[0:09]rất quan trọng đối với người tu. Tại vì Đức Phật thật là đấng Toàn Giác á, Ngài thấy những cái nguyên nhân nho nhỏ nhưng làm phá vỡ cái sự nghiệp tu hành của mình. Ngài giảng cái bài kinh này để dè chừng chúng ta, để chúng ta cẩn thận không có bị vướng vào những cái nghiệp nhân mà tổn mất cái công đức. Giờ mình nghe bài kinh này nha. Đọc lướt á. Một thời Thế Tôn ở Rājagaha, núi, núi Linh Thứu, khi Devadatta từ bỏ chúng Tăng ra đi không bao lâu. Ở đây, nhân việc Devadatta, Thế Tôn cho gọi các Tỳ-kheo và dạy như sau: Ở đây, này các Tỳ-kheo, có thiện nam tử do lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình:
[1:00]"Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ, rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt được." Vị ấy xuất gia, và nhờ xuất gia, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy hoan hỷ, mãn nguyện. Vị ấy khen mình, chê người: "Ta được lợi dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy, còn các Tỳ-kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền." Vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ. Này chư Tỳ-kheo, ví như một người muốn được cái lõi cây, đi tìm cái lõi cây. Trong khi đi tìm cái lõi cây, trước một cây lớn đứng
[1:48]thẳng có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: "Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, vỏ trong, vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, cuối cùng chỉ lấy nhằm cành lá. Người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu." Câu văn này hơi kỳ, nhưng mà nguyên văn nó vậy. Và vị ấy vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ. Chư Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy được gọi là vị ấy đã nắm lấy cành
[2:33]lá của Phạm hạnh và do vậy, vị ấy đã dừng lại ở đây. Tức là có cái mục đích chân chính là thoát đau khổ để xuất gia, và khi được một cái thành quả nho nhỏ đầu tiên là lợi dưỡng, danh vọng, tự mãn, dừng lại. Đó là cái đoạn thứ nhất. Đoạn thứ hai thì Phật cũng nói những cái lời văn tương tự, nhưng mà qua cái ý khác. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng để trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Đoạn thứ hai này nói là thành tựu cái thứ hai là giới đức. Do thành tựu giới đức, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy khen mình, chê người: "Ta là người trì giới theo thiện pháp,
[3:19]các Tỳ-kheo khác phá giới theo ác pháp." Cũng nói giống là từ lõi cây, giác cây lần lần thì chặt lấy vỏ ngoài mang chúng đi, tưởng đó là lõi cây. Do thành tựu giới đức, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật và bị đau khổ. Tỳ-kheo ấy được gọi là đã nắm lấy vỏ ngoài của Phạm hạnh. Do vậy, vị ấy đã dừng lại ở đây. Đoạn thứ hai mình ghi là thành tựu được giới đức. Cái thứ nhất là thành tựu được lợi dưỡng rồi dừng lại, thứ hai là thành tựu được giới đức rồi dừng lại. Rồi cái thứ ba này. Vị ấy thành tựu giới đức nhưng mà không tự mãn, không khen mình, chê người. Vị ấy không mê say, tham đắm, phóng dật.
[4:04]Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu thiền định. Thứ ba là thiền định. Do thành tựu thiền định, vị ấy hoan hỷ, tự mãn, khen mình, chê người: "Ta có thiền định nhất tâm, các Tỳ-kheo khác không thiền định, tâm bị phân tán." Cái đoạn cũng giống như vậy, nói là vị này bỏ qua giác cây, chặt lấy vỏ trong mang đi, tưởng đó là lõi cây. Do tự mãn trong thiền định, vị này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật và bị đau khổ. Này chư Tỳ-kheo, như vậy vị ấy được gọi là Tỳ-kheo đã nắm giữ vỏ trong của Phạm hạnh và do vậy, vị ấy đã dừng lại ở đây. Đó là thứ, thứ ba. Còn cái thứ tư là vị ấy thành tựu thiền định nên hoan hỷ, nhưng không tự mãn.
[4:55]Vị ấy không khen mình, chê người. Và nhờ không có mê say, tham đắm, phóng dật, vị ấy thành tựu tri kiến. Cái thứ tư là tri kiến. Do vị ấy thành tựu tri kiến, nên vị ấy hoan hỷ, tự mãn, khen mình, chê người: "Ta sống thấy và biết, các Tỳ-kheo khác sống nhưng không thấy và không biết." Do tự mãn trong tri kiến, vị này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật và bị đau khổ. Như một người đi tìm lõi cây, trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn đứng thẳng có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: "Thật sự người này không biết lõi cây,
[5:40]không biết giác cây, à đã lấy cái giác cây mà tưởng là lõi cây. Người ấy không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu." Chư Tỳ-kheo, như vậy vị ấy gọi là đã nắm giữ giác cây của Phạm hạnh và do vậy, vị ấy đã dừng lại ở đây. Đó là bốn cái. Nó chưa có viên mãn mà mình đã dừng lại, tự mãn. Đến cái thứ năm là vị ấy cũng được lợi dưỡng nhưng không tự mãn, được giới đức nhưng không tự mãn, được thiền định không tự mãn, được tri kiến nhưng không tự mãn. Do vị này thành tựu tri kiến mà không tự mãn, sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giải thoát. Này các Tỳ-kheo, sự tình này có thể xảy ra: Tỳ-kheo ấy có thể từ bỏ thời giải thoát.
[6:33]Thời giải thoát có nghĩa là một cái sự giải thoát tạm thời. Để một lát rồi mình giải thích cái sự giải thoát tạm thời là gì. Đoạn cuối cùng là: Vị đó không vì thành tựu tri kiến mà khen mình, chê người. Vị ấy sống không phóng dật và vị ấy thành tựu được phi thời gian giải thoát. Chúng ta ghi cái phi thời gian giải thoát. Thời giải thoát nè, nhưng cái này là phi thời gian giải thoát. Này chư Tỳ-kheo, sự tình này không thể xảy ra: Tỳ-kheo ấy có thể từ bỏ phi thời gian giải thoát này là điều đó không thể xảy ra. Nghĩa là cái thời giải thoát á, là sự giải thoát tạm thời có thể bị từ bỏ, có thể bị thối lui, nhưng cái mà phi thời gian giải thoát thì không thể thối lui.
[7:20]Như vậy, này các Tỳ-kheo, Phạm hạnh này không phải vì lợi ích lợi dưỡng, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này các Tỳ-kheo, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của Phạm hạnh, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của Phạm hạnh. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các Tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Đó là nguyên văn bài kinh, mình đọc vắn tắt. Giờ chúng ta nói về nội dung. Bài kinh này đại ý nói gì?
[7:57]Ai có thể nói vắn tắt được đại ý bài kinh này? Sư Minh Hải là ai ha? À sư. Sư làm bài rất là khá.
[8:26]Sư nói rất đúng. Bài của sư làm vừa rồi, hai bài đều được chín điểm hết. Đây chúng ta nói thêm một số, chúng ta phân tích về cái mà mình gọi là tự mãn trong bài kinh nói. Nhưng mà hôm trước có một lần tôi nói là cái tâm tự hào bí mật á. Tự mãn có nghĩa là mình cho là đủ, khi mà thật ra nó chưa đến được cái mục đích cuối cùng. Còn tự hào có nghĩa là tự khen mình, tự cho rằng mình hơn người. Mà sự thật cái tâm mà tự cho mình hơn người là cái tâm phá tan công đức. Hôm trước chúng ta có nói là một người khi thành tựu được một cái mức độ thiền định nào đó mà trong lòng mình có một chút tự hào thì công phu sẽ bị lui sụt.
[9:10]Thì bài kinh này Đức Phật đã xác nhận lại điều đó. Bây giờ chúng ta nói từ cái thô đến cái tế lần lần. Nó là cái tâm niệm tự khen mình một cách thầm kín khó thấy. Chúng ta nhớ cái tâm mà tự mãn, tự hào đó nó rất khó thấy, chứ nó không phải là dễ thấy. Nó không phải là những ý nghĩ mà nó có thành lời để chúng ta có thể nhìn vào ý thức mà đọc ra nó. Không có. Nó là một cái tự hào thầm kín không có thành lời, mà chỉ có những người đạt được cái chánh niệm tỉnh giác mới có thể thấy được. Nó giống như là hôm trước mà mình nói đó, tại sao mà cái Định sinh Tuệ? Nghĩa là khi mọi người ngồi hết mà có một người đứng
[9:47]lên á thì người đó sẽ bị mọi người nhìn thấy. Còn nếu ai cũng đứng lên hết thì cái một người đứng lên đó không có bị nhìn thấy rõ, bị chìm lẫn trong đó. Cũng vậy, khi mà tâm mình động á, mình không có được cái chánh niệm tỉnh giác thì cái tâm tự hào nó bí mật đó mình không thấy được. Khi nào mà mình được cái chánh niệm tỉnh giác thường xuyên, tâm mình thanh tịnh lặng lẽ thì cái tâm tự hào bí mật đó mình sẽ thấy được nó. Mà cũng phải là người có trí á, người thành thật á, nhìn soi lại mình mới thấy được nó, chứ nó không có dễ. Ở đây chúng ta phân tích thêm một chút về cái chánh niệm tỉnh giác nữa nè.
[10:29]Có người dụng công thiền định lâu ngày, cái tâm chợt được rỗng rang thanh tịnh tỉnh giác và người đó, nếu nói trong nhà thiền, là đạt được cái bước ngộ đầu tiên. Trong nhà thiền khen rằng người đó ngộ được chân tâm, thấy được ông chủ, có được sự tỉnh giác, nghĩa là tâm mình đang động nào giờ, mình nhiếp tâm trong một phương pháp nào đó, theo dõi một công án, nhiếp trong hơi thở hay theo dõi tư tưởng, đến lúc nào đó bất ngờ mình tâm bừng ra đạt được một cái cái rỗng rang thanh tịnh tỉnh giác, được gọi là ngộ đạo. Nhưng đây là chỗ nguy hiểm. Chỗ này nếu mà mình không được vị thầy giỏi để hướng dẫn tiếp á thì ngang đây bắt đầu đọa.
[11:12]Đọa là thế này. Nếu mình nhìn cái tâm tỉnh giác đó mình gọi nó là thấy tánh, mình quan sát nó, chiêm ngưỡng nó. Tôi dùng chữ chiêm ngưỡng, tôi nhắc lại, dùng chữ chiêm ngưỡng cái tâm thanh tịnh rỗng rang đó mà gọi rằng mình thấy tánh, thì bắt đầu trong tâm mình có mấy cái? Thành ra hai cái. Một là cái tâm nó chiêm ngưỡng, phải không? Hai là cái tâm rỗng rang được chiêm ngưỡng, được quan sát. Nghĩa là nói rằng à tôi sống với ông chủ thì rõ ràng có một cái tâm để sống và có một cái ông chủ làm một cái thứ hai để mình sống chung. Thành thử cái dùng cái từ ngữ nó bị hạn chế và dễ sinh tà kiến. Mình nói thấy tánh, nghe câu thì nghe rất hay,
[11:58]nhưng mà sự thật đã bắt đầu cái hai rồi đó. Có một cái tâm rỗng rang để cho một cái tâm khác nó nhìn cái tâm đó. Mà chính cái tâm mà tâm thấy đó, cái tâm mà nhìn đó, nó mới thật là cái ngã, nó là cái ngã bên trong. Mà còn cái tâm rỗng rang nó lại là gì? Là cái tâm bị thấy, nó trở thành một đối tượng như là một cái ngoại cảnh bên ngoài. Ở đây có sư nào đã được cái chánh niệm đó chưa? Nếu mà người nào được cái chánh niệm, tôi nói câu này là hiểu liền. Cho nên trong cái Kinh Lăng Nghiêm á, có cái câu này, không biết quý sư đã đọc qua chưa? "Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến do ly kiến, kiến bất năng cập." Câu này toàn kiến, kiến đen, kiến lửa nha.
[12:42]Nói lát mà mình, nghĩa là ngay cả người hiểu chữ Nho, đọc cái đoạn kinh này vẫn không hiểu. Nhưng mà nó là thế này. Kiến kiến chi thời là lúc mà mình thấy được cái thấy đó. Kiến kiến chi thời là lúc mà mình thấy được cái thấy. Nghĩa là khi mà gọi là mình ngộ đạo á, mình thấy được cái tâm rỗng rang tỉnh giác thì không ngờ cái tâm rỗng rang tỉnh giác á, nó lại là một cái ngoại cảnh nữa, trở thành một cái ngoại cảnh. Mà cái tâm mà để thấy cái tâm đó đó, chính là cái ngã. Người tu đến cái lúc mà thoát khỏi cái thấy đó, là lúc mà kiến kiến chi thời đó, mình khám phá được cái ngã tàng ẩn bên trong một lần nữa.
[13:24]Nghĩa là cái sức định nó vào sâu hơn, thấy được một lần nữa, thì mới thấy rằng cái thấy rỗng rang thực sự á, nó không phải là cái thấy có cái ngã. Kiến phi thị kiến, kiến này không phải là cái kiến kia, cái thấy này không phải là cái thấy kia. Cái kiến này nó vẫn rời khỏi cái thấy kia, cái thấy này vẫn rời khỏi cái thấy kia, mà cái thấy kia không thể nào bằng nó được. Cái câu này bây giờ dịch nha, dịch nghĩa ghi lại. Lúc mà mình thấy được cái thấy, hay là cái thấy mà nó có cái ngã trong đó, nó có cái trung tâm của bản ngã nó để thấy được cái tâm rỗng rang á. Cái câu đầu là lúc mà thấy được cái thấy,
[13:59]thì mới biết rằng cái thấy này không phải là cái thấy kia, cái thấy nó sâu hơn nữa. Còn cái thấy ban đầu mà gọi là thấy tánh đó, thật ra vẫn là một cái thấy rất cạn cợt, nó còn cái ngã rất nhiều. Cái câu thứ ba này, cái thấy này vẫn ngoài cái thấy kia, cái thấy này vẫn ngoài cái thấy kia, mà cái thấy kia không thể bằng được, vì cái thấy kia là cái thấy cạn cợt, cái thấy có mang theo cái ngã rất nhiều. Đây, bắt đầu mình trở lại bài kinh này. Là cái thấy này vẫn nằm ngoài cái thấy kia, rời khỏi cái thấy kia, hai cái nó không phải là một. Thấy đó, tâm mình nó rỗng rang thanh tịnh, cái thấy được cái tâm rỗng rang thanh tịnh á, mình tưởng nó là ngon rồi ha.
[14:45]Không ngờ trong bài Kinh Lăng Nghiêm nghĩa là cảnh cáo mình biết cái thấy đó vẫn là một cái ngã, vẫn là một cái thấy tầm thường. Mà đòi hỏi cái định mình phải sâu qua khỏi cái thấy đó, mình mới phát hiện. Thì như vậy mình trở lại bài kinh này mình thấy nè. Kiến là cái thấy kia không thể bằng được. Cái thấy đầu tiên, cái mà mình gọi là thấy tánh, thấy được tâm, thấy được ông chủ đó, cái thấy đó còn dở, còn cạn cợt, còn đầy cái bản ngã trong đó. Cho nên chúng ta trở lại bài kinh này, chúng ta sẽ thấy khi một người đạt được cái sức ngộ đó thì ở đây nếu không gặp được bậc chân sư, thiện tri thức để mà cảnh giác á,
[15:22]thì người đó cứ ngày đêm mà dùng cái thấy, cái thấy mà có cái ngã nè, để chiêm ngưỡng cái tâm rỗng rang đó, cho mình sao? Thường xuyên cho rằng mình là người ngộ đạo, thường xuyên cho mình là người thấy được Phật tánh, được sống với ông chủ. Chính cái bên trong á mà tự cho mình đó, cái lần lần cái ngã nó thành, hình thành dần dần, hình thành dần dần. Cho nên người đó lúc chưa ngộ đạo á thì rất là hiền lành, dễ thương, khiêm tốn. Nhưng ngộ đạo một thời gian rồi bỗng nhiên cái tự cao khởi lên, chữa không được, rơi vào đường tà. Ở đây không biết quý sư, quý cô đây có thường gặp những người đó không?
[16:00]Tại ở khu này cũng có nhiều người tu theo cái lối thiền đó, Tổ sư thiền. Mà thường họ hơn thua nhau trong cái kiến giải về thiền ngữ á, tức là gặp nhau đối đáp qua lại, mà ai mà nói cho hay á, nói cho lấn người kia thì được gọi là người giỏi. Không ngờ, phải không? Không ngờ đó là gì? Tâm hơn thua. Cho nên khi một người mà đến hỏi mình một câu thiền ngữ thì mình sao? Có nên đáp lại bằng một câu rất là kỳ đặc không? Có nên? Nếu mình đáp một câu kỳ đặc, rõ ràng bên trong mình còn cái gì? Còn một sự khoe khoang, bày tỏ và hơn thua nữa. Và chính cái tâm đó đó, nó là cái bản ngã, là phiền não nó khởi lên, phá tan cái công đức của mình.
[16:48]Đây, trở lại cái chỗ mà cái tâm tỉnh giác hồi nãy, mấy sư nghe chắc cũng chưa thông cảm lắm. Nhắc lại một lần nữa. Ví dụ khi tâm chúng ta được tỉnh giác rỗng rang thanh tịnh, có thể là không thường xuyên, có thể là thường xuyên, thì lúc đó chúng ta vẫn còn một cái tâm, cái tâm mà cái ngã đó, nó chiêm ngưỡng cái rỗng rang đó, mà chính cái tâm mà nó chiêm ngưỡng cái tâm rỗng rang, nó sẽ từ từ nó phát sinh cái niệm tự hào bí mật. Tôi nhắc lại là cái niệm tự hào này nó rất thầm kín bí mật, mình không thấy. Cho nên nó khởi lên nó gây cho mình một cái tự cao mà mình không thấy. Nó chỉ biểu lộ ra người ngoài người ta nhìn thấy thôi.
[17:28]Lần lần mình có những cái cư xử để cảm thấy mình hơn người khác. Những lời nói, những cử chỉ lần lần nó lộ ra lộ ra, mà mình vẫn không biết rằng mình đang đi đường sai. Cho nên chỗ này chúng ta nghe cái đoạn đối đáp giữa Thiền sư Văn Chuẩn với Thiền sư Đại Huệ để thấy các thiền sư cảnh giác như thế này. Ngài Đại Huệ là một thiền sư lừng lẫy, nhưng mà trước đó đó, trước khi gặp ngài Viên Ngộ để được ngộ đạo, thì ngài Đại Huệ ở với ngài Văn Chuẩn, theo học ngài Văn Chuẩn. Mà ngài Đại Huệ ông giỏi quá đi, ổng cũng ngộ đạo rồi chứ không phải không, nhưng mà chưa viên mãn thôi. Nên ngài Văn Chuẩn hỏi đâu,
[18:02]ổng đáp đó, hỏi đâu, ổng đáp đó, không làm gì được ổng hết. Ổng lanh quá, ổng quá thông minh đi. Hôm đó ổng đang ngồi xem kinh, cái ngài Văn Chuẩn mới hỏi: "Ngươi xem kinh gì?" Nói: "Dạ, con xem Kinh Kim Cang." Cái ngài Văn Chuẩn mới hỏi: "Trong kinh nói là các pháp bình đẳng, không có cao thấp, thế tại sao núi Vân Cư cao mà núi Bảo Phong thấp?" Cái ngài coi như là ngài Văn Chuẩn ổng lừa, ổng nói câu kinh rồi ổng lấy cảnh ra ổng lừa. Nếu mà ngài Đại Huệ chạy theo cảnh tức là người đã mất, mất cái tỉnh giác, không giữ được cái tâm mình mà bị chạy ra bên ngoài. Nhưng mà ngài Đại Huệ ổng quá giỏi,
[18:40]ổng không thèm chạy theo cái câu trả lời theo cảnh bên ngoài, ổng trả lời: "Các pháp bình đẳng không cao thấp." Ổng khẳng định điều đó, ổng không cần biết cái núi hay sông kệ ổng. Đó là cái sức ngộ người vững rồi chứ không phải là dở đâu. Nhưng mà không ngờ ngài Văn Chuẩn ngài chê, ngài nói: "Trả lời như ông là chỉ đáng làm thị giả cho mấy ông giảng sư thôi." Tức là mấy ông giảng sư thì cũng lanh lanh cũng có kiến giải đi giảng bậy bạ như tôi chút đỉnh. Thì ông không được làm giảng sư mà làm thị giả cho mấy ông đó thôi, chưa có đáng gì hết. Cái ngài Đại Huệ lúc đó mới bí đó, mới hỏi: "Thế Hòa thượng như thế nào?" Ngài Văn Chuẩn mới trả lời là:
[19:16]"Hãy buông lỗ mũi ông để thở. Hãy buông lỗ mũi ông để thở." Ai hiểu câu này?
[19:25]Ai hiểu câu này là giỏi hơn ngài Đại Huệ đó nghe. Giảng cho các sư các cô vì là người tu nên tôi giảng hơi kỹ, hơi khó, chịu khó nghe. "Hãy buông lỗ mũi ông để thở." Có nghĩa là gì? Thấy ai cũng nhập định hết là thôi để tôi trả lời luôn.
[19:46]Trong nhà thiền, cái lỗ mũi là tượng trưng cho cái tâm mà ngộ đạo của mình, cái ông chủ, cái tâm mà rỗng rang tỉnh giác. Thì cái sức ngộ của ngài Đại Huệ đó là ngài ngộ được cái tâm đó và ngài giữ rất kỹ. Thì cái đó đâu có sai phải không? Ngộ được cái tâm rỗng rang đó và giữ nó thường xuyên không cho mất thì người như vậy là người tu hành chín chắn. Nhưng mà chính vì mình giữ nó kỹ quá, thành ra có chấp. Nghĩa là có một cái tâm để giữ một cái tâm đó thành ra hai cái. Nên ở chỗ này ngài Văn Chuẩn kêu là: "Buông cái tâm mà giữ ra đi, để chỉ còn một cái thôi." Cái tâm giữ phải buông ra. Mà muốn buông cái tâm đó là gì?
[20:27]Thì đừng có chấp cái tâm mà mình ngộ được. Cả cái tâm mà mình đang ngộ được đó, cũng phải thấy nó là gì? Không có thật. Thấy nó chưa phải là cứu cánh. Cho nên khi mà thấy cái tâm mà mình ngộ được á mà nó không có thật á, tự nhiên cái tâm mà chấp nó cũng mất luôn. Lúc đó là mình mới thấy rằng cái niệm mình vẫn còn chứ chưa hết. Nào giờ khi ngộ được tâm thanh tịnh á, mình cứ tưởng là mình không còn niệm gì hết. Nhưng mà khi cái câu nói của ngài Văn Chuẩn rồi mình mới thấy, bí mật bên trong mình vẫn còn những cái niệm chứ chưa hết. Và cái niệm đó nằm đâu? Hồi nãy giờ là mình nói trên triết lý, tâm lý.
[21:07]Bây giờ mình nói qua sinh lý học. Ví dụ như là cái bộ não con người, thì cái vùng não của mình đó nó choán ở đây. Ở đây nó có cái vùng tiểu não, đây là thần kinh xương sống, cái chùm bó thần kinh xương sống đi xuống. Cái phần ngoài này đó là vỏ não. Ở trong này là cái vùng có những cái trung khu thần kinh. Mỗi cái trung khu thần kinh vậy nó phụ trách một cái vùng, một cái chức năng. Có cái vùng nó phụ trách về thị giác, cái vùng về thính giác, có vùng về phân tích, lý luận về ngôn ngữ vân vân. Nhưng mà ở đây nó có một cái, có cái vùng, cái vùng gần ở giữa cái vùng vỏ não giữa cái vùng vỏ não và cái vùng dưới đồi.
[21:47]Cái vùng dưới đồi này là vùng bản năng của mình, bao nhiêu khuynh hướng ham ăn, ham ngủ, ham sống này gì nó nằm ở cái vùng dưới đồi này, nó thúc đẩy rất mạnh. Thì cái giao tiếp giữa cái vùng dưới đồi này với cái vùng vỏ não này nó có một cái vùng. Cái vùng này là vùng mà manh nha vọng tưởng khởi, cái chỗ này. Vọng tưởng mới manh nha từ đây nó lan, nó động cái nó lan ra khắp vỏ não, nó mới chạy ra thùy trán. Nên tư tưởng mà chạy ra tới trước trán là tư tưởng thô rồi. Nó hiện ra đầy hết cái hình ảnh ở trong tâm mình. Rồi nó che mờ mịt cái tánh giác của mình, nó che mờ mịt cái sức tỉnh giác của mình.
[22:24]Còn người tu đó, mà vọng tưởng nó không chạy ra tới phía trước trán á, thì người đó luôn luôn được tâm rỗng rang. Trong tâm không có hình ảnh che tâm mình. Ví dụ như chúng ta đi xe, mình đạp xe đạp mình đi cọc cạch cọc cạch, nhưng mắt mình nhiều khi không thấy con đường, mà mình thấy cái gì? Thấy cái hình ảnh nó hiện ra trong chỗ này. Cho nên mình không có tỉnh giác, gọi là có vọng tưởng che tâm. Còn cái người mà vọng tưởng nó không lan ra tới phía trước cái thùy trán này đó, thì tâm họ rỗng rang, không có. Nhưng cái niệm sau này chưa hết, cái niệm manh nha sau này chưa hết. Cho nên người mà được cái tâm tỉnh giác đó
[23:06]mà gọi là thấy tánh hay là giữ cái tâm đó đó, thì nó sẽ hai phần. Là cái niệm giữ nó nằm đây nè. Cái niệm mà giữ, cái ngã nằm đây mà cái niệm giữ tâm nó manh nha từ đây nè, để nó nhìn cái tâm rỗng rang phía trước này nè. Nên các thiền sư hay nói đó, nên là "rỗng rang trước mắt ông là đạo" đó. Tức là cái rỗng rang trước mắt mình thấy tất cả cảnh vật rỗng rang hiện tiền, mà không có cái hình ảnh trong tâm mình che mọi cái. Nhưng mà còn một cái niệm bí mật ở đây, để nó gì? Nó chấp cái tâm mình ngộ được, nó chấp cái tâm định của mình đó, là cái niệm từ đây. Thì người tu mình đó mà gọi là như ngài Văn Chuẩn
[23:44]cảnh cáo là "buông lỗ mũi để thở" đó. Hoặc là mình nói như Phật là mình cẩn thận mà buông bỏ cái tự mãn hay tự hào, là quan sát được cái điểm này, quan sát được điểm ở trong não này. Cho nên người tu thiền á mà nếu để tâm ra phía sau này để kiểm soát vọng tưởng, thì người này có đức hạnh. Tại vì những cái niệm bí mật được phát hiện liền. Một cái niệm tham vừa khởi lên mình thấy liền. Một cái sân vừa khởi lên là thấy liền. Một cái niệm hơn thua, ganh ghét nó vừa nhóm chút chút đây là mình thấy liền, nếu mà người lui tâm phía sau này để kiểm soát vọng tưởng. Còn có một số các nơi dạy thiền á, dạy để tâm ở đây nè, ở ấn đường. Có không?
[24:30]Các sư nghe nhiều phải không? Dặn là để tâm ở đây nè. Để tâm đây thì nó có cái lợi là, là có trực giác rất sớm. Người mà để tâm đây mà tâm thanh tịnh á, mình dễ thấy hào quang. Mà lần lần mình có trực giác mạnh, mình nhìn người ta mình biết được tâm tánh người ta, biết được nhiều khi chuyện tương lai, quá khứ người ta nữa. Nhưng mà làm sao? Cái ngã nó rất lớn. Cái ngã rất lớn là bởi vì nó động ở đây nó không kiểm soát được, nó lan ra tới phía trước này. Cho nên thường là những người mà tôi hướng dẫn về thiền định, tôi luôn luôn khuyên họ là không bao giờ được để tâm phía trước trán này, mà phải lui tâm ra phía sau để kiểm soát.
[25:09]Thấy được cái tâm này thì mình có đức hạnh. Nên các sư để ý lại, tập lại điểm này sẽ thấy là tự nhiên cái ngã mình nhẹ, cái hạnh mình có hơn trước. Đó là mình nói trên cái tỉnh giác thiền định, mà cái niệm bí mật phát sinh ra cái tự mãn, tự hào. Có nhiều cái để làm chúng ta tự mãn, tự hào trong đời sống tu hành của mình. Ví dụ như là quý sư sau này ví dụ như bây giờ thì mình là học tăng, lần lần các sư lớn lên vững chãi đi khắp nơi để hoằng hóa, dựng chùa, tập chúng lại tu học. Thì lúc đó cũng là lúc mà cái ngã mình nó dễ dễ nổi lên lắm. Cho nên tại sao một người mới vô chùa tu thì cái ngã rất nhẹ, mà nửa lớn lên bắt đầu làm Đại
[25:58]đức, Thượng tọa, Hòa thượng rồi không ai chịu nổi hết trơn. Tại sao? Chính vì cái này nè, cái lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng nó lớn lên theo thời gian mà mình đạt được. Khi cái chùa mình to, chúng mình đông, mình học được nhiều, mình có một cái bằng cấp nào đó. Ví dụ như bây giờ mình có chiếc xe Cup chạy như tôi chẳng hạn, cũng là những điều mà có thể làm mình tự mãn, tự hào. Hoặc là mình có một địa vị trong Giáo hội. Ví dụ như lỡ lớn lên cái sư sư Minh Vinh hay Minh Hải lỡ xui được người ta bầu làm Trưởng ban Trị sự chẳng hạn, cái lúc đó nếu mà mình không kiểm soát, đó cũng là một điểm để mình tự hào.
[26:41]Rồi như là Đức Phật nói đó, cái giới đức cũng là một điểm để làm mình tự hào nếu mình không khéo. Giới từ cái định mà ra đó thì người đó rất là khiêm hạ. Nhưng mà giới do mình học, do mình tập luyện mà thành, thì rất dễ có bản ngã lẫn ở trong. Ví dụ như một người, một vị sư giữ được oai nghi tề chỉnh, đi đứng nghiêm trang, nói năng cẩn trọng, và ví dụ tụng kinh trước mặt mọi người luôn luôn là ngồi thẳng lưng, mắt nhìn một chỗ không nhìn láo liên. Những điểm đó nếu xuất phát từ cái tâm định á thì nó là chuyện tự nhiên. Nhưng mà do tập luyện thì có bản ngã ở trong. Như tôi thấy bản thân tôi cũng vậy,
[27:24]hồi xưa có một thời gian lúc đang còn làm điệu vậy á, cũng rèn luyện cái cái oai nghi tế hạnh. Mà chính những lúc rèn luyện đó, bây giờ nhìn lại mới thấy cái lúc đó là lúc bản ngã đầy trời. Thấy mình nghiêm chỉnh ha, thấy mình ngồi nghiêm để ông kia không bằng mình ha, ông kia ngồi lộn xộn cong lên cong xuống mình ngồi ngay chỉnh. Chính những cái đó, những cái mà cái gọi là hay, lập tức biến thành dở nếu mình có cái hơn thua trong đó. Rồi cái thứ hai mà Phật nói là cái thiền định. Thiền định, hồi nãy thì mình nói cái trạng thái tỉnh giác, bây giờ mình nói qua cái này nó cũng liên quan tới thiền định.
[28:00]Mình đang ngồi thiền, đang nhiếp tâm, đang tu hành dụng công như vậy, bỗng nhiên tâm nó vượt tiến lên một trình độ mới. Lúc đó bỗng nhiên tâm mình giống như là nó có một mức tiến, một mức tiến rỗng rang hẳn ra, nó sáng lên, thanh tịnh hơn, thì ngay lúc đó nó có một cái niệm xuất phát liền. Niệm gì? Niệm này bí mật lắm, tại mình đang định mà. Nó không có là cái niệm thô đâu. Niệm này nó bí mật lắm. Nhưng mà nó xuất hiện liền kèm với cái trạng thái mà mình mới đạt được. Niệm gì? Một cái mừng, một cái khen mình, một cái tự hào. Nó bí mật lắm. Mà chỗ này là chỗ mà mình bị lui lại. Nên có người đến than:
[28:47]"Nói sao con ngồi thiền vừa được định ít bữa lui lại, được định ít bữa lui lại?" Chính vì cái tâm này, cái tâm tự hào bí mật luôn luôn nó theo nó kéo mình lại, mình vừa đi tới cái nắm đuôi kéo mình lại. Cho nên chỗ này là chỗ cái trí tuệ của người tu. Khi mà tâm mình vừa đạt được một cảnh giới mới, miết được vào sâu trong định, thì mình thấy cái niệm nó vừa nhốm lên là biết liền, buông nó đi. Nó chỉ còn lại cái tâm định thôi. Và cái tâm tự hào bị mình triệt trừ, nên mình không có tự cao, không khoe khoang, vẫn tiếp tục kín đáo để mà tu nữa, thì người đó không bị lui. Cho nên chúng ta thấy tại sao mà những người tu hành nơi vắng vẻ
[29:29]đó dễ thành tựu hơn cái người tu hành chỗ đông người là vậy đó. Tại người ở chỗ nơi vắng vẻ họ ít có cái tâm so sánh hơn thua với người khác. Nên họ ít bị, nó cũng có, cũng có trường hợp bị chứ không phải không, nhưng đa phần thì ít có bị tâm hơn thua. Còn mình tu chỗ đông người đó, mình dễ có cái tâm hơn thua lắm. Hôm nay mình ngồi thiền cái mình được mức độ sâu hơn, cái mình so sánh với huynh đệ mình liền. Mình nói vậy: "À mình hơn người ta rồi, mình tiến được một mức." Chính cái tâm đó phá tan công đức cái ngày mai mình lui lại, động lại. Tôi cũng từng gặp bản thân mình cũng bị, mà tôi cũng từng gặp những người như vậy,
[30:06]nghĩa là vừa đạt được một trình độ, khoe ra thấy mình hơn, mấy bữa sau cái bị rối loạn tâm thần liền. Tự nhiên nóng nảy, tự nhiên là sung vô cớ. Cái điều đó rất là rõ. Đó là cái nhiếp tâm, trạng thái mới xuất hiện là mình tự hào. Rồi, nãy Phật nói là cái tri kiến. Cái tri kiến là cái hiểu biết. Trước kia đó, mình đọc kinh mình ít hiểu, nhưng khi mình tu thiền một thời gian tâm được định rồi, mình lật lại những câu kinh Phật, đọc tới đâu hiểu tới đó, đọc tới đâu hiểu tới đó. Mà bí mật nhất là những cái thiền ngữ các thiền sư đó, mà mình đọc lại mình cũng hiểu luôn nữa. Chẳng những vậy, bây giờ bất ngờ gặp một người hỏi
[30:50]mình một câu thiền ngữ, mình đáp liền được. Đáp một cách tự nhiên liền mà rất nhanh, thì đó Phật gọi là xuất hiện tri kiến sau cái thiền định. Mình cũng sẽ đạt được tới cái đó. Nhưng rồi cái đó là gì? Vẫn là cái hơn thua. Hồi tôi ở trong chúng, tôi mới nói các huynh đệ: "Ông nào mà chưa ngộ tôi chơi nha, ông nào ngộ đạo tôi nghỉ chơi, không chơi nữa." Này kỳ lạ, hễ người mà có một chút ngộ, bắt đầu có kiến giải, có thể đối đáp thiền ngữ thì cái ngã lên tới mây, chơi hết được, hết làm bạn được rồi, kỳ cục. Nên thôi tôi dốt dốt, mấy ông nào chưa ngộ tôi chơi, mà ngộ đạo không chơi nữa. Mà thật ra cái trạng thái ngộ đó chưa là cái gì trong đạo Phật cả.
[31:32]Nhưng mà nó đủ làm mình có kiến giải, hiểu được thiền ngữ, có thể nói được thiền ngữ. Đó là cái nguy hiểm của nó. Phải nói đó là cái dụ dỗ của ma vương. Giải thoát thì chưa được, mà cái kiến giải nó đi trước. Mà cái kiến giải đi trước làm mình ngã mạn, làm mình hơn thua. Ở gần đây cũng vậy, cũng có một số người tu thiền cũng chủ trương là lấy đối đáp làm sự nghiệp. Gặp nhau là cứ hỏi, đợi người ta đáp, hỏi qua hỏi lại. Mà ai nói cho người khác bí thì người đó là giỏi. Có không? Quý sư có gặp trường hợp đó không? Gần đây cũng có những cái phái thiền như vậy. Cho nên tôi thích cái lối đối đáp của Thiền sư Chân Tịnh Khắc Văn.
[32:14]Ngài thuở nhỏ là một người khốn khổ, ở với mẹ ghẻ mà không được thương, lớn lên ngài xuất gia đi tu mà là người rất chí thành. Ngài ở trong hội của ngài Hoàng Long mà không ngộ đạo. Sau đó ngài từ giã sang với Thiền sư Trí. Qua Thiền sư Trí thì ngài được ngộ đạo, ngài trở về ngài thăm Hoàng Long. Trở về thăm ngài Hoàng Long thì ngài Hoàng Long mới bắt đầu hỏi thiền ngữ, hỏi là: "Ông từ đâu tới? Rồi ở đó chỗ nào?", phải không? Gặp mà người khác là bắt đầu nói tới mây xanh. Ngài không trả lời một cách kiểu đó, ngài trả lời bình thường: "Dạ, con từ Thiền sư Trí về đây." - "Ngài rời lúc nào?" - "Dạ,
[32:52]con rời ngày đó tháng đó." Trả lời tầm thường quá cái ngài Hoàng Long chê: "Trời, chưa có được gì hết." Cái ngài nói: "Dạ, con chưa được gì hết." Nhưng mà ngay đó ngài Hoàng Long chấp nhận liền. Tức là người không còn muốn chứng tỏ rằng mình hiểu đạo nữa, muốn trở thành một người bình thường, ngay đó ngài Hoàng Long chấp nhận. Nên sau này, cái từ cái con người đó đó, cái con người mà có một đức hạnh, hiểu được thiền mà không còn muốn khoe khoang gì nữa đó, ngài sống như thế nào, ngài dạy chúng như thế nào mình không biết, mà chỉ biết rằng sau khi ngài tịch, thì Thiền sư Pháp Diễn là một người ở tông khác nha, ngài Khắc Văn Chân Tịnh là ở tông của ngài Hoàng Long,
[33:30]ở phái ngài Hoàng Long, còn ngài Pháp Diễn là ở cái tông của ngài Dương Kỳ. Hai tông khác nhau, vậy mà khi nghe ngài Khắc Văn Chân Tịnh tịch, ngài Pháp Diễn khóc ròng, khóc nức nở vậy đó, khóc ròng. Cái đệ tử ngài Pháp Diễn mới nói: "Sống chết là lẽ thường, tại sao mà... mà Hòa thượng phải bi lụy khi nghe cái chết của Chân Tịnh?" Thì ngài Pháp Diễn mới nói rằng: "Cả một cái mối đạo ở Giang Tây của Hoàng Long chỉ có trang Chân Tịnh, bây giờ Chân Tịnh tịch rồi, ta e rằng cái đạo ở Giang Tây từ đây sẽ bị lu mờ lại." Đó, cái con người mà không thèm hơn thua đối đáp thiền ngữ, ai nói sao cũng được, ai chê chấp nhận,
[34:13]là cái người mà khi chết làm cho một thiền sư khác phải khóc. Vậy mình đủ hiểu rằng cái nhân cách của ngài nó vĩ đại đến cỡ nào, phải không? Đó, còn bình thường tất cả các thiền sư khác vậy, ai hỏi là đáp, ai hỏi là đáp rớp rớp rớp rớp để chứng tỏ cái kiến giải của mình. Chỉ có ngài Chân Tịnh không thèm trả lời câu nào, nói sao trả lời bình thường. Đó, không ngờ lại là người thành tựu xuất sắc. Cái khen mình luôn luôn đi chung với cái chê người. Mà chê người là nguyên nhân của mọi sự đổ vỡ công đức. Tôi có gặp mấy vị thầy, cái vị thầy này có cái bệnh là hay chê các nơi.
[34:53]Thì tôi ái ngại lắm. Tôi ái ngại tôi thấy mà mấy vị này cứ ngồi nói chuyện nhau là hết chê Hòa thượng này tới chê Thượng tọa kia. Rồi không chê Thượng tọa, Hòa thượng thì chê mấy người gần gần quanh mình. Cái tôi lấy làm ái ngại, có một lần tôi khuyên, tôi nói: "Thôi, mình tu hành lo xét mình, đừng để ý chê người khác." Thì ông thầy đó quay lại ông nạt tôi luôn. Thôi mình không có duyên thôi im lặng không nói. Nhưng mà tôi thấy trước cái quả báo là vị này sau này sẽ rất đau khổ. Tại vì cái nhân mà chê người là không bao giờ mà khá được và sẽ đổ vỡ hết tất cả những công đức. Mà bắt đầu thật, chuyện nó từ từ xảy ra.
[35:30]Mấy năm sau rồi những vị đó rối loạn tâm thần, rối loạn nhân cách, rối loạn về giới luật, đến nỗi có vị tự tử chết luôn. Rồi khi mà cái vị mà chê người ta mạnh nhất á thì người đó là tự tử chết trước, còn những người mà sau đó đó ít hơn thì bắt đầu rối loạn tâm thần, rối loạn nhân cách, không có gì được hết. Rồi thấy em... có mấy người đến kể lại tôi nghe câu chuyện, tôi nói rằng: "Mấy vị đó đáng thương thôi." Đáng thương ở chỗ là ngày xưa không biết, gieo cái nhân chê bai người ta nhiều quá. Bây giờ nếu mà ông thầy đó mà ổng biết nghe lời mình đó, ổng cứ sám hối cái lỗi mà chê người thì ổng sẽ hết được cái
[36:11]bệnh mà đang xảy ra, cái rối loạn nhân cách đang xảy ra. Nhưng tôi nói là nói cho biết chứ lời nói của tôi không tới tai vị đó. Tại vì sao? Tại vì cái người mắc bệnh chê người là cái người tự cao, mà người tự cao thì ít có nghe lời ai hết. Chúng ta nhớ trong kinh Pháp Hoa, ở đây mình có đọc kinh Pháp Hoa? Có không? Chắc cũng có xem qua chứ hả? Trong kinh nó có cái đoạn mà nói rằng: khi mà Phật nói bài kinh Pháp Hoa thì 500 vị tỳ kheo tăng thượng mạn bỏ đi rồi Phật mới bắt đầu thuyết kinh Pháp Hoa. Cái ý nghĩa đó là gì? Ý nghĩa đó là như thế này: là người bệnh nào đó Phật cũng độ được, trừ người tự cao.
[36:56]Nghĩa là người đó tham, Phật cũng có thể độ được; sân, Phật cũng độ được; có khi ác độc quá Phật cũng độ được; mà có khi ham ái dục quá Phật cũng có thể sửa được; nhưng mà riêng người tự cao, thấy mình là hay rồi, Phật chịu thua. Đó là vậy. Nên cái bệnh tự cao là bệnh nguy hiểm, nó luôn luôn cản đường đi tới giải thoát. Mà người khen mình chê người là người không thể độ được nữa. Nên mình thấy cái bệnh họ nằm chỗ đó, có thể giúp họ hóa giải cái nguyên nhân nhưng họ có lẽ cũng sẽ không nghe mình. Và cái người mà không còn cái nhân để tiến lên nữa thì cái phước làm người xuất gia đời này hết rồi,
[37:36]qua đời sau chắc chắn làm cư sĩ rồi cứ đọa lần, đọa lần. Do cái gì? Do cái nhân tự cao, thấy mình là hay đó. Nên cái nhân đó rất nguy hiểm. Mình tu đó, ví dụ như kiếp này mình không có đạt được cái gì thì cái phước mình còn, qua kiếp sau mình tiến lên chút nữa, kiếp sau mình tiến lên chút nữa. Thì mình đi chậm, ví dụ người ta giỏi người ta đi năm kiếp, mình đi chậm mình đi hai chục kiếp cũng được, nhưng rồi cũng phải tới lúc giải thoát. Nhưng mà người đã bệnh tự cao rồi đó thì muôn đời không đến được nữa, mà cứ phước cứ lui dần, lui dần, lui dần lại. Đó là cái nguy hiểm. Với có thể mình suy luận theo sinh lý học là
[38:17]mỗi cái nguyên nhân nó đều có kết quả, mình nói theo khoa học. Một cái nguyên nhân, ví dụ như là mỗi loại tư tưởng nó phát sinh ra một cái tâm lý, một cái hệ quả của nó. Ví dụ như người mà thường khởi ra những cái tư tưởng mà thương yêu mọi người đó thì tự nhiên lần lần nó phát sinh ra một cái nghĩa là cái tâm từ bi nè, nhân là cái tư tưởng từ bi, thì lần lần nó phát sinh ra người đó cái tư tưởng trí tuệ. Tự nhiên nó làm thành cái trí, lạ như vậy. Hoặc là những cái tư tưởng khác như là tư tưởng khiêm hạ nó cũng làm phát sinh ra tư tưởng về trí tuệ nữa. Còn ví dụ như là mình cái tư tưởng mà hay thán phục người khác,
[39:03]ví dụ như mình thấy những vĩ nhân, mình đọc sách mình thấy mình có cái lòng thán phục, hoặc là trong đời sống hiện tại mình thấy có tư tưởng thán phục mọi người chung quanh mình, ví dụ như các huynh đệ sống với mình như vậy thì ai cũng có cái ưu điểm, có cái khuyết điểm, nhưng mình luôn luôn để ý cái ưu điểm người khác để mình thán phục ở trong lòng. Thì cái tư tưởng mà thán phục đó nó phát sinh ra cái tư tưởng gì? Nó phát sinh ra tính chất gì? Phát sinh ra tài năng, tự nhiên mình trở thành người có tài. Là cái hệ quả của tư tưởng. Là một cái nơ-ron thần kinh mà nó rung động theo một cái tư tưởng nào nó sẽ phát
[39:38]sinh ra một cái hệ quả, một cái tư tưởng loại khác phát sinh kế tiếp theo. Đó là cái hệ quả theo khoa học. Bây giờ cũng vậy, một cái tư tưởng mà chê người, tư tưởng tự cao nó phát sinh đó thì tự nhiên nó làm cho những cái đường dây nơ-ron thần kinh của mình nó bị bế tắc. Bế tắc làm mình khó nhiếp tâm, hay căng thẳng và gọi là triền cái che tâm. Triền cái nó che trong tâm, làm tâm mình không được rộng rang, thanh tịnh. Gọi là các triền cái nó che tâm. Người ngộ đạo là gì? Là cái lớp mây triền cái nó tan ra, làm cho cả bầu trời của tâm mình nó quang đãng, trong suốt, gọi là ngộ đạo. Còn người không ngộ, nghĩa là người bị lui đó,
[40:24]có khi ngộ rồi vẫn bị lui, là cái mây triền cái nó che lại. Tức là những cái nơ-ron thần kinh đó, những tế bào não á, tự nhiên nó bị tê liệt, nó bị căng thẳng. Do cái hệ quả nếu có tự hào thì ngay kiếp này sẽ bị thối lui tu hành. Đó là trường hợp thứ nhất. Người chưa đưa cái trình độ bất thối mà nếu trong mình có tự hào thì ngay kiếp này sẽ bị thối lui công phu liền, trở lại người tầm thường. Mặc dù trước đó mình có một trình độ định hay trình độ ngộ lung linh, rất là đặc biệt, không phải là người tầm thường, nhưng vẫn bị lui lại do có tâm tự hào, khen mình chê người. Trường hợp thứ hai: Có rất nhiều thiền sư trong lịch sử mà chúng ta thấy các ngài nổi danh,
[41:17]được ghi vào trong sử sách, trình độ định, trình độ ngộ rất là vững vàng...
[41:24]Nhưng do cái kiến giải lầm tưởng mình tới đó là viên mãn bằng Phật rồi. Tưởng mình viên mãn bằng Phật, mang cái tư tưởng đó suốt một kiếp như vậy, cứ nói là đây là lối thiền siêu Phật vượt Tổ thì khi sinh qua lại kiếp sau trở thành một người tầm thường. Cái sức ngộ không bằng kiếp trước nữa. Ví dụ như trường hợp ông Tô Đông Pha. Ông Tô Đông Pha là một người giỏi, thi đậu làm quan, cũng nghiên cứu đạo Phật, có tu thiền. Có một lần ông đến một cái chỗ đó, đến nơi tự nhiên thấy một nhà sư với một cư sĩ đến đón ông. Ông hỏi: "Tại sao hai vị biết tôi đến mà đón?" Thì hai vị đều nói lên giấc mơ giống nhau là:
[42:10]"Đêm qua nằm mơ tôi thấy Thiền sư Ngũ Tổ Sư Giới đến đây, nên chúng tôi ra đón, không ngờ ông tới." Tô Đông Pha giật mình. Ổng mới xét lại ổng thấy là năm đó ổng 49 tuổi, mà Thiền sư Ngũ Tổ Sư Giới chết cách đó 50 năm. Tức là hết một năm nằm trong bào thai mẹ, cộng thêm một năm trong bào thai mẹ nữa là đủ 50 năm. Như vậy ổng là Ngũ Tổ Sư Giới đầu thai trở lại. Mà kiếp mà là Ngũ Tổ Sư Giới á, ổng là một thiền sư lừng danh, thiền ngữ cơ phong đối đáp không ai làm lại hết. Nghĩa là những thiền sư mà tới gặp ổng là lui ra, không chịu nổi cái cơ phong của ổng. Cái sức ngộ mà cái sức tri kiến vững vàng
[42:49]mà qua kiếp sau làm ông Tô Đông Pha là một người có bảy bà vợ, lận đận trong quan trường, bị đày lên đày xuống, là một người tài hoa đa tình, lãng mạn, có ngộ đạo, có tu thiền trở lại, nhưng trình độ ngộ của cái kiếp mà làm ông Tô Đông Pha thì thua xa cái kiếp làm Ngũ Tổ Sư Giới. Đó là cái trường hợp mà cái sức ngộ được bất thối đó, nhưng mà nếu tự hào, tự cho mình bằng Phật mà thực sự mình chưa bằng Phật, thì kiếp sau sẽ bị lui lại. Bây giờ tôi hỏi nè: Như mọi người thường hay nói "tâm này là Phật", đúng hay sai?
[43:32]Sư Minh Thi? Đúng? Nói cho cùng mới đúng. Không rõ ý lắm.
[43:44]Như vậy cái Phật trong tâm mình lệ thuộc vào ý nghĩ sao? Có thể thay đổi sao?
[43:52]Nếu mà tâm là Phật thì luôn luôn thuần thiện, không bao giờ có cái ác chen vào. Mà nếu có lúc ác lúc thiện thì sao? Vậy Phật này cũng khi có khi không hả? Vậy không phải là Phật thiệt rồi. Phật thiệt thì phải luôn luôn có.
[44:13]Lúc chưa tu thì là ai?
[44:17]Tu rồi thì mới là Phật hả? Vậy Phật này phải đợi tu sao?
[44:27]Vậy Phật này là Phật có khi. Phật này gọi là Phật có khi hả? Bây giờ tôi trả lời: Câu trả lời này là câu trả lời đụng chạm, nhưng mà tôi phải mạnh dạn nói. Tôi khẳng định rằng tâm này dù định hay động, dù thiện hay ác, cũng không phải là Phật. Điều này tôi khẳng định. Tâm này chỉ là cái cửa đi vào Phật tánh thôi, đi vào Niết bàn, chứ tâm này không phải là Phật, không phải là Phật tánh, không phải là Niết bàn. Niết bàn á chỉ là một thôi. Dù vô lượng Phật vẫn chỉ có một Niết bàn, chứ không phải mỗi Phật một Niết bàn. Bởi vì sao? Niết bàn là của chung của vạn hữu vũ trụ. Niết bàn là bản thể chung của toàn thể vạn hữu vũ trụ và chỉ có một.
[45:21]Còn cái tâm á là riêng của mỗi người. Tâm này khi thiện khi ác, khi định khi động, và tâm này là cái cửa đi vào Niết bàn. Mình đi vào Niết bàn không thể đi bằng máy bay phản lực, không thể đi bằng xe hơi, xe lửa, tàu thủy, nghĩa là không thể đi bằng phi thuyền mà phải đi bằng con đường tâm. Tâm là cái cửa, nhưng tâm không phải là Phật. Đó là điều tôi khẳng định. Bởi vì sao? Bởi vì tâm mình như hôm trước tôi nói là có hai lớp: ý thức và vô thức. Cái phần vô thức nó rất là vĩ đại, nó rất thanh tịnh. Cái vô thức của mình á, mình nhìn vào nó định ghê lắm, mà nó rất là vĩ đại, nó phủ trùm cả trời đất vậy, mà nó có thần thông nữa.
[46:06]Nhưng nó vẫn chưa phải là Phật tánh, vẫn chưa phải là Niết bàn. Nhiều người ngộ đạo thấy được vô thức, tưởng đó là Niết bàn, tưởng đó là Phật tánh, là chân tâm. Nhưng không ngờ bản ngã vẫn còn. Nhớ như vậy. Vô thức vẫn còn bản ngã, cho nên tôi khẳng định tâm này không phải là Phật, không phải là Phật tánh. Dù tu được rất định, nhưng mà vẫn còn ở trong tâm thì vẫn chưa phải Niết bàn, mà chỉ vẫn đứng bên cửa thôi. Nhưng có cái này: Có người cái cửa của họ, cái lối đó, cái lối vào họ đó, nó nhiều rác, nhiều gai góc, nhiều chướng ngại, người đó khó đi vào Niết bàn được, khó giải thoát. Nhưng có người do phước do hạnh
[46:48]thì cái lối của họ, cái cửa của họ đó, nó ít rác, ít gai ít góc, ít chướng ngại, thì người đó dễ tu, dễ giải thoát. Cho nên tâm mình người nhiếp tâm dễ mà người nhiếp tâm khó. Nhưng hễ còn tâm tức là còn bản ngã. Ở chỗ này mình giải thích thêm: Thế nào là sự xuất nhập định của chư Phật, của các vị A-la-hán? Bình thường á, các vị A-la-hán hay Phật á, vẫn sống với cái tâm như mình, tức là các Ngài sống với bản ngã khi mà các Ngài không nhập định. Khi nhập định á, các Ngài đi suốt vào trong, vượt khỏi tâm thức, an trụ trong bản thể Niết bàn. Lúc đó gọi là các Ngài nhập định. Mà khi lui ra thì các Ngài cũng lui trở lại
[47:30]cái bản ngã, lui lại cái tâm đó để sống. Nhưng mà vẫn không phải phàm phu như mình, là tại sao? Tại vì cũng là cái tâm á, cũng là cái ngã đó, nhưng mà cái tâm của các Ngài được dọn sạch sẽ hoàn toàn hết rồi. Nó vẫn là ngã, vẫn là tâm, nhưng nó dọn sạch sẽ hoàn toàn, thuần thiện và luôn luôn được kiểm soát kỹ lưỡng. Đó là người đã giải thoát khi mà các Ngài xuất định, sống trong đời sống bình thường, thì tâm các Ngài vẫn là cái tâm, vẫn là cái ngã đó, nhưng mà cái ngã đó cái tâm đó được kiểm soát kỹ lưỡng, được dọn dẹp đã sạch sẽ, đã hoàn toàn thuần thiện. Mà trong cái ứng xử đó, các Ngài vẫn phải mượn cái ta để sống thôi.
[48:17]Nên các Phật cũng nói là "Ta nói như thế này, Ta nói như thế kia", phải không? Vẫn là "Ta thấy, Ta nghe, Ta giảng dạy". Các vị A-la-hán cũng vậy, cũng xưng bản thân mình là tôi là ta. Các Ngài vẫn dùng cái ta đó để mà đối tiếp với thế gian, nhưng cái ta đó là cái ta đã được kiểm soát. Còn mình, khi mình chưa giải thoát, tức là mình chưa thể nhập định vào Niết bàn, chưa thể xuất định trở ra lại, mà mình vẫn đang loay hoay loay hoay với cái tâm của mình đó, thì cái ta của mình sao? Nó chưa thuần thiện, chưa được kiểm soát hoàn toàn, mặc dầu có khi nó được định. Đó, đây là cái chỗ mà tôi xác định lại,
[48:59]tôi khẳng định lại, để tránh một cái tà kiến nguy hiểm. Tà kiến nguy hiểm như thế nào mà nó gây tổn công đức? Là chỗ này: Người mà tưởng tâm này là Phật sẽ luôn luôn giữ lại bản ngã.
[49:14]Dù khi người đó được định rất sâu, tôi nói là được định rất sâu chứ không nói định cạn, định cạn thì cái ngã nó quá thô rồi. Nhưng có khi người đó được định rất sâu nhưng mà chưa ra khỏi vô thức, tâm người đó có thể phủ trùm cả trời đất, có thể có thần thông đi xuyên qua vách tường, hiện mưa hiện gió, tâm rất rộng rang thanh tịnh, thấy tâm mình phủ trùm cả trời đất như vậy. Nhưng khi mà chưa ra khỏi vô thức thì vẫn còn bản ngã. Cho nên nói rằng tâm đó là Phật, có khi người đó tới cảnh giới đó tự nhận mình bằng Phật, tự cho mình đã giải thoát bằng Phật, và đây là nguyên nhân của cái thối đọa ở kiếp sau.
[49:53]Kiếp này người này đạt được trình độ rồi thì bất thối, nhập định vào tới vô thức là bất thối, kiếp này bất thối. Nhưng tưởng rằng mình bằng Phật rồi, đã giải thoát như Phật rồi, bởi vì thấy mình thần thông diệu dụng đầy đủ, tâm mình thênh thang phủ trùm rồi, tưởng mình bằng Phật, kiếp sau sẽ bị lui lại, không đạt được trình độ kiếp này nữa. Còn Niết bàn thật sự, cảnh giới của chư Phật thật sự là phải hoàn toàn vượt khỏi tâm này, vượt khỏi ý thức, vượt khỏi vô thức, không còn một bóng dáng bản ngã. Đó mới là thật sự là Niết bàn, thật sự là Phật tánh. Cho nên dù nói trước hay nói sau, tôi vẫn khẳng định tâm này dù định hay động chưa phải là Phật.
[50:38]Nó có liên hệ, nó tôi nói nó là cái cửa để vào Phật tánh, mà Phật tánh thật sự vĩ đại vô cùng. Chỗ mà tôi nói lại là hiểu lầm là thế này. Khi mà mình nghĩ rằng, mình hiểu rằng, mình cho rằng tức tâm tức Phật, thì khi mình đạt được một trình độ sở đắc nào đó, mình sẽ đứng yên tại vì nghĩ đó là Phật tánh. Nó đeo theo bóng dáng của bản ngã khác. Còn cảnh giới mà Phật tánh Niết bàn thật sự nó vượt qua, vượt khỏi mọi tâm thức, mọi lớp tâm thức nó vượt hết, kể cả ý thức và vô thức. Nhưng giữa tâm và Phật tánh có liên hệ mà tôi nói là nó là cái cửa để đi vào Phật tánh. Niết bàn Phật tánh là chung, nhưng tâm là riêng, mà tâm là cửa để đi vào Niết bàn Phật tánh.
[51:26]Chúng ta không thể đạt được Niết bàn Phật tánh bằng tất cả những phương tiện khác, không thể đi tên lửa, máy bay phản lực nữa, mà chỉ bằng con đường tâm của mình mà đi vào thôi. Rồi phải giữ giới, phải nhiếp tâm thiền định đi vào từng bước, mà cái con đường tâm ấy dài lắm chứ không có ngắn. Nói nó là cái cửa chứ không phải là nó chỉ có mấy tấc đâu, mà cái chiều dài của nó là không biết mấy chục cây số. Mình phải đi xuyên hết bao nhiêu lớp tâm thức đó mới đến được Phật tánh Niết bàn. Mà khi đến được Phật tánh Niết bàn rồi, mình sẽ thấy nó không còn là cái tâm riêng của mỗi người nữa, mà nó là cái chung đồng của vạn hữu, chỗ chung đồng của vô lượng chư Phật.
[52:02]Vô biên vô lượng hiền thánh tăng, vô biên vô lượng chư Phật đều chỉ một Niết bàn ấy. Còn cái tâm á bây giờ á vẫn còn một chút riêng á thì chưa phải là Phật tánh. Khi mà một người mình đạt được cái sở đắc tâm linh cao, mà tôi nói là cái tâm vô thức vào được cái lớp thiền thứ ba đó, cái tâm vô thức á, thì người này sẽ thấy tâm mình nó vô cùng thanh tịnh, mắt nhìn phía trước mà vẫn thấy phía sau, tâm phủ trùm cả trời đất, có thể có thần thông. Nhưng nếu mà mình thấy mình vẫn còn riêng, nơi cái tâm này mình cảm thấy chưa phải là chung của toàn thể vạn hữu vũ trụ, thì xin thưa rằng xin dè dặt rằng chỗ này chưa phải là Phật tánh Niết bàn.
[52:44]Chỗ này vẫn còn là tâm. Mặc dù cái tâm này rất là vĩ đại, tâm này rất là đặc biệt, nhưng chưa phải là Phật tánh. Tôi nói điều này để làm gì? Để nhắc nhở tất cả mọi người chúng ta không được tự mãn, không bao giờ được tự mãn. Dù mình đạt được một sở đắc tâm linh rất cao, nhớ chưa phải Phật tánh, chưa phải Phật tánh. Vẫn im lìm mà tiếp tục tu nữa, đừng bao giờ cho mình bằng Phật dù lúc đó là mình đạt được sở đắc rất cao. Còn mà thật sự mà đạt được bằng Phật rồi đó, lúc đó mình hết nghi ngờ rồi. Cái chỗ đó bởi vì sao? Bởi vì Niết bàn nó chỉ có một. Đạt được chỗ đó rồi, đồng với chư Phật, thông suốt hết, thông cảm hết,
[53:24]tâm Phật tâm mình là một thì lúc đó không còn nghi ngờ nữa. Còn trước đó dù cái sở đắc tâm linh rất cao cỡ nào nhưng hễ còn thấy có một chút riêng riêng, tâm mình tâm Phật vô lượng chư Phật chưa là một, chưa là cảm ứng duy nhất thì biết rằng vẫn còn ở trong tâm chưa phải là Phật tánh Niết bàn. Còn cái câu nói của các thiền sư "tức tâm tức Phật", thì như tôi nói các thiền sư sau Phật vẫn có thể bị lầm nhận, chưa bằng Phật mà vẫn tưởng mình bằng Phật. Đây là cái bệnh mà sau khi Phật nhập Niết bàn rồi bệnh nó luôn luôn xảy ra. Sau Phật nhập Niết bàn 200 năm là trường hợp đã xảy ra như là tỳ kheo Đại Thiên mà trong sử có ghi.
[54:10]Ổng cho ổng chứng A La Hán, mà lúc đó đâu còn Phật để kiểm chứng. Đúng là khoảng 100 năm hơn 100 năm sau Phật Niết bàn, có tỳ kheo là Mahādeva Đại Thiên, ổng xưng ổng là A La Hán. Nhưng rồi các đệ tử chung quanh ổng á thấy ổng còn nhiều sơ hở quá đi. Ví dụ như là ổng, cái này mình nói, nói này nó hơi thô nhưng mà vì trong sử ghi mình phải nói, tức là người thị giả của ổng khi mà giặt y cho ổng thì vẫn thấy ổng bị thất lậu, vẫn thấy ổng bị cái bệnh của một người đàn ông. Chúng mới hỏi: "Ủa, thầy là A La Hán sao còn bị cái này?" Ổng nói: "A La Hán vẫn còn bị cái này". Cái thứ nhất. Rồi còn nhiều điểm sơ hở mà ông Đại Thiên ổng bị.
[54:58]Cho nên cái lúc đó mới phát sinh ra: "À, A La Hán còn rất dở, còn những cái điều sơ hở như vậy". Lúc đó mới phát sinh cái tư tưởng Đại Thừa coi thường. Như vậy cái cảnh giới viên mãn của Phật nó phải cao hơn cái cảnh giới A La Hán. Đó là lý do tại sao, tại vì ông Đại Thiên này, chứ trước ông Đại Thiên một người thật sự là A La Hán không còn một cái sơ hở nào. Cho nên sau Phật hay có cái lầm nhận, lầm nhận về chưa phải là bằng Phật, chưa bằng A La Hán mà tự cho mình bằng Phật, A La Hán vì không có Phật để xác nhận nữa. Nên các thiền sư sau này cũng vậy thôi. Nói cho các chỗ ngộ của thiền sư có người cao,
[55:36]người thấp, người sâu, người cạn không đồng nhau đâu. Sử sách ghi lại rất nhiều thiền sư, nhưng không phải là thiền sư nào cũng bằng thiền sư nào đâu. Người sâu, người cạn, mà cũng chưa hẳn là những thiền sư đó đồng với chỗ ngộ của Phật đâu. Đây là chỗ mà chúng ta phải mạnh dạn phê phán và nhận xét, đừng có sợ hãi. Nếu các sư mà xem lại sử các thiền sư, thấy sự đối đáp qua lại các thiền sư sẽ thấy có người cao, người thấp. Mặc dù cũng nói về chân tâm, Phật tánh dữ dội lắm, nhưng người cao, người thấp, người sâu, người cạn khác nhau hẳn. Cho nên hôm nay mà sở dĩ mà tôi giảng về kinh Nguyên Thủy là vì vậy.
[56:13]Muốn tìm lại cái giá trị thật sự của đạo Phật không bị bóp méo qua các thời đại. Chỗ đó mà Phật đã xác nhận rồi thì nó chính xác hơn là người sau mà nhận. Người sau vẫn có khi thêu thùa thêm thắt, có khi lầm nhận nữa. Cái chỗ của mình thấy vĩ đại quá, cứ tự cho là à thì bằng Phật. Không ngờ là chưa phải. Nên tôi khẳng định lại là vậy. Cái câu mà tôi nói rằng "tâm này không phải là Phật", tôi biết chắc là sẽ đụng chạm rất nhiều, sẽ gây một sự thắc mắc hoang mang, mà gây một sự phản đối. Nhưng tôi vẫn khẳng định điều này.
[56:50]Quý sư có thắc mắc gì về cái câu nói mà tôi nói "tâm không phải là Phật" không?
[57:00]Hôm trước tôi có nói cái định nghĩa về Tứ thiền rất là khác nhau trong các bài kinh. Mỗi bài kinh định nghĩa Tứ thiền khác nhau á. Đến nỗi sau này đó có nơi gọi Tứ thiền là phàm phu thiền. Trong khi bài kinh vừa rồi mình học mình thấy Tứ thiền là đã bắt đầu đủ lực rồi. Thấy không? Nên mỗi định nghĩa khác nhau, mà chỉ xả thọ tức là hết thọ rồi. Thấy không? Như vậy cho nên hôm đó là tôi có nói rõ ràng: "Thôi bây giờ là tùy mỗi nơi định nghĩa Tứ thiền ha. Ở đây mình sẽ định nghĩa lại. Mình định nghĩa lại bốn mức định đó, bốn mức thiền đó và cái định nghĩa đó là theo mình". Còn ví dụ như ai phản đối thì mình cũng đồng ý là
[57:40]tại vì họ sẽ định nghĩa Tứ thiền theo cái ý họ. Cho nên đây là cái định nghĩa theo mình thôi. Ví dụ như là mình định nghĩa là bốn mức thiền nhưng mà cũng có thể có người khác họ trải bốn mức thiền đó ra thành tới 10 lớp họ định nghĩa thành 10 lớp họ mới tới được cái Tứ thiền. Nhưng mà ở đây thì tôi phân tích theo cái từng lớp tâm thức mà tôi cho là bốn bốn lớp thôi. Có người họ sẽ phân tích thành có 10 lớp hay là người phân tích thành tám lớp. Nên đó là tùy theo cái định nghĩa bất đồng mà các kinh cũng bất đồng với nhau về định nghĩa. Cho nên hôm đó là tôi nói Tứ thiền là theo cái định nghĩa mình
[58:16]thống nhất nhau với nhau ở đây thôi, chứ mình không dám nói cái Tứ thiền này là cái định nghĩa của mọi cái kinh khác hết. Nhưng ở cái mức định thứ tư này qua khỏi vô thức luôn, tức là vượt khỏi hoàn toàn mọi lớp tâm thức. Đó là mình quy ước với nhau thôi. Đây là sự quy ước với nhau ở đây thôi chứ mình không dám là nói các Tứ thiền cho người khác theo các nơi định nghĩa. Sư chịu chưa?
[58:45]Cái thiền và định có hai tính chất khác nhau. Hôm trước là tôi có hẹn là nếu gặp được một bài kinh mà nói về các lớp định là Không vô biên xứ định nè, Thức vô biên xứ định á thì tôi sẽ giảng về định. Tức là hôm đó lại chỉ nói thiền mà không nói định, thì gặp bài kinh nói về định thì tôi sẽ phân tích về định. Như vậy qua bài kinh này chúng ta thấy là Đức Phật cũng nói rằng có khi chúng ta tu bởi cái mục đích rất là đúng ở thuở ban đầu. Là ban đầu mình đi tu vì cái mục đích là vượt thoát khỏi những cái đau khổ của thế gian. Đó là một mục đích đúng. Nhưng rồi sao? Nhưng rồi chúng ta đã vội vàng tự mãn khi được một ít thành tựu nào đó.
[59:32]Đây là cái bệnh chung. Thì cái thô thiển nhất ban đầu là mình được người ta kính trọng. Khi mình mang hình tướng tu sĩ, mình được người ta kính trọng, cúng dường. Thứ hai là mình được giới đức rồi được thiền định, được tri kiến, được giải thoát tạm thời. Đó là những cái mà có thể làm mình tự mãn. Ở đây, Đức Phật nhắc nhở mình cố gắng
[59:56]cái phát tâm ban đầu đã đúng thì đừng có ngừng lại nửa đường, đừng có dừng lại ở đây để đi cho đến cái tận cùng của sự giải thoát. Nãy giờ là nói người tu, bây giờ mình nói qua người thế gian một chút. Người đời cũng vậy, có cái câu nói của người xưa: Những người mà mới giàu mà kiêu thì sẽ không giàu nữa; người mới có địa vị mà kiêu thì sẽ không còn địa vị nữa. Đó là cái nhân quả. Ở trong người xuất gia cũng vậy, mà người thế gian cũng vậy. Như mình có một chút tài năng, có một chút giỏi giắn mà mình kiêu thì sao? Thì tài năng nó sẽ sẽ thui chột từ từ, nó thui chột từ từ, mất dần mất dần. Tự nhiên mình không còn giỏi như ngày xưa nữa.
[1:00:47]Rồi chúng ta cũng gặp những người ở trên đời vậy. Ví dụ như họ có một cái nghề rất là đặc biệt như nghề sửa máy, nghề vẽ, vân vân. Nhưng mà nếu họ kiêu, là nếu họ luôn luôn thấy mình giỏi hơn người khác, tự nhiên tay nghề kém dần, kém dần, mà chính họ phải bỏ nghề mà không biết tại sao. Còn cái người mà đạt được những cái điều hay đó, đạt được những điều như là mình giàu sang nè, giỏi giang nè, địa vị nè, đẹp đẽ nè, mà vẫn bình thường thì cái thành tựu đó nó bền bỉ. Những thành tựu đó bền bỉ. Nên mình nhìn một người ví dụ như mình thấy người đó giàu, nhưng mình nhìn họ mình thấy cái nét rất là bình thản,
[1:01:31]bình thản, bình dị, đơn giản, mình biết người này còn giàu nữa. Người không kiêu, nếu họ không có gây cái việc gì quá đáng thì còn giàu nữa. Còn cái người mà mình thấy giàu mà họ lộ cái giàu đó rất rõ, có một sự khoe khoang, hợm hĩnh, có một cái kiêu hãnh thì mình biết cái giàu người này nó phù du trong đời. Kể cả cái sắc đẹp cũng vậy. Có những người do phước đời trước dung mạo đẹp đẽ, nhưng nếu người đó luôn luôn kiêu hãnh vì cái sắc đẹp của mình thì đến một lúc nào đó, hoặc là bị tạt axit, hoặc là bỗng nhiên theo tuổi, do bệnh hoạn gì đó, cái sắc đẹp nó thay đổi, nó tàn tạ nhanh chóng do cái kiêu hãnh, do cái tự hào của mình.
[1:02:18]Rồi những cái sự kỳ thị khác, cái gọi là hơn thua khác như kỳ thị về chủng tộc, về giai cấp cũng vậy. Trong đạo thì mình có một cái gọi là cái kỳ thị tông phái. Ví dụ như mình có một cái tự hào về cái tông phái của mình, mình cảm thấy mình tông mình hơn cái tông khác, nó cũng là một cái quả báo xấu cho cả cái tông môn của mình về sau. Nếu cái tông đó đó mà có nhiều người đều có kiêu hãnh thì tông đó sẽ suy sụp. Còn nếu mà chỉ có cá nhân mình, thì cái tông không suy mà mình sẽ bị suy, mình tự nhiên sẽ bị bị đào thải hay bị một cái gì đó, nó có cái hao tổn. Còn người đời á thì có cái kỳ thị về chủng tộc, về tôn giáo, về giai cấp.
[1:03:01]Cái quả báo như thế này: Ví dụ như mình khinh bỉ cái chủng tộc đó, cái màu da đó, cái giai cấp đó quá đáng thì những kiếp sau mình sẽ làm sao? Mình đầu thai vào đúng cái chủng tộc đó, cái giai cấp đó để chịu đựng lại cái sự khinh bỉ của mọi người.
[1:03:20]Ví dụ như một người nghèo khổ hay tàn tật, bệnh hoạn vậy, mà nếu mình có cái ghê tởm, cái khinh bỉ nó thầm thầm trong lòng thì nó cũng thành cái nghiệp nhưng nhẹ. Nếu mình biểu lộ sự khinh bỉ đó ra bằng cái lời nói hay thái độ thì cái nhân nằm đó chờ mình. Nó sẽ hợp lại đợi đủ duyên, ví dụ thế này: Mình thấy một người què, mình khinh thường, mình chê bai thì cái nhân què có rồi đó, nhưng mà quả báo chưa hiện ra. Nó đợi mình làm thêm một cái nhân nữa, cái nhân đó là gì? Nhân ví dụ như là mình bẻ giò bẻ cẳng con thú, hay là mình phá đường cho người ta đi người ta té gãy chân, gì gì đó thì đủ với cái nhân mà mình khinh bỉ
[1:04:04]người què, hai cái hợp lại thì mình sẽ bị què. Một quả báo nó do nhiều cái nhân hợp thành. Đó là nói trên cái nhân quả thế gian. Bây giờ như vậy chúng ta kết luận lại cái bài kinh này, chúng ta thấy rằng tất cả những cái mà gọi là ưu điểm sẽ biến thành nhược điểm nếu mình có tự hào trong đó. Tất cả những ưu điểm lập tức biến thành nhược điểm nếu mình có tự hào trong đó. Bây giờ mình viết câu hỏi ... Thật ra những cái câu hỏi này nó không phải là những câu hỏi mà nó thường có tính cách giống như bài luận để chúng ta tự do viết những ý nghĩ của mình. Các sư nghĩ như thế này, là đôi khi viết giống như một lời tâm sự
[1:04:57]với tôi, và đôi khi viết như một bài giảng cho những người khác. Nhớ như vậy đi, mình viết giống như làm bài giảng, tập như vậy để mình tập mình chỉnh cái câu văn mình cho nó cho nó chỉnh. Qua những bài làm này tôi thấy là đa số mình chưa vững cái cú pháp, chấm phết trật lất, đặt câu cũng sai nữa, có nhiều người còn sai chính tả nữa. Để ý lại, tập chấm phết lại cho đúng, đặt câu. Làm mình viết giỏi thì sau này mới nói giỏi. Nên khi mà làm những bài này á thì nhớ mình làm như một bài giảng, đó là mình học mình đã ghi rồi xong. Câu thế này: Bài học rút ra từ bài kinh này, tức là bài Đại kinh Thí dụ lõi cây.
[1:05:40]Có ai hỏi gì không?
[1:05:48]Đây là sự quyết định thế này. Nếu mà một vị A-la-hán đạt được Niết-bàn viên mãn rồi, vị ấy mà khi bỏ thân á, nhập Niết-bàn trọn vẹn á, nhập Niết-bàn thực sự thì không trở lại nữa. Đời đó là đời cuối, nhưng không có nghĩa là từ bỏ chúng sinh. Hôm đó tôi nói rồi. Các vị đó vẫn ở trong Niết-bàn gia hộ, theo dõi, hướng dẫn mọi người. Cho nên tại sao trên đường tu chúng ta mà nhiều khi gặp những sự gia bị bất ngờ, bí mật á là chính là những vị A-la-hán trong Niết-bàn á. Cho nên nói là nhập Niết-bàn, đừng nghĩ rằng các Ngài không độ chúng sinh. Các Ngài vẫn làm hạnh Bồ-tát trong một cái trạng thái của Niết-bàn.
[1:06:32]Còn vị mà trở lại á là mặt đối mặt để gieo duyên với chúng sinh để giáo hóa thì giáo hóa cách khác, là trực tiếp giáo hóa. Mỗi cái đều có ưu khuyết, cách giáo hóa nào cũng có ưu khuyết hết, cách độ chúng sinh nào. Cái độ chúng sinh mà thị hiện vào sinh tử á thì có cái ưu điểm là mặt đối mặt, có thể trình bày một giáo lý, hướng dẫn cho họ, nhưng cái nhược điểm là không thể độ khắp chúng sinh cùng một lúc. Tại vì sự thị hiện luôn luôn nó có một cái một cái ngăn ngại của nó. Còn ở trong Niết-bàn mà độ chúng sinh á, cái ưu điểm của nó là cùng một lúc tâm trùm hết chúng sinh, vì ở trong Niết-bàn mà, biết hết chúng sinh, không bỏ chúng sinh nào,
[1:07:13]không sót một chúng sinh nào hết, đó là cái ưu điểm của Niết-bàn. Nhưng cái nhược điểm là không thể mặt đối mặt để mà giáo hóa một lời đạo lý nào đó, mà chỉ dùng cái sự thầm gia bị thôi. Nó như thế này: Ví dụ như là cái người đó á, do lời nguyện đáng được nghe cái giáo lý, nghe cái giáo lý về Bát-nhã, ví dụ vậy, người đó có duyên đáng được nghe giáo lý Bát-nhã. Nhưng mà chư Phật trong Niết-bàn không thể nói bằng cái lời trực tiếp, nên chư Phật dùng cái thần lực gia hộ khiến cái người này gặp một cái bậc thầy giỏi về Bát-nhã. Cho nên chư Phật không trực tiếp giáo hóa, nhưng có sự gia hộ để mình gặp Phật pháp,
[1:07:52]gặp chân sư, được những cái thuận lợi trong đời sống, được cái may mắn, thoát khỏi những tai nạn để mình tiếp tục tu, tiếp tục mà thu nhận chánh pháp. Đó là cái độ trong Niết-bàn á. Như vậy nó có cái ưu điểm, có cái nhược điểm. Bên nào cũng vậy hết trơn á. Còn cái vị mà trở lại là như thế này: Nếu vị đó sau khi đạt được viên mãn sự giải thoát rồi mà không muốn nhập Niết-bàn á, thì khi tịch đừng có nhập luôn tới Tứ thiền, đừng nhập vào bản thể. Ngài nhập định, nhập định tới Tam thiền, nhập tới Tam thiền, ngay đó chấm dứt sự sống thân này, hướng tâm mình về cái nơi mà mình đã chọn sẵn thì tự nhiên bào thai xuất hiện liền.
[1:08:35]Mà sự thật là vị đó đã gieo nhân rồi. Nếu vị đó tự tại chọn chỗ là ví dụ như là kiếp sau muốn sinh qua một cái vùng, trong một cái bộ lạc nào đó để mà giáo hóa cái bộ lạc đó, ví dụ vậy. Thấy mình có duyên, ngày xưa cái bộ lạc đó đã cứu mình trong một kiếp nào đó, bây giờ muốn thị hiện vào trong bộ lạc đó để cứu thì tuy sống ở thành thị mà hướng tâm về đó, tự nhiên nó gieo cái nhân quả về đó. Tự nhiên tâm mình ở đâu là nhân quả về đó. Thì khi các ngài tịch, không có nhập sâu vào Niết-bàn mà nhập tới Tam thiền dừng lại. Ngang tới Tam thiền bỏ thân. À, không biết tôi đã nói về bốn mức độ tịch chưa nha?
[1:09:10]Khi mà tịch tự tại đó. Khi một người mà ngồi kiết già tịch tự tại, không phải ai cũng giống ai nha, mỗi người mỗi trình độ khác nhau. Thích Tuệ Hải
[1:09:32]Mức độ thứ nhất là thế này: là người đó được định, nhưng không làm chủ được sống chết, biết cái chết tới và chờ đợi nó một cách tự tại. Tức là người này có cái định biết à ngày đó giờ đó mình tịch, ngồi bắt chân ngồi kiết già, lặng lẽ chờ cái chết tới từ từ từ từ rồi bỏ thân. Đó là người không làm chủ được cái chết, nhưng bình thản chờ đợi cái chết tới một cách tự tại. Trình độ thứ nhất. Trình độ thứ hai là người này đủ sức định để tự tử, tức là nhiếp vào định được, dập tắt cái thọ mạng mình chết. Tức là người này làm chủ được sống chết. Cái mức định người này sâu hơn, là muốn chết là chết, là dùng định để tự tử được.
[1:10:19]Người ta phải uống thuốc độc phải không, phải thắt cổ, còn người này nhiếp vào định sâu bỏ thân là đi liền. Đó là trình độ thứ hai. Trình độ thứ ba là cũng làm chủ được sống chết như vậy đó. Cái mức độ định cao hơn cái thứ hai, nhưng vẫn chưa phải là giải thoát hoàn toàn, chưa phải giải thoát hoàn toàn, có thể tìm nơi đi đi đến của mình. Đó là mức độ thứ ba đó, là chẳng những làm chủ được sống chết, muốn chết lúc nào cũng được, mà muốn tâm về đâu sinh về đó cũng được. Đó là mức độ thứ ba, mà vẫn chưa phải là người giải thoát hoàn toàn nha, vẫn chưa đạt được Niết bàn viên mãn. Chỉ có trình độ thứ tư đó là trình độ của Phật và A-la-hán đạt được Niết
[1:10:59]bàn viên mãn, thì cũng tự tại thôi, cũng bắt chân ngồi tự tại được. Nhưng mà mình nhìn bên ngoài thì mình thấy là bốn trình độ, bốn người đó đó đều ngồi tự tại một kiểu, nhưng mà sự thực là trình độ bên trong khác nhau mức. Thì ở đây cái chỗ mà thị hiện của một vị mà sau khi viên mãn Niết bàn muốn thị hiện trở lại đó, khi tịch Ngài không nhập vào Niết bàn, mà Ngài nhập định tới ngang mức định thứ ba vô thức, ngay đó dập tắt thọ mạng mình gọi là tự tử đó, và hướng tâm về cái nơi mới thì ngay đó bào thai xuất hiện. Đúng nhân đúng duyên rồi bào thai đó cũng vừa lúc xuất hiện luôn, là để chờ nhân duyên ra đời làm Phật sự tiếp.
[1:11:39]Rồi hết kiếp đó lại nếu muốn trở lại cũng vậy nữa, nhập định ngang Tam thiền dừng lại, dập tắt thọ mạng mình, vào thai mới, cứ vậy đi mãi. Nhưng mà thực ra cũng không cần thiết, tại vì các vị đó thấy rõ là vào Niết bàn vẫn độ chúng sinh được. Các Ngài không trở lại đâu, vào trong Niết bàn thì đâu có bỏ chúng sinh, luôn luôn theo dõi sát. Người nào tu sao tu sao Phật biết hết trơn à. Phật ở bên lưng mình á. Tất cả chúng sinh không có rời khỏi bản thể Niết bàn. Niết bàn là bản thể của vạn hữu, của vũ trụ, tất cả chúng sinh là duy nhất. Trong Niết bàn rồi nhưng Phật ở bên lưng mình, không bao giờ rời bỏ chúng sinh, vẫn gia hộ mình, vẫn độ mình chứ không bỏ đâu.
[1:12:19]Từ nay chúng ta bỏ ý nghĩ rằng người nhập Niết bàn là bỏ rơi chúng sinh, là không độ chúng sinh, từ nay chúng ta chấm dứt ý nghĩ đó. Ta hiểu lầm là mang tội. Nhớ nha.
[1:12:39]Đó là lý do mà tại sao Phật giáo phân hoá phát triển theo Đại thừa đó. Tức là một lời dạy ban đầu của Phật mình gọi là lời dạy nguyên thuỷ, nhưng rồi họ hiểu thành hai cách: một cách hiểu gọi là hiểu Tiểu thừa, một cách hiểu là hiểu Đại thừa. Cho nên Tiểu thừa và Đại thừa là hai cách hiểu về một lời dạy nguyên thuỷ của Phật. Đức Phật giảng một lời là nguyên thuỷ, nhưng mà hiểu ra cách này thành Tiểu thừa, hiểu ra cách kia thành Đại thừa. Mà tại sao hiểu thành Tiểu thừa? Là hiểu theo kiểu của ông đại phu. Hiểu thấp. Ví dụ như Phật nói là: "Củi hết lửa tắt", thì hiểu là không còn gì hết. Nhưng mà Đại thừa thì hiểu củi hết lửa tắt tức là gì?
[1:13:20]Tức là đau khổ hết, lậu hoặc hết, vô minh hết. Mà cái vô minh hết là cái gì còn? Cái minh nó sáng vô cùng ha. Cái bản ngã hết thì đại bi nó là vô hạn. Mà cái cái tối nó hết thì là cái sáng nó rực rỡ. Mà cái Đại thừa là cái hiểu rằng khi hết cái tối tức là cái sáng rực rỡ. Còn cái hiểu của Tiểu thừa, nghe nói hết tối là hết luôn không có gì nữa hết. Đó là cái lối hiểu Tiểu thừa đó. Nghe nói vô minh đã hết, cái nói: "Hết là hết luôn không có gì hết". Nhưng bên Đại thừa hiểu khác. Đại thừa nói vô minh tắt, cái tối hết là gì? Lúc đó là cái sáng rực rỡ. Như vậy hai cái hiểu cái nào đúng? Hiểu theo Đại thừa, hiểu theo nguyên thuỷ thì cái hiểu nào đúng nhất?
[1:14:01]Bây giờ thế này: bây giờ nói là Phật nói người tu giải thoát là hết bản ngã là vô ngã phải không? Thì cái người Tiểu thừa đó hiểu cái câu nói đó hết ngã rồi hết luôn, tối mù mịt. Nhưng mà người Đại thừa hiểu hết vô ngã tức là đại bi tràn đầy. Thì cái hiểu nào đúng về cái vô ngã?
[1:14:24]Đương nhiên, thấy không? Đương nhiên cái hiểu Đại thừa là cái hiểu đúng nhất. Hiểu đúng hơn cái Tiểu thừa. Tiểu thừa là suy luận đơn giản quá, nghe nói cái tối hết, thôi hết luôn. Nhưng Đại thừa hiểu cái tối hết tức là nó sáng rực rỡ. Mà cái đó mới là đúng. Cho nên nói: "Củi hết lửa tắt", cái ông cái Tiểu thừa cái ông nghe cái đó là hết luôn. Nhưng người Đại thừa hiểu củi hết lửa tắt tức là nghiệp không còn ràng buộc mình trong sinh tử, lúc đó mình tự do, muốn đi vào sinh tử hay muốn an trụ Niết bàn tuỳ ý. Đó là cái hiểu Đại thừa. Cho nên Đại thừa là sự phát triển về lý luận của đạo Phật. Phát triển làm cái lý luận đạo Phật cao hơn
[1:15:03]mà vẫn đúng, chứ không phải phát triển cao hơn mà sai. Thì sau này cũng có mấy cái lý luận Đại thừa phát triển mà sai cũng có chứ không phải không. Nhưng ở buổi ban đầu đó, các vị luận sư Đại thừa đó phát triển giáo lý của Phật cao hơn cái lời dạy nguyên thuỷ của Phật, nhưng làm ơn nhưng vẫn đúng mà cao hơn. Còn các vị Tiểu thừa thì hiểu như kiểu mà hôm xưa mà sư hỏi đó. Là một cái lối hiểu Tiểu thừa đó. Cho nên cái gọi là Theravada nghĩa là Thượng toạ bộ, nhưng kỳ thực cái hiểu của họ đôi khi là hiểu Tiểu thừa. Còn bên Đại thừa đó, thì mình cũng dễ lẫn ngoại đạo vô lắm chứ không phải không. Bên bên Đại thừa mình cũng đại dữ lắm, cũng đại rồi ẩu.
[1:15:40]Nhưng mà trên căn bản là phát triển lý luận đạo Phật cao hơn mà đúng, hay hơn, làm cho đạo Phật tích cực hơn mà vẫn không sai với cái gốc. Chịu chưa? Còn phiền muộn, còn ưu tư gì nữa
[1:15:58]không? Hết giờ. Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.