Transcript: Kinh Nikaya 21 - Trí Tuệ Và Đức Hạnh

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:14:18

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:10]Và trước hết thì tôi xin nói cái cách làm việc là khi học quý sư, quý cô chuẩn bị sách vở đầy đủ để ghi nốt. Còn bốn Trường bộ kinh cố gắng tìm cách có để tham khảo. Bởi vì khi tôi dạy thì tôi buộc phải làm việc rất là cực. Chứ không phải là dạy rồi nghe, nghe qua rồi bỏ. Làm việc rất là cực là phải làm bài tập. Tôi chấm điểm mỗi lần và sau một thời gian, xong một cái phần học nào đó, tôi cho làm một bài luận văn dài để nói lên cái cái kiến giải của mình. Như vậy để làm gì? Để sau những ngày mà không học á, vẫn phải sưu tập tài liệu để viết lách, để nâng cái trình độ lý luận của mình lên, mà sau này có thể giảng giải cho người khác.

[0:59]Chúng ta nhớ mình học không phải học cho mình, mà học cho người sau. Học để đủ cái trình độ sau này mà giảng giải giáo hóa cho người sau, mình phải có cái lý tưởng khi học như vậy. Nên phải chuẩn bị tinh thần. Học với tôi rất là cực. Nghe phải ghi chép, xem tài liệu lại, nếu cần mà cái băng giảng này có mình phải sang để nghe lại để làm bài. Và khi làm bài tập á, trước hết là phải làm đúng bài giảng và sau đó phải có những cái phát minh thêm của mình, lý luận gài thêm vào trong đó, chứ không phải là chỉ làm đủ những cái ý mà tôi giảng không. Còn người ví dụ như ý tôi giảng mà làm không hết ý, tức là người này chưa nắm được bài.

[1:42]Phải nắm được bài vững, đồng thời có cái phát minh của mình. Tu học phải có sự sáng tạo như vậy. Đầu tiên là chúng ta học cái bài Sonadanda. Trong Trường A-hàm gọi là kinh Chủng Đức, là tên của một vị Bà-la-môn trưởng lão. Bài kinh này nói về trí tuệ và đức hạnh. Tôi chọn bài kinh này làm đầu tiên để định nghĩa lại thế nào là trí tuệ. Bài kinh này rất là dài, nên chúng ta sẽ không có thì giờ để mà đọc lại nguyên văn. Tôi chỉ kể tóm ý và những đoạn nào quan trọng thì tôi đọc nguyên văn. Đại ý kinh này như thế này: Một lần, Đức Phật du hành đến cái xứ Anga, cùng với đại chúng Tỳ-kheo khoảng 500 vị, đến thành Campa.

[2:34]Lúc bấy giờ có Bà-la-môn Sonadanda cũng trú xứ tại đó. Đây là một Bà-la-môn trưởng lão, có uy đức lớn, uy tín lớn, thường dạy dỗ cho nhiều người.

[2:49]Lúc đó khi Đức Phật đến, thì họ nghe tin, họ mới rủ nhau đến yết kiến Đức Phật, thì họ có rủ luôn cả Bà-la-môn Sonadanda.

[3:01]Thì khi Bà-la-môn Sonadanda quyết định đến thăm Đức Phật, thì có nhiều vị Bà-la-môn khác đến cản. Họ nói rằng, Sa-môn Gotama là người trẻ tuổi, có lẽ Đức Phật lúc đó là sau thời gian chứng đạo không bao lâu, còn Bà-la-môn Sonadanda là người đã đứng tuổi, trưởng lão, thì không đáng để cho một vị trưởng lão phải đến thăm một Sa-môn trẻ tuổi. Họ cản như vậy, nhưng mà ông Sonadanda này cũng hay, ổng mới lý luận rằng là Sa-môn Gotama tuy nhỏ tuổi nhưng có những điều rất đặc biệt về dòng dõi, về trí tuệ, về danh tiếng, vân vân, rất nhiều cái. Về cử chỉ, về giới hạnh, về sự chứng ngộ, về uy tín lớn, về oai đức.

[3:58]"Này các hiền giả, thật vậy, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Trí Đức Đầy Đủ, Thiện Thệ, Hiểu Biết Thế Gian, Bậc Vô Thượng, Bậc Trượng Phu Điều Ngự những người đáng được điều ngự, Bậc Thầy Loài Trời và Loài Người, là Phật, là Thế Tôn. Này các hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama có đầy đủ 32 tướng tốt của bậc đại nhân..." Đó, đó là những lời mà ổng khen, ổng lý luận rất là dài. Ở đây, quý sư, quý cô xem lại nguyên văn này để mà làm bài, để mà nắm bài cho vững. Do ổng lý luận rất là dài, ổng khen ngợi Đức Phật, nên nhiều người mà cản ổng á, cũng theo ổng để đi đến diện kiến Phật.

[4:42]Chúng ta thấy cái khởi điểm mà ổng đến với Đức Phật là một tâm hồn khiêm hạ, biết nhận ra được cái hay của người khác. Đây là một cái nhân rất tốt, một khởi điểm rất tốt để dành cho ổng một cái quả báo lớn sau này. Thường thì chúng ta dễ có sự ganh tị, ví như mình làm viện chủ một phương, mình làm trưởng lão một phương, mà có người nào đến để mà như gây cái uy tín ở vùng đó thì mình khó chịu. Nhưng mà ngài Sonadanda này cũng rất là đặc biệt, có cái tâm tốt.

[5:14]Khi trên đường đi đến Đức Phật, thì bỗng nhiên ổng động tâm. Ổng động tâm ổng thấy như thế này, ổng nói khi đến á, nếu mà để coi nguyên văn ổng phân vân thế này: "Nếu ta hỏi Sa-môn Gotama một câu, và nếu Sa-môn Gotama trả lời với ta: 'Này Bà-la-môn, không nên hỏi câu như thế, câu đó không không đáng hỏi,' thì ta sẽ bị những Bà-la-môn đi theo này khinh miệt, cho rằng ta không đủ trí tuệ. Hoặc là Sa-môn Gotama hỏi ta một câu mà ta bí không trả lời được, thì những người chung quanh đây cũng sẽ khinh miệt ta là nào giờ là một trưởng lão Bà-la-môn có uy tín mà không trả lời nổi một câu hỏi." Xong bây giờ ổng mới phân vân, rồi ổng sợ nữa. Ổng sợ là:

[6:05]"Danh dự chúng ta sẽ bị giảm thiểu, thì sự cúng dường của người khác cũng sẽ bị giảm thiểu." Đúng là thực tế không? Cái uy tín mà giảm cái là bớt người ta bớt cúng. Đây là nỗi lo của mấy thầy tu đó. Ổng đi rất là phân vân. Đi đến gặp Phật thì ổng chào Phật, những người khác cũng chào. Nhưng có người thì chào Phật trang trọng, có người chào lấy lệ, có người chỉ cúi đầu, có người lặng thinh, rồi mỗi người ngồi qua mỗi phía để mà nói chuyện, chuẩn bị một cuộc đàm đạo. Thì khi vừa ngồi xuống, cái tâm trí của ông Sonadanda tiếp tục lo lắng giống như cái điều hồi nãy, là sợ rằng ổng hỏi một câu mà Đức Phật chê,

[6:46]hoặc Đức Phật hỏi một câu mà ổng bí, là ổng đang lo lắng điều đó. Lúc đó, Đức Phật biết được cái tâm của ổng. Nên chúng ta thấy thần thông cũng rất là cần thiết nếu mà dùng đúng chỗ. Đức Phật biết cái tâm của ổng đang sợ, nên ngài hỏi, đây là nguyên văn:

[7:05]Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn được biết sự phân vân lo lắng của Bà-la-môn Sonadanda với trí giác của mình liền tự nghĩ: "Bà-la-môn Sonadanda này đang phân vân lo lắng, ta hãy hỏi Bà-la-môn Sonadanda với câu hỏi thuộc suy truyền về ba quyển Veda." Hỏi cái trúng tủ của ổng, không hỏi chuyện bên ngoài, mà hỏi những kinh điển ổng đã học. Bây giờ ổng hỏi câu này đây: "Này Bà-la-môn, như vị Bà-la-môn phải đầy đủ bao nhiêu đức tính mới được gọi là Bà-la-môn, và để có thể khi nói: 'Tôi là Bà-la-môn,' lời nói ấy là chân chánh, không phải lời nói dối?" Tức là ổng hỏi tiêu chuẩn làm một Bà-la-môn, mà điều này có trong kinh Veda quy định,

[7:45]cái trúng tủ ông này ổng mừng quá, ổng ngồi thẳng lưng lên, ổng nhìn chung quanh một vòng, nên tự hào mới trả lời. Ổng trả lời là có năm điều: Thứ nhất là dòng dõi, là bảy đời cha tổ tiên đều là dòng Bà-la-môn không bị pha tạp bởi dòng dõi khác. Thứ hai là người thông hiểu kinh điển, chú thuật của Veda

[8:13]và nghi lễ. Thứ ba, vị ấy có dung mạo đẹp đẽ, nguyên văn là vị ấy đẹp trai, khả ái, làm đẹp lòng mọi người, với màu da thù thắng, khôi ngô tuấn tú, cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao thượng. Kinh hồi xưa nói kỹ ghê ha. Thứ tư là vị ấy có đức hạnh, có đức độ cao dày. Thứ năm là vị ấy là người học rộng, sáng suốt, là người đệ nhất hay đệ nhị trong những người cầm muỗng. Nghe thấy lạ ha. Tức là những người mà làm lễ tế thần. "Này tôn giả Gotama, đó là năm đức tánh những vị là Bà-la-môn phải đầy đủ mới được gọi là Bà-la-môn, và để có thể khi nói: 'Tôi là Bà-la-môn,' lời nói ấy là chân chánh, không phải lời nói dối." Đó là câu trả lời của ổng theo đúng tiêu chuẩn.

[9:02]Bắt đầu Đức Phật gài. Đức Phật mới nói: "Này Bà-la-môn, bây giờ trong năm đức tính đó, trong năm yếu tố đó, bỏ bớt một yếu tố nào mà vẫn còn được gọi là Bà-la-môn hay không?" Ổng nói: "Có, có thể được." Hỏi: "Cái gì?" Nói: "Dạ thôi bây giờ bỏ bớt cái dung mạo đi. Có thể người đó không đẹp trai. Có thể là không đẹp trai như sư này, xấu xấu như tôi cũng được. Nhưng mà là người bảy đời tổ tiên là dòng dõi nè, thấy không, rành về chú thuật kinh điển, có đức hạnh, có trí tuệ, bỏ cái đẹp trai cũng được." Thế Đức Phật nói: "Thôi được. Thôi bây giờ theo ông, trong bốn tiêu chuẩn đó, bỏ bớt một tiêu chuẩn nào có thể gọi là Bà-la-môn

[9:41]hay không?" Thấy ổng ngồi ổng nghĩ: "Thôi được." Nói: "Bây giờ cái người đó đó, bỏ bớt cái vụ vụ mà rành kinh điển chú thuật. Nếu người đó bảy đời dòng dõi tổ tiên là Bà-la-môn thuần, với có trí tuệ, có đức hạnh, thì cũng được gọi là Bà-la-môn." Đức Phật mới hỏi tiếp: "Thôi bây giờ trong ba cái tiêu chuẩn đó, có thể bỏ bớt một tiêu chuẩn nào vẫn còn được gọi là Bà-la-môn hay không?" Cái ổng ngồi ổng nghĩ là: "Dạ được." Ổng vừa nói: "Dạ được," thì mấy ông Bà-la-môn chung quanh nhao nhao lên phản đối. Nói là: "Thưa tôn giả Sonadanda, tôn giả đang bị Sa-môn Gotama gài bẫy. Tôn giả mà cứ bỏ lần lần, bỏ lần lần thì đúng là tôn giả phá

[10:24]vỡ cái cái truyền thống của Bà-la-môn giáo, mà đi theo cái cái khuynh hướng của Sa-môn Gotama nào giờ, là phá vỡ hết tiêu chuẩn về cái giai cấp đẳng cấp." Yêu cầu là tôn giả đừng có bị Sa-môn Gotama lừa nữa, gài bẫy nữa. Lúc đó Đức Phật ngài mới quay sang ngài nói: "Nếu các ông nghĩ rằng các ông giỏi hơn Sa-môn Sonadanda này, thì để cho ông này im và các ông nói chuyện với ta. Còn nếu các ông tự thấy mình không bằng, thì hãy để ông này nói chuyện với ta." Cái câu này Đức Phật đúng là một con người bình thường, cũng hay. Cho nên trong kinh nguyên thủy như vậy, nó không có màu mè, thêu thắt thần thoại.

[11:04]Lúc đó ông Sonadanda ổng mới yêu cầu Đức Phật im lặng để ổng trả lời với những người Bà-la-môn. Ổng nói: "Tôi nói là có lý do của nó. Bây giờ tôi hỏi các ông hãy nhìn đứa cháu Anga của tôi..." Đây là một người mà đủ năm tiêu chuẩn để làm Bà-la-môn. Angaka, cái Angaka là cháu của tôi, bảy đời cha mẹ nó, tổ tiên nó là thuần Bà-la-môn. Nó rất là rành chú thuật bởi vì chính tôi dạy cho nó. Dung mạo nó rất đẹp đẽ, ở đây ngoài Sa-môn Gotama thì không ai đẹp bằng cháu Angaka của tôi. Nó là người có đức hạnh, nó là người có trí tuệ. Bây giờ tôi hỏi các vị: Nếu nó là người không có đức hạnh, là người trộm cắp, nói dối, lấy của không cho,

[11:52]giết người, vân vân gì đó, thì có còn đáng để gọi là Bà-la-môn hay không? Cái mấy người kia nói: Dạ không đáng. Nói đó, nói như vậy thì chính cái đức hạnh là cái quan trọng, thì các ông phải im lặng để tôi nói chuyện với Sa-môn Gotama tiếp. Ta thấy đoạn này rất là hay. Sau đó ổng quay lại, ổng nói quay lại với Đức Phật ổng nói thế này, ổng nói: Thưa Tôn giả Gotama, trong ba tiêu chuẩn đó có thể bỏ bớt tiêu chuẩn về dòng dõi, không cần người này bảy đời phụ mẫu là dòng dõi Bà-la-môn, nếu người này có đủ đức hạnh và trí tuệ vẫn đáng gọi là Bà-la-môn. Như vậy chúng ta thấy vào thời đó cái danh vị Bà-la-môn là một danh vị cao quý

[12:42]chứ không có cái hàm cái ý chê bai hay ngoại đạo như bây giờ mình vẫn nghĩ đâu. Đức Phật vẫn tôn trọng cái danh vị Bà-la-môn đó về cái hạnh, cái học của họ để mà họ xứng đáng với sự cúng dường của mọi người. Thời đó Bà-la-môn á bắt đầu là biết đi học được là phải đi học kinh điển, học chú thuật, giữ gìn giới hạnh. Tập tu một thời gian, lớn lên lập gia đình để có con nối dõi, rồi ở nhà làm cái bổn phận của gia đình vừa làm cái bổn phận tế lễ cho mọi người trong làng xóm. Đến khi già thì có thể người ta từ bỏ cái đời sống gia đình để làm Sa-môn rồi xuất gia. Và từ đó họ đi tìm giải thoát. Họ có những giai đoạn tu tập rất là rõ ràng.

[13:26]Nên lý tưởng của một Bà-la-môn rất là hay. Đó là lý do tại sao mà họ được mọi người chung quanh kính trọng, cúng dường chứ không phải là vô lý. Tuy nhiên, giáo lý của họ chưa có phải là cứu cánh, chưa có thuần Chánh pháp, chưa thể đưa đến một sự giải thoát hoàn toàn. Cho nên ở đây, Đạo Phật mình xuất hiện như là một sự bổ sung, như là một sự điều chỉnh, như là một sự điều chỉnh lại để giúp cho chúng sinh thức tỉnh, tiến lên thêm thôi, chứ không có cái nghĩa là hoàn toàn đả phá như chúng ta... Chúng ta cũng vậy, trên cái tinh thần học đạo, chúng ta nhớ điều này: Bất cứ một pháp môn nào, một giáo phái nào,

[14:07]họ có cái ưu điểm và có cái khuyết điểm. Cái quan trọng là chúng ta biết rõ khuyết điểm của họ và biết rõ ưu điểm của họ. Cái ưu điểm của họ chúng ta đề cao, chúng ta bắt chước. Còn khuyết điểm của họ thì chúng ta tránh nếu mình biết, hoặc có thể thì mình giúp họ vượt khỏi cái khuyết điểm của họ, đó là nếu mình có duyên. Chứ còn trên đời này không có cái gì tuyệt đối hoàn hảo. Ngay cả chúng ta ngồi đây cũng vậy, chúng ta là người theo rất gần với Phật pháp nhưng cũng chưa hẳn là chúng ta đã hoàn hảo. Nên chúng ta cần giữ thái độ khiêm tốn và bao dung với mọi học thuyết, mọi pháp môn và mọi cái cái tông phái.

[14:52]Chúng ta nghe ông Sonadanda ổng nói về ổng nói rằng chỉ cần có đức hạnh và trí tuệ đủ để được gọi là Bà-la-môn. Đức Phật mới hỏi thêm một câu: Này Bà-la-môn, trong hai đức tính ấy có thể bỏ bớt một đức tính và những người Bà-la-môn đầy đủ một đức tính nào để có thể khi nói tôi là Bà-la-môn, lời nói ấy chân chánh, không phải lời nói dối? Cái câu trả lời của ổng rất hay mà chúng ta phải thuộc lòng: Tôn giả Gotama, không thể được. Thưa Tôn giả Gotama, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí tuệ. Chỗ nào có trí tuệ, chỗ ấy có giới hạnh.

[15:40]Người có giới hạnh nhất định có trí tuệ, người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời. Thưa Tôn giả Gotama, cũng như lấy bàn tay để rửa bàn tay, lấy bàn chân để rửa bàn chân, cũng vậy, thưa Tôn giả, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí tuệ. Chỗ nào có trí tuệ, chỗ ấy có giới hạnh. Người có giới hạnh nhất định có trí tuệ, người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời.

[16:18]Cái câu trả lời của ổng thật là tuyệt vời, đến nỗi Đức Phật chấp nhận khen và Đức Phật lặp lại nguyên văn cái lời của ổng như là một sự công nhận, công nhận một sự xác quyết, một sự khen ngợi về cái lập luận của ổng. Đây là một ông Bà-la-môn mà có tư tưởng rất là cấp tiến, không bảo thủ, không cố chấp mà nhìn thấy chân lý đã gần tới nơi. Nên tâm hồn của ổng nhẹ nhàng, nó cởi mở ra để sẵn sàng đón nhận cái chân lý. Lúc đó, Đức Phật hỏi lại: Nhưng này Bà-la-môn, thế nào là giới hạnh và thế nào là trí tuệ? Thì ngang đây ổng ổng không trả lời được nữa. Ổng không trả lời được thì ổng mới nhờ Đức Phật

[17:00]nói cho ổng nghe những ý nghĩa sâu sắc của giới hạnh và trí tuệ. Thì Đức Phật nói rất dài về các thiền định, các quả vị. Thì những bài này chúng ta sẽ học trong bài kinh Sa-môn Quả vào một lần khác. Bài kinh Sa-môn Quả rất quan trọng. Chúng ta phải học để biết cái tiêu chuẩn mà một người phải tu trong Đạo Phật đi đến như thế nào. Hôm nay thì chúng ta không có nói kỹ về cái phần này, để dành cho bài kinh Sa-môn Quả. Chúng ta xem đoạn cuối rồi một lát chúng ta phân tích giới hạnh, trí tuệ thôi. Sau khi Đức Phật giải thích cho ổng nghe về các từng mức thiền định, về các từng mức quả vị thì ổng nói như thế này:

[17:42]Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy được hình sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-kheo-tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử. Từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. Rồi ổng mời Đức Phật đến dự trai tăng ở nhà ổng. Câu chuyện phía sau thì còn một đoạn lặt vặt nữa thôi. Cái kinh này như vậy.

[18:22]Bây giờ bắt đầu chúng ta, ngày hôm nay, chúng ta nói về cái nhìn của mình về trí tuệ, thế nào là trí tuệ. Con người mình có sáu khả năng tinh thần. Chúng ta nhớ cái này ghi cho kỹ nha. Tôi hỏi lại, không biết không được. Thứ nhất là thông minh.

[18:43]Thứ hai là khôn ngoan.

[18:47]Thứ ba là trí tuệ.

[18:52]Thứ tư là kiến thức.

[18:57]Thứ năm là ký ức.

[19:01]Thứ năm là kiến thức. Thứ sáu là trực giác. Đây là sáu khả năng tinh thần của mỗi người.

[19:11]Trong chúng đây, thứ tư, thứ tư là kiến thức.

[19:17]Thứ năm là ký ức, ký ức, trí nhớ.

[19:23]Thứ sáu là trực giác.

[19:27]Trong lớp học như vậy ai là chúng trưởng?

[19:34]Giơ tay lên đi. Sư Phương. Thì một vị nào cho tôi cái danh sách nha, lần sau cho tôi danh sách của những người học trong đây, tại vì tôi có thể kêu từng người lên kiểm tra và làm bài thi cho điểm.

[19:51]Bây giờ tôi giải thích từng cái khả năng tinh thần.

[19:57]Thứ ba là trí tuệ. Bây giờ tôi giải thích từng cái, nghe mà ghi nốt cho nhanh nha. Thông minh tức là khả năng suy luận nhanh, hiểu nhanh.

[20:13]Thông minh là khả năng suy luận nhanh và hiểu nhanh.

[20:19]Nó là cái gốc của của tinh thần đó, nó là cái gốc.

[20:24]Thứ hai là khôn ngoan á, khôn ngoan là khả năng ứng xử bên ngoài, đó, khả năng mà mình có thể tổ chức, bên ngoài dò xét được cái người trước mặt mình, sắp xếp công việc, có những lời nói khéo léo. Cái ứng xử bên ngoài ta gọi là khôn ngoan.

[20:44]Thứ ba, trí tuệ, trí tuệ là khả năng xoay vào bên trong để hoá giải cái phiền não và ngã chấp của mình. Nhớ cái định nghĩa này quan trọng lắm nha. Trí tuệ tức là khả năng xoay vào bên trong á để hoá giải phiền não và ngã chấp của mình.

[21:06]Còn kiến thức là học hỏi được nhiều.

[21:12]Ký ức là khả năng tích luỹ được và nhớ lại rất nhanh, gợi lại rất nhanh những điều gì mình đã nghe, đã học thì mình nhớ lại được nhiều. Và khi cần phải gợi lại, lúc nào ai hỏi thì nó bật ra nhớ liền, chứ không phải là quên. Chúng ta thấy có những trường hợp mà chúng ta quên á, như hỏi một cái tên của một người nào chúng ta quên, đến qua ngày hôm sau cái sực mới nhớ lại, cái đó là cái ký ức cũng gọi là kém á. Còn người có ký ức tốt là người nhớ lại cũng rất là nhanh, nhớ được nhiều và gợi nhớ lại rất nhanh, đó là ký ức.

[21:48]Còn trực giác là gì? Trực giác là biết được mặc dầu mình có rất ít thông tin, mặc dù mình có rất ít thông tin, biết mà không qua suy luận, không qua học hỏi. Ví dụ như là ở đây có ai có cái linh cảm nhiều không? Tức là mình có một người thân ở xa, chợt nhiên bị bệnh nặng, lòng mình ở đây ruột gan nóng như thiêu đốt, cái đó cũng là một biểu hiện của trực giác. Hoặc là người đối diện mình, họ có những ý nghĩ về mình như thế nào mình có thể đoán ra được, đó là trực giác. Hoặc là một người mình chưa từng quen biết nhiều, gặp họ lần đầu mình biết được bản chất của họ, đó là trực giác. Nhiều người cái trực giác họ mạnh lắm,

[22:38]họ có thể tiên tri được những sự việc mà lâu dài về sau nữa, đó là trực giác. Bây giờ chúng ta so sánh vài cái sự kiện. Cái thông minh nó là cái gốc, nhưng mà nếu nó xoay qua bên ngoài á thì nó biến thành cái gì? Nó là khả năng suy luận, phán đoán nhanh. Nếu nó xoay qua bên ngoài để nó ứng xử thì biến thành cái gì? Cái thông minh nó biến thành gì? Biến thành gì? Mới nói quên rồi. Biến thành cái khôn ngoan. Phải không? Cái khôn ngoan là cái ứng xử bên ngoài. Cái thông minh là cái gốc, nhưng nếu xoay ra bên ngoài để ứng xử thì nó gọi là cái khôn ngoan. Nếu cũng cái thông minh đó mà xoay vào bên trong để kiểm

[23:18]soát được tâm hồn của mình thì gọi là trí tuệ. Nhớ điều đó. Chúng ta coi cái câu chuyện giữa cái khôn ngoan và cái kiến thức. Có ông bác học ổng về cái miền quê chơi. Ổng gặp cái ông nông dân. Ổng ngồi ổng nói chuyện, cái ông nông dân ngồi nghe không à, tại ổng nói chuyện trên trời dưới đất, từ chuyện trên mặt trăng, chuyện trên sao Hỏa, chuyện bên Mỹ, bên Liên Xô ổng nói, ông nông dân cứ ngồi ngơ cái mặt ra nghe, không biết gì hết, tại ổng ông bác học mà ổng quá giỏi. Ổng nói một lát ổng phát chán, cái ổng mới, mới có một trò chơi. Nói: "Bây giờ thế này. Thấy không? Tôi hỏi ông một câu mà ông không biết á thì ông chỉ trả tôi là 1.000 thôi.

[24:00]Tại vì ông am hiểu dở hơn tôi. Mà ông hỏi tôi một câu mà tôi không biết á thì tôi sẽ trả ông 10.000, tức là chấp 1 ăn 10, chịu không? Giờ thi đố cho vui." Bác nông dân ổng ngồi ổng nghĩ lát, ổng gật đầu: "Cũng được." Thế ông bác học chấp, nói: "Thôi cho anh hỏi trước á." Bác nông dân ngồi mới nghĩ lát, mới hỏi: "Ông có biết cái con gì nó lên núi bằng hai chân, mà nó xuống núi bằng bốn chân không?" Bác học ngồi ngớ ra, ngớ ra ngồi nghĩ lát, không biết. Không biết đưa ông này 10.000, tại hỏi mà không trả lời được là 10.000. Có 10.000 xong rồi cái ổng mới hỏi lại: "Vậy thì con đó là con gì?" Bác nông dân nói:

[24:35]"Dạ, tui cũng hổng biết nữa." Cái ổng móc 1.000 đưa lại. Lời được 9.000. Đó là một câu chuyện đùa. Nhưng mà thấy một bên là kiến thức, một bên là cái khôn lỏi. Nhưng cái khôn lỏi nó thắng. Đó là cái, cái phân biệt giữa cái, cái kiến thức thấy không? Biết nhiều nhưng mà cái người này người khôn ngoan. Đôi khi cái kiến thức nó thua khôn ngoan. Bây giờ chúng ta nói về trí tuệ. Tại sao mà trí tuệ làm thành đức hạnh?

[25:08]Ở đây quý sư, quý cô có đọc Kinh Pháp Hoa chưa? Đọc Kinh Pháp Hoa chưa? Có chứ hả? Có nhớ cái phẩm Tùng Địa Dũng Xuất? Cái phẩm mà có bốn vị Bồ Tát thượng thủ. Có ai nhớ bốn vị đó tên gì không?

[25:34]Bốn vị là Thượng Hạnh, Vô Biên Hạnh, An Lập Hạnh, và Tịnh Hạnh. Bốn vị làm thượng thủ. Khi mà đất nứt ra đó, vô số Bồ Tát dưới lòng đất vọt lên á, này có bốn vị Bồ Tát làm thượng thủ. Trong Kinh Pháp Hoa á thì Bồ Tát là tượng trưng cho trí tuệ. Nhưng mà tên của ông là tên gì? Tên Hạnh. Nó ám chỉ rằng trí tuệ và đức hạnh là gì? Như là hai mặt của một bàn tay. Hai mặt của một bàn tay. Ở khía cạnh này mình nói là trí tuệ, ở khía cạnh kia mình nói là đức hạnh. Nó là một. Bây giờ chúng ta sẽ thấy nè. Tại sao trí tuệ làm thành đức hạnh? Hôm nào đó, chúng ta nghe một người huynh đệ mình được thầy khen, thì chúng ta thấy cái lòng mình như thế nào?

[26:28]Không phải mình được khen đâu. Mình được khen thì mình dĩ nhiên là khoái rồi. Nhưng mà huynh đệ mình được khen thì mình thấy cái lòng mình như thế nào?

[26:39]Đó, người đó là người trí tuệ. Đó là người trí tuệ mà thấy được cái tâm của mình. Còn cái người mà không có trí đó, không thấy điều đó. Tâm mình nó có một cái sự khó chịu, một cái đố kỵ thầm kín mà mình không phát hiện ra được, nên gọi là si mê. Mà mình không phát hiện ra được thì nó sẽ như thế nào? Nó tiếp tục nó chi phối tâm hồn, phải không? Nó chi phối cái con người của mình. Và mọi hành động mình làm ra đều là sự đố kỵ mà mình không biết, nên mình mất cái đức hạnh. Còn người một cái khó chịu, cái đố kỵ vừa khởi lên trong lòng, mình thấy liền, mình thấy liền thì nó, nó còn tiếp tục được không?

[27:17]Thì mình đã nhìn được nó rồi thì nó có tiếp tục được không? Nó tự nhiên nó tắt phải không? Yếu đi. Nó không chi phối mình mạnh, có thể nó chưa hết hẳn, một lần thì nó chưa hết hẳn. Nhưng mà nó đã yếu rồi, tại vì mình vạch mặt nó được, thì những cái biểu hiện ở bên ngoài mình không có tìm cách chỉ trích, công kích người huynh đệ mình. Cho nên mình không có cái lỗi về đức hạnh. Còn người không thấy được cái tâm đó, thầy khen người huynh đệ mình trong lòng mình nó nhốm lên một cái cái đố kỵ mà mình không thấy được nó, thì lúc đó mình làm gì? Mình gặp người khác mình chê: "Ôi, cái ông đó mà thầy khen cái gì! Hứ.

[27:50]Ổng khen tôi thấy ổng là dỏm, là cái gì! Hỉ mũi chưa sạch rồi gì, cái nọ! Mới tu đây!" Phải không? Nọ: "Hồi còn phải nhờ tui dạy đồ!" Đó đó, mình mới tìm cách mình hạ uy tín người khác. Và như vậy cái đức hạnh mình như thế nào? Nó bị khuyết lở, thấy không? Đó là một cái thấy, không thấy. Rồi bây giờ, một lần nào đó mình ở chùa ăn tương dưa, mặc đồ thì đồ rách rưới. Một lần mình thấy một chiếc xe hơi lại thăm chùa, bước ra là những hình bóng tuyệt vời, kiều diễm. Thì lúc đó cái lòng mình như thế nào? Nếu mà một người mà nhìn cái cái cảnh đó lòng không nghĩ ngợi gì hết thì người này cũng sắp đắc đạo rồi, thì không có gì để nói.

[28:37]Nhưng bình thường chúng ta rất dễ bị một cái hoang mang, một chút dao động. Nhiều khi mình nhìn vào cuộc đời cứ ngỡ như bên ngoài đó còn nhiều cái trò vui, còn nhiều cái gì đó nó nó đẹp đẽ, hạnh phúc. Mà đời sống tương dưa đạm bạc, áo quần rách rưới, đơn giản của mình giống như là một sự khắc khổ, một cái khổ hạnh, cái gì nó đìu hiu, gió cuốn. Có một lúc đôi khi chúng ta lạc lòng vì cái ngoại cảnh, mà nếu mình không thấy được cái dao động nhẹ nhàng trong lòng mình, một cảm thọ rất nhẹ không thấy được, thì ngày đó là sao? Thì cái đời sống tu hành của mình nó bị, nó bị có một sự thối lui nhè nhẹ.

[29:19]Nên cái người có trí là người nhìn sâu vào trong lòng mình. Có một điều mà chính tôi cũng vấp phải, mà tu rất là nhiều năm tôi mới thấy được cái lỗi của mình. Bởi vì nó quá sâu kín, mà tôi mới hiểu là tại sao mọi triều đại, mọi sự hưng thịnh nào rồi cũng phải có sự sụp đổ.

[29:45]Chúng ta thấy ví dụ như là một cái thời đại như có một lúc hưng thịnh của nó như triều Lý, triều Trần, phải không? Đều có một lúc hưng thịnh rồi sau đó suy tàn. Một cái tông phái cũng vậy, có những giai đoạn cái người khai sáng làm cho nó rực rỡ rồi nó suy tàn. Lâu lắm mới có một vị nào đó phục hưng nó lại, làm cho nó hưng thịnh lên, rồi sau đó cũng bị suy tàn. Chính tôi cũng thắc mắc. Tôi nghĩ thôi thì thế gian đi, cái hưng suy của họ là chuyện bình thường. Thế tại sao chánh pháp mà cũng bị hưng suy? Đó là điều mà tôi thắc mắc. Bây giờ thì tôi tìm ra cái nguyên nhân. Nguyên nhân nó nằm ở trong lòng mình, nằm trong lòng của con người.

[30:25]Nhưng mà mình nói từng cái chuyện nhỏ rồi mình sẽ suy luận ra tại sao một cái đại cuộc như vậy mà cũng còn bị hưng suy. Nguyên nhân ở trong lòng mình là thế này. Ở đây quý sư chắc đều có ngồi thiền đều đặn, phải không? Có ngồi thiền.

[30:44]Hình như có ai ngồi thiền không? Thưa thầy, làm sao bắt chước Phật mà con ngồi suốt ngày suốt đêm? Đệ tử Phật phải ráng. Phật ngồi 24 trên 24, thì mình cũng phải ráng ngồi cho nó nhiều một chút. Thì thiền, ngồi thiền mới có trí được, mới hiểu nổi bài kinh Sonadanda này. Trong tâm hồn mình sâu lắng mình mới nhìn vào cái tâm hồn mình được. Bây giờ tôi nói với những vị có ngồi thiền. Có một lúc nào đó, chúng ta ngồi thiền tâm hồn mình lắng được xuống như là chuẩn bị vào được một cái định á. Có không? Các vị có thấy điều đó không? Có thấy không? Và khi thấy được điều đó rồi thì mình mình làm gì? Mình làm gì?

[31:26]Mình xả thiền ra, sau cái thời thiền mình xả ra mình đến mình nói với thầy mình phải không? "Thưa thầy, vừa rồi con ngồi thiền con thấy lòng rất là giải thoát. Tâm hồn con yên lắng, rỗng rang, trong trẻo. Mọi chuyện thế gian đều thấy nhạt nhòa như mây nổi. Con thấy từ đây con có vững niềm tin đối với đạo, con không còn lui sụt nữa." Xong mình thấy, rồi gặp người huynh đệ mình khuyên: "Huynh nên tu đi. Thấy không? Tôi tu, trưa nay tôi ngồi một thời thiền tôi thấy rất là tốt. Những gì mà chư Tổ nói tôi thấy rất là rõ. Chân tâm mình là đây, Phật tánh mình là đây." ha. "Huynh nên tu." Thì lời nói khuyên đó tốt phải không?

[32:04]Đó mình tu được, mình khuyên huynh đệ mình tu vậy là quá tốt. Nhưng mà bên trong, đó cái điều đó là điều mà nó sẽ sụp đổ đó. Thì chỉ cần mình đi nói một lần thôi, lòng mình có cái tự hào thôi thì đêm đó ngồi thiền sẽ biết. Vật mình tan tành không còn gì hết trơn. Qua vài hôm nữa phiền não kéo tới ầm mĩ, có thể mình khóc rưng rức rưng rức luôn rồi, có thể gặp chuyện mà phải khóc nức nở luôn. Không còn gì là giải thoát thanh tịnh như là hôm trước mình mới khoe nữa hết. Cái hay mà có sự tự hào bên trong, cái tự hào đó nó sẽ phá sạch sẽ mọi công đức mình.

[32:41]Cái đó Phật gọi là cái tâm sở đắc. Cái tâm sở đắc. Nhưng mà cái tâm này nó quá sâu kín, mình không thấy được. Mình không thấy nổi. Tại vì cái tâm đó nó không có thành lời. Ví dụ như mình ghét một người nào, mình nói "Ghét cái người đó quá, ghét", nó hiện lên cái thành cái lời á thì mình còn biết phải không? Mình biết là: "À, tâm mình có ghét." Nó dễ thấy. Còn cái tâm mà tự hào nó không có thành cái lời đó. Nó nằm chìm sâu ở trong cái đáy sâu của tâm hồn mình. Nhưng mà nó phá tan sạch sẽ những công đức của mình. Làm cái công phu của mình bị lui sụt lại. Những thành quả mình đạt được bị tan vỡ. Và nó tương tự như vậy, nó đưa ra tới những cái hưng suy bên ngoài.

[33:23]Ví dụ như là trong cái tông phái đó, trong cái thời điểm đó cực thịnh, tín đồ rất đông, tăng ni theo học rất đông, sự giáo hóa được rộng rãi. Chỉ cần tất cả những người trong cái tông phái đó mỗi người đều có cái tâm niệm tự hào thôi, thì chúng ta sẽ bảo đảm rằng cái tông đó đang chuẩn bị suy. Khi vị tổ đó nằm xuống rồi thì sau này sẽ tan nát hết. Vì cái sự tự hào trong lòng của mỗi người mà thôi. Nó phá tan hết công đức. Chúng ta đừng tưởng là cái nghiệp mà chúng ta làm bên ngoài á nó mới thành cái cái nhân quả rõ rệt. Mà sự thật ra, cái ý niệm mình nó đã thành cái cái nhân quả rất là quan trọng.

[34:05]Không phải là đợi mình đi phá đám người khác, mình chê bai, chỉ trích người khác thành lời mà cái tông của mình mới hết phước. Chỉ cần mình có cái sự tự hào sâu kín trong lòng thôi là cả bản thân mình và cả cái tông môn của mình cũng cũng mất phước. Mà điều này mình khó thấy lắm, nó sâu kín lắm. Nhất là chúng ta tu hành mà có kết quả. Cho nên á quý sư, quý cô để ý thấy có những người tu giai đoạn đầu được cái danh tiếng rất tốt, là thấy cái dung mạo người đó nghiêm trang, tư cách người đó đàng hoàng, đứng đắn. Ai cũng khen. Và người đó biết giữ gìn, đi đứng thì chậm rãi, nói năng thì từ tốn, y áo thì đàng hoàng,

[34:50]cẩn thận, lúc ăn, lúc nghỉ giữ gìn có oai nghi tề chỉnh. Ai cũng khen ngợi, xem như là hiện thân của một bậc thánh giữa đời, một vị thánh tăng gì đó. Nhưng rồi bẵng đi chừng 10 năm sau nghe tin ông đó ra đời mất tiêu. Đố biết tại sao?

[35:08]Đố biết tại sao?

[35:13]Ai có thể trả lời được? Trong khi mình thấy những biểu hiện là của một người chân tu, nhưng mà tại sao lại tan vỡ? Ở đây các quý sư có nghe những trường hợp đó chưa? Nhiều trường hợp như vậy lắm chứ không phải một đâu. Ai trả lời được? Có thể giơ tay ngồi tại chỗ trả lời.

[35:35]Mời sư đi, sư trả

[35:44]lời. Dạ cảm ơn sư. Có ai có ý kiến gì hay bổ sung không?

[36:05]Sư nói cũng khá đúng á, nhưng mà cũng có thể bổ sung thêm được. Mời sư đi. Sư mà hãy thấy được cái khó chịu của mình

[36:34]đó. Sư nói đúng, chính cái tâm tự hào đó. Rồi mới ban đầu á, mình giữ cái oai nghi tề chỉnh là giống như là một bổn phận của người tu phải không? Tại vì trong luật của mình phải học như vậy mà, luôn luôn giữ oai nghi. Nhưng mà khi mình giữ được một cái thì bắt đầu có tiếng khen thì lúc đó mình chấp cái oai nghi đó như là một cái sự vượt hơn của mình đối với người khác. Một sự tự hào nó trỗi dậy và chính sự tự hào đó nó phá tan hết tất cả cho đến cái ngày mà mình không còn đủ trí tuệ để giữ gìn mình trước cái ngoại cảnh nữa. Đó. Cho nên ở đây chúng ta nói là cái trí tuệ thấy được những cái tâm sai của mình để mình vượt qua khỏi cái tâm đó,

[37:17]tự nhiên làm mình trở thành một người có đức hạnh. Mình thấy cái tâm tự cao của mình để mình vượt qua khỏi nó, tự nhiên mình là con người khiêm hạ, mặc dầu mình không có chấp, không muốn mình được là người khiêm hạ. Hoặc là mình thấy được cái tâm tham lam của mình, mình vượt qua khỏi nó thì tự nhiên mình trở thành một con người buông xả, mặc dầu mình không muốn mình là một người buông xả mà tự nhiên cũng là người buông xả. Mình nào giờ trước kia đó mình nhìn ai cũng hay nhìn thấy cái lỗi người khác. Chợt bây giờ mình tỉnh lại mình thấy đó là cái tâm tự cao, muốn thấy cái lỗi người khác để chứng tỏ rằng mình hơn họ.

[37:55]Bây giờ mình từ bỏ điều đó, nhìn ai cũng cố gắng nhìn cái điểm hay của họ.

[38:03]Thì lúc đó khi mình thấy họ hay thì mình đối xử với họ sao? Cái thái độ của mình là gì? Là sự kính trọng. Thì lúc đó mình không muốn được mang tiếng là người lễ độ, không muốn được mang tiếng là người khiêm hạ, tự nhiên cái biểu hiện bên ngoài vẫn là một người lễ độ, vẫn là một người khiêm hạ.

[38:24]Bây giờ chúng ta qua cái phần khác. Cái trí tuệ chúng ta học chúng ta nhớ là "Nhân giới sanh định, nhân định phát phát huệ", phải không? "Nhân giới sanh định, nhân định phát huệ." Bây giờ tôi hỏi: Giới sanh định thì chuyện đó khoan nói, tại sao định làm cho chúng ta có trí tuệ?

[38:51]Ai trả lời? Để tôi nhìn ai coi gương mặt cũng đẹp đẽ, chắc là người có trí tuệ

[39:05]lắm. Cảm ơn sư.

[39:15]Có ai có ý kiến bổ sung thêm không?

[39:24]Bây giờ không có không tự giác thì tôi gọi nha. Mời cô này.

[39:32]Thấy ngồi có oai nghi tề chỉnh đó. Tại sao cái định làm mình... Cô cứ ngồi khỏi đứng lên. Lớp học mình đơn giản. Tại sao định làm mình có trí tuệ?

[39:46]Cô cứ nói đi rồi từ từ tôi sẽ gọi tới cái người nhắc tuồng phía sau. Tới cái người nhắc á chuẩn bị nói luôn đi. Nói?

[40:03]Thí dụ cái gì? Chưa? Ngồi hỏi sư có ý kiến. Minh Hiếu ha. Thầy sư Minh Hiếu coi vậy mà cũng rất là đẹp trai. Bây giờ á, sư đứng lên, ha, sư đứng lên, mọi người cũng đứng lên hết... nói ví dụ thôi nha, ví dụ sư đứng lên, mọi người cũng đứng lên hết, ai cũng đứng lên hết, thì mọi người sao? Sẽ nhìn không thấy sư Minh Hiếu, không thấy biệt. Sư hòa lẫn với mọi người hết trơn, không nhìn thấy sư là người đẹp trai như thế nào. Bây giờ mọi người ngồi xuống hết, còn mình sư đứng lên thì mình dễ thấy không? Thấy liền phải không? À, sư đẹp trai. Trời ơi, không ngờ ở tịnh xá này có ông sư đẹp trai dễ thương như vậy. Thấy liền.

[40:46]Thấy liền, thì cũng vậy đó. Ví dụ như là mình có một cái tâm đố kỵ, mình có cái tâm ganh ghét, nhưng mà cùng với cái tâm ganh ghét đó nó có quá nhiều tâm chung quanh nữa, đủ thứ tâm nó lăng xăng lăng xăng hết, thì cái tâm này có bị thấy không? Khó thấy phải không? Bị nó lẫn hết tâm niệm này tới tâm niệm kia. Nên mình ghét người ta mà chính mình không biết là mình đang có cái niệm ghét đó. Bị nó lẫn với quá nhiều niệm. Nhưng bây giờ mình tu, tất cả những niệm tạp nhạp nó rớt rớt rớt rớt rớt rớt rớt, còn cái niệm ganh ghét thôi, thì bị thấy không? Thấy liền. Thấy gì? Thì thấy được cái tâm ganh ghét đó đó phải trí không? Trí.

[41:25]Đó, cái định á nó làm cho mình cái trí là thấy được những cái tâm phiền não tiềm ẩn mà ngày xưa mình không thấy được do mình loạn. Nhớ định nghĩa lại cái trí tuệ là thấy được tâm phiền não của mình. Nhớ định nghĩa lại nha, nói tới nói lui phải nhớ kỹ cái định nghĩa này. Có khi các sư không giải thích được tại sao định sanh huệ bởi vì không hiểu nổi huệ là cái gì. Cứ tưởng huệ là thiên nhãn nhìn thấu trời, thấu đất, pháp giới chúng sanh. Hồi xưa có lần tôi cũng dạy cái bài này ở ở Giác Lâm thành phố. Tôi có cho làm bài tập. Tới chừng họ viết là: "Trí tuệ là cái thấy biết nhìn khắp cả pháp giới chúng sanh" gì

[42:01]gì cái tôi chấm cái bài đó xong, tôi lên nói cái người mà viết câu này là quá siêu rồi, tôi không hiểu nổi điều này, tôi thua, tôi không hiểu cái trí tuệ mà biết thấy cả pháp giới. Còn cái trí tuệ mà tôi hiểu chỉ là thấy được chính mình. Thấy được chính mình. Tôi không có quay ra bên ngoài mà thấy cả pháp giới. Coi chừng. Cái người như vậy là quá siêu, người đó khỏi phải học nữa. Và khi cái định mà nó càng lúc càng lắng sâu, lắng sâu đó, những cái tâm niệm mà nó còn tiềm ẩn, tiềm ẩn, thâu kín, lần lần bị phát hiện hết. Đó là cái trí tuệ càng lúc càng sáng. Cho đến cái ngày cho đến cái ngày mà cái ngã chấp cuối cùng,

[42:40]cái ngã chấp cuối cùng cũng tan vỡ luôn thì lúc đó là mình là gì?

[42:46]Ai nói được câu này nghe hay? Khi cái định mình lắng sâu, lắng sâu thì cái trí mình cứ cứ thấy lần thấy lần hết những tâm phiền não, thấy hết thấy hết, cứ sâu dần sâu dần cho đến một ngày chỉ còn một cái ngã chấp cuối cùng nó tan vỡ luôn thì lúc đó mình là gì? Không là gì hết. Sư gọi mình là gì? Lúc đó mình là gì? Thưa mình là gì? Khi mà cái ngã mình, cái ngã cuối cùng nó tan vỡ luôn thì lúc đó mình là gì?

[43:20]Mình là cái gì?

[43:25]Mình là gì? Ai trả lời được câu này? Có một cô trả lời là mình không là gì hết, cũng hay. Ai có câu trả lời nào khác?

[43:42]Sư? Mời sư. Sư có câu trả lời nào khác?

[43:50]Thấy, câu trả lời này cũng hay. Trời, sao ở đây người ta trí tuệ quá vậy ta!

[44:01]Bây giờ, cái câu cô này cũng hay, câu sư cũng hay, giờ tôi cũng thêm một câu cho vui. Lúc đó mình là con kiến bò dưới đất, mình là chiếc lá đang rơi gốc cây, mình là dòng nước đang chảy xuôi theo một con suối. Vậy thôi ha, không nói nữa, giờ nói qua chuyện khác.

[44:20]Cái thấy được cái tâm mình, à quý sư chắc là biết qua về mười bức tranh chăn trâu phải không? Có nghe giảng qua hay là có xem qua chưa? Có tham khảo qua về mười bức tranh chăn trâu chưa? Có rồi phải không? Có người có, người chưa. Thôi bây giờ tôi diễn tả nha. Cái bức tranh thứ nhất á, vẽ một cái người cái người đi về phía trước mà cái mặt thì quay về phía sau. Đó là tượng trưng cho cái gì? Tượng trưng cho cái sự si mê, chung quanh là cây cỏ lá hoa trùng trùng điệp điệp, tức là một người si mê chìm trong trần lao. Bức tranh thứ nhất. Bức tranh thứ hai á là cái người đi tìm trâu, mà con trâu nó chạy đâu mất, nó chạy qua nó ủi nhà hàng xóm rồi.

[45:07]Ở đây thì thấy he mấy cái dấu chân của nó, là tượng trưng cho cái ý nghĩ của mình. Mình muốn biết nó cho thật nhanh, nhưng mà không ngờ là nó nó qua nó nghĩ đã đời rồi mình mới giật mình lại: "Chết, nãy giờ mình suy nghĩ vọng tưởng." Nhưng mà nãy giờ nó đã trôi, nó đi về sư quê ở đâu? Minh Hải hả? Nó chạy về tới Minh Hải rồi. Nó chạy về Sài Gòn, nó chạy Cần Thơ, có người đi luôn qua tới Mỹ. Lát giật mình mới nhớ lại là mình đang còn ở Việt Nam, ở cái Tịnh xá Ngọc Xuân Dinh này. Thì lúc đó là gọi là chỉ thấy được cái dấu chân trâu khi mà con trâu nó đi mất tiêu. Mình trôi theo cái tư tưởng miên man miên man,

[45:41]giật mình nhìn lại thì nó đi mất rồi, không giữ nó lại kịp nữa. Đó là bức tranh thứ hai. Bức tranh thứ ba, trong cái bức hình chỉ thấy có cái đuôi phần phía sau con trâu thôi, thấy được con trâu mà thấy phần đuôi. Tức là một dòng tư tưởng nó trôi qua một khoảng thì nó gần hết cái tư tưởng đó mình giật mình tỉnh lại: "Chết, nãy giờ mình suy nghĩ." Nhưng Bức tranh thứ hai á là cái người đi tìm trâu, mà con trâu nó chạy đâu mất, nó chạy qua nó ủi nhà hàng xóm rồi. Ở đây thì thấy he mấy cái dấu chân của nó, là tượng trưng cho cái ý nghĩ của mình. Mình muốn biết nó cho thật nhanh, nhưng mà không ngờ là nó nó qua nó nghĩ đã đời rồi mình mới giật mình lại:

[46:16]"Chết, nãy giờ mình suy nghĩ vọng tưởng." Nhưng mà nãy giờ nó đã trôi, nó đi về sư quê ở đâu? Minh Hải hả? Chạy về tới Minh Hải rồi. Nó chạy về Sài Gòn, nó chạy Cần Thơ, có người đi luôn qua tới Mỹ. Lát giật mình mới nhớ lại là mình đang còn ở Việt Nam, ở cái Tịnh xá Ngọc Xuân Dinh này. Thì lúc đó là gọi là chỉ thấy được cái dấu chân trâu khi mà con trâu nó đi mất tiêu. Mình trôi theo cái tư tưởng miên man miên man, giật mình nhìn lại thì nó đi mất rồi, không giữ nó lại kịp nữa. Đó là bức tranh thứ hai. Bức tranh thứ ba, trong cái bức hình chỉ thấy có cái đuôi phần phía sau con trâu thôi, thấy được con trâu mà thấy phần đuôi.

[46:52]Tức là một dòng tư tưởng nó trôi qua một khoảng thì nó gần hết cái tư tưởng đó mình giật mình tỉnh lại: "Chết, nãy giờ mình suy nghĩ." Nhưng mà thấy được một khoảng cuối của cái tư tưởng. Còn bức tranh của thứ hai là nó qua hết rồi mình mới thấy. Bức tranh thứ ba là nó qua được một khoảng gần cuối mình mới sực tỉnh lại: "À, mình đang chăn trâu, đang tỉnh giác, đang buông bỏ cái tâm niệm lăng xăng." Giật mình lại nhưng mà nó cũng đi hết một đoạn. Thì cái thấy đó cũng là cái trí tuệ nữa, cũng cái trí tuệ đó, nhưng mà nó chậm. Bức tranh thứ tư á là bức tranh thấy nguyên con trâu từ đầu tới đuôi thấy hết, mà phải giữ cái dây vàm nó rất là cực khổ.

[47:33]Là tượng trưng cho cái giai đoạn cái từ cái đầu niệm khởi lên cho tới cuối niệm chấm dứt á mình thấy rõ, tách mình ra khỏi cái suy nghĩ. Chúng ta nhớ cái điều này, là chúng ta đó khi mình đang suy nghĩ đó, mình vẫn biết mình mình đang suy nghĩ phải không? Mình suy nghĩ chứ mình vẫn biết mình đang suy nghĩ. Như vậy trong tâm mình nó có hai cái: một là cái suy nghĩ, là hai là cái cái biết mình đang suy nghĩ. Nó là hai cái đó. Nhưng mà có khi cái biết nó yếu quá, tức là cái trí nó yếu quá, cái suy nghĩ nó lấp lấp lấp lấp hết giống như là bức tranh thứ một, thứ hai vậy đó. Còn khi mình tu cái biết này nó sáng sáng lên,

[48:10]nó tách từ từ ra khỏi cái suy nghĩ, cái suy nghĩ và cái biết tách ra làm hai. Nên cái suy nghĩ nó khởi lên cái biết mình thấy liền. Tại mình không còn là suy nghĩ nữa mà mình đang là cái biết. Thì từ cái đầu niệm, cái suy nghĩ cho tới cuối niệm á cái biết mình thấy hết. Đó là cái trí mình nó đã sáng lên. À rồi nó tắt từ đầu niệm tới cuối niệm nó tắt đi mình thấy được hết. Bức tranh thứ năm á, trong hình vẽ là người nắm cái dàm mà thấy cái đầu con trâu thôi, cái đuôi không có nữa. Nó vô cái hình hình vuông á thì cái đầu nó

[48:41]Cái chú đó dẫn đây cái sợi dây và mình thấy cái đầu con trâu.

[48:47]Thấy cái đầu... đừng có tưởng tượng nó thành con chó, tôi vẽ tệ quá đi, rồi. Thấy cái đầu chút vậy thôi, còn đuôi không thấy nữa, nghĩa là sao? Nghĩa là mình tu đến giai đoạn đó, cái niệm vừa nhóm lên là mình thấy, thấy nó tắt liền, nó không kéo dài được nữa. Tâm người này rất là rỗng rang, tâm lúc đó như cái thùng không có đáy vậy, nó rỗng suốt. Cả cái thân mình nó nhẹ nhàng, sung sướng không. Cái đầu này nhóm lên cái mình thấy nó, thấy nó tan liền. Thì lúc đó là sao? Lúc đó mình mới tự hào cái gì? Tự hào là ít bữa biết biết chuyện. Cho nên cái khó nhất là cái tự hào mình không thấy nó vì nó nằm tuốt bên trong sâu đó.

[49:24]Cho nên tu được kết quả, nhớ đừng có tự hào nhe, tìm cái tâm tự hào diệt nó đi. Đó, như vậy còn bức tranh thứ sáu, thứ bảy, thứ tám, chín, thứ mười thì sau này khi mình có duyên á thì tôi sẽ trao đổi, sẽ giảng về mười bức tranh chăn trâu. Hôm nay mình nói tới bức tranh thứ năm để thấy cái trí tuệ mà thấy được tâm niệm nó cũng là trí tuệ, làm cho mình đi vào Định. Như vậy á, cái Định á nó phát sinh ra trí tuệ phải không? Hồi nãy mình nói. Và chính cái trí tuệ cũng làm trở lại cái cái Định. Là cái trí tuệ mà mình thấy được cái tâm niệm của mình nè, mình tách được mình ra khỏi cái suy nghĩ nè làm cho mình có có Định.

[50:06]Đó, như vậy Định sinh Huệ mà Huệ cũng sinh Huệ cũng sinh Định. Đó là cái biết được cái khởi diệt của niệm. Cái khác nữa là biết được cái khởi diệt của cảm thọ. Cái cảm thọ là cái cảm giác trong lòng mình, cái mừng, cái vui, cái khó chịu, cái dễ chịu. Ví dụ như khi mình nghe người ta khen mình, tâm mình không suy nghĩ gì hết á, nhưng mà bên trong cái cảm giác gì nó khởi lên? Cảm giác gì? Cảm giác thích thú, phải không? Mặc dù mình không có nghĩ gì hết, mình không có nghĩ là: "À, tôi thích quá, tôi thích quá", không, mình không nghĩ điều đó, nhưng vẫn có cái cảm giác thích thú nó khởi lên khi được người ta khen, phải không?

[50:48]Và cái người có trí là người làm sao? Phải thấy cho được cái cảm giác đó, mình đang bị cảm giác đó lừa. Hoặc là một lúc nào đó, trước chỗ đông người, cái mình được ông thầy gọi lên lên bảng hỏi bài. Mình bước lên thì cái người mà hơi yếu tim sẽ thấy làm sao? Thấy người mình nó run, phải không? Bình tĩnh mà run, bình tĩnh mà run. Đó vậy. Cho nên thì cái cảm giác run đó là gì? Cũng là một dạng cảm thọ mà mình phải thấy. Cái cảm giác này nó chi phối con người mình rất mạnh, chi phối con người mình rất mạnh. Như có một câu chuyện kể như thế này để mình biết cái cảm thọ nó ảnh hưởng như thế nào: Có hai ông bà già đó không có con.

[51:30]Thì thường là ổng bị bệnh tăng-xông, huyết áp cao. Ổng hay nhờ có một người bác sĩ gia đình, bác sĩ thân á tới lui để mà chăm sóc cho ổng. Một lần nọ ổng mua tờ vé số đem giao cho bà vợ giữ, lỡ xui sao nhằm tờ vé số trúng độc đắc. Mà bả dò xong bả thấy trúng độc đắc, nhưng bả nói mà hễ đem lại khoe ổng một cái là ổng đứt mạch máu chết tại chỗ liền. Đó. Nhưng bả mà phải cho ổng biết không thể giấu, thì vợ chồng với nhau mà, nhưng mà cho ổng biết là giết ổng. Bí quá không biết sao mới lại nói chuyện với bác sĩ. Bác sĩ nói: "Ôi, dễ, đừng có lo", ha, "tôi sẽ báo cho ông nhà biết và vẫn có cách làm cho ổng không có xúc động quá đáng".

[52:10]Đó. Cái ổng mới đến nói chuyện với ông ông ông già đó, nói: "Thưa ông, nếu ông trúng số độc đắc, ông sẽ làm gì?". "Ôi, bác sĩ ơi, chuyện mò kim đáy biển mà, hơi đâu mà. Trong đời mua không mua, mua cho vui thôi, biết đời nào trúng". "Nhưng nếu ông trúng đi, ông cứ ví dụ vậy là nếu ông trúng đi, ông sẽ sử dụng số tiền đó như thế nào?". Ông già ổng ngẫm nghĩ: "Không giấu gì bác sĩ, hai vợ chồng tôi không có con, chỉ có bác sĩ là người thân. Nếu tôi trúng độc đắc, tôi sẽ chia bác sĩ phân nửa". Không ngờ ông bác sĩ ổng cũng bị tăng-xông, ổng nghe xong ổng ngã xỉu tại chỗ luôn.

[52:51]Đó, cái cảm thọ đó. Nên người nào yếu tim nhớ giữ cho mình đừng có cái cảm thọ quá mạnh, cái sức mạnh của cảm thọ. Mà mình người tu đó phải thấy được nó. Những cảm giác mà khó chịu, bực bội hay là dễ chịu, thích thú đó nó không phải là cái ý niệm, không phải là cái suy nghĩ, nó chỉ là một cảm giác thôi, nhưng phải mình phải thấy nó, tách ra khỏi nó và hoá giải nó. Đó mới là người trí. Bây giờ ha, tôi hỏi quý sư, quý cô: Thí dụ như một người khi phát nguyện đi tu thì phát nguyện thế này: "Con nguyện con tu thành chánh đẳng chánh giác để độ khắp tất cả chúng sinh". Bây giờ quý sư, quý cô đánh giá giùm tôi câu nguyện nó như thế nào?

[53:49]Không phải là cái biểu tượng như kinh Kim Cang nói đâu. Chúng sinh thật đó. Người đó có suy nghĩ thật như vậy, tức là chúng sinh đang đau khổ đầy trong thế giới này, trong pháp giới này và người đó ước nguyện rằng mình tu được thành chánh quả, giác ngộ như Phật, giải thoát như Phật để hoá độ cứu độ hết tất cả chúng sinh đồng lên bờ giải thoát. Chứ không phải là là cái chúng sinh biểu tượng của vọng tưởng đâu, không phải đâu, thật như vậy. Bây giờ ai ai có thể là đánh giá được cái lời nguyện đó như thế nào? Chắc không?

[54:24]Người ta độ chúng sinh mà vì bản ngã gì? Chắc không đó? Chắc không? Không chắc lắm phải không? Không chắc lắm bởi vì cái lời nguyện nó nghe rất là vĩ đại, nghe rất là vì tất cả chúng sinh á, nhưng mà chúng ta thấy giữa cái lý tưởng và cái tham vọng nó cách nhau một đường tơ kẽ tóc á. Mình mà không đủ trí tuệ đó thì cái lý tưởng của mình nó lập tức trở thành tham vọng liền. Bởi vì sao? Bởi vì một ông Phật á được quá nhiều người cung kính đi. Mà người mà độ hết tất cả chúng sinh nghĩa là sao? Là người có quá đông đệ tử chứ gì nữa, phải không? Cho nên mình kỳ lắm nha, mình có cái tật kỳ lắm, nữa quý sư lớn lên làm thầy để ý coi mình có tật đó không.

[55:06]Mình cũng phát nguyện độ hết chúng sinh, tức là mong ước cho chúng sinh đều được giác ngộ giải thoát phải không? Nhưng mà ở bên kia có ông thầy ổng cũng độ chúng sinh cái mình bực ổng à. Ổng phải để dành chúng sinh cho mình độ thôi. Đó, cho nên nghe thì rất cái câu nguyện rất lý tưởng, nhưng không khéo, á không khéo thôi, chỉ cần bước qua một cái lằn tơ là biến thành tham vọng, biến thành sự mơ ước về địa vị, mơ ước đồ chúng, mơ ước cái vinh quang của chính mình, mặc dầu cái lời nguyện nghe rất là lý tưởng, rất là cao đẹp, phải không? Cho nên chúng ta phải là người có trí, nhìn hết những cái đó nhe.

[55:42]Coi chừng những cái đẹp mà không ngờ bên trong nó lại đằng sau lưng nó lại là một cái điều rất là xấu xa. Nên tại sao mà chúng ta bị phá vỡ những công đức là vì những cái xấu xa bí mật nằm bên trong mà mình không tự thấy được.

[55:58]Bây giờ, chúng ta nói về sự tương quan giữa giữa sáu cái năng khiếu tâm.

[56:06]Trước hết là chúng ta nói về cái thông minh. Cái thông minh á là khả năng suy luận, phán đoán nhanh. Tức là người mà mình nói cái gì họ hiểu rất nhanh, họ suy luận vấn đề rất nhanh là người thông minh. Nhưng mà cái thông minh đó đó, nếu đem xoay ra bên ngoài để mà ứng xử với cuộc đời thì người đó thành cái người gì? Người khôn ngoan. Nhưng nếu cái người đó xoay vô trong để hoá giải phiền não, bản ngã của mình thì biến thành gì? Biến thành trí tuệ, phải không? Như vậy ở trong trong Tăng Ni của chúng ta đây, trong chúng chúng ta đây, nếu một người thông minh thì người đó lợi hay hại? Có lợi hay hại cho đạo?

[56:50]Cho sự tu hành?

[56:54]Lợi

[57:03]hay hại? Sao vậy? Con con không nhớ lại ba

[57:14]cái định nghĩa của thầy? Thầy nói lại là thông minh khác với khôn ngoan, khác với trí tuệ. Cái thông minh là khả năng suy luận, hiểu nhanh, suy luận nhanh, hiểu nhanh. Nhưng mà nếu cái thông minh này nè, chưa biết nó lợi hay hại, cho nên thầy hỏi câu đó là câu hỏi hỏi có gài bẫy đó. Mình nói lợi, hại chưa được. Khi nào mà cái thông minh mình dùng xoay ra bên ngoài biến thành khôn ngoan thì mất đạo, phải không? Cũng chưa chắc mất đạo đâu, nhưng mà nếu để tăng trưởng bản ngã mình để mình tranh hơn với người khác á, tại người thông minh có thể tranh hơn được với người khác thì ngay đó mất đạo. Nhưng cũng cái thông minh đó mà mình xoay vô bên trong á

[57:58]để mình kiểm soát chính mình thì người này rất có lợi cho đạo và rất có lợi cho sự tu hành của người đó, phải không? Cho nên ở đây cái người thông minh là có cái lợi khí trước. Nhưng nếu gặp một môi trường tu hành đúng đắn, gặp thầy bạn tốt giúp cho người đó đem cái thông minh của mình xoay vô trong thì đây là cái cái lợi lớn cho đạo, phải không?

[58:21]Nhưng mà đôi khi mình cũng cần xoay ra bên ngoài để mà ứng xử, chứ đâu phải xoay ra bên ngoài là sai. Ví dụ như chúng ta cần tổ chức một buổi lễ thì nếu một người không biết sắp xếp, tổ chức thì cũng là cái dở, phải không? Hoặc là mình làm việc trong chúng mà mình không tròn trách nhiệm, không biết sắp xếp, ứng xử, tổ chức cho nó chu đáo để công việc hư hao, thất bát thì cũng là tổn phước. Hoặc là mình là một người tri sự, một người quản chúng mà mình không biết sắp xếp, làm cho chúng rất là bận rộn, cực khổ, không có thì giờ để tu thì sao? Thì mình cũng tổn phước vậy. Cho nên cái thông minh, cái khôn ngoan

[58:59]chưa chắc lợi hay hại nếu mình biết dùng đúng mục đích. Chưa chắc. Bây giờ đây, giờ nói về cái kiến thức: Cái người học hỏi nhiều, biết nhiều, biết rộng đối với đạo có lợi hay hại?

[59:16]Có lợi

[59:22]hay hại?

[59:37]Sư nói rất là hay. Nếu mình biết nhiều mà mình tự hào đó, mình có cái thấy hơn người đó, cái bản ngã đó thì hại. Còn nếu không như vậy thì có lợi. Tuy nhiên, kiến thức nó lợi chỗ này: ví dụ như là cái người muốn tu mà hoàn toàn không biết Phật dạy cái gì thì có tu được không? Không tu được, vậy thấy không? Là tu tầm bậy. Tu theo cái ý nghĩ của mình chắc chắn sẽ sai. Còn ở đây mình học Phật dạy cái gì, chư Tổ dạy cái gì, các thiện tri thức khắp nơi dạy cái gì, đó tức là mình biết nhiều cái gì để mình rút ra một cái gì nó hợp với mình. Thì như vậy cái kiến thức của đạo nó cần thiết, tốt cho người tu, không có lỗi gì hết.

[1:00:22]Trừ trường hợp mà mình biết những cái chuyện tầm bậy của thế gian, học ba cái chuyện tào lao của thế gian thì nó không nên, nó là uổng phí. Còn biết kinh, biết điển, biết luận thì rất là tốt, đâu có gì đâu có lỗi, không có gì sai. Có cái pháp môn tu thiền họ đả kích về kiến thức. Họ cho rằng học hỏi, tích chứa nhiều là chướng ngại đi tới sự giải thoát. Cho nên cái pháp môn đó không biết quý sư có nghe nói pháp môn đó chưa? Là pháp môn tu thiền, ở gần đây cũng có. Nói rằng học tức là chướng ngăn sự tu hành thì cái lời nói đó hoàn toàn sai, làm phá vỡ đạo Phật. Mà cái người nói câu đó đời đời mắc quả báo ngu dốt,

[1:01:05]là vì kêu người ta đừng học thì chính bản thân mình qua những đời sau sẽ không được học gì hết, không muốn học và không được học gì hết. Cho nên học rất là cần để biết, biết mà mình chọn lựa pháp tu nên không có lỗi. Cho nên quý sư, quý cô sau này có nghe ai dạy pháp thiền nào nói tối thượng thừa, Tổ sư thiền, nói về Phật tánh, về chân tâm, tối thượng thừa gì gì đó mà kêu là đừng học, biết là họ bị tà kiến.

[1:01:33]Học đúng, học đủ để tu rất tốt, miễn đừng chấp cái học là không sao.

[1:01:40]Rồi cái trí tuệ nó cũng có liên quan với cái khôn ngoan, với cái trực giác nữa. Nếu mình biết chính mình càng rõ thì mình biết người khác cũng rõ nữa. Quý sư, quý cô, nếu mình nhìn sâu vào tâm hồn mình, mình vượt qua được hết những cái tâm niệm bất thiện của mình thì sau này mình đối diện với một người, người đó chưa nói gì mình nhìn vào mình biết bản chất người đó. Tự nhiên nó phát sinh, tại mình biết mình càng rõ thì tự nhiên mình biết người càng rõ, dù mình không muốn. Cho nên ở đây đó, cái gọi là thần thông trong đạo Phật á nó chưa có lỗi. Nó chưa có lỗi nếu mình tu đúng, nó phải có thôi. Tuy nhiên, cái người mà lấy thần thông làm mục đích thì người đó là tà.

[1:02:25]Không lấy thần thông làm mục đích, tu đúng giải thoát mà có thần thông, đó là người tu đúng, tu đắc lực. Còn nhắm tới thần thông, đi tìm thần thông, chấp thần thông thì đó là tà. Cho nên thần thông chưa có lỗi nha. Ai nói mà có thần thông là tà cũng là sai đó. Ở đây mà chúng ta biết mình càng rõ thì tự nhiên mình biết người càng rõ. Nên các thiền sư có nói câu nói là: "Như một tấm gương trong, Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán." Có nghĩa là một tấm gương vậy đó, cái người Ấn Độ tới cái nó hiện ra trong là người Ấn Độ, cái người Trung Hoa tới cái nó hiện ra là người Trung Hoa. Thì tâm mình cũng vậy, nó như một tấm gương trong á.

[1:03:04]Cái người tốt vừa tới trước mặt mình, mình biết đây là người tốt; cái người xảo trá vừa bước tới, mình nhìn vô biết là người xảo trá. Đó là cái cái trí tuệ nó làm cho mình khôn ngoan ứng xử bên ngoài và làm mình tăng thêm khả năng trực giác. Rồi ví dụ như cái trí tuệ nó làm cho mình sinh cái gì? Phát sinh cái gì? Hồi nãy nói rồi. Trí tuệ nó sinh ra gì?

[1:03:30]Sinh ra cái gì nữa?

[1:03:35]Sinh định, đúng rồi. Rồi từ cái định này đó, bắt đầu nó làm cái gì? Nó làm cho cái thông minh phát triển, nó làm cho cái trí nhớ tăng thêm được nhiều. Khi trước kia mình ít nhớ, nhưng mình tu thiền một thời gian, tâm mình định rồi cái sức nhớ nó tăng lên. Đây tức là cái có thật. Bây giờ mình nói qua cái nhân quả trong cái khả năng tinh thần. Một người mà thông minh á thì theo mà cái nhìn của sinh học, của khoa học thì nói là do cái gì? Do cái gì? Do cái bộ não tốt phải không? Mà bộ não tốt là do cái gen di truyền của cha mẹ tốt. Nhưng mà nhìn trên cái nhân quả thì sao? Người đó gieo những cái nhân lành,

[1:04:24]thường là mình biết được cái gì mình truyền đạt hết, mình không giấu giếm. Ai muốn học thì mình giúp đỡ sách vở, giúp đỡ điều kiện phương tiện để cho người ta học. Thì những người đó đời sau tự nhiên mình lọt vào một cái gia đình có cha mẹ có cái gen thông minh. Đó là cái nhân quả. Chúng ta thấy trên đời này có nhiều trường hợp lạ lắm nha. Có người học dở ẹc mà đối xử cuộc đời rất là khôn ngoan. Tại sao biết không? Cái nhân quả gì?

[1:05:04]Có lần tôi nhớ, tôi có người bạn học lúc còn đi học á, cái người này học dốt ghê gớm. Thi cử không biết, làm bài thì phải quay cóp. Thì cái nói chung là rất là dở, nhưng mà đánh cờ tướng thì không ai đánh lại. Chính tôi cũng ngạc nhiên. Còn bản thân tôi thì tôi nói cũng hơi khoe thì tôi học tương đối khá. Nên mấy người bạn tôi mà đánh cờ tướng, tôi lại tôi đứng gần cái họ sợ liền, "Cha, sư phụ tới, sư phụ tới", tại tưởng tôi là sẽ rất giỏi mà kỳ thực tôi lại rất dở cờ tướng. Họ đi một nước họ tính bao nhiêu nước, mình không hiểu nổi cái mưu cái tâm của họ. Mà cuộc đời cũng vậy, tôi là một người khờ khạo.

[1:05:43]Chứ nhìn mặt coi lanh lanh vậy chứ ngu lắm. Tóm lại, đây là cái nhân quả thôi. Cái nhân quả là có những người đó họ học trong trường giỏi mà ra đời làm không thành công; có người họ học trong trường dở mà ra đời họ rất giàu có và rất thành công. Tại sao vậy? Tại mỗi cái nhân nó sinh ra một cái quả nào đó thôi. Họ có cái nhân để học giỏi mà không có cái nhân để thành công trên đời. Mà người có cái phước thành công trên đời đó tự nhiên họ, lúc đó đúng cái thời điểm của phước họ, họ rất khôn ngoan. Họ tính đâu được đó, tính đâu được đó khi phước còn á; còn khi phước hết thì sao? Tính là trật. Cho nên cái mà sắp xếp, cái tính toán của mình đó,

[1:06:23]mình tưởng là nó dựa vào cái trí của mình hả? Sự thật nó dựa vào cái phước. Người có phước á tự nhiên mình tính đi đúng, mà người không phước á tính đâu sai đó. Người có phước á tự nhiên khôn ngoan lên, người không phước tự nhiên nó ngu đi. Cái nhân quả. Bây giờ cái người mà đố kỵ cái quả báo nó sẽ như thế nào? Ai biết?

[1:06:51]Cái người mà có tâm đố kỵ, quả báo sẽ ra sao?

[1:07:02]Trả lời đi, cứ mạnh dạn trả lời cho lớp học nó sôi nổi.

[1:07:10]Mời cô. Có ai có ý kiến gì nữa không?

[1:07:21]Thư Hạnh.

[1:07:25]Cái cô... Cô này tên gì thầy quên rồi? Liên gì? Liên Nhường. Cái chữ Nhường chữ Nôm hay là... Chữ Nhường tức là không đố kỵ đó. Bây giờ thầy hỏi: người có tâm đố kỵ thì quả báo

[1:07:55]làm

[1:07:59]sao? Ghê! Ghê gớm ghê á. Hù ghê quá vậy? Hù hăm dọa ghê quá vậy? Ai có ý kiến gì nữa không? Cái đó là cái...

[1:08:25]cái nhân quả hiện đời, thực ra thì muốn nói cái nhân quả nhiều kiếp. Thì để tôi nói nghe. Cái người có tâm đố kỵ là người không muốn cho người khác giỏi, không muốn cho người khác thành công, phải không? Thì quả báo chính mình sao? Nhiều kiếp sau không bao giờ giỏi, không bao giờ thành công. Cho nên ở đây chúng ta tu hành cái tâm nguyện đầu tiên là mình nguyện cho huynh đệ mình giỏi hơn mình hết, để diệt cái tâm đố kỵ trong lòng mình. Cho nên sau này mà khi huynh đệ mình có cái tiến bộ gì lên mình rất là mừng. Đó là cái nhân tốt cho chính mình đó. Chứ còn mình không có cái lời nguyện đó lót đường đó,

[1:09:06]coi chừng cái tâm đố kỵ nó chi phối ngấm ngầm mà mình không biết. Ừ, để ý điều đó. Tôi nhớ hồi xưa chưa vào chùa tu, tôi được sai làm hương đăng. Mới còn... mới vào chùa được sai làm hương đăng, quét dọn bàn Phật. Thì thật ra trước khi vào chùa tu thì mình cũng có học hỏi nhiều, chứ không, tương đối cũng khá. Chợt một hôm, tôi sợ một điều, tôi nói: "Biết đâu đến lúc nào mình sẽ đố kỵ, sợ người khác giỏi hơn mình? Mình sẽ đố kỵ. Bây giờ thì chưa thấy ai giỏi hơn mình nên mình không đố kỵ, nhưng một ngày nào đó một người nào đó đến giỏi hơn mình, mình sẽ đố kỵ. Bây giờ phải làm sao đây? Từ bây giờ chuẩn bị để cho cái chuyện đó tới,

[1:09:51]mình không bị không bị cái đố kỵ nó khởi lên." Mỗi ngày tôi làm hương đăng thì tôi nguyện là: "Đem công đức mà làm hương đăng lau quét tượng Phật, trang nghiêm hình Phật thế này hồi hướng cho các huynh đệ đều giỏi hơn con, con nguyện cho mọi người tu giỏi hơn con." Cho nên sau này mà gặp những người huynh đệ tu giỏi hơn thì tôi rất là mừng, tại vì mình đã lót đường mình chận trước, không cho cái tâm đố kỵ nó khởi lên. Vì tâm đố kỵ nó phá tan công đức nhiều lắm. Rất là nguy hiểm. Bây giờ nói về trực giác. Trực giác thì hôm nay mình không có thì giờ để nói nhiều. Lần khác thì nói kỹ hơn. Trực giác là cái biết mà không qua suy luận.

[1:10:35]Nó giống như thế này, hãy giống như một cái kính hiển vi. Ví dụ như cái người á mà họ có kính hiển vi á, họ thấy được cái hạt bụi nó rõ ràng. Mình với con mắt thường thì mình không thấy được cái hạt bụi đó. Thì người có trực giác cũng vậy, một cái biểu hiện rất nhỏ nơi cái người kia, họ biết được liền. Ví dụ như cái người kia có cái tâm là hay hờn mát, hay giận nhẽo, ở đây có ai có không? Coi chừng có người có. Hay hờn mát, hay nhõng nhẽo. Thì cái biểu hiện nó ra bên ngoài không ai thấy vì nó quá ít đi, nhưng mà người có trực giác họ nhìn vô họ thấy liền. Nhìn là họ thấy. Mặc dù cái biểu hiện ở bên ngoài mình nhìn mình

[1:11:20]không thấy, cái điểm biểu hiện rất nhỏ. Nhưng người có trực giác giống như có kính hiển vi á, nó phóng đại nó lớn lên những cái biểu hiện đó để mình đánh giá được. Ừ. Còn cái người tánh hay kênh cũng vậy, hay kênh đời. Bên ngoài mình nhìn thấy bình thường nhưng người có trực giác, họ nhìn cái mặt một biểu hiện rất là nhỏ nhặt coi như họ đọc được liền, họ thấy. Nên trực giác là thấy được những cái, những biểu hiện rất nhỏ mà người khác không thấy được, là trực giác. Thôi, về sau thì mình qua những bài khác thì mình nói nhiều. Hôm nay chúng ta học cái bài kinh Sonadanda, bài kinh trong Trường Bộ Kinh II,

[1:11:58]là bài mà tôi chọn là bài đức căn bản của người tu. Trí tuệ và đức hạnh là hai điều không thể thiếu. Trí tuệ hoá giải được phiền não làm cho mình có đức hạnh. Mà người giữ đức hạnh đúng là người phải có trí tuệ. Thấy điều đó. Nên chủ yếu của cái bài kinh Sonadanda nói về trí tuệ, đức hạnh, tức là cái việc quay lại kiểm soát chính mình. Từ căn bản này rồi nói trời nói đất thì nói, chứ đừng có mà nói trí tuệ là nói mênh mông trời đất nha, cái đó tôi không hiểu, tôi không biết, tôi chê ngu đó. Phải mà biết chính mình thôi. Bây giờ ghi cái câu hỏi về làm bài: "Hãy nói về trí tuệ và đức hạnh."

[1:12:41]Nhớ bài nào mà dưới 4 trang là tôi không có chấm nha. Học với tôi là viết càng dài tôi càng cho điểm nhiều. Phải nói về trí tuệ. Mình nói nhiều mới có nhiều vấn đề để đào sâu mà mình tập lý luận, tập đào sâu vấn đề. Còn nói quá ít thì không có gì, và sau này mình không giảng cho người ta nghe được. Người viết nhiều á, sau này mới giảng cho người khác nghe được. Cho nên á dưới 4 trang là coi như là tôi không có nhận bài nha. Là 4 trang giấy học trò này nè, mà nếu dưới 4 trang là tôi không có nhận nha. Từ 4 trang, 5 trang, 6 trang, 8 trang, 10 trang, càng dài càng cho điểm nhiều.

[1:13:23]Bởi vì sau này khi mà cuối học phần á, tôi sẽ bắt làm cái luận văn dày bằng quyển tập này. Nhớ điều đó. Nên tôi cho biết trước là học với tôi rất là cực, không có nhàn được đâu. Không phải là ngồi nghe đâu, mà phải cày còn hơn cày ruộng nữa. Bây giờ có ai hỏi gì? Ai hỏi gì giải đáp, gần hết giờ. Có ai thắc mắc gì về bài học này không?

[1:13:50]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.