người viết báo họ phanh phui một cái vụ tiêu cực, thật ra họ phải đối diện với nhiều cái nguy hiểm, có thể bị giết chết chứ không phải không. Nhiều nhà báo đã bị giết chết chỉ bởi vì phanh phui điều xấu của một cái thế lực nào đó, nó cho sát thủ giết liền. Cho nên những người nhà báo rất là tội nghiệp. Mà nếu cái vụ tiêu cực nó được ngăn chặn, được phát hiện, đó là lợi ích cho xã hội rất là lớn. Dĩ nhiên cũng có những nhà báo xấu là viết những bài sai làm cho một cái doanh nghiệp, một tổ chức, một cá nhân điêu đứng để mà làm tiền người ta thì cái đó khác.

[1:11:02]Nhưng mà nói trên tác nghiệp bình thường thì người nhà báo mà khi khen ngợi được cái điều tốt, phanh phui những điều xấu cũng đã xây dựng xã hội rất là lớn. Nhưng ta vẫn mong rằng dù ở cương vị nào, dù ở trong tình huống nào, ta cũng phải thương yêu con người cái đã rồi hãy làm gì thì làm. Thì hôm nay chúng ta học mấy bài Pháp Cú này rất là ý vị vì những cái chuyện tích và những nghĩa lý thâm sâu như vậy. À tháng sau hy vọng chúng ta gặp lại nhau cũng nghe được những lời dạy vàng ngọc của Đức Phật mà chúng ta tu sửa tâm hồn mình để làm cho cuộc đời của mình một ngày một tốt hơn và làm cho niềm vui của mọi người

[1:11:43]chung quanh mình được sáng lên trên cả cái cuộc đời này. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.