[0:15]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:23]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:37]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:47]Hôm nay chúng ta học bài kinh Dhānañjāni trong Trung Bộ II. Đây là tên của một vị Bà-la-môn trong Trung Bộ II. Bài này à là bài thuyết pháp của tôn giả Xá-lợi-phất. Nên hôm trước học bài Hàng Ma thì chúng ta học qua tôn giả Mục-kiền-liên, hôm nay học bài này để chúng ta nghe qua về tôn giả Xá-lợi-phất, mình được giới thiệu qua chút chút cho biết. Nên chúng ta học à Nikāya thì chúng ta không học hết như ở trên Cao cấp. À chúng ta học một số bài tiêu biểu, mình giới thiệu qua các nét chính cho biết thôi. Vì không ai có kinh trước nên tôi phải đọc qua, quý cô cố gắng nghe phất phới, ghi phất phới đại ý kinh luôn nha.
[1:40]Một thời Thế Tôn ở tại Vương Xá, ở Trúc Lâm, bây giờ tôn giả Sāriputta đang đi du hành tại Nam Sơn cùng với đại chúng Tỳ-kheo, tức là ngài không có đi một mình, ngài cũng lãnh đạo một nhóm, Đức Phật, Phật giao cho ngài như vậy. Rồi có một vị Tỳ-kheo sau khi mùa an cư ở Vương Xá đã đi đến Nam Sơn để yết kiến tôn giả. Khi mà gặp vị Tỳ-kheo mà đi đến từ thành Vương Xá thì tôn giả chợt hỏi thăm, à có hỏi thăm về Đức Phật, hỏi thăm về chúng Tăng, rồi chợt ngài lại hỏi thăm một vị Bà-la-môn ở đó, ở gần Vương Xá tên là Dhānañjāni, hỏi thăm ông có khỏe không. Như vậy là giữa ngài với Bà-la-môn này có cái thân tình cũng đặc biệt gì đó.
[2:33]Thì vị Tỳ-kheo trả lời là ông Bà-la-môn cũng khỏe. Ở đây có cái câu: "Này hiền giả, Bà-la-môn Dhānañjāni có được không phóng dật chăng?". Không phóng dật ở đây, cái chữ phóng dật trong bài kinh này chúng ta phải hiểu là ổng có tu hành không, có chịu tu không, có làm đúng pháp, có làm phước, có thúc liễm hay không, hay là sống buông lung trong dục lạc, vân vân? Cái câu hỏi như vậy. Thì câu trả lời đây: "Thưa hiền giả, - như vậy giữa các Tỳ-kheo gọi nhau là hiền giả - làm sao Bà-la-môn Dhānañjāni có thể không phóng dật được? Thưa hiền giả, Bà-la-môn Dhānañjāni ỷ thế vua bóc lột các Bà-la-môn gia chủ, ỷ thế các Bà-la-môn gia chủ bóc lột vua".
[3:20]Câu này chúng ta nghe hơi lạ. "Người vợ trước của Bà-la-môn có thành tín, cưới từ một gia đình có thành tín, đã từ trần. Và người vợ sau không có thành tín, cưới từ một gia đình không có thành tín". Thì ngài Xá-lợi-phất mới nói: "Này hiền giả, thật là một tin không tốt lành! Thôi, để lần sau khi gặp thì tôi sẽ nói chuyện". Thì rồi thời gian sau tôn giả mới đi trở về Vương Xá. Ừm, có một đoạn: thì một buổi sáng tôn giả đi khất thực, thì còn Bà-la-môn thì đang cho các người công nhân vắt sữa bò ở ngoại thành nên gặp tôn giả thì mới thỉnh tôn giả là: Tôn giả hãy uống sữa! Sữa mới vắt ra uống liền hồi xưa họ cũng không nấu ha, chắc cũng quen.
[4:13]Rồi chờ đến giờ ăn cơm, nhưng mà ngài từ chối, chúng ta để ý đoạn ngài từ chối: Hôm nay ta đã ăn xong, ta sẽ ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây, ngươi có thể đến đó. Nên buổi chiều thì Bà-la-môn Dhānañjāni đến gặp. Thì tôn giả mới hỏi, hỏi rất là thẳng thắn, đấy những cái phong cách chúng ta để ý: "Này Dhānañjāni, nhà ngươi có không phóng dật chăng?". Chúng ta nghe câu trả lời: "Thưa tôn giả Sāriputta, làm sao chúng con có thể không phóng dật được khi chúng con còn cha mẹ phải phụng dưỡng, còn vợ con phải nuôi dưỡng, còn đầy tớ, lao công phải nuôi dưỡng, còn có những trách nhiệm bạn bè, thân hữu phải làm, còn có những trách nhiệm với bà con huyết
[5:02]thống phải làm, còn có trách nhiệm với tân khách phải làm, còn có những trách nhiệm với tổ tiên phải làm, còn có trách nhiệm với thiên thần phải làm, còn có những trách nhiệm vua chúa đối với vua chúa phải làm, lại còn thân này phải làm cho thỏa mãn và trưởng dưỡng?". Ở đây bắt đầu qua câu hỏi đó ngài mới đi vào bài pháp. Cái bài pháp ngày xưa thì hay lặp đi lặp lại, nói thì dài nhưng mà nếu với cái văn bây giờ mình có thể rút gọn lại. Nhưng mà lúc đó nói thì dài hay lặp đi lặp lại để dễ nhớ. "Này Dhānañjāni, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì cha mẹ làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, do nhân duyên làm điều phi pháp,
[5:49]bất chánh nên các địa ngục quân kéo nó đến địa ngục". Ở trong cái bài kinh này lại có cái từ là địa ngục quân, có nghĩa là lính ở dưới địa ngục á, bây giờ mình gọi là cái gì? Quỷ sứ. Quỷ sứ ha. Ở đây dù sao chúng ta cũng đẹp hơn quỷ sứ một chút, khỏi lo chuyện đó. Nên các địa ngục quân kéo nó xuống địa ngục thì lúc đó nó có thể biện hộ rằng: "Tôi làm điều phi pháp này, bất chánh này là vì cha mẹ tôi, đừng kéo tôi xuống địa ngục!". Hoặc là cha mẹ nó có thể cứu chữa gì cho nó mà để nói rằng: "À, đừng kéo con tôi xuống địa ngục vì con tôi làm điều bất chánh, phi pháp vì tôi", có biện bạch như vậy được hay không?
[6:40]Thì "Thưa không được, tôn giả Sāriputta. Nghĩa là dù nó có biện bạch hay cha mẹ có biện bạch giùm cho nó, nó vẫn bị quỷ sứ quăng xuống địa ngục, ở đó nó sẽ khóc than". Cái câu trả lời là như vậy, nghĩa là ngài đặt ra vấn đề và buộc Dhānañjāni phải tự trả lời, trong cái bài kinh này luôn luôn là như vậy. Ở đây chúng ta học bài kinh này để chúng ta thấy cái bản lĩnh của ngài Xá-lợi-phất, cái trí tuệ của ngài. Thì chúng ta thấy thế này, ngài Phú-lâu-na cũng được tôn xưng là thuyết pháp đệ nhất, phải không, trong mười đại đệ tử? Ngài Ca-chiên-diên được tôn xưng là nghị luận đệ nhất. Ở đây thì Xá-lợi-phất được tôn xưng là trí tuệ đệ nhất.
[7:30]Như vậy ba cái đó khác nhau như thế nào, chúng ta phải phân biệt cho ra. Chúng ta học ngài Xá-lợi-phất là học về trí tuệ đệ nhất, nhưng mà ở trong đây thì cái trí tuệ của ngài là biểu hiện ra là tài năng thuyết pháp, nhưng cái cách thuyết pháp của ngài là đặt câu hỏi để buộc người kia trả lời, chúng ta để ý một chút. Rồi tương tự như vậy, ngài cứ hỏi hết, nghĩa là hồi nãy ổng nêu ra bao nhiêu đối tượng thì ngài hỏi lại câu đó với bấy nhiêu đối tượng trở lại. "Bây giờ Dhānañjāni, ngươi nghĩ sao? Có một người vì vợ con mà phải làm các điều bất chánh, phi pháp tới khi xuống địa ngục thì người này
[8:11]có biện hộ được hay vợ con có biện hộ được giùm hay chăng?". Cũng trả lời là: "Không". Thì tương tự như vậy với các câu hỏi là đối với đầy tớ, lao công, đối với bạn bè, thân hữu, đối với tân khách, đối với tổ tiên. Đối với tổ tiên thì chúng ta phải hiểu là làm cái gì? Làm cái gì?
[8:32]cúng kiến, nghĩa là đây mình gọi là cúng giỗ hàng năm á. Cái việc cúng giỗ hàng năm cũng rất là tốn kém. Ở Việt Nam mình á, cái việc mà cúng giỗ tốn kém nên thường là cái người con trưởng hay người con út mà được giữ cái nhà thờ tự á, là thường là được giao cho một số nguồn lợi nào đó. Ví dụ như giao cho một số ruộng, thì hàng năm lấy cái thu lợi từ số ruộng đó để làm đám giỗ mà cúng tế ông bà. Vì đám giỗ rồi mời bà con họ hàng lại cũng tốn kém lắm. Đó, đây là vì tổ tiên. Rồi "vì chư Thiên", chư Thiên là gì?
[9:10]Cái chữ chư Thiên này thì cũng là cúng kiến á, nhưng mà chúng ta phải hiểu là vì tín ngưỡng của mình. Giống như người trong đạo Phật mình là tôi còn phải đi chùa, còn phải cúng dường Tăng Ni, vân vân. Đó, cũng giống như vậy. "Vì vua chúa" nghĩa là gì? Đúng rồi, đóng thuế. Đó lúc này bắt đầu có trí tuệ rồi đó. Rồi "vì bản thân để làm trưởng dưỡng". Đó là cái thứ nhất khi ngài hỏi từng điểm từng điểm với từng đối tượng mà ổng đã nêu ra, thì ngài buộc cũng phải trả lời là dù có vì ai mà nếu mình làm điều bất chánh phi pháp thì vẫn phải xuống địa ngục. Ngài mới hỏi câu kế tiếp: "Này Dhānañjāni, nhà ngươi nghĩ thế nào?
[9:59]Một người vì cha mẹ làm các điều phi pháp, bất chánh với một người vì cha mẹ làm các điều đúng pháp, chân chánh, ai tốt đẹp hơn?" Thì đương nhiên là ông này phải trả lời: "Thưa Tôn giả Sāriputta, người vì cha mẹ làm các điều phi pháp, bất chánh, người ấy không tốt đẹp. Còn những người vì cha mẹ làm các điều đúng pháp, chân chánh, người ấy tốt đẹp hơn. Thưa Tôn giả Sāriputta, hành trì đúng pháp, hành trì chân chánh luôn luôn là tốt đẹp hơn hành trì phi pháp, hành trì bất chánh." Chữ "hành trì" bây giờ mình gọi là
[10:40]dùng chữ "thực hành" hơi nặng nề, gọi là làm những điều, làm những điều bất chánh, làm những điều phi pháp. Chúng ta đọc trong cái kinh văn Nikāya đó có những cái từ xưa, nên khi mình viết mình chuyển lại cho nó phù hợp với cái lối văn hiện đại. Rồi đây ngài lại hỏi thêm: "Này Dhānañjāni, có những hành động khác, có nhân đúng pháp, với những hành động này có thể phụng dưỡng cha mẹ, không làm các điều ác, làm được các điều lành, các thiện hạnh. Này Dhānañjāni, nhà ngươi nghĩ thế nào? Một người vì vợ con làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh,
[11:22]rồi với một người vì vợ con mà làm điều đúng, điều chân chánh, ai tốt đẹp hơn?" Đó, nghĩa là ngài lại cũng tiếp tục hỏi với từng đối tượng, với từng đối tượng và buộc ông phải xác nhận là mình nói là vì bổn phận với con người mà bây giờ giữa hai người đó ai tốt đẹp hơn? Cái cuốn kinh này dường như là chưa ai đọc cho nên chưa rách nè. Sắm để ểm trụ chân nè. Lát
[11:49]ngài cũng hỏi lại với từng đối tượng là vì lao công, đầy tớ,
[11:55]vì bạn bè, vì tổ tiên, vì thiên thần, vì bản thân, thì luôn luôn là cứ vì người khác như vậy thì làm điều tốt vẫn hay hơn.
[12:09]Sau khi ngài chỉ hỏi từng điều và buộc ông Dhānañjāni này trả lời, thế là ổng hoan hỷ chấp nhận. Nghĩa là: "Bà-la-môn Dhānañjāni hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sāriputta dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi." Đoạn sau thế này: "Bà-la-môn Dhānañjāni sau một thời gian bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi Bà-la-môn Dhānañjāni cho gọi một người khác, nói: Ngươi hãy đi đến Thế Tôn, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch rằng: Bà-la-môn Dhānañjāni đang bị bệnh, khổ đau, bị bạo bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn." Tức là đảnh lễ mà nhờ đảnh lễ giùm.
[12:52]"Rồi và thưa với Tôn giả Sāriputta giùm, giùm ta là: Bà-la-môn Dhānañjāni bị bệnh, khổ đau, bị bạo bệnh, cúi đầu đảnh lễ Tôn giả và xin Tôn giả nếu được, xin hãy vui lòng đến trú xá để thăm Bà-la-môn Dhānañjāni." Thì cái người mà được nhờ như vậy đã làm đúng như vậy, thì Tôn giả Sāriputta đã nhận lời. Thì ngài đi đến, ngài cầm y bát đi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, thì Tôn giả mới hỏi: "Ta mong, này Dhānañjāni, ngươi có thể kham nhẫn. Ta mong ngươi có thể chịu đựng. Ta mong khổ thọ được giảm thiểu, không có gia tăng." Khổ thọ là cảm giác đau khổ đó. "Và sự giảm thiểu được rõ rệt, không có gia tăng." "Thưa Tôn giả, con không có thể kham nhẫn.
[13:47]Con không có thể chịu đựng. Sự thống khổ của con gia tăng chứ không giảm thiểu. Thưa Tôn giả, ví như như một người lực sĩ chém đầu một người khác với thanh kiếm sắc bén, cũng như vậy, thưa Tôn giả, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu con nên con không thể chịu đựng được. Thưa Tôn giả, như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu, siết chặt, cũng vậy, con bị đau đầu một cách kinh khủng, con không chịu đựng nổi. Thưa Tôn giả, như một người đồ tể thiện xảo cắt ngang bụng một con bò với con dao sắc bén, cũng vậy, thưa Tôn giả, như một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của con, con đau đớn không chịu đựng nổi.
[14:34]Thưa Tôn giả, ví như hai người lực sĩ nắm hai cánh tay của một người yếu, nướng người ấy, đốt người ấy trên một cái hố than, cũng vậy, thưa Tôn giả, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân con làm con không chịu đựng nổi." Nghĩa là ổng nói về cái nỗi đau của ổng. Cái đau này thì giống như bệnh ung thư. Nói: "Này Dhānañjāni", nhưng ngài lại không hỏi tới cái đau đớn nữa, nghĩa là ngài biết ổng sắp chết. Bây giờ ngài mới thuyết một bài pháp để cho ổng ra đi. "Này Dhānañjāni, địa ngục hay bàng sinh, chỗ nào tốt hơn?" "Thưa Tôn giả, bàng sanh tốt hơn địa ngục." Bàng sanh tức là gì? Súc sinh ha, là những con thú á.
[15:21]Như vậy so sánh giữa cái bàng sinh với địa ngục thì dù sao thì súc sinh vẫn còn tốt hơn địa ngục. Thế ngài mới hỏi từ từ để so sánh. Thế là đặc biệt là lần nói chuyện với Dhānañjāni này, ngài không có thuyết pháp mà ngài chỉ đặt câu hỏi để tự ông xác nhận, tự ông xác nhận. Đây là một cái lạ, lát chúng ta sẽ khảo cứu. Dù so súc sinh, ngài lại hỏi nè: "Bàng sanh với ngạ quỷ, chỗ nào tốt hơn?" Chúng ta nghe nha: "Thưa Tôn giả Sāriputta, ngạ quỷ tốt hơn bàng sanh."
[15:55]Thường thường mình cứ tưởng là súc sanh, thấp hơn súc sinh là ngạ quỷ ha, thấp hơn ngạ quỷ là địa ngục. Nhưng trong bài kinh này thì là tính ra giá trị là ngạ quỷ vẫn có giá trị cao hơn, cao, nghiệp cũng nhẹ hơn là súc sinh. Chúng ta để ý. "Bây giờ, ngạ quỷ với loài người chỗ nào tốt hơn? Thưa Tôn giả, loài người tốt hơn ngạ quỷ. Loài người với Tứ Thiên Vương chỗ nào tốt hơn?" Đây Tứ Thiên Vương bắt đầu cõi trời. "Tứ Thiên Vương với Tam Thập Tam Thiên chỗ nào tốt hơn?" Tam Thập Tam Thiên là gì? Tam thập tam là 33, nên mình tưởng là cõi thứ 33, không phải. Tam thập tam là một cái danh từ riêng, như cái tên anh Năm, anh Sáu vậy thôi, nha.
[16:44]Cõi trời đó là cõi trời Đế Thích mà có cái tên là Ba Mươi Ba. Vì nghe nói cái tích gì ngày xưa đó, đầu tiên có 33 vị trời cư ngụ ở đó, nên gọi là cõi trời Ba Mươi Ba. Chớ thực sự đó là cái tầng trời cao hơn Tứ Thiên Vương thôi, chứ không phải là tầng trời cao tới thứ 33, không phải. Đó là cái tên riêng. Cũng như nhiều khi mình gặp ai mình kêu tên "Anh Mười Hai", chứ không phải là 12 anh, hay "Chị Mười Tám" chứ không phải là 18 chị. "Giờ Tam Thập Tam với Dạ Ma thiên, chỗ nào tốt hơn?" Nói: "Dạ Ma thiên tốt hơn. Dạ Ma thiên với Đâu Suất Đà, chỗ nào tốt hơn?" Trong bài này chúng ta nghe được cái tầng lớp của các cõi giới chư Thiên.
[17:29]Đâu Suất Đà thiên với Hóa Lạc thiên thì Hóa Lạc thiên hơn. Hóa Lạc thiên với Tha Hóa Tự Tại thì Tha Hóa Tự Tại hơn. Tha Hóa Tự Tại với Phạm thiên thì Phạm thiên hơn. Tới ngang đây ngài ngừng lại, ngài không nói nữa. Là nhiều cảnh giới cõi trời, cõi Thánh, những quả Thánh Niết-bàn cao hơn nhiều, nhưng mà ngang đây ngài dừng lại, ngài không nói nữa. Ngài chỉ nói thế này: "Rồi Tôn giả Sāriputta suy nghĩ: Các vị Bà-la-môn này rất ái luyến Phạm thiên giới. Vậy ta hãy thuyết giảng con đường đưa đến cộng trú, là ở chung, với Phạm thiên." Ngài mới nói: "Này Dhānañjāni, ta sẽ thuyết giảng cho ngươi con đường đưa đến cộng trú,
[18:16]cộng trú là sống chung á, là sinh về, để sinh về với Phạm thiên. Hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ giảng. - Thưa vâng." "Này Dhānañjāni, thế nào là con đường đưa đến cộng trú, sinh về Phạm thiên? Ở đây, một Tỳ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm từ tràn đầy, với phương thứ hai cũng vậy, phương thứ ba, phương thứ tư. Khắp thế giới, ở trên, dưới, bề ngang, khắp phương xứ vô biên, vô tận, vị ấy trải tâm từ quảng đại, vô biên, không hận, không sân, không có ghét ai hết, nha. Đừng có ghét giáo thọ, nghe không?" "Này Dhānañjāni, như vậy là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên, sinh về Phạm thiên.
[19:07]Cũng vậy, Tỳ-kheo ấy trải tâm khắp nơi với tâm bi,
[19:13]rồi cũng vậy trải tâm khắp nơi với tâm hỷ, với tâm xả." Chúng ta nghe về từ, bi, hỷ, xả chưa? Nghe chưa? Nghe rồi mà đã quên rồi, mới nói "chưa".
[19:28]Từ là gì?
[19:32]Từ là thương ha, lòng thương yêu. Bi là? Thương xót khi thấy chúng sinh đau khổ. Hỷ là?
[19:45]Hỷ là vui mừng trước cái hạnh phúc của chúng sinh, chứ không phải vui không, không phải vui khơi khơi. Là từ cái tâm từ làm gốc thì thấy chúng sinh đau khổ mình phải khởi tâm bi, thấy chúng sinh hạnh phúc, thành công mình phải khởi tâm mừng, đó là lòng thương yêu đó. Cho nên hễ mình thấy chúng sinh nghĩa là đau khổ mình, nghĩa là đi vấp té cái ạch xuống đất cái mình vỗ tay mừng thì cái đó là làm sao? Cái đó tâm này tâm bí, tâm dị, bị gì chứ không phải tâm bi, phải không? Còn mình thấy người ta thành công, đẹp trai, hạnh phúc rồi ăn cơm nhiều đồ này nọ cái mình buồn thì cái đó cũng không phải tâm hỷ, ngược lại.
[20:32]Nó phải có lý do, nên cái chữ bi, hỷ, xả mình phải giải thích đằng sau nó, chứ mình có nói một cái là không phải. Ví dụ tâm từ thương yêu thôi được rồi, mà thương yêu phải là thương yêu không điều kiện, thương yêu mà không cần người đó biết và thương mình. Phải thêm cái chữ giải thích phía sau mỗi cái từ đó. Còn tâm bi là thương xót, phải thêm phía sau là khi thấy chúng sinh đau khổ. Tâm hỷ là vui mừng khi thấy chúng sinh được hạnh phúc. Và tâm xả là tha thứ khi thấy chúng sinh lầm lỗi. Đó là bốn cái tâm.
[21:10]Sau khi nghe như vậy, cái ừm giống như là ổng cũng nhận ra được, cũng cởi mở được cái tâm của ổng, nói: "Vậy thưa tôn giả Sāriputta, hãy nhân danh con cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn và thưa: Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Dhānañjāni bị bệnh, khổ đau, bị bạo bệnh, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn." Ừm. Đoạn này nè: "Rồi tôn giả Sāriputta, dù cho có những cảnh giới cao thượng hơn cần phải chứng, sau khi an trú Bà-la-môn vào Phạm Thiên giới thấp kém, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi."
[21:46]Cái Phạm Thiên giới là cái cứu cánh của đạo Bà-la-môn, là đỉnh cao mà trong đạo Phật cái Phật đặt xuống là là hàng thấp kém.
[21:59]Rồi Thế Tôn cho gọi các tỳ-kheo: "Này các tỳ-kheo, dù cho có những cảnh giới cao thượng hơn cần phải chứng, Sāriputta này sau khi an trú Bà-la-môn vào thiền... Phạm Thiên giới thấp kém, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi." Nghĩa là lúc đó bên kia giảng sao bên đây Đức Phật cũng biết hết. Ngài đã nói lên vậy. Rồi tôn giả Sāriputta đi đến Thế Tôn và đảnh lễ Thế Tôn, rồi thưa lại mọi chuyện. Rồi Đức Phật mới nói: "Này Sāriputta, vì sao còn có những cảnh giới cao thượng hơn cần phải chứng mà ngươi đã an trú Bà-la-môn vào Phạm Thiên giới thấp kém rồi ra đi?" "Bạch Thế Tôn, con nghĩ như sau: Những vị Bà-la-môn này rất ái luyến Phạm Thiên giới,
[22:44]vì vậy con mới thuyết giảng con đường đưa đến cộng trú với Phạm Thiên." Rồi Đức Phật mới nói: "Này Sāriputta, Bà-la-môn Dhānañjāni đã mệnh chung và đã sinh về Phạm Thiên giới." Nghĩa là lúc mà ngài Xá Lợi Phất thuyết giảng bên kia thì Đức Phật đã biết hết nội dung, và khi mà ngài rời ông Bà-la-môn ngài đi về, trên đường ngài về bên kia ông Bà-la-môn mất thì Đức Phật cũng báo cho biết và biết cái chỗ sinh về của ông luôn. Đó là bài kinh này là như vậy. Chúng ta nghe qua như vậy. Bây giờ bắt đầu chúng ta
[23:24]phân biệt, phân tích với nhau về ý nghĩa bài kinh. Thì chúng ta học bài kinh này để chúng ta có một bài kinh giới thiệu về ngài Xá Lợi Phất. Bài kinh này cho chúng ta thấy cái uy đức, cái sự đĩnh đạc, biện tài và thiện xảo của ngài ngài Xá Lợi Phất.
[23:47]Vào trong thời đó, khi mà vừa đến với Đức Phật thì bảy ngày sau ngài đã chứng A-la-hán. Khi ngài cùng với Mục Kiền Liên đi đến gặp Đức Phật thì Đức Phật đã khen liền. Lúc đó chúng tỳ-kheo đang đông như vậy mà ngài nhìn thấy hai người bạn từ xa đi đến là ngài cất tiếng khen liền. Ngài khen thật là một đôi bạn phước duyên hoàn toàn, ngài khen. Thì lúc đó là hai vị cũng đã chứng Tu-đà-hoàn dù chưa gặp Phật. Lần đầu tiên khi ngài Xá Lợi Phất gặp ngài Assaji là một trong những đệ tử đầu tiên của Đức Phật, nghe đọc cái bài kệ về nhân duyên, phải không? Các pháp từ nhân duyên đến rồi cũng từ nhân duyên đi,
[24:33]đó là bậc Thầy của ta đã tuyên thuyết như thế. Nói xong là ngài Xá Lợi Phất ngộ đạo liền, chứng Tu-đà-hoàn liền. Rồi đến gặp ngài Mục Kiền Liên, đọc lại, ngài Mục Kiền Liên chứng Tu-đà-hoàn liền. Hai vị thật là đặc biệt. Rồi đến hai vị mới đưa nhau đến gặp Phật thì Đức Phật khen ngợi, bảy ngày sau hai vị chứng A-la-hán luôn. Và khi chứng A-la-hán xong thì Đức Phật giao cho hai ngài quyền lãnh đạo tăng đoàn liền tức khắc. Đây là một điều chúng ta thấy thế này: Nếu mà nói về xuất gia trước thì ai xuất gia trước hết? Năm anh em Kiều Trần Như, phải không? Mà trong đó ngài Kiều Trần Như là ngộ đạo trước hết, đó.
[25:19]Rồi sau đó nữa là có những anh em Ca Diếp, không phải ngài Đại Ca Diếp, năm anh em Ca Diếp mà thờ lửa đó, sau khi ngộ đạo rồi đem hết toàn bộ đệ tử của mình theo Phật luôn. Rồi nhiều vị nữa, cho nên nếu mà nói thứ tự xuất gia thì ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên xuất gia sau. Nhưng mà trong tức khắc Đức Phật đưa lên lãnh đạo tăng đoàn liền, và những vị kia không ai thắc mắc gì hết. Đây là cái hay của những bậc Thánh. Cái hay của những bậc Thánh thế này: Là các ngài không có chấp theo thứ tự tuổi tác, hạ lạp mà chỉ đánh giá theo khả năng, cái uy đức, nhân duyên người đó. Nên Đức Phật không có cho cái người mà xuất gia trước
[26:04]đi tu, vì đúng ra đó ngài Kiều Trần Như lớn tuổi hơn Đức Phật. Đúng không? Ngài lớn tuổi hơn. Nhiều vị trưởng lão thời đó lớn tuổi hơn Đức Phật, như những vị mà Ca Diếp á, những vị Ca Diếp mà thờ lửa đó, tuổi lớn hơn Đức Phật. Vì Đức Phật khi mà ngộ đạo, đắc đạo ngài mới có ba lăm tuổi à. Còn những vị kia ông nào nấy bốn mấy, năm mươi, sáu mươi hết. Nhưng mà rồi cũng chịu khuất phục, đi theo Đức Phật làm đệ tử.
[26:35]Rồi sau này khi mà Đức Phật chọn ngài Xá Lợi Phất với Mục Kiền Liên thì các vị kia không thắc mắc gì hết, vì ai cũng đắc đạo cả, không có cái đố kỵ. Còn bây giờ, các chùa mình nhiều khi còn bị điều đó. Còn bị là ví dụ như người đệ tử lớn, đệ tử xuất gia trước là phải lãnh đạo, phải kế thừa ông Thầy, đó là một cái chấp. Nên điều này chúng ta phải vượt qua: Là nếu chúng ta là người mà xuất gia trước với Thầy mình đừng nghĩ rằng mình sẽ là người kế thừa, mà phải mong rằng sẽ có những người đến sau mình, những sư đệ của mình giỏi giang hơn, uy đức hơn để kế thừa Thầy mình, và mình sẵn sàng ủng hộ, sẵn sàng ủng hộ.
[27:17]Đạo Phật được như vậy đạo Phật rất là đẹp. Chứ đạo Phật mình còn hay có cái chia rẽ nặng quá. Thấy một người làm được việc đạo thì bao nhiêu người khác xúm lại chống. Đạo Phật mình bị cái đó, tôi không hiểu tại sao. Tại sao có cái hiện tượng kỳ lạ? Trong khi ở bên ngoài đúng là làm không công giùm cho ngoại đạo. Ở bên ngoài đó người ta hiềm, người ta công kích đạo Phật, rồi ở trong tự đạo Phật mình cũng công kích lẫn nhau. Giờ mình nói theo thế gian, ví dụ như trong đạo Phật có ông đó ổng
[27:55]ví dụ ông này ổng là người không tốt hoàn toàn, ổng có những điều lầm lỗi, nhưng bên cạnh đó ổng làm được nhiều cái có lợi cho đạo, thì nếu mình là người đạo Phật thì mình sao? Cũng phải tìm cách hỗ trợ để ổng làm lợi cho đạo, phải không? Nhưng mà đạo Phật mình có cái dở là cái chuyện ổng làm lợi cho đạo không để ý, mà để ý tìm cái lỗi lôi ra để mà đả kích, làm yếu. Đó là cái dở, đó là là cái dở. Rồi ngay cả trường hợp người ta không có lỗi cũng dựng lên công kích luôn. Đó cũng là một cái dở, không biết tại sao. Cái nhìn hẹp quá, chỉ thấy trong đạo Phật rồi giành hơn giành thua, chứ không nhìn thấy là bên ngoài bao nhiêu cái âm mưu,
[28:38]thế lực họ đang tìm cách chống phá đạo Phật không biết. Nên điều này là thế hệ sau, các cô, các quý thầy trẻ phải vượt qua điều này.
[28:51]Đừng bao giờ mở miệng công kích người huynh đệ xuất gia của mình dù ở bất cứ phương trời nào, để giữ cho đạo Phật. Lấy cái gương mà của tăng đoàn thời xưa vậy. Nói là có trí tuệ, ở đây chúng ta phân biệt giữa cái thuyết pháp đệ nhất của ngài Phú-lâu-na, nghị luận đệ nhất của ngài Ca-chiên-diên và trí tuệ đệ nhất của ngài Xá Lợi Phất. Cái trí tuệ thì nó có thể thuyết pháp được, vì ngài Xá Lợi Phất thuyết pháp cũng rất giỏi, Đức Phật cũng thường hay giao cho ngài Xá Lợi Phất thuyết pháp. Nhưng cái trí tuệ nó ngoài cái lĩnh vực thuyết pháp nó còn có nhiều lĩnh vực khác nữa. Mà trong đó nó không có cái nói chuyện trong lớp, nó hay như vậy.
[29:37]Nói tới cái ngây thơ, mặt không biết gì.
[29:42]Cái trí tuệ nó hiện ra ở chỗ là gì? Ai biết?
[29:49]Nhiều mặt lắm, cái trí tuệ thì nó hiện ra nhiều mặt lắm. Ví dụ như khi mà có việc ở trong tăng đoàn thì xử sự một cách hợp lý, sắp xếp dàn xếp mọi thứ. Rồi mỗi khi nói chuyện đến với Đức Phật, đến với chư Tăng, có vua chúa hay là sự chống phá, biết cách dàn xếp, xử lý, sắp xếp. Rồi mỗi chuyện mưa mưa nắng bất thường, cất nhà, sắp xếp cho tăng chúng mùa mưa an cư ở đâu, sắp xếp ở đâu thì đủ trí tuệ để giải quyết những việc đó. Nghĩa là đối phó rất nhiều mặt trong cái đời sống. Đi tu không có dễ đâu, chúng ta đừng nghĩ rằng đi tu rồi vào chùa là quên hết sự đời, sống một đời nhàn nhã, thanh thản, không có chuyện đó đâu.
[30:34]Ai đi tu rồi biết phải không? Trong chùa có khỏe không? Có khỏe không?
[30:43]Khỏe là người này siêu đẳng rồi, chứ như tôi đây thấy mệt lắm. Vua chùa cả trăm ngàn chuyện phải làm. Ừ. Nghĩa là ngoài những cái bổn phận trước mắt, còn những chuyện lâu dài, còn phải suy nghĩ tới vận mệnh của Phật pháp, nghĩ tới cái đời sống thấy đến cái nhân loại, đến chúng sinh, ừ mình thấy còn nhiều việc phải làm, thấy cực khổ lắm. Mà nội cái đối phó với những chuyện trước mắt thôi, giải quyết, sắp xếp mọi chuyện rất là vất vả, mà giải quyết cho hợp lý, cho khéo léo cũng rất là khó, nên những cái đó thuộc về trí tuệ. Nên trí tuệ ở đây nó sẽ làm cho người này khéo tu, biết nhìn được lỗi mình, kiểm soát được mình,
[31:24]nhanh chóng thăng tiến được việc tâm linh, tu tập, đó là trí tuệ. Trí tuệ nó ứng ra thành những khả năng thuyết pháp biện tài, đó cũng là trí tuệ. Rồi bắt đầu ứng xử trong cuộc sống, đối xử với huynh đệ, với cư sĩ một cách khéo léo, nhiếp phục, an ổn được, gọi là trí tuệ. Rồi bao nhiêu tình huống, bao nhiêu hoàn cảnh xảy đến, dàn xếp, sắp xếp tổ chức đâu đó cho ổn định, hợp lý hết, đó là trí tuệ, nhiều cái như vậy. Rồi còn nhiều cái nữa, còn nhiều cái sâu xa hơn nữa là nhìn được những cái bước tiến về lâu về dài về sau phải làm điều gì, đó là trí tuệ.
[32:11]Cái chỗ này lại khó đây. Chỗ này lại khó, tôi định khi nào có dịp thì tôi sẽ nói điều này. Ví dụ khi mà giảng Quan Điểm Phật Sự thì tôi sẽ nói thêm, nhưng hôm nay nói sơ một chút xíu. Tại hồi nãy lúc đi xe trên đường thì tôi nhìn thấy một chuyện làm tôi cũng nghĩ đến cái chuyện này, một cái hình ảnh gợi ý. Ví dụ như con con đường con đường lộ của mình đây thì nó có hai chiều, đây là đường phân cách. Ha, chúng ta sẽ đi về bên phải, xe sẽ đi về bên phải. Thì trên đường nãy đi tôi thấy cái người đi xe hai bánh họ đi băng qua đường. Khi họ đi băng qua tới đây thì họ nhìn bên đường đây trống, bên phía bên đây trống không có xe, không có xe đi tới, cho nên họ băng qua.
[32:52]Khi họ băng qua rồi thì họ bắt đầu nhìn đường bên đây thì lúc đó chiếc xe của chúng tôi cũng vừa đi tới, ổng bị lúng túng. Ổng bị lúng túng không qua kịp, thì trên kia bắt đầu đã có xe tới, cho nên ép ổng ở giữa, nguy hiểm vô cùng. Chút xíu thôi thì tôi suy nghĩ thế này: là ổng chỉ nhìn một bước, không nhìn hai bước. Nghĩa là khi đi qua đường ổng chỉ nhìn bên đây, mà không thèm nhìn về phía này một chút xíu nữa. Cho nên ổng chỉ không có xe là qua liền, rồi mới bắt đầu nhìn tới đâu, nghĩa là đi tới đâu mới nhìn thêm một bước tới đó, người này gọi là nhìn cạn. Ngay từ đầu phải nhìn hai bước luôn, nghĩa là liếc bên đây thấy đường này trống,
[33:29]liếc bên đây thấy đường trống mới qua, liếc một cái là đi qua liền. Nghĩa là phải biết mình đi qua bên đây rồi, mình phải đối diện với xe bên đây đi qua, nhưng không chịu nhìn hai bước, mà chỉ nhìn có một bước. Mà trong đời sống, nhìn có một bước vậy là nhìn cạn lắm, nhìn cạn, nên người này không có trí tuệ. Đó là cái chuyện đơn giản đi qua đường. Nên chúng ta không tin rằng cái người như vậy là sẽ thành công trong cuộc sống, hay là có một đời sống sâu sắc. Nội chuyện nhỏ thì họ nhìn đã cạn rồi. Không biết nói có đụng chạm không? Đi qua chịu khó nhìn hai bước giùm nha, liếc bên đây liếc bên kia hãy qua nha!
[34:05]Đó. Thì trong cuộc sống nó vô vàn những điều như vậy, vô vàn những điều. Nghĩa là chúng ta người có trí tuệ mà nhìn một, hai bước thuộc là người dở rồi, hay ba, bốn bước là người dở rồi. Nghĩa là khi chúng ta nhìn một sự việc phải nhìn được bảy, tám bước về sau. Hễ khi chúng ta làm chuyện tới chúng ta sẽ đoán nó sẽ xảy ra chuyện gì, và mình phải giải quyết như thế nào. Khi mình giải quyết như vậy nó sẽ xảy ra chuyện gì, rồi mình sẽ giải quyết như thế nào, mình phải nhìn luôn năm, sáu bước kế tiếp như vậy rồi hãy làm. Đó là cái trí tuệ trong cuộc sống. Mà sau này tôi sẽ nói thêm trong Quan Điểm Phật Sự,
[34:43]nay chưa có nói tới thì tôi nói phớt phớt, thì đó là trí tuệ. Thì trí tuệ ví dụ như một ngài những vị mà họ lãnh đạo tăng đoàn như vậy họ phải có trí tuệ. Là làm một chuyện này, nhưng mà phải dự đoán cái việc làm mình nó ảnh hưởng đến tăng đoàn về lâu về dài như thế nào, tăng đoàn có thể nhờ được cái điều này bền vững hay không, có thể tồn tại lâu dài hay không, đó là trí tuệ. Nên những cái đó khó, không biết cô để ý điều này không? Trong đời sống hễ mình làm mình đoán là sau việc làm của mình chuyện gì xảy ra, quý cô suy nghĩ một bước trước đã. Tập rồi bắt đầu lần lần mình sẽ suy nghĩ ba, bốn bước lần lần, tập lên từ từ để trưởng thành, bây giờ không còn ai còn nhỏ nữa.
[35:25]Phải không? Không còn ai nhỏ nữa. Chúng ta đang lớn lên, đang phải gánh vác trách nhiệm với Phật pháp thì phải tập làm chuyện gì phải suy nghĩ năm, sáu bước, nhưng bây giờ suy nghĩ giùm tôi hai, ba bước trước. Ví dụ bây giờ ngày mai chùa mình phải đi gặt lúa thì mình phải nghĩ rằng: "Trời, ngày mai gặt lúa thì phải đem theo những vật dụng gì, rồi ví dụ trời mưa thì chúng ta xử sự bằng cái gì, không mưa xử sự bằng cái gì, gặt lúa xong rồi chúng ta phải làm điều gì, rồi có ai phải ở lại giữ lúa, ai đi về ăn cơm, ai đem cơm ra cho người?", nghĩa là vạch toàn bộ kế hoạch cho tới chiều về và dự phòng nhiều tình huống
[36:02]bất trắc, đó là cách làm việc của người lớn từ từ, từ từ đó. Có khi mình đang là chúng mình cũng phải tập suy nghĩ điều đó, đó là trí tuệ. Nhiều vị sư Nam Tông cho rằng lúc về già thì trí tuệ của ngài Xá Lợi Phất bằng với Phật. Đó là cái thuyết của các sư Nam Tông, thì chúng ta có tin hay không thì tùy chúng ta, nhưng nhiều vị sư Nam Tông đã tin cái thuyết đó. Ừ. Rồi khi mà hai tôn giả Sariputta và Moggallana nhập diệt, Đức Phật nói câu này: "Trong hội chúng này không có Sariputta và Moggallana, ta thấy giống như bầu trời có sao mà không có trăng." Nhớ không? Ngài nói những câu như vậy. Nói những câu như vậy, trong khi là
[36:56]vào khoảng cuối đời đó thì các đệ tử của Đức Phật mà chứng A-la-hán đầy hết, nghĩa là những vị nào cũng thần thông tự tại, trí tuệ siêu phàm, vậy mà Đức Phật nói như vậy: "Ta thấy hội chúng này trống rỗng như bầu trời có sao mà không còn trăng, không rực rỡ nữa."
[37:16]Điều đó mà chính Đức Phật nói như vậy để chúng ta thấy rằng là cái tài giỏi, cái mà đắc lực của hai vị đối với Đức Phật thật là lớn lao trong suốt một đời giáo hóa của Đức Phật mà kinh điển không kể hết được. Nghĩa là những bài kinh nói về Đức Phật, nói về các vị nói phớt phớt, phớt phớt thôi, không bao giờ nói hết. Chúng ta đọc những câu đó, chúng ta cảm nhận được tức là cái vĩ đại của hai ngài, cái sự đắc lực của hai ngài, cái trí tuệ, thành tâm, cái trung kiên, cái đạo đức của hai ngài, cái ảnh hưởng của hai ngài đối với tăng chúng, đối với cư sĩ như phụ việc với Đức Phật rất là lớn lao. Nhưng mà chúng ta tìm tài liệu để chứng tỏ thì không thấy,
[38:03]chỉ nghe câu Đức Phật, chúng ta phải hình dung ra được điều đó. Nên đây là một cái nhược điểm của những nhà nghiên cứu sử học là họ không sống trong thời đại đó nên không bao giờ biết được. Có một lần có người hỏi tôi nói: "Thưa thầy, con nghe băng thầy thầy chê các vị học giả là đánh giá vấn đề không hết, giống như thầy đã từng chê Nguyễn Hiến Lê viết về đạo Phật cạn cợt vì ông chỉ là học giả mà không có thực hành, như vậy có quá đáng không, người ta nghe người ta có mích lòng không?" Thì tôi trả lời: "Thầy vẫn khẳng định điều đó. Một người học giả không có thực hành viết về đạo Phật cạn cợt làm giảm giá trị đạo Phật, thầy thẳng thắn nói dù có mích lòng thầy
[38:43]chịu." Thầy nói ví dụ như khi một nhà sử học nghiên cứu lại cái thời Phật giáo Lý Trần của mình thì được khai sáng bởi vị vua đầu tiên là Lý Công Uẩn, họ viết rất cạn cợt, viết không được cái gì hết. Họ viết là thế nào? Viết thứ nhất là sư Vạn Hạnh, Thiền sư Vạn Hạnh đó có gian díu với một cô gái đẻ ra ngài Lý Công Uẩn. Nhưng mà để che mắt thế gian đã giao Lý Công Uẩn cho em ruột của mình là Lý Khánh Văn nuôi một thời gian. Lớn lên thì mới đưa con của mình trở về cho mình trực tiếp dạy, rồi tìm cách gài sắp xếp chuyện nọ để cho Lý Công Uẩn từ từ lên ngôi vua, ha viết kiểu đó đúng là không nhìn thấy gì hết.
[39:25]Những nhà sử học Chứ còn nếu vào cái thời đó mà chúng ta sống được trong cái triều đại đó, mà chúng ta được nhìn thấy ngài Lý Công Uẩn thì chúng ta, nghĩa là chỉ biết cúi đầu quỳ xuống. Nếu mà chúng ta gặp vua Lý Thái Tổ, gặp Lý Công Uẩn thời trẻ, con người uy đức đường bệ mà tài giỏi không thể tưởng được, văn võ song toàn. Văn võ song toàn là mình nói cạn. Mình nói cạn. Chứ ngài Lý Công Uẩn á ngoài cái là văn học, ông còn có thiền định, đắc định. Ông có khả năng tiên tri nhìn trước nhìn sau, bấm độn, đoán số, tính toán mọi việc, binh cơ, đồ trận nghĩa là binh pháp và nghĩa là võ công siêu đẳng, múa quyền.
[40:10]Bởi vậy, từ từ mà được vua bên nhà Lê tin đưa lên tới chỉ huy cái cái đội cấm quân của kinh thành. Thì đâu phải người thường. Cái người dở làm sao mà dám giao chức đó? Mà cái uy đức của ngài đủ để để nhiếp phục toàn bộ các quan trong triều hết. Tuy ngài làm chức quan có khi nhỏ hơn các quan khác, nhưng mà các quan khác nhìn ngài là nể hết. Nghĩa là cái sự giỏi, những cái lời nói chắc, nói cái gì một là một, hai là hai, mà nói đâu là có đó chứ không có nói đùa. Hay là khi mà ngài nói là giữ lời, mà ngài nhận định điều gì, điều đó phải xảy ra. Nghĩa là các quan đã nể ngay từ đầu lúc ông vua mà vua Lê Ngoạ Triều vua Lê
[40:50]Hoàn còn sống là ngài Lý Công Uẩn là đã chinh phục được hết toàn bộ cái cái tâm tình của các quan trong triều, các lính tráng trong triều đình hết. Nên ngài giỏi vô cùng. Mà ai dạy ngài? Sư Lý Khánh Vân và nhà sư Vạn Hạnh, thì phải hiểu rằng các vị đó là cực kỳ giỏi. Nói nói là thiền sư chứ sự thực là những nhà mà văn võ toàn tài, đủ thứ là học thuật đều uyên bác hết, mới truyền đạt cho ngài Lý Công Uẩn. Mà nếu ngài Lý Công Uẩn dở thì cũng không học được. Ngài cực kỳ giỏi, nên sau này những cái đời hoàng tử nghĩa là tôn thất về sau đó, hàng cháu chứ không được là hàng truyền đích, tại truyền đích tôn là tới đời vua Lý Huệ Tông là mất qua tay Lý Chiêu Hoàng.
[41:32]Thì những đời hoàng tử ở thuộc nhánh nhánh hai bên á họ cực kỳ giỏi. Khi trốn cái hoạ của nhà Trần mà vượt biển đi về Đại Hàn, về Triều Tiên, họ đã có vị đã lên làm tới tể tướng của nước Đại Hàn. Mà có người đã lãnh đạo được nước Đại Hàn chống được quân Mông Cổ luôn, y như bên nước đây là lúc đó nhà Trần cũng phải đánh bại quân Mông Cổ, thì ở bên Đại Hàn cũng chính một người Việt Nam là dòng họ Lý, hoàng tử họ Lý đã lãnh đạo cái đất nước Đại Hàn cũng đánh bại quân Mông Cổ luôn. Nghĩa là chúng ta thấy cái bản lĩnh của người Việt Nam, ha, dù là họ Lý, dù họ Trần đều đủ sức đánh bại quân Mông Cổ,
[42:09]mà trong khi cả một đất nước Trung Hoa đánh không nổi. Thì mình thấy không đơn giản. Nghĩa là vó ngựa Mông Cổ dập tan hết tất cả mọi đất nước hết. Tới Nga, chiếm hết Nga, đánh tạt qua Đông Âu, chiếm hết. Cả một vùng miền Trung Á là Mông Cổ giày xéo, Trung Hoa chiếm hết luôn, qua Việt Nam thua nhà Trần, đụng Đại Hàn thua nhà Lý của Việt Nam. Như vậy nhà Lý không phải tầm thường. Nhưng những nhà sử học không bao giờ nhìn ra, không thấy được cái vĩ đại của tổ tiên, mà nói xuyên tạc, cặn cợt, tưởng rằng ngài chỉ lên bằng cái thủ đoạn của thiền sư Vạn Hạnh. Nên chúng ta thấy nhiều nhà học giả cạn. Cũng giống như bây giờ khi chúng ta thấy rằng mà Đức Phật
[42:49]khen ngợi, tin tưởng ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên thì chúng ta phải nghĩ là cái sự tình nó vĩ đại hơn nhiều những gì mà trong sách sử để lại. Chúng ta phải hình dung được điều đó. Các ngài vĩ đại lắm, không đơn giản. Mà chúng ta thấy hai ngài cùng chứng A La Hán, các vị đệ tử khác cũng chứng A La Hán, nhưng mà Đức Phật giao quyền lãnh đạo cho hai ngài lập tức và vô cùng tin tưởng. Thì như vậy cùng chứng A La Hán, nhưng mà còn nhiều điều khác nhau lắm, không có giống nhau. Chúng ta đừng tưởng chứng A La Hán là bằng nhau hết mọi điều nha, giống nhau hết, không có. Giống nhau điều gì? Giống nhau về phong cách, về định lực, về thần thông, ba cái đó giống nhau.
[43:37]Ha, các A La Hán. Nghĩa là ai chứng A La Hán cũng giống nhau về phong cách điềm đạm, hư vô, thanh tịnh, hiền lành, nhẹ nhàng; định lực nhập được các diệt tận định; thần thông biến hóa, tiên tri, biết quá khứ, vị lai, biết vô lượng kiếp, đó. Như vậy đó, ba cái giống nhau. Nhưng còn vô số điều khác nhau. Hạnh nguyện khác nhau, trí tuệ khác nhau, cái phương tiện để giáo hóa khác nhau, và đôi khi quan điểm khác nhau. Khác nhau không? Ví dụ như là chúng ta thấy ngài Ma Ha Ca Diếp và ngài Phú Lâu Na, Phú Lâu Na Mãn Từ Tử khác nhau về quan điểm hành đạo. Ngài Phú Lâu Na thì ngài ở gần Ca Tỳ La Vệ.
[44:26]Ngài sau khi xuất gia, ngài có sống gần Đức Phật một thời gian, ngài chứng A La Hán, rồi ngài về cái vùng Ca Tỳ La Vệ, ngài độ người dòng người Thích Ca. Ngài có 500 đệ tử chứng A La Hán luôn, ngài Phú Lâu Na. Giỏi vô cùng, Đức Phật ca ngợi nhiều lắm. Nhưng mà ngài không sống gần Đức Phật nhiều, nên ngài có cái cách giáo hóa nó hơi khác Đức Phật một chút. Sống gần Đức Phật thì Đức Phật chặt chẽ lắm, ngài chặt chẽ. Nhưng mà ngài Phú Lâu Na sống xa Đức Phật, cho nên tùy theo tâm tình của người đó mà ngài hơi nới lỏng ra, Phú Lâu Na nới ra một chút. Mà Đức Phật chấp nhận. Đến khi Đức Phật nhập diệt thì trong cái cuộc kết tập kinh
[45:12]điển thì giữa ngài Đại Ca Diếp và ngài Phú Lâu Na có tranh cãi với nhau về quan điểm hành đạo về sau. Vì lúc đó ngài A Nan nói rõ ràng, Đức Phật nói rằng có một số giới điều có thể bỏ, mà ngài A Nan không hỏi. Thế ngài Ca Diếp trách ngài A Nan điều đó rồi sau đó ngài tuyên bố, ngài yêu cầu chúng Tăng là giữ nguyên tất cả giới điều thời Đức Phật, không sửa. Và cho đến bây giờ thì các vị sư Nam tông cũng cố gắng giữ như vậy, không sửa. Thì cái điều mà giữ không sửa đó đâu có đúng với ý Phật, vì chính Đức Phật đã nói rằng có những điều có thể sửa được. Cho nên cái điều việc mà chấp chặt, giữ chấp chặt nghĩa là không
[45:56]sửa một giới điều nào thì điều đó không đúng ý Phật. Chúng ta nhớ điều đó ha. Rõ ràng vậy, chúng ta không biết điều nào thôi, nhưng chắc chắn là giữ nguyên là không đúng ý Phật. Và ở đây ngài Đại Ca Diếp chủ trương giữ nguyên, ngài Phú Lâu Na chủ trương sửa. Ngài Phú Lâu Na nói phải thoáng. Thời Thế Tôn vì Thế Tôn là cái người bậc Đạo Sư, ngài giữ được giềng mối Tăng chúng thì như vậy là đúng. Ngài Phú Lâu Na rớt lại, còn cái quan điểm của ngài Xá Lợi Phất có thể rớt lại thành Thượng tọa bộ là thành Nguyên thủy luôn giữ nguyên lại. Đó, chúng ta thấy là cùng chứng A La Hán nhưng mà quan điểm đã khác nhau, chứ không phải luôn luôn giống nhau.
[46:44]Mà ai mới đúng nhất? Mình không kết luận được, chúng ta không có đủ tư cách để kết luận rằng giữa ngài Đại Ca Diếp và ngài Phú Lâu Na ai đúng, chúng ta không đủ tư cách để nói điều đó. Chỉ có Đức Phật mới nói được. Bây giờ qua cái bài kinh này, chúng ta xem quan hệ giữa đạo Phật và Bà La Môn một chút. Thì trong bài kinh này chúng ta thấy ông Bà La Môn Dhānañjāni, ổng theo đạo Phật phải không? Đảnh lễ Đức Phật, học hỏi với các vị tôn giả A La Hán Tỳ-kheo. Như vậy việc ông là người thuộc Bà La Môn mà cái việc ông vẫn theo tu học với đạo Phật, như vậy cái thời đó cái người Bà La Môn họ đã không xem đạo Phật là một tôn giáo khác hay nghịch đối với
[47:33]Bà La Môn của họ, mà Bà La Môn chỉ có nghĩa là một giai cấp cao trong xã hội mà thôi, có tính tín ngưỡng, tâm linh, tinh thần, nhưng nó không phải thành một tôn giáo cục bộ để có thể chống trái với đạo Phật. Như vậy chúng ta thấy và nhiều trường hợp trong rất nhiều bài kinh khác chúng ta cũng thấy là nhiều người Bà La Môn đã đến học hỏi với Đức Phật một cách thoải mái, bình thường. Mặc dù họ cũng hơi giữ kẽ nhưng mà họ đã theo học với Đức Phật. Như vậy thời đó nó không là một tôn giáo chống nhau. Chỉ có một điều là cái tinh thần mà phân biệt giai cấp của Ấn Độ nó ăn sâu trong máu trong tủy của họ từ hồi chưa đẻ ra, mà nó ăn tới bây giờ cũng chưa hết.
[48:22]Bây giờ mà nếu chúng ta đi đến đất nước Ấn Độ hiện nay, chúng ta sẽ thấy là họ phân giai cấp ra rõ ràng hết nè. Nghĩa là hạng tiện dân, tức là hạng servant cái người mà nô lệ phục vụ, là vĩnh viễn yên tâm với cái nhiệm vụ của mình, là mình sinh ra trong đời để phục vụ cho giai cấp trưởng giả, giai cấp mà giàu có. Còn cái người mà sinh ra với giai cấp giàu có thì cứ yên tâm là những người tiện dân phải phục vụ mình, không có gì thắc mắc. Ha, và họ phân biệt rất là rõ cái trường dành riêng cho giai cấp trưởng giả ở Ấn Độ học riêng, trường dành cho giai cấp tiện dân học riêng, không có lẫn lộn. Rồi nhà nước cho phép quy hoạch những cái khu nhà ở,
[49:09]cái khu giàu có chen vô là cái khu nghĩa là ổ chuột của người tiện dân, kế bên là khu giàu có chen một bên là khu ổ chuột. Để làm chi vậy? Là cái người mà ở nhà ổ chuột tức là hạng tiện dân, họ lấy giấy cạc tông với bao ni lông họ che nhà họ đỡ, cọc tre rồi chống đỡ để ở, và mùa lạnh mùa nóng họ hay chết, tại bên đó nóng khủng khiếp mà lạnh lạnh khủng khiếp bên Ấn Độ. Đất thì bụi, đời sống thì dơ bẩn. Nhưng mà những cái khu họ ở bên cạnh cái khu villa, building giàu có để làm chi vậy? Để sáng thật sớm họ đã chạy tới cái nhà đó kịp rồi, tới để hầu hạ cái người nhà giàu, để chiều họ trở về. Họ ở sát sát nhau và điều này chính phủ cho phép vì nó
[49:51]phù hợp với cái văn hóa của Ấn Độ hiện nay như vậy. Và họ yên tâm, bây giờ cái người tiện dân họ không có đấu tranh, họ không có đấu tranh đòi quyền bình đẳng, họ không có đòi phải học chung trường với hạng trưởng giả, không, yên tâm họ cứ đến cái trường tiện dân của họ học. Họ không mong là lớn lên làm giáo sư, bác sĩ hay làm quan làm tướng, không không mong điều đó. Họ cứ yên tâm suốt đời làm người nô lệ, vì họ cái niềm tin đó do cha mẹ truyền cho họ, ông bà truyền cho họ khi họ còn rất nhỏ, lớn lên họ yên tâm. Mà từ thời xưa, thời Đức Phật tới bây giờ, mà ai nói khác đi họ chống liền. Nên chúng ta phải thấy Đức Phật vĩ đại vô cùng.
[50:29]Trong cái thời đó trong đất nước nghĩa là giai cấp chia rẽ nặng nề, Đức Phật dám tuyên bố không giai cấp. Một sự cách mạng can dạ cùng mình. Mình sống trong thời đó rồi mình mới thấy cái vĩ đại của Đức Phật. Nghĩa là ngài dám chống lại, dám đi ngược lại cả văn hóa, cả dân tộc luôn. Và để nói lên chân lý, chân lý mà tới vĩnh viễn muôn đời sau phải ca ngợi. Thấy thật tuyệt vời luôn. Tôi nói Đức Phật thật là can đảm. Tới bây giờ mà cái tinh thần giai cấp còn ăn ăn cứng trong người Ấn Độ, huống hồ thời Đức Phật mà Ngài đã tuyên bố là rũ bỏ giai cấp hết, thật là can đảm. Nhưng mà cũng có cái duyên là Ngài sinh vào trong dòng dõi Sát-đế-lợi
[51:15]thì lúc đó dòng dõi Sát-đế-lợi với Bà-la-môn nó cũng tương đương. Việc đó làm cho Ngài cũng dễ giáo hóa, cái thời Đức Phật như vậy. Nhưng mà có cái điều là hiện nay cái người đạo Hindu, tức là đạo Ấn Độ,
[51:32]là người đạo Ấn Độ họ cũng ngấm ngầm họ chống đạo Phật. Tuy là thế này, họ thấy cả thế giới tôn sùng Đức Phật, tôn sùng đạo Phật, mà đạo Phật xuất phát từ quê hương Ấn Độ của họ, mà nếu họ chống thì cũng kỳ, cho nên họ đã đưa Đức Phật trở thành một vị thần thứ bảy trong cái hệ thống các ông thần của đạo họ, cũng an ủi.
[52:00]Nhưng mà hiện nay thì họ chống ngấm ngầm bằng cách này, vì có những thời gian mà có những vị họ cái giai cấp mà cùng đinh, tiện dân trong xã hội Ấn Độ là không ai ngó ngàng tới thì đã có nhiều cái vị sư Phật giáo đã đến để quy y, làm lễ quy y cho những người trong giai cấp tiện dân đó. Cho nên mấy cái người mà bên đạo Ấn Độ họ nói đạo Phật là đạo của giai cấp tiện dân, chúng ta là giai cấp trưởng giả không theo đạo Phật. Họ tự nói ngầm ngầm với nhau như vậy để chống đạo Phật, cũng là một cách. Mai mốt ai giỏi đi qua Ấn Độ truyền bá đạo Phật lại.
[52:42]Bây giờ chúng ta nói về đạo lý của bài kinh một chút. Như vậy, qua bài kinh chúng ta thấy là Bà-la-môn Đà-na-sơ-ni là đã có từng là đệ tử của ngài Xá-lợi-phất trước đó. Trong thời gian mà tôn giả mang một số tăng chúng đi giáo hóa nơi này nơi kia, thì ông ở nhà có lẽ là ông đã quên đi cái đạo lý ngài dạy. Thời gian mà ngài ra đi như vậy chắc cũng vài năm đi giáo hóa nơi này, ông quên nên ông có hơi nói chuyện trong lớp một chút.
[53:17]Ở đây là nói rằng ông ỷ thế vua bóc lột Bà-la-môn gia chủ, ỷ thế Bà-la-môn gia chủ bóc lột vua, chúng ta không hiểu. Nghĩa là ỷ thế quen biết ông vua, như vậy ông này cũng có cái quyền thế, thế lực lớn, là buộc các Bà-la-môn gia chủ khác phải cống nộp hay làm lợi gì cho mình, rồi lại ỷ thế mình là giai cấp Bà-la-môn có quen biết, có quyền lực với Bà-la-môn gia chủ để bóc lột vua, nghĩa là không nộp thuế hay là buộc vua phải ưu tiên cho mình trong một số về kinh tế như là phải cấp đất đai, đồ ngon gì đó vân vân. Chúng ta đoán như vậy, chứ chúng ta cũng không có hiểu hết, nhưng mà câu nói gọn thì mình cứ suy luận ra thêm.
[54:02]Như vậy là ông là người khá thủ đoạn. Thì cái việc mà ông bóc lột vua, rồi bóc lột các bạn bè của mình, thì như vậy đối với công nhân ông có tốt không? Cũng chẳng tốt lành gì, nhưng mà không nói tới, trong bài kinh không nói tới vì cái việc mà cái người mà lao công bị bóc lột là một chuyện bình thường ở cái xứ Ấn Độ đó, không được quyền than van, không được quyền than van. Cái đoạn mà khi được hỏi: "Ông có phóng dật không?" thì Bà-la-môn Đà-na-sơ-ni bài kinh này rất là hay. Bài kinh này hay là gì? Vì ông đại diện muôn đời cho con người để biện hộ rằng: "Tôi phải làm những việc như thế vì tôi còn phải nuôi gia đình,
[54:44]tôi nuôi vợ, nuôi con, nuôi cha mẹ, con cái, làm bao nhiêu chuyện ở đời. Cho nên, tôi phải làm mọi cách để có tiền". Đó là cái câu biện hộ. Biện hộ rằng riết là thế này, như mình gặp người Phật tử: "Sao lúc này có ngồi thiền không?". "Bận quá cô ơi, bận quá con giờ phải là đón con đi học nè, phải mua bán nè, tối về mệt quá rồi, thôi coi ti vi một chút rồi ngủ luôn chứ không thể nào mà ngồi thiền được". Là đó cái câu trả lời mình như vậy, thì ngày xưa ông Đà-na-sơ-ni ông cũng nói như vậy. Nói: "Tu không được tại vì mắc lo nhiều chuyện quá". Nhưng mà trong đó ông có nhiều cái thủ đoạn buôn bán. Thí dụ như mình gặp người hỏi: "Lúc này làm gì?", nói:
[55:25]"Dạ, con đang phải mở quán bia ôm". "Ủa trời ơi, sao phải mở quán bia ôm?". "Trời ơi, con cái đông quá, giờ ba mẹ ở nhà nghèo, cũng già rồi phải bệnh hoạn hoài cho nên phải thu nhập bằng mở quán bia ôm". Nghe vậy kỳ khôi không? Nhưng mà có những người họ cũng biện hộ như vậy đó. Các việc đó các việc mà làm những điều bất thiện, cái việc không chịu tu nè, gọi là phóng dật mà lấy cớ là vì gia đình, vì bổn phận đối với cuộc đời. Nhưng mà sự thật là gì? Tức là làm những việc bất thiện để làm giàu, ví dụ như buôn lậu, trốn thuế rồi đó. Hỏi sao vậy? Nói: "Trời, chứ đóng thuế sao không có ăn thì trời ơi ở nhà
[56:08]con cái đông quá, nuôi công nhân tùm lum mà đóng thuế nhà nước nữa không có tiền trả lương công nhân à". Nói vậy, đó chúng ta bây giờ vẫn có những cái lý luận tương tự như vậy, giống như vậy. Rồi thêm điều nhưng chúng ta thấy người Ấn Độ có cái hay là thật thà, thật thà. Nên ông nói rằng: "Còn bản thân con nữa, còn phải làm cho thỏa mãn dục lạc và nuôi nó sống chớ", "con thấy đâu có tu được, con phải lo làm giàu". Người Ấn Độ hay là họ thật thà, mà tới bây giờ họ vẫn thật thà nha, tới bây giờ vậy. Thôi họ bán bán đồ bây giờ họ bán nhau một khúc vải, cái bán cho mình cái mình nói: "Tôi không có tiền". Cái họ nói:
[56:51]"Chừng nào ông trả được?", nói: "Ba tháng nữa", "Nhà ông ở đâu?", cho cái địa chỉ, họ bán liền. Tới chừng họ tới đòi tiền thì ra địa chỉ ma, người khác. Việt Nam mình là vậy, Việt Nam mình sẵn sàng lừa gạt nhau liền, người Ấn Độ không có nha, thấy nhau là họ tin liền. Cho nên khi ông Will Durant mà ổng viết về lịch sử văn minh Ấn Độ, ông mới nói câu này, ông nói: "Người Ấn Độ thật thà kỳ lạ". Ví dụ khi một phiên tòa xử, một phiên tòa xử là hai bên đó có cái tranh chấp về trong việc buôn bán. Bây giờ tòa mới hỏi ông này: "Cái là ông có mượn tiền của ông này hay không?", cái nói: "Dạ, có". Mà chỉ cần ổng nói "không" một cái thôi là ông kia
[57:35]đi tù liền, mà không nói nha, không nói "không". "Có" là phải "có". Mượn sao nói ra thì cái thành ra cái người ta nhẹ tội liền, mà ổng nói thật. Mà trong khi hai bên đang thù nhau mà vẫn nói thật, người Ấn Độ là vậy, thật thà. Nên hễ luật pháp quy định sao là họ làm đúng vậy, họ không có phạm tội đâu. Qua đất nước đó bây giờ cũng vậy, mình sẽ thấy ít có trộm cắp và bậy tầm bạ, không có. Có người Việt Nam mình thì qua bắt đầu kỳ khôi thôi, mà họ kiên nhẫn, họ hiền lành. Tôi nghe kể chuyện người Việt Nam mình đi vô cửa hàng người Ấn Độ, xới tung đồ lên hết, tại cái người bán họ có những người công nhân để làm á thì mình hỏi cái họ lục lên,
[58:16]lục lên, lục hết, bới hết cả cửa hàng xong đi ra không mua gì hết trơn, họ vẫn chịu đựng không nói tiếng nào. Họ hiền lành như vậy, còn gặp người Việt Nam mình thì sao? Họ về tới nhà họ cào nhà ra chớ đó không mua. Người Việt Nam mình dữ, dữ mà hay nói dối. Nói không biết có ai đụng chạm không chớ thực sự vậy, người Ấn Độ họ tốt. Thì ở đây, sau khi nghe nói như vậy thì Ngài không có chê trách, Ngài không có nói nặng. Chúng ta để ý cái này để mình nữa mình giáo hóa. Khi một người đã xác nhận, tự nhận rằng mình có lỗi thì việc còn lại là mình phân tích cho người ta thấy không nên có lỗi, lỗi đó là không tốt chứ không có ngồi đó mà chửi
[59:00]mắng người ta, không ngồi đó mà chê mà chửi mắng. Mà nếu có chê để cho người ta tự chê, chứ mình đừng có chê. Đây là cái khéo léo của tôn giả. Chúng ta nhớ mà mãi mãi sau này mà giáo hóa. Ví dụ như là có người nào đó đến nói với mình: "Hôm qua đi ngang cái nhà đó con thấy thèm gà quá, sẵn có gà tao bắt một con vô về cắt cổ ăn tiêu". Thì người ta nói thật vậy thì mình đừng có ngồi đó mà mắng chửi người ta: "Đồ độc ác, đồ ăn cắp này nọ, đừng có tới chùa tao nữa nghe không? Mày mà tới tao chọi đá cho mày ra khỏi chùa". Đừng có ngồi đừng có nói vậy, mà sao mình bắt đầu mình hỏi như ngài Xá-lợi-phất.
[59:44]Nè, như vậy Phật tử thấy rằng ví dụ có ai ăn cắp đồ của mình mình khó chịu không? Đó, mình hỏi như ngài Xá-lợi-phất. Người này nói: "Dạ, cũng khó chịu". "Ví dụ như bây giờ mình đặt mình vào con gà, có ai cắt cổ mình mình có đau không?". Mình đau. Thì như vậy rồi hỏi: "Như vậy là cái việc đó tốt hay xấu?" để người ta trả lời cho, chứ đừng ngồi đó mà xỉ xỉ chửi mắng người ta. Cho nên về sau này cũng vậy, khi mà có người nào đó đã đến thành thật họ nói cái lỗi gì của họ ra mà mình cảm thấy rằng họ nói chứ họ chưa sửa được thì mình hãy cố gắng khuyên bảo và tìm cách giúp cho họ tự nhận ra được cái lỗi của họ, nha.
[1:00:23]Chứ đừng có nghe người ta có lỗi rồi lên mặt làm sừng sộ lên là sai. Mà người nhận lỗi đã là tốt rồi, giống như là ông Bà-la-môn Đà-na-sơ-ni biết nhận lỗi là tốt, thì chúng ta phải khéo léo như ngài Xá-lợi-phất đã khéo léo. Nên ở đây trong bài này Ngài không thuyết gì nhiều hết, Ngài chỉ hỏi buộc ông xác nhận, đây là trí tuệ. Thay vì thuyết pháp dài dòng, Ngài chỉ hỏi. Đây là một cách. Tôi cũng vậy, tôi cũng hay bắt chước Ngài hỏi, hỏi mà không ai trả lời, giờ làm biếng hổng thèm hỏi, thiệt giận, không hỏi. Vì ngài Xá Lợi Phất nói rằng: "Bây giờ vì ai thì vì, hễ làm tội là xuống địa ngục". Rồi ngài buộc Bà-la-môn Dhanañjāni phải xác nhận
[1:01:09]là nếu mình vì người khác mà mình làm một điều cao thượng vẫn hay hơn là vì người khác mình làm một điều bất thiện. Đây là điều so sánh trên giá trị tinh thần, trừu tượng thôi. Buộc như vậy. Ví dụ như là vì nuôi cha mẹ mình mà mình phải đi ăn cắp khác với một người mà vì nuôi cha mẹ mình, mình phải đi ở đợ cho người ta. Hai hình ảnh nó khác nhau. Tức là khi mình đi ở đợ, mình làm thuê, mình mạt giụa chăm sóc gia đình cho người ta, cực khổ. Công việc đó giống như thấp hèn, nhưng mà để nuôi cha mẹ mình, công việc đó vô cùng đáng tán thán. Người đó có hiếu lớn. Chớ còn muốn có tiền cho lẹ, cho khỏe, đi ăn cắp về rồi nói nuôi cha mẹ mình, không nên. Điều đó xấu xa.
[1:02:00]Rồi chưa nói tới việc đọa, mình chỉ nói là xấu xa. Nhưng mà công việc để gọi là không bị xấu xa, để gọi là những điều tốt để giúp người thân mình thì thường là những công việc mình phải cực khổ. Cực khổ. Chớ còn nếu mình có phước thì nó dễ rồi. Có phước thì mình cứ làm tàn tàn, làm ăn tàn tàn mà tự nhiên tiền vô như nước rồi mình nuôi cha mẹ mình khỏe. Mà có những trường hợp mình không có phước nhiều, mà mình còn có nhiều bổn phận thì phải chấp nhận cực khổ. Thì đây là cái điều mà chúng ta nhớ. Sau này, ví dụ như là mình nói trong chùa mình đi. Nói là "tôi vì Phật pháp hay tôi vì nuôi đệ tử cho nên là tôi phải" nghĩa là "phải bỏ tiền ra
[1:02:49]để mà nhờ người cư sĩ họ mở một cái quán là cà phê nhạc". Không nên. Hoặc là nói rằng là "tôi vì nuôi đệ tử mà tôi phải đem tiền, tôi bỏ vốn ra
[1:03:06]để mở nhà hàng ăn". Điều không nên. Có lần tôi gặp một vị thầy, ổng nói cũng vì kinh tế, ổng ở nước ngoài, ổng phải mở nhà hàng.
[1:03:21]Nhưng mà rồi ổng phá sản. Tôi cũng nói, mừng cho ổng phá sản, chớ mà cứ gây cái ác nghiệp đó hoài không có tốt, không phải của người tu. Rồi bây giờ người đời cũng vậy. Người đời nếu mình gặp một người nào đó mà mình thấy họ có bổn phận mà họ làm những cái điều mà mình biết là tạo nghiệp, mình cũng nên khuyên họ từ bỏ và khuyên họ chấp nhận cái cực khổ, khó khăn để nuôi sống người thân của mình bằng cái lao động vất vả, nó vẫn quý giá hơn, vẫn cao cả hơn. Điều đó có phước lớn, tránh được cái tội, rất là hay. Như có một người vậy, vì nuôi gia đình, nuôi mẹ, nuôi con mình đã phải đi lượm ve chai vậy.
[1:04:02]Thì cái đó cũng là một cái điều hết sức là cao cả. Thay vì mình phải làm những điều dễ có tiền nhưng mà mất nhân phẩm. Dễ có tiền mà mất nhân phẩm không làm. Thà làm cái điều nghèo khổ vậy, có thể người ta coi thường mình, nhưng thực sự vẫn là một cái điều rất cao quý. Mình chấp nhận không giá trị, không bằng ai trong cuộc sống này, nhưng mà để giữ là một con người chân chính thì nó quý vô cùng. Đây là một cái điều mà các cô sau này khi mình có đệ tử, mình nhớ dạy người cư sĩ mình. Dạy người cư sĩ cho mạnh, để giữ gìn cái đạo đức của đạo Phật. Đừng có nói à: "Con vì đạo, con phải cúng chùa, nên con phải ráng làm ăn".
[1:04:46]Trong cái ráng làm ăn đó, có nhiều cái gian manh lường gạt, không nên, nguy hiểm. Rồi điều nữa, ví dụ như là có lần có người nói sao nhà con ngoan hết mà có đứa con ngỗ nghịch, khó dạy? Tôi trả lời: "Vì một kiếp nào đó mình đã nhờ nó binh vực gia đình mình. Nó là một cái tay ở ngoài gia đình, một tay du côn trong xóm, nhưng mà có người khác ăn hiếp mình, cái mình kêu thằng du côn này 'Con lại con binh cho bác giùm, quánh tụi đó giùm, nó ăn hiếp'. Thế là nó hùng hổ nó chửi mắng, cản người ta không cho người ta ăn hiếp gia đình mình. Chịu cái ơn, mai mốt đầu thai vô gia đình mình thì nó là thằng nghịch ngợm.
[1:05:24]Nó có nhân duyên với nhau". Rồi nếu trong gia đình tại sao có một người bệnh tàn tật suốt đời phải nuôi? Vì ngày xưa người đó đã đi gì, đã làm cái nghề là bẻ chân bẻ tay, cưa chân cưa tay bò trâu gì đó, lấy tiền về nuôi mình. Bây giờ tới khi mình có phước, mình lành lặn, nhưng mình phải nuôi cái người mà họ làm cái nghề đó, họ lúc họ trả quả báo thì lúc đó mình phải nuôi họ. Ví dụ cái người thân mình ở tù, mình phải nuôi, đó là cái mà ngày xưa mình đã chịu ơn họ nuôi mình. Giờ mình phải nuôi vất vả. Ví dụ trong nhà có người điên loạn, mình phải nuôi. Nuôi khổ sở luôn, nuôi mà mất danh dự đối với hàng xóm.
[1:06:05]Tại vì cái người điên họ làm nhiều cái cười lắm. Nhiều khi cái ở trong nhà mà để cửa mở cái, hở cửa chạy ra ngoài. Chạy ra ngoài cái nắm đầu người ta quánh, người ta tới người ta kiện, phải đền cơm thuốc. Hoặc là ổng leo lên lầu cái ổng cởi trần cởi truồng, ổng đi qua đi lại cho bà con coi chơi. Lúc đó lúc mình đâu có biết, mình cứ lo dưới này thôi. Chừng nào dòm ra ngoài thấy người ta đi qua lại người ta cười, người ta chỉ trỏ, lật đật chạy lên thì thấy cái chuyện chuyện kỳ dị như vậy. Đó những cái đó là ngày xưa người đó làm cái điều bất thiện để nuôi mình, giờ mình phải nuôi lại một cách khổ sở như vậy.
[1:06:44]Cho nên là người cư sĩ nói mình thương cha mẹ, vợ con mình, rồi mình làm điều bất thiện để nuôi họ thì sau này mình làm cho họ khổ sở. Lúc đó mình sẽ mắc quả báo, bị điên loạn, tật nguyền rồi vợ con mình sẽ khổ sở để nuôi lại mình. Cho nên thà là mình làm những chuyện có vẻ nhọc nhằn hơn, nhưng mà chân chính để sau này cho cái người thân của mình được an vui. Đó là nhân quả, chỗ này phải kỹ lưỡng. Đây là thêm cái nhân quả trong đời sống gọi là chánh mạng á. Cái bài này chúng ta học là học một cái yếu tố của chánh mạng trong Bát Chánh Đạo. Thì nó ảnh hưởng nhân quả như vậy. Rồi chúng ta thấy khi mà ông nói,
[1:07:26]cái ông kể qua các đối tượng mà phải có bổn phận là cha mẹ, vợ con, tôi tớ, bạn bè, thân khắc, tổ tiên, tín ngưỡng, vua chúa, lao công, chúng ta thấy chúng ta có mặt trong cuộc đời này, chúng ta bị đặt trong những cái bổn phận chằng chịt, ràng buộc. Mà không ai tránh khỏi, ai cũng bị như vậy. Và có những cái bổn phận mà bắt buộc và có những bổn phận tự nguyện.
[1:07:59]Bổn phận bắt buộc là sao mà tự nguyện là sao? Bắt buộc là nếu mình không làm là mình là người không có đạo đức, người ta nguyền rủa. Ví dụ bây giờ với cha mẹ mình, mình lớn lên mình không quan tâm, không nuôi thì đó là không chấp nhận được, bất hiếu, không có đạo đức. Hoặc đối với gia đình, nhưng người đàn ông đối với vợ con mình không nuôi thôi, điều này bất nghĩa, ác độc, không chấp nhận được. Đó là những bổn phận bắt buộc, không khác được. Rồi có những bổn phận tự nguyện. Bổn phận tự nguyện là ví dụ do đạo đức thôi thúc. Ví dụ mình ở trong làng, trong xóm, mình thấy có những người nghèo trước mắt,
[1:08:46]mình không chịu đựng được, không chịu đựng được thì mình không làm thì cũng chẳng ai nói đâu, nhưng mà không làm lương tâm mình nó cắn, coi mình đau. Không làm lương tâm mình nó có răng, nó cắn mình đau chịu không nổi nên mình cứ phải ráng đi qua lại chăm sóc giúp đỡ họ để cho lương tâm đỡ cắn rứt. Thì cái đó là nó hơi tự nguyện, nhưng mà không làm không được vì nếu mình có đạo đức. Còn mình không có đạo đức thì kệ, ai chết mặc kệ người ta. Nên có những bổn phận bắt buộc và những bổn phận tự nguyện. Hôm trước tôi nghe kể ở Sài Gòn đường ngập mưa, có cái hố nước lấp mất, không ai thấy, nhiều người đi qua đã rớt xuống.
[1:09:30]Đi qua rớt xuống. Và có một người đứng nhìn, than thở. Có người đứng nhìn than thở rồi thôi, không làm gì hết. Thấy tội nghiệp. Thấy tội nghiệp mới than: trời ơi! Đứng than chi, lại đó mà lấy cây chống gì để cho làm dấu cho người ta biết người ta tránh. Đứng than thở không. Thì có những điều như vậy, cái việc mình không làm thì thì cái đó coi chừng mang tội. Vì trong luật pháp cũng quy định như vậy. Trong luật pháp cũng quy định là có những điều mình làm thành tội, có những điều mình không làm là thành tội. Như mình biết chỗ đó có cái hố, mình thấy có thể người ta nguy hiểm, mình bỏ đi luôn, trong luật pháp là quy tội mình được, bắt mình được.
[1:10:18]Tức là mình thấy cái hố này người ta đi qua lại có thể rớt, ban đêm không ai thấy, mình biết rồi mình chắt lưỡi cái mình chạy luôn. Nếu công an mà họ biết được điều này họ bắt mình vô tù được, vì luật pháp có quy định điều này. Thấy điều nguy hiểm mà nếu không làm người khác nguy hiểm, mà mình không làm, là đối với luật pháp là có tội. Trong cuộc đời mình, mình có nhiều cái bổn phận ràng buộc, thì do nhiều kiếp luân hồi chằng chịt, chúng ta cũng chịu ơn người này, chịu ơn người kia, nên kiếp này mình cũng vậy, có bổn phận nhiều lắm. Một người sống trên đời, mà nếu mình không phân tích ra được những bổn phận như ông Bà La Môn này là mình rất là dở.
[1:10:58]Mình cứ nghĩ làm để sống nuôi gia đình mình, cái nhìn cạn quá, cái nhìn cạn. Nên ở các nước văn minh, cái số tiền thuế mà người dân phải đóng cho chính phủ là có khi hơn phân nửa tiền lương của mình. Có người là chỉ một phần tư, một phần năm cái tiền lương, nhưng có những người mà họ lãnh lương được cao, nhà nước lấy họ hơn phân nửa tiền lương của họ luôn, lấy thuế. Mà họ vui vẻ. Vì họ biết, họ biết họ có nhiều bổn phận đối với xã hội của họ, đối với đất nước của họ. Là về già nhà nước nuôi, rồi lúc nhỏ nhà nước nuôi, lúc bệnh hoạn có thể được bảo hiểm, rồi nhà nước còn phải trả lương cho công nhân viên chức, phải sửa đường,
[1:11:45]phải bắc cầu, phải xây bệnh viện, phải xây nhà trường, bảo vệ không gian, bảo vệ quốc phòng, nhà nước làm cả triệu công chuyện, cho nên họ phải có bổn phận đóng góp, đóng thuế, họ vui vẻ. Nên cái ý thức được điều đó là một cái đạo đức tốt của người công dân. Nên chúng ta đừng có đơn giản, chính bản thân chúng ta cũng vậy. Nếu mình sống trên đời, khi mình vô chùa mình chỉ nghĩ biết à chùa mình, thầy mình, tổ mình, bản thân mình là sai lầm lớn. Chúng ta phải nghĩ ra chúng ta có nhiều bổn phận lắm. Đối với đất nước nè, đối với toàn bộ Phật giáo trên thế giới nè, đối với nhân loại nè, đối với cái sự tu tập,
[1:12:21]đối với những người cư sĩ cúng dường cho mình nè, và đối với cái sự hưng suy của Phật pháp, nhiều điều lắm. Nếu mình ngồi mình suy ra nhiều, mà nhiều khi còn phải đối với hàng xóm quanh chùa mình coi là sao, nên nhiều điều lắm. Nên cái người nào sống trong cuộc đời này mà phân tích ra được mình có bổn phận với bao nhiêu người, đó là người có trí. Nên sau khi học bài này, mỗi người chúng ta phải tự phân tích là chúng ta có bổn phận với những người nào. Phân tích bổn phận bắt buộc á, còn bổn phận tự nguyện thì còn nhiều nữa. Nhưng sau bài này chúng ta thử phân tích điều đó, chúng ta có bổn phận với bao nhiêu người.
[1:13:05]Cái này tùy quý cô suy nghĩ, ha. Rồi bây giờ, trước cái bổn phận như vậy, chúng ta không thể trốn nợ, trốn trách nhiệm được. Không có trốn được, vì đó là nhân quả, đó là công bình. Nên ai có cái suy nghĩ vào chùa tu để tránh sự đời, để tu cho giải thoát, đó là một sai lầm lớn lần nữa, sai lầm lớn.
[1:13:28]Chúng ta không được quyền như vậy. Cũng như mình vào chùa, mình tu, nói: "Giờ phải có cái thất mình ở mình, mình yên ổn thanh thản dễ tu dễ giải thoát, không bận chuyện rộn chuyện gì hết". Đó là một sai lầm lần nữa, đó là trốn nợ, trốn trách nhiệm. Cái điều này tôi đã giảng trong nhiều lần cho người cư sĩ, hôm nay tôi nhắc lại chút. Chúng ta ví dụ, ví dụ như có một người vì mắc nợ của ông chủ phải đến làm công để trả nợ thì người đó chừng nào sẽ được ông chủ cho đi tự do, thả cho về tự do? Chừng nào?
[1:14:09]Hết nợ phải không? Đúng, giỏi. Đó là luật công bằng, công bằng. Điều đó hợp lý. Thì cũng vậy, chúng ta là những người đang mắc nợ cuộc đời. Quý cô có đồng ý với tôi là chúng ta mắc nợ cuộc đời không? Có không? Tại sao? Tại vì mình đã nghe hát bài "Mắc nợ" rồi, phải không? Nên mình biết mình mắc nợ nhiều. Nợ mùa thu một bài thơ lá rụng sương mù, nhớ không? Cả bài mùa thu mình còn mắc nợ nữa.
[1:14:44]Và chúng ta phải, phải trả nợ. Trả nợ xong rồi mới được tự do. Chữ tự do cũng có nghĩa là giải thoát. Chữ này á mình dịch là sự tự do, nhưng trong tiếng Anh nó dịch luôn chữ giải thoát. Một người trả xong nợ rồi mới được tự do, có nghĩa là người trả xong cái nợ cuộc đời này mới được giải thoát. Chúng ta cũng như vậy. Cho nên cái người khôn á đừng trốn, đừng trốn. Cái người khôn ngoan mình tận tụy phục vụ hết cho mọi người để trả nợ. Làm tận tụy, vừa tận tụy phục vụ cuộc đời, phục vụ đạo pháp, vừa lặng lẽ tinh tấn tu tập thiền định, đó là người khôn ngoan, người đó sẽ giải thoát. Còn cái người ví dụ như tận tụy phục vụ cuộc đời
[1:15:37]mà không tu tập thiền định thì sau này người đó biến thành ông chủ nợ cho người khác phục vụ lại, không giải thoát, ở đó hưởng. Hoặc là người không chịu tận tụy phục vụ cuộc đời mà chỉ tu tập thiền định thì nợ không hết, cũng không giải thoát được. Nên cái khôn ngoan của chúng ta là một người vừa tận tụy phục vụ cho cuộc đời, cho Phật pháp, cho chúng sinh, vừa lặng lẽ tu tập thiền định trong kín đáo, đó là mẫu người giải thoát ở tương lai. Nhớ vậy. Nên những cái việc khó khăn trong cuộc sống này, chúng ta phải dấn thân, không có tránh né, phải đối diện, chịu cực, chịu khổ. Thấy không? Sau này quý cô có đi giảng thì sẽ có nhiều cực khổ,
[1:16:25]rồi sẽ có những người học trò viết thư chống mình, cứ lì mà đi giảng tiếp. Có trả nợ cuộc đời, đừng có động tâm, đừng có thối chí, vì thế gian là như vậy. Sóng gió luôn luôn tràn trề. Cứ bình thản, thương yêu, tha thứ mà lì lợm làm nữa. Giảng khi nào người ta chán quá thì thôi, còn vậy cứ tiếp tục đi. Chừng nào mà nhận được mười bức thư thì hãy tính, coi chừng lúc đó mình giảng dở quá, thôi nghỉ thiệt. Còn mới một, hai bức cứ giảng tiếp nữa coi làm sao. Tôi mới nhận có một bức, tôi giảng nữa.
[1:17:03]Tuy nhiên, chúng ta cảnh giác điều này. Cái bài này có lẽ tôi chưa có nói, tôi cũng chưa giảng hết đề tài, tôi chỉ nói một ý nhỏ trong bài này thôi. Là mỗi tôn giáo đều có một cái mục tiêu tối cao của họ, nghĩa là mỗi tôn giáo đều có cái cứu cánh. Trong đạo Phật mình, cứu cánh là gì? Cứu cánh là giải thoát, giác ngộ gì đó, ha, đắc đạo gì đó. Rồi các tôn giáo khác như là Thiên Chúa giáo thì có cái cứu cánh là sinh về thiên đường. Hồi giáo, rồi đa số các tôn giáo thần quyền, cái cứu cánh của họ là chết được về với cái vị giáo chủ tối cao, thần linh tối cao của họ. Là mỗi tôn giáo đều có một cái cứu cánh.
[1:17:49]Mà gọi là một cái mục tiêu vô cùng cao cả, cao cả nhất mà không một mục tiêu nào bằng nữa. Đó, chúng ta nhớ, tất cả tôn giáo đều như vậy. Ví dụ như có thể chúng ta có nhiều cái mục tiêu trong cuộc đời này, mình phải học thật giỏi, mình phải thật giàu, mình phải thật đẹp trai, mình phải nắm quyền thiệt lớn, à mình phải nhà cao cửa rộng. Nghĩa là trong thế gian này có thể chúng ta có nhiều mục tiêu, nhưng không một mục tiêu nào cao thượng bằng cái mục tiêu của tôn giáo nó đề ra. Ví dụ trong đạo Phật thì những mục tiêu mà danh lợi, giàu sang, quyền quý đó, không bao giờ bằng được cái mục tiêu giải thoát, giác ngộ.
[1:18:34]Cũng như các tôn giáo khác, mọi cái mục tiêu mà giàu sang, danh vọng thế gian không bao giờ bằng được cái mục tiêu mà được sinh về nước Chúa, giống như vậy đó. Tất cả họ đều coi là cao cả nhất, quý giá nhất, không có gì bằng. Nhưng nếu khi chúng ta đã nhận ra rằng cái cứu cánh đó là cao cả nhất, rồi mình dồn hết nỗ lực cuộc đời mình để đi tìm nó, thì ngay lập tức mình bị cái bệnh vị kỷ liền. Lạ lùng như vậy. Mà khi vị kỷ thì vĩnh viễn không bao giờ mình đạt được cái cứu cánh đó. Đây là một nghịch lý, một cái paradox, một cái... Một điều mâu thuẫn, một điều nghịch lý: thế là cái cứu cánh là cái cao cả nhất, mà khi mình dồn hết cuộc đời để đi tìm
[1:19:25]đến nó thì không bao giờ mình đi được, vì lúc đó mình mắc cái bệnh vị kỷ.
[1:19:34]Một điều lạ lùng. Quý cô đồng ý không? Hiểu ra chỗ này không? Hiểu không? Đó, đây là chỗ đạo Phật mình cũng bị. Cho nên nhiều khi tôi phân vân lắm, tôi nói: đạo Phật mình tự mình nói là một đạo đạo đức nhất so với các tôn giáo, nhưng mà tại sao những biểu hiện của những người trong đạo Phật này mất đạo đức hơi nhiều: chia rẽ, chống đối, công kích, vu khống, hơn thua, ham danh, ham lợi; biểu hiện mất đạo đức hơi nhiều, phải nói trong tăng ni á. Tôi tự hỏi tại sao vậy? Tại sao giáo lý của Đức Phật tuyệt vời như vậy, cao cả như vậy, mà cái hiện tượng lộ ra thì lại có vẻ mất đạo đức, kỳ khôi vậy? Thì tôi đi tìm, tôi mới thấy rằng chính cái cứu cánh này đã tiêu diệt chúng ta.
[1:20:29]Khi chúng ta dồn hết cuộc đời để hướng về cái cứu cánh của mình, không ngờ mình bị cái vị kỷ thầm kín chi phối. Mà khi bị vị kỷ rồi, thì những hệ quả phía sau của tâm lý vị kỷ đó là gì? Hơn thua, tham lam, giành giật, đố kỵ, kiêu mạn, sân hận, oán thù, ganh ghét; bắt đầu từ cái vị kỷ nó tạo ra hết tất cả như vậy. Chính vì chúng ta dồn hết cuộc đời để đeo đuổi cái gọi là mục tiêu cao cả nhất, và thế là không bao giờ chúng ta đạt được tới nó nữa, một điều rất kỳ lạ. Vậy bây giờ phải làm sao? Ai nghĩ ra? Phải làm sao mà để đạt được? Hử?
[1:21:15]Đây là mục tiêu mà chúng ta phải đạt tới, nhưng mà khi chúng ta nhắm tới, chúng ta lại bị vị kỷ; và vị kỷ thì không bao giờ mà đạt tới nữa. Mâu thuẫn. Vậy làm sao phải đạt tới? Làm sao? Ai nghĩ ra?
[1:21:37]Cái lý luận này quan trọng lắm đó nha, không có đơn giản, cực kỳ quan trọng. Quý cô phải ghi nhận cái lý luận chỗ này, để mình nhìn đạo Phật mình hoặc mình nhìn các tôn giáo khác mình thấy rõ, thấy rõ vấn đề lắm. Chính cái gọi là cao cả nhất không ngờ đã tạo thành cái thấp kém nhất là cái vị kỷ, ích kỷ. Thì bây giờ làm sao chúng ta phải đạt được cái cứu cánh đó? Bằng cách nào? Hồi nãy như chúng ta nói, mời cô ấy đứng lên. Thưa thầy, nếu con nói có sai thì cô nghe lại. Theo con nghĩ là mình đặt ra đó và mình dồn cả đời cho nó, vì nó mà để cho mình á thì là mình hỏng rồi.
[1:22:29]Nếu mà cái cứu cánh này mình đặt ra, cứu cánh này là vì chúng sanh thì có thể may ra là mình không có bị đi nghịch lý. Con nghĩ vậy. Cám ơn thầy.
[1:22:41]Bị tiếc không phải là học ni, nếu học ni có khi thầy cho 10 điểm rồi đấy. Vỗ tay đi.
[1:22:52]Đúng như vậy đó. Đây là điều chúng ta để ý. Khi mà chúng ta thấy được cái gì gọi là cao đẹp nhất thì phải lập tức nghĩ điều đó cho mọi người, tự nhiên mình lại đạt. Mình không tìm cho mình, mình tìm coi giải thoát là cái gì, giác ngộ là cái gì, mình phải làm tất cả để cho mọi người được điều đó, không cho mình, tự nhiên mình đạt trước, mình không mong mà tự nhiên đạt trước. Còn mình dồn cuộc đời mình đi về nó vĩnh viễn không bao giờ, không bao giờ tới nữa. Nó như cái ảo ảnh trước mắt, mình leo lên là rớt, mình không leo mình xúi người ta leo, tự nhiên mình tới. Đồng ý không? Quý cô đồng ý không? Đồng ý không?
[1:23:38]Phải cảm nhận điều này cho sâu, để suốt cuộc đời còn lại của mình mình chỉ hy sinh tất cả cho chúng sinh, cho Phật pháp mà không mong cầu điều gì cho mình cả. Người này vậy chứ mà thành Phật trước thiên hạ, còn mình nỗ lực tu tập tinh tấn, quên hết mọi người để lo tu, thì cuối cùng coi chừng mình lại thành quỷ sứ, thành địa ngục quân. Coi chừng. Cho nên ở đây, chỗ này là một cái lừa vĩ đại, một cái sự lừa gạt vĩ đại của bản ngã. Nên từ đây về sau chúng ta nhớ hễ ai nêu ra cái mục tiêu cao cả, mình thấy cái gì hay rồi là phải đi tìm cái đó cho mọi người chứ không cho mình, thì mình mới không lạc đường.
[1:24:27]Như có một lần tôi tâm sự, tôi nói là tôi nói với vài Phật tử tôi nói: Thầy giảng chừng ba năm nữa chắc thầy nghỉ không giảng nữa. Kêu nói: Sao thầy nghỉ giảng sớm vậy? Thấy thầy giảng nhiều người thích mà. Tôi nói không, thầy chính vì nhiều người thích thầy mới nghỉ sớm. Nói: Sao kỳ vậy? Nói: Vì đó là đạo đức, đó là đạo lý. Ví dụ như con đường như thầy đi nhiều người thích thì tạm cho nó là đúng đi. Tạm thôi chưa chắc, chưa chắc nhiều người theo đã đúng đâu. Nhưng mà cứ tạm cho như vậy, cho nó là hay là đúng đi. Thì ngay lập tức thầy phải tìm cách đem cái điều tốt đẹp hay đúng đó cho tăng ni khác liền, không được giữ lại cho mình nữa.
[1:25:08]Nghĩa là thầy cố gắng làm sao xây dựng cái đạo lý này, cái phương pháp diễn giảng này cho tăng ni khắp nơi làm được hết. Còn nếu thầy thấy à thầy giảng vậy hay ha, đạo lý thầy đi có lý hay ha, thầy cứ giành thầy giảng miết, giảng miết, không cho ai giảng, đó là mất đạo đức, không phải đạo lý nữa. Cho nên thầy phải cố gắng là đi tìm, nghĩa là khi thầy đã thử nghiệm được bao nhiêu năm qua con đường này tương đối hợp lý, nhiều người đã nói có an lạc, rồi cái cách thầy diễn giảng như vậy người ta nghe dễ chịu, thầy phải hệ thống lại truyền lại điều này cho mọi người, cho tăng ni khắp nơi, để làm sao?
[1:25:45]Đi đến cái vùng nào, xa xôi hẻo lánh nào mình cũng nghe có những tăng ni làm việc đạo tốt, giảng dạy hay, tu hành tinh tấn, thì lúc đó Phật pháp mới hưng thịnh. Chứ còn bây giờ cứ một mình thầy ỷ thầy ẵm hay giảng tiếp 10 năm sau, 20 năm sau, đó là dấu hiệu Phật pháp suy tàn, không phải đúng đâu, không có đúng. Tôi nói cái điều này nó cũng nằm trong cái đạo lý mà vừa nói: Hễ mình thấy bất cứ điều gì gọi là hay, là đẹp, là cao cả thì phải nghĩ chuyện đem điều đó cho tất cả mọi người, không được đi tìm cho riêng mình hay giữ lại cho riêng mình, đó là đạo lý, đó là đạo đức. Rồi ngay cả những vị thần thánh mà mình tôn thờ
[1:26:28]thì cũng không nên vì những vị đó mà mình làm điều bất thiện. Mình đừng có lấy lý do là tôi mắc xây chùa, tôi mắc phục vụ đạo pháp rồi đem tiền cho vay cắt cổ, không có được, không được.
[1:26:42]Chúng ta vẫn đọa như thường. Nên có một lần có người Phật tử ở bên nước ngoài về nói với tôi, nói: Thưa thầy, cái chỗ chùa của con á bị vì có nhiều vị sư cô đó mấy vị muốn xây lớn.
[1:26:56]Cho nên đã bàn với nhau là trong những ngày lễ đó bán thịt nướng để lấy tiền, vì bán mấy ngày đó lời, bán một bữa vậy chắc được mấy chục ngàn đô, lời, nên để dành để xây chùa. Nhưng mà tụi con phân vân không biết đúng hay không? Thấy việc làm thì sai mà thấy cái mục tiêu thì đúng. Mục tiêu xây chùa thì quá cao cả, mà việc mà Phật tử mà đi ra bán thịt thì thấy sai, mà tụi con không biết là nó đúng sai như thế nào, hỏi thầy. Thì tôi về tôi trả lời dĩ nhiên là sai. Vì ở đây quý Phật tử đã nghe cái băng Cứu Cánh Và Phương Tiện chưa? Nghe chưa? Có người nghe người chưa. Quý cô chưa bao giờ nghe. Tôi có giảng cái băng đó, thì tôi nói rằng là
[1:27:44]trong cái cứu cánh nó có chứa phương tiện trong trỏng. Tức là mình đạt được mình đạt đến mục đích mình bằng con đường nào, thì nơi cái mục đích của mình nó lẫn cái con đường của mình nằm trong trỏng rồi. Ví dụ cái chùa được xây lên từ cái tiền bán thịt, thì trong chùa đó thế nào cũng có thịt nhiều, nó sẽ có những điều không hay trong chùa đó, luôn luôn như vậy, xảy ra chuyện này chuyện kia. Còn nếu mình xây cái chùa bằng những đồng tiền chân chính, chùa đó nó tốt đẹp, nó êm thắm, êm thắm, nó nhẹ nhàng, êm thắm. Ví dụ như sau này mình cất chùa thì như mình phải kêu gọi sự đóng góp, chứ một mình làm không nổi.
[1:28:23]Nhưng cái cách kêu gọi mình như thế nào thì cái chùa nó sẽ ra như thế đó. Mình kêu gọi gắt gao, kêu gọi ồ ạt, kêu gọi rộng khắp, kêu gọi năn nỉ, ỉ ôi, lừa gạt thì cái chùa mình nữa nó cũng lao xao, lộn xộn, rồi cất xong rồi tu không yên. Còn cái người mà kêu gọi cất chùa kêu nhẹ nhàng, kêu mà như không kêu, ai cúng cũng cúng thôi, để người ta cúng cái đồng tiền người ta rất yên ổn, tâm người ta thanh tịnh người ta bỏ tiền vô, chùa đó nữa lên ở yên ổn. Trong cứu cánh, phương tiện nó ảnh hưởng lẫn nhau như vậy. Cho nên nếu mình nói vì Phật pháp, là vì thần thánh, vì cái nọ mà mình làm điều sai là không bao giờ đạt được, nó là một điều sai lầm.
[1:29:07]Nên có nhiều cái tổ chức chính trị, tình báo họ cũng lấy lý do phục vụ đất nước của họ, họ đi buôn ma túy họ lấy tiền, họ tổ chức bắt cóc, tống tiền, làm tiền giả. Giống như cái đất nước Chechnya Hồi giáo ở miền Trung Á của Nga, họ tuyên bố độc lập, toàn là nhóm Hồi giáo lãnh đạo chuyên môn buôn ma túy nè, làm tiền giả nè, bắt cóc tống tiền, đất nước đó. Nên vừa rồi là họ đòi độc lập thì quân Nga là của Tổng thống Putin đem quân đánh, quyết tâm để tiêu diệt cái nhóm Hồi giáo đó luôn, để không cho một đất nước Hồi giáo đó nữa, đó là điều đúng. Vì họ lấy lý do là vì đất nước rồi làm toàn chuyện bậy bạ.
[1:29:51]Mà đây không phải ít, nhiều lắm, nhiều lắm. Đó là một cái sai đối với đạo lý. Về sau thì Benares bị bệnh ung thư, có lẽ là ông trả cái nghiệp tiền đời, trước ông cũng làm nhiều cái sai, và được tôn giả tiếp lần cuối. Ở đây chúng ta để ý này, là lúc mà Tôn giả thuyết pháp thì sau đó có lẽ ông cũng tu được một thời gian, ông tu theo lời dạy của Tôn giả, đã thay đổi những cái việc làm của mình lại cho đúng là làm chân chính, chứ không có làm điều bất thiện nữa, nên cũng được cái phước. Nên cuối cùng khi nghe mà Tôn giả nói về cảnh giới Phạm Thiên, rồi ông tác ý hướng tâm rải tâm từ, bi, hỷ, xả khắp nơi, nhờ cái tác ý cuối cùng cộng với cái một cái thiện
[1:30:41]nghiệp một thời gian mà được Tôn giả dạy dỗ vậy, ông sinh về cõi Phạm Thiên luôn. Trong này chúng ta để ý có cái này là: ngạ quỷ được xem là cao hơn súc sinh. Là vì sao? Vì vẫn là được giá trị coi là con người. Như khi chúng ta mất, nếu mình không sinh về cõi trời thì mình không phải đọa địa ngục, súc sinh, thì mình ở trong trạng thái đây là gọi là vong linh. Thì vong linh này vẫn được coi là con người. Thì vong linh này có những vong linh có phước, được người ta cúng tế cho ăn đầy đủ, có nhiều người đi theo hầu. Có những vong linh mà thiếu phước thì đói khổ, ít ai cho ăn. Nhưng vẫn được xem là con người trong cái thế giới vô hình
[1:31:24]đó, nên vẫn được coi là có giá trị hơn súc sinh. Đây chi tiết nhỏ chúng ta để ý. Tôn giả dừng lại ở cái cảnh giới Phạm Thiên để dạy Đà Nặc Xà Ni vì ông biết rằng là nói cao nữa ông này bắt đầu hết hiểu, tâm không có an trú được. Đây là cái khéo léo. Chỗ này chúng ta phải học, mà Phật cũng không trách là vì Ngài biết quán căn cơ. Ví dụ Ngài muốn nâng cao lên hơn nữa, nhưng mà nghe cao hơn nữa cái ông này ổng rối tâm liền, ổng không an trú được thì ổng không được lợi ích. Thôi thà ngang đó dừng lại, ổng an trú tâm được, hướng tới được, hiểu rõ được, thích thú được, vẫn có lợi hơn. Đó, nên chúng ta giảng pháp cũng vậy.
[1:32:08]Về sau này, khi quý cô đi giảng pháp cũng nhớ. Nhớ là trước mặt mình có nhiều đối tượng, mình phải tùy tâm người ta mà giảng.