Transcript: Đạo Tâm - Đạo Hạnh - Đạo Lực - Đạo Quả

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:45:42

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:01]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên chư tôn, kính thưa với Tăng Ni sinh, kính thưa quý Phật tử. Như nãy Hòa thượng trưởng ban có giới thiệu, chúng ta có một cái bài học ngoại khóa, không nằm trong chương trình.

[0:19]Nhưng mà đã là học rồi thì chúng ta nghiêm túc. Hôm nay ta học về bốn cái từ mà có cái chữ đạo mà ta rất thường hay nói ở ngoài miệng của mình. Và hôm nay chúng ta mổ xẻ để xem những cái từ như thế

[0:36]nó nằm trong cuộc đời tu hành của mình như thế nào, ở những giai đoạn nào. Bốn cái từ là đạo tâm, đạo hạnh, đạo lực, đạo quả.

[0:48]Đạo tâm nó sinh ra đạo hạnh. Đạo hạnh sinh ra đạo lực. Và đạo lực chuẩn bị để phát sinh ra đạo quả. Nó là nó là một cái lôgic như vậy. Ta nhớ nha, nó thứ tự từ cái đạo tâm, đạo hạnh, đạo lực, đạo quả này là một thứ tự lôgic, chứ không có ngẫu nhiên. Đạo tâm là cái tình yêu đối với đạo, là tình cảm đối với đạo, sự quan tâm đối với đạo, dành cái phần lớn cuộc đời của mình cho đạo. Nó thuộc về tình cảm. Đạo hạnh là sự thực hành. Sự thực hành những cái giáo lý, cái đạo lý ở trong đạo đó. Mà cái sự thực hành nó chín muồi đến nỗi bắt đầu nó toát ra cái vẻ bên ngoài, mọi người nhìn thấy, là nó thành cái đạo hạnh.

[1:44]Mình khen ai cái người đó có đạo hạnh, tức là cái sự thực hành có chín muồi rồi. Còn cái người ví dụ có thực hành mà chưa chín muồi, nó chưa toát ra ngoài, người ta nhìn vô người ta không biết, người ta vẫn chưa gọi là vị này có đạo hạnh, ý là vậy. Còn đạo lực là bắt đầu cái đạo hạnh nó chín muồi đến nỗi nó gây được ảnh hưởng vào người khác, gây ảnh hưởng vào cộng đồng, gây ảnh hưởng lên tới chư thiên tới quỷ thần luôn, gọi là đạo lực. Còn đạo quả là ta bắt đầu chứng vào một trong bốn quả thánh, từ từ bắt đầu chứng vào trong tứ quả thánh theo như cái tiêu chuẩn mà Phật đã dạy chúng ta. Nên ở đây cái gọi là phát tâm ban đầu cũng gọi là đạo tâm.

[2:31]Nhưng mà cái phát tâm ban đầu, cái hiểu đạo ban đầu, cái tiếp xúc với đạo ban đầu chưa được gọi là đạo tâm. Bây giờ ta bắt đầu nói về đạo tâm chút xíu. Ta nói rằng đạo tâm là cái tình yêu đối với đạo, nói thẳng ra nó là một dạng tình cảm đối với đạo. Ví dụ ta khen ai: "Ồ, vị đó có đạo tâm quá." Là ta thấy được cái sự nhiệt tình, cái nhiệt thành của vị đó đối với đạo pháp. Ừ, ví dụ như có một cái việc như chùa xây cất, thấy vị đó cứ hay tới lui lăng xăng để lo, hoặc là tới có một lễ hội cúng dường, vị đó hay tới lăng xăng để lo phụ. Hoặc là nói rằng à trường Phật học mở, thiếu này thiếu kia, vị đó lăng xăng đi chạy lo phụ.

[3:18]Nhìn thấy cái vị đó cứ lo trong cái lòng nhiệt thành, yêu kính, ta mới khen: "Ồ, vị này có đạo tâm ghê." Tức là có cái tình yêu đối với đạo mà ở mức độ nào đó bắt đầu mới được gọi là có đạo tâm. Còn ở mức độ mà mới ban đầu vừa tiếp xúc, vừa có chút hiểu biết, thích thích, chưa gọi là có đạo tâm. Nha, chưa gọi là có đạo tâm. Mức độ hơi cao cao ta mới gọi là một vị có đạo tâm. Nên cái tiêu chuẩn để bắt đầu hình thành được cái đạo tâm cũng chưa phải là dễ. Như như người xuất gia như vậy thì chắc chắn phải là người đạo tâm đã có sâu dày. Yêu đạo đến nỗi từ bỏ những niềm vui của thế tục mà đi tu. Cho nên nói tới người xuất gia thì thường ta không

[4:07]có đặt vấn đề đạo tâm lắm, vì đó là chắc chắn. Hễ nói tới người xuất gia, ta bắt đầu xét từ đạo hạnh trở lên, mức độ thực hành cỡ nào. Mà dám đi tu rồi thì đạo tâm đã quá thuần. Chỉ trừ trường hợp là ngày xưa trốn lính rồi đi tu thì ta đánh giá sai thôi. Chứ còn bình thường trong hoàn cảnh không bị bức ngặt, không bị cái gì khổ sở, không bị gì dồn ép mà phát tâm, tự phát tâm đi tu, là người này đã chín chắn cái phần đạo tâm. Nên cái chữ đạo tâm ta thường hay nói để dành cho cư sĩ. Dạ, thấy người cư sĩ ai cũng như ai mà không biết là cái mức độ yêu đạo của người đó tới cỡ nào thì ta mới hay đem cái chữ đạo tâm mà xét.

[4:52]Hôm vừa rồi chúng tôi giảng một bài ở ngoài Bắc, chúng tôi có nói nêu lên ba cái ba cái câu hỏi gọi là ba câu hỏi cốt tử của một người tu Phật, ba câu hỏi cốt tử của một người tu Phật. Trong đó câu thứ nhất thế này: Thế nào gọi là một người biết tu, bắt đầu biết tu tập? Thì cái câu trả lời là khi nào người đó bắt đầu biết lỗi mình thì không có luận người xuất gia hay tại gia. Hễ ai khi mà ta vào tu tập rồi cứ thường hay thấy lỗi mình, tự nhiên thấy lỗi nó cứ hiện ra, thì người này bắt đầu biết tu. Còn cái người tu quanh năm suốt tháng nhìn không thấy lỗi mình thì người này tu sai rồi, chưa biết tu, tiếp cận cái giáo lý trật rồi,

[5:37]sự thực hành trật rồi, cho nên không thấy lỗi được, không thấy được lỗi của mình, nên người này chưa biết tu. Nên cái câu hỏi cốt tử thứ nhất: Thế nào gọi là người bắt đầu biết tu tập? Thì cái câu trả lời là bắt đầu thấy được lỗi mình. Cái câu hỏi cốt tử thứ hai: Khi nào gọi là đủ đạo tâm? Đó, nó nó đụng tới cái bài giảng hôm nay của ta. Khi nào đủ đạo tâm? Thì cái câu trả lời là tự nhiên nghĩ tới việc xuất gia. Nha, thề người đó đủ đạo tâm. Cho nên những ai mà đã xuất gia rồi thì phần đạo tâm coi như đủ, cái tình yêu mến đối với đạo coi như tạm đủ, vì nó lọt vào cái câu hỏi cốt tử thứ hai: Khi nào được gọi là đủ đạo tâm?

[6:21]Thì câu trả lời là nghĩ đến việc xuất gia. Chỉ nghĩ đến thôi chứ chưa thể xuất gia được. Vì sao vậy? Vì cái người cư sĩ nhiều gia duyên ràng buộc, nhiều khi phước chưa đủ, hoàn cảnh chưa thuận tiện, không đi xuất gia được, nhưng mà đầu có yêu thích điều đó, có hướng về điều xuất gia thì ta gọi người này đủ đạo tâm, vậy. Cho nên xuất gia được rồi không phải là việc dễ đâu, cũng phước nhiều lắm đó mới có thể xuất gia được. Có nhiều người thích xuất gia lắm, nhưng mà đành chịu. Ví dụ như cha mẹ không ai nuôi, hoặc là đã gây tạo gia đình có vợ có chồng có con rồi không ai lo, vân vân, vì một lý do gì đó, hoặc là đang làm trong việc của nhà

[7:06]nước chưa thể nghỉ được, vân vân vân vân, mặc dầu trong tâm thích xuất gia. Còn ở đây quý thầy quý cô mình đủ duyên để xuất gia phước cũng lớn đấy, nhưng mà nói về mặt đạo tâm thì ta đã đủ rồi. Nên cái chữ mà đạo tâm thường ta hay xét cho người Phật tử, mà tới người xuất gia thì ta bắt đầu xét kỹ cái phần đạo hạnh. Cái câu hỏi cốt tử thứ ba

[7:33]là liên quan tới việc hoằng pháp, thôi hôm nay ta chưa nói. Nhưng mà bây giờ ta nói quay lại vấn đề đạo tâm, tức là tình yêu đối với đạo. Cái tình yêu đối với đạo này á, hồi nãy ta vừa nói, hễ mà nghĩ tới việc xuất gia là đạo tâm đủ. Tuy nhiên, cái tình yêu đối với đạo đó đó thì nó càng ngày nó càng phát triển, phát triển dần, phát triển dần. Kể tới cái người xuất gia, mặc dầu đã bước hẳn vào đời sống trong đạo rồi, nhưng đừng nghĩ rằng cái tình yêu đối với đạo pháp ai cũng giống ai. Có những người nhiều, có người ít. Mà nhiều đến mức độ nào thì đủ? Nhiều đến mức chứng được đạo quả Tu-đà-hoàn.

[8:20]Chứng được thánh quả đầu tiên thì ta gọi người này đủ lòng yêu kính đối với Tam Bảo. Mà ở đây là một trong ba tiêu chuẩn để chứng thánh, phần tới đạo quả ta sẽ nói lại phần này. Nhưng mà ta hiểu rằng một trong ba tính chất của một vị thánh Tu-đà-hoàn thì trong đó có một tính chất là tình yêu đối với đạo, thuộc về tình cảm, tình cảm đối với đạo. Cho nên vì vậy, cái người tu trong Phật pháp không phải là người khô khan, mà lại là người thấm đẫm tình cảm. Nhưng cái tình cảm đó nó đẹp, nó đúng hướng, nó bao la. Vậy thôi chứ không phải là không có tình cảm. Tu mà tâm trở thành khô khan là ta đã tu sai rồi,

[9:09]chứ người càng tu tình cảm họ thấm đẫm, đậm đà lắm, vậy. Cái tình cảm với đạo nó ở đâu ra? Chúng ta cho một ví dụ nhỏ như thế này. Ví dụ như có một người giới thiệu chúng ta một chiếc xe máy, ừ, rồi chúng ta thích. À, sau khi người đó giới thiệu tính năng, cho ta ngồi lên lái thử, ta thích, à ta thích rồi ta muốn mua chiếc xe đó, thì cái thích là cái tình cảm, cái muốn mua chiếc xe đó cũng là một loại tình cảm. Tức là như vậy sau khi họ giới thiệu xong ta thích là ta có tình cảm. Vậy cái thích chiếc xe đó, ta yêu chiếc xe đó vì lý do gì?

[9:55]Trả lời cái ví dụ này rồi ta sẽ hiểu cái tình cảm đối với đạo của ta nó giống giống như vậy, nhưng mà nó lớn hơn. Bây giờ ta lấy một ví dụ rất nhỏ, thích chiếc xe máy thôi. Ta phân tích cái thích chiếc xe đó là thích cái gì? Đưa đưa cho Thượng tọa Đức Hoàng. Dạ mô Phật. Bạch Thượng tọa Pháp Sơn, chúng con thật sự là cũng muốn chiếc xe thì

[10:22]thích nó không có bị hư giữa đường. Tại chúng con thường đi công việc chỗ này chỗ kia sợ bị hư. Có lúc nó bị gắt không có chỗ sửa mà kẹt, cho nên con trước khi con mua chiếc xe con cũng đi hỏi thăm coi mấy người quen, bạn bè vô có xe Lead đó bền, khuyên giới thiệu cho con chiếc xe Lead. Tên Lead quá, vừa diễn là Lead là lãnh đạo, Lead là dẫn đầu, Lead là số một. Thì con thêm cái màu đỏ nữa thấy, màu đỏ thắng hơn, màu của trí tuệ cho nên con chọn lấy chiếc xe đó mua

[11:00]chiếc đó. Đúng rồi. Thầy vừa trả lời rất chính xác những điều phân tích. Còn thầy, thì Thầy Lệ Ngôn Thầy thích chiếc xe vì lý do gì? Ví dụ như Thầy Lệ Sirius. Dạ mô Phật. Bạch Thượng tọa Pháp Sơn, Thầy Đức Hoàng thích nhiều quá rồi con không biết thích cái gì. Con chỉ biết rằng là khi mình muốn cái những cái gì thì cái đó nó thuộc về phù hợp cái nhu cầu của mình. Mình nhu cầu của mình như đó thì mình thích như vậy. Dạ. Cho nên thì con xin trả lời như vậy. Dạ. Dạ, xin cảm ơn hai vị Thượng tọa. Hai vị cũng là giảng sư cả. Giờ ta phân tích hai cái thích của hai vị, ta sẽ thấy ở trong đạo cũng giống như vậy, tại sao ta yêu đạo cũng giống hệt như vậy.

[11:48]Thứ nhất là vì nó tốt, đúng không ạ? Nghĩ đúng cái nhu cầu mình không hư bậy hư bạ, máy móc kỹ thuật nó tốt. Cái mà thích vì cái kỹ thuật của nó là thuộc về cái gì? Lý trí. Đúng không ạ? Cái xe này nó chắc, nó bền, không hư vặt, giải quyết được nhu cầu của mình, cái thích đó thuộc về lý trí. Ta thích vì nó tốt, ta thích vì nó có trí tuệ ở trong đó. Nó văn minh, nó tối tân, nó trí tuệ, nên cái thích này là thích cái lý trí của nó, cái tính lý trí của nó. Cái thứ hai, Thầy Đức Hoàng nói: "Nó nó đẹp, nó sơn màu đỏ, nó có tính lãnh đạo, chữ Lead rồi cái nhãn hiệu nó nó nó lãng mạn". Thích vì cái tính thẩm mỹ của nó, cái đẹp của nó, chính xác luôn.

[12:37]Nhớ, khi ta thích một điều thường ta thích hai cái này là nó cân đối, cái tâm hồn của ta cân đối mà cái vật đó hợp lý. Một, ta thích cái tính lý trí của nó. Hai, ta thích cái tính thẩm mỹ của nó, cái đẹp của nó. Nhớ như vậy. Quý thầy, quý cô nhớ giùm nha, nhắc lại điều này. Để sau này trong suốt cuộc đời khi ta thích cái gì nhớ đem hai cái này ra cân lại coi đủ chưa. Ta thích điều gì vì cái tính lý trí của nó, tính trí tuệ của nó. Ví dụ chiếc xe tốt là tính trí tuệ, xe đẹp là cái tính thẩm mỹ của nó. Nhớ hai điều này. Bây giờ trong đạo Phật cũng vậy. Tại vì sao ta yêu đạo Phật? Ta yêu đạo Phật vì hai lý do.

[13:23]Một, vì lý do của duyên kiếp quá khứ. Hai, là lý do của hiện tại. Cái hiện tại là nó thuộc về điều như là Thượng tọa Đức Hoàng vừa nói đó. Còn cái duyên kiếp quá khứ thì không giải thích được, nhưng tạo thành một cái tình yêu tự nhiên cho ta trong kiếp này. Ví dụ như trong kiếp trước ta đã từng là đệ tử của Phật, ta đã từng xuất gia tu hành, quy y Tam bảo, cúng dường làm đủ mảng hết rồi, gieo nhân duyên trong đạo đã nhiều rồi, đã tụng kinh, đã ngồi thiền, đã học hiểu đạo lý nhiều rồi. Trong kiếp xưa đã từng yêu đạo rồi, kiếp này sinh ra cái tình yêu đạo đến với ta rất tự nhiên, rất tự nhiên. Rất tự nhiên đó là gì?

[14:09]Ví dụ vô tình ta gặp một người thầy tu nói chuyện dễ thương, cái thế là ta tò mò tò mò đi theo, khơi mở lại cái duyên xưa. Hoặc là ta đầu thai lọt vô luôn trong gia đình đã đạo Phật sẵn rồi, lớn lên tắm trong không khí của đạo, thế từ đó rồi phát triển luôn, thành ra cái tình yêu đạo luôn. Hoặc là nhờ bữa đó cái ông nội mình ổng chết. Thế là nhà mình mời thầy cô tới tụng, cái mình cứ quỳ lạy xì xà xì xụp đó mà, đeo tang quỳ lạy, cứ nghe lời kinh tiếng tụng sao nó xúc động. Nghe không hiểu gì hết, tại nhiều ông thầy ổng tụng chữ Nho không à. Nghe không hiểu nhưng mà sao nó cứ như nó gợi nhớ, cứ cảm xúc không biết tại sao.

[14:46]Thế là mò mò mò theo ông thầy về chùa, rồi thôi rồi, trốn nhà đi tu luôn. Ví dụ như vậy. Tức là từ một cái duyên xưa nào đó bây giờ không lý giải được. Đó là cái duyên xưa. Nhưng mà một cái gọi là duyên hiện tại thì bắt buộc ta phải có hai điều như là Thượng tọa Đức Hoàng vừa nói. Một là ta yêu cái tính trí tuệ của đạo Phật, yêu cái đúng của đạo Phật. Điều này, cái yêu này, yêu thích này nó thuộc về lý trí chứ nó không phải thuộc là tình cảm nha, nhớ nha. Cái thứ hai, ta yêu cái đẹp của đạo Phật. Cái đẹp của đạo Phật nó nằm ở đâu? Nó nằm ở cái tâm từ bi mà Phật dạy. Nó nằm ở đâu? Nó nằm ra nơi cái ngôi chùa của ta thanh thoát, giản dị, êm đềm, thanh tịnh.

[15:36]Nó nằm ở đâu? Nó nằm nơi cái đời sống của Tăng Ni, các vị tôn túc mà ta nhìn thấy được. Là các vị đó sống có cái gì nó điềm đạm, hiền lành, đạo đức, những nụ cười, những ánh mắt cho ta cái sự thân thương, những cái. Cái đẹp của đạo Phật nó nằm ở trong những lời kinh tiếng kệ, những câu văn, nó vừa sâu sắc trong tính lý trí mà nó vừa đẹp trong vần, trong điệu. Những cái đẹp đó làm cho ta yêu kính đạo Phật. Nên ở đây, cái tình yêu của đạo Phật nhớ nè, ta yêu cái trí tuệ của đạo Phật và ta yêu cái đẹp của đạo Phật. Yêu cái trí tuệ của đạo Phật thì cái tình yêu này thuộc về lý trí, tình cảm mà lý trí.

[16:23]Còn ta yêu cái đẹp của đạo Phật thì nó thuộc về tình cảm mà mà tình cảm.

[16:31]Nên tình cảm nó phát sinh, chúng ta đừng tưởng là nó phát sinh tình cảm là tình cảm, không có đâu. Tình cảm bởi vì có lý trí hướng dẫn. Nên bây giờ ví dụ như ta nghe một cái đạo lý thế này, ta nghe nói ta nghe ta đến với một cái đạo, cái đạo đó có một vị giáo sĩ giảng cho ta rằng: "Các con hãy sống tốt với nhau. Bởi vì sao? Bởi vì thánh thần ở trên trời lúc nào cũng theo dõi các con. Các con mà sống tốt được với người đồng loại thì thánh thần sẽ chấm điểm các con, các con chết là được đưa lên cõi trời ở". Chúng ta nghe một cái giáo lý như vậy, có nghe chưa ạ? Đã từng nghe chưa? Nghe rồi chứ, nhiều đầy ấy mà.

[17:18]Đó, đó là mình nghe một cái giáo lý như vậy. Rồi mình lại nghe một cái giáo lý khác như thế này, cũng một ông giáo sĩ nào đó, ông tu sĩ nào ổng nói thế này: "Các con hãy yêu thương, giúp đỡ đồng loại". Câu nói y hệt nhau, hai ông y hệt nhau ha. "Mà vì sao? Bởi vì trong vũ trụ này nó có một cái luật nhân quả công bằng. Khi các con đem hạnh phúc đến cho người khác thì hạnh phúc sẽ trở lại với chúng con, các, gấp bội lần. Nếu các con đem đau khổ đến cho người khác thì sự bất hạnh sẽ ập vào cuộc đời con gấp nhiều lần hơn nữa vì có cái luật nhân quả". Giờ ta bắt đầu ta so sánh hai cái giáo lý này, ta thấy giáo lý nào có lý hơn?

[18:04]Giáo lý nào có lý?

[18:08]Một cái giáo lý đó, đẩy hết trách nhiệm quan sát, thưởng phạt cho một đấng thần thánh ở trên cao. Một cái giáo lý thì đẩy vào nó có một cái quy luật nhân quả khắp vũ trụ này. Hai cái như vậy, thì ở đây chúng ta chọn cái thứ hai phải không ạ? Tức là ta không muốn lệ thuộc vào có một ông thần thánh ổng xét mà ta thích có một cái luật nhân quả bàng bạc trong vũ trụ, không lệ thuộc ai hết. Ta thích cái thứ hai, vì sao? Ta nghe rất tự nhiên, ta thích rất tự nhiên, vì sao? Thưa với quý thầy, quý cô, không phải quý thầy, quý cô thích không đâu. Một số tín đồ của các đạo khác khi họ nghe về luật nhân quả này, họ cũng thích luôn.

[18:51]Nào giờ cả đời họ chưa nghe. Đến khi họ gặp, tiếp xúc với một người đạo Phật nói về luật nhân quả, nó giải thích được tất cả mọi biến động của cuộc đời, tự nhiên họ thấy hợp lý, họ thích luôn. Chứ không phải quý thầy, quý cô ta là trong đạo Phật mình thích tự nhiên. Vậy cái thích này ở đâu ra? Ai giơ tay phân tích giùm? Rồi, mời sư cô đi. Dạ, kính bạch thầy! Con nhớ lần đầu tiên mà con đi tới chùa, con nghe thầy phong giảng thì về cái giáo lý nhân quả, con rất là thích. Mặc dù trước đó con không hề biết đạo Phật là gì, không biết chùa là gì luôn, thì con thấy là con thích là đầu tiên là con thấy rất là hợp lý.

[19:35]Con nghĩ là cuộc sống phải như vậy chứ! Nếu như mình làm ác thì phải bị cái luật nhân quả trừng trị. Như vậy là mình không dám làm ác, chứ để cho nếu như không có công bằng như vậy thì những người người ta có quyền, có chức hoặc là người ta có cái tâm

[19:55]ác thì người ta tha hồ làm ác và tha hồ mạt sát, vùi dập những người mà có thế lực... Rồi rồi, được rồi, cảm ơn sư cô! Cái chỗ này rất khó nói. Nói tại sao hai cái giáo lý nói ra bỗng nhiên mình chọn cái thứ hai, mình chọn cái nhân quả hơn là dựa vào một thần thánh? Vì sao? Vì luật nhân quả nó có cái tính lý trí cao, đúng không ạ? Tính lý trí nó cao quá. Nhân nào quả đó, nhân nào quả đó. Ví dụ, sao đẹp? Vì mình hay khen ngợi cái hay của người khác. Vì sao mình thông minh? Vì mình cố gắng truyền đạt hết những điều mình biết. Vì sao mình giàu sang? Vì mình hay giúp đỡ đúng người, đúng việc, vân vân.

[20:29]Nó chặt chẽ quá, nó chi li quá, nó như là một hệ thống toán học. Nhớ như vậy. Nhân quả là một hệ thống toán học. Cái tính lý trí đó làm ta yêu. À, nhớ giùm điều này: trong bản năng của con người, trong quy luật tâm lý tự nhiên của con người, có một điều ta yêu là cái lý trí.

[20:51]Đó là lý do mà rất nhiều người yêu toán học. Nha! Trong toán học hầu như không nói tới cái đẹp. 2 + 2 = 4, ừ rồi 8 x 7 = 56, rồi hai đường song song mà cắt bởi một đường thì cái nó thành một cái tỉ lệ của định lý Talet như thế nào. Rồi phát triển lên tới dần dần, dần dần lên tới tới đạo hàm, tới tích phân. Những con số khô khan, chỉ là những con số, con số, con số thôi. Cái tính lý trí cực kì cao trong toán học, vậy mà nhiều người yêu thích say mê. Đúng không ạ? Ở đây quý thầy cô hồi đi học có thích toán không? Có không? Những người trả lời có là người học giỏi, còn người im lặng mấy người học dở.

[21:41]Tại sao ta yêu toán? Nó không có đẹp vì cái lý trí cao quá. Cho nên ở đây, ta nhớ giùm những điều chúng tôi đang nói rất quan trọng, quý thầy cô lắng nghe. Nó liên quan tới cái hoằng pháp về sau đối với thế giới này. Một trong những điều ta yêu vì tính lý trí. Đó. Mà đạo Phật, những giáo lý của đạo Phật cho ta cái tính lý trí cực kì cao. Và đó là lý do mà ngày hôm nay, những người trí thức trên thế giới bắt đầu họ nghiêng về tìm tới đạo Phật. Những người trí thức là những người yêu lý trí mà. Họ đi tìm các tôn giáo để đi tìm cái tâm linh chứ họ cũng không thích tình cảm đâu. Họ tin rằng có một cái tâm linh của vũ trụ này,

[22:26]họ đi tìm, tìm hết đạo này tới đạo kia, tới đạo này tới đạo kia, nhưng mà khi đụng tới đạo Phật, họ thấy cái này tâm linh mà lý trí cao quá, họ ngả theo liền. Còn có một số đạo cũng tâm linh mà niềm tin không à, tình cảm. Con phải yêu ngài, con phải tin ngài thì con sẽ được cứu rỗi. Cứ toàn là yêu, tin, tin, yêu, cái tình cảm không, không thỏa mãn được tâm lý của người trí thức. Qua tới đạo Phật: Không, nhân nào quả nấy à. Bản ngã gây nên phiền não đau khổ, diệt bản ngã để được giải thoát à. Vũ trụ gồm nhiều cõi giới mà ứng với loại tâm, hễ tâm ta tới cõi chỗ nào thì nó ta sinh vào cái cõi đó.

[23:05]Khi tâm ta đạt được mức thiền định cao, ta sinh về những cõi trời cao. Cái gì nó cũng có công thức hết, tất cả có lý trí hết, cho nên nó chinh phục được cái giới trí thức trên thế giới. Và đây chính là điểm mạnh của thời đại ngày hôm nay. Và bắt đầu quý thầy, quý cô sau này mà đi về chùa mình giáo hóa, làm ơn phát huy cái tính lý trí trong đạo Phật giùm, đừng phát triển cái niềm tin nữa nha, chuyện xưa rồi. Chuyện xưa rồi. Chúng tôi nói câu này là sao? Vừa rồi ở trường hạ...

[23:39]Khi chúng tôi vào chùa xuất gia cạo đầu đầu tiên thì ở một chùa Tịnh độ á, cho nên nghi thức Tịnh độ rồi cũng biết hết. Rồi sau đó mới trở về được với cái chùa của mình là tu thiền thì nghi thức nó nhẹ hơn. Rồi bao nhiêu năm đi học hành, đi tu, đi giảng cái thì hôm nay cái cái ông Hòa thượng ổng mời về làm hóa chủ và giáo thọ cho một trường hạ, cho nên hễ không đi đâu đi rảnh là phải về trường hạ ở đó với chúng. Ở đó với chúng, coi ngó chúng rồi dạy dỗ chúng này bình thường, thì cứ phải ngồi nghe mà tụng cái nghi thức Tịnh độ. Ngồi chúng tôi suy nghĩ hoài rồi nói với Hòa thượng thiền chủ: "Thôi, hỏi thiệt Hòa thượng, bình thường chùa Hòa

[24:23]thượng được mấy người tới tụng kinh mỗi ngày?". Hòa thượng nói: "Không có ai. Một, hai bà già hàng xóm". Hãy đi gặp một mớ các chùa khác hỏi mỗi ngày chùa cũng một, hai bà già hàng xóm tới. Nói đạo Phật vậy tiêu. Mà lý do tại sao? Lý do quý thầy có đổ thừa là tại chúng sinh là ngu dốt, ngu si không biết tìm tới đạo không, hay là mình đổ thừa mình không đủ sức hấp dẫn? Lúc chúng tôi nói Hòa thượng thiền chủ: "Hòa thượng coi lại giùm con cái nghi lễ tụng kinh á, vì người ta chưa biết tu gì người ta biết tụng kinh trước cái đã. Thì cái tụng kinh nó có tính lý trí cao không? Nó có làm cho người ta hiểu sâu không?

[25:07]Làm người ta ưa thích không và làm cho thuyết phục được lớp trẻ tới không? Chứ nếu chỉ có những bà già an phận chờ chết thì đạo Phật tiêu ạ. Số người xuất gia sẽ giảm lần, giảm lần. Họ không tới chùa nữa lấy ai xuất gia?". Cái tính lý trí ta không phát huy được tính lý trí mà chỉ cứ đẩy niềm tin: tụng kinh này có phước nè, niệm Phật này được chết vãng sanh nè, tụng bài chú không nghĩa gì hết cả, được phước lớn nè. Toàn chỉ tin không. Chỉ tin không. Khuya dậy, chúng tôi phòng mình ngồi thiền thì nghe quý thầy tụng Lăng Nghiêm. Tụng Lăng Nghiêm cực chết mồ luôn á, học Lăng Nghiêm cực chết mồ luôn nhưng bài kinh không có nghĩa gì. Đúng không ạ?

[25:53]Hồi chúng tôi vô làm điệu cũng vậy. Làm điệu, chúng tôi cứ lách qua lách lại trốn tụng Lăng Nghiêm, trốn học Lăng Nghiêm. Lần đó có ông Thượng tọa, giờ ổng mất rồi, thấy cái thằng đó nó không thuộc Lăng Nghiêm, đuổi ra khỏi chùa. Mà mấy vị thưa thầy khác ở trong chùa thì ổng ổng che chở, thương mình. Cái ông Thượng tọa ổng ổng là quản lý mà ổng ở xa, lâu lâu ổng tới. Ổng tới cái ổng ổng đi theo dõi quán xuyến chùa phát hiện: "Cái thằng điệu này không có ngày nào lên tụng kinh buổi khuya hết". Lấy lý do hỏi, lấy lý do là gì? Nói: "Dạ, con mắc nấu cơm, nấu cơm cho quý thầy để sáng đi làm ruộng á, cho nên không có tụng kinh".

[26:32]Tới giờ ổng phát hiện là không phải, thằng này nó trốn, mới ra lệnh: "Thằng đó mà nó không thuộc Lăng Nghiêm là đuổi ra khỏi chùa tao". Lúc ấy chúng tôi mới xin thầy chúng trưởng: "Thầy cho con năm ngày". Cứ buổi sáng đi lao động, buổi chiều, mỗi buổi chiều học một đệ Lăng Nghiêm, thuộc liền. Nhưng mà thuộc mà không thích, tại không có tính lý trí. Mà lúc bấy chúng tôi là người hồi nhỏ là mình thích toán, cái gì phải có lý trí mới thuyết phục mình, còn niềm tin không được. Sau này gặp nhiều người nước ngoài họ đều chung cái ý nghĩ đó. Họ yêu đạo Phật vì cái tính lý trí trong đó cao quá. Chứ còn mà nếu mà bắt niềm tin thì không cần.

[27:06]Họ nói họ chán cái niềm tin từ cái tôn giáo của họ rồi. Cứ vô là bắt tin không, bắt yêu, yêu, tin, tin, yêu riết họ bỏ. Bây giờ họ bắt đầu họ bắt đầu họ mò qua đạo Phật, họ đọc chữ nào nó tràn đầy lý trí. Ví dụ như là một Tỳ-kheo bắt chân ngồi kiết già, diệt trừ tham, diệt trừ sân, xây dựng được cái đạo đức của mình, nhưng cái đó nó lý trí quá, họ yêu điều đó. Cho nên trong hai cái điều để ta yêu đạo, một là ta yêu cái lý trí trong đạo Phật, hai ta yêu cái đẹp trong đạo Phật. Giống như là Thượng tọa Đức Hoàng ổng phân tích ra được cái tâm ổng khi ổng yêu chiếc xe, cũng hai cái đó. Nó tốt là tính lý trí, hai màu đỏ rồi đẹp,

[27:51]liếc liếc rồi gì, lãnh đạo số một, đẹp, lãng mạn, đó. Thì ta yêu đạo cũng vì vậy. Nên phân tích điều này mà quý thầy, quý cô sau này gieo cái tình yêu đạo cho chúng sinh cũng bằng hai điều này nha. Một là đem cái tính lý trí cho, giải thích cho người ta thấy. Hai là gói cái lý trí đó lại trong cái mẫu mã rất là rất là đẹp. Gói lại trong cái mẫu mã rất là đẹp. Nghĩa là ta nói về nhân quả, nhưng mà nói cách nào cho đẹp, giới thiệu cách nào cho đẹp. Ta nói về vô ngã mà nói cách nào cho đẹp, giới thiệu cách nào cho đẹp. Chứ đừng có nói: "Nè tụi bây, nhân nào quả nấy nha tụi bây. Tụi bây chết là làm cái đó, nửa đọa làm chó chết à".

[28:33]Nói cái đó thôi là người ta bỏ mình đi luôn. Mình phải nói cho khéo, nói cho hợp lý, thấy không? Giống thầy đó đó, nói thì nói cho hợp lý. Ví dụ nói thế này: "Nè, tụi con đừng có chửi bậy, đừng có ghét nhau, giữ gìn khẩu nghiệp". Vì sao vậy? Vì khi tụi con gán cho ai cái điều gì, tụi con sẽ trở thành điều đó. Ví dụ như tụi con gán cho người ta một hình ảnh đẹp, sau này tụi con có một hình ảnh đẹp; còn tụi con gán cho người ta cái thân phận xấu, tụi con sẽ trở thành thân phận xấu. Người ta là người mà mình mắng người ta là thú, chỉ một lời nói, kiếp sau đọa làm thú liền. Còn ví dụ tụi con lúc nào cũng tìm cái hay người khác để

[29:19]khen thì sau này tụi con có một thân phận cao đẹp. Đó mình nói, nói hay, sau khi nói xong đọc luôn bài thơ, nghe ha, đọc luôn bài thơ hoặc là hát luôn bài nhạc luôn thì đó là cái tính thẩm mỹ trong cái việc mình truyền bá. Tức là cái lý trí được gói trong, trong một cái đẹp. Và đó là gì? Thì sau khi sau này quý thầy đi ra là mình gieo rắc được đạo tâm cho biết bao nhiêu con người trên cuộc đời này. Cho nên làm ơn quý thầy quý cô về sửa nghi thức tụng niệm lại giùm.

[29:52]Vừa rồi ở trong trường hạ, chúng tôi bắt quý thầy làm thơ, tập làm thơ. Hỏi ra không ông nào biết làm thơ, hỏi lục bát không biết cách nào gieo vần, gieo điệu làm sao, song thất lục bát không biết, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt cũng chẳng ông nào biết, bắt đầu, bắt đầu bắt học làm lại hết. Mấy thầy ngạc nhiên nói: "Trời ơi, tụi con đi tu, đi học hạ mà thầy bắt con làm thơ?" Không! Làm thơ để làm chi? Để quý thầy là những người sáng tạo ra những nghi lễ khi cần. Bây giờ hỏi quý thầy: nhà đó ông đẻ được đứa con mới một tuổi chết, thỉnh quý thầy tới cầu siêu, quý thầy tụng bài gì? Tụng bài gì mà nó trong tâm linh đứa nhỏ nó siêu thoát,

[30:33]mà lòng người họ thỏa mãn được cái tình cảm thương đau của họ, họ vượt qua cái đau thương đó để họ tu tập? Bài nào? Tìm coi, có chưa? Nói: "Dạ chưa bao giờ có, tụi con lại tụng biến Di Đà." "Ai hiểu không?" "Dạ không ai hiểu hết." "Mình, tụi con hiểu?" "Tụi con cũng không hiểu luôn." Xong chuyện. Truyền đạo cái đó là cái gì? Mình đi tụng một buổi đám, ngoài cái việc là dùng cái tâm linh an ủi người ta, còn có cái trách nhiệm hoằng pháp trong đó nữa. Mà quý thầy lúc đó, nếu quý thầy biết làm thơ, à chiều chiều phải không, chiều đi tụng, trưa chiều thì tới bắt đầu quý thầy ngồi viết một bài thơ liền:

[31:10]"Con ơi, con chết làm chi để cho ba mẹ là..." nghĩa là ừm là là là đường đi cái là là là khổ sầu, ví dụ vậy. Là mình ngồi mình viết luôn một bài sám vừa là nói lên cái tình cảnh hợp tình hợp lý của họ, vừa bắt đầu nâng lên từ từ cái đạo lý cho họ nghe. Lúc đó sáng tạo liền. Rồi, ví dụ như là nói: "Bây giờ đó, ông ngoại cái người đó chết, ở đây quý thầy có cái bài sám nào chuyên dùng cho nó?" Nói: "Chưa." Vô cái bài là "Mẹ ơi", ông ngoại chết mà về có cái bài sám "Mẹ ơi" chết à? Ơ mẹ con nó ăn không? Không ăn. Quý thầy viết liền một cái bài đó ra. Rồi bây giờ có cái lễ cầu quốc thái dân an, trong đạo Phật có cái nghi thức đó chưa? Nói:

[31:54]"Dạ chưa." Quý thầy viết liền giùm. Bữa đó cái nghi thức đó đáp ứng được cái gì? Bên cán bộ chính quyền người ta tới à, vì cầu quốc thái dân an nghe cái ý nghĩa lớn, thế nào cán bộ chính quyền người ta cũng tới dự. Có khi tôn giáo bạn tới dự, có những người không biết đạo cũng tới dự. Trong đạo Phật có nghi thức đó chưa? Chưa, quý thầy làm ơn viết lại giùm. Mà bài viết làm sao thỏa mãn được hết tâm tình của mọi người. Mà trong một buổi làm lễ cầu quốc thái dân an cái nghi thức mới đưa ra đó, làm cho mọi người yêu đạo lên liền, vì cái tính đẹp và cái tính lý trí đó của cái nghi thức đó. Cho nên nói:

[32:29]"Quý thầy phải biết làm thơ." Để chi? Luôn luôn sáng tạo, luôn luôn đổi mới, làm cho đạo mình cứ càng ngày càng phát triển. Còn cứ xưa bày nay bắt chước, có bao nhiêu kinh xưa giờ cứ tụng y chang, không thay đổi gì hết, cứ Đại bi, Bát nhã, Đại bi, Bát nhã riết, đạo Phật tiêu luôn, không ai tới chùa nữa. Tôi nói thẳng câu đó đó. Không ai hiểu gì Đại bi, Bát nhã. Có một lần vậy á, chúng tôi được mời tới dự một cái lễ cầu siêu liệt sĩ. Nhưng mà được mời tới không có để làm tổ chức, chỉ mời tới mình phụ, kêu Phật tử tới cho đông, rồi phụ lo tiếp khách đời sống, cho nên mình không được tham dự trong tổ chức.

[33:07]Thì thôi mình cứ ai kêu sao làm vậy, nghĩa là ai giao việc gì làm việc đó, không bao giờ nề hà, không bao giờ đòi hỏi, không bao giờ thắc mắc, chỉ quan sát thôi. Thì cái lễ hành chánh cái nọ nói qua nói lại hết một tiếng rưỡi, hơn. Sau đó tới phần nghi lễ tâm linh, thì có một ông thầy tụng rất hay, rất nổi tiếng lên tụng bài Bát nhã, ba chú vãng sanh hết. Trời ơi, xuống tôi cự mấy... tôi tôi tôi nghe xong tôi cự quay qua tôi cự mấy hòa thượng quá chừng, mấy hòa thượng ở trung ương. Nói thầy coi coi có nghi thức như vậy rồi thầy nghĩ coi những người đến dự họ có cảm xúc không? Những Phật tử họ chưa hiểu gì họ có cảm xúc không? Không.

[33:45]Mà cái nghi thức tâm linh mới là quan trọng. Người ta đến chùa làm lễ vì người ta chờ cái nghi thức tâm linh, chứ không phải chờ mấy bài diễn văn của cái nghi thức hành chánh. Nhưng mà không có, quý thầy không có nghi thức nào đáp ứng được tâm tình người ta hết. Đây là cầu siêu liệt sĩ, mình chưa có một nghi thức nào để cầu siêu liệt sĩ, mà đạo Phật mình là trùm khắp, đạo Phật mình là "nhất thiết pháp vô phi Phật pháp", không có cái gì mà không phải Phật pháp. Thế tại sao mình không lý giải được, không ứng dụng được vào trong mọi tình huống mà mình khô khan đến như vậy, nghèo nàn đến như vậy? Mấy ngàn năm đạo Phật rồi mà đến bây giờ nghi thức còn nghèo

[34:19]nàn đến vậy, đụng chuyện không có cái gì để xài hết. Nhiều lúc tôi rất là cự quý thầy. Cho nên vừa rồi trong trường hạ đó, mấy thầy học làm thơ. Đụng chuyện quý thầy biết làm thơ, viết ra một nghi thức liền thì lúc đó đáp ứng cái tâm tình liền. Vừa có đạo lý, vừa có cái đẹp ở trong đó, mới đem được cái tình yêu đạo đến cho mọi người. Nhớ cái tình yêu đạo của ta trên hai lĩnh vực, một là gì? Lý trí; hai là: cái đẹp. Nhớ điều đó mà suốt đời quý thầy nhớ điều này để đem đến đạo tâm cho mọi người nha. Và nhớ cho cả cái thế giới này luôn. Nhất là Phật đã cho ta cái tính lý trí tràn ngập trong tất cả các đạo lý rồi.

[34:58]Phần còn lại là chúng ta đem cái lý trí đó giới thiệu và giới thiệu trong cái gì? Trong cái thẩm mỹ, trong cái đẹp nhất cho mọi người xúc cảm, xiêu lòng, chấp nhận rồi yêu thương. Trách nhiệm là như vậy.

[35:19]Rồi cái tình yêu đạo trong đạo Phật của chúng ta, nó có cái hay là nó có tính thăng bằng, quân bình, chừng mực, sâu lắng, đậm đà mà nhẹ nhàng, không giống như một số tôn giáo họ không có cái tính lý trí cao, họ chỉ phát huy cái tin yêu, tin yêu rồi cái nó trở thành cực đoan. Cái hay của đạo Phật của ta là gì? Không cực đoan. Cái đạo tâm của ta là tình yêu với đạo nhưng cái đạo tâm trong đạo Phật nó không tạo thành một sự cực đoan. Vì sao? Vì sao cái tình yêu đạo của ta, gọi là cái đạo tâm của ta trong đạo Phật nó không đưa đến cái cực đoan, mà nó đưa đến sự thăng bằng, chừng mực trong tâm hồn của mình?

[36:14]Hỏi lại nha. Ta biết cái trong bốn cái chữ đạo này thì đạo tâm là tình yêu đối với đạo pháp. Mà tình yêu đối với đạo pháp của ta nó do hai cái nguồn: một là cái nguồn từ quá khứ, là kiếp trước ta đã có duyên với Phật pháp rồi, kiếp này sinh ra tự nhiên ta cái tình yêu nó khởi phát trở lại. Cái lý do thứ hai là của kiếp này. Mà của kiếp này, cái tình yêu của ta đối với đạo nó cũng trên hai tính chất: một là ta yêu cái lý trí trong đạo Phật, cái tính lý trí trong đạo Phật; hai là ta yêu cái đẹp của đạo Phật nha. Đó. Và cái đạo tâm đó, cái tình yêu đạo đó ở trong đạo Phật đó không đưa đến cực đoan,

[36:56]không đưa đến cuồng tín, mà đưa đến một sự chừng mực, thăng bằng trong tâm hồn của ta. Rất khác với một số tôn giáo mà họ yêu đạo họ rồi họ cực đoan liền, còn ta không bị cái đó. Cho nên ta mới dung hòa cái tình yêu đạo của ta với rất nhiều tình yêu khác trong cuộc đời này. Ví dụ như ta yêu nước, ta yêu nhân loại, ta yêu gia đình, ta yêu rừng, ta yêu từng cái cọng lá xanh, ta yêu từng ngọn cỏ, ta yêu được cái nghệ thuật. Nên cái tình yêu đạo của ta nó thăng bằng, nó chừng mực, không cực đoan nên ta ta yêu được rất nhiều thứ. Và nhất là cái tình yêu nước cũng vậy, à hoàn toàn không trái ngược gì với đạo lý cả, rất là hay.

[37:38]Do đâu? Do đâu mà cái tình yêu đạo của ta nó không bị cực đoan mà nó đạt được một sự thăng bằng, chừng mực, nhẹ nhàng như vậy mặc dù cái tình yêu đạo của ta cực kỳ đậm đà, sâu sắc? Thì câu hỏi là như vậy, do đâu? Do đâu? Cái này hơi khó đó nha, coi vậy chứ khó trả lời lắm đó người. Cô đó. Dạ Nam Mô A Di Đà Phật. Dạ kính bạch trên Thượng tọa giảng sư, thì theo con thì tình yêu trong đạo Phật nó không mang tính cực đoan bởi vì

[38:20]tình yêu trong đạo Phật nó mang tính trí tuệ, bình đẳng. Người con Phật thì sẽ yêu thương tất cả mọi người, mọi loài giống như là thân bằng quyến thuộc của mình và ban rải một tình thương không có giới hạn, giống như Đức Phật đã từng dạy rằng không có sự biệt thị trong giọt nước mắt cùng mặn và trong dòng máu cùng đỏ. Dạ A Di Đà Phật.

[38:41]Con nói nghe rất hay phải không? Nói rất lưu loát. Cái cách con nói là sau này con đi thuyết pháp ngon lành lắm á, phải cho tràng pháo tay. Con nói gần tới mà con nói chưa tới lắm, nhưng mà vậy cũng cũng thôi được, vì câu hỏi này hơi khó, thầy nói là câu hỏi này hơi khó. Ngồi xuống đi con, đưa qua quý thầy.

[39:04]Mô Phật kính bạch thầy, theo con nghĩ thì đạo tâm được xây dựng trên hai yếu tố là: lý trí và cái đẹp của Phật, đạo Phật. Vì vậy vì có lý trí nên sẽ trang bị cho chúng ta một cái đời sống không rơi vào trạng thái cực đoan, và từ cái nhìn cái đẹp của đạo Phật đó là tâm từ và đời sống thanh bạch. Hai yếu tố hai yếu tố đó sẽ làm cho mình có cái đời sống chừng mực và cân bằng.

[39:30]Ừm ừm cái câu trả lời thì lại gom cả hai câu này vô, gom hai câu này vô. Nói chung có thể nói gần tới. Nhớ sau này khi mà sau này quý thầy quý cô đi giảng pháp thì để ý tới cái định nghĩa một chút, khi mà định nghĩa nó rõ vấn đề ra cái thấy liền. Ví dụ cái câu hỏi là: tại sao cái tình yêu đạo pháp trong đạo Phật nó không đưa đến cực đoan, nó giữ cho ta vừa đậm đà sâu sắc mà chừng mực thăng bằng? Ta định nghĩa chữ cực đoan liền là nó vỡ vấn đề ra liền. Cực đoan là gì? Dồn hết cho một cái. Phải không ạ? Dồn hết cho một cái, bỏ hết những cái khác, coi thường những cái khác, gọi là cực đoan. Định nghĩa cái đó xong rồi mình thấy làm sao?

[40:13]Nó ngược với đạo lý của đạo Phật liền, thấy không? Đạo Phật là yêu hết tất cả. Thầy vừa nói, phải không, cái từ bi. Đó, yêu hết tất cả thì không có cái chuyện mà dồn hết cho một cái mà ghét hết tất cả, bỏ hết tất cả. Nên chính cái đạo lý này, tính lý trí này giữ cho ta không được phép mà dồn hết cho một cái, nghĩa là không cực đoan. Ta định nghĩa chữ cực đoan xong là ta thấy liền, vỡ vấn đề ra liền, nhớ như vậy nha. Sau này khi đi thuyết pháp, sợ nhất là mình nói người ta không hiểu gì hết. Mà nói tới đâu người ta hiểu tới đó, nói tới đâu người ta hiểu tới đó, bởi vì những cái từ nào mà nó kẹt, khó hiểu, ngay đó mình gỡ ra liền, gỡ ra liền.

[40:54]Nhớ như vậy. Đó là một trong những cái mà kỹ thuật để mà thuyết pháp sau này. Cái tình yêu đạo khi có rồi đừng tưởng là có mãi. Vì nếu ta không vun đắp, không bồi dưỡng, không xây dựng, nó mất dần à. Nên vì vậy, cái tình yêu đạo phải được vun đắp mãi, xây dựng mãi, nuôi dưỡng mãi. Nhớ như vậy. Ví dụ, ngay cả người xuất gia mà ta yêu đạo đủ để mà từ bỏ thế tục bước vào đạo, tình yêu đó mạnh lắm à. Vậy mà chắc chưa? Chắc chưa? Chưa chắc đâu nha. Vì một ngày nào đó có một cái gì đó nó rùng rợn hơn đạo nó tới, nó mời gọi mà nhiều người đã xách gói ra đi đó, chứ không phải không đâu. Có chưa ạ? Có rồi, cho nên ta phải vun đắp mãi.

[41:49]Cũng giống như là sau này quý thầy quý cô mình lớn lên làm thầy, mình có đệ tử, mình phải đi dạy nơi này nơi kia, thì cái trách nhiệm của quý thầy quý cô là gì? Nuôi dưỡng đạo tâm của Phật tử. Nhớ. Nói cho mênh mông, đủ chuyện, mà gút lại một điều trách nhiệm của tăng ni là gì: nuôi dưỡng đạo tâm cho Phật tử. Họ có đạo tâm rồi họ mới đến chùa. Nhưng bây giờ nếu không nuôi, đạo tâm nó mất à. Mà đạo tâm nó mất tức là đạo Phật mất lần đó. Cho nên quý thầy quý cô phải bằng rất nhiều cách thức nuôi dưỡng đạo tâm cho Phật tử. Nuôi dưỡng nó bằng cái gì? Cách gì? Chính mình cũng vậy, chính mình cũng phải vun đắp nuôi

[42:35]dưỡng bồi dưỡng đạo tâm của mình mãi bằng cái gì? Bằng sự tinh tấn tu tập. Khi mà ta tinh tấn tu tập, đạo lý thấm nhuần ta thì cái đạo lý của Phật có cái hay là tự trong đó đã là đã là sự an lạc, là hạnh phúc, là trí tuệ, là chân lý. Thì ta càng tu thì cái đạo tâm nó càng lớn, lớn cho tới khi chứng thánh luôn. Thì cái người tu ta cứ như vậy mà ráng tinh tấn tu. Còn người Phật tử rất là đáng thương, họ gia duyên, bộn bề đủ thứ chuyện, lúc nào cũng phải ở ngoài thế tục của gì? Của tham, sân, si, giận hờn, ích kỷ, đua tranh, ái luyến, ôi đủ thứ chuyện. Cho nên đạo tâm của họ đang bị một triệu thứ bao quanh nó đánh.

[43:17]Chưa nói tới chuyện những kẻ xấu, những thế lực giặc mà muốn diệt đạo Phật, thả người đi rỉ tai nói bậy. Nhớ nha. Hôm nay ta chưa nói về vấn đề này. Nếu lúc nào khác hoặc là không gặp lại, quý thầy quý cô tư duy giùm vấn đề này. Cái đạo tâm của Phật tử bị một triệu thứ bao vây quanh nó, nó đánh. Trong đó có một yếu tố cực kỳ nguy hiểm: có những thế lực xấu có tổ chức thả người đi nó rỉ tai nói bậy. Rỉ tai nó nói xấu thầy này, nó nghi ngờ cái đạo lý kia, riết rồi người ta lung lay mất đạo tâm hết trơn. Cái đó nguy hiểm lắm. Nên việc mà bảo vệ cho người Phật tử thoát khỏi những cái cái sự chống phá đó là cả một công trình vất vả của quý thầy cô đó.

[44:01]Nhưng ở đây người Phật tử á, lúc nào họ sống trong thế tục, sống trong cái cảnh đời nghĩa là bươn chải, ngược xuôi, đấu tranh, trong đó đầy hơn thua, oán thù, sân hận, ích kỷ, dục lạc, cám dỗ, nên cái đạo tâm của họ bị cả triệu thứ bao vây nó đánh. Quý thầy quý cô phải nuôi dưỡng, bảo vệ, giữ gìn, vun đắp cái đạo tâm cho Phật tử. Vun đắp mãi suốt cuộc đời cho tới khi quý thầy cô chết, đệ tử mình nổi lên làm tiếp chuyện đó. Vun đắp, bồi dưỡng, giữ gìn đạo tâm cho Phật tử bằng cách gì? Cô này. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch thượng tọa giảng sư, theo như con thì để nuôi dưỡng đạo tâm cho người Phật tử thì có những bước như sau:

[44:50]Trước tiên người vị thầy tăng hoặc ni đó phải tự trang nghiêm thân mình bằng giới đức hoặc bằng những oai nghi tế hạnh, để từ họ sẽ toát ra một cái vẻ đẹp của người tu sĩ làm cho người Phật tử ngày càng cảm mến hơn đối với vị thầy đó. Thứ hai, là vị thầy đó phải đem giáo lý của đạo Phật để giảng dạy cho người Phật tử hiểu những giáo lý căn bản như: khổ, vô thường, vô ngã, vân vân, thì với những giáo lý đó bằng sự lý trí bằng lý trí sự suy nghĩ của người Phật tử họ sẽ cảm nhận được rằng giáo lý của nhà Phật thật gần gũi, bình dị, dễ hiểu nhưng thật là chính xác. Thứ ba, khi người Phật tử đã đến với đạo học hỏi giáo lý

[45:30]tin hiểu rồi thì người thầy đó phải hướng dẫn họ phương pháp hành trì, tu tập như thế nào để thân tâm được an lạc, tinh tấn, tinh thần được thoải mái nhẹ nhàng hơn, thì khi Phật tử có được lợi ích thật sự khi theo đạo Phật thì đạo tâm của họ sẽ ngày càng được tăng trưởng. Con xin hết ạ. Cho tràng pháo tay đi. Cô nói rất là đúng, rất chính xác. Dĩ nhiên ta còn bổ sung được một số điều nữa, nhưng mà thôi, ta không còn thời gian nên không đào sâu. Quý thầy quý cô tư duy thêm nha, tự tư duy thêm. Thôi ta bỏ qua phần đạo tâm, bắt đầu nói tới đạo hạnh. Đạo hạnh là sự thực hành tu tập nha, mà cái sự tu tập đó nó đủ chín muồi để nó hiện ra đạo lý nơi thân và khẩu.

[46:17]Ý không nói, ý bí mật rồi không nói. Ý là cái tu rồi, nhưng mà thân khẩu ta bắt đầu hiện ra, đạo lý hiện ra nơi đó, gọi là một người có đạo hạnh. Nghĩa là người đó phải có sự tu tập có bề dày. Còn mình có tu tập mà nó chưa có bề dày, nó chưa hiện được ra trong cuộc sống của mình, trong thân trong khẩu mình thì ta chưa gọi người này có đạo hạnh, mặc dầu bên trong họ có tu tập, là chưa chín muồi đó. Về cái đạo hạnh tu tập thì ta có gì? Có ba cái tu, thấy không? Tam nghiệp: thân, khẩu, ý, vậy đó. Trong cái ba nghiệp thân, khẩu, ý này thì có cái dễ nhất, có cái khó nhất và có cái cực nhất.

[47:06]Nhắc lại nha, quý thầy cô đoán giùm. Nói tu thì ta tu theo tam nghiệp: thân, khẩu, ý. Trong thân, khẩu, ý này có cái dễ nhất, có cái khó nhất và có cái cực nhất. Ai ráp giùm ba cái dễ, khó, cực vô thân, khẩu, ý cho nó đúng giùm. À, cái dễ nhất, cái khó nhất và cái cực nhất ráp vô giùm ba cái thân, khẩu, ý cho nó chính xác coi. Ai? Giơ tay lên. Nam Mô A Di Đà Phật, kính bạch Thượng tọa giảng... Dạ thưa sư, theo con thì khẩu là tu dễ nhất. Đúng. Kế tiếp? Vậy là tu cực nhất đó là thân. Chính xác. Vậy còn lại cái thứ ba là gì? Tuyệt vời. Ừ đó, cho 10 điểm cô này.

[48:00]Lát nhớ cho cái phần thưởng đặc biệt cô này nha. Rất chính xác luôn. Miệng tu dễ nhất, phải không ạ? Cứ tụng mà bản tụng đó người ta in sẵn à, chỉ mở nói cho nó hay thôi, khỏi phải suy nghĩ nhiều. Miệng là tu dễ nhất, mà dễ đọa địa ngục nhất cũng cái miệng, chửi bậy cái xuống địa ngục liền. Mà ta khen đúng vị thánh là phước ta tăng lên liền. Miệng tu dễ nhất. Cực nhất là thân, đúng vì thân ta phải sống, phải hành động, phải làm, phải đi thương người này, phải giúp đỡ người kia, phải vỗ về an ủi người nọ, phải cản người kia làm bậy, phải giúp người kia làm tốt, cho nên thân là cực nhất. Ý là khó nhất vì sao?

[48:44]Tại sao ý là khó nhất? Cái cô ngồi góc cột này đi. Cô này... Dạ Mô Phật thưa Thượng tọa, con nghĩ ý à ý là khó nhất là bởi vì khi chúng ta muốn làm một việc thiện hay là gì đó phát khởi một cái ý lên để làm không phải dễ. Thành thử nó khó. Không phải dễ là tức là nó khó.

[49:14]Thầy mắt kiếng đó. Kính bạch Thượng tọa giảng sư là ý là khó nhất tại vì ý nó thuộc về phần trong của tâm ý mình không thể nào nhận à có thể nhận ra ngoài được, nhưng mà nó có công năng làm cho hành động và lời nói của mình phát ngôn và là xuất phát ra hành động bên ngoài. Thấy gần đúng rồi mà thầy nói thêm câu nữa đúng. Ý bởi vì nó bên trong không ai thấy, không ai kiểm soát. Chỉ tự mình kiểm soát lấy mình. Còn mình nói có người nghe họ đánh giá, cái mình sợ sự đánh giá của người khác, mình ráng nói cho đàng hoàng. Cái mình hành động, mọi người nhìn thấy, đánh giá nên mình ráng mình làm ra vẻ đàng hoàng, đạo mạo, làm điều tốt.

[49:57]Nhưng cái ý không ai thấy, tự mình mình biết. Rất dễ nghĩ bậy ở trong đầu vì cái ỷ y không ai thấy. Chính là chỗ này. Thầy nói được phân nửa, còn khúc sau nó nói thêm nữa là được 10 điểm mất tiêu rồi. Uổng quá. Thôi được rồi, cảm ơn thầy. Rồi nói chung cũng hay lắm. Cảm ơn những vị đã trả lời nãy, cho tràng pháo tay chung nha.

[50:18]Bây giờ ta tu cái miệng là gồm những điều gì? Thuyết pháp, tụng kinh, đó đàm đạo, đó đó là cái miệng. Dễ không? Rất dễ. Nên thuyết pháp thấy khó, sự thực nó vẫn là một cái việc dễ không phải khó đâu nha. Tụng kinh dễ nữa. Thấy chưa? Đàm đạo dẫn dắt mọi người vẫn là dễ vì nó vẫn thuộc là miệng, dễ nhất. Cái cực á bắt đầu là... là thân. Thân ta phải giữ giới, phải hành điều thiện. Giữ giới tức là không làm điều sai, hành thiện là phải ráng mà làm điều tốt. Một việc tốt nho nhỏ mà ta gặp, ráng làm đừng bỏ qua. Một việc xấu nho nhỏ tưởng là thường, ráng đừng phạm. Dễ không? Cực đó chứ không phải giỡn đâu nha, vì nó cũng lệ thuộc cái ý của ta.

[51:17]Nhưng mà nơi cái thân phải chịu cực, đó. Chịu cực, ví dụ như là... Hôm đó đã tới lúc ta về chùa, trời cũng chiều tối, à tới lúc ta phải về chùa. Tự nhiên cái người Phật tử họ đon đả, họ mời quá đi, họ mời ngọt ngào, nói: "Thầy ở lại ăn tụi con bữa cơm, nay tụi con có tiệc. Phần thầy tụi con có bàn chay ở đây, đàng hoàng ở đây, cúng tân gia tụi con vui vẻ, nhà ở nước ngoài về, có bà con về thầy ở đây." Lúc đó một bên mình đấu tranh là về chùa cho nó thấy đúng giờ, chiều tối rồi. Hai là cuộc vui mà Phật tử mời mọc ân cần, tình cảm quá. Chút xíu đó thấy cực đó. Lúc đó mình phải dứt khoát. Dứt khoát coi nó cũng không thành gãy giới luật nghiêm

[52:01]trọng, nhưng mà trong tâm mình có chút dứt khoát: "Không, thầy về. Thầy chúc buổi vui này, cuộc vui này cho gia đình mọi điều tốt lành nha, nhưng mà thầy phải về." Một chút ta từ chối ta thấy có vẻ giống như là ta cắt cái tình cảm của người Phật tử. Nhưng đổi lại, đổi lại suốt cuộc đời ta được cái gia đình đó kính trọng. Quý thầy quý cô nhớ giùm điều này để mà rút kinh nghiệm trong cuộc đời tu hành giáo hóa của mình. Có những khi mình mình thấy mình cần cái tình cảm vì Phật tử họ giúp đỡ, họ cúng dường mình mà. Cho nên nhiều khi mình hãy chiều Phật tử để được tình cảm, nhưng được chút tình cảm ta mất nhiều thứ lắm.

[52:46]Còn ta hơi nghiêm khắc một chút, thấy có vẻ như mất tình cảm một chút, nhưng đổi lại ta được cái sự kính trọng suốt đời của họ. Họ giận ta xíu họ lẫy họ về, giẫy bỏ nhà: "Thầy vậy mà thầy bỏ con thầy đi." Nhưng mà đêm họ nằm ngủ họ vắt tay lên trán là họ kính trọng ta suốt cuộc đời. Nhớ rút kinh nghiệm này mà tu. Giữ giới cũng là vậy đó. Nhớ, đừng chìu tình cảm họ. Mình cũng rất thương. Đó, nhưng mà có những lúc nghiêm khắc thấy như mất tình cảm, nhưng ta được cái khác lớn hơn nhiều. Đó là vấn đề tu thân, giữ giới, hành thiện. Việc gì tốt làm được đừng từ nan, đừng từ nan. Nhặt một cái cái cái cái miếng rác mà mình thấy được đừng từ chối.

[53:33]Đi ngoài đường có cục đá nó nằm giữa đường, dừng xe lại bỏ qua. Những việc rất nhỏ rất nhỏ đừng bỏ sót việc nào hết. Như vậy trong suốt cuộc đời thì ta có nhiều cơ hội để hành thiện lắm. Nhớ đừng bỏ qua, chắt mót từng chút cái việc đó để thành cái phước cho cho đời mình về sau. Vì sao vậy? Bởi vì cái phước lớn ta mới giáo hóa chúng sinh được. Nhớ nha, Bồ Tát muốn hóa độ chúng sinh phải phước lớn phi thường. Nhớ điều đó. Phước nhỏ nói người ta không nghe. Nhớ. Muốn nói người ta nghe, phước phải lớn. Chưa cho người ta đồng nào nhưng mà cái uy đức từ cái phước mình tỏa ra, nói người ta nghe lời. Hòa thượng Thanh Bích ở ngoài Bắc

[54:22]cụ mất năm trên 100 tuổi, người nhỏ thó, hiền lành, hư vô. Những người mà ở gần cụ xưng cụ là Bồ Tát. Thì cả cuộc đời cụ nó tích lũy nhiều cái hay. Nhưng mà có câu chuyện này, một câu chuyện nhỏ để ta hiểu về cụ chút xíu này thôi. Lúc đó một cái liêu lớn chung vậy đó, có nhiều thầy ở, dường như đó cũng trong mùa hạ. Cái nửa đêm Hòa thượng mắc đi giải, rón rén xuống giường mở cửa đi ra nhà vệ sinh rồi đi vô. Đi vô thì không biết ông nào ổng gài chốt, ổng cứ tưởng là quên đóng cửa ổng gài chốt lại mà ổng không kiểm tra các cái đơn là thiếu người. Ổng chủ quan ổng gài, đến ngài vô ngài mở cửa không được ngài biết là cửa đã bị gài.

[55:09]Mà nếu ngài gõ thì động hết toàn cả liêu.

[55:14]Không nỡ để động hết toàn liêu để cho chúng ngủ, mà khuya sớm còn dậy tụng kinh công phu. Ngài lặng lẽ ngồi chờ ngoài cửa yên lặng cho tới khi mà chuông báo thức chúng mở cửa ra ngài mới đi vào. Cái sức chịu đựng chút xíu, câu chuyện nhỏ thôi mà người ta hết hồn vì cái tâm hồn cao cả đó. Chút xíu thôi, ngồi chịu đựng sương gió, sương ngủ ngoài sân muỗi cắn mà không nỡ để động chúng. Mấy đó, chút chút đó. Những cái tấm gương đó cái gọi là đạo hạnh đã chín muồi nên nó hiện ra đạo lý trong lời nói và cuộc sống của mình. Ở đây vậy, suốt cuộc đời chúng ta, ta cố gắng chiêm ngưỡng những cái tấm gương đạo hạnh của vô số những bậc tôn túc,

[56:04]ghi chép lại, ghi sổ lại để mình đọc, mình nhớ và kể cho người khác nghe, nha. Để thành những tấm gương đạo hạnh cao siêu thanh thoát nhẹ nhàng mà vĩ đại như vậy. Đó là về thân giáo đó. Còn ý, tu ý thì sao? Nhớ hai điều: tu ý thì là khó nhất vì chẳng ai biết mình cả, chẳng ai biết mình làm gì trong tâm mình cả nên nó khó là vậy, tự mình kiểm soát lấy mình, tự mình làm thầy lấy chính mình. Thì tu ý là xây dựng hai điều: một là đạo đức, hai là tâm thanh tịnh trong thiền định. Nhớ như vậy. Hồi nãy quý thầy cứ nói tới tác ý tác ý đó, là nó đó. Tức là ta phải tác ý Theo đúng với đạo lý, gọi là như lý tác ý,

[56:53]thường suy nghĩ những điều đúng với đạo lý để xây dựng tâm hồn mình. Ví dụ sao? Ví dụ như tâm mình mà bỏ không một cái, tự nó nghĩ bậy theo bản năng. Thẳm sâu mình là ích kỷ mà, tự nhiên mình là tham lam, tự nhiên mình là sân si, nó tự nhiên. Nếu mình đừng có tác ý gì trơn, đừng có nghĩ gì hết, tự bắt đầu nó cứ khởi bậy, khởi bậy, khởi bậy lên, vì bản năng nó có sẵn. Vì vậy, ta cứ phải tác ý tạo ra những ý nghĩ tốt lành để xây dựng lại tâm hồn mình. Những ý nghĩ tốt lành đó là gì? Thứ nhất, tác ý về sự khiêm hạ. Ví dụ ta đứng trước một hội chúng thế này, trong tâm mình lúc nào nghĩ mình chỉ là đất bụi mà thôi.

[57:38]Đó là tác ý khiêm hạ, cứ nghĩ đi nghĩ lại, rồi một lát nó trồi đầu lên cái nó nghĩ mình hơn người ta à. Nó trồi đầu lên cái là bắt đầu nó có những ý nghĩ kiêu mạn. Ừ cái người kia không đẹp bằng mình, mình coi tướng mình ngon hơn, mình đẹp hơn, bộ râu mình ngon lành hơn ông kia đồ, tức là cái tự nó nghĩ là những điều hơn thua. Tự nó, cái bản ngã mình tự nó, mình không không muốn, hoàn toàn mình không muốn đâu, mình không muốn tâm mình nghĩ bậy, nhưng mà những bản năng, những kiết sử có sẵn, tự nó tuôn ra những ý nghĩ xấu, nó làm cho tâm mình xấu thêm. Cho nên, lúc nào mình phải chủ động tác ý xây

[58:13]dựng những cái tâm tốt cho tâm hồn mình. Đầu tiên là khiêm hạ. Thầm một mình cũng nhắc mình chỉ là đất bụi, nằm ở trong đại chúng, trong hội chúng, nhớ mình nhắc mình tác ý rằng mình chỉ là đất bụi. Nhắc tới nhắc lui mười năm như vậy, bắt đầu nó mới thuần. Tâm đó nó thuần cái sự khiêm hạ, nó thuần cái sự khiêm hạ, rồi sau này quý thầy, quý cô bắt đầu đi làm Phật sự, có nhiều vị có duyên mình làm những Phật sự lớn. Ví dụ trong số quý thầy, quý cô bây giờ còn trẻ ngồi đây, lớn lên biết đâu mình làm giảng sư nổi tiếng, biết đâu mình làm những chức vụ quan trọng trong giáo hội, biết đâu có nhiều cái vị trọng vọng mình không biết được.

[58:58]Tới cái ngày đó xảy ra, nhưng mà nhờ trước đó mười năm mình đã tác ý khiêm hạ rồi, cho nên khi mình bước vào mình làm những việc đó mình như hư vô, làm mà không bao giờ kiêu mạn. Bước lên giảng một bài thuyết pháp trước hàng bao nhiêu ngàn con người, vì đó ai cũng yêu cũng quý, bước xuống rồi như hư vô, như chưa từng nói một chữ. Nhìn nét mặt không hề có một chút đắc ý, nhìn nét mặt không có một chút hớn hở, vẫn bình lặng như chưa giảng một lời nào. Hoặc lên cái chức lớn, ví dụ làm chức luôn Trưởng ban Trị sự, mà mình nhìn cái thái độ nét mặt cứ như là một cái tăng chúng bình thường, không có một chút gì kiêu mạn, làm ra vẻ gì cả, không có một chút kiêu mạn nào.

[59:45]Nhờ gì? Nhờ mười năm tác ý khiêm hạ, lúc nào cũng nhắc mình, dặn mình mình chỉ là đất bụi hư vô mà thôi. Cái tác ý đó, nhắc tới nhắc lui, nhắc tới nhắc lui vậy. Cái tác ý thứ hai rất quan trọng nữa là tâm từ bi. Nhớ nghe. Đừng làm gì hết thì ta chỉ yêu thương được một vài người chung quanh ta thôi, nhớ. Vì cái kiết sử của sự ích kỷ, ái luyến nó ép ta chỉ dồn tình yêu thương cho một vài người gần gần. Ví dụ người thế gian thì họ yêu nhất là gia đình họ, vợ mình, chồng mình, con mình, rồi có lý trí một chút thì mới cha mẹ mình, mới anh chị em mình, có lý trí hơn nữa bắt đầu mới tới gần hơn bạn bè, thân quyến, đồng nghiệp, đồng chí, vân vân. Đó.

[1:00:32]Nhưng mà mình là đệ tử Phật, cái tình yêu thương đó phải trải rất là rộng, phải trải rất là rộng hết cả chúng sinh. Đó là lý tưởng, dĩ nhiên ta cũng chưa đạt được cái tâm đó nhưng cứ nhắc hoài trong tâm mình, cứ tự mình nhắc lấy mình: "Nguyện lòng yêu thương tất cả chúng sinh, xin cho con được yêu thương tất cả chúng sinh." Cứ lạy Phật cũng nói câu đó, ở một mình cũng nói câu đó, cứ nhắc đi nhắc lại câu đó để cho cái tác ý ái luyến, ích kỷ nó đừng khởi lên được vì ta đã nhắc đi nhắc lại, ta lấy cái tâm từ bi chặn nó rồi, cứ nhắc đi nhắc lại trong ngày của mình, nhắc đi nhắc lại mãi. Mười năm sau, nhớ mười năm sau,

[1:01:14]ta mới bắt đầu có một chút từ bi le lói trong tâm mình. Nhớ như vậy nha. Chứ đừng tưởng là mình đọc một bài kinh nói về từ bi là mình có từ bi, chưa, chưa có một hột bụi từ bi nào cả. Còn mình tự quán từ bi nhắc tới nhắc lui này, trong ba năm cũng chưa có một chút từ bi nào, nhớ vậy, mười năm trở lên. Mười năm quán từ bi, mười năm dặn lòng, mười năm nguyện lòng mình, bắt đầu mới có một chút từ bi xuất hiện le lói trong tâm, chút xíu thôi chưa nhiều, nhưng mà từ đó cuộc đời ta bắt đầu thay đổi, lòng mình trải rộng và chư Thiên bắt đầu nhìn thấy người đó. Nhớ trong tâm vừa nhóm một chút xíu từ bi là động lên tới cõi trời

[1:01:56]liền, còn trước đó mười năm chưa có thì mình cũng như mọi chúng sinh phàm phu chư Thiên chả ai thèm để ý mình đâu, nhớ như vậy. Và khi mà ta nguyện lòng yêu thương được mọi người thì nó có cái cái rõ nhất nó hiện ra là thế này, tự nhiên ta yêu thương được người đồng đạo, đồng tu. Mà trong các hòa thượng hay nhắc tới nhắc lui bằng cái từ là tình linh sơn cốt nhục. Tình linh sơn cốt nhục là gì? Là tình thương yêu, quý trọng giữa những người xuất gia với nhau dù không cùng thầy tổ, dù chẳng cùng tông phái. Ông đó ở nước nào đó, ông ở miền Bắc, miền Trung đâu đó, mình trong đây chả dính thầy tổ gì hết,

[1:02:36]nhưng biết đó là một tu sĩ Phật giáo, tự mình yêu thương liền, yêu quý liền, tự nhiên, không đòi không bắt là do gì? Do cái đạo hạnh mình đã sâu dày thì cái tình linh sơn cốt nhục nó hiện ra liền. Còn nếu chưa, thì cái chữ mà tình linh sơn cốt nhục mà các chư hòa thượng hay nhắc ta chỉ là một lời nói đầu môi chót lưỡi. Nhớ như vậy. Nên vì vậy, cái tác ý thứ hai để xây dựng đạo đức ta là lòng từ bi. Mười năm mới xong, nhớ như vậy. Tác ý thứ ba mà là cái lõi, lòng tôn kính Phật. Thường thì ít ai đủ lòng tôn kính Phật. Có đọc kinh, đọc chữ đồ gì đó thì cũng kính kính Phật hơi hơi, ngày nào cũng bắt lạy Phật thì lạy giống như là đã kính Phật rồi.

[1:03:26]Nhưng sự thật cái lòng tôn kính Phật sâu sắc chúng ta chưa đủ đâu. Nên lúc nào cũng vậy, đọc kinh Phật để hiểu sâu, thực hành kinh Phật để thấm sâu, rồi tự dặn lòng mình là phải tôn kính Phật. Không cần hiểu nữa, cứ phải dặn lòng mình tôn kính Phật. Và mười năm, cũng vậy cũng phải mười năm, bắt đầu nó xuất hiện một cái tình cảm gọi là tôn kính Phật. Mà nó xuất hiện đủ rồi, nó mà đủ một cái rồi, ngay tức khắc ta chứng quả Tu-đà-hoàn liền, nhớ như vậy. Nhớ cái tình cảm mà tôn kính Phật đủ rồi, ngay đó ta chứng Thánh quả đầu tiên liền. Nó hiệu nghiệm như vậy, vĩ đại như vậy, thiêng liêng như vậy, mầu nhiệm như vậy.

[1:04:08]Nên cái tình cảm mà tôn kính Phật cũng vậy, ta cứ nhắc tới nhắc lui, nhắc tới nhắc lui trong tâm mình để nó chặn hết những cái tác ý bậy bạ, những cái vọng tưởng bậy bạ của kiết sử, của bản năng. Đó, nên ba cái tác ý căn bản mà ta cứ phải thường nhắc tới nhắc lui để xây dựng tâm hồn của mình là thứ nhất là khiêm hạ, nghĩ mình như đất, như bụi, như cỏ, như rác thôi. Hai là từ bi, đó, nguyện lòng mình yêu thương chúng sinh. Ba là lòng tôn kính Phật. Nhớ như vậy. Ba cái này như là một cái ghế cái bàn mà có ba cái chân vạc, khi mà ta tác ý được ba cái tâm hạnh này rồi thì vô số những đức hạnh khác

[1:04:51]dựa trên đó nó nảy sinh, nó phát sinh, tuôn trào, dâng trào đầy hết, bắt đầu ta đạo đức từ từ, đạo đức từ từ, vô số những tế hạnh chút chút chút chút chút chút nó hiện ra hết đầy trong khắp cuộc đời của ta. Thế là lúc đó ta bắt đầu biết nhường nhịn, ừ lúc đó ta bắt đầu biết tùy hỷ cái hay của người khác, lúc đó ta bắt đầu biết buông xả cái mình có để giúp người, lúc đó ta không còn đố kỵ nữa, ừ lúc đó là nhiều thứ nhiều thứ, vô số tế hạnh, gọi là tám muôn tế hạnh mà, hiện ra dần dần, dần dần, từ ba cái tâm hạnh căn bản đó thôi: khiêm hạ, từ bi, tôn kính Phật, từ cái đó. Đó là tu ý. Và cái tu ý thứ hai nữa là thiền định, nên bắt buộc phải có thiền định.

[1:05:36]Thiền thì có nhiều cách, nhiều phái. Và cái nhiều cách, nhiều phái đó đôi khi làm ta hoang mang và có những cái cách nó đúng ở giai đoạn này, nó không đúng ở giai đoạn khác. Nhiều khi ta tu thấy nó đúng mười năm, qua khỏi mười năm bắt đầu hư cái não ta. Cho nên, thiền rất là khó. Hôm nay ta không có thời gian để nói, cho nên chỉ dặn quý thầy, quý cô một điều thế này thôi: Thiền tức là nhiếp tâm cho thanh tịnh, nhưng nhiếp tâm thanh tịnh để làm gì? Ta phải xác định cái mục tiêu cho kỹ, trật một cái là thành ngoại đạo liền. Nhớ, thiền là nhiếp tâm cho thanh tịnh, nhưng nhiếp tâm thanh tịnh để làm gì?

[1:06:22]Và tâm thanh tịnh nó có nhiều mức, tịnh sâu dần sâu dần sâu dần, cái định nó sâu dần sâu dần. Và nhớ mục đích cuối cùng đây là vô ngã, diệt trừ bản ngã, nhớ giùm câu này. Nhớ cái mục tiêu này thì ta không bị lạc vào ngoại đạo, còn ta trật một cái chỗ này ta lạc ngoại đạo liền. Đây chính là chỗ mà ngày xưa lúc Đức Phật ngài học đạo với hai vị Alara Kalama với vị Uất Đầu Lam Phất đó, ừ Uddaka Ramaputta à Uddaka Ramaputta. Ngài đạt tới những cái định như các vị đó và có thần thông luôn, tức là cái định mà Vô sở hữu xứ định và Phi phi tưởng xứ định. Phi phi tưởng xứ định là bay được rồi. Người mà đắc được cái định đó là bay được,

[1:07:07]nên ông mà Ramaputta đó là vị đạo sĩ mà đắc được cái định Phi phi tưởng ông bay được, và lúc đó Đức Phật ngài đắc được tới cái định đó ngài cũng bay được như ông thầy mình. Thì ông kia thấy người học trò nhanh quá, mới chớp nhoáng mà đạt được tới cái định này, ổng đòi giao hết đồ chúng luôn, nhường lại liền. Ông đó cũng vĩ đại đó, đạo đức rất là tốt đó. Nhưng Đức Phật hỏi có một câu, hỏi "Thưa thầy, định này bản ngã còn hay không?" Hỏi câu đó ông kia không trả lời được, thế là ngài xin phép ra đi, tự mình tu vất vả sáu năm. Thì ta hay nói là sáu năm gì? Khổ hạnh, khổ hạnh là gì? Đó, đây ta lại lầm một lần nữa, ta lầm một lần nữa ta cứ tưởng khổ hạnh là ép xác.

[1:07:54]Chữ khổ hạnh trong chữ Ấn Độ xưa là yoga, nên nó không phải là ép xác, mà là ngài uốn bẻ thân mình vào những tư thế khó làm và giữ rất lâu. Người ta ví dụ như cái người yoga họ bẻ cái chân họ lên đầu thì họ giữ được trong chừng 5 phút, rồi xong họ thành công là bậc thầy về yoga rồi đó. Hoặc là đứng họ chống tay lên, chống ngược chân lên, trồng cây chuối, họ đứng như vậy được 15 phút là người đó là đi dạy yoga được rồi, là thầy. Riêng Đức Phật của chúng ta, ngài bằng cái sức định của mình và bằng cái công phu võ thuật lúc còn làm thái tử, mỗi một tư thế khó như vậy ngài làm 7 ngày bất động không ăn, khủng khiếp như vậy.

[1:08:36]Hoặc là ngài móc một cái chân lên cành cây, thả người lỏng, bất động 7 ngày. 7 ngày xuống rồi mới ăn lại, ăn lại rồi bắt đầu ngài suy nghĩ sao thấy nó chưa đắc đạo, ngài tìm một thế khác, những thế mà ngài đã học từ hồi nhỏ. Tại vì lúc mà luyện võ công thì nó đều có luyện những cái thế yoga này hết, mà ngài nghĩ rằng các vị thầy xưa làm những cái thế này đưa đến giải thoát, nên ngài thực hành từng thế, từng thế suốt 6 năm trời, hết thế này tới thế kia, mỗi một thế như vậy qua 7 ngày. Suốt 6 năm ngài không đắc đạo, cho nên là ngài mới đi vào thiền rồi đắc đạo, đại khái cái câu chuyện là như vậy.

[1:09:14]Nên đa phần ta hiểu lầm cái chữ khổ hạnh 6 năm đó, tưởng ép xác bình thường, không phải, đó là những thế yoga. Thì lúc mà ngài trong 6 năm khổ hạnh đó để ngài đi tìm coi nó là cái gì, tìm không ra, mãi đến khi mà ngài như ta nghe nói đó là bởi vì ngài bắt đầu uống sữa lại, rồi năm anh em Kiều Trần Như giận mới bỏ đi. Thì ở đây là lúc mà ngài nhập định lại, ngài đi tìm được cái vô ngã. Ngài nhập qua Tứ thiền, quán chiếu Tam minh: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh, chứng được Tam minh rồi, ngài thành Phật. Vượt qua được bản ngã, trả lời cái câu hỏi mà các vị thầy của mình không trả lời được, ngài thành Đức Phật. Nhớ như vậy.

[1:09:59]Cho nên chúng ta ngày nay cũng vậy, trong cái tu dễ nhất là tu miệng, dễ tạo phước, dễ tạo nghiệp, mà nhiều khi cũng tào lao. Cực nhất là tu thân vì phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt. Khó nhất là tu ý vì không ai biết. Thì trong cái khó nhất tu ý này, cái phần đạo đức, thứ hai là thiền định, và nhớ thiền định tức là nhiếp tâm, mà nhiếp tâm, mục tiêu của nhiếp tâm là đạt được, đạt được? Vô ngã, nhớ giùm này nha, để đừng đi lộn qua ngoại đạo. Tu thiền mà để được cái này cái kia là thành ngoại đạo hết, nhớ ta nhiếp tâm để vô ngã thì đó là đúng đường, vậy. Thì khi mà cái đạo hạnh chín muồi á, bắt đầu nó hiện ra bên ngoài.

[1:10:48]Mỗi một lời ta nói đều tràn đầy đạo lý sâu sắc, từ cái nhấc tay, cất chân, mỗi công việc của ta đều là của đạo lý. Nếu mà ai khéo chiêm ngưỡng một người có đạo hạnh là đã học được vô số bài học rồi, chưa cần nói nhiều, nhớ như vậy. Là cái đạo hạnh nó nhìn là ta đã kính trọng. Đó là đạo hạnh nó toát ra chứ nó không giấu được, không giấu được. Có thầm lặng, có khiêm tốn, có núp, có né đâu đó, nó vẫn lộ ra. Đó, nên ở đây là có ba người mà không giấu ai được: một là người say rượu, giả bộ làm tỉnh gì tỉnh cũng "không, tao không say đâu", người ta cũng biết, phải không? Hai là người đang yêu, thế nào cũng nhấp nha nhấp nhổm rồi

[1:11:35]gửi thư gửi từ, nhắn tin dòm ai cũng biết, chỉ có một người không biết, như là thơ của ông Đỗ Trung Quân á: "Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu", có nhớ bài thơ đó không? Cánh phượng hồng gì đó, "Mối tình đầu của tôi" á, có thuộc không nè?

[1:11:53]Trời ơi, sao mà quê dữ vậy trời!

[1:11:58]Đó là cái cái cái ông đó ổng yêu ai trong trường á, ổng cứ theo đuổi riết mà cái cô này giống như cô không biết vậy đó, ổng cứ chặn đầu ổng chặn ngõ ổng chào cô cứ ngơ ngơ ngơ không biết, mà ổng mới viết bài thơ đó: "Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu", cả trường biết là ổng mê cô đó, chỉ có mình cô đó cô không biết á. Như thế, sau này cái câu đó nó quá nổi tiếng: "Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu", rồi cái hãng hôi nách á nó lấy câu đó để nó quảng cáo thuốc hôi nách: "Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu", làm cái ổng kiện quá chừng luôn, ổng kiện. Rồi, thì cũng vậy, cái người thứ hai mà không

[1:12:31]giấu được là người falling in love, yêu. Và người thứ ba không giấu được là người tràn đầy đạo hạnh. Giờ anh có giả bộ anh du côn, du đãng hay này rồi người ta cũng nhìn ra, đó là con người tràn đầy đạo hạnh, không giấu được nữa. Nên nhớ trên đời có ba người không giấu được: say rượu, yêu và người tu đạo hạnh đã chín muồi, nhớ như vậy. Bây giờ qua tới đạo lực. Lực là gì? Lực là gì? Dám la là sức lắm á. Thì lực là sức, mà sức là gì? Đây là câu định nghĩa thuộc về vật lý, nhưng mà nó hoàn toàn đúng trong đạo học. Lực là sức, tức là cái gì đó nó có khả năng làm thay đổi cái khác, làm thay đổi trạng thái của cái khác gọi là lực.

[1:13:25]Ví dụ như cái cái ly nó đang nằm đây, mình cầm lên được là phải có cái lực. Như vậy nó thay đổi trạng thái. Bây giờ nước nó đang lỏng, làm cho nó cứng lại là phải có lực. Nước nó đang bình thường, làm cho nó sôi là phải có lực tác động vào. Đó, năng lực, năng lượng là vậy đó. Nghĩa là định nghĩa lực là cái gì có thể làm thay đổi trạng thái của cái khác. Thì đạo lực là gì?

[1:13:51]Ta vừa định nghĩa lực là cái gì có khả năng làm thay đổi trạng thái của cái khác, vậy đạo lực là gì? Ai xung phong trả lời câu này? Dạ, Nam Mô Phật! Thưa thầy, là đạo lực là sức mạnh của đạo hay ta còn gọi là tâm lực. Nếu mà cái người tâm lực mạnh á thì có thể chuyển hoá nghiệp chướng và phiền não của mình. Nam Mô Phật, thưa thầy, hết! Cho tràng pháo tay. Chính xác. Làm thay đổi trạng thái của người khác, mà đạo lực là vậy đó, nó gồm hai điều: Một là thay đổi tâm hồn của người khác, mà đã đạo tức là thay đổi tâm hồn người đó từ xấu trở thành tốt. Và thay đổi nghiệp người khác, chính xác luôn, cái câu này rất khó ai hiểu ra đó chứ không phải dễ đâu.

[1:14:41]Thấy ông mặt khờ khờ mà ổng hiểu ra câu này hay thiệt á. Là nó can thiệp được vào nghiệp của người khác luôn. Đó, mặc dầu ta nói nhân quả giống như là tuyệt đối nhưng mà người có đủ đạo lực rồi họ can thiệp vô nghiệp người khác luôn, ghê như vậy. Nên ở đây đạo lực là ở trạng thái cao hơn đạo hạnh, tức là đạo hạnh nó đã chín muồi rồi, bắt đầu nó xuất hiện cái kết quả là đạo lực. Thì đạo lực này có khi cũng nằm trong đạo quả đó chứ không phải không. Cái người mà có đạo quả cũng là người có đạo lực, mà người có đạo lực hầu như là đã chứng đạo quả rồi. Nhưng bởi vì nó là hai từ khác nhau cho nên ta tách ra để ta phân tích,

[1:15:19]chứ người có đạo lực rồi thường là đã có chứng một cái đạo quả nào đó rồi. Đó, cho nên là người có đạo lực thì nó chuyển hai điều. Ổng nói đúng luôn cả hai, nói vậy cũng hiếm nữa chứ. Một là chuyển được tâm hồn người khác từ xấu thành tốt hơn. Hai, can thiệp được nghiệp của người khác luôn. Đúng như vậy. Giờ ta tu làm sao tới mức độ đó á là có đạo lực á. Như vậy, nó còn thêm cái ý thứ ba nữa: người mà có đạo lực nó ảnh hưởng lên tới thế giới của chư thiên, quỷ thần luôn. Nhiều khi một lời nói cả chư thiên cũng lắng nghe, ủng hộ, cả quỷ thần cũng vâng lời luôn. Đến như vậy đó, cái người mà có đạo lực.

[1:16:05]Cho nên ta định nghĩa lại đạo lực là gì, ta ghi ba điều: Một là thay đổi được tâm hồn người khác tốt hơn. Hai, tạm thời can thiệp vào nghiệp của chúng sinh một phần nào đó. Ba là ảnh hưởng được luôn tới thế giới của chư thiên, quỷ thần luôn. Đến như vậy, gọi là đạo lực nha, khủng khiếp rồi đó. Cái sức mạnh này, sức mạnh của đạo tâm này, của nội tâm này mà ta gọi là đạo lực mà có thể chuyển hoá được như vậy, do đâu mà có? Do đâu mà có?

[1:16:43]Ta gom lại thành 2 điều thôi. Một là từ phước. Tại trong quá trình ta tu tập đạo hạnh mà nhất là về thân á, ta đã tạo ra vô số phước đối với chúng sinh, đối với cuộc đời, đối với đạo Pháp, cho nên thành ra một cái phước rất là lớn. Thứ hai, từ nơi cái đức của tâm hồn. Cái đức của tâm hồn thì gồm cả đạo đức và cả thiền định, người ta tâm lắng được thanh tịnh xuống. Nên nó là kết hợp giữa phước và đức. Sức mạnh của phước lớn lao, sức mạnh của một cái đức, tâm đức rất là dày, thành ra cái đạo lực đó và là đó. Và cái đạo lực đó bắt đầu nó tác động vào chúng sinh, thay đổi chúng sinh, can thiệp vào nghiệp chúng sinh,

[1:17:24]ảnh hưởng tới chư thiên quỷ thần luôn, là vậy. Cái người mà có đạo lực rồi mới bắt đầu có sức hút đối với chúng sinh. Đây chỗ này ta phân biệt giữa đạo hạnh và đạo lực thế này. Ví dụ cái người mà có đạo hạnh á, thì chúng sinh nhìn thấy họ quý mến, họ tin tưởng. À nhìn à, ồ tôi thấy ông thầy đó hay lắm, bên cái thầy đó ồ ổng hiền lành lắm. Đó là ông thầy đó có đạo hạnh, nhưng mà họ không thèm tới chùa, vẫn chưa chịu tới chùa, là ông thầy đó mới có đạo hạnh mà chưa có đạo lực. Còn ví dụ đứng đây nói, anh nói anh biết ông thầy bên chùa đó không? Ồ, ngài tuyệt vời lắm, đạo đức, đi đi, tôi dắt anh đi qua, tôi ngày nào tôi cũng qua tụng kinh,

[1:18:08]tu hành, tức là hút luôn tới luôn, là bắt đầu có đạo, có đạo lực. Nhớ nha. Cái khác thế này, khi ta mới có đạo hạnh thì chúng sinh chiêm ngưỡng ta mà có lòng yêu mến ta. Nhưng khi ta có đạo lực, buộc chúng sinh phải về với mình, đến với mình, nó có sức hút. Nhớ như vậy. Nên mà thấy mình chưa đủ sức hút thì biết rằng đạo lực mình chưa đủ. Đừng có làm mánh mung gì, đừng có dùng chiêu trò gì, nhá. Đừng bao giờ làm nổi hay làm cái gì mà để gọi là hút chúng sinh về với chùa bằng những chiêu trò, nó không đúng chánh đạo, nó dễ là bá đạo. Còn ta hút chúng sinh bằng cái đạo lực của mình, bằng cái sức mạnh của sự tu hành của mình thì đó là chánh đạo.

[1:18:52]Tự họ yêu kính, họ bị một sự thôi thúc phải về với chùa, mà trong cái sự thôi thúc đó vừa là sức mạnh của mình, vừa là sự xúi giục của chư thiên. Nhớ như vậy, một sự xúi giục của chư thiên. Ví dụ như là... bây giờ nói như vậy có cái... một cái lễ hội, cái lễ hội ta mở, ta mở, ta tổ chức cái lễ hội gì đó, vua lang Phật đảng gì ở chùa. Thì hôm đó là được 4.000 người tới dự. Mà ta mời thì ta chỉ mời 2 300 người thôi, nhưng bỗng nhiên 4.000 người ở đâu ra ạ? Ở đâu ra con số còn lại mà ta không mời? Mà ta không có màn mà dụ dỗ rủ rê nha, không có chơi màn đó ạ. Nhưng mà xin thưa chư thiên dắt tới. Những cái đó bí mật á.

[1:19:39]Là chư Thiên cái phước của người này xứng đáng cái lễ này được 4.000, Chư Thiên cho tới 4.000. Nhưng con thầy đó cái phước 700, Chư Thiên dắt tới 700. Phước con kia 10.000, Chư Thiên đưa tới 10.000. Nhớ những con số đó do Chư Thiên sắp, đừng tưởng là cái tài của mình, đừng tưởng là tài. Thậm chí khi ta tu tới lúc nào bắt đầu ta đắc đạo, chuyện đó trên chư Phật quyết định. Nhớ đây là những bí mật. Có sự nỗ lực của ta, nhưng kỳ thực cũng có sự xét duyệt của trên chư Phật, chư Bồ Tát hết. Hãy hiểu điều này, đây là bí mật. Cho nên ta mới nói chữ đạo lực nó gồm có các cái ảnh hưởng tới chư thiên quỷ thần là vậy đó.

[1:20:17]Nên cái sức hút của ta, hút được bao nhiêu chúng sinh, vừa là đạo lực của ta mà vừa là sự sắp xếp của ơn trên của chư thiên, chư Bồ Tát. Học tới chỗ này rồi, hiểu tới chỗ này rồi, tự nhiên mình càng khiêm hạ, càng khiêm hạ, không bao giờ nghĩ là cái gì là của mình. Như vậy, cố gắng thực hành lời Phật dạy, dù có được cái gì thành tựu, đều nghĩ đều có sự sắp xếp của ở ở trên chư Phật, chư Bồ Tát, nhớ như vậy. Và đây nhớ ta nói trở lại là sức hút chúng sinh, đó. Khi sự xuất hiện của ta trước hội chúng, bỗng nhiên mọi người chú ý, yêu kính, đó là bắt đầu có đạo lực. Còn người ta có nhìn thấy, người ta có yêu quý,

[1:21:01]nhưng mà cái sự quan tâm không nhiều lắm thì đó mới là đạo hạnh mà thôi. Đó. Còn cái mà gọi là tạm thời can thiệp vào nghiệp chúng sinh là gì? Cái này mới ghê ạ. Nói ví dụ như cái người đó, họ... trong cái cơn khốn khổ của cái hoàn cảnh của họ, họ đến họ than, thì quý thầy mình mới chú nguyện. Mà cái người có đạo lực họ chú nguyện, ông kia bớt liền. Bớt là vì sao? Vì chư thiên nghe cái lời chú nguyện đó, can thiệp vào. Toàn là chư thiên không. Ta bước tới giai đoạn này là ta thấy mọi cái Phật pháp và liên quan tới nhiều cái cõi giới vô hình lắm, không còn là cái thế giới vật chất này nữa đâu. Đó, những giai đoạn từ trước á, thì có thể thế giới vật chất

[1:21:48]này thôi, thế giới vật lý này thôi, nhưng bước qua tới đạo lực rồi nó liên quan nhiều tới thế giới vô hình. Đó, rồi ví dụ như bây giờ nói nhờ có thể tụng bài kinh cầu an. Thì nhưng mà ăn thua cái ông thầy muốn tụng. Nếu ông thầy đó là người có đạo hành, có đạo lực, ông đến tụng trong thời cầu an là gia đình yên liền. Nhưng mà nếu ông thầy đó chưa phải là người có đạo hành, đạo lực sâu xa thì cái thời kinh đó không linh lắm, không linh lắm. Nên đó là lý do tại sao mà mà quý Phật tử cứ đi tìm những người mà mà mà chân tu đạo hạnh để nhờ làm lễ giùm là vậy. Nhưng mà khổ cái những vị mà chân tu đạo hạnh

[1:22:25]là nhiều khi là ít có thời gian để đi cúng. Mà cái người đi cúng chuyên nghiệp quá thì coi chừng lại là người ít có chuyên tu đạo hạnh. Nó cũng mâu thuẫn như vậy. Nó cũng khó có cái mà được trọn vẹn cả hai. Tức là một bậc vừa chuyên tu đạo hạnh mà vừa lại rất có thời gian rảnh để đi cúng hết đám này đám kia cho chúng sinh. Cũng rất là khó có chuyện đó. Thường được cái này mất kia, được kia mất cái nọ. Vậy đó. Nhưng ở đây là can thiệp được vào nghiệp của chúng sinh. Nó thậm chí cũng không phải là một cái cầu siêu rõ ràng hay cầu an rõ ràng, bí mật thôi. Là ví dụ như vậy, như ông ông ông thầy đó ông đi trên

[1:23:00]xe, ổng đi trên xe thì cũng nhiều người ổng liếc qua ổng nhìn thấy một người phụ nữ bụng mang già chửa mà ổng nhìn thấy có vẻ nghèo nàn, ổng thấy thương. Mà bà kia cũng không biết, ổng cũng chẳng theo đạo Phật, nhưng ổng chỉ động lòng thương thôi, ổng ngồi thầm lặng ổng chú nguyện thôi. Ổng chú nguyện cho bà này được á là mọi điều tốt đẹp, thuận lợi, sinh ra đứa con mẹ tròn con vuông, có sức khỏe, không bị nguy hiểm, nên là trong cái hoàn cảnh tương đối dễ chịu, đừng khó khăn quá. Ông ngồi ông âm thầm ông chú nguyện, bà đó cũng chẳng biết. Nhưng mà rồi sau chuyến xe đó rồi, bà thay đổi liền. Bỗng nhiên bà thấy may mắn đến, bỗng nhiên có tiền tới,

[1:23:45]bà được đi vào nhà hộ sinh nó nó đàng hoàng, sạch sẽ, nó tiện nghi một chút. Đâu có biết rằng có một vị Bồ Tát vừa đi chung chuyến xe với mình, vừa mới chú nguyện giùm cho mình. Đó, những cái đó là những cái đạo lực nó bí mật, nó can thiệp tạm thời vào nghiệp của chúng sinh. Mà can thiệp thường là âm thầm bí mật, nên đây bắt đầu là xuất hiện mật tông là chỗ này. Nhớ, mật tông là ngang chỗ này. Ta lần lần học tới rồi ta sẽ hiểu tam tông, thiền, tịnh mật là cái gì hết, nó liên quan nhau hết. Mà khi chưa tới thì ta cứ tưởng ba tông nó riêng, tu tới rồi nó gặp nhau hết một đường một hết. Nên những vị có đạo lực, họ hay can thiệp bí mật vào

[1:24:26]nghiệp chúng sinh mà chúng sinh chẳng hay biết. Mà cái người mà có đạo lực đúng á, thì mới đủ khả năng hộ pháp. Tại hộ pháp cực gấp trăm lần hoằng pháp, hoằng pháp cực gấp trăm lần tu, tu cực gấp trăm lần học. Hiện nay ta mới học, trường Phật học mà, mới học. Sau này đi ra tu, ta cực gấp trăm lần cái tu, cái học, cái ngay. Rồi khi mà bắt đầu tu được khá khá rồi bắt phải đi làm hoằng pháp, việc này việc kia, cực gấp 100 lần cái cái tu. Đúng chuyện tới hộ pháp, cực gấp 100 lần cái hoằng pháp. Bởi vì sao? Bởi vì những thế lực xấu mà nó đánh vào đạo Phật, nó mưu ma chước quỷ, cực kỳ gian hiểm, ác độc mà ta không lường được, ta không lường được.

[1:25:16]Như chúng tôi bị, bị đánh thuốc độc hoài, đề phòng đầu này đánh đầu kia, đề phòng đầu kia đánh đầu nọ. Mới cách đây hơn tuần, tôi chuẩn bị để đi ra Bắc Giảng, thì hôm đó ở chỗ này có tiếng ồn, tôi mới qua cái nhà kia để nghỉ trưa, vậy đó, để chờ qua ngày mai để đi ra Bắc. Vậy mà cái tin nó lọt ra ngoài không biết là nó vô cái phòng đó trước, nó đặt cái thuốc độc trên cái máy lạnh đó. Khi mình vô mình đóng cửa hết rồi bật máy lạnh cái thì gió nó thổi từ đó ra nó đưa cái hơi độc đi ra vào đầy phòng hết, mà hơi độc thần kinh mà nó thấm êm. Ngủ dậy rồi, buổi trưa dậy bắt đầu nhức đầu. Mà buổi trưa dậy thì tôi phải ngồi thiền chút, ít nhiều phải ngồi chút.

[1:25:57]Ngồi thiền xong rồi nhức đầu, nó kỳ lạ. Ngồi thiền rồi là không có thể bị nhức đầu được. Có nhức đầu, ngồi thiền cũng phải hết, đây huống hồ mình ngồi thiền mà lại nhức đầu. Mở cửa hết phòng đi ra, lảo đảo, lảo đảo đi ra. Ngồi cứ ráng chịu đựng, chịu đựng như vậy, rồi ăn miếng cơm chiều, rồi vô phòng nằm quẹo luôn, không ngồi dậy nổi nữa, đầu như như vỡ tan ra, sức kiệt luôn. Hôm sau phải ráng đi lên máy bay đi vì sợ ngoài kia người ta thất vọng mình phải đi. Chưa bao giờ bị say máy bay, chưa bao giờ bị say xe, mà hôm đó đi là bị say xe luôn, say máy bay luôn. Rồi quên mất mình đang đi từ đâu tới đâu nữa.

[1:26:33]Mình đang đi từ Sài Gòn ra Hà Nội mà ngồi nằm lim dim lim dim là cứ tưởng mình đang bay từ Hà Nội vô Sài Gòn. Cứ nói này ừ chắc gần tới Sài Gòn rồi ha, thôi ráng ăn miếng cơm cho đỡ đói. Quay qua kêu đệ tử lấy cơm mà thấy đệ tử ngủ hết rồi thôi, thôi ráng chịu, ráng nhịn. Rồi nhịn lát, ủa sao bay hoài không tới Sài Gòn, nhìn la thì nó tại tới gần Hà Nội, mới sực nhớ à mình đi ra Hà Nội, quên luôn, mất trí nhớ luôn. Nó, nó đánh vào thần kinh, bị hoài. Những thế lực xấu nó hiểm độc. Nên sau này quý thầy quý cô ra mà bắt đầu cuộc đời hoằng pháp của mình là sẽ thấy Đà Phật ta bị trăm ngàn cái mũi nhọn đánh vào, đủ thứ, đủ mọi bộ mặt.

[1:27:12]Những người mà ta tin tưởng nhất, những người ta yêu thương nhất, coi chừng đó là giặc cài vào, chứ không phải là người thật. Thậm chí cạo đầu xuất gia mà nó rất tinh tấn, cũng là giặc cài vào. Những người Phật tử tới hết lòng lo với mình, coi chừng cũng giặc cài vào. Và làm ơn quý thầy nhớ nhất, hôm trước tôi có giảng cái bài Hộ Pháp, cái gì bất thường là cẩn thận, nhất là những người đẹp. Nha. Hễ mà cô gái đẹp bước ra tới chùa, thưa thầy, con mến đạo, con muốn tu hành, xin thầy dạy cho con, ở đây con nghe tiếng thầy quá, con hết lòng quý mến thì xin làm ơn trốn liền nha. Quay lưng chạy liền, chạy không kịp, chạy mất dép luôn liền.

[1:27:51]Nhớ những cái đó đều là bất thường cả. Nhớ là vậy nha. Chứ đừng có tin, đừng tin là à, tốt quá giữa cuộc đời đen bạc này mà hôm nay con phát được tâm đạo như vậy, thầy rất quý nha. Thôi con vô đây thầy làm sư phụ cho con, như nào là chết tươi liền đó nha. Chết tươi. Hết sức cẩn thận nhé quý vị.

[1:28:12]Bây giờ ta nói tới đạo quả. Đạo quả gồm bốn thánh quả mà ta chứng được. Thứ nhất là gì? Tu-đà-hoàn. Thứ hai? Tư-đà-hàm. Thứ ba? A-na-hàm. Thứ tư? A-la-hán. Cho nên đây là bốn cái rất là dễ, căn bản phải biết. Và ta phải hiểu về bản chất của bốn quả thánh này để biết rằng mình đang tu tới đâu. Mình chưa chứng nhưng phải biết hết bản chất của cái quả thánh. Giống như mình chưa chứng nhưng phải biết hết bản chất của chánh niệm tỉnh giác là gì, năm triền cái mình phá được là gì, những kiết sử mình phá được là gì, phải biết hết để mình tu không bị lầm. Tại sao ta tu ta bị khổ sở, trầy trật vì ta cách Phật đã xa nên ta tu tới đâu ta không biết,

[1:28:59]không có người nói rồi ta cứ nhầm tưởng mình đã cao. Ta bị tổn phước mà trong kinh gọi là tăng thượng mạn, mà trong luật Tỳ-kheo gọi đó là tăng thượng mạn, vậy. Cái đạo quả thứ nhất là Tu-đà-hoàn thì cái người Tu-đà-hoàn này á giống hệt mình, khó phân biệt. Nên cái chúng sinh khổ là vì mấy cái ông Tu-đà-hoàn này nè. Ổng chứng rồi mà nhiều khi chính ổng cũng không biết là ổng Tu-đà-hoàn, ổng chỉ biết cái nội tâm mình nó như thế như thế nhưng mà cũng không khoe ra. Còn bên ngoài chúng sinh thì không hề biết ổng là Tu-đà-hoàn, tha hồ nói bậy rồi đọa sạch sẽ hết trơn. Ví dụ như cái người đó mình nói xấu người ta

[1:29:42]một câu thì mình cũng mắc quả báo một chút. Nhưng mà nói xấu đụng nhằm ông Tu-đà-hoàn một cái rồi thê thảm cuộc đời mình luôn, trả quả báo rất nhiều kiếp. Tại ổng là thánh mà ổng đâu có nói đâu. Phải ổng chứng Tu-đà-hoàn ổng để bảng giùm "Tôi Tu-đà-hoàn rồi", mình làm ơn mình gặp đâu mình lạy đó, còn không biết. Nên cái khổ nhất là mấy ông Tu-đà-hoàn này. Chính ổng không biết ổng chứng, ổng chỉ thấy tâm ổng có những điều đặc biệt, cái tình yêu đối với Đạo là tuyệt đối. Đó! Sống cuộc đời vị tha, yêu thích bố thí cúng dường, không bao giờ có cố chấp những điều lặt vặt. Đó là phá được ba cái kiết sử.

[1:30:22]Giờ kiểm tra giáo lý nha. Tu-đà-hoàn phải phá được ba kiết sử. Thứ nhất là gì? Mấy này phải thuộc cho chắc rồi nha. Thuộc chưa? Hiểu rồi đó nhiều khi cũng chưa ứng dụng được. Thứ nhất là thân kiến. Thân kiến là gì? Thân kiến là gì? Tưởng là thấy thân? Không phải, thân kiến là ích kỷ.

[1:30:49]Cái người chứng quả Tu-đà-hoàn, cái dấu hiệu đầu tiên của họ sống trên đời là họ không có ích kỷ, sống rất vị tha. Cái thứ hai là giới cấm thủ, tức là cái cố chấp. Đụng cái đưa nguyên tắc này, đụng cái nguyên tắc kia ra là biết mấy người đó còn bị giới cấm thủ nặng. Ví dụ bây giờ như mấy thầy làm việc Giáo hội, có có một người cái cái chùa nào đó đưa hồ sơ lên nhờ ký, nói: "Thưa thầy, thầy ký giùm con cái chùa con phải sửa chỗ này". Thế bắt đầu thầy ổng đưa nguyên tắc ra: "Cô mấy tuổi hạ? Tuổi hạ này nhỏ quá không ký được. Chùa nằm ở đâu? Chùa này chưa sửa được", cứ bắt bẻ cái đó thì đó là người giới cấm thủ.

[1:31:33]Còn cái người mà không bị giới cấm thủ á, họ cứ tìm cách giúp. Luật thì cản đủ thứ hết nhưng mà cố gắng du di du di để giúp. Vì sao vậy? Vì mục đích cuối cùng của ta là gì? Vẫn phải là hộ đạo hộ quốc, phải lo cho Tăng Ni, tạo điều kiện cho Tăng Ni tu hành. Cho nên là nhiều khi cái họ chưa đủ điều kiện theo nguyên tắc quy định nhưng mà lòng từ bi và vì mất cái giới cấm thủ nên gài qua, lách lại rồi vẫn là ký để cho người kia sửa chùa. Tức là đặt cái lợi ích của Đạo lên trên, còn quy định quy luật gì coi vậy chứ chỉ là tương đối thôi. Đó cái đó là giới cấm thủ á, phá giới cấm thủ hay không là cái đó.

[1:32:17]Mà cái người mà họ chứng Tu-đà-hoàn rồi họ có cái trí đó rõ lắm. Lấy mục tiêu từ bi, lợi ích chúng sinh, lợi ích đạo pháp là đầu, còn mọi nguyên tắc quy định chỉ là phàm, tương đối, không phải là tuyệt đối, không có cứng ngắc cái đó, nhớ như vậy. Cứ ai tu tốt là các vị ủng hộ, đó là thuộc về giới cấm thủ. Còn cái nghi? Nghi là chưa tự tin, chưa xác định được đường đi và chưa đủ lòng yêu kính Tam Bảo. Còn khi mà chứng Tu-đà-hoàn rồi họ phá cái nghi này rồi, điều đầu tiên là lòng tôn kính Phật tuyệt đối, đạt được mức tuyệt đối liền. Vậy đó. Và xác định cái lý tưởng tu hành cho tới khi giải thoát là điều không gì có thể lay chuyển được.

[1:32:59]Có đem bắn mà chết thì thôi chứ không bao giờ ngừng tu được nữa. Đó vậy thôi, đó là người chứng Tu-đà-hoàn họ được ba cái này. Như vậy đã đủ chưa? Như thế vẫn chưa đủ, vì Tu-đà-hoàn cũng bị, dục chưa diệt trừ được. Nhớ, dâm dục chưa diệt trừ được. Đó là lý do mà rất nhiều người chứng Tu-đà-hoàn thời Đức Phật vẫn phải lập gia đình. Ví dụ như bà tín nữ vĩ đại nhất là bà Visakha, mới 9 tuổi gặp Phật là chứng Tu-đà-hoàn liền, từ đó trí tuệ của bà sắc bén cực kỳ. Là một người con gái hết sức là đoan trang, đức hạnh, sâu sắc, thông minh, bản lĩnh. Nên khi mà dời gia đình từ cái xứ Anga về với cái xứ Koliya rồi bà lấy chồng tại cái xứ Koliya rồi dời về ở Xá Vệ luôn.

[1:33:49]Về ở Xá Vệ luôn thì gặp lại Đức Phật thì bà mừng vô cùng, gặp lại chúng Tăng, một bậc Thầy vĩ đại của mình mà từ hồi nhỏ mình đã được quy y. Thì bà sống trong cảnh giàu sang, sung sướng, phước lớn quá mà. Bà hộ đạo, chư Tăng. Sau này bà có một người con trai là Migara cũng xuất gia, cũng chứng A-la-hán luôn. Mẹ của Migara, mẹ của Migara tức là bà Visakha này. Thì bà vẫn phải có gia đình, vẫn phải sinh con đẻ cái, đó là lý do tại vì Tu-đà-hoàn diệt được ba cái này chưa diệt được dục. Đó, đó là lý do là vậy. Rồi cái quả thứ hai là Tư-đà-hàm. Tư-đà-hàm tức là còn trở lại một kiếp nữa. Nhất lai á còn trở lại, còn trở lại cõi người một kiếp nữa.

[1:34:35]Còn Tu-đà-hoàn trở lại cõi người bao nhiêu lần?

[1:34:40]Không dám đâu. Bên Bắc tông á, các luận sư á giải thích Tu-đà-hoàn là trở lại bảy lần, thất lai, nhưng trong gốc những bản kinh của nguyên thủy thì không hề có chữ bảy lần, mà chỉ gọi là nhập lưu, vào dòng thánh, còn trở lại cõi người bao nhiêu lần không biết. Không biết. Thực sự là không có con số cố định. Có những người phải trở lại năm bảy chục lần, lạ như vậy, không có giới hạn. Nhưng mà chắc chắn thì sẽ giải thoát, chắc chắn thì sẽ thành A-la-hán nhưng không biết lúc nào. Mà trở lại mấy lần không biết luôn. Còn chữ thất lai vậy là do Bắc tông ấn định mà không đúng như nguyên thủy, không đúng như nguyên bản.

[1:35:21]Còn Tư-đà-hàm, nhất lai, là được xác định từ trong căn bản của kinh nguyên thủy luôn, chắc chắn là trở lại. Cho nên cái chữ mà Tư-đà-hàm dịch là nhất lai trở lại một lần thì nó vừa đúng với cái kinh bản, luận bản của nguyên thủy, vừa đúng với Bắc tông, hai cái hợp nhau. Thì cái vị mà Tư-đà-hàm á thì

[1:35:43]diệt được tham, sân. Nhưng mà diệt chưa hết, chưa hết hẳn. Đây điều rất là lạ, là tham sân muội lược là mỏng nhạt.

[1:35:57]Vì cái tham sân nó khó như vậy, chứng tới Tư-đà-hàm rồi mà vẫn còn mỏng nhạt tham sân, tham và sân. Mặc dù cái tham sân này nó mỏng nhạt bên ngoài nhìn không thấy, ta không bao giờ bắt gặp được một vị Tư-đà-hàm nổi sân hay khởi tham, không bao giờ ta có thể nhìn thấy, chỉ tự trong vị đó tự thấy thôi. Rất tinh tế, rất vi tế, rất nhỏ nhiệm mà còn. Cho nên cái nghiệp dường như không tạo ra nữa nhưng mà còn. Và chính cái còn này nhiều khi cũng dở khóc dở cười. Do chính cái còn chút tham, còn chút sân này nên dục vẫn chưa hết hẳn. Đó là trường hợp của ngài Tô Đông Pha và ngài Phật Ấn á. Hai ông đời xưa cùng là thiền sư bạn với nhau,

[1:36:45]mà ông Tô Đông Pha lại rất là nổi tiếng, là Ngũ Tổ Sư Giới được ghi trong sử sách, đối đáp thiền ngữ như chớp nhoáng như sấm sét, ai cũng kính nể, nhưng ổng lại mới Tư-đà-hàm. Còn cái ông bạn ổng vô danh, A-na-hàm, là ngài Phật Ấn, đời xưa đã là A-na-hàm. Cho nên ngài sạch ngài sạch hết tất cả cái tham dục, sân, kiết sử sạch, biết được tâm ông bạn mình luôn, vì A-na-hàm là thần thông cao lắm rồi. Còn Tư-đà-hàm thì được trực giác rất là mạnh, chứ chưa đủ thần thông. Còn A-na-hàm á là thần thông rất mạnh. Hai ông chơi với nhau, ngài Ngũ Tổ Sư Giới thì mới Tư-đà-hàm, ông bạn kế bên vô danh là A-na-hàm.

[1:37:24]Thì một lần nọ Ngũ Tổ Sư Giới động nhẹ một cái tâm về dục. Vừa đụng cái ông kia ổng cười liền. Ngài biết là bạn mình vừa đọc được tâm mình. Ngài mắc cỡ ngài ngồi nhập định bỏ thân luôn. Tức là bố Tư-đà-hàm mà tới sức sâu rồi bỏ thân được chứ không phải không. Ông kia thấy ông bạn mình bỏ thân rồi sợ cái cái mắc cỡ của ổng có thể sinh chuyện, ngài nhập định bỏ thân đi theo luôn. Đời sau sinh ra, một ông là Tô Đông Pha, một ông là ngài Liễu Nguyên Phật Ấn. Và chỉ một chút đó thôi làm ông Tô Đông Pha đi làm quan, đày lên đày xuống, vinh quang, thơ văn và bảy vợ. Ổng trở lại một lần để lấy bảy vợ.

[1:38:04]Nhưng mà cuối đời rồi, nhờ ngài Phật Ấn kèm riết kèm riết, vì cái tình bạn ngày xưa mà, kèm riết kèm riết rồi cái bắt đầu ngài đi vào cái pháp môn hơi thở, ông Tô Đông Pha ổng chứng luôn tới A-na-hàm luôn. Ổng diễn tả về những cảnh giới chứng ngộ của ổng cực kỳ cao siêu, không trở lại nữa, A-na-hàm, Bất Lai. Tới A-na-hàm rồi thì ta diệt được cái gì? Diệt sạch tham sân, vậy thôi. Tham diệt sạch, sân diệt sạch là ái dục, dâm dục sạch sẽ luôn, không còn nữa. Nên vị A-na-hàm khi mà chết thì phải sinh lên cõi trời Sắc giới là vậy, mà thường là Sắc Cứu Cánh, tức là đỉnh cao nhất á, cõi trời Hữu Đảnh á,

[1:38:41]cõi trời cao nhất của cõi trời Sắc giới. Đó. Đó là quả vị A-na-hàm. Cái người này thì bắt đầu ta gọi là vị Đại Bồ Tát rồi, thần thông trong tam giới tự tại, hóa hiện độ chúng sinh rất là nhiều. Cho nên những vị Bồ Tát mà ta cầu nguyện ta niệm này nọ hầu hết là những vị A-na-hàm, các ngài rất là năng động để mà độ chúng sinh. Nhưng chỉ có cái vị A-na-hàm thì còn bị năm Thượng phần kiết sử. Còn bị năm cái Thượng phần kiết sử, thứ nhất là sắc ái. Sắc ái là tâm tự nhiên hơi quyến luyến cái cõi trời mà mình ở, cõi trời Sắc giới. Sắc ái tức là yêu cõi trời Sắc giới, sắc đó không phải sắc dục đâu nha.

[1:39:24]Sắc ái tức là yêu cái cõi trời mà mình ở, vẫn một chút quyến luyến bí mật, thầm kín ở trong. Thứ hai, vô sắc giới, có những vị mà nhập vào trong cõi Vô sắc thì cũng yêu thích cái cõi đó, nó vi diệu nó mênh mông quá, có một cái quyến luyến rất bí mật, chính vị đó không thấy, chỉ Phật mới biết mà thôi, nên gọi là thứ hai là vô sắc ái. Thứ ba: giải đãi. Quái lạ, ủa A-na-hàm rồi mà còn giải đãi? Đây là cái bí mật của một vị A-na-hàm. Các ngài tự tại quá! Cảm thấy dường như đủ rồi. Khủng khiếp, tâm trùm cả pháp giới, thần thông tự tại, muốn gì có nấy, biến đâu ra đó, độ được chúng sinh, cảm thấy như đủ rồi.

[1:40:08]Các vị đều một chút chút bí mật ở trong tâm cảm thấy như đủ rồi, chỗ đó bị Phật bắt mạch ra liền, gọi là giải đãi. Ghê như vậy, chỉ Phật mới thấy nổi chỗ này, đừng hòng ai thấy nổi cái chỗ kiết sử này của một vị A-na-hàm. Nên khi ta mà hiểu được giáo lý rồi ta tôn kính Phật vô hạn là vậy, ở mức độ chiều sâu khủng khiếp như vậy. Cái thứ tư là kiêu mạn. Nói ủa A-na-hàm mà là kiêu mạn? Đây mới lạ. Trong phảng phất, các ngài vẫn cảm thấy rằng chúng sinh không bằng mình. Đây là điều lạ. Mà sự thật là chúng sinh không bằng được! Đúng là chúng sinh không thể bằng một vị A-na-hàm. Nhưng mà các vị A-na-hàm có nhận điều đó, có chấp nhận cái điều đó là chúng

[1:40:51]sinh không bằng mình, bị Phật bắt mạch liền gọi là kiêu mạn vẫn còn. Còn một vị A-la-hán tại sao? Vì vị A-la-hán vĩ đại ở cái chỗ thế này nè. Thật sự là chúng sinh mê muội, vô minh, đày đọa, ác nghiệp luân hồi, vậy mà một vị A-la-hán không bao giờ thấy mình hơn chúng sinh. Cái khủng khiếp đó chỉ một vị A-la-hán mới có, không ai có nổi cái đó. Tất cả chúng ta hễ hơn chúng sinh chút xíu đều thấy mình có hơn chúng sinh, chỉ có vị A-la-hán là dứt bặt điều này. Ví dụ như ngài đứng giữa đất trời mênh mông, đứng giữa chúng sinh vô tận, chúng sinh thì sân si, chửi bậy chửi bạ, làm đủ thứ tạo nghiệp, ác ôn, ngu si đủ thứ, mà ngài vẫn không bao giờ thấy mình hơn chúng sinh.

[1:41:37]Cái khủng khiếp của ngài A-la-hán là như vậy. Còn A-na-hàm có à nha, trong bí mật vẫn thấy chúng sinh chưa bằng mình, bị Phật bắt mạch liền, đó là kiêu mạn còn lại. Và cái thứ năm, kiết sử thứ năm là vô minh. Thôi, vô minh này thì mình khỏi bàn, chả ai biết cả, tới chứng mới biết vô minh là gì. Đó, nhớ đây là năm hạ phần kiết sử mà khi ta chứng được Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm rồi ta diệt cái này. Còn tới A-na-hàm ta diệt bứt hết năm cái này rồi, nhưng còn lại năm thượng phần kiết sử. Thứ nhất là? Sắc ái. Thứ hai là? Vô sắc ái. Thứ ba là? Giải đãi. Thứ tư là? Kiêu mạn. Thứ năm là? Vô minh. Đó, mấy cái này thuộc thật kỹ suốt cuộc đời của mình nha.

[1:42:24]Đó, mấy cái này là những cái cốt, cái lõi, những cái phạm trù cực kỳ quan trọng của đạo Phật mà mình bây giờ ra trường rồi những điều này không thể không nhớ, không thể không nằm lòng, mà không thể không đối chiếu suy tư hằng ngày trong cái đời sống tu hành của mình. Đây là những chiều sâu mà nó thành cái cuộc sống của mình, phải nhớ cái điều đó. Ví dụ bây giờ mình chưa chứng được Tu-đà-hoàn nên mình còn thân kiến, còn ích kỷ, nhưng phải chống lại nó thì mới là gieo cái nhân chứng Tu-đà-hoàn, nha. Cuộc sống mình ráng đừng ích kỷ, lúc nào sống vì người, thương người, giúp ai được cái gì không nề công,

[1:43:00]thà mình cực mà giúp được người khác, thà mình thiệt thòi, người khác được lợi, cứ ráng như vậy để chống lại cái thân kiến của mình, cái vị kỷ bí mật của mình, thì đó là cái nhân để một ngày nào đó bùng vỡ, mình chứng được Tu-đà-hoàn. Tu thân cực là vậy, cực nhất là vậy, thấy không? Thì đây là chúng ta nói qua bốn cái phạm trù mà đầu miệng mình hay nói: đạo tâm, đạo hạnh, đạo lực, đạo đạo quả. Nhưng những vấn đề này thấy thì đơn giản nhưng nó lại là lớn, chiều sâu. Nó ảnh hưởng trong cuộc đời tu hành của mình mà ảnh hưởng lên tới sự giáo hóa của mình về sau, ảnh hưởng luôn tới cái sự hộ pháp của mình về sau, ảnh hưởng luôn tới cả gì?

[1:43:43]Vận mệnh của Phật pháp về sau từ bốn cái chữ này. Nên cả cuộc đời ta cứ suy ngẫm điều này, thực hành tu tập những những điều này. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay là một ngày đẹp trời, chúng tôi vì ngày xưa cũng là có cái tình với Thiên Khánh, rồi được Hòa thượng Trưởng ban ổng gọi về, bắt giảng một bài. Thì Hòa thượng Trưởng ban với chúng tôi cũng có cái tình huynh đệ kết nghĩa vậy, cho nên ông anh ổng sai thì phải vâng lời. Rồi sắp xếp về đây được thăm quý thầy, quý cô, nhớ thăm lại được những quý thầy như thầy Đức Hoàng, thầy Lệ Ngôn, thầy Lệ Trí này nọ, thăm Hòa thượng trụ trì, các vị Hòa thượng Thông Đạo này nọ, những cái tình cũ này rất là cảm động.

[1:44:29]Ừ cứ lâu lâu về thăm chùa xưa đó thì cũng cảm thấy cảm xúc, rồi gặp lại những gương mặt mới, quý thầy quý cô, thì vậy quý thầy quý cô cứ cố gắng tu hành tinh tấn. Mỗi một cái chút cái tinh tấn của mình nó đều ảnh hưởng tới đệ tử mình về sau, ảnh hưởng tới Phật pháp bao la về sau nha. Xin cầu chúc trên nhất là chư tôn đức thì pháp thể vạn an để làm chỗ nương tựa cho chúng sinh. Xin kính chúc cho quý thầy, quý cô lớn lên cũng thành một cây đại thụ, thành những sứ giả của Như Lai đó, bản thân mình thì đạt được thành tựu bốn cái đạo này, ở bên ngoài thì hoằng hóa, phổ độ chúng sinh mà dựng xây Phật pháp.

[1:45:17]Kính chúc cho quý Phật tử nghe bài pháp này rồi thì dốc lòng tinh tấn tu tập, hộ trì Tam Bảo nha. Và ước nguyện ngày nào cũng về với mái chùa yêu thương để xuất gia, nguyện cho pháp giới chúng sinh đồng thành Phật đạo. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.