[0:10]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nay chúng ta bắt đầu qua phần thứ hai của hoằng pháp là đi vào phương pháp diễn giảng. Dĩ nhiên là chúng ta phải nhớ, sở dĩ mà ta có thể ứng khẩu, nói lưu loát luôn cả tiếng đồng hồ, chính vì ta có cái bề dày của sự đàm đạo, đó là có hỏi, có đáp. Nếu không có cái căn bản đàm đạo thì ta không có thành tựu được cái việc mà ứng khẩu diễn giảng. Nên ai mà thiếu tập cái phần đàm đạo thì phải ráng tranh thủ mà tập. Khi có dịp, phải luôn luôn mà ráng đàm đạo với người này, người kia. Cái giai đoạn này mình hơi nói nhiều một chút, nhưng phải tập. Khi nói về công việc hoằng pháp
[0:57]thì cái hình ảnh mà lý tưởng nhất, đẹp đẽ nhất, chính yếu nhất, chính là hình ảnh của một người giảng sư là đứng trên bục giảng, hoặc là ngồi trên pháp tòa mà thao thao bất tuyệt, lời lẽ tuôn tràn đạo lý như mây như mưa không dứt, làm cho thính chúng phải ngơ ngác, phải ngẩn ngơ, phải thích thú, phải say sưa theo dõi. Thì đó là hình ảnh mà đẹp đẽ nhất. Chính như ngày xưa, Đức Phật cũng giáo hóa bằng cái công việc mà thuyết pháp. Lâu lâu có hỏi, có đáp, nhưng mà Ngài cũng đã thuyết lên những bài pháp rất là dài, để lại những cái kinh điển lưu truyền cho tới ngày nay. Khác với việc đàm đạo, ví dụ khi đàm đạo,
[1:43]ta độ được chừng một người, hay hai ba người, hay một nhóm nhỏ ngồi nói chuyện với nhau. Còn khi diễn giảng thì ta thuyết pháp, giáo hóa cho cả một số đông cử tọa. Có khi có những pháp hội đã lên hàng tới bao nhiêu ngàn người, vân vân. Nên cái ảnh hưởng của cái việc mà diễn giảng rất là lớn. Và đó là đỉnh cao của cái việc hoằng pháp mà tất cả chúng ta cũng đều phải nhắm tới. Tức là sau này, khi bước vào làm công việc hoằng pháp thì ai cũng phải nghĩ tới cái lúc mà mình cũng đứng trên bục giảng, phải ngồi trên pháp tòa để mà tuyên dương chánh pháp, cái ngày đó bắt buộc phải tới. Nhưng mà giảng sư, nói diễn giảng thì có hai hình thức hay hai loại:
[2:31]Một là giáo thọ sư, và hai là giảng sư. Giáo thọ sư là sao? Giáo thọ sư thường là dạy trong những lớp học được tổ chức có nề nếp, và người theo học hầu hết là Tăng Ni, là những người ham học, có đăng ký học, và chịu khó học, có tập trung, có ý thức, có trách nhiệm trong việc học. Mà nếu không học thì bị gì? Bị phạt. Cho nên là dạy trong cái lớp mà dạy cho Tăng Ni để làm giáo thọ sư, cái khó là để trở thành một giáo thọ sư, người này phải kinh qua cái nền học vấn rất là vững chắc. Vì không thể lên lớp dạy cho Tăng Ni mà cái trình độ mình kém quá, chỉ được cái miệng nói lanh là không được. Không phải là chỉ có miệng nói lanh mà làm giáo thọ được.
[3:24]Muốn làm giáo thọ thì ngoài cái miệng nói giỏi, còn phải có kiến thức vững vàng để dạy cho Tăng Ni, bởi vì dạy cho Tăng Ni là đào tạo nên những người làm thầy sau này. Do đó, làm giáo thọ khó là cái học vấn á, cái nền học của mình có trường lớp, có sách vở, có căn bản, có chiều sâu. Nhưng mà khi dạy rồi thì lại dễ. Dễ ở chỗ nào? Dễ ở chỗ là Tăng Ni là những người bắt buộc phải học. Không học là bị phạt. Tăng Ni sinh là coi như bị đẩy, buộc phải học. Nên người giáo thọ sư không bị áp lực về tâm lý, cứ không bị áp lực là phải dạy cho hay để lôi cuốn được Tăng Ni sinh đến lớp. Họ chỉ có bổn phận là là dạy cho có kiến thức
[4:08]thôi, mà không bị áp lực là phải giảng cho hay. Nên ta thấy đa phần giáo thọ sư họ không bị áp lực phải giảng cho hay, nên khi giáo thọ sư mà bước ra ngoài giảng cho thính chúng lại giảng không thành công, bởi vì họ quen không bị áp lực. Còn giảng sư tự do đó, giảng sư mà giảng cho cư sĩ á, thì ngược lại, là nhiều khi không cần đòi hỏi cái bằng cấp hay nền học vấn nhiều, mà chỉ nói hay hay, rồi cái chùa nào thấy thích họ cứ mời mình lên giảng đại thì mình cũng thành giảng sư. Tức là một cái chùa nào đó họ nói: "Nay tôi có Bát Quan Trai, mời thầy lại giảng một bữa cho vui." Lại lên mấy chục người mình giảng cũng thành giảng sư.
[4:43]Nghĩa là ngược lại, là chùa nào mời mình cũng giảng được, miễn là nói lanh lanh, hay hay, rồi nghe người ta chịu là được. Quan trọng cái người ta chịu, không biết tại sao người ta chịu, cái tiêu chuẩn nào thì không có, không cần. Hễ người ta chịu là nói: "Ờ, ông thầy đó ổng giảng sư." Đơn giản. Nhưng mà sau đó thì lại rất là khó. Phía sau rất là khó. Phía sau là cái người mà nghe đó là thính chúng tự do, họ không bị bắt buộc phải đến lớp, phải không? Hễ thầy giảng hay tôi tới nghe, không hay thì sao? Nghỉ. Do đó, người giảng sư tuy là cái điều kiện ban đầu là cái nền học vấn không đòi hỏi phải cao, nhưng mà lúc giảng thì cái áp
[5:20]lực là phải giảng cho hay, áp lực nó nặng khủng khiếp lắm. Ta giảng làm sao á, ông thầy trụ trì ổng mời một lần á, rồi ổng bắt đầu ổng nghe ổng hỏi Phật tử á: "Sao ông thầy đó giảng được không con?" Phật tử nói: "Dạ, ổng giảng chán quá thầy ơi, buồn ngủ quá." Rồi là vĩnh viễn từ đây không thấy nhau nữa, phải không? Từ đây mãi mãi không thấy nhau nữa, mà nghỉ luôn, làm giảng sư một bữa à. Hoặc là mới đầu giảng này còn được được, thì không có ai ông thầy cứ mời, mới đầu cái pháp hội của người ta 150 người, mời mình giảng riết riết riết, một ngày đẹp trời đếm lại còn 5 người ngồi, không ai tới nữa, thôi cũng bãi luôn.
[5:49]Thành thử phải giảng cho hay! Phải giảng cho hay. Thì cái vấn đề mà gọi là giảng cho hay á là cả một cái vấn đề khó, không phải dễ. Nên hai cái người giáo thọ sư và giảng sư khác nhau ở chỗ đó. Sau này khi quý thầy ví dụ mình có cái nền học vấn vững rồi, mà bắt đầu biết đi giảng rồi, thì thường mình phải có cả, có cả hai trường hợp đó hết, mình đều xử lý cả hai. Có khi trường họ mời mình phải đi dạy là thành một giáo thọ sư, thì cách dạy khác, không bị áp lực giảng cho hay, nhưng mà kiến thức phải uyên thâm. À, rồi có khi cái chùa nào mời để mình giảng cho thính chúng, cho cư sĩ tự do thì cái áp lực mà giảng cho hay rất là nặng nề.
[6:27]Nên nói chung là chúng ta phải xử lý được cả hai tình huống, làm giáo thọ cũng được mà làm giảng sư cũng được. Mà cả hai cái nào cũng có cái khó của nó. Nhưng mà nói gì nói chứ ví dụ bây giờ nói một giáo thọ sư đứng trước lớp Tăng Ni, không bị cái áp lực là phải giảng cho hay, tại vì Tăng Ni bắt buộc phải học mà, chỉ cần giảng coi có đầy đủ kiến thức. Tuy nhiên, cái máu nghề nghiệp thì chẳng ai muốn giảng dở hết, phải không? Dù là bước vào lớp dạy Tăng Ni, Tăng Ni bị bắt buộc phải học á, nhưng mình cũng không có muốn là giờ học của ông thầy đó, ôi trời ổng giảng chán quá nè. Nên buộc lòng là dù là dạy Tăng Ni chứ mình phải
[7:05]ráng, cũng phải giảng cho hay, phải không? Rồi còn đi ra ngoài giảng cho cư sĩ, cũng phải giảng cho hay. Tại giảng không hay là người ta không tới nữa. Phải giữ cho cái chùa đó cho thịnh. Giữ chùa cho thịnh bằng cái gì? Bằng giảng cho hay thôi. Giảng hay Phật tử mới tới nghe, còn giảng không hay Phật tử không tới chùa nữa, thì mình phá tiêu cái chùa người ta luôn, bằng những lời giảng rất là êm ái của mình mà tiêu luôn không được. Phải giảng làm sao càng lúc người ta càng tới chùa đó. Chứ giảng rồi người ta vĩnh biệt chùa luôn coi coi như thất bại. Tuy nhiên, giảng cho hay là làm sao? Làm thế nào là giảng cho hay?
[7:39]Cái chữ "hay" nó rùng rợn lắm, khó định nghĩa lắm, không phải dễ. Trên đời có nhiều cái chúng ta không định nghĩa được. Ừ. Như có ông nhà thơ nói: "Làm sao định nghĩa được..." gì đó, "...được tình yêu" đó. Có những cái không định nghĩa được. Kì tới chúng ta sẽ học về chữ "yêu". Cái bài thứ hai á. Cái bài hôm nay nó nhẹ nhàng, hôm nay chỉ là một bài khái niệm, nên quý thầy không cần phải làm bài tập. À, quý thầy chỉ lo làm bài trả nợ những bài trước, lo thi học kỳ. Nhưng bắt đầu từ bài thứ hai, tức là bài 12 á, bữa nay là bài 11 Hoằng Pháp, tới bài 12 Hoằng Pháp bắt đầu quý thầy phải làm bài tập, và làm rất là vất vả, báo trước.
[8:18]Tại vì tôi soạn bài của bài soạn bài cực lắm, quý thầy cũng phải làm bài rất là vất vả. Thế nào là một bài giảng hay? Hay làm sao định nghĩa được từ "hay" đó? "Có nghĩa gì đâu một buổi chiều", nghĩa là không không không định nghĩa được. Nó là cả một cái rừng bao nhiêu là bí quyết trong đó, bao nhiêu là kiến thức, bao nhiêu công đức, à bao nhiêu là phương pháp, bao nhiêu là cái duyên, rất nhiều ở trong đó mới thành một bài giảng hay chứ không có dễ. Và chính vì cái khó để tạo nên một bài giảng hay, và cái hiệu quả của cái bài giảng hay rất là lớn, cho nên người ta đã dùng cái chữ là "đãi Phật tuyên hóa" gán cho một người giảng sư.
[9:01]Đãi Phật tuyên hóa là gì? Là thay Phật mà mà giáo hóa chúng sinh, tuyên dương giáo hóa chúng sinh. Tuy nhiên, đi làm giảng sư rồi thì ai cũng phải ráng mà giảng cho hay. Nó có cái điều thế này: nhiều khi người ta hay phân biệt, ví dụ như là: giảng sư cấp quốc gia, tức là người này giảng là cả nước nghe. Cái cấp độ này cả nước, người trí thức cũng nghe mà người bình dân cũng nghe được. Rồi giảng sư cấp tỉnh, tức là người này giảng mà nổi tiếng trong tỉnh đó, ra ngoài tỉnh người ta chê. Rồi tới bắt đầu cái cấp cấp huyện, quận, rồi cấp chùa, tức là giảng được một chùa thôi qua chùa khác không ai mời.
[9:47]Nghĩa là người ta tạm người ta phân biệt thế, nhưng sự thật không có phải. Cái định nghĩa theo cái cấp này là trật á. Ví dụ bây giờ cái ranh giới giữa hay dở nó mong manh thế này: ví dụ ở đây mình giảng là dở nè, ở đây mình giảng hay. Ừ. Ví dụ bây giờ mình giảng á, mình giảng một hai năm đầu cái nó cứ lình xình chỗ này: hơi dở, gần hay, dở, gần hay. Rồi thì cứ giảng ở chùa mình thôi, chứ chả đi đâu, tức là mình giảng một ngôi chùa. Nhưng một hôm bỗng nhiên ông ứng bà hành, bỗng nhiên tài năng phát tiết rồi ha. Bữa đó bỗng nhiên trăm hoa đua nở, ánh sáng bừng chiếu, bỗng nhiên mình giảng hay. Bắt đầu bước qua được giảng hay, nghĩa là bước được qua cái vị trí giảng hay rồi.
[10:23]Thì cái bài giảng hay này mình đem qua chùa khác người ta cũng nghe làm sao, thấy làm sao? Cũng hay. Qua quận khác làm sao? Cũng hay. Qua tỉnh khác làm sao? Đem ra cả nước cũng cũng hay. Cho nên hễ làm giảng sư dở thì cứ ở một chùa mà giảng, nhưng hễ hay rồi là biến thành cấp quốc gia liền, không hề có ranh giới. Không hề có ranh giới là ở đây là cấp quốc gia, ở kia là cấp huyện, cấp tỉnh, không có. Một bài giảng hễ một dở thôi không ai nghe, mà hễ hay một cái là cả nước công nhận, mà không phải cả nước công nhận, cả nước ngoài cũng công nhận. Tại vì cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng rất là nhiều.
[10:58]Hễ một bài giảng nào mà hay rồi thì ở đâu có người Việt Nam người ta đều khen là hay. Mà nếu dịch ra tiếng nước ngoài, có khi người ta cũng khen hay luôn. Nên chỉ cần cái ranh giới bước qua một cái thôi, là hôm nay mình đang làm giảng sư dở mà giảng một bài hay rồi là trở thành quốc tế luôn. Nó vậy, nhưng mà sao bước qua được cái ranh giới này, ranh giới mong manh, làn sương mờ không thấy vậy nè nhưng bước không qua, bước không qua. Cái thời đại ngày hôm nay á thì các chùa bắt đầu ý thức cái việc mà giảng pháp. Cho nên là hầu hết các chùa đều có tổ chức thuyết pháp, nhất là tỉnh Long An chúng ta là Ban Trị sự rất là nặng lòng trong việc hoằng
[11:36]pháp, nên quý thầy hay tổ chức cái những buổi diễn giảng ở chùa này chùa kia để mà cho quý thầy trẻ lớn lên bắt đầu đi đi làm việc, cũng bắt đầu đi giảng. Do đó sau này tăng ni sinh chúng ta có nhiều cơ hội để đăng đàn thuyết pháp hơn hồi xưa. Hồi xưa thì nhiều khi các chùa người ta ít có quan tâm tới việc thuyết pháp, cứ lo trai tăng cúng dường xây cất gì đó, ít có quan tâm. Nhưng sau này thì ta thấy rõ ràng là đạo Phật phải năng động, phải tìm cách truyền bá giáo lý chứ không thể là ở yên được. Nên vì vậy là các chùa bắt đầu mở mang, tổ chức Bát Quan Trai rồi khóa tu rồi vân vân, và đó thường xuyên thuyết pháp.
[12:22]Thì chính nhờ mà các chùa hay thuyết pháp như vậy nên làm cho người ta ta hiểu đạo nhiều. Và dĩ nhiên là cái cơ sau này là cái cơ hội để thuyết pháp sẽ đến với chúng ta rất là nhiều. Quý thầy lớn lên chút xíu sẽ cảm thấy là được chùa này chùa kia mời thuyết pháp. Mà lúc đó mới thấy cái áp lực mà phải giảng một bài giảng hay rất là rất là nặng nề, rất là khủng khiếp. Giảng xong rồi, mình giảng thì luôn luôn mình thấy hay, nhưng mà người nghe thì làm sao? Không biết hay hay không à, bắt đầu phải đi hỏi: "Sao thầy giảng hay không con?" "Dạ, thầy giảng hay!" Rồi thôi không cười, không nói gì hết trơn là biết ngay rồi đó, cái lời khen lấy lệ.
[13:02]Giống như ông nhạc sĩ đặt một bài nhạc: "Thầy đặt bài nhạc này hay không con?" "Dạ hay chứ thầy!" Rồi mặt lạnh như băng là biết rồi đó, cái chữ "hay" đó không có thiệt, không có bảo chứng. Và tất cả chúng ta đều tự đánh giá cao về mình, nhưng mà sự thật thì người khác đánh giá không phải như vậy. Và rồi người ta thăm dò người ta thăm dò cái đó. Người ta làm một cuộc thống kê thăm dò. Người ta gặp một ông già, người ta mới hỏi ông già: "Ông nghĩ rằng là cái lòng thương người của ông là được bao nhiêu phần trăm cho tới ngày hôm nay?" Ông nói: "Tôi rất là thương người, lòng thương người của tôi mà nếu
[13:34]tôi tự đánh giá là 80%." Thì cũng cái nhà báo đó họ đi qua họ hỏi hàng xóm, hỏi mấy hết người hàng xóm nói: "Ông đó ổng thương người chừng mấy chục phần trăm?" Nói: "Ổng thương người chừng 30% à." Rớt xuống liền, rớt giá liền từ 80% rớt xuống 30%. Rồi hỏi ông già đó, nói là: "Ông thấy ở tuổi này rồi mà cái tính năng nổ, nhanh nhẹn của ông còn chừng bao nhiêu phần trăm?" Nói: "Tôi già chứ tôi cũng rất là năng nổ, nhanh nhẹn, tôi còn khoảng 60%." Đi qua hàng xóm hỏi: "Ông đó ổng năng nổ, nhanh nhẹn chừng bao nhiêu phần trăm?" Thì người ta nói: "Thôi còn chừng 20% à, chứ lụ khụ rồi." Nghĩa là nghĩa là cứ hỏi
[14:08]ổng mà hỏi hàng xóm thì luôn luôn cái khoảng cách rất là xa. Thì chúng ta mới biết rằng con người ta có một cái tâm lý là là là là khen mình, khen mình, luôn luôn đánh giá mình cao hơn là hàng xóm. Và như vậy cái tiêu chuẩn thực nằm ở đâu? Nằm ở đâu khoảng giữa, phải không? Tức là mình đánh giá mình cao hơn thực tế, mà người ta đánh giá mình thì thấp hơn thực tế, như vậy là ở khoảng lưng chừng giữa giữa có thể là con số chính xác về những điều tốt của mình. Hoặc một bài giảng hay nó cũng vậy. Chúng ta cố gắng giảng một bài cho thật hay để mọi người hài lòng, vui vẻ vì nó thành một cái áp lực. Đứng trên bục giảng là tự nhiên buộc phải giảng hay.
[14:46]Giảng mà không hay mình đau khổ, dùng tới chữ đau khổ nha, chứ không còn hơi khó chịu nữa. Thì sau này chúng ta đều phải giảng. Cái chữ "hay" là gì? Là một bí mật của trời đất. Cũng giống như có nhiều người hỏi tôi làm nói: "Thầy làm sao soạn bài nhạc cho hay?" Tôi nói: "Đây là một bí ẩn của tạo hóa." Thì tôi mới nói là: "Khi tôi soạn nhạc, tôi luôn luôn giữ cái cảm quan của trẻ thơ." Tức là con nít nó chả biết gì về nhạc, mà nghe một bài nhạc tự nhiên nó biết hay, biết dở, đúng không? Quý thầy có thấy vậy không? Nhiều khi nghe bài nhạc tự nhiên thấy bài này hay, nghe cái mình biết cái bài kia dở.
[15:22]Có đồng ý không? Cái đó nó là một cái gì tự nhiên á, mà hỏi tại sao mình biết bài này hay, dựa vào đâu biết bài kia dở, thì đứa bé trả lời sao? Nói: "Nó không biết", phải không? Tự nhiên thấy hay à. Hỏi: "Tại sao hay?" Ví dụ từ nhỏ mình nghe cái bài: "O e con ma đánh đu, Tặc-dăng nhảy dù, Thằng Lằn bắn súng" gì đó, nghe hay, tại cái điệu nhạc nó hay, biết hay. Hỏi: "Tại sao hay?" "Hổng biết, thì biết hay thôi." Thì cái hay là một bí ẩn. Cho nên nói là khi tôi soạn nhạc thì tôi luôn giữ cái cảm quan của trẻ thơ, thoát ra khỏi chính mình để mình coi coi, đi một dòng nhạc viết ra rồi mình thoát ra, mình như một đứa con nít bên ngoài
[15:58]đứng nghe là dòng nhạc đó hay hay không. Nếu hay thì làm tới, còn không hay bỏ. Thì cái bài giảng mà hay rất là khó, bởi vì nó nguyên bài giảng dài. Khi chúng ta giảng á, chúng ta sẽ gặp hai thành phần nghe giảng. Tạm chia làm hai thành phần: một là người trí thức, hai là người bình dân, bình dân, trí thức. Cái người trí thức á để để làm cho họ thích, à cái chữ "thích" tức là hay đó nha, nghĩa là cái người trí thức mà làm cho họ nghe một bài giảng họ thích á thì bài giảng đó phải là gì?
[16:35]Mới lạ, rồi sâu sắc.
[16:41]Mới lạ là sao? Tức là mình nói những điều mà họ chưa biết. Nghĩa là dù họ là người trí thức, họ đã đọc sách nhiều, họ cũng đã đi nghe giảng nhiều, vậy mà khi tới ngồi nghe mình giảng họ nghe những điều chưa từng nghe nói, chưa từng đọc tới, mới lạ, mà hợp lý, mà sâu sắc thì họ mới thích. Thích tức là hay, bài giảng đó hay. Quý thầy đồng ý không? Quý thầy để ý cái điều này nha, cái chi tiết này rất là quan trọng vì sau này quý thầy sẽ phải đối diện. Khi mà đi giảng có người trí thức, người bình dân thì người trí thức họ đòi hỏi điều này, nghĩa là họ học hết thiên kinh vạn quyển, họ đọc hết đát hết trơn bao nhiêu sách trên đời này,
[17:18]họ đi nghe nhiều pháp hội nhưng mà tới chừng nghe mình giảng vẫn thấy mới lạ, chưa nghe ai nói câu này, mà nghe hay, lạ, sâu sắc. Đây đây là là chúng ta chinh phục được người trí thức. Nhưng còn người bình dân thì sao? Còn người bình dân thì họ cần cái gì?
[17:36]Người bình dân họ cần một bài giảng dễ hiểu, gì nữa?
[17:43]Hồi sáng có một cô trả lời được: tiếu, cô dùng chữ tiếu, nhưng mà sự thực là vui tươi. Thế là người bình dân thì hay là không đòi hỏi nhiều cái sâu sắc, nhưng mà giảng thì giảng dễ hiểu ha. Giảng dễ hiểu, nghe không có mờ mờ. Còn đi nghe nhiều ông thầy giảng, ổng dùng cái từ khó nghe quá, không biết ổng nói chuyện gì không biết gì hết. Nó là khó hiểu là ngủ liền. Còn nếu giảng mà nghe cái gì rõ ràng, rành mạch, dễ hiểu, gần với đời sống của họ, gần với tư duy của họ là họ thích. Mà giảng ông thầy giảng vui ha, ông thầy giảng vui thiệt, cười thoải mái, thành công. Thì người bình dân đòi hỏi này, người trí thức đòi hỏi này.
[18:23]Và chúng ta phải giảng làm sao cho cả bình dân và trí thức đều... đều mê. Đều mê. Tại vì chúng ta không thể lựa thành phần thính chúng được. Không thể hôm nay nói chùa có tổ chức buổi giảng chỉ dành cho người trí thức, người bình dân đừng tới, được không? Mình có thông báo vậy được không? Hoặc là hôm nay chùa tổ chức, chùa Thiên Khánh tổ chức thuyết pháp dành cho người bình dân, người trí thức đừng tới, được không? Không. Mình nói hôm nay có tổ chức là có thầy Đức Hoàng thuyết pháp mời Phật tử tới nghe. Ai tới tới chứ làm sao mà lựa giờ, phải không? Rồi cái bà già trầu bên kia bả cũng xề xề qua coi ổng nói cái gì ha.
[19:02]Rồi người họ họ đi xe hơi vô cũng ngồi nghe coi ổng nói cái gì. Tức là đòi hỏi cả những cái này. Mà khi chúng ta giảng sâu sắc thì nó còn dễ hiểu nữa không? Còn không? Không. Hễ giảng tới sâu sắc, mới lạ thì bắt đầu không dễ hiểu. Những cái điều mà ông trí thức mà ổng còn chưa biết được bao giờ thì người bình dân có dễ hiểu không? Không. Đây là vấn đề. Mà một bài giảng nó phải có cái vức cảm hóa, có cái giới vức á. Chúng ta dùng chữ vức hay là cái giới vức hay là cái phạm vi. Phạm vi cảm hóa. Phạm vi cảm hóa mà nó càng rộng chừng nào, tức là người giảng sư đó càng tài ba chừng nấy, càng tạo nên công đức nhiều chừng nấy.
[19:46]Bởi vì một bài thuyết pháp của mình mà rất nhiều thành phần đều chấp nhận được, đều được ảnh hưởng, được ờ được được giáo hóa thì là cái người giảng sư đó tài ba, giỏi. Mà cái phạm vi phải cho lớn, cái vức phải cho rộng. Nghĩa là người đó giảng một bài pháp mà cái người bà già trầu bả ngồi nhai trầu bỏm bẻm bả ngồi ngoài hè chứ không thèm không thèm vô trong ngồi ghế, ngồi co chân cái đầu gối lên tới miệng bả mà ngồi bả nhai trầu, bả vẫn hiểu, bả thích: "A, ông thầy nói hay dễ hiểu". Mà cái người trí thức ờ mặc đồ bỏ thùng có cà vạt nghe vẫn gật gù: "Hay, hay!". Đó là thành công. Tức là cái phạm vi giáo hóa rất là rộng mới là thành công.
[20:20]Mà làm sao một bài giảng phải như vậy, mà nó là dung hòa vừa sâu sắc, mới lạ mà vẫn dễ hiểu. Nên sau này những bài sắp tới chúng ta sẽ học, chúng ta sẽ phân tích. Chúng ta khi giảng ta lựa từng từ một, từng cách nói một để làm sao cho vừa mới lạ mà vừa dễ hiểu. Đó là sau này. Còn nói về cái vức giáo hóa là cái phạm vi nó rộng á, giống như trong âm nhạc. Ví dụ nói cái người ca sĩ đó cái âm vực nó rộng hay người ca sĩ đó âm vực hẹp, nghĩa là thế này. Nghĩa là cái người đó ví dụ họ có thể hát lên cái nốt rất cao như pha hay son tuốt ở trên, mà họ hạ thấp xuống có thể là nốt phà hay nốt sòn ở dưới.
[20:59]Thấy họ phát hò... há... lên cao nghĩa là cái vức nó rất lớn. Thì nhưng mà có những người họ vức hẹp á, họ hát thì nốt thấp thôi, lên cao nữa họ bể, hoặc có những người chỉ hát nốt cao mà xuống thấp cái nó mất tiếng liền. Còn cái người ca sĩ mà cái vức rộng thì họ xuống thật thấp và lên thật cao được. Thì cũng vậy, một cái người giảng sư mà nếu cái cái khả năng diễn đạt của mình mà cái vức cảm hóa nó rộng là coi như chúng ta thành công lớn. Nhưng mà để làm một bài giảng vừa sâu sắc, mới lạ, vừa dễ hiểu, vui tươi là còn phải nghiên cứu rất là nhiều. Những bài giảng sắp tới chúng ta sẽ đi vào chi tiết từng chút, từng chút.
[21:40]Sau này chúng ta đi học và những bài sau này rất là khó. Thật ra là
[21:47]không riêng gì đạo Phật chúng ta khổ sở đi tìm những giảng sư hay, những bài giảng hay. Các tôn giáo khác cũng vậy. Tất cả các tôn giáo trên thế giới cũng đều khổ sở, lúng túng, loay hoay vì vấn đề này. Là các giáo sĩ của các tôn giáo cũng suốt một đời bị áp lực phải có một bài giảng cho hay. Tôn giáo nào cũng vậy hết. Tôn giáo nào cũng có cái nỗi khổ y như nhau về vấn đề thuyết pháp hết. Tuy nhiên, nơi đạo Phật chúng ta có cái được may mắn là giáo lý chúng ta mênh mông như biển, nên chúng ta có nhiều vấn đề để nói. Chúng ta có nhiều vấn đề để nói. Còn các tôn giáo khác, cái giáo lý của họ ít, đơn sơ.
[22:33]Cho nên mình nói căng ra một ông đó ổng giảng hay lắm chừng hai năm hết giáo lý. Người giảng giỏi á, chứ còn thường thường giảng ba tháng không có gì để nói nữa hết trơn. Giáo lý họ không có gì hết. Nhưng mà ổng phải làm thầy tu giảng một đời, nên cái áp lực nó nhiều quá, lâu năm quá rồi. Vì do đó cái giáo hội trung ương của họ phải xông vào giải quyết là bằng cách ví dụ như bên Vatican vậy, thì một năm có 52 tuần thì họ cho 52 đề tài sẵn luôn, 52 cái dàn bài sẵn luôn. Từ những năm trước họ đã soạn xong rồi và họ gởi xuống hết tất cả các nhà thờ luôn. Nghĩa là cứ trong 52 tuần đó, cứ mỗi tuần cứ giảng đúng như vậy.
[23:09]Thì cũng đề tài đó nhưng mà ở nhà thờ này ông cha giảng hay hơn chút, nhà thờ kia ông cha giảng dở hơn chút, nhưng mà cái sườn giống giống giống giống nhau. Cho nên đỡ phải vất vả đi tìm đề tài, vất vả ờ thì vậy. Tuy nhiên thì cũng không phải là hay lắm và người nghe của các đạo đó là bị bắt buộc. Con chiên tới ngày Chúa nhật phải sao? Phải phải bắt buộc phải đi nhà thờ. Nên cái áp lực đối với ông cha cũng không nhiều như là một thầy tu đạo Phật. Nghĩa là ông cha tới ngày ổng giảng, ổng cứ theo đề tài soạn sẵn ha, và thính chúng là bắt buộc phải có mặt. Cái áp lực tâm lý có bị nhiều không? Rất là khỏe.
[23:46]Tại đề tài là đã được giáo hội cung cấp, mà thính chúng thì mấy ông trùm bắt gom đầy đủ. Nhiều khi đi đến nhà thờ chả thèm nghe, nghĩa là đâu thèm vô trong nhà thờ, đứng ngoài sân, khoanh tay mặc đồ đẹp lượn qua liếc lại nói chuyện cà kê dê ngỗng, cha nói gì nói chả thèm nghe. Nhưng mà cứ ngồi đó có mặt, cứ đứng đó cho đầy sân giùm, đứng đầy sân giùm đi qua kẹt xe chơi. Vậy thôi là thành công, còn cha nói gì nói cha nói. Nhưng mà nói về sự đi lâu và chiều sâu không có hay. Tại vì nếu không thật sự đi vào cái tâm hồn người ta bằng đạo lý thì cái cái tôn giáo nó cũng yếu dần à, chứ không phải là mạnh nữa đâu.
[24:19]Ở bên ngoài coi vậy chứ bên trong yếu, yếu dần yếu dần hết trơn. Đến khi nào mà người ta đụng chạm đến thực tế cuộc sống mà đạo lý không giải quyết được thì tôn giáo bắt đầu vỡ liền. Còn đạo Phật của ta thì ta có cái giáo lý nhiều. Cái cái ưu điểm của ta là ta có nhiều đạo lý để nói, nhưng cái nhược điểm của ta là mỗi người phải tự bươn chải tìm đề tài mà mà giảng. Nên ta vất vả cái đó, ta không giống như các tôn giáo bạn ha. Một giảng sư bên đạo Phật phải vất vả bươn chải tìm từng cái đề tài giảng và giảng cho hay để lôi người ta tới chùa. Còn bên kia thì người ta buộc phải đi tới chùa, đề tài ở trên đưa xuống nên ông cha rất là khỏe, rất là khỏe.
[25:01]Cho nên chúng ta làm một thầy tu đạo Phật mà đại Phật tuyên hóa, đi tuyên giảng cực vô cùng. Áp lực tâm lý rất là nặng, đòi hỏi trí tuệ phải rất là sáng. Khó, khó rất nhiều. Nhưng mà nếu ta làm được điều này thì phải nói công đức ta rất là lớn. Thì cái việc mà mà dùng cái giáo lý để chinh phục tín đồ ở các tôn giáo khác coi vậy chứ không bằng đạo Phật, không bằng đạo Phật. Nếu mà căng ra, hai người cùng đi giảng song song với nhau, lần lần người ta theo đạo Phật hết à. Bởi vì đạo Phật có nhiều đạo lý. Tuy nhiên cái dở của đạo Phật là đội ngũ hoằng pháp ta không được tổ chức, không có đoàn kết mà nhiều khi xỉa nhau nữa,
[25:39]bên này làm khó bên kia, bên kia làm khó ông nọ, như vậy. Chứ người nổi như tôi thì cũng khổ thấy mồ luôn chứ đâu có sướng ích gì đâu. Ờ đi giảng mở mồm nói thầy giảng hay, ông thiệt không, cái thằng đó cấm giảng rồi nha, cứ vậy. Cứ xỉa qua xỉa lại hoài phát mệt trơn. Nên đạo Phật mình không có cái đoàn kết, nó dở là cái đó. Nhưng mà đạo lý ta thì phong phú nhưng mà về cái tổ chức của ta không có đoàn kết và nhiều khi phá lẫn nhau nên nó mất hiệu quả. Còn ở đạo khác người ta không có đạo lý nhưng người ta có tổ chức, và đồng thời người ta sử dụng thêm những phương tiện khác như tiền bạc, vật chất để họ lôi tín đồ.
[26:14]Họ đến họ cho tiền, cho gạo để dụ phải theo đạo, còn ta thì không đi con đường đó. Ta không bao giờ đi con đường đó. Nghĩa là nếu ta có đem tiền, đem gạo đến cho người nghèo chỉ bởi vì điều gì? Chỉ bởi vì tình thương yêu, lòng từ bi, chứ ta không phải là đem tiền, đem gạo cho mà để dụ họ theo ta để có tín đồ cho đông. Không phải chúng ta đi tìm tín đồ đông bằng một cái thủ đoạn. Nếu có cho tiền cho bạc là vì tình thương yêu, sự tôn trọng với nhau. Còn cái chính yếu để giáo hóa vẫn là vẫn là đạo lý. Đó, ngày xưa Phật cũng làm như vậy và bây giờ ta cũng làm như vậy, ta không đi khác Phật. Nghĩa là ngày xưa Đức Phật cũng vất vả đi nơi này nơi kia để nói lên đạo
[27:03]lý, chứ Đức Phật không có dùng cái uy quyền là Ngài là thầy của vua Bình Sa Vương để mà buộc những người khác phải theo mình, không. Ngài nói đạo lý, minh bạch, trắng đen rõ ràng, đúng sai, thiện ác để được mọi người bị thuyết phục mà theo. Chỉ trừ trường hợp mà Ngài phải sử dụng thần thông rất nhiều ở buổi đầu để khuất phục là ba anh em Ca Diếp thờ lửa. Sau khi Đức Phật đắc đạo một thời gian không lâu thì Ngài đi về cái vùng Uruvela để Ngài giáo hóa. Ở trong đó có ba anh em Ca Diếp, có 1.000 đệ tử và những người đó họ vừa thờ lửa, họ vừa tu khổ hạnh, vừa tu thiền định và họ chứng thần thông. Tức là ba anh em Ca Diếp bay được luôn, đi xuyên qua vách được luôn.
[27:42]Thì lúc đó một người mà muốn mà tuổi họ đã lớn hết, họ đều 50 tuổi, 60 tuổi, 70 tuổi hết, mà Đức Phật lúc đó mới ba mấy tuổi, mà Đức Phật biết ba người này là sẽ chứng A-la-hán được, người có duyên với ph- chánh pháp nên Đức Phật quyết tâm độ ba anh em đó. Quyết tâm độ và vì ba anh em đó nếu mà người không có thần thông thì họ đâu có tin là cao hơn họ. Đức Phật phải thi triển lần đó hơn 1.000 thần thông. Ngài làm đủ màn, đủ trò hết trơn. Rồi ba anh em cuối cùng mới thấy là đây là một bậc nghĩa là đạo sư chân chính, cái khả năng thần thông vượt bực hơn mình, ba anh em mới chịu cúi đầu xuống làm lễ, lạy một cái người trẻ tuổi hơn mình.
[28:18]Rồi bắt đầu sau đó Phật mới thuyết pháp Tứ diệu đế để cho ba anh em đó rồi chứng được A-la-hán hết luôn. Chỉ có lần đó thôi. Nhưng mà rồi sau đó vẫn phải dùng đạo lý. Thần thông chỉ để hù, để lòe, để khuất phục, để hạ cái ngã mạn họ xuống thôi, chứ thần thông không làm người ta giác ngộ, mà đạo lý mới làm người ta giác ngộ. Thì chúng ta bây giờ cũng vậy, nghĩa là mọi phương tiện mà chúng ta đến thăm nom, chúng ta an ủi, chúng ta giúp đỡ mọi người, đó chỉ là phương tiện ban đầu. Còn cái chính để giáo hóa người ta vẫn là vẫn là đạo lý. Đó là con đường của Phật. Trong cái việc mà diễn giảng á, chúng ta thấy có một cái trường hợp tương tự là đọc diễn văn.
[28:59]Diễn văn khác với diễn giảng là gì? Diễn văn là cầm một văn bản đã đã viết sẵn và chúng ta đọc, thì lúc đó chỉ cần giọng đọc cho hay, cho tình cảm thôi. Còn việc diễn giảng là phải phải ứng khẩu. Diễn giảng tức là chúng ta có sẵn một cái dàn bài, chúng ta chúng ta chỉ nhìn cái ý trên dàn bài và bắt đầu ứng khẩu. Khi hết cái ý rồi, ta nhìn xuống coi còn cái ý nào nữa nói tiếp. Còn diễn văn á thì đọc đúng từng chữ, ngừng đúng chỗ dấu chấm, ngừng đúng dấu phết. Thì diễn văn với diễn giảng cái nào hay hơn? Không biết, không chắc. Tại vì cái diễn văn á có cái cứng là khi chưa gặp thính chúng, mình đã có cái bài sẵn rồi.
[29:41]Lỡ hôm đó thính chúng là một đối tượng khác, cái suy nghĩ khác, cái khung cảnh khác, bối cảnh khác thì bài diễn văn mình nó trật, nó không ăn. Nhưng mà nếu là một bài diễn văn cực kỳ đẹp, cực kỳ hay mà phù hợp với thính chúng thì vẫn là một áng văn tuyệt tác để đời. Tại vì trên thế giới vẫn có những bài diễn văn nổi tiếng để đời luôn, mặc dầu được viết sẵn, à viết sẵn rồi đến đó đọc thôi, nhưng mà quá hay, vẫn được truyền tụng. Ví dụ như là cái bài diễn văn mà của Tổng thống Abraham Lincoln mà ổng chống lại chế độ nô lệ, vẫn là một áng văn tuyệt tác. Hoặc là diễn văn của ông mục sư Martin Luther King,
[30:15]ổng ổng ổng chống lại chế độ mà phân biệt chủng tộc giữa giữa giữa da trắng và da đen ở Mỹ, cũng là một áng văn tuyệt... "I have a dream", tôi có một giấc mơ, cũng là một áng văn tuyệt tác tới bây giờ. Rồi nhiều cái diễn văn cũng hay. Nhưng mà tuy nhiên, cái người giảng sư thì không có đọc diễn văn, bởi vì đọc diễn văn thì đa phần là chúng ta không ứng phó kịp thời. Nghĩa là không chúng ta giống như là không có cái đối thoại trực tiếp với người đang nghe. Còn diễn giảng thì ta ứng khẩu, ta đối thoại trực tiếp, mỗi lời chúng ta là ta đang nói một cách sống động, nên diễn giảng khó hơn và hấp dẫn hơn.
[30:51]Cái người mà giỏi ứng khẩu, không cần chuẩn bị trước mà vẫn nói lanh lanh lanh được, trong đạo Phật gọi là người gì? Từ gì?
[31:03]Biện tài vô ngại là cái từ hơi cao, còn dùng mình nói là lợi khẩu, phải không? Cái người đó gọi là lợi khẩu, tức là cái miệng nói nói dễ dàng, nói thoải mái. Tuy nhiên, để có thể gọi là lợi khẩu á, nghĩa là khi đụng chuyện, có một cái ý mà ta nói bất tuyệt, ta nói suôn sẻ, nói thao thao, nói rõ ràng, không cần chuẩn bị trước, cái khả năng ứng khẩu đó hay ta gọi là lợi khẩu á, nó liên quan đến việc khai mở vùng não trên đầu ta. Một vùng não trên đầu. Cái người nào mà cái vùng não nó khai mở thì tự nhiên ăn nói rất suôn sẻ, rất trôi chảy, ứng phó rất nhanh nhạy, từ ngữ ở đâu đó tuôn ra hoài. Khi muốn nói, diễn tả ý tưởng nào thì ngôn ngữ
[31:45]xuất hiện kịp thời để cho mình diễn tả. Còn cái người mà không có cái lợi khẩu đó, cái vùng não nó bế tắc, nó mờ mờ, nghĩa là ta cũng thấy cái ý đó nhưng mà ngôn ngữ nó không xuất hiện để cho ta ta đưa ra lưỡi, cho nên gọi là người đó không lợi khẩu. Nhưng mà vì sao cái vùng não nó khai mở để cho ta nói thao thao bất tuyệt? Là ở đây thuộc về công đức, chứ chúng ta không thể mà chích một phát cái mũi thuốc nào vô cái thì mùng não khai mở ra được, không có không có chích một phát được. Ông Đỗ Hồng Ngọc ổng có dùng cái chữ "chích một phát" vui lắm, "chích một phát". Chúng ta không thể là uống cái thuốc nào đó hay
[32:23]chích một phát tự nhiên mở vùng não ra nói. Nếu có một loại thuốc đó thì nếu chúng ta chích một phát vô cái nói được ba ngày rồi từ đó vĩnh viễn nín luôn. Cho nên đây là phải có cái tu hành, có cái tập luyện và có cái công đức thì ta mới thành tựu được cái cái lợi khẩu đó. Vấn đề ta phải nêu ra nữa là cái nhân cách của một giảng sư. Nhân cách của giảng sư là một vấn đề rất là lớn. Cái người nói toàn những điều đạo lý không nhưng mà hễ làm thì làm tầm bậy thì nói ai nghe nữa không? Hả? Không ai nghe.
[33:04]Khi mà miệng mình nói những điều đạo lý thì mình trở thành cái gì? Thành biểu tượng của cái hay cái đẹp của đạo lý à. Thì mình phải cái cuộc sống của mình phải chứng tỏ được những điều mình nói. Cho nên người giảng sư á nói mình yêu thương chúng sinh, yêu thương Phật pháp, muốn Phật pháp hưng thịnh thì lúc nào cũng phải làm sao? Phải phải trau dồi giới hạnh, đạo đức, nhân cách của mình. Không được coi thường. Không được là à nói nói ừ sống mà nói: "Ủa, sao mà thầy giảng hay mà thầy thầy xuống thầy sao tào lao vậy?" "Hông, tôi giảng là nghề của tôi thôi chứ còn cuộc sống là cái khác." Không phải, không được nói như vậy.
[33:45]Con người và cái lời đạo lý mình nói trên pháp tòa và cái cuộc sống mình sống bên ngoài phải ăn khớp với nhau. Ăn khớp với nhau. Chứ không phải nói là à nó không lúc đó giống như diễn viên, lúc đó ủa nói: "Sao nãy tôi thấy anh làm vua, giờ tôi xuống đây thấy anh đi quét rác?" Nói: "Nãy tôi đóng kịch. Nãy tôi đóng vai vua, bây giờ xuống đây quét rác nhiều, không ai làm tôi đi quét rác." À diễn viên thì được, phải không? Diễn vương rồi. Nói: "Ủa, sao nãy thấy hai anh chị đóng vai muồi mẫn sao xuống đây mới chửi lộn, oánh nhau một cái, tát nhau một cái ình xèo?" "Không, hồi nãy là tôi đóng kịch nó khác.
[34:14]Đóng kịch tôi đóng vai yêu cổ, còn bây giờ xuống đây rồi ghét cổ như cái gì." Không có. Nghĩa là trong kịch đó thì lúc họ trình diễn, họ được quyền họ khác với cuộc sống thật. Nhưng một người giảng sư thì không được quyền như vậy. Người giảng sư ở trên bục giảng sao, xuống dưới đất cũng phải y như vậy. Ví dụ thấy ông đó nói hay quá, cái tự nhiên xuống làm tào lao, bắt đầu người ta nghi. Người ta nói cái đạo lý này chắc nó không thiệt, phải không? Đạo lý này nó không thiệt. Tại thấy ông nói hay mà ổng không có làm như vậy, tức là đạo lý nó giả, là người ta không theo, không theo đạo Phật nữa, rất là tổn hại, phá hoại ghê gớm.
[34:49]Còn nếu mà người giảng sư đã hay rồi mà đời sống tốt nữa thì sao? Thì gây cho mọi người cái niềm tin đối với đạo rất là mạnh. Chúng ta cũng hay chống chế theo cái tứ y pháp có cái gì? Y pháp bất y nhân. Nghĩa là ví dụ có một người Phật tử lại gặp ông thầy: "Thầy ơi, con đau khổ quá." Ông thầy đó ổng giảng nghe bây giờ ổng vậy vậy vậy vậy. Cái ông thầy này nói: "Thôi, con đừng buồn, mình y pháp bất y nhân." Tức là ổng giảng thì cứ nghe nhưng mà đừng có nhìn vào cái đời sống của ổng, cái chuyện cá nhân của ổng thôi kệ. Nhưng mà ổng giảng hay, con cứ nghe. Đó là một lời nói chống chế, tạm bợ, không được.
[35:28]Không được. Nói nói chơi vui thôi chứ không có y pháp bất y nhân được đâu. Cho nên phải nghĩa là người và pháp nhân và pháp phải tương ưng, chứ không thể mà tách ra làm hai khác nhau được đâu. Đó là điều điều điều bắt buộc.
[35:46]Vì vậy, cái vai trò của một người tăng sĩ là sau này buộc là phải làm một nhà hoằng pháp. Và là nhà hoằng pháp thì buộc cũng phải trở thành một một giảng sư, ai cũng phải đi vào con đường đó hết. Và đã là một giảng sư thì bây giờ phải lo mà mà trau dồi giới hạnh, phải không, biết nhìn được cái lỗi của mình. Vì để làm giảng sư nên bây giờ ta phải trau dồi giới hạnh, nhưng không ngờ chính khi ta trau dồi giới hạnh thì ta sẽ là một giảng sư giỏi. Một giảng sư giỏi nằm ở đâu? Chính ở chỗ trau dồi giới hạnh.
[36:28]Khi một lần đó, một lần mà ví dụ ta kiềm chế được ví dụ ta muốn là à bước qua nhà hàng xóm ví dụ có cái chuyện bên kia họ có một cái gì đó chúng ta muốn bước qua, chúng ta mượn một cái xẻng, nhưng mà luật trong chùa, trong mùa hạ không được bước ra khỏi giới tràng, phải không? Bước ra khỏi giới tràng thì phải làm sao? Phải phải tác bạch. Mà mình thấy đây cái cái cái bên kia mình hỏi: "Cho tôi mượn cái xẻng nha bác Năm." Ổng nói: "Ờ, thầy qua đây lấy." Ổng hút thuốc phì phèo, ổng ngồi xếp lò ổng không thèm đưa mình. Ổng nói: "Ờ ờ, để đó thầy qua lấy." Mình chỉ giẫm hai ba bước là bước tới liền, nhưng mà mình nhớ tới cái giới tràng, mình không lấy.
[37:08]Mình không bước qua. Cái mình cười cười, nói chút nữa lúc đó mình có người Phật tử nào đi vô chùa, cái mình vì không lẽ bước qua năm bước lấy cái xẻng về rồi đi vô đắp y áo tác bạch đại chúng, phải không? Cái mình vô mình đợi có người Phật tử nào tới, cái mình nhờ: "Đứng đây qua lấy giùm thầy, thầy có hỏi mượn rồi qua lấy giùm thầy." Cái chờ chút xíu. Nghĩa là mình kiềm chế, không có đạp hàng rào đi qua lấy cái cái xẻng dù cách đó có năm bước để giữ lại một chút xíu cái cái nguyên tắc mà vừa mới an cư chúng ta phải phải phải giữ gìn. Chút xíu đó thôi, một lần kiềm chế, bỗng nhiên đạo tâm mình tăng lên một chút.
[37:42]Sau này một bài thuyết pháp nó hay hơn một chút. Một lần kiềm chế, bài thuyết pháp hay hơn một chút. Hoặc một lần hy sinh, tự nhiên sau này bài thuyết pháp nó hay hơn một chút. Ví dụ mình bước vào phòng mình, mình có hai huynh đệ ở chung cái phòng riêng, đem về hai cái bánh ngon bước vô móc ra hai cái, một cái đưa cho người bạn, một cái chuẩn bị ăn thì người thứ ba bước vô. Lúc đó mình rút ra rút vô không biết làm sao. Hễ mà rút đưa thì mình không ăn, không đưa, rút ra vô. Nhưng mà rồi cuối cùng nghĩa là cái đạo tâm mình nó lớn quá, mình phải đau khổ đưa cho ổng. Đau khổ! Lỡ luôn giọng mời hai người hai cái rồi mình đi ra ngoài, mình giả bộ mình nói:
[38:16]"Hông, con cái thứ ba để đâu đó." Nhưng mà sau này bài giảng mình hay hơn một chút. Đây một lần hy sinh cái bánh sau này giảng hay hơn một chút. Còn mà nếu lúc đó mình đưa một cái, thấy ông kia cái mình quay lưng mình che luôn cái cái cái bánh trong bụng mình bỏ túi lẹ lẹ mình đi ra luôn, sau này bài giảng mình dở hơn một chút. Vì tất cả những điều đó nó rớt vào trong bài giảng của mình hết. Là chính cái đời sống của mình rớt vào trong bài giảng hết. Do đó mà từng chút ta trau dồi giới hạnh á, sau này bài giảng chúng ta nó bay trên mây, tung bay theo gió, vang khắp bạt ngàn tam thiên thế giới và cả chư thiên đều nghe hết.
[38:48]Chính nhờ từng chút mà ta kiềm chế trước lỗi lầm, từng chút ta sửa được cái sai sót của mình, từng chút ta tận tụy, ta phục vụ, ta hy sinh. Sau này bài giảng ta tung bay khắp cả tam thiên đại thiên thế giới. Nên ta trau giồi giới hạnh để làm giảng sư, nhưng mà chính cái trau giồi giới hạnh đó tạo thành những bài giảng tuyệt vời sau này. Có một thời gian dài vậy, các chùa ít có quan tâm giảng, sau này các chùa hay thuyết giảng, rồi quý thầy sẽ sẽ phải lên bục giảng. Mà lên bục giảng giảng gì? Hôm trước quý thầy còn nhớ bốn chữ H không? Học cái bài đầu tiên, hoằng pháp. Thứ nhất là? Học. Thứ hai là?
[39:32]Hành. Thứ ba là? Hoằng. Thứ tư là? Hộ, đúng rồi. Thế là một người đệ tử Phật có bốn nhiệm vụ phải làm: thứ nhất là học giáo lý của Phật, thứ hai là thực hành, thứ ba là làm cho mọi người cùng biết giáo lý đó, hoằng hóa giáo lý đó, và thứ tư là bảo vệ giáo lý đó, hộ trì chánh pháp. Chúng ta có nhiệm vụ. Thì khi mà chúng ta thuyết pháp, thì cái người nghe là đang gì?
[40:06]Đang học, phải không? Khi ta thuyết pháp, thì người nghe là đang học giáo lý. À, nhưng mà cái bài giảng của ta nó chứa đựng cái gì không biết, nhưng mà khi ta giảng xong thì trong lòng của người nghe xuất hiện ba cái này. Tức là bài giảng thành công. Nghĩa là, khi chúng ta giảng xong thì người đó bắt đầu họ bị thúc đẩy họ phải thực hành, họ phải về nhà họ lạy Phật, họ ngồi thiền, họ phải đi làm những việc từ thiện, họ phải giúp người. Và khi nghe bài giảng xong, họ bị thôi thúc, họ phải đem đạo lý qua bước qua hàng xóm nói chuyện, bước lại bạn bè nói chuyện, họ không giữ giáo lý trong gia đình mình.
[40:43]Và khi họ nghe bài giảng đó xong thì cái tâm họ kiên cường bảo vệ đạo, đừng ai đụng tới quý thầy, quý cô, đừng ai đụng tới chùa, đừng ai đụng tới đạo Phật được, họ cãi tới nơi liền, họ bảo vệ tới nơi liền. Tức là nghe một bài giáo lý xong, ba cái này xuất hiện trong tâm họ liền, thì đó là một bài giảng quý, một bài giảng có chất lượng, có nội dung đẹp.
[41:06]Còn nếu mà chúng ta giảng xong, họ bước ra: "Nãy ông thầy giảng gì nhen?" "Dạ, ổng nói gì vui vui không biết nữa." Là như vậy họ chỉ học mà ba cái này không xuất hiện trong bài giảng, thì đó là một bài giảng gì? Bài giảng rỗng, không có gì hết. Nghe xong họ không xuất hiện được ba điều này trong tâm họ là một bài giảng rỗng. Nên do đó, quý thầy soạn cái dàn bài để giảng thì để ý ba cái ý bốn cái chữ H này giùm. Khi quý thầy soạn cái dàn bài giảng 30 phút, 45 phút hay 1 tiếng đồng hồ, 2 tiếng đồng hồ, nhưng mà thường là tiếng rưỡi thôi, 2 tiếng nghe mệt lắm. Xem cái dàn bài xong, mình đọc tới đọc lui cái dàn
[41:46]bài, mình phải suy ngẫm ba cái chữ H còn lại. Nghĩa là với bài giảng này người Phật tử nghe xong có về thực hành không? Có biết hoằng truyền đạo lý ra nơi khác không? Có biết kiên cường bảo vệ chánh pháp hay không? Nếu đọc tới đọc lui rồi mình thấy khó, mình giảng hết cái bài này rồi người ta sẽ không có ba điều này, thì xé bỏ dàn bài đó, viết lại liền. Đây là cái trách nhiệm của chúng ta đối với Phật pháp. Chúng ta tạo thành một bài giảng quý thì phải tạo ra được ba cái chữ H phía sau. Quý thầy nhớ nha, đây là phương châm quý thầy phải ghi khắc suốt cuộc đời của mình, suốt cuộc đời của mình. Đừng để giảng xong rồi, người ta hỏi:
[42:23]"Thầy giảng gì?" "Dạ, không biết thấy giảng gì hay hay, không biết giảng gì." Là thua, bài giảng rỗng. Tốn cơm, tốn cháo, không làm được gì hết. Nghĩa là sau khi nghe một bài giảng rồi, tự nhiên cái người Phật tử người ta thương yêu nhau, mà ta gắn bó với nhau, người ta bỏ qua những cái lỗi lầm, tị hiềm với nhau, để mà chung nhau làm được những cái điều của Phật pháp, và sống tốt đẹp, tử tế với nhau, người ta giúp nhau trong sinh kế nữa. Vì sao? Vì cái đất nước mình chưa phải giàu, nhiều người còn khó khăn. Mà khi nghe một bài pháp rồi, tự nhiên mọi người thương yêu nhau, muốn giúp nhau trong việc làm ăn,
[43:02]rồi cùng nhau tu hành, cùng nhau làm những việc từ thiện, cùng nhau bảo vệ Phật pháp, à có cái sự gắn bó nó xuất hiện trước hết. Đó là một bài giảng thành công. Nghe một bài giảng rồi, người ta cảm thấy cái đạo lý nó hay, nó đẹp, người ta rung động và người ta không thể ngồi nghe một mình, bắt buộc kiếm người bạn thân: "Anh qua đây coi, tôi tôi tôi nói chuyện với anh cái điều này." Tức nói lại những điều ông thầy vừa nói, hoặc là nghe được cuốn băng, rủ ông bạn qua nghe liền. Như vậy nó có một cái sức mạnh gì tiềm tàng trong bài giảng, sức mạnh tiềm tàng nó gói trong đó, nên nó tạo thành ba cái phía sau.
[43:39]Là nghe rồi một bài giảng rồi, bất ngờ cái người đó cảm thấy từ đây không thể khoe khoang nữa, phải biết sống hiền lành, khiêm tốn lại, không còn cho mình là hay nữa, mà lúc nào cũng cảm thấy mình còn những điều dở phải phải sửa. Đó là thực hành. Quý thầy phải nhớ, ba cái chữ H phía sau là giá trị của bài giảng. Không có ba chữ H phía sau, đó là một bài giảng rỗng, bài giảng dở. Bây giờ chúng ta chọn đề tài giảng bằng cách nào? Có hai cách để chúng ta chọn đề tài giảng. Một á là chúng ta dựa vào kinh hoặc là luận.
[44:17]Ví dụ hôm nay chúng ta triển khai bộ Đại thừa Chỉ Quán hay là bộ à giảng bộ Kinh Kim Cang, hoặc là bộ Thập Nhị Môn Luận. Thì như vậy cái đề tài đã được Phật và chư Tổ cho rồi. Phần của mình chỉ đơn giản là gì? Triển khai ra cho mọi người hiểu. Thì cái này cái ưu điểm của cái này là đề tài đã có sẵn, à mình chỉ triển khai ý ra. Còn cái khác là chúng ta chọn những đề tài mới.
[44:48]Những đề tài mới ví dụ như hôm nay giảng là: Niềm vui đến chùa. Ờ, cái đề tài không có dính gì trong kinh hết, tự mình nghĩ ra rồi mình mình giảng. Thì hai cái này khác nhau.
[45:01]Bên này có cái khó là cái chọn đề tài. Có nhiều vị giảng sư than, nói: "Giờ không biết giảng cái gì. Thấy giảng kinh giảng luận thì khó, xưa quá, nhưng mà chọn những đề tài mới cho phù hợp ví dụ như là: Người Phật tử có những điều gì nên biết? Hay là: Niềm vui đến chùa, hay là: Dạy trẻ nên tin Phật, ờ hay là: Nhẫn nhục là công đức lành, vân vân." A, tự nghĩ ra những điều đó. Mà giảng đâu 10 bài cái giờ kêu giảng nữa, nói không biết giảng gì. Có nhiều người cũng đã than phiền như vậy. Nhưng có người giảng được 30 đề tài rồi cái không tìm ra nữa, vân vân. Thì cái đề tài mới này nó cái vất vả của giảng sư là phải phải phải nghĩ ra đề tài.
[45:42]Nên sau này khoảng bài hoằng pháp kế tiếp, khoảng năm, sáu bài sau, chúng ta sẽ tìm cái phương pháp để chúng ta tìm được những đề tài này. Cách nào mà chúng ta tìm ra hoài, có hoài để giảng hoài, chứ không bị bí. Khoảng năm, sáu bài sắp tới đó chúng ta sẽ giải quyết cái này. Còn cái mà giảng trên kinh luận á, thì kinh luận có sẵn, coi như là mình không cần phải bận tâm giảng đề tài nữa, chỉ chọn bản kinh xong rồi trong kinh nó quá chừng ý, thì mỗi một phần ý là coi như một bài giảng, rồi qua kỳ sau mình giảng tiếp cái khúc khác, qua kỳ sau giảng tiếp khúc khác. Thì nó dễ về đề tài nhưng mà nó khó về gì?
[46:17]Khó về là cái ý này của mấy ngàn năm trước, mà bây giờ phải giảng cho cái người hôm nay. Thì làm sao mình nói cái chuyện đạo lý của mấy ngàn năm trước, mà con người ngày hôm nay vẫn thấy gần gũi, vẫn thấy thực tế, vẫn thấy sống động, vẫn thấy ứng dụng được, à không thấy rỗng? Đó lại là cái khó lúc giảng. Đề tài thì chọn sẵn rồi, Phật chọn cho mình rồi, nhưng mà lúc giảng thì cực kỳ khó. Vì chuyện của mấy ngàn năm xưa, cái lời lẽ, cái ngôn ngữ, cái lý luận, cái triết lý của mấy ngàn năm xưa mà bây giờ làm cho người ngày hôm nay cảm thấy vỡ tung ra, thích thú, thấy gần gũi, thấy sống động, tại vì những lời kinh xưa rất là khó hiểu.
[46:57]Thì tới chừng giảng á, cái này mới khó. Còn cái này á, lúc chọn đề tài thì thì khó, nhưng mà tới lúc giảng thì sao? Là dễ, bởi vì khi mình chọn đề tài mình đã chọn cái đề tài gần gũi với với mọi người trong đời sống ngày hôm nay rồi, nên việc mà triển khai những cái ý kế tiếp á nó lại thoải mái, lại dễ, không bị khó nữa. Cho nên ở đây hai cái hai cái này là hai cái vấn đề mà chúng ta phải gặp, mà người giảng sư đều phải giỏi cả hai. Giỏi cả hai. Nghĩa là khi mà chúng ta giảng kinh giảng luận thì mình biết cách nói cái nào để cho một bài kinh mấy ngàn năm mà ngày hôm nay nghe như là Phật đang giảng trước mắt,
[47:35]đang giảng cho cái người của thời đại mà tên lửa bay này, vẫn thấy không sai. Chân lý là bất diệt, không bao giờ là bị lạc hậu hết. Những điều Phật nói không bao giờ bị lạc hậu. Cái giảng cái này cái khó, cái trách nhiệm giảng sư là không bao giờ làm cho người ta thấy giáo lý của Phật là out of date, không bao giờ bị lạc hậu, lúc nào cũng update đều đều hết trơn. Còn cái cái tìm đề tài này á, thì có cái cách để tìm đề tài cho không bao giờ chúng ta cạn cái nguồn đề tài. Ví dụ như là hôm nào đó chúng ta đi trên đường, đi công việc, từ trong chùa không thôi đi ra chợ, thì chúng ta thấy một bà già à bả đội cái nón lá bả
[48:19]đi giữa buổi trưa bả ôm xấp vé số bả đi bán. Quý thầy có thấy đó chưa? Có thấy chưa? Quý thầy có thấy rồi, nhưng quý thầy có nghĩ là từ cái nhìn thấy bà già đó nói ra được đề tài đạo lý không? Đó. Nhìn cái đó mà có đề tài để giảng. Đó, cái cách nó Tại sao nhìn cái đó vì có đề tài để giảng? Nghĩa là tại sao nhìn bà già vậy mà mình có thể có đề tài? Bởi vì mình có tấm lòng với con người. Hồi nãy nãy tôi đi trên đường ở Long An, có cái ông đó ổng bán vé số dạo, ổng chở trên chiếc xe đạp, ổng có giăng cái cái cái miếng vải, trong đó ổng dán bốn câu thơ, mà xe đi qua cái vèo, nhìn đọc được có hai câu, học không thấy. Có câu là:
[49:04]"Khắp cả thị trường bán số dạo, suốt ngày tất bật lo cơm gạo." Cái gì, còn hai câu nữa đọc không kịp. Xe hơi chạy qua cái vèo cái thấy được có hai câu. Nghĩa là ổng bán vé số mà cũng làm nhà thơ, cũng triết gia chứ chơi sao? Cũng nhiều điều ta phải suy nghĩ.
[49:22]Cái đề tài á là chúng ta nhìn cuộc sống. Ví dụ bây giờ, quý thầy nhìn một cơn mưa có thể thuyết được một bài pháp không? Sau này chúng ta thấy vậy, một cơn mưa rơi cũng làm gợi cho ta những ý để ta có một một bài pháp. Đi qua một dòng sông nước chảy, ta cũng có thể thuyết được một bài pháp, có gợi ý cho ta một đề tài để giảng pháp. Rồi ví dụ mình thấy hai người bạn chở nhau đi học, mình vẫn có thể thuyết được một bài pháp. Là mọi điều trong cuộc sống này, mọi điều trong cuộc sống này. Sau này chúng ta sẽ thấy việc giảng pháp nó gồm những yếu tố thế này, lát nữa mình nói lại cái này, từ lời Phật dạy nè, đạo lý Phật dạy, từ kinh nghiệm tu hành,
[50:09]từ cái kiến thức thời đại,
[50:15]chúng ta có một cái nữa là quan sát cuộc sống. Cái người á mà sau khi thông hết những điều này rồi mà tới việc mà nhìn cuộc sống nhìn đâu thấy đạo lý đó, nhìn đâu thấy đạo lý á, đây là tới giai đoạn mà trí tuệ chúng ta tung bay, chúng ta dễ tìm đề tài và dễ giảng pháp. Tới này nhìn đâu cũng thấy được đạo lý để có thể tuyên thuyết được thì tới lúc này chúng ta chọn đề tài rất là dễ. Nhưng mà khoảng vài bài nữa chúng ta sẽ nghiên cứu điều này. Ừm, còn bây giờ đây là hai cách chọn đề tài. Mỗi cái có cái khó, cái dễ khác nhau. Mà giảng kinh khó hơn, giảng kinh khó hơn bởi vì đạo lý của Phật rất là cao siêu.
[50:51]Mình giảng làm sao cho dễ hiểu mà vẫn không mất cái cao siêu của Phật, chứ còn mình giảng dễ hiểu rồi cái tự nhiên nó tầm thường. Nghe cái lời kinh không còn lột hết ý Phật nữa mình mang tội chết luôn. Cái này không còn là chuyện giảng hay giảng dở nữa, mà đã trở thành cái chuyện của tội phước. Giảng dở hay là lột không hết một cái ý của một bài kinh Phật chúng ta mang tội. Cho nên chúng ta đừng tưởng hễ giảng sư là công đức lớn đâu. Có những giảng sư sau khi chết rồi đọa luôn, súc sinh luôn. Có những giảng sư sau khi chết rồi vất va vất vưởng ngoài đường á, không có chỗ ở luôn, không được vô chùa luôn.
[51:26]Chết rồi đó. Tại vì sao? Bởi vì lúc giảng, thứ nhất là giảng hơi sai. Thứ hai là khi giảng cái ý của Phật lột không hết và làm hạ thấp đạo Phật xuống. Mà còn có những giảng sư mà giảng đúng rồi á thì sau khi chết là không ở cõi này, lên cõi trời ở với chư thánh ở trển á. Cái công đức rất là lớn bởi vì mình làm lay động được nhiều trái tim để mọi người hướng về đạo, để mọi người biết tu biết sửa. Thì công đức của người giảng sư lớn khiếp lắm. Nhưng mà nói bậy một cái để cho cái điều sai lầm nó lan truyền trong cuộc sống rồi chết đọa liền. Nên có chuyện có một ni sư đó vậy, cũng là một giảng sư,
[52:03]bằng cấp có, tài năng có, uyên bác, thường trì chú, tụng kinh, thường đi làm việc từ thiện, chết trong một tai nạn. Chết mấy năm rồi bây giờ hiện về kêu đệ đệ tử nói là, "Sư phụ chưa siêu, nhờ con nói quý thầy tụng giùm." Mà nói cũng rất nhiều tăng ni chưa siêu ở dưới này. Cái cô đệ tử cô báo lại cho quý thầy, quý thầy báo động cái chuyện nó lan tràn tùm lum luôn. Nên chúng ta cứ tưởng nhìn vô cứ tưởng đó là công đức lớn, không ngờ không có công đức, chết không siêu, còn vất va vất vưởng. Khiếp luôn á. Nên có những điều ta tưởng là công đức, khi chết xuống thần thánh không có chấp nhận công đức đó.
[52:40]Thần thánh nói không có công đức, mà mình ở trên này mình cứ truyền nhau cái đó là công đức. Lúc sống người ta nói, "Ồ, cái kinh này tụng công đức ghê lắm." Lúc chết cái té xuống cái thần thánh hỏi, "Trên đời con làm được gì?", nói, "Dạ con tụng được 3000 bộ kinh này." Nói, "Mày mất thì giờ mày tụng đó làm chi, để thời gian đó mày đi mày làm phước, mày đắp đường mày bắc cầu cho người ta đi có phước hơn." Coi chừng, coi chừng những tiêu chuẩn mà ta cho là công đức xuống dưới thần thánh không cho là công đức. Bằng cớ là cái ni sư đó hiện về báo cho đệ tử. Mà ni sư đó cũng là thuộc loại mà ở lúc sống người ta cho là công đức lớn.
[53:15]Mà nói rất nhiều tăng ni cũng bị như vậy. Nhưng cái việc mà giảng giải á, chúng ta cẩn thận đừng để mà sai ý Phật, chết luôn.
[53:26]Kinh Phật có cái là đạo lý quá cao siêu. Chứ nếu ta giảng mà làm cho người nghe họ chỉ nghe những ngôn từ, những sự cao siêu mà không ứng dụng vào đời sống được thì chúng ta cũng mang tội. Bởi vì đạo lý chỉ đi trên đầu môi chót lưỡi. Mà muốn làm sao cho đạo lý phải đưa vào trong tâm hồn và trong đời sống của người nghe là chính chúng ta phải, phải trau dồi, chúng ta phải thật sự tu. Nghĩa là khi học về giáo lý từ bi thì không phải là mai mốt mình nghe bao nhiêu bài từ bi rồi mình đứng lên mình giảng y lại như vậy thì người nghe họ ngủ liền, họ cũng chả thèm tu. Còn nếu mình có thực hành, ví dụ nói về Phật dạy về giáo
[54:05]lý từ bi thì bắt đầu mình có kiểm tra lại coi mình thấy lòng mình khô khan chưa yêu ai, chưa thương ai hết. Bắt đầu quỳ xuống trước Phật nguyện, "Phật gia hộ cho con mở được lòng thương yêu đến với tất cả chúng sinh." Rồi khi ngồi thiền ngồi đó rải, tưởng tượng rải tâm từ bi thương yêu hết tất cả mọi chốn. Nghĩ đến những người nào giờ hiềm hận hay ghét mình, mình rải lòng thương đến họ. Nghĩ đến những người nào mình thờ ơ rồi mình rải thương yêu đến họ. Rồi trong đời sống, mắt chạm mắt, mặt nhìn mặt, mình đều nguyện lòng mình thương yêu mọi người như thế này hết. Rồi sau này đụng chuyện gì là sẵn sàng mình nhường
[54:40]cơm sẻ áo hết, thật lòng phải làm được như vậy. Thì sau này khi mình nói về tứ vô lượng tâm hay là giảng cái đạo lý cao siêu của Phật thì nó có cái có một cái sức mạnh gì đó từ nơi tâm của mình truyền vào tâm của người nghe, nó làm cho người ta phải thực hành đi theo luôn. Chứ còn không, mình chỉ dừng lại nói đầu môi chót lưỡi, mình nói gì cũng không, nhất thiết pháp không rồi vân vân. Chữ đó nghe chả ai hiểu gì, chả ai tu gì, chả ai thèm làm gì nữa. Mấy cái đó dễ mang tội. Cái giáo lý không dễ đưa người ta đi đọa dữ á. Giảng giáo lý không mà giảng sai một cái để người ta nhìn đời cái gì cũng không hết, người ta không cần làm phước,
[55:14]không cần khởi tâm từ bi thì người giảng sư và người nghe đi xuống hố hết luôn. Nên giáo lý mà kinh điển rất là đáng sợ. Đề tài có sẵn nhưng đó là cái bẫy. Đề tài kinh điển có sẵn, nhưng mình giảng trật một cái, giảng thiếu một cái rồi á đọa liền. Còn nếu mình cởi mở, mình lột tả được hết, làm cho mọi người xúc động vì cái sự cao siêu của Phật thì công đức của mình là vô lượng. Không phải dễ, ừm. Bây giờ ta nói về khả năng của giảng sư.
[55:45]Nói gì thì nói, giảng sư chúng ta có ba cái vấn đề: một là đạo lý, phải không? Hai là cái phương cách ta ta truyền đạt, và còn lại là cái sự nhận hiểu của của thính chúng.
[56:05]Giờ phải có đạo lý để giảng cái đã. À, sau khi có đạo lý rồi, giảng sao giảng cho hay là cái phương cách. Và cái thứ ba là coi lại coi cái người nghe đã hiểu chưa? Chứ mình nói có say sưa 3, 4 tiếng đồng hồ, tới chừng dòm lại người ta ngủ hết rồi. Thì cũng là thất bại. Cho nên có đạo lý đã khó rồi, truyền đạt đạo lý cho khéo lại là một cái khó nữa. Để cho quan trọng kết quả cuối cùng là làm sao đạt được cái mức độ nhận hiểu rất là cao. Nghĩa là trong đó ví dụ một 500 người nghe thì ít nhất cũng phải là được 490 người, người hiểu. Còn nếu mà 500 người nghe mà 600 người hiểu thì càng càng tốt. Ở đâu ra 100 người đó vậy?
[56:52]Ở đâu à? Ờ, có người khuất mặt họ nghe cũng thích luôn. Cái đạo lý này là cái khó nè. Bởi vì thế này, cái yêu cầu người ta nghĩ rằng một giảng sư là phải có cái nguồn đạo lý vô tận ở trong tâm, nói không bao giờ hết. Nói không bao giờ hết. Người ta không bao giờ chấp nhận ông thầy đó làm giảng sư, tới chừng nói, "Ủa sao lúc này thầy không đi giảng nữa?", nói, "Thầy không còn biết nói gì, hết đạo lý rồi." Người ta chịu không? Không chịu. Nghĩa là làm giảng sư trong đạo Phật không có cái cảnh mà ta nhìn nhau không còn biết nói gì, không có cảnh đó, không có chấp nhận cái chuyện đó. Là phải nói hoài, bắt thầy phải nói hoài,
[57:35]thầy không được ngừng, tại thầy là giảng sư. Nhưng mà sự thật là là giảng sư đã đạt được tới cái vô tận của trí tuệ chưa? Chưa. Nhưng mà cái người Phật tử nghe đó bắt buộc ông thầy mình là phải vô tận, nhưng mà ông thầy mình nhiều khi chưa được như vậy. Đây là cả cái vấn đề đó nha, chứ không phải đơn giản. Cho nên vì vậy trước yêu cầu của Phật tử sự hy vọng như vậy, người ta tin tưởng Phật pháp là cái gì mà hễ càng tu càng già, càng lớn tuổi chừng nào thì đạo lý càng càng nhiều chừng nấy. Chứ không có chuyện mà nghĩa là tới già cái đạo lý bớt hết á, giống như người đời không còn sức lao động, không đạo Phật không có chuyện đó.
[58:14]Đạo Phật là càng già càng sáng, càng minh mẫn, đạo lý càng dồi dào, càng vô tận. Ở các tôn giáo khác á mấy ông giáo sĩ á tới tuổi cho nghỉ hưu tại hết biết nói cái gì. Đó là chuyện có thật. Như bên đạo Thiên Chúa cũng vậy, ông cha tới bao nhiêu tuổi là nghỉ nha, không cho giảng nữa, về hưu, đưa người khác lên thay. Nhưng bên đạo Phật á mình thấy hòa thượng thoi thóp thoi thóp đi không nổi phải ba, bốn người dìu, vẫn phải ngồi pháp tòa mà giảng á, khổ vậy, không cho nghỉ hưu mà cứ phải giảng cho ngon lành. Không biết sao kỳ. Bởi vì sao? Bởi vì cái đạo lý phương Đông nó như vậy. Quý thầy có xem truyện chưởng Kim Dung chưa?
[58:52]Có không? Trong đó là những cái người mà càng già thì sao? Nội lực càng thâm hậu, đúng. Đó, mấy người phải hỏi phải nghiên cứu vậy mới được. Nội lực càng thâm hậu, đánh chưởng càng nghĩa là càng dữ dội hơn, nghĩa là thấy mấy ông già mà râu bạc chống gậy trên đường là coi chừng. Đó là cao thủ võ lâm, thấy không? Còn người trẻ không sợ. Nhưng mà còn cái võ cái võ thuật của của Tây phương á dựa theo cơ bắp á thì chỉ sợ ai? Sợ người trẻ thôi. Qua tới bốn mấy tuổi là cái sức nó xuống rồi. Sức xuống đánh lên võ đài đánh hết được. Nhưng mà bên nội công á thì mấy ông già 7, 80 tuổi là nội công thâm hậu.
[59:28]Vì cách luyện nó khác, cách luyện nó nó không dựa vào cơ bắp. Thì cũng vậy, cái trí tuệ mà tu trong đạo Phật á là nó không lệ thuộc vào cái thời gian hay là bộ não mà nó có một cái chỗ nào nó mênh mông, nó không có chỗ dựa. Cho nên người ta tu càng lâu thì nó càng sáng càng sáng cho tới ngày người ta chết luôn. Tới lúc người ta chết là đỉnh cao của trí tuệ, chứ không phải tới lúc ta chết là lúc người ta mê man, mờ mịt, không có. Nghĩa là người Phật tử yêu cầu như vậy và cái yêu cầu của họ rất đúng, chỉ vì ta làm không được thôi. Chứ người Phật tử yêu cầu là thầy giảng tới chết nha thầy, không nín nha, phải ráng mà giảng.
[1:00:02]Nhưng mà thực sự một người giảng sư chân chính thì có muốn giảng hoài không? Có không? Người giảng sư chân chính không muốn giảng hoài. Tại sao? Ai trả lời được câu này? Trả lời đi. Hồi sáng có một cô trả lời rất đúng, cho điểm liền. Đúng không? Đi coi chừng bên Tăng thua Ni kỳ lắm á. Dạ Mô Phật, con xin trả lời là: Nếu một vị giảng sư chân chính hay á thì luôn luôn hoài bão, luôn luôn tâm niệm cho thế hệ sau mình giảng hay hơn mình nữa. 1 điểm. Cho 1 điểm, đúng. Câu nói chính xác. Rồi, chúc chú sau này thành giảng sư nổi tiếng.
[1:00:51]Đó, một giảng sư chân chính là như vậy á. Ví dụ, khi mình giảng mình đang rất thành công nhưng không bao giờ muốn cái sự thành công mình cứ kéo dài cho mình hoài, thì cái tâm đó bắt đầu là không còn đạo đức nữa. Hay là khi mình vừa tìm ra được cái phương pháp giảng hay, mình có những đề tài hay, mình được thành công có uy tín thì lập tức nghĩ tới đàn em liền, lập tức nghĩ làm sao sau mình phải nhiều người giảng hay hơn mình nữa để cho đạo Phật được phát triển. Cho nên không bao giờ muốn giảng hoài đâu, mà chỉ muốn làm sao truyền đạt lại kinh nghiệm, kiến thức cho đàn em mình bước lên. Đó là một giảng sư chân chính.
[1:01:24]Mặc dù Phật tử thì cứ bắt thầy cứ giảng hoài, nhưng mà người giảng sư rồi lần lần về sau sẽ thấy họ né dần, né dần. Họ không đi giảng nữa. Không phải họ hết trí tuệ đâu, tại vì cái người chân chính họ không bao giờ hết trí tuệ, họ sẽ sáng suốt cho tới ngày họ chết, nhưng mà lúc nào cũng muốn cho đàn em mình đứng lên, đó là lý do họ không có giảng hoài. Cái đạo lý nữa, một cái đạo lý nữa là chúng ta từ lời Phật dạy ha, từ cái kinh nghiệm tu hành bản thân, từ cái nghiên cứu kiến thức thời đại và chúng ta quan sát cuộc sống. Đây là cái nguồn để đạo lý hôm trước ta học này rồi, cái bài thứ hai thứ ba gì của hoằng pháp ta học rồi.
[1:02:02]Ban đầu ta học đạo lý Phật, cực. Khi chúng ta áp dụng tu hành, cực. Khi chúng ta nghiên cứu thêm những kiến thức của thế giới, của thời đại, cực. Nhưng mà tới lúc mà bắt đầu ta có trí tuệ rồi, ta biết quan sát cuộc sống rồi thì từ đây đạo lý ta là vô tận. Tới chỗ này đó, lúc đó cái người giảng sư thoải mái, không còn phải bận tâm nhiều về đạo lý, bởi vì lúc đó trong tâm mình bốn cái điều này nó kết hợp lại nó tuôn trào, không bao giờ dừng, không bao giờ hết đạo lý. Một điều gì cũng làm cho chúng ta phân tích ra được, nhìn thấy được cái đạo lý trước sau, ngọn ngành như thế nào để có thể hướng dẫn người khác á.
[1:02:38]Một cái nhúc nhích tay chân người khác, mình có thể biết được cái đúng cái sai, thiện ác trong tâm người ta. Một cái nhìn người ta, một cái ánh mắt, mình biết được tâm người ta để có thể nói được đạo lý khuyên nhủ người ta được. Cho nên tới cái mức độ thứ tư là quan sát được cuộc sống là cái người giảng sư đã thành công rồi. Tới cái đỉnh cao của trí tuệ, từ đây không có sợ hết đạo lý nữa. Chỉ quan trọng là cứ tu suốt đời thôi, cứ thỉnh thoảng đọc thêm sách, ôn lại mảng kinh, rồi đó đọc bài báo, rồi cứ ngồi thiền, lạy Phật, vậy thôi. Rồi sống tàn tàn như vậy mà đạo lý tuôn trào bất tận. Chỉ có những giai đoạn đầu vất vả là khi bắt đầu ta học
[1:03:17]ta học đạo lý của Phật, khi ta phải vất vả chiến đấu với bản thân, phải ngồi thiền, phải lễ Phật, ta phải nghiên cứu thời đại, những cái đó vất vả. Vượt qua được rồi, tới lúc giai đoạn quan sát cuộc sống nhìn đâu cũng thấy đạo lý là lúc đó trí tuệ ta đã đến đỉnh, đến thành công. Rồi từ đó cứ phát triển dần không có sợ nữa. Ừ. Cái điều kế tiếp là cái phương pháp giảng. Giảng gì không biết, nói gì không biết, nhưng mà giảng sao không ai hiểu hết thì sao? Đúng là vô duyên. Cho nên giảng sao để cho người ta phải hiểu. Giảng sao người ta phải hiểu. Mà muốn giảng sao cho người ta phải hiểu á thì chúng ta nhớ lại là hôm trước chúng ta học cái phần đàm đạo.
[1:04:02]Đàm đạo nghĩa là gì? Đàm đạo nghĩa là hỏi và hỏi và đáp. Đàm đạo mới hỏi và đáp. Hôm trước chúng ta học bao nhiêu bài rồi đó, nghĩa là người ta hỏi mình đáp, người ta hỏi mình đáp, hỏi mình đáp. Thì khi mà người ta hỏi mình đáp như vậy, nó có một cái yêu cầu, có một cái sắc bén, có cái linh động là ngay tại chỗ chúng ta biết được cái người kia không hiểu cái gì, ta ráng để mà ta ráng để mình làm cho họ hiểu bằng cái sự khéo léo, sự nhanh nhạy, sự sắc bén của ta ngay tức thì lúc đó. Nhờ nhiều lần đàm đạo như vậy mà ta có được những câu trả lời thật là tuyệt vời. Bây giờ bắt đầu chúng ta soạn bài giảng, chúng ta tưởng tượng có 20 câu hỏi
[1:04:49]theo thứ tự và chúng ta viết ra 20 câu trả lời cho 20 câu hỏi giấu mặt này. Câu hỏi này là câu hỏi giấu mặt, không có, câu trả lời chúng ta hiện ra và chúng ta cứ trả lời hết 20 câu này thì biến thành một bài bài pháp. Vậy thôi. Dễ không?
[1:05:14]Cái khó là tìm ra đoán ra 20 câu của người nghe. Người ta ngồi người ta không biết gì, nhưng mình phải đoán là người ta sẽ hỏi 20 câu và mình lần lượt trả lời 20 câu đó là thành một bài pháp. Nếu chúng ta nghĩ ra được 20 câu hỏi hay và chúng ta đã quen trả lời 20 câu hay thì ta có một bài pháp hay. Dễ không? Dễ vô cùng. Do vậy cái nền của việc thuyết pháp chính là đàm đạo. Nếu ai không đi qua kinh nghiệm đàm đạo thì không thể thuyết pháp hay. Vì vậy ta phải tập đàm đạo, gặp ai mình cũng ngồi nói chuyện đạo lý. Ban đầu người ta thấy giống như mình nói nhiều, nhưng phải chịu cực, phải tập như vậy.
[1:05:57]Rồi đến lúc nào đó, khi mà mình nói nhuyễn rồi, tự nhiên mình không thích nói. Một người giảng sư giỏi mà mình gặp á, mình không biết đâu, tại họ không nói. Mình nói họ nghe, họ không có nói, cười cười cười. Khi cần nói, họ nói rất sắc bén, nhưng bình thường họ nói chuyện tào lao à. Khi cần thì họ thích nói chuyện à thích nói chuyện trời trăng mây nước, cây kiểng, mà ít nói đạo lý. Nhưng mà mấy người đó coi chừng là người giảng giỏi. Hết ham nói. Cái người mà hết ham nói mới là người nói hay. Còn giai đoạn đầu chúng ta đang còn phải phải ham nói. Khi chúng ta luyện tập, ta phải ham nói. Trong kinh Pháp Hoa có biểu tượng rất hay là Đức Phật nhập định không nói,
[1:06:39]sau đó là ngài Xá Lợi Phất thỉnh ba lần Đức Phật mới mới thuyết pháp. Tức là muốn nói thì phải nín. Phải tập nín, tức là người tập kiềm chế mình, tập im lặng, tập im lặng. Nhưng mà sự thật thì chúng ta làm tăng sinh, lúc chúng ta tập im lặng là lúc ta ngồi thiền rồi, không phải lo chuyện đó. Ừ. Một vấn đề của giảng sư phải được nêu ra nữa là là giọng nói. Giọng nói. Giọng nói nó chiếm hết 50% cái thành công của bài giảng nha. Thí dụ đạo lý mình nói hay mà giọng nói dở thì người ta người ta khó chịu, người ta không thích nghe. Mà cái không thích nghe là coi như mình thất bại. Còn mình có giọng nói hay, có khi mình giảng dở dở chút nhưng người
[1:07:26]ta vẫn thích nghe, người ta thích nghe tức là mình thành công. Mà giọng nói làm sao là hay, mai mốt mình sẽ học, nhưng hôm nay mình giới thiệu sơ sơ. Thứ nhất là điệu. Cái điệu là những cái nốt á, nốt cao nốt thấp thế nào mình phối hợp để nghe nó du dương, nó êm ái là thành một cái điệu nói hay, một giai điệu hay. Do chúng ta điều chỉnh độ cao thấp của các nốt nó thích hợp. Ví dụ như là: "Tôi có", cái chữ tôi có, cái chữ "có" thả cái nốt cao này vừa, nhưng mà nếu mình chỉ lên cao một hai cung nữa: "Tôi có!", cái mình nghe nó hơi gắt. Hoặc nói: "Tôi cỏ", cái cái nốt mình thả cái người nghe không phù hợp
[1:08:04]cái vùng đó, họ thấy khó chịu, họ thấy khó chịu.
[1:08:10]Cho nên cái người nào mà giỏi về âm nhạc á, có thể dễ có giọng nói hay là vậy đó. Tại vì trong âm nhạc, họ đã biết chọn cái điệu, họ đánh giá được cái điệu hay điệu dở như thế nào. Nên khi nói ra họ cân nhắc cái giọng họ vừa phải. Có khi họ lên cao, có khi họ hạ thấp giọng, nhưng vì bối cảnh của cái đạo lý lúc đó phải nói như thế, nghe rất là phù hợp mà rất là hay, nên cái điệu. Rồi một cái nữa là cái cái tiết tấu. Tiết tấu nó không phải là tốc độ nha, nó khác với tốc độ. Tốc độ á, tốc độ là cái sự nhanh chậm suốt cả bài. À ví dụ như là mình nói người đó có tật nói nhanh, người đó có tật nói chậm hay người đó nói vừa.
[1:08:48]Thì cái đó gọi là tốc độ. Tuy nhiên cái tốc độ này sau này chúng ta sẽ nghiên cứu, nó lệ thuộc vào cái máy này dữ lắm. Cái máy này nó nó làm thay đổi tốc độ người nghe. Ví dụ mình nói vừa nhưng mà qua máy sẽ biến thành nhanh. Mình nói chậm, qua máy sẽ biến thành vừa. Chính tôi cũng bị cái điều này. Cứ mình canh theo cái giọng của mình, tới chừng vô máy nó biến thành khác, tốc độ khác liền. Nên sau này chúng ta phải nghiên cứu cái này lại để điều chỉnh tốc độ cho thích hợp. Chứ mình nghe vừa, tới chừng đi ra người ta nghe nhanh hết trơn. Còn mình nói cho nhanh thì ở ngoài người ta hết nghe. Còn cái tiết tấu nó không phải là tốc độ, mà nó là lúc nhanh lúc chậm, tùy lúc.
[1:09:31]À có những đoạn khó hiểu, ta đi thả từng chữ từng chữ. Có những đoạn dễ hiểu, ta đi nhanh hơn một chút cho đỡ nhàm chán. Tại dễ hiểu mà mình nói chậm, nó thành ra nhàm chán. Cho nên cái cái tiết tấu này á, cái cái rất là khéo, là cái trí tuệ của giảng sư. Đụng tới lúc đó, mình nói nhanh lên, đụng tới lúc đó, nói chậm lại, là bản lĩnh của giảng sư. Rồi cái cường độ. Cái cường độ nói mạnh nói yếu nữa. Ví dụ khi trong một hội chúng mà mọi người đã thuần, chúng ta không cần nói mạnh, chúng ta nói vừa chừng là được. Nhưng có những hội chúng khó, ta phải tăng cường độ lên để gây sự chú ý của họ. Như vừa rồi tôi ra ngoài Hải Phòng tôi giảng cho cái trại cai nghiện,
[1:10:15]thì những người cai nghiện họ đâu có quen mà nghe giáo lý đâu. Nên mình biết là sức tập trung họ không nhiều, bữa đó tôi phải giảng với cường độ mạnh, phải giảng với cường độ mạnh. Nói mạnh, gằn giọng đồ, nói như lãnh tụ, như cán bộ mà nói chuyện chính trị. À nhưng bài giảng rồi người ta thích. Tôi tưởng như vậy là dữ rồi ha, không ngờ bữa sau đi giảng cái trường cai nghiện ở Bù Đăng, Bù Đốp á, trời ơi, người đó họ còn ít tập trung hơn mà đông hơn nữa, thế là bữa đó trời ơi nói la hét gào thét không chứ không có nói bình thường nữa. À mới gây được cái sự chú ý của họ. Ờ nói bữa đó mà quay phim dòm lại chắc mắc cười lắm,
[1:10:47]không không có giống bài giảng nào giờ, nhưng mà vì hoàn cảnh lúc đó phải như vậy mới gây được sự chú ý. Nên cái bài giảng mà mình giảng cho người cai nghiện mà mình đem về cho Phật tử nghe, không thích hợp. Phật tử bảo: "Trời, sao thầy giảng kỳ quá! Thầy nói sao thầy la thầy hét thầy gào thầy thét kỳ quá!". Nhưng mà trong hoàn cảnh lúc đó phải nói như vậy, buộc như vậy. À còn khi mình giảng ở như cái pháp hội khác thì mình êm lại liền, cường độ xuống liền. Cường độ.
[1:11:17]Rồi còn cái cái cái giọng của địa phương nữa, cái giọng địa phương nữa cũng là một vấn đề rất là lớn. Nước chúng ta có ba miền phải không, mà chúng ta có mấy giọng? Chúng ta có ba miền mà chúng ta có mười giọng.
[1:11:35]Miền Bắc á thì lấy lấy giọng thủ đô là chính phải không? Mà hầu hết khi chúng ta học tiếng của nước nào, ta đều phải học tiếng của thủ đô, nên vẫn lấy giọng Hà Nội là giọng chuẩn. À đó là bắt buộc. Tuy nhiên là ở miền Nam cũng có giọng rất đặc trưng, và giọng ở vùng nào? Đúng rồi, thành phố Hồ Chí Minh, đó là giọng Sài Gòn á là giọng chuẩn. Bởi vì giọng Sài Gòn là nơi mà tụ hội nhiều cái miền đi về. Cái người dân ở Sài Gòn mà họ sống lớn lên thì họ sẽ gặp họ nói chuyện nhiều với người Bắc, họ nói chuyện nhiều với người Huế, người Quảng Nam, nên họ có cái giọng chuẩn đứng lại. Còn nếu mà sa vào những miền Tây xa,
[1:12:12]trong Đồng Tháp, Đồng Tháp Mười thật xa, chúng ta sẽ nghe cái giọng nói nó khác á. Không phải lơ lớ mà nó hai lúa kỳ lạ lắm. Mình có nghe trong những cái đài phát thanh mà buổi sáng mà mấy người nông dân nói chuyện với nhau không? "Tui nói cho anh Hai biết nha." Nói ví dụ vậy, cái giọng họ cái cái âm vực của cái điệu của họ nó kỳ, nó rên rên. "Anh uống cà phê chưa anh Hai?" Đó, cái giọng nó lên vậy kia, còn bình thường không ai nói vậy. Cái cái cái kiểu miền miền Tây đó đó, nó khác. Nghe nó hai lúa kỳ, không hiểu tại sao. Người ta thích cái giọng đó, nhưng mà giọng Sài Gòn là giọng chuẩn. Ví dụ như tôi đang nói là giọng Sài Gòn.
[1:12:46]Rồi còn cái giọng người Huế, cái giọng người Huế, giọng người Quảng Trị thì cái dấu sắc họ bị rớt xuống thành dấu gì? Dấu hỏi hết, thay vì "tôi có", "tôi cỏ", họ xuống như vậy nên nghe nó tối tối. Thì người miền của họ nghe thì nó mùi, nói: "Dạ, giọng nói của con nó da diết, nó tình cảm, nó mùi mẫn." Nhưng mà đi giảng xuống miền Tây không ai nghe gì hết, không hiểu không hiểu. Vì vậy là chúng ta phải sửa chứ đừng có cố chấp cái giọng của mình, đừng cố chấp. Phải chỉnh cái giọng làm sao đi đến vùng nào ta đều có thể giáo hóa được hết. Nên cái nhất là cái giọng Quảng Trị mà sửa thành giọng Nam còn hay hơn miền Nam.
[1:13:19]Lạ, không biết tại sao. Nếu giọng Quảng Trị mà giữ nguyên á, nghe khó nghe, nhưng mà người Quảng Trị mà họ sửa thành giọng Nam rồi, họ nghe sang hơn cái người miền Nam. Không biết tại sao, cái cấu trúc cái cổ của họ sao nó hay như vậy. Nhưng mà xích xuống chút xíu vào Quảng Nam, Đà Nẵng thì sao? Ồ, bắt đầu nó lại có một cái sắc thái khác. "Mày đi đâu đó Tỏm? Tỏm", tám tám á kêu tỏm á, "thổn cổm" hả, gặp công an "thổn cổm", ví dụ vậy, cái chữ hơi khác đi. Lạ như vậy, lạ kỳ không biết sao. Tuy nhiên là những cái vùng mà địa phương quá, chúng ta phải chỉnh lại. Nếu ai mà ở những cái miền Quảng Nam,
[1:13:53]Quảng Ngãi như vậy, chúng ta chỉnh lại về với giọng Sài Gòn một chút. Người Bắc á thì dễ rồi, cái giọng đã gần chuẩn, cho nên là ta cứ giữ. Mà chỉ đừng có nói cái chữ L với N nó ngược nhau thôi. Đừng nói Đừng có "Lái xe qua nó nạn quá, nàng nại leo lên lề lật nun" thì nghe kỳ lắm, không được.
[1:14:14]Cái chữ L với chữ N nó lại
[1:14:20]Một yếu tố của giảng sư để thu hút nữa là là ngoại hình. Tại khi mình giảng thì sao? Thính chúng họ cứ nhìn chăm chăm vô mặt mình phải không? Mà nếu mặt mình nó rùng rợn quá, ma chê quỷ hờn quá, người ta cũng chán, phải không? Buộc lòng là cái người giảng sư cũng phải hơi đẹp trai một chút, đẹp gái một chút, biết sao giờ. Khi xuất hiện trước công chúng cái ngoại hình là quan trọng. Vì vậy mà khi thi tuyển ca sĩ á thì họ chấm đầu tiên là chấm gì? Chấm cái mặt trước, không phải giọng hát đâu. Rồi sau đó hát hay thì mới chuyển làm ca sĩ, còn không hay thì đưa qua làm việc khác, nhưng đẹp cái đã, không đẹp là không làm gì hết,
[1:14:56]không nhận, không nhận vào bất cứ chuyện gì. Cho nên cái gương mặt rất là quan trọng, ngoại hình rất là quan trọng. Mà người giảng sư đăng pháp tòa cũng vậy. Thấy mình nói thao thao đạo lý hay mà nhìn gương mặt mình sao kỳ nó méo mà nó sẹo, đằng kia dòm nó chán quá, cái người ta không thích, mà không thích là thất bại. Tuy nhiên nó cũng có cái tương quan nhân quả, cái người có gương mặt đẹp là họ cũng có cái phước gì á. Nên thường là người có đẹp thì cũng dễ giảng hay, họ cũng có cái phước gì nó lạ lắm. Nếu mà xấu quá thì chúng ta phải làm sao? Nếu muốn làm giảng sư mà lỡ bị xấu thì mình phải làm sao?
[1:15:27]Phải đi đi sửa sắc đẹp hả?
[1:15:35]Thực ra á cái xấu cái đẹp á nó sửa sắc đẹp nó không có ra. Mình muốn sửa cho đẹp thì sau này mình sẽ xấu gấp bội lần. Cho nên đừng có đi sửa, mà chỉ nên tạo nên sắc đẹp bằng cái gì? Bằng công đức thôi. Công đức bằng cái gì? Gieo nhân gì? Thế nào cũng nói chưng hoa bàn Phật. Không phải đâu, không phải. Nghĩ tốt người khác, lạy Phật á, lạy Phật tướng hảo á. Cái người siêng lạy Phật cái gương mặt quang minh ra từ từ từ từ. Cho nên nhưng chúng ta dùng nhân quả để chúng ta chuyển cái ngoại hình cho đẹp lên một chút. Và đời sống của mình chứ đừng không nên can thiệp, không nên can thiệp thô bạo. Can thiệp thô bạo tức là cắt xẻ này đó,
[1:16:19]không nên không nên như vậy, cho nên dùng công đức.
[1:16:25]Còn một một yếu tố nữa
[1:16:29]là tâm lực vô hình.
[1:16:33]Cái tâm lực vô hình này là một cái gì lạ. Vì cái người mà họ có tâm lực vô hình, khi họ xuất hiện trước thính chúng thì hút cái tâm người ta vô liền, hút sự chú ý vô liền, dù chưa nói gì. Cái này là do một cái công đức bí mật gì đó, họ có một cái tâm lực vô hình, họ xuất hiện trước thính chúng là hút người ta về nhìn về mình liền, làm người ta chú ý về mình liền, rồi khi giảng làm cho bài giảng sinh động liền. Còn ví dụ cái người giảng sư lên ngồi mà thính chúng họ không để ý ổng thì có nghe nữa không? Loãng liền. Cái buổi giảng thất bại liền. Nên cái tâm lực vô hình để cuốn hết người cái sự chú ý người
[1:17:08]ta về mình là một điều rất quan trọng của giảng sư. Mà làm sao để tạo ra tâm lực vô hình này thì sau này chúng ta sẽ nói nữa, hôm nay giới thiệu sơ sơ thôi. Nhưng mà con người á, mỗi người có cái tâm lực nhiếp được khoảng chừng bao nhiêu thính chúng thôi chứ không có phải là vô hạn, Phật mới vô hạn. Ví dụ Phật ngồi đó, mấy triệu người ngồi đó, thì khi Phật xuất hiện là tất cả mấy triệu người đều hút hết vô Phật. Nhưng mà ngoài Phật ra thì những vị khác giảm dần giảm dần, có người hút được 10.000 người, nhưng mà có người là chỉ hút được 5.000 người, có người chỉ được 1.000 người, có người 500 người, 200 người.
[1:17:41]Có người chỉ hút được 100 người mà hễ 200 người là loãng liền, buổi đó giảng không nghe nữa, người ta lơ đãng liền. À lạ như vậy. Có người chỉ hút chừng 10 người thôi, ngồi nói chuyện thì rất là hay, nhưng mà ngồi trước buổi giảng 50 người là bắt đầu nói hết hay, hút không được. Ờ cái tâm lực không có, lạ như vậy. Nên làm sao mà để có được cái tâm lực vô hình này, tức là dù mấy ngàn người trước mà mình xuất hiện một cái là tất cả nhiếp vô hết. Cái yếu tố rất là quan trọng. Nhưng mà do đâu có tâm lực đó? Hử? Do đâu? Thiền định là một yếu tố.
[1:18:18]Do đâu nữa?
[1:18:23]Do lòng từ, cái lòng từ thật sự sâu sắc tạo thành cái tâm lực. Nên chúng ta cứ ráng sống mà thương yêu mọi người, tự nhiên mình có cái tâm lực tích lũy từ từ, để khi xuất hiện trước đại chúng, chúng ta nhiếp được mọi người vào trong cái cái bài giảng của mình. Ở đây để ý điều đó. Nó còn có vài cái điều nữa sau này chúng ta nói. Ví dụ như cái miệng của mình á, bình thường mình nói sao cũng được, nhưng mà khi giảng cái miệng cũng phải được biết cách trình diễn như các ca sĩ. Nhưng mà giảng sư thì không yêu cầu cao như ca sĩ, chứ còn ca sĩ họ buộc phải trình diễn cái miệng họ rất là kỹ. Họ cả một bài tập của họ, một bài tập về cái miệng tập cực
[1:18:59]cả mấy tháng trời á chứ không có được nói bình thường. À ví dụ như là à mình hát một bài hát ha, mình bình thường mình nói nè: "Ngồi nhìn mưa rơi khắp đất trời" thì cái miệng mình nó vậy thôi. Nhưng mà hát thì không được, cái miệng không được như vậy. Cái miệng nó phải múa theo ha: "Ngồi nhìn mưa rơi khắp đất trời". Phải múa, đó. Mà họ phải tập cả mấy tháng trời để làm sao cho cái nó đẹp cái cái miệng. Nhưng mà giảng sư thì không, nhưng mà cũng đừng có lí nhí. Tại có những người có thói quen nói chuyện mà cái răng không đánh ra đánh vô, có không? Họ nói chuyện mà cái cái cái, không biết tại sao họ hay thế nhờ,
[1:19:36]răng không cần nhúc nhích, đứng một chỗ, hai cái răng dính vô mà nói đủ thứ chuyện được hết trơn, quý vị nói được không? Cái răng dính lại. Hai răng dính cứng ngắc á mà chữ nào nói cũng ra hết, hay thiệt á. Nhưng mà nó sẽ nhìn không đẹp, cho nên buộc là buộc là khi mà mình phải nhìn gương, mình mình thuyết pháp cho cái gương coi, mà thấy miệng đẹp rồi mới được. Mấy cái đó chi chút thì sau này chúng ta sẽ học lại, giờ nói sơ sơ vậy thôi.
[1:20:01]Nó còn vấn đề về đạo đức là sự ganh tị. Ví dụ sau này chúng ta thành công, chúng ta giảng bắt đầu được nhiều người biết, à rồi người khác giảng cũng được nhiều người thích, chúng ta dễ xuất hiện sự ganh tị như là các nghệ sĩ, vì các nghệ sĩ họ hay ganh tị với nhau. Họ hay ganh tị với nhau. Cái người ca sĩ không bao giờ muốn người khác ca hay, chỉ mình mình ca hay. Do đó là họ bị xuống cái đạo đức. Nhưng mà là một giảng sư thì không được phép. Giảng sư là nếu mình giảng hay mà nghe người khác giảng hay mình phải mừng vui, phải mừng vui. Hễ nghe nơi nào có một người giảng sư nổi lên hay, lòng mình phải mừng là nhờ thêm những yếu tố như vậy đạo Phật sẽ phát triển.
[1:20:44]Và cái kỵ nhất là người này giảng hay, người kia giảng hay rồi hai ba người đó ganh với nhau là sai lầm. Thật sự ở trên thế giới này mà nói mà giảng hay Phật pháp chừng năm người, chừng năm người, không nhiều đâu. Năm người mà ở đỉnh cao á là thuyết pháp là là là ai cũng phải chấp nhận mà cái vực họ họ ảnh hưởng được rất là rộng thế giới không nhiều. Còn lại là những người giảng sư tốt, đạt chứ không phải xuất sắc. Nhưng mà tuy nhiên, mình ở cấp độ nào mình không biết, nhưng mà luôn luôn mình phải mong có người khác giảng hay hơn mình, cái tâm niệm phải ghi khắc từ ban đầu. Luôn luôn như vậy, từ bây giờ vậy, khi mình bắt đầu tập giảng là mình đều mong
[1:21:25]cho huynh đệ mình sẽ tập giảng được hay hơn mình, thành công hơn mình. Và sau này khi đi giảng mà mình thì giảng ở vùng này, mình là huynh đệ mình đi giảng vùng khác mà mình nghe là người ta giảng hay, mình phải phải vui mừng để diệt cái tâm cái tâm ganh tị tầm thường đó đi. Một yếu tố của giảng sư nữa là sức khỏe. Cái người mà có sức khỏe đó thì khi họ giảng cũng dễ hấp dẫn hơn cái người mà èo uột quá. Cho nên quý thầy phải cố gắng giữ gìn sức khỏe, để ý vấn đề ăn uống ha, tập luyện, nghỉ ngơi và mọi yếu tố gì liên quan tới sức khỏe phải để ý. Thì khi mình khỏe, mình giảng bài giảng cũng dễ hấp dẫn hơn là lúc mình đang yếu đang bệnh. Nhớ.
[1:22:04]Đừng có để si cà que giống như tôi. Nghĩa là một giảng sư mà sức khỏe yếu kém như vậy cũng là một cái một cái khuyết điểm lớn, khuyết điểm lớn. Nhưng mà biết sao, cũng là cái nghiệp mà tôi cũng cố gắng dữ lắm, nhưng mà quý thầy nhớ đừng để như vậy, đừng để si cà que như vậy.
[1:22:23]Mình rút lại, cái yêu cầu cao nhất của giảng sư là gì?
[1:22:29]Có hai yêu cầu thôi, một là đúng với ý Phật,
[1:22:35]hai là hấp dẫn.
[1:22:39]Hễ mà đạt được hai yêu cầu đó coi như bài giảng thành công, chỉ vậy thôi. Yếu tố thứ nhất là đúng ý Phật là yếu tố căn bản quan trọng. Chúng ta không được quyền giảng sai ý Phật là chúng ta phản bội và chúng ta mang tội nặng, không được quyền. Dù chúng ta có thể là thông minh, lanh lợi, sáng tạo nhưng luôn luôn là phải hoàn toàn đúng với ý Phật tuyệt đối, ở đây không có vụ tương đối, không có cái chuyện là bài này giảng đúng ý Phật 95% là không được phép. Nghĩa là chúng ta nói mây, nói mưa, nói mênh mông trời đất nhưng phải đúng ý Phật 100%. Đây là yêu cầu bắt buộc tuyệt đối. Không có nói ờ ông thầy đó giảng đúng ý Phật khoảng
[1:23:19]chừng 90%, 95%, 99%, không có chuyện đó. Bài giảng của ta phải đúng ý Phật 100%, không bao giờ được sai ra khỏi đạo lý của Phật dạy và đây là điều bắt buộc tuyệt đối. Do đó, chúng ta phải nghiên cứu những kinh điển gốc của Phật nhất là bộ Nikaya, chúng ta phải có kinh nghiệm tu hành và luôn luôn cầu nguyện Phật gia hộ. Khi soạn bài cũng như khi đi giảng, lúc nào cũng cầu nguyện Phật gia hộ cho con giảng luôn luôn đúng ý Phật. Nhờ cái cái cái nhân lành mà ta cầu nguyện như thế thì hết đời này đến đời khác, ta luôn luôn giảng đúng ý Phật. Và giảng đúng ý Phật thì chuyện gì xảy ra? Công đức ta rất là rất là lớn.
[1:24:03]Còn giảng mà lệch ý Phật dù chỉ một ly nhỏ thôi là bắt đầu cái tà nó đã rớt vào trong bài giảng ta rồi. Mà một ly thì đi một dặm, sau này nó sẽ nảy sinh ra không biết bao nhiêu tai họa cho những thế hệ sau của mình. Những người họ nghe mình giảng, chỉ cần mình sai bằng một hột đậu nhỏ rớt trong bài giảng của mình, thì sau này có thể nảy ra thành cái ung to, hư cả Phật pháp luôn. Cho nên vì vậy là lúc nào chúng ta cũng phải khép mình trong lời Phật dạy, trong cái ý của Phật từng chút. Có những điều ý của Phật ta không hiểu hết, tại vì trí tuệ của Phật là vô tận mà ta chỉ là một hạt cát thôi. Do đó, lúc nào phải biết khiêm tốn mà cầu nguyện,
[1:24:41]mỗi khi ta lạy Phật luôn luôn cầu nguyện, xin cho con giảng đúng được ý Phật, vì đó yêu cầu gay gắt nhất. Và thứ hai là giảng giảng hấp dẫn. Cái hấp dẫn á thì sau này chúng ta sẽ phân tích từ từ nguyên suốt trong mấy chục bài sắp tới, ta sẽ phân tích làm sao để giảng cho hấp dẫn, làm sao giảng cho hay. Nhưng mà cái yêu cầu đúng ý Phật là quan trọng. Vì có nhiều vị họ rất là thông minh, rất là sáng tạo, nhưng rồi lần lần họ đã sáng tạo ra những điều ngoài đạo Phật, khác với ý của Phật, đã có rồi, đã có rồi. Họ nổi tiếng, họ trí tuệ, họ lanh lợi, nhưng bắt đầu có nhiều đạo lý nó sai với cái gốc của Phật, đã có rồi.
[1:25:20]Và chúng ta biết như vậy, họ dẫn rất nhiều người đi ra khỏi đạo Phật mà không ai biết, cứ tưởng là vị đó tài giỏi nhưng không ngờ họ đã đưa rất nhiều người ra khỏi đạo Phật, rất là nguy hiểm. Cho nên vì vậy, ta không bao giờ là muốn làm cái điều mới lạ bằng cách sáng tạo một điều mà ra khỏi giáo lý của Phật. Nghĩa là ta phải mới lạ, hồi nãy cái yếu tố mà ta nói đó là giảng cho người trí thức là phải mới lạ và sâu sắc phải không? Nhưng cái mới lạ đó là cái gì vẫn nằm trong đạo lý của Phật, chứ không được mới lạ rồi ra khỏi đạo lý của Phật. Có những vị đi tìm cái mới lạ để hấp dẫn mọi người, bởi vì cái mới lạ là cái hấp dẫn mà.
[1:25:59]Họ đã đi tìm cái mới lạ rồi họ dắt mọi người ra khỏi đạo Phật luôn mà không ai hay, mọi người cứ tưởng đó là vẫn là Phật pháp nhưng không ngờ ra khỏi rồi. Đây là điều rất đau lòng mà ta cũng rất là khó nói, tại vì nói giống như người này công kích người kia, nhưng sự thực đã bị rồi, đạo Phật đã bị, trong Phật giáo ta đã bị điều đó. Cái việc mà giảng hấp dẫn thì đúng là cái duyên phước và sự rèn luyện của mỗi người. Thì chúng ta sẽ bàn với nhau trong cái loạt bài sắp tới, mười mấy bài sắp tới chúng ta sẽ rèn luyện cái phương pháp giảng cách nào cho hấp dẫn, chúng ta sẽ gieo duyên phước cách nào để chúng ta giảng cho hấp dẫn.
[1:26:34]Và những bài tới sẽ rất là vất vả, quý thầy sẽ làm bài tập rất là nhiều. Cho nên kỳ bài này, hôm nay nói bài này ta không cần phải làm bài tập, chúng ta chỉ làm bài trả nợ. Để chúng ta kết thúc bài này, tôi tôi xin phép đọc cái đoạn cuối của cái giáo án: "Trên bước đường làm một giảng sư để đại Phật tuyên hóa, ta sẽ vừa làm, vừa chỉnh sửa, bổ sung dần dần. Điều quan trọng là ta không có tâm mong cầu danh lợi, mà chỉ thật lòng muốn cho mọi người thấm nhuần Phật pháp để đau khổ vắng bóng trên cuộc đời. Những điều ta nói sẽ có nhiều người nghe, vì vậy ta phải hết sức có trách nhiệm với từng lời được trình bày ra ngoài.
[1:27:17]Mỗi lời nói phải là cả một tấm lòng, một sự cân nhắc đắn đo, một ý thức cao độ." Chúc cho quý thầy sau này trở thành những giảng sư tài ba nghe. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.