Transcript: Ý Chí Người Tu Thiền

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:30:00

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:16]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:31]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:45]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:58]Thưa giờ này đã đến khóa giảng, chúng con cung thỉnh Thượng tọa Pháp sư từ bi hoan hỷ bố thí cho đạo tràng ân chiêm công đức. A Di Đà Phật. Lẽ ra là Thượng tọa trụ trì sẽ giảng trước, bởi vì Thượng tọa mới tốt nghiệp xong cái thạc sĩ triết học Phật giáo, mà Thượng tọa mắc bận làm cái gì ngoài kia không chịu giảng, thầy năn nỉ quá chừng mà lại không chịu. Quý Phật tử vỗ tay mời Thượng tọa nói vài lời trước đi. Đứng nói vài lời khuyến tấn Phật tử trước đi. Vâng, chúng con nhất nhất mọi duyên năn nỉ Thượng tọa bố thí cho đạo tràng, chúng con được ân chiêm công đức ạ. Lúc khác... lúc khác vắng Thượng tọa thì chúng con múa vẽ một tí, lúc này chúng con không dám ạ.

[1:56]Thầy cảm ơn thầy, thầy vào nghỉ một chút nhé. Dạ vâng, vâng. Tự ngồi, ngồi xuống, ngồi xuống.

[2:05]Thầy cũng xin trân trọng giới thiệu có Thượng tọa Thích Pha Lê ở Nam ở Nam Định, Ban Trị sự Nam Định về đây tham dự với chúng ta. Thầy cũng xin trân trọng giới thiệu có quý sư cô, thầy không biết tên, lắm thấy đẹp đẹp ngồi đó chứ không biết ai. Thỉnh thỉnh quý thầy, sư thôn ngồi xuống nha, ngồi ngồi đây. Sáng nay trời trở lạnh, đài thông báo là 13 độ, ngồi thiền chắc hơi rét nha. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thì hôm nay là lần thứ tư hả ta? Thứ tư? Thứ tư hả? Kính thưa quý thầy, quý cô và quý Phật tử. Ở ngoài Bắc này không kêu quý cô nhỉ? Kì quá ha? Có không? Có hả? Sao nghe kêu sư thầy không à? Thôi kệ.

[3:04]Hôm nay chúng ta lại học tiếp về những lý thuyết và cái sự thực hành của thiền định. Ngày hôm qua là thôi xin phép xưng thầy với Phật tử cho vui nha. Hôm qua thầy giảng ở chùa Sủi thì thầy Thanh Phương là trụ trì. Cái chùa đó có cái tên chữ là chùa Đại Dương. Cái tích là ngày xưa Hoàng Thái hậu Ỷ Lan về đó cầu tự vì nghe nói là chùa rất là thiêng, rồi mới sinh ra được Thái tử Càng Đức là Trần à Lý Nhân Tông. Mà sau này cũng vậy, nhiều đời vua hay về chùa đó nằm nghỉ qua đêm để cầu mộng, để cầu xin là trên chư Bồ Tát ứng mộng dạy bảo điều gì đó trong việc trị dân, trị nước. Nên chùa đó có tiếng như vậy.

[3:51]Mà cái vùng Gia Lâm, Kinh Bắc là cái vùng mà từ ngàn xưa, từ những thế kỷ thứ sáu đó, là đã có nhiều vị thiền sư đắc đạo về giáo hóa suốt cái vùng từ Bắc Ninh kéo về tới Gia Lâm. Sau này đến khi mà vua Lý Công Uẩn định đô ở Thăng Long, tức là tiến về nam nam của sông Hồng thì bắt đầu mới có những vị cao đức giáo hóa ở cái vùng Hà Nội. Chứ trước kia là cái cái vùng Kinh Bắc á phía bắc sông Hồng mới là nơi mà mà Phật pháp hưng thịnh, nhiều vị thiền sư đắc đạo. Thì thầy Thanh Phương thầy lúc nào cũng khắc khoải, trăn trở, tưởng nhớ tới các chư tổ và tự hào về cái vùng đất linh thiêng của mình. Thì sẵn như vậy thì thầy mới giảng cái bài hôm qua là bài Phục chấn thiền phong.

[4:44]Là làm sao làm sống dậy cái phong cách thiền, cái đỉnh cao của thiền nơi cái Phật giáo ở đất Bắc này. Vì ta biết cái cái sức mạnh của đạo Phật là nằm nơi những người tu chứng. Nó có ba hạng người làm cho Phật pháp được trường tồn: Thứ nhất là người có tu chứng tâm linh, thiền định. Thứ hai là người nếu không tuy không tu chứng tâm linh thiền định, nhưng mà giữ được giới hạnh thanh tịnh. Thứ ba là hạng người biết thuyết pháp. Thì ba hạng người này giữ gìn cho Phật pháp được trường tồn. Mà lý tưởng nhất là ba trong một, tức là một người xuất gia tu hành phải đạt được ba điều đó: một là tu chứng tâm linh thì đương nhiên giữ được giới hạnh

[5:34]thanh tịnh, và thứ ba là có khả năng thuyết pháp. Nếu những vị xuất gia mà được như vậy hết á thì Phật pháp rất là hưng thịnh. Thì để có thể là đền ơn chư tổ, phục chấn lại, phục hưng đạo Phật thì ta phải phục chấn lại thiền phong, không còn cách nào khác hết. Phải làm sao cho Phật giáo miền Bắc này trở thành một Phật giáo thiền. Cả người xuất gia lẫn người tại gia đều hâm mộ tu thiền.

[6:06]Như thầy kể lại có chuyện của một người Phật tử ở Việt Nam là cũng có thời đi ra ngoài nước ngoài sinh sống, ảnh viết thư về ảnh nói: "Nói ở đây anh tiếp xúc với những người Phật tử Việt Nam thì thấy đa phần họ tu Tịnh độ, nhưng khi gặp những người Mỹ mà họ theo đạo Phật thì họ chỉ tu thiền mà thôi, không tu Tịnh độ." Vì họ họ không thích. Hỏi vì sao? "Vì cái Tịnh độ giống tôn giáo cũ của họ, tức là cũng hứa hẹn là sau khi chết đi về nơi này nơi kia và họ thấy nó không họ không không không không thích cái đó nữa mà họ thích cái thiền của đạo Phật, đem lại sự an lạc, cái lợi ích, cái sáng suốt, cái trí tuệ ngay trong đời sống hiện tại.

[6:49]Và trong đời sống hiện tại này quá nhiều việc con người phải đối phó, phải tư duy, phải lo lắng, phải mưu tìm, vì làm cho đời sống con người thứ nhất là căng thẳng, mệt mỏi, bấn loạn và dễ phạm sai lầm. Nếu có thiền thì ngay trong đời sống này con người có thể an lạc, thoải mái, sáng suốt, làm việc ít sai lầm. Và khi mà ngay trong đời sống này ta được cái an lạc, ít sai lầm thì ta bảo đảm sau khi ta chết, ta về cõi lành. Mà thiền cho ta cái bản lĩnh như thế trong cuộc sống này, nên vì vậy họ thích thiền, nó phù hợp với cái trí tuệ, với cái tri thức của một xã hội tiến bộ." Còn ở một xã hội mà không có tri

[7:32]thức và không cần tiến bộ thì người ta không cần thiền. Hôm trước thầy giảng ở cái khóa giảng sư cao cấp sắp ra trường ở trong Sài Gòn, thầy có nói với các vị mà sắp làm giảng sư thì nói thế này: "Ta tu như thế nào, ta sẽ nói lên một cái giáo lý như thế, thành một cái đạo lý như thế. Có từ cái tâm tu của ta nó hiện ra thành một cái đạo lý ta trình bày. Và cái đạo lý ta phát ra nó thu hút một số đối tượng về. Có đạo lý loại nào hút cái đối tượng đó về với mình. Nếu mà quý thầy cô tu cái gì đó không biết mà giảng một cái giáo lý mà chỉ đặt vấn đề sau khi chết thôi, à chết tôi được sinh ở chỗ này sinh chỗ kia,

[8:17]chỉ nói chuyện chết thì thu hút được ai? Người sắp chết. Phải không ạ? Cái người mà nghĩ rằng trong cuộc sống này họ không còn gì để theo đuổi nữa thì họ nghĩ đến cái cõi chết thì họ tìm về với cái loại đạo lý đó. Thì quý thầy quý cô chỉ thu hút được cái số người đó thôi. Mà như vậy đạo Phật đi về đâu? Còn nếu quý thầy quý cô mà giảng một cái đạo lý sống cho cái cuộc sống hiện tại này, cho cái thế giới văn minh này thì nó thu hút ai? Lớp trẻ và người tri thức. Những người có trí tuệ người ta sẽ tìm đến liền. Và như vậy quý thầy quý cô thích cái đạo tràng mình là cái người nào đến? Người Mọi người đến phải không ạ?

[9:01]Người già cũng đến được, người trẻ cũng đến được, người trí thức cũng đến được, người bình dân cũng đến được, người giàu cũng đến được, người nghèo cũng đến được. Nên cái tâm nguyện ta làm một vị giảng sư, là một vị như thay Phật giáo hóa thì nó như một cái lưới á, như một cái lưới mà chư Phật tung ra bắt hết mọi con cá vậy. Cũng vậy, một cái lưới đạo tung ra thu được hết tất cả mọi căn cơ chúng sinh về thì như vậy mới là cái tâm nguyện của một đại Bồ Tát, chứ không thể là ta đưa ra một giáo lý rồi chỉ một ít người tìm đến. Hồi xưa khi thầy mới đi giảng vậy, cái chùa mời thầy đến giảng, cứ đều đặn giảng Bát quan trai.

[9:40]Mới đầu ông thầy ổng mời thầy giảng thử được một lần coi được hay không, cái thấy Phật tử khen cái thôi mời lần nữa, rồi cứ mời lần nữa, rồi riết rồi bắt thầy một tháng giảng đủ hai lần của cái Bát quan trai. Sau bao nhiêu năm cái thầy không chịu nổi nữa, thầy mới nghỉ bớt một kỳ. Mà ban đầu thầy bước vào giảng á thì thầy cũng phải cắn răng chịu đựng, tại vì nhìn xuống dưới là chỉ toàn là những mái đầu bạc phơ hết. Ngồi lim dim lim dim không biết nghe được gì không, mà thầy ráng thầy giảng quá chừng. Ráng cái từ từ cái đầu nó từ từ nó xám lần lần, bắt đầu nó có muối tiêu, từ từ nó mới đen lần đen lần, bây giờ thì đầu xanh rất nhiều. Rồi thầy đi lên Đà Lạt cũng vậy,

[10:19]lên Đà Lạt cái cái ghé thăm ông Thượng tọa, ông Hòa thượng á. Ghé vô ổng thấy thầy, thầy chưa kịp gặp mặt ông thầy trụ trì, chưa kịp gì là ở trong nghe cái tiếng loa vang ra: "Mời thỉnh Thượng tọa Chân Quang vào thuyết pháp." Thầy không biết gì trơn, vô hễ thấy mặt thầy ngoài sân là bắt vô thuyết pháp, mà vô ngồi xuống nè, tuyệt đối chỉ là đầu bạc, không có một chút đầu mà lấm thâm nữa. Trời ơi, vô thầy cự quá chừng, thầy ngồi thầy trách quá chừng, thầy nói lần sau mà thầy tới nữa mà còn coi là đi chùa kiểu này nữa là thầy bắt phạt hết. Cái lần thứ hai thầy tới thăm ổng nữa cũng vừa tới cái sân chánh điện là nghe ở

[10:52]trong mời Thượng tọa Chân Quang vô giảng, chưa gặp mặt ổng, chưa báo trước á. Vô cũng vậy, cũng nhiêu đó. Nhưng mà lần này là hên sao hên cho cái chùa đó, bỗng nhiên có một đoàn Phật tử ở đâu An Giang họ lên, họ đi vào hành hương vào chùa, nghe có thầy giảng họ đứng lại họ ngồi nghe, thành thử nó mới có thêm đầu đen ở trỏng. Cái thầy không có cớ để thầy la nữa. Thấy không? Không có cớ. Nhưng mà thầy nhìn qua nhìn lại cái thầy nghi, thầy mới hỏi ra thì đúng là một đoàn Phật tử ở đâu tới, còn mà ngay tại chỗ thì sao nó trắng hơn hồi xưa nữa. Tức là nó đầu bạc lại đầu bạc hơn. Thầy nói như vậy chết rồi, vậy làm sao được?

[11:24]Nếu mà Phật pháp như vậy là không được, phải phải thay đổi để giáo hóa lại. Nên nói là cái sức mạnh của đạo Phật Việt Nam mình á, thật sự nói bắt nguồn là từ miền Bắc, nói thẳng ra một câu vậy. Từ miền Bắc, mà từ cái phía bắc của sông Hồng mà lan ra, lan tỏa xuống phía nam sông Hồng, rồi sau này mới tiến dần vào Nam và đi vào cả nước ta vậy. Cái đó là điều không thể chối cãi. Sau này ở trong miền Trung có Thiền sư Liễu Quán là một người đắc ngộ phi thường, thì mở một dòng thiền và gây một ảnh hưởng rất lớn từ miền Trung tạt xuống hết cả tới miền Nam. Rồi lại dòng thiền lại vắng bóng, thì đến sau này thì có Hòa

[12:04]thượng Thích Thanh Từ, Hòa thượng đứng dậy, đứng lên dựng lập Thiền tông, là gợi cho mọi người một cái sự tu thiền. Thì những cái công ơn của những vị đó rất là lớn đối với Phật giáo Việt Nam, nhưng mà vẫn có nhiều người chưa có ý thức được cái sức mạnh của thiền đối với đạo Phật nên còn hờ hững và và chưa quyết tâm, với lại thấy tu thiền là khó. Muốn tu thiền thật sự là khi buổi đầu mà đến với đạo là ta phải được ngồi thiền liền, vừa biết đạo Phật là biết thiền và suốt trong quá trình từ lúc biết đạo Phật cho mãi về sau là chỉ ngồi thiền thì như vậy mới ngồi nổi. Chứ còn ví dụ một người đã kinh qua một thời gian vào đạo Phật mà không

[12:46]ngồi thiền, sau này khi bước vào ngồi thiền, ngồi không nổi. Vì chân đau, rồi đủ thứ chuyện phiền toái trong tâm. Còn cái người mà bắt đầu biết đến đạo Phật là biết luôn thiền thì tự nhiên nó thành cái nếp, cái nếp của mình. Mà nếu tu thiền vài năm tháng mà đi đúng đường lối, tâm ta có bắt đầu có những tiến bộ từ từ thôi là mình đã có niềm tin để đi mãi trên con đường thiền định như thế này. Thầy nói chưa cần chứng đạo cao xa đâu, chưa cần đâu, chỉ một chút ít chuyển biến tâm thức thôi là đời sống mình đã thay đổi, đã hạnh phúc, an lạc nhiều lắm rồi. Nói so với những cái hạnh phúc thế gian là không còn gì là đáng kể nữa.

[13:25]Chưa nói tới chứng quả Thánh á, chứng quả Thánh là thành phi thường rồi, không thể tưởng được. Nhưng mà chỉ cần những người cư sĩ như chúng ta thế này thôi mà ta theo đuổi thiền chừng năm năm trở lên bắt đầu có chuyển biến, có an lạc là ta niềm tin đối với đạo rất là lớn, không có lung lay được. Còn cái người mà tu theo đuổi thiền định như vậy, đi đúng con đường Phật pháp, lễ kính Phật, làm nhiều điều công đức, rồi khiêm hạ, kín đáo và tinh tấn tu tập thiền định 10 năm hơn, ta có thể chứng được quả Tu-đà-hoàn chứ không phải là không. Nhưng cái quả Tu-đà-hoàn là sao? Quả Tu-đà-hoàn á thì nhìn bên ngoài không có gì đặc biệt.

[14:07]Tức là ta ví dụ cái người đã chứng Tu-đà-hoàn rồi, ta gặp người đó ta không biết, vì người đó không có gì có vẻ phi thường, đặc biệt hết, mà chỉ là bản chất con người đã thay đổi. Ở bên trong á, chứ còn ta nhìn vô ta không biết. Bản chất con người đã thay đổi mà tự người đó mới biết. Bản chất thay đổi như thế nào? Là thứ nhất là người đó sống vị tha, không còn ích kỷ. Cái điều đó rất rõ và người đó tự cảm nhận mình rất rõ. Nên cái người nào mà sau khi ta tu theo đạo Phật một thời gian, đến một lúc bỗng nhiên tâm thức bất chợt thay đổi một cái, sau đó ta thấy bản chất con người mình thay đổi, mình sống vì người hơn trong từng giây phút của cuộc sống.

[14:50]Ví dụ khi ta vừa cầm bát cơm lên ăn thì mình không ăn liền, không cắm cúi ăn liền, mà cầm bát cơm lên ăn bắt đầu trong đầu nghĩ là: không biết cái người này đã có ăn chưa, có người nào đi vắng là về ăn chưa, ở bên nhà bếp không biết còn cơm không hay dọn lên hết rồi, vân vân. Nghĩa là tự nhiên mình hay lo cho người khác nhiều hơn là bản chất đã thay đổi, là mình đã dấu hiệu của Tu-đà-hoàn, của quả Thánh đầu tiên. Còn người nào mà chưa cần tu mà đã có cái bản chất đó từ bé thì người này có khi đã chứng Tu-đà-hoàn ở kiếp nào, bây giờ đang trở lại, đang trở lại tu tiếp, đi tiếp con đường Phật đạo để có thể chứng những đạo quả cao hơn.

[15:29]Nhưng mà không hứa nha, thầy không có hứa là ví dụ kiếp trước chứng Tu-đà-hoàn thì kiếp này sẽ chứng nhị quả Tư-đà-hàm, không hứa à. Có khi kiếp trước chứng Tu-đà-hoàn, ta phải đi năm kiếp sau mới chứng được Tư-đà-hàm. Điều cái thời gian nó không có hẹn. Nhưng mà cái bản chất của ta là bản chất của thánh, nó khác như vậy. Nó sống trên đời sống một người quân tử, không luồn cúi, không nịnh bợ, không ác độc, không mưu hại. Mặc dầu là nhìn bên ngoài không có gì đặc biệt nhưng bản chất thánh hiện ra rừng rực như vậy. Và cái người mà Tu-đà-hoàn có cái đặc biệt là cái lòng kính Phật là tuyệt đối. Có người vậy, đến với đạo Phật còn ngờ ngợ,

[16:10]còn nghi nghi, không biết Phật thế nào, rồi phải ráng tu, rồi tu thấy có cái hay, ráng tu ngót 10 năm, 20 năm đến khi tâm bừng chuyển một cái, từ đó lòng kính Phật mới dâng trào vô tận thì người này bắt đầu giây phút đó mới gọi là chứng Tu-đà-hoàn thì mới có lòng kính Phật tuyệt đối, là mới kiếp này. Còn cái người nào sinh ra từ nhỏ, nhiều khi thấy tượng Phật đã chắp tay lạy, có có mến Phật cũng lạ lắm, rồi lớn lên là cái lòng kính Phật tự nhiên, rồi khi vào chùa mà nghe giảng về lòng kính Phật, mình thấy điều đó có sẵn trong tâm mình, người này coi chừng kiếp trước đã chứng Tu-đà-hoàn, bây giờ trở lại để tu tiếp á.

[16:50]Thầy vừa nói hai tính chất: một tính chất là sống vị tha, tính chất thứ hai là rất kính Phật. Ở đây có ai có cái đó chưa? Có chưa? Có thể có, nhưng mà nó chưa trở thành bản chất mà nó đang mới tập. Tức là ta đang gieo cái nhân để chứng quả thánh Tu-đà-hoàn. Thầy nói mới tập là sao? Mới tập là nghe thầy giảng vị tha cái ráng suy nghĩ sống vị tha, mới ráng tập vị tha chứ chưa thành bản chất, nên là ta đang đi trên con đường để đi tới Tu-đà-hoàn. Còn Tu-đà-hoàn là cái vị tha nó trở thành tự nhiên trong bản chất của con người mình. Phân biệt được cái này không ạ? Rõ không? Cũng vậy, cái lòng kính Phật cũng vậy, ví dụ nghe

[17:33]quý thầy giảng về lòng kính Phật cho nên mình cứ ráng kính Phật, ráng lễ Phật, lạy Phật, kính Phật thì người đó đang gieo cái nhân Tu-đà-hoàn, đang đi trên con đường tới Tu-đà-hoàn, nhưng mà cái lòng kính Phật nó chưa trở thành tự nhiên, chưa trở thành bản chất, nhưng mà ta đang gieo. Còn cái người mà chứng Tu-đà-hoàn rồi, cái sự tôn kính Phật làm gì là tràn ngập tự nhiên. Nó khác nhau vậy. Còn nhiều cái sâu xa của quả vị nữa, mai mốt rồi từ từ thầy giảng cái tính chất của thánh là ta sẽ thấy. Mà mình hiểu về tính chất của thánh rồi mình tu không bị nhầm. Không bị nhầm là sao? Là sau này nếu mình tu có một kết quả của thiền định,

[18:14]mình biết là đó là chứng thánh hay chỉ là chứng thiền. Khác nhau. Vì chứng thánh và chứng thiền khác nhau. À vừa rồi có một cái sư cô đi qua bên Miến Điện 20 tháng học thiền về, cái ngồi gặp thầy kể cho thầy nghe cái thiền của bên Miến Điện là dạy như thế nào. Thầy cứ ngồi thì lặng lẽ thầy nghe, vì lúc đó thầy cũng sắp giảng, cho nên thầy cứ ngồi nghe cô nói. Thì cô nói bên Miến Điện người ta dạy thiền học thiền tràn lan, thiền sư tràn ngập nhiều vô kể, và có nhiều vị Miến Điện giỏi tiếng Anh cho nên họ dạy thiền cho người nước ngoài, người nước ngoài cũng về Miến Điện học thiền rất là nhiều, Việt Nam mình tăng ni cũng kéo qua đó học thiền rất là nhiều.

[18:55]Bên đó con nít chín tuổi cũng biết học thiền. Người ta thấy một đất nước như một cõi Phật đó nha. Rồi hỏi sao nói: có nhiều trường phái thiền, có cái phái đi về thiền quán là để chuyên về quán tứ niệm xứ, có phái đi về thiền định là chuyên về làm sao đạt được định, và những vị tu được định thì có thần thông. Nói là một ngàn người tu thiền định thì được bảy người có thần thông, trong bảy người có thần thông đó thì sáu người được vài năm rồi mất, còn được một người. Thầy nghe xong thầy biết như vậy là chưa phải chứng thánh. Đó là cái gì? Nó mới chứng thiền thôi. Chứng thiền rồi nó phát ra những cái khả năng đặc biệt,

[19:32]nhưng không phải thánh, vì chứng thánh nó thuộc về bản chất. Bản chất mà có thần thông rồi không bao giờ mất. Cho nên là làm như vậy cái thầy cũng thôi, nghe biết vậy thôi mình không phê bình, mình không phê bình. Vì cái con đường mà Phật đạo ta cách Phật 2500 năm, à cái sự phân biệt sâu xa trong cái sự tu tập của thiền định rất là khó có người nắm vững chứ không phải là dễ, không phải là dễ. Và khi hiểu những điều đó, nên hôm qua khi mà thầy giảng ở chùa Suối, thầy mới nói với quý thầy, hôm đó cũng có nhiều chính quyền nghe, thầy nói: khi ta phục chấn lại thiền phong của Việt Nam thì không phải là ta đi theo đúng cái khuôn mẫu

[20:17]của cả mấy nghìn năm trước của chư tổ. Tại vì cái Thiền tông Việt Nam của mấy nghìn năm trước kéo dài tới từ những tông mà Tỳ-ni-đa-lưu-chi, tông Vô Ngôn Thông, Thảo Đường và tới cả Trúc Lâm, ta không có lặp lại y như vậy. Vì sao vậy? Vì ta phải dựng một cái thiền phong thế nào mà nó dung nhiếp được cả ngàn xưa và ngàn sau, ta dung nhiếp được của Việt Nam và của thế giới. Cái thiền nó phải chuẩn xác như vậy và những nhà khoa học họ đến họ tìm hiểu, họ vẫn phải thấy là hợp lý, và những nhà triết học của hiện đại đến tìm hiểu, họ cũng phải khâm phục. Tức là cái thiền bây giờ mà ta dựng lại, nó phải dung nhiếp được hết.

[20:59]Ví dụ có một người Miến Điện đến tìm hiểu, thì đến tìm hiểu thiền của Việt Nam ta là gì, thì họ phải thấy thiền của họ cũng nằm lọt ở trong cái thiền Việt Nam luôn, chứ không có khác, nằm lọt, vì mình dung nhiếp được hết. Dung nhiếp được hết nhưng không phải là trộn hầm bà lằng lại, không có trộn lẫn, mà ta có cái hệ thống, hệ thống nó chuẩn xác và toàn diện nên khiến cho hễ cái gì liên quan tới thiền thì ta lý giải được hết. Ta lý giải được hết, ta ứng dụng, ta sử dụng, ta chọn lọc, chắt lọc được hết. Nên ta dựng lại một cái thiền của Việt Nam phải lớn như vậy, phải tầm cỡ như vậy. Đó. Và trong khi ta đang chờ đợi thì ngay tại chùa Di

[21:41]Đà này, ta đang có những người tiên phong của miền Bắc này, chính là những Phật tử ngồi đây, và ưu tú hơn là quý thầy, quý cô đang ngồi đây, nha. Ta là những người

[21:57]tiên phong để dựng lại cái thiền phong cho cho Phật giáo miền Bắc của ta. Nói là miền Bắc để khiêm tốn, chứ sự thực ta có một cái định hướng dựng lại một cái thiền Việt Nam mà nó nó bao trùm, nó toàn diện như vậy để cho cả thế giới phải

[22:15]chấp nhận, ý là như vậy. Nên do đó, có thể ngồi ở đây, trong cái hội chúng này, có những người rất giàu, có những người rất nghèo hèn, có những người tri thức, bằng cấp rất cao, cũng có những người có tri thức mà bằng cấp rất là lớp một. Nhưng mà ta đang là những người đi tiên phong, tinh tấn tu tập thiền định để khôi phục lại cái thiền phong của Phật giáo miền Bắc của ta, nha. Xin chúc mừng đại chúng.

[22:53]Hôm nay thì thầy nói cái bài tựa là: Ý chí của người tu thiền. Nãy giờ nói vòng vo, hết nửa tiếng mới nhập đề rồi trời.

[23:04]Nay ta nói bài Ý chí của người tu thiền. Thiền khó hay dễ ạ? Khó, đúng vậy. Và vì khó nên ta mới cần cần ý chí, đúng vậy. Và cái ý chí của thiền nó khác với nhiều loại ý chí ở trên trên đời này. Vì sao? Vì thiền trông rất là tĩnh lặng, tĩnh lặng như là hiền lành, như hư vô, nhưng mà lại đòi hỏi sự cố gắng phi thường. Cho nên cái ý chí trong thiền nó lạ hơn các loại khác. Ví dụ cái người vận động viên họ ráng chạy cho nhanh, thì ta thấy họ mỗi họ chạy ịch đụi đụi chạy ì xèo, ráng nhanh, ráng nhanh. Còn ta càng cố gắng chừng nào thì lại phải càng tĩnh lặng chừng nấy. Nó rất là lạ. Do đó, cái ý chí trong thiền

[23:57]nó đòi hỏi một cái sự khéo léo được dẫn dắt bởi trí tuệ chứ nó không phải là một cái sự thô bạo dễ nhìn thấy. Nên cái người đến với thiền là ta phải chuẩn bị cái tâm tư của mình, chuẩn bị một cái sự nỗ lực phi thường. Thầy dùng cái chữ phi thường vì cái người mà nhát nhát, lười lười, yếu yếu, ít lập trường theo không nổi. Như có khóa đầu tiên thầy nhìn thấy một cái cô đó đến ngồi thiền và mấy khóa sau biến mất, thầy đi mãi tìm không tìm lại được cô đó nữa, và thầy biết rằng cô đau quá, cô bỏ cuộc mất tiêu. Đó là mới thử sơ sơ á, thử sơ sơ. Còn những người mà theo đuổi được đến khóa thiền thứ tư này thì là sao?

[24:45]Là những người được Phật rất là cưng. Còn những người mà lúc thiền thì vắng mặt, lúc nghe giảng thì có mặt, thì Phật làm sao ạ? Phật làm sao ạ? Phật thì không ghét ai, nhưng mà thầy rất ghét.

[25:09]Cái ý chí phi thường của thiền á, à thực sự là nó nó khác thế này để thầy nói nghe, ví dụ: ví dụ như một cái người mà võ sĩ, họ tập luyện vất vả, họ họ đánh bao cát thùi thụi thụi thụi đó, luyện nhảy múa đánh võ đồ, thì lần lần ta nhìn vô thấy con người họ bắt đầu nó cứng cỏi lên vì cái cái nghị lực nó hiện trong đôi mắt. Ta thấy cứng cỏi nhưng mà vẫn còn lành lắm. Cho đến khi cái người đó đi lên võ đài đánh á, là phải đối diện với cái kẻ kẻ địch, đối phương mà đánh và đánh đau người ta, thì khi mà dám đánh đau đối thủ thì tâm mình đã thay đổi. À, tâm thay đổi rồi. Ta nhìn vào đôi mắt bắt đầu nó có cái ác hiện ra rồi,

[25:57]có cái dữ hiện ra rồi, chứ không còn giống một người mà lúc luyện võ chỉ đánh bao cát, khác nhau. Còn dám lên đánh đài, hụp, né, lặn, ngắt rồi đánh người ta một cái bụp, người ta đau, ngã xuống một cái là ta giãy giãy giãy rồi rồi lấy chân chẹn cổ người ta nữa, vân vân, thì cái tâm ác đã xuất hiện rồi. Và cái người đó cũng là người có ý chí, dám làm, dám chiến đấu, gan dạ, không sợ hãi, cái bản chất nó hiện ra rồi, nhưng mà nó cũng dữ, cũng ác. Bắt đầu có rồi. Thì cái ý chí đó không phải của thiền, mặc dù có cố gắng. Còn thiền á là cũng hết sức cố gắng, nhưng mà càng cố gắng đi đúng hướng thì cái tâm trống dần trống dần, tĩnh lặng dần tĩnh lặng dần.

[26:41]Hai cái đó nó khác nhau mà cả hai đều hết sức cố gắng. Cái cố gắng của những cái khác á làm bản ngã ta bốc lên dần dần, bốc lên dần dần. Nên ta thấy một cái người võ sĩ khi mà họ luyện võ thành công, họ chiến đấu thắng được rồi, cũng giống như một cái người mà đi học mà khi đạt được cái bằng cấp rồi thì luôn luôn có một cái điều gì đó tự hào về cái thành tích, thành quả của mình. Đúng không ạ? Luôn luôn. Vì những cái cố gắng đó, cái ý chí đó đều làm bốc khởi bản ngã. Nên bản ngã và ý chí là anh em sinh đôi. Còn thiền là con đường diệt ngã mà vẫn phải cố gắng, vẫn phải có ý chí. Nên cái ý chí của thiền là cái gì mà không được bốc bản ngã lên? À.

[27:31]Chính đây là một cái nghịch lý và là một sự khó khăn một lần nữa. Hết sức cố gắng mà cái cố gắng nó không làm bản ngã bốc lên. Còn tất cả mọi chuyện trên đời này, khi ta cố gắng mà có kết quả rồi thì ta đều tự hào, nó đều làm bản ngã bốc lên. Những người học sinh được thành tích tốt đẹp, ngay cả một cán bộ vừa leo lên được một cái chức cao, một người đạt được một cái bằng cấp mới, hoặc là một người võ sĩ vừa hạ được đối thủ thì ta thấy họ nhảy tưng tưng không? Giơ hai tay lên: "A, thắng rồi!" hoặc là đá tung một trái bóng vào trong cái lưới của đối phương thì sao? Reo hò. Mà người ta đá vô lưới đối phương người ta reo hò đã đành,

[28:12]mình ngồi dưới mình coi thôi mình cũng reo nữa. Mình cũng la, la giống như mình đá vậy. Nghĩa là bản ngã người ta bốc đã đành rồi, mình coi mình cũng hùa cái bản ngã mình bốc theo. Ở đây là ai vậy? Ở đây là ai, giơ tay lên coi. Thành thật khai báo.

[28:34]Nên cái ý chí của Thiền là cái mà làm diệt bản ngã.

[28:40]Thầy có một người huynh đệ tu hành, thì ông cũng tu thiền, cũng tinh tấn, cũng tốt. Thì ông ra riêng ở. Ra riêng ở thì ông cũng có sắm cái khu đất. Cái khu đất rồi cũng có những người tu ở gần, rồi không biết sao xung đột đất đai, cái giành nhau. Cũng mới đầu là cãi thôi, mới đầu là phân tích: "À, ranh của thầy là ngang khoảng này, còn ranh của tôi là khoảng này." Ông kia nói: "Không, ranh của tôi là khoảng này, ranh của thầy là khoảng kia." Mà đúng lạ thiệt. Đất, không biết nó là cái gì mà nó làm người ta ghê gớm thiệt. Thì cái ông thầy bên kia ổng hung dữ quá, ổng ổng đuối lý hay sao không biết ổng cầm dao ra ổng rượt ổng chém cái ông thầy này.

[29:22]Thì ông thầy này, cái ông mà huynh đệ với thầy, ổng thấy ông kia cầm dao xăm xăm xăm ra ổng đứng yên, ổng ngồi bình thản, giữ tâm bình thản và ổng đón cái lưỡi dao đó tới, không đỡ, không né. Thì ông kia là hùng hùng hổ hổ cầm dao tới, giống như người đời, nó còn dữ hơn người đời nữa, là chuẩn bị phạm pháp á. Đưa tới lên cầm xăm xăm là thấy ông này ổng đứng nhìn buông thõng, bình thản, cái không không dám chém, rút dao về. Tức là cái thái độ bình thản của ông kia cũng khơi gợi lại được cái đạo lý ông này, tại ông này cũng là thầy tu mà. Khơi gợi lại thì ổng sực nhớ dường như cái ông kia đứng bất động đó, đó mới là đạo.

[29:59]Còn cái mình cầm dao hùng hùng hổ hổ này là thằng quỷ á. Lúc đó tự nhiên ổng tỉnh một chút xíu, ổng buông dao không dám chém. Hay là ổng hù, hay là ổng lúc đó ổng đổi tâm mình không biết, nhưng mà không chém nữa. Thì cái người huynh đệ của thầy, sau khi mà ổng đứng với cái tâm chấp nhận cái lưỡi dao đó, tối đó về ổng chứng quả Tu-đà-hoàn liền. Phật thưởng liền. Và ổng cũng không biết là ổng chứng, ổng không biết, ổng chỉ thấy lạ. Và ổng cũng im lặng giữ điều đó bao nhiêu năm chẳng nói với ai cho đến ngày gặp thầy ổng nói lại. Ổng kể xong là thầy biết liền. Với những trạng thái ổng diễn tả ra, là ổng chứng Tu-đà-hoàn.

[30:35]Do đó mà ổng sống rất là nghèo, rất là khổ, và ít phước, bị coi thường. Nhưng mà chỉ riêng thầy thì rất quý kính ổng. Vì thầy biết ông này coi vậy á, coi bên ngoài coi vậy, thấy tầm thường như vậy, sự thật bên trong là thánh rồi, là Tu-đà-hoàn. Nên thầy rất yêu thương, thầy rất là quý kính. Ổng làm gì làm, rồi nhiều khi bị người ta không biết người ta cứ coi thường, hất hủi, nhưng mà lúc nào thầy cũng ân cần, thầy quý kính, săn đón, rồi thầy tiếp đón ân cần, đại khái vậy. Nên cái cái mà ổng ổng ngồi ổng đứng chờ cái lưỡi dao tới không đỡ, không né, không gì hết, cái đó là ý chí của Thiền á. Cái đó nó khó hơn là gì?

[31:14]Cầm cây đánh lại người ta, phải không ạ? Cái cầm cây, thấy ông kia cầm dao, đây mình cũng kiếm cây mình thủ lại, cũng là một loại ý chí đó, cũng là một cái gan dạ, cũng là một cái kiên cường đó. Nhưng mà cái đó nó không phải ý chí của Thiền. Còn cái ổng bình thản đứng lại ổng đón nhận lưỡi dao đó tới, cái đó ý chí của Thiền, nó hư vô mà lại không ngờ cảm hóa được ông kia. Ông kia tỉnh ra một cái, dừng tay lại liền. Còn ổng tối đó được phần thưởng chứng quả Tu-đà-hoàn liền. Vì người tu thiền nó hay bị cái trạng thái là ta đạt được kết quả rồi vài bữa nó mất, ta đạt được kết quả mới rồi vài bữa nó mất.

[31:49]Hôm nay ngồi thấy yên, bữa sau thấy nó động, có không ạ? Có. Đó, thì thường như vậy, cho nên ổng tu mấy mươi năm rồi, ổng cái tình trạng đó ổng hiểu quá, nên khi ổng đạt được một trạng thái mới thì ổng cũng yên tâm là chắc vài bữa nó cũng mất. Tuy rồi lại phải cố gắng lại. Nhưng lần này từ cái lúc ổng cái đêm đó ổng được một cái rồi, vĩnh viễn luôn mười mấy năm không mất nữa. Vì nó đúng là quả thánh, quả thánh thì nó không mất. Nó vậy. Còn cái ta được thiền á, khi nó được, khi nó mất, khi được, khi mất, khi nó tiến, rồi khi thoái, khi tiến, thoái. Nhưng mà được quả thánh rồi ở ngay mức độ đó nó không thoái nữa.

[32:23]Đó, đó là quả thánh. Nên cái ý chí của Thiền nó như hư vô, nó nhẹ nhàng, nhưng mà nó là một sự nỗ lực phi thường. Ta thấy nếu cái người đứng yên lặng đón cái dao đó tới, nó khó hơn cái người cầm cây chống lại, đánh lại, đúng không ạ? Đó, thiền, ý chí của Thiền là như vậy. Nên hôm nay ta ta học về cái bài này là ý chí của Thiền để biết mình phải hết sức cố gắng, hết sức cố gắng mà không làm bốc khởi bản ngã lên, vì nó nhẹ nhàng, nó hư vô, nó kín đáo. Mà trước hết để rèn luyện cái ý chí trong Thiền là ta phải làm gì?

[33:06]Lần sau dự khóa thiền từ đầu cho đến cuối, không có trốn mấy lúc ngồi thiền, không đợi tới lúc giảng mới có mặt nha. Mà những ngày trước ngồi thiền là đã phải sao? Phải có mặt đầy đủ. Ở đây ai là người thiền mà ăn gian với Phật?

[33:29]Lúc giảng thì có, lúc thiền thì trốn đâu mất tiêu. Đó, ta dòm mấy mặt này nè.

[33:39]Ăn gian như vậy, ta không có ý chí như vậy, sau này mình không có kết quả, không được Phật thưởng. Nhớ như cái ông sư huynh của thầy đó, ổng ổng đứng bất động một cái được tối đó được Phật thưởng cái đạo quả liền. Thì ta cũng vậy, ta phải đi qua rất nhiều cái khó khăn như vậy, rất nhiều cái nỗ lực như vậy, tinh tấn đúng hướng như vậy, đạo quả nó sẽ đến bất ngờ lúc nào đó ta không không lường được, nha. Còn mà cứ ăn gian ăn gian hoài là tu hoài không biết tới đâu nha.

[34:11]Ta còn nhớ Bát Chánh Đạo không? Bát Chánh Đạo, thì cái phần nè, ba cái phần sau là chánh gì? Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định. Ba phần sau đó là Thiền. Ừm. Ta đang ngồi tập như thế này là chánh gì? Không dám đâu. Mới Chánh Tinh Tấn thôi nha. Tức là ta đang áp dụng một phương pháp để tu thì gọi là Chánh Tinh Tấn.

[34:44]Còn khi mà bắt đầu có kết quả, tâm ta rỗng sáng lên, gọi là Chánh Chánh Niệm là bắt đầu ta có hai quả vị rồi đó. Nhớ nha. Trong cái giai đoạn Chánh Niệm là ta đã chứng được hai quả vị là Tu-đà-hoàn và Tư-đà-hàm. Nhớ hai quả vị. Còn Chánh Định là hai quả vị cuối là A-na-hàm và A-la-hán, như vậy. Nên hiện như ta đây đang là Chánh Tinh Tấn, nên ta phải đi cho đúng cái Chánh Tinh Tấn. Nhưng mà để có thể có được Chánh Tinh Tấn, thì đòi hỏi cái công đức rất là lớn, chứ không phải là chỉ bằng ý chí mà được.

[35:21]Phật đặt cái chữ Chánh Tinh Tấn ở tới cái thứ sáu. Tức là nên là năm cái chánh trước là nền để xây dựng cho cho cái chánh này. Trong đó ta có cái Chánh Nghiệp.

[35:38]Nhiều cái chánh nữa, từ Chánh Kiến, Chánh Tư Duy vân vân tới Chánh Nghiệp. Chánh Nghiệp này là công đức, là phúc. Bao nhiêu điều phúc ta làm trong đời, dồn hết để thành cái công đức của sự tu hành. Tức là bao nhiêu công đức, bao nhiêu phước ta ta không hưởng, mà ta đem nấu nó ở tại chùa Di Đà này. Bao nhiêu phúc ta làm được, ta thương người, ta giúp người, ta giúp vật, ta lo truyền bá chánh pháp, là vô số điều phúc ta làm, ta không có hưởng quả báo, đem về Di Đà nấu cho nó sôi lên để nó biến thành Chánh Tinh Tấn và thành kết quả tu tập thiền định. Mà thế nào là làm phước mà không hưởng? Thế nào gọi là làm phước mà không hưởng?

[36:29]Thường á, ví dụ như ta làm phước ở kiếp trước, kiếp này ta được có cái sung sướng, may mắn, giàu sang, quyền quý, hoặc là ta biết làm phúc cách đây 10 năm, 20 năm thì bây giờ phúc lành đã từ từ hiện ra, ta muốn cái gì, nó được cái đó. Mà không cần tới 10 năm, 20 năm đâu. Người nào mà sống tốt thôi, chỉ 3 năm, bắt đầu ta thấy cái dấu hiệu của những điều gì ta ước mơ, nó bắt đầu nó đến. Ta mơ điều gì, nó đến điều đó, là phúc đã bắt đầu thành lập đó. Ví dụ như ta thấy một cái áo đẹp, mà hiện tại mình thích mà mình không có tiền mua, mình hơi thích, khởi thích trong đầu thôi, bỗng nhiên sàn qua sàn lại chút xíu cái có tiền đủ để mua cái áo đó.

[37:13]Hoặc là ta thích một chiếc xe, rồi chưa đủ tiền, nhưng mà ta cứ mơ mãi, thế nào tự nhiên có tiền đến để mua được chiếc xe là như ý. Hoặc là phúc lớn hơn, ta muốn sửa lại cái nhà cho nó khang trang hơn, ta nghĩ để trong đầu như vậy, mà không biết là tìm tiền ở đâu, nhưng mà khi ta nghĩ đến nhiều quá, bỗng nhiên cái cơ hội nó đến, những cơ may nó đến khiến ta có được những cái tài lộc để ta sửa được cái nhà như ý mình. Thì khi cái người mà làm phúc đến cái kết quả rồi đó, thì điều gì ta muốn, nó sẽ đến với ta, là cái phúc của sự như ý. Muốn cái gì, được cái nấy, mà cái người muốn được liền là cái quả báo đã chín muồi.

[37:53]Còn người muốn một thời gian sau mới được, thì là quả báo nó có, nhưng mà nó chưa phải chín muồi, mà nhiều khi tại cái điều ta muốn nó lớn quá, nên phước nó phải đợi tích thêm, nhưng mà như vậy cũng là được phước như ý. Nhưng mà đó là ta có phước và ta hưởng. Ta muốn và ta hưởng. À, ta muốn ta sắm được cái áo mới, ta sắm được chiếc xe mới, à ta sửa được cái nhà mới cho đẹp là ta hưởng. Còn thế nào là có phúc mà không hưởng? Là không muốn. Ví dụ như là ta thấy cái áo nó đẹp, mà không muốn. Để dành tiền để làm chi? Làm phúc tiếp. Ta thấy chiếc xe nó đẹp, ta nhìn ta thích đó, nhưng mà nghĩ đi nghĩ lại thôi,

[38:35]để tiền để làm việc phúc tiếp chứ không có mua để sắm đi chơi. Có một lần thầy gặp một cái cô Phật tử đó, cô rất là hào hiệp và rộng rãi. À cô làm ăn từ một người buôn bán nhỏ lẻ đến khi mở được cửa hàng rất là to, và rất là giàu có, đi cúng chùa tràn ngập. Phúc làm rất nhiều và cổ được xem như một mẫu hình của một người Phật tử là thành công, có đạo tâm, có uy tín. Sau đó là cổ mới mua một căn nhà, mua miếng đất to, cất lên một cái cái biệt thự to. Và khi cất xong thì mời thầy đến để để để thăm. Sau khi thầy thăm rồi thì trong trong bụng thầy rất là bất an vì thầy biết rằng cô hưởng,

[39:20]cô hưởng, cô hưởng nhiều quá vì căn nhà nó đẹp quá. Nên thầy biết rằng cô này đang hưởng mà thầy lo một điều là cô hưởng quá cái phúc của cổ. Vì nhìn cái tướng của cổ với căn nhà nó không cân xứng. Cái phúc cô hưởng quá, hơi quá, thầy đang lo sẽ có chuyện xảy ra. Đúng thiệt á, qua năm sau nghe tin cổ trốn mất tiêu vì vỡ nợ. Đó, cái đó là ta có phúc mà hưởng, mà nhiều khi hưởng quá nó vỡ. Còn cái người biết tu là có phúc mà cố gắng không hưởng, cứ lại để làm phúc tiếp, thì phúc đó nó chạy về đâu? Đem đến Di Đà mà mà nấu. Đem đến Di Đà để cho quý thầy, quý cô lấy lửa nấu cái phúc của ta nó thành cái gì?

[40:05]Thành cái sự tinh tấn trong thiền định. Thì ta đi về con đường của thánh. Còn nếu ta có phúc muốn cái gì ta sắm cái đó, muốn cái gì ta hưởng cái đó thì ta hưởng cái phước của thế gian, phước hữu lậu, có rồi sẽ hết. Còn nếu ta không hưởng, cứ để làm phúc tiếp, rồi về Di Đà tinh tấn tu tập hàng tháng chứ không có trốn, không có giảng mới có mặt mà lúc ngồi thiền thì không có mặt. Như vậy, thì cái quả thánh trong tâm nó mở ra dần, mở ra dần. Mà để ý như thầy nói thế này: như cái ông sư huynh của thầy khi ổng đứng yên lặng mà ổng chờ cái dao tới, cái đó khó hay dễ? Khó. Cũng vậy, khi ta có tiền và ta thích một chiếc xe mới

[40:51]mà ta khước từ cái thích đó để không hưởng, khó hay dễ? Cũng khó. Cũng khó phải không ạ? Và cái khó đó làm sao? Cũng được phần thưởng như vậy. Cũng được phần thưởng, là đó làm cái khó, ta lại đem cái tiền đó ta làm phúc tiếp rồi tinh tấn để tu tập thì con đường thiền ta tiến rất là nhanh. Còn cái dại khờ nhất là hễ muốn gì được cái nấy, hưởng cái nấy; muốn gì được cái nấy, hưởng cái nấy thì tu thiền không tiến, tâm linh không mở ra. Phật không thưởng cho ta. Vì giống như ta đem về Di Đà không có gì để nấu hết, không có gì. Cái bát cơm của ta không có gì, không có gì chất liệu gì chỉ là một bát nước lã.

[41:34]Còn cái người kia họ ăn một bát cơm thiền nó ngon, vì trong đó nấu được bằng phúc rất nhiều, nên cái bát cơm thiền của họ rất là ngon. Còn ta về đây ta cũng ăn bát cơm thiền mà bát cơm ta không có gì hết, vì phúc nhiêu ta hưởng bên ngoài hết rồi. Cho nên cái tinh tấn chính là cái chỗ mà không hưởng phúc đó, để mà dành làm phúc tiếp rồi tinh tấn tu tập thiền định. Nên đem hết công đức của bao nhiêu cái Chánh đạo trước, từ Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng vậy, để dồn qua nấu thành cái cái Chánh tinh tấn như vậy. Rồi một lần nữa thầy nhắc lại: tu thiền bao lâu thì chứng?

[42:19]Đừng nói tới thời gian nha. Ai hứa hẹn ta một cái thời gian để chứng đạo, phải biết rằng người đó nói dối. Không bao giờ được tính tới thời gian. Trong đầu mình mà động đến thời gian là mình rơi vào tà kiến liền. Vì không tính tới thời gian, cho nên thiền không phù hợp với cái người ham mau. Cái người ham tu cho nhanh không thể chứng được thiền. Và thiền cũng không phù hợp với người tu từ từ. Nói thầy nói là không có thời gian tới cả ngàn kiếp mà, thôi cứ từ từ mà tu, thì người này cũng không bao giờ đắc thiền được. À. Như vậy, ta thuộc người ham mau hay ta thuộc người từ từ?

[43:05]Nhớ hai cái đó đều sai lầm cả. Nên vì vậy, ta diệt trừ cái tâm ham mau, nôn nóng rồi thế nào cũng tu sai, phát điên. Ta cũng diệt trừ cái tâm tu từ từ. Thôi mình cứ thong thả mà tu, thầy nói cả ngàn kiếp mà, hơi đâu mà gấp, giờ hãy đi ăn phở cái đã rồi từ từ nè. Thôi khóa sau thầy còn mở thiền nữa mà, kỳ từ từ tháng sau rồi tu, giờ thôi tháng này mình mắc bận cái gì đó thôi. Mắc bận có cái đám cưới thằng bạn, kỳ không đi kỳ quá, thôi kệ đi ăn đám cưới, tháng sau ta tu, thì người đó làm sao? Cũng không bao giờ chứng. Ta phải như thế này: bạn tớ gởi cho cậu một cái thiệp mời đám cưới con tớ nha.

[43:47]Cái mình lật ra coi, mình nói: xin lỗi cậu, đó là ngày gì? Ngày khóa thiền ở thiền viện Di Đà. Nói: mỗi tháng mở một lần mà, thôi ráng ráng đi tình nghĩa bạn bè. Mình nói: cái tình đạo nó quan trọng hơn tình bạn. Tớ có nhiều người bạn ở tại cái chùa Di Đà hơn. Cho nên là cậu mà theo tu với tớ thì tớ mới xem đó là tình nghĩa thiêng liêng, còn ngày giờ cứ nhậu nhẹt bậy bạ hoài, tình đó không thiêng liêng. Và dù là nói là để xã giao xã gì nó không cần. Cái ta cần phải xã giao là xã giao với ai? Xã giao với Phật sướng hơn nha. Còn xã giao với người đời, không bảo đảm, nó lôi kéo ta bậy bạ à. Cho nên cứ xã giao với Phật là chắc ăn.

[44:34]Nên vì vậy là thẳng thắn khước từ cái thiệp này để đi đi dự khóa thiền. Nói: thưa thầy, ngày khóa thiền hôm qua đúng ngày Thanh minh phải đi tảo mộ, cho nên là con không thể đến dự khóa thiền được. Câu trả lời đó có có hợp lý không ạ? Ai hôm qua nói lý do đi Thanh minh tảo mộ mà bỏ thiền, giơ tay lên thầy coi.

[45:03]Có không? Có không? Giơ tay lên thử để thầy kiểm tra coi con số bao nhiêu lấy lý do đó, nói là hôm qua Thanh minh rồi trốn sạch. Vậy là không có, vì lý do khác nữa. À, lấy lý do hiếu để mà tảo mộ trốn thiền mà thầy còn không chấp nhận, vậy một lý do nào nữa thì thầy có chấp nhận không? Không nha, mang tội đó. Cho nên vì vậy là ham mau cũng không được, mà từ từ cũng không được. Nghĩa là sao? Phải rất đều đặn, ổn định mà không dằn ép, không nôn nóng. Cái đó khó không? Khó nha, nhớ như vậy. Nói là tu cả ngàn kiếp mà tháng nào thầy cũng mở khóa thiền, cứ từ từ mà đi thì sẽ không bao giờ không bao giờ

[45:48]đắc đạo được, không bao giờ ta góp phần để xây dựng lại cái thiền phong cho Phật giáo miền Bắc ta cả. Nhớ nha, phải ráng. Ngược lại, thiền cũng chi phối ba nghiệp trong đời sống của ta. Khi một người có tu thiền thì người đó làm cái gì nó cứ làm thành việc phúc thôi. Nên cái người này lại rất dễ làm phúc. Vì sao vậy? Vì thiền làm cho họ suy nghĩ điều điều tốt, nói điều điều lành và làm điều phúc. Những điều phúc đó dồn lại thành thiền và thiền cũng gây một cái phản hồi trở lại đối với ba nghiệp thân, khẩu, ý của ta, làm cho ta suy nghĩ điều tốt, nói điều lành và làm điều phúc. Suy nghĩ điều tốt là sao?

[46:39]Vô số điều. Thấy một người khổ, ta muốn giúp. Cái muốn giúp đó đã là suy nghĩ điều tốt, chưa biết là ta làm được hay không, nhưng mà đã có đức, cái đức trong tâm ta đã lớn dậy. Rồi ví dụ con người hỏi ta, hỏi ta nói: thì bạn à, thấy thằng bên hàng xóm nó bị vay nợ khốn khổ quá, tôi có ít tiền tôi muốn giúp cho nó mà không biết tôi có nên giúp hay không? Thì mình dùng cái ý kiến, cái miệng mình để mình góp ý. Nói: tại sao nó vay nợ? Nó nó thua số đề, nó đánh bài. Thì vậy có nên giúp không ạ? Có người nói có. Có người nào mà thông cảm với người đánh bài dữ vậy kìa? Có một cái câu hỏi này sự thật là có một người hỏi thầy.

[47:27]Có một người trong đêm khuya giá lạnh nhắn tin hỏi thầy. Giờ đó thầy không cho ai liên lạc hết, vì thầy cũng phải tu và phải làm việc nữa. Nhắn tin hỏi thầy: có một người mà gia đình cái ông chồng là bị nợ bài bạc, bây giờ vợ con khổ quá, con có nên giúp vợ con không? Đó, những cái những cái câu hỏi, những cái tình huống như vậy buộc ta phải nhận định rất tốt để có một lời khuyên. Cái lời khuyên đúng của ta nó là lời nói lành. Giờ vậy thầy có nên trả lời ở đây không? Có không? Không, thầy không dại khờ gì trả lời. Vì ở đây sao? Vì ở đây toàn là người tu thiền. Và người tu thiền thì phải nghĩ được điều lành và nói được điều lành.

[48:07]Cho nên cái đây là một bài toán mà thầy giao cho mọi người giải, bàn với nhau giùm thầy nha. Đó, ông chồng đánh bài mắc nợ, vợ con khổ, bây giờ có nên giúp vợ con hay không? À mỗi người tự bàn với nhau rồi báo cáo cho thầy kết quả để thầy chấm điểm nha, để coi coi mình tu thiền tới đâu. Mình tu thiền tới đâu nó làm cho mình có trí tuệ xử lý mọi việc nó đúng hay không như vậy. Còn làm điều phúc thì sao? Thì thôi vô số điều như vậy nha. Và như vậy, cái người mà tu thiền họ thay đổi dần dần cái đời sống, cái lối sống và tính tình của họ. Cái người mà tu thiền đúng rồi là người phải thay đổi. Không thể có cái chuyện mà tu thiền lâu năm rồi

[48:48]mà chứng nào tật nấy, không có chuyện đó. Ví dụ cái người nóng thì tu một thời gian phải hết nóng. Người lười, tu một thời gian phải hết lười. Người ích kỷ, tu một thời gian phải hết ích kỷ. Người ham hưởng thụ, tu một thời gian phải hết hưởng thụ. Đó, nên là đời sống phải thay đổi mới gọi là người tu thiền đúng, chứ không có chứng nào tật nấy. À cái quan trọng là gì? Ta nhìn thấy người đó nhẹ nhàng hơn. Và nhiều khi chính người đó không biết, tại vì họ sống thiền, họ tự nhiên như vậy. Tâm họ tĩnh lặng, họ nhẹ nhàng mà thanh thản. À họ hiền lành hơn, họ bình tĩnh hơn. Chính họ không biết đâu, nhưng mà người chung quanh nhận ra điều đó.

[49:31]Nhận ra à trước đây cái người này nóng nảy nè, hung dữ nè, bây giờ bỗng nhiên thấy đối trước sự việc đó họ xử lý nhẹ nhàng hơn, bình an hơn, nhân hậu hơn, tốt bụng hơn, chứ không có xử lý gay gắt, căng thẳng mà sát phạt, không có ăn miếng trả miếng nữa. Mà nhiều khi mỉm cười vượt qua những điều khó khăn, nhiều khi mỉm cười nhận cái sự thua thiệt về mình để cho người khác được lợi. Lạ như vậy. Đó là cái sự thay đổi ở trong trong đời sống là vậy. Có hai loại chánh niệm là chánh niệm trong đời sống và chánh niệm trong lúc ngồi thiền. Và mỗi loại chánh niệm đòi hỏi một sự cố gắng, một cái ý chí khác nhau.

[50:19]Cái chánh niệm trong lúc ngồi thiền là gì? Là cái bài kệ mà vào thiền: "Xin Phật độ cho con", gì nữa?

[50:32]Luôn nhớ và hiểu rằng thân này không phải ta, tâm này không phải ta, chẳng có gì là ta. Trong từng hơi thở vào, trong từng gì nữa? Trọn niềm tôn kính Phật. Đây là cái khẩu quyết để ta ứng dụng lúc ngồi thiền, và ta phải theo dõi hơi thở. Mà trước khi biết hơi thở vào, hơi thở ra, ta có cái ý niệm của sự vô ngã: thân này là vô thường không phải ta, tâm này cái suy nghĩ này không phải ta, không có gì là ta. Nói là à thân này không phải ta, tâm này không phải ta, chắc còn có một cái cao siêu hơn là ta, nên nó phải xác định không có gì là ta. Nhưng mà không có gì là ta rồi có phải là hư vô vô nghĩa không? Không.

[51:23]Trong cái không có gì là ta đó, ta biết rõ trong từng hơi thở vào, ta biết rõ từng hơi thở ra, mà trong từng hơi thở như vậy là gì? Trọn niềm tôn kính Phật. Nó là một tình cảm cao thượng, nó gói theo, nó đi theo trong từng cái tỉnh giác, chánh niệm của ta. Ủa cái gì mà rắc rối vậy? Cái gì mà rắc rối vậy? Ở đây ta mới thấy thế này: cái phần mà nhận định vô ngã là thân này không phải ta, tâm này không phải ta, chẳng có gì là ta, nó là đạo lý, là triết học. Nhưng mà còn cái theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra nó có phải triết học, phải đạo lý không? Phải không? Không. Nó là kỹ thuật. Nó là kỹ thuật, kỹ thuật của sinh lý não.

[52:10]Và khi ta theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra này thì não ta yên lắng, đây là một kỹ thuật của sinh lý não. Mà nếu là một kỹ thuật thì nó không phải đạo lý, thì nó có cao siêu không? Ta phải nghi ngờ điều này. Khi ta phân tích ra thấy rõ ràng nếu nó là hơi thở vào, hơi thở ra nó là một kỹ thuật, và nếu nó là một kỹ thuật, nó không phải đạo lý thì liệu nó có phải cao siêu không? Ta phải nghi ngờ. Nhưng ở đây nhưng ở đây à cái kỹ thuật này ai dạy ta? Ai dạy ta? Phật dạy ta. Và vì tôn kính Phật, cho nên ta tin vào cái kỹ thuật này. Cho nên cái bài kệ vào thiền nó là một cái logic cực kỳ chặt chẽ trong từng câu từng chữ nha.

[53:02]Mỗi câu mỗi chữ trong cái bài kệ vào thiền nó quý hơn kim cương. Vì cái kỹ thuật đó Phật dạy và vì lòng ta yêu kính Phật, cho nên ta ta tin tưởng và chấp nhận cái kỹ thuật này, nghĩa là theo dõi hơi thở vào, theo dõi hơi thở ra để làm cho ta lắng được tâm mình. Nó là một kỹ thuật của sinh lý não. Nhưng mà để sử dụng cái kỹ thuật của sinh lý não này mà nhiếp tâm, ta có một cái đạo lý đi trước nó làm nền. Đạo lý đi trước đó là gì? Thân này không phải ta, tâm này không phải ta và chẳng có gì là ta, đó là đạo lý. Đạo lý làm nền rồi mới tới kỹ thuật. Kỹ thuật là theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra. Nhưng mà tại sao ta tin cái kỹ thuật này?

[53:52]Bởi vì lòng ta tôn kính Phật, vì Phật dạy ta, cho nên ta tin tưởng hết lòng mình. Nên trong từng hơi thở đó sự thực là ta đã gói trọn cái niềm tôn kính Phật đó, ta mới theo dõi hơi thở được. Nên mới có là: trong từng hơi thở vào, trong từng hơi thở ra trọn niềm tôn kính Phật. Và đó là cái chánh niệm ta tu tập khi ngồi thiền nha. Từng chữ đó quý hơn vàng, quý hơn kim cương, và mọi người phải thuộc, phải tụng trước khi ngồi thiền.

[54:26]Cái chánh niệm trong lúc ngồi thiền thì ta có hơi thở, nhưng mà trong đời sống thì ta không áp dụng hơi thở được. Vì sao? Vì ta phải làm việc. Ta khi ta làm việc cái nó bị động cái thân, thì cái hơi thở ta, ta không theo dõi rõ được. Thì lúc đó có một cái chánh niệm khác mà cái chánh niệm sau này nó thành một bài kệ gì? Bài kệ xả thiền. Và bài kệ xả thiền này ngắn hay dài? Tại sao nó dài? Tại vì đời sống phức tạp, cho nên bài kệ nó dài. Và ở đây bài kệ này chỉ có mấy đoạn? Có năm đoạn. Nhưng mà nếu cái người mà hiểu cái bài kệ năm đoạn này có thể tiếp tục viết ra thêm năm đoạn mới để mình nhắc chính mình phải không ạ?

[55:10]Ví dụ như trong đây thầy có nói cái gì? Khi nghe cũng như khi nói, phải không, đông người hay ở một mình, xem phim hay là đọc sách luôn nhớ thân này vô thường. Thì đó là thầy nói căn bản thôi, nhưng mà còn chính trong mình thì làm sao? Mình có lúc mình cười. Mà vậy cười có nhớ thân này vô thường không? Có, thì mình phải thêm vô tự mình viết một bài nhắc mình nha. Nhất là mấy người mà hay cười ha hả, hay cười lớn tiếng, hay cười mỉm chi, hay cười bí hiểm, tức là có nhiều loại cười thì ta tự viết nó ra: những khi con cười ha hả, hay những lúc con cười mỉm chi, đôi khi con cười bí hiểm luôn nhớ thân này vô thường.

[55:57]Hoặc là trong đây thầy nói là là lúc ăn cơm hay uống nước là thầy nói tổng quát. Nhưng mà khi cái người mà thực hành á mới thấy rằng cái bài kệ của thầy nó sơ sài quá. Ví dụ khi một người bắt đầu ăn ngồi ăn cơm và vừa ăn vừa nhớ thân này vô thường, mới chợt hiện ra nhiều thứ khác chứ không phải như thầy nói là khi ăn cơm không. Lúc đó mọi người đó mới thấy rằng cái muỗng mình múc miếng cơm đưa vào miệng nó rõ ràng, khi mình nhai từng miếng nó rõ ràng rõ ràng, khi mình nuốt vào nó rõ ràng rõ ràng, khi mình đưa cái đũa mình gắp miếng thức ăn sao nó rõ ràng từng hành động như thế. Mà sao thầy không nói?

[56:32]Thế mình về mình viết lại một bài kệ, bài kệ chánh niệm lúc ăn cơm nó rõ hơn thầy nói. Thầy nói nó không rõ, mình nói sao? Khi gắp một miếng đậu hũ rồi nha, không có thịt cá ạ, gắp một miếng rau luộc, phải không? À khi chấm một miếng nước nước tương chứ không phải nước mắm rồi nha. Khi à khi đưa vào miệng, à khi nhai nuốt luôn nhớ thân này vô thường. Tức là lúc đó ta tự đặt ra và nó sâu hơn thầy nói. Vì thầy chỉ là gợi ý thôi. Mà khi ta thực hành ta mới thấy ở trong mỗi phần việc đó nó sâu xa và khi mình giữ được chánh niệm, lúc nào cũng nhớ thân vô thường, tự nhiên mọi việc nó hiện ra rõ ràng rõ ràng.

[57:14]Mỗi khi mình cất tay cất chân bước đi nó rõ ràng. Ví dụ lúc trước thầy nói nè: khi đi cũng như khi đứng, phải không, thầy nói tổng quát. Nhưng đến lúc mình ứng dụng cái lời nói của thầy, thì khi mình bước đi cái mình nói: "Ủa sao thầy nói còn sót thiếu quá vậy?" Vì sao? Vì lúc mình đi từng cái chân mình đặt xuống mình thấy rõ ràng, phải không? Từng bước chân đặt xuống nó an lạc và thấy rõ ràng, từng cái tay mình đánh nhẹ nhàng mình thấy rất rõ, mà sao thầy chưa nói, thầy nói thiếu? Về lên viết thư lại, viết lại một bài kệ nữa nhắc mình. Viết lại một bài kệ là: "Mỗi khi con bước chân lên, những khi con đặt chân xuống",

[57:49]phải không, "khi tay con thong thả bước đi, từng làn gió mát đi qua mái tóc luôn nhớ thân này vô thường". Kỹ hơn rất nhiều. Cho nên cái bài kệ mà năm đoạn này nó chỉ là cơ bản, nhưng mà khi ta ứng dụng nó được trong đời sống, cái sức tỉnh giác nó hiện ra. Khi ứng dụng được cái bài kệ mà lúc nào cũng nhớ thân vô thường này, ta ứng dụng cho thầy ba ngày. Bắt đầu là sức tỉnh giác hiện ra, tâm ta thanh thản, yên tĩnh và tự nhiên mọi chuyện trong đời nó an vui, nó hạnh phúc, từng hành động cử chỉ ta ta biết rõ hết. Ta mới hiểu ra một điều: ông thầy, ông sư phụ Chân Quang mình ổng làm kệ quá dở. Ổng dở, ổng viết quá sơ sài, thế nên ta viết lại một bài

[58:38]kệ 100 đoạn trình lên thầy cho thầy hết hồn chơi. Như vậy, thì thật sự là như vậy, khi mà ứng dụng tu mọi việc nó rõ lên rất là nhiều. Và hôm giờ thầy cứ chờ chưa thấy ai trình kệ thêm để sửa lưng thầy, vì thầy làm rất sơ sài, mà thầy chừa cho cái phần sâu xa để những người khác làm. Mà hôm giờ thầy chưa thấy ai sửa lưng thầy. Tu được là phải sửa lưng thầy.

[59:05]Một vị thầy dạy đạo không bao giờ nói hết. Ổng dạy cái phần để người ta thực hành và ổng biết kết quả đi tới đâu, và khi kết quả nó tới đó, người đệ tử phải nói được cái gì, phải thấy được cái gì. Và ổng cứ ngồi đón đầu đường ổng chờ cái lời nói của đệ tử, nha. Ổng chờ cái lời nói đệ tử.

[59:27]Nhớ nhớ là ta phải ứng dụng hai loại chánh niệm như vậy: một cái chánh niệm trong lúc ngồi tĩnh tọa và một chánh niệm trong trong đời sống nha. Nãy thầy có nói cái chánh niệm là khi nhìn cũng như khi nghe chưa? Trong bài kệ có chưa? Chưa. À khi nghe cũng như khi nói, nhưng mà giờ khi nhìn thấy một điều gì mình có nhớ thân vô thường không? Thầy nói chưa? Chưa. Tại sao không ai sửa lưng thầy? Phải không? Ví dụ như khi đang ngồi nghe giảng, ta chợt thấy tự nhiên có một vị sa-môn đẹp trai như thế ở trên đời này đâu từ từ ở trong chánh điện bước đến, đâu một con người ở giữa trần gian này mà có một con người đẹp đến như vậy, phải không?

[1:00:11]Đẹp trai như thế, anh dũng như thế thì ta làm sao? Ta phải làm sao? Phải lo mà nhớ thân này vô thường, chứ đừng có ngắm hoài, ngắm hoài mất màu của thầy, nhớ vậy. Thì á đó có những điều mà thầy không nói thì ta phải tự tự biết. Rồi ví dụ như những người, những chàng trai trẻ vừa lớn mà đang còn gì? Đang rạo rực chờ đợi một cái gì? Một tình yêu, đúng vậy. Thì bây giờ mỗi khi ta đi ngang trên đường, ta nhìn thấy một cô gái xinh xắn thì làm sao? Làm ơn nhớ thân này vô thường, đúng như vậy, mà cho tắt cái tình yêu rạo rực đó đi, nghe không, vậy đó. Rồi đó là nói chàng trai trẻ mới lớn, bây giờ những người, những ông đã có gia đình rồi thì sao?

[1:01:01]Có cần phải vậy không? Đúng, còn cần hơn nữa. Cần hơn nữa. Nha. Là lúc đó người khi người đàn ông đã có gia đình rồi, ta đi ngoài đường gặp một cô gái xinh xắn thì ta cũng phải nhớ một bài kệ nha: "Khi nhìn thấy cô gái xinh xắn, dù vợ mình không có để ý thì vẫn phải tự giác mà nhớ thân này vô thường". Nhớ như vậy, nghe không? Nhớ vậy.

[1:01:32]Và nó có một cái điều lạ khi mà ta ứng dụng được thiền, cái chánh niệm trong lúc ngồi thiền, và ta ứng dụng được chánh niệm trong đời sống, thì bắt đầu cái, cái trí tuệ mình nó hiện ra, cái quan điểm, cái đạo lý mình nó thay đổi rất là lạ. Nó thay đổi thế nào? Thay đổi là nó sẽ thay đổi cái, cái muốn của ta đó. Cái muốn này nó thay đổi, vì muốn là bản chất của tâm mà, trong có tâm là có muốn. Mà khi ta, ta có chánh niệm, tâm mình tỉnh giác tự nó thanh lọc nội tâm, bắt đầu nó thay đổi cái muốn này. Những cái mà trước đây ta thích, ta muốn, bỗng nhiên bây giờ ta nhìn ngược lại, là nó đáng gì? Đáng sợ.

[1:02:18]Không còn là muốn nữa.

[1:02:22]Ví dụ như trong mình đây ai đẹp nhất nhỉ? Thầy có biết không? Ai đẹp nhất? Không, không, thầy, thầy, thầy không nói, đẹp nhất thì có hai thầy ngồi đây rồi. Hai ông, ông nhất ông nhì đó, không nói. Nhưng mà thầy nói cái người nữ á, trong mình đây ai là người nữ đẹp nhất? À, bốn sư cô này xếp một, hai, ba, bốn phải không ạ? À. Không biết. Thôi, mấy sư cô xấu lắm bỏ qua đi. Thế này, ta ví dụ thế này là thế giới hay tổ chức thi hoa hậu, vì sao vậy?

[1:03:01]Vì sao? Vì người ta cho rằng cái sắc đẹp của phụ nữ là điều gì? Đáng quý, phải không ạ? Đáng yêu, đáng quý, nên người ta mới, mới thi hoa hậu. Chớ có bao giờ người ta thi ông thầy tu đẹp không? Thầy không ai thi, không ai bỏ đi, không vất đi, không xài. Nhưng mà phụ nữ vậy, mà trong cái đẹp của phụ nữ cái gì nó hiện ra? Duyên dáng.

[1:03:29]Xin thưa, cái dục nó hiện ra, đúng không ạ? Khi một người nam nhìn một người nữ xinh đẹp thì cái điều gì hiện ra?

[1:03:41]Cái ái là cái ưa thích, và cái, cái dục của giới tính nó hiện ra liền. Nó tự nhiên như vậy, vì nó là bản năng tự nhiên của, của con người. Đó là một người bình thường á. Nhưng mà khi một cái người nam mà họ tu đúng, cái chánh niệm họ tiến bộ, thì cái đó, cái quan niệm nó lật ngược lại nó thay đổi lại. Khi họ nhìn thấy một người nữ đẹp thì những cái mà gọi là cái đáng yêu, cái duyên, cái dáng, cái ái, cái dục đó không phải nữa, không thấy cái đó nữa mà thấy cái gì? Thân thì vô thường, thân nó bất tịnh và cái dục đó là cái sự ô nhiễm đáng sợ. Tự họ như vậy, tự nhiên như vậy, chứ không cần phải quán

[1:04:23]chiếu đạo lý đâu, tự họ thấy rõ như ban ngày như thế. Nó, nó thay đổi, mà điều này làm cho ta có một ví dụ, ví dụ rất là chua chát. Ví dụ thế này, ví dụ như ta thấy con chó nó thích ăn cái gì? Con chó thích ăn cái gì? Phân. Con người thì sao? Sợ thấy mồ, phải không à? Tại sao vậy? Nhớ cái phúc của chúng sinh đó. Nghĩa là ở đẳng cấp nào thì nó thích cái loại đó. Ở đẳng cấp chó nó thích cái thứ, thứ đó gọi là thứ ngon. Nhưng mà ở đẳng cấp con người, cái phúc tràn đầy thì cái thứ đó là thứ gì? Đáng tởm, đúng không ạ? Đúng như vậy. Nên nó thay đổi. Có nhiều người hay kể chuyện thầy, nói trong nhà đó có ma, con thấy cái vong ở trong nhà vệ sinh. Rất chính xác.

[1:05:12]Vì sao vậy? Vì những cái vong ma rất thích ở trong nhà vệ sinh. Còn mình thì sao? Mình lật đật vô chạy ra mất cho rồi phải không? Phải dọn dẹp sạch sẽ rồi không nó hôi. Nhưng mà ma rất thích cái mùi hôi đó. Vì sao vậy? Vì phước của nó như vậy. Cái phúc của nó ở đó, nó thích cái loại đó. Còn cái đẳng cấp của con người mình cao hơn, mình sợ, mình thấy nó là bẩn. Nó lạ như vậy. Cái mà chúng sinh phàm phu thích thì bậc thánh thấy tởm. Và ta cũng vậy, ta khi ta thực hành con đường thiền định, ta đang đi bước trên con đường của thánh, thì cái muốn của ta nó thay đổi dần, thay đổi dần theo cái, cái nhìn của thánh.

[1:05:52]Cái mà trước đây mình ưa thích, bây giờ bắt đầu thấy sợ, chứ không phải thích. Cho nên do đó, mọi người tu xem chừng cái muốn của mình nó đang thế nào và biết mình đang ở giai đoạn nào, nha. Ví dụ trước đây mình thích tiền, bây giờ mình nhìn tiền là cái gì? Là trách nhiệm, là món nợ, thì mình đã nhìn có cái thánh rồi đó. Còn mà cứ tiếp tục càng tu càng ham tiền thì sao? Ham tiền thì sao ạ? Thì mình tu sai. Ví dụ như là trước đây mình thích ăn cho ngon, nhưng mà mình tu đúng rồi thì sao? Không cần nữa, chỉ ăn sao cho đủ sức khỏe thôi. Chớ còn hễ càng tu mà càng ham ăn thì sao ạ? Tu sai. Hoặc là trước đây mình thích à

[1:06:37]sắc, ví dụ sắc dục, mà càng tu thì sao? Thấy sợ. Còn nếu mà càng tu mà càng thích sắc dục thì sao? Tu sai, như vậy. Rồi thầy có một anh Phật tử ở rất là xa. Thì anh nhắn tin thầy liên tiếp là: "Năm nay con rất là lớn tuổi, cũng suýt soát năm mươi, con đem băng đĩa của thầy đi giáo hóa chúng sinh, con đến cái gia đình đó con giáo hóa, thì cái cô con gái của anh bạn đó chỉ mới hai mươi tuổi đem lòng yêu thương con say đắm." Rồi nhắn tin thì, thì ảnh nói ít quá, ảnh đâu có nói ảnh có mê không. Thì thầy nói: "Thôi, tránh đi." Vậy thôi, thầy chỉ nói. Cho đến khi vợ ảnh tìm cách liên lạc mới báo là tình hình quá

[1:07:20]báo động, vì à cổ đọc trong tin nhắn là thấy ổng nói: "Anh yêu em suốt đời, hôn em" gì đủ thứ, thì bà mới tá hỏa lên là cái chuyện nó không nhẹ nhàng như mà ổng mách thầy, ổng tự thú với thầy mà mà chuyện nó nặng rồi. Thế là thôi, cái mà thầy thì không có thời gian để mà tư vấn cái chuyện mà gỡ rối tơ lòng. Thầy giao qua cho sư cô Tường Phổ rồi nói chuyện tư vấn cho bà, vậy đó. Rồi còn còn ông thì ổng mới nói thì thầy chỉ nói điều này: Đây là cái nghiệp, cái ma chướng thử thách anh, anh phải vượt qua. Sau đó là cũng nhờ cái người vợ được cô Tường Phổ tư vấn rồi khuyên chồng một cách nhẹ nhàng,

[1:07:57]chứ không có làm ầm ĩ, khuyên chồng nhẹ nhàng rồi tìm cách nhờ một người quen đến khuyên bảo cái cô kia, vân vân. Thế là ông chồng vượt qua được. Vượt qua được thì hôm cách đây cũng không không lâu ông mới đến gặp thầy với vẻ mặt của một người vừa chiến thắng được một cám dỗ, cũng may là không đi quá xa, vừa chiến thắng. Mà cái đó là gì? Cái đó là cái đó ta gọi là cũng gọi là thử thách trong đạo, mà cũng gọi là cái công phu chưa chuyển được, như vậy. Nhưng mà nhờ cái sốc như vậy có kinh nghiệm để khiêm tốn lại, khiêm tốn lại biết rằng mình hiểu đạo, nhưng mà sự hành đạo chưa phải là, chưa phải là nhiều, còn phải cố gắng hơn, hơn rất là nhiều, như vậy.

[1:08:42]Nên đây cái gọi là cái muốn của ta để làm cái thước đo

[1:08:50]cái trình độ tu tập của ta. Sau này thầy sẽ nói lại vấn đề này một lần nữa. Hôm nay thầy bây giờ trở lại, nhớ là cái phước nó tạo thành ý chí nó khác với cái bản ngã tạo thành ý chí. Cái phước tạo thành ý chí thì nó tự nhiên và nhẹ nhàng. Còn cái bản ngã tạo thành ý chí thì nó xốc nổi, nó bồng bột, nó khoe khoang và nó kiêu ngạo, nhớ như vậy. Khi người đến với thiền tu tập mà ta thấy người đó lúc nào làm ra vẻ tinh tấn

[1:09:23]hơn người, biết người này dùng cái bản ngã để tạo thành một cái ý chí. Còn người nào ta thấy người đó rất siêng tu tập mà nhẹ nhàng, hiền lành, kín đáo, ta khó biết, thì người này tu đúng đường, là dùng cái phước của mình để tạo thành cái ý chí. Rất cố gắng, nhưng mà cái cố gắng nó tự nhiên, nhưng mà nó rất là mạnh. Cái cấu tạo tâm hồn của họ nó được tích lũy từ phúc của những kiếp trước, nên bây giờ họ tinh tấn tu tập thiền định, nhưng mà lúc nào cũng biết kiềm chế, biết lúc nào cũng biết che đậy, kín đáo, không bộc lộ khoe khoang. Còn cái người mà dùng bản ngã để tinh tấn để để có ý chí á thì cái bản ngã nó bộc lộ lên theo,

[1:10:05]và lúc nào có một chút bày tỏ khoe khoang. Nhớ như vậy. Người nào tu tập thiền định là đi con đường của thánh mà bộc lộ khoe khoang, kiêu mạn thì thế nào cũng đổ vỡ. Mà nếu đổ vỡ nặng có khi bị bị điên luôn. Có lần thầy gặp một ông sư ổng bị điên, thầy mới hỏi, thầy hỏi hết nói là sư tu thế nào thế nào thì kể hết, thì ổng kể ra là thấy ổng tu gần như chứng đạo á. Mà ổng tu một mình ở trên núi gần như chứng đạo, mà đến trình độ bắt đầu có thần thông, biết quá khứ, vị lai. Thì trong một đêm ngồi thiền thấy một ông già tóc bạc râu bạc đến xoa tay trên đầu khen: "Con đã chứng được nghĩa là Lăng Nghiêm tam muội."

[1:10:50]Thế ổng mừng quá, ba ngày sau bắt đầu ổng phát điên. Bắt đầu là đi vào cái chùa gần đó quậy lục tung cái bàn thờ người ta luôn, ồ làm đủ thứ chuyện hết trơn. Là chỉ vì sao? Vì ma nó hiện ra nó khen: "Con chứng được Lăng Nghiêm tam muội." Rồi vậy đó mà phát điên. Tự cho mình chứng rồi là điên liền. Nên vì vậy cái chứng của một người tu thiền nó không nằm ở cái lời khen của người bên ngoài, kể cả trong giấc mơ hay trong linh ảnh, đó đều là ma. Mà cái chứng của người tu thiền là cái gì? Là thấy càng lúc càng thấy mình không là gì cả. Cái người tu đến một lúc không thấy mình là gì cả và mình tôn trọng được mọi người, đó là dấu hiệu đúng đó.

[1:11:34]Tu càng tiến thì càng cúi đầu trước mọi người. Mà tu càng sai thì sao? Càng ngẩng cao đầu mà, mà đi. Mà nếu cái người nào mà ngẩng cao đầu mà đi thì đi về đâu? Đi về đâu? Vô bệnh viện tâm thần, nha. Còn ta cúi đầu trước mọi người để đi thì ta đi về đâu? Ta đi về Di Đà, chính xác, đúng như vậy.

[1:12:04]Đó là cái phước mà tạo thành ý chí. Cái thứ hai nữa là cái như lý tác ý mà tạo thành ý chí. Như lý tác ý, như lý tác ý là cái gì? Cái câu này là một cái từ trong kinh xưa mà nhiều khi ta hay bị hiểu lầm.

[1:12:24]Như lý tác ý tức là một cái mệnh lệnh mà mình tự ra cho chính mình, rất là ngắn gọn mà rất là quyết liệt gọi là như lý tác ý. Như lý tác ý nó khác với tư duy, chánh tư duy như thế nào? Chánh tư duy là suy nghĩ dài dòng để nhận định cái vấn đề, còn như lý tác ý là rút lại một câu kết luận, một câu mệnh lệnh ra lệnh cho chính mình. Ví dụ thầy so sánh thế này, ví dụ khi ta đầu tiên ta tư duy về cái đời sống ích kỷ hay là đời sống vị tha, ta mới suy nghĩ dài dòng rằng sống ích kỷ là chỉ lo cho mình, mà lo cho mình thì sao? Thì nặng nề, phiền não và đau khổ, dễ nhiều tạo nhiều ác nghiệp. Rồi cái ác nghiệp lại chồng thêm nghiệp, làm cho khổ đau càng nhiều hơn.

[1:13:16]Đó chứ nên phải sống tập sống đời sống vị tha. Sống vị tha là hay nghĩ tới người khác, hay nghĩ đến tâm tư, nguyện vọng, quyền lợi của người khác, vân vân, mà nghĩ như vậy lòng mình sẽ nhẹ, bản ngã mình sẽ sẽ bớt đi. Đó, cái tư duy dài dòng như vậy gọi là chánh tư duy. Nhưng mà đó chưa phải là như lý tác ý. Sau khi suy tư dài dòng rồi bắt đầu ta rút ra một câu một thôi, tự ra lệnh cho chính mình là từ đây quyết sao? Phải sống vị tha, một câu đó thôi. Phải sống vị tha, tức là ra lệnh cho chính mình, đó là như lý tác ý. Mà mỗi ngày ta như lý tác ý được một lần như vậy, cái nó định hướng cuộc đời ta luôn.

[1:13:58]Và ta sống như vậy luôn, từ đây không sống ích kỷ được nữa, chỉ sống vị tha. Thì cũng vậy, cái tinh tấn trong thiền định cũng vậy, là ta nhờ cái như lý tác ý mà mà tinh tấn. Ví dụ khi ta ngồi thiền, ta chân ta đau, người mỏi, muốn nhúc nhích mà không được nhúc nhích, khó chịu, tâm thì loạn, cứ muốn bỏ đi chơi, muốn xả thiền, muốn kéo chân ra. Nhưng lúc đó đầu tiên ta chánh tư duy, ta chánh tư duy ta mới suy nghĩ là bao nhiêu đời chư Phật, mười phương chư Phật, ba đời chư Phật, chư vị Đại Bồ Tát, chư vị Tổ sư, chư vị Thánh tăng để có thể chứng đạo giải thoát giác ngộ được, các Ngài cũng phải đi qua những con đường thế này, cũng khởi đầu đầy vất vả,

[1:14:40]khổ đau, khó khăn như thế này, và vừa mới có thể thành được chánh đạo. Còn nếu những chúng sinh như chúng ta trôi lăn vì sao? Vì không vượt qua được những khó khăn này, cứ trôi lăn mãi khổ đau mãi, cho nên thôi ráng mà mà tinh tấn. Thì mới kết luận lại một câu quyết liệt là không được bỏ chân ra, quyết ngồi cho lâu, đau gì nó đau, đau cho nó chết, ngồi đây mà chết thầy trụ trì sẽ chôn mình. Không sao hết. Phải không? Quyết liệt một câu cái đó là như lý tác ý, cái nó là tạo thành một cái ý chí tự nhiên, thế là ta cứ lì lì mà ngồi, lì lì mà ngồi gì đó. Và đúng như vậy, thầy trụ trì ta, thầy có cái có cái đất nghĩa trang đâu đây sau này.

[1:15:26]Thầy uy tín trong làng lắm và thầy tụng niệm rồi cầu siêu rất là hay. Lỡ mà mình ngồi thiền mà chết vì ngồi thiền thì ngon lành. Thầy bao từ đầu tới cuối hết, gia đình không phải tốn gì nên cứ yên tâm mà ngồi cho chết. Đúng như vậy.

[1:15:48]Hồi đó có một lần có một cái bà già, bà già ở cái tỉnh xa, bà bị bà bệnh hoạn yếu lắm, bà mới nói với con cháu bà là bà mơ ước được lên Chùa Phật Quang rồi chết cũng được. Thì con cháu không cho bà đi vì sợ là bà già yếu, nhưng bà nói quá cái một lần đó mới trong một buổi lễ của Chùa Phật Quang cái con cháu mới dìu bà đi, thuê chiếc xe đưa đến rồi đưa đi xuống núi vào lễ Phật, dự lễ xong đưa bà về, leo lên xe ngồi bà chết liền. Đúng trọn tâm nguyện, mà hên là chết trên xe chứ chết chùa chắc là thầy cũng phải bao hết. Nhưng mà còn ở đây thầy trụ trì ta là anh hùng, nha, thầy trụ trì ta là anh hùng lực lượng vũ trang,

[1:16:28]cho nên ta đừng sợ chuyện đó, cứ tu cho chết không có sao hết. Thì như vậy nhớ là ta dùng cái như lý tác ý để tạo thành cái tinh tấn của mình. Tự ra lệnh cho chính mình, buộc chính mình phải phải tinh tấn. Những khi thấy nó có dấu hiệu giải đãi là phải quở trách nó, phải rầy la chính mình và ra lệnh cho chính mình phải phải tinh tấn, đó gọi là như lý tác ý, đó để tạo thành tinh tấn. Mà trong đời sống này thì cái như lý tác ý nó tạo ra nhiều thứ lắm, nhưng hôm nay ta không phải giảng về bài này, nên là ta ta có những điều ta tránh thế này, khi ta tinh tấn ta tránh thế này, nhất là tránh ép tâm để vào định.

[1:17:08]Thì ta ép tâm vào định tức là ta đang dằn ép bộ não, bộ não sẽ hư liền, bắt đầu nó bệnh liền, nó tạo nên cái mất ngủ, căng thẳng, cau có, phiền não là biết rằng mình đã tu sai. Hơi thở nó bị nghẽn, cái người nó bị giật là mình đã dằn cái não mình, cái đó là sai. Và ta tránh là vạch ra một chỉ tiêu để đạt được kết quả theo một thời gian nào đó. Thí ví dụ như à hôm nay ta bắt đầu đến Chùa Di Đà quỳ xuống trước Phật là: "Bạch Phật, con sẽ cố gắng tu để sang năm con đắc đạo." Đừng nói câu đó, phát điên, sang năm phát điên chứ không đắc đạo được, nên không được đặt ra thời hạn chỉ tiêu. Đó, chỉ tinh tấn trong từng giờ từng phút, không được đặt ra một thời hạn.

[1:17:52]Đặt ra thời hạn là là một tà kiến. Thứ ba nữa là tránh bị người chung quanh mình nhận ra. Là ta tu mọi người biết ta có tu thiền, có về Di Đà và ta cũng khuyên bảo mọi người về Di Đà tu thiền. Nhưng mà đừng để bộc lộ cho người ta thấy rằng mình đang cố gắng, đang tinh tấn hoặc ngồi chình ình trước mặt người ta. Nhớ lúc ngồi thiền phải kín đáo. Như vậy hỏi lúc tụi con ngồi ở đây là sao, ngồi chình ình hết cả đám nè? Lại không sao. Nên do đó khi người ta không ngồi thiền mà mình ngồi thiền, người ta nhìn thấy mình bị tổn phước. Nên vì vậy ngồi phải kín đáo. Nhưng trường hợp nào người ta thấy mà mình không bị tổn phước?

[1:18:37]Vì người ta thấy mình ngồi, mình cũng thấy người ta ngồi, huề, không bị tổn phước. Nghĩa là phải làm sao? Nghĩa là phải rủ tất cả mọi người cùng tu thiền, thì như vậy ta tu được tự do, không bị tổn phước. Như ta kéo về đây mọi người ngồi như nhau hết thì không bị tổn phước. Còn ở cái làng của ta có mình ta ngồi, cả làng không biết ngồi mà ta ngồi cho cả làng thấy thì sao? Hết tu. Do đó ta phải độ cả cái làng ta cùng tu thiền. Nên vì vậy, vì cái yếu tố là tu thiền phải kín đáo mà ta thì không thể giấu giếm mãi, do đó ta phải độ hết cả làng ta về Di Đà mà mà tu thiền. Cho nên ở trong làng ai cũng biết tu thiền và người nào tu thiền

[1:19:17]xem như là một việc bình thường thì ta không bị tổn phước. Còn bây giờ mọi người chưa xem thiền là một việc bình thường thì ta ngồi thiền, họ thấy ta là phi thường, là khác thường, rồi mai mốt mình bất thường.

[1:19:33]Cho nên ráng độ mọi người cùng tu thiền để cho ai cũng thấy ngồi thiền là bình thường, thì lỡ mình có bị thấy, bị bộc lộ cũng không bị tổn phước, nhớ cái đó.

[1:19:46]Tránh một cái ý nghĩ rằng thế này là ta quyết liệt tu để chứng cho mau. Đó là cái tâm mà ham hố đó, vội vàng, nóng nảy rồi sẽ đổ vỡ, nên tránh cái ý nghĩ là vậy. Mà để cho cái ý chí nó tự nhiên nó xuất hiện thì lúc nào ta cũng phải trau dồi ba cái yếu tố căn bản hỗ trợ cho thiền. Ba yếu tố căn bản là gì?

[1:20:11]Quên rồi. Thứ nhất là đạo đức, thứ hai: công đức, thứ ba: khí công, đúng như vậy. Cái đạo đức là một nội tâm tốt đẹp, công đức là gì? Là điều ta thật sự cống hiến đem lợi cho đời, cho đạo, cho đất nước, quê hương, đó là công đức. Thứ ba là khí công. Khí công nó khác với thể dục là gì? Nó có cái hơi thở hỗ trợ trên nó ứng dụng được cái sinh lý não tốt lên. Nó làm cho ta có một cái tiềm lực và cái tiềm lực đó nó không bị mai một theo cái tuổi già. Còn ta tập thể lực, ví dụ như là ta nâng tạ, ta nâng tạ, ta ráng nâng cho mạnh thì nó là cơ bắp. Thì nó cũng tạo ra một chút ý chí đó chứ không phải không đâu,

[1:20:59]nhưng mà khi ta già, cơ bắp ta suy rồi thì ta không nâng được. Còn mà ta nâng tạ bằng khí công thì khác, tức là ta hít hơi, hít hơi đầy vào đan điền rồi ta mới nâng lên, dùng cái tay buông lỏng mà nâng tạ lên, mặc dầu nó rất là nặng. Thì đó là tập bằng khí đó, thì khi về già cái cơ bắp ta suy nhưng mà khí ta vẫn tồn tại thì ta vẫn có sức khỏe để tu tập. Cho nên ứng dụng cái khí nó khác với cái thể lực. Và lúc mà tập đây thầy hay cho tập cái lối chim bay, nhớ không ạ? Mấy người mà không ngồi biết đâu, chỉ nghe đi nghe giảng đâu có tập đâu biết. Cái khí công chim bay nó nhẹ phải không? Nó nhẹ mà ta tập ta thấy khoan khoái không? Rất là dễ chịu phải không?

[1:21:38]Vừa mới ngồi đau thấy mồ luôn, tới chừng cho bước ra bay bay thấy sướng gì đâu. Nhưng mà cái nhẹ nhàng, buông lỏng đó sự thật nó làm khai thông kinh mạch và nó tích lũy khí lực. Nên đó là cũng là một dạng khí công hỗ trợ cho thiền định. Thì khi ta có đạo đức nè, ta có công đức nè, ta có khí công nè thì cái sự cố gắng, ý chí của ta trong thiền định là điều tự nhiên, là điều tự nhiên, nha. Cái tâm của ta phải nghĩ đến một điều thế này là việc tu này là cũng nghìn kiếp. Nha. Nghĩ như vậy để làm chi? Đừng có mà ham mau mà đừng có mà giải đãi. Vì nếu mà ta giải đãi, không cố gắng, không tinh tấn, một ngàn kiếp nó thành ra mười ngàn kiếp á, cứ kéo hoài.

[1:22:29]Cho nên biết là tu thiền là khó nên ta phải cố gắng. Cố gắng mà không được hấp tấp, đó là cái Trung đạo trong cái sự tinh tấn của của thiền định, nha. Phải nhớ cái đó là cái tâm thế của ta. Rồi đến khi bắt đầu có kết quả, à, cái bắt đầu có kết quả này nè là tâm ta bỗng nhiên sáng tỏ ra, tâm nó thanh thản, yên tĩnh, ít vọng tưởng, người rỗng rang, đó là những kết quả ban đầu. Thì lúc này tu làm sao?

[1:23:00]Ai trả lời được?

[1:23:05]Chưa chứng nhưng bắt đầu có chuyển biến, có kết quả, tâm bắt đầu rỗng, bắt đầu sáng, bắt đầu thanh tịnh dần dần, chưa hết vọng tưởng đâu, nhưng mà đã kiểm soát được rồi, lúc này tu làm sao?

[1:23:24]Ai trả lời được thì không biết thầy có cái gì để thưởng không? Nếu ai trả lời đúng thôi. Ai trả lời đúng khen hay.

[1:23:38]Nhớ giùm thầy nha, thầy đã nói rồi, mỗi ngày cũng có nói rồi. Những khi tâm con tỉnh giác,

[1:23:49]càng nhớ thân này vô thường. Bí quyết nằm chỗ đó nha, thầy đã dọn sẵn rồi. Khi mà mình có kết quả, tâm mình bắt đầu rỗng sáng và yên thì sao? Càng nhớ thân này vô thường, chỉ an trú trong đó thôi mà đi tiếp, không có gì phải lo lắng, bối rối nha. Mặc dù lúc đó cái tâm ta rỗng sáng, nó làm ta rất là thích và ta hay chiêm ngưỡng cái tâm đó, nhưng lúc đó là sai đó. Những khi tâm con tỉnh giác, càng nhớ thân này vô thường, cứ nhớ thân này vô thường mà tiếp tục đi. Đừng có bị cái tỉnh giác, cái rỗng sáng của tâm nó dụ ta ra khỏi cái thân, nhớ như vậy. Và có một điều nữa là khi mà bắt đầu mình tu tiến

[1:24:35]thì cái giấc ngủ ta hết ham rồi, hết ham ngủ rồi.

[1:24:42]Trước đây ta rất thích ngủ ngon. À, sẵn cái chuyện nói ngủ ngon thì thầy mới có một cái ý niệm vui vui.

[1:24:52]Tiên đẹp hay xấu?

[1:24:56]Những nàng tiên là đẹp hay xấu?

[1:25:00]Ban đầu thầy cũng nghĩ như vậy. Ban đầu thầy cũng nghĩ là những nàng tiên rất đẹp. Sau này thầy mới phát hiện nó không phải. Vì ông bà mình có câu rằng: "Ăn được, ngủ được là tiên", mà cái người mà ăn được nhiều, ngủ được nhiều thì người đó ra sao ạ?

[1:25:20]Người đó đẹp không? Vậy nên thầy mới phát hiện tiên không có hề đẹp tí nào hết trơn. Tất cả những cô tiên đều béo.

[1:25:36]Khi mà cái người tu thiền có kết quả rồi thì nhiều điều trên đời này họ hết ham. Tiền bạc tự nhiên hết ham, danh vọng quyền lợi không ham và miếng ăn không cần ngon. Và quan trọng là giấc ngủ bắt đầu hết thích ngủ rồi. Hồi xưa mình ngủ dậy một giấc thấy thích không? Sảng khoái. Bây giờ ngủ là tiếc, nhớ như vậy. Đến lúc đó bắt đầu giấc ngủ là tiếc. Nhưng mà tới lúc đó là cương quyết không ngủ nữa là một cực đoan. Nên cái cái quan điểm của một người bắt đầu có được, xuất hiện được kết quả của thiền trong chánh niệm là thế này: là không ham ngủ, nhưng không ráng thức. Vì lúc đó mình rất thích thức để tu.

[1:26:21]Vì cái trạng thái tỉnh giác chánh niệm đó nó quý hơn mọi thứ trên đời này, quý hơn vàng hơn bạc hơn kim cương. Nên cứ rất thích mà tu. Đêm xuống không thích nằm, cứ thích ngồi dựa lưng để mà tu. Vì cái tỉnh giác đó nó quý hơn mọi thứ trên đời, nhưng không được ráng thức. Nhớ như vậy. Cả Phật mà cũng phải nghỉ hai tiếng đồng hồ trong mỗi ngày thì ta đâu phải là Phật. Ngài còn cân đối cái sức khỏe trong cái sinh lý của cơ thể như vậy thì ta cũng không được trái. Do đó, cái sự tinh tấn của một người tu thiền khi có kết quả, thì lúc đó ta phải đối diện với vấn đề về giấc ngủ. Dứt khoát là hết ham ngủ rồi, nhưng mà khi ta xuất

[1:27:01]hiện luôn cái ráng cái thức, bắt đầu ta cũng sai. Nên do đó, giai đoạn này thì không ham ngủ nhưng đừng ráng thức. Cái con đường là như vậy. Hôm nay ta nói với nhau về cái đề tài ý chí của một người tu thiền định, đó là những quan niệm mà ta phải biết để trang bị cho mình trên bước đường tu tập dài lâu. À, nay trời cũng đang cuối mùa xuân ha. Miền Bắc thì thì se lạnh, miền Nam thì nóng cháy. Mọi người về đây ta được cái hạnh phúc ấm cúng, có một ngôi thiền viện Di Đà, gọi thẳng là thiền viện, không chùa nữa, người ta để chữ thiền viện. Nên thiền viện, thầy trụ trì từ bi làm một cái mái che để cho ta tu tập.

[1:27:47]Tới mùa hè tới các em học sinh sẽ được học cái khóa hè cũng có được cái mái che, mọi chuyện sẽ tốt lành hơn. Cái ân đức của thầy đối với chúng ta thật là thật là vô hạn, ta biết ơn thầy. Ta biết ơn những người tín thí cũng đã góp phần để tạo nên được một cái cái quảng trường như thế này. Và chùa này có lẽ là cũng là một cái chùa đầu tiên có một cái quảng trường rộng trước chánh điện mà được mái che đàng hoàng, chứ nhiều chùa chưa có cái mô hình này. Nhiều chùa hễ sân có là để đồ cho chật sân, còn thầy để sân trống hết và mở được một cái quảng trường có cái mái che. Ta thích vào chánh điện lễ Phật thì có chánh điện

[1:28:25]bên trong, còn ngoài này là một chánh điện mở. Chùa vừa có một chánh điện mở để làm những sự kiện lớn, vừa có một chánh điện kín theo truyền thống, đó là một ngôi chùa rất là lý tưởng. Và ngôi chùa không gần làng, không xa làng, không xa đường, không gần đường, chung quanh là là ruộng đồng, rất là mát mẻ, rất là thanh tịnh. Thật sự thiền viện Di Đà là một nơi lý tưởng để tu thiền, mà ta còn lén lén trốn không tu nữa thì ta rất là xấu nha, và không phải là tiên.

[1:28:58]Thôi, trước hết, chúng con xin kính chúc chư tôn đức về đây dự khóa thiền làm cho chúng con cũng thêm được sức mạnh. Thầy cũng kính chúc cho quý Phật tử tinh tấn tu tập nha, được nhiều sức khỏe, gia đình được nhiều may mắn. Ai có những bệnh độc thì xin Tam Bảo gia hộ cho được gặp thầy gặp thuốc, chữa lành bệnh. Và hẹn tháng sau gặp nữa đầy đủ, không có ai trốn nha. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:29:29]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả,

[1:29:43]đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.