Transcript: Kinh Pháp Hoa 20 - Phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:32:01

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:16]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:22]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:36]Mời quý Phật tử ngồi xuống.

[0:54]Hôm trước mình... nghe đến cái chỗ mà được cái thân thanh tịnh phải không? Quý vị nhớ không? Nửa tháng bay mất rồi đâu nhớ nhung gì nữa. Những

[1:08]người già thì nhớ con cháu, còn mấy người trẻ trẻ nhớ ai chứ đâu có nhớ kinh nhớ thầy gì đâu.

[1:18]Người đọc tụng tu hành theo kinh này được thân thanh tịnh như lưu ly.

[1:26]Cái thân thanh tịnh như lưu ly này có nhiều nghĩa. Nghĩa thứ nhất á là nghĩa đen, tức là do công đức lành tự nhiên người đó có cái thân tướng trang nghiêm thanh tịnh. Mà cái biểu hiện là nơi cái nước da họ sáng bóng, biểu hiện cái tướng sang.

[1:50]Như cái thân của Phật là thân màu hoàng kim, cái hào quang màu vàng nó phát sáng ra cả một vùng. Mà chư Thiên á nhìn thấy hào quang của Phật thì chiếu xa vô tận, còn người thường mình thì thấy Phật hào quang chỉ chiếu một tầm ngắn thôi, do công đức của mình nhỏ. Người tu đúng theo lẽ phải, theo đạo thì được cái thân thanh tịnh, cái vẻ da bóng sáng, đó là một cái biểu hiện. Rồi cái nghĩa thứ hai cái nghĩa bóng là cái người đó tự thấy nơi thân mình rỗng suốt.

[2:29]Đây là cái cảm nhận cụ thể, cái người tu mà khi thân thanh tịnh tự nhiên không còn thấy cái thân mình nó nặng nề như mình đang thấy đây nữa, mà thấy như mình không còn có thân. Chỉ một cái tâm thanh tịnh mà thôi. Như bây giờ quý Phật tử mỗi người đều nhìn lại mình, thấy mình có một cái thân, cái thân nặng nề, đi đâu nó theo đó. Còn người mà tu tâm được thanh tịnh thì thấy cái thân nó như biến mất. Đi tới đi lui thấy như không có thân, chỉ một cái tâm không hình không tướng rỗng suốt thôi. Đây là cái cảnh giới của người tu chứng ở bước đầu, chứ không phải đây là điều nói mơ hồ đâu. Người ngồi thiền cũng vậy.

[3:16]Ví dụ như họ ngồi thiền mà tâm bắt đầu nhiếp được vào định chút thì thấy mất cái thân mình trước. Thấy ngồi đó chỉ thấy một cái tâm không thấy cái thân nữa. Đó là cái ẩn ý mà nói cái cảnh giới của người tu chứng rất là cụ thể, chứ không phải là nói cái chuyện mơ hồ xa xôi huyền bí đâu. Và trong cái thân biến mất đó, chỉ có một cái tâm thanh tịnh vô biên đó, tự nhiên họ thấy được vạn tượng, thấy được những cảnh giới từ xa mà mình gọi là thần nhãn. Có khi ngồi đây mà thấy xuyên tường xuyên vách, xuyên núi xuyên sông, những cảnh ở xa xa người ta làm cái gì thấy hết. Thấy rất rõ. Đó là cảnh giới tu chứng.

[4:02]Cho nên ở đây mình nghe để mà mình được khích lệ, tinh tấn ráng tu, vì những người mà họ tu đúng họ đều vượt qua, họ đạt được những cái cảnh giới đó. Nhưng mà nếu mình nói nhiều quá thì nó... nó không hay lắm, nó giống như tiết lộ cái điều bí mật. Nên để ai tu đến thì biết thôi. Cái hay ở chỗ này là ý căn nè, được cái công đức nơi ý căn á là dùng ý căn thanh tịnh đó nghe một câu kệ thì thấu suốt vô lượng vô biên nghĩa. Cái ý này rất là hay. Hiểu nghĩa đó rồi có thể diễn nói một câu một kệ đến một tháng, bốn tháng đến một năm. Mà các pháp nói ra theo cái nghĩa lý đó thì không bao giờ sai với chân lý.

[4:55]Như ngài Trí Khải, khi mà ngài giảng cái kinh Pháp Hoa, đầu tiên ngài về Trường An ngài giảng kinh Pháp Hoa thì một cái chữ "Diệu" trong chữ Diệu Pháp Liên Hoa, một cái chữ "Diệu" ngài chỉ giảng: "Tại sao gọi là Diệu? Diệu có nghĩa là mầu nhiệm." Ngài giảng trong ba tháng. Khủng khiếp chưa? Sáng đêm luôn. Ba tháng không biết là ngài giảng mỗi ngày hay là mỗi tuần giảng một lần hay ba bốn ngày giảng một lần không biết, mà ba tháng mới giảng xong cái chữ Diệu. Chưa nói hết cái bộ kinh này. Đó là người mà tu mà thấu đạt được nghĩa lý kinh Pháp Hoa, mà thực chứng nơi tâm mình chứ không phải là nói suông.

[5:38]Chữ Diệu mà ngài giảng ba tháng, mà ngài Trí Khải ngài tu thuần theo kinh Pháp Hoa, ngài tu chuyên nhiều về kinh Pháp Hoa, nên tông Thiên Thai của ngài Trí Khải là những vị hay tụng Pháp Hoa lắm. Có một lần ngài đang tụng Pháp Hoa, ngài ngồi không biết này đã kể chưa, chắc kể rồi. Ngài đang tụng Pháp Hoa, tự nhiên ngài nhập định. Cái ngài thấy Đức Phật nơi Hội Linh Sơn vẫn còn ngồi giảng, chung quanh vẫn đầy chư Bồ Tát, chư Phật còn ngồi đó vâng tập mà ngồi nghe. Ngài nhập định ngài thấy cảnh giới. Đêm mà ngài... ngài ngồi thiền tại núi Nam Nhạc ở Thiên Thai, ánh sáng hào quang chiếu lừng cả một cái vùng đó.

[6:20]Đó là cái tướng tu chứng của ngài Trí Khải rất là thù thắng. Sau này khi ngài tu xong rồi mà được mời giảng thì ngài cũng giảng bộ Pháp Hoa này. Cũng khai ngộ cho nhiều người mà chữ Diệu là ngài giảng trong ba tháng, bộ kinh không biết ngài giảng mấy năm nữa không biết. Ví dụ đi! Một câu, một kệ mà thấu suốt vô lượng vô biên nghĩa. Ví dụ mình trở lại, nói là cái thân thanh tịnh, ở trong cái thân thanh tịnh này thấy được cả pháp giới chúng sinh, một câu đó thôi. Nhưng mình là người chưa có ngộ thì mình chỉ hiểu cái nghĩa đơn sơ là à chắc cái vị này cái thân như cái thủy tinh, như cái màn ảnh xi-nê mà thấu hiện tất cả mọi vạn tượng trong đó.

[7:08]Còn người tu khá hơn thì nói là người này được thân tướng trang nghiêm thanh tịnh đẹp đẽ. Là mọi nơi cái thân của người đó, nơi hành vi cử chỉ, từ cái dáng đi điệu đứng đều thể hiện được lẽ phải, thể hiện được đạo lý. Ví dụ như người đó dù đứng im, hay người đó dù cất bước đi, người đó dù nhắm mắt lại hay mở mắt nhìn mình đều biểu hiện một cái đạo lý gì đó. Cái này lúc trước có giảng rồi, phải không? Bây giờ nhắc lại. Là nơi thân thanh tịnh mà thể hiện được muôn ngàn đạo lý. Ví dụ mình gặp một người mà họ đạt được cái lẽ đạo như vậy, có khi họ không nói chuyện với mình, mình chỉ nhìn thấy người đó cất chân đi

[7:56]thôi, tự nhiên mình cũng cảm nhận được một cái bài học gì đó từ nơi cái bước đi của người đó. Bài học gì? Ai biết.

[8:07]Có gặp rồi sẽ thấy. Chỉ người đó bước đi điềm đạm, ung dung, mình không cần hỏi nhiều, tự nhiên lòng mình cũng bỗng nghe trầm lắng, thanh tịnh mà thanh thoát theo. Là cả một bài học vô biên phải không? Thay vì như quý Phật tử ngồi nghe tôi giảng cả tiếng mấy, hai tiếng gì đó, ngồi nghe xong rồi cái thích thích mà tâm cũng không thanh tịnh lắm. Lát bước ra khỏi chùa ai đụng cũng sân cũng cãi lộn được, tại vì nơi tôi chưa có thể hiện được đạo lý. Nhưng mà nếu quý Phật tử gặp được một vị tu chứng, cái vị đó nhiều khi không có mở miệng nói thành lời, mình đến gần vị đó mình định hỏi một cái gì đó,

[8:50]vị đó chỉ nhìn mình cười, tự nhiên bao nhiêu cái nghi ngờ trong lòng mình, bao nhiêu cái bất an trong tâm mình nó tan biến liền tại chỗ. Khỏi cần nói lời nào. Nó còn hơn cả bao nhiêu lời thuyết pháp nữa. Đó là nơi thân của vị đó thể hiện được muôn ngàn đạo lý. Rồi còn chính nơi vị đó thì không bao giờ thấy mình có thân. Đi tới đi lui nhìn người này nhìn người kia mà thấy như mình không có thân, thân rỗng suốt mất luôn. Thì như vậy một cái câu là nói được cái thân thanh tịnh chứa đựng muôn ngàn đạo lý vạn tượng, một câu đó thì tùy cái trình độ tu chứng của mình mà mình hiểu một nghĩa khác nhau, phải không?

[9:36]Thì như vậy cái ý căn thanh tịnh là vậy. Đọc một câu kệ thì hiểu vô biên nghĩa, hiểu mặt này, hiểu mặt kia, rất là nhiều nghĩa, mà nhất là kinh Pháp Hoa này. Kinh Pháp Hoa này rất khó hiểu. Nên quý Phật tử mà đã từng đi nghe giảng Pháp Hoa nơi này nơi khác á, sẽ thấy rằng mỗi vị giảng khác nhau hết, đúng không? Ở đây có ai mà nghe giảng Pháp Hoa từ nơi khác chưa? Có không? Thấy nghe giảng vẫn khác á, mỗi nơi người ta giảng mỗi cái khác, là tại sao vậy? Là tại vì cái trí tuệ của cái vị giảng sư đó nó ở cỡ nào, nhìn thấy được hiểu cái câu kệ đó tới đâu, nên có vị thì khai thác cái khía cạnh thần bí

[10:24]là đọc kinh Pháp Hoa thấy chuyện thần thoại không, chư Phật hiện đầy như hư không, chư Bồ Tát, rồi công đức vô lượng tụng kinh này còn hơn cả bao nhiêu cúng chùa đủ thứ hết. Cái vị đó chỉ hiểu cái nghĩa đó cứ đem đi giảng thì nói rằng kinh Pháp Hoa này linh thiêng, có phước, có công đức. Ai mà tụng tu theo kinh Pháp Hoa này thì làm ăn được, giàu sang, may mắn, mọi điều họ hiểu nhiêu đó. Còn có những vị thì nhìn thấy trong kinh Pháp Hoa này cái ý nghĩa của thiền định, thấy là con đường để đi vào nội tâm mà làm cho tâm được lắng thanh tịnh. Có người xem kinh Pháp Hoa này thì thấy nói đến quá trình tu chứng cho

[11:05]một người tự tu bản thân và cái con đường để mà giáo hóa chúng sinh như thế nào, qua những cái khúc mắc nào, cái nhân duyên của một vị Phật khi ra đời đã phải gieo nhân với chúng sinh từ bao nhiêu kiếp như thế nào, rồi khi ra đời làm Phật mới có thuận duyên để độ chúng sinh. Rồi có người nhìn kinh Pháp Hoa thì lại thấy là nói lên cái công hạnh, à để thành tựu được cái chứng ngộ thì bao nhiêu công hạnh cần có mới hỗ trợ được cho cái tu chứng đó. Cho nên cũng kinh Pháp Hoa này nhưng mà mỗi vị nhìn ra mỗi khía cạnh khác nhau hết. Mà trong đó nó tùy cái tâm linh, tùy cái sự linh mẫn, cái sáng suốt,

[11:49]cái nhân duyên của vị đó mà nhìn được cái nghĩa nào, nhìn được cái nghĩa nào. Cái vị nào đó mà nhìn được cái nghĩa đen thôi, thấy những chuyện thần thoại,

[12:01]phép lạ, phước đức thì đó là cái nghĩa thấp nhất. Vị nào mà nhìn vào kinh Pháp Hoa mà thấy là con đường tu chứng của nội tâm thì vị đó thấy con đường cao hơn một chút. Còn cái vị mà nhìn vào kinh Pháp Hoa mà hiểu được đó là con đường công hạnh từ tu chứng nội tâm tới cái gieo duyên chúng sinh tới những cái công hạnh thành lập để đi trong Bồ Tát đạo như thế nào, vân vân thì vị đó cái trí tuệ cao hơn một chút nữa. Mỗi cái nó mỗi khác nhau hết. Và cái người nghe cũng vậy, không phải là ai nghe kinh Pháp Hoa đều thấu đạt được nghĩa lý giống nhau hết. Ai cũng ham tụng Pháp Hoa lắm, như mẹ tôi ở nhà hở hở cái

[12:44]tụng Pháp Hoa mà tôi chỉ cười tôi không nói gì hết. Tại tôi biết bà hiểu theo cái nghĩa đen, nghe nói tụng kinh này phước nhiều, ham tụng, ở không chẳng lành thôi kệ cho bà tụng, đỡ hơn để bà nghĩ bậy, vậy thôi. Nhưng mà cái sức hiểu như vậy không đúng.

[13:01]Mà ngay cả quý thầy mà giảng Pháp Hoa cho quý Phật tử cũng vậy đó, giảng hội này khác, giảng hội khác giảng khác. Tại sao? Tại sao? Tại vì quý thầy giảng phải quán cái cơ, để như ngồi trước mặt mình như vậy là người này có cái mức nhận thức cỡ nào, thì mới lấy một cái nghĩa nào trong kinh này ra giảng chứ không có dám giảng hết. Vì nếu mà giảng hết thì không có ngày nào mà xong bộ kinh này, mênh mông thiên địa, nghĩa lý quá sâu xa. Nhưng mà đôi khi nó có những cái thiệt thòi, vì trong một hội chúng bao nhiêu người ngồi đây, thì có những vị ngồi nghe không hiểu hết được, nhưng có những vị có khả năng tiếp thu rất cao.

[13:42]Giữa hai trình độ chênh lệch quá rồi cái vị mà giảng giảng sao đây? Nếu mà giảng thấp để cho vừa với sức hiểu của những người căn cơ thấp á, thì làm cho những người căn cơ cao bị thiệt thòi. Mà giảng cho những người cao nghe được thì người thấp thì thì sao? Thì thôi kệ cũng đỡ phải uống thuốc ngủ bữa nay, ha, cũng tốt. Cho nên giảng cứ chung chung thôi, lấy giữa cao nhất thấp nhất lấy ở giữa mà giảng. Nên quý Phật tử mà nghe trong cái hội giảng, nếu mình có trình độ hiểu cao, thì cũng phải thông cảm bởi vì quý thầy không thể giảng hết được. Nhưng hôm nay tôi nhìn vào trong hội cũng có một vài người có đủ

[14:23]sức nhận thức được nhiều, nhưng cũng không thể nói hết được. Là cái ý căn thanh tịnh đó.

[14:32]Rồi cái ý căn thanh tịnh này hiểu nghĩa lý của kinh, thấu suốt vô lượng nghĩa là một điều. Mà cái ý căn nó linh mẫn tới cái nỗi là hiểu được tâm của người khác nữa. Này giống như tha tâm thông vậy á. Nhưng mà tha tâm thông thì nó là một dạng thần thông khi vị đó nhập định đọc được cái ý nghĩ của chúng sinh, còn cái ý căn linh mẫn á nó không phải là thần thông mà nó là sự nhạy bén mà giống như thần thông. Sự nhạy bén đó như thế này, ví dụ như là mình đi thoáng ngoang qua, hai người đang nói chuyện với nhau, đang có cái gì bất bình á, mình thoáng nhìn qua, nhưng một người kia khởi cái ý đánh người nọ, thì người kia chưa làm mà đang ngồi

[15:17]đứng im lặng, khởi cái ý đập đánh người kia mình nhìn biết liền. Chính là cái ý căn linh mẫn, chưa thấy gì hết, đọc được từ trong tâm sâu người ta mà nhiều khi chính cái người muốn đánh chưa biết mà đã đọc được. Cho nên trong chúng sinh cái người nghĩ tưởng, lòng động tác, hí luận đều biết hết. Cái nhạy đến nỗi, rồi mình nhìn một người, cái này thì nhiều người có, nhưng mà không có sâu bằng cái người mà họ tu có cái sở đắc. Đi một người mà mình chưa từng gặp, chưa từng biết, nhưng mình vừa thoáng gặp đầu tiên mình đánh giá được bản chất người đó được liền. Cái này thì nhiều người trong chúng ta cũng có, phải không?

[15:58]Có. Nhất là mấy người lớn tuổi, cũng có kinh nghiệm, trực giác cũng bắt đầu sáng lên, chưa quen người ta nhưng nhìn người ta lần đầu cũng đánh giá được người ta phớt phớt được cỡ nào, tốt xấu cỡ nào, có không? Có không? Cũng có, phải không? Nhưng mà cái người mà tu sâu thì họ đánh giá rất sâu. Nhìn thoáng một cái, họ đánh giá rất kỹ người này, ưu chỗ nào, nhược chỗ nào, nên là đối xử lúc thế này, lúc thế kia như thế nào biết rất rõ, đánh giá được rất sâu. Đó. Và từ nơi cái ý căn linh mẫn này, cái người đó dù chưa được trí tuệ vô lậu mà ý căn thanh tịnh như thế người đó có suy nghĩ, nói năng, tất cả đều là Phật pháp.

[16:48]Không có gì là sai lầm. Cũng như là lời các Đức Phật đã nói. Cái người mà như vậy đó à nhiều khi họ không phải là đọc được hết kinh Phật đâu, nhưng mà mở miệng nói ra phù hợp với lời của Phật nói.

[17:05]Những điều đó giống như là một sự sáng tạo vô biên vậy đó, họ có cái sức sáng tạo vô biên đối với giáo lý. Như là kinh Phật để lại như vậy, họ học một mà họ hiểu mười, hiểu trăm. Ngay cả những điều Đức Phật chưa nói họ có thể phát minh ra và triển khai nói tiếp để cho người sau được nghe được hiểu. Cho nên cái sức sáng tạo vô biên, rất là thông minh. Ở đây chúng ta thấy cái ý căn thanh tịnh đó, đầu tiên là khả năng hiểu, hiểu kinh điển, việc đời thì họ cũng rất hiểu nhưng mà chú trọng nói kinh điển. Đọc qua một quyển kinh hay là một câu kệ, hiểu rất nhiều nghĩa, hiểu rất sâu sắc, có thể giảng cho người khác nghe rất là mạch lạc.

[17:50]Cái thứ hai nữa là hiểu được chúng sinh chung quanh mình như thế nào, từ nơi cái hành vi, ánh nhìn, nụ cười của những người chung quanh, từ nơi thoáng một cái nét mặt lần đầu gặp gỡ là đã hiểu được bản chất con người, hiểu rất kỹ. Cái thứ ba nữa là cái sức sáng tạo vô biên dồi dào. Người đó từ trong tâm mình luôn luôn kiểm soát nội tâm mình đúng với Phật pháp, mà khi đụng chuyện đối tiếp với chúng sinh thì sự sáng tạo tuôn trào vô hạn, không bao giờ là không phải là được học một rồi chỉ biết một, biết hai để mà nói lại. Người đó học một, biến thành mười, biến thành trăm, có thể tạo ra thành những giáo lý như là mới hẳn.

[18:35]Đó là cái ý căn thanh tịnh. Là nhờ cái gì mà có được ý căn thanh tịnh? Ai nói đúng được khen.

[18:50]Nhờ tu theo gì mà có được ý căn thanh tịnh?

[18:55]Tu theo gì?

[19:01]Nè, kinh Pháp Hoa nói nè.

[19:06]Bởi trì kinh Pháp Hoa. Cái câu cuối: "Bởi trì kinh Pháp Hoa". Vậy trì kinh Pháp Hoa là cái gì? Là mỗi ngày đem kinh ra tụng, phải không? Phải không? Không phải thì làm sao?

[19:26]Hôm trước có nói rồi. Người mà thấu đạt kinh Pháp Hoa thì không còn chấp hai cái chữ Pháp Hoa nữa, nhớ không? Chứ không phải là đi đâu cũng khoe: "Nè, tôi chuyên trì Pháp Hoa nghe. Tôi trước giờ tôi tụng được 100 bộ." Cái người mà chấp tướng như vậy, người đó có phải là thấu đạt nghĩa Pháp Hoa chưa? Bởi vì thấu được nghĩa Pháp Hoa rồi thì người ta trở nên kín đáo, khiêm hạ. Cái chữ Pháp Hoa còn có nghĩa là lẽ phải, là chân lý, mà chân lý là cái gì không có tên. Cho nên bất cứ điều gì mình làm mà đúng với đạo lý thì đó là Pháp Hoa, chứ Pháp Hoa không phải là cái cuốn kinh này, cũng không phải là việc trì tụng hằng đêm,

[20:18]mà nó là từng cái hơi thở của mình, từng cái ý nghĩ, từng cái việc làm của mình, làm sao trong đời sống luôn luôn giữ tâm thanh tịnh, luôn luôn làm điều gì biết đúng, biết sai, biết thiện, ác rất rõ, biết nhân quả rất rõ, và sống với mọi người bằng cái tâm hồn vị tha mênh mông, đó là Pháp Hoa. Cho nên người như vậy không phải mỗi tối mỗi trì Pháp Hoa, mà Pháp Hoa luôn luôn hiện hữu. Còn người trì cái quyển Pháp Hoa này mà không sống được, trong đời sống mình thì chưa hết tham lam, đối xử với mọi người thì đầy sự vị kỷ, gặp chuyện thì không phân biệt được thiện, ác, đúng, sai thì người đó không đạt được cái công đức gì của Pháp Hoa hết.

[21:13]Cho nên ở đây một kinh có nghĩa là tất cả kinh. Mình nói Pháp Hoa là vua của các kinh, đừng có nghĩ là Pháp Hoa trùm, là ở trên cao tất cả bộ kinh khác, mà có nghĩa là một bộ kinh khi mà mình đạt được nghĩa lý rồi, nó là tất cả các bộ kinh khác, không có kinh nào cao thấp hết. Ví dụ như một bộ kinh mà Đức Phật nói đơn giản về nhân quả, thì mình nói giống như là bình thường, không cao siêu, nhưng mà bài kinh nó có thấp không? Không có thấp. Bởi vì cái nhân quả là cái trí tuệ căn bản cho người mới đến với Đạo Phật. Người mới đến với Đạo Phật thì phải biết luật nhân quả rất rõ ràng. Mà tu cho đến chứng tận cùng của Đạo Phật rồi, cũng là nhân quả.

[22:05]Một vị Bồ Tát chứng đạo rồi, thấu suốt nhân quả một cách vô cùng tỉ mỉ. Vị đó thị hiện vào trong sinh tử để độ chúng sinh, cũng chỉ áp dụng lý nhân quả mà độ chúng sinh, chứ không làm những điều thần thoại. Một vị Bồ Tát, ví dụ thị hiện giữa cuộc đời, mình nhìn mình không biết đâu. Vị đó sống bình thường như mình. Chỉ cái cao siêu là vị đó lợi dụng luật nhân quả để gieo duyên và giáo hóa, chứ không phải là hiện phép này hiện phép kia mà cho mình tin theo rồi mình theo vị đó, không phải, cái đó là ma mị.

[22:44]Các vị có dùng thần thông mà dùng mình không biết, còn dùng mà để cho mình biết thì không phải Bồ Tát, nhớ điều đó. Cho nên vừa rồi quý Phật tử có xem báo công an mà nói cái ông gì ngoài Đà Lạt không? Giáo chủ. Thì đó cũng là những loại mà phô bày những cái gì gọi là thiêng liêng, linh thiêng gì đó để dụ dỗ người này người kia theo mình, cái đó không phải Đạo Phật. Nhưng mà sự thật cái ông đó ổng có sở đắc chứ không phải không. Ổng cũng dày công tu luyện từ trước. Ổng luyện một cái môn công phu bùa chú gì đó thì nó có kết quả, cho nên có cái sức của cái nội tâm mạnh, làm cho những người mà cái nội tâm không vững,

[23:28]không có chánh kiến, gặp ổng là bị thu hút liền. Cho nên những người đó thì họ hay dùng những cái gì nó không phải nhân quả. Ví dụ đến cần độ thì làm như vẻ thiêng liêng lắm. Không phải, không phải điều đó. Còn mình đến với Đạo Phật là cái gì? Đến với luật nhân quả trước. Cho nên chúng ta đến với một vị thầy mà chúng ta đánh giá vậy là đúng nè: trước hết là cái tư cách của vị thầy đó rất là đạo đức, mà khi vị đó dạy mình, lấy luật nhân quả ra dạy trước, làm cho mình hiểu sâu nhân quả, chứ không phải làm cho mình tin ổng, mê ổng. Nó có những cái điều rất là lạ, ví dụ như một bậc thầy mà chân chính thì họ luôn luôn kín đáo,

[24:16]không khoe khoang, nhưng mà khi người Phật tử đến với vị đó về đó, luôn luôn được những điều may mắn đến với mình. Nhưng mà cái vị đó có bao giờ nhận mình là là linh thiêng không? Không. Hễ nói ra là họ gạt liền, đó là người chân chính, để ý điều đó mình biết. Cái này hôm trước có giảng rồi phải không? Hôm trước có nói rồi. Cái người vị thầy chân chính như một cái cây đại thọ mà bóng mát nó trùm miệt, chúng sinh đến với họ về luôn luôn hưởng được cái công đức lành gì đó mà cuộc đời mình cái nghiệp nó nhẹ bớt, mình thấy thoải mái trong đời sống. Mặc dù vị đó không có ban phép gì hết, chỉ dạy mình tu hành bình thường thôi,

[24:59]nhưng mà tự nhiên đủ cái oai đức gì đó giúp mình vượt qua được những cái khó khăn, khúc mắc trong đời sống. Nhưng mà nếu mình đến mình nói là: "Nhờ thầy mà con được thế này thế kia" là vị đó gạt liền, nói: "Không, thầy không có công đức gì hết, cái đó có hay không là nhờ công tu hành của con, hoặc thầy không biết." Đó là vị thầy chân chính. Còn vị thầy tà mị là luôn luôn thầy nói là: "Để thầy làm phép cho con được nhiều may mắn trong đời sống, con theo thầy con sẽ được thế này được thế kia" thì biết ông thầy đó tà liền. Hoặc là lâu lâu mình về mình hên, đến nói ổng, nói: "Đó là nhờ thầy độ cho con", nhiêu đó biết tà rồi.

[25:41]Tại vì thầy chân chính rất khiêm hạ, giấu kín những cái hay của mình, dù là cái oai đức vời vợi vẫn luôn luôn biểu lộ mình là nhỏ bé. Đây là điểm mà chúng ta phân biệt giữa vị chân sư và tà sư. Thì cũng vậy, trong cái phẩm Pháp Sư Công Đức này, là người tu chân chính đạt được những cái thù thắng, vi diệu nơi bản thân mình mà nhất là qua sáu căn. Chúng ta đã nghe qua, nhưng nghe qua như vậy đã hết ý chưa?

[26:17]Chưa, bởi vì một câu thành vô lượng nghĩa. Nếu mình có cái ý căn linh mẫn mà chúng ta nghe mấy lần trước là nghe đã hết rồi, nên mình chỉ biết là mình mới hiểu sơ sơ thôi và mình cố gắng tu thêm. Tu làm sao đúng với kinh Pháp Hoa là mình tu mà mình không có chấp công, không có ngạo mạn, mới đúng kinh Pháp Hoa.

[26:42]Như có một lần ngài Pháp Đạt, ngài đến với Lục tổ Huệ Năng, ngài lễ mà đầu không sát đất. Lục tổ nhìn ổng biết liền, nói: "Vậy có cái gì chấp, cái gì ngạo mạn gì đây? Ngươi làm được sự nghiệp gì?" Nói: "Con tụng được 3.000 bộ Pháp Hoa." Xong chấp vào cái tướng đó mà cho rằng mình có cái công lao, công phu nơi bộ Pháp Hoa, liền nói sai liền, bị Tổ gạt ra liền, là như vậy đó. Cho nên người đạt được nghĩa Pháp Hoa thì không còn chấp hai chữ Pháp Hoa nữa. Tụng kinh rất nhiều mà không thấy mình có tụng, mà cái quan trọng là cái Pháp Hoa nó thẩm thấu trong đời sống của mình để cho mình sống giữa cuộc đời mà thương

[27:25]yêu được mọi người, không còn thấy mình là quan trọng nữa, không còn chấp, tìm cầu, mong muốn gì cho mình nữa. Chừng nào mà quý Phật tử cảm thấy mình sống không lo cho mình nữa mà chỉ nghĩ đến mọi người chung quanh thôi, là bắt đầu mình từ từ đó là mình có được đạo lý để sống. Đầu tiên là mình cảm thấy cái sự hy sinh, lo lắng của mình đối với người trong gia đình mình trước. Ví dụ mình là cha mẹ, tự nhiên mình thấy mình lo cho con cháu, lo cho anh em nhiều hơn lo cho bản thân, đó là đạo lý bắt đầu xuất hiện. Rồi từ từ bắt đầu mình cảm thấy cái nỗi lo lắng, quan tâm mình đến với những người hàng xóm.

[28:09]Tự nhiên mình không nghĩ đến gia đình mình nhiều nữa, mà hãy để ý tự nhiên có người nghèo khổ cứ làm cho mình day dứt, day dứt trong đầu hoài. Mình không yên khi thấy người khác khổ là biết rằng đạo lý đã đến với mình nhiều hơn nữa. Đó là ý nghĩa của Pháp Hoa đó, đến dần đến dần với mình nhiều hơn nữa, là nó thể hiện trong cái vị tha của mình đó. Khi nào mà cái mức độ vị tha của mình nó tăng trưởng dần dần, dần dần thì biết rằng là cái đạo đến với mình lần lần. Mà cái vị tha là cái cái không lo cho mình mà chỉ là khi mình tự nhiên thấy day dứt, ưu tư, trăn trở bởi cái nỗi khổ của người khác. Ví dụ như bây giờ cái tâm của mình nó

[28:54]chưa có mạnh thì mình lo cho mình, nhưng mà mình vượt qua được cái lo cho mình thì mình lo cho gia đình mình, vượt qua được cái lo cho gia đình mình thì mình lo cho bè bạn, lo cho láng giềng. Rồi vượt qua được cái đó nữa, bỗng nhiên mình nghĩ tới thân phận của con người trên thế giới, trên đất nước này. Mình nghe ở đâu có một trận lụt, một cái thiên tai thì mình chỉ nghe đó, nếu mà người không biết đạo, nghe thì nghe, chắt lưỡi tội nghiệp rồi thôi quên liền. Hoặc ai có quyên góp thì cũng bỏ được ít tiền, ít gạo để phụ quyên góp, nhưng mà lòng mình lạnh như băng giá. Còn khi mà mình cái đạo đến với mình được nhiều đó, khi mình nghe một cái trận lụt,

[29:38]mình không còn nghe để nghe nữa, bỗng nhiên mình hình dung ra được. Hình dung ra được trong cái cảnh mà mưa gió dồn dập, lạnh lẽo như vậy. Trong đêm trời tối, không thấy một cái ánh sáng, nước dâng lên tới nóc nhà. Những đứa bé ngồi co ro, không một mảnh không một cái áo ấm, ướt át, quấn quýt với nhau trên xà nhà để chờ cơn lụt trôi qua. Mà nếu nước dâng lên nữa thì tụi nó sẽ bị cuốn chết luôn. Mình ngồi không có yên. Vì mình ngồi đó chứ mình hình dung những cái nỗi khổ của chúng sinh mà lòng mình có cái day dứt, ưu tư, trăn trở. Lúc đó mình sẽ làm cái điều gì thì tính sau, nhưng mà trước hết trong lòng mình

[30:14]đã có được cái đó, cái ưu tư cái day dứt đó đối với nỗi khổ của chúng sinh. Còn mình nghe ở đâu có chuyện gì nghe tỉnh bơ, hễ ai kêu quyên góp làm phước thì cũng nghĩ: "À, mình cúng 50.000, ít bữa nhá mình trúng số được 500 đó." Thì cái đó đó không phải đạo, làm phước mà không phải đạo.

[30:34]Chúng ta để ý, cũng là làm phước, nhưng một người làm phước với tràn đầy đạo lý, còn một người làm phước không có đạo lý, khác nhau chỗ nào?

[30:49]Khác nhau chỗ nào?

[30:57]Khác nhau ở chỗ là cái người làm phước mà không có đạo lý là người đó cũng hiểu nhân quả, cũng lợi dụng luật nhân quả nên hy vọng rằng cái việc mình làm phước hôm nay sẽ đem lại cái điều may mắn, hạnh phúc cho mình ở mai sau, không có tình thương yêu. Còn cái người làm phước á mà có đạo lý là người làm vì lòng thương đối với chúng sinh. Thấy người khác trong đau khổ mình không nỡ mà không cần quan tâm tới quả báo. Có một lần có mấy cái người họ đến họ hỏi, họ nói chứ: "Bì nói tại sao cái ông đó giàu, tại sao tôi nghèo?" Thầy nói là: "Tại vì ông kia đời trước ổng làm phước, còn tại đời trước đạo hữu ổng không biết làm phước." Mới nói:

[31:42]"Tôi không biết làm phước, ông kia làm phước sao tôi không biết? Phải cho tôi biết chứ. Tôi biết rồi kiếp trước tôi làm vậy, tôi ác như vậy, tôi vậy thì giờ tôi sửa, không cho tôi biết rồi bắt, rồi hễ tại tôi nghèo rồi nói tại trong đời trước tôi làm tội, tôi không làm phước. Như vậy là vô lý. Phải cho tôi biết đi, nếu mà Phật có ngon cho tôi biết đi thì tôi mới tin." Tôi không biết tôi cũng tin. Không biết phải trả lời sao, gặp mấy người hỏi ngang vậy trả lời sao?

[32:13]Cái này giờ người ta hỏi nhiều lắm, mấy ông uống rượu ngang ngang không tin ổng hỏi nhiều lắm đó. Trả lời sao? Giống mấy bà đi chùa mà có mấy ông chồng mà không tin, ổng về cứ bác, bác, bác.

[32:31]Nhiều khi ổng hỏi vậy đó rồi không biết trả lời sao.

[32:36]Nghe nè nha, nghe thầy mách nước mai mốt có ai hỏi biết đường mà trả lời khỏi bí.

[32:44]Thì cái ông đạo hữu ổng nói vậy, mới nói rằng: "Đúng, không biết là tốt." Vì sao? Hình như cái này có nói rồi, có lần nào giảng rồi. Không biết là tốt. Bởi vì nếu ai cũng biết nhân quả hết, ai cũng biết kiếp trước kiếp sau của mình hết, thì cái người đó đó mà có làm phước á, có chắc là họ vì lòng từ bi không hay là vì họ biết nhân quả họ làm để mà cầu phước cho họ? Thì nó không còn ý nghĩa của việc làm phước nữa, phải không? Chính vì chúng ta không hề biết kiếp trước kiếp sau của mình mà khi thấy người khác khổ, chúng ta động lòng trắc ẩn, thương xót mà giúp người ta, cái đó mới là lòng thương yêu thật sự.

[33:25]Mà chính cái lòng thương yêu đó mới đem lại cái phước chân thật cho người ta. Còn cái người làm phước mà cứ nghĩ: "Ừ cúng, kệ cúng 50 mai mốt trúng số 500." Thì không có đạo lý mà người đó tiếp tục là người ích kỷ và ác độc. Ở đây để nói sẵn nói tới đây thì nói thêm quý Phật tử nghe thế nào là ma vương. Quý Phật tử có nghe cái từ ma vương trong đạo Phật rồi phải không? Tức là đêm mà Phật thành đạo, ma vương hiện ra chống phá, phải không? Không cho Phật thành đạo vì sợ rằng Phật thành đạo, Phật giáo hóa chúng sinh, chúng sinh trở nên tốt đẹp, đạo đức, không còn ai nằm trong cái sự sai khiến của ma vương nữa.

[34:08]À đêm ngài xuất gia, đêm ngài ngồi thiền mà đêm ngài đắc đạo cũng vậy, cũng ma vương cũng hiện ra quấy phá tùm lum hết trơn. Rồi kỳ đó vậy, khi mà Đức Phật thành đạo xong, ma phá không được cái ma lại thỉnh Phật nhập Niết bàn. Tại vì sợ Phật giáo hóa. Phật nói không, Phật chưa giáo hóa, Phật không nhập Niết bàn. Nhưng mà lần cuối cùng, trước khi 3 tháng mà Phật nhập Niết bàn, khi ác ma hiện ra thỉnh Phật nhập Niết bàn, lần đó Phật chấp nhận. Vì ngài thấy hết duyên. Thế là ma vương vui mừng đi ra đã thỉnh Phật được nhập Niết bàn. Mà đúng là ma vương vui là đúng. Ba tháng sau Phật nhập Niết bàn,

[34:49]từ đó đến nay những vị A La Hán dần dần vắng bóng, dần dần vắng bóng. Đạo Phật mình thì cũng được các bậc tiền bối truyền lại từ từ, truyền lại từ từ cho đến ngày hôm nay, cũng là công lao của các bậc tiền bối. Nhưng mà còn giống như thời Đức Phật không? Còn không? Hết rồi. Bây giờ cái sự phát tâm của chúng ta đối với đạo Phật không còn mãnh liệt nữa, đối với sự tu hành không còn mạnh mẽ nữa vì không còn có Đức Phật nữa. Giờ chúng ta có thương quý thầy, thương ghê gớm lắm đi thì ổng cũng là ông thầy như mình, ổng cũng là một người như mình, cũng ăn cũng uống bình thường.

[35:28]Rồi ổng cũng chưa đắc đạo, có khi giọng tụng kinh ổng hay hay vậy thôi. Hoặc ổng đẹp trai một chút như ông thầy trụ trì mình đây, Nhiều khi còn thua Lê Công Tuấn Anh nữa, ví dụ vậy thấy không? Cho nên cái hình ảnh của quý thầy không có thuyết phục mình, không có thúc đẩy mình để mình phát tâm tu hành cho mạnh mẽ bằng hình ảnh của Đức Phật. Và không có Đức Phật giữ gìn chánh pháp, cho nên Phật pháp lần lần bị uốn éo, bị lệch lạc từ từ từ từ. Nên những cái mê tín, tà kiến nó xâm nhập, xâm nhập dần dần dần dần vào đạo Phật. Đó, nên ác ma nó mừng là đúng. Nhưng ác ma là ai? Ma vương là kẻ nào? Có người thì giảng nói ma vương là tượng trưng

[36:13]cho những cái tâm bất thiện của mình. Nhưng mà ở đây xin nói nghĩa đen là ma vương có thật là một ma vương đầy quyền lực, cai trị trong cái cõi vô hình, có thật. Nhưng nó từ đâu mà có điều đó?

[36:32]Ma vương từ đâu mà có?

[36:42]Nói luôn rồi nha. Nói luôn để cho thấy quý Phật tử thấy mình đang có từ từ thành ma vương hay không? Ma vương là ngày xưa cũng là người biết tu hành, biết làm phước, có biết Phật pháp nữa và rất tin nhân quả, ma vương. Nhưng chỉ có một điều là cái ngã rất lớn, rất tự cao, rất tham vọng và rất làm phước, làm phước rất nhiều, luôn luôn bố thí giúp đỡ, bố thí giúp đỡ, bố thí giúp đỡ, nhưng mà bên trong tâm thì rất là ngã mạn, không muốn ai hơn mình hết, thì chút xíu nữa là từ từ thành ma đó. Do cái phước người đó lớn cho nên lần lần người đó đạt được những cái quyền lực cao, quyền lực cao. Hễ sống ở trong cuộc đời này á

[37:30]thì cũng là một người lãnh tụ nào đó, có khi là trùm mafia nào đó, chứ không phải là không, bởi phước rất lớn nên rất có quyền lực. Rồi khi chết vào trong cõi vô hình, cũng có rất nhiều lâu la, đồ đảng, cũng cai trị một cái khu vực trong cái cõi vô hình nào đó, nhưng mà rất ngã mạn, cũng biết Phật pháp, cũng biết nhân quả, cũng nhìn thấy người tu đầu này người tu đầu kia, nhìn trong thế gian này biết hết. Biết ai dở ai kém biết hết. Nhưng mà chỉ có cái là không muốn người khác hơn mình. Cho nên thấy, thấy mà có một vị thánh nào đó đang chuẩn bị đắc đạo thì không ưa vì sợ người đó sẽ hơn mình, phá, vậy thôi.

[38:13]Chính cái ngã mạn, chính cái tự cao độc tôn á, phá chút xíu thôi thành là ma thôi, chứ người đó rất có phước. Hễ mà gặp mình mà nói đạo lý là mình mê mình theo liền, cũng nói nhân quả, nói làm phước đồ dữ dội lắm. Mình mê liền bởi vì tướng cũng rất là đẹp, bởi vì làm phước rất nhiều mà. Nhưng chỉ có cái là không muốn ai hơn mình, từ từ thành ma vương. Đó vậy đó. Cho nên quý Phật tử vì những người mà giàu mà cúng nhiều, nhớ bỏ cái tâm ngã mạn, chịu khó nghe lời quý thầy, đừng có mà cố chấp cái ý nghĩ của mình. Lúc nào cũng phải nhu thuận, khiêm tốn, biết vâng lời thì mình là người trong Phật pháp, mình là con của Phật.

[38:54]Còn mình làm phước rất nhiều mà mình không muốn ai hơn mình, mình tự cao, đó là mình đi theo con đường để trở thành ma, ma vương. Bởi vì ma rất có phước chứ không phải là ma là cái đồ bá vơ mà đói lên đói xuống đâu, không phải đâu. Ma mà đói lên đói xuống là loại ngạ quỷ không có phước. Do trong cuộc đời này họ đã quá bỏn xẻn, nên khi chết họ làm ma đói, không ai cho ăn, không có quyền lực gì hết, không làm gì ai được hết. Nhưng ma vương khác, ma vương là người làm phước rất nhiều, làm phước tràn đầy, chỉ có cái là độc tôn không muốn ai hơn mình là thành ma thôi, chỉ chút xíu đó. Nhớ đừng làm ma, tui sợ lắm.

[39:36]Giờ qua cái phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát.

[39:43]Bây giờ Phật mới bảo ngài Đắc Đại Thế:

[39:48]"Ông nên biết rằng nếu có người nào mà thọ trì kinh Pháp Hoa này thì được công đức vô lượng như vậy, thì nếu có người nào mà dùng lời thô ác mắng nhiếc, chê bai cái người đó đó, thì cái tội báo cũng lớn như vậy, tức là tiêu tan sụp đổ hết. Cho nên, chúng ta vậy thấy những người tu hành chân chính thì lòng mình phải hết sức là kính trọng. Đừng có vì cái đố kị hơn thua nào đó mà chê bai. Cũng đừng có lỡ lời mà chê bai ai, cũng đừng có nghe ai nói xấu mà hùa theo. Coi chừng lầm mấy cái vị chân tu, mình hùa theo, mình đọa nhiều kiếp đó. Thế gian thì vậy đó, họ hay hay hùa theo. Ví dụ có một vị đó họ tu chân chính

[40:41]cái bắt đầu họ có uy đức, được nhiều người kính trọng. Rồi có cái ông khác, ông này là tấp nơ ma nè, ổng thấy cái vị đó có uy đức, ổng ghét xấu, ổng không muốn hơn, ổng phao chuyện tầm bậy tầm bạ. Rồi mình cái vô tình mình nghe cái ông này, mình đâu biết thực hư ông kia ra làm sao. Mình đâu biết ông kia tốt xấu mà hễ nghe cái tin, nghe cái tin, thì chỉ cần cái tin thôi để làm cho mình hiểu lầm cái vị chân tu thôi thì đủ để cho đời đời kiếp kiếp mình đọa mất, mình mất hết những cái uy đức, công đức của mình đã tạo được. Cho nên quý Phật tử phải dè dặt, dè dặt là khi mình nghe nói xấu một người nào, đừng bao giờ, đừng bao giờ vội tin liền, đừng bao giờ.

[41:28]Vì lỡ mà mình tin tầm bậy mình cũng đọa theo người ta luôn, nhớ vậy đó nha.

[41:36]Ngài mới kể rằng vào thuở vô lượng vô biên kiếp rất xưa, ừm trong cái thời mà Đức Phật Oai Âm Vương Như Lai

[41:46]à có một cái vị Tỳ-kheo, có một vị Tỳ-kheo tên là Thường Bất Khinh. Tại sao là tên Thường Bất Khinh? Bởi vì cái vị đó gặp ai cũng đều lễ lạy, khen ngợi mà nói rằng: "Tôi rất quý kính ngài, chẳng dám khinh mạn. Vì sao? Vì quý ngài đều tu hành đạo Bồ-tát, đều sẽ được làm Phật."

[42:11]Cái chuyện này nghe thì giống như chuyện tiếu lâm, nhưng mà sự thật thì cái ý thú nó rất là thâm trầm. Bây giờ mình cứ tưởng tượng đâu, giờ trong chùa mình có một ông nào đó ổng đi lững thửng lững thửng gặp ai ổng cũng chào mình: "Chào Phật, chào Phật" cái mình nói ông đó làm sao? Ông đó thì ổng mới trốn ở trên Biên Hòa về đó, mình nói như vậy liền phải không? Man man cái gì đó, mất một hai học gì đó, mình nói vậy. Nhưng mình nghe chuyện giống như chuyện tiếu lâm, nhưng mà sự thật cái ý nghĩa của cái đoạn này rất là thâm thúy. Thì ngài không có tu cái gì nhiều, mà gặp ai cũng lễ lạy, cung kính và khen ngợi là người này đều sẽ thành Phật.

[42:54]Thì mọi người mới đầu thì nói ổng mát, nhưng riết rồi bực. Đi đâu gặp ổng cũng nói, phát bực. Cái chuyện này là đâu phải chuyện đùa mà gặp ai cũng nói, rồi bực. Nói: "Ông Tỳ-kheo vô trí", người xưa là dùng vô trí, bây giờ mình gọi là điên á. "Ông Tỳ-kheo khùng này ở đâu mà đến đây thọ ký cho mình làm Phật?" Đó, mình không tin như vậy, đó. Mà ngài dù bị người ta mắng chửi, vẫn không giận hờn, vẫn nói ngài sẽ làm Phật. Mà không biết ngài làm quá hay sao mà ngài còn dữ, làm quá hay sao riết mà người ta giận tới nỗi mà gặp ngài là người ta lấy gậy đánh, lấy đá ném. Giờ không biết chắc người ta chịu cũng hết nổi, cũng vừa vừa thôi.

[43:35]Gặp mình thì chào hai câu, khen thì cũng được rồi. Gặp mình đâu mà lễ lạy khen chắc mình cũng chịu hết nổi, mà đúng thật chắc ngài cũng làm quá người ta chịu hết nổi, gặp đâu người ta đánh. Nhưng mà ngài chạy tránh xa, vẫn nói ngoái lại là: "Tôi chẳng dám khinh quý ngài, quý ngài đều sẽ thành Phật."

[43:57]Cái đoạn sau thì chắc là quý Phật tử có tụng rồi phải không? Là sau đó thì trước khi mà vị Tỳ-kheo đó mất thì nhận được yếu chỉ Pháp Hoa, sống tăng thêm tuổi thọ và giáo hóa cho vô số người vân vân vân vân. Bây giờ hỏi thế này là tại sao mà vị đó gặp ai cũng đều nói lên là mình tin rằng mọi người đều sẽ thành Phật? Vì sao?

[44:32]Vì sao?

[44:36]Ví dụ thế này, mình phải hiểu.

[44:41]Ví dụ có một lần mình đau bụng đi cầu cái mình mua cái thuốc, một loại thuốc nào đó mình uống cái nó hết. Mai mốt cái mình gặp người đi cầu: "Nè, lấy thuốc này uống hết liền."

[44:58]Rồi có một lần đó cái người chị của cổ mới nhờ cổ về lấy giùm cuốn nhật ký của người chị. Mà người chị dặn: "Em lấy lấy chớ đừng có giở ra coi nghen." Cổ nói: "Dạ." Hôm đó cổ về mở tủ cổ lấy cuốn nhật ký ra mà cổ giữ được là không lật ra coi, không lật ra coi. Cổ đến đưa cho người chị với đôi mắt nhìn thẳng không có hổ thẹn

[45:25]rồi cổ mới kết luận là: "Từ đó, tôi tin cuộc đời." Nghĩa là làm sao?

[45:34]Nghĩa là khi mình đã bắt đầu nói thật được thì mình nghĩ à, chắc là cuộc đời người ta cũng nói thật, phải không? Bắt đầu mình mới tin cuộc đời được. Còn cái người mà nói dối thì gặp ai cũng nghi hết. Cho nên quý Phật tử để ý sẽ thấy cái người mà họ đạo đức hiền lành á họ là người ngây thơ dễ tin, cả tin lắm, ai nói gì cũng tin là thiệt hết á. Tại họ cứ tưởng là ai cũng giống như họ. Tới chừng nào họ lớn lớn, từ từ họ khôn ra, họ bị lừa riết lừa riết rồi họ mới từ từ họ mới tỉnh ngộ là lúc đó là họ không tin bớt tin cuộc đời là do kinh nghiệm, kinh nghiệm bị lừa. Chớ còn bản thân họ thì vẫn nói thật.

[46:16]Còn quý Phật tử là người tin cuộc đời hay không tin cuộc đời? Hả? Tin cuộc đời hay không tin cuộc đời? Trả lời cái biết người đó sao. Thấy không tin, là biết người đó sao.

[46:29]Đây là cái kinh nghiệm nơi bản thân mình. Thì bây giờ ngài Thường Bất Khinh cũng vậy. Ngài tu như thế nào đó, ngài được cái gì đó, sau đó ngài nhìn ai ngài cũng thấy rằng mọi người đều có thể thành Phật.

[46:47]Vậy ngài được cái gì trong tâm? Ngài được cái gì?

[46:55]Ngài được gì trong tâm, nơi bản thân ngài mà khi ngài nhìn thấy bất cứ ai ngài cũng cảm thấy người này sẽ thành Phật?

[47:09]Được cái gì? Chứng thực. Đúng rồi đó. Ngài chứng được cái sở đắc trong tâm, ngài thấy được con đường đi trước mắt mà ngài thấy con đường rất rõ. Cái chỗ tâm chứng đó ngài thấy con đường này chắc chắn là con đường đưa đến Phật quả. Mà ngài thấy nó nơi nội tâm mình rất là dễ tìm, chỉ việc lắng tâm cho thanh tịnh, buông hết những kiến chấp, giữ gìn đạo đức kỹ lưỡng, tự nhiên cái tâm đó nó hoát nhiên rỗng rang đại ngộ. Và ngài nói rằng cứ dưỡng cái sức ngộ này, cứ tu theo đúng cái tâm thanh tịnh không tướng này, không chấp này, không cầu không đắc này thì đây là Phật, đây là chân lý. Vì sao? Vì ngài thấy nơi chính mình khi mà được cái tâm ngộ đó rồi đó,

[47:56]mình là con người cũng bình thường như nào giờ, chớ không có trở nên man. Vẫn bình thường, vẫn tỉnh táo, vẫn sáng suốt mà an lạc hơn, hạnh phúc hơn, sáng suốt hơn, không câu chấp mà tâm thì quang minh sáng tỏ hơn. Nên ngài tin chắc đây là con đường đi, không còn con đường nào khác nữa. Đây đúng là con đường đi. Mà cái đó nó dễ tìm quá, nơi chính mình, không cần phải chạy ra bên ngoài tìm tướng nhiều. Nhưng mình đối với mọi người thì dùng cái lòng từ bi, dùng cái lòng tôn kính mà đối xử với mọi người, nó thành cái đạo đức trong cái ứng xử. Mà nơi bản thân mình thì chỉ một cái tâm thanh tịnh, không tướng vô biên này là trúng con đường để đi tới

[48:42]Phật quả, không còn con đường nào khác. Ngài thấy nó dễ dàng, nó gần gũi, nó rõ ràng quá. Như vậy ngài nhìn thấy mọi người có thể tìm được cái đó không? Có. Ngài mới tin rằng con người nếu ai cũng giống như vậy, giữ gìn được đạo đức, ứng xử với bên ngoài thì đạo đức khiêm tốn, bên trong tâm thì giữ gìn cho nó thanh tịnh thì chắc chắn họ sẽ tìm được cái tâm này, cái tâm vô biên không hình không tướng này. Và chắc chắn cứ theo cái tâm đó mà tu, hết kiếp này sang kiếp khác thì ai cũng đi tới Phật quả hết. Như vậy ngài có cái niềm tin rất mãnh liệt. Và do đó ngài nhìn thấy mọi người, ngài ngài thấy làm sao?

[49:38]Nó có hai cái mức độ hai cái mức độ ở trong cái niềm tin này. Ở cái mức độ thứ nhất á là bình đẳng và thương yêu. Ví dụ như là tôi ví dụ như là tôi là cũng ngộ được cái tâm đó đi, chứ sự thật thì tôi chưa có ngộ, nhưng ví dụ như tôi ngộ được cái tâm đó rồi, cái tôi nhìn cái ông cụ này, tôi thấy ông cụ cũng có cái tâm đó, mà không biết ngộ chưa thôi chứ ổng cũng có sẵn rồi. Thì như vậy tôi thấy tôi và ổng có khác nhau không? Ai cũng có cái tâm có thể chứng được, ngộ được, nên thấy trước hết là bình đẳng phải không? Không khác, tôi thấy tôi với ổng bình đẳng. Và tôi nhìn thấy mọi người, tôi thấy cũng bình đẳng, ai cũng có cái tâm đó hết.

[50:23]Nếu chỉ xoay lại, đối bên ngoài thì đạo đức, đối bên trong là giữ cho thanh tịnh thì sẽ được cái tâm đó hết. Cho nên tôi thấy tôi và mọi người bình đẳng. Và bình đẳng giống nhau thì có ghét nhau được không? Không ghét ha. Cái này trong các nhà thiền hay gọi là người trong nhà á, tức là người mà ngộ được chỗ đó họ hay gọi là người trong nhà. Ví dụ thế này, như là tôi đối với các em tôi, các anh chị của tôi thì tôi có lòng thương yêu phải không? Bởi vì tôi biết rằng họ với tôi cùng cha cùng mẹ, cùng huyết thống cho nên tôi thương yêu họ. Thì bây giờ trong đạo cũng vậy, tôi thấy tôi có cái tâm đó,

[51:05]cái tâm ngộ đó được, mà tôi nhìn mọi người tôi biết ai cũng có cái tâm đó. Chỉ vì nó còn che một chút thôi, vì một chút mê lầm nào đó nó lỡ che thôi, chứ nếu chịu tu nó cũng bật sáng ra liền, giống như tôi liền, thì họ cũng giống tôi có cái tâm ngộ đó, thì tôi có thương họ không? Cũng thương phải không? Giống như tôi đã thương anh em tôi vì cùng huyết thống, thì ở đây tôi thương được mọi người vì ai cũng có sẵn cái tâm đó hết, cái tâm ngộ đó để đi tới Phật quả. Thấy ai cũng giống như vậy hết cho nên tôi luôn luôn thương yêu. Đối xử thì bình đẳng và thương yêu, đó là cấp độ thứ nhất. Ở cái mức độ cao hơn nữa, mức độ cao hơn nữa khi mà

[51:46]tôi ngộ được cao hơn nữa, tâm tôi thanh tịnh hơn nữa, cái bản ngã của tôi, cái chấp ngã của tôi nó nhỏ từ từ lại, nhỏ từ từ lại và tôi trở nên khiêm hạ, tôi trở nên khiêm tốn thì tôi thấy à tôi cũng đang đi trên con đường đưa tới Phật quả và tôi nhìn thấy mọi người ai cũng có khả năng đi tới Phật quả. Thì cũng là bình đẳng thương yêu như hồi nãy thôi, không có gì khác, nhưng bây giờ thì nó thêm cái sự khiêm tốn của tôi mà do tôi tu được nữa, thì từ cái thương yêu nó tăng lên một bước nữa nó thành cái gì? Thành kính trọng, phải không? Kính trọng là cao hơn thương yêu, phải không? Đó, và đây là ngài Thường Bất Khinh,

[52:31]ngài đạt được cái trình độ cao hơn cái mức độ thương yêu. Tức là ngài có cái tâm chứng, ban đầu thì ngài đối xử ngài bình đẳng thương yêu với mọi chúng sinh vì thấy ai cũng có cái tâm đó hết, mà chưa ngộ thôi nhưng có sẵn, nên ngài thương yêu. Nhưng ngài tu một thời gian thuần, cái tâm ngài khiêm tốn, thì cái thương yêu đối với chúng sinh á nó nâng lên một bước nữa nó thành cái cái kính trọng mọi người, và do đó ngài gặp ai ngài cũng cũng lễ lạy, khen ngợi. Đó, là ở chỗ này á. Mà quý Phật tử vậy, mình muốn biết mình tu tiến hay không á, mình xem mình nằm ở mức độ nào. Ví dụ như mức độ thứ nhất á, mình nhìn ai mình thấy cũng thương

[53:16]yêu hết, thì đó là mình đã đạt được cái bước thứ nhất. Mình thấy nhìn chúng sinh ai cũng thương hết, nhìn điều tới cái cọng lá ngoài sân cũng thương nữa. Ví dụ như quý Phật tử đi trên đường, nhất là mình ra miền quê á, mình nhìn nhiều khi nhìn một cọng cỏ nó mọc trơ vơ trên con đường, vẫn thương được. Đó là cái đạo tâm đã tiến được một bước dài rồi. Quý Phật tử đã thương được từng cọng cỏ chưa? Có chưa? Tập đi ha. Thương yêu con người, thương yêu muôn loài, mà thương cả từng cái gốc cây, từng ngọn cỏ. Như vậy, đó là mức độ thứ nhất. Nhưng mình tu đến một lúc mà cái ngã chấp mình nó bắt đầu nó nó mỏng nhẹ, mình trở nên khiêm tốn thì mình nhìn mọi người nó không còn là

[54:13]thương yêu nữa, mà nó thêm nữa, nó hơn cái sự thương yêu đó là cái sự kính trọng nữa. Cho nên đối với ai mình cũng lễ độ, cũng cung kính hết, đó là một bước tiến cao hơn nữa. Khi nào mà quý Phật tử mình nhìn thấy đối với mọi người mình có cái lễ độ, có cái tôn trọng thì biết rằng mình đối với đạo mình đã tiến thêm được một bước nữa. Đó là như vậy. Mà nhớ là cái kính trọng nó cao hơn cái thương yêu nha, kính trọng nó cao hơn cái thương yêu. Vì hễ mình kính người đó thì chắc chắn mình đã có thương người đó rồi, đúng không? Thương thì chưa chắc kính nha, thương thì chưa chắc kính. Thấy cũng dễ thương, thương thương,

[54:55]giúp đỡ, hay nói chuyện cũng vui, chưa chắc kính. Nhưng hễ kính thì đã có thương ở trỏng rồi, phải không? Ví dụ như mình nói mình kính thầy trụ trì, chắc chắn mình cũng có thương trỏng rồi, vậy, thì ổng cũng dễ thương thiệt chứ không phải không.

[55:12]Ở đây là có một số người họ không tin Bồ tát Thường Bất Khinh. Khi ngài Thường Bất Khinh ngài nói như vậy họ không tin. Tại sao? Tại sao?

[55:29]Tại vì họ chưa ngộ được cái tâm đó phải không? Họ không thấy là nơi họ có một con đường để đi đến Phật quả. Cho nên nghe ngài nói cái họ không tin. Nên cái sự kiện mà từ một người phàm phu mà nói thành Phật quá vĩ đại nên họ không dám tin. Như chúng ta cũng vậy, quý Phật tử cũng vậy. Như là gặp ông thầy nào mà nói: "Ngươi là Phật", mình tin không? Mình không tin. Mà nếu mình tin thì mình thuộc loại nào? Ma. Mà bây giờ có một cái đạo như vậy. Có một cái đạo thế này, là khi mà một người đó đến với ông thầy đó, ông thầy đó ổng dạy câu này: "Cái điều kiện đầu tiên con phải tin chính con là Phật." Khi nghe nói cái người đệ tử ngờ ngợ:

[56:21]"Ủa, mình là Phật đâu mình không thấy?" Nhưng mà ngày nào ổng cũng buộc người đệ tử: "Phải tin, con phải tin rằng con là Phật." Thì một thời gian cái người đệ tử do nghe ông thầy ổng nói riết rồi tin, bắt đầu tin mình là Phật. Sau khi tin mình là Phật rồi cái thái độ người đó làm sao? Ngông ngông nghênh nghênh, tự cao tự đại, rồi ít lâu sau nữa điên luôn. Đây là điều có thật, đang xảy ra. Ở thành phố này có một nhóm như vậy đó. Hồi đó lúc đó tôi đang còn ở trong một cái chúng, thì có một cái chú Sa-di, tại hồi xưa ở cái chùa chung với nhau rồi mỗi người đi mỗi nơi không gặp lại, thì chú đó đến tìm tôi thăm.

[57:01]Tôi đang ở trong Tăng đường, cái nghe nói có một cái chú đó đến thăm thì tôi bước ra. Tôi nhìn mặt chú đó tôi hết hồn liền. Vừa mới nhìn mặt chưa nói câu nào tôi nói: "Chết rồi, em tu cái pháp môn nào sai rồi. Ai gây cho em một cái ngã mạn quá lớn rồi." Cái chú đó cười cười không thèm trả lời. Nói năm câu ba chuyện cái mượn tôi cuốn từ điển rồi đi mất. Thì qua năm sau tôi nghe tin chú đó phát điên. Phát điên cầm dao rượt cha rượt mẹ làm chạy vắt giò lên cổ luôn. Mà nhiều người cũng giống giống như vậy. Là do không biết đâu thành phố này có cái nhóm như vậy, mà gây cho hết người này điên tới người kia điên miết á.

[57:42]Cho nên ở đây cái cái mà gọi là tin mình là Phật, thì cái này không phải là niềm tin giống như ngài Thường Bất Khinh nói. Chắc có lẽ bên đó cái nhóm đó họ hiểu lầm cái đoạn kinh này. Cái tin á là từ chỗ mà ngài Thường Bất Khinh ổng ngộ đạo, mà cái ngộ của ổng từ cái đạo đức và từ cái tâm chứng thật sự. Và tin có một con đường, chỉ là con đường thôi, đi đến Phật quả sau này, con đường ở nơi chính mình. Còn cái mà ông thầy ổng buộc đệ tử là phải tin mình là Phật, trong khi mình đang còn phàm phu mà tự nhận mình là Phật, nên cái chữ tin đó nó lầm qua cái chữ tự nhận, phải không? Tin mình sẽ thành Phật thì đúng, nếu mình tu đúng thì mình sẽ thành Phật.

[58:27]Nhưng mà mình đang phàm phu vậy mà tự nhận mình là Phật, thì đó là đó là gì? Là ngông nghênh, là sai lầm. Cái quả báo của nó là điên loạn. Cho nên ở đây quý Phật tử sau này mà gặp cái giáo lý nhớ phân biệt ra khác nha. Nghe phẩm Thường Bất Khinh mà tôi giảng hôm nay phải nhớ phân biệt: tin rằng nếu mình đi đúng, nơi mình có con đường để đi đến Phật quả, thì cái niềm tin đó không sai. Còn nếu gặp ai buộc mình phải tự nhận mình là Phật đương thời trong kiếp hiện tại, thì biết ông thầy đó là tà sư, ổng hiểu sai cái phẩm Thường Bất Khinh này. Cho nên hôm nay mà giảng phẩm này, tôi cũng cảnh giác quý Phật tử điều này.

[59:07]Tại vì hiện nay có một số người hiểu sai phẩm này, gieo rắc sự điên loạn tùm lum hết, hết bao nhiêu người bị điên vì hiểu sai phẩm này. Còn cái niềm tin kiên cố của ngài Thường Bất Khinh là do ngài đã ngộ đạo, chứ không phải là tự nhận đại, không phải tự nhận đại, mà ngài đã ngộ đạo thực chứng. Nên ở đây chúng ta phân biệt lại cái niềm tin.

[59:32]Chúng ta cũng đã nói rất nhiều về cái niềm tin của đạo Phật nó khác với sự mê tín của các đạo tà khác. Bây giờ mình lặp lại cái niềm tin, vì hôm nay mình học cái phẩm Thường Bất Khinh nói về cái niềm tin. Cái niềm tin trong đạo Phật á mà đúng á nó không đưa đến sự cầu xin,

[59:53]không đưa đến sự cầu xin,

[59:57]mà nó đưa đến cái trí tuệ, đưa đến từ bi, đưa đến đạo đức, đưa đến cái hùng lực, ý chí, cái sự lập trường kiên cố chứ không phải đưa đến sự cầu xin. Đó, phân biệt ra làm hai tôi ví dụ quý Phật tử sẽ hiểu. Ví dụ như mình đến gặp ông thầy, ông thầy ổng chỉ lên cái bàn thờ ổng nói: "Đây là mẹ mẫu nè, con phải tin. Phải tin, cũng tin đó nha, cũng là niềm tin đó. Và khi con tin rồi con phải quỳ xuống con cầu nguyện mẹ mẫu này ban cho con là được sáng suốt, đắc đạo, được nhà cao cửa rộng, được mọi điều tốt lành." Thì cái niềm tin cái đó rồi sau đó cầu xin. Cái niềm tin rồi đưa đến sự cầu xin thì cái đó không phải là đạo Phật.

[1:00:43]Quý Phật tử nhớ nha. Còn từ đây về sau mà hễ ai buộc mình phải tin, nói về tin một cái điều gì đó để đưa đến sự cầu xin thì mình biết người này không phải đạo Phật. Nhớ điều đó. Còn cái niềm tin mà đưa đến đạo Phật là như thế này. Là từ cái phán xét của mình mà mình chấp nhận. Ví dụ như khi mình nghe quý thầy giảng về nhân quả. Người gieo nhân gì sẽ gặt lấy cái quả báo như thế. Thì mới đầu mình chưa đủ sức mình tin nhưng mình thấy nó có cái gì nó công bằng, hợp lý thấy không? Công bằng, hợp lý. Rồi do mình học quý thầy giảng nhiều lần lần cái mình bắt đầu mình tin, hiểu sâu về luật nhân quả. Thì cái niềm mà tin, hiểu sâu về luật nhân quả đó đưa cho mình đến cái gì?

[1:01:30]Thứ nhất là gì? Đạo, đạo đức. Phải không? Bắt đầu mình không có cầu xin ơn trên mà mình sống đạo đức, biết hy sinh, biết quan tâm lo lắng giúp đỡ người khác. Đó, như vậy cái niềm tin đúng đưa tới đạo đức. Cái đạo đức đó cũng là cái từ, từ bi phải không? Để cho mình biết thương yêu mọi người. Bởi vì nếu làm phước giúp mọi người mà không có lòng thương yêu thì đó chỉ là làm phước giả dối, không có phải là công đức thật sự, mà đưa đến sự đọa lạc về sau này. Mình hiểu nhân quả sâu sắc cho nên mình trải lòng thương yêu đến với chúng sinh. Nên từ cái niềm tin nhân quả đưa đến đạo đức, đưa đến từ bi, rồi đưa đến trí tuệ.

[1:02:12]Mình dựa vào nhân quả mình bắt đầu mình nhìn cuộc đời, mình phán xét, mình biết việc mình làm là đúng chỗ nào, sai chỗ nào. Mình nhìn thấy mọi người làm mình biết họ đúng chỗ nào, sai chỗ nào. Đó, cái trí tuệ bắt đầu nó phát triển từ cái niềm tin về luật nhân quả ban đầu. Thấy không? Như vậy từ cái niềm tin nhân quả mình có đạo đức, có từ bi, có trí tuệ và có hùng lực. Hùng lực là cái gì?

[1:02:41]Là cái lập trường kiên định đối với con đường mình đã đi. Ví dụ thế này, ví dụ thế này. Có một người nào đó đến nói với mình: "Bây giờ nhà em đang nghèo, em cầm cái món hàng này, em cầm cái túi này em đi đến em giao cái chỗ đó cho tôi, tôi sẽ cho em 1.000 đô la." Mình cầm cái túi lên mình không tin rằng tại sao một việc dễ dàng như vậy mà người ta trả tiền nhiều. Thì cầm lên thì mình thấy đó là cái túi bạch phiến, ma túy. Hỏi: "Phải ma túy không?" thì gật đầu. Thì lúc đó là mình là người biết nhân quả thì mình có chấp nhận lấy 1.000 đô la để xách cái bịch thuốc đưa đi không? Mình chấp nhận chiều nay có thể không có gạo ăn,

[1:03:27]chấp nhận là không đi mượn được gạo, chấp nhận nhịn đói chiều nay, dứt khoát không bao giờ làm chuyện tội lỗi. Bởi vì mình biết nhân quả nó khủng khiếp, nó ghê gớm, phải không? Do đó, biết nhân quả, tin nhân quả mình có cái hùng lực, là cái lập trường kiên định đối với đạo đức mà không ai có thể làm cho mình lay động được. Như vậy chúng ta thấy cái niềm tin đúng của đạo Phật nó đưa mình tới đạo đức, đưa mình tới từ bi, đưa tới trí tuệ, đưa tới hùng lực. Còn cái niềm tin mà không phải đạo Phật đưa mình tới cái sự khuất phục, tới sự cầu xin, tới sự nô lệ vào thần linh nào đó. Có một số người họ không hiểu hết về tôn giáo,

[1:04:06]về đạo Phật, họ mới công kích tôn giáo làm cho con người ta nô lệ tin vào thần linh. Thì cái công kích đó có đúng với đạo Phật không? Đúng không? Cho nên mình mà nghe ai công kích điều đó thì mình chỉ cười mình nói rằng người đó chưa hiểu đạo Phật. Người đó tưởng đạo Phật cũng giống như các tôn giáo khác. Chứ còn cái niềm tin của đạo Phật nó làm cho con người ta sáng suốt hơn, đạo đức hơn và vững chắc hơn.

[1:04:40]Vị tỳ-kheo đó lúc sắp chết nơi giữa hư không nghe trọn 20.000 muôn ức bài kệ kinh Pháp Hoa của đức Oai Âm Vương Phật đã nói. Nghe xong thọ trì, được lục căn thanh tịnh, lại sống thêm tuổi thọ vì người khác giảng kinh. Vị Bồ tát đó giáo hóa nghìn muôn chúng khiến trụ nơi vô thượng chánh đẳng chánh giác. Những người mà được cái vị tỳ-kheo đó giáo hóa đều lần lượt thành Phật trước vị tỳ-kheo đó.

[1:05:11]Rồi Đức Phật mới nói rằng: "Cái ngài Thường Bất Khinh đó chính là tiền thân của ngài." Là trong kiếp xưa ngài có cái tâm chứng như vậy, ngài đi gieo cái niềm tin cho mọi người. Ngài đi gieo niềm tin cho mọi người. Khi mà ngài gieo cái niềm tin đó đó, mới ban đầu có những người họ không đủ niềm tin họ thấy khó chịu, họ công kích. Nhưng mà ngài vững lòng, ngài có hùng lực mà. Chúng ta nhớ cái niềm tin trong đạo Phật đưa đến cái hùng lực. Ngài cũng bắt đầu chuyển hóa được chúng sinh, làm cho họ tin được nơi chính họ sẽ có cái con đường đưa đến vô thượng chánh đẳng chánh giác. Và do cái nhân quả mà ngài đã gieo như vậy,

[1:06:03]ngài đã gieo cái niềm tin với mọi người nên ngày hôm nay ngài được thành Phật. Đó là phẩm Thường Bất Khinh. Bây giờ mình nghe phẩm Như Lai Thần Lực, mấy phẩm sau này thì ngắn. Ngắn là vì sao? Vì mình chưa đủ trí tuệ, phải không? Để đọc một câu mà thành vô lượng nghĩa. Thế nếu mà đủ trí tuệ thì một phẩm này mình giảng hai năm, nhưng mà thôi nghe vậy ngán rồi buồn ngủ xỉu, kẹt. Thôi giảng chút vậy thôi nghe đỡ buồn.

[1:06:37]Phẩm Như Lai Thần Lực. Lúc bấy giờ các vị đại Bồ tát như số vi trần trong nghìn thế giới từ dưới đất vọt lên, chắp tay bạch Phật: "Hừm.

[1:06:51]Là nơi vô lượng cõi Đức Phật à thị hiện chúng con cũng sẽ thọ trì kinh này, giải nói, đọc tụng, biên chép, giáo hóa chúng sinh."

[1:07:03]Bây giờ Đức Phật mới hiện thần thông trước tất cả đại chúng. Ngài bày cái tướng lưỡi ngài trải rộng lên đến trời Phạm Thế, từ nơi thân ngài các lỗ chân lông đều phóng ra vô lượng vô số tia sáng đủ màu sắc, soi đến khắp cả cõi nước mười phương. Các Đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới cây báu cũng lại như vậy, bày tướng lưỡi rộng dài và phóng vô lượng tia sáng. Rồi các Đức Phật đều hiện tằng hắng một tiếng, khảy móng tay một tiếng. Cái tiếng đó vang động lan xa vô lượng vô biên vào các cõi nước khác trong vũ trụ, pháp giới này. Và cái ánh sáng, tiếng động đó lay động tất cả các cõi nước trong vũ trụ này, đều chợt nhìn thấy được Đức Phật Thích Ca ở cõi này.

[1:07:53]Đây là cái thần lực của Đức Phật hiện ra.

[1:07:59]Đức Phật lại bảo thế này: "Là thần lực của các Đức Phật vô lượng vô biên bất khả tư nghì như thế. Nếu ta dùng thần lực đó trong vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức vô số kiếp để chúc lụy mà nói về công đức của kinh này vẫn chẳng hết được."

[1:08:18]Bây giờ chúng ta nói về thần thông. Cái bài kinh này trùng hợp với một đoạn kinh trong kinh Nikaya nguyên thủy là bài kinh Abhibhu. Như cũng có kể cái chuyện bài kinh này rồi. Chắc cũng quên rồi.

[1:08:38]Hỏi đâu quên đó.

[1:08:42]Có một lần đó, ngài A Nan mới hỏi Phật là: "Bạch Đức Thế Tôn, con nghe nói là thị giả Đức Phật Thi Khí ở quá khứ có thể đứng trên cái cõi trời Phạm Thiên, làm phát lên một tiếng động và làm cho 3000 thế giới nghe được tiếng của mình. Điều đó đúng hay không?" Đức Phật mới nói rằng: "Abhibhū chỉ là đệ tử của một Đức Phật mà thôi. Còn các Thế Tôn là vô lượng." Ngài A Nan ngài mới thích quá, ngài nói: "Như vậy là các Đức Phật có thể làm thần thông lớn hơn nữa." Chứ nào giờ ngài cũng thấy Đức Phật làm thần thông thì nhiều, nhưng mà làm thần thông quanh quanh cái cõi này không à. Tức là đi trong cuộc sống thấy Ngài thị hiện đầu này bay đầu kia chút

[1:09:32]đỉnh vậy vậy, thân thân gió hóa, phóng quang chút đỉnh, chứ mà nghe nói tới gì mà làm tới 3000 thế giới mà còn bị Phật chê: "Ồ cái việc đó chỉ là một đệ tử của Đức Phật thôi, chứ còn các Đức Phật là vô lượng." Ngài thích ngài mới hỏi: "Bạch Thế Tôn, thế còn thần lực của Thế Tôn thì sao?" Ngài nghe ngài thích ngài hỏi. Đức Phật mới im lặng không trả lời. Ngài hỏi tới ba lần, Đức Phật mới nói: "Này A Nan, hãy nghe đây: là trong một cái cõi thế giới này đó, sẽ có một mặt trời, một mặt trăng đi quanh quỹ đạo. Mà cứ 1000 cái thế giới như vậy, 1000 cái thế giới mà có người sống, có mặt trời, mặt trăng như vậy, Đức Phật gọi là một tiểu thiên thế giới."

[1:10:19]Tiểu thiên thế giới, một tiểu thiên thế giới nhiều không? Nhiều phải không? Là 1000 cái thế giới giống như mình á, cũng nhiều. Mà Đức Phật nói: "2000 cái tiểu thiên thế giới là một trung thiên thế giới. Như vậy một trung thiên thế giới nhiều không? Tức là hai triệu cái thế giới giống như mình đó phải không? Hai triệu thế giới giống như mình." Và Đức Phật nói: "3000 cái trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới. Như vậy một đại thiên thế giới là bao nhiêu? Là sáu tỷ thế giới giống như mình, phải không? Là một đại thiên thế giới là sáu tỷ thế giới giống như mình." Đức Phật nói: "Một Đức Như Lai có thể làm cho tiếng mình được nghe

[1:11:04]trong 3000 cái đại thiên thế giới đó, chứ không phải là một đại thiên thế giới. Một đại thiên thế giới là sáu tỷ thế giới như mình, nhưng mà một Đức Thế Tôn có thể làm cho hào quang của mình, làm cho cái tiếng động của mình được nghe trong 3000 cái đại thiên thế giới như vậy, tức là 3000 của cái sáu tỷ thế giới như vậy." Và Đức Phật lúc đó Ngài mới khảy móng tay phát ra một tiếng và phát cái hào quang. Lúc đó cái âm thanh và hào quang của Ngài lan xa vô tận vô tận, vô biên trong thế giới, mà làm cho ngài A Nan ngồi gần bên Phật, nương theo thế giới đó thấy vô lượng vô biên, vô lượng vô biên các thế giới khác trong vũ trụ.

[1:11:41]Ngài vui mừng vì được điều chưa từng có. Ngài mới quỳ xuống ngài đảnh lễ, ngài nói: "Thật là quá diễm phước cho con, quá diễm phước cho con, có được một bậc Đạo Sư mà có được cái đại thần lực vô biên vô lượng như vậy." Thì lúc đó có một vị tỳ-kheo ngồi bên mới nói: "Thì đó là chuyện của Đức Thế Tôn, chứ còn bản thân của tôn giả có gì đâu. Phải không? Thì Đức Phật được thần thông chứ ngài có được miếng nào đâu mà ngài nói là tôi được diễm phước gì." Cái Đức Phật mới ngăn lại, nói: "Không phải. Chỉ cần ngài A Nan khởi được cái niềm tin, tôn kính được nơi cái thần lực của Như Lai, thì nếu bảy lần bảy kiếp liên tiếp A Nan sẽ luôn luôn

[1:12:25]sinh lên làm vua cõi trời, chỉ với cái niềm tôn kính đó thôi. Nhưng không, ngay trong kiếp này A Nan sẽ được Bát-niết-bàn, được chứng được Niết-bàn." Thì cái bài kinh đó phù hợp với cái bài kinh này của kinh Pháp Hoa, là Đức Phật khảy tiếng tay và phát cái hào quang của mình soi vào vô lượng vô biên các cõi nước trong vũ trụ, pháp giới và làm cho các chúng sinh ở cõi đó nhìn ngược lại, thấy được Đức Phật ở cõi này và tụ hội về để cung kính cúng dường. Mà tại sao Đức Phật làm được thần lực này? Thì lát nữa tôi nói.

[1:13:05]Cái thần thông diệu dụng á thì có nhiều mức độ, có nhiều mức độ. Ở mức độ như Phật và các vị A-la-hán khác nhau nha. Các vị A-la-hán cũng có thần thông. Chỗ tâm chứng, về cái chỗ tâm chứng tuyệt đối á, thì A-la-hán và Phật bằng nhau, bằng nhau. Nhưng mà cái diệu dụng và trí tuệ thì Đức Phật vượt xa, vượt xa một vị A-la-hán. Bởi vì sao? Bởi vì Đức Phật Ngài có cái công đức trong vô lượng kiếp làm hạnh Bồ-tát giáo hóa chúng sinh, nó tích thành vô lượng vô biên rồi, nên nó thành cái thần lực vô hạn. Còn các vị A-la-hán thì mới chứng thôi, mới chứng được cái tâm đó thôi, nên diệu dụng chưa thể phát ra được.

[1:13:52]Nhưng mà thần thông thì có nhiều mức độ. Như có một lần Bàng Long Uẩn, ông là một cư sĩ, ông ngộ đạo.

[1:14:01]Khi ông ngộ đạo rồi, cái ngài Thạch Đầu mới hỏi, thì ông mới viết một bài kệ để ông trình bày cái sở ngộ của mình, là ông mới nói rằng từ ở chỗ cái tâm chứng của ông đó, thì từ cái đồi, núi, suối, sông, cây, lá, tất cả đều là pháp thân thanh tịnh. Và cái thần thông của ông á là cái việc làm của ông trong đời sống hằng ngày. "Thần thông tịnh diệu dụng, vận thủy cập ban sài", nghĩa là khi gánh nước, khi bửa củi, đó đều là thần thông.

[1:14:39]Mà ngài Thạch Đầu chấp nhận. Tại sao vậy? Chúng ta thấy cũng cái việc làm đó, ông nào làm không được? Có ông nào không gánh nước được? Hồi nhỏ mình cũng đi gánh nước, lúc mình chưa phong tên nước, mình cũng đi gánh nước thấy mồ, có thần thông diệu dụng đâu phải không? Nhưng mà tại sao ngài nói là gánh nước thần thông cũng là diệu dụng? Ở đây là cái mức độ của một người tu chứng còn thấp, chưa phải A-la-hán. Nghĩa là mọi cái hành vi của mình làm á, mình thấy rõ từ cái chỗ nào nó xuất phát. Mình thấy từ trong cái hành uẩn vô thức nó xuất phát ra. Cái hành động này nó sâu lắm nha. Ví dụ thế này, bây giờ tôi đưa cái tay từ đây qua đây,

[1:15:17]cái tay tôi lay động nè, cái gì điều khiển được cái tay tôi lay động? Phải ý nghĩ không? Phải không? Không phải. Không phải ý nghĩ. Ví dụ quý phật tử đi từ đây qua bên chánh điện, quý phật tử có ý nghĩ điều khiển từng cái chân bước đi không? Có không? Không. Đang nói chuyện với người bạn bên cạnh, không để ý tới cái chân nữa, phải không? Đang nói chuyện này chuyện kia chứ đâu có điều khiển chân mình, nhưng mà chân mình vẫn tự động bước đi, phải không? Bây giờ hai anh võ sĩ đánh nhau trên đài nè, ổng có suy nghĩ không? Có không? Có suy nghĩ kịp không? Suy nghĩ người ta đánh vô mặt mình cái bốp liền, phải không?

[1:16:03]Không có suy nghĩ kịp. Người ta nhúc nhích cái là mình đã phản đòn, nhúc nhích là phản đòn liền, lẹ không thể tưởng được. Như vậy cái hành động của mình là ở đâu lòi ra? Quý phật tử có thấy không? Không thấy, phải không? Rõ ràng bây giờ nào giờ thì mình tưởng là à ý nghĩ mình điều khiển cái chân tay mình nó làm, phải không? Nhưng mà khi tôi vừa hỏi, quý phật tử bí liền, không thấy được, phải không? Không thấy mình từ đâu mình làm hết. Thấy mình dường như mình muốn làm gì thì nó làm, chứ cái điều khiển thực sự cái tay chân mình làm mình không biết, không biết. Đúng chưa? Thí dụ cái thấy rõ liền.

[1:16:44]Như nhiều khi mình đang ngồi mình đang gãi, mình đâu có ý nghĩ mình gãi. Tại mình đang chú ý nghe mà, cái tay nó tự động thôi, thấy ngộ không? Phải không? Như vậy cái hành động mình nó do một cái gì ở trong nó điều khiển ra đó, mình không thấy. Nhưng mà người ngộ đạo được họ thấy được cái đó. Họ thấy được từ cái gốc của cái tâm mà nó phát sinh ra được cái hành động đó. Cho nên họ tự nhận rằng có được cái diệu dụng từ nơi tâm lưu xuất ra từng hành động mà hành động họ kiểm soát được rất rõ ràng, rất rõ ràng. Cho nên gọi đó là thần thông, đó là cỡ như ông Bàng Long Uẩn. Nhưng mà khi cao lên chút nữa, thì bắt đầu nó khác dần

[1:17:26]dần, khác dần dần, là những vị mà cao hơn như là ngài Đặng Ẩn Phong, ngài bay lên hư không đứng trên trời. Quý vị nghe chuyện ngài Đặng Ẩn Phong chưa? Có một lần đó cái ngài dẫn đệ tử ngài đi dạo chơi, cái gặp hai bên lính đánh nhau. Cái trận chiến trường đánh rất là khốc liệt, ngài mới nói: "Thôi ta phải cứu cái nạn này." Cái ngài quăng cái gậy lên trời, ngài bay lên, ngài đứng ngài chỉ xuống. Cái hai bên lính đang đánh nhau thấy cảnh sợ quá, tự nhiên có một vị tăng nào hiện, đứng lơ lửng giữa hư không chỉ xuống, cái họ lui quân họ không đánh nhau nữa. Cái nhờ đó mà ngài tránh được một cái cuộc can qua, đổ máu.

[1:18:08]Rồi ngài hối hận, tại ngài nói là Phật thì không cho phép mà khoe khoang thần thông, ngài bảo thôi ngài tịch, ngài không sống nữa. Trước khi tịch ngài cũng cắc cớ, tính ngài chắc cũng hơi ranh mãnh. Cái ngài mới hỏi: "Các ngươi nào giờ nghe nói các vị tôn túc là ngồi kiết-già mà tịch, có nghe ai đứng mà tịch chưa? Có thấy ai đứng?" Có một người nói: "Dạ con có thấy. Xưa con có thấy một vị hòa thượng đứng mà tịch." Cái ông thấy có người đứng tịch thôi ổng không thèm làm nữa. Nói: "Nhưng mà các ngươi có thấy ai đứng lộn ngược mà tịch chưa?" Nói: "Dạ lộn ngược tịch thì chưa có." Nghe nói chưa có cái ổng làm liền.

[1:18:42]Ổng chống tay xuống, ổng dựng cái chân ổng lên, tịch liền, chết liền. Thân bất động không ai nhúc nhích được, mà các nếp áo vẫn đứng suôn thẳng theo người chứ không đổ xuống nha. Cái nếp áo dài, đáng lẽ là mình dựng người lên thì cái áo nó phải đổ xuống đất nó che mặt, mà cái áo vẫn đứng xếp, đứng băng lên trên. Không ai lại mà lay động cái thân ngài nhúc nhích được, tức là ngài bất động ngài tịch luôn. Cái cô em gái ngài tu trên núi, nghe tin ngài tịch về thăm, thấy ngài cứ đứng chổng ngược lên mà tịch, coi chướng mắt, mới nói: "Anh đời sống á thì anh khoe thần thông, mà tới chết thì cũng nực ngợm nữa."

[1:19:16]Bà xô một cái ngài mới ngã ạch xuống ngài nằm dài. Rồi cho người ta mới liệm tẫn ngài, chôn ngài. Đó là cái người mà đã chứng cái thần thông cao hơn, là những người tự tại phá vỡ những cái quy luật bình thường.

[1:19:33]Rồi có những vị như những vị A-la-hán mà mình nghe trong kinh á, ngài phân một thân thành nhiều thân đi xuyên qua vách đá, hiện ra lửa, ra mưa, vân vân, rất là tự tại. Ở thời Đức Phật các vị chứng rất nhiều. Hoặc là mình nghe tin những vị Lạc-ma bên Tây Tạng hiện nay cũng vậy, ở trên những đỉnh núi hoang vắng ít có người bước tới được. Các ngài ở trên đó sống ăn rất ít, tuyết phủ lên người rớt xuống chảy tan xuống. Các ngài chỉ bay từ cái mỏm núi này bay sang mỏm núi kia, sống rất là tự tại bằng cái thần thông của mình, chứ không có cần nhiều cái thực phẩm. Hình như có cái chương trình Thế Giới Đó Đây mà

[1:20:16]phỏng vấn mấy cái vị đạo sĩ ở trên núi tuyết á, có không? Các Phật tử có xem không? Những vị mà có thần thông đó phải không? Từ không các ngài làm thành có được, đưa tay ra cái đưa ra thành món đồ theo ý người khác muốn có. Như bên Ấn Độ có một cái vị ông tên là Sai Baba, hồi thuở còn nhỏ mấy tuổi á, bạn bè lại chơi móc túi cho kẹo ăn liền mà trong túi không có sẵn. Từ nhỏ đã như vậy rồi, lớn lên là ngài mới tuyên bố ngài là hậu thân của một vị thánh Ấn Độ ngày xưa và tiếp tục giáo hóa người dân Ấn Độ. Ổng người bên Ấn Độ giáo.

[1:20:55]Cho nên đạo Phật của mình á cái thần thông thiền định á nó cũng có cái nguồn gốc từ Ấn Độ giáo. Chỉ có một cái là Đức Phật của mình thì cái oai đức quá vĩ đại, ngài chứng tới tột cùng và ngài sửa lại những điều mà Ấn Độ giáo đã hiểu sai lại. Chứ cái tương quan giữa Phật giáo và Ấn Độ giáo cũng có nhiều cái tương đồng lắm. Bây giờ mình nói những cái mức độ thần thông nhưng bây giờ mình nói về cái triết lý của nó. Cái triết lý, trở lại cái triết lý là cái hành động trong hằng ngày mà mình kiểm soát được. Có các thiền sư rất là ngại nói về thần thông vì sợ người đệ tử Phật á người tín đồ mê cái thần thông đó mà không chịu

[1:21:40]tu dưỡng cái đạo đức làm căn bản, và bị các tà sư họ lừa bịp. Vì sao? Vì các tà sư đó đó họ tu một cái pháp môn bùa chú nào họ có được một số thần thông nhất định nào đó, như cái ông gì ngoài Đà Lạt cũng có chứ không phải không đâu. Có một số thần thông nhất định nào đó và họ làm cho mình bái phục. Nhưng mình là một người không đủ chánh kiến nên mình bị lay động trước cái biểu hiện đặc biệt của vị đó, mình đi theo. Chứ nếu mình là một người đủ chánh kiến, mình lấy cái luật nhân quả làm căn bản, cái gì sai với nhân quả không chấp nhận thì mình không bị lung lay. Vì sợ như vậy đó các thiền sư nên dặn dò đệ tử

[1:22:30]là không được chú trọng thần thông, không phô trương thần thông mà chỉ lấy cái đạo đức, lấy nội tâm thanh tịnh để sống, tìm ra được cái trí tuệ, mà từ nơi cái trí tuệ đó mình phá tan được cái chấp ngã của mình, cái tự cao cái kiêu căng của mình, phải làm sao cho mình càng lúc càng được khiêm tốn hơn. Đó là cái yếu chỉ, là cái gốc của sự tu hành. Cho nên có một lần thiền sư Bankei ngài đang giảng, giảng thuyết rất là đông. Rồi có một số ông thầy ở bên cái tông Tịnh Độ, ổng mới hơi ganh tị, ổng mới đến ổng nói, "Thầy của tôi đó có thể đứng ở bên đây sông mà viết cái chữ A Di Đà Phật hiện ở bên kia bờ sông."

[1:23:17]Tại vì thầy ổng tu Tịnh Độ mà có lẽ có thần thông, cái tờ giấy để bên kia bờ sông ở bên đây ổng cầm mực ổng viết một cái là bên kia hiện lên chữ Nam Mô A Di Đà Phật. "Thầy làm được không?" Hỏi ngài Bankei, ngài là tu thiền. Ngài mới trả lời thế này, "Có lẽ thầy của anh làm chuyện ảo thuật. Còn phép lạ là gì? Thần thông là gì? Là khi đói ta ăn và khi khát ta uống."

[1:23:47]Ngài trả lời như vậy đó. Cái mà khi đói ta ăn khi khát ta uống, mình nghe nó là cái gì nó tầm thường phải không? Nó tầm thường. Nhưng mà có tầm thường không? Có tầm thường không? Tại sao cái đó gọi là thần thông? Trong khi tôi cũng đói tôi cũng ăn, khát tôi cũng uống.

[1:24:19]Mà ai cũng vậy. Nhưng mà tại sao ngài Bankei gọi đó là thần thông? Vì sự thật khi đói mình ăn mà có thật sự mình đang ăn không? Có không? Hay mình đang nghĩ ngợi lung tung? Khi khát mình có uống từng ngụm nước từng ngụm nước rõ ràng không? Hay mình đang vọng tưởng đủ thứ chuyện? Khi nào mà mình ăn từng cái nhai từng cái nhai rõ ràng, mình uống nước từng ngụm nước từng ngụm nước rõ ràng thì đó là thần thông. Còn khi mình đang ăn ào ào mà nghĩ chuyện lung tung hết thì không phải thần thông. Nên đây chỗ khác nhau của người biết tu và không biết tu vậy. Họ sống một cuộc sống rất bình thường không có gì kỳ

[1:25:04]lạ, nhưng luôn luôn kiểm soát được nội tâm, luôn luôn giữ gìn được đạo đức của mình, đó là yếu chỉ.

[1:25:18]Bây giờ thì hết giờ, xin nghỉ.

[1:25:25]Dạ, cô hỏi đi cô. À, cái đó là danh từ của đạo Phật. Lục căn tức là sáu cái giác quan của mình. Sáu giác quan là mắt nè để mình nhìn, mình nhìn cái ngoại cảnh. Lục căn là để nhìn cái lục trần á. Trần thì là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Lục căn là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Thì mỗi căn nó biết được một trần. Ví dụ như nhãn căn là con mắt thì biết được sắc trần là cái ngoại cảnh hình ảnh, phải không? Cái nhĩ căn là lỗ tai thì nó biết được cái âm thanh, âm thanh ở bên ngoài là ngoại cảnh. Cái mũi là tỷ căn thì nó biết được mùi hương. Vị thì nó nếm được cái cái vị thức ăn. Da thì nó biết được cái nóng, lạnh, cứng, mềm ở bên ngoài, phải không?

[1:26:09]Và cái ý, cái ý thì biết được cái gì? Ý căn là biết được cái gì?

[1:26:18]Cái ý căn thì nó biết được cái pháp. Pháp cũng là cái ngoại cảnh mà ngoại cảnh trừu tượng. Ví dụ mình nói rằng hòa bình, hòa bình là cái gì trừu tượng thì chỉ cái ý mới biết được nó thôi, chứ con mắt nhìn được một khía cạnh thôi. Hoặc mình nói rằng lòng hy sinh, thì cái lòng hy sinh đó là một cái gì nó trừu tượng thì mình nhờ cái ý mình suy nghĩ mình mới hiểu được thế nào là lòng hy sinh thôi, phải không? Cho nên ý thì biết được pháp, mắt thì biết được hình ảnh, tai thì biết âm thanh, vân vân, vậy thôi. Lát có gì hỏi thầy trụ trì thêm. Thôi, bây giờ mình hồi hướng.

[1:26:55]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả

[1:27:09]đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

[1:27:42]Yêu mấy sao cho vừa, yêu những cánh đồng xanh,

[1:27:52]và yêu con đò ấy dọc ngang xuôi dòng sông đưa đón bao người mong.

[1:28:03]Yêu mãi nơi quê nhà,

[1:28:08]yêu lũy tre làng ta,

[1:28:13]và yêu con diều nhỏ nhẹ bay trên trời cao, tuổi thơ vui xiết bao.

[1:28:23]Yêu mãi ngôi chùa xưa, làn khói hương trầm đưa, bao ân từ chan chứa.

[1:28:33]Yêu tiếng chuông nhẹ ngân khuya vắng hay ban mai mang lời Phật cho ai.

[1:28:43]Chiều về bao êm ái, nghe tiếng kinh thanh trầm ngọt ngào ơn Tam Bảo, vang mãi đến nơi xa, luôn nhắc ta đạo hạnh chan hòa, lòng từ bi thiết tha.

[1:29:03]Yêu mấy sao cho vừa,

[1:29:08]yêu tiếng chuông huyền mơ,

[1:29:13]nụ hoa yêu đã nở, đời vui hơn lời thơ, hồn rộn muôn tiếng tơ.

[1:29:44]Yêu mấy sao cho vừa,

[1:29:49]yêu những cánh đồng xanh,

[1:29:54]và yêu con đò ấy dọc ngang xuôi dòng sông đưa đón bao người mong.

[1:30:04]Yêu mãi nơi quê nhà,

[1:30:09]yêu lũy tre làng ta,

[1:30:14]và yêu con diều nhỏ nhẹ bay trên trời cao, tuổi thơ vui xiết bao.

[1:30:24]Yêu mãi ngôi chùa xưa, làn khói hương trầm đưa, bao ân từ chan chứa.

[1:30:34]Yêu tiếng chuông nhẹ ngân khuya vắng hay ban mai mang lời Phật cho ai.

[1:30:44]Chiều về bao êm ái, nghe tiếng kinh thanh trầm ngọt ngào ơn Tam Bảo, vang mãi đến nơi xa, luôn nhắc ta đạo hạnh chan hòa, lòng từ bi thiết tha.

[1:31:04]Yêu mấy sao cho vừa,

[1:31:10]yêu tiếng chuông huyền mơ,

[1:31:15]nụ hoa yêu đã nở, đời vui hơn lời thơ, hồn rộn muôn tiếng tơ.

[1:31:25]Nụ hoa yêu đã nở, đời vui hơn lời thơ, hồn rộn muôn tiếng tơ.

[1:31:35]Nụ hoa yêu đã nở, đời vui hơn lời thơ, hồn rộn muôn tiếng tơ.