Transcript: Luận Về Nhân Quả 03 - Giọng Đọc Hướng Dương

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:31:09

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:26]Người cậu của Sinh từ lâu đã vào trong núi Hoa Dương ở với đạo sĩ họ Trình. Một hôm, Tạc về thăm nhà, thấy cháu suy nhược, rất là lo lắng. Sau khi nghe Sinh thuật hết những điều quái dị vừa qua, ông suy nghĩ hồi lâu rồi nói. Ta từng bảo á là ngòi bút không phải là không có oan khiên. Ta đã nói với cháu điều này rồi. Lưỡi cương tuy ác mà trách nhiệm rõ ràng, lỗi lầm tác hại cũng trong giới hạn. Mượn sự huyễn hoặc của văn chương mà gây điều thiệt hại cho con người. Tội ác của kẻ cầm bút xưa nay kể biết là bao, nhưng chẳng qua vì mờ mịt hư ảo nên không thấy rõ hay không muốn rõ mà thôi. Làm cho thiếu nữ băn khoăn sầu muộn,

[1:17]làm cho thanh niên khinh bạc hoài nghi, gợi cho người ta nghĩ vật dục mà quên nhân ái, khiến cho người ta tiếc tài lợi mà xa đạo nghĩa, hoặc cười trên đạo nghĩa của tha nhân, hát trên bi cảnh của đồng loại, đem sự phù- đem sự phù phiếm thay cho thực dụng, lấy việc thiển cận quên điều sâu xa, xuyên tạc chân lý, che lấp bần hàn, ca ngợi quyền lực, bỏ quên con người. Văn chương há chẳng đã làm những điều vô đạo? Tội ác văn chương xưa nay, nếu đem phân tích, biết đâu chẳng dồn thành ngàn dãy Thiên Sơn. Thần tạng của cháu kinh động thất thường, nhưng mà bản chất huyền diệu có thể cảm ứng với cõi vô hình.

[2:05]Chắc cháu làm điều tổn đức khá nặng, nên máu quang mới đuổi theo như vậy. Hãy xem có lỡ hứng bút đi lệch đường chăng. Hãy soát lại cho mau, soát lại cho mau, chớ để chậm thêm ngày nào. Lương Sinh nghe xong bồi hồi tức dạ, trí tuệ xem như minh mẫn hơn nhiều, cơn bệnh do đó lui được khá xa. Sinh đem mấy tập thi tuyển của mình đọc lại từng câu, dò lại từng chữ, thấy toàn là ý bướm tình hoa, phát triển cảm xúc mà xao lãng trí tuệ, tán tụng thiên nhiên mà bỏ mất cảnh đời, trốn tránh thực tại, từ chối tương lai. Nhưng nghĩ kỹ, vẫn chưa dò được lối máu từ đâu. Bỗng sực nhớ đến những lời phóng bút viết cho quan tổng trấn,

[2:56]không ghi lại trong thi tuyển, tâm não trở nên bàng hoàng. Đồng thời, bao nhiêu gương mặt hốc hác trong ngày hội chùa lại hiện rõ. Mấy cánh đồng trơ trọi, những tiếng thì thầm hai bên kiệu hoa, vẻ người nhớn nhác sợ hãi, những đòn dây trói, mấy dãy nhà giam lần lượt như sống lại trước mắt. Những cảnh ấy thật trái ngược với những bài tán mình đã viết. Mồ hôi toát ra như tắm, Sinh đứng lên được, quyết định trở lại chốn cũ để tìm hiểu sự thật. Sinh đến chốn cũ vào một buổi chiều nắng vàng thê lương phủ trên cảnh vật tiêu điều xơ xác. Qua khỏi dòng suối cạn, Sinh bước vào một thôn trang vắng vẻ, thưa thớt những mái tranh nghèo, không một bóng người thấp thoáng.

[3:47]Đến một gò cỏ úa héo, chợt thấy một người nông phu ủ rũ trước nấm mộ mới hiu hiu mấy nén hương tàn. Sinh dừng lại, bước lại gần ngồi một bên, khẽ hỏi. Bác góc thương thân quyến nào vậy? Người kia ngước lên không nói, ngắm nhìn lại bụi đường trường bạc thếch trên quần áo của Sinh, dịu đôi mắt xuống. Người nằm dưới mồ không phải là bà con quen thuộc của tôi. Sinh nghĩ, chẳng lẽ người này cũng là một kẻ thi nhân khóc thương cho kiếp hồng nhan bạc mệnh nào chăng? Chưa kịp dò ý, người kia chợt hỏi, ra vẻ hoài nghi. Ông từ đâu mà đến đây? Ừm, dạ, tôi ở chốn xa, nhân bước đường phiêu lưu ghé tạt qua thôi, buồn thấy miền này có vẻ tiêu điều hơn các nơi khác.

[4:44]Người nông phu bỗng long lanh đôi mắt, như không dằn được tấm lòng dồn nén, bật lên những tiếng căm hờn. Nói cho muôn ngàn khách qua đường cũng chưa hả được dạ này. Ví dù phải chết ngày nay thân này chẳng tiếc, miễn sao bộc bạch cho được sự thật khuất hận từ. Đã bao năm rồi, sống dưới nanh vuốt của tên tổng trấn họ Lý độc dữ hơn hùm beo. Đồng ruộng gầy khô, dân làng đói rách. Đầu xuân này có khâm sai đi về, cụ thôn trưởng của chúng tôi mặc dù già yếu cũng quyết vì dân làm bản trần tình, cản đầu ngựa, níu bánh xe mà tỏ bài sự thật. Thế nhưng khâm sai đi khắp mọi nơi, chỗ nào cũng thấy bia đá cột đồng

[5:36]đầy lời hoa mỹ, tán dương công đức tổng trấn của thằng danh sĩ đôn mạt nào đó, nên ném bản tần trình không xét mà bảo rằng: Muôn ngàn lời nói của lũ dân đen vô học đâu bằng mấy vần từ điệu cao xa của kẻ danh nho. Dâm sĩ bao giờ cũng biết tự trọng. Tổng trấn đã được hạng ấy tôn xưng, hẳn không phải bất tài. Thế đã thôi đâu. Khâm sai đi rồi, Tổng trấn phái sai nha về tróc nã những người đã đầu đơn tố cáo nó. Bao người phải chết vì nỗi cực hình thảm khốc. Dở quá con côi, một trời nước mắt. Ruộng đồng từ đây đành để nuôi loài cỏ dại mà thôi.

[6:31]Sinh chết điếng cả người, giây lát mới gượng gạo hỏi.

[6:37]Ừm, chẳng hay, ờ chẳng hay bác có biết danh sĩ ấy tên gì không? Người nông phu trợn trừng cặp mắt, gào lên. Làm gì mà biết, mà biết để làm gì kia chứ? Những hạng hiếu lợi hiếu danh, trốn trong từ chương để tiếp sức cho kẻ ác mà cứ tưởng mình thanh cao. Hạng ấy thì ở đâu mà chẳng có. Dân làng đây ai cũng nguyền rủa hắn mà hắn nào có biết đâu. Nghĩ thương cho cụ trưởng tôi mấy lần đứng ra chịu nhận tội để cứu bao người mà bọn chúng chẳng chịu tha, cứ việc tàn sát thẳng tay, lôi đi lớp người này rồi đến lớp người khác, nên khi bị dẫn qua đây, cụ tự móc họng cho trào máu ra mà chết để khỏi bị đày đọa.

[7:30]Trước khi nhắm mắt, cụ còn gượng nói. Được chết trên cánh đồng đã đẫm mồ hôi ta, thế là quý rồi. Chôn ta ở đây, cho ta gần gũi với các người.

[7:50]Hơi thở gần tàn, cụ nói tiếp.

[7:54]Tội ác á là ở lúc vua quan.

[8:00]Tên danh sĩ kia chỉ là cái cớ để chúng vinh vào mà che lấp sự thật. Đừng có oán hờn tên danh sĩ, đáng thương cho nó. Người nông phu dừng lại, nghẹn ngào rồi tiếp. Nhưng bao nhiêu người khổ ở đây, bao nhiêu kẻ chết nơi kia, ngươi còn đáng thương xót gấp trăm ngàn lần.

[8:32]Đoạn gục đầu trước mồ, khóc than thảm thiết. Sinh cũng sụp xuống, òa tiếng khóc theo.

[8:41]Bóng đêm xóa nhòa, gió lạnh như từ cõi âm thổi về, rung động bờ lau, bụi cỏ.

[8:50]Sinh có cảm giác như theo cơn gió, oan hồn của người đã khuất hiện về, chứng kiến cho những giọt lệ chảy ra từ một tấm lòng hối hận chân thành. Nhận xét. Câu chuyện này có nhiều điểm đáng nói. Từ buổi ban đầu, Sinh đã hoài nghi giữa ranh giới của thiện ác, không nghiên cứu để minh định rõ ràng chân ngụy của cuộc đời. Tuy được túc duyên làm người giàu sang đẹp đẽ là do đời trước tâm hồn rộng lượng chính nhân quân tử, nhưng đời này say sưa hoa nguyệt thi ca, trôi theo cảm xúc của trái tim mà quên tuyên dương đạo nghĩa. Những cảm hứng nghệ sĩ đã nung nấu Sinh trở thành kẻ si tình bồng bột và trí tuệ

[9:36]khuất lấp, không nhận ra sự lợi dụng của quan Tổng trấn mang trá độc ác kia. Tuy không cố tâm, nhưng trong mê mờ bởi tình si men rượu, Sinh đã dùng ngòi bút giết hại bao nhiêu người, gây biệt ly đau thương cho bao nhiêu gia đình khốn khổ. Cái chất chân chính nhân nghĩa trong Sinh không suy giảm, nghĩa là đức không thiếu, nhưng tác hại nặng nề cho nhiều người nên phước đã tiêu tan. Ngòi bút của Sinh đã giết hại nhiều hơn lưỡi gươm họ Lã. Tội lỗi oan khiên ngút trời này đã khiến Sinh tức khắc lâm bệnh, và sự oán hờn căm giận bi thiết kia đã cảm ứng dòng mực thành dòng máu đỏ tươi. Chúng ta chưa đề cập đến những kẻ biết là sai,

[10:22]nhưng vì quyền lợi địa vị mà vẫn dùng ngòi bút gây chia rẽ đấu tranh đau khổ cho đồng loại. Chúng ta chỉ đề cập đến trường hợp Sinh không biết mình sai, lầm tưởng quan Tổng trấn là cao cả xứng đáng để ca ngợi, đến nỗi gây nên máu đổ đầu rơi. Nhưng tại sao Sinh không nhận xét ra con người của viên quan họ Lý trong khi Sinh vốn thông minh đỉnh ngộ? Có một lý do nổi bật mà đạo Phật thường nhắc nhở: Tình sanh trí cách. Khi tình cảm che phủ thì trí tuệ bị khuất lấp. Nét đẹp của Lý tiểu thư làm Sinh chao đảo, dễ dàng bỏ qua vẻ kiêu hãnh còn in đậm nơi ánh mắt, dáng nhìn. Rồi cộng với rượu nồng, thịt béo...

[11:13]viết như thế nào, nhưng trước hết nó không còn tội lỗi và bất an. Sinh vốn không phải là người xấu, thế mà giai nhân, tiệc rượu và lời khen đã đưa Sinh đến oan nghiệt phũ phàng. Đức Phật chế năm giới để hạn chế bớt sự thụ hưởng sa đọa của người cư sĩ, tức là hạn chế tội lỗi và bất an cho họ. Rượu đã là thảm cảnh cho vô số những gia đình xưa nay. Nhiều nước trên thế giới đang tìm cách đấu tranh chống nạn nghiện rượu. Nước mắt của người vợ, của những đứa con đã đầy ắp trong cuộc đời khi mà người chồng, người cha của họ là tay bợm nhậu say sưa. Đời nay cũng vậy, nhiều kẻ trí thức cũng vì không nhận định kỹ đúng

[12:00]sai thiện ác, rồi vì sự mua chuộc bởi tình, tiền và địa vị đã dùng ngòi bút để gieo rắc sai lầm cho nhiều thế hệ mai sau. Những ngòi bút của họ đã là giông bão quay cuồng, thúc giục chiến tranh thù hận, đã là thuốc độc ghê gớm giết chết nghĩa nhân thiện lạc, đã là đêm tối mịt mờ che phủ lương tri nhân sinh. Họ không dùng ngòi bút để kêu gọi thương yêu thông cảm giữa con người, để giải tỏa chia cách thù oán giữa các quốc gia, để đề cao sự thanh khiết thanh tịnh của tâm hồn. Trái lại, ngòi bút của họ đã viết lên thù hận, tham lam, đã đào ra hố sâu chia rẽ, đã khuấy động dục vọng ái nhiễm vào lòng muôn người.

[12:44]Những kẻ dại khờ tin theo họ đều phải đi vào nơi tối tăm, đau khổ.

[12:51]Người cậu của Sinh có cái nhìn minh triết, đã thấy được nguy hiểm và tội lỗi của ngòi bút từ ban đầu và cũng chính ông gợi ý giúp Sinh tìm ra nguyên nhân của ngòi bút máu về sau. Ông đã kết tội văn chương chồng chất hơn ngàn dãy núi. Điều này không ngoa. Quả thật, lưỡi gươm giết chết một người, kéo theo sự đau đớn của một gia đình, một dòng họ; nhưng một cuốn sách tà kiến phổ biến ra là kéo theo sự đọa lạc tâm hồn của vô số người hôm nay và mai sau. Và chính sự đọa lạc tâm hồn sẽ làm họ và thân quyến đau đớn nhiều lần hơn thế nữa. Trường hợp của Sinh chỉ là gây nên cảnh chết chóc, máu đổ thịt rơi.

[13:36]Ở những trường hợp khác, ngòi bút dẫn dắt mọi người đi ngược lại chân lý mới là nguy hiểm gấp bội lần. Nếu bị giết, họ chỉ đau đớn một lần; nhưng nếu đi ngược lại chân lý của từ bi, trí tuệ, họ sẽ phải chịu đau đớn trăm nghìn lần sau nữa. Một cuốn sách, một bộ phim kích động ái tình, dục vọng làm hoang mang xao xuyến tâm hồn bao người, tội lỗi của tác giả không thể đếm xuể. Ngoài những sự đền trả ở địa ngục và súc sanh, nếu được làm người, họ sẽ là người tâm thần xao động bất an và dục tính lẫy lừng. Rồi dục tính lẫy lừng lại đưa họ trở về đọa xứ. Một tác phẩm, một chủ thuyết kích động chiến tranh,

[14:21]phủ nhận nghiệp báo, gieo rắc ác tâm cho bao nhiêu lớp người qua các thế hệ, phế bỏ sự bố thí, phát sinh sự bỏng sẻn, tội lỗi của tác giả vực sâu núi cao không chứa hết. Họ phải đền trả tội nghiệp này, nhưng đáng thương cho những người theo họ cũng chìm vào khổ cảnh. Người cầm viết phải thấy trách nhiệm nặng nề của mình. Trước hết phải tâm nguyện đem ánh sáng của tình thương và chân lý thắp sáng giữa nhân sinh, quyết không vì tiền bạc địa vị mà nói sai lẽ phải. Kế đó, phải nghiên cứu tìm ra cái gì là lẽ phải, cái gì là đạo đức chân thật, cái gì là hạnh phúc vĩnh cửu. Đó là những điều cần phải tuyên dương với trọn tâm huyết và lòng quả cảm của mình.

[15:08]Nếu trọn đời bạn đã thắp sáng ngọn lửa thiêng liêng của lẽ phải, sự chờ đợi dành cho bạn là phúc lạc vĩ đại lâu dài ở mai sau. Thường thì chúng ta đã tìm hạnh phúc trong vật chất, trong quan hệ tình cảm với mọi người, trong vinh quang của danh vọng. Chúng ta chưa bao giờ ngờ rằng có một hạnh phúc chân thật, cao cả, thanh khiết, vĩ đại hơn mọi hạnh phúc kia: đó là sự an định của tâm hồn, đó là sự lắng sâu trong thiền định. Tất cả những niềm vui thông thường chỉ bắt nguồn từ suy tư xao động và kéo theo sau nó là lo lắng, bất an. Còn hạnh phúc chân thật thì đơn giản và an tĩnh. Tâm không suy nghĩ thênh thang như mây trời,

[15:55]trong vắt như hư không, nhẹ nhàng như gió thoảng, an lạc như vô biên. Từ tâm không suy nghĩ này phát sinh tình thương người rất quảng đại từ ái, không phải khô khan như cây đá; phát minh trí tuệ nhận thức sáng suốt rõ ràng, không phải ngu ngơ như rong rêu. Tâm không xao động, đó là hạnh phúc cần phải tuyên dương, đó là đạo đức cần phải phổ biến, đó là chân lý cần phải truyền đạt. Còn những triết thuyết cực đoan một chiều đưa đến bất an thù hận thì không thể so sánh chút nào. Hầu hết nguyên nhân của tội lỗi đều được gây nên bởi dục vọng. Con người vì dục vọng riêng của mình nên mới tác hại cho tha nhân.

[16:43]Trường hợp của Sinh không phải vì mong cầu dục vọng riêng mình, nhưng rõ ràng dục vọng vô tình của nữ sắc, rượu thịt, lời khen đã đưa Sinh vào oan trái. Muốn có sức tỉnh táo sáng suốt nhận định đúng lẽ phải, chúng ta cần có cuộc sống thanh khiết, đơn giản, đừng để dục vọng chi phối. Thoát được gông cùm của dục vọng, có được nội tâm an tĩnh thênh thang, ngòi bút của chúng ta sẽ viết thành thiên trường ca của lẽ phải, làm tươi mát tâm hồn của muôn người vốn bị thiêu đốt bởi tham lam, thù hận. Tội của ngòi bút rất trầm trọng, nhưng công của ngòi bút cũng rất lớn lao. Nhưng để có được công đức to lớn này,

[17:27]người cầm viết phải tìm thấy lẽ phải và dâng cả cuộc đời mình sống cho lẽ phải đó. Sức mạnh của ngòi bút ở tại sức sống của tác giả. Người đã sống được với lẽ phải, những lời viết ra có sức mạnh tác động cho người đọc rất nhiều. Còn những người chưa từng rèn luyện mình trong mỗi ý nghĩ sâu kín, chưa thanh lọc mình trong mỗi hành vi nhỏ nhặt, văn của họ chưa có sức mạnh chuyển hóa tâm hồn của người xem. Công đức của văn chương rất lớn, nhưng muốn thực hiện được công đức này, tác giả phải dọn tâm hồn mình trong an nhiên và cao thượng. Đời sống của Victor Hugo đã kết tinh thành Những kẻ khốn cùng.

[18:10]Tư cách của Léon Tolstoï đã hun đúc thành Chiến tranh và hòa bình. Cuộc sống giải thoát của Krishnamurti mới tạo thành The First and Last Freedom, Commentary on Living. Chính cuộc sống của chúng ta sẽ làm cho ngòi bút chúng ta có công hay có tội. 14.

[18:57]Quả báo rất nhẹ. Trích Tăng Chi Bộ Kinh 3A, trang 230. Này các Tỳ-kheo, sát sanh được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn đưa đến địa ngục, đưa đến loài bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của sát sanh là được làm người với tuổi thọ ngắn. Này các Tỳ-kheo, lấy của không cho được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn đưa đến địa ngục. Quả dị thục hết sức nhẹ của lấy của không cho là được làm người với sự tổn hại tài sản. Này các Tỳ-kheo, tà hạnh trong các dục được thực hiện đưa đến địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của tà hạnh trong các dục

[20:01]là được làm người với sự oán thù của kẻ địch. Này các Tỳ-kheo, nói láo được thực hiện đưa đến địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói láo là được làm người bị vu cáo không đúng sự thật. Này các Tỳ-kheo, nói hai lưỡi được thực hiện đưa đến địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ.

[20:33]Quả dị thục hết sức nhẹ của nói hai lưỡi là được làm người với bạn bè bị đổ vỡ.

[20:42]Này các Tỳ-kheo, nói ác khẩu được thực hiện đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh. Quả dị thục hết sức nhẹ của sự nói ác khẩu là được làm người với bị nghe những tiếng không khả ý. Này các Tỳ-kheo, nói lời phù phiếm là được làm người nghe những lời khó chấp nhận. Này các Tỳ-kheo, uống rượu lên men, rượu nấu là được làm người với tâm điên loạn.

[21:20]Nhận xét: Đây là những lầm lỗi căn bản của người tại gia cư sĩ mà Đức Phật đã đề cập đến rất nhiều. Ở đây, nêu lên tám điều, nhưng gom lại chỉ trong năm điều để Phật chế thành ngũ giới. Ngũ giới là hàng rào gìn giữ chúng sinh có được thân người, không rơi vào ba đường ác quá đau khổ. Thời nay, có nhiều người tu thiền nghe nói: "Tâm bình hà lao trì giới, hạnh trực hà dụng tu thiền", họ có quan niệm xem thường giới luật. Họ cho rằng giữ giới là gò bó và phá giới là tự tại. Có người sau một thời gian dụng công, được sức tỉnh giác rỗng rang của chánh niệm, thử uống rượu, vẫn thấy còn giữ được tâm tỉnh giác này,

[22:06]liền cho mình đã tự tại, không còn bị vấn đề giữ giới, phạm giới chi phối. Hạng tà kiến này không bao lâu sẽ phạm những trọng giới để rồi đọa vào đường ma. Phải biết rằng, người tự tại là người đủ sức giữ giới, chưa đủ sức giữ giới tức là chưa tự tại. Phá giới là chuyện dễ làm của kẻ phàm phu, đâu phải chuyện cao siêu khó khăn gì. Tu một thời gian rồi đủ sức phá giới, hạng người này là gì nếu không là hiểu sai? Có thể chúng ta uống vài chung rượu, lấy lén vài món đồ mà trình độ công phu nào giờ vẫn không thối thất, nhưng chúng ta đừng xem thường, phạm vài lần nữa sẽ bị thối thất công phu. Hơn nữa, chúng ta cần phải giữ giới để làm gương cho người khác.

[22:58]Chúng ta phải quý kính giới luật như là sự thể hiện chân chính của tâm hồn giải thoát. Tâm hồn thênh thang giải thoát được thể hiện nơi giới luật kỹ lưỡng, không phải thể hiện nơi sự bừa bãi, phóng túng. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này nơi phần phân tích nhân quả xuất thế gian. Sự vi phạm quá đáng những giới căn bản nêu trên đều đưa đến địa ngục, súc sanh và ngạ quỷ. Ở đây, Đức Phật cho biết quả báo rất nhẹ của ác nghiệp đó là những nghịch cảnh nơi thân người. Sở dĩ có trường hợp quả báo rất nhẹ này là do người kia có thể đã từng tạo những công đức khác lớn lao hơn để chận đứng được sự sa đọa vào ba ác đạo.

[23:45]Tuy nhiên, nơi thân người, họ vẫn phải gặp nghịch cảnh tương xứng với ác nghiệp đã gây. Người sát sinh, tức là triệt mất thọ mạng của chúng sanh, sự đền trả tương xứng dành cho họ là bệnh hoạn và yểu mệnh. Sau khi nghe tin báo là đã thiêu mấy vạn quân địch trong hang núi, Khổng Minh than thở rằng ông sẽ giảm thọ một kỷ, tức là mười hai năm. Quả báo hiện đời như vậy là quá nhẹ, có thể do công đức trong đời quá khứ của ông rất lớn chăng? Được thầy cho biết mình sẽ chấm dứt thọ mạng trong bảy ngày nữa, ông Sa-di xin về thăm nhà. Giữa đường, ông vớt một ổ kiến to trôi theo nước lũ. Công đức này đã kéo dài thọ mạng của ông thêm một thời gian nữa.

[24:38]Chúng ta cũng thường gặp những người có vẻ hiền lành, chưa thấy tạo nghiệp gì quá đáng, nhưng vẫn chịu một đời sống ngắn ngủi. Có khi họ nhận một tai nạn bi thảm như đụng xe, trôi sông, lửa cháy rồi mạng sống kết thúc; cũng có khi họ bệnh qua loa rồi mất. Những hiện tướng như thế đều là sự báo ứng từ nghiệp sát sinh trong quá khứ. Chúng ta đặt vấn đề những chiến sĩ chiến đấu nơi tuyến đầu để bảo vệ đất nước. Quả báo sẽ ra sao khi sự chiến đấu kịch liệt đêm ngày luôn luôn đưa đến sự sát sanh đầy dẫy? Dĩ nhiên, cuộc chiến tranh xảy ra là do quả báo oán thù giết hại nhiều đời, nhưng ở đây chúng ta trích ra một phần để khảo

[25:27]sát nhân quả của một chiến sĩ cầm súng chiến đấu. Sự kiện nào cũng vừa là nhân vừa là quả, không chỉ đơn thuần một chiều. Quả báo đã khiến họ phải đối đầu với nhau để một mất một còn, nhưng ngay lúc ấy cũng là lúc họ gây nhân mới cho vị lai.

[25:49]Như đã nói, sát sinh luôn luôn là một bất thiện nghiệp, tuy nhiên một bất thiện nghiệp có thể được hóa giải bởi một đại thiện nghiệp. Đại thiện nghiệp được nhắc đến ở đây là chiến đấu bảo vệ sự bình yên cho nhân dân bên trong lãnh thổ. Nếu người chiến sĩ phải chiến đấu để ngăn chặn sự xâm lăng từ bên ngoài, giữ cho phần đất bên trong được yên ổn, cho em bé ngày ngày tới trường, cho mẹ già say giấc ngủ trưa, cho cánh đồng xanh màu lúa mới, cho chuông chùa văng vẳng xa đưa thì sự chiến đấu này là một thiện nghiệp lớn lao, hóa giải bớt bất thiện nghiệp của sự sát sinh. Chính sự cao thượng nơi lòng hy sinh cuộc sống của mình để

[26:34]đem lại yên ổn cho những người khác là một công đức lớn. Ngược lại, nếu đây là sự xâm lăng đúng với bản chất của nó, có thể nó được che đậy bởi những chiêu bài khéo léo và lý tưởng, nhưng nó đã dấy lên khói lửa loạn lạc, dấy lên tung tóe kinh hoàng thì sự sát sinh này đưa những người chiến đấu đi về ác đạo lâu dài về sau. Qua vấn đề trộm cắp. Khi tôi còn là một Sa-di ở nơi chiếc thất nhỏ trên cánh đồng vắng, tôi quen với một thanh niên hiền lành, ít nói và nghèo khổ. Nhìn dòng chữ: "Thừa Phủ ngày..." được xăm nơi bắp chân, tôi chẳng hiểu gì. Sau này, anh vợ của thanh niên đó là một Phật tử cho tôi biết thanh

[27:24]niên kia đã từng ở tù tại nhà lao Thừa Phủ, Huế vì tội trộm cắp. Vì chứng kiến một quả báo hiện đời mà anh trở nên tin luật nhân quả nghiệp báo. Có một lần, anh cuỗm mất cái giỏ xách tay của một thiếu phụ chuẩn bị đồ đạc để đi nhà bảo sanh vì cơn đau đẻ đã xuất hiện. Mất giỏ đồ, người thiếu phụ khóc hết nước mắt. Sau này, anh vào Nam lập gia đình, đêm trước ngày đưa vợ đi sanh, cướp vào nhà lấy đúng cái giỏ xách đựng đồ đạc để đem đi nhà bảo sanh. Vợ anh khóc hết nước mắt, còn anh thì ngậm ngùi thống hối ăn năn. Biết chuyện như vậy, tôi thường khuyên anh ráng đem công sức đắp lại những đoạn đường hư trong xóm làng.

[28:13]Có khi chính tôi phải tìm đoạn đường cần đắp và rủ anh cùng làm. Sau này, tôi rời vùng đó đi về nơi khác, mọi chuyện chìm vào quên lãng theo thời gian phôi pha. Chợt người anh vợ đến tìm tôi, trao tôi món quà của người thanh niên năm nào và cho biết vợ chồng anh đã trở nên khá giả rất nhiều. Sự mất mát đồ đạc không chỉ đơn thuần là thiếu thốn, nó còn là nỗi bế tắc tuyệt vọng trong đời sống của con người. Bạn có thể tưởng tượng ra sự đau khổ tuyệt vọng của một người tới ngày sinh đẻ bị lấy mất hết đồ đạc. Đây là một trường hợp, còn vô số những trường hợp đau đớn hơn nhiều. Có khi người bị mất đã phải dùng đến biện pháp tự vẫn,

[29:00]vì kẻ trộm cướp đã lấy đi chút tài sản nương tựa cuối cùng trong đời họ. Có khi vì món đồ bị mất, vợ chồng, cha con nghi kỵ chia rẽ với nhau. Ở đây, sự trộm cắp đã tác thành sự bất hòa. Món đồ bị mất không chỉ đưa đến sự giảm thiểu tài sản, mà thực sự đã đưa đến nhiều đổ vỡ tinh thần của mọi người. Sự đau khổ do trộm cắp gây nên đã nhiều như núi, như biển. Vì vậy, quả báo chờ đợi cho kẻ tội lỗi này là hình phạt và khổ cảnh nơi địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh. Nếu sự đền trả đã vơi, hoặc nếu kẻ kia đã tạo được nhiều công đức to lớn để vẫn được thân người, thì quả báo rất nhẹ chờ đợi cho y là tài sản bị tổn hại.

[29:49]Nếu đời này chúng ta thỉnh thoảng bị mất trộm, hãy thản nhiên chấp nhận một cách vui vẻ vì tin rằng đây là nghiệp quả từ thuở lâu xa nào rơi rớt đến tận hôm nay. Ác nghiệp thứ ba là tà dâm, tức là ngoại tình. Sinh ra giữa cuộc đời cấu uế này, chúng ta đã có mặt trong vũng bùn dâm dục. Bản chất của chúng sinh là ái dục, là dâm dục. Vì thế, hết lớp người này nối tiếp lớp người kia đều phải lẩn quẩn trong ái dục của đời sống vợ chồng. Tuy nhiên, khoái lạc trần gian luôn luôn là sự chực chờ của bất an và tội lỗi. Kẻ thỏa mãn vỗ về mọi dục vọng của mình, chắc chắn là kẻ tắm mình trong tội lỗi. Không có đạo đức và bình an nơi một kẻ thỏa mãn dục vọng lẫy lừng của mình.

[30:45]Chỉ có bớt đi dục vọng, người ta mới tránh được bất an và tội lỗi. Trong một chừng mực ước lệ nào đó, sinh hoạt tính dục được chấp nhận giữa hai vợ chồng chính thức không có liên hệ về huyết thống. Nếu sinh hoạt tính dục xảy ra giữa hai người không phải vợ chồng chính thức, đây là ngoại tình. Nếu xảy ra giữa hai người có liên hệ huyết thống, đây là loạn luân. Nếu xảy ra giữa người và thú, đây là cuồng dâm. Nếu xảy ra giữa hai người cùng phái, đây là bệnh đồng tính. Nếu xảy ra giữa người trưởng thành và đứa trẻ chưa phát triển, đây là bạo dâm. Chung quanh khoái lạc trần gian đều là tội lỗi giăng bủa.

[31:33]Bệnh AIDS đang hoành hành làm điên đầu các cơ quan y tế, chung quy cũng xuất phát từ những kẻ hưởng thụ quá đáng khoái lạc xác thịt và sai lầm trong quan hệ tính dục. Khi hệ thống thần kinh được rung động theo khoái cảm, nó tự đánh mất khả năng đề kháng của cơ thể. Không phải virus nào đã gây ra thành bệnh AIDS, mà chính khoái cảm của họ đã gây thành tình trạng mất khả năng miễn nhiễm nơi chính họ. Kẻ nào tiếp tục tìm kiếm khoái cảm quá đáng và sai lầm sẽ không bao giờ thoát khỏi nanh vuốt của hội chứng AIDS. Thế nên, quan hệ tính dục sai lầm tức là gây mê muội, ô nhiễm cho mình và người. Riêng vấn đề ngoại tình không phải đơn thuần là lén lút thụ hưởng khoái

[32:22]cảm tính dục, mà nó là sự cướp mất hạnh phúc của người khác. Không thể có sự thương yêu chăm sóc đầy đủ đối với vợ con khi mà người chồng còn phải chia sẻ tình thương và khoái lạc với tình nhân khác. Sự trộm cắp tài sản đã gây nên đau khổ thế nào, thì tương tự và hơn thế, ngoại tình là sự trộm cắp hạnh phúc gắn bó của gia đình người ta. Hạnh phúc vắng bóng có nghĩa là đau khổ lấp đầy. Những điều có thể tìm thấy sau sự đổ vỡ của hạnh phúc gia đình là ghen tuông, hờn giận, mắng nhiếc, đánh đập và nghèo nàn. Trong tất cả sự thụ hưởng khoái lạc của trần gian thì tính dục, sắc, là sự thụ hưởng thấp hèn nhất.

[33:10]Đó là lý do tại sao con người biết tự trọng phải sinh hoạt tính dục nơi kín đáo. Chỉ có người mất hết nhân cách, gần gũi với thú tính mới lộ liễu phơi bày những sinh hoạt của tính dục nơi công cộng hoặc trên màn ảnh và sách vở. Tận trong lương tâm của con người, khoái cảm tính dục luôn luôn đi kèm với sự xấu hổ. Chính vì sự thấp hèn quá đáng của khoái lạc tính dục mà người thụ hưởng nó quá đáng và sai lầm đều bị tổn phước và tội lỗi. Nếu liệt kê những hưởng thụ từ thanh bai đến thô tục của con người, thì nhạc không lời là sự thưởng thức thanh bai nhất, kế đó là hội họa phi tính dục, còn thô tục nhất là hưởng thụ tính dục.

[34:01]Nhưng dù thanh bai hay thô tục thì nó vẫn còn nằm trong giới vực của khoái cảm trần gian. Người tu hành cầu giải thoát phải từ chối mọi khoái cảm này. Chỉ có tâm hồn an tĩnh sâu xa, không bất an xao động mới là hạnh phúc chân thật và vĩnh cửu. Nếu vượt qua được quả báo nơi địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh, người tà hạnh trong ái dục phải gặp gỡ sự oán thù của kẻ địch, hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ, không tìm được sự chung thủy chân thành. Ác nghiệp thứ tư là nói láo. Ý nghĩa nói láo ở đây là kết tội người khác sai sự thật, hoặc khen ngợi người khác sai sự thật. Khen sai sự thật đã được đề cập ở bài Bút Máu,

[34:49]ở đây chúng ta phân tích sự kết tội sai sự thật vì ác tâm. Tuy nhiên, nói láo có ý nghĩa rộng hơn nhiều: có nói không, không nói có, trình bày sai sự thật làm người khác hiểu lầm. Nhưng sự tác hại của việc nói láo không dừng ngang ở chỗ khiến cho người khác hiểu lầm, phía sau sự hiểu lầm đó là máu đổ thịt rơi, là nhà tan cửa nát. Lời tuyên bố quả quyết rằng: ai không tin Thánh kinh Coran cần phải được giết chết để không làm dơ bẩn trần gian, Đấng Ala sẽ ban thưởng cho những chiến sĩ chiến đấu để tiêu diệt ngoại giáo để truyền bá Hồi giáo. Sau những lời tuyên bố đó, ngựa của những đạo quân Hồi giáo phải

[35:38]khó khăn lội qua dòng sông ngập máu người đến gối, giẫm qua xương thịt nhầy nhụa của thây người đầy cả cánh đồng. Cuộc thánh chiến kéo dài ngót 5 thế kỷ còn là nỗi kinh hoàng đến hôm nay.

[35:54]Không có nhân quả nghiệp báo! Phía sau lời tuyên bố sai sự thật này là tội phạm lan tràn khắp nơi, nhà tù không đủ sức giáo dục con người trở thành đạo đức. Victor Hugo đã phê phán điều này gay gắt qua tác phẩm vĩ đại "Những kẻ khốn cùng". Khi con người không tự kiểm soát những hành vi thiện ác của mình bằng nguyên lý nhân quả, thì không còn có thể có một biện pháp nào ngăn chặn tội lỗi của họ được thực hiện qua nhiều cách tinh vi. Lịch sử cũng đã ghi đầy những trường hợp vu cáo sai lầm bởi những kẻ tranh giành quyền lợi với nhau và sau đó là giết hại, thù oán lê thê. Chính vì tác hại của sự nói láo nặng nề như thế,

[36:40]nên địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh là quả báo dành cho họ, còn quả báo rất nhẹ ở thân người là bị vu khống oan ức khó tỏ bày. Ác nghiệp thứ năm là nói lời hai lưỡi, nghĩa là gây chia rẽ mọi người với nhau. Người này đã dùng lời kích động sự tự ái của đôi bên để đôi bên căm tức nhau, hoặc hắn dựng đứng những sự kiện không có thật để đôi bên hiểu lầm nhau. Với mọi thủ đoạn thâm độc, hắn đã làm đôi bên nghi kỵ, thù hận với nhau. Phía sau sự đổ vỡ đoàn kết đó là đấu tranh tàn hại, là cửa mất nhà tan, là lửa khói điêu tàn. Thế giới ngày nay đã chia rẽ quá nhiều bởi vô số lý thuyết. Trong tất cả nguyên nhân đưa đến chia rẽ,

[37:30]thì anh hùng cá nhân là một nguyên nhân đáng kể. Ai cũng muốn mình là lãnh tụ duy nhất, muốn mình là người được công đầu, muốn mình là vì sao chói sáng. Để trở thành anh hùng giữa muôn người, chúng ta phải phủ nhận những cái hay của người khác, tiêu diệt phe phái khác, công kích những ngôi sao khác. Nhiều người rất sở trường về môn này, họ rất thông minh tài giỏi nhưng không thể hợp tác với nhau một cách lâu dài, vì ai cũng muốn mình trở thành nhân vật số một. Chỉ khi nào họ biết vì lợi ích chung mà bỏ đi chủ nghĩa anh hùng cá nhân thì tài năng của họ mới có thể góp lại để tạo nên những thành tích phi thường.

[38:17]Ai cũng tuyên bố đường lối mình là đúng và cật lực công kích tất cả đường lối khác. Sự độc tôn này đưa đến ít nhất hai điều tai hại. Một, gây sự chia rẽ với mọi người. Hai, làm cho những người tin theo mình có mặc cảm tự cao. Và tự cao là điều sai lầm trước hết. Các tôn giáo đã độc tôn và phủ nhận tôn giáo khác, rồi trong một tôn giáo, các tông phái đã độc tôn và phủ nhận tông phái khác. Điều chúng ta có thể khẳng định là sự chia rẽ chỉ xuất phát từ một quan điểm sai lầm. Người có quan điểm chân chính không bao giờ ưa thích sự độc tôn và chia rẽ. Có thể họ đã chứng nghiệm một chân lý tuyệt vời nơi tự thân,

[39:03]nhưng nếu đó là chân lý nó luôn luôn đưa đến sự khiêm hạ và dung hòa. Khiêm hạ và dung hòa là sự thể hiện của những tâm hồn chân chính. Chư Thánh tàn ẩn vào các nơi để giáo hóa, tùy theo căn cơ tâm tính của mỗi hạng người mà chư Thánh lập bày những phương tiện sai biệt để đưa lần về một chân lý chung duy nhất. Nếu chúng ta độc tôn phe nhóm của mình, công kích phe nhóm người, có thể chúng ta sẽ công kích nhầm những bậc thánh cao cả. Điều này đưa đến đọa lạc nặng nề. Chúng ta muốn tình thương yêu chan hòa giữa mọi người, muốn thế giới này không có oán thù, ganh ghét, hãy cẩn thận và dè dặt về sự phán xét đối với bất cứ ai.

[39:52]Khi nào có sự khiêm hạ và dung hòa, lúc đó chúng ta gần gũi với chân lý. Chẳng những chúng ta không gây nên sự chia rẽ mới mà còn phải tích cực hàn gắn những chia rẽ có sẵn giữa mọi người. Những chia rẽ có sẵn đó là gì? Đó là bức tường vô hình giữa các tôn giáo, giữa các triết thuyết. Muốn đánh đổ những bức tường ngăn cách giữa các chủ thuyết, chúng ta có hai phương pháp áp dụng tùy theo mỗi trường hợp. Nếu các chủ thuyết đó có chỗ giống nhau, hãy khai thác triệt để điều này. Ví dụ để bớt sự hiềm khích giữa Thiên Chúa giáo và Phật giáo, chúng ta dẫn chứng lời Chúa Jesus: "Thiên quốc không ở bên này, không ở bên kia,

[40:41]mà ngay trong chính chúng ta." Như thế thì Thiên quốc chính là chân tâm, là Niết bàn của Phật giáo. Krishnamurti cũng nói: "Cái mà Phật gọi là Niết bàn, Jesus gọi là Thiên quốc, thì cái đó tôi gọi là cuộc sống." "What the Buddha called Nirvana, Jesus called the Heaven, I called it the living." Nếu các chủ thuyết đó cố giữ những quan điểm trái ngược lẫn nhau, hãy phủ nhận tất cả. Chính lý Tánh không, Trung quán của Bồ Tát Long Thọ phủ nhận mọi quan điểm đương thời, thế mà đã xóa sạch 20 bộ phái để đưa Phật giáo quy về một mối. Krishnamurti đã phủ nhận mọi giá trị của tất cả tín điều, triết thuyết, thế mà đã cởi bỏ mọi cố chấp

[41:44]của con người, đưa họ lại gần với nhau hơn. Mãi về sau, tôi có viết những dòng thơ để nói, sẽ chẳng nói lên để ca ngợi tình yêu.

[42:00]Vì tình yêu là hình ảnh buổi chiều, tuy êm ái nhưng sẽ vào đêm tối.

[42:10]Mãi về sau, tôi có viết những dòng thơ để nói, sẽ chỉ nói lên để ca ngợi tình thương

[42:20]của những người vì nhân loại, quê hương, của hạnh phúc thoát ra ngoài tội lỗi.

[42:30]Mãi về sau, tôi có viết những dòng thơ để nói, sẽ nói lên để ca ngợi sự an nhiên.

[42:40]Hạnh phúc nào thong thả tựa thần tiên, rất thanh thoát, ung dung và đĩnh đạc.

[42:50]Mãi về sau, tôi có viết những dòng thơ để hát, sẽ đoàn kết mọi người trong một trái tim chung. Hạnh phúc thiêng liêng và vĩ đại vô cùng. Một là tất cả và tất cả mọi người chỉ là một. Trong đời sống gần gũi hằng ngày, hãy sẵn sàng hàn gắn những chia rẽ tị hiềm giữa các cá nhân. Đoàn kết thương yêu là một trong những hạnh phúc của con người, thế nên hành vi ly gián chia rẽ là một tội lỗi. Tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội lỗi này mà kẻ tạo nghiệp sẽ phải chịu khổ báo ở địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Nếu được làm người, y sẽ là người với nỗi cô độc, cô đơn, bạn bè đổ vỡ. Môi bị sứt đôi, chia đôi cũng là hiện tướng của lời nói chia rẽ trong quá khứ.

[43:51]Ác nghiệp thứ sáu là ác khẩu, nghĩa là chửi rủa, nhục mạ quá đáng. Dân chúng từ Kosambi nghe lời xúi giục của thứ hậu Magandhiya, vợ vua Udena, đã nói những lời ác khẩu nặng nề với Đức Phật. Với tâm hồn nhẫn nhục, bao dung, cuối cùng Đức Phật đã cảm hóa những kẻ sai lầm ấy. Ác khẩu còn là những lời đe dọa ghê gớm, đòi giết, đòi đánh, hoặc những tiếng chửi thề kém nhân cách. Những lời ác khẩu như vậy chỉ xuất phát từ những tâm hồn thấp kém, thiếu giáo dục. Ca dao Việt Nam có câu: "Kim vàng ai nỡ uốn câu, người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời." Thật vậy, người khôn ngoan sáng suốt không bao giờ buông

[44:44]ra những lời ác khẩu bỉ ổi dành cho người khác. Trừ những người thuần thục trong thiền định mới không bị đau khổ bởi những lời ác khẩu. Còn những chúng sinh khác đều bị mất bình tĩnh, đau đớn, tự ái, khổ sở, nhục nhã khi bị xúc phạm bởi những lời ác khẩu. Ở đây, đau khổ gây ra không bởi đánh đập, giết hại, mất mát ngoại tình, nhưng bởi sự nhục nhã từ ác khẩu. Kinh Hiền Ngu và Luật Sa-di của Phật giáo Bắc phương có ghi lại trường hợp một chú Sa-di vì vô tình đã chê một vị A La Hán tụng kinh giống tiếng chó sủa. Do biết sám hối nên chú Sa-di thoát

[45:31]Phỉ báng người thường, tội nhẹ hơn phỉ báng bậc thánh. Phỉ báng bậc thánh thì không lường được những hậu quả ghê gớm của nó. Trước hết, họ phải bị mất hết danh dự đang có trong hiện đời, mất hết địa vị quyền chức, tuột xuống chỗ tầm thường, hạ liệt. Người được làm tăng nếu lỡ công kích nhầm bậc thánh sẽ mất phước làm tăng, bị thối chuyển trở lại thế tục. Ngược lại với ác khẩu là lời nói nhu hòa, khả ái, khen ngợi dành cho nhau. Trong quan hệ giao tiếp giữa con người, hạnh phúc đến với nhau từ những lời nói lễ độ, tôn trọng, nhu hòa, khả ái. Người có được ái ngữ như thế tức là đã có một lợi khí để

[46:20]ban phát hạnh phúc cho mọi người chung quanh mình. Ai cũng cần được tôn trọng, vì thế hãy đem sự tôn trọng đến với mọi người bằng lời nói và cử chỉ. Lịch sự cũng chính là hình thức ái ngữ của người văn minh. Đừng đem lời thô lỗ, cộc cằn xúc phạm đến nhau, làm cho nhau đau khổ. Sự đau khổ của mọi người hiện tại sẽ biến thành sự đau khổ cho chính mình ở địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh mai sau. Nếu được làm người, sẽ phải chịu đựng những lời nói nhục mạ, cay chua.

[46:56]Ác nghiệp thứ bảy là nói lời phù phiếm theo tạng Pali, nhưng theo Hán tạng lại là ỷ ngữ có hàm ý khoe khoang, phô trương. Chúng ta có thể kết hợp cả hai tạng để định nghĩa cho trường hợp này là nói lời vô ích và khoe khoang. Nói lời vô ích, đùa cợt làm loạn động tâm người, không đưa đến sự tăng trưởng của thiện pháp. Những lời này thường được nghe từ những kẻ ăn không ngồi rồi, tụm năm tụm ba bàn chuyện thị phi, nói chuyện tiếu lâm, cười cợt vô nghĩa. Những lời tục tỉu, dơ bẩn, những tiếng chửi thề đệm theo câu nói cũng là nói phù phiếm. Những câu chuyện huyền hoặc, mê tín, những lời đồn nhảm cũng là nói phù phiếm.

[47:44]Câu chuyện phù phiếm làm mất thì giờ, tăng trưởng ác pháp, rối loạn tâm người, gây ảnh hưởng xấu cho những người xung quanh. Một người cha có thói quen văng tục thì khó có những đứa con đàng hoàng. Hầu như không tìm thấy người đứng đắn trong đám người nói chuyện có quá nhiều tiếng tục tỉu kèm theo. Người tự trọng không bao giờ để miệng mình phát ra những tiếng dơ bẩn như vậy. Chỉ có tâm hồn thấp kém mới để rơi rớt những tiếng thô tục, bẩn thỉu mà thôi.

[48:20]Là người đệ tử Phật có tâm hồn chân chính, khi gặp nhau, chúng ta chỉ nên bàn sâu về đạo lý, để xách tấn nhắc nhở nhau áp dụng tu hành trong đời sống hằng ngày. Đừng để mất thì giờ vì những câu chuyện vô nghĩa trống rỗng vu vơ. Nếu câu chuyện đạo lý làm tăng trưởng thiện pháp bao nhiêu, thì câu chuyện phù phiếm làm tăng trưởng ác pháp bấy nhiêu. Như vậy, tội và phước cũng theo đó lập thành. Còn lời khoe khoang thì làm tổn đức người nói. Khi gặp một người thường kể về những cái hay của họ, bạn có thể đánh giá lập tức mà ít sai lầm là người này chưa thật là người tốt. Thiền sư Zengetsu của Nhật Bản đã căn dặn đệ tử như sau:

[49:10]"Đừng nói cho người chung quanh biết về con, trước khi tự họ khám phá ra con." Thật vậy, người chân chính không nói về cái hay của mình, nhưng trong đời sống từ nơi họ toát ra mọi sự tốt đẹp đến với mọi người. Mọi người chỉ biết cái hay của một người chân chính do hành vi của người ấy, chứ không phải do sự kể lể thành tích của người ấy. Chúng ta có lẽ đã từng chứng kiến vài trường hợp, khi một người khoe ra cái hay của họ, để rồi ít lâu sau cái không hay hiện bày trái hẳn với lời khoe khoang hôm trước:

[49:51]"Tôi có sức nhẫn nhục sâu xa, không bao giờ sân hận!" Vài bữa sau, người nói lời này đã gặp chuyện phải đỏ mặt tía tai mất tự chủ. Một đạo sĩ Ấn Độ tuyên bố ông ta có khả năng đi được trên mặt nước, thế rồi khi rất nhiều người ùn ùn kéo tới chứng kiến, đã thấy ông đạo sĩ rơi tõm xuống hồ. Lời nói khoe khoang làm tổn phước là như vậy. Riêng Đức Phật trong những bài kinh nguyên thủy thường nêu ra lục thông như là một chỗ y cứ để người tu biết mình đã viên mãn Niết-bàn hay chưa. Có thể vị này đã nhận rõ chân tâm, đủ khả năng sử dụng thiền ngữ tài tình, nhưng nếu chưa đủ lục thông thì có nghĩa là vô minh chưa hết, Niết-bàn chưa viên mãn.

[50:41]Thế nên nêu ra lục thông, Đức Phật không làm công việc khoe khoang thường tình, nhưng muốn lập ra một tiêu chuẩn để người sau tự đánh giá chỗ tu tập của mình mà không rơi vào chủ quan tự mãn. Lục thông là: Một, Thiên nhãn thông: Thấy được những nơi rất xa, những vật rất nhỏ, những cõi giới khác với cõi giới này, sự lưu chuyển tái sinh của chúng sinh. Hai, Thiên nhĩ thông: Nghe được những tiếng rất xa, những tiếng rất nhỏ như tiếng chân của con kiến, những tiếng của chúng sinh trong cõi giới khác. Ba, Tha tâm thông: Biết được tâm suy nghĩ của chúng sinh, biết chỗ chứng đắc của thiền giả, biết được dù ở rất xa.

[51:33]Bốn, Túc mạng thông: Nhớ lại vô lượng kiếp của quá khứ với từng chi tiết nhỏ của chính mình hoặc của người khác. Năm, Thần túc thông: Có khả năng phi hành biến hóa, hiện thân, ẩn thân, phân thân ra nhiều nơi, thần lực phi thường. Sáu, Lậu tận thông: Chấm dứt mọi vô minh, lậu hoặc không còn thừa, Niết-bàn hiển lộ viên mãn, hợp nhất với chư Phật, tâm chấp thủ sở đắc tan biến, tự biết không còn bị sinh tử luân hồi chi phối.

[52:09]Đủ lục thông nói trên, vị này là bậc A-la-hán giải thoát tự tại, thắng trí sáng ngời, đại bi viên mãn. Quả báo rất nhẹ của việc nói lời vô ích và khoe khoang là được làm người nghe những điều khó chấp nhận, kém uy đức, ít được kính trọng, miệng xấu. Ác nghiệp thứ tám là uống rượu say sưa. Lúc này khắp trên thế giới đang đấu tranh chống nạn nghiện rượu, một tệ nạn đã gây đau khổ cho con người từ rất lâu. Không phải rượu đã làm say sưa mê loạn cho người uống mà thôi, nhưng sau đó nó đã đưa chiếc xe tông vào những người đi đường vô tội, nó đã đánh vợ, đập con, đốt nhà, nó đã đưa đến cưỡng bức vô luân, nó đưa đến nghèo nàn và túng thiếu.

[53:01]Trước hết, rượu có vẻ không ác độc như giết người, không xấu xa như trộm cắp, không bẩn thỉu như tà dâm, không hiểm trá như vu khống. Chẳng những thế, nó còn có vẻ lễ nghĩa theo phong tục Á Châu "Vô tửu bất thành lễ". Nó chỉ có một tác hại đơn giản là làm say sưa khiến người uống trở nên cuồng nhiệt, không còn phân biệt phải trái, không kiểm soát được hành vi và lời nói của mình. Phía sau sự si mê này, nó đưa người đến những tội ác tày trời nguy hiểm nhất, cũng độc ác như sát sinh, cũng xấu xa như trộm cắp, cũng bẩn thỉu như tà dâm. Nếu gia đình bạn có một người nghiện rượu, bạn sẽ cảm thấy nỗi khổ tâm khó

[53:47]bày tỏ của mình, vừa hư hao trong gia đình, vừa nhục nhã với hàng xóm. Không gì chán nản bằng sự chứng kiến một người trong cơn say sưa đánh mất mọi tư cách của mình. 70% tai nạn giao thông đều do say rượu. Rượu làm thần kinh của người lái xe không quan sát tinh anh, không phản ứng kịp thời, chỉ cần chậm một giây tai nạn đã xảy ra rồi. Nhan nhản trong xã hội, những người say rượu về hành hạ vợ con, cha mẹ rất là tệ bạc. Tiền bạc trong gia đình không được dùng vào việc no cơm ấm áo, sản xuất, học hành, mà chỉ để phung phí vào ly rượu nồng nàn, đĩa thịt béo ngậy của cá nhân người nghiện. Hắn đã bóc lột gia đình một cách vô trách nhiệm,

[54:33]và trong cơn say sưa hắn đã gây phiền hà cho láng giềng bằng lời nói xằng bậy ồn náo, bằng cử chỉ khiếm nhã thô bạo. Rượu còn làm kích thích tính dục hơn bình thường. Lúc uống rượu say, người này dễ có hành vi dâm bạo, xúc phạm đến phụ nữ, để rồi mang tiếng không tốt về sau. Trong nhiều lần nghiên cứu, các bác sĩ Đức đã xác nhận rằng những đứa con được thụ tinh khi cha mẹ đang nghiện rượu đều là những đứa con đần độn, kém cỏi về thể chất và trí tuệ. Họ gọi những đứa con của chiều thứ bảy, The children of Saturday evening, vì người Đức thường uống rượu thoải mái vào chiều thứ bảy.

[55:18]Nhiều người tự cho mình không thoát khỏi tứ đổ tường, nên đã chọn rượu như là một chỗ bám đỡ tai hại hơn ba thứ kia. Chiêu bài tự an ủi này rất là gượng gạo và lấp liếm, để rồi sau đó họ sẽ thấy họ làm khổ bản thân và gia đình quá đáng.

[55:37]Có những hạnh phúc cao thượng hơn, thanh bay hơn các khoái cảm thô tục, đó là âm nhạc, hội họa, thể thao. Chúng ta có thể tìm kiếm niềm vui trong các môn nghệ thuật văn hóa thể thao này, hơn là tìm niềm vui trong rượu nồng thịt béo. Những tâm hồn hướng thượng thì thích những giải trí thanh bay, còn những tâm hồn thấp kém thì thích những khoái lạc hạ liệt. Nhìn sự giải trí của một người, chúng ta có thể đánh giá ít sai về tâm hồn của người đó. Người Nhật Bản có tâm hồn khá thanh bay, nên họ đã tìm được niềm vui tế nhị trong hương vị của trà theo trà đạo, trong chiếc hoa cắm nơi độc bình theo hoa đạo.

[56:25]Ở những lĩnh vực phức tạp nhất như kinh doanh, bạn vẫn thấy người Nhật có phong cách ung dung, nhẹ nhàng, điềm đạm. Chính sự thanh khiết của tâm hồn đã thấm nhuần thiền đạo Phật giáo, người Nhật đã lên đến đỉnh cao của văn minh và nghệ thuật như hôm nay. Tạp chí Sông Hương đầu năm Mậu Thìn có dịch một đoạn văn Nhật, "Tiếng súc sắc trong đêm khuya", diễn tả một trò chơi tầm thường như việc gieo súc sắc, nhưng qua con người Michiko, trò chơi này trở thành một phương pháp nhiếp tâm kỳ diệu. Nếu cần phải giải trí, chúng ta hãy tìm sự giải trí trong những hình thức nghệ thuật thanh khiết, hơn là tìm trong thú vui hèn kém.

[57:09]Tuy nhiên, vượt mọi sự giải trí của thế gian, tọa thiền chính là niềm vui tối thượng về đạo đức, về sự đơn giản, về sự cao... Tuy nhiên, vượt hơn mọi sự giải trí của thế gian, tọa thiền chính là niềm vui tối thượng về đạo đức, về sự đơn giản, về sự cao cả, về trí tuệ và phúc lạc. Ở giai đoạn đầu, tọa thiền gần như một cực hình, vì chân bị đau trong thế ngồi kiết già, tâm bị loạn vì chưa quen điều phục. Nhưng càng về sau, một giờ tọa thiền là một giờ an vui, hạnh phúc. Nhiều cư sĩ tại gia can đảm vượt qua giai đoạn đầu vất vả, để rồi hôm nay họ đã bắt đầu tìm thấy niềm an lạc vĩ đại thanh khiết nơi pháp môn tọa thiền này.

[58:09]Cái vui của tọa thiền không nồng nhiệt như men rượu, không xao động như ái dục, không khoái trá như thắng lợi trong một cuộc chơi. Những ngôn từ của thế gian nào giờ không đủ để diễn tả niềm vui của thiền định. Chỉ những người thực sự tìm thấy mới tự biết rằng không một trò vui nào của thế gian có thể so sánh được. Thiền định là một hạnh phúc và cũng là con đường phát triển trí tuệ. Càng thâm nhập thiền định, người này càng trở nên thông minh, nhạy bén. Khi những suy luận quanh co đã dừng lắng thì trực giác phát sinh. Họ không còn biết bằng tư duy lý luận, nhưng họ biết trực tiếp thẳng vào sự kiện của vấn đề.

[59:00]Ai đã tu tập thiền định đều nhận thấy rõ rằng mình trở nên sáng suốt hơn ngày xưa. Còn rượu bia nồng nặc, ngược lại, đã đem lại sự si mê trong hiện đời, đem lại khổ báo trong địa ngục, ngạ quỷ trong đời sau, và cũng đem lại điên loạn ở thân người sau nữa.

[59:23]Nêu lên khổ báo của tám ác nghiệp này, Phật đã gián tiếp ca ngợi giá trị của sự trì giới. Người phật tử tại gia cần phải giữ gìn năm giới một cách chu đáo, phải xem giới luật như là một biểu hiện thiêng liêng của đạo Phật, đừng khinh thường giới luật để đánh mất tư cách và phúc lạc của chính mình. Giới luật được gìn giữ bởi ba điều kiện: Một, bằng sự nhận định đúng đắn về giá trị và lợi ích của giới luật. Hai, bằng tác ý dõng mãnh, quyết tâm cao độ, có một thái độ dứt khoát với những hành vi phi giới luật. Ba, bằng định lực sâu xa bởi công năng tọa thiền. Hội đủ ba điều kiện này, giới luật được gọi là viên mãn.

[1:00:17]Có những cư sĩ tại gia không may mắn, không gần được những bậc xuất gia trì giới viên mãn nên ít được nghe những lời nhắc nhở chân thành, đã trở nên phá giới, uống rượu, rất là mất tư cách. Dĩ nhiên, chúng ta cũng quy một phần trách nhiệm nơi vị thầy kém giới, nhưng hơn tất cả, người cư sĩ phải nhận lấy trách nhiệm về chính mình. Giới luật và giáo pháp của chính Đức Phật mới thật là bậc thầy vững chắc cho chúng ta nương tựa, đừng vì sự sơ suất của vài vị xuất gia mà chúng ta tự đánh mất công đức của mình qua hành vi phá giới. 15.

[1:01:25]Đối xử với Tăng. Trích Kinh Bộ Tăng Chi 2, trang 246. Khi nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình cư sĩ, tại đấy, do năm trường hợp, các người cư sĩ sẽ được nhiều công đức. Thế nào là năm? Khi nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình cư sĩ, khi trông thấy những vị xuất gia giữ giới này, tâm họ được tịnh tín. Này các Tỳ kheo, như vậy, trong lúc ấy, gia đình kia đã đặt chân lên con đường đến cõi trời.

[1:02:18]Khi nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình cư sĩ, khi trông thấy những vị xuất gia giữ giới này, họ đứng dậy, đảnh lễ và mời ngồi. Này các Tỳ kheo, như vậy, trong lúc ấy, gia đình kia đã đặt chân lên con đường đưa đến sự cao sang.

[1:02:49]Khi nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến gia đình cư sĩ, khi trông thấy những vị xuất gia giữ giới này, họ từ bỏ cấu uế của xan tham. Này các Tỳ kheo, như vậy, trong lúc ấy, gia đình kia đã đặt chân trên con đường đưa đến đại uy lực. Khi nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến gia đình cư sĩ, khi trông thấy, họ tùy theo khả năng, tùy theo năng lực, liền san sẻ vật bố thí.

[1:03:35]Này các Tỳ kheo, như vậy, trong lúc ấy, gia đình kia đã đặt chân lên con đường đưa đến tài sản lớn.

[1:03:47]Khi nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình cư sĩ,

[1:03:56]khi trông thấy, họ thưa hỏi những câu hỏi về giáo pháp, lắng nghe Chánh pháp.

[1:04:06]Này các Tỳ kheo, như vậy, trong lúc ấy, gia đình kia đã đặt chân trên con đường đưa đến đại trí tuệ.

[1:04:17]Khi nào, này các Tỳ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình, tại đấy, do năm trường hợp, họ được nhiều công đức. Nhận xét:

[1:04:35]Trong bài kinh này, Đức Phật nêu ra năm trường hợp dùng để đối xử với một vị xuất gia khi họ được vị này đến thăm tại gia đình. Tuy nhiên, nhấn mạnh nhiều lần, Phật chỉ đề cập đến người xuất gia xứng đáng, đó là người giữ giới thanh tịnh. Chỉ khi nào họ viên mãn về giới luật, họ mới thực sự là phước điền chân thật để chúng sanh gieo trồng căn lành lên đó. Nếu người xuất gia kém khuyết về giới luật, họ không phải là mảnh ruộng tốt cho chúng sinh nương tựa. Nói lên điều này, Phật muốn nhắc nhở bổn phận của người xuất gia trước khi dạy cư sĩ cách thức đối với chư Tăng. Chúng tôi sẽ phân tích về vấn đề trì giới của chư Tăng

[1:05:19]trong phần nói về nhân quả xuất thế gian ở phía sau. Ở đây, chúng tôi chỉ nói lên điều này để người cư sĩ làm tròn trách nhiệm hộ trì Tam Bảo của mình, nghĩa là họ phải đánh giá đúng ai là người xuất gia giữ giới thanh tịnh, ai chưa giữ giới thanh tịnh, để biết rằng sự hộ trì của họ phải hướng về cho bậc trì giới, vì chỉ có bậc trì giới mới thực sự là người duy trì Phật pháp. Đã có nhiều cư sĩ vì lòng tin mù quáng, không đánh giá đúng sự quan trọng của vấn đề Tăng giữ giới, đã tin tưởng theo một số tà sư kém giới luật, giảng những giáo lý huyền hoặc sai lầm. Những tà sư này đã biện minh cho sự kém giá trị của

[1:06:07]mình bằng những lý luận cao siêu dường như hợp lý. Người cư sĩ, vì kém hiểu biết đã chấp nhận những tính điều sai lầm này, đặt cuộc đời mình theo tà sư ác giới, tức là tự đoạn mất những thiện căn quý giá của mình. Đức Phật dạy: "Hãy nhìn bậc đạo sư theo cái nhìn của tai, mắt", Tương Ưng Bộ Kinh, nghĩa là đánh giá bậc thầy theo những giới luật, oai nghi được thể hiện ra bên ngoài. Thật là khó khi muốn tìm hiểu chỗ đến trong thiền định của một người. Hàng cư sĩ tại gia chỉ việc tìm đến những người thanh tịnh trên giới luật để nương tựa cũng đủ được nhiều công đức. Bởi vì chỉ có những người giữ giới và người tinh tiến thiền định

[1:06:57]mới mạnh dạn răn nhắc sự tu hành cho người khác, còn những kẻ dãi đãi và khuyết giới thường tránh né nói về đạo lý. Đã đến lúc chúng ta phải khôi phục lại giá trị của giới luật như là một nền tảng vững chắc cho sự tu hành. Tuy cách Phật đã xa, hoàn cảnh và tâm tình đã biến đổi, tập quán và sinh hoạt đã sai biệt, có những giới luật không còn thích hợp, nhưng những giới căn bản càng được giữ nhiều chừng nào thì Phật pháp càng được hưng thịnh chừng nấy. Hàng cư sĩ tại gia phải phán xét về giới luật để đặt sự tôn trọng của mình, cũng có nghĩa là khuyến khích những người xuất gia cố gắng hộ trì giới luật.

[1:07:42]Rồi một ngày đẹp trời, một vị Sa-môn trang nghiêm, đạo mạo đến viếng gia đình bạn vì một duyên sự nào đó, khi trông thấy vị Sa-môn thanh tịnh trong giới luật kia, bạn và gia đình phát khởi niềm kính tin thuần tịnh, gia đình bạn được Phật công nhận là đã đặt chân lên con đường đưa đến cõi trời. Như vậy, lòng tịnh tín đối với chư Tăng tịnh giới là nhân lành để sinh Thiên. Chỉ có ý nghiệp đơn giản là phát khởi niềm kính tin đối với bậc tịnh giới, một nhân lành lớn lao đã xuất hiện. Thật ra, việc sinh Thiên không dễ. Những cõi giới khác với cõi giới người được liên hệ với nhau theo chiều sâu tâm linh.

[1:08:32]Những tác nghiệp của tâm là những yếu tố quan trọng để chúng sinh thay đổi cõi giới. Nếu ác tâm thuần thục, chúng sinh chuyển về địa ngục, ngạ quỷ; nếu thiện tâm thuần thục, chúng sinh chuyển về các cõi trời. Đó là kết quả của ý nghiệp. Ở phần sau, chúng ta sẽ gặp gỡ trường hợp nhân quả có chúng sinh quán từ bi được sinh về cõi trời Phạm Thiên. Ý nghiệp làm thay đổi cõi giới của chúng sinh, còn khẩu nghiệp và thân nghiệp tạo nên hoàn cảnh trong cõi giới đó. Ví dụ, người có thiện tâm được sinh về cõi trời, nhưng người này ít có dịp bố thí, thuyết pháp, in kinh, đắp tượng, phóng sinh, thì tuy được thân thiên tử

[1:09:20]nhưng là một thiên tử tầm thường không bằng các thiên tử khác có thân nghiệp tốt về phương diện trí tuệ, quyền lực, tài sản, dung mạo. Trong trường hợp đối xử với Tăng, Phật nêu lên ý nghiệp ban đầu là niềm kính trọng tin tưởng của cư sĩ đối với chư Tăng, và ý nghiệp này đủ để đưa họ về thiên giới. Tâm kính trọng xuất hiện, tức là tâm ngã mạn biến mất. Khi nhìn một người tại gia đến chùa với cung cách thiếu sự kính trọng, phải biết người này còn có ngã mạn ẩn núp trong tâm. Không gì đưa chúng sinh đến chỗ thấp hèn mạnh bằng tâm niệm ngã mạn. Những kẻ sinh vào nơi hạ liệt, thấp kém hầu hết đều do tâm niệm ngã mạn chi phối.

[1:10:07]Đối trị với tâm niệm ngã mạn là tâm khiêm hạ, nhưng tâm khiêm hạ được hình thành do lòng kính trọng đối với bậc đáng kính. Không gọi là tâm khiêm hạ nếu lòng kính trọng vắng bóng. May mắn hơn nữa là bạn biết đặt lòng tịnh tín vào bậc xuất gia thanh tịnh trong giới luật. Chỉ với ý nghiệp đơn giản này là phát lòng tịnh tín đối với vị Sa-môn tịnh giới, một công đức lớn đã thành tựu cho bạn rồi. Kế đến, gia đình cư sĩ này vui mừng đứng dậy, lễ bái và mời ngồi, nghĩa là tiếp đón ân cần khi được bậc xuất gia tịnh giới đến thăm. Đây là thân nghiệp thể hiện lòng tịnh tín của họ. Không gì trơ trẽn, e ngại bằng sự thờ ơ lạnh nhạt của chủ đối với khách.

[1:10:59]Người khách gặp phải sự lạnh nhạt, thờ ơ này thật là khó xử và rồi phải ra về trong hiu quạnh, buồn tủi.

[1:11:08]Nếu chủ nhà dùng lối đối xử như thế, nghĩa là dành cho khách một vị trí thấp kém, quả báo sẽ trở lại với họ tương tự, là họ sẽ trở thành kẻ hèn kém trong tương lai. Dù không phải là bậc Sa môn đến nhà, chúng ta đều nên cố gắng dùng lối đối tiếp ân cần dành cho người, tức là đặt họ vào vị trí sang trọng. Quả báo trở lại từ sự đối xử đó là địa vị cao sang ở vị lai. Trong các mẩu chuyện trong quyển "1001 Đêm", câu chuyện "Hoàng đế một ngày" rất là phù hợp với luật nhân quả nghiệp báo. Bản dịch của Lệ Hoa, xuất bản năm 1963. Nhân vật Thanh Lam được cha để lại một gia tài đồ sộ. Chàng chia làm hai phần:

[1:11:59]một là những tài sản cố định sinh lợi hàng năm như ruộng vườn, hai là vàng bạc để tiêu xài. Chàng dùng trọn vẹn phần thứ hai để tiếp đãi bè bạn. Họ kéo đến rất đông để thụ hưởng yến tiệc linh đình do Thanh Lam tổ chức. Đến khi vàng bạc đã hết, Thanh Lam không còn tổ chức yến tiệc như xưa nữa thì bạn bè cũng xa lánh. Thanh Lam buồn bã và bất mãn, xin mẹ cho phép từ nay chỉ tiếp đãi những khách lạ ghé ngang một đêm duy nhất, không lưu lại ngày thứ hai. Từ đó, mỗi chiều chàng đón khách lạ tại đầu cầu, mời họ về nhà, nhờ mẹ nấu nướng các món ăn, ân cần trò chuyện, thết đãi họ, sắp xếp chỗ nghỉ qua đêm rồi tiễn họ ra đi vào sáng

[1:12:50]hôm sau, kèm theo lời yêu cầu họ đừng trở lại lần thứ hai nữa. Thời gian trôi qua, cho đến một hôm Thanh Lam gặp người khách lái buôn mang tên Quốc Anh, chính là hoàng đế đương triều đang cải dạng thăm dò dân tình cùng với một thị vệ khỏe mạnh. Nhà vua tò mò theo Thanh Lam về nhà để được thết đãi, trò chuyện để nghe than van về nhân tình thế thái. Sau khi biết lòng tốt của Thanh Lam, nhà vua hỏi chàng có mong mỏi điều gì không. Thanh Lam từ chối, nói rằng chỉ thích sống như vậy để tiếp đãi khách phương xa và không cưu mang một ước vọng nào cả. Chợt Thanh Lam nhớ tới mấy ông thầy tu và bốn ông lão gần nhà

[1:13:41]chuyên họp nhau nói chuyện thị phi của thiên hạ, chàng buột miệng nói: "Ước gì tôi được làm vua một ngày, tôi sẽ trừng phạt lũ đó thích đáng." Nhà vua chợt nảy sinh một sáng kiến kỳ lạ, bèn chuốc thuốc mê vào ly rượu của Thanh Lam, rồi sai thị vệ vác chàng vào hoàng cung. Vua căn dặn tất cả mọi người: cung phi mỹ nữ, bá quan phải xem Thanh Lam như chính nhà vua. Sáng hôm sau, khi được cung nữ lay thức dậy, Thanh Lam vô cùng ngạc nhiên trước sự kiện lạ lùng này, ở giữa cung vàng điện ngọc với các cung tần quan tướng mà ai cũng xưng tụng mình là đương kim hoàng đế. Ban đầu chàng cải chính mạnh mẽ,

[1:14:27]nhưng các quan khoác áo long bào, đội mũ thiên triều và hướng dẫn chàng ra sân chầu lên ngai vàng để phán xét công việc. Trong tâm trạng nửa thực nửa hư đó, chàng nhanh nhẹn xét đoán công việc do các quan báo cáo một cách sáng suốt, phân minh khiến cho nhà vua núp sau rèm cũng phải tấm tắc khen ngợi. Chợt chàng gọi quan hình cảnh đến, ra lệnh bắt tội mấy ông thầy tu và bốn ông lão đánh cho mỗi người 100 roi và chở lên lưng lừa diễu qua các phố cho mọi người làm gương về tội ngồi lê đôi mách, nói chuyện thị phi. Quan hình cảnh vâng lệnh ra đi. Chàng sai quan giữ kho cho xuất nghìn đồng tiền vàng, dặn đem cho mẹ Thanh Lam ở dưới phố.

[1:15:16]Quan giữ kho vâng lệnh thi hành. Sau khi giải quyết mọi việc triều đình quốc sự xong, các cung nữ đưa chàng về vui vầy yến tiệc, nhạc vũ xênh xoang khiến cho chàng sung sướng khôn xiết. Chiều đến, Thanh Lam lại bị đánh thuốc mê và được cõng về trả lại chỗ cũ. Sáng dậy, chàng còn mang mặc cảm hoàng đế hôm qua, đã lớn giọng nạt nộ mẹ mình, và hơn thế nữa đã đánh mẹ vì tội khi quân, dám coi chàng là con.

[1:15:50]Khi được biết rằng mấy ông thầy tu và bốn ông lão đã bị trừng phạt đúng như lệnh, và mẹ chàng được tặng nghìn tiền vàng, chàng càng đoán chắc mình chính thực là vua. Hàng xóm kéo đến trói chàng vì tội đánh mẹ và dám nhận là hoàng đế, bảo chàng điên và đưa đến nhà thương điên trên lưng một con lừa. Dọc đường, chàng bị nhiều người đấm đá túi bụi. Thời gian ở tại nhà thương điên, chàng còn bị quất 50 roi gân bò in hằn trên lưng. Sau một thời gian nguôi ngoai, chàng từ bỏ mặc cảm hoàng đế và nhờ mẹ xin cho về. Chàng cho chuyện vừa rồi là quỷ ám do ông lái buôn kia ra đi đóng cửa không kỹ. Chàng trở lại thú vui tiếp khách một đêm như trước.

[1:16:39]Đến một hôm thì vô tình nhà buôn Quốc Anh gặp lại. Chàng quay mặt không tiếp, nhưng nhà vua đến dồn dã hỏi thăm. Chàng buồn rầu kể lại mọi việc, khiến nhà vua thương xót và xin theo chàng về nhà đêm nay. Bất đắc dĩ, chàng lại tái diễn sự thết đãi như lần trước và cũng bị chuốc thuốc mê, cõng vào nội cung. Sáng ra, khi trông thấy cảnh lộng lẫy của hoàng cung, chàng sợ hãi và nhắm mắt ngủ tiếp cho qua cơn ác mộng. Nhưng rồi các cám dỗ khoái lạc của cung nữ, bầy tôi, yến tiệc, nhạc vũ lôi chàng vào thưởng thức mê ly. Chợt nhà vua phì cười bước ra và mọi chuyện được giải đáp thỏa đáng. Sau đó, vua kết nghĩa anh em với Thanh Lam và dành

[1:17:30]cho chàng trọn đời giàu sang, quyền quý. Thói quen hào phóng đời trước đưa chàng đến sự thừa hưởng gia tài hôm nay. Sự tiếp đãi ân cần với mọi người đưa chàng đến ngôi vị hoàng đế như thật trong hiện đời, nhưng chỉ tiếp một đêm nên chỉ được làm vua một ngày. Vì ra lệnh đánh những tu sĩ và mấy ông già nên chàng cũng bị đánh đập trở lại. Sự bêu riếu mấy ông già trên lưng lừa cũng đưa chàng lên lưng lừa nhiễu qua đường phố. Nhưng dù sao thì nghiệp của chàng cũng khiến chàng được giàu sang quyền quý trọn đời còn lại. Điểm đáng chú ý của câu chuyện này là sự tiếp đãi ân cần của Thanh Lam đã đưa chàng đến sự cao sang giống như Đức Phật cho biết qua bài kinh này.

[1:18:19]Nhưng khác đi một chút, Phật nhấn mạnh sự tiếp đãi dành cho những vị xuất gia trong sạch nơi giới luật sẽ đưa đến phước báo thù thắng hơn với những kẻ không được tịnh giới. Thiện nghiệp thứ ba là do được chư Tăng tịnh giới đến viếng, người cư sĩ từ bỏ cấu uế của san tham.

[1:18:41]Có những chúng sinh đã từng tác ý tu tập nhiều đời, bây giờ dù chưa được nghe giảng dạy giáo pháp, chỉ cần trông thấy bậc chân tu, lương tâm họ liền trỗi dậy, biết phân biệt thiện ác, biết từ bỏ san tham, biết thúc liễm trong giới luật. Điều này không phải là chuyện huyền thoại. Đa số những đệ tử sống gần chân sư thường được sự tinh tiến hơn những đệ tử xa thầy. Công đức gần gũi chân sư quan trọng là như vậy, nhưng không phải ai cũng có đặc điểm đó. Phật khen ngợi hàng cư sĩ khi được chư Tăng tịnh giới đến viếng, liền phát sinh sự tàm quý và từ bỏ cấu uế của san tham. Sự từ bỏ san tham này sẽ đưa đến thành tựu đại uy lực.

[1:19:27]Uy lực nghĩa là được người khác khâm phục, kính trọng. Người không san tham, tức là người không còn nhỏ mọn, ích kỷ, đã có tâm hồn rộng rãi, bao dung đối với mọi người. Chính sự thanh khiết của không san tham khiến cho họ trở nên đáng kính. Chính tâm hồn rộng rãi, bao dung khiến cho họ trở nên đáng được khâm phục. Nhưng sự khả kính trong trường hợp này được thù thắng hơn bởi sự hiện diện của vị Tăng tịnh giới. Vì kính trọng, tin tưởng nơi vị xuất gia tịnh giới này mà người cư sĩ từ bỏ san tham, thế nên uy lực thành tựu về sau được gia tăng gấp bội. Thiện nghiệp thứ tư tiếp theo là sau khi từ bỏ san tham, họ biết san sẻ cúng dường.

[1:20:16]Nếu sự không san tham thành tựu cho gia đình cư sĩ đại uy lực, một giá trị tinh thần, thì hành vi cúng dường thành tựu cho gia đình đại tài sản, một giá trị vật chất. Dĩ nhiên, Phật đã bảo tùy khả năng mà người cư sĩ san sẻ, không phải họ san sẻ quá đáng để đưa đến thiếu hụt cho gia đình họ trong hiện tại. Tuy nhiên, sự thanh tịnh trong giới luật đã làm cho phước báo của cư sĩ thù thắng gấp nhiều lần hơn sự bố thí cho người phàm phu tầm thường. Giá trị cúng dường cho một bậc chân tu đã được đề cập nhiều ở phần trước, không cần phải nhắc lại. Vì cúng dường có nghĩa là giúp cho chư Tăng sống qua một ngày,

[1:21:00]một ngày thúc liễm trong giới luật, chuyên chú trong thiền định, sáng suốt trong trí tuệ, an lạc trong giải thoát, khác với một ngày của phàm phu đầy tham lam, thù hận, ích kỷ, oán hờn. Chính giá trị sống cao quý của chư Tăng đã khiến cho người san sẻ được phước báo vô cùng thù thắng. Thiện nghiệp thứ năm là biết thưa hỏi và lắng nghe giáo pháp. Bốn thiện nghiệp trước có một trình tự rõ ràng là: trông thấy vị xuất gia tịnh giới đi đến, trước hết gia đình cư sĩ phát sinh lòng tịnh tín; kế đó, tiếp đón ân cần bằng hành vi đứng dậy, đảnh lễ, mời ngồi; kế đó là hình ảnh vị chân tu khiến họ biết từ bỏ san tham;

[1:21:46]kế đó, họ san sẻ vật thực để cúng dường. Tuy nhiên, những công đức đó chưa đủ cho họ có được lợi ích lớn lao cho đời này và những đời sau nếu họ chưa biết thưa hỏi và lắng nghe giáo pháp. Chính vì biết thưa hỏi và lắng nghe giáo pháp, người cư sĩ sẽ áp dụng đạo lý vào cuộc sống một cách xít xao hơn. Giáo pháp sẽ dạy họ biết nghiêm trì giới cấm, biết từ ái với muôn loài, biết nhiếp phục sân hận, biết tùy hỷ với người, biết tu tập thiền định. Vô số những khúc mắc éo le trong đời sống sẽ được đạo lý soi sáng, khiến cho họ thấy manh mối để giải quyết một cách thích đáng, hài hòa. Không có đạo lý, họ dễ giải quyết công việc một cách cực đoan

[1:22:38]một chiều, mà cực đoan thì luôn luôn đưa đến sai lầm, đổ vỡ. Ví dụ, khi con cái phạm lỗi, hoặc họ chủ trương trừng phạt bằng roi vọt một cách khắc nghiệt để nó sợ hãi đừng tái phạm, hoặc họ chủ trương thả lỏng để nó tự ý thức, hoặc họ chủ trương dùng thuần lời nói để nhắc nhở. Dĩ nhiên, sự dạy dỗ bằng lời nói với sự phân tích kêu gọi là xương sống của sự giáo dục. Nhưng nếu thiếu uy lực, lời nói không đủ chuyển hóa tâm hồn đứa trẻ. Sự sợ hãi về hình phạt cũng khá giống như sự sợ hãi về khổ báo của một người am hiểu đường đi của nhân quả, khiến cho đứa trẻ rụt rè trước hành vi phạm tội. Tuy nhiên, phải là lời nói ôn tồn phân tích về giá trị đạo

[1:23:29]đức sâu xa, mới nhổ sạch mầm mống phạm tội của đứa trẻ. Bậc cha mẹ không nên chỉ nhìn một chiều, phải trang bị cho mình một lòng bao dung từ ái đối với con cái; trang bị sự nghiêm khắc về kỷ luật đối với hành vi phạm tội; trang bị những lời nói sâu sắc về đạo đức, nhất là đạo lý nhân quả nghiệp báo. Đầy đủ cả ba mặt này, sự giáo dục trong gia đình được gọi là hoàn chỉnh. Giáo pháp sẽ cho người cư sĩ cái nhìn minh triết, toàn diện trên mọi vấn đề để họ giải quyết các công việc trong cuộc sống được sáng suốt hơn. Họ được lợi ích về lối sống trong hiện tại, gieo trồng những thiện căn cho vị lai, và nếu thuận duyên tăng thượng,

[1:24:16]họ vẫn có thể tu tập thiền định để chứng từ quả vị Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, và A-na-hàm.

[1:24:25]Ở trường hợp này, Đức Phật tán thán gia đình cư sĩ đã đặt chân lên con đường đưa đến đại trí tuệ. Thật vậy, những cư sĩ đến với Phật pháp mà ít chịu thưa hỏi lắng nghe giáo pháp, chỉ đến vì hình thức lễ bái tán tụng, chỉ đến vì tìm cầu phước báo hữu vi, người này không được tăng trưởng trí tuệ trong Chánh pháp. Còn những cư sĩ biết thưa hỏi và lắng nghe, sinh ra trong đời nào họ cũng đều là những người trí tuệ minh mẫn, và nếu họ khéo áp dụng tu tập thì lợi ích của Chánh pháp đến với họ thật là vô hạn vô biên. Năm trường hợp để thành tựu công đức nói trên đã hình thành từ hai điều kiện: 1. Người xuất gia là vị trong sạch nơi giới luật.

[1:25:14]2. Năm thiện nghiệp sinh khởi tại gia đình cư sĩ. Nếu thăng tiến hơn, người cư sĩ chịu khó đến với chư Tăng nơi Tịnh xá và cũng sinh khởi được năm thiện nghiệp như trên. Sự sai biệt này cũng đưa đến sự sai biệt về quả báo. Nếu đợi chư Tăng đến tận nhà rồi người cư sĩ mới tác thành năm thiện nghiệp, về sau họ phải rời khỏi trú xứ mới được hưởng quả báo. Đó là trường hợp những người phải đi đây kia kinh doanh, tranh đấu, học hỏi và được thành công. Nếu họ đến tận nơi để thừa sự thưa hỏi với chư Tăng nơi Tịnh xá, về sau họ ở yên tại trú xứ mà vẫn hưởng được quả báo. Đó là trường hợp những người có điều kiện kinh

[1:26:00]doanh, học hỏi tại nhà và được thành công. 16.

[1:26:32]Dã Vạn (Góp chung Nam Hải dị nhân và Thiền sư Việt Nam). Thiền sư Từ Đạo Hạnh, vốn là con nhà nho tên Từ Vinh. Từ Vinh có sự trái ý với Diên Thành hầu, Hầu nhờ Pháp sư Đại Điên đánh chết. Sư muốn trả thù cho cha, định sang Ấn Độ học thuật linh dị để giết Đại Điên.

[1:27:00]Nhưng khi đi tới xứ Mọi Răng Vàng, vì thấy đường sá hiểm trở, sư đành trở về vào ẩn trong hang đá Từ Sơn, chuyên trì Đại Bi Tâm Đà La Ni. Sư thành tựu đại định và thần thông, trở về tìm đến Đại Điên đánh ông ta mang bệnh rồi chết. Từ đây, oan nghiệp xưa đã trả, các việc đời lặng như tro lạnh, sư trải khắp tùng lâm tìm học pháp thiền. Sau này, sư đắc ngộ từ Thiền sư Sùng Phạm ở chùa Pháp Nhân. Sư trước có kết bạn với Minh Không, tức Nguyễn Minh Không, và Giác Hải. Cả ba đều thành tựu thần thông diệu dụng phi thường. Có một lần, Đạo Hạnh đùa cợt đón đường Minh Không và Giác Hải, hóa thân thành cọp, gầm lên dữ dội nhảy tới dọa chụp hai người bạn này.

[1:27:56]Minh Không biết, quở: "Muốn làm hổ thì sẽ được!" Đến khi Đạo Hạnh sắp tịch, tắm rửa sạch sẽ, thay đổi y phục, gọi các môn đồ đến dạy:

[1:28:11]"Túc nhân của ta chưa hết, phải còn sinh lại thế gian làm tạm vị Quốc vương. Sau mạng chung, ta lại sinh lên cõi trời Ba Mươi Ba (Ba Mươi Ba là một danh từ riêng, không phải thứ bậc) làm Thiên chủ. Nếu thấy thân ta bị hư hoại thì ta mới nhập thật vào Niết-bàn, chẳng còn trụ trong vòng sinh diệt này nữa." Môn đồ nghe lời dạy này ai nấy đều buồn thảm rơi lệ. Sư cũng dặn dò Minh Không: "Ở thân Quốc vương tới đây, tôi sẽ bị ách tật, nhờ huynh lo liệu giùm."

[1:28:56]Sư an nhiên ngồi tịch để nhục thân đến tận sau này. Đời giặc Minh sang đã đốt nhục thân của sư tan mất, rồi sinh vào cung vua để trở thành vua Lý Thần Tông. Năm vua Lý Thần Tông 21 tuổi (1148), bỗng nhiên mắc bệnh biến thành cọp, gầm thét suốt ngày, ngồi xổm chụp người, cuồng loạn đáng sợ. Triều đình phải làm cũi vàng nhốt vua trong đó. Khi ấy có đứa bé tên Chân Định hát rằng: "Nước có Lý Thần Tông, Triều đình muôn việc thông. Muốn chữa bệnh thiên hạ, Cần được Nguyễn Minh Không." Lại có tương truyền bài khác rằng: "Tập tầm vông, Có Nguyễn Minh Không trị vua khỏi hóa. Tập tầm vá, Muốn vua khỏi hóa,

[1:29:51]Có Nguyễn Minh Không." Triều đình sai quan chỉ huy đón sư Minh Không. Đến am, sư cười, bảo: "Đâu không phải là việc cứu cọp ư?" Quan chỉ huy hỏi: "Sao thầy biết trước?" Sư bảo: "Ta đã biết việc này trước 30 năm." Sư đến cung vua, sai nấu một chảo dầu, bỏ 100 cây kim vào, dùng tay không thọc vào chảo dầu nóng lấy kim ghim vào thân vua, châm cứu, nói: "Quý vi thiên!" Tự nhiên lông, móng, răng đều rụng hết, thân vua hoàn phục như cũ. Vua tạ ơn sư 1000 cân vàng, 1000 khoảnh ruộng để hương hỏa cho chùa. Ruộng này không có lấy thuế, và tôn Minh Không làm Quốc sư. Nhận xét: Phước báo của sư Đạo Hạnh rất lớn, được làm vua cõi người và lại

[1:30:49]được làm vua cõi trời, nhưng trong truyền sử không ghi rõ sư đã gây tạo được những công đức lớn lao trong đời đó ra sao. Có lẽ, sư cũng tác thành rất nhiều thiện nghiệp trong đời đó và nhiều đời trước nữa, cộng với công đức tu tập thiền định nên đưa đến phước nghiệp như vậy. Tuy nhiên, trong phạm vi