[0:29]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa chư tăng trụ trì trụ trì chùa Báo Ân này, kính thưa quý quý khách, quan chức về đây tham dự buổi giảng này, kính thưa tất cả quý Phật tử. Chúng ta đang ở trong một thời khắc thiêng liêng tại một cái nơi chốn thiêng liêng.
[0:57]Thời khắc thiêng liêng là gì? Vì hôm nay cũng đúng là ngày giỗ của Đức Hương Vân Đại Đầu Đà, Điều Ngự Giác Hoàng, Sơ Tổ của Trúc Lâm Thiền phái, Trần Nhân Tông.
[1:15]Hôm nay là ta kỷ niệm 703 năm ngày mà người về về cõi Niết Bàn.
[1:26]Ở Hà Nội cũng có vài nơi tổ chức hội thảo. Chúng ta đến cái nơi chùa này ngày xưa người đã hoằng hóa, cũng tại nơi ngôi chùa này ngày xưa Sơ Tổ Trúc Lâm đã truyền trao cái y bát mạng mạch Phật pháp lại cho Nhị Tổ Pháp Loa và cũng chính tại nơi cái ngôi chùa này là ngài Pháp Loa đã lãnh đạo Phật giáo thời Trần. Và phải xem nơi ngôi chùa Báo Ân này là một cái trung tâm của cái Phật giáo của Giáo hội thời đó.
[2:06]Vậy mà cái chùa mất dấu vết luôn.
[2:11]Mãi đến năm 1998, 97 98 là Đại đức Thanh Phương cất công đi tìm trong nhiều năm rồi mới đến lại được cái ngôi chùa này, thấy được cái bia ký, đọc trên cái bia ký mới biết đây chính là cái ngôi chùa Báo Ân mà nổi tiếng lừng lẫy hưng thịnh vào đời xưa. Buồn như vậy, hoàn toàn không còn gì nữa. Bây giờ ta thấy nhà này nhà kia là thầy Đại đức Thanh Phương đã xây lại, rồi thầy xây lại cổng, xây lại tạm tường rào. Chứ ngày xưa cái ngôi chùa này đất là nhìn không thấy ranh giới. Vì đây là cái trung tâm Phật giáo mà. Nên khi mà ngài Nhân Tông Điều Ngự Giác Hoàng về đây giảng kinh rồi giao phó chúc lại cho Nhị Tổ Pháp Loa,
[3:09]ngài cũng năm đó ngài tịch, ngài Pháp Loa mới về đây trú trì mà làm nên vô số Phật sự, độ không biết bao nhiêu tăng chúng, dịch bao nhiêu bài kinh, giảng biết bao nhiêu pháp hội. Mà vua Anh Tông tức là con của vua Trần Nhân Tông đó và các công chúa cúng vào đây xây dựng rất nhiều cái công trình đền đài hạng mục và cúng cả đất ruộng quanh đây tràn ngập hết, rộng mênh mông. Rồi trước là dòng sông Thiên Đức rất là đẹp. Mà cái chùa Báo Ân này thì có cái sự tích từ đời Lý lận. Đây là một nơi phong thủy đẹp và đã có một thời cực kỳ hưng thịnh. Mà sau khi mà ngài Pháp Loa truyền cái ngôi Tổ lại cho ngài
[3:54]Huyền Quang thì do vì là Sơ Tổ lo lắng trên Yên Tử không cái cái gốc của Tổ trên Yên Tử không có người giữ gìn. Cho nên dặn là sau đó ngài Tam Tổ Huyền Quang phải về Yên Tử mà giữ chùa trên đó nên cái Pháp Loa không có cái vị Tổ thứ ba để giữ, là những vị kế thừa giữ gìn mà thôi. Không biết làm sao thì sau đó thì cứ cố gắng duy trì chứ không có không có không có được là hưng thịnh như vào cái thời Nhị Tổ Pháp Loa. Đến khi triều Trần đã suy mạt thì nhà Hồ soán ngôi. Nhà Hồ soán ngôi thì lập tức nguyên một phái của Trúc Lâm nói phải nói ta dùng cái từ giống như là là tránh mặt á, hay là lặn mất luôn,
[4:48]tránh mặt, tức là chỉ qua cái triều đại nhà Trần chút là cái dòng phái Trúc Lâm là tránh mặt hết. Vì cái sự soán ngôi của nhà Hồ ừm làm cho mọi người lo lắng. Đến khi mà cái nhà Minh sang chiếm nước ta thì
[5:06]mấy mươi năm á, 20 năm đó ta ta không có phát triển Phật giáo được. Đến khi Lê Lợi mà giành lại được đất nước thì nhà Lê lại chú trọng Nho học hơn nên Phật giáo, Thiền tông và dòng Trúc Lâm là suy dần rất là nhanh. Ngày hôm nay ta chỉ còn cái ngưỡng vọng lại vào cái dấu vết của thời xưa và lấy làm buồn tiếc. Tuy nhiên, cái tinh thần của cái Thiền tông hay Phật giáo đời Trần thì mãi in trong dấu ấn của tâm hồn của dân tộc. Ngày hôm nay a đất nước ta đã hòa bình độc lập thống nhất thì nhà nước ta nhìn lại với cái sự công bằng đã đánh giá rất cao cái sự đóng góp của Phật giáo trong thời Lý, thời Trần mà đã làm nên một đất nước Việt Nam
[6:04]hùng mạnh và kiêu hãnh trong cái thời đó. Trong cái thời mà các quốc gia đều phải bị vó ngựa Mông Cổ giày xéo mà cha ông ta đã ba lần đánh bại họ. Cho nên cái chiến công này làm cả thế giới khi mà đọc lại lịch sử phải khâm phục.
[6:26]Hôm nay ta sẽ nói vài điều. Thứ nhất, ta sẽ giới thiệu lại cuộc đời của Sơ Tổ Trần Nhân Tông. Rồi thứ hai, ta sẽ nói về cái những cái tính chất, cái đặc điểm từ nơi nơi ngài Điều Ngự Giác Hoàng mà ta có thể học để áp dụng trong cái cuộc sống tu hành và phụng sự trong thời hiện đại của chúng ta hôm nay. Và thứ ba, ta cũng cất cái lời kêu gọi là nhà nước, Phật giáo và Phật tử ta phải phục dựng lại cái ngôi chùa thiêng liêng này. Nơi cảnh trí rất là đẹp mà lại hoang tàn, đau lòng quá. Đấy, hôm nay ta có ba việc như vậy. Thì sẵn hôm nay là ngày giỗ của Sơ Tổ Trúc Lâm, ta cũng sẽ nói về cuộc đời của ngài cho mọi người biết qua một chút ha.
[7:25]Ngài à sinh năm
[7:29]à 1258. Trong cái năm đó thì có mấy sự kiện thế này. Lúc đó là vua à cha ngài là Trần Thánh Tông chưa lên ngôi. Nhưng vì sinh ngài coi như có người nối dòng thì mới được cho lên ngôi. Mặc dù lúc đó là Thượng hoàng Trần Thái Tông còn sống. Nhưng mà à Thượng hoàng, tức là ông nội đó, ổng nhường ngôi liền vì thấy người con trai này sinh được một người con trai nữa, tức là dòng vua không mất. Cái đó quan trọng lắm nha. Nghĩa là có con trai thì người này mới chọn được cái dòng bên đó mới được chọn để mà nối tiếp. Chứ nếu không sinh được con trai là phải chọn thái tử, chọn vua qua người khác liền. Nhưng vì vua Trần Thánh Tông cũng rất là có đức,
[8:18]năm ngài ngài 18 tuổi thì sinh ra Trần Nhân Tông cho nên được vua cha Thái Tông cho lên ngôi luôn để vua cha Thái Tông lên làm Thái Thượng hoàng. Nhưng cũng năm đó ta đánh một trận quân Nguyên lần đầu tiên. Đó, và năm đó là Thượng hoàng Thái Tông là 40 tuổi và năm đó là quân Nguyên đánh ta lần đầu. Cho nên ta thấy cái tình cảnh lúc đó đó, khi quân Nguyên đánh từ cái đường Vân Nam đánh sang, thế lực của giặc rất là mạnh nhưng mà không đông. Nhưng mà lúc đó đất nước, triều Trần ta lại còn non trẻ thì ta cũng đánh bằng kế hoạch là lấy nhu thắng cương, lấy không đánh có, giặc đánh vào giống như đánh vào hư vô, ta trốn sạch.
[9:03]Nghe chữ trốn thì giống như là không anh hùng. Nhưng mà ta là nước nhỏ, người yếu, ta đánh cái ta chống lại giặc theo cái theo cái cách của quân sự là lấy nhu thắng cương. Giặc đánh vào, đánh vào hư vô, ta trốn hết. Để chi vậy? Bây giờ ai đánh mình, mình chạy trốn thì phải là anh hùng không? Thấy như hèn nhát ha, nhưng không.
[9:26]Đó là sự khôn ngoan của quân sự. Tại vì nếu ta đương đầu thì lính ta chết, ta mất lực lượng. Mà ta mất lực lượng thì thì thì làm sao đánh lại? Cho nên nó đang mạnh, ta trốn cho nó đánh. Đến nỗi mà khi cái tên tướng Mông Cổ vào trong chiếm luôn được kinh đô của nhà Trần, cái ngồi lên nó đi vào trong ngai vàng nó ngồi. Nó ngồi nó nhìn thấy cái nhà ta bé bé, thấp thấp á, cũng y như mấy cái nhà ta đang như thế này nè. Nói cái cung điện ngày xưa nó cũng bé bé như vậy, chứ nó không có cao lớn, nguy nga như là là là trong phim Tàu đâu, không phải. Cái thời đó ta cũng vậy, cũng nhà bé bé thế này, vì cái cột gỗ nó không cao.
[9:58]Cất cái tên tướng Mông Cổ ngồi đây cái nó nhìn, nó nhìn lát cái nó nói: "Thôi, làm vua nước này không sướng." Làm vua nước này không sướng, nhưng mà lệnh đánh chiếm là phải đánh chiếm. Thì trong mười mấy ngày bắt đầu ta phản công, ta đánh lại đuổi ra khỏi đất nước mình trong một tháng một, đánh bay liền. Là rồi mãi mãi tới 27 năm sau bắt đầu nó mới trở lại đánh lần thứ hai. Rồi, thì cái năm mà xảy ra cái sự kiện đó, vừa phải đánh giặc, rồi vừa phải sinh cháu nội, vừa phải nhường ngôi, mà cùng một năm đó luôn 2000 à 1258, là năm đó là ngài Trần Nhân Tông ta ra đời. Đó là sự kiện như vậy. Thì ta biết là vua Trần Thái Tông là một người như thế nào?
[10:43]Cái dấu ấn của ông nội Trần Thái Tông để lại lên trên cuộc đời của Trần Nhân Tông là cực kỳ lớn. Nhưng mà sử không ghi. Đó là một điều thiếu sót. Khi mà sau này, khi nói về ngài Trần Nhân Tông là được ngộ đạo với lại Tuệ Trung Thượng Sĩ, đó là ngài khi lúc rảnh rỗi, ngài mời các thiền sư đến để đàm đạo về đạo lý, và ngài thường đến tham học với Tuệ Trung Thượng Thượng Sĩ thâm đắc đến thiền tủy. Đó là nguyên văn trong là là là Tam Tổ Thực Lục á, là "thâm đắc đến thiền tủy". Thì ta đọc đó xong ta cứ nghĩ là ta cứ nghĩ là ngài ngộ đạo từ nơi Tuệ Trung Thượng Sĩ, thì điều đó không phủ nhận, nhưng sự thật ngài học đạo được
[11:26]từ nơi ông nội Trần Thái Tông và cha ruột của mình là Trần Thánh Tông. Chỉ có cái là ngài Trần Thánh Tông á ta không ghi lại được cái sự kiện là ngài đốn ngộ, mà chỉ ghi sự kiện ngài Trần Thái Tông đọc kinh Kim Cang đến cái câu mà "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" thì ngộ đạo, thành một thiền sư cư sĩ, trứ tác rất nhiều và để lại những thiền ngữ độc đáo. Ta chỉ biết là ngài Trần Thái Tông là ông nội ngài, còn cha ngài là Trần Thánh Tông, sự thật Trần Thánh Tông cũng là một thiền sư mà không được ghi rõ ràng thôi, nên ta có ba ông thiền sư nối tiếp nhau: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông.
[12:02]Nhưng mà Trần Thánh Tông sau này khi mà việc nước yên rồi ngài cũng lui về ngài tu tập và tu rất tinh tấn. Có điều những cái sở ngộ của ngài không thấy được ghi, không được ghi lại, nên ta chỉ xem ngài Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông là thiền sư thôi. Bỏ qua Trần Thánh Tông, nhưng sự thật là Trần Thánh Tông cũng rất vĩ đại. Và vua Trần Nhân Tông từ nhỏ là đã thấm nhuần đạo lý từ nơi ông nội mình và cha mình, và nhất là ông nội. Đến năm mà ngài 19 tuổi thì ông nội mới mới mất. Còn bây giờ ta nói nè, năm mà ngài 6 tuổi á, khoan trở lại năm 6 tuổi, có một sự kiện lớn ở trong đời ngài, đó là Trần Thủ Độ mất.
[12:50]Năm đó là năm mà ngài được 6 tuổi thì Trần Thủ Độ mất, thì ngài cũng chưa hiểu hết về cái vai trò của Trần Thủ Độ đối với nhà nhà Trần. Tức là vua Trần Nhân Tông lúc đó thì còn bé, ngài chỉ nghe người nói này nói kia thôi, không biết rằng việc mà dựng được cả cái triều đại nhà Trần chính là nơi cái con người này. Người Trần Thủ Độ này là đã ép nhà Lý đã nhường ngôi cho nhà Trần, và Trần Thủ Độ là mạnh dạn làm công việc đó. Khi chiến tranh xảy ra với quân Nguyên lần thứ nhất, toàn dân toàn quân đoàn kết dưới sự lãnh đạo của vua Trần Thái Tông đánh bay quân Nguyên. Thì như vậy là lòng dân đã đi theo triều đại nhà Trần, một lòng theo nhà Trần.
[13:31]Khác với lúc triều đại nhà Hồ, khi mà quân Minh sang đánh, dân không theo nhà Hồ. Nhà Hồ bị thua siểng liểng, đánh đâu tiêu tan tới đó, rồi cả vua cha con bị bắt đi hết luôn. Khác nhau. Tại sao vậy? Tại sao là dân theo nhà Trần mà sau này dân không theo nhà Hồ? Lý do. Lý do ở đâu ai biết? Chuyện này không nhỏ đâu, đây là chuyện lớn đây. Đây là một cái vấn đề lớn của chính trị quốc gia,
[14:03]mà bất cứ nhà lãnh đạo nào cũng phải biết điều này. Tại sao? Xin thưa chỉ vì một điều: lúc đó Trần Thái Tông trốn triều đình lên Yên Tử tu, chỉ nhiêu đó thôi. Là sao? Là khi mà Trần Thủ Độ ép Trần Thái Tông phải lên ngôi, miễn làm sao mà nhanh quyền lực cho nhà Trần thôi, vì Trần Thái Tông sống trong cái cảnh oan trái, tức là ngài bị ông Trần Thủ Độ đặt vào cái hoàn cảnh ngài ngài chịu không nổi, và sẵn là ngài là người mộ đạo, trong đêm ngài trốn lên Yên Tử ngài tu. Thì Trần Thủ Độ mới kéo lên đi đi tìm về, thì lúc đó là ngài Quốc sư Phù Vân cũng ép ngài quay trở lại kinh đô, mà Trần Thủ Độ cũng nói:
[14:50]"Vua ở đâu thì triều đình ở đó, nếu mà ngài không chịu về ngài ở luôn Yên Tử thì triều đình lập tại đây", không có gì mà nói. Mà ông Trần Thủ Độ thì ổng nói như sấm như sét thế. Thế là thôi trước cái sự khuyên lơn của Quốc sư Phù Vân thì ngài Thái Tông trở về. Cái chuyện mà ngài bỏ ngai vua trốn lên núi tu nó nó đồn một cái lan ra cả đất nước này. Thì lúc đó người dân họ nghĩ sao về ông vua? Nghĩ rằng ông vua này có phải là người cướp ngôi không? Không. Ông vua này là người có đạo đức không? Có. Ông vua này là con người thuần thành với đạo Phật mà lúc đó đạo Phật là quốc giáo nữa, từ đời nhà Lý đã truyền lại.
[15:29]Thì như vậy về vấn đề tâm linh thì ông vua này có sai không? Vua quá tuyệt vời. Thế là toàn dân yêu mến, mà không phải là ngài giả vờ đâu, ngài thật lòng. Nên chính vì nơi đạo Phật, chính vì cái cái lòng mộ đạo ngài đối với Phật giáo một cách chân thành mà ngài lấy được hết trái tim của toàn dân Đại Việt từ thời đó. Đó là cái lý do nha, ta nhớ như vậy. Cho nên sau này ai muốn lấy trái tim của toàn dân Việt cứ làm ơn trốn lên núi đi tu giùm thầy thì sẽ được mọi người thương nha. Ai vậy. Còn đó, quý thầy là đã đi tu hết là sẽ được mọi người yêu mến, toàn dân Việt yêu mến là như vậy. Cái điều này rất là quan trọng mà sau này nhà Hồ không có.
[16:16]Nhà Hồ không học được bài học xương máu đó, Hồ Quý Ly đã không nhìn thấy điều này. Cho nên ổng quên mất lòng dân. Mà lòng dân là cái gì? Là cái tâm linh tín ngưỡng của Phật giáo mới là lòng dân. Hồ Quý Ly không biết điều này và ổng coi thường điều này nên mất hết lòng dân, đánh thua bị thua quân Minh liền. Chứ Hồ Quý Ly không phải là người kém tài, Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương con của Hồ Quý Ly không phải kém tài. Đến nỗi mà Hồ Nguyên Trừng sau khi bị bắt đem qua Trung Quốc, Trung Quốc giao cho cái chức gì quý Phật tử biết không? Thượng thư Bộ Binh, bây giờ là ta gọi là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
[16:55]Cái chức đó không thể giao cho người ngoài. Chức đó phải là hoàng thân quốc thích nắm, tại khi nắm quân đội là nắm hơn phân nửa quốc gia này. Ví như bây giờ ta cũng vậy, bây giờ như là Bộ Quốc phòng của ta như vậy, thấy thì im im lặng lặng nhưng sự thật người đó nắm hơn phân nửa quốc gia này. Phải nói là không thua kém bất cứ vị lãnh đạo nào, vì quan trọng vô cùng, nếu không có bộ đó ta mất nước liền, nó đánh tan liền. Nó sợ không dám đánh ta vì có Bộ Quốc phòng nằm đó. Thì Hồ Nguyên Trừng qua bên đó đến nỗi mà nhà nước Trung Hoa, quân Minh phải phong làm Thượng thư Bộ Binh tức là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
[17:30]thì ta hiểu con người này không phải là kém tài, siêu đẳng về tài năng. Nhưng mà tại sao qua bên đây đánh thua? Chỉ vì không có lòng dân. Mà Trần Thái Tông nhà Trần thì lại được điều đó mà không phải do Trần Thủ Độ, mà chính do do lòng mộ đạo của vua Trần Thái Tông. Thì cái sự kiện này ta phải để ý rất là là là nhiều. Đến khi mà ngài Trần Nhân Tông lên 16 tuổi thì ngài được chính thức phong làm Hoàng thái tử, tức là người sẽ kế vị ngôi ngôi vua. Đó là năm 16 tuổi.
[18:03]Nhưng đến năm đó 17 tuổi thì Ngài cũng lấy vợ luôn. Mặc dù là rất là mộ đạo, nghĩa là Ngài ham tu nhiều nhưng mà vì sự vận mệnh của của của triều đại, của quốc gia phải lấy vợ, là lấy rất là sớm vào thời đó. Qua năm sau 18 tuổi là Ngài sinh con, đó là Trần Thuyên sau này là Trần Anh Tông, đó như vậy. Và ta phải để ý điều này: Đời một con người mà sống với ông nội từ 1 tuổi đến 19 tuổi thì cái dấu ấn ít hay nhiều ạ? Quá nhiều, đó là tuổi trưởng thành mà. Mà thời xưa ta nhớ là trưởng thành sớm hơn thời nay. Thời xưa là 15 16 tuổi ý thức người ta đã cao rồi, nên cái người mà 40 tuổi 50 tuổi là coi như là già rồi.
[18:50]Còn bây giờ mình 40 tuổi 50 tuổi sao? Vẫn còn nhìn thấy rất trẻ, thậm chí mình nhìn một người 60 tuổi mình còn buột miệng: "Ồ, ơ còn trẻ quá nhẹ." Thật ra là sao? Hồi xưa là 60 tuổi đã chết rồi, đám giỗ đâu mấy đời rồi. Nhưng mà hồi thời... thời xưa đó là 4 50 tuổi là đã già và 19 tuổi là cực kỳ trưởng thành. Thế nên là khi mà Ngài sống với ông nội tới năm 19 tuổi thì cái dấu ấn của ông nội để lại rất là lớn. Lớn ở chỗ nào? Lớn ở chỗ là năm 15 tuổi Ngài cũng bỏ nhà trốn triều đình lên núi Yên Tử tu một lần nữa, lặp lại cái việc làm của ông nội ngày xưa. Mà Ngài lặp lại vì vì sao? Vì trong lòng Ngài chỉ có Phật pháp thôi, chỉ có sự tu hành giác ngộ thôi.
[19:42]Bởi đất nước ta có cái những cái điều lạ như vậy. Đất nước ta có những điều lạ là có những ông vua cái ngôi báu ai không thèm, phải không ạ? Mình bây giờ cho cái chức chủ tịch xã là mừng thấy mồ luôn rồi, phải không ạ? Ở đây phải không? Thấy có ai chủ tịch xã không? Còn ở đây có hai người ở trên ngôi cao, vua, bỏ đi tu. Chính cái mà lòng không ham quyền quý, vinh hoa danh vọng á, nó thành cái đức lớn không thể tưởng tượng, cái đức lớn không thể tưởng tượng, nên Ngài Trần Nhân Tông cũng vậy, cũng trốn triều đình đi tu. Sau đó là vua phải lôi về, rồi phong làm hoàng thái tử, rồi cưới vợ cho. Cưới được vợ rồi đẻ đứa con rồi thôi yên tâm rồi
[20:23]bắt đầu rồi mới là không sợ là trốn đi tu nữa. Chỉ cứ như vậy, với lại các triều đại và chính cái chỗ này sau này khi mà giặc tan, đất nước thái bình, thì trong đó có một ông quan tên là Trương Hán Siêu. Ông quan này ổng sống cả trăm tuổi á. Tuổi ổng tương đương với Ngài Trần Nhân Tông mà ổng mất sau Ngài Trần Nhân Tông 46 năm. Và sau này khi các triều đại vua từ sau đời vua Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông vân vân thì Trương Hán Siêu là một đại thần giữ gìn cho triều đại nhà Trần không lung lay. Tức là từ bên ngoài giặc yên ấm, bên trong triều đình không ai dám phản loạn vì có Trương Hán Siêu.
[21:07]Lúc đó là Phạm Ngũ Lão lại cũng mất sớm. Phạm Ngũ Lão cũng là một cột trụ của triều đình, nhưng mà Phạm Ngũ Lão cũng mất sớm. Đây là một mình Trương Hán Siêu giữ gìn cho cái triều đại nhà Trần. Đến khi Trương Hán Siêu mất một cái rồi là xong luôn, là Chu Văn An chịu không nổi phải trốn đi. Thì sau này khi mà giặc tan hết rồi, Trương Hán Siêu lúc mà làm quan rảnh việc mới về thăm lại dòng sông Bạch Đằng, ổng mới làm một bài phú nổi tiếng luôn là bài gì? Bài gì? Trời trời, học lịch sử gì kìa. "Bạch Đằng giang phú", nha. Bạch Đằng giang phú thì ông kể lại cái kỷ niệm ngày xưa đánh giặc, mà ổng nói là:
[21:49]Nhìn dòng sông mà buồn ủ mặt, tức là nhớ người xưa mà lệ chứa chan, tức là rất là tình cảm vậy đó. Mà ổng kết luận lại cái cuộc chiến thắng đối với quân Nguyên, ta phải đọc bốn cái câu đó để hiểu về nhà Trần. Bốn câu đó thế này: "Anh minh hai bậc thánh quân, Sông này rửa sạch mấy lần giáp binh. Giặc tan muôn thuở thanh bình, Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao." Ông kết luận hai câu này là một bài học muôn đời cho hậu thế.
[22:29]Ta hiểu không ạ? Thầy phải giảng lại chút xíu để mà ta ta ta ta phải dựa vào bốn câu thơ cuối này của Trương Hán Siêu để hiểu về nhà Trần, tại sao nhà Trần vĩ đại. Chớ ban đầu á cái công lao mà đánh giặc lớn nhất là của ai?
[22:48]Công lao đánh giặc lớn nhất là của ai? Trần Quốc Tuấn Hưng Đạo Vương, phải không ạ? Ông là người tiết chế mà, tức là thống lãnh binh và đánh giặc điều này điều binh điều kia, nên nói mà công lao phải nói Trần Hưng Đạo, không thể phủ nhận. Và công lao đó lớn đến nỗi là ta lập đền thờ Trần Hưng Đạo khắp nơi trên đất nước này và tỉnh nào cũng có con đường Trần Hưng Đạo. Trần Nhân Tông thì có tỉnh có tên đường, có tỉnh không nha, nhưng Trần Hưng Đạo là tất cả tỉnh nào cũng có cái đường Trần Hưng Đạo. Công lao lớn đến vậy, đức độ lớn đến đến vậy, và phong làm thánh luôn! Nghĩa là ở trong đạo Phật thì xưng Ngài Trần Thái Tông,
[23:25]Trần Nhân Tông làm thánh, nhưng mà đối với xã hội hai ngài đó không phải thánh à, chỉ có Trần Hưng Đạo mới là thánh thôi. Công lao lớn đến vậy. Nhưng mà cái nhìn của Trương Hán Siêu thì khác. "Anh minh hai bậc thánh quân" là ai? Hai ông vua là ai? Trần Nhân Tông và Trần Thánh Tông, chứ không phải Trần Thái Tông. Bởi vì đời Trương Hán Siêu ông không rành lắm về Trần Thái Tông, ông chỉ đọc qua sử, nhưng mà trong cuộc đời ông vừa chiến đấu và làm quan thì ông chỉ biết hai vị vua thôi: Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông. Và ổng cho rằng cái công lao mà hai trận đánh khiếp đảm dữ dội vừa rồi á là nhờ hai vị này:
[24:04]"Anh minh hai bậc thánh quân, Nước sông rửa sạch mấy lần giáp binh", tức là bây giờ nhìn dòng sông Bạch Đằng nó trôi êm đềm vậy nhưng mà ngày xưa là máu nhuộm đỏ cả dòng sông, xác người trôi đầy và gươm giáo rơi đầy cả cái lòng sông. Nếu mà xuống dưới mò lên sẽ nhặt được rất nhiều gươm, nhiều nhiều giáo. Nhưng mà rồi mấy mươi năm trôi qua, dòng sông nó đã hiền hòa thanh bình lại, nó đã rửa sạch hết những dấu vết chiến tranh đó: "Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh, Giặc tan muôn thuở thanh bình." Tức là bây giờ mọi người được sống trong cảnh thái bình thì vì thế này: "Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao." Không phải vì dòng sông hiểm,
[24:47]không phải vì ngọn núi là là nguy, mà ta không phải là vì cái thế đất của ta hiểm trở mà ta gài thế trận ta đánh thắng. "Bởi đâu đất hiểm", tức là chiến thuật ta giỏi, chiến lược ta giỏi, mà ta đánh thắng giặc đâu, không phải đâu, mà cái cốt đầu tiên á, cái lõi của sự chiến thắng vẫn là gì? Cái đức của hai ông vua đó: Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông. "Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao." Chỉ cái câu này thôi nói toạc ra hết được cái ân nghĩa của triều Trần đối với quốc gia mình. Là cái đức của những vị vua Trần rất lớn, chính cái đức độ này đã nhiếp phục được toàn dân, chính cái đức độ này đã tập hợp được sức mạnh của
[25:28]toàn dân, chính cái đức độ này mà xuất hiện vô số người tài phò vua giúp nước, và chính cái đức độ này là đánh đánh những trận thắng oanh liệt để đời cho Việt Nam và cho cả thế giới phải học tập. Mà chính những trận đánh này đến nỗi mà vua quan Nguyên những đời sau không bao giờ dám đụng tới Đại Việt nữa. Mà cho đến ngày hôm nay, khi mà anh em Trung Quốc của ta bên kia phải nhớ lại những trận đánh này mà vẫn phải ngại ngùng. Ngày hôm nay vẫn phải ngại ngùng. Đó chính cái đó, chính cái đức của hai vị vua Trần: "Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao." Nên bốn câu thơ này tuy gọn, nhưng mà nói hết được cái lõi,
[26:11]cái giá trị của vua, của các triều đại vua Trần đối với đất nước ta. Nên vậy, Đến năm
[26:22]Ngài 20 tuổi thì Ngài lên ngôi. Là vua cha Thánh Tông nhường ngôi cho Ngài và vua Thánh Tông lên làm Thái thượng hoàng. Và Ngài có 7 năm
[26:38]vừa tu hành vừa lo việc nước và chuẩn bị chiến đấu chống quân Nguyên. Bởi vì sao? Là năm Ngài 27 tới Ngài 28 tuổi là cái chiến tranh quân Nguyên Mông lần thứ hai xảy ra.
[26:55]Trong thời gian đó thì khi Ngài lên ngôi vua thì vua Trần Thánh Tông
[27:04]Cùng với Trần Hưng Đạo, Trần Ích Tắc, cùng với các hoàng thân quốc thích chuẩn bị chiến tranh. Vì bên kia là nhà Nguyên đã bắt đầu lấy được Nam Tống rồi. Cái thời mà trận đánh quân Nguyên lần thứ nhất á, là Mông Cổ mới chiếm được phân nửa cái nước Trung Hoa ở phía Bắc thôi, đánh xong hết các nước Chân, các nước là à nước Kim, à các nước Nữ Oa gì, Nữ Chân, nước Kim lấy hết rồi, nhưng mà vẫn chưa lấy được phía Nam của của Trung Hoa. Thì đến ngày hôm nay, qua hai mươi mấy năm, thì quân Nguyên đã chiếm luôn xong phân nửa nước Trung Hoa còn lại. Và lúc đó triều đình nhà Trần dư biết rằng đã tới lúc mình phải đối mặt với kẻ thù rồi.
[27:50]Đã 27 năm rồi, 27 năm. Cho nên là đã tới lúc và Trần Hưng Đạo và cả vua Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông là ngày đêm bàn tính việc nước. Nhưng mà có một việc là vua Trần Thánh Tông cực kỳ sáng suốt, ông hiểu điều này. Ông hiểu là 27 năm trước, cha mình đánh thắng quân Nguyên bởi vì lòng dân đã quy phục đi theo. Mà ngày nay quân Nguyên qua lại, không biết chắc là lòng dân có theo mình để đánh đánh giặc hay không. Vì ông vẫn mơ hồ trong những cái tin tức mà ông nắm và những ý kiến của triều đại, thì ông phảng phất thấy rằng trong triều đình không nhất tâm đánh quân Nguyên, không nhất trí, không quyết lòng đánh quân Nguyên.
[28:37]Là vì sao vậy? Là trong buổi họp mà trong buổi họp triều đình từ trong lúc những người mà thân cận nhất, bí mật nhất cho đến với họp đại thần lớn ra thì ý kiến mà chiến đấu chống quân Nguyên không không nhất tâm. Có những người bàn vào, người bàn ra, và rất nhiều người bàn ra: không đánh, đầu hàng, chấp nhận dâng nước này để cho quân Nguyên phong cho mình rồi mình để yên. Và ý kiến của Trần Ích Tắc là nổi bật, mà Trần Ích Tắc là em ruột của Trần Thánh Tông. Chính người em ruột nắm cái ngành tình báo hết lại là người chủ bại, chủ hòa. Cho nên vua Trần Thánh Tông mới lấy lo, ngay trong triều đình mà không quyết lòng đánh giặc thì làm sao đánh?
[29:20]Cứ người bàn ra bàn vào. Thế vua Trần Thánh Tông mới có một sáng kiến cực kỳ, nhưng lòng dân là quyết định. Thế là ngài mới làm gì? Đúng, là 6 năm sau khi vua Trần Nhân Tông lên ngôi. Tức là là lúc đó vua Trần Thánh Tông còn làm Thái thượng hoàng, ngài ra lệnh triệu tập các bô lão lại. Mà ngày xưa cái tiếng nói các bô lão rất là lớn. Nói chứ bô lão là mấy tuổi?
[29:51]Không dám đâu, ngày xưa bô lão là mới 40 tuổi. Cho nên mấy ông mới từ xa mà lặn lội về kinh đô được, chứ mà như ta bây giờ bô lão hiểu là 6, 70 tuổi làm sao mà lặn lội đi về kinh đô họp được, phải không? Nên đây là chỗ mà ta hiểu nhầm á, ngày nay ta đọc sách chỗ này ta hiểu lầm hết. Ta hiểu lầm là là là là các bô lão là ông nào tóc dài đi lụm khụm lụm khụm làm sao về làng mà chỉ đạo con cháu. Nhưng sự thật lúc đó 40, 45, 50 là đã gọi là bô lão rồi, đó. Ví dụ mấy thầy đây chứ hồi đó là bô lão, bây giờ còn trai trẻ thanh niên như vậy chứ nếu mà sống vào thời đó là bô lão hết rồi. Thì vua Trần Thánh Tông mới triệu tập hội nghị Diên Hồng.
[30:30]Không có nói nhiều, vua đứng lên, vua mới nói về tình hình, ngài nói là: "Quân Nguyên đã chiếm xong Nam Tống, và sứ giả sang đây cứ hạch hỏi đủ thứ, và cái ý đồ khiêu chiến chiếm đất ta đã lộ quá rõ. Và bây giờ vua muốn nói rằng tuy vua làm vua, nhưng mà ý dân mới là ý trời." Vua nói vua nói hay lắm, ý dân là ý trời. "Nên hôm nay vận mệnh của đất nước Đại Việt này trẫm để cho các bô lão quyết định. Tức là các bô lão quyết định như thế nào, trẫm sẽ làm theo như thế đó. Và bây giờ trẫm hỏi và trả lời trẫm một chữ một thôi, là trước vận nước như thế: Hòa hay đánh?" Chỉ có một chữ trả lời phát ra muôn
[31:19]bao nhiêu con người chỉ nói một chữ một: "Đánh!", vang ầm trời ra, "Đánh!". Rồi xong, vua mới lấy cái quyết tâm của dân đó mới ép triều đình trở lại. "Từ đây trong triều đình ai mà nói tới chữ hòa, ai nói tới chữ mà đầu hàng: chém đầu!"
[31:40]Đó, lần thứ hai đó, ta đánh giặc là bởi cái hội nghị Diên Hồng, lấy được lòng dân để làm sức mạnh. Mà đời đó thì Trần Thái Tông thì chỉ trốn lên núi mà lấy được hết lòng dân, còn Trần Thánh Tông thì lấy cái hội nghị Diên Hồng và ta xem đó là một cái hội nghị dân chủ đầu tiên của đất nước ta, và cũng coi xấp xỉ như đầu tiên của thế giới vậy, đặc biệt như vậy. Lúc đó Trần Ích Tắc mới thấy là lòng dân đã theo vua, triều đình thấy cũng phải theo vua, vua ra lệnh, và Trần Ích Tắc đành phải một mình mà móc nối với quân Nguyên để sau này chạy theo quân Nguyên, thành một cái nỗi nhục muôn đời là vậy. Vì thì thì đến mà năm sau, là đúng năm sau là giặc qua, là năm đó là ngài 27 tuổi.
[32:27]Năm đó chưa có Bạch Đằng đâu, trận Bạch Đằng là trận thứ ba. Và cũng vậy là ta đánh một trận trận tan tành, đó. Và ngài có một thời gian
[32:40]ngài có một thời gian 3 năm, thì trong đó là 2 năm sau khi đánh giặc rồi, 2 năm sau là năm 29 tuổi thì ngài sinh Huyền Trân công chúa. Và ta nhớ Huyền Trân công chúa là có vai trò gì không ạ? Sau này cái người công chúa đó lấy cho ta hai tỉnh của Chiêm Thành á, châu Ô, châu Lý là ta lấy tới Huế luôn á, là chính nhờ cái cái nàng công chúa này. Tức là ta biết đất đắt hay rẻ ạ? Bây giờ ta mua miếng đất khó không? Khó lắm á. Mà mua luôn hai tỉnh, hai tỉnh mua tới Huế luôn. Thì như vậy giá của công chúa này cao không ạ? Cao lắm á nha, đó cao lắm. Cho nên bà cũng được đặt tên đường ở một số nơi là vậy.
[33:24]Vì chỉ là một thân phận một người nữ, nhưng mà đã lấy được cho đất nước về hai tỉnh trong hòa bình. Là năm 29 tuổi là là vua Trần Nhân Tông sinh ra Huyền Trân công chúa. Và đến năm 30 tuổi ta lại đánh quân Nguyên lần thứ ba. Thì là quân Nguyên thua tất cả hai trận rồi thì rút kinh nghiệm, rút kinh nghiệm ở chỗ này: Là nước Đại Việt nó lém lỉnh quá. Cái chiến thuật của Mông Cổ là đánh nhanh đánh mạnh, ta nhớ phải không ạ? Đánh ào ào và đánh đâu cướp lương thực tại đó để ăn liền. Và cướp đánh đánh tới tấp tới tấp, đến nỗi mà cho phe địch không kịp trốn, không kịp chạy. Tới đâu giết người tới đó, lấy của tới đó và lấy đó làm sức mạnh đánh tiếp.
[34:10]Nó đánh như là nước lũ, không ai trở tay kịp. Nhưng mà qua gặp nước Đại Việt, những con người hiền lành, đẹp trai, nhưng mà đã chuẩn bị trước. Đây là cái công, đây bắt đầu ta mới nói tới công của Trần Hưng Đạo và những người cố vấn tham mưu cho Trần Hưng Đạo. Thì Trần Hưng Đạo mới biết rằng Trần Ích Tắc đã theo cái quan điểm không quyết tâm đánh giặc, cho nên ông phải tự lực một mình đánh chứ không còn trông cậy vào anh em nữa. Thì cái cách đánh như thế nào thì chính là nhân vật Trương Hán Siêu đó. Nhân vật Trương Hán Siêu là một cái môn khách, ngày xưa là học trò của Trần Ích Tắc, bị vu oan phải trốn đi về Ninh Bình.
[34:53]Chỗ mà ngài Trương Hán Siêu trốn về Ninh Bình mà sau này các nhà sử học mới ngạc nhiên á: "Ủa, sao ông đi làm quan cả đời mà đâu có làm gì có thời gian ở Ninh Bình mà làm thơ đồ tùm lum?". Đó là thời gian ông chạy trốn Trần Ích Tắc. Rồi Trần Hưng Đạo mới về móc Trương Hán Siêu về cho mình, bởi vì biết Trương Hán Siêu là người giỏi. Thì Trương Hán Siêu mới vạch nguyên một trận thế cả nước cùng với Trần Hưng Đạo. À lúc đó đây là một kế hoạch bí mật mà ngày hôm nay trong sử không ghi vì đó là bí mật của quân sự. Là Trần Hưng Đạo mới cho mỗi một làng vậy là một binh sĩ về để dạy cho cả làng cách tiến cách thoái.
[35:26]Là khi mà hiệu lệnh từ ở trên trung ương phát xuống một cái thì làng đó phải làm cái gì, biến mất sạch, biến như thế nào, phải tập dượt trước. Thời đó là cả đất nước vào trận. Các bô lão rồi con heo, con gà, con ngựa gì cũng phải vào trận hết, con trâu, con bò gì cũng phải vào trận đánh giặc hết. Là mà cái người binh sĩ là được Trần Hưng Đạo dạy xong rồi, mỗi người binh sĩ đi về làng là chỉ đạo, chỉ huy cả cái làng đó tập dượt. Hễ mà giặc tới hô một tiếng, tiếng hiệu lệnh một cái là làng không còn một bóng người, một con gà cũng không có, kiếm một miếng gạo nấu ăn cũng không có. Nên quân Nguyên lần thứ hai đánh vô ầm ầm ầm ầm đánh vô không có ai hết.
[36:03]Kiếm miếng gạo ăn không ra, kiếm một con heo, con gà để ăn không có, mà cái giếng nước uống lạng quạng chết liền vì đã bị đánh thuốc độc trong đó rồi. Thế là quân Nguyên chới với luôn: đói, uống nước bậy bạ thì bị độc, chỉ ra nước sông uống, mà ra nước sông uống thì bị cái gì? Ví dụ ra nước ao này uống thì được cái gì xảy ra?
[36:26]Bị một cái gì đó mà thời đó chưa có thuốc chữa. Rồi một tháng trời không có gì ăn mà ban đêm thì bắt đầu dân làng đánh à. Dân làng cứ bắn tên vào, bắn tên lửa vào và đập khua đập trống phải thức canh. Thức canh tưởng là đông lắm, thức rồi tới sáng rút đâu mất, tới sáng thì cứ đánh. Cứ là nguyên một tháng, quân Mông Cổ ăn không được, ngủ không được. Ta nhớ thế này: Sức của người Mông Cổ, một người đánh 100 người Việt Nam. Đây là một sự thật nha, sự thật bình thường như thế này. Ví dụ như quý thầy như cỡ này nè, một người lính Mông Cổ đánh 100 người. Cho nên đánh đâu thắng đó. Nghĩa là bắn tên chính xác mà đường gươm nó trên người nó đi nó
[37:06]múa tới đâu rớt đầu người ta tới đó, một người đánh 100 người. Nhưng mà sau khi một tháng không ăn không ngủ thì sao ạ? Ngược lại, chỉ cần một người ta thôi đánh 10 người Mông Cổ. Đi nó đi lảo đảo thế này, nó cầm gươm nó lảo đảo nó xìu xìu xìu thế này, thì ta cứ đạp nó một cái nó cũng té nữa. Đó, đánh mà. Cho nên ta đánh nó một tháng một đuổi sạch về nước luôn, đánh. Thì lần thứ ba nó rút kinh nghiệm, lần này nó đem binh hùng tướng mạnh qua, và gì? Chở lương thực theo. Biết khôn rồi, chở lương thực. Mà chở bằng cách nào? Nếu là ta, ta chở bằng cách nào? Chở thuyền. Bởi vì sao? Nếu chở theo ngựa thì sao? Chở rất ít, mà đi tới nơi chưa đánh giặc thì ăn hết luôn,
[37:48]không còn gì nữa rồi lấy đâu mà giặc đem đánh, cơm đâu mà đánh giặc. Cho nên là tiến quân đi bằng ngựa nhưng mà lương thực thì chở bằng bằng thuyền. Thì xin thưa báo một tin buồn cho quân Nguyên thì Trần Hưng Đạo và Trương Hán Siêu đoán ra điều đó. Ngồi với nhau bàn xong, biết lần này nó sẽ đem lương thực, và để đem lương thực mà đi đường xa chỉ đi đường thuyền. Thì ta làm sao ạ? Thì cướp nó chứ làm sao! Thì nó chỉ có lương thực nó sống hay không sống, ta cũng dùng cái kế hoạch là đánh tới đâu là mất người tới đó, không có ai để cho nó ăn hết. Còn lương thực nó đem theo thì ta phải cướp. Và ai đánh cái trận đó?
[38:28]Ngô Quyền sống thời đó là gần ngàn năm rồi. Đi đi trả lời lịch sử kiểu này là chết nha.
[38:36]Trần Khánh Dư, ờ đó Trần Quang Khải ờ đó mới Nguyễn Khoái, đó. Mới ra mà ở Vịnh Hạ Long đấy. Ra ta đánh tan cái ta chặt đầu chặt đuôi, ta lấy hết đoàn thuyền đó. Thì đúng ra kế hoạch của ta đó, thật ra ta cũng không no gì nên ta cũng thèm cái đoàn thuyền lương thực đó lắm. Nhưng mà tiếc rằng có một làng đã phản bội. Báo cho quân Nguyên biết cái chỗ mà ta giấu lương thực mà ta cướp được của nó về. Thế là nó quay ngược trở lại nó nó nó nó chiếm lại liền, thế là ta phải làm sao? Đốt. Đốt ở đâu? Bãi Cháy. Bãi Cháy, đúng vậy. Bây giờ có tên Bãi Cháy rồi. Chớ lúc mà ta đốt mà ta cũng đau lòng xót dạ lắm,
[39:18]chứ nếu lúc đó mà giữ được thì ta thêm sức mạnh nhưng mà chuyển đi không kịp. Vì quân ngựa của Mông Cổ nó nó tiến nhanh quá, nó vó ngựa nó tiến ầm ầm ầm ầm, ta không thời gian để mà chuyển lên tàu đi đâu hết. Cho nên đành phải đốt bỏ luôn, đó là lý do. Và trận thứ ba đó ta mới có cái dòng sông Bạch Đằng mà lưu lại lưu lại cái chiến công hiển hách cho cho đất nước ta và cho cả thế giới phải học tập. Đó là lần thứ lần thứ ba. Nhưng lần này thì khi mà vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông hỏi thì Trần Trần Hưng Đạo trả lời câu thế này: "Năm nay đánh giặc nhàn". Nhàn là vì sao? Vì cái tình báo của Trương Hán Siêu
[39:57]đi qua biết được ý đồ, đường đi, nước bước của nó hết. Và bên đây ta đã giăng bẫy xong hết, cho nên Trần Hưng Đạo làm chủ được tình hình. Nên ổng nói nhàn là vậy đó, giặc vào là chỉ vào bẫy của ta thôi, cho nên cứ thanh thản, mà đúng như vậy, đánh tan liền. Đánh tan biệt cái hiệp. Bây giờ là tới năm ngài thì giặc tan rồi thì năm 32 tuổi là có hai sự kiện xảy ra trong đời ngài Trần Nhân Tông. Là vua Trần Thánh Tông mất, vua cha mất, đây là một cái tang lớn. Nhưng mà vua cha mất sau khi chính Trần Nhân Tông phải cầm quân thân chinh đi đánh Ai Lao. Lúc đó giặc Ai Lao lại quấy nhiễu ở biên giới phía Tây
[40:41]và ngài Trần Nhân Tông đích thân cầm quân đi vì lúc đó Trần Hưng Đạo già. Đó và ngài đã đi đánh, trận đó ngài cũng thắng luôn. Và lúc đó vậy là ngài có tu không ạ? Ngài đã ngộ đạo chưa? Ngài đã tu hành, ăn chay, ngộ đạo mà vẫn phải cầm quân đi đánh giặc. Ta nhớ sự kiện này nhé, lát nữa ta bàn tới chuyện này. Thật ra đó, trong sử không ghi là ngài ngộ đạo năm nào. Biết rằng ngài ngộ đạo từ nhỏ, ăn chay từ nhỏ, trốn chùa trốn lên chùa đi tu từ nhỏ. Và suốt cuộc đời làm vua của ngài là việc nước và việc tu nó cứ song song song song. Vậy mà năm ngài 32 tuổi, khi quân Ai Lao quấy nhiễu biên giới, ngài phải thân chinh cầm gươm đi đánh đánh thắng luôn, rồi trở về.
[41:26]Và năm đó khi trở về thì vua cha cũng mất. Năm sau ngài lại có một cái tang lớn tiếp là năm 33 tuổi á là Tuệ Trung Thượng Sĩ mất. Tuệ Trung Thượng Sĩ không có đi tu, vẽ hình này sai rồi đó. Tuệ Trung Thượng Sĩ chỉ là cư sĩ thôi, không có đi tu. Và Tuệ Trung Thượng Sĩ thì trên danh nghĩa là thầy dạy đạo lý cho Trần Nhân Tông, giúp cho Trần Nhân Tông đắc ngộ. Nhưng mà hai thầy trò hơi ngược nhau một chút. Ngược nhau là thế này: Tuệ Trung Thượng Sĩ thì phóng khoáng và thậm chí khi cần thì ngài ăn thịt ăn cá.
[42:09]Ta nhớ cái câu chuyện mà khi mà vào thăm Hoàng hậu nói: "Trời, anh tu thiền mà sao anh ăn ăn ăn thịt đó?". Thì ngài mới trả lời đó ngài: "Anh tu thiền anh ăn thịt vậy làm sao làm Phật?". Thì ngài mới trả lời là sao? "Phật là Phật, anh là là anh". Tại ổng là vai anh của Hoàng hậu đó, "anh không cần làm Phật, Phật cũng chẳng cần làm anh". Mấy ông thiền sư kỳ khôi lắm. Thì ăn mặn thì nói ăn mặn cho rồi đi, còn bày đổ qua đổ lại là Phật với anh đồ tùm lum mệt. Thì ông thầy ổng phóng khoáng nhưng Trần Nhân Tông thì sao? Thì lại ăn chay. Ông vua ăn chay. Từ nhỏ ăn chay, cho nên khi mà Trần Thánh Tông mới thấy ngài
[42:46]tiều tụy, thấy ngài lại ăn chay ngài ốm, à cái vua mới nói: "Con làm sao mà ốm quá vậy?". Cái ngài mới nói thật là: "Dạ thưa phụ hoàng, con hay ăn chay và thức khuya để ngồi thiền, xem kinh." Cái Trần Thánh Tông rớt nước mắt mới nói là: "Cái đất nước này, cái triều đại này, cơ nghiệp này trông cậy vào tay con, mà con kém sức khỏe như vậy thì làm sao?". Cái đoạn đó rất là cảm động. Thì qua cái đoạn đó ghi lại ta mới biết là ngài Trần Nhân Tông thì lại thích ăn chay, tu thiền; trong khi Tuệ Trung Thượng Sĩ thì sao? Nghĩa là chay mặn đều dùng được. Nghĩ như vậy ha, chay mặn đều dùng được. Và cũng năm đó, cái năm mà 30 ngày 33 tuổi Tuệ Trung mất thì ngài sinh ra
[43:36]cái người con trai thứ hai là Huệ Vũ Trần Quốc Chẩn, cũng là năm đó.
[43:44]Đến năm 35 tuổi, tức là ngài làm vua đã được 15 năm thì ngài nhường ngôi cho con Trần Thuyên lên làm Trần Anh Tông á và ngài lên làm Thái thượng hoàng. Rồi khi mà ngài lên làm Thái thượng hoàng thì trong triều đã có người giữ kỷ cương.
[44:05]Ngài làm Thái thượng hoàng được 5 năm, cho tới 40 tuổi thì ngài ngài xuất gia, đi tu. Trong sử không ghi ngài thờ ai làm thầy, thế độ. Ghi là ngài Quốc sư Huệ Tuệ. Nhưng mà ta không thấy rõ lắm, trong sử liệu ghi điều này không rõ và cái sự tương quan giữa ngài với Quốc sư Huệ Tuệ không rõ ràng lắm. Vì sao? Vì ngài ngộ đạo là với Tuệ Trung, đó. Có lần xin xuất gia về với núi Yên Tử cũng gặp Huệ Tuệ nhưng mà khi ngài xuất gia rồi thì không ghi rõ là ngài đầu sư với ai. Nhưng mà thôi, ông vua ổng đi tu chắc không ai dám làm thầy hay sao đó, chẳng hiểu nữa. Cho nên ngài cứ gọi là ngài xuất gia và ngài khi ngài xuất gia thì ngài đã ngộ đạo rồi.
[44:51]Mà ngộ đạo được gọi là tới chỗ thiền tủy nên ngài đã đắc đạo. Và với đạo phong sừng sững đó, ngài tự tại giáo hóa một cách tự tin, không có dè dặt. Rồi lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà và lập ra một thiền phái, ta gọi là Thiền phái Trúc Lâm. Đó, ờ khi mà ngài xuất gia thì ta nghĩ có lẽ là ngài thọ tam đàn cụ túc luôn. Thọ tam đàn cụ túc nghĩa là thế này: một người xuất gia đó, cái người Tăng á là phải đi qua ba cái giới đàn, thọ ba giới đàn. Giới đầu tiên là giới Sa-di. Thứ hai là giới Tỳ-kheo, thứ ba là giới Bồ-tát. Thì bình thường á với một người bình thường, ví dụ như thầy hoặc quý thầy đây á thì khi mình vào chùa
[45:37]mình làm điệu một thời gian rồi được thầy cho đi thọ giới Sa-di. Thọ giới Sa-di một thời gian rồi được rồi thầy cho đi thọ Tỳ-kheo và trong cái giới đàn Tỳ-kheo đó ta sẽ thọ luôn Bồ-tát giới. Đó là cái gọi là đủ tam đàn. Nhưng mà ngài là thân phận ông vua và với cái tâm linh đã ngộ đạo thì ta nghĩ ngài xuất gia và trong ngày xuất gia đó ngài thọ luôn tam đàn cụ túc, nghĩa là vừa Sa-di, vừa Tỳ-kheo, vừa Bồ-tát. Mặc dù những điều này trong sử không ghi, nhưng mà ta đoán chắc chắn phải vậy. Tại vì vua đi tu mà, đâu có dám để ngài một ngày nào hành điệu, phải không ạ? Và cũng xứng đáng, xứng đáng là vì sao?
[46:19]Vì ngài ngộ đạo rồi. Tức là cái sự ngộ đạo của ngài ngài hơn rất nhiều các vị chư Tăng khác. Vừa thân phận là vua mà vừa là người đã ngộ đạo cho nên ngài xứng đáng trong cái ngày xuất gia là thọ luôn tam đàn cụ túc, mặc dù là sử không ghi nhưng ta phải biết là điều đó đã xảy ra. Thì đi khắp nơi ngài ừ giáo hóa mọi người như vậy, đủ thứ hết rồi rồi bất ngờ có chuyện. Lúc đó là những cái tin tình báo từ bên Chiêm Thành báo về. Tại mình phải đặt tình báo khắp nơi mà. Đặt tình báo Ai Lao, Chiêm Thành và cả Trung Quốc để báo cáo về. Thì báo cáo về vua Trần Anh Tông, vua Trần Anh Tông mới cho người bí mật gặp Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông
[47:07]và báo cáo tình hình là bây giờ Chiêm Thành đang lớn mạnh từng ngày. Trong cái cuộc chiến tranh Nguyên Mông á thì cả mình và Chiêm Thành đều cùng đánh Nguyên Mông. Nhưng mà tổn thất nặng á là Đại Việt, Chiêm Thành không bị tổn thất mấy. Mà Chế Mân á, vua Chế Mân lúc đó là làm Thái tử cũng đánh Chiêm Thành ác liệt lắm, đánh Toa Đô làm Toa Đô xỉn niễng á. Toa Đô đánh không nổi phải rút về cái vùng Quảng Trị nằm im đó, nằm im đó để chờ, chờ Thoát Hoan từ phía bắc đánh xuống rồi ổng tràn lên ổng đánh tiêu Đại Việt xong rồi kéo nhau tràn nát Chiêm Thành. Nhưng mà khi đánh ngang Đại Việt á thua rồi thì Toa Đô chết
[47:44]luôn và Chiêm Thành không bị, không bị thiệt hại nhiều. Không bị thiệt hại nhiều, đất nước họ còn nhiều cái tiềm lực. Thế là vua Chế Mân sau khi mà lên ngôi vua rồi, giặc yên rồi, ổng phát triển quân sự mạnh quá. Còn bên mình thì ngược lại, không phát triển quân sự nữa, mà phải để sao? Nói như ngài Trần Hưng Đạo là phải: "Khoan thư sức dân để làm kế rễ bền gốc sâu". Đừng có huy động lực lượng của dân nữa mà phải để cho dân sản xuất, trồng cấy, phát triển kinh tế cho phồn thịnh. Nên theo cái lời của ngài Trần Hưng Đạo mà các vua mình thời đó không có huy động quân đội nhiều. Do đó quân sự ta không phát triển, mà bên Chiêm Thành thì nó đang phát triển.
[48:33]Đây là gì? Mối đe dọa. Mối đe dọa thế nào? Chiêm Thành với ta đánh nhau hoài. Nhớ nha, từ đời nhà Lý, Chiêm Thành cứ đem quân đánh ta hoài. Đến nỗi là các đời vua Lý đều phải thân chinh, như vua Lý Thánh Tông nè, là phải thân chinh cái đời mà mà mà có Hoàng phi Ỷ Lan á, vua phải thân chinh đi đánh Chiêm Thành, rất là vất vả. Rồi bây giờ mình đang yếu thì gián điệp Chiêm Thành nó cũng biết chứ đâu phải nó không biết. Và nó theo dõi sát kinh đô mình, nó biết mình lực lượng quân sự mình đang yếu, thì mà nó cứ càng ngày nó phát triển thì sao? Đem quân qua đánh liền. Ta sẽ bị một mối đe dọa. Thì vua Trần Anh Tông mới đến coi như là bí mật gặp để nói trao
[49:16]đổi với với với Thượng hoàng Trần Nhân Tông, thì nói: "Bây giờ đây là mối đe dọa, mà nếu bây giờ mà phát triển quân đội trở lại thì là một bài toán khó, vì đất nước ta làm sao? Đang xây dựng phục hồi mà huy động quân đội nữa, ta động binh lại thì các nước khác nó cũng biết liền, nó biết mình tính chuyện gì. Và nó lại cũng động binh, giống như chạy đua vũ trang, bây giờ ta dùng chữ là chạy đua vũ trang. Nếu bên ta động binh một cái, huy động lực lượng thì Chiêm Thành nó cũng sẽ tập trung lên liền để bắt đầu đánh nhau liền. Và cuộc chiến xảy ra rồi thì lại sao? Cũng tan nát, đổ vỡ lại". Thì ngài Trần Nhân Tông bằng cái trí tuệ của một thiền sư,
[49:53]ngài mới trả lời là để ngài đi qua đó, ngài dàn xếp, tạo một mối giao hảo. Ngài dùng cái đức độ của tu hành của mình mà cảm hóa Chế Mân, làm cho Chế Mân yên tâm Đại Việt không bao giờ có ý đánh Chiêm Thành và làm sao tạo thành cái tình cảm để giữ được cái cái cái hòa bình càng lâu càng tốt. Chứ thực ra không giữ được hoài đâu, bao nhiêu đời sau sẽ đánh nữa, mà đúng là Chế Bồng Nga sau này đánh mình te tua đó chứ. Nhưng mà trước hết là ta giữ được hòa bình thêm giờ nào, thêm ngày nào là đỡ cho cho dân ngày đó. Đó, cái suy nghĩ của ngài Trần Nhân Tông rất giống với cái suy nghĩ của Đảng và Nhà nước ta ngày hôm nay.
[50:32]Đó là mặc dầu có những cái sự xung đột gì đó thì Nhà nước mình vẫn chủ trương là giải quyết bằng biện pháp gì? Hòa bình và luật pháp quốc tế cái đã. Mặc dầu mình cũng phải chuẩn bị quân sự, nhưng lúc nào cũng ưu tiên dùng các biện pháp hòa bình và luật pháp quốc tế để sao? Giữ đất nước mình hòa bình được ngày nào là dân mình hạnh phúc ngày đó. Thì cái suy nghĩ của Đảng và Nhà nước ta ngày nay rất giống với suy nghĩ của ngài Trần Nhân Tông ngày xưa. Thế là ngài chống gậy đi về phương Nam. "Vua về phương Nam mang bao mến thương", đem tình yêu thương ban cho cho bốn phương là vậy đó, mang... rồi thì ngài chống gậy lần lần,
[51:16]khi đến cái vùng Quảng Bình, ngài có lập một cái am gọi là am Tri Kiến ở đó, rồi nghỉ ngơi rồi ngài đi tiếp về phương Nam, vượt biên giới Đại Việt đi đi về phương Nam. Đi về tới Đồ Bàn luôn, Đồ Bàn là tới Bình Định á. Tới đó rồi thì vua Chế Mân nghe tin có một đoàn nhà sư, chỉ là nhà sư thôi, tức là vua và một số đệ tử. Đệ tử thì ông nào ông nấy cũng là võ nghệ đầy mình, nhưng mà hình thức là một nhà sư đến ngài thăm viếng, thì vua Chế Mân phải đem cái cái lễ ra tiếp đãi phải không à. Cái lễ tiếp đãi đó trên hai yếu tố: một là tiếp đãi một Thái Thượng hoàng, hai là một nhà sư. Nơi cái nhà sư thì người ta tiếp đãi trên cái đạo lý, đạo đức, tình cảm;
[52:02]còn nơi cái vai vế Thái Thượng hoàng thì phải tiếp đãi theo theo cái quốc lễ, quốc khách. Nên ngài ở đó 9 tháng, ở suốt 9 tháng trong triều đình. Đây điều rất là lạ, vì không có một sứ giả nào mà đi qua mà ở rề rề ở người ta mà lâu như vậy hết. Ngài ở luôn ngài không chịu về, ở hoài không chịu về, suốt 9 tháng. 9 tháng, vậy chuyện gì đã xảy ra trong 9 tháng đó? Đó, bây giờ nếu mình là vua Chế Mân thì mình sẽ làm gì để tiếp đãi Thái Thượng hoàng Trần Nhân Tông?
[52:40]Trong tài liệu sử không ghi về cái chi tiết 9 tháng này chuyện gì xảy ra, nhưng hôm nay ta sẽ nói chi tiết về cái 9 tháng đó chuyện gì xảy ra.
[52:57]Vì ngài là một nhà sư, cho nên là ngoài cái ngoài cái đối đãi mà dò ý ra thấy có vẻ như ngài ở lâu không chịu về, vua Chế Mân mới mời các nhà sư Nguyên thủy Nam tông đang có mặt ở Chiêm Thành đó đến kinh thành để nói chuyện hằng ngày với vua Trần Nhân Tông. Sư với sư nói chuyện chứ còn vua Chế Mân nói vua nói cái gì nói hoài vậy, có chuyện đâu mà nói hoài. Nên mới nhờ các nhà sư Nam tông. Và lúc đó có các nhà sư Nam tông đang ở Chiêm Thành, nên Chiêm Thành đang lúc đó đang có nhiều tôn giáo: Ấn giáo, Hồi giáo chưa có, Ấn giáo và có các Phật giáo Nguyên thủy bên đó đó. Ta nhớ điều này: các sư Nam tông hay có cái thói quen
[53:42]là gặp ai mình thích thì cúng dường y kasaya của họ và dạy cho cách quấn y kasaya. Thầy, thầy đồng ý không? Các sư đều như vậy cả. Thầy cũng được các sư tặng nhiều y lắm mà đứng để dòm chứ không biết quấn. Đó là lý do sau 9 tháng mà khi trở về miền Bắc á, vua Trần Nhân Tông đắp y Nguyên thủy luôn. À! Và đó là lý do mà hình tượng ta thờ ngài trên Trúc Lâm Yên Tử là thờ quấn y Nam tông. Rất là lạ. Đó là dấu hiệu, là chứng cứ ngài đã tiếp xúc với các sư Nam tông và được các sư Nam tông quấn y kasaya, nên ngài cũng quấn y đi về luôn. Giống y hệt gì? Giống y hệt Hòa thượng Thích Minh Châu. Sang Ấn Độ học xong đi về quấn y Nam tông luôn,
[54:33]không bao giờ đắp y Bắc tông trở lại nữa. Y hệt như vậy. Ngài Hòa thượng Minh Châu vẫn là Bắc tông, ngài không thay đổi tông phái mình nhưng quấn y Nam tông chịu, chịu thôi. Thì Phật hoàng Trần Nhân Tông ta cũng như vậy, đã từng làm điều đó, cũng là Bắc tông nhưng sao? Đắp y Nam tông chơi vậy, cho tới chết. Nên sau này thờ ngài trên núi Yên Tử là hình tượng đắp y Nam tông. Các sư Nam tông lên rất khoái. Kỳ đó mà ta khánh thành cái tượng của ngài Phật hoàng Trần Nhân Tông trên Yên Tử, các đoàn các sư Nam tông, hệ phái Nam tông lên rất là thích, vì sao? Ổng đắp y Nam tông kìa, nên vui. Lý do, bởi vì trong chuyến đi Nam,
[55:09]Chiêm Thành đã tiếp xúc với các sư Nam tông và nói chuyện đạo lý. Dĩ nhiên là có người phiên dịch. Nói chuyện đạo lý thì các sư Nam tông đó chắc là chưa phải là người đắc đạo, nhưng mà ngài Trần Nhân Tông là sao? Là một người đắc đạo, thì chỉ nói chuyện vài ba câu thôi, lập tức phân định gì? Thầy trò liền! Một con người mà có một cái tâm linh chứng ngộ thì vài câu nói ra đã bộc lộ cái đức độ cao siêu của mình, mấy sư Nam tông kia sao? Phục sát đất liền. Đáng nể. Và trong suốt 9 tháng đó, nói chuyện với các sư là ngài làm cái gì? Dạy cho các sư về thiền, các cảnh giới về thiền. Các sư Nam tông cũng đem cái thiền của Nam tông ra
[55:56]nói chuyện, nhưng mà các sư chỉ nói trên lý thuyết, còn ngài Trần Nhân Tông, ngài Điều Ngự Giác Hoàng, ngài Hương Vân Đại Đầu Đà nói trên tâm chứng thực tế, và các sư Nam tông phải sao? Nhận ra. Và nguyên tắc của chính trị và tình báo là gì? Mỗi tối các sư phải gặp vua Chế Mân báo cáo lại, lúc nào mỗi ngày đều phải báo cáo: "Ngày hôm nay nói chuyện gì? Nói lại cho ta nghe", để coi trong các câu nói chuyện đó có lọt ra một manh mối gì về chính trị, quân sự, tình báo, xã hội, kinh tế hay không để mà vua Chế Mân có đối sách. Tất cả đều tính trên cái chính trị, quân sự, tình báo, kinh tế, xã hội hết.
[56:37]Đạo lý ổng không rành, nhưng mà vì trong cái lễ nghĩa thì các mời các sư nói chuyện giùm, nhưng nói rồi tối về báo cáo lại cho ta nghe. Thì báo cáo cái gì? Báo cáo cái gì? Hầu hết cuộc báo cáo lại chỉ nói về đạo lý, cái tâm chứng, cái chứng ngộ của vua Trần Nhân Tông mà các sư Nam tông hiểu được. Mà suốt 9 tháng như vậy có nghĩa là gì? Có nghĩa là vua Trần Nhân Tông thuyết pháp cho vua Chế Mân qua trung gian các nhà sư Nguyên thủy Nam tông.
[57:16]Mà cái đạo lý đó nó xuất phát từ cái gì? Từ tâm chứng thực sự, từ sự chứng ngộ của một thiền sư thật sự. Nên cái sức thuyết phục của nó là cực kỳ lớn. Các sư Nam Tông sau khi mà ổng nhận ra được điều đó rồi, lòng ổng hết sức kính phục. Thì đến khi mà ổng nói lại với vua Chế Mân, ổng cũng truyền cái lòng kính phục đó cho vua Chế Mân. Và ông kia bị tấn công suốt chín tháng trời cũng rớt luôn, tức là lòng hết sức là cảm phục vua Trần Nhân Tông, mà cảm phục cho đến lên tới đỉnh điểm. Lên tới đỉnh điểm, lên tới đỉnh điểm nghĩa là gì? Muốn có một cái gì đó để cúng dường cho cá nhân vua Trần Nhân Tông.
[58:01]Cúng dường cái gì?
[58:05]Đúng như vậy, hai châu Ô, châu Lý, quê hương của của sư bác mình ở Quảng Trị đó.
[58:15]Cho nên cái châu Ô, châu Lý là từ Quảng Trị mà chạy tới Quảng Nam á, là không phải là một hành vi chính trị. Mà đó hoàn toàn là cái tâm kính phục rồi cúng dường của ông vua này cho một nhà sư mà đang là Thái Thượng hoàng. Không có cắt đất, sáp nhập chính trị gì đây cả. Đây chỉ là một cái sự cúng dường thanh tịnh thuần túy cho cá nhân vua Trần Nhân Tông, chứ không phải là là Chiêm Thành cắt đất cho Đại Việt. Tại vì Chiêm Thành nó cứ lăm le đánh mình bao nhiêu lần mà, đánh riết đánh riết đánh riết để chiếm đất mà, thì không có chuyện cắt đất cho một đất nước khác. Mà chỉ ở đây là suốt chín tháng vua Chế Mân
[58:59]đã cảm nhận được cái sự chứng ngộ cao siêu của Trần Nhân Tông, biết rằng đây là một bậc thánh sư, một người từ bỏ ngai vàng vì đắc đạo, nên lòng ổng kính kính phục tới đỉnh điểm, tới cực độ. Và ngài cắt đất cúng dường, nhớ chỉ cúng dường cho cá nhân vua Trần Nhân Tông. Nhưng vua Trần Nhân Tông làm cái gì với hai châu đó? Ngài chia đất bán lô, phân lô bán hả, hay sao? Gặp mình là phân lô bán đất liền á, ha! Nhưng mà ngài làm sao? Ngài tặng lại cho đất nước mình. Ngài tặng lại cho đất nước mình nên sáp nhập hai châu đó về cho cho Đại Việt, chứ không phải là để ngài làm thủ phủ cho một cái tông phái Phật giáo của riêng ngài.
[59:44]Ngài là vô ngã mà, ngài sáp nhập lại liền, mặc dù là vua Chế Mân cúng dường riêng cho vua Trần Nhân Tông. Thời đó có ký giấy có công chứng không? Không, thời đó chưa có công chứng. Chứ nếu thời đó có công chứng thì mình đã có cái bản công chứng là vua Chế Mân hợp đồng mua bán đất với với là vua Trần Nhân Tông ra công chứng đàng hoàng, rồi sau đó tới Sở Tài nguyên Môi trường. Nhưng mà vì thời đó chưa có cho nên nói miệng không à: "À nãy nãy con xin cúng cho ngài hai châu đó. Nhớ cúng nha chứ không vì sáp nhập". Và ngày hôm nay cái bí mật này mới được hé lộ ra nơi đất trời này.
[1:00:34]Rồi bây giờ nhưng vua Trần Nhân Tông là một người cực kỳ trí tuệ. Ngài nhận cái sự cúng dường đó nhưng ngài biết sau này rồi vua Chế Mân chết, phải không? Đúng không ạ? Cả thần dân và triều đình này sẽ phản đối điều này. Phản đối cái việc mà vua chơi cắt đất cho một đất nước khác, đó là một chuyện phản quốc. Mặc dù là vua Chế Mân cảm nhận được quá sức kính phục một vị thánh cho nên có hành vi cúng dường. Nhưng đối với thần dân và triều đình thì đó là gì? Phản quốc. Vua Chế Mân sẽ chết vì điều này. Do đó vua Trần Nhân Tông đã tìm cách để bảo vệ uy tín của vua Chế Mân, thì phải tặng lại một tặng phẩm gì rất xứng đáng.
[1:01:22]Đất nước mình có cái gì xứng đáng? Đất thì không thể cắt lại nữa rồi, người ta cho đất mình không lẽ mình cho đất lại, chỗ nào mình cho? Vàng, hết rồi, tại vì đánh giặc đồ, Nguyên Mông cướp mình tàn tràn lan rồi, không có gì quý hết. Thì phải có cái gì rất quý mà không tốn gì hết.
[1:01:41]Rất quý mà không tốn gì hết thì sao? Thì đó đó, ta mới có giải pháp là Huyền Trân công chúa. Lúc đó Huyền Trân công chúa mới có 13 tuổi. Rất quý bởi vì là công chúa mà! Con vua, em vua mà, em vua Trần Anh Tông, con vua Trần Nhân Tông, phải không? Thì cưới một công chúa thì như vậy là điều rất quý, mà vua Trần Nhân Tông đây là nếu nếu nói trong đạo Phật, phạm giới Tỳ-kheo. Tại một người xuất gia Tỳ-kheo rồi không được liên quan gì đến việc hôn ước cả, không được làm mai làm mối làm gì hết, đây là luật giới Tỳ-kheo, nếu ai thọ Tỳ-kheo đều phải biết điều này. Quý thầy có nhớ không ạ? Hay là quên rồi?
[1:02:26]Quên rồi đi làm mai chết à nha! Đó là giới, giới Tỳ-kheo cấm những điều hẳn á, không được làm mai mối, trong khi ngài đem con mình gả luôn, tức là phạm giới. Nhưng mà trong tình thế đó, giống như là một lần mà ngài đem quân đi đánh Ai Lao, phạm giới không? Phạm chứ sao không phạm. Nhưng mà ngài phải đánh, bởi vì nếu ngài không phạm giới đó, nhiều người sẽ chết hơn nữa. Thì lần này cũng vậy, ngài cũng phải phạm giới, đem con mình gả luôn. Nhưng mà trong đầu ngài nghĩ nè: lớn lên nó cũng có chồng, mà lấy vua Chiêm Thành sướng hơn. Nên ngài nghĩ cũng không mất gì, phải không ạ? Con mình cũng không mất gì, lên làm hoàng hậu sướng hơn.
[1:03:02]Và mình bảo vệ được uy tín cho Chế Mân để trong Chiêm Thành đừng làm loạn thì Việt Nam mới yên, Đại Việt mới yên, phải không ạ? Mình thù đáp, nên cái bài toán mà dùng Huyền Trân công chúa gả cho vua Chế Mân, bài toán cực kỳ thông minh xưa nay ít có người có thể làm được. Nếu mà nói là để giải quyết những tình huống cực kỳ khó thì lúc đó vua Trần Nhân Tông đã giải một bài toán cực kỳ xuất sắc, cực kỳ xuất sắc.
[1:03:32]Coi như là việc đến giờ phút đó thì sao việc ngoại giao đã đã xong. Hai đất nước đã giao hảo, họ cắt đất cho mình có được cái vùng đệm và công chúa qua đây làm hoàng hậu thì tình giao hảo ổn định, như vậy đất nước này có thể hòa bình được thêm một thời gian nữa, và Chiêm Thành không cần phải chạy đua vũ trang với mình. Rồi ngài mới trở về. Trở về đắp cái y nguyên thủy về và sáp nhập cho, báo cho vua Trần Anh Tông rồi mình sắp đặt dân tình yên ổn hộ khẩu. Lúc đó là Đại Việt mình ở lẫn với ở lẫn với Chiêm Thành. Tại trong khi cắt đất cúng là đâu có nói rằng dân Chiêm Thành sẽ rút lui, tức là Đại Việt sẽ quản lý luôn cái người Chiêm Thành.
[1:04:09]Và cái người Chiêm Thành họ nói một cái giọng rất là lạ, nên khi người Đại Việt xuống mà trộn với cái người Chiêm Thành, nói chuyện pha giọng Đại Việt và pha cái giọng của người Chiêm Thành, nó lòi ra cái giọng Quảng Trị ngày hôm nay.
[1:04:28]Chứ nếu mà người Chiêm Thành nó rút sạch hết thì ta sẽ có cái giọng Hà Nội, họ sẽ nói chuyện luôn sát tới Quảng Trị, Quảng Nam luôn. Nhưng mà vì họ vẫn ở chung với mình, cho nên nó pha giọng, thành ra cái giọng ni r- ni, như tê, ha, đó đó ra cái giọng như rứa, nó phải đành chịu thôi. Đó là vì đó là cái đó là cái dấu ấn của lịch sử và không có thay đổi được. Và đây là một điều lạ trong cuộc đời vua Trần Nhân Tông, điều rất là lạ và những cái bài toán cực kỳ thông minh. Sau đó ngài về rồi ngài lên Yên Tử, ngài lập phái, mới lấy cái danh hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà. Thì khi ngài xuất gia thì hai năm sau là Hưng Đạo vương mất.
[1:05:16]Lúc đó là Hưng Đạo vương là 68 tuổi, 68 tuổi ngày xưa là già lắm, rất là già.
[1:05:23]Và khi năm ngài 42 tuổi, Trần Quốc Tuấn Hưng Đạo vương mất, thì lại có một cái tin vui bù lại, đó là cháu nội Trần Mạnh ra đời, sau này sẽ làm vua là Trần Minh Tông. Thế là con ngài là Trần gì? Trần Thuyên lên làm Trần Anh Tông, thì cháu nội ngài là Trần Mạnh sau này là Trần Trần Minh Tông. Trần Minh Tông sinh rất nhiều con, có tới 10 người con trai, mà trong 10 người con trai đó hết bốn người thay phiên nhau làm vua những đời vua sau. A lạ như vậy nha! Chứ không phải là cứ đời cha truyền con, cha truyền con, nhưng mà đời Trần Minh Tông lại truyền cho con rồi con truyền cho rồi cái người đó lại truyền
[1:06:04]cho anh, anh lại truyền lại em, em truyền lại em qua tới bốn đời. Tức là Trần Minh Tông tới bốn người con thay phiên nhau làm vua. Như vậy. Về năm ngài 46 tuổi đó, lúc đó là Pháp Loa mới đến với ngài để làm đệ tử, tên là Đồng Kiên Cương á. Mà khi vừa nhìn thấy Pháp Loa thì ngài đã bởi cái trí tuệ của mình, ngài biết đây là con người mà thông tuệ và nối pháp cho mình. Nên nói: "Người này có đạo nhãn, ắt đến đây sau này ắt sẽ thành pháp khí". Và đúng như vậy, thì ngài Pháp Loa theo ngài không bao lâu là học đạo với ngài chăm chỉ. Một đêm ray rứt trăn trở khi mà nhìn cái muội đèn nó rơi mà ngài bừng ngộ.
[1:06:54]Bừng ngộ rồi được ngài ngài Điều Ngự Giác Hoàng ấn chứng, và sau này là theo hầu với tổ Sơ tổ cho đến khi mà năm mà trước khi mà Sơ tổ mất là ngay tại chùa Báo Ân này.
[1:07:12]Vua Trần Nhân Tông lúc ấy là Điều Ngự Giác Hoàng, lúc đó là sơ tổ, đã trân trọng giao cái trách nhiệm lãnh đạo Phật giáo lại cho ngài Pháp Loa, đúng ngay chỗ ta đang ở đây. Mà có lẽ nó trệch ra phía sau này một chút, vì cái chánh điện đó nó nằm phía sau này. Nhưng mà cái khu sau này là những khu nội viện, nhà ngang, dãy dọc, nhà ở, nhà kho, nhà bếp rồi rất là nhiều. Nếu mà ta lui ngược lại của 703 năm trước, vào đúng ngày hôm nay, thì hôm nay là một ngày tưng bừng của chùa Báo Ân này.
[1:07:47]Lúc ấy là vua mất, không phải tưng bừng vì vì vui mà tưng bừng vì buồn. Nhưng mà trước đó vài tháng thì chùa này tưng bừng vì vui. Vì trước vài tháng của ngày này, ngày mùng một tháng 11 này, trước đó vài tháng thì vua Trần Nhân Tông ân cần tại đây truyền trao cái sự cái cái cái trách nhiệm lãnh đạo Phật giáo lại cho sơ tổ... cho Pháp Loa, Đổng Kiên Cương, đúng ngay chùa này. Cho nên ta đang ở một nơi thiêng liêng của lịch sử. Và nếu biết đâu, xin thưa biết đâu lúc đó ta cũng đã có mặt. Biết đâu những người đang ngồi ở đây hôm nay, vào trong lúc mà vua Trần Nhân Tông đến ở tại chùa Báo Ân này, trao trách nhiệm lại cho
[1:08:35]ngài Pháp Loa, biết đâu chúng ta cũng là lác đác những người có mặt trong thời điểm đó chứ không phải là không. Và biết đâu, duyên xưa lặp lại, hôm nay ta lại về đây, trên cái nền đất chùa này, trong cái ngày giỗ của tổ này, để nghe nhắc lại cái lịch sử hào hùng của dân tộc, để nghe nhắc lại một cuộc đời vĩ đại của một con người, và để nghe nhắc lại một cái sự kiện thiêng liêng vào trong cái năm đó cách đây 703 năm. Trên cái nơi đất thiêng liêng này, biết đâu chúng ta cũng đã là những người có mặt. Và nếu như vậy thì thật là cảm động biết bao nhiêu. Thầy dùng cái chữ biết đâu, nhưng mà sự thật là nó hơi chắc hơn 50% á.
[1:09:23]Chắc hơn 50% những người ngồi ở đây hôm nay đã có mặt trong thời đó. Nhưng rồi ta theo cái sự thăng trầm của sinh tử luân hồi, mà ta khi lên khi xuống. Những người ngồi đây có khi ta đã làm quan, làm tướng, có khi ta lại làm người nghèo, hèn trong một lúc nào đó, nhưng thôi, chuyện đó bỏ qua. Chỉ biết rằng bây giờ trước Phật đài ta quỳ xuống, ta lại làm đệ tử Phật và không có gì vui bằng, không có gì cao quý bằng ta tiếp tục là đệ tử Phật để theo Người trên con đường tu hành tìm cầu giác ngộ. Đó là vui nhất nha, vui nhất trần đời.
[1:10:08]Sang năm nữa, tức là năm ngài 47 tuổi thì ngài Huyền Quang lại xuất gia, làm đệ tử ngài. Và đây ta nhớ một điều thế này:
[1:10:21]ngài Huyền Quang tuổi lớn hơn vua Trần Nhân Tông.
[1:10:28]Lớn hơn vua Trần Nhân Tông hai, ba tuổi.
[1:10:34]Đến năm mà ngài 47 tuổi thì Huyền Quang lúc đó xấp xỉ 50 tuổi rồi mới xin từ quan để đi xuất gia. Và đi vì xuất gia sau ngài Pháp Loa, và có lẽ cũng ngộ đạo sau ngài Pháp Loa, cho nên là ngài Điều Ngự mới giao cái trách nhiệm là nhị tổ cho ngài Pháp Loa. Và dặn ngài Pháp Loa là sau đó phải giao lại cái tam tổ cho ngài Huyền Quang. Và ngài Huyền Quang nối tiếp làm tam tổ mà lớn tuổi hơn cả cái ông sư huynh nhị tổ của mình và lớn tuổi hơn cả sư phụ sơ tổ của mình luôn, ngài Huyền Quang. Trong sử Đạo Phật thì ghi rằng ngài đậu Trạng nguyên, tên là Lý Đạo Tái, có làm quan. Trong sử cũng ghi rằng có một số việc lớn của triều đình
[1:11:28]như việc gả Huyền Trân công chúa này kia nọ có ý kiến của ngài Lý Đạo Tái lúc đang làm quan triều đình, vân vân. Cái sự tình là như vậy. Nhưng đó là sử Đạo Phật, còn sử của quốc gia không tìm thấy tên ngài Huyền Quang làm Trạng nguyên, không tìm thấy. Ngài đậu Tiến sĩ thì có, ngài ra làm quan có, nhưng mà để rằng ngài đậu tới chỗ mà Trạng nguyên thì không tìm thấy ở dấu vết các sử khác, mà chỉ tìm thấy trong sử của Đạo Phật thôi, Tam Tổ Thực Lục. Nên đây trở thành một cái nghi vấn. Nghi vấn không biết là Đạo Phật đã cường điệu đẩy ngài lên là đậu Trạng nguyên chứ không phải thật. Nhưng dù sao rồi ngài cũng đã thi đậu, làm quan, không lấy vợ.
[1:12:15]Từ nhỏ, ra làm quan mà không lấy vợ, đó là một điều rất là lạ. Rất là lạ là thường là ta lấy vợ sớm và làm quan thì lấy nhiều vợ, mà ngài từ nhỏ đã mộ đạo, thích ăn chay, không chịu lập gia đình, rồi buộc phải làm quan mà không lập gia đình. Bây giờ mà lớn tuổi như vậy 50 tuổi mà không lập gia đình thì người ta nghĩ sao? Người ta nghĩ méo mó. Méo mó. Nhưng mà thời đó thì không không có cái chuyện méo mó như bây giờ, mà chỉ nghĩ là người này lạ lạ thôi. Rồi thôi, biết là ngài ham tu. Và cái sự việc này là một điều không thuận lợi cho việc phát triển của Đạo Phật. Cái sự tình là cái người tổ thứ ba lớn tuổi hơn cả cái người sơ
[1:13:00]tổ và lớn tuổi hơn rất nhiều so với người nhị tổ, nó tạo thành một sự không thuận lợi cho việc phát triển của Đạo Phật. Vì Đạo Phật để phát triển thì cái người sau phải trẻ hơn người trước phải không ạ? Họ mới còn thời gian để mà làm việc mà gánh vác. Còn khi mà ngài lên làm tổ thì ngài đã lớn tuổi.
[1:13:22]Ờ lên làm tổ thì ngài đã lớn tuổi, 6 mươi mấy tuổi, sức ngài không còn. Và do đó là cái dòng Thiền Trúc Lâm không được phát huy nữa, yếu dần, yếu dần và yếu rất nhanh luôn. Đây là một điều bất lợi. Và cái bất lợi này ta không trách ai và ta chỉ nói rằng đây là nhân duyên thôi. Bởi vì tam tổ mà còn lớn tuổi hơn cả sơ tổ, lớn tuổi hơn cả nhị tổ, thì tuổi tác sức khỏe đâu mà có thể mà phát huy Phật pháp. Nó ngược lại với ngài Pháp Loa là lúc mà ngài được giao trách nhiệm là ngài còn rất là trẻ và ngài làm việc rất nhiều, dịch rất nhiều bài kinh, viết rất nhiều sách, độ rất nhiều tăng ni và điều hành công việc rất là trôi chảy.
[1:14:06]Nên thịnh lên lúc mà bùng lên lúc ngài Pháp Loa, rồi sau đến ngài Huyền Quang là chìm xuống liền, bởi vì cái bất lợi về cái cơ cấu người thế này. Nhưng mà vì ngài Điều Ngự thương ngài Huyền Quang. Thương ngài Huyền Quang là một người văn hay, chữ giỏi, thông minh, đạo tâm, vân vân, nên là mới dặn ngài Pháp Loa phải truyền lại cho ngài Huyền Quang. Và dường như tổ cũng biết là ngài Pháp Loa sẽ mất sớm. Nên ngài mất Pháp Loa mất rất là sớm, 47, 46 tuổi mất rồi. Không biết tại sao lại mất sớm quá. Và có lẽ là là sơ tổ Trúc Lâm có thần thông gì đó biết điều đó, nên dặn điều đó. Nhưng mà đây là một sự bất lợi của Phật giáo.
[1:14:53]Và đến năm mà ngài Trần Nhân Tông 48 tuổi thì cái việc mà hứa gả con cho vua Chế Mân phải thực hiện.
[1:15:06]Năm 48 tuổi đưa Huyền Trân đi và ta cũng tiếp quản hai châu, châu Ô châu Lý luôn. Và lấy được có một năm là qua năm vua Trần Nhân Tông 49 tuổi thì Chế Mân băng hà. Mà Chế Mân băng hà thì theo tục lệ là sau khi làm đầy đủ mọi cái tục lệ lễ tang cho vua thì đem hết tất cả những người vợ của vua, những người cung nữ hầu vua làm sao? Chôn theo luôn, thiêu theo luôn. Một cái tục lệ quá kinh hoàng. Và triều nhà Trần chịu không? Không. Cô con gái mình là quá trẻ. Và Việt Nam không có tục lệ đó. Cho nên lúc đó là vua Trần Anh Tông, tức là anh của Huyền Trân á, mới sai một cái phái bộ sang để dự lễ tang, nhưng mà bí mật có cái mật lệnh là gì?
[1:15:59]Cứu công chúa đem về, không có chấp nhận cái phong tục đó, nhưng mà ta không dám nói thẳng, nói thẳng thì gây mích lòng. Nhưng phải làm, không có để em mình bị giết kiểu đó. Thì vua chỉ đạo liền: tráo người. Cho người chết thay, rút công chúa về. Và Trần Trần Khắc Chung là người lãnh cái sứ mệnh đó, đem một cái cung nữ đi theo, lén tráo, bịt mặt lên giàn hỏa. Và cái người đó được cái công tác tư tưởng là chết thay cho công chúa. Và công chúa được lén đưa lên thuyền đi về, tại vì đi đường bộ nguy hiểm và vất vả. Về rồi giấu công chúa luôn trong lãnh cung, vì sợ lộ. Qua một năm sau nữa thì đâu được công chúa về trong lãnh
[1:16:39]cung thì thêm năm nữa thì vua Trần Nhân Tông qua đời. Rồi 3 năm mọi chuyện yên ắng rồi công chúa mới mới ra mặt. Nhưng ra mặt rồi thì tất cả đã hết rồi. Cha đã mất rồi, rồi thì anh cũng đã già yếu, truyền ngôi, một mình bơ vơ. Cho nên Huyền Trân công chúa giờ lấy chồng được nữa không? Còn rất trẻ nhưng không thể lấy chồng. Vì đường đường mình đã từng là một hoàng hậu, không thể ra mặt lấy chồng, bị cưới rồi đám cưới thì sao, nói làm sao? Trong khi danh nghĩa là mình đã chết rồi. Trên danh nghĩa mình đã chết thiêu bên kia rồi, thì bên đây mình là con người không tồn tại, không còn tên, không còn tuổi, không còn danh tính nữa thì làm gì?
[1:17:19]Con đường gì? Đi tu luôn. Cho nên là Huyền Trân công chúa thì thật ra trong lòng cũng mộ đạo, nhưng mộ thì mộ nhưng mà tuổi đời còn rất là son trẻ, giờ phải vô chùa tu. Tu được không ạ? Tu được không? Không biết. Mình trả lời bậy mang tội rồi nha. Đâu biết đâu bà cũng tu tốt nên mình trả lời nói không được là mang Mấy người mà nói tu không được là suy bụng ta ra bụng bà đó.
[1:17:53]Ở đây thế này, ta có một cái số điều ta nói về cuộc đời của ngài một chút.
[1:18:01]Vua mà mộ đạo, vua mà ngộ đạo, vua mà đắc đạo: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông. Thì như vậy khi một người ngộ được đạo trong đạo Phật mà phải gánh lấy cái trách nhiệm lãnh đạo một đất nước là chuyện hoàn toàn là chuyện đời. Vì sao? Vì chuyện chính trị đủ thứ trong đó hết: tranh giành hơn thua quyền lực, xử chuyện này, thưởng chuyện kia, phạt chuyện nọ, đối tiếp với nước ngoài, sắp xếp việc nước trong là cả triệu chuyện phải làm. Mà vẫn là một người ngộ đạo, thì như vậy đạo Phật là như thế nào? Vậy đạo Phật là như thế nào?
[1:18:46]Như vậy, nếu ai nói rằng người tu theo đạo Phật là người chán đời, không còn khả năng mà sống tốt trên đời nữa là lời nói đúng hay sai? Sai, bởi vì sao? Ba ông vua đã chứng minh ngược lại. Ba ông vua nối tiếp nhau đã chứng minh ngược lại là tu hành rất chuyên sâu, rất có kết quả, đạt được sự giải thoát giác ngộ gì đó một phần nào trong quả chứng ngài, dĩ nhiên là chưa phải A-la-hán đâu, nhưng mà đã là người đã làm rất tốt trách nhiệm của mình đối với đất nước. Mà cái trách nhiệm này là gì? Là đất nước trong cơn nguy biến của giặc ngoại xâm, trong binh lửa. Nên ở đây ta có thể nói rằng là đó là những vị Bồ Tát trong cơn mưa bão của đất nước.
[1:19:36]Vậy mà các ngài đã làm tròn trách nhiệm mình một cách vẻ vang, xuất sắc, để lại những trang sử oai hùng. Và như vậy, ta không được quyền nói rằng theo đạo Phật lìa bỏ sự thế gian rồi không giúp ích gì cho đời, ta không được quyền nói như vậy. Và ta không được quyền nghĩ rằng khi ta đã tu rồi, ta quay lưng lại với thế gian. Đúng không ạ? Vì ba ngài đã chứng tỏ lại hết. Cho nên do đó, ngày hôm nay ta tu theo đạo Phật là cái đạo Phật mà ta tu đó nó phải có cái bài học từ các vị thánh vương đó, các vị minh quân đó, anh minh hay bậc thánh quân đó, dấu ấn từ các vị để lại. Cho nên ta theo đạo Phật ta hết lòng, ta trọn lòng như các ngài.
[1:20:30]Vì các ngài bỏ đi tu luôn mà. Bỏ ngai vua đi tu là trọn lòng không ạ? Ngài hết lòng với Phật pháp mới dám bỏ ngai vua đi tu. Thì ngày hôm nay ta theo Phật pháp ta cũng sao? Ta cũng hết lòng. Hết lòng, mặc dù ta có thể là ta chưa thể bỏ nhà đi tu, nhưng mà lòng phải làm sao? Phải trọn lòng giống như các ngài, chứ không có tu lấp lửng nửa chừng này nha, không có lấp lửng nửa chừng, phải tu hết lòng với đạo Phật. Còn việc xuất gia là tùy duyên, phải không ạ? Tùy duyên. Tùy duyên là như thế nào? Tùy duyên là như thế nào? Khi duyên phúc ta đủ ha, việc gia đình đã xong, ta có thể đi xuất gia được. Vậy ở đây ai là người có thể đi xuất gia?
[1:21:18]Ai là người nghĩ mình có thể đi xuất gia? Ai? Một người ở đâu kia xa xa đưa, còn nhiêu không? Hai người xa xa. Nhớ giùm thầy: Vua, cả một giang san như vậy mà còn có thể đi tu được, thì ta có thể đi tu được không? Được chứ sao không được! Vua có thể đi tu được thì ở đây không ai được quyền nói là mình không thể xuất gia được hết, đúng không? Vậy bây giờ thầy hỏi lại: Ở đây ai là người có thể xuất gia được? Trả lời lại coi.
[1:21:58]Đúng, đúng như vậy, phải đưa tay hết như vậy mới đúng. Bởi vì vua mà còn đi tu được mà, cả một giang san đất nước thì còn đi tu được thì ta không ai được trả lời là mình không xuất gia được. Bây giờ hỏi mình: "Đi tu được không?", phải trả lời liền: "Dạ, con đi tu được." Nhưng mà đi tu được hay không lại là chuyện khác. Chuyện khác ở chỗ nào? Là giống như vua Trần Thái Tông vẫn bị Trần Thủ Độ kéo về, giống như vua Trần Nhân Tông vẫn bị vua là là Trần Thánh Tông kéo về. Là vì cái duyên chưa được thôi, nhưng mà lòng mình thì làm sao? Lúc nào cũng được, nha. Không còn ai được nói là tôi không xuất gia được hết, bất cứ chuyện gì.
[1:22:36]Đó, bây giờ cái người đã lớn tuổi rồi, ta đã có gia đình, yêu đương mặn nồng hương lửa cũng đã tàn rồi, còn tiếc gì ổng nữa mà hổng đi tu? Còn ổng tiếc gì bả nữa mà hổng đi tu, bả già mất rồi, đâu còn son trẻ đâu mà tiếc cái gì nữa. Nói vậy đúng không? Phải không? Còn những người trẻ kìa, người ta đang yêu thương nồng nàn ngoài kia mà người ta còn giơ tay. Nhưng mà tụi con xin nhớ một điều, mấy đứa trẻ thầy nói: Đời là bể khổ, tình là dây oan, đừng có dại khờ mà lập gia đình nghe không. Phải lo mà đi tu hết cho thầy, mấy đứa trẻ trẻ tụi con. Con hãy nhìn thấy các thầy ở đây, thấy người nào cũng là sao?
[1:23:14]Cũng là tuổi trẻ ha, phơi phới, phơi phới tương lai, vậy mà dứt áo đi tu hết, ngồi trước mặt đây, những hình ảnh đẹp đẽ như thế này. Đó, thì tụi con cũng phải như vậy. Dù có nhiều người nói thương mình, dù đã có những lúc lòng mình đã rung động với ai, nhưng chuyện đó là sao? Chuyện vặt, chuyện đó là chuyện tạm, chuyện đó chuyện giả, mà cái cao quý nhất là gì? Hãy hướng về non cao Yên Tử, nơi đó mới là cuộc sống của ta, nơi đó mới là hạnh phúc ta, nơi đó mới là lý tưởng của ta. Cho nên Tổ đi tu được thì không ai không đi tu được hết. Và đi tu rồi có nghĩa là trốn đời không ạ? Không! Ta vẫn làm còn nhiều hơn lúc ta còn chưa đi tu nữa kìa. Vì sao vậy?
[1:24:03]Vì khi mà chưa đi tu á, ta có trách nhiệm với gia đình, gia đình ràng buộc ta, muốn làm cái gì không... "Việc hôm nay có chồng con phải thế này..." "Hôm nay đi chùa sao không được?" "Dạ, hôm nay ổng hơi trở gió con phải ở nhà con chăm sóc ổng." Thế rồi xong, hết phim. Nhưng mà nếu ta đi tu thì sao? Không có gì ràng buộc hết, chỉ làm và làm thôi, cống hiến và phụng sự thôi. Suốt ngày lúc nào cũng Phật ở trong tâm, suốt ngày lúc nào tình yêu thương với chúng sinh cũng ở trong tâm, suốt ngày lúc nào cái trách nhiệm với đất nước này cũng ở trong tâm. Cho nên cái chính ra cái người tu lại làm được rất nhiều việc cho cuộc đời.
[1:24:41]Mà cái ta làm nhiều việc cho cuộc đời toàn là những việc cao thượng cả, ta cống hiến những điều rất cao thượng cho đời. Nên cái tấm gương mà ngài Trần Thái Tông, ngài Trần Nhân Tông để lại cho ta một quyết tâm rất rõ, không ai không thể đi tu được hết. Tất cả chúng ta ai cũng có thể đi tu được, chỉ có cái ta thua một cái gì như Phật nói là duyên thôi, thua một chút xíu đó thôi. Vì duyên nó thuộc về nhân quả, nó vượt khỏi ý chí của ta thì thôi ta đành chịu, chứ còn ý chí của ta, ước nguyện của ta chỉ là gì? Chỉ là gì? Chỉ là tu mà thôi, chỉ là xuất gia mà thôi, chỉ là bóng chùa nghĩa là tỏa khói trong chiều hôm mà thôi, chỉ là gì?
[1:25:25]Tiếng chuông thong thả ngân nga trong sương sớm mà thôi, ngoài ra không có gì nữa. Mà ta chỉ thua một chút là duyên thôi. Nhưng mà mai mốt thầy hỏi: "Sao không đi tu?" mà trả lời: "Dạ, tại duyên chưa được" là thầy đánh đòn á. Không được đổ thừa lúc đó tại mình chưa chịu đi tu mà đổ thừa duyên là không được, nha. Duyên là như ngài Trần Nhân Tông á là ngài quyết tâm bỏ đi luôn mà đúng là duyên bắt lại, còn mình hỏi: "Sao chưa đi tu?" nói: "Dạ, duyên chưa được." Cái duyên này là duyên gì? Duyên này duyên làm biếng á. Thấy không? Hỏi là không có được đó, đó. Nên vì vậy là cái cái tính gánh vác, cái tinh thần trách nhiệm của một
[1:26:04]người tu trong đạo Phật rất là lớn và đây là bài học cho chúng ta. Rồi một điều nữa thế này: Trong cơn bão nguy cấp của đất nước, các vị, các ngài đã cùng với toàn dân toàn quân mà đánh giặc quyết liệt, mặc dù là Quốc Tuấn mới là vai trò chính, nhưng cái đức của các ngài đã nhiếp được lòng người lại. Bây giờ xét á, công lao thì của Quốc Tuấn, nhưng mà trong thời đại đó nếu không có cái đức của các vị vua đó lòng người chưa chắc theo đánh nha, chưa chắc đâu. Cho nên vậy, cái vô hình của các ngài mới vĩ đại mà cái xã hội không nhìn thấy. Xã hội chỉ tôn vinh công lao cho Trần Hưng Đạo thôi, bởi vì công lao là cái hữu hình, có tướng,
[1:26:50]có trạng để ta thấy, hỏi bây giờ công đánh tan ba lần Mông Cổ là ai? Trần Hưng Đạo. Đúng, bởi vì cái đó cái thấy. Nhưng cái vô hình là đức của các ông vua nhiếp hết lòng dân lại một chỗ, cái đó sử không thấy, sử gia không thấy, các nhà khoa học không thấy, chỉ ta bằng nhìn bằng con mắt trí tuệ ta mới thấy, ta mới thấy á. Nên cái đức đó đã làm nên cuộc chiến thắng là ta phải hiểu là cái gốc nằm chỗ đó mà Trương Hán Siêu đã nhận định rất là chính xác: "Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao." Và các ngài được cái điều đó. Mà tại sao các ngài được cái đức lớn như vậy? Tại sao? Tại vì... tại vì... hết lòng theo Phật. Nhớ!
[1:27:36]Như vậy ai hết lòng theo Phật là người đó được đức lớn, mà cái đức lớn đến nỗi nhiếp được lòng của toàn dân lại. Và đây là bài học muôn đời cho các nhà lãnh đạo, nha. Hết lòng theo Phật thì đức sẽ trùm hết tất cả. Ngài thân chinh ngài đi đánh Ai Lao, như vậy là vua Trần Nhân Tông có võ không ạ? Có võ không? Võ siêu quần mới dám mà leo lên lưng ngựa, nha. Chứ còn như thầy thì sao? Nghe giặc ở đâu chạy mất. Nhưng mà ngài nghe giặc leo lên lưng ngựa đi luôn, vậy là ngài giỏi võ, mà ở đâu ngài giỏi võ? Là vì sao? Vì được học từ nhỏ, phải không? Mà vì sao vậy? Là vì nguyên cái dòng họ nhà Trần đó là đã được chuẩn bị để lên làm vua rồi.
[1:28:25]Trước đời Trần Thủ Độ rồi. Giống như là một số mệnh sắp đặt, hết đời nhà Lý phải tới nhà Trần. Cho nên khiến người trong nhà Trần bỗng nhiên họ uyên bác, họ giỏi giang, luyện võ, ôn văn rất là giỏi mới xuất hiện nhân vật Trần Thủ Độ mà đi luôn vào trong triều đình, khuynh loát hết triều đình người ta được chứ. Nếu người kém tài, ai cho mình đặt chân vào triều đình? Ai nghe ý kiến mình để mình khuynh loát triều đình người ta? Mình nói đâu người ta phải nghe là phải rất giỏi, nên triều Trần đã xuất hiện những nhân tài từ những buổi đầu từ rất sớm. Nhưng mà đặc biệt vừa giỏi văn, vừa giỏi võ mà lại cực kỳ mộ đạo.
[1:29:02]Đó, cái đặc biệt của triều Trần là như vậy. Và bên Trung Hoa thì có gì? Có Thiếu Lâm Tự, nhưng ở Việt Nam ta có các triều đại nhà Lý, nhà Trần, các vị vua mộ đạo mà rất là giỏi võ. Nên ngày hôm nay là một người xuất gia ở trong Đạo Phật, hoặc là người tại gia còn làm cư sĩ, ai cũng phải gì? Phải đa năng và phải giỏi võ hết. Quý thầy cũng phải ráng học võ nha. Quý thầy cũng phải ráng học võ vì đó là truyền thống của Đạo Phật. Vì Đạo Phật không phải là trốn đời, mà Đạo Phật là gì? Đại hùng, đại lực, đại từ bi. Đại từ bi thì ta dễ hiểu rồi, ta cứ nguyện lòng mình yêu thương chúng sinh, từ bi sẽ phát triển, nhưng muốn có đại hùng, đại lực thì phải làm sao?
[1:29:50]Tập võ. Có sư thầy có võ không ạ? Dạ, phải theo mấy thầy học. Thầy Minh Lẫn có biết võ đó, ở trong Nam đã biết võ, qua đây mà dạy cho Phật tử, nghe không? Và như vậy, cái lý tưởng giải thoát cao siêu của Phật giáo không mâu thuẫn với trách nhiệm làm người. Ta nhớ cái câu này nha: lý tưởng giải thoát cao siêu của Đạo Phật không mâu thuẫn với trách nhiệm làm người. Còn cái người phàm phu á là
[1:30:22]hoặc là lơ là trách nhiệm của một con người đối với xã hội, đối với đất nước, hoặc là hoàn thành trách nhiệm với đất nước rồi chấp công, kể công. Đó là phàm phu. Nhắc lại, nhắc lại nè: cái người phàm phu thì bị một trong hai cái bệnh: một á là lơ là, vô trách nhiệm đối với đất nước, mãi chỉ lo tìm cái lợi cho mình, quên đi cái đất nước ta đang cần cái điều gì, cần phải đóng góp điều gì mà hết mà ráng sức đóng góp cho đất nước, chỉ biết lợi phần mình, đó là người phàm phu. Và phàm phu cũng có một hạng thứ hai là có siêng, nhiệt tình đóng góp, cống hiến cho đất nước này rồi chấp công, kể công. Còn Bồ Tát thì sao ạ?
[1:31:10]Bồ Tát thì sống tràn trề trách nhiệm đối với đất nước nhưng mà không không chấp công, không kể công, đó là Bồ Tát. Hôm nay ta phải học cái bài này. Ta phải nguyện lòng là ta sống với tất cả cái trách nhiệm của mình đối với cộng đồng nhỏ của mình, đối với đất nước của mình và mai sau này còn đối với cả thế giới nữa. Ta phải hết sức có trách nhiệm. Ta sống hết sức trách nhiệm với cộng đồng của mình, với đất nước của mình, và sau này khi hội nhập ta còn trách nhiệm đối với thế giới, nhưng không bao giờ ta không bao giờ chấp công, không bao giờ kể công nha, thì ta mới là Bồ Tát được, mới là đệ tử Phật được.
[1:31:54]Còn hoặc là không chịu làm gì để sướng bản thân thì đó là phàm phu, không phải đệ tử Phật, hoặc là làm xong rồi đi đâu cũng kể công, người đó không phải đệ tử Phật, người đó không phải Bồ Tát. Nhớ như vậy nha. Đây là bài học lớn mà ta học được từ nơi nơi các Ngài. Vua Trần Nhân Tông có một bài thơ rất là nổi tiếng, đó là bài gì?
[1:32:18]Sau này mọi người hay dẫn bài thơ đó, là bài Cư Trần Lạc Đạo. Ở đời mà vui đạo, tức là Ngài nói lúc cái thân phận Ngài, Ngài chưa thể xuất gia, nhưng mà Ngài đã vui được với đạo, tức là đã ngộ đạo rồi đó. Cư trần là ở trong trần thế, nhưng mà lạc đạo là vui với đạo. Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc xan hề khốn tắc miên. Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch, Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền. Thì sau này Ngô Tất Tố dịch rất là nổi mà sau này không ai dám dịch lại vì ổng dịch rất là hay: Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,
[1:33:04]Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền. Trong nhà có báu thôi tìm kiếm, Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền. Là như vậy. Bài ca đó nổi bài thơ đó nổi tiếng. Thì trong cái bài thơ đó nó có mấy cái câu dễ hiểu, ví dụ như ở trong đời mà vui đạo thì thôi sống tùy duyên, thì duyên khó khăn ta sống theo khó khăn, mà lúc thuận lợi thì ta sống theo thuận lợi, chứ không có không buồn, không mong. Tức là lúc khó thì không mong là phải sướng, mà lúc sướng thì không có là hưởng thụ, tức là ta tùy duyên mà giữ cái đạo ở trong cái duyên đó. Là khi nắng cháy, khi mưa sa, lúc nào ta cũng sống thuận với duyên đời nhưng mà lòng thì lúc nào cũng vui vui đạo.
[1:33:52]Đó, sống đời vui đạo phải tùy duyên. Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền. Cái câu này mới là câu thắc mắc nè.
[1:34:01]Ở đây ai đói ăn mệt ngủ đâu giơ tay lên? Ai cũng vậy hết. Đói ăn mệt ngủ. Thì như vậy có gì là đạo cao siêu không ạ?
[1:34:14]Như vậy có gì đạo cao siêu đâu mà một ông Sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm ổng đi quảng bá cho một cái việc mà ai cũng làm được, phải không? Ai cũng làm được. Cái gì? Đói mà nhịn thì mới khó, phải không? Mà mệt mà không chịu ngủ mới khó, còn đói ăn kiếm cái gì ăn liền, mệt nằm lăn quay ngủ liền ai cũng làm được. Thì cái đó có gì cao siêu đâu mà phải đưa vào một bài thơ mà trở thành bài thơ rất là nổi tiếng? Cơ tắc xan hề khốn tắc miên. Thì như vậy là cái đạo lý nằm ở chỗ nào? Thì có một người hỏi một thiền sư, nói: "Thế nào là gia phong của Hòa thượng?" Cái vị đó mới trả lời: "Thì đói ăn, khát uống, mệt nghỉ." Cái vị thiền sinh nó mới hỏi, vị thiền tăng hỏi:
[1:34:57]"Ủa, như vậy đâu khác gì người đời?" Thì ông thiền sư mới trả lời: "Khác á. Người đời đói không biết ăn, khát không biết uống, mệt không biết nghỉ vì mãi lo trăm chuyện. Còn tâm các Ngài thanh tịnh, đói thì ăn nhưng mà sự thật là lòng lúc nào cũng thanh tịnh. Nên khi ăn các Ngài tâm thanh tịnh, khác với ta khi ăn làm sao?" Ăn như là... Có cô nói là như heo, thầy không nói à nha. Có cô đó cô nói thầy không nói. Tức là ta ăn trong cái động tâm, loạn tâm, tham ăn ha, nhưng mà các Ngài ăn mà như không ăn nhưng mà vẫn ăn vì sức khỏe. Mệt các Ngài nghỉ mà thanh thản duỗi chân mà nghỉ, còn ta đầu nghĩ trăm chuyện.
[1:35:46]Thì như vậy rồi bắt đầu gặp một số vị sư mà họ tu theo cái giới luật á, họ mới phản đối. Họ nói rằng Đạo Phật không có chuyện đó, Đạo Phật là ngày ăn mấy bữa? Ăn một bữa. Mà nếu mà theo ngài Trần Nhân Tông thì ngày ăn mười bữa, hễ đói lúc nào ăn lúc đó, thì như vậy ngược với Đạo Phật. Như vậy ai đúng á?
[1:36:10]Ai đúng?
[1:36:14]Nếu nói rằng cái ông sư mà giữ giới luật không đúng thì như vậy ngài Trần Nhân Tông sai. Mà nếu Trần Nhân Tông sai có nghĩa là Ngài chưa có ngộ chưa ngộ đạo. Mà Ngài rõ ràng là Ngài Ngài ngộ đạo. Ngài ngộ đạo thì như vậy câu nói của Ngài đói ăn mệt nghỉ không sai, mà nếu Ngài không sai thì chẳng lẽ cái ông sư giữ giới ổng sai? Như vậy phải làm sao? Nên đây là chỗ chỗ cao siêu trong Đạo Phật nè. Hôm nay sẵn cái bài này chúng ta nói luôn. Ví dụ bình thường cái giới luật của Đạo Phật là ngày ăn một bữa, vì cái thời xưa là đi khất thực mà ăn và cho gì ăn nấy, cho nên có khi người ta cho cả thức ăn mặn.
[1:36:55]Và do là ăn thức ăn mặn cho nên là các Ngài tương đối đủ năng lượng. Và nếu mà cứ sáng đi khất thực một lần, chiều đi khất thực một lần thì còn gì thời gian để học và tu nữa không ạ? Không, cho nên Phật không cho đi nữa, thôi ăn bữa được rồi. Rồi chiều đến có khi các cư sĩ họ đến họ cúng dường chút bánh, chút trái cây, vậy là đủ rồi. Ăn một buổi sáng thôi, nên ăn nhiều nhưng ăn một buổi để tu vì hoàn cảnh lúc đó như thế. Còn sau này chùa thì thường là quý thầy không đi khất thực nữa, bởi vì sao? Bởi vì Phật tử đã biết đem đến cúng dường rồi, cho nên là thôi ở nhà cứ nấu cơm ăn và ăn vừa thôi không ăn dồn một bữa.
[1:37:35]Nhưng mà vì ăn chay cho nên là cứ ăn sao cho đủ năng lượng và cái quan trọng là cái gì? Tâm mình thanh tịnh, thân mình thanh tịnh. Cái đó chứ đừng chấp nguyên tắc. Còn chấp nguyên tắc á thì lại rơi vào cái một cái tội mà Phật gọi là giới cấm thủ. Giới cấm thủ. Giới cấm thủ là sao? Là chấp nguyên tắc quá. Mặc dù nguyên tắc đó là giới là luật á, nhưng mà hễ chấp quá thì lại là một cái tội, lại là vô đạo đức là như vậy. Đây là cái hay trong Đạo Phật nè. Cái hay trong Đạo Phật là lúc nào cũng kêu gọi phải giữ giới luật nhưng mà không được trở thành giới cấm thủ. Đây, giữ giới mà không được trở thành giới cấm
[1:38:23]thủ, đây mới là cái trung đạo của Đạo Phật. Ví dụ như thế nào là không trở thành giới cấm thủ mà thế nào là phải giữ giới luật? Ví dụ như bây giờ nói hai cái bàn này ngồi là khi đầu cái nguyên tắc ta định ra là dành cho ai ngồi? Cho quý thầy ngồi hoặc là có vài quan chức địa phương nếu người ta đến, người ta là bí thư, chủ tịch xã thì mình cũng trọng vọng một chút, phải không? Thôi mời ngồi đây để nghe cái bài giảng, đó là nguyên tắc, nguyên tắc. Rồi bây giờ, rồi cái dưới thì thì thiếu ghế ngồi, trên này thì dư ghế ngồi mà một người nào tới ngồi ta không cho, ta nói không, cái này vậy. Thì như vậy là sao?
[1:39:04]Bắt đầu là chấp nguyên tắc đó. Như hồi nãy như anh bảo vệ vậy, thấy không cho anh ấy ngồi, thầy nói trong khi ghế không ai ngồi mà dưới kia thì phải ngồi dưới đất, nên là thôi cứ vậy, nên lúc đó ta phải tùy duyên như vậy. Mà đối xử với nhau thực sự cái chính là gì? Cái chính là tình yêu thương với nhau. Đạo là gì? Đạo là tình yêu thương với nhau, chứ đạo không phải là nguyên tắc. Vào đạo mà chỉ chấp nguyên tắc là ngay đó ta đi ngược lại đạo Phật liền, ta rơi vào giới cấm thủ liền. Mặc dù ta cần có nguyên tắc, ta cần có giới luật để có tôn ti trật tự, có nề nếp, nhưng mà hễ chấp cái đó, lấy cái đó là chính thì ta đi sai đạo Phật liền. Vì sao vậy?
[1:39:46]Vì cái lõi của đạo Phật vẫn là gì? Lòng từ bi, là tình yêu thương của con người với con người với nhau. Nên ta nhớ như vậy. Cho nên đạo Phật rất là nề nếp, rất là tôn ti, rất trật tự, rất kỹ lưỡng, nhưng lại sao? Rất là phóng khoáng, rất là hiền lành, rất là yêu thương. Nhớ như vậy, và như vậy ta mới đi đúng con đường của đạo Phật. Và phải tu như vậy, rất là nề nếp, rất tôn ti, rất trật tự mà rất yêu thương, không chấp thì ta mới hiểu được cái câu mà: Cơ tắc xang hề khốn tắc miên, đói đến thì ăn, mệt ngủ liền. Còn à ngài có một bài bài phú cũng là Cư trần lạc đạo phú mà nó là bài phú dài hơn, trong đó ngài có nói về cái quan điểm đối với Tịnh độ. Ngài nói là:
[1:40:35]Tịnh độ là lòng sạch, chớ hỏi về cảnh Tây phương. Di Đà là tâm sáng, khỏi nhọc phải đi tìm Cực Lạc. Ồ. Cái quan điểm của ngài với Tịnh độ là vậy, là làm sao tu được cho tâm mình thanh tịnh chứ không phải là đi cầu một cái gì xa xôi. Và khi tâm mình thanh tịnh được rồi, đó là nhân của Tịnh độ thì quả Tịnh độ sẽ đến. Quả Tịnh độ sẽ đến là đâu? Là ta có thể vãng sinh. Nhưng với điều kiện phải có cái nhân Tịnh độ là gì? Là lòng sạch mà tâm sáng, đó mới là chính. Cho nên ai hỏi ngài về cái Tịnh độ cái ngài trả lời rất là dứt khoát: Tịnh độ là lòng sạch, không cần chớ hỏi về cảnh Tây phương. Di Đà là tâm sáng, khỏi phải nhọc đi tìm Cực Lạc.
[1:41:30]Và tu làm sao cho tâm thanh tịnh, đó là quan điểm của ngài về Tịnh độ. Còn ai hỏi gia phong của ngài là cái gì? Gia phong là là cái lối sống của ngài, là cái cách tu, là cái cốt lõi của ngài, cái tông phái ngài là gì? Ngài trả lời hai câu này, mọi người nghe giùm thầy: Áo rách che mây, sáng ăn cháo. Bình xưa tưới nguyệt, tối uống trà. Là sao? Thế nào là gia phong của của tổ? Áo rách che mây, sáng ăn cháo. Bình xưa tưới nguyệt, tối uống trà.
[1:42:11]Ai hiểu, ai hiểu câu này thầy cho làm tổ luôn đó.
[1:42:21]Trong cái câu trả lời của ngài mỗi một câu vậy nó có hai vế: thì "Áo rách che mây" một phết, "sáng ăn cháo". Cái câu thứ hai cũng vậy: "Bình xưa tưới nguyệt" phết, "tối uống trà". Hai câu nhưng mỗi câu có hai vế. Cái vế đầu là cực kỳ cao siêu, cái vế thứ hai cực kỳ bình thường. "Áo rách che mây", tức là cái áo của người tu á là bần đạo á, cái thời xưa vải nó không có tốt như vải thời nay, nó không có... vải bây giờ thầy cũng chả biết nữa, toàn đệ tử mua cho thầy mặc nên thầy không biết. Nên vải hồi xưa nó dễ rách, vải bố hay gì mà, dễ rách. Nhưng mà cái áo của ngài đó che được cả mây trời thế này.
[1:43:04]Như vậy cao siêu không ạ? Rất là cao siêu. Cái cảnh giới đó là cảnh giới của người chứng ngộ ít nhất là Nhị quả Nhất lai Tư-đà-hàm, ít nhất. Vì cái người mà chứng tới Nhị quả Nhất lai Tư-đà-hàm là thấy tâm mình trùm cả trời đất. Chính vì thấy tâm mình trùm cả trời đất nên các ngài nói ẩn ý "áo rách che mây". Chứ cái áo làm sao mà che mây được. Mà không phải áo che mây mà chính cái gì che mây? Tâm các ngài che mây. Mà cảnh giới thấy tâm mình trùm phủ trời đất là cảnh của một bậc chứng Nhị quả Nhất lai. Cho nên ngài nói câu rất là thi vị, lãng mạn nhưng mà nói được cái tâm của ngài, "áo rách che mây".
[1:43:48]Nhưng mà cái cao siêu như vậy để làm gì? Sáng ăn cháo. Sống một đời bình thường nha, không làm chuyện gì lạ lùng, kỳ đặc, không làm chuyện thần thông, phép lạ hay cái gì mà nghe nó phải kỳ quái. Ngài sống bình thường, nhưng trong cái bình thường đó rất là phi thường, tâm rất phi thường, không ai biết được hết. Người ta chỉ nhìn thấy ngài sáng ăn cháo, tối uống trà, đâu biết cái cái áo rách ngài che được cả mây trời. Đó, nên cái phi thường nhưng phải giữ cho bình thường, đó là gia phong của Trúc Lâm á. Tâm rất phi thường nhưng bên ngoài lúc nào cũng thể hiện bình thường. Và đạo Phật ta là như vậy.
[1:44:29]Không bao giờ nói chuyện gì lạ lùng, kỳ quái. Lúc nào cũng sống rất bình thường, nhưng người tinh ý phải biết cái người bình thường trước mặt mình đó là một người phi thường bởi vì đạo cao đức trọng, thanh thản, uy nghi. Mà việc cái người, cái vị đó biểu hiện hết sức bình thường: sáng ăn cháo. Cái câu thứ hai: "Bình xưa tưới nguyệt, tối uống trà". Cái câu... cái bình xưa là cái bình cổ á, bình cổ mà đem tưới cây á, thì ngày xưa có lẽ là chưa có thùng thiếc như kiểu ta bây giờ, bây giờ ta tưới là ta tưới bằng thùng thiếc, nhưng ngày xưa có lẽ là bằng cái chum cái vại nha, xách một cái vại nặng lắm, đựng nước rồi đi mà tưới cây.
[1:45:10]Nhưng mà có tưới gì, tưới cây hay là tưới gì? Tưới ánh trăng. Khiếp chưa? Là vì sao vậy? Cái bình cổ của ngài tức là tượng trưng cho cái gì? Cái tâm chứng của ngài sâu xa, tưới được tới ánh trăng vậy làm sao? Trùm luôn cả cả trăng sao trời đất. Cái tâm đó cao siêu không ạ? Cái tâm chứng nó cao không ạ? Cái tâm chứng của ngài Trần Nhân Tông rất cao. Mà ngài nói ẩn ý thôi: "Bình xưa tưới nguyệt", nhưng mà để làm gì? Tối uống trà. Làm chuyện rất bình thường. Tức là trong cái cao siêu đó chỉ mình mình biết nhưng thể hiện ra bên ngoài rất là nhẹ nhàng, bình dị. Và đó là gia phong của Trúc Lâm. Nên ngày hôm nay ta cũng vậy.
[1:45:57]Ta đi theo ngài ta cũng tu cái đó, là bên trong mình cái ước nguyện cao siêu hướng về Bồ-đề vô thượng, hướng về giác ngộ, giải thoát, đêm xuống ta ngồi thiền, tịnh tâm, lắng lòng theo dõi trong từng hơi thở, thấy thân này không phải không phải ta, tâm này không phải ta, chẳng có gì là ta, nhưng tâm trong từng hơi thở vào, trong từng hơi thở ra trọn niềm tôn kính Phật. Chuyện đó cao siêu không ạ? Cao siêu, nhưng ta có đem khoe không? Không, phải kín miệng, không bày, không vẽ, không khoe mà lúc nào trong đời sống làm gì? Hết sức là bình thường nha. Ăn cơm, uống nước, phụng sự, lo cho đời, yêu thương con người, những chuyện rất bình thường.
[1:46:47]Và đó chính là gia phong của... của Trúc Lâm. Sướng không ạ?
[1:46:58]Ngài có một cái câu trả lời thế này. Có một vị tăng hỏi ngài, thầy giảng bao lâu rồi nhờ?
[1:47:08]Chắc sang 1 tiếng 40 phút rồi hả? Ồ, lố giờ rồi. Vậy phải nghỉ hả? Đồng hồ chạy nhanh hả? Thầy nói tiếp chút nha. Thôi thầy nói tiếp thêm chút nữa ha.
[1:47:27]Có một vị tăng hỏi ngài câu này: "Khi giết người không nhìn lại thì thế nào?" Ngài trả lời: "Gan dạ cùng mình." Ủa, tại sao trong đạo mà có sát thủ giết người đâu đây vậy? Ai biết câu này?
[1:47:46]Ai biết câu này là phải lập tức xuất gia liền. Cái người nào mà biết "giết người không nhìn lại, gan dạ cùng mình", người đó ngày hôm nay thầy sẽ thỉnh chư Tăng cạo tóc liền. Vì người đó đã xứng đáng xuất gia rồi.
[1:48:07]Thế nào là "giết người không nhìn lại", ngài trả lời "gan dạ cùng mình". Cái ông Tăng hỏi câu đó cũng là hàng long tượng đó. Và cái câu của ngài "gan dạ cùng mình" là một lời khen. Nhưng ta phải hiểu ông Tăng giết ai. Chứ còn nghe lời mà không hiểu, bắt đầu đi học làm sát thủ rồi giết người ta, chết, bị bắt bỏ tù à, ha. Giết người không ngó lại, gan dạ cùng mình.
[1:48:35]Để thầy kể chuyện nha, kể câu chuyện gợi ý mọi người hiểu "giết người không ngó lại" là thế nào. Có một người thanh niên tuổi vừa lớn, học rất giỏi, tâm hạnh rất hiền lành và rất mộ đạo. Nhà thì giàu và dung mạo thì đẹp trai.
[1:48:57]Một người như vậy thì sao ạ? Quá nguy hiểm đối với các cô gái.
[1:49:04]Nhà giàu, đẹp trai, học giỏi, hiền lành, phải không? Tiêu chuẩn như vậy tìm dễ không ạ? Quá khó nha. Nên cái người thanh niên như thế là mối nguy hiểm đối với các cô gái, ừm. Và vì vậy cho nên rất nhiều cô đã làm sao?
[1:49:25]Đã phải lòng và phải bày tỏ. Và không phải là chỉ bày tỏ đơn sơ đâu, có nhiều người còn
[1:49:34]đưa ra những cái giá rất cao nha, để muốn làm sao, muốn sở hữu cái người thanh niên đó. Và có những cô rất đẹp, cũng rất ngoan, rất xinh, rất giàu
[1:49:49]đến với anh chàng. Nhưng mà tiếc rằng anh chàng này ảnh thuộc loại giết người không ngó lại. Khi đến trần, "Thưa anh,
[1:50:02]nếu không lấy được anh thì em sẽ...", có câu đó. Thì ông này ổng trả lời sao? "Hãy chết đi!". Đó là giết người không ngó lại đó. Đúng không ạ? Người ta đòi không lấy được mình thương mình, không lấy được mình người ta chết, mà mình thản nhiên để cho người ta chết tức là gì? Tức là giết người, mà giết người không ngó lại, cho chết. Thì cái người đó Tổ khen là gan dạ cùng mình.
[1:50:35]Tức là người dám cắt đứt cái duyên ái với đời, duyên ái dục với đời. Thì người đó phải làm sao? Phải lo mà đi xuất gia liền, vì người đó đủ nè, đủ tư chất để đi xuất gia rồi. Giống như quý Thầy vậy đó. Đẹp trai như thế này mà vô hôm nay ngồi đây thì toàn là những người mà giết người không ngó lại không mới vô đây ngồi, mới ngồi lên trên cái bàn này nha. Hồi nãy có cái anh cư sĩ ảnh ngồi lên bàn này không biết đã giết ai chưa không biết.
[1:51:06]Đó là một cái câu một cái câu trong những thiền ngữ vui. Ta thấy thế này là ngài ở ngôi cao làm hoàng thái tử, làm vua mà ăn chay tu hành, không hưởng thụ.
[1:51:23]Nên làm vua mà không hưởng thụ, cái đức cực lớn, đủ để kéo cả một dân tộc này chiến thắng ngoại xâm. Tại sao Mông Cổ thua ta? Tại họ không có ông vua biết tu, không có ông vua biết ăn chay, không có ông vua mà không hưởng thụ. Vì họ có những ông vua hưởng thụ, nên họ phải thua một đất nước nhỏ bé mà ông vua không hưởng thụ. Thua chỗ đó. Và hôm nay ta được là một một dân của đất nước Việt Nam anh hùng, ngẩng cao đầu nhìn thế giới, chiến thắng giặc hung hãn nhất thế giới ba lần, bởi vì ta có những ông vua không hưởng thụ, ta hưởng được cái đức của ngài. Hôm nay ta làm một con dân của một nước Việt Nam hay nói xa
[1:52:10]là một nước Đại Việt anh hùng là nhờ cái đức của ngài. Ta tự hào vì điều đó, ta tôn kính ngài vì điều đó, nhưng mà ta phải sống để xứng đáng với cái đức mà ngài để lại cho ta. Là sống như thế nào? Cũng vậy, ta sẽ làm phúc rất nhiều và khi quả báo đến, giàu sang quyền quý thì ta không, không hưởng thụ. Nhớ nha, thì để cái đức lại nuôi con cháu mình về về sau. Còn ai mà sống sung sướng hưởng thụ, quả báo lành đến thì lo hưởng thụ, người đó cứ là một chúng sinh trầm luân mãi mà không còn đức để lại cho con cháu về sau. Nên nếu ta nói về ngài, nói về những cái hay của các bậc tiền nhân như thế, nói mãi không hết mà lòng ta yêu kính các ngài vô hạn.
[1:53:06]Nên hôm nay tại ngôi chùa này, ta tưởng nhớ lại người xưa, lòng ta rưng rức. Nói như Trương Hán Siêu: "Nhìn dòng sông mà ủ mặt, nhớ người xưa lệ chứa chan".
[1:53:28]Ta yêu kính các ngài, ta tưởng nhớ các ngài, nên ta nguyện lòng tinh tấn tu hành, thắp lại cái ngọn đèn thiền mà các ngài đã đã thắp. Ta ráng tu hành để xây dựng lại Phật giáo được phát triển hưng thịnh. Ta noi gương các ngài mãi mãi giữ gìn đất nước này được bình yên, được phát triển. Và trong cái cái riêng tư của mình, ta hết sức là tạo nên những công đức dày mà nguyện lòng khi quả báo đến thì quyết lòng không không hưởng thụ, để cái đức này mà nuôi con cháu ta về sau. Hôm nay về nơi chùa Báo Ân này, ta tưởng nhớ đến Tổ.
[1:54:13]Và ta cũng mong rằng Nhà nước, Giáo hội có một cái chính sách, một chủ trương là phục dựng lại cái ngôi chùa Báo Ân này cho nguy nga, hoành tráng, mọi người được về đây tu tập như là đời ngài Sơ Tổ và ngài Nhị Tổ Pháp Loa nha. Là đúng là chỉ đạo ta Nhà nước phải quy hoạch lại, lấy lại đất cho chùa. Dĩ nhiên là không lấy hết được đâu, tại vì ngày xưa đất chùa rộng lắm, rộng mênh mông, nhưng mà ta phải lấy lại một phần nào tương đối là có tầm vóc, xứng đáng. Để bên dòng sông Thiên Đức này, ta phục dựng lại ngôi chùa Báo Ân, cũng là nhớ ơn chư Tổ để cho đời sau này nhìn vào đó mà biết rằng mình phải tu như thế nào, mình phải sống như thế nào để xứng
[1:54:58]đáng với chư Tổ mà xây dựng lại đất nước ta, đạo pháp ta hùng cường, hưng thịnh. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:55:32]Trời Nam vang dậy kinh hoàng, tàn ác toán lũ quân Nguyên.
[1:55:43]Lớp lớp vung gươm xông pha quật cường, sử oai non sông uy linh Đại Việt. Một lòng đem thân hy sinh máu xương, nghìn đời dâng cho quê hương mến thương. Muôn lời reo câu nói Diên Hồng, muôn đời sau con cháu Tiên Rồng.
[1:56:09]Theo lệnh vua bao lớp lên đường, theo cờ bay vung kiếm sa trường.
[1:56:32]Thôn xa xóm gần tưng bừng, lên nương xuống ruộng chung sức. Ai ai cũng là anh hùng, nơi đâu cũng lập chiến công. Rừng sâu núi cao bày quân, triệu dân sóng lên gài chông. Chương Dương vùi thây quân cướp, Thăng Long xóa sạch giặc thù.
[1:57:08]Nghìn đời yêu thương núi sông.
[1:57:28]Lạc Long reo vui chiến công. Giặc tan, nước non bình yên. Làng quê hát câu đoàn viên. Nghìn đời vang danh tướng quân. Bạch Đằng gươm bay khí thiêng. Lòng vua sáng như mặt trời. Lòng dân sắt son biển khơi, sáng muôn đời.
[1:58:31]Còn đó bóng người anh hùng. Còn đó câu chuyện bao dung. Ngời sáng trang sử phi thường. Đẹp quá con đường quê hương. Vua lên Phật non cao, thênh thang cùng trăng sao, áo cà sa bay theo mây ngàn.
[1:59:05]Chuông ngân rền sông núi, câu kinh mở muôn lối, nước Nam ta có một Phật hoàng.
[1:59:34]Oai hùng danh thơm vang xa khắp nơi.
[1:59:49]Chiêm Thành, lân bang xin dâng đất vui.
[1:59:57]Huyền Trân bước chân nước non nghìn dặm. Mưa nắng mai sau nhớ người âm thầm.
[2:00:35]Ngày nay khi non sông đang yên vui thái bình reo ca,
[2:00:41]đừng quên cha ông ta bao năm qua bước vào phong ba. Để những khi ban mai sương bay xa lúa vàng trên đồng. Ngày mới cho em thơ chân tung tăng bước trong nắng hồng. Người ơi xin thương nhau tay chung tay với muôn tấm lòng, dựng xây quê hương ta muôn năm sau góp lời núi sông. Biển xanh nơi khơi xa hay non cao cũng đầy thương nhớ. Ngày mai ta bên nhau đưa nhau đi khắp trời mộng
[2:01:27]mơ.
[2:01:47]Trời đất vang dậy kinh hoàng. Tàn ác voi ngựa quân Nguyên. Lớp lớp vung gươm xông pha quật cường, giữ lấy non sông Uy Linh Nhà Trần. Một lòng đem thân hy sinh máu xương, nghìn đời dâng cho quê hương mến thương. Muôn lời reo câu nói Diên Hồng. Muôn đời sau con cháu Tiên Rồng. Theo lệnh vua mau mau lên đường. Theo cờ bay vung kiếm sa trường.
[2:02:46]Thôn xa xóm gần tưng bừng, lên nương xuống ruộng chung sức. Ai ai cũng là anh hùng, nơi đâu cũng lập chiến công. Rừng sâu núi cao bày quân, triệu dân sóng lên gài chông. Chương Dương vùi thây quân cướp, Thăng Long xóa sạch giặc thù.
[2:03:36]Nghìn đời chân ta bước theo. Trùng trùng muôn quân hát reo. Giặc tan, nước non còn đây.
[2:03:55]Dựng xây trái tim bàn tay.
[2:04:02]Nghìn đời dân ta biết ơn. Đền thờ quanh năm khói hương. Đại vương thét câu hào hùng. Nghìn phương sắt son quỳ xuống, bái phục!
[2:04:45]Ngọn sóng chôn vùi quân thù. Ngọn kiếm đi vào thiên thu. Cả nước chung một tấm lòng, giữ lấy bóng cờ non sông.
[2:05:08]Vua lên Phật non cao, thênh thang cùng trăng sao, áo cà sa bay theo mây ngàn.
[2:05:19]Chuông ngân rền sông núi, câu kinh mở muôn lối, nước Nam ta có một Phật hoàng.
[2:05:55]Vua về phương Nam đem bao mến thương.
[2:06:03]Ban lòng tin yêu lan xa bốn phương.
[2:06:12]Vạt chéo nâu, nước non mở rộng.
[2:06:20]Con cháu mai sau nhớ người âm thầm.
[2:06:49]Ngày nay khi non sông đang yên vui thái bình reo ca,
[2:06:55]đừng quên cha ông ta bao năm qua bước vào phong ba. Để những khi ban mai sương bay xa lúa vàng trên đồng. Ngày mới cho em thơ chân tung tăng bước trong nắng hồng. Người ơi xin thương nhau tay chung tay với muôn tấm lòng, dựng xây quê hương ta muôn năm sau góp lời núi sông. Biển xanh nơi khơi xa hay non cao cũng đầy thương nhớ. Ngày mai ta bên nhau đưa nhau đi khắp trời mộng mơ. Người ơi khi ta nghe câu thơ xưa những trang sách vàng, lòng ta như bay lên trên quê hương cất lời hát vang. Tình yêu ôi mênh mông trong con tim khắp trời mây gió. Việt Nam ta bên nhau chung tay xây đắp đời tự do.