Transcript: Hiểu Về Bản Ngã

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:07:09

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:16]Hôm nay thì chúng ta sẽ nói với nhau một cái đề tài nó hơi khó hiểu,

[1:04]một đề tài hơi cao trong đạo Phật là hiểu về bản ngã, cái ta. Cái đề tài này nó hơi khó. Chúng ta hay nghe nói trong đạo Phật có cái giáo lý là vô ngã phải không? Vô ngã là không có cái ta. Hôm nay chúng ta nói với nhau về cái cái không cái ta là cái gì? Thì trước hết muốn hiểu không có cái ta thì ta phải hiểu cái ta là cái gì? Bây giờ chúng ta vẫn thường nói chuyện với nhau chúng ta xưng: "À, tôi nói với anh thế này, anh nói với tôi thế kia." Như vậy có một cái gọi là cái tôi, hoặc là: "Tôi vừa mới gặp người khác, ngày mai tôi sẽ đi đến đâu." Nghĩa là cái tôi luôn luôn hiện hữu trong chúng ta trong cuộc sống này.

[1:45]Tất cả chúng ta đều thấy có một cái tôi nó làm trung tâm cho cái cuộc đời của mình, có một cái tôi như vậy. Nếu mà chúng ta trầm tư lại, chúng ta sẽ ngạc nhiên lắm, tại sao có một cái tôi hiện hữu như vậy? À xin thưa hồi chúng tôi còn nhỏ, lúc đó còn bé lắm, còn bé năm đó khoảng 6, 7 tuổi, chúng tôi mới có cảm giác tại sao mình có một cái tôi? Tại sao cái tôi nó cứ suy nghĩ? Rồi tại sao cái tôi của mình nó không nằm ở nơi người khác? Rồi cái tôi người khác có giống với mình không? Cứ trăn trở trăn trở từ lúc bé như vậy. Đến mãi đến khi lớn lên gặp được Phật pháp rồi mới vỡ ra, à đây là cái điều cốt yếu trong cái sự tu hành mà Đức Phật đã nói.

[2:32]Chính cái tôi này đã khiến cho chúng ta gây nên không biết bao nhiêu tội lỗi. Chính cái tôi này đã làm chúng ta tham lam, thù hận, gây không biết bao nhiêu nghiệp sai lầm rồi cứ đọa chìm trong cái luân hồi, trong đau khổ mãi. Nên nếu mà có một con đường giúp cho chúng ta vượt khỏi cái ta này, cái tôi này, không còn cái tôi, không còn cái ta này nữa thì thực sự là chúng ta vượt thoát khỏi mọi điều đau khổ, từ một người phàm phu sẽ trở thành một bậc thánh. Thế nào là phàm phu và thế nào là một bậc thánh? Chỉ khác nhau ở chỗ có cái tôi hoặc là không có cái tôi mà thôi. Cho nên khi mà nói tới cái tôi này là chúng ta

[3:14]nói vào cái điểm chính yếu nhất của đạo Phật. Chúng ta là đệ tử Phật thì hôm nay chúng ta đang nghe đến một cái điểm chính yếu nhất của đạo Phật. Nếu nào giờ chúng ta đã nghe được nhiều giáo lý rồi mà chưa nghe về nói về bản ngã, chưa nghe nói về vô ngã thì chúng ta vẫn chưa đi được vào cái cốt yếu trọng tâm nhất của đạo Phật. Nên hôm nay cũng duyên lành là Tam bảo gia hộ chúng ta sắp sửa nghe đến cái điều cốt yếu nhất của đạo Phật. Nên xin quý Phật tử hãy lắng lòng thanh tịnh để mà nghe cho kỹ. Vì nếu người nào mà nghe được điều này, thấm sâu được, hiểu được thì chúng ta đã đạt được cái công đức

[3:56]rất là lớn, chúng ta đã gieo vào trong lòng mình một cái chủng tử Bồ-đề thật là đặc biệt để có thể đi rất xa trên con đường tu tập. Còn chư tôn đức Tăng Ni thì đã hiểu rất sâu nên các vị chỉ ngồi để chứng minh, còn các Phật tử nghe điều này đây rất là khó nên xin cố gắng, nên cố gắng rất là nhiều nha, vì điều này khó lắm, ừ.

[4:20]Nói cái tôi là cái gì? Chúng ta biết có cái tôi rồi đấy. Cứ nào giờ cứ xưng tôi thế này tôi thế kia là biết có một cái tôi, nhưng cái tôi là cái gì thì nó tùy thuộc vào cái hoàn cảnh và cái trình độ tâm linh của mỗi người. Cái người mà càng phàm phu chừng nào thì cái tôi của họ nó càng lớn, nó càng xa chừng nấy. Còn cái người mà càng thánh triết, càng có trí tuệ thì cái tôi của họ càng vi tế dần, nhỏ dần nhỏ dần lại. Thế mà những người mà tâm linh càng cao, chứng đạt càng cao thì cái bản ngã càng rất là vi tế. Ví dụ nếu chưa phải là chứng được một vị A-la-hán, chưa phải là một vị Đại Bồ Tát hoặc là chưa phải là một vị Phật

[5:01]thì ai cũng còn cái bản ngã, dù ít dù nhiều đều còn cái bản ngã vi tế. Còn những người phàm phu mà hung dữ, tham lam thì cái bản ngã họ rất là dễ thấy. Người ta ví dụ thế này một chút, thế nào là cái bản ngã? Ví dụ như hai người hàng xóm ở gần nhau, thì người mỗi người có một cái sân vườn. Thì ông này ổng trồng cái sân vườn, ổng trồng hoa, trồng rau. Thì bỗng một cái con chó của ông hàng xóm chạy vào cái sân vườn của ổng và nó nó sản xuất lại một cái ít sản phẩm, để lại ít sản phẩm trên cái cái đống hoa của ổng. Thì cái ông hàng xóm này ổng thấy a con chó của hàng xóm chạy sang mà sản xuất một ít sản phẩm trên cái đống hoa của mình ổng mới tức lên, ổng nói:

[5:44]"Anh xúc phạm tôi. Anh xúc phạm tôi. Anh để con chó vào nó ỉa vào cái vườn hoa tức là của tôi, tức là anh xúc phạm tôi." Như vậy cái ông này ổng hiểu cái cái bản ngã là gì? Cái ta là gì? Cái ta đồng nghĩa với cái vườn hoa của ổng, phải không? Con chó nó ỉa nơi cái vườn hoa mà ổng nói xúc phạm ổng, như vậy ổng chính là cái vườn hoa. Đúng không ạ? Đó, cái bản ngã nó tràn ra ở chỗ cái sân vườn. Như vậy, nghe ông này trách cứ, ổng than phiền thì ta hiểu ông này ổng xem cái vườn hoa là cái tôi, đó cái vườn. Như vậy là cái bản ngã ổng lớn, ngã ổng lớn. Hoặc là có người nào đó giận nhau, ừ, đêm hôm cứ lấy cái thùng sơn nó tạt vô lên cái cánh cửa của cái nhà đó.

[6:29]Sáng ra cái mở cửa thức dậy, người này thấy phía trước nhà bị bôi bẩn cả, viết những chữ bậy bạ và thảy sơn đen lên. Giận lên, người này la toán lên: "Ờ, tụi bay là cái người thế này thế kia, tụi bay a xem thường tao, à xúc phạm tao." À, thì như vậy người này xem cái nhà là là cái tôi. Cho nên bôi bẩn cái nhà thì người này coi là xúc phạm, đây là cái tôi nó nhỏ hơn một chút. Hoặc là ví dụ như mình tặng ai một tấm ảnh, mình tặng ai một tấm ảnh có cái hình của mình ở trên đấy. Ừ. Thì có một người đó họ cầm tấm ảnh lên, cái họ nói gì không biết, họ cầm tấm ảnh họ xé toạc ngay trước mặt mình. Mà cái hình đó là mình vừa mới tặng họ,

[7:08]không biết họ giận cái gì mình không biết, họ cầm tấm ảnh họ xé toạc. Thế là mình giận lên, mình tự ái lên và mình nói: "Tại sao anh khinh thường tôi, anh xé tôi như thế?" Thì như vậy cái người này họ hiểu cái tôi là cái gì? Là là cái tấm ảnh, phải không? Hiểu cái tôi là cái tấm ảnh, cho nên đụng tới cái tấm ảnh là họ bị đụng vào tâm họ liền, phiền não nổi lên, tự ái nổi lên liền. Còn ví dụ như vậy, đang nói chuyện với nhau, cái người này lại nắm áo người kia lên, người này thấy bị nắm áo giận lên. Giận lên ổng nói: "Nó giữa đông người vậy nó dám nắm nắm áo tôi nó xúc phạm tôi." Cái người này lại xem cái áo là cái áo là là tôi.

[7:50]Rồi cái cái hiểu về cái tôi nó nhỏ dần nhỏ dần lại. Hoặc là khi mình đang đi ngang một khúc đường rồi có một người nào họ tạt cái nước ở trong nhà họ ra rồi vô tình tạt ướt mình. Thế là mình mình phiền, giận lên. Mình nói: "Tại sao tạt tạt ướt tôi?" Như vậy cái người này họ hiểu cái tôi là cái gì? Tôi là cái thân, phải không? Thân xác này là cái thân thể này và đây là tới chạm tới mức rồi đó. Đụng tới cái thân là đúng rồi, bắt đầu tới vào cái tôi thật sự. Còn những cái sân vườn, cái bức ảnh, cái cửa nhà cũng là cái tôi mà cái tôi nó xa do ta bị phàm phu quá nên ta cái cái tôi của ta nó nằm ra quá xa, nhưng mà khi bị tạt nước ướt đụng

[8:30]thân mình rồi, hay ai đánh mình vào đụng thân mình rồi, mình giận lên rồi thì nó chạm tới thực sự cái tôi. Bởi vì ta chạm tới cái thân xác này có cảm giác này rồi, bắt đầu ta thấy đây cái tôi là là thật sự rồi. Hoặc là thế này, là trong một buổi họp đông người như thế, ví dụ như là ta cùng bàn cái công việc là bây giờ cái dân làng ta bây giờ đời sống đã khá lên, à nhiều người đã bắt đầu có xe con hoặc là nhiều cái xe nơi này nơi kia đi về thăm cái làng của ta vì làng ta có cái di tích văn hóa gì đấy á mà đường thì nhỏ quá, nên bây giờ yêu cầu là ta bàn lại với nhau mỗi người đóng góp vừa công sức vừa tiền bạc mở con

[9:10]đường cho lớn lên chút xíu để nó xứng đáng với bề mặt của của làng, xã ta. Thì nhiều người cũng bàn góp ý kiến người thì nên huy động thế này, người nên đắp cái con đường thế kia. Khi mình đứng lên mình đưa lên mình nói cái ý kiến, mình vừa nói xong có một cái ông cái ổng phát biểu thế này: "Cái ý kiến dở như hạch mà cũng nói." Cái lúc đó mình cảm thấy thế nào? Cảm thấy thế nào? Tự ái sôi trào. Tức là tự ái sôi trào lên. Và lúc đó như vậy cái ý kiến của mình bị phản bác, cái mình cảm thấy tự ái, mình nói là người đó xúc phạm tôi. Như vậy cái người này họ xem cái tôi là cái gì? Là cái ý kiến, phải không? Ý kiến.

[9:51]Vậy cái ý kiến của tôi chính là tôi, nên ai phản bác ý kiến của tôi là xúc phạm tôi. Như vậy tôi lại cái ý kiến, đây là đi vào cái bản ngã bắt đầu sâu hơn rồi. Bản ngã sâu hơn rồi. Hoặc là thế này, hoặc là một người tu tập thiền định, đến cái chỗ tâm bỗng nhiên trống rỗng hết, thanh tịnh, không có suy nghĩ, tâm đó lúc nào cũng sáng tỏ, và họ nhận rằng: "À, cái tâm thanh tịnh, rỗng rang, sáng tỏ này mới thật là tôi, đây mới thật là cái tôi." Thì như vậy người này xem cái tôi là, là cái tâm trống rỗng đấy, vẫn là cái tôi. Nãy giờ chúng ta đang đưa ra một số ví dụ để cho chúng ta hiểu cái tôi là cái gì.

[10:31]Nó tùy theo cái hoàn cảnh tâm linh, cái trí tuệ của từng người. Đó là cái người phàm phu thì xem cái tôi nó nằm rất là xa. Đụng cái gì cũng là cái cái tôi cả. Đụng cái nhà, cái xe, cái sân gì cũng thấy là xúc phạm tới mình. Còn cái người mà tế hơn thì bản ngã họ thu vào dần dần, thu vào dần dần. Cho đến khi mà cái người chỉ còn cái ý kiến thôi, thấy mọi vật bên ngoài không quan trọng, nhưng mà đụng tới ý kiến thì lại tự ái. Ví dụ như có con gà, cái nó vào nó bới cái sân, cái cười, nói: "Con gà nó bới cái sân chứ nó đâu có đụng gì tới tôi." Tức là không xem cái sân vườn của mình là cái bản ngã mình nữa, nên không có động tâm.

[11:09]Nhưng hễ ai mà kêu cái tên mình ra chửi, cái mình động tâm lên liền. Là bởi vì mình xem cái tên là là tôi, cái tên là tôi. Cho nên kêu cái tên mình ra chửi là mình đụng. Còn cái người mà tâm họ thanh tịnh như những bậc thánh đó, thì có kêu tên họ ra mắng, họ tỉnh bơ, bình thản, không giận. Bởi vì họ không xem cái tên đó là tôi. Còn tất cả chúng ta, những cái căn bản nhất nè, chúng ta thấy đụng tới là mình bị phiền não liền, như là đụng cái thân của ta. Có ai mà tát vào mặt mình một cái thì sao? Mình giận lên liền, bởi vì cái mặt này là là tôi. Hoặc ai kêu đúng tên mình ra chửi, hoặc ai kêu tên mình ra khen, là mình động tâm liền.

[11:49]Hễ kêu tên mình ra khen thì mình, mình mừng, kêu tên mình ra chửi thì mình giận. Như vậy cái tên này là cái tôi. Hoặc là cái người mà coi cái tên không là cái gì hết, không vĩnh, nghĩa là ai kêu cái tên ra chửi không giận, ai kêu tên mình ra khen không mừng. Nhưng mà hễ cái ý kiến mình đưa ra mà ai phản bác là giận liền. Thì như vậy cái ý kiến, cái quan điểm, cái tư tưởng của mình là cái tôi của mình, phải không? Là cái tôi của mình. Nên đây là cái tôi nó sâu hơn một chút. Thì bây giờ, trong cái từng mức nãy giờ mà nói như vậy á, thì mỗi người chúng ta nghiệm lại mình, là ai đụng đến chỗ nào thì bắt đầu mình giận.

[12:25]Bây giờ ai mà đụng tới cái sân mình đã giận chưa? Ai đụng tới cái sân mà giận, thì cái ta mình nó bự bằng cái sân. Cái tôi nó bự bằng cái sân. Rồi nếu ai đụng tới cái cửa nhà mình mình giận, đụng tới cái sân không giận mà đụng tới cửa nhà mình bắt đầu giận, thì như vậy cái tôi của mình nó là, là cái ngôi nhà. Mà ai kêu cái tên mình ra mắng mà mình giận, thì cái tôi của mình nó là cái? Cái tên. Ở đây ai kêu tên mình ra chửi mắng mà mình không giận đâu giơ tay lên? Ai? A, được ba người, lát kêu ra, lát kêu ra mắng nha, kêu mắng thử coi giận thật còn, hết giận chưa. Cái tên khó lắm, tại vì ta đồng hoá mình với cái tên từ nhỏ đến lớn rồi.

[13:12]Ai kêu tên mình ra mắng là mình giận, ai kêu tên mình ra khen mình rất là mừng. Cho nên ta phải tu đến cái mức độ nào có kêu tên mình ra chửi, mắng, hoặc là khen rồi mình không động tâm nữa, phải tu đến mức độ như vậy, thì ta thoát được cái bản ngã về cái, về cái tên. Rồi đến lúc nào đó, bắt đầu cái thân này cũng không còn là cái tôi nữa, ta tu đến mức độ nào mà lỡ chiếc xe nó chạy nó tạt nước ướt người mình hết, mình không giận, hoặc là có ai lỡ quơ cái cây trúng người mình, đau, đau, mình không giận, hoặc là có người nào đó họ hiểu lầm, họ đến họ nắm áo mình, họ tát vào mặt mình một cái đỏ bầm cái này mà

[13:49]cũng không giận, bởi vì cái thân này không còn là ta nữa. Phải tu đến mức độ như vậy. Mà tu đạt được mức độ như vậy rồi chỉ mới ngoài cửa, chưa vào trong sâu, chưa phải là sâu. Khó như vậy, cho nên ta thấy quá trình mà vượt khỏi cái tôi, vượt khỏi cái ta rất là gian nan. Còn nếu mà ta cứ củng cố cái tôi, củng cố cái ta thì ta sẽ đời đời đau khổ, phiền não và gây nhiều tội lỗi. Nhất là cái thời đại hiện nay đó, nó có một cái loại văn hóa quái đản là nó, nó kêu gọi con người bảo vệ cá tính, bảo vệ cá tính. Chúng ta nhớ cái văn hoá của cha ông ta ngày xưa là một cái văn hóa vô ngã. Nghĩa là khi một người ở trong cộng đồng không

[14:34]dám mặc quần áo gì khác với mọi người. Ai mặc thế nào ta mặc như thế nấy, chứ không lại bị quở, và mọi người cứ hòa vào trong cái đời sống của cộng đồng. Nghĩa là chị mặc áo the thì em mặc áo the, chị mặc áo ngang thì em mặc áo ngang, vân vân. Còn bây giờ mình phải mặc cái đồ gì mà đừng có giống ai, gọi là đừng đụng hàng, tức là để khác với mọi người. Đó là một cái lối sống mà làm phát triển cái bản ngã lên, và đó là điều rất nguy hiểm. Bản ngã mà phát triển thì cái tham sân si nó sẽ phát triển. Bây giờ cứ gọi là tôn trọng cá tính, thực sự là cái mà để đừng có giống ai, để tôn trọng cá tính chỉ là một loại phát triển bản ngã,

[15:13]và cái bản ngã càng phát triển thì người ta càng trầm luân, càng đau khổ. Như mấy đứa bé cũng vậy, cái văn hoá của Á Đông ta từ ngàn xưa là phải tập cho đứa bé nó vâng lời người lớn, là tập cho nó vô ngã từ đầu. Khi mà nó dù cha mẹ đánh không giận, cha mẹ mắng không được giận, cứ phải đứng khoanh tay đó mà lắng nghe, đứa bé nó tập vô ngã ngay từ nhỏ, nên lớn lên có bản lĩnh. Cái bản lĩnh nó chịu đựng, nhiều khi trong gian khổ nó chịu đựng được, bởi vì từ nhỏ nó đã tập được cái vô ngã. Còn ở các nước phương Tây hiện nay thì lại nuông chiều cái đứa bé làm cho nó phát triển bản ngã từ, từ sớm. Cha mẹ mà la nó, nó phiền là nó bốc máy điện thoại nó gọi cảnh sát liền.

[15:55]Tức là nó sẽ nhờ cảnh sát can thiệp để cho cha mẹ không được rầy, la, phạt, mắng gì nó nữa. Con nít bên phương Tây là như vậy, nên khi bản ngã lớn lên rồi thì bỗng nhiên cái sức chịu đựng nó lại kém. Lớn lên nó đương đầu với cuộc đời, nó không chịu nổi những cái khó khăn, khổ nhọc. Nhiều khi có những người nó đi lính, cực quá nó tự tử nó chết, không chịu đựng. Trong khi ở bên Á Đông ta là điều đó ta không nghe. Có những người lính gian khổ, chiến đấu mà không còn cái phía trước, không còn hy vọng phía trước mà vẫn quyết tâm chiến đấu cho tới hơi thở cuối cùng, hoặc là chiến đấu cho tới cái chiến thắng cuối cùng.

[16:31]Đây là cái điều mà bên phương Tây không hiểu được Việt Nam. Ta sau những cuộc chiến thắng lẫy lừng đối với ngoại bang, thì nhiều người họ ngạc nhiên, các nước trên thế giới họ ngạc nhiên về Việt Nam. Họ sang Việt Nam thì họ thấy người Việt Nam nhỏ thó, đất nước Việt Nam thì nghèo nàn, không phát triển, nhà cửa thì đơn sơ, cũng chưa chế tạo máy móc gì hay hơn thiên hạ, chẳng bán được sản phẩm gì đặc biệt cho thế giới, mà tại sao đánh đâu thắng đó? Cái họ mới cho người sang đây họ ở, họ thâm nhập, họ đi tìm, đi tìm là cái bản lĩnh Việt Nam nằm ở chỗ nào, mà tìm mãi tìm không ra. Tới ngày hôm nay họ vẫn không hiểu tại sao Việt Nam cứ

[17:10]đánh thắng thực dân này, đế quốc kia, chẳng hiểu. Nếu hôm nay họ có mặt ở đây họ sẽ hiểu điều đó. Nếu hôm nay họ có mặt ở đây họ sẽ hiểu tại sao Việt Nam có cái bản lĩnh mà đánh thắng hết nước này tới nước kia. Chỉ bởi vì ta đi theo cái văn hóa vô ngã. Cái văn hoá vô ngã là khi ta sống trong làng, trong xã của mình, ta hòa với mọi người, không dám làm gì khác với mọi người, không dám làm gì nổi bật, nổi trội, hoặc là con nít từ bé được dạy cái phải vâng lời người lớn. Nhiều khi cha mẹ đánh oan vẫn phải cắn răng chịu, vẫn phải thương cha, kính mẹ, không giận, không hờn. Từ nhỏ đã được dạy cái văn hóa vô ngã, nên lớn lên đánh đâu thắng đó.

[17:49]Đó là do cái vô ngã, văn hóa vô ngã của ta mà có được. Thì hôm nay ta nói về điều này là cái con đường để chứng Thánh trong đạo Phật, nhưng mà kỳ thực nó cũng tạo thành cái bản lĩnh của dân tộc. Khi mà ta đi theo con đường vô ngã, không có xem mình là quan trọng, lúc nào cũng sống không thấy mình là quan trọng để hòa vào, vào cộng đồng, mà tôn trọng được mọi người. Nãy giờ là ta nói như vậy đó, cho nên là cái lối sống hiện nay đang đe dọa lớp trẻ, và đe dọa lớp trẻ tức là đe dọa cả cái dân tộc ta, chính là cái lối sống mà phát triển bản ngã, phát triển cá tính. Như hôm rồi chúng tôi vừa đi trên đường Hà Nội thấy có cái biển quảng cáo,

[18:31]nó ghi của cái hãng nào đó, nó ghi cái câu slogan, cái khẩu hiệu như thế này: "Tôi khác biệt bởi vì tôi là tôi." Trong một câu ngắn thôi mà có ba chữ tôi. Đây là một cái lối văn hóa mà kêu gọi phát triển bản ngã. Mà ta hiểu rằng, cứ những cái khẩu hiệu đó mà cứ trưng bày trên đường phố nó đang giết dần cái bản lĩnh của dân tộc ta. Mà cái người mà ký cho phép để mà giăng những cái bảng quảng cáo đó ra đã không hiểu hết những cái nguy hiểm của nó. Một cái lối sống, cái lối văn hóa mà phát triển cá tính, phát triển bản ngã, chính là cái lối mà đầu độc dân tộc ta rất nguy hiểm. Nên ta phải chỉnh đốn điều này lại, những nhà làm văn hóa,

[19:12]những cái nhà mà chịu trách nhiệm văn hóa dân tộc phải cân đối giữa cái vô ngã hay bản ngã, để mà điều chỉnh cái tâm tình của cả cái dân tộc và nhất là cái lớp trẻ hiện nay đang bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những cái văn hóa độc hại từ cái internet, từ cái phim ảnh. Cứ: "Tôi khác biệt bởi vì tôi là tôi." Một câu ngắn mà tới ba chữ tôi, không ai chịu nổi. Cái tôi nó phát triển bùng lên rồi, nó sẽ không vâng lời cha mẹ, nó sẽ không hòa nhập được với cộng đồng, mà cứ xem mình là trung tâm, rồi sinh ra bao nhiêu điều lầm lỗi. Mà lại là yếu đuối, đừng tưởng cái con người bản ngã cao mà là người có bản lĩnh, không.

[19:50]Cái con người mà bản ngã càng cao lại là con người rất yếu đuối, đụng chuyện là trầm uất, là đau khổ chịu không nổi. Đó là Tây phương họ đang bị á. Vừa rồi vậy, chúng tôi có người đệ tử bên Mỹ về, là người Việt kiều về, cứ nói câu này: "Nói thưa thầy, con không biết tại sao mà cái người Mỹ họ rất là dễ trầm uất. Đụng chuyện sơ sơ, con thấy là chuyện bình thường chẳng có gì, mà họ đau khổ lên xuống." Cái nói là: "Đó là do cái lối sống, cái văn hóa bản ngã của Tây phương. Lớp trẻ nó được phát triển, được nuông chiều cái bản ngã từ nhỏ, cho nên cái người bản ngã càng lớn thì không có bản lĩnh trong cuộc sống này.

[20:25]Còn cái văn hóa của Đông phương ta là văn hóa diệt bản ngã, cho nên ta lớn lên, ta đương đầu được với mọi điều trong cuộc sống này." Nên ai cũng xem cái tôi mình là quan trọng thì ta sẽ phát sinh những cái những cái này là: tự ái nè, tự mãn nè, tự kiêu, tự tôn. Những cái từ "tự" đó đều từ cái ngã mà ra. Tự ái, tự mãn, tự kiêu, tự tôn. Những cái chữ "tự" này thì hôm nay chúng ta không có phân tích, vì chúng tôi đã phân tích trong một bài giảng khác. Các tôn giáo cũng thấy rằng cái bản ngã là nguy hiểm cho nên đã tìm cách thay đổi cái bản ngã cho nó thăng hoa hơn mà tránh đi cái bản ngã thô bạo, phàm phu, tục tử của con người.

[21:16]Nên một số tôn giáo đã nâng cái bản ngã lên thành những cái khái niệm khác như gọi là chân ngã là cái ngã thật, thần ngã là cái ngã của thần thánh, linh ngã là cái ngã rất là linh thiêng, hoặc là đại ngã là cái ngã gì đó siêu việt, nó mênh mông, to lớn. Thấy cái ta nó gây ra phiền toái trong cuộc sống quá, người ta cứ ganh đua hơn thua nhau mãi bởi vì những cái tôi vô lý này. Nên các tôn giáo đã kêu gọi con người phải thay đổi cái ngã này và họ đặt ra một số khái niệm mới như ta vừa nói là: chân ngã, thần ngã, linh ngã, đại ngã gì đó, vân vân vân vân, hay siêu ngã, vân vân, đó. Để chứ để cái ngã mà bình thường như thế làm cho con người ta cứ

[21:58]phải xung đột với nhau, phải thương, ghét, giận, hờn và khổ sở nên các tôn giáo cũng có mơ ước là chỉnh đốn cái bản ngã này. Nhưng riêng đối với Phật giáo thì Đức Phật chặt cho một đao đứt ra làm hai đoạn. Là gì? Đức Phật tuyên bố: không có bản ngã. Không có bản ngã, vô ngã luôn. Bởi vì sao? Bởi vì cái ta này là cội gốc của luân hồi sinh tử. Cho nên vì vậy phải giải thoát cho được hoàn toàn khỏi cái ta, bất cứ cái ta nào. Thì như vậy là phải tu làm sao để được vô ngã hoàn toàn, không còn vướng víu cái chữ "ngã" nữa, không còn chân ngã, linh ngã, siêu ngã, đại ngã, thần ngã gì nữa, phải chấm dứt hết mọi cái hình thức của bản ngã, phải vô ngã hoàn toàn.

[22:45]Đây là cái điều cốt yếu của đạo Phật. Thế nếu mà nếu có người nào đó đến hỏi ta cái cốt yếu của đạo Phật là cái chỗ nào, cái chỗ nào mà để có thể phân biệt được giữa đạo Phật với một số tôn giáo khác? Hoặc là nói đỉnh cao của đạo Phật là điều gì? Cái đặc thù nhất của đạo Phật là gì? Ta có thể nói mà không sợ sai lầm: mục tiêu của đạo Phật là vô ngã, đạo lý của đạo Phật là đi tìm sự vô ngã, và cái trí tuệ của đạo Phật là nhìn thấy rõ bản chất của bản ngã là không là gì cả. Ta có thể nói như vậy mà không sợ sai lầm, mà đó chính là điều cốt lõi của đạo Phật. Hôm nay ta đang nghe cái điều này. Vì cái ta này mà ta đã gây ra vô số tội lỗi.

[23:37]Vì cái ta này, thứ nhất là ta thích hưởng thụ, thích hưởng thụ. Ta thích ăn ngon, mặc đẹp. Ta thích hưởng thụ những lạc thú trần gian. Những cái lạc thú đó nó đến cái đỉnh cao cùng cực của nó là bắt đầu ma túy. Là có những loại ma túy mà khi người ta sử dụng nó gây nên những cái khoái cảm cực độ gì đó không biết, mà làm cho người ta nghiện ngập, lệ thuộc đến nỗi mất cả nhân tính, sẵn sàng giết cha, giết mẹ để lấy tiền mà mua ma túy. Nên ta thấy là cái hưởng thụ ít thì nó gây ra cái tham lam ít, cái ích kỷ ít. Còn cái hưởng thụ càng nhiều, càng cao cấp thì nó gây ra cái tham lam lớn, cái tội lỗi lớn.

[24:22]Ví dụ như là ta chỉ nghiện cái điếu thuốc lá thôi thì nó có cái phiền toái ít của nó, tại vì thuốc lá nó cũng ít ít, nó chưa nhiều lắm. Còn ví dụ như ta nghiện tới rượu thì bắt đầu vấn đề nó hơi lớn. Và đúng là rượu mà khi mà nghiện tới mức độ mà say xỉn quên trời, quên đất, quên trách nhiệm, quên bổn phận thì ta thấy cái người đó rất là ích kỷ, quên cả gia đình của mình và gây không biết bao nhiêu cái đau khổ cho người người thân của mình. Rồi có những người nghiện cờ bạc, có những người nghiện ma túy, mà tới ma túy là đỉnh điểm hiện nay. Tới cái ma túy là gây không biết bao nhiêu đau khổ cho gia đình, cho xã hội.

[24:57]Nên cái ta nó đã tạo nên cái cái khuynh hướng hưởng thụ. Và khi ta thích hưởng thụ thì ta tham lam. Khi ta tham lam rồi thì ta vơ vét, ta giành giật của mọi người để đem về cho mình, để mình có được cái sự hưởng thụ và tội lỗi chồng chất, chồng chất. Cái tội lỗi của sự tham lam mà trả ở những kiếp sau không biết cách nào mà trả cho hết. Có nhiều khi mà ta vì tham lam vơ vét nhiều cho mình, qua đời sau ta phải làm trâu, làm bò cày cấy để mà trả nợ cho mọi người, hoặc có làm thân ngựa cho mọi người kéo, chở mọi người đi, vân vân, vô số điều, vô số điều. Nên cái tham lam, đấy là nói nhẹ, chứ nói nặng là phải bị đày ải trong địa ngục.

[25:40]Rồi cũng vì cái ta này mà ta nóng giận.

[25:46]Mới đầu chỉ là cái giận thôi, nghe ai chửi mình mình chỉ giận thôi, ai giành giật của mình mình chỉ giận thôi. Nhưng mà đẩy lên nữa nó thành ra cái căm thù, thành sự độc ác. Khi mà mình có căm thù, có độc ác rồi mình sẽ làm nhiều điều tổn hại đến con người và vi phạm vào pháp luật nữa. Hoặc là ví dụ mình giận ai mình có thể giết người ta. Thì đó là hoàn toàn vi phạm pháp luật. Hoặc mình đánh người ta bị thương, đánh người ta chấn thương sọ não, nằm một chỗ không ngồi dậy nổi, bại liệt suốt đời. Hoặc là mình giận quá mình đốt nhà người ta, giận quá mình phá cái cầu người ta đang đi, hoặc giận quá cái mình trút thuốc độc vào giếng

[26:23]để giết hết cả nhà cả làng người ta, vân vân. Thì cái cái sự nóng giận nó đẩy lên cái đỉnh điểm của cái căm thù, của độc ác rồi thì ta tạo tội rất là lớn. Mà mỗi cái tội như vậy thì ta có cái quả báo phải trả. Nếu mà luật pháp phát hiện, bắt được ta thì ta phải chịu tù đày, có khi phải chịu tử hình. Nhưng mà cái tù đày hay cái tử hình của luật pháp thế gian nó vẫn chưa trả hết cái tội của ta. Tại vì cái bản án mà người thế gian, cái quan tòa tuyên cho ta coi vậy chứ nó nhẹ, nó nhẹ so với cái nhân quả. Ví dụ cái người cha mà bị chết thì không phải là chỉ một người bị chết, mà cái hệ quả nó là cái gì?

[27:09]Hệ quả nó là cái người mẹ bắt đầu phải không chăm sóc con cái được nữa, phải đi làm kiếm tiền và bỏ bê mấy đứa con. Và có khi bà mẹ không có nuôi con nổi, đứa con phải bỏ học sớm. Và đứa con nó không được ai chăm dạy, có khi nó dính với tội phạm và nó lại gây tiếp những tội lỗi cho xã hội. Nên chỉ một cái người cha chết, đau khổ cả một gia đình chưa dứt, nhưng mà cái hệ quả là nhiều khi nó thêm cái người xấu xuất hiện trong cái xã hội này. Nên vì vậy, giết một người không phải là chỉ có cái tội là giết một người, mà gây đau khổ cho một gia đình và gây cái hệ quả xấu cho cả xã hội về sau. Nên mà khi mà quan tòa mà họ xét xử, họ chỉ xét có tội giết một người.

[27:53]Nhưng mà luật nhân quả thì xử luôn tới cái tội mà ta làm đau khổ cho cả một gia đình, xử luôn cái tội mà ta gây cái xấu luôn cho xã hội. Chính vì vậy mà sau khi ta bị luật pháp thế gian phạt ta tù 12 năm, 20 năm xong, khi ta chết rồi, ta còn xuống địa ngục bị bị đày ải nữa, bị chịu khổ dưới địa ngục nữa. Và đến khi đầu thai trở lại, có khi chưa đầu thai được làm người, đầu thai làm heo, làm chó gì đó. Còn cái ngày mà trở lại làm người phải trả quả báo tiếp tục là sinh vào trong gia đình mất cha, mất mẹ, bị đau khổ, bị thất học, lớn lên bị người ta giết trở lại một lần nữa. Nên cái cái quả báo nó kéo rất là dài, rất là lâu mà chỉ vì

[28:36]do một giờ phút nóng giận nào đó khởi lên cái độc ác, ta đã giết người. Mà tại sao ta nóng giận, ta độc ác? Chỉ bởi vì có cái tôi, có cái tôi. Chỉ vì có cái tôi mà thôi. Cho nên ta thấy rằng ta tu theo Phật pháp, đi theo con đường vô ngã là hoàn toàn chính đáng, hoàn toàn hợp lý, sẽ tránh cho ta biết bao nhiêu là lỗi lầm trong cuộc sống này. Hoặc là vì có cái ta mà ta ích kỷ. Khi ta ích kỷ rồi thì ta hà tiện, bón sẻn, ta thờ ơ, ta hờ hững với mọi người chung quanh, ta chỉ biết có mình. Cái người bên cạnh ta bệnh, ta không hay. Cái người nhà hàng xóm ta đói ăn, ta không thấy, vì ta chỉ biết có mình thôi.

[29:22]Mà trong cuộc sống này, chúng ta không được phép mà chỉ biết có mình. Cuộc sống này là một sự tương quan chằng chịt. Ta sống ta phải có trách nhiệm với mọi người. Trách nhiệm gần nhất là với gia đình ta, với cha mẹ ta, với con cái, anh chị em ta. Trách nhiệm xa nữa là phải người láng giềng của ta. Là cái người láng giềng họ nghèo, họ đói ta không hay, hoặc ta hay mà ta vờ như không hay, thì những cái đó đều biến thành tội lỗi hết, đều biến thành tội lỗi. Là sau này ta sẽ mắc cái quả báo là tai điếc, mắt mù. Bởi vì có những điều ta thấy, ta nghe mà ta vờ như không thấy, không nghe, thì quả báo sẽ cho ta khỏi thấy, khỏi nghe luôn.

[30:04]Nên vì vậy, ta thấy một điều gì cần phải làm, xin hãy làm. Ta nghe một điều gì cần phải thực hiện, xin hãy thực hiện, đừng bỏ qua. Thấy người bệnh, hãy đến chăm sóc. Nghe một người đau khổ, hãy đến an ủi. Chứ đừng có mà biết người ta đau khổ hay người ta trong cơn khốn đốn mà mình lờ đi, vờ như không biết gì cả thì sau này cái quả báo của ta sẽ bị tai điếc, mắt mù để xứng đáng với cái tâm của ta là giả vờ không nghe, không thấy mà xuất phát từ cái ích kỷ. Mà cái ích kỷ từ cái gì? Từ cái tôi, cũng từ cái tôi chỉ lo cho mình, chỉ biết phần mình mà thôi. Cho nên là từ cái tôi này ta gây ra không biết bao nhiêu lỗi

[30:49]lầm và phải chịu trả những quả báo cực kỳ đau khổ về sau. Nên nếu người nào mà tu được vô ngã thì ta làm được vô số công đức mà tránh đi biết bao nhiêu là lỗi lầm. Đó chính là cái nhân cách của của thánh. Vì vậy, đạo Phật phải xác nhận rõ cái mục tiêu tu tập là đạt đến vô ngã, không còn cái ta. Hãy nhớ như vậy. Nên vì vậy là ta nhớ tu theo đạo Phật, mỗi khi ta quỳ xuống ta lạy Phật, hãy nhớ một điều là ta đi theo Phật tức là đi tìm cái con đường vô ngã, hãy nhớ như vậy. Nói tu gì tu, thật sự là nhắm đến cái mục tiêu vô ngã. Mà vô ngã thì có hai điều. Một là vô ngã trong cái đạo đức để ta cư xử với mọi người.

[31:37]Hai là vô ngã trong pháp môn tu tập tâm linh. Xin nhắc lại: Thứ nhất là ta vô ngã trong cái đạo đức để cư xử với mọi người ở bên ngoài. Và thứ hai là cái vô ngã trong cái pháp môn tu tập tâm linh ở bên trong. Hai điều. Nhớ chưa ạ? Nhắc lại nha, thầy nhắc lại để nhớ. Vô ngã có hai điều, một là cái đạo đức để ta cư xử, ta sống với mọi người, ta sống với mọi người chung quanh trên tinh thần vô ngã, và đạo đức là do vô ngã mà có. Nếu mà ta không có nhắm tới vô ngã, ta không có đạo đức. Hễ bản ngã ta lớn lên, ta mất đạo đức liền. Cho nên cái thứ nhất của vô ngã là cái đạo đức cư xử với mọi người chung quanh ở bên ngoài.

[32:24]Và cái thứ hai là cái pháp môn tu tập tâm linh ở bên trong. Nghĩa là khi ta đến vị thầy, vị cô nào dạy ta cách tu tâm linh thì đó là phải nhắm đến vô ngã. Giờ cái thứ nhất là ta nói đến cái vô ngã trong cái đạo đức cư xử với mọi người. Giờ thứ nhất là phải sống vì người, quan tâm đến nhu cầu của người, quan tâm đến tâm tình của con người, yêu thương con người, yêu thương vạn loài. Đó là cái đạo đức thứ nhất của cái vô ngã. Cư xử với mọi người bên ngoài là lúc nào cũng quan tâm đến tâm tình của người, nhu cầu của người mà ta tập từ trong gia đình ta trước. Ví dụ như ta là con thì ta phải để ý coi

[33:10]hôm nay cha mình đi làm việc về với cái nét mặt đó, chắc là cha mình vừa có chuyện gì nó rắc rối, khó khăn trong cái sở làm. Ta biết. Nhìn nét mặt biết liền chứ đừng có thờ ơ. Đừng thờ ơ nói: "Trời ơi hôm nay con đi học về mà sao cha không khen con? Không, con được điểm mười tại sao cha không khen?", trong khi cha mình cứ mặt cứ bực bực, rầu rầu thì lúc đó mình chỉ biết có mình mà không quan tâm đến tâm tình của cha. Nên hôm nay phải ngược lại, nhìn thấy nét mặt cha mình đi về biết ngay cha mình có cái gì khó khăn ở sở làm. Thế là thay vì mình khoe cái kết quả học tập của mình, cái mình lấy nước, lấy khăn cho cha mình,

[33:45]hầu hạ cha mình chút để cho cha mình dịu lại rồi thì mình hỏi han rồi mình mới khoe cái thành tích học tập để cho cha mình vui. Hoặc là anh chị em mình trong nhà cũng vậy. Mình biết rằng cái người này có một chút cảm, một chút ốm, có cái gì vừa chuyện buồn, ta biết ngay và hỏi han để an ủi. Lần lần bắt đầu cái nhìn của ta, cái tâm ta nó trải ra tới xóm làng, cái người trong làng trong xóm có chuyện gì khó khăn, ta luôn luôn nghĩ tìm cách để mà phụ tay, tiếp sức mà giúp nhau vượt qua trong cơn khốn khó. Đó là cái tập sống đời sống vì người, quan tâm đến nhu cầu, đến tâm tình của người, tập yêu thương con người trong từng cái ý nghĩ, trong từng cái việc làm như vậy.

[34:29]Đó là cái đạo đức vô ngã thứ nhất. Cái đạo đức vô ngã thứ hai là khiêm hạ. Khiêm hạ tức là ta tự thấy mình tầm thường, nhỏ bé để tôn trọng được mọi người. Còn khi mà cái ta của ta nó lớn, cái tôi nó lớn đó, thì ta ít biết tôn trọng ai, cứ thấy mình là hay hơn, thấy mình hay hơn người khác, và dễ chê người này, dễ trách người kia. Còn khi cái tôi mình mà nó nhỏ xuống á thì mình ngược lại, mình lại nhìn thấy cái hay của người khác mà mình thấy mình không hay. Mình không thấy mình hay, mà nhìn thấy người khác là hay, cứ cố tìm cái hay của người khác để khen ngợi. Cho nên ở đây chúng ta nhìn lại mình trong bao nhiêu năm qua làm cái con người

[35:16]sống trên đời này, giữa cái khen và cái chê, ta làm ta nói điều nào nhiều? Ta khen nhiều hay ta chê nhiều? Nếu ta chê nhiều thì biết ngay cái bản ngã ta còn lớn. Nếu ta khen được nhiều, biết ngay cái bản ngã ta đã nhỏ đi và ta có một chút cái hạnh của sự vô ngã. Như vậy ở đây, ai khen nhiều hơn chê giơ tay lên cho quý thầy, quý cô mừng?

[35:45]Một người giơ tay, hai người, ba người, bốn người. Được bốn người, năm người, sáu người. Tốt, thôi thầy chúc mừng những người mà biết khen nhiều hơn chê, tức là thấy được cái hay của người hơn là thấy cái dở của người. Nên thay mặt cho chư tôn đức, tăng ni và linh mục ở đây, thầy xin tán thán những người mà đã sống trên đời khen nhiều hơn chê. Xin cho một tràng pháo tay.

[36:13]Cái chữ khen với chê đơn giản nhưng sự thật nó biểu lộ cái cái ta. Cái người nào mà cứ hay chê là mình biết ngay cái người đó cái ta rất là lớn. Còn cái người nào mà hay khen người khác, thấy được ưu điểm của người khác, biết ngay cái người đó cái ta nhỏ. Cái người đó dễ tu lắm, dễ tu lắm. Một cái đạo đức vô ngã nữa là lòng tôn kính Phật. Tôn kính Phật, còn như Cha là phải tôn kính Chúa, ở đây thầy không nói. Còn như đạo Phật thì ta phải tôn kính Phật mà tôn kính tuyệt đối. Tôn kính tuyệt đối. Nếu ta không có lòng tôn kính Phật tuyệt đối là ta chưa hiểu Phật. Nhiều khi ta cũng đến lễ Phật đó, cũng đến tụng kinh đó,

[36:52]nhưng mà lòng tôn kính của mình đối với Phật chưa tuyệt đối vì ta chưa hiểu Phật. Còn nếu ta hiểu Phật, ta đọc kinh Phật, ta biết cuộc đời của Phật, ta tu tập, ta thấy được cái kinh nghiệm một phần nơi chính bản thân mình thì ta mới phát sinh được lòng tôn kính Phật tuyệt đối. Cả cuộc sống này, cả thân cả tâm này ta nguyện cúng dường Phật, vì Phật chết, chết liền.

[37:22]Và dưới Phật là chư Bồ-tát, chư Thánh hiền thì ta đều tôn kính các vị đó như vậy, nha. Cho nên ta phải biết lễ bái Phật, phải cầu xin gia hộ. Cầu xin gia hộ có phải là mê tín không ạ? Khi nào thì cái lời cầu xin của ta là mê tín, mà khi nào cái lời cầu xin của ta là không phải mê tín? Ví dụ như ta cầu xin được một cái quả báo là mê tín. Ví dụ ta xin ta được trúng số, ta xin ta được làm ăn phát đạt, cái đó là mê tín đó. Nhưng mà nếu ta xin điều này thì không phải mê tín nè: Xin Phật gia hộ cho con làm được nhiều công đức lành. Xin cho con chịu thương chịu khó để lúc nào con cũng giúp được người chung quanh con.

[38:09]Cái lời cầu xin đó là không có mê tín, mà lời cầu xin đó là Phật gia hộ cho mình liền. Hoặc xin cho con hiểu được giáo pháp sâu xa để con tu cho đúng đường, cái lời cầu xin đó không phải mê tín. Xin cho con gặp được một thầy hay bạn tốt để nghe giảng giáo pháp, xin cho con gặp được những vị giảng sư tài giỏi, xin cho con đi đúng đường,

[38:35]không rơi vào tà đạo, vân vân. Những cái lời cầu xin đó là chánh tín, và Phật sẽ gia hộ cho ta liền, nha. Chứ còn mà cái lời cầu xin mê tín là gì? Là ta bỏ công rất ít mà muốn thu hoạch rất nhiều, chỉ cúng có nải chuối mà xin Phật quá chừng xin, xin luôn cái cái nhà lầu luôn rồi, không có được. Một cái đạo đức vô ngã nữa là là can đảm. Vì cái người sợ hãi á, đụng chuyện gì cũng sợ là người bản ngã rất là lớn. Còn cái người xem cái ta không có nữa, là người dám đi vào chỗ chết mà không sợ. Người dám dấn thân vào những chỗ nguy hiểm, chỗ cực khổ mà không sợ, và quan trọng của cái can đảm vậy là dám nhận lỗi.

[39:16]Mình làm lỗi, dám nhận. Đó là người can đảm. Chứ thường ta làm lỗi ta không dám nhận, hoặc là có cái chuyện gì nguy khó, ta tránh né để cho người khác làm, thì người đó là người bản ngã lớn. Còn người mà vô ngã rồi, làm lỗi dám nhận lỗi, mà gặp cái chuyện gì nguy khó mà phải làm để giúp người, xông vào liền, không có sợ. Mà chính vì vậy mà ta mới dám hi sinh vì đại nghĩa, vì cái tình yêu nước, tình yêu nhân loại và sự trung thành với người trên của mình. Ta thấy đất nước này được tồn tại qua bao nhiêu nghìn năm lịch sử bởi vì có những anh hùng dám đi vào chỗ chết để chống ngoại xâm. Mà cái người xem cái chết không còn sợ hãi nữa, cái công đức người đó rất là lớn.

[40:05]Đó là lý do mà tại sao ta phải đời đời ta nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ là vậy. Ai là không quý mạng sống của mình? Mình trầy tay, trầy chân chút xíu mình đã thấy đau đớn, khó chịu phải không? Vậy mà cái người dám đi thẳng vào cái mũi tên làn đạn để mà bảo vệ cái đất nước này thì cái người đó họ đã có một cái công đức của thánh ở trong đó, có một phần công đức của sự vô ngã ở trong mới dám can đảm đi vào chỗ chết như vậy mà để giữ gìn cái đất nước này. Và chính vì cái can đảm đó, ta mới làm được những việc đại nghĩa trên đời cho loài người ta, cho đất nước ta, và trung thành với người trên của ta.

[40:45]Cái trung thành cũng là một cái đạo đức rất là khó giữ chứ không phải là dễ. Vì thường con người ta, khi được lợi thì mình theo, còn thấy cái người trên của mình có dấu hiệu suy sụp cái mình quay lưng mình bỏ chạy để cứu lấy thân của mình. Chỉ có những người vô ngã mới trung thành được, là vẫn đứng lại với cái người lãnh tụ của mình mà chiến đấu, sống cùng sống, chết cùng chết, cũng phải là cái người vô ngã. Cho nên đây là những cái đạo đức vô ngã mà nó tạo thành những cái đức tính mà đời đời cổ nhân ta ca ngợi. Nhiều khi ta gọi đó là người quân tử, nhưng mà sự thật, cái quân tử, cái gốc của nó cũng là cái vô ngã như vậy.

[41:22]Hoặc một cái đạo đức vô ngã khác là cái sự tùy hỷ. Tùy hỷ nghĩa là vui mừng vì hạnh phúc của người khác, vui mừng vì cái thành công người khác, vui mừng vì cái điều tốt đẹp mà người khác làm được, vui mừng vì cái tài năng của người khác. Còn nếu ta thấy người khác có tài mà ta buồn thì ta là cái gì? Ta là bản ngã, và cái tội rất là nặng, sau này ta không bao giờ có tài nữa. Có những người ở đời xưa rất giỏi, đời này không còn giỏi nữa chỉ bởi vì họ thấy ai giỏi họ buồn. Còn cái người nào mà thấy người khác giỏi, mình mừng thì người đó những kiếp tới sẽ rất là tài giỏi.

[42:05]Mình thấy ai thành công mà mình mừng thì mình sẽ thành công. Còn nếu mình thấy ai thành công mà mình khó chịu thì mình không có thành công nữa. Đây là nhân quả. Mà tại sao ta vui mừng được vì cái thành công, vì cái tài năng của người khác? Bởi vì ta không có cái ta, ta vô ngã, ta mới thấy được cái hay của người khác mà ta vui mừng. Cái tùy hỷ cũng là một cái đạo đức. Rồi cái tha thứ, tha thứ tức là trước cái lầm lỗi của người khác, ta không có căm giận, cố chấp giữ hoài trong lòng, cứ hờn trách hoài, không có. Biết người đó có lỗi nhưng mà phải nghĩ đến những cái cái công người đó đã làm được mà ta cân đối và tìm cái cách để giúp người đó vượt qua lỗi

[42:46]lầm mà tiến lên, chứ trong lòng không có oán giận, không oán giận. Nhờ cái cái tôi của mình nó nhẹ, mình mới nhìn thấy được mọi điều mà bao dung được người người khác là vậy. Đó là nãy giờ thầy nói cái đạo đức vô ngã trong cái cư xử với mọi người. Bây giờ nói cái vô ngã trong pháp môn tu tập. Cái quả chứng trong đạo Phật liên quan đến cái mức độ vô ngã. Cái người mà vô ngã càng nhiều thì là cái bậc thánh càng cao. Cái người mà bản ngã còn nhiều thì là cái phàm phu nó lớn. Cho nên ta cũng biết để hỏi, đó là đi hỏi ví dụ quý thầy, cô: "Dạ, thưa thầy, thưa cô, làm sao biết cái người đó là bậc thánh cao hay thấp trong đạo Phật?".

[43:30]Thì ta trả lời thế này, là: "Xem cái mức độ cái bản ngã người đó còn nhiều hay ít mà ta biết rằng người đó chứng thánh cao hay là thấp. Nếu người đó cái bản ngã người đó còn rất ít, tức là cái quả chứng người đó rất là cao. Mà nếu cái người đó bản ngã còn nhiều thì cái quả chứng của người đó còn thấp.". Ta trả lời như vậy là chuẩn xác hoàn toàn. Cho nên cái pháp môn cốt lõi của đạo Phật là luôn luôn giúp ta diệt trừ bản ngã. Nó khác với một số ngoại đạo sai lầm là hứa hẹn sự hưởng thụ cho bản ngã. Có một cái số tôn giáo hứa hẹn cái sự hưởng thụ của bản ngã, tức là sao? Họ hứa rằng hễ mà tu theo cái đạo của họ đó

[44:18]thì được sung sướng thế này, sung sướng thế kia. Thậm chí nói là có một cái người mà đi giết được bao nhiêu người thì lên trời được bao nhiêu cô gái hầu hạ. Tức là những cái lạc thú nó như ở trần gian thôi. Mà đó chính là sự hưởng thụ của bản ngã của một phàm phu, tục tử, chẳng có gì cao siêu hay là cao thượng cả. Còn trong đạo Phật, cái hứa hẹn của ta là vô ngã. Hai cái khác nhau. Đây là chỗ để mà ta biết rằng cái chính đạo hay tà đạo là ở chỗ này. Khi ta đi theo một cái đạo, thì cái đạo đó hứa hẹn ta điều gì? Nếu cái đạo đó hứa hẹn cho ta một cái sự hưởng thụ ở tương lai, ta biết ngay cái này là tà đạo.

[45:02]Còn nếu nếu ta đi theo cái đạo mà cái đạo đó hứa hẹn cho ta là một cái vô ngã, không hưởng thụ, thì ta biết đây là chính đạo. Trong kinh Phúc Âm của Chúa Giêsu cũng nói câu này: "Ai muốn theo ta phải quên mình", phải không cha? Có câu đó, quên mình tức là vô ngã. Tức là ta đi theo con đường thánh thì ta phải vô ngã, ta phải quên mình. Chính cũng là như vậy. Để ý rằng, nếu mà ta gặp một ông thầy nào, một giáo phái nào mà hứa hẹn cho ta nhiều cái sự sung sướng ở tương lai, thì ta biết ngay người này sắp dắt ta đi vào con đường tà đạo. Còn nếu ta gặp một vị thầy nào mà họ hứa hẹn với ta một điều là

[45:47]ta sẽ không còn gì để hưởng thụ nữa, không còn cái ta để hưởng thụ nữa, thì ta biết người này dắt ta đi vào chính đạo. Đây là điều rất là lạ, nó ngược với bản ngã của ta. Ai lại không muốn sung sướng, phải không? Ta vất vả, ta tu theo Phật pháp là ai cũng muốn sung sướng. Nhưng mà coi chừng, chính cái muốn sung sướng đó là cái dấu hiệu của tà đạo nó chen vào lòng ta. Còn cái người nào đi theo Phật pháp để từ khước mọi sự hưởng thụ, không còn cái ta để hưởng thụ, thì đó lại là chính đạo, chính đạo. Đây là điểm để ta phân biệt giữa chính đạo và tà đạo. Hôm nay ta nói những điều này rất khó hiểu, rất khó nghe.

[46:30]Quý Phật tử nghe những điều này mà chấp nhận được, mà hiểu được, thì là hạt giống Bồ-đề đã gieo vào tâm mình đời đời kiếp kiếp. Chỗ này.

[46:44]Sau khi mà ta thuần thục cái đạo đức vô ngã cư xử với mọi người, thì ta tiến đến cái tọa thiền, tâm linh để suy nghiệm về vô ngã. Cái đầu tiên thứ nhất là ta suy nghiệm rằng cái thân thể này là vô thường. Như ngày hôm qua là có thầy Bảo Nguyên hướng dẫn cho quý Phật tử ngồi thiền. Là khi ta ngồi kiết già giống như Phật vậy, rồi ta biết rõ toàn thân, giữ cho thân mềm mại, không nhúc nhích, bất động, kiểm soát toàn thân. Sau đó ta thấy cái thân này là vô thường. Một ngày nào đó sẽ phải chết, chết rồi chưa hết, từ từ nó còn tàn hoại, mục rữa lần lần cho tới cái xương cũng thành tro bụi biến mất luôn.

[47:26]Chúng ta phải suy nghiệm cái vô thường của thân như vậy, đó là bước đầu của tu tập vô ngã. Từ căn bản cái thân trước, mà phải suy nghiệm cho sâu xa. Khi mà ta tu tập quen rồi đó, trong đời sống như vậy, ta đi tới đi lui, ta cười, ta nói với mọi người, nhưng mà bên trong mình lúc nào cũng nhớ rằng cái thân này là vô thường. Không tồn tại mãi. Chữ vô thường nghĩa là không tồn tại mãi. Ngày nào đó sẽ chết, sẽ tan hoại thành cát, thành bụi. Đó là cái suy nghiệm đầu tiên để ta bước vào cánh cửa vô ngã trong tâm linh. Còn cái đạo đức ta đối với mọi người là vô ngã rồi, bây giờ là vô ngã trong tâm linh mà bắt đầu bằng cái

[48:06]thân trước, là thấy cái thân này là vô thường. Sau khi ta suy nghiệm cái vô thường của thân này vậy đó, cả 6 tháng, 1 năm, lần lần tự nhiên cái minh triết nó sẽ xuất hiện trong tâm ta tiếp tục. Lúc đó ta mới vỡ ra thế này, là tài sản, địa vị, danh tiếng chỉ là phù phiếm và chỉ là trách nhiệm để ta làm điều tốt chứ không phải để hưởng thụ. Ta sẽ vỡ ra một điều kế tiếp, là ví dụ ta có tiền, ta mới hiểu ra à, nào giờ ta cứ nghĩ rằng ta có tiền rồi ta cứ xài cho thỏa thích, nhưng không. Khi mà ta suy nghiệm được cái thân này vô thường rồi, ta mới biết rằng tiền là để ta làm điều tốt cho đời chứ không phải là để hưởng thụ cho mình.

[48:50]Tài sản, cả danh tiếng, cả quyền lực, địa vị đều là cái bổn phận, là trách nhiệm, là gánh nặng để ta làm điều tốt cho người, cho đời, chứ không phải là để ta vinh quang cho cá nhân, hưởng thụ cho cá nhân. Tự nhiên ta có cái minh triết nó xuất hiện liền và người đó sống rất là từ ái. Chỉ nhờ cái ngồi thiền bất động, lúc nào cũng nhớ toàn thân, biết thân này là vô thường, vậy mà vỡ ra một cái triết lý như vậy. Rồi kế tiếp, là ta nhìn thấy cái cảm giác buồn, vui, sướng, khổ cũng chỉ là hư ảo. Bắt đầu ta mới nhận ra là nào giờ ta bị chi phối bởi cái cảm giác ở trong cái thân này. Ví dụ khi ta ăn miếng ăn ta thấy ngon,

[49:37]là trời mát ta thấy sảng khoái, trời nóng ta thấy khó chịu, trời lạnh buốt rát ta thấy khổ sở, rồi ai khen cái ta mừng. Thì những cái mừng, cái lo, cái khổ, cái vui, cái sướng, cái âu sầu, cái sợ sệt, tất cả những cảm giác đó là nào giờ chi phối ta, chi phối cuộc sống ta. Vì ta sợ điều này ta phải làm điều kia, vì ta thèm điều này ta phải làm điều khác, là tất cả những tình cảm, những cảm xúc sợ, lo, buồn, vui, mừng, khổ, sướng chi phối ta suốt cái cuộc sống này, nó sai khiến ta làm hết điều này tới điều kia. Tại sao ta phải luồn cúi, ta nịnh nọt một con người? Là bởi vì ta thèm điều khác điều gì đó mà người đó có thể cho ta

[50:16]được, ta phải nịnh, ta phải cúi đầu, ta nịnh cái người đó. Còn bây giờ ta không thèm nữa, ta không cần nữa, không cần nịnh ai nữa hết. Thế tại sao ta phải chửi mắng một người? Là bởi vì cái cảm giác làm cái người đó xúc phạm ta. Bây giờ ta không còn cảm giác tự ái nữa, ta không chửi nữa, không chửi mắng nữa. Thì những cái tự ái nè, cái tự mãn hay cái buồn lo, giận ghét, sợ hãi không chi phối ta được nữa, bởi vì cái thân này đã là vô thường rồi. Cái thân này đã vô thường rồi thì những cái cảm giác ở trong thân này, những cái buồn, vui, sướng, khổ, giận ghét kia nọ là hư ảo, là phù phiếm. Ta thấy nó rất rõ và nó không sai khiến ta để ta làm điều tầm bậy nữa.

[50:59]Một cái minh triết kế tiếp xuất hiện. Đến giai đoạn này là ta tu rất là khá rồi. Ta kiểm soát được tâm hồn của mình, kiểm soát được cuộc đời của mình, kiểm soát được những cảm xúc của mình. Đây là cái công trình của ngồi thiền 5 năm, 10 năm. Phải ngồi thiền nghiêm túc, đúng giờ, đúng giấc 5 năm, 10 năm. Thấy thân này là vô thường, và bắt đầu mới thấy trong cái thân vô thường này có hơi thở vào, có hơi thở ra. Thấy mà không điều khiển. Lần lần tâm ta lắng sâu vào trong an định, ta mới thấy những cái cảm xúc bí mật mà nó chi phối ta. Lúc đó ta mới kiểm soát và không bị nó sai sử. Cái công trình đó là phải 5 năm ngồi thiền, 10 năm ngồi thiền nha.

[51:42]Nào giờ ta cứ tưởng là à, tôi tính như thế này để tôi nói cho anh nghe nha, tôi suy nghĩ như thế này nha. Đến khi mà ta vào trong thiền định sâu, ta mới phát hiện ra một điều: Té ra không phải tôi. Không phải tôi. Những tư tưởng khởi lên, khởi xuống này không phải tôi. Cái người mà nhìn thấy tới mức độ đó là người đã vào hàng thánh rồi. Thoát dần dần chấp ngã, thoát cái chấp ngã của tư tưởng là vào hàng thánh rồi. Thậm chí có những người mà khi ngồi thiền tâm vào định phăng phắc luôn, tâm không khởi niệm, tâm hoàn toàn trống rỗng, định phăng phắc phăng phắc luôn, không bất động, cái tâm mình bất động, xin thưa bản ngã vẫn còn núp ở trong đó, chưa hết bản ngã.

[52:25]Nên đến chỗ này mà tưởng mình đã chứng đạo là sẽ thoái đọa liền, có khi điên luôn. Tại sao cái người tu thiền bị điên? Là bởi vì khi tâm vào định, tưởng mình đã chứng thánh. Cho nên đây là cái chỗ mà ta tu phải có thầy. Khi ta nhập được vào định rồi, đến trình cho thầy mình: "Thưa thầy, khi con ngồi thiền tâm con được vào định", thì ông thầy nói: "Con chưa được đâu con, bản ngã vẫn còn núp ở trong đó. Con phải cẩn thận, nó sẽ quật con, con điên liền." Nhờ vậy cái người đệ tử cảnh giác, không chấp vào cái định đó, mà tiếp tục khiêm tốn mà tu nữa. Thì nhờ vậy người này mới có thể chứng thánh thực sự

[53:02]được, thoát khỏi bản ngã được, chứ không phải dễ. Nên ta thấy cái bản ngã rất là rất là khó. Nên ngày xưa đó, ngoại đạo của Ấn Độ họ nhập định rất sâu nhưng mà vẫn chưa hết được bản ngã. Vì vậy họ lập ra những khái niệm như là chân ngã, thần ngã. Ngày nay đó có nhiều người ở trong đạo Phật cũng vậy, nhiều khi mình tu chưa chứng được A-la-hán nên chưa được vô ngã, mà vẫn tưởng mình đã đúng, nên lập ra một cái hướng đi nó khác với đạo Phật từ ban đầu. Rồi một số pháp môn tu hành mà không chú trọng vô ngã thì rất dễ đi sai với đạo Phật. Ví dụ ta tu thiền mà ta không chú ý vô ngã là ta đi sai. Ta niệm Phật mà ta không chú ý vô ngã là ta cũng dễ rơi vào tà đạo.

[53:44]Hoặc là ta tụng chú mật tông mà ta không chú ý tu tập vô ngã ta cũng rất dễ rơi vào vào ngoại đạo. Nên vì vậy, pháp môn nào cũng phải xác định cái mục tiêu vô ngã trong đời sống và trong tâm linh. Nhớ như vậy. Nên vì vậy là từ nay, mỗi khi ta đến chùa tụng kinh, quý thầy, quý cô sẽ cho ta tụng cái bài kệ vô ngã trước rồi mới vào tụng kinh. Thì ta có thể ta tu nhiều pháp môn, có người niệm Phật, người tụng chú, người tu thiền, ta nhiều pháp môn. Pháp môn nào cũng có những bài kinh riêng của mình, nhưng mà xin thưa dù pháp môn nào, dù bài kinh nào, hoặc là thậm chí như Pizza cũng vậy, khi vào ta cũng phải tụng một bài kệ vô ngã:

[54:33]"Bản ngã phù du như khói sương / Thân tâm cát bụi ở ven đường / Một lòng theo Phật tìm vô ngã / Pháp giới chỉ là một khối thương." Đó là bài kệ vô ngã.

[54:53]Cái câu cuối rất là hay mà cũng khó hiểu: "Pháp giới chỉ là một khối thương." Pháp giới có nghĩa là cái vũ trụ mênh mông này đây nè. Cái ngày nào mà ta vô ngã được, ta không còn là ta thì đừng có nghĩ rằng là hết, đừng tưởng rằng khi không còn ta nữa thì không còn gì nữa, không phải. Khi không còn ta nữa thì lúc đó ta mới hiểu rằng cả cái vũ trụ này là một khối thương yêu của chúng sinh với nhau, không còn của riêng ai nữa. Pháp giới chỉ là một khối thương. Lúc đó con người chỉ còn cái tình thương để sống với nhau, không còn cái ta riêng rẽ nữa. Nên vì vậy, mỗi khi vào tụng kinh ta phải tụng cái bài kệ vô ngã:

[55:38]"Bản ngã phù du như khói sương / Thân tâm cát bụi ở ven đường / Một lòng theo Phật tìm vô ngã / Pháp giới chỉ là một khối thương." Nhờ như vậy và ta đã xác định lại đúng cái hướng đi của đạo Phật, không sợ không sợ sai nữa. Rồi sau đó rồi ai tu cái gì cũng phải vô ngã. Ví dụ bây giờ cái người đó niệm Phật, thì khi niệm Phật Nam mô A Di Đà Phật cũng phải suy nghiệm vô ngã. Vì cái người mà có bản ngã không vãng sinh được. Nên nhiều khi ta nghe hứa hẹn nó dễ quá là chỉ cần niệm Phật, nhiếp tâm bao nhiêu cái rồi đó là được vãng sinh cõi Phật, không đơn giản, đừng có tin vào những sự hứa hẹn mà dễ dàng.

[56:20]Cái gì nó đều phải có cái giá công bằng của nó. Muốn vãng sinh về cõi Phật mà đầy cái hạnh phúc an vui thì ta phải vất vả, chứ không phải là cứ niệm Phật sơ sơ mà được. Mà trong cái vất vả đó thì cái vô ngã là quan trọng. Khi ta niệm Nam mô A Di Đà Phật thì ta phải thấy thân này không là gì, tâm này không là gì, cái ta này không là gì, thì cái câu niệm Phật đó mới là cái câu niệm Phật thanh tịnh. Ta niệm Nam mô A Di Đà Phật thì trong đời sống ta phải thương yêu con người, tôn trọng con người và lo lắng, phục vụ cho con người, chứ không phải là vừa niệm Phật mà chỉ vơ vét cho mình. Niệm Phật mà bản ngã mà ích kỷ thì đời đời chẳng bao giờ vãng sinh về cõi Phật được.

[57:06]Nên vãng sinh nó phải có cái giá đánh đổi rất là công bằng mà cái giá đánh đổi công bằng đó chính là vô ngã, vô ngã. Cho nên một khi mà quý Phật tử niệm Nam mô A Di Đà Phật thì phải nhớ thêm rằng: "Khi con niệm tưởng nhớ đến Phật như thế, con cũng nhớ rằng thân này là vô thường, là cát bụi; tâm này là vô ngã, là tạm bợ, không có ta." Thì vừa niệm Phật mà vừa suy nghiệm suy nghiệm vô ngã như thế thì đúng là ta được Phật thương. Phật nhìn thấy cái tâm của một cái người niệm Phật mà biết suy nghiệm vô ngã là chư Bồ Tát soi ánh sáng đến liền, soi cái hào quang đến liền để che chở cho cái người vô ngã đó.

[57:50]Còn cái người mà dù cho niệm Phật rất nhiều mà không có suy nghiệm về vô ngã thì vẫn không được hào quang của chư Phật soi đến. Mà biết một người nào là được thần thánh che chở, mà người nào là không được thần thánh che chở, làm sao ta đánh giá được điều đó? Muốn biết cái người nào mà được thần thánh che chở, ta phải xem thế này. Khi ta đến gần người đó, ta thấy vui. Ta gặp người đó, ta về nhà ta gặp hên liền, là người đó được thần thánh che chở. Còn cái người nào mà không được thần thánh che chở là sao? Ta gần người đó ta không thấy vui, gặp người đó đi về nhà ta gặp chuyện xui liền. Ví dụ như là ta đến chùa, ta về nhà bỗng nhiên những cái rủi

[58:36]của ta nó vượt qua, ta được may mắn hơn thì cái chùa này được chư thiên, hộ pháp có gia hộ đây, cái chùa này linh. Mà sở dĩ tại sao cái chùa linh? Là tại vì chư tôn thiền đức tăng ni ở tu ở chùa này vô ngã, thường suy nghiệm về vô ngã, nên chùa này linh liền, được chư Phật, chư Bồ Tát hộ trì che chở. Và nơi này khi mà có chư thiên ở trên lúc nào cũng soi sáng, ta đặt chân đến chùa này ta đi về ta được may liền, ta được hưởng được cái thần lực của chư thiên liền. Đó là cái chùa, mà cá nhân cũng vậy. Ví dụ ta có cái người bạn đạo, họ tu cái gì đó ta không biết, nhưng mỗi lần ta gặp người đó về nhà xong ta gặp chuyện may là biết

[59:14]ngay cái người đó đang được thần thánh ở trên che chở hộ trì. Hoặc là niệm chú cũng vậy, hoặc là cái người niệm chứ là Om Mani Padme Hum, Án Ma Ni Bát Di Hồng, dạ. Mà nếu niệm chú mà không suy nghiệm cái vô ngã thì chú vẫn không linh hoặc là linh linh sơ sơ. Còn cái người tụng chú mà suy nghiệm về vô ngã, thấy thân này là cát bụi ở ven đường, tâm này là hư ảo không thật, thì người đó được thần thánh che chở liền, cái câu chú người đó rất là linh. Nên cái vô ngã là cái cốt lõi. Cái người tu thiền cũng vậy, ngồi bắt chân kiết già, nhiếp tâm trong thanh tịnh mà nếu không suy nghiệm được vô ngã, cứ càng được định thì lại càng thấy mình ngon lành

[59:58]thì cái người đó cuối cùng sẽ điên loạn, người đó không được thần thánh che chở. Còn cái người mà được thần thánh che chở, họ được cái định họ vẫn thấy là chưa phải, vẫn phải biết là đi tìm cái vô ngã thật sự. Người đó lúc nào cũng được chư Phật, chư Bồ Tát che chở mà ta gặp người đó, ta về nhà ta gặp may liền, ta gặp hên liền. Nên để ý điều đó ta sẽ biết rằng người đó được thần thánh che chở hay không nha. Nên vì vậy, từ đây về sau khi quý Phật tử đến gặp những vị thầy mà dạy đạo, khi chúng ta muốn theo cái vị đó để học đạo thì ta chỉ hỏi vị đó câu này: "Là bạch thầy, ở đây thầy có dạy tu vô ngã hay không?" Nếu vị đó trả lời:

[1:00:40]"Có, thầy có dạy vô ngã" là mình yên tâm đi theo, là đi đúng đường đạo Phật. Còn nếu mà vị thầy đó ngơ ngơ hỏi: "Ủa, vô ngã là cái gì?" thì thôi quay lưng ra giùm, quay lưng ra giùm. Là bởi vì sao? Vô ngã là cái cốt lõi của đạo Phật nha, nhớ như vậy. Nãy giờ ta nghe như vậy là ta đã nắm được cái cốt lõi tu hành. Nhưng mà để tu hành được như vậy, ta phải tốn 5 năm, 10 năm, 5 kiếp, 10 kiếp nữa nha, yên tâm đừng có sốt ruột. Nói: "Ủa, hôm qua con mới nghe thầy giảng vô ngã sao bữa nay con chưa đắc đạo?" Xin thưa, cái việc tu hành là việc của vài trăm năm. Từ ngày chúng ta hiểu được đường lối rồi thì yên trí

[1:01:19]là đi đúng con đường đó 300 năm sau đắc đạo. Ta qua một số kiếp rồi sẽ đắc đạo, đừng có nóng ruột. Còn ai hứa hẹn với ta mà: "Ồ, tu theo con đường này là 5 năm đắc đạo, 10 năm đắc đạo", ta biết ngay người này lừa đảo. Không bao giờ có chuyện đắc đạo dễ dàng như vậy, phải nhớ là vài trăm năm. Mà cái người nào mà ổn định tâm hồn mình, xác định là vài trăm năm, người đó sẽ đi đúng đường. Mà thầy nói vài trăm năm là thầy nói ít á, trong kinh Phật là hai chục ngàn năm. Có một vị tỳ-kheo đắc đạo xong rồi, cái người những người khác mới hỏi: "Bạch Thế Tôn, tại sao người đó đắc đạo dễ dàng như vậy?" Đức Phật mới trả lời:

[1:01:57]"Bởi vì người này đã ngồi thiền 20.000 năm

[1:02:02]cho nên giờ phút này đắc đạo." Còn ở đây thầy nói hai chục ngàn năm sợ Phật tử sợ, cho nên thầy hứa 300 năm. Mà thầy hứa 300 năm là thầy đã hơi hứa lèo rồi đó, hơi hứa lèo. Còn cái người nào mà hứa quý Phật tử là tu ngay trong kiếp này hoặc là 5 năm, 10 năm đắc đạo thì xin xin nhớ điều đó là họ hứa lèo hoàn toàn, lừa đảo. Con đường vô ngã rất là lâu xa mới có thể thành tựu được, nhớ như vậy nha. Mà hôm nay ta đã nghe được vô ngã, ta đã hiểu được vô ngã, ta đã khát khao con đường vô ngã thì hạt giống bồ-đề đã gieo vào trong tim ta cháy bỏng và bắt đầu phát triển. Kể từ ngày hôm nay ta đã thực sự đặt chân trên con đường vô thượng

[1:02:49]chính đẳng chính giác, bởi vì ta khát khao cái vô ngã. Thầy xin chúc mừng mà quý Phật tử nào nghe cái bài này mà thấm được, mà hiểu được, mà khát khao được.

[1:03:03]Cái bản ngã của ta á, nó không có thật vì nó thay đổi, nó chuyển tiếp qua nhiều kiếp sống, nó chuyển tiếp qua nhiều kiếp sống. Ví dụ một người từng là một danh tướng, tên mình được đặt trên con đường, ngày hôm nay mình đầu thai lại, mình đi trên con đường đó, mình chẳng còn cảm giác gì nữa. Tại vì cái bản ngã của cái đời đó và bản ngã đời này nó liên tục theo nhân quả mà nó bị ngắt gián đoạn nên ta quên. Ta không còn nhớ mình chính là cái ông tướng mà được đặt cái tên con đường này đây. Con đường này là mà ngày xưa mình là cái ông này đây nè, mình quên mất và cũng chẳng còn cảm giác gì. Mà bây giờ người ta đã ca ngợi, mình cũng cảm thấy xa lạ,

[1:03:43]mà đâu biết rằng họ ca ngợi mình đấy, nhưng mà cảm giác không còn nữa là bởi vì bản ngã nó đã chuyển tiếp, nó thay đổi qua, qua nhiều kiếp sống, qua nhiều kiếp sống. Nó như vậy. Đó là lý do mà Đức Phật nói là cái bản ngã nó không có thật. Ừ, nó không phải là vĩnh viễn, không phải là vĩnh hằng như là một số tôn giáo đã tưởng lầm vậy, thực ra bản ngã không có vĩnh hằng. Nó thay đổi, nó biến đổi và khi ta tu chứng được, nó mất luôn. Chúng chúng con được vinh dự về đây mà thay mặt cho chư tôn đức để trao đổi về đạo lý đối với Phật tử, và chư tôn đức đã hoan hỷ ngồi bên cạnh hộ niệm cho con, chứng minh cho con để bài giáo pháp được viên mãn.

[1:04:27]Con xin cảm niệm công đức của chư tôn đức và cầu xin Tam Bảo gia hộ cho chư tôn đức được nhiều phước lành, Phật sự luôn luôn được viên thành để cho Phật tử của chúng con luôn luôn được nương tựa. Thầy xin chúc cho quý Phật tử đạo tâm mỗi ngày một tăng tiến, công việc ở nhà thì được nhiều cái may mắn, thuận lợi phát triển, huynh đệ lúc nào cũng thương yêu nhau, và việc tu hành thì không bao giờ ngừng nghỉ, lúc nào cũng tinh tấn, và tất cả chúng sinh đều thành tựu Phật đạo. Nam Mô Bổn

[1:05:27]Sư

[1:05:50]Thích

[1:06:03]Ca Mâu Ni Phật.