Transcript: Đạo Đế (Chánh Tư Duy)

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:30:12

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:08]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:19]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:33]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:47]Hôm nay chúng ta nói chuyện với nhau về đề tài Chánh tư duy trong Tứ Thánh Đế. Nhưng mà trước khi đi vào đề tài, chúng tôi có vài điều muốn nói với các Phật tử trước. Có hai điều. Điều thứ nhất chúng tôi muốn nói là chúng tôi thương yêu các Phật tử vô cùng. Không ai cười, không ai thích hết trơn. Thôi vậy thôi bỏ.

[1:18]Cái điều thứ hai á là chúng tôi muốn nói điều này, là thầy trụ trì của chúng ta ở đây có phát tâm trùng tu lại ngôi Tam Bảo Từ Tân này. Bởi vì cái chánh điện đã xuống cấp rất là trầm trọng. Nhìn phía bên ngoài vậy chứ bước vào bên trong là tường nứt sụp lở gần gần hết trơn à. Mà nhu cầu tu học ở chùa Từ Tân thì rất là lớn. Khoảng chắc qua Tết là thầy bắt đầu khởi công. Mà thực sự thì số tiền mà vận động được từ hôm bây giờ vẫn chưa có đủ. Cho nên chúng tôi muốn trân trọng khuyến khích quý Phật tử những người mà có mặt ở đây và những người mà tuy không có mặt nhưng sau này nghe lại, chúng ta cố gắng mỗi người người góp cục gạch, bao xi măng.

[2:03]Thôi hai cục đi, hai bao đi, cục với bao ít quá. Để mà chúng ta phụ với thầy trụ trì để cho ngôi Tam Bảo này được trùng tu sớm kịp thời gian. À sau này thầy trụ trì còn có nhiều cái chương trình để tổ chức cho Phật tử tu học rất là hấp dẫn, rùng rợn lắm, như vậy nên nên chúng ta cố gắng. Phật tử ủng hộ nha? Ai ủng hộ vỗ tay lên.

[2:30]Rồi, về mình ráng khuyến hóa bạn bè, mình dụ thêm, nói cho mạnh miệng vô mới được chứ đừng nói hơi hơi há, mạnh vô. Giờ chúng ta nói về chánh tư duy. Tư duy nghĩa là gì? Trước hết á trong cái chánh tư duy chúng ta ngắt ra làm hai phần. Một là cái chữ chánh, hai là chữ tư duy. Chúng ta định nghĩa cái chữ tư duy trước rồi một lát chúng ta mới nói về cái chữ chánh. Tư duy là gì? Tư duy là suy nghĩ. Đó thấy chưa, mà suy nghĩ là là tư duy, đúng không ạ? Vậy suy nghĩ, tư duy gồm những điều như thế này: Thứ nhất là ôn lại những cái điều mình đã học, đã biết. Đây mình nói về đạo thôi chứ mình không cần nói về đời đi lan man.

[3:18]Nói về đời đi lan man thì cái tư duy thế gian nó kinh hồn lắm, đủ thứ chuyện, nên mình không có thời gian để nói nhiều, mình nhấn mạnh về đạo hơn. Tức là mình nhớ lại, mình ôn lại cái cái đạo lý, cái giáo lý gì đó để đừng bị quên khi mình đối diện với thực tế. Ví dụ bây giờ mình buổi sáng thì mình đi bách bộ, tập thể dục buổi sáng thì khi thay vì mình đi mình để cái tâm mình suy nghĩ lung tung nhiều chuyện thì mình ôn lại cái giáo lý. Ví dụ như là ngày hôm qua mình đi chùa, mình nghe quý thầy nói về cái nghĩa không, đó là mình đi mình nhớ lại mình ôn lại, hoặc nghe quý thầy nói về cái giáo lý về luật nhân

[3:57]quả, ngồi mình nhẩm nhẩm mình ôn lại quý thầy đã nói điều gì, tức là truy tìm lại cái đạo lý đã học để nhớ lại thêm, cho chắc không bị quên, thì đó là một cái tư duy. Vì thường thường á là chúng ta dễ bị quên những cái đạo lý cao đẹp mà mình đã học khiến cho khi chúng ta sống trong cuộc đời này à chúng ta không ứng dụng được. Vì có lúc á mình gặp cái chuyện buồn thì nếu mình nhớ đạo lý mình sẽ bớt buồn, nhưng mà vì mình quên đạo lý nên cái nỗi buồn thật là gay gắt, thật là day dứt. Cho nên à chúng ta phải thường thường ôn lại đạo lý. Những lúc không có chuyện gì hết, những lúc tâm hồn mình rất là yên vui,

[4:42]hoàn cảnh rất là thuận lợi thì vẫn ôn lại ôn lại giáo lý chứ không phải là để quên. Nghe cái này đó, chúng ta nhớ một điều này nữa nà, là thường á chúng ta nghe nói là người tu trong đạo Phật là phải giữ tâm thanh tịnh, yên lặng, hư vô, đúng không? Chúng ta thường như vậy, tâm lúc nào phải thanh tịnh. Nhưng mà nếu hiểu đạo Phật là lúc nào cũng giữ tâm thanh tịnh, coi chừng chúng ta hiểu sai đạo Phật. Vì sao vậy? Vì trong Bát Chánh Đạo á mà để đạt được tâm hư vô hoàn toàn á là tới giai đoạn nào? Giai đoạn cuối trong Bát Chánh Đạo, tới cái Chánh định của Bát Chánh Đạo mới là giữ tâm im phăng phắc, còn trước đó,

[5:24]những giai đoạn trước đó của Bát Chánh Đạo đều là rất là động, rất là động, mà đặc biệt là Chánh tư duy là phải suy nghĩ chứ không phải là giữ tâm hư vô. Đây là điều rất là lạ. Nhưng mà có nhiều vị nhiều khi dạy đệ tử mình vội quá. Ví dụ như người Phật tử vừa mới vào chùa cái lật đật dạy là con phải đừng suy nghĩ gì hết, phải giữ tâm thanh tịnh, đừng nghĩ gì hết, thì như vậy là người này đã bỏ mất cái căn bản tu hành trong đạo Phật. Mà đúng ra, phải dạy cho Phật tử chánh tư duy, biết suy nghĩ, suy nghĩ đúng. Vì sao vậy? Bởi vì cái suy nghĩ đúng nó sẽ đưa tới cái chỗ thanh tịnh, không còn suy nghĩ nữa.

[6:03]Đó là nhân quả rất là lạ. Có một lần vậy, chúng tôi gặp một cô Phật tử mà thấy cô lăng xăng lắm. Ờ cứ ngồi đó cái cổ phải lo chuyện này, sắp xếp chuyện kia, quay qua chuyện nọ, mà toàn là chuyện đạo không à, toàn chuyện lo cho người này, chuyện lo người kia. Rồi hôm nay đem băng bên chỗ này, đưa sách người kia, giúp người kia nghèo nọ, cứ ngồi cứ loay hoay thấy cổ quay quay. Cổ nói: "Con loay hoay, con đa đoan, con bận quá." Nhưng mà chúng tôi nhìn vô cô đó lại thấy cái nhân của cô sau này tâm sẽ rất là định, tại toàn lo chuyện thiên hạ không. Là cái suy nghĩ mà đúng, suy nghĩ mà đẹp, suy nghĩ vị tha cao thượng,

[6:36]cái suy nghĩ đó sẽ làm cho tâm mình vào an định một ngày khác. Còn bây giờ cứ chấp nhận bận, đừng sợ. Còn nếu cái người nào không đi qua cái giai đoạn chánh tư duy như vậy, không đi qua giai đoạn mà suy nghĩ đạo đức, tốt đẹp, cao thượng, vị tha như vậy, vĩnh viễn không có cái ngày tâm vào an định hoàn toàn. Nếu mà bây giờ vội vàng mình nhốt thiền để cho tâm thiệt yên, hư vô thì một thời gian động trở lại liền, bởi vì hết phước. Cho nên, con đường Bát Chánh Đạo thật là chuẩn, thật là kỹ Phật đã vạch ra, chúng ta không thể đốt giai đoạn, không thể bẻ đi lệch đường khác được. Nên cái Chánh tư duy là một giai đoạn quan trọng.

[7:18]Ví dụ như giai đoạn là ôn lại điều đã học cũng không được bỏ qua. Cái người mà khéo học giáo lý đạo Phật hoặc là người mà nhiệt tình đối với đạo, tâm huyết với đạo, thiết tha tu hành đều giống nhau ở một điểm là khi đã học được điều gì rồi đều luôn luôn tìm cách ôn lại, nhớ lại, ghi khắc để thấm sâu trong lòng mình. Quý Phật tử có điều đó không? Có không? Người nào ví dụ như vô tình đọc cuốn sách hay nghe bài băng, rồi sau đó lơ thơ không để ý tới nữa thì những người đó không có tâm huyết với đạo. Người đó là người cái thiện căn rất là ít. Hãy nhìn trong tâm mình điều đó. Nếu người nào có cái điều đó như vậy,

[7:58]nghe bài giảng rồi, đọc cuốn sách về đạo rồi, sau đó lơ thơ không để ý, không quan tâm trở lại nữa, không hồi tưởng lại nữa thì phải biết rằng đạo tâm mình kém, thiện căn mình ít. Hãy nhớ điều đó. Và bây giờ, ví dụ có nghe thầy chê thì đừng buồn, vì đó là sự thật. Còn người nào nghe một bài giảng, đọc cuốn sách về đạo, rồi sau đó đi làm, đi rửa chén hoặc đạp xe đi trên đường, trong đầu vẫn hồi tưởng lại giáo lý đó thì mình là thuộc loại đạo tâm khá đó, thiện căn hơi dày đó. Đó là như vậy, hãy xem lại mình điều đó. Cho nên, bước đầu của Chánh tư duy là luôn luôn biết ôn lại. Đây mình nói về đạo thì tức là ôn lại cái đạo lý đã học được.

[8:41]Là cái thứ nhất. Cái thứ hai của Chánh tư duy là đối chiếu với cuộc sống thực tế.

[8:51]mình chưa có làm, tức là chưa tu chưa bắt tay ra làm gì hết, nhưng trong tâm mình có đối chiếu cái đạo lý mà mình đã học được với cuộc sống thực tế bên ngoài. Là ví dụ như là mình học được quý thầy dạy rằng là mình phải tu tập tâm từ bi, phải thương yêu muôn loài. À cái đạo lý đó mình hôm qua mình có nghe, sáng nay mình có lẩm nhẩm nhớ lại. Tới giai đoạn thứ ba, tới cái bước kế tiếp của Chánh tư duy là phải đối chiếu cuộc sống thực tế. À bây giờ đang ngồi ở đây, chung quanh mình rất là đông người, khởi cái tâm đó lên thương người được hay không? Đối chiếu. Bắt đầu mình xem: à đây toàn là những người xa lạ,

[9:28]có những người dễ thương, có những người hơi hơi khó ưa, có người đẹp, có người xấu, người nhìn thấy sang trọng, có người thấy cũng có vẻ nghèo khổ, sơ sài, có người mặt coi hiền, có người mặt coi ngầu, ví dụ vậy. Bây giờ mình thử coi thương hết coi được hay không? Đó là đối chiếu với cuộc sống thực tế. Thử ha. Rồi lát nữa đi ra đường cũng vậy. Đôi khi xe bây giờ lúc này là kẹt xe thường xuyên á, mình đi cứ bị đang đi ngon lành người ta chặn ngang đầu xe một cái, rất là khó chịu. Lúc đó, nghĩ coi như vậy mình có thương người ta được hay không? Tức là phải đối chiếu vào trong cuộc sống thực tế những điều mình đã học.

[10:07]Hoặc là nói rằng quán vô thường, tất cả mọi cái điều đều thay đổi hết, thì bây giờ mình nhìn vào trong cuộc sống thực tế là coi coi mọi cái cái gì nó tồn tại lâu, à cái gì nó thay đổi nhanh chóng. Suy nghĩ coi. Tức là đem cái đạo lý đã học á, ứng dụng vào trong cuộc sống thực tế của chính mình chứ không phải qua cái ví dụ mà ông thầy ổng đã đưa ra nữa. Tại ông thầy ổng đưa ra là ổng dựa vào cái thực tế của riêng ổng, mà còn cuộc sống của mình có cái muôn mặt, có cái đa dạng, có cái rất riêng của mình, mình vẫn phải đối chiếu vào. Đó, cái thứ hai, cái yếu tố thứ hai của Chánh tư duy là là là đối chiếu với cuộc sống thực tế.

[10:53]Cái thứ ba là phải biết phản biện để coi, để thử thách cái đạo lý đó vững chắc tới mức độ nào. Không phải là mình nghe đạo lý kể cả Phật dạy là tin liền, không. Phải phản biện ngược lại, coi giáo lý của Phật dạy đó có hợp lý hoàn toàn trong mọi trường hợp hay không? Hoặc là mình nghe ông thầy ổng dạy, ổng giảng nghe rất là hay, lúc ngồi nghe thì hay, nhưng mà ngồi nghe sao tin như vậy là người chưa biết Chánh tư duy. Cái người biết Chánh tư duy, ông thầy ổng giảng nói thao thao lý luận chặt chẽ gì đó hay thì hay, nhưng mà sau khi đi về, mình nhớ lại đối chiếu với cuộc sống thực tế rồi phản biện lại,

[11:34]bẻ lại thử coi cái giáo lý của ông thầy nãy ổng giảng còn bị hở hạp gì không. Thì đây là cái bản lĩnh của người biết tư duy. Ví dụ thế này: trong đạo Phật á, mình hay nghe nói là nói cái gì cũng không, thì mình thử coi. Vậy nếu nói cái gì cũng không, thì người này được một cái là tâm có thể không dính mắc với cuộc sống, thì đây là được cái lợi. Nhưng mà có thể có cái hại, có thể có cái hại là trở thành cái người thờ ơ, lãnh đạm với cuộc đời, không tích cực với cuộc đời. Có thể bị như vậy hay không? Có thể lắm chứ không phải không. Mà mình nghiệm nghiệm thấy có lý. Vì lần sau mình phải tìm cách hỏi thầy lại.

[12:15]Ví dụ như thầy nói gì cũng không hết, thì cái người mà lúc nào nhìn cuộc đời mọi cái đều không hết, có thể trở thành người lãnh đạm hay không? Hoặc là ví dụ như bao nhiêu con người chung quanh mình, bao nhiêu chúng sanh chung quanh mình mà Phật dạy mình phải thương yêu, bây giờ mình nhìn họ là hư vô hết, không còn có như không hiện diện trên cuộc đời nữa, vậy liệu mình còn từ bi thương họ được hay không? Như vậy cái giáo lý mà nói cái gì cũng không với giáo lý từ bi nó có mâu thuẫn với nhau hay không? Đúng không? Phải biết phản biện chứ không phải là quý thầy nói gì nghe cái nấy. Đừng như vậy.

[12:49]Đi nghe pháp là phải như vậy đó. Mà người biết phản biện mới là người hiểu đạo sâu. Kể cả lời đó nói là của Phật dạy, mình vẫn bẻ cho bằng được, vẫn phản biện cho bằng được. Vì nếu đạo Phật là chân lý thì không sợ phản biện. Mình có phản biện cỡ nào thì phản biện, thì chân lý của Phật dạy vẫn sáng ngời. Chỉ có những cái giáo lý mà nhiều khi không hoàn toàn đúng lời Phật dạy, là ý kiến riêng của một vài vị giảng sư, thì nếu mình phản biện ra tới cùng, tìm ra chỗ hở liền. Đó. Nên đây là những điều của tâm, những điều trong suy nghĩ. Miệng mình chưa nói ra, nghĩa là mình chưa đứng lên giơ tay phát biểu,

[13:28]cãi cọ gì hết, bởi vì phát biểu cãi cọ vậy á nó thuộc về qua tới phần tu bên Chánh ngữ rồi, còn đây mới trong tâm mình thôi. Nhưng trong tâm mình đã âm thầm mình biết suy xét, xem xét mọi mặt của một cái đạo lý xem có hợp lý hay không? Hoặc là ví dụ thế này: mình nói rằng là Phật dạy một cái đạo lý về tình thương yêu cực kỳ lý tưởng mà không có một vị thánh nào thứ hai có thể dạy được như vậy, không có một cái tôn giáo nào khác có thể dạy được như vậy, là thương yêu tất cả chúng sinh, từ những loài côn trùng nhỏ cho tới những loài người, ờ chư thiên, vân vân, thương hết thương hết. Chuột cắn đồ mình cũng thương luôn, à bị muỗi chích cũng thương luôn.

[14:11]Thì bây giờ mình bắt đầu mình phản biện nè: liệu cái tình thương đó có thực tế hay không? Có thể áp dụng được trong cuộc sống hằng ngày hay không? Có không? Có không? Nói thiệt lòng đi đừng sợ, đừng sợ mất lòng. Không thực tế, phải không? À nếu mà nói là cái gì ai, chúng sinh nào cũng thương hết, mình sẽ bắt đầu đụng một cái không thực tế. Vì sao vậy? Bây giờ, ví dụ thế này: mình nuôi con cá, mình thương con cá không? Thương. Con cá nó ăn lăng quăng, mà mình cũng thương lăng quăng nữa. Giờ làm sao? Đó. Đó, đó vấn đề đó. Đụng cái như vậy. Rồi à bây giờ cái mình thương cái ông đó, rồi mình cũng thương vợ ổng,

[14:57]tức hai vợ chồng mình đều thương, nhưng mà ổng đánh vợ ổng, giờ mình sao? Giờ không biết bênh ai bỏ ai, nói: "Hai người ai cũng thương hết, thôi đánh nhau cứ đánh, không sao hết", vì ai tôi cũng thương hết. Rồi ví dụ như là à mình thương tất cả chúng sinh nên mình thương con chó sói, à nhưng con chó sói nó đi nó cắn cổ con gà, mà con gà mình cũng thương luôn. Rồi giờ sao? "Ai cũng thương hết thôi nó ăn cứ ăn", phải không? Đó chúng ta sẽ thấy, chúng ta sẽ thấy mà khi ứng dụng cái đạo lý từ bi vào trong cái cuộc sống thực, vào trong đời sống thực nó nó xuất hiện ra nhiều cái cái sơ hở mà nếu mình không có một cái quan điểm

[15:38]đào sâu thêm nữa thì mình bị vướng liền, vướng liền, mình không giải tỏa được. Mình nói như vậy đạo lý từ bi của Phật không áp dụng được. Nhưng mà có phải như vậy không? Giờ ai trả lời được? Đó, mình thương tất cả chúng sinh á, nhưng mà phải hiểu một điều là tất cả chúng sinh không hề thương nhau. Muôn loài không thương nhau, loài này cắn xé, giết chóc người kia, người này hiếp đáp người kia, người này bóc lột người kia. Nha, chúng ta thương tất cả chúng sinh, tình thương yêu đó rất đẹp, nhưng mà tất cả chúng sinh không thương nhau. Bây giờ mình phải làm sao? Nhưng mà đôi tay mình thì nhỏ bé, mình không thể buộc mọi người

[16:19]phải dừng cái sự ác độc họ lại để sống thương yêu nhau được. Đây là điều rất là day dứt. Thì đó, đó là một điều mà trong Chánh tư duy mình phải nhìn ra. Nên phải hiểu đạo lý là hiểu cho tới tận cùng, cho tới tất cả những cái ngóc ngách, những cái hóc hẻm cho ra hết. Mà chừng nào mình trả lời được những điều đó, tức là mình hiểu được đạo lý rất là sâu. Mà khi như vậy đó, thì sau này sau này mình gặp người bạn đạo, hoặc là khi nào mình đi tu mình lên làm giảng sư, thì ai hỏi mình cũng đều trả lời được hết. Vì sao? Vì mình đã Chánh tư duy rồi, mình đã phản biện rồi, những cái điều đó mình đã lật ngược mình giải quyết

[16:58]hết rồi, nên sau này bất cứ một người nào đến hỏi mình tới những chỗ gút mắc nhất trong giáo lý đều trả lời được hết, vì mình đã phản biện, tự mình đã phản biện, đã tìm ra hết, giải quyết được hết rồi. Phải như vậy đó, đó là Chánh tư duy. Vì chúng ta ngồi đây chứ mình đâu có biết, biết đâu mai mốt mình cũng trở thành giảng sư, phải không? Có không? Có, biết đâu à. Nếu chưa làm giảng sư, thì mình cũng có thể là một người bạn đạo lý tưởng cho người khác. Bạn đạo lý tưởng là sao? Nghĩa là mình vẫn mang cái hình thức cư sĩ, nhưng mà những người huynh đệ bạn đạo của mình thích tìm tới mình để để để hỏi về giáo lý, vì sao?

[17:37]Vì mình trả lời rất là tuyệt. Đó những cái khó khăn gút mắc mình trả lời được hết. Cho nên ở đây có thể là chúng ta chưa là một vị giảng sư, nhưng chúng ta sẽ là một người người bạn đạo lý tưởng. Được không? Được không? Bằng cách là mình phải biết Chánh tư duy như vậy, biết phản biện vậy. Rồi một cái điều nữa của của Chánh tư duy nữa là thế này: là phát nguyện, phát nguyện là thành một cái quyết tâm để thực hiện cái đạo lý đó mãi mãi. Lời phát nguyện cũng là tư duy đó. Ví dụ như mình quỳ trước Phật, mình âm thầm mình khấn, khấn là: "Con xin nguyện đời đời kiếp kiếp luôn luôn con tinh tấn tu hành theo lời Phật dạy, dù con có gặp khó khăn, gian khổ,

[18:30]thậm chí..."

[18:34]Đời là thế, thế nhưng là thế. Thôi kệ. Đó ví dụ như mình phát nguyện là: Đời đời kiếp kiếp, con xin nguyện tinh tấn tu hành theo lời Phật dạy. Dù là gặp chông gai nghịch cảnh, thậm chí con bị đe dọa tới tính mạng, thì đạo tâm này không bao giờ rời bỏ. Hoặc là trong những thuận cảnh quyền quý giàu sang, thì con cũng nguyện là giữ cái đạo tâm kiên cường, giữ một đời sống chừng mực để thực hành lời Phật dạy. Thì cái phát nguyện đó, mỗi ngày mình cứ lặp đi lặp lại như vậy đó, là lần lần thay đổi cả cái tâm hồn, cả cái nghiệp của mình trong nhiều kiếp luôn đó. Đó là cái lời nguyện về tinh tấn, hoặc là lời nguyện về về nhân quả cũng vậy.

[19:25]Ví dụ khi mình đã ngộ được cái lý nhân quả, mình quá thấy thấy đây là chân lý, đây là sự công bằng của vũ trụ mà được Phật vén mở ra, nên mình tin chắc vào luật nhân quả này. Vì vậy, mình mới phát nguyện là: Con nguyện đời đời càng ngày càng hiểu sâu về luật nhân quả, để cố gắng làm vô số điều lành, tránh được tất cả những điều ác. Và con cũng nguyện sẽ truyền bá cái đạo lý về nhân quả này cho tất cả chúng sinh, để mọi người biết là tránh tội làm phước, để cho thế gian này thêm được niềm vui và bớt đi đau khổ. Đó là mình cứ phát nguyện như vậy, mỗi ngày phát nguyện như vậy, đó cũng là chánh tư duy.

[20:11]Mà chính cái chánh tư duy như thế, nó thay đổi, gạn lọc hết tâm hồn mình lại, nó định hướng cái cuộc đời của mình không phải trong kiếp này mà vô lượng kiếp về sau nữa. Đó đó là cái ngộ về luật nhân quả. Hoặc là khi mà mình cảm động trước cái đạo lý từ bi của Phật như vậy, nói đến cái lòng yêu thương tất cả chúng sinh, thì mình cũng nguyện ờ nói: Nguyện con sẽ nguyện thương yêu được tất cả chúng sinh. Dù là những chúng sinh quyền quý hay hèn kém, chúng sinh làm người hay là súc sinh, ở trong cõi dương thế này hay trong cái cõi âm siêu hình vân vân là con đều thương hết. Cứ phát nguyện như vậy, phát nguyện như vậy là từ từ cái

[20:52]tình thương yêu lại xuất hiện dần dần trong lòng mình. Đó, cái lời phát nguyện cũng là cái chánh tư duy. Và chúng ta có những điều bốn cái điều chính của tư duy nè. Thứ nhất là là review, ôn lại, nhớ lại. Thứ hai là đối chiếu với cuộc sống thực tế. Thứ ba là phản biện. Thứ tư là phát nguyện. Đó là bốn cái mình dễ nhớ, nhưng mà sự thực cái cái suy nghĩ còn nhiều lắm. Ví dụ thế này: Sáng tạo cũng là cái tư duy nữa, sáng tạo cũng là tư duy. Ví dụ như là khi mình đi chùa, tới cái ngày sám hối thì phải vào chùa lạy Phật, tụng kinh, vân vân, phải gõ chuông. Cái mình nhìn thấy ví dụ mình nhìn thấy cái chú điệu cái ngồi

[21:36]mà gõ đại hồng chung tội nghiệp quá đó, cái mình mới sáng tạo ra mình mới có cái sáng kiến mình trình với thầy trụ trì: "Con có thể chế được cái máy gõ chuông á. Để bên cạnh đại hồng chung nhấn nút cái là cứ ngồi gõ boong boong là chú tiểu mất công khỏi gõ nữa." Ví dụ như vậy. Đó những cái sáng tạo. Ví dụ mình thấy tụng kinh mệt quá mình sẽ chế một cái máy tụng kinh giùm cho nó khoẻ thân. Rồi mình thấy tu cũng cực á, mình chế cái máy tu giùm. Rồi cái máy đó nó chứng đạo nó giải thoát luôn, còn mình thì cứ tiếp tục làm người. Cái cái sáng tạo á là do mình nhìn trong cái cuộc sống á hễ là thấy con người còn đau khổ, mình còn đau khổ,

[22:12]người còn đau khổ, còn nhiều điều chưa giải quyết được, tự nhiên mình hay nghĩ ra điều này, hay nghĩ ra điều kia để mà tìm một giải pháp. Chính cái người mà thích đi tìm giải pháp để làm cho cuộc đời tốt hơn á, ta gọi là sáng tạo, sáng tạo. Ví dụ mình thấy là người tu thời nay tại sao cái tâm linh không có sâu? Ví dụ như cái đạo đức cũng có thể bị kém, cái mức độ thiền định cạn, cái thần thông trí tuệ ít. Còn người xưa sao mình nghe có những vị thánh mà trí tuệ sâu sắc, thần thông quảng đại? Mình thắc mắc tại sao, rồi mình mới muốn tìm cái cách nào đó để nâng cái trình độ tâm linh của người thời nay lên.

[22:56]Nên mình mới ngồi mình tư duy mình tìm tòi, đó cũng là chánh tư duy đó. Và ngày nào đó bất ngờ mình có thể mình sáng tạo ra một cái đường lối tu đường lối tu thật là chính xác đúng với lời Phật dạy ngày xưa mà phù hợp với cái thời đại khoa học ngày nay, để làm cho cái người tu có thể tu có hiệu quả hơn, hơn là tu nó cứ trượt trượt, phớt phớt trên hình thức. Làm một cái lối tu rất chính xác phù hợp với lời Phật dạy, phù hợp với khoa học hiện đại mà đi sâu được, chuyển hoá được nội tâm của người, làm cho người ta thay đổi được tâm hồn, tiến sâu vào tâm linh, nâng cao được đạo đức. Lúc đó mình trở thành một gì?

[23:41]Một bậc thầy cũng là đặc biệt lắm. Mà do ở đâu mình có cái sáng tạo như vậy? Chính là do cái trăn trở. Vì mình nhìn bản thân mình thấy kém, nhìn thấy đạo Phật chưa sáng, chưa có hưng thịnh, mọi người còn chưa có cái năng lực tâm linh, chưa thể giác ngộ giải thoát như lời Phật dạy, mình day dứt trăn trở tìm tòi. Đó, thì cái mà day dứt trăn trở tìm tòi đó là chúng ta gọi là sáng tạo. Và cái sáng tạo này cũng là trong cái tư duy, gọi là chánh tư duy. Mà chỉ có những người nào thương yêu chúng sinh, là thấy cái khổ người khác không bỏ qua thì đó là người hay có nhiều cái sáng tạo nhất. Ví dụ như mình đi trên đường rồi mình thấy

[24:26]người ta hay kẹt xe, ờ xe hay đụng nhau, ngồi mình nói làm sao cho nó bớt cái tình trạng này, cái đi tìm tòi tỉ mỉ mình cũng phát minh ra được nhiều cái. Nhưng mà đó là những cái chuyện thế gian. Còn ở trong đạo cũng vậy nữa, cái tu cách nào cho hiệu quả, thì khi mình tìm tòi mình trăn trở vậy mình sẽ sáng tạo. Mà cái dấu hiệu của cái người mà tư duy mà đi tới trí tuệ chính là sáng tạo, chính là sáng tạo. Mà chính nhờ cái sáng tạo này làm cho đạo Phật luôn luôn mới, luôn luôn mới. Vì sao vậy? Chúng ta nhớ một điều thế này: Chúng ta nhớ một điều thế này là đồ cổ á càng cổ chừng nào thì càng mắc tiền chừng nấy.

[25:09]Nhưng mà thời trang á càng mới chừng nào thì mới càng càng hấp dẫn người khác chừng nấy. Đạo lý cũng vậy, đạo lý mà được trình bày cũng vậy nữa. Ví dụ như mình nghe cái chữ từ bi thì hay không? Hay. Nhưng mà ông thầy nói: "Con ráng từ bi nghe con." Mỗi lần nghe ổng: "Con ráng từ bi con." Cái mai mốt gặp ổng làm sao? Cái ổng mà tính nói cái đó: "Con biết rồi, thôi khỏi nói nữa." Cũ quá rồi, xưa rồi, xưa rồi. Không? Thành thử ra cũng cái chữ từ bi đó nhưng phải nói cách khác, phải nói cách khác để nghe nó mới hơn. Mặc dù cái đạo lý đó rất cũ, nội dung nó rất cũ, nhưng mà cách trình bày phải mới người ta mới hấp dẫn được.

[25:49]Cũng vậy, những cái đó cái đạo lý Phật dạy từ ngàn xưa về luân hồi, nhân quả, về tứ diệu đế, à về thất giác tri, về thiền quán thì rất là phong phú, rất là hay, nhưng mà cứ đúng những lời đó mình nói y không mất một chữ nào, chúng sinh nghe không nổi. Trừ cái người mà đại căn tu hành sao chứ nghe không nổi. Vì vậy, cũng đúng những cái đạo lý đó, nhưng mình phải trình bày rất là mới, có sáng tạo, và như vậy đạo Phật sẽ phong phú, là người Phật tử họ sẽ thích thú hơn. Tuy nhiên có một điều là coi chừng mình sáng tạo quá trớn, nó đi lệch ra khỏi đạo Phật thì mình mang tội rất là nặng. Mang tội có thể đọa làm súc sinh, có thể đọa địa ngục.

[26:30]Cái này mới thiệt sự là đọa địa ngục á. Tức là cái sáng tạo mà nó đi vượt ra khỏi giáo lý của Phật mà làm cho cái người nghe họ hiểu sai rồi họ tu tầm bậy, họ mất lợi ích, thì cái người giảng tội cực kỳ nặng, thì cái chuyện mà đọa súc sinh hay địa ngục là chuyện phải có đó. Cho nên làm giảng sư không có vinh quang đâu, không có không phải là sướng ích gì đâu. Người làm giảng sư là nguy hiểm lắm á. Thấy tưởng như được bao nhiêu người ngồi lắng tai nghe mình, rồi có thể là người ta quý mến, nhưng mà sự thực là cái ngọn lửa địa ngục cũng đúng là chờ một bên á. Giảng bậy sơ sẩy rớt xuống liền chứ không phải dễ đâu.

[27:09]Cho nên nếu mà mình nhắm mà mình tu hành rất là vững á rồi mình được quyền truyền bá, nhưng cũng phải dè dặt, sáng tạo vừa vừa thôi. Sáng tạo quá cái nó tối tạo thấy mệt á. Ví dụ như có những cái suy luận như thế, những cái tư duy thế này nữa gọi là suy luận diễn dịch. Suy luận diễn dịch thế này, ví dụ mình nghe một đạo lý, mình suy ra thêm hai ba đạo lý kế tiếp. Đó, đó gọi là suy luận diễn dịch, đó cũng nằm trong Chánh tư duy. Gần giống như phản biện vậy đó. Ví dụ bây giờ mình nói trong luật nhân quả nói gieo nhân nào gặt quả đó. Mình đem hạnh phúc đến cho người, mình sẽ nhận lại nhận lại hạnh phúc, đó.

[27:47]Mình giúp người, mình sẽ được giúp lại, ví dụ vậy. Rồi ví dụ như là mình thấy một đứa bé nó xin tiền mà mình không hiểu rõ, nhưng mà mơ màng là nó làm cái chuyện gì cũng hơi hơi dữ dội đó. Nhưng mà mình không hỏi kỹ, mình chỉ nghe nói hễ bố thí là tốt, mình không hỏi kỹ nên mình mình cho tiền nó. Cho tiền thì không ngờ cho tiền xong nó có tiền cái nó mua vé xe nó trốn nhà đi mất luôn, ở nhà ba mẹ nó khổ quá chừng. Thì cái đó là tại ai? Mình có góp phần ở trỏng, thấy không? Như vậy mình cho thằng bé nó một ít tiền nó cười nó sướng không? Nó sẽ vui cười sung sướng thì sau này mình cũng nhận được

[28:31]cái cái niềm vui sung sướng y như thằng bé nó vậy. Nhưng mà cái nỗi đau khổ của cha mẹ nó thì mình sao? Cũng sẽ nhận lại như vậy. Cho nên đó là cái diễn dịch. Cho nên trong cái suy luận nhân quả thì khi mình giúp cho một người được hạnh phúc thì phải coi chừng cái hạnh phúc của người đó lại là cái đau khổ của người khác. Thì như vậy mình sẽ nhận được hai quả báo liên tiếp á. Mình sẽ nhận được quả báo vui và nhận tiếp một quả báo khổ từ một cái hành động gieo nhân bố thí của mình, giúp đỡ của mình. Đó, đó gọi là suy luận diễn dịch, hiểu một, nghe đạo lý một nhưng mà suy diễn thêm hai ba điều nữa, đó cũng gọi là Chánh tư duy.

[29:11]Học đạo phải như vậy. Hoặc là tập hợp, tập hợp gọi là quy nạp á, tức là mình mình quan sát nhiều sự kiện nó trùng hợp nhau rồi mình rút ra được một quy luật, rút ra một quy luật. Ví dụ như là ông bà mình có rút ra một cái quy luật mà mình không có biết đúng không, mà chúng tôi không có định nói ở đây bởi vì nói ở đây sợ đụng chạm á. Ví dụ như ông bà mình nói: "Đừng có qua nhà người, đừng có ghé nhà người." Có nghe chưa? Dạ. Vì vì ông bà mình sau khi quan sát nhiều người đều thấy cái người nào mà à ví dụ như khó nói, nói sợ giận không?

[29:54]Nói đại ha. Hoặc là ví dụ như ông bà mình nói thế này: nhìn một người mà thấy đôi mắt một đôi một con mắt lớn, một con mắt quá nhỏ, hai con mắt không đồng nhau đó, họ khi quan sát 10 người như vậy đều thấy là cuối cùng họ đều phản bội, họ không có ổn định, tâm lý họ không ổn định. Thì mới kết luận là: "Lưỡng nhãn bất đồng, tâm trung bất chánh", ví dụ vậy. Đó là quy nạp á. Tức là quan sát nhiều sự kiện, sự kiện, sự kiện rồi mới rút ra một cái quy luật. Cái đó ông bà nói nha, tôi không có nói nha. Nên đừng ghét tôi, tội nghiệp.

[30:30]Hoặc là ví dụ như các ông bà có nói một câu thế này: "Tuổi Hợi thì ngồi đợi mà mà ăn", thấy vậy. Tới tại họ để ý là nhiều cái người tuổi Hợi á là sao thấy cứ nhàn nhàn nhàn. Nhưng mà đó là họ quan sát 10 người thấy như vậy cái lật đật rút ra kết luận, nhưng mà quên còn người thứ 11. Tức là cái người này tuổi Hợi heo mà nhằm heo mọi, ví dụ chúng tôi, heo heo mọi cho nên nó cực cực khổ cả một đời chưa hết. Nên nhiều khi mình mình quan sát 10 người mình tính rút kết luận hãy coi chừng có người thứ 11 á. Nó cũng là cái tư duy. Rồi biết kết luận nó cũng là tư duy. Hoặc là thế này, nó có hai cái này cũng thuộc về tư duy:

[31:13]là hoài nghi và chấp nhận cũng là tư duy, hoài nghi và chấp nhận. Ví dụ như là khi mình nghe nói một cái giáo lý gì đó mình phải biết hoài nghi. Như bây giờ nói: "Hễ cái người nào mà niệm Phật rất nhiều thì khi chết Phật sẽ rước lên về ở với Phật." Thì đó cái câu nói nghe hợp lý không? Nghe hợp lý không? Không thì cũng xuôi tai lắm chứ không phải không, nhưng mình phải tập hoài nghi. Phải hoài nghi không biết có chắc thiệt vậy không nha. Ví dụ mình mới đưa ra một cái ví dụ, mình đưa ra ví dụ thế này. Ví dụ mình là một cái người rất là giàu, có nhiều tài sản, mình ở trong cái lâu đài, và lúc đó mình sẽ có nhiều tôi tớ, mình có nhiều tôi tớ.

[32:01]Rồi trong những người tôi tớ đó đó có một cái người tối ngày cứ quỳ xuống hướng về cái lâu đài của mình, cứ quỳ lạy kêu gọi mình nói: "Ngài cho con về ở với ngài. Ngài ơi, con thương ngài lắm, cho con về ở với ngài", không chịu làm gì hết, tối ngày cứ làm như vậy. Và một cái người không có kêu mình, mặc dầu quý mình nhưng mà không có kêu, tối ngày đi lo làm việc thôi. Tức là bao nhiêu công việc về đồng áng, về trang trại, về quản lý thì cái người này làm rất là tốt. Thì sau 10 năm thì mình đưa cái người nào vô nhà ở với mình? Đưa người nào? Cái người siêng làm chứ không phải người siêng năn nỉ, phải không?

[32:38]Cho nên mình chỉ thích cái người nào làm nên những cái công việc của mình, giúp mình làm những cái sự nghiệp của mình, chứ mình không thích cái người nịnh mình nếu mình là người có trí tuệ. Còn nếu mình không có trí tuệ đó thì mình thích người nịnh hơn. Mà mình là người thích nịnh, mình là người có trí tuệ hay không? Không có trí tuệ, phải không? Phật có trí tuệ không? Phật có. Vì như vậy là trong bao nhiêu hàng Phật tử, người đệ tử Phật xuất gia lẫn tại gia, phải không? Một người cứ tối ngày năn nỉ Phật: "Phật ơi, con về với Phật. Phật ơi, con về với Phật." Còn một người cứ lo việc Phật sự, cứ lo truyền bá cái đạo lý của Phật tràn lan trên

[33:15]thế gian này thì tới chừng chết Phật rước ai? Mình phải biết hoài nghi là mình đặt vấn đề mình kết luận lại. Đó, bây giờ chúng tôi không có trả lời nha, chúng tôi không trả lời. Chúng tôi chỉ đặt vấn đề và quý Phật tử tự kết luận là đúng hay sai. Như vậy nếu mình muốn được về với Phật thì mình phải làm gì? Mình phải phải lo làm những việc của của Phật, phải không? Phật muốn cái gì? Phật muốn cái gì? Phật muốn tất cả chúng sinh đều được giác ngộ, được giải thoát, được hiểu biết đạo lý thì mình phải lo điều đó cho Phật thì người đó được Phật thương. Nên vì vậy chúng ta nghe một cái đạo lý mình phải biết hoài

[34:03]nghi, chứ không phải là nghe cái là chấp nhận liền, dù đạo lý đó được nói bởi một cái người rất là đáng kính. Điều này Phật có dạy chưa? Điều hoài nghi này nè, Phật dạy chưa? Phật dạy rồi. Trong rất nhiều bài kinh mà nhất là cái bài kinh Kalama trong Nikaya á, Đức Phật nói: "Đừng tin điều gì hết, phải xét lại hết, phải hoài nghi hết." Mà khi mình đã xét lại hết, hoài nghi hết như vậy mà cuối cùng mình không tìm được chỗ hở thì mới chấp nhận, là tới giai đoạn là giai đoạn chấp nhận, mình gọi là tin đó. Ví dụ như ông thầy đó giảng cái gì mình cũng tin hết, tức là mình chấp nhận hết mà không suy xét,

[34:45]không phản biện là mình không phải biết học đạo, mình chưa biết học đạo. Người biết học đạo là ví dụ đến nghe ông thầy ổng giảng phải biết hoài nghi, phải biết phản biện lại. Đến khi mà hoài nghi, phản biện mà không có chỗ hở thì mới tin rằng lời ông thầy đó nói đúng. Hoặc là có những điều, có những giáo lý mà phải mình phải thực hành thử nhiều năm nhiều tháng rồi mới biết cái giáo lý đó đúng hay sai. Ví dụ như chúng tôi hay khuyến khích quý Phật tử phải thiết tha lễ Phật với tất cả lòng tôn kính. Và chúng tôi có nói như vậy là mọi công đức đều bắt đầu từ cái công đức lễ Phật hết. Chúng ta có thiết tha tôn kính Đức Phật thì tự nhiên chúng ta có nhiều

[35:28]cơ hội để tu hành, tự nhiên tâm linh mình dễ dàng khai mở, tự nhiên mình dễ có những cái ý niệm tốt xuất hiện trong tâm mình. Đó là điều mà chúng tôi hay nói. Thì nói tin liền được không, tin không? Đừng đừng tin. Phải về thực hành thử. Về thực hành thử là cũng thiết tha lễ Phật 5 năm như vậy, 3 năm như vậy xem tâm hồn mình như thế nào. Thấy tâm hồn mình nếu mà sau 3 năm lễ Phật tha thiết tâm hồn mình vững chắc hơn, kiên cường, ổn định, an vui, ý niệm thiện xuất hiện nhiều hơn thì chấp nhận: "Đúng, như vậy cái giáo lý của cái ông thầy ròm ròm đó đúng là lễ Phật thiết tha có công đức, đúng." Còn mà nếu mà lễ 3 năm thấy

[36:11]trơ trơ không có gì hết thì cái ông ông cái ông ròm ròm đó ổng nói trật. Hoặc là như có người nói đó ví dụ mình tụng bài chú vào ly nước á, rồi mình đưa người khác uống chữa bệnh á, mình tin liền không? Đừng, đừng tin, về nhà mình cũng tụng thử, cũng úm ba la úm ba la rồi trong đó đó, tùm lum rồi đưa người ta uống, ví dụ cái người đó họ bị sida, mình úm ba la úm ba la xong mình đưa uống thử, nếu mà người đó hết thì đúng là cái việc mà tụng chú vào ly nước ta chữa là có thiệt. Còn nếu mà sau khi mình đưa ly nước xong rồi người ta ực qua rồi người ta giãy tê tê rồi phải đi cấp cứu thì khoan cái pháp môn đó phải xét lại, chưa chấp nhận được.

[36:47]Nãy giờ chúng ta nói về tư duy là cái gì, bây giờ mình nói về chánh tư duy. Ở đây chúng ta nhớ là Đức Phật nói là chánh tư duy chứ không phải là là không có tư duy, nhớ như vậy, chánh tư duy chứ không phải là không có tư duy. Thì thế nào là chánh tư duy? Chánh tư duy là có mấy điều thế này: Thứ nhất là chúng ta tư duy về đạo lý, tức là những điều mà chúng ta được đọc trong kinh, được nghe quý thầy dạy, mình suy nghĩ lại điều những giáo lý đó, mình nhớ về giáo lý đó, thì đó là chánh tư duy. Thứ hai là mình suy nghĩ về điều thiện. Điều thiện với đạo lý giống nhau không? Giống không? Gần giống mà hơi khác một chút.

[37:34]Đạo lý thì mênh mông, đi từ cái thiện, đi cho tới vào tâm linh, đi cho tới cái trí tuệ giác ngộ giải thoát, cho nên đạo lý là nói tổng quát rất là lớn, còn điều thiện là nhỏ lại trong cái cư xử giữa người và người, giữa người và vật, giữa người và cái môi trường sống, đó là điều thiện. Nên điều thiện nó nhỏ hơn, cái tầm vóc nó nhỏ hơn, nhưng mà cụ thể, thực tế hơn. Ví dụ nếu chúng ta tư duy về đạo lý á, thì chúng ta phải tư duy luôn có khi tư duy tới Bồ Tát, tới các vị A-la-hán, những vị đã chứng đạo, tới pháp giới mênh mông, tới vô lượng kiếp luân hồi, thì những điều đó đều là đạo lý hết. Nhưng mà nếu suy nghĩ về điều thiện thì nhỏ lại,

[38:16]ví dụ mình suy nghĩ về một người hàng xóm, là cách đây 3 năm có một lần nào đó mình đã có gây gổ, rồi từ đó đến ngày hôm nay mình luôn luôn mình giữ cái khoảng cách, mình ít nói chuyện, gặp ngoài đường mình cũng lơ lơ, không thích tại vì đã có một lần gây gổ với nhau, rồi bây giờ Phật dạy chánh tư duy mà trong chánh tư duy đó có cái suy nghĩ về điều thiện, mình phải nghĩ lại, phải xét lại cái thái độ của mình. Vì gây gổ nhau một chút mà 3 năm qua mình không quan tâm, mình không thương yêu cái gia đình đó, đó là đối với đạo Phật là sai, phải suy nghĩ lại, nói thôi bỏ, từ đây là mình quên cái chuyện đã gây gổ

[38:52]đó, mình sẽ thương yêu lại cái người hàng xóm đó trở lại. Phải suy nghĩ như vậy, suy nghĩ đó gọi là điều thiện. Được không? Được nha, đó. Mà trong đời từ trước giờ mình có gây lộn với ai chưa? Trong những lần gây gổ như vậy đã để lại trong tâm hồn mình những cái vết thương, à vết thương ha, mình không có muốn nhìn tới người đó nữa, gặp người đó mình lơ, trong bà con mình cũng vậy, trong hàng xóm, thậm chí nhiều khi anh em ruột với nhau có một lần gây gổ rồi, quên nhau luôn. Nên điều đó phải quên, vượt qua. Rồi cái tư duy về công việc, về bổn phận, đây cũng là một điều thiện mà rất là cụ thể. Ví dụ như mình là một người, một cái nhân viên của một công ty

[39:33]nào đó, mình suy nghĩ về sắp xếp cái công việc sắp sửa phải làm, đó vẫn là chánh tư duy nha, đó vẫn là một điều thiện. Mặc dầu việc đó làm là việc ăn lương đó, nhưng mà để chu toàn cái trách nhiệm, bổn phận của mình, mình phải có suy nghĩ về nó trước, có suy nghĩ về nó. Như ngày mai vào trong hãng, mình phải sắp xếp cái điều gì. Cho nên cái mà mình làm, mình suy nghĩ về công việc để mình làm cho chu toàn trách nhiệm của mình cũng là cái chánh tư duy, cũng là một điều tốt. Tuy nhiên điều này chúng ta cẩn thận coi chừng. Chỗ này gọi là chánh tư duy, khác với cái bệnh tư duy là nếu mình quá thích tư duy thì tâm mình sẽ

[40:15]sẽ căng thẳng, nhớ như vậy, dù là suy nghĩ về đạo lý. Cho nên nếu mình cứ thích suy nghĩ về đạo lý hoài thì tâm mình cũng căng thẳng. Cho nên có lần mà chúng tôi cũng nhìn có những người họ thích nghiên cứu về đạo Phật, nói chuyện về đạo Phật rất là hay, nhưng mà nhìn vào người đó thì thấy người đó thích tư duy mà không thích không thích thiền định, không thích dừng cái tư duy đó, cho nên rất là đáng thương là tuy hiểu đạo Phật mênh mông lan man hết, nhưng mà tâm không có chiều sâu của trí tuệ, của cái an định, và cũng chỉ đi trên bề mặt, rất là uổng. Cho nên vì vậy là mặc dù chúng ta đang tu chánh tư duy

[40:57]là cái giai đoạn đầu sau chánh kiến, nhưng mà sự thật song song đó mình vẫn phải tu tập chánh niệm, chánh định, bởi vì Bát Chánh Đạo này như chúng ta đã nói là tu cùng một lúc. Mặc dầu là cái thứ tự là cạn hay là sâu, trước sau như vậy, nhưng mà trong thực tế là mình phải tu cùng một lúc. Nên đang tu chánh tư duy, kỳ thực tối đến tới thời vẫn phải ngồi thiền như thường, là vẫn phải tu tập chánh niệm, chánh định như thường, chứ không phải là ai nói: "Sao không ngồi thiền?" Nói: "Không, bây giờ năm nay tôi mới tu chánh tư duy, năm nay mới suy nghĩ à", không không được. Nói: "Sao anh không làm phước gì hết trơn vậy?" "Không,

[41:35]làm phước là chánh nghiệp, giờ tôi mới tu chánh tư duy, năm nay chánh tư duy cái đã, rồi chừng vài năm nữa bắt đầu tôi mới chánh nghiệp", không phải. Tức là Bát Chánh Đạo phải tu cùng một lúc, là ngay khi mình đang tu tập chánh kiến là mình lo học hỏi nè, mình đã biết tu chánh tư duy, cũng phải biết làm phước và phải biết ngồi thiền luôn, là Bát Chánh Đạo phải tu cùng một lúc. Vì vậy là tuy nói tư duy là một cái tu quan trọng nhưng mà đừng có chấp để mà ngồi tối ngày mà tư duy, mà sao? Phải có thiền định, phải có thiền định để giữ tâm mình an tĩnh. Dù suy nghĩ về đạo lý, nó vẫn làm cho tâm mình động.

[42:14]Mặc dầu cái suy nghĩ đạo lý đó rất là tốt, nhưng vẫn làm tâm mình động. Giờ phải làm sao? Cho nên như thế này, cái tỉ lệ này là thích hợp: là trên căn bản á, lúc nào mình cũng giữ tâm thanh tịnh, nhớ như vậy, đó là căn bản. Và trên cái tâm thanh tịnh đó, đụng chuyện, có những vấn đề bức xúc thì mình mới tư duy để tìm tòi cho ra 1/5. Là nếu tính theo thời gian á, là mình giữ tâm thanh tịnh 5 phút thì mình suy nghĩ được 1 phút. Ta giữ căn bản như vậy, đó là chánh tư duy. Chứ còn nếu mà mình say sưa chánh tư duy mà trong lúc đó quên tu tập chánh định, giữ tâm thanh tịnh thì cũng rơi thành tà tư duy liền, cũng là sai liền.

[43:00]Đó là sai tư duy. Nên nhớ trong cái chánh tư duy nó gồm có hai điều: Một là suy nghĩ về cái vấn đề suy nghĩ là tốt. Thứ hai là phải kết hợp với cái việc giữ tâm thanh tịnh, chứ không phải là nghe nói tư duy là cứ suy nghĩ, không phải. Chánh tư duy là phải biết dừng cái tư duy, phải biết giữ tâm thanh thản. Nhưng mà khi đụng chuyện, biết suy xét vấn đề, cái mà gặp chuyện biết suy xét vấn đề đó, đó là chánh tư duy, còn khi không gặp chuyện, biết giữ tâm mình thanh tịnh, đó là chánh tư duy, nhớ như vậy. Cho nên tâm lúc nào cũng cố gắng giữ thanh tịnh, nhưng mà khi đụng chuyện, trí tuệ mình nó sẽ tự động nó phát

[43:43]ra để suy xét, và lúc nó phát ra nó suy xét thì đừng nghĩ đó là sai, phải biết đó là chánh tư duy, không có sợ. Còn nếu người nào cứ chủ trương là gặp việc cũng không thèm suy xét, tức là nói là sáu căn mà đừng có tiếp xúc sáu trần á, lúc nào giữ tâm cho chặt chẽ thiệt là thanh tịnh thì như vậy là không biết tu chánh tư duy. Cho nên khi đụng chuyện mình phải biết suy xét, còn khi không gặp chuyện, cố gắng giữ tâm thanh tịnh, đó, đó là vừa tu tập chánh niệm, chánh định mà có chánh tư duy. Khi chánh tư duy này mà đến mức độ sâu xa rồi á thì nó trở thành trí tuệ chứ không còn là cái suy nghĩ lung

[44:22]tung nữa đâu, nhưng mà về sau mình chứng đạo rồi mới thấy cái này. Cái thứ ba của chánh tư duy đó là thanh lọc tâm khỏi những suy nghĩ bất thiện. Thanh lọc tâm khỏi những suy nghĩ bất thiện là làm sao? Nghĩa là hồi nãy đó, mình có suy nghĩ về những điều thiện, về đạo lý, nhưng mà những cái suy nghĩ xấu, nghĩ bậy nó vẫn còn chen vô chứ chưa phải hết, đúng không? Đúng. Ví dụ như mình cũng nghĩ về Phật, mình cũng nghĩ về từ bi nhân quả, nhưng mà trong ngày đó nó vẫn có những tư tưởng về tham lam, về giận hờn, về ích kỷ, hẹp hòi, ganh tị, đố kỵ chứ không phải là hết hoàn toàn, đúng không? Đó, cho nên một mặt là mình có suy nghĩ về điều tốt,

[45:03]nhưng một mặt là đối với những cái suy nghĩ sai, suy nghĩ xấu mình phải thanh lọc, phải loại bỏ, đó cũng là chánh tư duy. Thanh lọc những cái tư tưởng sai, tư tưởng xấu này cũng cực lắm chứ không phải dễ, quyết tâm cũng phải hai, ba năm mới hết, còn nếu không quyết tâm 10 năm, 20 năm tư tưởng xấu vẫn còn tồn tại trong tâm mình. Cái tu này khó lắm á. Mà có ai dám nói rằng mình không còn ý niệm xấu không? Có ai dám nói không? Có ai có không? Có ai có thể là trong tâm mình không còn nghĩ điều bậy, điều xấu nữa giơ tay lên? Có không? Bởi vậy cái công phu tu hành mà thanh lọc tâm khỏi những điều bất thiện vẫn

[45:41]là một cái công phu tu tập suốt cả đời của mình, không được coi thường. Ở đây có một vài điều chúng ta để ý nè: Chánh định mà mình đạt được tâm bất động hoàn toàn là giai đoạn cuối của Bát Chánh Đạo, nhưng mà cái chánh định đó nó phải đặt trên nền tảng của của chánh tư duy, tức là của cái thiện trong tâm hồn. Nghĩa là làm sao? Nghĩa là cái định là cái đỉnh, nhưng mà cái nền của cái định đó là cái cái thiện, nhớ như vậy. Là ở trên cái nền tảng của một tâm hồn thuần thiện, chúng ta mới xây dựng cái lâu đài của thiền định, đó là mẫu mực, cái khuôn mẫu căn bản không thể đi sai. Còn nếu mà mình không có cái nền tảng của một tâm hồn thánh thiện mà

[46:25]mình đã vội vã tu tập thiền định, giữ tâm hư vô, phải hiểu là mình đã xây lâu đài trên cát, cái định đó nó sẽ gãy bất cứ lúc nào. Cái định nó sẽ gãy, nghĩa là có những người tu tập thiền định nhiếp tâm vào trong định, vậy mà có một ngày nào đó cái định nó vỡ, gãy, tâm động loạn trở lại, thậm chí điên trở lại, thậm chí điên luôn, mất bình thường luôn. À vì sao vậy? Bởi vì người này đã hăm hở, vội vàng tu tập thiền định mà tâm hồn của mình chưa có thuần thiện. Cho nên chúng ta nhớ phải thuần thiện rồi mới nói tới cái định. Chúng ta có nghe nói cái câu là không thiện không ác trong nhà thiền, quý Phật tử nghe chưa? Có nghe chưa?

[47:12]Ví dụ chúng ta nghe cái câu mà Lục Tổ Huệ Năng nói với cái người mà rượt theo mình để giành y bát lại đó. Nói "ngươi hãy bình tâm, hãy nhớ không nghĩ thiện, không nghĩ ác, đó là bổn lai diện mục của ngươi". Chúng ta có nghe cái đó trong Pháp Bảo Đàn chưa? Nghe chưa? Dạ chưa nghe, để chúng tôi nhắc lại một chút. Là khi mà Lục Tổ Huệ Năng được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn truyền y bát, lúc đó Lục Tổ còn trẻ mới hai mươi mấy tuổi à, nhưng mà có cái sức ngộ, có cái sức giác ngộ mà Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn biết rằng người này là người kế thừa mình. Nhưng mà tuy nhiên lúc đó trong đại chúng còn có một vị thượng tọa là năm mươi mấy tuổi cực kỳ giỏi,

[47:54]uy đức quản lý, chỉ huy chúng, mà trong khi Lục Tổ đến chỉ là một cái người nghèo khổ, gầy gò ờ giã gạo dưới nhà bếp. Thì như vậy mà đem y bát cái danh cái cái cái chức vị của tổ mà giao cho một cái người đang giã gạo công quả dưới nhà bếp, lúc đó ai chấp nhận được không? Không chấp nhận được. Chỉ chừa cho, chỉ để cho vị thượng tọa quản quản chúng thôi, tức là ngài Thần Tú thôi. Nhưng mà Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn là một con người có cái sức giác ngộ nên ngài đập vỡ cái khuôn sáo đó, không bị lệ thuộc vào thành kiến, khi mà nhận ra rằng cái chú cư sĩ giã gạo nhà bếp này mới là người có cái sức đại ngộ,

[48:37]nên trong đêm lén ngài đã đưa y, đưa bát, truyền y, truyền bát và đưa qua sông trốn đi liền. Bởi vì đại chúng không chấp nhận một cái điều như vậy, không chấp nhận là bao nhiêu năm người ta theo tổ tu hành, người ta còn nể phục cái vị thượng tọa năm mươi mấy tuổi là Thần Tú, bây giờ y bát cái chức vị tổ kế thừa chạy mất vô cái người cư sĩ mới hai mươi mấy tuổi chưa cạo đầu, không chịu nổi. Tổ biết cái phản ứng phàm phu của đại chúng cho nên dặn đi trốn. Khi sau này sáng ra đó chúng biết mới rượt theo thì trong đó có một cái người tu là Huệ Minh. Ông này trước kia ổng làm tướng, ổng giỏi võ lắm, ổng cầm gươm ổng rượt theo, ổng đánh võ rất là giỏi.

[49:16]Thì khi gặp tổ thì ổng cũng rất là lớn, năm đó ổng cũng ba mươi mấy tuổi, còn tổ thì lúc đó là người cư sĩ mới hai mươi mấy tuổi. Sau khi mà tổ hiển thị thần thông là ổng không cầm nổi cái y bát lên ổng mới bắt đầu sợ là có chuyện mầu nhiệm. Thì tổ mới nói: "Thôi ngồi xuống bình tâm, hãy không nghĩ thiện, không nghĩ ác, đó là cái bổn lai diện mục của ông". Thì ông này cũng được ngộ, trong kinh kể là được ngộ, mình không biết ngộ thiệt hay không nhưng kể như vậy, sau đó ổng hối hận và ổng trốn đi luôn, ổng không có rượt theo tổ nữa. Thì tổ Lục Năng mới ôm y bát đi về phương Nam mai danh ẩn tích luôn một thời gian dài. Thì cái câu mà "không nghĩ thiện,

[49:52]không nghĩ ác" á đã làm cho nhiều thế hệ chúng ta hiểu lầm. Hiểu lầm là coi thiện là một cái điều quý giá trên cuộc đời này như vậy mà coi nó bằng như điều ác. Bởi vì câu nói của tổ giống như là phủi cả thiện lẫn ác, coi thường cả điều thiện lẫn điều ác. Cái câu nói này đã gây hiểu lầm suốt bao nhiêu thế kỷ qua. Cho nên ngày hôm nay chúng ta lấy câu của tổ lại, rồi chúng ta nói, chúng ta giải thích cho đúng với cái ý của tổ. Sở dĩ không đặt vấn đề thiện bởi vì sao? Bởi vì tâm hồn đã thuần thiện. Nói thêm thiện là dư, bởi vì điều thiện là điều đương nhiên, phải là điều đương nhiên phủ trùm trong tâm hồn của một người tu.

[50:37]Cho nên không nói tới điều thiện nữa, bởi vì điều thiện là đương nhiên, là căn bản; không nói tới điều ác bởi vì không chấp nhận điều ác. Cho nên chúng ta nhắc lại, nói rằng không thiện, không ác là không phải đánh đồng thiện ác như nhau, mà chính là tôn vinh điều thiện tới tận cùng và không chấp nhận điều ác dù một mảy may. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, không thiện không ác có nghĩa là không nói tới điều thiện bởi vì thiện là một điều đương nhiên, không cần phải nói tới nữa; không nói tới điều ác bởi vì không bao giờ chấp nhận một điều ác nhỏ. Nên đó gọi là không thiện không ác. Hiểu như vậy mới đúng như là lời Phật dạy trong kinh Pháp Cú.

[51:20]Nghĩa là: Tránh làm các việc ác, siêng làm các việc lành, giữ tâm hồn thanh tịnh, đó là lời Phật dạy. Nghe chưa? Quý Phật tử nghe câu này phải không? Đó đó là cái giáo lý căn bản muôn đời của đạo Phật, không thể bẻ ngược được. Tránh làm các điều ác, siêng làm các việc lành, giữ tâm hồn thanh tịnh, đó lời chư Phật dạy. Chúng ta không bao giờ được bẻ ngược cái giáo lý căn bản như thế. Cho nên nếu chúng ta hiểu cái không thiện không ác thì chúng ta mà hiểu không thiện tức là không làm điều thiện thì như vậy là chúng ta đã hiểu ngược lại với giáo lý căn bản của Phật là phải siêng làm các việc lành, phải không?

[52:04]Cho nên ở đây trong cái vấn đề mà chánh tư duy này là chúng ta phải hiểu là một tâm hồn thuần thiện mới là cái nền tảng vững chắc để chúng ta xây dựng cái lâu đài thiền định ở trên đó. Cho nên phải tu chánh tư duy rất là tốt, làm căn bản và thanh lọc tâm rất là tốt. Thì trong những cái tư duy nè, thứ nhất là tư duy để thành lập đạo đức, vì tâm chúng ta ban đầu vốn được xem như là chưa có đạo đức, phải không? Chúng ta chỉ sống theo cảm tính, đói chúng ta muốn ăn, khát chúng ta muốn uống, ai chọc mình thì mình giận, ai khen mình thì mình thích, ai giành giật của mình thì mình thù hận, vân vân. Ai hơn mình thì mình ganh tị.

[52:50]Đó là cái thói thường và không phải đạo đức, đó chỉ là cảm tính, là những phản ứng rất bình thường, rất tầm thường của chúng sinh. Nhưng mà ngày hôm nay hiểu đạo, chúng ta không được quyền đi theo cái cảm tính tầm thường đó nữa, không có cái phản ứng phàm phu như thế nữa mà phải là một tâm hồn có tràn đầy đạo đức. Mà muốn tâm hồn tràn đầy đạo đức, chúng ta cũng phải dùng chánh tư duy. Chúng ta phải suy nghĩ, chúng ta phải suy nghĩ thế nào đó mà cái suy nghĩ đó nó đưa tâm hồn chúng ta đến à đức hạnh, an vui, tự tại, thì như vậy cái suy nghĩ đó là đúng. Còn nếu chúng ta suy nghĩ làm cho tâm chúng ta nó

[53:31]phiền muộn, thì như vậy cái suy nghĩ đó là sai. Ví dụ như thấy mình giận rồi có người huynh đệ tới hỏi là: "Sao huynh cứ giận cái người đó hoài, thôi bỏ đi". Nói: "Tôi không có chấp nhưng mà nó cứ làm như vậy làm sao tôi chịu nổi". Thì như vậy là cái suy nghĩ mình là sai, tại vì nếu cái suy nghĩ mà cứ làm cho mình tồn tại cái điều phiền giận là suy nghĩ đó sai, phải khẳng định như vậy. Cho nên đây là cái thước đo nha, nghĩa là từ đây suốt trong cuộc đời còn lại, có những lúc nào đó, có một cái suy nghĩ nào đó, có cái sự kiện nào đó làm cho mình phiền thì phải hiểu rằng cái suy nghĩ đưa đến cái phiền đó là sai, phải bỏ.

[54:15]Cho nên phải suy nghĩ cách nào đó để tâm mình không phiền thì cái suy nghĩ đó mới đúng. Ví dụ như là người ta giận, người ta ghét mình, người ta nói xấu mình, mà mình phải suy nghĩ cách nào đó để đừng giận vì chuyện đó là cái suy nghĩ đó đúng. Mà suy nghĩ làm sao để đừng giận thì đó là do mình chánh tư duy mà ra, chứ ở đây chúng tôi không có nói nữa, phải không? Tùy trường hợp cá nhân của mỗi người. Người ta nói xấu mình mà mình nghe ờ ví dụ như mình ờ là một con người cũng danh giá, cũng đẹp đẽ, tự nhiên mình nghe nói: "Sao cái chị A nói chị bên ngoài mặt mày chị vậy chứ đằng sau lưng chị ghẻ không".

[54:52]Ví dụ vậy. Là thấy như hạ nhục mình chút, thấy rất là khó, lúc đó mình lúc đó mình sao? Mình nếu mà mình bực mình, mình lúc đó mình bực mình thì phải biết cái suy nghĩ đó sai. Đó. Mình nói: "Không, cô đó nói sai. Lưng em không có ghẻ nhưng tâm hồn em vẫn còn ghẻ. Bởi vì em tu theo đạo Phật bao nhiêu năm nhưng mà sự thực tâm hồn em vẫn còn ghẻ, cô đó nói nói chưa hết. Cảm ơn chị về chị nói lại rằng là em cũng đang ráng tẩy rửa, cảm ơn rất nhiều". Vậy giận nữa không? Hết, đó vậy. Mà có ai tâm hồn hết ghẻ chưa? Chưa, phải không? Cho nên người người ta nói mình cái lưng ghẻ nhẹ, thực sự thực mình nặng hơn cái lưng ghẻ nhiều mà, tâm mình còn ghẻ.

[55:39]Không tin mở ra coi.

[55:43]Cho nên chúng ta đánh giá là cái đạo đức và cái tự tại, chúng ta lấy cái đạo đức và cái tự tại để chúng ta đánh giá cái tư duy của mình có đúng hay không. Đó, hễ cái suy nghĩ mà làm cho mình tăng lên lòng thương yêu con người, cái suy nghĩ nào đó làm cho tâm mình lặng lẽ, an vui thì suy nghĩ đó đúng, đó. Nhớ như vậy thôi. Bây giờ lát chiều về nè, rồi tới mai nè, mốt nè, sang năm nè, hễ lúc nào mà có cái phiền giận nổi lên thì mình biết rằng như vậy mình đã có suy nghĩ sai, phải thay đổi, suy nghĩ cách nào đó, suy nghĩ cách nào đó để không phiền không giận nữa thì mới chấp nhận được, nhớ. Giờ chúng ta dùng cái suy nghĩ để dựng cái đạo đức mình lên.

[56:26]Ví dụ chúng ta tâm niệm về lòng tôn kính Phật, đó là cái đạo đức căn bản. Chúng ta phải tôn kính Phật đến mức độ nào để được gọi là đạo đức? À ví dụ khi chúng ta thắp nhang nơi bàn Phật hay chúng ta quỳ xuống đảnh lễ Phật, chúng ta nghĩ đến cái lòng từ bi vô tận của Phật, cái sự giác ngộ tuyệt đối của Đức Phật, à chúng ta nghĩ đến công đức vô lượng của Phật ờ hơn cả người cha và mình mình mới nguyện đem cả cuộc đời của mình, cái thân tâm của mình đi theo Phật. Và nếu cần đúng là vì Phật mình chết không sợ, chấp nhận chết liền, không sợ, phải như vậy. Phải suy nghĩ như vậy mà suy nghĩ nhiều ngày nhiều tháng như vậy thì tâm

[57:10]mình mới thành lập được một cái đạo đức ban đầu là tôn kính Phật. Người là một một đại dương mà con như giọt nước, Người là ngọn cao sơn mà con như hạt bụi. Có nhớ không? Nhớ. Hoặc là mình suy nghĩ về lòng thương yêu chúng sinh thì cái suy nghĩ đó phải được huân tập, suy nghĩ hoài bắt đầu mới thành cái từ bi, chứ không phải là mình nghe thì nó không có thành. Ví dụ hôm nay mình đi nghe quý thầy sẽ nói về lòng thương yêu chúng sinh rất là nhiều, nhưng mà nó sẽ không thành cái đạo đức từ bi trong tâm mình, mà phải chính mình tư duy, tâm niệm, tâm nguyện, phát nguyện thì nó mới bắt đầu biến thành cái từ bi trong tâm mình.

[57:52]Là lúc ở vắng người không có ai hết, mình khởi cái ý niệm: Nguyện thương yêu tất cả chúng sinh trong pháp giới. Rồi khi mình bước ra đường, mình thấy mặt con người cụ thể, người xa lạ mình vẫn phải khởi: À, những con người này, đây là những người mà con nguyện thương yêu, thương yêu, nhớ như vậy. Chứ có cái có điều rất là lạ, ví dụ mình ở chỗ vắng quỳ trước Phật á, hổng thấy mặt ai hết á thì mình nguyện thương yêu tất cả chúng sinh, nhưng mà bước ra gặp mặt bao nhiêu người thực tế cái quên liền, hổng thương ai hết. Có hổng? Có. Từ bây giờ bắt đầu vậy, lúc mà mắt mình chạm thấy chúng sinh là lòng phải nhắc

[58:27]mình một câu liền, cái ý niệm, cái cái tư duy phải khởi lên liền là: Con nguyện thương yêu tất cả mọi người như thế này. Được không? Được không? Đó, mình phải suy nghĩ như vậy rồi mới thành được cái đạo đức từ bi. Ví dụ bây giờ trước mắt quý Phật tử là ai? Trước mắt là ai? Mắt mình thấy người nào phải thương người đó, mà hiện nay đang dòm thấy ai?

[58:55]Phải ráng cưng nha.

[58:58]Rồi mình cứ suy nghĩ về cái tâm khiêm hạ. Đó, ba cái căn bản: Tôn kính Phật, từ bi, khiêm hạ. Là cái tâm khiêm hạ là lúc nào mình cũng tôn trọng mọi người, thấy cái hay của mọi người hơn mình. Còn phần mình, mình lúc nào cũng cũng xem mình là nhỏ bé thôi. À, lúc nào mình cũng tìm cái dở của mình để thấy mình còn thấp kém. Mà đến nỗi, ví dụ lúc nào mà cái tâm niệm tự cao của mình nó khởi lên, ví dụ mình thấy mình ngon, mình thấy mình hơn người thì mình phải có một cái suy nghĩ để dằn lại liền. Là sao? Mình thấy mình là chỉ là cát bụi, là cỏ rác thôi. Lúc nào mà mình thấy cái mặt mình nó kênh kênh rồi

[59:38]đó, mình nhìn đời mà mà bằng nửa con mắt á, xem mọi người mà thấy bắt đầu giống củ khoai rồi đó là bắt đầu mình phải nhớ mình chỉ là cát bụi, là cỏ rác thôi, là bắt đầu biết tôn trọng con người. Đó là những cái ý nghĩ thường xuyên phải như vậy mới lập thành cái đạo đức trong tâm mình là đạo đức khiêm hạ. Hoặc là cái đạo lý về nhẫn nhục. Mình biết trong cuộc đời mình sẽ gặp nhiều nghịch cảnh, gặp nhiều người không ưa, không thích, chống đối, mình phải suy nghĩ trước. Mình suy nghĩ trước là là khi đối với những người mà chống đối, mưu hại con, con xin được thương yêu họ tất cả. Hoặc là mình suy nghĩ về cái sự tha thứ,

[1:00:22]tha thứ trước những cái lầm lỗi của người khác. Ví dụ khi người khác có lỗi, mình phải đừng vì cái đó mà ghét bỏ, giận, quay lưng hắt hủi họ luôn. Đừng vậy, mà phải ví dụ mình có thể có cái phạt, có cái nghiêm để cho họ biết sợ, nhưng mà phải tìm cách dạy dỗ họ. Đó là những cái suy nghĩ đó phải suy nghĩ thường xuyên. Cái thái độ của một người tu Phật á nó có hai cái tính cách này. Chúng ta để ý chúng ta thấy mình dọn cái tâm hồn mình làm sao á, nó đưa ra bên ngoài cái thái độ thế này: Một là vui vẻ, hai là trầm lặng. Làm sao nơi con người mình có một lúc hai điều này là mình tu đúng đạo Phật. Nhìn vào mình người ta thấy một cái gì nó thanh

[1:01:09]thản, trầm lặng nhưng vui vẻ là đúng. Còn nếu nhìn vô mình thấy rất là trầm lặng mà không thấy vui thì vẫn có cái sai. Hoặc là nhìn vô mình thấy vui mà không thấy trầm cũng là chưa đúng. Đồng ý không? Cho nên bây giờ từ đây về sau, quý Phật tử phải kiểm tra cái thái độ của mình là coi mình vừa vui vẻ, vừa hoan hỷ, hòa ái mà vừa thanh thản, trầm lặng. Mà muốn kiểm tra thì phải làm sao? Lúc nào mình cũng phải bỏ cái gương nhỏ nhỏ theo theo túi. Trước khi mình vào mình gặp ai rút cái gương mình nhìn, nhớ: Vui vẻ nhưng mà trầm lặng, vui vẻ trầm lặng. Rồi bỏ gương vô túi, đi vô nói chuyện với người với người ta.

[1:01:50]Như vậy là đúng, đó là đúng đạo Phật. Thế còn mà lúc nào cũng vui xởi lởi mà không trầm lặng thì cũng không đúng đạo Phật. Còn lúc nào cũng trầm lặng như một cái thế giới bí hiểm nhìn vô không hiểu gì hết, thấy lạnh lùng sương khói thì cũng không phải đạo Phật. Có hai cái thái độ đó nó đánh giá cái nội tâm của mình đã được dọn dẹp rất là tốt là vừa hoan hỷ, hòa ái mà vừa trầm lặng.

[1:02:16]Rồi đối với những chuyện gì xảy ra, những chuyện không hay xảy ra thì lúc nào mình cũng phải trách mình, trách mình trước. Như ông như người xưa nói là: "Tiên trách kỷ, hậu trách hậu trách nhân", đó. Chớ đừng có chuyện không hay xảy ra cái đổ thừa. Nhớ? Nhớ. Bởi vì ở đây có ai tên là Đổ Văn Thừa không? Không. Vì chúng ta không phải tên là Đổ Văn Thừa cho nên đừng đổ thừa, nhớ như vậy. Mà thật ra đó thì chúng ta đổ thừa hơi bị nhiều, phải không? Hễ đụng chuyện cái đổ người này, người kia liền, còn mình là người vô tội, không được. Từ đây vậy, mình phải trách mình trước. Có những phép quán trong đạo Phật cũng được gọi là chánh tư

[1:02:59]duy, ví dụ như quán từ bi, quán vô ngã, quán vô thường, vân vân đều là chánh tư duy để dọn dẹp tâm hồn mình hết. Ví dụ như quán từ bi là như nãy chúng ta nói đó, mình ngồi mình tưởng tượng mình thương yêu tất cả chúng sinh. Thì đó cũng là chánh tư duy, mà cứ tư duy như vậy, cứ quán như vậy lần lần cái tình thương yêu sẽ tràn ngập trong tâm hồn mình, mình sẽ thương yêu được mọi người. Rồi ví dụ như quán vô ngã, mình lời Phật dạy thì chúng ta biết là chúng ta không thật có cái ta, không thật có cái ta. Cái thân này không thật là của mình, cái tâm này cũng không thật là của mình, lát nữa mình nói tới cái đó.

[1:03:38]Nên vì vậy mình thấy cái ta không có thật, phải suy nghĩ về điều đó cho thật nhiều. Nhớ nha, nãy giờ chúng ta nói rất nhiều về đạo lý, những cái đạo lý suy nghĩ rất nhiều, nhưng có một đạo lý cực kỳ quan trọng để đưa tới giải thoát là vô ngã, cái đạo lý vô ngã. Và thế này chúng ta phải suy nghĩ về vô ngã cho sâu sắc, phải hiểu là tại sao Phật nói là cái ta này không thật, phải tự mình tìm cho ra. Như vậy. Mà đạo lý này rất là hay, để khi nào chúng ta có dịp chúng ta nói lại. Chúng ta cũng đã nói nhiều rồi. Rồi ví dụ cái quán vô thường, chúng ta suy nghĩ rằng trên cuộc đời này không có gì tồn tại mãi mãi, mọi việc, mọi vật rồi dần dần đều thay đổi.

[1:04:19]Đó, cái quán vô thường. Nên khi mà chuyện gì xảy ra mình cũng bình thản hết vì biết cuộc đời luôn luôn thay đổi. Nay người ta thương mình nhưng mai người ta ghét mình giờ, cuộc đời là vậy. Rồi thấy giàu sang đó rồi phút chốc hóa thành tro bụi, vân vân, như vậy. Tất cả mọi cái bình thản, sinh đó rồi diệt đó, đời là vô thường. Một điều đây là quan trọng rồi nha: Dùng tư duy để diệt vọng tâm. Dùng tư duy để diệt vọng tâm. Ví dụ như là khi chúng ta tu tập thiền định, thì cái vất vả nhất của một người tu thiền là bị bị vọng tưởng, tức là những suy nghĩ nó cứ khởi lên. Dù lúc đó mình ngồi thiền, mình không muốn suy nghĩ gì nữa,

[1:05:00]nhưng mà tâm theo thói quen hết suy nghĩ này tới suy nghĩ kia vẫn khởi lên. Thì trước khi mình có cái bản lĩnh diệt được vọng tưởng, thì mình vẫn phải dùng cái tư duy để diệt vọng tưởng. Ví dụ như là vọng tưởng khởi lên cuồn cuộn cuộn cuộn mình mới suy nghĩ là: Không suy nghĩ nữa, không suy nghĩ nữa. Đó là một mệnh lệnh đó, thì nó cũng là một tư duy phải không? Mà tư duy để diệt vọng tưởng. Hoặc là mình cứ bận tâm suy nghĩ về giàu nghèo hoài, cái mình nói: Giàu nghèo như mây nổi, bỏ, không suy nghĩ nữa. Thì cái lời mà mình nhắc mình trong tâm đó cũng là cũng là gì? Chánh tư duy. Đó, thì dùng chánh tư duy đó để diệt vọng tâm.

[1:05:41]Giai đoạn đầu á mình diệt vọng tâm bằng cái tư duy như thế. Thì sau này đó khi mà ai nhắc khéo vậy ta? Thì sau này á là mình không cần phải dùng tư duy nữa mà chỉ cần biết thôi, hễ là vọng tưởng vừa khởi lên mình thấy một cái vọng tưởng tan liền. Đó là giai đoạn sau, còn giai đoạn đầu á vẫn phải dùng cái tư duy để diệt vọng tâm. Quý Phật tử tu có như vậy không? Có không? Cũng có chứ, người nào tu cũng có đi qua giai đoạn đó là dùng tư duy để diệt vọng tâm, và điều đó đúng không có sai. Quên, cái người già hay quên ha? À quên, cái cái năng lực mà mình truy tìm lại trong bộ nhớ nó không có mạnh.

[1:06:25]Đó là do bộ não mình yếu dần theo tuổi tác, do yếu dần tuổi tác. Bởi vậy mình phải tu tập một cách nào đó để cho về già cái bộ não mình đừng bị suy yếu. Chúng ta tu tập khí công, chúng ta tu tập thiền định, chúng ta tu tập từ bi. Chúng ta nhớ rất lạ nha, cái người mà tu tập từ bi thương yêu nhiều, cái bộ não nó vẫn không bị yếu, về già bộ não nó vẫn tốt. Cho nếu mà mình muốn cho về già bộ não mình vẫn còn tốt, thì từ bây giờ mình phải tu tập từ bi, lúc nào cũng nghĩ thương yêu chúng sinh. Tự nhiên về già bộ não vẫn còn rất là tốt. Thử đi, thử coi, khoan tin, cứ tu thử đi. Về già mà nếu nó không tốt đi kiếm chúng tôi cự. chống gậy đi kiếm chửi. Nói:

[1:07:09]"Tôi tu từ bi sao bộ não tôi cũng yếu?" Đó rồi mình sẽ bắt đền nhau đó. Bắt đền nha. Bên Thiền tông Trung Hoa có một cái phương pháp dạy đạo rất là lạ. Là ví dụ khi một thiền sư mà thấy người đệ tử mình vào được thiền định, tức là tâm định được rồi, nhưng mà chưa tới cái chỗ khai ngộ được trí tuệ, thì vị thiền sư này sẽ gây một cái thắc mắc cho người đệ tử, làm cho người đệ tử đó tâm vừa định mà vừa thắc mắc, vừa định mà vừa thắc mắc, thì một ngày nào đó sẽ đạt được cái sự, sự giác ngộ. Đó là cái lối mà hãy dùng cái lối thoại đầu hay là nghi tình á. Nhưng mà chỉ được ứng dụng cho người đã nhập được định,

[1:07:50]còn người chưa nhập được định mà gây cho người ta một cái hoài nghi, một cái thắc mắc, thì hại người ta, làm đầu người ta rất căng thẳng. Nhớ các thiền sư ngày xưa là vậy. Nay mình không có thì giờ để nói về con đường đó nhiều. Giờ chúng ta nói về cái tương quan giữa phước và tư duy. Ví dụ như cái người mà có phước á, dễ có những cái tư duy chánh, thiện, đúng; còn cái người mà kém phước á hay nghiệp nặng á, chúng ta dễ bị những cái suy nghĩ bậy ở trong tâm mình. Đó, liên quan giữa phước và cái tư duy. Ví dụ cái người mà đời trước hay làm những cái nghiệp lành, hay giúp người, hay tôn kính Phật á,

[1:08:28]bây giờ trong tư tưởng mình á, trong tâm mình á, những tư tưởng đúng hiện ra tự nhiên lắm, nhẹ nhàng lắm, hễ suy nghĩ cái gì thường là điều tốt, điều lành, do cái phước giữ được cái tâm mình. Còn cái người nào đó mà đời trước hay làm những điều ác á, bây giờ cũng vậy, trong tâm dễ dễ có những tư tưởng bậy nó khởi ra. Cho nên khi nào mà mình thấy cái tư tưởng bậy nó hay xuất hiện trong tâm mình, thì mình phải phải sao? Phải sám hối, vì biết đây là nghiệp quá khứ nó nó nó tạo ra cái tư tưởng xấu, cái nghiệp ác tạo ra tư tưởng xấu. Lúc đó phải lo lạy Phật sám hối, phải lo làm phước giúp người để nhờ cái phước đó mà chuyển vào trong cái tâm của mình.

[1:09:12]Như người bị bệnh tâm thần cũng vậy. Ví dụ như chúng ta nói là cái người bị tư tưởng xấu khởi lên trong tâm đã là do ác nghiệp phải không, do nghiệp xấu, nhưng mà cái tư tưởng xấu nó tới cùng cực thì gọi là bệnh bệnh tâm thần, chỉ là vậy thôi. Dĩ nhiên là bộ não có hư đó, nhưng mà mình xét trên nhân quả là tư tưởng xấu nhiều quá đến thành ra bệnh tâm thần. Thì là nghiệp thì phải làm phước, phải làm phước, phải lạy Phật, phải sám hối, phải làm phước. Nhưng mà người mà bệnh tâm thần hoàn toàn rồi, rất khó làm phước. Gia đình phải tìm cách sắp xếp, ép, kềm kẹp để buộc cái người đó phải tự mình làm phước.

[1:09:49]Ví dụ như có một cái cô đó vậy, cô bị tâm thần sau khi là đi Bệnh viện Biên Hòa chữa được hơi đỡ đỡ, hơi tỉnh tỉnh, thì chúng tôi mới nói người nhà là phải kiếm những khúc đường hư, bắt cô đó phải tự tay mình cầm cái cuốc đi cuốc đất san lấp lại cho người ta đi. Thì cái khúc đường mà mình san lấp rồi người khác giẫm lên đi như vậy á, cái đức vô tâm mình liền, bớt liền, bớt tư tưởng bậy liền. Nên chúng ta nhớ là giữa cái tư duy và phước tội nó có liên quan nhiều lắm. Cái tư tưởng xấu nhiều quá mà mình không biết là xấu thì đó là người nghiệp quá nặng. Ví dụ như cái tư tưởng xấu khởi lên cái mình biết:

[1:10:28]"À, trong tâm mình có tư tưởng xấu" là người này cũng còn thiện căn. Còn khi mình nghĩ bậy mà mình không cho đó là bậy thì đây là một chúng sinh rất đáng thương, chúng sinh này sẽ xuống địa ngục, sẽ đọa súc sinh, sẽ đọa ngạ quỷ. Khi mình sai mà mình không biết mình sai, rất là đáng sợ. Mà trong đời này cái đó nhiều không? Nhiều lắm. Mà đôi khi bị một cái tà sư nào dạy cho người ta một điều bậy nữa, người ta sai mà người ta không cho mình sai, vẫn tự bênh vực lấy mình, rất là đáng thương. Vì vậy, một cái giáo lý đúng cứu cả cái thế gian này, còn một cái giáo lý sai giết hết cả bao nhiêu thế hệ.

[1:11:07]Vì lúc đó người ta sai, người ta không biết mình sai, tại nói ông thầy đó ổng dạy như vậy, quan trọng lắm. Chúng ta nói cái tư duy về lời nói một chút. Nguyên tắc như thế này nè: Khi mình nghĩ ra được điều gì thì mình sẽ nói được điều đó, phải không? Hễ mình nghĩ về giáo lý từ bi thì mình sẽ nói được về từ bi. Mình nghĩ về giáo lý vô ngã thì mình sẽ nói được về giáo lý vô ngã. Mình nghĩ về cái đạo đức nhẫn nhục thì mình sẽ nói được về đạo đức nhẫn nhục. Nói được nhưng mà làm được chưa? Chưa, phải không? Đó, nghĩ được nè thì dễ nói được, nói được nè nhưng mà chưa chắc làm được. Nên chúng ta thấy cái khoảng cách giữa suy nghĩ cho tới cái việc làm rất xa.

[1:11:53]Cái khoảng cách giữa lời nói cho tới việc làm rất là xa, rất xa nên phải cẩn thận. Mà còn có một cái này nữa nè: Hễ mà mình nói rồi thì mình mắc cái lỗi hơi khoe, mà khi hơi khoe rồi cái phước nó giảm, mà khi phước giảm rồi càng khó làm nữa, phước giảm rồi càng khó làm. Cho nên cái người mà trình bày đạo lý mà có vẻ khoe khoang thì người đó là người khó tu nhất trên đời này, khó tu nhất. Ông bà mình nói là: "Nói trước thì bước không tới." Đó cũng là cái quy nạp á, rút quá nhiều kinh nghiệm của nhiều trường hợp trong đời mình cũng như của những người khác rút ra một kết luận: Hễ cái người mà mình nói nhiều về cái công việc,

[1:12:35]dự định quá, làm không được nữa, bởi vì nó nó bị rơi vào cái lỗi khoe khoang. Nên do đó, ví dụ mình có cái đạo lý là mình chỉ nên hun đúc trong tâm mình, tư duy thầm trong tâm mình để mà hành động, chứ đừng có phô bày nói nhiều. Nhiều khi huynh đệ mình gặp với nhau mà trao đổi đạo lý cũng phải cẩn thận, coi chừng mình rơi vào cái lỗi khoe khoang rồi cái đạo lý đó mình không làm được nữa, không tu được nữa. Thì cái điều về lời nói này mình sẽ nói trong bài sắp tới là bài Chánh ngữ. Còn hôm nay mình nói phớt một chút thôi. Giờ mình nói giữa tư duy và hành động nè: Từ nghĩ cho tới làm á, nó đi qua ba cái giai đoạn thế này:

[1:13:18]Trước hết á, mình suy nghĩ rằng đó là điều cần phải làm. Cái thứ hai là mình suy nghĩ tìm ra cái cách để làm. Cái thứ ba là mình quyết định phải làm. Và cái thứ tư là làm, bắt tay làm. Bốn giai đoạn như vậy. Là ví dụ thế này: Ví dụ như làm ví dụ trước nhà mình đi, có một cái cái hố ga, cái ổ gà, ổ voi gì đó, đường nó bị bị khuyết, người ta đi qua lại người ta bị hay vấp té. Không phải ngay trước nhà mình, ví dụ nhà mình xích xích qua mấy cái nhà của hàng xóm cũng vậy, mình thấy khúc đường đi qua mình nó bị hư, người ta qua người ta cũng hơi nguy hiểm, thì mình thấy cái điều cần phải làm là đắp cái đó lại, phải không?

[1:13:58]Đó là cái thứ nhất mình suy nghĩ rằng việc đắp cái hố, ổ gà đó lại là điều cần phải làm, cái thứ nhất. Cái thứ hai là tìm ra cách để làm: Bây giờ lấy đất ở đâu? Lúc nào làm? Nhờ ai? Cuốc xẻng là sao? Thời điểm nào thích hợp? Có phải bàn thêm với tổ trưởng dân phố gì không, vân vân. Đó là nghĩ tới cách để thực hiện. Sau khi nghĩ ra rồi, bắt đầu đi tới: Rồi, quyết định làm! Cái chỗ này mới quan trọng. Tại vì khi mà quyết định làm rồi là tới việc bắt tay làm nó chỉ là một bước nhỏ à. Nhưng mà còn cái giai đoạn kia mà suy nghĩ là à, phải đắp cái ổ gà đó, mình phải mua đất kia, mình phải làm, suy nghĩ đó thì ai cũng suy nghĩ được

[1:14:38]hết á, nhưng mà để khởi lên cái quyết định làm là không dễ. Thường mình bị cái giải đãi, cái lười biếng cản mình lại, cái ngại, cái nhút nhát cản mình lại, mình không quyết định được. Nên cái giá trị nằm ở trong tâm là quyết định làm. Cái người nào mà có quyết định làm rồi thì người đó làm được, chứ còn suy nghĩ về chuyện phải làm thì ai cũng suy nghĩ hết. Có nhiều người ngồi đây chứ suy nghĩ tới làm tới tổng bí thư lận. Suy nghĩ dữ dội vậy chứ không phải chơi. Ngồi suy nghĩ: "Nếu mà tôi mà là lãnh đạo của đất nước này ha, tôi sẽ là làm đủ thứ chuyện trên đời hết." Là sẽ thế này, sẽ thế kia, đủ thứ, làm cho đất Việt Nam trở thành cái là cường

[1:15:18]quốc nhất nhì trên thế giới ví dụ, có thể ngồi tưởng tượng đủ chuyện hết. Nhưng mà nói rồi: "Bây giờ đi làm đi." - "Thôi khoan, từ từ, giờ còn vợ ốm con đau để từ từ." Cái suy nghĩ để làm cho tới cái quyết định để làm khoảng cách rất là xa. Rồi chuyện bắt tay làm dễ rồi, đó là khoảng cách. Nhưng mà cái quyết định làm trong tâm á là điều khó vì những lý do thế này: Thứ nhất là Mình phải vượt qua được cái lười biếng của mình, cái e ngại, cái yếu đuối trong tâm mình nên mình không dám làm. Đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai là mỗi khi làm á là đời sống mình bị thay đổi, mình phải bị tốn kém, phải mất công.

[1:15:56]Ừ, cái đó làm cản mình nên mình không dám làm. Hoặc là khi mình làm mình ảnh hưởng tới những người chung quanh mình. Ví dụ mình muốn làm điều phước, mình phải hao tốn tiền bạc, rồi trong gia đình mình phải bị bớt chi tiêu lại, nó ảnh hưởng nên là mình ngại, mình không làm. Rồi không biết hậu quả tốt xấu ra sao. Giờ mình muốn làm nhưng mà sợ làm nó lại không tốt. Ví dụ muốn đắp cái ổ gà nhưng mà sợ đắp rồi cái nó lại trây sình ra, người ta đi còn khó khăn hơn nữa. Đó, chính những điều đó là mình khó. Người trẻ thì hiếu thắng, nghĩ ra cái gì muốn làm liền. Nhưng mà người già thì dè dặt. Cái người lớn tuổi vì thất bại nhiều cho nên không

[1:16:31]chủ quan nữa, làm cái gì cân nhắc rất là kỹ. Còn người trẻ đó, nghĩ ra cái gì là là thấy là mình đúng liền, làm là chắc ăn liền. Nhưng mà sau qua chừng hai ba chục lần thất bại trong đời rồi bắt đầu mới dè dặt lại, mới cẩn thận lại. Trong cái tư duy á, chúng ta phân tích về cái cơ cấu tâm lý một chút, cái này hơi khó để ý nha. Chúng ta nhớ cái cấu trúc năm ấm là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nhớ năm cái này. Muốn hiểu về năm cái này thì chúng ta phải xem trong cái cuốn Năm Ấm Là Gì ha. Hôm nay đề tài này không cho phép, nhưng chúng ta rút ra chút xíu nói sơ sơ. Trong tâm chúng ta có hai cái cấu trúc là tưởng ấm và hành ấm.

[1:17:13]Hành ấm á là cái vùng tâm lý, tâm thức mà chịu trách nhiệm mọi cái điều về tư duy như là suy luận nè, tư duy, truy tìm, sáng tạo, hồi tưởng, vân vân. Tất cả mọi cái hoạt động của tâm thức tư duy chúng ta, hành ấm chịu trách nhiệm hết. Nhưng mà những cái hoạt động chúng ta đó nó hiện lên trên tưởng ấm một phần để chúng ta biết. Giống như trong máy vi tính vậy đó, là chúng ta có cái có một cái đầu trong đó có những con chip, phải không? Những cái card nó hoạt động trong đó đó, nhưng mà nó chiếu lên trên cái monitor, cái màn hình để chúng ta theo dõi chúng ta đang làm cái gì. Thì trong tâm mình cũng vậy, cái tưởng ấm á nó hiện ra hình ảnh

[1:17:56]và hiện ra ngôn ngữ để mình biết mình đang suy nghĩ cái gì. Nhưng mà còn cái sự suy nghĩ thật sự đó rất là phức tạp, chằng chịt nằm sâu trong hành ấm. Và chúng ta khó thấy hành ấm lắm, không ai thấy được hành ấm, trừ cái người nhập định rất sâu mới thấy hành ấm. Còn bình thường mình chỉ thấy được tưởng ấm. Ví dụ bây giờ mình cái người nào mà tâm thanh tịnh á thì khi ngồi nghe pháp á chỉ có nghe và thấy ông cái người giảng sư thôi và nghe thôi, trong tâm trống rỗng không có gì hết. Nhưng mà cái người mà tâm chưa được như vậy đó, mắt nhìn ông giảng sư nhưng mà trong tâm mình vẫn còn những hình ảnh hiện ra chập chùng chập chùng, đúng không? Có không?

[1:18:35]Vẫn còn có những ý nghĩ, những ngôn ngữ, những lời nói chạy kèm kèm theo với cái lời giảng bên ngoài, phải không? Cái lời của ông giảng sư vang vang bên tai mình nhưng trong tâm mình vẫn có một cái lời khác nó cũng lý luận đi theo nữa, đúng không? Đúng không? Quá đúng, tim đen chứ gì nữa. Hoặc là mình lái xe đi trên đường, mắt mình thì mở nhìn con đường á, nhưng mình đang thấy cái gì? Không phải là mình thấy con đường hoàn toàn, mà mình bị nhiều cái hình ảnh tưởng tượng trong tâm mình nó vẫn hiện ra nó che con đường, có không? Có. Cho nên đôi lúc mình đã đã lủi nhầm người khác là vậy đó. Lủi nhầm người khác, đó rồi đâm nhầm người ta cái rầm, nói:

[1:19:15]"Tôi đâu có thấy anh đâu, tôi mắc thấy người yêu của tôi, không, đâu có thấy anh đâu", tâm vậy. Bởi vì cái hình ảnh trong tâm nó hiện ra nó che con đường. Cho nên đó thì những hình ảnh và những cái lời nói vang vang trong tâm mình đó là tưởng ấm. Nhưng mà sự thật sâu hơn những lớp đó là hành ấm hoạt động rất chằng chịt, mình không đủ sức thấy. Đó là cơ cấu tâm lý chúng ta nói nhau một chút thôi chứ ở đây không nói nhiều được. Chúng ta nói về sự tác động bên ngoài. Chúng ta đừng tưởng rằng mọi cái tư tưởng là của mình nha, đừng nghĩ như vậy. Đừng nghĩ tôi suy nghĩ thì suy nghĩ đó là của tôi, không có đâu, không có.

[1:19:50]Có khi những tư tưởng đó là ở bên ngoài tác động vào. Bởi vậy Phật nói về đạo lý vô ngã rất chính xác: Tâm này không phải của ta, ý nghĩ này không phải của ta, tưởng ấm này không phải của ta, hành ấm này không phải của ta. Đức Phật nói rất rõ, mà đây là một cái thực tế. Có những khi chúng ta nổi quạu lên không phải do mình mà do ma nhập, do một cái tác động của cái thế giới siêu hình nó đánh vào tâm mình. Có khi chúng ta suy nghĩ ra được một điều rất là sâu sắc, rất là cao thượng, không ngờ là do Chư Thiên, Chư Bồ Tát tác động vào trong tâm mình chứ không phải của mình. Có khi chúng ta phát minh ra được những điều rất là đẹp,

[1:20:30]không ngờ là được sự gia hộ của Phật chứ không phải của mình. Cho nên đừng có nói rằng luôn luôn cái suy nghĩ là chính mình, đừng nói như vậy. Có khi chúng ta bị tác động ở bên ngoài. Nhưng mà quan trọng là chúng ta gây cái nhân gì đó mà để chúng ta được Chư Phật, Chư Bồ Tát gieo vào lòng mình những tư tưởng tốt, và chúng ta gây cái nhân gì đó để cho khiến cho những cái vong linh xấu họ tác động vào trong tâm mình thành những tư tưởng bất thiện. Cái quan trọng là cái gây nhân á, cái gây nhân. Nếu mà chúng ta thường hay tôn kính thần thánh, chúng ta tôn trọng con người, thương yêu con người, lúc nào cũng thấy mình nhỏ

[1:21:09]bé như cát bụi, như cỏ rác thì luôn luôn trong tâm mình xuất hiện những điều tốt không, lúc đó được Phật gia hộ. Còn ngược lại, ví dụ mình không biết tôn kính thần thánh, mình hay khinh bỉ con người, thấy mình là giỏi là hơn thì lúc nào trong tâm dễ xuất hiện những tư tưởng bậy, mà khổ một cái là bậy mà không biết mình là đang bậy, rất là nguy hiểm. Nên đây là cái nhân. Chúng ta quan trọng là gây nhân để chúng ta chịu được cái sự tác động của một thế lực nào. Đó, nhớ là điều đó như vậy. Chúng ta nhớ lời Phật nói là: "Tâm dẫn đầu các pháp." Cho nên là chánh tư duy là chuẩn bị cho một cái nội tâm thuần thiện, chân chính

[1:21:52]trước khi chúng ta thực hiện được những cái chánh đạo khó khăn về sau. Chúng ta cũng nhắc nữa là: Chánh tư duy bổ sung ngược lại cho chánh kiến. Chánh kiến là những điều chúng ta học được, phải không? Học được. Nhưng mà chúng ta học được năm điều nhưng mà nếu mình biết tư duy thì mình tìm ra được mười điều, cho nên làm cho cái chánh kiến mình tăng lên. Nên chánh kiến là đã làm cái cơ sở dữ liệu để cho chúng ta tư duy. Nhưng mà nếu chúng ta khéo tư duy, chúng ta lại phát hiện ra thêm được nhiều dữ liệu mới, nhiều đạo lý mới. Cho nên ở đây chánh kiến đã được bổ sung bởi bởi chánh tư duy. Và chúng ta nói chuyện với nhau về chánh tư duy là

[1:22:37]chúng ta nói chuyện về cái nội tâm của mình. Mà chúng ta thấy thoạt ban đầu cái tâm mình giống như một vũng bùn, phải không? Trong đó đầy tham lam, thù hận, tanh hôi. Nhưng mà hôm nay chúng ta biết được Phật pháp, chúng ta đem cái gốc sen Phật pháp trồng lên trên cái vũng bùn tanh hôi đó, thế là từ cái bùn lầy trở thành trở thành hương hoa tươi đẹp, thơm ngát. Chúng ta thấy cái tâm mình nó như là biển khơi mịt mùng đầy sóng gió, nhưng mà hôm nay chúng ta sắm được một chiếc thuyền Phật pháp lớn, chúng ta rong ruổi trên chiếc thuyền bình an đó, không bị sóng gió đánh tơi tả nữa. Chúng ta thấy tâm mình nó như là một cái rừng hoang,

[1:23:16]khu rừng già chằng chịt, đầy trong đó những ác thú, gai góc. Nhưng mà Phật pháp đã cho chúng ta một cái lối mòn để dắt chúng ta ra khỏi khu rừng rậm đó, về được cái nơi bình an. Và cái điều cuối cùng mà chúng ta mơ ước, chúng ta đi trọn được hết cái con đường Bát Chánh Đạo đó để tâm chúng ta tan ra, không còn là mình nữa để trở thành tất cả pháp giới, tất cả vũ trụ. Chúng tôi có một bài thơ con ếch, hay hơn cóc một chút. Tâm con là vũng lầy, Nên con chắp đôi tay, Xin gốc sen Phật pháp, Đem xuống trồng từ đây. Tâm con là biển khơi, Sóng mịt mùng chơi vơi, Xin được thuyền Phật pháp, Để rong ruổi nơi nơi.

[1:24:01]Tâm con là rừng hoang, Đầy dã thú lang thang, Xin lối mòn Phật pháp, Đưa đến chốn bình an. Xin tâm này tan ra, Thành pháp giới bao la, Thành thương yêu vô tận, Ta không còn là ta. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Để để giải đáp mấy câu hỏi một chút. Câu nào khó á đưa Sư Bác. "Người chết ở nhà thương linh hồn có về nhà được không, hay là có trở ngại gì hay bị người ta yểm?" Lo quá xa, lo quá xa. Chết ở đâu á thường mình có cái duyên ở đó, đúng như vậy nha. Đúng ví dụ chết nhà thương chứ tự nhiên mình cũng bị quấn quýt với nhà thương đó chứ không phải không. Tuy nhiên cái duyên mình đối với gia đình ở nhà vẫn có,

[1:24:45]vẫn còn, vẫn về nhà được chứ không sao hết, nên đừng có lo. Miễn người nhà có cái tâm bao dung tưởng tới mình, khấn tới mình là có liền. "Chết rồi chôn hay thiêu?" Chôn hay thiêu, cái này chúng tôi có nói đâu nhiều lần rồi phải không ta? Thôi tìm nghe lại băng cũ đi nha, giờ không còn thời gian nữa. À: "Làm sao có thể phân biệt giữa kiêu mạn và tự tin, tự ti và khiêm hạ?" Hay, cái người nào hỏi câu này rất thông minh. "Tự tin giúp đỡ nhiều vào sự quyết đoán của con." Thế này nè: Khi mình mà suy nghĩ đúng, tự nhiên nó có cái sức mạnh của lẽ phải cho mình cái sự tự tin. Nên cái tự tin đó là một cái hệ quả tự nhiên sau khi mình suy nghĩ đúng.

[1:25:29]Đó, nên cái tự tin là đúng. Nhưng mà coi chừng, nếu mà kiêu mạn là luôn luôn cho mình hơn người khác, nó là một cái ảo tưởng, một ảo tưởng mang tội, sai lầm thì cẩn thận. Khi mình thấy mình hiểu vấn đề nào đó làm cho mình tự tin mình đi tới nhưng phải giữ coi chừng mình kiêu mạn, phải lọc ra, lọc ra. Lẽ phải cho mình cái sức mạnh tự tin nhưng cẩn thận đừng để kiêu mạn vì nó rất gần với nhau, rất gần. Ai hỏi được câu này là người tinh tế đấy, thầy khen đó. "Thưa thầy, giữa vọng tâm và những hy vọng vào tương lai làm sao chúng ta có thể phân biệt được?" Cái hy vọng mà đúng từ cái chánh tư duy đó thì nó là một

[1:26:09]cái hệ quả tự nhiên làm cho chúng ta phấn khởi để đi tới vì có hy vọng. Nhưng mà nó phải từ cái đúng. Còn mà nó từ cái tham vọng, cái mơ ước thì cái đó không gọi là hy vọng mà là một tham vọng. Đây là một cái loại vọng tưởng rất nguy hiểm. Cho nên do cái mình suy nghĩ đúng hay không thôi. Hễ chánh tư duy, suy nghĩ đúng đạo lý nó tạo thành cái hy vọng rất là nhẹ nhàng nhưng mà rất là vững chắc. Còn nếu mà mình tham vọng, mơ tưởng thì đó là tham vọng, mơ ước sai lầm thì nguy hiểm. Mình nói phớt phớt không biết có hiểu không? Có người nói: "Chết mà niệm Phật được mười niệm chánh định thì được vãng sanh." Khoan

[1:26:49]tin ha, chết xong niệm thử đi, chết rồi vãng sanh rồi mới tính. À có khi giảng Phật mà dùng Phật là chữ "ổng" có đúng không? Thầy cũng bị chứ đừng có nói, nhiều khi vui quá đó, thấy Phật thân quá nhiều khi cũng dùng chữ "ổng" nữa. Mình dùng đàng hoàng là dùng Đức Phật hay dùng Ngài, đừng có dùng "ổng". Thấy thấy thân quá rồi lờn. "Tại sao một người bị rớt vào nghiệp làm thầy bói, con thấy thu nhập của một người làm thầy bói một ngày kinh khủng, năm sáu triệu một ngày, do phước gì mà được như vậy? Ngồi tại chỗ mà tiền tự tới, họ coi khá đúng chỉ cần nhìn mặt mình, nghe ngày tháng năm sinh là họ biết cha mẹ,

[1:27:31]anh chị em mình ra sao." Người mà ví dụ thầy bói mà coi đúng rồi được người ta thưởng nhiều đó cũng là cái lộc đời trước á, có cái phước đời trước chứ không phải không. Thì lúc đó khi mình có cái tâm linh, cái tâm linh nó hoặc là tự khai mở hoặc là có thần linh gá vào, nhưng mà phải bảo đảm mình phải có bố thí nhiều mới tạo ra như vậy. Mà tuy nhiên thế này, ví dụ cái người thầy bói đó mà hay khuyên người khác làm phước á thì người thầy bói này có hậu, về sau không có khổ. Còn người thầy bói ví dụ đang được hưởng lộc, coi đúng rồi người ta cho mình tiền nhưng mà mình không khuyên người ta làm phước, cứ khuyên cái cách ờ về trấn

[1:28:07]cái này, gắn cái cái kiếng ở chỗ kia mà không kêu người ta làm phước thì người thầy bói này về già rất khổ. Nhớ, quan trọng cái đó. Cho nên ai ở đây mà lỡ coi bói nhớ phải lúc nào phải khuyên người ta làm phước, khuyên người ta phải đi chùa Từ Tân rồi vân vân, đó, thì nhớ. Nhớ là cái chùa sắp cất á, ví dụ mình coi bói người ta, mình nói tuổi năm nay à cái tuổi này Quý Mùi sang năm là năm tuổi, cho nên là phải đem nhiều tiền tới cúng cất chùa Từ Tân, phải vậy cho nó hết nghiệp. "Ba con tự tử chết vào một buổi trưa, không hiểu tại sao bảy năm rồi mà buổi trưa tâm con dằn vặt, hoang mang, xao xuyến, tối cũng hơi khó ngủ?"

[1:28:43]Thì ổng về đó, ổng về ổng bức xúc đó, tức có những điều ổng còn bức xúc ổng đến gần mình, ổng tác động vào tâm mình, cho nên phải tụng kinh cho ổng nghe để ổng buông hết đi thì tim mình sẽ không bị nữa, đúng rồi đó. "Bản thân là người ngoại đạo hay đi chùa, tới chùa thấy người ta lạy thì lạy theo không biết có đúng hay sai. Vậy xin hỏi lạy Phật Thích Ca là bao nhiêu lạy, lạy Phật Di Lặc bao nhiêu lạy, Quan Âm nhiêu lạy, Diêu Trì Kim Mẫu nhiêu lạy? Vì sao chùa thầy thì nói Mô Phật, vậy Mô Phật là gì?" Thôi ráng đi chùa ít bữa nữa biết hết ha, khỏi cần trả lời. Chữ này đọc không ra. "Bạch Thầy, người tham và ác và mạnh họ hại mình,

[1:29:24]Phật tử yếu hơn thì làm sao cảm hóa được họ, làm sao thương họ được, xin Thầy chỉ dẫn?" À à, cái này cũng là thực tế nè. Có những trường hợp mà khi mình bị cái người hại, cái người đó họ ác mà họ mạnh hơn mình, cái thế lực mình yếu hơn, lúc đó là cái nghiệp của mình đó. Nghiệp đời trước của mình mình cũng cũng giống như vậy, cũng ăn hiếp người ta như vậy, bây giờ mình bị dồn vào một cái cái thế mà mình yếu cơ hơn để người ta mới ăn hiếp được mình, thì trước hết là mình phải nhẫn nhục và phải tập tha thứ. Mà nếu mình nhắm mình không chịu nổi cái mưu hại của người ta thì phải cầu Phật che chở mình liền.

[1:29:59]Nếu mà mình thấy cái mưu hại người ta nó quá sức của mình mà thấy ảnh hưởng tới đời sống của gia đình mình thì phải cầu Phật gia hộ liền để Phật che chở bớt lại, rồi từ từ mình làm phước mình giải cái nghiệp oan trái với họ sau. Nhớ như vậy.