Transcript: Tứ Niệm Xứ 02

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:27:51

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:29]Xuân về hoa khoe sắc tươi, hương xuân thoang thoảng bên đời. Chuông chùa vang xa giữa trời, cho lòng bay xa khắp nơi.

[0:46]Xuân về mang theo mến yêu, cho niềm vui lên rất nhiều. Bao ngày đông qua chắt chiu, ai tìm ai giữa cô liêu.

[1:06]Xuân hồng chan chứa

[1:10]ấm êm mái chùa. Chim rừng ca múa, nắng soi qua vườn thưa. Phật như núi cao, soi tình thương dạt dào. Đời con khát khao, con người quên nỗi đau, trong hạnh phúc bên nhau.

[1:44]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:49]Nay thì sư phụ nói cái bài pháp này nó nối tiếp cái bài bữa đêm Thành Đạo. Sư phụ cũng không biết là nói bao lâu thì xong. Thì ta cứ ngồi nghe tới đâu thì tới nha, không có kỳ hạn thời gian. Đi sớm hay là muộn cứ ngồi nghe.

[2:05]Và theo như sư phụ biết thì hình như là chùa không đãi ăn, phải không ta? Không thấy ăn gì hết. Mọi năm nhớ có cho ăn, mà năm nay không cho luôn. Ghê.

[2:18]Để đi dần vào cái thiền định thì ta

[2:25]nghe qua một cái khái niệm này một chút xíu. Là tất cả chúng ta vì chưa phải là thánh nên ai cũng còn có lỗi lầm. Đúng không ạ?

[2:37]Cái này cái này hết sức chính xác không? Có ai dám nói mình không lỗi không? Phải không? Ừ. Nên hôm rồi hôm rồi cái họp bên chúng Tăng thì thầy Khai Tạng là chúng trưởng mới đứng lên khen ngợi các huynh đệ của mình là những người hiền lành, siêng năng, cố gắng thì sư phụ rầy.

[3:04]Sư phụ nói nhìn vậy chứ thật ra nếu nhìn sâu vào ai cũng còn lỗi cả.

[3:11]Ví dụ, chỉ một thầy rất là hiền lành, không thấy lỗi gì, nhưng sư phụ nói thật ra nếu xét kỹ thì vẫn đầy lỗi. Nhưng nếu ta nhìn bằng con mắt bình thường thì thấy quý thầy như đã tốt rồi, ổn rồi. Nhưng sự thực, nếu bằng nhìn bằng cái trí tuệ của thánh của Phật thì tất cả chúng ta đều còn rất nhiều lỗi. Đó là cái quan trọng, phải nhìn trước thì ta mới vỡ ra, vượt ra, đánh vỡ được cái cái vô minh, cái chấp ngã mà tiến lên, còn không ta cứ tưởng ta tốt rồi là sai. Ví dụ như trong Tứ niệm xứ nói cái quán thân trên thân thì thân như thế nào, biết thân như thế đó. Cái câu này nếu ta không hiểu, ta sẽ bị lầm một đời tu tai hại.

[4:05]Ví dụ nói rằng à nếu tâm như thế nào ơ thân như thế nào thì thấy thân như thế đó. Nói dạ con thấy thân con bình thường, chết liền. Thân ta có bình thường không? Không. Thân ta là mong manh, yếu đuối, tạm bợ. Một cơn gió lạnh, lúc trời nắng gắt, rớt xuống dưới vực sâu, chìm xuống dưới nước, lên trên độ cao, một cơn bão, cơn lạnh có thể đột tử chết liền.

[4:39]Nên khi không có chuyện gì đang sống trong môi trường thuận lợi, ta nhìn vào thân mình thấy bình thường, ta thấy thân ta bình thường là ta thấy không tới, không đúng cái ý của Phật là quán thân trên thân. Thế nếu nhìn kỹ, ta hiểu về thân mình, ta thấy nó mong manh, yếu đuối, tạm bợ, vô thường. Phải hiểu cái điều đó như vậy. Và trong cái việc tu tập, cái quan trọng nhất là thấy được lỗi mình.

[5:10]Nhưng tất cả chúng sinh đều bị một cái bản năng tự nhiên là chối tội, nhớ như vậy. Tất cả chúng sinh đều bị cái khuynh hướng tự nhiên này, chối bỏ lỗi lầm, phủ nhận. Và nếu mà nói rằng giống như là khi một người cảnh sát điều tra, họ bắt được nghi phạm, họ hỏi thì hết 99% nghi phạm chối, chối tội, không bao giờ nhận tội. Cho đến khi mà bên cảnh sát điều tra họ đưa ra đủ chứng cứ rồi thì lúc đó mới không cãi được nữa thì im lặng, toà xét sau đó xét chứ không nhận tội, và có những người chấp nhận nhận tội. Chúng ta cũng vậy, trong cái bản năng sâu thẳm của chúng ta, ai cũng không thấy mình có tội, không thấy mình có lỗi.

[6:05]Đó là điều rất tự nhiên. Bây giờ ta gặp một cái người không phải là vi phạm pháp luật nhưng trong cuộc sống bình thường ta còn những cái tham, những cái sân, cái hơn thua, câu mâu, nhỏ nhặt, cố chấp. Nói chung là những cái điều rất là phiền người chung quanh. Chưa phải phạm pháp luật, nhưng mà nhiều cái tánh xấu, những cái phiền não, những cái lỗi lầm. Nhưng mà đố mà người đó tự thấy mình sai, không ai thấy mình sai cả. Và bây giờ khi ta học Tứ niệm xứ của Phật dạy, ta buộc phải thấy mình sai. Vì nếu không thấy mình sai, không thấy mình dở, ta không thể tiến tu được. Đó là chìa khoá, đó là nguyên tắc.

[6:51]Tuy nhiên, cái sai của chúng ta có nhiều cấp độ khác nhau. Bây giờ ví dụ như có một cái người là

[7:01]ổng đi thua bài, cái ổng thấy thua ổng tức quá, ổng muốn gỡ mà hết tiền, mà mượn trong sòng bài người ta nói: "Anh đã mượn nhiều rồi, lần này không cho." Mà cứ nóng máu lên, chạy về nhà kêu vợ: "Đưa tiền đây!" Bà vợ bà không chịu, bà nói: "Đưa, thua nữa rồi còn gì nuôi con." Là ổng, cái là ổng lúc trong lúc mà trong cái máu hơn thua quá nặng, ổng đập bà vợ một cái cây, bà vợ giãy đành đạch chết liền. Thì xong, cuộc đời xong rồi đó. Bắt đầu bắt ổng, bị bắt, bắt đưa vào thì chứng cứ quá rõ ràng, không chối tội được. Mọi cái không thể chối được nữa, và lúc đó ổng chính ổng cũng phải nhận ổng là người có lỗi, tự ổng thấy là người có lỗi.

[7:47]Và tâm lý gì sẽ xuất hiện lúc đó? Với cái tội cực nặng, giết vợ mình, giết mẹ của những đứa con mình. Mà trong luật pháp là giết người, mà nếu trong cái đạo lý làm người thì giết luôn người vợ của mình, giết luôn mẹ của con mình chỉ vì một cái bốc đồng hơn thua hiếu thắng của cờ bạc tới mức độ đó. Và không thể chối được nữa, cái tội đó thì hết chối rồi, ai cũng thấy hết rồi, không có phải cần phải điều tra nhiều, vô là phải nhận tội ngay và cũng tự thâm tâm mình biết mình có tội ngay thì xuất hiện tâm lý gì?

[8:29]Với lại tội nặng như vậy mà khi một người đó chân thành nhận tội, thành thật nhận tội thì ta thấy lập tức xuất hiện một tâm lý cực kỳ đau khổ, đúng không ạ? Hối hận, đau khổ, ray rứt, mà ta hay dùng chữ là lương tâm cắn rứt á. Cái chữ lương tâm cắn rứt là dùng cho cái lỗi còn nhẹ hơn. Còn cái tội mà đến mức độ giết vợ mình như vậy để vì đánh bài thì cái cái sự cắn rứt nó nó lên cái tột cùng của sự đau khổ mà thật sự lúc đó cũng chỉ muốn tự tử chết theo. Bừng tỉnh qua cơn đó rồi, biết lỗi rồi, chỉ muốn tự sát chết theo. Là cái tâm lý của cái con người phạm tội nặng mà nhận lỗi nha, còn nếu không nhận lỗi thì không có cái tâm lý đó xảy ra.

[9:14]Vẫn tỉnh bơ, vẫn mặt dày mày dạn, chối quanh chối co, rồi nói này nói kia. Còn khi mà đã chấp nhận nhận tội rồi thì luôn xuất hiện tâm lý đau khổ. Đó là nguyên tắc. Đó là tội rất nặng. Bây giờ tội nhẹ hơn một chút, ví dụ như về ăn cắp nhà của tiền bạc của bố mẹ mình, làm cho bố mẹ mình coi như không chữa bệnh được, bữa đó bị đói lên đói xuống, vân vân, tức là nhiều cái tội nhẹ hơn nhẹ hơn. Nhưng mỗi một cái tội mà khi ta chân thành nhận lỗi thì ta lập tức phải trả bằng cái giá bởi cái tâm lý đau khổ của mình. Đó là nguyên tắc. Còn cái người mà không nhận tội, không phải trả giá bằng cái tâm lý rất đau khổ, thì quả báo nó tới, nó làm cho đau khổ.

[10:06]Lúc mà quả báo nó tới rồi thì cái quả báo gấp ngàn lần, cái sự đau khổ là tột cùng không thể tưởng tượng, giống như nói rớt xuống địa ngục mà bị lửa đốt, dao đâm, bị đập, bị xé rồi đó, đều là có thật chứ không phải là không. Vì gây đau khổ cho người khác một, mình phải trả gấp mười lần nếu mình không nhận tội. Còn cái người mà nhận tội thì quả báo cũng có, nhưng cái tâm lý mà họ đau khổ vì họ biết nhận tội đó đó nó đã gột rửa đi rất nhiều cái quả báo. Nó khác. Cái giá trị ở chỗ là ta thấy được lỗi mình tới đâu. Mà khi xuống những cái lỗi nhẹ hơn chút thì cái khi ta biết nhận lỗi mà cái lỗi đó nhẹ

[10:50]hơn thì cái tâm lý đau khổ nó cũng ít hơn một chút. Nó sẽ giảm dần theo cái mức độ tội lỗi. Đó là cái như là là cái công thức của tâm lý tự nhiên là như vậy. Thì bây giờ tất cả chúng ta khi tu hành, tu theo lời Phật dạy, là phải tu tức là sửa và sửa lỗi thôi. Mà muốn sửa lỗi thì phải biết lỗi. Và khi biết lỗi thì cái cảm giác ray rứt đau khổ đương nhiên phải xuất hiện.

[11:28]Mà cái cảm giác đau khổ đương nhiên phải xuất hiện đó là một điều bình thường, là một điều hợp lý và đó là một điều cần thiết. À, cần thiết. Nên khi ta thấy một cái người có lỗi rồi họ buồn rầu, họ ray rứt, đó là điều cần thiết. Đừng có nói với họ cái kiểu là, thôi đừng buồn nữa, cái tội đó có gì đâu, không có gì đâu, nói cái đó là giết họ, tội họ không có sạch, mà phải để cho họ đau khổ. Đừng đau khổ đến cái mức tự tử thôi, chứ còn phải đau khổ thì mới hết được cái lỗi của mình từ từ. Nguyên tắc của nó là như vậy. Và những cái cảm giác đau khổ đó nó có nhiều cái dạng tâm lý: hoặc là hổ thẹn khi mà mình phạm lỗi,

[12:23]rồi ngượng ngùng, hối hận, dằn vặt, tự trách mình, ghét mình, và tột cùng là quyết định tự tử luôn vì quá ghét chính mình. Có những người họ nói đó: tôi ghét tôi! Tâm lý đó rất là đúng. Khi mà phát hiện mình quá kém, quá dở, quá lỗi lầm, nó đi tới cái mức độ là tự mình ghét chính mình, chứ đa phần là ta ghét người khác nha, không bao giờ ta ghét mình cả. Nhưng mà cái người mà đã can đảm, thẳng thắn, thành thật nhìn lỗi mình, thì có thể nếu cái lỗi đó nặng và dài và nhiều, có khi xuất hiện tới cái tình trạng là ghét chính mình luôn, đến mức độ. Và đó là điều cần thiết. Đó là điều cần thiết, hợp lý,

[13:10]không sao cả, và nó là đạo đức, chứ không phải lúc nào tâm cũng trơ trơ bình an mà gọi là tu giỏi, không có. Người tu giỏi là người biết đau khổ khi mình có lỗi, biết hổ thẹn, biết ngượng ngùng, biết dằn vặt, biết ray rứt, biết trách mình, là những điều xáo động cả, đều là tâm lý xáo động. Nhưng những tâm lý xáo động đó cần thiết để ta tu. Còn cái người mà phạm lỗi, khi người ta dí vô cho phải nhận lỗi rồi vẫn trơ trơ, thì người này thật sự trong thâm tâm vẫn chưa thấy đó là lỗi. Tại vì người ta đưa chứng cứ không cãi được thì thôi đành nhận, chứ trong thâm tâm không tự thấy có lỗi, nên nó không xuất hiện một loại tâm lý khổ đau, dằn vặt.

[13:58]Và nếu không xuất hiện cái tâm lý khổ đau dằn vặt thì tội không hết, tội đó sẽ lặp lại. Và con người đó không có trí tuệ, cũng không có đạo đức.

[14:11]Do đó, trong cái giai đoạn mà khi ta mới biết đến với đạo thì không bao lâu, ai cũng bị xuất hiện cái tâm lý đau khổ, hối hận vì những lỗi lầm quá khứ, ai cũng bị như vậy hết. Vì trước khi ta biết đạo, coi vậy ta cũng phạm nhiều lỗi lầm mà không hay. Đến khi ta hiểu đạo, học đạo lý từng chút, từng chút, từng nhân, từng quả, từng câu, từng kệ lời Phật dạy từng ly, từng tí, so sánh lại với quá khứ của mình, ta mới giật mình lên là ta đã phạm quá nhiều lỗi mà lúc đó không biết, bây giờ biết đó là lỗi, lòng ai cũng đau khổ. Đó là giai đoạn đầu như vậy. Mà cái cảm giác đau khổ khi nhận lỗi, khi biết lỗi là một cảm giác rất cần thiết, rất là tốt đẹp.

[15:09]Còn cái người mới tu, mình thấy người đó bắt đầu mới biết đạo, đến khi một hai năm sau mình gặp lại, nhìn gương mặt họ không hề bao giờ thấy có cái vẻ ưu tư vì những cái lỗi lầm quá khứ thì yên tâm một điều, người này không hề có tiến bộ, tu không tiến, vì chưa hề thấy lỗi mình. Nhớ như vậy. Cái trí tuệ trong đạo đầu tiên là thấy được lỗi mình, mà hễ có thấy được lỗi mình thì phải xuất hiện cái tâm lý dằn vặt. Còn cái người đó mà tu mà mình không nhìn nét mặt của họ mà không thấy cái vẻ dằn vặt, biết ngay người này chưa bao giờ thấy lỗi. Mà đã chưa bao giờ thấy lỗi thì ta yên tâm một điều, người này không có trí tuệ và không có tiến bộ,

[15:56]có nói đạo lý hay cỡ nào cũng chỉ là giả dối. Vì cái sự thành thật của người người gọi là chân tu đó, đầu tiên phải thấy lỗi. Không thấy lỗi, không phải người thật lòng tu hành. Mà cái lỗi của ta thì nó cái thang, cái scale của nó, từ thấp lên cao, từ cực nặng đáng để đọa địa ngục cho tới khi những cái lỗi nhỏ nhỏ, chút chút, mà tới những cái lỗi vô hình không ai thấy, không ai nhìn vô thấy, ta cũng không thấy, chỉ Bồ Tát mới biết. Mà tới những cái lỗi mà có tính hệ thống cao cấp của những bậc thánh mới bị phạm, của những bậc Bồ Tát mới bị phạm. Những cái lỗi đó thì thuộc loại siêu rồi, nghĩa là người thường như chúng

[16:42]ta chả bao giờ mắc tới mấy cái lỗi đó, chỉ bậc thánh mới mắc, mà cái lỗi đó là lỗi lỗi lỗi có tính đẳng cấp cao, cái này ta không có bàn tới.

[16:55]Hồi trước sư phụ có giảng qua một loạt bài Bồ Tát, sư phụ có nói sơ sơ một số vậy đó, chứ Bồ Tát coi vậy chứ cũng có những cái lỗi của mình. Nhưng mà lỗi đó là lỗi của đẳng cấp cao, chứ không phải lỗi của chúng ta. Các ngài vẫn còn chứ không phải là không còn, nhưng mà lỗi rất là là là khác. Đây.

[17:15]Thì trong cái Tứ Niệm Xứ á,

[17:20]Phật dạy để chúng ta vượt qua lỗi lầm, vượt qua khuyết điểm, vượt qua si mê mà đạt được sự giác ngộ là ở chỗ: nó như thế nào, biết nó như thế đó, tức là biết lỗi mình rất rõ. Nhưng Phật nói hàng hai tại bởi vì cái hội chúng của Phật vừa có phàm, vừa có thánh, mà những vị thánh thì họ trong sạch tuyệt đối rồi. Do đó, cái cái lời dạy về Tứ Niệm Xứ của Phật trong cái giai đoạn đó, Phật không có nói căng, vì hội chúng của ngài rất là thanh tịnh. Nên ngài chỉ nói cái câu là: thân thế nào biết như thế đó, thọ thế nào biết như thế đó, tâm thế nào biết thế đó, pháp thế nào biết như thế đó. Tại vì hội chúng của ngài rất thanh tịnh.

[18:14]Nhưng mà nếu đem cái lời dạy biết như như thế nào biết thế đó vào trong ngày hôm nay thì ta phải nói những lời trách móc rất nặng nề mới đúng. Vì sao? Vì lỗi ta nặng quá, lỗi ta rất là nặng. Và ở đây, ta biết lỗi để làm gì?

[18:35]Ta biết lỗi để làm gì?

[18:39]Để vượt qua lỗi lầm. Cái câu nói này chưa có hết ý,

[18:47]câu nói này chưa có hết ý.

[18:51]Ở đây có ai đọc cái cái bộ Nền Tảng Đạo Đức chưa? Ai đọc rồi la lên, hay đọc chưa? Trời trời, chưa ai đọc hết hả?

[19:05]Sao mà tôi cô đơn dữ vậy kìa trời?

[19:12]Tại vì trước khi mà nghe cái bài này, sư phụ có dặn các đệ tử phải tìm đọc một cái bài trong cái Nền Tảng Đạo Đức là cái bài bài Ôm Lấy Niềm Đau.

[19:25]Nên ai mà có đọc cái bài Ôm Lấy Niềm Đau trong Nền Tảng Đạo Đức rồi, thì từ đó cho tới ngày hôm nay, nó sẽ thấm, dễ hiểu cái bài này hơn.

[19:38]Trong cái bài Ôm Lấy Niềm Đau đó, có cái câu chuyện là một cái người bị oan, bị liên lụy trong cái vụ án tài chánh gì của cơ quan á, cái bị bắt bỏ tù. Nhưng khi bị bắt bỏ tù thì ông không đau khổ. Ông cứ sống vui. Những bạn tù mới ngạc nhiên, hỏi: Chú anh phạm tội gì? Nói: Bị liên lụy trong cái vụ tài chánh thôi chứ chả tội gì. Nhưng mà sao không kêu oan? Nói: Khỏi kêu, kêu phiền, thôi ở tù cho nó khỏe. Ông kia không hiểu, hỏi: Ủa, ở đâu mà ông có cái triết lý sống kỳ lạ vậy? Nói: Tại ngày xưa bị người yêu bỏ, cho nên tìm ra một cái triết lý sống. Làm sao? Nó có một người yêu thương cổ hơn cả cuộc đời

[20:23]mình, cho đến ngày phát hiện cổ phản bội. Thì do vì mình quá yêu, nên khi bị phản bội rồi cái cảm giác nó như rơi xuống vực thẳm, cực kỳ đau khổ, đau khổ thiếu điều là tự tử. Nhưng trong lúc đó không biết tại sao may mắn là cứ ôm lấy cái cảm giác đau khổ đó mà sống, không bỏ nó, không rời khỏi nó, ôm lấy cái cảm giác đó, đối diện với cảm giác đó sống luôn chứ không có tránh né cảm giác đó, thì hai ngày sau cảm giác đó tan mất luôn, hết đau khổ luôn. Lâu lâu nó gợn lại thì cứ sống với cảm giác đó thì cái đau khổ biến mất luôn. Cái ông tìm ra được một triết lý sống, từ đó là như vậy, đối với mọi cái phiền toái cuộc

[21:09]đời, cứ ôm nó mà sống sống, đối diện nó mà sống, không tránh né, vậy mà lòng rất bình an. Nên lần này cũng một tai nạn trong đời, bị bắt vô tù thì cứ sống vui trong tù, ôm cái tù mà sống, không cần phải có cái tâm lý cứ muốn ra khỏi tù, mà chính cái tâm lý muốn ra khỏi tù mới làm mình đau khổ. Cứ trong đây mà sống, làm hết bổn phận, có khi tự nhiên được tha trước thời hạn, mà có khi nhiều khi người ta phát hiện ra mình không có tội gì. Cứ vậy, là ôm lấy niềm đau. Đó là một cái bí quyết, một ngàn lượng vàng mua không được. Nhưng mà được trình bày trong một bài ngắn của cái bộ Nền Tảng Đạo Đức, nên ta phải đọc bài đó để hiểu về cái bí quyết vàng này.

[22:03]Ngay trong cái đau khổ, ta ôm lấy cái đau khổ mà sống, đừng tránh né nó, ôm lấy nó mà sống, nó sẽ tan. Còn cái ta càng muốn tránh nó chừng nào thì nó cứ tồn tại mãi, nguyên tắc là như vậy. Thì trong lỗi lầm cũng vậy, khi ta có cái lỗi

[22:26]Ta hay tránh lỗi, đừng ôm cái lỗi đó mà sống, đối diện với lỗi đó mà sống thì cái lỗi đó sẽ tan. Đây cũng là cái nguyên tắc ngàn vạn lượng vàng mua không được. Nhưng phải rất là thông minh, có ý chí, có phước thì mới dám mà trụ ngay, an trú ngay cái lỗi lầm của mình để cho lỗi lầm tan vỡ.

[22:59]Ví dụ như một người có cái tánh nóng, hay sân, hay phiền, hay giận, thì cứ lặng lẽ

[23:10]an trú nơi cái sân của mình, đối diện với nó, ôm lấy nó, sống lấy nó, mà dĩ nhiên không phải chấp nhận nó, tại nó là sai mà. Nó là sai, nhưng trú ngay chính cái sai đó, chứ không phải là trốn cái sai đó. Trú ngay nó, mà biết nó là sai. Đây là nguyên tắc vàng. Thì cái sân trong, nhiều khi chỉ trong nửa tiếng đồng hồ tan luôn, không bao giờ tái lại. Còn nếu nó lo, lâu lắm thì chừng hai ba ngày tan mất luôn, không bao giờ tái lại. Đây là nguyên tắc vàng. Mà trong Tứ niệm xứ do cái ngôn ngữ ngày xưa Phật không thể nói hết được, là như thế nào biết như thế ấy, thanh thản, không tránh né. Trong Tứ niệm xứ, Đức Phật không bao giờ dạy ta

[24:01]trốn cái lỗi lầm, giống như cái thân mình là vô thường, không bao giờ trốn cái thân, an trú nơi cái thân mà biết thân này là vô thường, là tạm bợ, không bao giờ bỏ, trốn khỏi cái thân này. Nơi cái tâm loạn động, ít đạo đức này, biết rõ nó, ở ngay đó mà biết nó, chứ không cần phải trốn đi đâu cả. Ngay cái thọ cũng vậy. Thọ, thọ khổ, thọ vui, nó như thế nào, ngay đó mà biết nó như thế, đối diện với nó, không có phải trốn nó. Ví dụ khi ta đau khổ cùng tột, thì như Phật dạy là ôm lấy niềm đau, biết rõ nó, đối diện với nó, rồi nó tan, chứ không cần phải tránh né nó. Đây là cái nguyên tắc vàng của Tứ niệm xứ,

[24:52]nhưng mà rất khó hiểu, bởi vì từ thời Đức Phật cho tới bây giờ mấy ngàn năm, đi qua rất nhiều cái địa phương, cho tới ngày hôm nay ta nghe lại qua cái bản dịch, thực sự ta không hiểu hết được thâm ý của Phật. Còn những điều chất chứa trong Tứ niệm xứ là cực kỳ sâu xa. Nên vì vậy, cái mà

[25:18]lỗi lầm ta biết nó là lỗi, nhưng ôm lấy nó, đối diện nó, an trú ngay nó, tự nó tan, chứ ta không phải diệt trừ nó. Đây, đây là nguyên tắc vàng. Không tránh né nó, không diệt trừ nó, đối diện với nó, ôm lấy nó, trú ngay nó, mà biết nó là lỗi.

[25:46]Bí quyết nằm ở chỗ này. Bí quyết này 1 triệu lượng vàng mua không được. Nếu mà ai hiểu được điều này, thì ta vừa có nhiều hơn 1 triệu lượng vàng.

[26:06]Cái chữ niệm là nhớ, nhớ thường xuyên, nghĩa là ở ngay đó luôn với nó luôn, không có rời khỏi nó. Ngay khi ta biết cái lỗi lầm của mình, ta ở với nó luôn. Chữ niệm nghĩa là nhớ, nhưng ở đây là nhớ thường xuyên, an trú thường xuyên, không rời nó,

[26:30]thì cái lỗi đó sẽ tan. Cái đau khổ đó sẽ biến mất. Đến nỗi Phật dám hứa người tu Tứ niệm xứ này buộc phải đắc đạo. Không nhanh thì muộn cũng phải đắc đạo. Là nơi nhờ cái chìa khóa vàng này. Ngay nơi cái đau khổ ta trú ngay nó,

[26:52]không khuếch đại nó, không tô vẽ nó, đối diện với nó, nó tan. Ngay cái lỗi lầm ta cũng vậy, ta an trú ngay nó, không rời nó, nó tan vỡ luôn.

[27:06]Và trên cái con đường tu hành đó, ta nhìn lại mình nhiều cái bất toàn, nhiều cái khuyết điểm của mình. Những cái khuyết điểm đó nằm ở đâu?

[27:18]Một là gì? Dung mạo nơi thân thể này. Cái dung mạo của ta có đẹp không? Ai thấy mình đẹp giơ tay lên? Bây giờ thì không dám giơ, chứ ở trong mình trước gương là giơ tay liền á. Và đó là một sự hiểu lầm nha, không ai đẹp cả. Sư phụ bảo đảm một câu nói không thể sai: Tất cả mọi người ngồi ở đây không ai đẹp cả. Dù hoa khôi, hoa hậu được khen là đẹp nhất, cũng không luôn. Vì sao? Nếu so sánh với thiên nữ, thiên nữ thiên tử trên trời, ta chỉ là hạt bụi thôi. Các ngài cực đẹp, mà các ngài vẫn không thấy mình là đẹp. Còn chúng ta, đừng xin đừng misunderstand, đừng hiểu lầm là mình đẹp nha. Về cái gì nữa? Về sức khỏe, ở đây ai là người thấy mình mạnh phi thường? Có không?

[28:14]Không, phải không ạ? Mình giống đâu phải Aquin. Bệnh tới bệnh lui nha, trái gió trở trời. Có vẻ lâu lâu hơn người chút xíu, rồi ít bữa nó cũng tàn. Rồi trí tuệ, ở đây ai là người

[28:30]cực giỏi, cực có trí tuệ? Có không? Giơ tay lên. Ở đây ai rất thông minh, thiên tài, giơ tay lên? Chẳng ai dám cả. Vì nếu so sánh với trí tuệ của các bậc Thánh, ta chỉ là con dế, con giun, chả là cái gì cả. Rồi về phước lành, ở đây ai là người có rất nhiều phước đâu? Có không? Không, chẳng ai có cả. Rồi về thiền định, đây ai là người đã đắc được thiền định cao siêu, giơ tay lên? Không. Về đạo đức, ai là người đã phá được các kiết sử bằng các vị Thánh? Không luôn. Rồi về mức độ chấp ngã, ở đây ai là người đã vô ngã? Never, không có, phải không ạ? Nên khi mà ta xét qua một loạt các tiêu chuẩn về từ dung mạo, sức khỏe, trí tuệ, về phước lành, về thiền định,

[29:23]về đạo đức, về chấp ngã, về sự giác ngộ, tất cả chúng ta hãy còn rất là kém.

[29:34]Và cái điều ta phải niệm,

[29:40]đối diện với cái kém dở đó, an trú trong cái kém dở đó là tu, chính là tu. Mà khi ta niệm, tức là ta đối diện với cái kém dở đó, ta an trú ngay cái kém dở đó, ta được một cái lợi đầu tiên là xuất hiện cái tâm khiêm hạ. Nên cái người mà hiểu Tứ niệm xứ, không bao giờ là người kiêu mạn cả, tại vì biết mình còn rất dở. Ví dụ đó có ai có khen mình trên mây, thì mình rất cảm ơn cái lời khen. Ai họ khen mình: "Ồ, đẹp quá!", ai khen mình: "Giỏi quá!", thì mình rất cảm ơn, thank you, you are very kind, ha, bạn rất là tử tế. Nhưng trong thâm tâm mình, thực sự người ta đã hiểu lầm, vì mình biết mình còn rất là dở.

[30:29]Và điều đó mới được mình nhớ thường xuyên. Chữ niệm nó nhiều nghĩa, nó không phải là nhớ, mà là đối diện với nó, an trú với nó. Mà chính nhờ cái tâm khiêm hạ này, vậy mà ta từ từ tạo ra được rất nhiều phước. Còn cái người mà kiêu mạn thì cánh cửa phước bắt đầu đóng lại. Cái hay của Tứ niệm xứ, chữ niệm đó là đối diện với lỗi lầm của mình, để cho ta xuất hiện được một đạo đức khiêm hạ, mà khi xuất hiện được một đạo đức khiêm hạ, thì từ từ ta làm được rất nhiều việc phước. Rồi có người hỏi, nói: "Vậy thưa, những bậc Bồ-tát rồi có còn tu Tứ niệm xứ?". Nói: "Chính Bồ-tát vẫn còn tu Tứ niệm xứ". Lúc nào các ngài cũng thấy mình còn hai điều:

[31:23]một là chưa đủ công đức, và hai, chưa hết vô minh, chưa bằng Phật mà. Nên các ngài trong cái khiêm hạ, hóa độ chúng sinh, tu hành rất là bình an, rất là thanh thản là nhờ có cái khiêm hạ đó, biết rằng mình chưa đủ công đức, biết rằng mình vẫn còn vô minh. Vô minh là gì thì dễ sợ lắm, ha.

[31:49]Mục tiêu tu hành của ta là đạt được cái gì?

[31:56]Ta tu để đạt mục tiêu gì? Vô... vô ngã, đúng không ạ?

[32:06]Tại sao ta phải cần đạt mục tiêu vô ngã? Bởi vì vì ta vẫn còn chấp ngã, đúng không ạ?

[32:16]Thì nếu theo cái nguyên tắc,

[32:21]ta an trú nơi cái lỗi của mình thì lỗi đó sẽ tan. Vậy ta muốn tan cái chấp ngã thì ta phải làm sao?

[32:36]Ta phải an trú nơi bản ngã. Đúng không ạ? Nhớ giùm sư phụ đang nói từng lời rất là quan trọng, lắng nghe.

[32:49]Muốn hết chấp ngã thì ta phải an trú nơi bản ngã, đối diện với bản ngã.

[32:59]Và bản ngã là cái gì? Ta dùng cái chữ này: chính mình. Bản ngã tức là chính mình. Chính mình là cái gì?

[33:18]Chưa ai thấy cả.

[33:21]Vì sao vậy? Vì cái chính mình đó rất trừu tượng. Nó có liên quan tới cái thân này, nó có liên quan tới cái tâm này.

[33:36]Nó cũng ở đâu đây nơi cái thân này, cái chính mình đó cũng ở đâu đây nơi cái tâm này, nhưng nó không phải cái thân này, không phải cái tâm này. Nó chỉ là một khái niệm chính mình. Nên nếu ai bắt đầu có thể an trú được chính mình thì người đó bắt đầu thật sự đặt một chân lên con đường đi đến vô ngã.

[34:09]Nhưng ta không biết cái chính mình đó ở đâu để mà an trú, vì nó rất trừu tượng,

[34:21]không dùng ngôn ngữ để diễn tả được.

[34:28]Ta có ba điều giúp ta gợi ý tìm thấy cái chính mình đó mà an trú.

[34:39]Một là hơi thở, biết hơi thở vào, biết hơi thở ra mà không điều khiển. Hai, biết toàn thân. Ba, biết tới mảnh xương cùng. Cái mảnh xương cùng cũng là toàn thân, nhưng nó là một cái điểm toàn thân trên thân này đặc biệt. Ta dùng ba cái này để hy vọng tìm thấy chính mình, chứ ba cái này cũng không phải chính mình. Rồi ví dụ khi ta ngồi thiền tâm được thanh tịnh thì đã phải là chính mình chưa? Cũng chưa. Nhưng nếu ta tìm được chính mình thì tự nhiên ba cái điều này nó hiện ra rõ ràng.

[35:31]Một là hơi thở ra vào rất rõ ràng. Hai, biết toàn thân rất rõ ràng. Ba, biết mảnh xương cùng rất rõ ràng.

[35:47]Sư phụ nói nói lại một chút xíu. Nếu ai biết hơi thở ra vào rõ ràng, biết toàn thân rõ ràng, biết mảnh xương cùng rõ ràng thì người đó gần tới cái chính mình chứ chưa phải biết chính mình. Nhưng nếu người nào biết được chính mình thì người đó sẽ chắc chắn phải biết hơi thở ra vào mà không điều khiển, biết toàn thân, biết mảnh xương cùng.

[36:25]Sư phụ nhắc lại một lần nữa nha, sư phụ nhắc lại một lần nữa. Nếu người nào tu tập biết được hơi thở ra vào không điều khiển, biết được toàn thân rõ ràng, biết được mảnh xương cùng, an trú được mảnh xương cùng thì người này có cơ hội gần đến biết được chính mình, nhưng vẫn chưa phải chính mình. Mà biết được ba điều này là tâm đã bắt đầu yên tĩnh rồi đó. Nghĩa là nhờ ba điều này mà tâm được yên tĩnh, mà dù cho tâm có yên tĩnh vẫn chưa phải là chính mình. Nhớ. Nhưng ngược lại, người biết được chính mình rồi thì chắc chắn phải biết ba điều này: biết hơi thở ra vào, biết toàn thân, biết được mảnh xương cùng và tâm phải thanh tịnh.

[37:23]Nhớ chưa? Nhớ chưa?

[37:35]Chính mình là gì? Là bản ngã. Nhưng thực sự khi mà ai tìm thấy được chính mình thì người đó mới thực sự ngày đó gọi là đặt chân lên con đường thiền.

[37:55]Và cái con đường mà đi hết cái bản ngã đó, đi tới được tận cùng nó là vô ngã.

[38:05]Tuy nhiên, có một điều phức tạp là trên cái con đường mà từ đầu đường của bản ngã đi cho hết cái bản ngã cho tới tận cùng sẽ lại gặp cái vô ngã đó, trên con đường đó nó quá vi diệu, quá mầu nhiệm. Thì ra cái bản ngã của ta có rất nhiều lớp, mà cứ càng vào sâu cái bản ngã, càng vào sâu cái chính mình đó thì vô số điều mầu nhiệm hiện ra. Tâm ta cực kỳ thanh tịnh, cực kỳ trí tuệ.

[38:42]Và nhiều người dừng ngang đó, tự cho đó là Phật tánh, là tự tánh thanh tịnh

[38:52]và tưởng đó là cứu cánh của đạo Phật. Nên trong nhà thiền mới có một cái câu là: "Bất lập văn tự, giáo ngoại giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật." Bất lập văn tự: không cần nói nhiều, thật ra mấy ổng nói nhiều lắm. Giáo ngoại biệt truyền: không cần kinh điển. Trực chỉ nhân tâm: chỉ thẳng vào cái tâm để cho người ta thấy được cái chính mình đó. Và khi người nào thấy được chính mình đó rồi thì được gọi là kiến tánh thành Phật, dám tuyên bố như vậy. Bởi vì các thiền sư ngang chỗ đó rồi thấy nó quá vi diệu nên tin chắc một điều: chân lý nằm đây, cứu cánh nằm đây, chánh pháp nằm đây, Phật pháp nằm đây.

[39:45]Ta nhớ về khi Lục Tổ Huệ Năng trong cái đêm mà được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn truyền y bát, tức là khi ở Việt Nam ngài đã ngộ đạo, ngài lặn lội về tới cái núi Hoàng Mai yết kiến Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, nói những cái câu rất cao siêu rồi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn sợ, sợ là

[40:11]một cái thằng bé con mặt mũi lem luốc

[40:18]mà đã có kiến giải phi thường thì đại chúng không chấp nhận, mang họa, nên kêu về bếp giã làm công quả. Ngài ở đó ngài giã gạo, nhưng mà ngài hàm dưỡng cái cái nội lực tu hành của mình cho đến khi nó thuần thục. Đến khi thuần thục rồi thì Ngũ Tổ kêu vào cốc nửa đêm, đọc cái bộ kinh Kim Cang. Đọc tới câu "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm", ngài Huệ Năng đốn ngộ và nói cái câu: "Nào ngờ tự tánh mình vốn thanh tịnh, nào ngờ tự tánh mình vốn không sinh không diệt." Ta nhớ cái chữ tự tánh, chữ "tự" này là gì? Chính mình. Ngài ngộ được vào rất sâu của cái bản ngã nên thấy nó quá vi diệu, quá thanh tịnh.

[41:05]Và ngài Ngũ Tổ ấn chứng, ngài coi làm tổ thứ sáu, truyền y truyền bát, tiễn đi trong đêm luôn, giấu luôn.

[41:15]Sáng hôm sau khi mà tới giờ thuyết pháp, Ngũ Tổ không ra thuyết pháp. Mọi người vào hỏi thì Tổ mới nói là vì không còn cái y nên không có đúng pháp, không ngồi lên pháp tòa được, tại ngồi pháp tòa phải đắp cái y, y cửu điều. Họ choáng váng: "Ở đâu rồi?", "Nó đã về phương Nam." Thế là biết, lục đi lục lại mất cái thằng công quả. Nó chứ không ai hết. Đâm đầu rượt theo để giành cái y, giành ngôi tổ. Chúng ta thấy cái tâm danh lợi của con người từ xưa tới nay nó cứ giống nhau như vậy. Đó, câu chuyện còn dài dài như vậy. Ta nhớ lại cái câu chuyện lúc Đức Phật đi tham cầu học đạo, học với hai đạo sư Alara Kalama và Ramaputta Uddaka,

[42:03]tức là Uất Đầu Lam Phất hai vị, thì ngài cũng đạt được những cái định rất sâu. Cái định rất sâu đều là ở vào trong rất sâu của bản ngã cả, đều vào trong cái tự tánh rất thanh tịnh cả. Nhưng mà các bậc đạo sư kia xem nơi cái định thanh tịnh tự tánh đó là đã

[42:27]xong rồi. Nhưng Đức Phật, bởi cái trí tuệ từ nghìn kiếp siêu đẳng của mình, ngài mới cảm thấy vẫn còn cái gì là chính mình.

[42:39]Vẫn còn cái gì là chính mình, nên ngài mới hỏi các ông thầy mình: "Chỗ này đã còn bản ngã hay hết bản ngã?" Mấy ông thầy mấy ông thầy cũng không luận giải được, ổng tu tới đó là được rồi, có thần thông, có trí tuệ đồ hết rồi, cái định như vậy là ngon lành rồi, không trả lời, không trả lời được, Đức Phật đành phải từ giã ra đi. Cho đến ngày mà ngài sáu năm khổ hạnh, ngài muốn bứt ra cái khỏi cái chính mình đó mà không cách nào ra được. Sau sáu năm khổ hạnh cũng không thành công. Và ngài nhập vào Tứ Thiền lại, đi hết cái con đường của bản ngã đó, đi tiếp luôn. Chính cái Tứ Thiền đã đưa ngài đến chỗ cuối cùng của bản ngã:

[43:25]hết chấp ngã, hết vô minh, thành tựu được tam minh lục thông, thấy rõ được Tứ Diệu Đế và ngài thành một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

[43:40]Sau này Đức Phật giáo hóa thì nhiều vị chứng A-la-hán nên các ngài đi vượt qua khỏi bản ngã tới cái cuối của bản ngã là hết, là vô ngã. Nên cái vấn đề mà tự tánh chính mình không được đặt ra. Vì những vị mà chứng Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm đều bị còn kẹt ở chính mình hết. Nhưng mà bởi vì Đức Phật còn tại tiền, các vị A-la-hán vẫn còn hiện diện nên cái chính mình đó không bao giờ được chấp nhận. Nên các ngài không bao giờ nói nó ra. Vì phải đi cho tới vô ngã. Có một cái câu chuyện, có cái bà cư sĩ, bà chỉ là cư sĩ nhưng bà hành thiền sao bà chứng được A-na-hàm nên bà có thần thông. Rồi có nhiều vị mà muốn ẩn tu bèn đến ở trong cái nhà

[44:35]bả cúng dường thức ăn để cho các vị đó tu hành. Nhưng mà mấy ổng tu làm sao, trong cốc làm sao á là bả biết hết trơn à. Nhiều khi ngồi trong cốc bỗng nhiên lại thèm cái cà pháo mắm tôm là ngày mai bả đưa cà pháo mắm tôm. Ngủ thấy lạnh quá, ngày mai bả đưa vô cái chăn thêm khỏi cần xin. Mấy ông đó sau khi mà ra khỏi thất chạy về nói: "Trời ơi, cái bà đó đó, mình nghĩ cái gì trong đầu bả biết hết. Thì mình muốn ăn cái gì là bả đem bả cho." Thì có một ông Tỳ-kheo nghe nói thích quá, chạy tới cũng xin tu. Nhưng mà nhiều người nghe cái đó thì sợ. Mình ở gần một người mà người đó biết được tâm mình hết trơn, thật ra cảm giác đó rất sợ nha. Có không ạ? Có không?

[45:20]Mình nhúc nhích gì có người ta biết hết mình sợ người đó. Nhưng riêng ông này ổng thích. Vì sao? Vì ông với bà có duyên vợ chồng đời nào.

[45:29]Nên ổng tới ổng tu thì bà cũng cung phụng ông theo đúng những cái ý ổng thích. Rồi sau khi bả giúp cho ông bà bả giúp cho ông nhiều cái giai đoạn khó khăn vượt qua cho tới khi ông chứng được hơn bà, ông chứng được tới A-la-hán luôn. Chứng A-la-hán. Khi chứng A-la-hán rồi ông mới nhìn ngược lại từ quá khứ, ông thấy ông với bà từng là vợ chồng. Rồi ông thấy có cái kiếp bà hại ông. Mà ngay lúc mà ông vừa thấy cái kiếp bà hại ông thì bà cũng đang nhập định theo dõi cái định của ông, theo dõi cái mà ông đang quán những tiền kiếp của mình. Tức là bả vẫn đang đi theo cái tâm của ông, ông thấy cái gì bả đang thấy cái đó.

[46:09]Thì lúc mà ông đang quán tới cái kiếp mà bà hại ông thì bà nói vào trong tâm ông liền: "Hãy xem tiếp kiếp xa hơn nữa." Thì ông lại quán xa nữa, thấy bả rất thương yêu ông và giúp ông. Không biết sao có kiếp quậy không biết nữa. Nhưng mà kiếp đó thì kiếp trước nữa thì vẫn thương ông, cái cho ông vượt qua tiếp vậy. Thì sau đó, khi mà ổng chứng rồi thì ông với bà thường hay trao đổi về kiến giải. Mà bà chỉ là A-na-hàm nên bà còn vướng lại cái chính mình rất vi tế. Còn ông thì hết cái con đường bản ngã, hết cái chính mình, nên ông tới cái vô ngã luôn. Và ông giải thích cho bà rất nhiều. Ông giải thích ông cho bà biết rằng những cái cảnh giới mà bà nhận ra như vậy

[46:49]là không phải là hoàn toàn đã là hết vô minh, không phải là hoàn toàn đã giác ngộ. Mặc dù quả vị là A-na-hàm nhưng mà cái chính mình nó vẫn còn, vẫn còn kẹt. Mà chính cái cái chính mình nó còn nên Phật mới nói là vị A-na-hàm vẫn còn cái gì? Kiêu mạn. Vì cái chính mình này còn. Vẫn còn cái gì? Dãi đãi, thấy được rồi không nỗ lực tu nữa. Vẫn còn cái gì? Sắc ái, vô sắc ái, vô minh. Nhớ không ạ? Năm thượng phần kiết sử mà một vị A-na-hàm vẫn còn vướng gồm có gì? Sắc ái, là coi vậy chớ vẫn thích cái cõi trời từ Phạm thiên trở lên đó. Vô sắc ái, là vẫn còn thích cái cõi trời vô sắc giới. Dãi đãi, vì tự nhiên nó có cái tự mãn, nó tự tin quá bỗng nhiên nó có cái tự mãn.

[47:48]Kiêu mạn, vì cái chính mình chưa hết được, và dĩ nhiên là chưa hết vô minh, vậy.

[47:56]Nên ở đây á là cái mà tìm thấy được chính mình, biết được chính mình, an trú chính mình chính là bước vào được cái con đường của thiền định, con đường mà diệt trừ được bản ngã. Thì khi mà ngài Viên Ngộ học tu với ngài Pháp Diễn,

[48:23]đến khi ngài ngộ đạo

[48:27]thì một lần đó cái có một ông quan, ổng tới cũng nói chuyện đàm đạo với ngài Pháp Diễn. Thì trong cái câu chuyện mà nói tới với ông quan đề hình đó đó, liên quan tới một cái câu chuyện tiểu thuyết của Trung Hoa ngày xưa. Đó là câu chuyện tiểu thuyết tình cảm. Câu chuyện tiểu thuyết đó tình cảm nó có câu chuyện tình là có cô đó cổ yêu cái anh chàng đó. Rồi hai người vì do là cổng kín tường cao nên họ cũng khó gặp nhau, nhưng họ thương nhớ. Nên trong cái đêm cái anh chàng ảnh tới ảnh đứng ở dưới đường, ảnh mới làm giả bộ cái tiếng chuột kêu để cho cổ nghe mà cổ biết rằng là có anh đang đứng ở đó, tức là ảnh rất là nhớ cổ nhưng không gặp được.

[49:19]Trong cái đoạn tiểu thuyết tình cảm nó có một cái đoạn giống như vậy. Ở đây có ai đã từng như vậy chưa? Thì cái câu chuyện được nhắc giữa cái ông quan đề hình với ngài Pháp Diễn. Nhưng mà không biết ông quan đề hình đó ổng ổng có ngộ không biết, nhưng sau cái ngài Pháp Diễn mới hỏi ngài Viên Ngộ về cái câu chuyện đó. Ngài Viên Ngộ mới trình bốn câu kệ và được ngài Pháp Diễn chấp nhận là người ngộ đạo. Sư phụ có viết trên bảng đó: "Kim áp hương tiêu cẩm tú vi, Sảnh ca tùng lý túy phù quy. Thiếu niên nhất đoạn phong lưu sự, Chỉ hứa giai nhân độc tự tri." Cái câu đó là, ba câu đầu nó chỉ là câu chuyện kể.

[50:09]"Kim áp hương tiêu cẩm tú vi" là cái chuyện cảnh trí mơ màng, khói hương trầm, tiếng tiếng quạ kêu bên ngoài và cái gấm thêu. "Sảnh ca tùng lý túy phù quy", ở nơi cái sảnh mà người ta nhậu nhẹt với nhau đó, ta say sưa này kia nọ rồi dìu nhau về. "Thiếu niên nhất đoạn phong lưu sự", hồi nhỏ có đọc cái chuyện tiểu thuyết tình cảm. "Phong lưu sự" tức là truyện tiểu thuyết tình cảm. "Chỉ hứa giai nhân độc tự tri", cái câu cuối cùng, tức là ngài Viên Ngộ khi ngài viết tới cái câu cuối cùng: "Chỉ hứa giai nhân độc tự tri." Tức là ngoài kia anh chàng có thổi tiếng làm cái tiếng chuột, tiếng mèo kêu gì đó, kệ, chỉ cần cái cô đó tự biết chính mình là được.

[51:04]Và ngài Pháp Diễn gật đầu. Từ đó ngài hay giới thiệu nói là: "Thị giả của tôi tham được thiền." Sau ngày đó ngài Viên Ngộ đi đâu cũng được người ta kính trọng là vậy, bởi vì được thầy mình công nhận, ấn chứng. "Chỉ hứa giai nhân độc tự tri." Thì

[51:24]không có cái gì cao siêu, nguyên bốn câu kệ đó không có cái gì cao siêu, không nói cảnh giới thiền định thanh tịnh, bất sanh bất diệt quái gì hết. Nghĩa là nói về mà cái cái cái cái cái cái thiền ngữ thì bốn câu kệ là bốn câu kệ kỳ cục nhất. Ba câu đầu nói chuyện tiểu thuyết tào lao. Cái câu cuối cùng mới ẩn chứa đạo lý, nhưng mà ẩn chứa cái cốt lõi của đạo lý của thiền, độc tự tri, tự biết chính mình. Và ngài Pháp Diễn công nhận liền. Được nghĩa là kiến giải của người đệ tử mình đã đạt được cái chỗ này, biết được chính mình. Nhưng cái biết chính mình thì nó nhiều loại, nhiều cấp độ. Bản ngã ta nhiều cấp độ, mà cứ càng đi sâu vào cái chính mình

[52:10]thì nó càng thanh tịnh, càng mầu nhiệm, càng sáng tỏ. Nhưng mà một cái người mà đạt được chính mình rồi thì họ không bao giờ để ý tới cái thanh tịnh, không bao giờ để ý tới cái sáng tỏ, không bao giờ để ý những cảnh giới rỗng rang, không bao giờ để ý tới cái chính cái cái cái trí tuệ, mà chỉ gì? Biết chính mình, an trú chính mình mà thôi. Đây là chỗ rất là khéo và rất là khó.

[52:39]Mà chính vì nó là chữ "chính mình" nên nó làm cho cái người mà họ đạt được cảnh giới đó rồi, họ có cái tự tin kỳ lạ. Tự tin đến nỗi giống như ngông, rất khó giải thích. Giống như ngài Đơn Hà vậy, ngài Đơn Hà ngài đi thi làm quan, cái gặp một ông thiền khách, hỏi: "Đi đâu vậy?" Nói: "Tôi đi thi làm quan." Ông kia nói: "Đi thi làm quan đâu bằng đi thi làm Phật." Ngài sững sững lại liền, nói: "Đi thi làm Phật ở đâu?" Nói: "Có ngài Mã Tổ Đạo Nhất á, nơi đó mà thi làm Phật." Vậy mà ổng dám bỏ làm quan nha, đi vô chùa luôn. Ngài Đơn Hà cũng đặc biệt thiệt. Ngài đi vô thì ngài lấy cái tay ngài xoa cái đầu ngài trên cái khăn

[53:22]đầu, không lấy đầu không lấy khăn ra nha, lấy tay xoa cái đầu. Là ý gì? Mấy ông thiền sư khổ lắm, cứ nói bóng nói gió làm mình phát mệt. Xoa cái đầu lên cái khăn, không không lấy khăn đội đầu xuống nha, xoa cái đầu. Đó hàm cái ý là đi tìm một người để mà đội lên đầu mà thờ đó, hỏi: "Ngài có phải thầy của tôi không?" Ngài Mã Tổ Đạo Nhất nhìn vô cái nói: "Thầy của ngươi là Hy Thiên Thạch Đầu á, không phải ta." Mấy ngài ngày xưa cũng thần thông dễ sợ thiệt. Thế là ngài từ giã ngài ngài Mã Tổ, đi không biết bao nhiêu ngàn cây số qua tới ngài Thạch Đầu, Hy Thiên Thạch Đầu. Vô tới, ngài cũng xoa xoa cái khăn trên đầu.

[54:04]Hy Thiên Thạch Đầu nhìn vô cái nói: "Ra đằng sau công quả." Tức là nhận cho vào ở trong chúng đó. Mới không nói mà ổng cứ ở công quả, rồi khi nào mà ngài giảng thì lên ngồi nghe. Một hôm, trong đại chúng ngồi nghe, ngài ngộ đạo luôn. Ngài ngộ đạo không nói một lời với ai, không biểu lộ một chút gì về cái sở ngộ của mình. Nhưng mà bỗng nhiên cái ngài Hy Thiên Thạch Đầu biết liền, ngài mới nói câu này: "Ngày mai cắt cỏ trước điện Phật." Thế là sáng sớm ngày mai, chúng đem liềm, đem dao, đem cuốc ra trước đường Phật điện Phật cắt cỏ, chỉ một ngài mình ngài Đơn Hà lấy cái thau nước, xà bông, chắc lúc đó chưa có xà bông, lấy dao cạo đem quỳ xuống trước ngài.

[54:45]Vì ngài vừa ngộ xong một cái, trên kia ngài Hy Thiên Thạch Đầu nói liền: "Ngày mai cắt cỏ trước điện Phật" thì ngài biết là nói cho ngài và thầy mình đã nhận ra rồi, biết ngay là mình vừa ngộ đạo. Thế là ngài Hy Thiên Thạch Đầu cạo đầu cho. Cạo xong rồi, bắt đầu mới nói giới: "À đây giới Sa-di, đây giới Tỳ-kheo." Vừa mở miệng nói giới, ổng bịt tai ổng bỏ đi, ổng không thèm nghe. Nghĩa là gì? Ổng bịt tai ổng bỏ đi liền. Cạo đầu xong thì cho cạo, nhưng mà nói tới giới, ổng bịt tai ổng bỏ đi, không nghe. Vì sao? Vì tự tin mình không thể nào làm gì sai được nữa. Cái tự tin nó đến mức độ đó. Ngộ ra được chỗ đó rồi, biết rồi từ đây vĩnh viễn không bao làm gì sai lầm nữa.

[55:32]Dễ sợ! Sức tự tin nó khủng khiếp lắm. Cái ngộ đạo đến như vậy. Và sau này ngài có cái tự tin mà nổi tiếng á, leo lên cổ của tượng A-la-hán ngồi chơi, hoặc là đi tới chỗ lạnh quá cái đem ông Phật gỗ xuống đốt sưởi ấm cho nó đỡ lạnh. Tức là cái sự tự tin ngài Đơn Hà kinh hồn, đại khái như vậy. Trong nhà thiền có những câu chuyện mà cái sự tự tin đến cái mức quá quắt.

[56:03]Đến cái mức quá quắt, ta đọc nhiều khi ta không chịu nổi. Cho nên hôm nay ta không không nhắc lại làm gì, nhưng ta chỉ nói cái cảnh giới vậy. Cảnh giới mà sau Phật nghìn năm, 1.500 năm

[56:19]thì ta xuất hiện một khoảng là Thiền tông của Trung Quốc á là đi tìm cho được cái chính mình, mà các ngài gọi là tự tánh thanh tịnh. Tìm cho ra cái đó. Vì tìm ra được cái đó rồi thì cứ theo cái đó mà đi, gọi là đã đắc đạo. Nhưng mà chỉ đúng là cái thời tượng pháp, thế còn cái thời của chánh pháp thì phải đi cho hết á. Tìm được chính mình rồi, không dừng lại, mà đi tới nào hết cái con đường của cái chính mình, dắt cho tới khi không còn chính mình nữa. Mà cái con đường đó phải đi bao lâu? Không biết. Mấy trăm năm, mấy nghìn năm, không biết, tùy cái căn duyên của mình. Nhưng mà khi tìm được chính mình rồi,

[57:06]người ta giống như là yên tâm rồi, có con đường đi rồi, không còn sợ lạc lối. Nhưng chỉ vì cái chữ có yên tâm rồi, không sợ lạc lối nữa mà có khi người ta phải đi qua mất cả mấy trăm nghìn năm là vì cái yên tâm. Nhưng mà nếu các vị gặp được những bậc thánh cao siêu giáo hóa thì lúc đó mới vượt qua được cái năm thượng phần kiết sử mà cố gắng đi cho hết cái con đường chính mình để đi cho tới được cái cái vô ngã. Cái may mắn của chúng ta là chúng ta tin được cái mục tiêu vô ngã của Phật dạy, ta cứ hằng ngày, hằng giờ ta phát nguyện hướng về cái đó.

[57:56]Hằng ngày, hằng giờ ta phát nguyện hướng về mục tiêu vô ngã. Vì thế, nếu có lúc nào đó ta ngộ ra được chính mình, thấy nó quá vi diệu thì ta vẫn còn cái nhân mà ta phát nguyện ngày hôm nay là đi tìm mục tiêu vô ngã, thì hi vọng nhờ vậy mà ta không đứng lại giữa đường. "Xin cho con đi mãi, không đứng lại giữa đường, đến tuyệt đối vô biên, tâm đồng tâm chư Phật." Là nhờ ta phát nguyện như vậy.

[58:35]Bây giờ trở lại cái là làm sao tìm được chính mình. Mà nó là bản ngã mà phải thấy được nó, an trú được nó thì mới dứt được nó. Chỉ có cái khổ là tìm thấy được nó rồi, thích quá ở luôn với nó luôn, không vượt qua khỏi nó. Đó là cái bệnh mà có một giai đoạn Phật giáo bị mắc phải. Và chính vì bị mắc phải ngang đó nên Phật giáo từ từ bị suy thoái. Chánh pháp cho tới tượng pháp, tới mạt pháp là bỏ thiền luôn. Chánh pháp là thiền còn hướng về vô ngã, tìm vô ngã. Tới tượng pháp là thiền mà an trú được chính mình là mừng, cho đó là tự tánh thanh tịnh. Tới mạt pháp bỏ thiền luôn. Nên bây giờ mà ta đi tìm lại cái chánh pháp của

[59:31]Đức Phật là ta cố gắng cũng vậy, đi ngược lại. Từ cái thời mà bỏ thiền, bây giờ thiền, đi tìm cái thiền, tìm cho được gì? Chính mình. Tìm được chính mình rồi không dừng lại, bởi vì dừng lại đó, đó chính là thời tượng pháp. Cố gắng an trú cái chính mình đó, đi cho hết con đường chính mình đó để cho tới khi thành vô ngã thì ta trở lại được cái thời chánh pháp. Nhớ như vậy. Có thể trong kiếp này ta sẽ không thành tựu được, nhưng ta có cái lý luận đó, ta có con đường đó. Có nghĩa là ta đang cùng nhau dựng lại thời chánh pháp của Phật. Đây là cái chỗ rất là tế nhị. Hôm nay ta nghe bài này, ta nhìn luôn cả một con đường thiền từ thời Đức

[1:00:22]Phật đi qua mấy ngàn năm của thiền sư cho tới ngày hôm nay và ta biết ta phải đi ngược lại để tìm lại cái thời chánh pháp của Phật hướng về vô ngã, nhưng không thoát được cái giai đoạn của tượng pháp là cái giai đoạn mà ta phải an trú chính mình rất là lâu, rất là lâu. An trú nơi chính mình và chính vì cái chính mình này nó quá vi diệu, quá tuyệt vời, quá mầu nhiệm mà ta đã lầm tưởng nó là Phật tánh luôn.

[1:00:57]Ta cũng không bỏ nó được, nhưng phải đi qua khỏi nó, biết nó là còn chấp ngã, còn vô minh thì ta sẽ vượt qua khỏi nó giống như Đức Phật khi mà tu với hai vị đạo sư A-la-ra Ca-la-ma và Uất-đầu-lam-phất, ngài biết nó vẫn còn chính mình đây. Mặc dù cái định sâu lắm rồi, có thần thông rồi, bay lên được rồi, biết hết rồi, nhưng cái chính mình vẫn còn mãi mà hai vị đạo sư không vượt qua được nữa. Thế là ngài đành phải tự một mình đi tìm. Thì bây giờ vậy, ta cũng phải khắc khoải cái mà Đức Phật đi tìm đó để ta đi tìm lại chánh pháp thời Đức Phật, nhưng không bỏ được cái thời cái giai đoạn mà ta phải an

[1:01:41]trú chính mình không biết mấy trăm năm hay mấy ngàn năm tương lai, bắt đầu từ khi ta tìm được chính mình. Cái vấn đề là tìm được chính mình, chính mình là gì?

[1:01:55]Chính mình là một cái gì

[1:01:59]liên quan tới thân, liên quan tới tâm, nhưng trừu tượng hơn cả thân, hơn cả tâm.

[1:02:08]Vì ai chỉ ra đó đây là chính mình, đó là người nói dối liền. Vì cái chính mình đó nó sâu xa, mầu nhiệm, không lời, không cụ thể, không chỉ được. À nhưng mà nói nó rời khỏi thân, rời khỏi tâm cũng sai luôn. Do đó, ta chỉ bắt đầu ta chỉ gợi ý thôi làm sao cho tâm được thanh tịnh, làm sao biết được lỗi lầm để đi vào đó từ từ. Mà cái kỹ thuật là ta phải có ba điểm để xác định một mặt phẳng. Ta nhớ trong hình học, nhớ không? Trong hình học, ba điểm có ba điểm thì ta xác định được một mặt phẳng. Cũng vậy, thứ nhất là hơi thở, biết hơi thở vào, biết hơi thở ra rõ ràng, tự nhiên, không điều khiển, nhưng mà nó phải chậm mới đúng.

[1:03:02]Thứ hai, biết được toàn thân. Thứ ba, biết được mảnh xương cùng. Nhờ ba cái đó mà tâm ta được thanh tịnh, mà nhờ tâm ta được thanh tịnh ừ ta có cơ may tìm thấy được chính mình một cách bất ngờ.

[1:03:22]Đó là cái con đường mà định lý một chiều. Nên biết được ba điểm đó rồi, chưa chắc biết được chính mình, nhưng biết được chính mình thì buộc phải biết ba cái kia. Nhớ, cái này không có định lý đảo là vậy đó. Biết được ba cái kia thì chưa chắc biết được chính mình, nhưng biết được chính mình thì phải biết ba cái kia. Hễ biết được chính mình thì tự nhiên ba cái kia nó hiện ra rất là rõ. Hơi thở vào, hơi thở ra rất là rõ, biết toàn thân và biết mảnh xương cùng.

[1:04:03]Để làm sao mà biết được chính mình? Đó, ta nói ví dụ thế này.

[1:04:11]Từ nơi cái thẳm sâu của cái bản ngã ta,

[1:04:18]ta tiếp xúc với cuộc đời. Phải không à? Mắt ta nhìn thấy cảnh trí, tai ta nghe tiếng, ta da ta xúc chạm, mũi ta ngửi, miệng ta nếm. Và ngay cả trong thiền định mà ta thấy được cái tâm thanh tịnh trống rỗng của mình, cũng là một loại ngoại cảnh. Mặc dù nó trong tâm, sự thực cũng là một đối tượng bị ta thấy.

[1:04:54]Chỗ này bắt đầu khó rồi, Sư phụ nhắc lại một lần nữa nha. Ta không biết chính mình là cái gì, nhưng biết chắc một điều, từ trong cái chính mình đó, cái bản ngã đó, ta tiếp xúc với thế giới. Mắt ta nhìn thấy cảnh, tai ta nghe tiếng, da ta chạm xúc, mũi ta ngửi, lưỡi ta nếm, và ta biết được luôn cả trạng thái nội tâm của mình. Ta đang nghĩ gì, hoặc khi tâm ta thanh tịnh, ta cũng cảm giác thấy được cái trạng thái rỗng rang rang của nó, thì cái đó vẫn là một đối tượng nha, bên ngoài. Chứ cái tâm rỗng rang đó không phải là chính mình. Nhớ giùm. Tại vì ắt hẳn cũng nhiều người ngồi ở đây, cũng nhiều ngày tháng theo Sư phụ ngồi

[1:05:45]thiền, thì cũng có những giây phút mình đạt được sự thanh tịnh trống rỗng. Có chứ không phải không, cũng nhiều người được. Nhưng xin nói rằng cái trạng thái thanh tịnh trống rỗng đó cũng không phải là chính mình. Nhớ. Thì bây giờ giống như một cái ngọn đèn pin, giống như ngọn đèn pin.

[1:06:11]Không ai cho mượn đèn pin minh họa nha, thôi bây giờ tưởng tượng. Ví dụ bây giờ Sư phụ cầm cái đèn pin nè, Sư phụ bấm một cái, cái luồng sáng nó chạy soi ngoài kia. Thì cái đèn pin này giống như là cái ta, cái chính mình. Và cái ánh sáng nó rọi kia là giống như mắt như tai mình mà tiếp xúc với thế giới. Đó. Thì bây giờ hãy tưởng tượng cái luồng sáng mà nó phóng ra ngoài để nó đi ti- đi tiếp xúc với thế giới đó, nó không tiếp xúc nữa, nó rút lại, rút lại, rút lại, rút lại, nó ở lại với chính cái đèn pin.

[1:06:47]Nó vẫn rọi đó. Nó không phải tắt đèn pin, không phải là không tiếp xúc là tắt cái bụp, không, không tắt đèn pin, mà không rọi ra ngoài kia nữa, mà đứng lại nơi chính mình. Sáng mà đứng lại nơi chính mình. Cái này trong vật lý không có, nên Sư phụ không có ví dụ được. Sư phụ chỉ nói gợi ý rồi mọi người nghe cố gắng hình dung. Sư phụ nhắc lại một lần nữa, giống cầm cái đèn pin, bật công tắc và không bao giờ được tắt nha, luôn luôn mở công tắc. Luồng ánh sáng từ đèn pin rọi đi ra giống như ta nhìn thấy thế giới, tiếp xúc thế giới. Nhưng bây giờ khi ta đi tìm chính mình để an trú chính mình, thì ta thu ánh sáng nó lại,

[1:07:33]trở về lại với nơi cái đèn pin, nhưng không phải là tắt đi, vẫn mở, nhưng không rọi ra bên ngoài, trở lại nơi chính mình.

[1:07:45]Thì cũng vậy, khi ta ngồi thiền hoặc là khi ta đã tìm thấy chính mình rồi, thì thế giới vẫn sáng tỏ, mọi việc vẫn rõ ràng, nhưng mình không tiếp xúc nữa.

[1:08:00]Vẫn an trú chính mình, giống như cái đèn pin thu ánh sáng lại nơi chính mình không rọi ra nữa. Cảm giác đó gọi là an trú vì chính mình.

[1:08:13]Mà muốn có như vậy thì phải tìm được chính mình cái đã. Tìm được chính mình rồi mới an trú được chính mình. Trong tâm chúng ta phải có cái ray rứt tìm lại chính mình thông qua ba điều: Một là hơi thở ra vào biết rõ; hai là biết toàn thân; ba là biết cái mảnh xương cùng. Khi ta biết được ba điều này, tâm ta có trạng thái thanh tịnh. Và nhờ cái tâm thanh tịnh đó cộng thêm cái ta muốn tìm ra được chính mình để an trú chính mình, mà sau này vượt khỏi chính mình. Nhờ đó thì một ngày nào đó, cơ duyên bất ngờ nào đó, bỗng nhiên ta lọt vào cái chính mình, là an trú được chính mình, từ đó ta thấy được con đường đi.

[1:09:07]Nhưng mà coi chừng ta bị đắm mê nơi chính mình, vì cái chính mình đó nó mầu nhiệm, nó vi diệu, thích ở đó luôn, tự xưng đó là gì? Kiến tánh, Phật tánh, tự tánh thanh tịnh, đứng đó luôn. Thành ra chỉ tiến lên tới cái thời tượng pháp chứ không đi đến nơi cái thời chánh pháp vô ngã được. Nhớ như vậy. Chỉ sợ như vậy. Nên vì vậy từ ngày hôm nay mỗi ngày về chúng ta nhớ phát nguyện đi tới tận cùng để tìm cho ra vô ngã. Thì sau này một lúc nào đó bất ngờ tìm thấy chính mình, đặt được cái chân lên con đường thiền, an trú nơi chính mình mà đi sâu dần đi sâu dần, bao nhiêu điều mầu nhiệm mở ra dần mở ra dần thì không dừng lại giữa đường.

[1:10:00]Nhớ cái lời thề ngày hôm nay, phải đi tìm cho tới cái vô ngã. Nhớ cái tấm gương của Đức Phật học với hai vị đạo sư kia, đến tột cùng của cái định rồi vẫn không dừng lại vì vẫn còn cái chính mình, mà quyết tâm đi tìm, tìm thấy được cái vô ngã mà mở ra cái con đường Phật pháp, chánh pháp cao siêu cho chúng sinh là như vậy. Hãy nhớ điều đó, chúng ta cũng vậy, không dừng lại giữa đường, dù cái giữa đường đó cực kỳ mầu nhiệm. Nhớ như vậy.

[1:10:37]Nãy giờ có ai tìm thấy chính mình chưa? Có không?

[1:10:45]Ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn, ngài ở ngài Quy Sơn mà không ngộ đạo. Ngài buồn ngài bỏ đi rồi ngài cuốc đất trồng khoai sống qua ngày. Một hôm ngài cuốc sao nó văng cái cây cái cái viên sỏi văng qua cái kẽ tre kêu cái cóc, ngài ngộ đạo. Ngài mới thắp hương hướng về cái núi Quy Sơn của ngài Linh Hựu lạy. Lạy tạ ơn là: "Lúc trước con hỏi gì hỏi thầy cũng không nói, nhờ vậy hôm nay con mới ngộ đạo. Chứ mà thầy ngồi thầy nói thì con không ngộ đạo được." Thì ở xa bao nhiêu vạn dặm ấy nhưng mà ngài Quy Sơn ngài biết. Ngài mới nói với ngài Ngưỡng Sơn Huệ Tịch: "Hương Nghiêm ngộ đạo rồi đó." Cái nói: "Thầy do thần thông thầy biết không chắc,

[1:11:31]để con đi kiểm tra." "Ờ đi đi." Thế là ngài Ngưỡng Sơn đi tới tìm ngài Hương Nghiêm, nói: "Thầy nói em ngộ đạo rồi, trình kiến giải coi." Thì ngài mới nói là: "Tôi ngày xưa tôi rất là nghèo, không có miếng đất để cắm dùi. Ngày hôm nay tôi còn nghèo hơn nữa, cây dùi cũng không có luôn." À tức là ngài ám chỉ cái cái sự thanh tịnh của ngài. Ngài Ngưỡng Sơn lắc đầu, không chịu, là chưa phải. Thế là cái ngài Hương Nghiêm phải trình thêm một bài kệ thứ hai: "Dạ, em có một cái đó.

[1:12:12]Nhớp mắt chớp mắt hay nhướng mày cũng là nó." Ngài Ngưỡng Sơn gật đầu, mới đi về mới trình với ngài Quy Sơn: "Hương Nghiêm ngộ thiệt." Ngài Quy Sơn mới trách: "Tại ngươi không nghe lời ta, cứ đi kiểm tra." Chứ ở đây là ngài biết rồi. Ờ. Thì cái đầu tiên mà ngài trình bày á tại sao ngài Ngưỡng Sơn không chịu? Ngài Hương Nghiêm trình bày: "Tôi rất là nghèo, ngày xưa tôi rất là nghèo, không có miếng đất cắm dùi. Ngày nay tôi còn nghèo hơn nữa, miế- cây dùi cũng không có luôn." Tức là nói cái gì? Cảnh giới thanh tịnh tột độ. Nhưng mà thanh tịnh thì thanh tịnh, mà chưa thấy được chính mình thì vẫn chưa phải lọt vào.

[1:12:56]Cái thanh tịnh nó vẫn cái bên ngoài. Còn nhưng mà ngài cái ngài ngài Hương Nghiêm mới hiểu ý ngài Ngưỡng Sơn liền: "Mình chưa trình bày được cái chính mình." Thì ngài Ngưỡng Sơn kêu em trình bày nè: "Em có một cái. Và em có chớp mắt nhướng mày cũng nó mà ra." Ngài Ngưỡng Sơn gật đầu liền, tìm được cái chính mình. Mà trong cái chính mình này nó tìm thấy được tận cái cội nguồn của mọi hành động của mình, mọi cái thấy, cái nghe của mình, thấy cái gốc của nó ở đâu ra. Cái chính mình tới sâu xa. Còn bây giờ ví dụ mình thấy mà mình không biết cái thấy từ đâu ra, mình nhấc tay nhấc chân gì mình không biết nó từ đâu ra.

[1:13:31]Còn cái người mà họ ngộ được tới chính mình, duỗi tay nhấc chân gì biết nó từ chỗ cái chính mình mà ra, biết rất rõ. Mắt nhìn, thấy cái nhìn từ cái chính mình mà ra. Tai nghe, biết từ cái chính mình nó mà ra. Cho nên vô cái hỏi: "Thế nào là đại ý tổ sư?" Ổng dựng cái phất trần lên cho nhìn. Ông kia nhìn thì nhìn, giống như mình bây giờ cũng nhìn cái phất trần, không thấy được cái thấy đó là từ cái chính mình, không ngộ, ổng cầm gậy đập cho một gậy đuổi đi, không thấy được chính mình. Hét cho một tiếng, nghe thì nghe, mà không thấy được cái nghe đó từ cái chính mình đi ra, nên ổng đuổi ra, đánh đuổi đi ra.

[1:14:10]À.

[1:14:15]Cái cái chính mình đó mà nó vi diệu, và chính vì nó vi diệu mà người ta đứng đó luôn làm thành một cái tổ sư thiền của Trung Hoa mấy ngàn năm, hơn ngàn năm.

[1:14:29]Rồi sau đó đi qua tới cái thời Mạt pháp người ta bỏ thiền luôn. Bây giờ ta mới đi tìm lại cái thời Chánh pháp vô ngã là cái chỗ này. Nhưng mà đó, giống như là cái căn bản ban đầu của Tứ Niệm Xứ, ta phải thấy được lỗi,

[1:14:45]nhớ lỗi mình, sống với lỗi mình, đối diện với lỗi mình, rồi lỗi đó nó sẽ tan. Trong đó ta có một cái lỗi lớn nhất là chấp ngã vô minh, thì ta cũng phải nhớ cái chấp ngã này, đối diện với chấp ngã này, an trú nơi chấp ngã này, cho tới ngày nó tan. Cái nguyên tắc của Tứ Niệm Xứ, tột cùng của Tứ Niệm Xứ chính là chỗ này. Nhưng cái quan trọng là cái chấp ngã đó là gì? Cái chính mình đó là gì? Đó, ta chưa tìm thấy thì không có cái ngày để ta đi tới chỗ vô ngã. Phải tìm thấy được cái chính mình, an trú nó, đối diện nó, nhớ nó thì mới có cái ngày nó tan. Mà có ngày nó tan thì Sư phụ xin báo cáo có khi vài ngàn năm,

[1:15:38]từ ngày ta tìm ra được nó thì cũng phải mất mấy nghìn năm. Mà từ ban đầu phải phát cái lời nguyện tìm được mục tiêu vô ngã mà Phật đã dạy, bắt chước cái tấm gương của Phật đạt đến tột cùng của cái cái định thanh tịnh tự tánh rồi vẫn đi cho hết để tìm được cái vô ngã.

[1:16:02]Do đó mỗi ngày ta lễ Phật với lòng tôn kính tuyệt đối để ta được cái phước này, để ta được cái phước là ta theo Phật cho tới tận cùng con đường vô ngã. Vì buộc lòng một ngày nào đó ta phải tìm thấy chính mình, mà an trú chính mình, buộc lòng thì mới đi qua được tới cái vô ngã được. Còn làm sao để tìm thấy chính mình?

[1:16:30]Thì ta có phương pháp, có kỹ thuật, có sự siêng năng, có lý luận và cũng phải có công đức.

[1:16:42]Nhưng cái công đức của ta là gì? Làm mọi điều gì lợi ích cho chúng sinh được làm, không tiếc công, nề sức, làm mà không chấp công, việc nhỏ, việc lớn gì làm được thì làm và đều mong cho chúng sinh đều được giác ngộ. Cái công đức. Ta có cái lý luận là gì? Ta có lý luận về Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, về lý tưởng vô ngã. Và ta có cái kỹ thuật là gì? Kỹ thuật là thiền ba điều ba điểm để cố gắng tìm được chính mình.

[1:17:17]Nhưng mà cái ngày tìm được chính mình thì không phải dễ. Những người đang ngồi trong đây, đang trong pháp hội này, những người nào mà trong thiền định đã có tận hưởng cái thanh tịnh thì đã gần đến với chính mình, có thể tìm được, chỉ cần thêm một chút khắc khoải, một chút ray rứt cộng với cái thanh tịnh của nội tâm thì một lúc nào đó bất ngờ lọt vào được cái chính mình.

[1:17:51]Lọt vào chính mình rồi thì sao? Sư phụ giảng Pháp, bịt tai không thèm nghe, lúc đó Sư phụ phiền lắm rồi nha. Lúc bắt chước Đơn Hà, đó, thuyết Pháp cho nghe không thèm nghe nữa, quá tự tin, không thể sai lầm. Đó cũng là một cái lỗi của cái người mà thấy được chính mình, tự tin quá sức. Phật cũng trách cái tự tin quá sức này.

[1:18:16]Sư phụ nhắc lại điểm này: Cái chính mình đó là một điều trừu tượng, không dùng ngôn ngữ để nói, không chỉ nó một cái vị trí nào ở trên thân này được cả, cũng không chỉ nó là một cái ý niệm của nội tâm nào cả, không chỉ được, nhưng nó có liên quan tới thân và tâm. Liên quan tới thân và tâm ở thứ nhất là ba điều:

[1:18:42]biết hơi thở, biết toàn thân, biết được mảnh xương cùng; và một điều của tâm là tâm thanh tịnh. Khi ba điều đó và chính là bốn điều đó thì ta đã đến rất gần với cái chính mình, nhưng vẫn không phải là chính mình. Nên có một cái chuyện vậy, lúc đó ngài ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện ngài đắc đạo cao siêu, nổi tiếng á, thì ở cách xa xa đó, có cái ông am chủ ổng ngồi thiền cũng rất là thanh tịnh. Có một người mới đến nói với ông am chủ: "Có ngài Nam Tuyền xuất thế giáo hóa, sao thầy không tới đó?". Thì cái ông am chủ mới nói thế này: "Chẳng riêng gì Nam Tuyền, mà có ngàn Phật xuất thế tôi cũng chẳng tới".

[1:19:34]Cái người đó mới đến ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện thuật lại cái câu đó, thì cái câu đó nó vừa giống như là tự tin quá sức của một người đã ngộ được chính mình, mà cũng hay là một người rất thanh tịnh rồi bất cần. Cái ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện mới sai ngài Triệu Châu đi tới khám phá.

[1:19:56]Cái ngài Triệu Châu mới bước vào cái am đó, ngài mới hỏi một loạt các thiền ngữ, ông kia không trả lời, ngồi im không trả lời. Ngài Triệu Châu kết luận một câu là: "Giặc cỏ đại bại", rồi ngài bỏ đi, bỏ về núi thuật lại cho ngài Nam Tuyền. Ngài Nam Nam Tuyền xác định: "Ông này sai". Sai ở chỗ gì? Là tâm được thanh tịnh nhưng vẫn chưa thấy được chính mình.

[1:20:23]Tại vì khi người ta thanh tịnh quá nó cũng có cái tự tin và cũng bất cần, nhưng vẫn chưa phải chính mình vì nó chưa có diệu dụng, chưa có cái linh hoạt.

[1:20:36]Nên đây cũng vậy, tức là khi ta ngồi thiền tâm rất thanh tịnh

[1:20:43]cũng chưa phải là chính mình. Cho nên ai mà ngồi thiền được thanh tịnh rồi nói là: "Tôi kiến tánh rồi" là mấy người đó đọa chết luôn. Đọa chết, mà có một lần vậy, ngài Sơ Sơn hỏi ngài Hương Nghiêm,

[1:21:01]rồi ngài sau đó ngài Sơ Sơn ổng trả lời sai. Sai là vì cái chỗ này: sai là cái chỗ mà ngài Sơ Sơn xem cái thanh tịnh đó là Phật tánh, là tự tánh, là chính mình. Ngài Hương Nghiêm mới phát hiện ra ông này ổng chưa có được tới cái chỗ chính mình, chỉ được cái thanh tịnh thôi mà lầm tưởng là chính mình, mà lại lên mặt kiêu căng. Ngài Hương Nghiêm mới quở, mới nói: "Nếu ngươi trả lời như vậy thì ba mươi năm ngươi ở rừng không có củi đốt, ngươi ở suối không có nước uống, ăn cái gì ói cái nấy". Cái quả báo mà đúng như vậy, sau đó ngài Sơ Sơn ba mươi năm ăn gì là ói, ăn gì là ói. Đúng ba mươi năm theo ngài Hương Nghiêm thọ ký trừng phạt,

[1:21:44]vì sai một cái thành tà kiến mà tưởng mình đúng. Nó ghê ghê như vậy. Cho nên khi mà ta bắt được ba điều: biết hơi thở ra vào, biết toàn thân, biết được mảnh xương cùng, mà tới mức độ tâm được thanh tịnh, đừng nghĩ rằng đó đã là chính mình. Cẩn thận! Tâm thanh tịnh rồi tưởng mình đã tìm thấy Phật tánh, tìm thấy tự tánh, được chính mình rồi, coi chừng giống ngài Sơ Sơn ba mươi năm ăn gì ói nấy. Cẩn thận! Còn khi ta tìm được chính mình rồi, bốn cái kia vẫn có đủ: tâm được thanh tịnh, biết được toàn thân, biết được hơi thở, biết được mảnh xương cùng. Tại sao Sư phụ cứ nói cái mảnh xương cùng hoài vậy?

[1:22:34]Tại trong cái biết toàn thân nó có cái mảnh xương cùng, nhưng mảnh xương cùng nó là một hiệu ứng rất kỳ lạ của cái thiền định mà biết chính mình. Khi cái người ngộ được, biết chính mình rồi, tự nhiên biết cái xương cùng. Thì ta về ta an trú cái xương cùng thì rất dễ để biết được chính mình, cũng là một cái gợi ý, chứ an trú cái xương cùng chưa phải là chính mình, nhưng mà an trú được chính mình thì phải an trú được xương cùng. Nhớ như vậy. Thời gian vừa qua, Sư phụ có truyền cái bí kiếp nội công cũng là chuẩn bị cho cái ngày hôm nay. Nên những người nào mà thời gian qua đọc được cái tài liệu đó và có tu tập

[1:23:20]an trú được mảnh xương cùng thì hôm nay nghe cái bài này đỡ bỡ ngỡ.

[1:23:28]Sư phụ nói bao lâu rồi? Có ai ngộ chưa cà? Chưa ngộ nói nữa à? Nói tới giao thừa luôn à?

[1:23:40]Sư nói bao lâu rồi con?

[1:23:47]Hả? Mấy? Một tiếng rưỡi hả? Dữ vậy hả? Mệt chưa? Chưa ngộ phải không? Chưa ngộ nói nữa à, nói chừng nào ngộ thôi à.

[1:24:05]Sư phụ trở lại cái này một chút xíu. Giống như cái đèn pin luôn luôn bật chứ không có tắt, không có tắt điện nha, không tắt pin. Ta rọi ra giống như ta nhìn thấy thế giới. Ta rút ánh sáng lại nơi chính cái đèn pin đó. Thì cũng vậy, cái người mà an trú được chính mình nó có cái cảm giác giống như là mình buông xuống hết,

[1:24:35]không nắm giữ cái gì nữa. Cái cảm giác đó như là một cái gì nhẹ nhàng, buông xả, không nắm giữ gì.

[1:24:44]Cho nên có những vị viết: buông xuống đi, buông xuống đi, nếu ham cầm giữ ích gì đá, thở ra không lại còn chi nữa, tất cả vô thường ôm giữ chi, như vậy đó. Hoặc là có những cái câu chuyện mà

[1:24:58]thấy đem cái hoa cúng Phật, nói buông xuống đi, ổng buông cái hoa. Cái này: "Còn ngươi nữa, ngươi buông xuống luôn đi." Nói: "Ủa con có gì đâu để buông nữa?" "Nếu không buông được nữa thì cầm lên đi." Ổng ngộ đạo. Cái câu chuyện đó là câu chuyện bịa chứ nó không có thật trong kinh, nhưng mà cũng ám chỉ một cái cảm giác vậy. Khi như cái ánh đèn pin ta thu lại chính nơi cái đèn pin, cũng vậy, khi ta dùng tai, dùng mắt, dùng tâm để quan sát thế giới và quan sát chính nội tâm của mình, nhưng đến khi mà ta rút thu trở lại để an trú nơi chính mình thì nó có một sự an ổn giống như là con người đó đã buông xuống hết mọi thứ rồi, không giữ gì nữa.

[1:25:44]Họ thanh thản, nhẹ nhàng, buông xuống hết vậy. Nãy giờ nghe sư phụ giảng, mọi người cứ tưởng sư phụ đã ngộ đạo, đúng không ạ? Tại nói quá dễ sợ đi. Nhưng sư phụ xin đính chính, sư phụ chưa hề ngộ đạo nha. Sư phụ chỉ biết con đường và chia sẻ: "I am sharing something I know." Sư phụ chỉ chia sẻ thôi, rồi mỗi người chúng ta cố gắng thực hành để tìm được chính mình là bắt đầu đặt chân lên con đường của thiền, biết được chính mình. Và phải đi suốt cái con đường an trú chính mình đó không biết mấy trăm năm, mấy ngàn năm để rồi cuối cùng vượt khỏi chính mình, tìm thấy vô ngã, để dựng lại chánh pháp của Phật nha.

[1:26:31]Thôi hôm nay như vậy là được rồi nha. Các thiền sư hay nói quanh co, hôm nay sư phụ nói rất là thẳng. Cố gắng tìm lại chính mình, nhưng cũng phải có công đức, có lý luận, có kỹ thuật, có phương pháp, có sự siêng năng. Rồi đến lúc nào đó bất ngờ ta tìm thấy được chính mình. Bắt đầu từ đó ta đặt chân trên con đường thiền thật sự. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:27:04]Quên buồn vui nơi thế gian nhẹ bay tia nắng hân hoan.

[1:27:15]Quên buồn vui nơi thế gian nhẹ bay tia nắng hân hoan.

[1:27:24]Quên buồn vui nơi thế gian nhẹ bay tia nắng hân hoan.