[0:10]Cho nên người làm chủ được tâm á, khi mình niệm là nó vang câu niệm Phật lên, mà khi mình không niệm nó phải tắt hoàn toàn, do mình làm chủ. Còn không niệm mà nó tự động nó khởi, là cái loại mà tư tưởng cố ý bắt đầu nó biến thành cái tư tưởng vẩn vơ, nó biến qua biến lại hai cái đó nó có tương quan với lại. Ví dụ như một người tu cái pháp môn thoại đầu cũng vậy, khi họ khởi câu thoại đầu lên một cách chủ động cố ý thì nó khởi, nhưng đến lúc họ không khởi nữa mà nó vẫn tự động nó khởi, thì đây cũng là dạng mà tư tưởng cố ý bỗng biến thành tư tưởng vẩn vơ. Đây cũng là giống như câu niệm Phật nãy.
[0:46]Chúng ta cũng có tình cảm thấy không? Ngoài những cái ý nghĩ, ta còn có tình cảm là thương yêu, giận hờn, ganh ghét, hơn thua, vân vân, đó, nó có cái tình cảm đó. Có cái tình cảm đó. Hồi nãy chúng ta nói về ý thức, vô thức, để nói lại một chút. Ý thức á là những cái ý niệm mà chúng ta thấy được, thấy được. Những hoạt động của cái tâm này mà chúng ta thấy được gọi là ý thức. Còn những cái hoạt động của tâm mà chúng ta không thấy được gọi là vô thức. Nên cái đầu mình thấy vậy chứ nó đang hoạt động tùm lum ở trỏng á, mình không thấy đâu, mình chỉ thấy mình đang ngồi rất là chăm chú nghe giảng, phải
[1:28]không? Nó giống như là một cái tảng băng nổi trên mặt nước. Cái phần nổi lên nó bị ít, cái phần chìm ở dưới mới nhiều. Nên những cái hoạt động tâm, thức mà mình thấy được, nó chỉ là một phần nhỏ. Còn chính cái phần mà nó đang rối loạn, loạn động, hoạt động bí mật, âm thầm rất là nhiều, rất là nhiều là vô thức, nằm sâu bên trong, mình không thấy được. Bây giờ cái nào mà thấy được là ý thức, cái nào không thấy được là vô thức, thấy không? Lần lượt mình sẽ khám phá cái cõi vô thức trong những bài giảng sắp tới. Mình sẽ từ từ mình bàn với nhau nhiều về cái vô thức này. Bây giờ chúng ta nói về tình cảm, là lòng thương yêu, giận hờn, ganh ghét, vân vân.
[2:13]Bây giờ hỏi quý sư cái tình cảm là nó thuộc về ý thức hay vô thức?
[2:26]Có ai có ý kiến gì nữa không? Vô thức, dạ. Có ai có ý kiến gì nữa không? Mà cũng hai cái hả, cái ý thức, cái vô thức, hai người trả lời hai cái là hết rồi gì nữa, phải không? Nhưng mà vậy mà nó có cái thứ ba.
[2:44]Những cái tình cảm thương yêu, giận ghét của mình á, nó cắm một phần chân nó trong vô thức và nó lộ một phần ra ngoài ý thức. Nên cái lòng thương yêu, giận ghét nó mạnh ghê gớm, bởi vì nó nằm ở trong ý thức, nó cắm chân ở trong vô thức, cắm chân trong vô thức nên tình cảm rất là mạnh. Nên có một triết gia nào đó nói, con tim có những lý lẽ mà lý trí không hiểu nổi. Như người đời, quý ngài quý chúng ta chứng kiến những trường hợp, có hai người họ thương nhau trong cảnh ngang trái, chung quanh không ai chấp nhận, nhiều khi chính họ cũng cảm thấy cái tình của họ là vô lý, nhưng mà họ vẫn cứ thương yêu.
[3:19]Rồi chúng ta thấy đó, cái đó là cái sức mạnh của tình cảm, sức mạnh của tình cảm. Rồi chúng ta thấy, ví dụ chúng ta ngày hôm qua có một ai họ chê mình câu gì đó làm mình tự ái. Thì cái tự ái của mình nó day dứt day dứt trong lòng mình á, mình dễ buông không? Dễ buông bỏ không? Cứ nhớ hoài cái câu người ta nói mình, mình cứ bực tức và muốn tìm cái câu nào để nói lại người ta, cho mình nó thỏa mãn cái tự ái của mình, phải không? Cho nên chúng ta thấy cái tư tưởng mà nó gắn theo tình cảm nó có một sức mạnh khủng khiếp. Còn những tư tưởng mà nó không có gắn theo tình cảm coi như dễ buông bỏ. Mặc dầu tư tưởng có hai loại là cố ý hay là vẩn vơ,
[4:01]mà nếu nó không có cái tình cảm đi theo thì nó lại dễ buông bỏ. Còn cái tư tưởng mà nó có cái tình cảm thương ghét, giận hờn, này kia nọ đi theo thì nó dai dẳng, rất khó buông bỏ. Cái tình cảm như nãy đã nói là một phần nó cắm trong vô thức và một phần nó lộ ngoài ý thức. Cho nên mình khi mà nó lộ ngoài một phần ý thức ngoài mình có thấy được nó, mình có thấy là lòng mình có thương người đó, có ghét người đó. Mình thấy, mình thấy lòng mình có một chút giận hờn, có một cái kiêu hãnh, à, một cái tự ái, vân vân. Nhưng mà cái phần nhiều hơn cái đó nó nằm sâu tuốt bên trong thì mình không thấy nổi.
[4:38]Mình tưởng mình ít phiền não lắm. Nên chúng ta ngồi đây vậy, trong lúc bình thường chúng ta cảm thấy mình không có phiền não nhiều, không tham, không sân, không si nhiều, phải không? Đó mình cảm như thế. Nhưng mà khi đụng chuyện ở đâu lòi ra, thấy không? Chính nó nằm ở trong vô thức. Đôi khi trên bề mặt ý thức nó bị lắng xuống, những lúc đó mình cảm thấy mình như ông Phật. Mình bước chân trên con đường ha, mình từ làng từ đây trở về tịnh xá của mình, đi thong dong từng bước, mình để ý hơi thở, người thì niệm Phật, người thì quán thoại đầu, vân vân, thấy lúc đó mình như ông Phật vậy. Nhưng mà, nhưng về tới nơi cái có người trợn mắt lên ha:
[5:12]"Ủa, anh làm cái gì mà bê bối, làm biếng, giờ này mới về?" Tự nhiên thấy cái cái tham sân ở đâu khởi lên. Nó nằm trong vô thức, nó nằm trong đó rất nhiều. Cái ý thức á là nó thuộc về thần kinh động vật như nãy mình đã nói, nó suy xét, chủ động, xử lý. Còn vô thức là thuộc về hệ thống thần kinh thực vật, nó bí mật hoạt động mình không thấy được. Chúng ta sẽ kể ra vài hoạt động của nó, ví dụ như là giấc mơ. Cái giấc mơ là ở đâu ra?
[5:49]Giấc mơ nó có nhiều loại lắm. Một loại bình thường là những tư tưởng bí mật bị kềm chế và nó được giải tỏa bằng giấc mơ. Ví dụ như là như mình tu trong chúng, mình là nhỏ, có ông sư huynh ổng lớn ổng ăn hiếp mình hoài, hở chút ổng nạt, hở chút ổng nạt, ổng la rầy rầy rầy mình quá chừng đi. Mình tức âm thầm âm thầm mà không phản ứng được, có đêm nằm mơ thấy mình đánh ổng quá chừng, cầm cây mình đập ổng tan nát hết trơn, hả giận. Sáng giật mình thức dậy: "Ủa, đâu có muốn đánh ổng?" Nhưng sự thực cái giận hờn nó chôn sâu ở trỏng, chôn sâu ở trỏng nó phản ứng bằng giấc mơ. Đó là cái tư tưởng nó bị ức chế, khởi lên.
[6:30]Nhưng nó có những tư tưởng báo điềm. Có những người nằm mơ ngày mai chuyện nó xảy ra, có người nằm mơ thấy cái giấc mơ tháng sau chuyện nó xảy ra. Quý sư có hiện tượng đó không? Có không? Mà thường thường người nữ có nhiều hơn người nam, tại người nữ cái vô thức họ mạnh hơn. Người nữ chúng ta để ý ba cái này nó liên quan.
[6:57]Tình cảm nè,
[7:00]trực giác nè. Bởi vì cả hai cái này nó nằm trong vô thức.
[7:08]Người nữ phiền não nhiều hơn người nam bởi vì cái tình cảm họ mạnh hơn. Tình cảm họ mạnh hơn có nghĩa là cái hoạt động vô thức họ mạnh hơn. Mà hoạt động vô thức họ mạnh hơn cũng có nghĩa là trực giác họ mạnh hơn. Cho nên một người nữ bình thường có trực giác hơn người nam. Trừ trường hợp người tu, người nam mà tu khá rồi thì khác, chứ người nam ví dụ hai người bình thường với nhau thì người nữ có trực giác mạnh hơn. Ví dụ như họ gặp một người họ nhận xét người đó rõ hơn là người nam. Sư đồng ý điều đó không? Quý sư để ý tính tình, mình nhìn ai chừng nào người nào mà có cái năng khiếu riêng thôi, chứ nếu mình không có
[7:43]năng khiếu riêng á, mình một người đầu tiên mà mình đối diện, mình nhận xét người đó hời hợt, chứ người nữ người đầu tiên họ gặp họ đánh giá được khá nhiều. Bởi vì người nữ vô thức họ hoạt động mạnh hơn người nam. Người nam mình á cái ý thức hoạt động mạnh hơn người nữ, cho nên cái lý luận của mình á nó chặt chẽ, logic nó cứng rắn, mà mình khô khan ít tình cảm hơn. Nên cái ý thức của mình, cái lý trí của mình nhiều hơn, nhưng mà cái tình cảm, cái trực giác của mình nó yếu hơn. Đó là về tính chất cơ bản, bởi vì cấu tạo não nó như vậy. Chúng ta nói lại cái loại giấc mơ báo điềm trở lại. Vô thức mình có thần thông, nhớ điều đó.
[8:24]Vô thức mình có thần thông nha, nó là một cõi tâm linh khác. Sau này trong một số bài giảng về sau này, chúng ta sẽ phân tích cái khía cạnh tâm linh của sự vật, sự việc, không gian tâm linh nó phủ trùm nó chi phối mọi vật như thế nào. Thì chúng ta nói cái vô thức, tâm vô thức của mình tự động nó có thần thông. Ví dụ cái ý thức của mình á mình không thể biết được cái chuyện từ xa mà vô thức nó biết. Như là mình ở đây nhiều khi người thân mình như mẹ mình, cha mình ở xa bệnh nặng, ý thức mình không thể nào biết được chuyện đó, tại không có ai nhắn tin cho mình hết. Đêm đó nằm mơ tự nhiên mình xót ruột,
[8:59]đêm đó nằm mơ mình thấy mẹ mình bị bệnh, sáng dậy một chốc cái chạy về đúng như vậy. Quý sư có xảy ra trường hợp đó chưa? Trường hợp tương tự như vậy.
[9:10]Chứ người nữ thì có nhiều lắm. Nên giấc mơ báo điềm, giấc mơ báo điềm người nữ có nhiều hơn người nam. Vô thức mình có thần thông nó mạnh lắm. Cái hoạt động khác của vô thức là chúng ta thấy như một người mộng du. Mộng du, cái bệnh mộng du là thế này: Khi họ ngủ, họ không biết nhưng nửa đêm tự động họ đứng dậy họ đi, đi một vòng vòng vòng trở về giường nằm lại, chân lấm bùn mà họ không biết. Rồi có người mà mộng du đạt tới trình độ cao á, họ đi lên vách tường, chân đặt lên, cái người họ song song mặt đất. Và có những người trình độ cao nữa mà được chứng kiến, đi ngược lên trên trần nhà, la phông,
[9:51]cái chân họ đi trên đó, đầu chúc xuống mặt đất không rớt nha. Hoặc có những người họ đi trên dây điện, họ đi như người đi xiếc vậy đó, không té. Nhưng mà nếu kêu họ, ý thức họ tỉnh dậy họ té liền, rớt liền. Nên ở đây nhiều nhà khoa học mới nói rằng con người có những sức có những khả năng tiềm tàng rất là vĩ đại mà con người chưa khai thác hết. Ở đây chính là sức mạnh của vô thức.
[10:19]Ở đây chúng ta giải thích cái cơ chế mộng du là như thế nào. Khi chúng ta ngủ cái ý thức của mình chìm lắng xuống. Nhưng đây là trường hợp người có bệnh á, mộng du là nó có một cái lệch lạc khác thường. Lúc đó vô thức nó trỗi dậy, nó nắm cái thân mình nó đi. Nó không báo cho ý thức biết. Cái ý thức thì vẫn chìm lắng, không biết gì. Và cái cái vô thức tùy người, người mà cái vô thức vừa phải á thì nó vừa đủ xách cái thân mình đi dạo một vòng trở về. Nhưng mà cái người mà vô thức họ mạnh á, họ xách cái thân này đi leo lên tường, đi leo lên dây điện, đi leo lên nóc nhà được. Bởi vì vô thức nó có thần thông.
[10:56]Tất cả những người tu, người luyện khí công, những người tu thiền mà có thần thông đều là những người mà trong cái định của họ họ bỏ được ý thức, họ bước vào được vô thức. Khi mà chúng ta nói tới cơ chế của định, chúng ta sẽ nói tới điều này. Bây giờ thì mình chưa nói tới. Một cái hiện tượng khác của vô thức là điều này nữa: là những người đồng cốt. Những người mà có một lúc nào đó họ ờ họ ngáp, họ rùng mình, bỗng nhiên họ thay đổi nhân cách. Lúc đó một nhân cách mới xuất hiện ở con người họ. Họ không còn là sư này sư kia, họ họ không còn là bà A bà B nữa, mà bỗng nhiên trở thành bà mẹ Quan Âm, một ông trạng nào nhập về, một cậu, mẩu nào.
[11:43]Thì thường thì họ có thần thông. Khi nhập đồng về họ có thần thông, họ có thể tiên tri, có thể chữa bệnh. Cho nên nào giờ người ta vẫn giải thích rằng: Người như vậy là cái xác được một thần linh nào đó mượn nhập về để mà tiếp xúc với cõi trần để tiên tri, chữa bệnh, vân vân. Nhưng cái lời giải thích đó nó không hợp lý lắm. Chúng ta phải hiểu cái đó là cái sức mạnh của vô thức. Người này có một cái lệch lạc trong não bộ nên cái ý thức họ yếu. Và cái vô thức của họ theo cái niềm tin sâu, họ tin vào một ông trạng, vào mẩu nào đó quá mạnh. Với cái vô thức sức nó mạnh nữa. Mà chúng ta thấy đa số đồng cốt là người nữ là vì
[12:20]vậy, vì vô thức họ mạnh họ dễ làm đồng cốt. Lúc vô thức nó trỗi lên, nó đè lấp cái ý thức xuống. Và nó tạo nên một cái bản ngã mới, một nhân cách mới. Cho nên ở đây nó không phải là một cái người khác nhập vô, mà chỉ vì cái ý thức nó yếu không làm chủ, bị vô thức nó nó có bệnh mà, cái vùng não vô thức nó mạnh quá nó khởi lên nó đè cái ý thức qua một bên, nên cái nhân cách bình thường của mình nào giờ bị che lấp. Cái vô thức nó nổi lên nó tạo nên một nhân cách mới, một cái bản ngã mới bắt đầu nó quậy tưng lung tung luôn. Nhưng mà nó có thần thông. Lúc đó nó tiên tri đúng á, nó chữa bệnh hết.
[12:58]Chúng ta là người tu thiền mình phải hiểu được cái ý thức và vô thức này. Như một người chúng ta vào thiền nhiếp được tâm, tâm được tĩnh lặng lẽ,
[13:09]không khởi niệm trong hai tiếng đồng hồ, ba tiếng đồng hồ, thậm chí hai ngày, ba ngày. Thì như vậy người đó đã đến được với Phật
[13:20]tánh chưa?
[13:29]Chúng ta đã đến được chưa? Chưa hả? Tại sao vậy? Sư nói nhưng mà không rõ hết. Mình phải nhìn trên cái nhìn của sinh học, của tâm lý học để mình giải thích. Thì cái bởi vì cái tâm của mình mình đang phân tích chia chẻ hết mà. Mình qua các cái phân tích nát hết. Cho nên cái người định nó như thế nào mình hiểu rõ. Tại sao nó chưa đến? Tại sao nó đến? Mình phải giải thích rõ bằng cái cơ chế sinh lý và tâm lý. Cho nên nói thật ra một người có thể định được lâu, tâm họ rất rộng rang, thanh tịnh. Tâm họ cảm thấy phủ trùm cả trời đất, sáng tỏ. Trong giấc ngủ cũng tỉnh giác. Thức đã tỉnh giác đã đành, qua giấc ngủ họ vẫn tỉnh giác.
[14:10]Mà vẫn chưa gọi là tới Phật tánh mà đường rất xa, bởi vì sao? Bởi vì họ mới định được ở cái cõi ý thức. Thấy như cái tảng băng cái phần nổi ở trên ít mà phần chìm ở dưới mới nhiều, cũng vậy. Cái ý thức của mình á nó chỉ biểu lộ được một cái góc của tâm thức mình thôi. Còn cái vô thức bên trong còn rất nhiều. Cho nên người tuy có nhiếp được vào định, kỳ thực chỉ mới mới được ở bên ngoài ý thức thôi. Chứ chưa động đậy, chưa kiểm soát gì được cái vô thức này. Cho nên đường đến Phật tánh còn rất xa, còn rất xa. Tuy nhiên, khi mà cái ý thức được tịnh rồi thì cái sức mạnh vô thức từ từ mình phát huy được,
[14:49]người này bắt đầu có chút ít thần thông. Nếu một người nhập định được tâm lặng lẽ không khởi niệm được hai tiếng, ba tiếng, năm tiếng, mười tiếng, một ngày, hai ngày thì người này có một chút thần thông. Bởi vì cái sức mạnh vô thức mình đã từ từ sử dụng được, cái khả năng trong vô thức người này từ từ sử dụng được. Cái ý thức nó đang từ từ nó kiểm soát được vô thức. Ý thức lắng đọng từ từ nó nhập vào vô thức. Nhưng đường còn rất xa để gọi là tới được cái chân như Phật tánh tuyệt đối.
[15:21]Đó là nãy giờ chúng ta phân tích tâm trên hai khía cạnh: thứ nhất là trên cái nhìn khách quan: sinh lý, y lý; thứ hai là trên cái nhìn chủ quan về tâm lý. Tâm lý chủ quan tức là mình tự mình mình quan sát cái nội tâm của mình để mình diễn tả lại nó, đó.
[15:44]Như chúng ta đã nói mục đích chúng ta tu, mục đích mà thật sự trong lòng chúng ta là muốn vì làm lợi chúng sinh, cứu vớt chúng sinh. Nhưng mà để làm được điều đó, chúng ta phải tu thiền, nhập định để đạt đến tuyệt đối. Đi cho được đến tuyệt đối gọi là giải thoát. Người thì gọi Niết bàn, người gọi Chân tâm, Phật tánh, Pháp thân, Tri kiến Phật gì đó. Nó nhiều tên thì tùy mỗi cái tông phái mình mà mình gọi. Nên điều này mình không có công kích lẫn nhau, vì nó chỉ là danh từ rỗng thôi. Nhưng mà mình tạm gọi một cái tên khách quan khỏi đụng chạm là cái chỗ đến tuyệt đối. Bây giờ chúng ta hỏi với nhau,
[16:23]người ta mới nói nói rằng mỗi chúng sinh đều có Phật tánh. Chúng ta có nghe nói câu này rồi chứ gì? Tất cả chúng sinh ai cũng có Phật tánh phải không? Có nghe chưa? Nghe rồi. Câu này đúng hay sai? Hôm
[16:46]nay chúng ta đang chuẩn bị bước vào thế kỷ 21. Chúng ta có cái can đảm, cái sức mạnh, cái tư tưởng thời đại, chúng ta mổ xẻ tan nát hết tất cả những giáo lý cổ truyền, đừng sợ sệt. Cứ thẳng thắn mà bàn cho ra hết vấn đề. Chúng ta cố gắng đi tìm cái phải. Đừng có ngại lật tìm sợ hãi. Chúng ta bình tĩnh bằng cái khách quan, bằng cái lý trí của sự tu hành và của thời đại, chúng ta mổ xẻ lại vấn đề. Bây giờ hỏi lại câu, nói rằng mỗi chúng sinh đều có Phật tánh, câu này đúng hay sai? Không đúng hoàn toàn.
[17:29]Dạ, vì sao
[17:35]thưa sư? Dạ. Trường hợp này thì đúng, trường hợp kia thì không đúng hả? Dạ, cảm ơn sư. Xin mời sư. Có ai có ý kiến gì khác? Dạ.
[17:59]Có sư nào có ý kiến nữa chăng?
[18:09]Đạo Phật của chúng ta là đạo của lý trí chứ không phải đạo của niềm tin. Bất cứ một câu nói nào từ xưa được truyền lại, chúng ta được quyền mổ xẻ phân tích ra hết. Không có gì bắt buộc chúng ta phải chấp nhận. Chúng ta có một cái thái độ giống như những người mà Tây phương, trí thức họ không biết về đạo Phật, họ cũng vậy. Họ có quyền họ đem tất cả giáo lý đạo Phật ra họ phân tích, họ mổ xẻ tan nát hết. Mình cũng vậy, có cái quyền đó. Đức Phật không bao giờ buộc mình phải chấp nhận giáo lý mà luôn luôn phải hoài nghi và xem xét lại.
[18:45]Chúng ta có cái can đảm, không có cái tự cao, đừng. Chúng ta không có cái tự cao nghĩa là gì? Chúng ta không phải nghĩ mình giỏi luôn luôn phản đối mọi lời nói của người xưa. Nhưng chúng ta có cái can đảm là cái gì? Can đảm là chúng ta dám xét lại hết mọi vấn đề. Coi có những cái hóc búa nào mà mình cảm thấy chưa thỏa đáng.
[19:09]Thưa các ngài, nãy giờ khi chúng tôi nghe quý sư trình bày, chúng tôi đều thấy có một cái chỗ, cái gút, một cái bế tắc á. Lý do là vì thế này. Chúng ta nhìn lại lịch sử một chút xíu là
[19:25]Nếu mà nói rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh á thì nó thuộc về những kinh điển xuất hiện sau Phật từ 600 năm mới có. Kinh Hoa Nghiêm xuất hiện lác đác sau Phật là 200 năm, bắt đầu có một vài một vài phẩm của kinh Hoa Nghiêm. Sau đó khoảng 3, 400 năm bắt đầu xuất hiện một vài phẩm của kinh Bát Nhã. Khoảng sau Phật 600 năm xuất hiện rất nhiều các kinh Đại thừa dồn dập dồn dập cho tới khoảng 7, 800 năm sau Phật. Tới khoảng 1000 năm sau Phật nhập diệt mới bắt đầu có kinh Mật tông. Đây là điều chúng ta phải hiểu cho rõ về vấn đề sử học một cách khoa học. Thời Nguyên thủy Đức Phật không có nói cái câu
[20:11]"Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh", nếu chúng ta truy tìm trong những bản kinh Nikaya thời Nguyên thủy. Còn nói tất cả chúng sinh đều có Phật tánh là những lời nói xuất hiện sau Phật mấy trăm năm mới có. Đây là một sự thật lịch sử, chúng ta nói ra có thể là giật mình, mình giật mình, nhưng bây giờ thì không thể giấu ai được nữa. Việc này không thể che đậy mãi, vì sự thật là sự thật, đến một ngày nào đó vẫn phải được bộc lộ. Đó là tất cả kinh Đại thừa không phải Phật thuyết. Đó là một chuyện động trời đối với mình, nhưng...
[20:48]nhưng đây là một điều mà tất cả những học giả, những sinh viên Phật học trên thế giới đều biết rõ. Chỉ có Việt Nam mình là do chúng ta ảnh hưởng các bậc tôn túc của Bắc tông, những vị này bắt nguồn từ cái học từ nơi cái bộ kinh tạng chữ Hán, học toàn bộ kinh tạng Đại thừa, rồi quý vị dịch kinh Đại thừa, truyền bá kinh Đại thừa, giảng dạy kinh Đại thừa, cho nên cái điều này không được nói tới. Ở viện Phật học, viện cao cấp Phật học hiện nay là một số tăng sinh đang đi theo học thì điều này được biết rõ, nhưng rồi cũng được che đậy. Hỏi tới Hòa thượng Minh Châu, Hòa thượng không dám nói nữa, bởi vì sợ đụng chạm.
[21:28]Đụng chạm vì các hòa thượng lớn hiện nay ai cũng vững tin rằng kinh Đại thừa là Phật thuyết. Nhưng mà rất nhiều tài liệu sử học đã chứng tỏ điều đó rất rõ ràng. Chúng ta sẽ xem trong cái sử Phật giáo có nhiều vị tránh né thế này, như...
[21:48]như ông Nguyễn Lang viết rằng: "Sau Phật 200 năm thì phát kiến một phần của kinh Hoa Nghiêm, kinh Bát Nhã", phát kiến, chứ không dám nói là có người soạn sau đó. Rồi "Kinh Pháp Hoa hoặc những kinh Tiên Giác thì được phát kiến sau Phật 600 năm", dùng chữ nhẹ nhàng. Còn nếu chúng ta xem "Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận" của ông của ngài Kimura Taiken, một tiến sĩ Phật học người Nhật, thì ông viết thẳng thắn thế này: "Kinh này được viết sau Phật 400 năm, kinh kia được viết sau Phật 600 năm, kinh nọ được viết sau Phật 1000 năm", ổng dùng chữ thẳng thừng. Thấy ra? Đây á, tại sao mà những nhà sử học họ dám nêu nó ra,
[22:31]bởi vì họ không phải là người đạo Phật, họ không có tín ngưỡng, nên khi mà họ là những nhà văn hóa bình thường thôi, họ là những nhà xã hội học và sử học, họ đi lại từng bước để họ đi tìm những cái nguồn gốc của các văn hóa đã bị thất lạc. Thì có một số họ đến với đạo Phật, thì vì văn hóa Phật giáo là một mảng văn hóa lớn của thế giới, có hơn 200 triệu người tín đồ theo Phật giáo.
[22:58]Chúng ta thấy tôn giáo có ảnh hưởng lớn hơn Phật giáo: Hồi giáo và Thiên Chúa giáo, nhưng sự thật cái tín đồ Phật giáo mình không đông. Thiên Chúa giáo có hơn 900 triệu tín đồ, Hồi giáo có hơn 800 triệu tín đồ, Phật giáo mình chỉ có hơn 200 triệu tín đồ trên toàn thế giới. Trong khi đạo Phật có mặt trước những tôn giáo đó 600 năm, 1200 năm. Nhưng mà cái sức truyền bá mình không hiệu quả bằng. Thì lý do tại sao á, thì sau này mình phân tích, nó đơn giản, không có gì. Tuy nhiên, vì Phật giáo là một mảng văn hóa lớn của thế giới, nên các nhà sử học mới đi vào Phật giáo để đi tìm hiểu. Thì họ đối chiếu hết, theo cái khoa học
[23:36]khoa khảo cổ học của họ, họ đi tìm lại những văn bản xưa, họ đối chiếu bản kinh này, họ đối chiếu vào bản kinh kia, họ đối chiếu bản kinh nọ, cuối cùng họ rút lại được kết luận: đó là họ tìm ra được cái nguyên nhân mà sự phân phân hóa giữa Nam tông và Bắc tông. Tại sao như vậy? Là bên Theravada, tức là Nam tông, thì trung thành với kinh điển Nguyên thủy bởi vì cho là kinh điển Nguyên thủy là mới đúng Phật thuyết, còn kinh Đại thừa không phải Phật thuyết nên họ phủ nhận, họ chống đối, và họ kết luận là ngoại đạo tà ma. Thì nếu có phản ứng của bên phía Bắc tông Đại thừa thì phản ứng thế này: nói rằng kinh Đại thừa được Phật diễn thuyết một
[24:14]cách bí mật ở trong trạng thái nhập định với chư Bồ Tát mà những người thường không thấy được, và tư tưởng Đại thừa là siêu việt hơn hẳn, mà Tiểu thừa A-la-hán không bằng được, vân vân. Đó, sự chống đối qua lại hai bên mà mấy ngàn năm lịch sử nó vẫn còn âm ỉ, dai dẳng, không chấm dứt được. Thì rồi người ta cũng cố đi tìm một cái sự thống nhất giữa hai cái hệ phái lớn này, là giữa Nguyên thủy và Đại thừa. Nhưng bên Nguyên thủy thì thật ra quý vị chưa có thiện chí lắm, quý vị cứ khư khư rằng kinh Nikaya Nguyên thủy mới đúng Phật thuyết, còn kinh Đại thừa không phải Phật thuyết nên ai mà theo kinh điển Đại thừa là không phải
[24:53]đạo Phật, họ cố chấp cái đó khủng khiếp lắm. Và họ nhìn các sư khác, các thầy khác mà thuộc Bắc tông Đại thừa thì họ coi rẻ lắm. Còn mấy thầy bên Bắc tông mình, Đại thừa mình á, thì cũng vậy, cũng khinh bỉ lại bên Nam tông nói là tụi Tiểu thừa, còn chúng tôi mới là Đại thừa, là con đường Bồ Tát, con đường đại lộ lớn, độ nhiều chúng sinh. Đây là một sự công kích. Tuy nhiên, tuy nhiên có một số vị thầy thuộc về Bắc tông Đại thừa thì sau khi tu tập nhiều năm, tìm hiểu sách vở các các tài liệu khác, cũng biết được rằng kinh điển Đại thừa không phải Phật thuyết, mà kinh điển Đại thừa có nhiều tư tưởng rất hay,
[25:32]cho nên những vị đó có cái ý muốn là hợp nhất lại Nguyên thủy với Đại thừa. Đó là những tư tưởng của những giảng sư đã học ở Đại học, ở Phật học cao cấp hiện nay, Hòa thượng Thanh Từ cũng có tư tưởng đó, thầy Chân Thiện nay đi du học về cũng có tư tưởng đó, một loạt số quý thầy Đại thừa đều có tư tưởng hợp nhất lại. Tại quý thầy biết rõ điều đó, là Đại thừa là sự phát triển của Phật giáo căn cứ từ kinh Nguyên thủy. Và lý do tại sao phải có Đại thừa xuất hiện là vì thế này: trong thời Đức Phật tại thế, cái nhân cách rực rỡ của Đức Phật, ngài không cần nói nhiều đâu, ngài chỉ nói một kinh Nikaya
[26:09]thôi, mà đủ sức thu phục hết tất cả quần chúng Ấn Độ trong phía Bắc Ấn thời đó. Người ta theo Phật, ngoại đạo lần lần bị bỏ rơi hết. Nhưng đến khi Phật nhập Niết bàn, các vị tỳ thánh, các vị Thánh A-la-hán từ từ vắng bóng, lúc đó ngoại đạo như đạo Ấn Độ, các giáo phái khác, họ mới vay mượn rất nhiều giáo lý của đạo Phật để họ củng cố cái lý luận của họ lại, họ phát triển đạo trở lại. Cái điều này chính ông Gandhi, ngài Thánh Gandhi của Ấn Độ á, cũng đã xác nhận. Ổng là người đạo Ấn Độ nha, ổng là người đạo Hindu chứ ổng không phải đạo Phật, ổng nói thế này: "Đạo Ấn Độ đã vay mượn rất nhiều điều của đạo Phật".
[26:44]Đó là điều mà ổng đã nói có ghi chép đàng hoàng, đó là một bằng cớ, có nhân chứng, ha. Và điều này là thời sau Đức Phật nhập diệt. Rồi từ từ những giáo phái Ấn Độ đó mới phát triển lý luận, dần họ tìm cách họ phát triển và họ lần lần họ có vẻ họ thu phục tín đồ, họ lấn lần lần lấn. Lúc đó, có những vị sư của đạo Phật mà có học, những người đó xuất thân từ giai cấp Bà-la-môn đi ra mà theo đạo Phật, nên những vị này có học, có học rất rành chữ Phạn, Sanskrit, chứ đa số các tỳ-kheo mình hồi đó không biết chữ nha, thời đó rất ít người biết chữ. Các sư tụng kinh truyền miệng. Chỉ có một ít vị xuất thân từ giai cấp Bà-la-môn thì được học Sanskrit rất rõ.
[27:21]Những vị đó mới thấy, thấy cái sự lấn lần lần nên đạo Phật cần phải có một sự chuyển mình, sự phát triển, nên quý vị đã bổ sung vào cái lý luận. Thì có hai dạng bổ sung cái lý luận của đạo Phật: một số là dùng luận, những bản luận như là Đại Trí Độ Luận, Trung Quán Luận, là Vi Diệu Pháp, Thành Thật Luận, vân vân. Những bộ luận đó là những cái mà giải thích sâu thêm những cái gì trong kinh chính Đức Phật đã nói. Đó là một dạng lý luận mà có ký tên, tức là người soạn ra sách đó có ký tên đàng hoàng. Nhưng cũng có một dạng, có những vị đó họ có tư tưởng rất hay, họ nói ra nhưng mà sợ người ta không chấp nhận,
[27:59]cái họ họ viết luôn thành bản kinh, dựng hiện ngã văn thời nọ Phật thuyết ở đó và thuyết chính Phật thuyết luôn. Họ tạo thành bối cảnh mà chúng ta đọc lại mình thấy không thực tế. Ví dụ chúng ta thấy bình thường mình ngồi thuyết pháp với nhau là mấy tiếng đồng hồ là mình mệt, 2 tiếng là đuối rồi gì, thì cho ngày xưa chư tỳ-kheo có sức định đi, thì cho thuyết luôn 5 tiếng đồng hồ luôn, phải không? Nhưng mà nếu chúng ta đọc lại bản kinh Đại thừa, từ đầu kinh cho tới cuối kinh, chúng ta nghĩ rằng nếu mà cái khung cảnh đó có thật thì nó phải kéo dài 2 năm. Làm sao mà Phật với chư tỳ-kheo ngồi đó suốt suốt
[28:29]2 năm mà nói cho hết cái bài kinh Pháp Hoa? Mà bây giờ mình tụng gần chết, phải không? Này mình tụng ổng là gần đuối rồi. Đó, cho nên đây là một cái sự thật chúng ta nhìn nhận: Đại thừa là một sự phát triển của đạo Phật để đối phó với cái hoàn cảnh lịch sử thời đó. Đây là một sự phát triển rất cần thiết và rất nhiều tư tưởng của Đại thừa Phật giáo rất hay, rất hay, đến bây giờ vẫn chinh phục được vô số, vô số tín đồ. Người ta vẫn thấy là hay những điều nói trong đạo Phật, trong Đại thừa Phật giáo. Một điều nữa chúng ta nhận định là Nikaya là những điều đúng là Phật thuyết và là căn bản nền tảng của đạo Phật, không thể thay đổi được.
[29:07]Đó, chúng ta phải... Là người tu sĩ trong thời đại ngày hôm nay phải có cái nhìn về hai tông phái một cách như vậy chúng ta mới có sự hòa hợp. Ngày hôm nay chúng ta bớt kỳ thị về tông phái, cố gắng đi tìm sự đoàn kết và hợp nhất trong đạo Phật. Bởi vì lẽ phải là đối với Nguyên thủy, chúng ta biết kinh Nguyên thủy đúng chính xác Phật thuyết, bởi vì cái lời văn đó là lời văn mộc mạc, lặp đi lặp lại, nó khô khan lắm, mà đúng là cái văn phong của cái thời xưa. Mà sang tới kinh Đại thừa thì mình thấy cái văn phong nó khác hẳn, nó lưu loát, trau chuốt, nó trôi chảy, nó có văn phạm, có cú pháp rõ ràng.
[29:39]Đó, bối cảnh khác hẳn. Mình biết đây là một sự chuẩn bị được viết chứ không phải được nói. Rõ ràng là của mấy trăm năm sau Phật, khi mà cái nền văn học của Ấn Độ đã phát triển lên một mức cao. Và nhiều tư tưởng của kinh Đại thừa rất độc đáo, vẫn đáng để cho chúng ta nghiên cứu học hỏi và áp dụng tu hành. Tuy nhiên, tuy nhiên
[30:01]chúng ta vẫn phải dựa vào kinh Nguyên thủy làm căn bản, và sau đó chúng ta chọn lọc cái sự phát triển để đừng có đánh mất cái gốc căn bản đó. Thì bây giờ chúng ta nói lại cái mỗi chúng sinh đều có Phật tánh, chúng ta sẽ phân tích ngay cái câu đó thôi, chúng ta thấy cái ưu khuyết của nó như thế nào. Như Sư Hải đã nói, nếu nói mỗi chúng sinh đều có Phật tánh, như vậy phải là mỗi Phật tánh là riêng rẽ mỗi người, mình sẽ hiểu như vậy chứ gì. Nghe nói mỗi chúng sinh đều có Phật tánh, mình sẽ hiểu là như vậy là Phật tánh tôi riêng, Phật tánh Sư Hải riêng, Phật tánh của Sư Giác riêng, phải không? Nhưng mà giống nhau, đồng ý không?
[30:39]Khi mình nghe câu đó mình sẽ hiểu như vậy rồi chứ gì? Đồng ý không? Phải không? Thì chúng ta sẽ thấy hễ cái gì riêng đều còn cái ngã trong đó. Cái sự hữu hạn, trong đó gây sự hữu hạn. Mà nếu còn ngã thì chắc chắn không bao giờ là tuyệt đối. Cái tuyệt đối không bao giờ có cái riêng tư của cái bản ngã. Phật có dùng một cái chữ khác để nói về Niết bàn. Thường thường á Phật hay dùng chữ Niết bàn để diễn tả cái trạng thái của một người mà vượt hết tâm thức đến được cái chỗ đó. Cái chỗ mà Phật gọi là tịch diệt tuyệt đối hay là vắng lặng hay Niết bàn á, Phật có dùng có một lần trong Trường bộ kinh Phật dùng cái chữ Phạm thể, Phạm thể.
[31:22]Mà sao kinh Đại thừa lại không nhắc tới? Mà tại sao sau này kinh Đại thừa lại không nhắc tới cái chữ này? Về sau này kinh Đại thừa thường hay nhắc tới cái chữ pháp thân, tri kiến Phật như Pháp Hoa, vân vân. Mà lại không nhắc Trong khi kinh nguyên thủy có nhắc chữ Phạm thể, mà Đức Phật chỉ nhắc một lần. Là tượng trưng cho cái thể tánh tuyệt đối đó, mà Đức Phật lại không có dùng cái chữ là mỗi người đều có Phạm thể. Phật tránh cái chữ đó, mà chỉ nói rằng khi mình đi hết Bát Chánh Đạo, vượt hết cái Chánh Đạo cuối cùng là cái Chánh Định. Khi mình đi vượt hết bước Chánh Định luôn thì mình tới được Niết bàn.
[32:01]Tức là cái Phạm thể này, mà không có nói trước là mỗi chúng sinh đều có một cái Phạm thể riêng, một cái Niết bàn riêng. Chỉ nói Niết bàn, chứ không có nói rằng cái Niết bàn riêng của một người. Đúng như thật sự, bởi vì cái riêng luôn luôn còn lẫn cái ngã, mà cái tuyệt đối thì không bao giờ còn ngã trong đó. Phải vượt hết hoàn toàn bản ngã mới đến được tuyệt đối. Ở đây chúng ta có một câu hỏi. Câu hỏi hỏi này đây là một sự hiểu lầm từ ngàn xưa, mà ngày hôm nay chúng ta ngồi với nhau chúng ta phải mổ xẻ cho tan để chấm dứt sự chia rẽ này. Có người nói rằng một vị A La Hán Tiểu thừa tuy hết chấp ngã nhưng còn chấp pháp.
[32:43]Quý sư có nghe điều đó chưa? Có nghe trong kinh gì nói, nói một vị A La Hán Tiểu thừa tuy hết chấp ngã nhưng còn chấp pháp. Bây giờ xin quý sư cho ý kiến là câu này đúng hay sai? Ngày hôm nay chúng ta thẳng thắn đặt sòng phẳng vấn đề ra, chấm dứt mọi sự nghĩa là hiểu lầm từ ngàn xưa để lại để chúng ta mang Phật giáo đi vào thế kỷ 21 mới. Vào một thế kỷ mà khoa học tiến bộ vượt bực, không chấp nhận cho chúng ta một sự sai lầm nhỏ còn sót lại trong đạo Phật. Chúng ta phân tích lại câu đó. Nói rằng hết chấp ngã nhưng còn chấp pháp, câu này hợp lý hay vô lý ở điểm nào? Mời quý sư cho ý kiến.
[33:34]Dạ
[33:46]dạ.
[33:53]Dạ dạ, cảm ơn thầy. Thầy có thầy chứng tỏ có nghiên cứu nhiều đó.
[34:07]Chúng ta cần nghiên cứu hết để chúng ta biết một cái lời nào nó xuất phát từ cái vị trí nào. Thì chúng ta thôi nói luôn cũng gần hết giờ. Thứ hai. Thì à ví dụ như là chúng ta nói đây là cái bàn tay. Cái bàn tay. Đây là lòng bàn tay. Khi đưa ra như vậy tức là đây là cái lòng bàn tay. Nhưng mà chỉ cần nói cái lòng bàn tay thôi thì mình phải hiểu là nó có cái gì? Có cái lưng bàn tay. Chỉ cần nói một cái mình biết có cái thứ hai đi theo. Như vậy ngã và pháp là hai cái đối nhau mà lập. Ví dụ như là chúng ta thấy chúng ta khác với mọi cái chung quanh bởi vì mình có cái ngã. Cho nên mình có cái pháp đối nhau.
[34:50]Ngã và pháp là hai cái đối nhau mà lập. Một cái mất, cái kia biến mất luôn. Ví dụ mình nói tối và sáng cũng vậy, tại sao mình nói là ở dưới gầm bàn này là tối, mà ở ngoài trời là sáng? Tại sao mình phân biệt hai cái sáng tối? Vì nó có hai cái trạng thái, mình mới lập cái sáng tối. Nếu không có cái ánh sáng bên ngoài này, tất cả chỉ thuần một cái màu mờ mờ như trong đây, mình còn cái khái niệm phân biệt sáng tối nữa không? Chấm dứt, không còn phân biệt sáng tối. Nên mất một cái thì cả hai cái khái niệm phân biệt đều đổ vỡ. Nếu trên thế giới này chỉ thuần một người nam hoặc là nữ thôi, thì mình tự nhiên mình cảm thấy chỉ có con người thôi,
[35:28]chứ mình không còn nói là con người nam, người nữ nữa, phải không? Vì chúng ta lập hai, lập ra làm hai vì cái gì nó có hai. Chịu, hiện thành cái sự so sánh, sự đối chiếu, sự chấp. Còn khi một cái tan vỡ, cái kia cũng tan. Khái niệm đối lập lại nó tan vỡ theo. Cũng vậy pháp cái khái niệm về pháp, cái nhận thức về pháp có bởi vì nó có cái nhận thức về bản ngã, có cái cảm nhận về bản ngã chính mình. Chứ nếu như mình tan vỡ cái bản ngã, tan vỡ cái chấp ngã, tự nhiên mình cảm thấy không có một cái pháp bên ngoài nữa. Khi một bậc A La Hán mà ngã chấp tan vỡ, đúng vị đó cảm thấy không còn cái riêng mình ở đây
[36:06]nữa, mà cảm thấy mình là tất cả chúng sinh, mình là cây, cỏ, lá, hoa, là mây trời, là chim kêu, là hoa nở. Tất cả rung động trong một thể tánh, không còn cái riêng, không còn có hai để mà lập ra ngã, ra pháp. Cho nên ngã chấp tan là pháp chấp tan. Đó là trên lý luận triết học, chúng ta vẫn cảm thấy điều đó hợp lý. Rồi một điều nữa như câu nói rằng một bậc A La Hán Tiểu thừa tuy hết vô ngã nhưng mà chưa có cái đại bi của Bồ tát. Câu này đúng hay sai? Bậc A La Hán Tiểu thừa nói là
[37:01]tuy hết vô ngã nhưng chưa có được cái đại bi của Bồ tát.
[37:10]Câu này đúng hay sai?
[37:16]Quý sư cho ý kiến. Câu này đúng hay sai? Sư Hải cho ý kiến. Về cái việc trước hết là trên lý luận triết học chúng ta phân tích như thế này trước. Rồi còn cái bản nguyện mỗi người là trên cái nhân quả, có lẽ lần lần chúng ta sẽ nói sau. Vì trên lý luận triết học chúng ta nói trước thế này, khi một người mà bản ngã không còn thì người đó còn ích kỷ không? Còn không? Hết, phải không? Không còn ích kỷ có nghĩa là vị tha tràn đầy rồi chứ gì nữa. Trong đời sống mình hiện diện trước mặt mọi người đó, chung quanh với mọi người hoàn toàn mình không còn nghĩ gì cho mình nữa. Thì như vậy mỗi lời nói, mỗi cử chỉ của mình là vì ai?
[37:56]Mình không vì mình thì vì ai? Rõ ràng là vì mọi người chứ vì ai. Cho nên có một lần trong bài kinh Tiểu Kinh Rừng Sừng Bò, Đức Phật đến thăm ba vị A La Hán mà sống với nhau rất hòa hợp để tu hành. Khi mà đoạn cuối bài kinh Đức Phật có khen thế này, chư thiên phải đến đây xem ba vị này sống ở đời vì lòng thương tưởng và lợi ích cho chúng sinh. Mặc dù ba vị đó già, ba vị đó sống lặng lẽ trong khu rừng. Nhưng mà cái lòng thương tưởng và lợi ích chúng sinh nằm ở chỗ nào đó mà khiến Đức Phật khen. Điều đó sau này chúng ta sẽ bàn tiếp, chính Đức Phật đã khen. Chúng ta thấy, cái vô ngã không có, tức là cái ích kỷ không có.
[38:39]Mà người không còn ích kỷ, tức là vị tha tràn đầy. Mà cái vị tha tràn đầy này mình gọi là đại bi được không? Được quá đi chứ. Như vậy trước hết trên lý luận triết học, vô ngã và đại bi là một. Còn cái mà ví dụ có người rất siêng năng độ sinh, có người thì sau đó thì lặng lẽ sống lặng lẽ và nhập Niết bàn. Thì đó là chúng ta sẽ xét trên khía cạnh nhân quả. Cái này chúng ta có dịp bàn sau.
[39:07]Bây giờ chúng ta nói lại cái tâm. Nãy chúng ta đã nói tâm mình nó có hai lớp là ý thức và vô thức. Và chúng ta nói Phật tánh là tuyệt đối, không có riêng. Nó là một cái gì rung động của vạn hữu vũ trụ, không có riêng ai. Và chúng ta đi đến đó bằng cái con đường chúng ta không đến đó bằng xe hơi, xe đò, máy bay, phi thuyền, tên lửa gì hết, mà chúng ta đi bằng con đường tâm. Chỉ có một con đường duy nhất để đến đó và ai cũng có con đường để đi đến đó hết, là cái tâm. Và con đường tâm nó đi thì nó không đơn giản. Vì nó có tới hai lớp, một là lớp ý thức và hai là lớp vô thức. Lớp ý thức thôi vậy chứ đơn giản.
[39:50]Người có cái hạnh chút, siêng năng tinh tấn, đúng phương pháp một chút, thì có lẽ là một tháng, hai tháng hay là nhiều lắm một năm, nhiếp được tâm. Tâm có thể thanh tịnh, lặng lẽ. Còn cái lớp vô thức thì sao? Nếu mà chúng ta không được gặp thiện tri thức hướng dẫn, chúng ta không xuyên qua nổi. Vì những hoạt động của nó quá vi tế. Đa số nhiều người đến nhấp nhổm trước cái cửa của vô thức chuẩn bị vào được thì lại lui ra mất, không có vào sâu được đâu. Còn có một số vị do cái duyên đời trước bước vào được vô thức một chút, chạm được cái định vào được vô thức một chút, khởi tà kiến, khởi thần thông rồi trở thành ngoại đạo.
[40:29]Trở thành những vị có thần thông của ngoại đạo, không còn đúng con đường trong cái giới vứt chánh kiến của Phật pháp nữa. Cho nên cái con đường tâm để đi đến tuyệt đối, dù tâm chúng ta được định lặng lẽ, thấy mình phủ trùm, rất là sáng suốt, có thể là chúng ta tỉnh giác trong ý thức,
[40:50]Cho nên cái con đường tâm để đi đến tuyệt đối, dù tâm chúng ta được định lặng lẽ, thấy mình vũ trùm, rất là sáng suốt, có thể là chúng ta tỉnh giác trong tri thức cũng như trong giấc ngủ, chúng ta mới định được cái phần ý thức, còn cả một khối vô thức rất là sâu kín, phức tạp, chúng ta chưa vượt qua nổi. Mà ở cái vô thức này, chúng ta cần cái duyên nhiều đời, chúng ta cũng cần cần có minh sư, thiện tri thức, người mà có kinh nghiệm mới đưa chúng ta qua nổi cái cái cái khu rừng của vô thức này. Còn một mình chúng ta thường ít có người qua nổi. Đó là lý do tại sao mà trong thời đại ngày hôm nay,
[41:23]chúng ta thấy hiếm có người mà đắc đạo có sâu thẳm là vậy đó. Vì cái vô thức quá phức tạp. Bây giờ hôm khác mà khi mà nói về cơ chế của định đó, chúng ta sẽ phân biệt từng lớp định. Trên cái yếu tố tâm lý, sinh lý nó đi thế như thế nào nó gọi là định, và như thế nào gọi là ngộ. Như một người khi được đốn ngộ, tâm họ bỗng nhiên tan vỡ, vũ trùm. Rồi trên cái sinh lý của não, cái não nó nó đang ở trong cái tình trạng nào mà được gọi là ngộ? Rồi khi một người đã lắng sâu vào định, thì cái não của họ đang ở trong trạng thái nào gọi là định, và tâm họ từng lớp tâm thức như thế nào? Thì có lẽ hôm khác chúng ta sẽ nói.
[42:03]Bây giờ chúng ta nói tiếp về bản ngã một chút, vì người tu chúng ta chúng ta cần nhận định điều này. Bây giờ chúng ta hỏi nhau điều này: Bản ngã là gì? Chúng ta cố gắng đối diện thẳng tới cái này. Bản ngã là gì? Thì mỗi người nhìn vào trong tâm mình để trả lời, chúng ta đừng dựa vào sách vở. Chúng ta nhìn thẳng vào trong tâm mình để trả lời:
[42:46]Bản ngã là gì? Mình nhìn quan sát nơi chính mình để trả lời câu này, đừng theo sách vở.
[42:57]Tại vì suốt cuộc đời tu hành của chúng ta đó, chúng ta bị bản ngã nó chi phối khủng khiếp từ trong vô thức, mà bản ngã nó giấu mặt ở trong vô thức chứ không nằm ngoài ý thức, đấy. Nó từ trong vô thức nó chi phối suốt cuộc đời tu hành, làm cho khi mình bị tham lam, khi mình sân hận, khi mình kiêu hãnh, khi mình hơn thua, khi mình đố kỵ, hoàn toàn do nó. Cho nên một người mà muốn đi sâu vào định, chúng ta phải nhận diện cho rõ bản ngã để chúng ta thoát được cái sự chi phối của nó, làm cho mình có cái đức hạnh trên cái đường tu. Bản ngã là gì?
[43:44]Mời sư Khải. Cảm ơn sư. Nếu mà nói cái ngã trên phân biệt thành sắc, thọ, tưởng, hành, thức á, thì nó đã sâu luôn rồi. Tại vì từ cái hành ấm và thức ấm nó thuộc về vô thức, và bản ngã nó giấu mặt ở trong hành ấm. Hôm khác khi mà chúng ta học về cái cơ chế của ngũ uẩn, của năm ấm, chúng ta sẽ phân biệt từng ấm, từng ấm nó hoạt động như thế nào, hôm nay mình không có thì giờ. Thì nói cái trả lời cái câu thứ hai của sư Khải đó, trên cái nhìn thẳng đối diện á, mà không theo sách vở á, thì mình lấy câu trả lời cái phần thứ hai của sư Khải là đúng. Nghĩa là chúng ta có cái cảm giác có một cái ta trung
[44:16]tâm nó khác với mọi người, mọi vật bên ngoài. Đó là một cái cảm giác, xin thưa nó là một cái cảm giác. Và dĩ nhiên là nó không có thật. Chính Đức Phật đã nói rằng cái ta không có thật. Ta không có thật. Nó chỉ là một cảm giác, nhưng cảm giác nó rất mạnh, nó giấu tận trong vô thức, làm cho mình cảm thấy mình có một cái ta trung tâm của mình, chưa hẳn gọi là cụ thể đâu, một cái ta trung tâm nó phân biệt khác với cái người, mọi người, mọi vật. Đây là cái cái sự tổ hợp của các phản ứng, các cảm giác để có một cái ta trung tâm như thế. Và cái biểu hiện của nó là gì? Những cái như mình nói cái nhìn thô ở bên ngoài là cái thân này,
[44:56]nhiều khi mình cũng gán nó là cái ngã, nhưng mà một người có trí thức, có biết tu thì người ta bỏ cái thân này, người ta cho cái tâm này, những cái ý tưởng của mình là cái ngã. Cho nên khi một ý kiến mình phát ra mà người khác họ phản đối, mình hơi có cái giận, là bởi vì nó chạm tới cái bản ngã. Nên những biểu hiện của nó là nó hiện ra những cái phiền não, giận hờn, hơn thua, đố kỵ, tham lam, ích kỷ, nóng nảy là những cái cái bản ngã. Nhưng mà cái bản ngã này nó giấu mặt trong vô thức, cho nên cái người tu mình đó, khi mà nhập định được rồi, của ý thức rồi, nhưng mà mình thấy nhiều người vẫn chưa thoát được cái sự chi phối của bản ngã.
[45:30]Chúng ta sẽ gặp nhiều vị thầy tu có sở đắc tâm linh, đúng, vị đó có sở đắc tâm linh, có định, có ngộ. Chúng ta sẽ gặp nhiều vị thầy tu có sở đắc tâm linh, đúng, vị đó có sở đắc tâm linh, có định, có ngộ, nhưng bản ngã rất lớn. Chúng ta có thấy không? Chúng ta đã gặp chưa? Có, phải không? Có những vị có sở đắc tâm linh nhưng mà bản ngã rất lớn, vì sao? Vì cái vị đó cái định ở ngoài ý thức, còn cái ngã nó giấu trong vô thức, vì vị đó chưa vào trong vô thức để kiểm soát được, cho nên cái ngã đó nó chi phối họ. Với thêm một cái nhận lầm nữa, nhận lầm ở cái này. Cái con đường tâm của mình đi đến tuyệt đối nó
[46:12]rất là dài, nó phần ý thức và phần vô thức. Nhưng mà người đó cứ lầm tưởng, cứ lầm tưởng đem cái cảnh giới của mình chứng được á nó đang còn ở trong tâm chứ chưa ra hết được cái tâm thức mà tưởng đã là tuyệt đối rồi, tưởng đó đã là Phật tánh, chân tâm rồi, nên cái ngã mạn xuất hiện liền lập tức. Đây là câu hiểu lầm mà phát sinh tà kiến. Chúng ta nhớ là cái tà kiến, chánh kiến chỗ này đi. Cái người đó mà hiểu rằng khi nào vượt hết được tầng lớp tâm thức này đó, hết được ngã mới đến tuyệt đối, thì người đó dù có định cách nào, có ngộ cỡ nào, vẫn không cho mình là đủ, người đó vẫn khiêm tốn tu tiếp, nên người này không bị rớt vào tà kiến.
[46:53]Dù họ có sở đắc tâm linh, mình vẫn thấy họ là một người khiêm tốn, lễ độ. Đây là người đúng chánh kiến đạo Phật. Còn cái người mà không biết được điều đó, cứ tưởng cái Phật tánh tuyệt đối đó nó nằm cạn cạn gần gần thôi, cho nên vừa được định một cái, được ngộ một cái đã nhận liền, à đây là Phật tánh. Không ngờ nó đang còn trong tâm thức, chưa ra khỏi tâm thức. Chính vì còn trong tâm thức nên bản ngã còn, và chính bản ngã còn, họ ngã mạn, và vì họ ngã mạn, lần lần họ trở thành tà kiến. Đây là cái nguyên nhân của một người tu tuy có đắc lực, có kết quả, họ trở thành tà kiến là như vậy. Do chỗ nhận lầm, nhận lầm, tưởng rằng Phật tánh tuyệt đối là cái quá
[47:33]cạn, quá gần với mình thôi, quá gần, nên tu được có một vài kết quả đã nhận cái đó là Phật tánh liền, thì sau này sẽ phát sinh tà kiến. Còn cái người mà mình hiểu sâu, mình biết phải vượt hết tâm thức này đó mới đến Phật tánh, nên dù có sở đắc cỡ nào, có chứng cỡ nào, vẫn phủ nhận, vẫn không chấp nhận nó là tuyệt đối, vẫn âm thầm thúc liễm, khiêm tốn mà tu tiếp, người này giữ được chánh kiến. Đây là cái quan trọng. Tại sao mà ban đầu thấy người đó tinh tấn tu hành có chánh kiến, về sau trở thành ngã mạn, tà kiến, là vì chỗ hiểu lầm ban đầu, tưởng Phật tánh tuyệt đối nó nằm gần mình lắm. Như có người nói thế này, nói:
[48:11]"Tâm này giống như là một cái biển, những cái sóng là cái vọng tưởng, khi sóng lặn hết thì đó là chân tâm, Phật tánh." Câu nói này nó cũng gây ra sự nguy hiểm. Sự thật, biển nó chưa yên và cái sóng ngầm còn rất nhiều. Chính cái vô thức còn rất nhiều nên chúng ta định được trên bề mặt ý thức mà cái vô thức, cái ngã còn nguyên và những cái phiền não bí mật bên trong còn tiềm tàng rất nhiều, chưa vượt qua được. Ngang cái mặt biển mà thấy nó phẳng lặng cho đó là Phật tánh, chắc chắn sau này khởi tà kiến và mất công đức như lại.
[48:41]Chúng ta còn vài phút, thì ghi câu hỏi rồi mình sẽ sau đó sao cho giải đáp. Hãy nói về bản ngã. Câu hỏi chỉ đơn giản thôi: Hãy nói về bản ngã. Tức là chúng ta nói trên bản ngã trên cái kinh nghiệm tu hành của mình. Chúng ta có dựa vào kinh điển một chút, nhưng mà chúng ta vẫn phải nhìn thẳng vào nội tâm của mình, thông qua cái cuộc đời tu hành của mình để chúng ta phân tích cái bản ngã. Nó là cảm giác như thế nào? Những biểu hiện nó như thế nào? Khi nào nó có lợi và khi nào nó bất lợi? Và chúng ta đã kiểm soát được nó từng bước từng bước như thế nào? Tức là mọi khía cạnh gì về bản ngã mà trong cái kinh nghiệm
[49:19]tu hành của mình đó, chúng ta trình bày cho nhau nghe. Câu hỏi là: Hãy nói về bản ngã. Chúng ta nói rất nhiều nha, không phải là một hai câu được đâu, nó rất là dài. Người nào mà đã từng có những cái trăn trở về sự tu hành thì sẽ có nhiều cái ý hay. Chúng ta tu là cái thoát khỏi bản ngã, mà bản ngã nó chi phối chúng sinh nó làm nên bao nhiêu cái tối tăm trong cuộc đời này, bao nhiêu cái sa đọa, tội lỗi từ cái bản ngã hết. Cho nên ngày hôm nay chúng ta phải đối diện với nó, đối diện với nó để không còn bị lầm bởi nó nữa. Tuy chúng ta chưa vào được trong vô thức để có thể kiểm soát được nó, nhưng mà từ bây giờ chúng ta đã có cái nhận định căn bản về nó,
[49:58]chuẩn bị cho cái cuộc đời tu hành còn lại của mình bớt bị lầm bởi nó nữa. Thì còn một vài phút, chúng ta có thể nêu câu hỏi đó. Thì có một vài câu hỏi chúng ta có thể nêu.
[50:13]Sư nêu câu hỏi rất hay. Đây là vấn đề mà chúng ta sẽ đối diện trong thế kỷ sắp tới. Đây là rất là hay. Nãy chúng ta đã hiểu cái cơ chế của tư tưởng của mình là nó có hóa chất ở trỏng, phải không? Thì như vậy hóa chất nó có thể can thiệp vào trong tư tưởng. Hồi nãy chúng ta cũng nói là nó có ba yếu tố tạo thành cái hóa chất mà trong não bộ mình, phải không? Nói rồi, phải không? Ba yếu tố. Một là gì? Hồi nãy câu này quan trọng lắm. Nói lại, hoàn toàn ba cách mà tạo nên hóa chất trong não: Một là gen di truyền, gen di truyền của mình. Ví dụ mình cha mẹ sinh có cái gen di truyền, tự nhiên người đó cứ luôn luôn phát sinh cái sự nóng nảy, khó chữa vô cùng.
[51:01]Hoặc là một người đó có cái lòng từ ái, là những cái hóa chất từ ái nó xuất hiện trong não là do cái gen di truyền, nếu mình nhìn theo khoa học. Cái thứ hai là do tư tưởng.
[51:12]Ví dụ như là khi mình chưa có cái lòng từ bi thương yêu, nhưng mình mỗi ngày ngồi thiền mình đều quán từ bi thương yêu chúng sinh, thì cái hóa chất của cái lòng thương yêu nó xuất hiện, là do tư tưởng nó phát sinh ra cái hóa chất đó. Gen nó phát sinh ra hóa chất, tư tưởng phát sinh hóa chất não. Và thứ ba là do cái thức ăn, tức là cái thuốc men bên ngoài, thức ăn hay thuốc men
[51:38]nó tạo thành hóa chất. Đây là ba cái đó. Thì chúng ta thấy ba cái đó nó có ba cái tác động. Cái thứ nhất thì giống như bẩm sinh, nên cái người này từ nhỏ mình đã thấy họ cứng đầu, bướng bỉnh hay là hiền lành tự nhiên, không cần phải dạy nhiều. Như như có lần tôi chứng kiến một bé gái năm nay nó mới bảy tuổi, không biết tới bảy hay nhỏ hơn nữa, mẹ nó rầy nó, nó nói: "Tao không cần mày nữa." "Tao đợi ba về", mới bảy tuổi. Mà chung quanh hàng xóm nó không có đứa trẻ nào mà hư như vậy hết, mà không có người lớn nào dạy nó điều đó hết, tự nó như vậy. Thì trường hợp này là do gen. Mà nếu nói là nhân quả là do phước đức ông bà,
[52:16]nhưng mà thôi mình cứ nhìn qua gen thì đây là bẩm sinh, rất khó dạy. Nên đa số những tay tội phạm mà nó quá ác độc là do gen nó phát sinh ra hóa chất ác độc trong não, người này rất khó giáo hóa. Cái thứ hai là do tư tưởng thì cái này do giáo dục được. Đây là nói khi một người có thể là họ có số ít ít nào đó, nhưng mà do được học hỏi, họ tư duy nhiều về những cái tốt, thì tư tưởng họ phát sinh những hóa chất tốt trong đầu, cái lúc đó đầu họ nó thấm nhuần những cái hóa chất để làm cho họ không tham, sân, si, sân si, mà họ rộng rãi, khoáng đạt hơn, là do tư tưởng. Thì cái yếu tố tạo nên tư tưởng này là do giáo dục.
[52:49]Là chính đây là điểm mà chúng ta chú ý. Và cái thức ăn, cái thuốc men này nè là bổn phận của khoa học. Nó sẽ có những hóa chất sau này nó ứng vào nó tác động tư tưởng con người. Hiện nay đã có. Những loại thuốc như kích dục, những thuốc mà kích thích con người ta nó cuồng nhiệt lên. Như có một số quốc gia mà trong cái quân đội họ bị ác độc, họ những người lãnh đạo ác độc đó, trước khi ra chiến đấu họ cho lính họ uống loại thuốc kích thích giết người không gớm tay. Đó là tác động thức ăn, thuốc men bên ngoài đưa vào. Khi mà phân tích được điều này đó, chúng ta sẽ thấy sau này những cái tội nhân
[53:24]mà bây giờ chúng ta gọi là những người tội lỗi bị bắt giam vào tù đó, người ta không còn gọi là tội nhân nữa mà gọi họ là bệnh nhân. Bệnh nhân về nhân cách. Người bệnh về nhân cách. Cái người bệnh về tâm thần á là người điên á là ngày xưa đó người ta đã cho mấy người đó là có tội, là bị quỷ nhập người ta giết hết rồi, hồi xưa. Nhưng sau này khi khoa học phát triển, thì xem người đó là người bệnh tâm thần nên có tìm cách chữa trị, đưa họ vào nhà thương điên, cho họ uống thuốc, vân vân, để làm cho họ hết bệnh. Mà vẫn còn coi cái người ác độc phạm tội giết người, cướp của là vẫn là tội nhân. Nhưng sau này, tôi nghĩ chừng khoảng qua thế kỷ 21 không bao
[54:00]lâu đâu, người ta sẽ coi những người đó là bệnh nhân, bệnh nhân của nhân cách, vì các hóa chất này tác động vào não. Họ sẽ đưa ra ba phương pháp để giáo hóa cái người đó, để chuyển hóa một cái người tội nhân đó, thay vì cùm tù đánh đập họ, họ sẽ có ba phương tiện để mà chuyển hóa một người tội nhân. Thứ nhất: Dùng thuốc. Là nó chặn đứng tạm thời cái sự hung ác của người đó liền. Nhưng mà cái thuốc đó khi nó hết thuốc rồi thì những cái này của họ nó tiếp tục nó tạo hóa chất trở lại, phải không? Cho nên thuốc nó chỉ chặn đứng tạm thời chứ nó không bền. Đó là một phương pháp thứ nhất, họ tạm thời họ dùng thuốc liền. Thứ hai:
[54:35]Họ dùng thôi miên. Họ dùng cái năng lực tinh thần thôi miên làm cho người đó khống chế tư tưởng bên trong lại, không làm ác nữa. Là cái thứ hai, nhưng cũng không bền. Nó kéo dài hơn cái thuốc, nhưng cũng không bền. Và cái bền bỉ là cái tư tưởng giáo dục. Cái giáo dục này. Cho nên sau này, khi một người tội nhân có phạm tội, họ sẽ được đưa vào để phân tích tâm lý, họ chiếu máy vào não họ phân tích ra hết, họ loại bệnh nào bệnh nào gì đó, bắt đầu họ cho dùng thuốc. Dùng thuốc xong họ cho qua một cái lớp trị liệu về tâm về tinh thần, năng lực tinh thần, chữa bệnh bằng khí công, nén dịu xuống, sau đó bắt đầu họ cho đi giáo dục tư tưởng,
[55:10]giáo dục về nhân quả, về thiện ác, vân vân. Thì sau khi đào tạo xong, trả người đó trở lại xã hội trở thành người tốt. Khoảng thế kỷ 21 điều này sẽ xảy ra. Lúc đó không người tội nhân không còn là tội nhân nữa mà là bệnh nhân về nhân cách. Đây là sự tiến bộ của khoa học. Mà chúng ta là người đạo Phật, chúng ta phải đi trước điều đó, chúng ta gợi ý cho khoa học tiến bộ. Hiện nay khoa học tiến bộ quá nhanh. Chúng ta nhờ kiến thức của khoa học để chúng ta áp dụng cái sự tu hành của mình tiến bộ hơn. Nhưng chúng ta cũng có cái nhìn độc đáo để gợi ý cho khoa học tiến bộ nhanh hơn. Có ai hỏi gì nữa không? Dạ, dạ cảm ơn. Tư tưởng này nó gồm hai điều:
[55:53]Là một là cái sự giáo dục bên ngoài ha, mình nghe lời giảng bên ngoài. Thứ hai là tự mình khởi cái tư tưởng đó lên. Bắt đầu đây là cái của mình thật sự rồi đó. Đến lúc này mới là cái chắc ăn. Ví dụ như mình là người ác độc, nóng nảy đi, mình đến mình nghe giảng thì mình chỉ nghe người ta nói thôi. Nhưng sau đó tự mình suy nghĩ về cái điều hiền lành, lương thiện thì bắt đầu là từ não mình nó xuất hiện cái hóa chất tốt. Thì thiền định là một trong những phương pháp kiểm soát tâm rất là hiệu quả, rất là hiệu quả. Tuy nhiên, có những người quá thô do cái gen của họ quá mạnh, luôn luôn nó tiết ra những cái hóa chất tạo nên những hóa chất
[56:29]ác độc, những người đó thì giáo dục không xi nhê. Thiền bắt chân lên ngồi ngồi tâm loạn. Những người này mình gọi là căn cơ thấp. Nên những người này giai đoạn đầu đôi khi cũng còn cần thuốc. Đôi khi cần kỷ luật, cần sự hơi gò bó một chút, cần kỷ luật chút, cần thuốc men, cần sự an ủi, cần sự đồng cảm, cần sự giáo dục sau đó mới tới thiền. Vì cái thô, cái phiền não thô họ rất mạnh mà tự họ không thể nào họ nhiếp tâm họ vào được nữa, nên cần có những người chung quanh giúp đỡ, an ủi và tạm có thể dùng thuốc. Nếu sau này mà khi khoa học họ bước vào thiền, họ thấy thiền là một cái đỉnh cao văn minh của nhân loại sau
[57:08]này, họ buộc tất cả mọi người, học sinh phải đi học thiền hết. Ví dụ sau này học sinh bước vào trường là phải tu thiền hết, ví dụ như vậy, thì khoa học họ sẽ bước vào thiền và chia chẻ, họ phân tích nát cái thiền ra. Cơ chế thiền là gì, định là gì, ngộ là gì, con đường đi, tác dụng của nó ra sao, thuốc thang có tác dụng gì, máy móc đo cái sức định của mỗi người như thế nào. Ví dụ mỗi trường học đều có máy đo định hết, học trò ngồi thiền đo người nào định, người nào loạn biết hết, thì lúc đó thì rõ ràng là nó sẽ có phương pháp để hỗ trợ người tu thiền bước đầu. Có khi bước đầu mình nhiếp tâm không nổi,
[57:37]nó động quá, họ sẽ có một số phương pháp giúp mình nhiếp tâm bước đầu, rồi sau đó tự mình tiếp tục lấy cái đà đó mình nhiếp tiếp. Nên sau này khoa học tiến bộ, tôi nghĩ rằng nó có nhiều phương tiện giúp đỡ cho mình buổi đầu, giúp tạm thôi, còn chủ yếu vẫn là sự nỗ lực bản thân. Đó là cái bền bỉ, sự làm chủ lấy chính mình.
[58:02]Mời sư huynh hồi hướng. Nguyện đem công đức này,
[58:13]hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo.
[58:32]Nếu không ai hỏi thì tôi xin nói luôn qua vấn đề kinh Đại thừa hôm trước luôn. Tại vì hiện nay, nào giờ theo cái truyền thống tín ngưỡng của chúng ta, nhất là ảnh hưởng cái vùng Phật giáo Bắc tông là Trung Hoa, Tây Tạng, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản, đó là các quốc gia Bắc tông. Còn Miến Điện thì đa phần là Nguyên thủy nhưng có ảnh hưởng Bắc tông. Và ở nơi những quốc gia mà theo Phật giáo Bắc tông Đại thừa thì những kinh điển thuộc hệ Đại thừa như là Kim Cang, Bát Nhã, Pháp Hoa, Đại Bát Niết Bàn, Lăng Già, Lăng Nghiêm, vân vân, thì coi như là những bài kinh tiêu biểu. Và trong các kinh đó dựng lập thành một cái hệ tư tưởng
[59:15]phân lập, đối lập hẳn với cái hệ tư tưởng của Theravada. Đó là một sự phân hóa lớn trong cái tình trạng Phật giáo của thế giới. Của thế giới chứ chúng ta không nói Việt Nam riêng. Việt Nam thì chưa ảnh hưởng mấy đâu, chúng ta chưa thấy đâu, mới đang có thôi, không nhiều đâu, bởi vì ảnh hưởng của Bắc tông Đại thừa mạnh hơn. Nhưng trên thế giới thì phân hóa thành hai hệ thống rất là rõ. Và nhiều nhà sử học họ đi vào nghiên cứu Phật giáo, họ khách quan tìm hiểu, họ không phải là tín đồ đạo Phật, họ cứ bình tĩnh khách quan nghiên cứu thôi. Và những vấn đề đó thì đã được các viện Phật giáo thế giới,
[59:56]còn ở Việt Nam thì có Viện Phật học cao cấp Vạn Hạnh và Viện Nghiên cứu Phật học đều nghiên cứu rất là rõ. Những cái điều mà các viện nghiên cứu họ nghiên cứu rõ đó đều lấy vào các tài liệu. Họ căn cứ thứ nhất là hệ thống kinh, thứ hai là các luận và thứ ba là những công trình nghiên cứu của các nhà sử học. Và vấn đề này nó gây ra cái hai cái tư tưởng như thế này: Vào cái thời mà bên Theravada đó thì họ trung thành với kinh điển truyền thống, nhất là cái kinh điển nghĩa là kinh điển Nikaya. Và nếu có luận thì là luận Abhidhamma. Đó là những cái những cái chỗ y cứ của họ và họ bài xích Đại thừa rằng Đại thừa là Bà-la-môn, ngoại đạo.
[1:00:43]Nếu một vị sư mà thuộc Bắc tông mà có lỡ được mời vì lý do gì đó mà đến dự buổi trai tăng của các sư Nam tông thì sẽ được mời chung ngồi chung với cư sĩ, chứ không được mời ngồi với chư tăng. Là họ cho rằng các nhà sư Bắc tông là ngoại đạo, Bà-la-môn. Đó là một sự công kích từ bên Theravada qua đối Bắc tông. Còn bên Bắc tông công kích lại thì như thế này: Thì cho rằng nếu theo kinh điển toàn bộ hết, kể cả Nam tông và Bắc tông, thì thấy Nam tông là Tiểu thừa, là những người tu với cái tư tưởng tiêu cực mà tu không có một cái đại tâm rộng lớn để phát nguyện độ chúng sinh, để thề thành được Phật quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
[1:01:26]Như vậy, Theravada tu với một cái sự phát tâm nhỏ và một quả vị nhỏ và một tư tưởng hẹp hòi. Đó là sự công kích trở lại. Thì bên nào cũng có cho mình có một cái chỗ hay để công kích bên kia. Vấn đề của chúng ta ngày hôm nay là chúng ta bước vào thế kỷ 21 rồi, sắp sửa rồi, mọi vấn đề phải mổ xẻ toạc ra hết. Chúng ta sẽ tìm thấy được một cái lẽ phải chung, một cái lẽ phải chung mà nơi cái lẽ phải chung này cái thành kiến về các tông phái được xóa bỏ. Là chúng ta không còn phân biệt Tiểu thừa, Đại thừa nữa. Chúng ta sẽ tìm cái đúng với tinh thần của đạo Phật và không đúng thôi. Cái không đúng chúng ta tránh và cái đúng chúng ta tiếp nhận, giữ gìn.
[1:02:07]Tuy nhiên cái đúng này nó có hai mức độ đúng. Một cái mức độ đúng thứ nhất là: ...đúng với những lời Phật dạy từ kinh nguyên thủy, đó là cái chúng ta không thể phủ nhận được. Cái thứ hai, cái đúng thứ hai là một số kinh điển phát triển sau Phật, nhưng không sai với căn bản, tuy nhiên phát triển đường lối
[1:02:30]mà đúng là thời đại Đại Thừa rất là cần thiết cho Ấn Độ thời đó. Ta để ý trong cái từng thời kỳ chúng ta để ý thế này, nó sẽ có ba cái giai đoạn rõ rệt nhất mà Phật giáo phát triển ở Ấn Độ, ở Tây Tạng và ở Trung Hoa. Ta sẽ thấy ở Ấn Độ đó là sau thời gian mà Phật nhập Niết-bàn, rồi lần lượt các vị A-la-hán cũng vắng bóng. Lúc đó các ngoại đạo họ mới phát triển lý luận của họ để tìm cách cạnh tranh thế lực với Phật giáo. Còn trước kia thì họ bị lu mờ bởi cái nhân cách vĩ đại của Đức Phật và của các vị A-la-hán thời đó. Nhưng sau khi các vị đó vắng bóng thì bên ngoài đạo họ mới củng cố lý luận của họ để cạnh tranh.
[1:03:15]Trong cái củng cố lý luận của họ, họ có vay mượn khá nhiều tư tưởng của đạo Phật. Đây là điều mà ông Gandhi xác nhận. Ông Thánh Gandhi, Mahatma Gandhi mà cái ông mà giành độc lập cho Ấn Độ chúng ta biết rồi chứ gì? Chính ông là người đạo Hindu nha, đạo Ấn Độ chứ không phải đạo Phật. Mà ông phải xác nhận rằng là chính đạo Hindu đã vay mượn rất nhiều tinh thần của đạo Phật, đó. Và khi mà họ vay mượn đạo Phật nhưng mà không đi theo đạo Phật mới là cái khổ của mình. Nếu họ vay mượn đạo Phật rồi họ đi đúng con đường giải thoát thì coi như như thế. Nhưng ở đây họ vay mượn để rồi họ lái, họ lái tư tưởng trở về với tinh thần của thần đạo Ấn Độ.
[1:03:52]Và quần chúng thì lại không đủ tư tưởng phán xét nên lại có sự lung lay. Lung lay, và ngay lúc đó thì những vị tổ đại thừa ra đời. Những vị tổ đại thừa ra đời mới phát triển lý luận của đạo Phật vượt lên trên hết trơn, mới mới coi như lấy lại Ấn Độ, giữ cho hòn đảo này dưới bóng của đạo Phật. Và trong cái sự phát triển này nó có hai dạng phát triển. Một là các ngài viết những bản luận mà thật là cao siêu, thật khó hiểu. Như Trung Quán Luận, Trung Quán Luận là bộ luận khó nhất đời. Đời bây giờ đó, nếu chúng ta đọc nguyên bản chữ Nho chúng ta thấy chữ không khó, nhưng mà nghĩa là bậc nhất, khó nhất của đời.
[1:04:28]Còn những luận như Đại Trí Độ Luận, Đại thừa Bách pháp Luận, Nhân minh Luận gì đó, Duy thức điều bàn sâu Duy thức về tâm lý học ngày hôm nay cực kỳ chính xác. Thì những bộ luận nó còn khó hơn cả kinh nữa. Còn đó là một dạng thứ nhất là viết luận, các ngài có viết tên. Chúng ta biết tên Long Thọ, viết tên Mã Minh, viết tên Thế Thân, Vô Trước. Nhưng mà có một số các vị phát triển thành những bản kinh gọi là Phật thuyết, không dám ghi tên. Tại vì các ngài đưa ra những tư tưởng cực kỳ táo bạo. Mà nếu các ngài nói rằng ngài nói, thì người ta e rằng không chấp nhận, mà các ngài bảo nói là Phật thuyết.
[1:05:02]Thì ngày nay trên quan điểm khách quan và trên quan niệm sử học, chúng ta đánh giá những bài kinh đó như thế này: Thứ nhất là nó là sự cần thiết về lý luận. Thứ hai, nếu bài kinh đó đúng ý Phật thì coi như được chư Phật ấn chứng. Cái điểm mà được chư Phật ấn chứng là điều này không phải chỉ có trong kinh Đại Thừa mà có cả trong kinh Nikaya nguyên thủy. Hôm trước là giảng ở trong tỉnh Thái Bình Sư huynh, chúng ta có học một bài kinh mà ông vua Madura hỏi tôn giả
[1:05:38]Ca-chiên-diên thì phải, dạ.
[1:05:42]Bài kinh đó là viết sau Phật, Đức Phật nhập Niết-bàn rồi, không phải Phật thuyết. Bài kinh đó là một tôn giả A-la-hán viết, nhưng mà được chư tôn giả khác kết tập bỏ vô trong tạng kinh luôn. Và nhớ là bài kinh đó kết tập sau lần kết tập thứ nhất nha. Khi mà Phật nhập Niết-bàn rồi, chúng ta nhớ năm trăm vị A-la-hán kết tập lần đầu tiên ở hang Thất-diệp-la thấy không? Nhưng mà còn cái bài kinh mà Madura đó của Nikaya của Nam tông Theravada được kết tập sau kỳ kết tập đó. Để chúng ta thấy, như vậy trên tinh thần Phật giáo có những điều tuy không phải Phật thuyết nhưng nếu đúng, vẫn được chấp nhận.
[1:06:22]Và được chấp nhận này chúng ta nói trên hai nghĩa: vô hình và hữu hình. Hữu hình nghĩa là được đa số chư Tăng đại chúng thời đó chấp nhận, ký tên chứng nhận. Đó là hữu hình. Và trên vô hình chúng ta nghĩ nếu điều đúng là lẽ phải, đúng chân lý, vẫn được chư Phật chấp nhận gia hộ, giữ gìn. Cho nên chúng ta thấy gì? Những bài kinh mà Đại Thừa đó rõ ràng nói trên tinh thần sử học không phải Phật thuyết. Nhưng rất nhiều người tin Phật, chúng ta tụng bài kinh đó đã tìm thấy được sự linh ứng. Vì sao? Bởi vì có những điều được chư Phật ấn chứng, chấp nhận, gìn giữ, thủ hộ vì điều đó nói đúng ý Phật trong những giai đoạn cần thiết đó.
[1:07:06]Đó là giai đoạn mà phát triển Đại Thừa lần thứ nhất ở Ấn Độ. Lần phát triển thứ hai của Đại Thừa là khi mà đụng tới cái đạo phù thủy của Tây Tạng. Thời xưa bên Tây Tạng có một đạo phù thủy kêu là đạo Bon và nhiều, rất nhiều giáo phái chuyên môn tụng chú, vẽ bùa để tìm cái sự linh nghiệm. Nhưng rồi bắt đầu Phật giáo cũng tràn tới và những vị tổ Phật giáo thời đó có thần thông rất là cao. Và các ngài đã khéo léo phát triển đạo Phật thêm một bước nữa thành cái Mật tông của Tây Tạng luôn, chứ Mật tông cũng không có thiệt đầu. Tới một ngàn sau khi, một ngàn năm sau Phật nhập Niết-bàn mới xuất hiện Mật tông.
[1:07:43]Đó là điều mà các nhà sử học khẳng định. Mà điều đó chinh phục luôn cả cái quốc gia Tây Tạng trở thành đạo Phật hết. Nhưng mà nó phải có cái chịu đánh đổi, có chiều sự đánh đổi là gì? Là trong đạo Phật có phép thuật. Cho nên nếu chúng ta nghiên cứu tới Mật tông, chúng ta sẽ thấy rất nhiều câu chú tụng cho linh và những cái mandala, những câu, những tán, những kiểu bùa. Đó. Và như vậy lúc ấy người dân của Tây Tạng trên căn bản tinh thần của cái đạo phù thủy đó đã biến thành đạo Phật. Và đạo Phật cũng mang sắc thái dân gian của Tây Tạng. Như vậy chúng ta thấy là cái tinh thần mà, tinh thần mà khế cơ, khế cơ khế lý là chỗ này.
[1:08:25]Đạo Phật đi đến đâu hòa nhập với tư tưởng bản địa ở nơi đó, hòa nhập với tinh thần dân tộc tại chỗ đó. Cung cấp cho người ta, cái trên cái sự hòa nhập đó đạo Phật hơi có một sự biến thái, nhưng rồi cung cấp lại cái giáo lý cho dân chúng. Đây là tinh thần của đạo Phật. Và thể hiện rõ ràng giai đoạn Đại thừa ở Ấn Độ, giai đoạn Đại thừa ở Mật, ở Tây Tạng. Và thứ ba là giai đoạn Thiền tông của Trung Hoa. Chúng ta sẽ tới giai đoạn Thiền tông. À khoan, chúng ta lui trở lại cái giai đoạn mà phát triển Đại thừa có Tịnh độ tông. Thời nguyên thủy không bao giờ có tư tưởng mà là mục đích của người tu khi chết vãng sanh về cõi Phật.
[1:09:02]Thời, thời Đức Phật dứt khoát không có. Nhưng mà đến sang thời Đại thừa mà 6 - 700 năm sau Phật thì xuất hiện tư tưởng đó, vì sao? Vì thế này: Đa số người dân Ấn Độ lúc đó có, theo cái niềm tin của đạo Bà-la-môn luôn luôn khát khao được chết sinh về cõi trời, về Phạm Thiên. Đây là cái niềm tin của họ. Trong cái đời sống hiện tại họ không tìm thấy được đạo quả, họ không tìm thấy được chỗ dựa, thì những cái giáo chủ của họ đã cung cấp cho họ một cái niềm tin rằng chết về Phạm Thiên nếu tin giáo chủ. Thì trong cái tinh thần đó đạo Phật cũng vậy, lúc đó các vị tổ trên tinh thần mà khế cơ khế lý đã phát triển đạo Phật thành một cái Tịnh độ tông,
[1:09:46]cho người ta một cái niềm tin khác là chết sinh về cõi Phật. Và dĩ nhiên cõi Phật cao hơn cõi trời. Để gì? Giữ số tín đồ đó không ngã lòng, quay về với đạo Phật. Mà khi họ vững niềm tin đó rồi, trên tinh thần quay về cõi Phật thì chúng ta đọc kinh A Di Đà, kinh Quán Vô Lượng Thọ ta thấy. Nghĩa là: chim, suối, cây, rừng đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, đều nói lý khổ, không, vô ngã. Như vậy cái cõi Phật là cõi trá hình thôi. Đầu tiên cho người ta một cái niềm tin là sau khi chết, không phải là không được sinh về đâu, sinh về cái cõi Phật còn vui hơn cõi trời Bà-la-môn nữa. Nhưng về cõi đó rồi, vẫn học lại những cái mà chúng ta ở cõi này đã học. Phải không?
[1:10:25]Là ở cõi này chúng ta học Tứ Diệu Đế nè, Bát Chánh Đạo nè, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng nè. Thì ở đây mình vẫn học được, đâu cần phải về cõi Phật mới học, phải không? Nhưng mà họ, họ thích chết rồi về một cõi nào đó, thì cho họ niềm tin đó cái đã. Rồi sau đó trong kinh rõ ràng mà, về đó rồi vẫn học cái giáo lý Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, khổ, không, vô ngã, phát tâm đại thừa, cứu độ chúng sinh y như mình vẫn tu ở đây, không gì khác hết. Đó là cái cái sự táo bạo của chư tổ. Mà chúng ta thấy cái táo bạo đó là cần thiết, cần thiết để phát triển đạo Phật và hóa độ chúng sinh. Ở đây chúng ta mới hiểu điều này nữa:
[1:10:57]Chư tổ lúc đó không có cái tâm hơn thua, cạnh tranh tín đồ với họ, mà chỉ vì lòng từ bi, không nỡ để chúng sinh vì cái niềm tin ham chết sanh về cõi này cõi kia mê muội mà bỏ đạo. Nên các ngài tùy nghi phương tiện mà lập ra cái quyền biến để kéo họ lại. Và sau đó cho họ lại chánh đạo. Đó là sự phát triển của Tịnh độ tông. Bây giờ chúng ta nói qua cái Tây Tạng, Mật tông chúng ta nói rồi. Ta nói qua luôn giai đoạn phát triển Đại thừa Thiền tông Trung Hoa. Tại sao? Tại sao đạo Phật biến thành một cái Thiền tông Trung Hoa? Là vì thế này: Trước khi đạo Phật đến Ấn Độ, đã có tinh thần của Lão, Khổng.
[1:11:35]Đạo Khổng thì dạy về, đạo Khổng thì nói đến một cái nề nếp tôn ti trật tự xã hội, giải thích về con người, về nhân sinh, về đạo đức, đâu đó rành mạch, dễ hiểu, thì dễ hiểu. Nhưng Đạo Lão rất khó hiểu và rất siêu thoát. Và những bậc hay là nối tiếp tinh thần của Đạo Lão như là Trang Tử, Liệt Tử, Dương Tử là những người có sở đắc tâm linh, những người mà có thể bay lên hư không được. Cái sức mạnh tâm linh của ông Dương Tử, Liệt Tử có thể bay lên hư không. Còn cái Trang Tử, ngoài một trực giác đặc biệt còn có một hệ thống triết lý mà Nam Hoa Kinh để lại, đã chinh phục tư tưởng của người Trung Hoa bao nhiêu ngàn năm trước.
[1:12:11]Trước khi Phật giáo... Trước khi Đạo Phật đến tới đến tới Trung Hoa và cái tinh thần đốn ngộ đã có từ những vị tổ của Đạo của Đạo Lão. Cái đốn ngộ tức là hoát nhiên đại ngộ. Hoát nhiên đại ngộ, cái chữ đó là chữ của Đạo Lão, không phải của Đạo Phật, mà sau này Thiền tông dùng trở lại. Vì cái vì cái chỗ đó đó, cái hoát nhiên đại đại ngộ đó thấy được cái bản thể rộng lớn và Đạo Phật mình đến Trung Hoa thì những người mà đến Đạo Phật sau trước những cái trước họ có duyên với Đạo Lão, họ có tu tập rồi, chúng ta phát hiện là Đại thừa đó, những kinh điển lớn như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, rồi A Di Đà, Vô Lượng Thọ, Niết Bàn, Lăng Già, v.v., chỉ trên lý thuyết.
[1:12:58]Nhưng mà người Trung Hoa với cái tinh thần Đạo Lão, họ thích nói những câu cô đọng, gọn gàng mà có hiệu quả lớn mà Đạo Lão đã cho họ điều đó. Nếu chúng ta đọc trong cái bài kinh mà Đạo Đức Kinh của Lão Tử, với lại Nam Hoa Kinh của Trang Tử, chúng ta sẽ thấy họ nói rất cô đọng và cái lý rất súc tích, người Trung Hoa thích. Và chính vì để đáp ứng được cái tâm tình của người Trung Hoa, Thiền tông đã xuất hiện. Thiền tông đã xuất hiện. Cái Thiền tông xuất hiện và xuất hiện một cách xuất sắc. Xuất sắc ở chỗ này là có khi một người học trò với cái tâm tình sạch đến ông thầy, thầy hỏi một câu nhẹ hoặc đánh
[1:13:38]một cái hoặc hét một tiếng là người đó người đó hoát nhiên đại ngộ được. Rất giống tinh thần của của Đạo Lão. Mà chúng ta suy ngược lại kinh nguyên thủy, chúng ta sẽ thấy cũng rất nhiều trường hợp như vậy. Chư tỳ kheo không cần ngồi thiền, nghe Phật giảng một câu, một bài kệ thi một bài kinh, lập tức đốn ngộ. Ví dụ như là ngài Xá Lợi Phất mà nghe ngài A Thuyết Thị đọc lên bài kệ bốn câu là ngài hoát nhiên ngộ đạo liền. Rồi khi ngài chôn lại bài kệ đó cho ngài Mục Kiền Liên thì ngài Mục Kiền Liên hoát nhiên ngộ đạo liền. Tinh thần không khác gì nhau. Chúng ta thấy chân lý chưa? Cho nên, mình đi cứu suốt mình sẽ thấy tìm lại được cái
[1:14:18]Đạo Phật duy nhất không có phân biệt tông hay thừa. Và chúng ta thấy chúng ta trở lại cái tinh thần Thiền tông thì nó còn điều mà nếu nói ra chúng ta sẽ thấy nó chấn động, xúc động lòng mình một lần nữa là thế này.
[1:14:34]Theo tinh thần của Thiền tông Tổ Sư Thiền thì cho rằng Thiền tông được truyền thừa 33 vị tổ bắt đầu từ ngài Ca Diếp. Hầu như tất cả người nào tu theo Tổ Sư Thiền, Thiền tông đều chấp nhận. Nhưng những nhà sử học thế giới không chấp nhận. Đây là cái mà chúng ta khó chịu và xúc động lòng. Bây giờ chúng ta nghe nói tại sao những nhà sử học không chấp nhận? Thì do thế này: Họ nghiên cứu hết tất cả những kinh những luận của Đạo Phật từ Ấn Độ sang tới Trung Hoa qua Tây Tạng, Nhật Bản, họ thấy cái lịch sử mà 33 vị tổ của Thiền tông nó không có trước thế kỷ thứ tám.
[1:15:16]Tức là đến thế kỷ thứ bảy, thứ tám với sự xuất hiện của ngài Thần Hội mới mới có lịch sử, câu chuyện về 33 vị tổ. Mà trong cuốn Đạo Thống Sử của ngài Thần Hội viết, còn trước đó không có ai nói tới 33 vị tổ hết. Chỉ bắt đầu từ ngài Thần Hội viết cuốn Đạo Thống Sử mới có 33 vị tổ. Và từ đó về sau tiếp tục người ta có nói về 33 vị tổ cũng dựa vào điều mà ngài Thần Hội đã nói. Còn trước đó tuyệt nhiên không có một tài liệu nào hết. Ngay cả như ngài Mã Minh, ngài Long Thọ, ngài Đề Bà, ngài Thế Thân Hoà Thượng, ngài Bát Bút Đa là những vị nổi tiếng, những vị A La Hán nổi tiếng mà được Thiền tông cho
[1:15:58]là tổ của mình á, thì những cái luận của những ngài đó viết và ký tên không bao giờ nói tới Thiền tông Tổ Sư Thiền. Còn một điều nữa, như nói là y bát của Phật được truyền từ tổ này tới tổ kia thì nếu mà chúng ta xem lại sử của ngài Cưu Ma La Thập, là một dịch kinh, một dịch kinh vĩ đại từ Ấn Độ sang Trung Hoa, chúng ta thấy có một thời khi mà ngài đi du phương, ngài đi tham vấn đi học hỏi và đi đi chiêm bái các nơi thì trong sử ngài có ghi: Ngài đến một ngôi chùa đó có thờ cái bát của Phật. Tức là trong cái thời của ngài, cái bát được giữ gìn tới tới thời của cái chùa đó và ngài đến ngài đảnh lễ cái bát.
[1:16:35]Thì nếu đối chiếu lại lịch sử của 33 vị tổ thì rõ ràng thời gian đó cái bát không còn tồn tại như vậy. Đã thất lạc. Mà các nhà sử học họ phanh phui, họ moi ra hết, họ không chấp nhận. Nên họ thấy như vậy là rõ ràng sử 33 vị tổ chỉ có do ngài Thần Hội đặt ra chứ không phải. Ngài Thần Hội đã nối từ những vị nổi tiếng ghép ghép lại thành hệ thống 33 vị tổ. Và cái nhân vật mà gọi là Bồ Đề Đạt Ma á thời xuất hiện ở chùa Thiếu Lâm đầu tiên là một tổ sư về võ thuật và yoga. Ngài xuất thân từ Ấn Độ, không biết chắc ngài là người Hán hay người Hoạt hay người Ấn Độ hay người Thái. Không ai Thần Hội nói.
[1:17:15]Nhưng ngài là một người xuất thân từ Ấn Độ qua. Theo Đạo Phật, trước đó có luyện yoga võ thuật tới trình độ rất siêu. Và nhờ đó ngài vào Đạo Phật nên cái sức định ngài cao và ngài thâm hiểu rất là cao. Rồi khi ngài lang thang ngài đến chùa Thiếu Lâm thì tại chùa Thiếu Lâm đó có truyền thống học võ. Vì ngày xưa đó có một ngài gọi là Bodhitara, Bodhitara đã đến đó đã dạy võ và dạy võ từ một cái làng của Ấn Độ, võ cổ truyền có tên là Kalaripayattu. Cho nên chùa Thiếu Lâm có cái truyền thống học võ. Nhưng khi mà ngài Bồ Đề Đạt Ma đến, ngài thấy rằng chư tăng ở đây luyện võ mà không có nội công, không có chân khí của một cái nội công đỉnh cao, ngài mới dạy thêm cái nội công.
[1:17:57]Và từ đó biến thành cái nội công. Và cái sức định của ngài cái khả năng nội công của ngài đó nó phi thường được trở thành những huyền thoại như ngài chỉ giẫm trên cành lau đi vượt qua bờ sông, rồi cái khả năng võ công cao cường của ngài nổi tiếng. Và ngài Thần Hội mời ngài Bồ Đề Đạt Ma vào đưa làm vị sơ tổ của Thiền tông. Đó là một điều các nhà sử học phát hiện một cách khách quan. Còn bây giờ tin hay không tin là tùy, nhưng mà những nhà sử học họ phân tích như vậy cho mình thấy. Cho nên như a như Hòa thượng Minh Châu là tiến sĩ Phật học, nên đầu tiên là Hòa thượng Minh Châu xuất thân từ miền Huế là nơi cái nôi của Đại thừa phát triển.
[1:18:38]Đến khi ngài sang Ấn Độ ngài du học, ngài tham khảo các sách khác rồi cái ngài mới thấy điều đó. Nhưng ngài bỏ Đại thừa thì ngài không dám, ngài không nỡ từ bỏ. Bỏ đi mà nói sư huynh sư đệ mắng ngã lòng, không có không có nỡ lòng. Nhưng Hòa thượng khi biết điều đó Hòa thượng cứ khư khư lấy Nikaya, giữ Nikaya còn Đại thừa là Hòa thượng chối, bỏ hẳn. Cho nên nó thành sự chia rẽ vào những năm mà bắt đầu thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào năm 81 á. Thì lúc đó Hòa thượng Minh Châu á trở thành một vai trò Tổng thư ký của Giáo hội thì Hòa thượng mới có thế lực ngài truyền truyền, chủ yếu truyền về Nikaya.
[1:19:13]Càng ngày càng nhiều. Nhưng mà thấy nhiều đại diện, những vị tôn túc Trung Hoa là ai? Là người Bắc tông. Tuy nhiên, thấy như Hòa thượng từ chối thẳng Bắc tông. Ai nói hỏi Hòa thượng: "Thưa Hòa thượng, bộ kinh đó thế nào?" Hòa thượng chỉ lấy Nikaya, tránh né. Tuy nhiên, những cái thế hệ sau này, những cái lớp học tăng, tăng ni sinh học ở Phật học cao cấp sau Hòa thượng, ví dụ như Thượng tọa Chân Thiện, bây giờ là Viện phó Phật viện, ờ như Thượng tọa Thiện Châu, Thích Thiện Pháp, ờ rất rất nhiều những tăng ni sinh mà tốt nghiệp Phật học cao cấp từ khóa một, khóa hai, thì ai cũng biết rõ ràng là kinh Đại thừa không phải
[1:19:49]Phật thuyết, ai cũng biết điều đó hết á, tại vì đó là tinh thần sử học. Nhưng những vị học tăng sau này thì họ có cái tâm từ bi, dung hòa, theo như là bài kinh Thiện Giảng kinh Hòa, rất từ, rất cứu, rất giảng hoặc là Hòa thượng Chân, Thiện Châu, Phật Pháp giảng thì có khuynh hướng nối Đại thừa với Thiền lại. Đó. Tức là họ thấy rằng cái nào đúng chân lý thì đó là Đạo Phật, được Phật chấp nhận, ấn chứng, thủ hộ, che gia hộ, giữ gìn, bằng cớ là những người tụng kinh Đại thừa vẫn thấy linh, vì những điều trong đó nói vào cái tâm chân thật. Căn bản Nikaya là điều không chối bỏ, nhưng những sự phát triển về sau
[1:20:26]là điều cần thiết, kể cả Thiền tông Trung Hoa cũng là điều cần thiết. Chính vì có cái sự phát triển của Thiền tông Trung Hoa, chúng ta thấy Thiền tông từ thời Đường Tống rực rỡ, Phật giáo rực rỡ bởi Thiền tông, chứ không phải bởi các tông phái khác. Trong suốt các thời Đường, thời Tống. Qua đời sau này thì bắt đầu suy, bắt đầu suy là từ từ đời này. Thời mà nhà Nguyên, Mông Cổ chiếm Trung Hoa, đưa Mật tông vào, lúc đó Thiền tông suy luôn một giai đoạn. Đến đời nhà Minh á thì Thiền tông có phục hồi lại, nhưng đến thời nhà Thanh á lại còn một chuyện nữa. Có một ông quốc sư là thầy của vua đời vua Thuận Trị và
[1:21:04]vua Khang Hy, ông là quốc sư hai đời vua, thì cũng xuất thân từ nhà Mật tông, rồi xuôi theo Mật tông. Ông mới ra lệnh rằng tất cả các chùa trên đất nước Trung Hoa phải tụng hai thời công phu: Chiều tụng Tịnh độ, khuya dậy tụng Lăng Nghiêm. Ngoài thời gian đó, ai muốn ngồi thiền thì tính sau, chứ không được bỏ hai thời công phu. Thì lúc đó, cái nhà Nguyễn của Việt Nam, nhất là đời Nguyễn Gia Long, có một cái nhược điểm là cái gì cũng bắt chước Trung Hoa. Kể cả hệ thống luật pháp. Cho nên sau này các nhà làm luật Việt Nam mà nghiên cứu lại đời nhà Nguyễn, họ thấy là đời Nguyễn Gia Long cái bộ luật Gia Long là rinh nguyên cái
[1:21:43]bộ luật Càn Long của người nhà Thanh qua, bê nguyên qua. Và trong tinh thần Đạo Phật vậy, cũng lấy luôn cái tiêu chuẩn của Trung Hoa đưa qua, trong đó có cả hai thời công phu. Và lúc đó khi mà Ngọc Lâm quốc sư buộc các chùa phải tụng hai thời công phu thì rất nhiều chùa phản đối. Những vị mà họ tu thiền hoặc là những thiền sư đều có lên tiếng phản đối. Nếu mà nói là tụng hai thời công phu buổi khuya người ta đang khỏe, để người ta ngồi thiền cho nó minh mẫn nhất tâm, bây bắt người ta ngồi tụng một hồi người ta mệt đừ đuối không ngồi thiền được nữa. Nhiều người râm ran râm ran khắp nước phản đối thì ổng lấy quyền
[1:22:14]quốc sư ổng viết một bài rất là dài chúng ta thấy, giải thích. Ổng nói: Hai thời công phu này nó đủ cái tính chất của Thiền tông. Mà ai dám gan mà cãi lại lời của Phật, dám gan mà cãi lại lời quốc sư. Biện hòa rất là dài, nhưng trong đó là do cái lệnh quốc sư nên cả đất nước Trung Hoa từ từ chuyển hết sang hai thời công phu. Nên những người tu thiền mất giờ, người ta nhứt tâm không còn nhiều được nữa, mất dần mất dần. Chỉ trừ một số vị mà vẫn tu ở trên rừng rú, hang cốc, mà không chịu sự kiểm soát của triều đình trong các ngôi chùa lớn thì có những thiền sư xuất hiện. Lúc đó có những thiền sư xuất hiện.
[1:22:51]Sau này đến cái đời mà khi nhà Thanh đã tiêu vong, lúc đó đất nước Trung Hoa bị Nhật đô hộ nè, rồi hết thời Nhật đô hộ thì tới thời Tưởng Giới Thạch, hết thời Tưởng Giới Thạch thì tới thời của Đảng Cộng sản Trung Quốc thì chúng ta biết không nói tới nữa. Thì nhưng mà cái thời trung gian từ thời Nhật đô hộ cho tới thời Tưởng Giới Thạch á thì Thiền tông có sống lại bởi những ngài như là ngài Hư Vân nè, ngài Thái Hư nè. Ngài Thái Hư chuyên giảng nhưng mà có thực hiện. Và ngài Lai Quả, ngài Lai Quả thì nổi bật về thiền công phái. Còn ngài Hư Vân thì tuy ngài có thiền công phái nhưng mà ngài ngài dung hợp được nhiều phương pháp khác.
[1:23:26]Thì lúc đó Thiền tông có sống lại và nó ảnh hưởng sang Đài Loan, sang Hồng Kông. Lúc đó Việt Nam mình cũng được ảnh hưởng. Chúng ta thấy không? Cho nên chúng ta thấy lúc đó Phật giáo Việt Nam cũng y như vậy á. Vào cái thời mà thời Lý Trần của mình á thì Việt Nam mình hưng thịnh. Tới thời Lê hơi suy là bởi vì các nhà Nho chống lại. Lúc đó thời Lê chuộng Nho hơn là Đạo Phật thì Thiền tông cũng hơi suy nhưng mà cái tiềm tàng trong quần chúng cũng có nhiều người đắc đạo. Cho đến khi mà qua cái thời Trịnh - Nguyễn phân tranh mà khi nhà Nguyễn lên hẳn á, vua Gia Long áp dụng nguyên cái cái thời khóa của Trung Hoa
[1:24:01]đưa qua thì Thiền tông Việt Nam từ từ mất dần mất dần. Chỉ còn số ít người chứng đạo mà ở ẩn khuất, không danh tiếng, cũng có người đắc đạo. Sau này thì mình cứ theo truyền thống đó như vậy. Và đúng là cái tín ngưỡng, cái niềm tin thì khó bỏ. Nhưng hôm nay, mình học để nói lên những