Transcript: Vai Trò Của Tam Vô Lậu Học Trong Việc Giữ Giới

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:06:28

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:00]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch trên hòa thượng trưởng ban, kính chư tôn hòa thượng, thượng tọa, lãnh đạo tỉnh hội Phật giáo Vĩnh Long. Kính thưa chư vị tôn túc trong ban tổ chức Đại giới đàn Pháp Hải. Kính thưa các giới tử.

[0:27]Con, con xin phép đại lao các ngài để có cái vài lời nhắc nhở cho các giới tử khi bước vào cái một khúc quanh lớn trong cuộc đời tu hành của mình. Xin các ngài chứng minh hộ niệm cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:55]Ừm, hôm nay thì tôi được vinh dự về đây nói chuyện với các thầy. Ngày mai, hình như ngày mai tấn đàn tỳ kheo luôn. Ngày mai là quý thầy đăng đàn bước lên một cái giới bậc hơn lúc trước. Cái quan trọng nhất là những thầy mà ngày mai tấn giới tỳ kheo, mình là chính thức là một tu sĩ của Phật giáo và cái hình ảnh mà mọi người đều cung kính. Trong cái thời đại ngày hôm nay, cái sự cám dỗ của cái vật chất của khoa học công nghệ, kỹ thuật rất là lớn. Con người ta vì cái sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, vì cái sự phồn vinh của vật chất hơn hẳn của mấy trăm năm trước, mấy mươi năm trước gần đây, nên lòng người

[1:52]sự thực là cái hướng về cái tâm linh tu hành đã giảm rất là nhiều. Phải là những người rất có thiện căn từ nhiều kiếp trước thì đời này mới có thể xuất gia theo Phật, không phải dễ đâu. Nên quý thầy phải hiểu như vậy. Quý thầy được bước vào nhà đạo, mà hôm nay đến dự cái giới đàn, quyết tâm trọn cuộc đời của mình đi theo con đường của Phật thì cái công đức này, cái thiện căn này không phải một vài kiếp mà có. Càng ngày rồi quý thầy sẽ càng thấy. Ví dụ bây giờ hôm nay ngồi đây, 5 năm sau, 10 năm sau, 20 năm sau, cái xã hội còn thay đổi dữ dội nữa. Lúc đó ta sẽ thấy rằng là cái tâm linh tu hành sẽ bị thử thách rất là lớn.

[2:45]Người ta có thể còn mộ đạo nhưng mà người ta không không muốn xuất gia nữa. Người ta thích sống ở đời cư sĩ để vừa là được hưởng cái thế giới vật chất mà cũng gọi là cũng tu tập theo đạo Phật. Khó có con người mà khước từ được thế gian để đi hẳn vào con đường đạo, trở thành một bậc mô phạm mà đứng đó làm bóng tùng, làm tiêu bản mà dẫn dắt, hướng dẫn, dạy dỗ những thế hệ nối tiếp sau này, rất là khó. Nên hôm nay quý thầy đã ngồi đây rồi, phải nhớ cái trọng trách của mình rất là lớn trong việc mà giữ gìn mạng mạch Phật pháp cho mai sau. Hôm nay thì tôi đại diện cho chư tôn túc nói về cái giới. Gọi là tuy luật sư ngày hôm nay,

[3:32]giáo giới ngày hôm nay không phải là đem giới luật ra giảng. Vì cái luật của chúng ta không cho phép là chưa thọ giới mà biết về giới. Đó là luật, đó là điều cấm. Mà có người mới hỏi là ủa chưa biết giới thì làm sao bắt người ta thọ giới? À ở đây, đây là một điều khác ý của chư Phật và chư tổ là thế này. Ví dụ như khi ta tu tập ở trong chùa, ta cứ tu theo cái điều ta đã học, làm cho giỏi, ví dụ người vào làm điệu thì những cái điều luật của giới hạnh của một người làm điệu cứ thực hiện cho giỏi. Rồi thầy thấy, à cái đứa này nó đủ sức kham nhận cái giới sa di thì thầy cho mình đi thọ giới sa di.

[4:16]Còn khi mà thọ giới sa di rồi, mình học những cái điều luật của sa di, giới hạnh của sa di cho thuần thục, được rồi thì ông thầy ổng nhìn thấy, à cái đứa này nó đủ sức kham để trở thành tỳ kheo rồi, vì trong cái điều luật của sa di nó đã phảng phất phảng phất cái giới của tỳ kheo nằm trong đó rồi. Nhưng mà tỳ kheo thì nhiều hơn, nhưng mà trong cái điều luật sa di đã phảng phất cái giới tỳ kheo, mà khi mình thực hiện đúng cái phẩm hạnh của sa di mà thực hiện một cách xuất sắc thì thầy mình mới cho mình đi thọ tỳ kheo. Mà khi thọ tỳ kheo rồi, thọ xong giới đàn rồi ta chỉ thọ chính thức có bốn giới, nói tổng quát thôi.

[4:55]Rồi về, cái phần sau thọ giới đó mới là rắc rối. Cái phần sau thọ giới ta phải học luật, là mình phải học 250 giới tỳ kheo, ni thì 348 giới tỳ kheo ni, là từng phần. Nội cái bốn giới ta thọ tức là bốn giới ba la di, còn là 13 pháp tăng tàn, hai pháp nghĩa là bất định, 30 pháp xả đọa, 90 pháp nghĩa là ba dật đề, rồi bảy pháp hối quá, 100 pháp chúng học, bảy pháp diệt tránh. Từng điều từng điều, tại sao cái giới đó có, rồi cái giới trong thời đó Phật chế và thời nay còn áp dụng được hay không, vân vân vân vân. Rồi có những điều mà thời đó Phật chưa chế, nhưng thời nay ta có được quyền phạm hay không dù chưa có thành một cái giới?

[5:40]Tại có nhiều điều như vậy, chưa thành một cái giới vì thời xưa không có. Ví dụ như thời xưa làm gì có ma túy nên không hề có cái giới là cấm tỳ kheo là sử dụng ma túy, thuốc lắc, hồi xưa không có. Bây giờ nói: "Ủa, Phật không cấm nên cho nên tôi dùng", có nên hay không? Nên vì vậy, rõ ràng có những điều ví dụ nói bây giờ có một cái giới nào đó về y, về áo thì thôi ta không được nói ra. Nhưng mà khi ta đọc ta thấy cái giới này bây giờ mình đâu có bao giờ có cơ hội để phạm nữa. Vì thời đó, hồi xưa thì có cái cơ hội để phạm, nhưng thời nay không hề có thể phạm cái giới đó được nữa. Nhưng mà giới điều cứ ghi thì thôi ta cứ học.

[6:19]Nhưng hôm nay là cái việc mà ta thọ giới, rồi ta học giới, rồi ta trì giới là cái sự nghiệp cả một cuộc đời mà không phải đời này, còn là những đời sau. Hôm nay đó, tôi nói với quý thầy về cái tính tương tác giữa tam vô lậu học, vì muốn giữ được giới phải có định có tuệ. Mặc dù nói rằng giới sinh định, định sinh tuệ, nhưng sự thực đó là một cái vòng xoay. Có tuệ mới giữ được giới, có định mới giữ được giới, cũng như có giới mới sinh định, có giới mới sinh tuệ. Nên cái tam giác giới, định, tuệ là một cái ba chân kiềng hoàn hảo mà ai cũng phải biết. Ví dụ bây giờ nói rằng là ta cái giới không trộm cắp, không có lấy đồ của người khác làm của mình.

[7:13]Đó, cái giới đó được nhắc tới hai lần trong cái bộ giới tỳ kheo luôn, hai lần. Vì sao ta không lấy đồ của người khác làm đồ của mình?

[7:26]Vì thứ nhất không có cần thắc mắc, nói giới cấm không cho. Nên lúc đó, ví dụ có động cái tâm lên, thấy đồ người đó để không không không có ai dòm ngó gì hết trơn, mình bỏ túi cái chẳng ai biết. Nhưng mà vì giới cấm, không, nên mình dứt khoát không. Thì cái này thuộc về gì? Thuộc về ý chí giữ giới. Ý chí giữ giới. Nên khi giữ giới này là cần ý chí, cần nghị lực, cần một cái cái gọi là cái sự dứt khoát. Mà ngày xưa các thiền sư nói một dao chặt đứt làm hai đoạn, dứt khoát không lấy. Bởi vì giới đã cấm, chỉ vì giới không cho nên dứt khoát không phạm, bằng ý chí mà thôi. Đó, dứt khoát không lấy. Bây giờ rồi cái một ai để một cái một lượng vàng ở ngay bàn dòm

[8:13]quanh không thấy ai hết trơn, mà không phải của mình, không biết ai để không biết nữa, thì thấy rất là dễ bỏ túi cũng không ai biết, nhưng mà vì giới không cho, dứt khoát không đụng tới. Thì cái mà dứt khoát không cầm lấy cái lạng vàng đó là bởi vì ý chí, vì tuân thủ giới luật là một. Rồi cái trường hợp là khi nhìn thấy cái lạng vàng đó, bỗng nhiên nói: "Ủa, cái này mình lấy được cũng chẳng ai biết." Nhưng vì tâm ta thanh tịnh trong thiền định, ta có tu tập thiền định, lòng ta cái tham nó khởi lên là bị cái sức định nó diệt liền. Vì cái sức định nó diệt liền cho nên ta không tham. Không tham mắc gì phải cầm lấy cái lạng vàng mà không phải của mình.

[8:53]Nên cái người này giữ giới bởi vì có sức định. Nên đây gọi là nhờ thiền định mà giữ được, trì được giới. Đó, đó là cái mà gọi là nhờ định mà giữ giới. Hồi nãy đó, dứt khoát không lấy bởi vì đây là giới cấm thì ta gọi là nhờ ý chí mà giữ giới, nhờ giới mà giữ giới, vì tuân thủ giới điều nên giữ giới, tức là nhờ giới mà giữ giới. Trường hợp thứ hai, vì không để cho tâm tham khởi lên trong cái tâm thanh tịnh thiền định của mình nên không có lấy cái lạng vàng đó thì gọi là nhờ định mà giữ giới. Còn trường hợp thứ ba, ví dụ thấy cái lạng vàng đó, không có ai hết, xung quanh không có ai, mình có thể lấy được, nhưng bắt đầu có cái quán niệm, Cái...

[9:39]Vàng này không phải của mình, là của một ai đó để quên. Nếu mình lấy thì có một người nào đó mất. Mà người ta mất, người ta đau khổ. Cái đau khổ đó nó thành cái tội lại cho cái nghiệp của mình. Và việc mà cầm lấy một cái gì đó bỏ vào trong túi mình, lấy cái đồ cũng không phải của mình trở thành của mình, trở thành một vết nhơ nằm trong tâm mình cả một cái cuộc đời này. Cái đó gọi là suy tư về tội phước. Nên cái suy tư về tội phước đó gọi là, gọi là Tuệ. Đúng như vậy. Cho nên đây là vì Tuệ mà giữ Giới. Nên đây quý thầy để ý ta có trong cái ba cái Giới Định Tuệ: nhờ Giới mà giữ Giới, nhờ Định mà giữ Giới và nhờ Tuệ mà giữ Giới.

[10:27]Nên cùng một lúc để có thể giữ Giới được thì không phải chỉ có dùng ý chí không mà phải có gì? Có đủ Giới, Định, Tuệ. Cho nên khi quý thầy bước vào đời sống tu hành, lúc nào thầy tổ mình dạy đi dạy lại cũng trong ba cái điều này. Cũng là Giới Định Tuệ hết. Ví dụ như nói là nói: "Dạ con không có Giới Định Tuệ, con tụng kinh không à." Không, trong kinh từng lời kinh đã bàng bạc ẩn chứa cả Giới cả Định cả cả Tuệ. Chỉ khi nào ta tụng kinh mà tụng như cái máy á, tụng mà không suy nghiệm, không thấm á thì đúng là nó không có Giới không Định không Tuệ á. Tụng mà cho qua á, tụng như con vẹt á. Còn nếu tụng mà ta thấm thì trong lời kinh đều đã bàng bạc Giới Định Tuệ.

[11:13]Mà khi có đủ Giới, có đủ Định, có đủ Tuệ thì ta mới trì Giới được. Đó là cái nguyên tắc, vì đó là cái nguyên lý như vậy. Nên để có thể mà trì Giới cả một cuộc đời, lúc nào ta cũng phải củng cố Tam Vô Lậu Học: Giới, Định, Tuệ. Dùng ý chí của Giới để giữ Giới, dùng thiền định bằng cái tâm thanh tịnh để không phạm Giới và dùng trí tuệ biết rõ tội phước, nhân quả để mà không phạm Giới. Ba cái điều đó trong Tam Vô Lậu Học đều phải thuần thục từng ngày từng ngày, từng tháng từng tháng. Cho tới ngày nào mà quý thầy bắt đầu tới khi già,

[11:54]lớn tuổi trở thành một bậc Thượng tọa, Hòa thượng, một bậc tôn túc mà mình trì được Giới ở bề dày, ở bề sâu thì lúc đó nó đã trở thành một điều mầu nhiệm rồi, trở thành một điều mầu nhiệm. Trở thành điều mầu nhiệm là sao? Nghĩa là mình trở thành cái sự cảm hứng cho bao nhiêu thế hệ đi sau. Ví dụ như là ngày mai bắt đầu quý thầy sẽ tấn đàn. Ở trên đó là có Thập Sư là tam sư thất chứng. Ba vị đường đầu, yết-ma, giáo thọ ngồi truyền Giới. Hai bên là thất sư là bảy vị tôn chứng chứng minh. Cái uy lực của 10 vị Thập Sư đó ngồi đó để làm cái gì? Tại sao phải có 10 vị Thập Sư sống để ngồi làm cái gì? Mà nếu mình nói:

[12:43]"À Giới này của Phật thôi, con quỳ trước Phật, con phát nguyện con thọ được rồi, không cần cái Thập Sư." Nhưng mà tại sao Giới đàn nào cũng phải long trọng Thập Sư? Bởi vì ta cần có 10 con người sống thực sự ngồi trước mặt chúng ta mà chúng ta hết sức kính tin, ngưỡng mộ. Nó biến thành một cái cảm xúc trong lòng ta và biến thành cái động cơ để suốt đời chúng ta noi gương, bắt chước và trì Giới luôn mãi mãi. Đó gọi là điều mầu nhiệm của một bậc tôn túc. Nhiều khi vị đó ta cũng chả gặp, nhiều khi vị đó ta cũng không có cơ hội để thân cận học hỏi. Nhưng mà chỉ bởi vì vị đó giữ gìn giới hạnh trong sạch cả một đời

[13:29]thì khi vị đó ngồi lên trên cái giới đàn, cái cảm xúc đó nó thành một cái sự mầu nhiệm thiêng liêng truyền cái cảm hứng cho ta và ta mang cái niềm tin đó ta đi suốt cuộc đời còn lại. Quý thầy cũng như vậy. Nói là khi nào Phật... "Giới luật còn thì Phật pháp còn" chính là cái ý nghĩa này. Tức là còn nối tiếp thế hệ này tới những thế hệ kia chuyên trì Giới trong sạch thì Phật pháp còn chỗ đứng, còn lòng tin trong lòng mọi người. Còn nếu không có những bậc giữ Giới thanh cao, mọi người nhìn vào đạo Phật không có niềm tin nữa thì đạo Phật biến mất. Cho nên là nói rằng là nếu mà mà Giới luật diệt thì

[14:14]Phật pháp diệt, diệt Phật pháp cũng diệt mất luôn. Nhưng mà để trở thành tới cái ngày mà quý thầy trở thành cái cảm xúc cho những đàn hậu tấn của mình thì quý thầy cả một đời vất vả tu hành giữ Giới. Mà tại sao gọi là phải vất vả? Vì không bao giờ có cái chuyện mà giữ Giới là một chuyện an nhàn, sung sướng. Nhớ như vậy. Nên nhớ, giữ Giới là một sự chiến đấu với nội tâm, chiến đấu với chính tham sân si, chiến đấu với tập khí, chiến đấu với kiết sử của mình. Nói ví dụ như bây giờ giới sắc dục là giới nam nữ đó. Nó cái bản năng, cái ái dục là một bản năng tự nhiên của tất cả chúng sinh. Ái dục là bản năng tự nhiên.

[15:04]Chúng sinh nào đều cũng có sẵn bản năng ái dục đó, nam nữ gặp nhau phải yêu thương, tất cả đều có. Không có duyên, thấy người ta đẹp cũng thương. Đừng nói là cái người có duyên sâu nặng với mình. Cái người mà có duyên sâu nặng với mình đụng gặp động tâm liền. Đó là điều chắc chắn. Mà quý thầy có biết chắc là trong bao nhiêu đời xưa mình có bao nhiêu vợ chưa? Thầy có nhớ không? Thầy không nhớ nhưng chắc khoảng 3000 người. Kiếp thì vô lượng nhưng mà thôi gom gọn lại thôi chắc cũng 3000 cô vợ. Tính trong vô lượng kiếp, 3000 cô gặp lại thì cho phân nửa cô đọa súc sanh đi mình không động tâm. Một phân nửa cô đó 1500 cô còn làm người.

[15:43]Trong 1500 cô còn làm người đó thì 500 cô đã là bà già thì không động tâm, 500 cô mới đẻ cũng không động tâm, nhưng còn 500 cô còn trẻ. Đủ vật thầy tiêu cuộc đời thầy. Cho nên mà nó là vừa là kiết sử vừa là nghiệp, là một điều gì hết sức tự nhiên, điều hết sức tự nhiên. Nên quý thầy phải đối diện một điều: nó là kiết sử của mình, nó là nghiệp của mình, không bao giờ có chuyện nhàn nhã vượt qua. Không bao giờ có: "À tôi thọ Giới rồi, tôi không vướng." Không có. Nội tâm chắc chắn sẽ bị xao động. Quý thầy cả, kể cả chư tôn Hòa thượng cũng vậy, trừ những vị Hòa thượng đắc đạo bí mật. Tại vì trong đạo của chúng ta cũng vậy,

[16:24]có những vị Hòa thượng khi sinh ra vào đạo vì đắc đạo từ đời nào là Thánh, là một vị Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm đâu thầm thầm lặng lặng ở trong chùa coi quý thầy ít nói, ít năng chứ ổng là ổng Thánh rồi. Thì mấy vị đó thôi, còn những vị khác sống qua một đời tu hành đều phải vất vả chiến đấu với nghiệp và cái kiết sử của mình. Kiết sử tức là bản năng á. Mà cái nặng nhất xưa nay vẫn là gì? Cái ái dục nam nữ. Quý thầy thắng được một điều đó thì quý thầy sẽ thắng được rất nhiều cái giới khác, đều có thể giữ được rất nhiều giới khác. Nhưng ngày hôm nay quý thầy thọ Giới, liệu cái lời nguyện và cái cảm xúc của quý thầy đó, cái sự thiết tha của quý thầy đối với Phật pháp

[17:09]á, cái lý tưởng tu hành đối với giải thoát giác ngộ đủ mạnh để đưa quý thầy đi suốt cuộc đời còn lại trong sạch hay không? Đây là cái vấn đề đó, vấn đề không đơn giản chút nào. Không có cái chuyện mà hôm nay thọ rồi là tôi trong sạch, không có chuyện đó, mà suốt cuộc đời còn lại là một sự chiến đấu vất vả. Mà chính cái sự chiến đấu vất vả đó mới làm thành công đức. Tại sao một người giới hạnh trong sạch rồi quỷ thần cũng phải kiêng nể? Quỷ thần kiêng nể là làm sao? Ví dụ bây giờ cái ông thầy đó đi, ông Hòa thượng, ông Thượng tọa đó ổng là người giới hạnh trong sạch. Ổng đi tới cái đoạn đường đó, nghe người ta nói là:

[17:51]"Thầy ơi, cái đoạn đường này xe tông chết hoài. Tại vì giống như có huông, giống như có ma, nó cứ bắt nhau." Thì Hòa thượng đó ổng ổng đứng lại ổng nói: "Không được cho tai nạn nữa nha. Các vong đi về chùa hết nha." Ổng nói thầm một tiếng một thôi là đoạn đường đó chấm dứt không còn bao giờ có tai nạn xảy ra nữa. Vì sao vậy? Vì khi ổng nói một câu chư Thiên phải nghe lời, quỷ thần phải nghe lời, thổ thần nó phải nghe lời. Vì sao? Vì cả đời ổng giữ Giới trong sạch. Cái uy nó như vậy, cái uy nó động luôn vào cả chư Thiên, quỷ thần luôn. Cái sức mạnh của giữ Giới là như vậy. Nên là lúc đó là thổ thần tới đó liền,

[18:27]bắt hết tất cả các vong hồi nào giờ đứng đó cứ gây cho xe tai nạn: "Thôi tụi bây đi về chùa hết. Đã có cái vị đó họ nói một câu rồi các ngươi không được đứng đây bắt xe nữa, đi chỗ khác. Đi về chùa hết." Lùa đi, đoạn đường nó bình yên liền. Nhờ cái uy đức của một người mà giữ Giới. Mà tại sao vị đó giữ Giới mà có uy đức vậy? Bởi vì đó là một sự chiến đấu cả một cuộc đời vất vả chứ không phải sơ sơ mà thành được. Mà để có thể giữ được cái giới hạnh trong sạch đó ta nhớ nó là chân vạc ba chân: Giới, Định, Tuệ. Nên phải tu cả ba cái môn Vô Lậu Học: Giới, Định, Tuệ thì ta mới thành tựu được giới châu.

[19:06]Chứ không có chuyện mà là à cái vị này chuyên trì Giới, ông này ổng chuyên về trì Luật, ông kia chuyên về Tịnh Độ, ông nọ chuyên về Thiền, rồi ông nọ chuyên về kinh sư, ông này chuyên về trì luật riêng rồi ổng trì luật riêng đó ổng giữ được giới. Đố ổng giữ được giới nếu ổng chỉ có một mình Giới. Muốn trì được Giới, ổng phải Tam Vô Lậu Học đầy đủ: Giới, Định, Tuệ. Và lúc đó cái Giới mới trở thành cái điều thánh thiện, mầu nhiệm trong cuộc đời của một người tu sĩ, một người Tỳ-kheo. Thì ba Tam Vô Lậu Học đồng hành chứ không có chuyện: "Ờ ông này ổng chuyên trì luật." Nếu có cái ông mà chuyên trì luật, mình sống gần ổng, sống không nổi. Tại sao vậy?

[19:48]Đụng gì ổng cũng bắt bẻ hết á. Mình vừa bước vô chánh điện cái ổng dòm xuống chân mình, nói: "Anh ra anh sắp lại đôi dép coi". Đôi dép để không được, mình phải quay xin lỗi rồi ra sắp lại đôi dép. Ổng ngồi ổng canh ổng bắt mình suốt hà, tại vì ổng trì á, ổng trì luật. Mình bước chân áo mình xốc xếch nói: "Anh sửa cái áo lại". Mình sống không nổi với mấy ông mà chuyên trì luật. Tại vì sao? Thiếu định, thiếu tuệ. Cái người mà họ có định á, họ giữ giới không trở thành sự cố chấp, mà cái giới trong tay của một cái người mà có định có tuệ trở thành tình yêu thương, bao dung, tha thứ. Họ dạy mình điều đúng điều sai,

[20:23]họ nâng đỡ mình lên trong cái yêu thương, làm cho mình ấm áp. Ví dụ mình có biết lỗi mà mình cũng thấy hạnh phúc để mà sửa lỗi. Ví dụ bây giờ, hôm đó mình có nổi nóng, mình cãi cái người huynh đệ mình là phạm giới. Tại vì trong giới luật ghi điều đó rất rõ. Hôm nay ví dụ tôi đang nói tới lộ ra một cái giới thì tôi xin Phật cũng tha lỗi vì cũng phải nói sơ sơ. Trong giới không cho phép cãi. Người ta chỉ lỗi mình phải hoan hỷ lắng nghe, không được cãi. Bữa đó mình tự ái xong cái mình cãi, thì ông thầy mình kêu vô, ổng rầy. Nhưng mà nếu ông thầy mình là ổng là một người trì luật á, thì ổng rầy, ổng mắng, ổng nhiếc,

[20:59]ổng phạt rồi, mình thiếu điều thấy mình thấy đau khổ và buồn tủi. Nhưng mà nếu ông thầy của mình ổng là một người trì luật mà ổng có đủ giới định tuệ, ổng kêu mình vô ổng rầy, mình thấy cả một trời yêu thương. Thấy ổng thương mình ổng nhắc, ổng nói trước nói sau, ổng phân tích lỗi này tại sao con làm như vậy nguy hiểm gì, gánh quả báo ra sao, tình trong chùa bị chia rẽ ra sao, con cái đạo lực con không thể tăng tiến ra sao. Cho nên con phải thấy cái lỗi. Từ đây khi mà sư huynh rầy con, con phải hết sức hoan hỷ, vui mừng, biết ơn và quỳ xuống lạy sư huynh con, chứ con đừng có mà cãi như vậy. Cãi này như vậy nó là tổn thương cho cái đạo nghiệp của

[21:38]con, mà tổn thương cho tình huynh đệ trong chùa. Ổng nói bằng cái từ bi yêu thương của một người đủ giới, đủ định, đủ tuệ mình mềm lòng ra liền. Và và đó là cái sự trì giới chân thật từ một cái con người vậy. Còn nếu ông thầy ổng chỉ chuyên trì giới, ổng kêu mình vô ổng lấy cây ổng đập, không là ổng ổng ổng nói nặng nói nhẹ mình chịu không nổi. Nên quý thầy nhớ như vậy. Ví dụ hôm nay quý thầy thọ giới, rồi có những người vì cái phát nguyện từ đời trước á có khi đi hẳn qua Luật tông. Vì đạo Phật mình nhiều tông mà. Trong nhiều cái tông của đạo Phật ví dụ Tịnh Độ tông, Thiền tông, Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông,

[22:14]Giáo Quán tông vân vân, nó còn một cái môn gọi là Luật tông. Tức là quý thầy đã chỉ chuyên học luật, trì luật mà giữ cái luật giống như là giữ cái mực thước cho đạo Phật. Ví dụ như bây giờ các ông Tịnh Độ tông, Thiền tông làm gì mà liên quan tới luật là phải mời ông Luật tông tới. Là ổng phân bày à trong cái điều đó nó điều này đúng chỗ này nó sai chỗ kia. Vì khi mà quý thầy học luật, trong luật Tứ Phần nó còn những điều lúc nhúc lúc nhúc cả mấy ngàn điều chứ không phải là hai trăm năm chục giới không, những điều rất là nhỏ. Thì những vị luật sư họ mới qua mới mới quán xuyến được hết, chứ còn mình ở các tông khác mình không hiểu được hết.

[22:47]Và cũng giống như ví dụ mình có một cái tế đàn thì phải mời kinh sư tới, chứ còn những người khác không thể chuyên. Thì như vậy nó có một cái luật gọi là luật có một cái tông gọi là Luật tông trong đạo Phật. Nhưng mà để có thể trì luật được, quý thầy phải giữ đúng, phải thành tựu đúng ba cái điều vô lậu học là giới định tuệ. Nên hôm nay vậy, là cái nhân duyên gì đó đầy đủ, quý thầy được phước tấn đàn để mình thêm một cái giới đức, một cái giới bậc. Nhưng mà phải nhớ, thì thêm một cái giới này không phải là mình lên chức, mà là gánh thêm trách nhiệm, mà là đời tu mình vất vả hơn rất là rất là nhiều như vậy.

[23:28]Mỗi người á khi vào đạo

[23:32]thì có một cái duyên đi vào bằng một cánh cửa. Ví dụ như có người vì nghe giảng về thiền định, thích quá, thế là đi vào đạo, xuất gia, tức là người đó đi vào bằng cái cửa của thiền định. Có người thì nghe thuyết pháp, phân tích hay quá, đúng với tâm mình, đối với đời sống mình quá, thích quá, đi vào đạo, người đó đi vào bằng cái cửa tuệ. Nhưng có người chỉ bởi vì gặp một vị sư mà nghiêm trang, tề chỉnh, làm điều gì cũng đúng mực từng chút từng chút, mình kính phục cái nhân cách đó quá, mình thích mình cũng được là như vậy, mình đi vào đạo, tức là vào bằng cửa cửa giới. Đó là mỗi người đi vào bằng cái cửa khác nhau.

[24:18]Nhưng khi vào rồi, phải tu tập để đủ ba điều tam vô lậu học này chứ không được thiếu một cái. Vì thiếu một cái, hai cái kia mất luôn. Nếu hai cái kia có cũng giả, không có thật. Ví dụ cái người nói về tuệ, có thể phân tích được nghĩa lý kinh điển sâu xa, nhưng mà nếu người này không có cái định thì thực sự người này không thể hiểu sâu cái tuệ người đó không thể hiểu sâu được cái mục tiêu vô ngã. Vì chúng ta tu để làm gì? Để đi đến mục tiêu vô ngã. Mục tiêu vô ngã là gì? Là mục tiêu tối cao của đạo Phật. Vì sao mục tiêu vô ngã là mục tiêu tối cao của đạo Phật? Bởi vì Đức Phật rời hết mấy ông thầy kia, để tự mình thực hiện sáu năm khổ

[25:09]hạnh rồi bốn mươi chín ngày nhập định chỉ bởi vì Ngài đi tìm cái vô ngã. Mà cũng chỉ bởi vì tất cả các tôn giáo trên thế giới không một tôn giáo nào có mục tiêu vô ngã. Tất cả các tôn giáo trên thế giới có thể nói đi nói lại, nói qua nói tới nói lui đều có thầm ý chiều chuộng, tô điểm bản ngã. Tìm sự hưởng thụ cho bản ngã, dẫn dụ người ta bằng cách mời gọi tô điểm bản ngã. Chỉ riêng trong đạo Phật mới có hỏi tu để làm gì, tu để cho mất cái bản ngã. Chỉ có một đạo Phật mới có cái này mà thôi. Thì nếu ta không có thiền định, tâm ta không thanh tịnh, ta không cảm nhận được cái vô ngã này. Không cảm nhận thôi.

[25:56]Ta có thiền định thì ta cảm nhận chứ chưa chứng à nha. Vì sao vậy? Vì bản ngã chúng ta rất nhiều lớp. Ta phá được cái lớp đầu tiên, ta thấy mình chứng rồi, chứng bước đầu, tự tại rồi, mà nhiều khi ta nói bậy nói bạ chỗ này mang tội chết á. Nhưng mà thực sự có, phá được một cái lớp ngã đầu tiên là chứng được một lớp thiền, là cái tuệ mình sáng ra thêm một bước rất xa. Nhưng cũng chỉ là gì? Mới có một lớp ngã thôi, còn rất nhiều lớp của bản ngã mà đòi hỏi mình phải tu trong nhiều kiếp nữa. Nhưng phá được một cái lớp bản ngã ta bắt đầu cảm nhận được cái vô ngã. Ta bắt đầu cảm nhận được cái vô ngã.

[26:40]Thì cái người mà có cái thiền định phá được một lớp bản ngã thì người này nếu mà phân tích về cái vô ngã mới là người phân tích đủ sâu, đủ cảm xúc để truyền cho mọi người khác, ta gọi là tuệ. Chứ nếu không có cái định thì không hiểu về cái tuệ vô ngã. Và cũng vậy, và trong cái giới cuối cùng là gì? Sự thật ta học về giới ta thấy bàng bạc trong đó là điều tội phước, sự hy sinh, sự khắc kỷ, từ chối sự hưởng thụ. Nghĩa là gì? Cũng là vô ngã. Cứ tại sao ta phạm giới? Bởi vì ta thích có cái gì cho cái ta của mình, ta thích được cái gì cho cái ta của mình thì ta phạm giới. Còn cái người mà hiểu về vô ngã bằng cái tuệ,

[27:34]bằng cái định, khước từ mọi cái gì tô điểm của bản ngã, người đó trì được giới. Nên ta thấy là cái giới định tuệ là hỗ tương không tách rời nhau được. Ngày mai quý thầy đăng đàn thọ giới có nghĩa là suốt cuộc đời còn lại quý thầy phải trau dồi thiền định và trí tuệ. Thì cái việc của ngày mai mới là việc được bảo chứng, được bảo hành, mới có xứng đáng. Còn nói ngày mai tôi thọ giới rồi là xong là tất cả sẽ tan vỡ. Nếu chủ quan, tất cả sẽ tan vỡ. Ta sẽ kém giới hoặc mất giới. Mà nói kém giới, mất giới có nghĩa là phạm giới. Cho nên khi mà ngày mai bắt đầu đăng đàn thọ giới thêm rồi thì phải hiểu suốt cuộc đời còn lại phải tinh tấn mà tu tập tam vô lậu học.

[28:26]Tâm mình phải thanh tịnh, trí tuệ mình phải biết rõ nhân quả tội phước và biết rõ mục tiêu vô ngã thì cái giới đó mới được duy trì ạ. Chứ nếu không có cái định và cái tuệ kèm, cái giới vỡ liền. Nhớ là như vậy. Mỗi cái tính chất của tam vô lậu học khác nhau. Ví dụ như giới thì cần cái gì? Ý chí. Nên ta thấy những người mà họ giữ giới, mình nhìn gương mặt họ nghiêm nghị, cứng rắn và hơi hơi có cái tính cách là mạnh mẽ thì ta hiểu rằng người này giữ giới bằng ý chí. Đó. Còn cái người mà thiền định thì ta thấy gì, phong cách của họ trầm tĩnh, khoan hòa, điềm đạm. Đó là cái tính chất của của thiền định.

[29:16]Còn cái người mà ta thấy sáng tỏ, gương mặt đôi mắt sáng lấp lánh, thần quang có vẻ là quang minh thì hiểu rằng cái con người đang thành tựu về tuệ, đi con đường về tuệ. Người đó biết rõ, biết tội, biết phước, biết nhân, biết quả, biết mục tiêu vô ngã và quan trọng, biết lỗi mình. Nhớ như vậy. Cái khác nhau của cái tuệ là thế này, cái tuệ thật và cái tuệ không thật là ở chỗ này: Cả hai đều hiểu kinh luận, cả hai đều lý luận, thuyết giảng được hết.

[29:57]À nói về nhân quả cả hai đều nói được, nói về tội phước cả hai đều nói được, nói về mục tiêu giải thoát giác ngộ cả hai đều nói giống nhau. Nhưng mà cái người có tuệ thật á thì họ biết lỗi mình. Phát hiện ra lỗi mình từ trong cái mầm mống nội tâm sâu kín. Còn cái người mà không có tuệ thật á thì không biết lỗi mình. Có thể bắt lỗi người khác rất giỏi, có thể nói kinh rất giỏi mà không bao giờ nhìn lại để thấy lỗi mình, người đó không có tuệ thật. Và người không có tuệ thật, ta nhìn vào gương mặt ta biết liền: họ u ám. Mình ủa nói ủa ông đó là một cái người pháp sư, một giáo thọ, một giảng sư, một người uyên bác,

[30:35]thông thuộc Tam tạng này nọ mà sao mình nhìn mặt u ám? Thì phải biết rằng người này họ học cái tuệ mà học mất cái gốc là không thấy được lỗi mình. Nhớ, trí tuệ là gì? Là thấy được lỗi mình. Nên ta thấy ba cái tính chất của cái tam vô lậu học nó khác nhau mà ta phải trau dồi. Thứ nhất, tính chất của giới là gì?

[31:03]Ý chí, nhớ như vậy nha. Ý chí. Tính chất của thiền định là gì? Sự trầm tĩnh, điềm đạm. Tính chất của tuệ là gì? Sáng suốt, mà cái sáng suốt nó tới đâu? Tới biết được lỗi mình. Nhớ như vậy, ba cái tính chất của cái Tam Vô Lậu Học. Bây giờ nói tính chất của giới là ý chí. Ý chí ở đâu mà có? Nếu không có ý chí, ta không giữ giới được. Giờ nói ví dụ bây giờ thế này, có một người cái nói, "Nè thầy thầy thầy, thầy lại đây thầy cúng giùm nhà tôi chút xíu. Nhà tôi bữa nay là về nhà mới." Cái nói, "Dạ đợi đợi thầy xíu, thầy vô thầy xin thầy trụ trì, vô xin sư phụ." Chạy vô sư phụ, "Bà đó hôm nay bả về nhà mới,

[31:51]bả kêu con lại cúng giùm chút, sư phụ cho phép." Sư phụ nói, "Không được con. Đâu có cái chuyện mà kêu cái tới cúng liền, nó không đúng lễ. Ví dụ ngày hôm nay tới giờ này bả về nhà mới thì phải ít nhất là ngày hôm qua bả tới bả thỉnh đàng hoàng, thì bả mới là người có cái lòng tôn trọng Tam Bảo. Chớ không phải là bữa nay bắt đầu bày lên nhang lên mới kêu con tới tụng, thì người này họ không có thật lòng. Mà nếu mà con nghe lời bả, con tới con cúng, bả này mãi mãi coi thường Tam Bảo. Cho nên con phải cứng rắn khước từ." Thì ông thầy mình ổng là người có tuệ, ổng nói như vậy. Mình thì nể bả, nói từ xưa mình tu lâu gặp mình bả cứ lén lén cho tiền hoài.

[32:29]Giờ cái tình cảm nó cũng nặng, nay bả có chuyện bả an vị cúng chút xíu mà mình không tới kỳ quá, cứ day dứt day dứt cái lén ông thầy nhảy đi cúng. Nghĩa là làm sao?

[32:42]Người này làm sao? Xong rồi đó. Chỉ một lần đó thôi là mình phải hiểu cuộc đời tu hành của người này chuẩn bị vứt đi rồi đó. Dám xé rào, dám không vâng lời thầy mình mà để cái tình nó nặng hơn cái đạo lý. Tức là vì tình cảm riêng với bà này, bả cứ hay cho tiền mình hoài, hồi xưa bả vô chùa bả cứ hay cho tiền, tức là cái tình riêng. Thấy cái tình riêng nặng hơn đạo lý, coi trọng bả, không vâng lời thầy mình và không đủ ý chí để kiềm chế lại cái, giữ gìn cái luật của đạo. Thầy không cho, thà chết không làm. Cái mà thầy không cho phép rồi thì có chết cũng không làm, cái đó thuộc về cái gì? Ý chí, quyết tâm, đúng không ạ?

[33:25]Mà phải nhiều lần như vậy thì ta mới rèn luyện được cái ý chí, nhớ như vậy. Chớ cái ý chí nó không phải tự nhiên nó có. Ý chí không phải cái tự nhiên mình sinh ra mình nói, "Dạ, con sẽ quyết tâm theo đạo." Mở miệng nói cái nó có? Không có. Ý chí nó được rèn luyện qua việc thực tế. Tức là quý thầy phải đối diện với rất nhiều lần thử thách mà lần nào cũng cương quyết vượt qua hết thì cái ý chí nó lớn dần lớn dần. Và cái ý chí đó mới thành cái đức mà động cả trời đất, cả quỷ thần sau này. Kêu trời mưa, trời phải mưa; kêu trời tạnh, trời phải tạnh, là chính cái ý chí này. Mà phải được rèn luyện qua rất nhiều lần trong cái thử thách của cuộc sống thực tế.

[34:10]Mà nãy tôi vừa đưa ra một ví dụ là một thôi, còn nhiều lần khác nữa, còn nhiều điều khác nữa trong cuộc sống mà quý thầy phải được thử thách. Mà mỗi lần như vậy mình dùng cái ý chí của mình quyết tâm vượt qua, không phạm. Ví dụ bây giờ nói hôm nay nay là ở bên bên kia chùa có cái duyên sự, có cái lễ, cách đây cũng 30 cây số. Rồi bây giờ, "Thầy hôm nay thầy bệnh quá, thôi con đi giùm thầy." Cái ngoài trời thì mưa ầm ầm ầm ầm,

[34:44]mưa dòm trời não ruột vậy đó. Mới nói, "Bây giờ có xe nào đi?" "Nó không có xe con ơi, con phải đi xe máy thôi. Con mặc áo mưa con đi đỡ." Cái mình sàng qua sàng lại cái mình trốn luôn. Thì là làm sao? Tiêu rồi đó, đời người này người này vứt rồi đó, cuộc đời tu hành người này vứt. Vì sao? Thứ nhất, không nghe lời thầy mình. Và thứ hai, không đủ ý chí. Có một cơn mưa, đội mưa đi trong xe máy mà ngại, ngại khó thì người này ý chí kém quá.

[35:15]Ý chí kém cho nên cứ một lần mình thua thì cả một đời cứ thua dần, thua dần, ý chí nó kém dần, kém dần rồi không giữ được giới nữa, sau này sẽ tiêu giới luôn. Còn lúc đó thầy mình nói một câu trời thì mưa ầm ầm, không có xe hơi, không ô tô, thầy nói, "Bữa nay không có ô tô thôi con chịu khó lấy xe máy mặc áo mưa đi." Mình thà chết cũng phải đi khi mà thầy đã ra lệnh thì con người này cái đức vượt lên một bực liền. Ý chí tăng lên một bực liền, cái đức vượt lên một bực liền. Vì sao? Vì thầy mình đã ra lệnh rồi, có chết cũng phải làm. Thì chỉ một lần vâng lời thầy, mặc áo mưa lên đi tới nơi nó cũng ướt lom ngom.

[35:55]Nói áo mưa thì áo chớ, nhưng mà mưa kiểu đó rồi thì nó vẫn ướt bên trong, có đúng không ạ? Ướt, tới nơi cũng lạnh thấy mồ. Nhưng mà làm sao? Hình bóng thầy mình luôn ở trong tâm, cái lệnh của thầy mình luôn ở trong tâm, có chết cũng phải làm. Thì ngay lúc đó khi mình đi đến mình phụ cái duyên sự cái lễ sám gì ở nơi cái chùa bạn đó xong rồi mình trở về, có thể mình bệnh bảy ngày á nhưng mà cái đức mình đã vượt lên gấp bảy lần. Mà cái ý chí đã vượt lên gấp bảy lần. Nên cái việc mà ta nói rằng cái tính chất của việc giữ giới là ý chí. Mà cái ý chí đó không phải tự nhiên mà có, ý chí đó phải được rèn luyện qua rất nhiều lần thử thách thực tế.

[36:36]Cho nên quý thầy phải nhớ giùm như vậy. Khi quý thầy đã thọ giới rồi thì ở trên chư thiên hộ pháp sẽ đem đến cho từng người những bài học thử thách trong suốt cuộc đời, nha. Tại quý thầy quỳ đây trước Tam Bảo rồi, mà Tam Bảo đã ghi tên từng người trong sổ bộ rồi và sẽ lần lượt cho từng người từng bài toán. Quý thầy sẽ gặp hết chuyện thử thách này, gặp tới chuyện thử thách kia để coi coi mình đủ ý chí để vượt qua hay không. Mà cứ mỗi một lần quý thầy thắng được, vượt qua được thì đức mình nâng lên một tầm, ý chí mình nâng lên một tầm, cứ như vậy, suốt cuộc đời cứ như vậy. Gọi là có cơ hội, có thử thách thực tế để mà rèn luyện ý chí, là như vậy.

[37:21]Rồi sau này ví dụ như có những điều nó nhẹ nhàng, có những điều nó nhẹ nhàng nhưng mà mình làm rất là dễ dàng. Ví dụ đi hôm nào đó mình bước lên một chiếc xe, mình bước lên một chiếc xe công cộng, ghế không đủ cho mọi người ngồi thì mình ngồi xuống, nhưng hôm đó mình cũng mệt, cũng bệnh. Nhưng mình thấy có người họ lên chiếc xe công cộng rồi họ còn yếu hơn mình nữa mà hết ghế rồi, cái mình lặng lẽ đứng lên nhường họ ngồi, mặc dù lúc đó mình cũng bệnh chứ không phải là mình khỏe. Thì cái việc mà đứng lên nhường họ, nó là một đời sống văn minh bình thường, nhưng mà lần đó vì mình có bệnh mà vẫn nhường.

[38:00]Mà việc mình làm rất nhẹ nhàng. Vì sao vậy? Vì cái ý chí mình được rèn luyện quá quen rồi, rất nhiều lần mình dùng ý chí khắc phục cái bản thân rồi, nên mình làm những điều công đức nhỏ nhỏ nhỏ nhỏ nhưng làm rất bình thường mặc dù nó khó khăn. Đó là cái ý chí bắt đầu nó gần chín muồi rồi, thành gần thành tựu được cái giới đức rồi. Đó, chứ ngày mai thọ giới rồi chưa có thành giới đức đâu, chưa thành tựu giới thể đâu, nha. Cả một đời phải đi qua nhiều bài học như vậy. Đó là chúng ta rèn luyện ý chí để mà trì giới. Rồi bây giờ mới tới cái mà tu tập thiền định để nhờ cái sức định mà giữ giới. Mà việc thiền định thì không đơn giản chút nào.

[38:45]Thiền định cả là một cái môn học lớn, cả là một sự thực hành vất vả nhiều ngày, nhiều tháng, từng giờ, từng phút. Vì giới đó nhiều khi ta không có chuyện gì để phạm thì ta không nghĩ tới giới. Lúc đó đầu óc ta nghĩ chuyện khác. Ví dụ có cái chuyện gì thử thách thì bắt đầu ta mới khởi lên cái tâm trì giới. Chứ còn lâu lâu nhiều khi cả tuần chả có chuyện gì để mà mà phạm giới cho nên cả một tuần ta cũng không có cái cơ hội để nhớ giới, tưởng giới, trì giới. Nhưng mà thiền thì không ạ. Thiền thì từng phút từng phút phải tỉnh giác miên mật, khó hơn rất là nhiều. Và cái kỹ thuật về thiền, phương pháp về thiền,

[39:30]lý luận về thiền, lý thuyết về thiền là cả một cái môn khoa học lớn lao. Và sau này cả thế giới cũng vậy, cả thế giới sau này sẽ phải về với Đạo Phật mà học thiền.

[39:43]Quý thầy biết hôm nay vậy, trước cái trí tuệ của Phật để lại, chinh phục cả giới trí thức của thế giới. Người ta có thể vì lý do tự ái cá nhân, tình cảm tôn giáo cá nhân, người ta làm giả vờ như người ta không theo đạo Phật. Chớ bí mật bên trong, rất nhiều các giáo sĩ các đạo khác cũng nghiên cứu đạo Phật, rất nhiều các nhà khoa học cũng nghiên cứu đạo Phật và đều rất yêu thích. Nhưng mà cái yêu thích của người ta về đạo Phật là thích về cái gì là chủ yếu? Về thiền định là chủ yếu. Vì giới thì họ không chịu giữ rồi, họ có tu đâu mà bắt họ giữ giới. Còn cái trí tuệ vô ngã thì họ hiểu không tới rồi.

[40:20]Thì chỉ còn cái ở giữa là cái định là cái điều họ hâm mộ, họ rất là thích. Nếu sau này họ gặp quý thầy thì cái điều mà nói qua nói lại một lát họ thế nào cũng hỏi về thiền định, thì quý thầy phải giỏi về thiền định để độ cho người ta. Đó. Cái ý chí giữ giới cả một đời rồi, cái thiền định tu tập là một điều khác nữa. Cũng là cả một đời miên mật tinh tấn mới có thể hy vọng có một cái kết quả gì đó trong tâm linh. Mà cái kết quả trong tâm linh rồi thì nói ít chớ giá trị nó rất là lớn. Hôm nay không phải là một buổi nói về thiền định nên tôi không có nói. Quý thầy phải để trong tâm mình, nhớ như vậy.

[41:03]Phải gieo trong tâm mình cái ước mơ tu tập đắc thành thiền định. Vì sao? Vì đó là một giá trị cực lớn trong đạo Phật của ta cho thế giới này. Mình nhớ như vậy. Nên quý thầy tu tông nào thì tông, nhưng phải nhớ phải làm sao trau dồi được cái định lực cho mình bằng con đường thiền định. Và khi cái người mà họ thành tựu được thiền định rồi, mình nhìn trong đời sống của họ: điềm đạm, khoan hòa, trầm tĩnh mà mạnh mẽ. Nhớ như vậy. Nhớ là trầm tĩnh, điềm đạm mà mạnh mẽ. Còn ví dụ cái người hiền lành, trầm tĩnh rồi yếu xìu luôn thì không phải thiền định nha. Không phải thiền định. Người ta nạt một cái sợ chạy mất thì cái đó không phải thiền định.

[41:54]Còn cái người mà thiền định họ hiền lành, họ trầm tĩnh nhưng vững như ngọn núi Thái Sơn thì đó mới là thiền định. Phải quý thầy phải tìm hiểu về điều đó. Còn cái tính chất của trí tuệ là sáng suốt. Cái điều này thì do

[42:13]bên trong và bên ngoài. Bên trong tức là nhờ thiền định mà ta có trí tuệ. Bên ngoài là nhờ học của thầy, của bạn. Của thầy, của bạn nghĩa là học trong Phật học, đọc kinh sách, nghe thầy mình dạy trực tiếp hay nghe các huynh đệ mình nhắc nhở mình. Đây gọi là ngày xưa gọi là chữ văn tức là nghe. Hồi xưa không có giấy viết chỉ nói thôi. Ngay người nào mà nghe nhiều tức là người đó học nhiều. Còn tới khi mà qua tới Trung Hoa rồi bắt đầu có cái chữ học, chứ hồi đó bên Ấn Độ không có chữ học. Bên Ấn Độ có chữ văn thôi, văn là nghe. Qua tới Trung Hoa mới có chữ học, tại vì học nó bao hàm nhiều, rộng hơn nhiều.

[42:49]Ta tiếp thu kiến thức bằng nhiều cách: tiếp thu kiến thức bằng nghe, bằng đọc, rồi bằng nhìn chiêm ngưỡng trong đời sống và kể cả bí mật trong tâm linh truyền thụ cũng gọi là học. Học rộng nghĩa hơn. Tới ngày nay ta cũng dùng cái chữ học, vì chữ học nó bao hàm hết rồi. Đó, thì cái tuệ nó đi bằng hai con đường: một là ta học từ bên ngoài, hai là từ nội tại phát sinh từ thiền định. Thì cái tuệ này như Phật khen ngài A-nan là đa văn bởi vì ngài học rất nhiều và nghe rất là nhiều. Rồi như Lênin nói: "Học, học nữa, học mãi". Rồi như ngài Phổ Hiền Bồ tát nói là: "Tác giả thường tùy Phật học", tức là một bậc Bồ tát rồi mà mãi

[43:36]mãi, chữ thường tức là mãi mãi, mãi mãi cứ theo Phật mà học. Vì sao vậy? Vì cái trí tuệ chứng ngộ của một bậc Bồ tát vẫn chưa bao giờ là đủ hết, biết hết. Ha, nên các ngài vẫn khát khao, thích được đi theo Phật để mà học mãi vì còn vô số điều mình chưa biết. Nên cái tuệ là như vậy. Cái tuệ là một cái chân trời mênh mông, đó đòi hỏi sự sáng suốt. Nhưng càng biết mọi chuyện nhiều chừng nào thì ta càng biết lỗi mình nhiều chừng nấy. Biết lỗi mình là sao? Ví dụ người ta mới tu á thì ta biết mình có bấy nhiêu lỗi, là mình đã hối hận rồi. Nhưng càng tu nhiều thì bắt đầu phát hiện ra những lỗi mới. Nhớ giùm, quý thầy nhớ điều này.

[44:23]Cho tới cái ngày quý thầy vô hòm thì tôi không biết quý thầy chứng A-la-hán chưa. Nếu quý thầy tới cái ngày mà trước khi vô hòm mà quý thầy chứng A-la-hán thì cho tôi xin lỗi, nha. Còn nếu tới cái ngày vô hòm mà quý thầy chưa chứng A-la-hán thì quý thầy phải nhớ một điều thế này: để gọi mình là người có tuệ, tức là tới cái ngày đó đó, quý thầy biết lỗi mình nhiều hơn ngày hôm nay thì gọi là mình là người có tuệ. Còn ví dụ mình tu tới hòa thượng rồi, thong dong đi tới lui hỏi: "Thầy còn lỗi gì nữa không?" Nói: "Không, thầy hết lỗi rồi con." Thì ông thầy, ông hòa thượng đó đi sai đường, thề hòa thượng không có tuệ.

[45:01]Nhớ giùm như vậy. Nói: "Ủa, lỗi đâu mà lỗi hoài vậy thầy?" Vì nó có nhiều loại lỗi. Lỗi thấp, lỗi sơ đẳng và những lỗi cực kỳ cao cấp mà ta tu lên tới mức độ cao thì ta mới thấy được những cái lỗi ở cấp độ cao. Ví dụ bây giờ đại đức mình thấy những cái lỗi của đại đức, tới thượng tọa thấy lỗi thượng tọa, tới hòa thượng thấy lỗi của hòa thượng, tới A-la-hán hết lỗi. Hết lỗi về phần mình thôi, chứ vẫn còn thiếu sót về cái công hạnh của Bồ tát. Không phải là dễ. Bây giờ nói bây giờ như ông thầy mình đi, cả một đời vì đạo, nhưng mà ông thầy cũng không nói thôi, chứ nếu phân tích lỗi mình ra, ổng sẽ phân tích được rất nhiều lỗi.

[45:44]Nhưng mà những cái phân tích lỗi của thầy mình không hiểu. Không hiểu. Tại vì lỗi nó thuộc cấp cao nhưng nó là lỗi, vẫn là lỗi. Ví dụ như tôi vậy, tôi cũng là một thượng tọa, đi tu trước quý thầy chắc chắc trước quý thầy nha, chắc tu trước. Thì bây giờ hỏi tôi có lỗi gì, thì tôi sẽ phân tích cái lỗi của tôi ra quý thầy cũng không hiểu luôn. Nhưng nó là lỗi, là lỗi, rõ ràng nó là lỗi. Đối với Phật, nó là lỗi. Nhưng mà mình tu tới mình mới thấy, còn lúc mới tu mình không biết. Ví dụ như khi mình còn cư sĩ, mình chưa biết đạo, thì mình không thấy lỗi, tới chừng biết đạo rồi mới phát hiện ra: "Trời ơi, hồi sao tôi lỗi nhiều quá.

[46:27]Chắc tôi phải đi tu để sám hối. Trời ơi, trước tôi giận bố tôi, tôi giận mẹ tôi, tôi ăn hiếp em tôi, thôi tôi đi tu." Đi tu vô một thời gian rồi đó, thì bắt đầu tới lúc mà thọ Sa-di: "Trời ơi, sao thời gian mà tôi làm làm điệu tôi lỗi quá vậy nè." Thôi qua thôi từ đây hết. Thì cứ từ từ tu tới, tu tới, tu lâu rồi tới chừng làm một ông hòa thượng điềm đạm rồi nói chắc hết lỗi rồi. Không. Ông hòa thượng ổng mới nhiều lỗi hơn mình. Ông hòa thượng ổng mới nhiều lỗi hơn mình. Mình chứ còn ít lỗi. Nói sao kỳ vậy? Tại vì ổng trí tuệ hơn mình nên ổng thấy lỗi của ổng nhiều hơn mình. Nhớ như vậy. Nên cái con đường trong cái giới định tuệ

[47:09]mà khi ta tu vào cái tuệ thì ta tu nhiều cách: do định mà tạo ra, do học mà kết thành. Nhưng cái kết quả của cái tuệ luôn là cái thấy được lỗi mình. Nhưng mà cái lỗi đó là lỗi gì? Là lỗi cấp thấp sơ đẳng khác, mà lỗi vi tế cấp cao khác. Những cái lỗi mà cấp cao của một bậc Bồ tát ta không hiểu nổi. Trong cảnh giới các ngài, các ngài mới biết mà thôi. Nhưng cái quan trọng vẫn là thấy lỗi mình. Cho nên trong từng giờ từng phút, ngày nào quý thầy tu bao lâu tôi không biết, nhưng mà nhìn vào nét mặt của quý thầy tôi thấy rằng quý thầy có một chút khiêm tốn vì biết rằng mình còn lỗi thì tôi cho rằng quý thầy đang có trí tuệ.

[47:53]Còn tôi nhìn vào đôi mắt của quý thầy tôi thấy một cái vẻ mãn nguyện, hài lòng tức là tôi biết rằng quý thầy không còn thấy mình có lỗi nữa. Tôi biết con người này sự tu hành đã bắt đầu dừng lại. Trí tuệ đã khô cạn rồi.

[48:10]Còn nhìn vào đôi mắt thấy không có một sự mãn nguyện, không có mãn nguyện, không có hài lòng, nhìn sâu trong đôi mắt đó có một sự day dứt, có một sự khiêm tốn. Đấy người này tu được nè, người này có trí tuệ, vẫn còn biết mình có lỗi. Ta nhớ điều đó như vậy. Khi biết mình có lỗi, không ai tự cao được cả. Không ai dám gọi là kiêu mạn ngẩng mặt lên cả. Vì biết mình vẫn còn có lỗi mà. Mà tu tới đâu thì thấy lỗi tới đó. Mà hễ thấy lỗi rồi không ai dám mà giương giương tự đắc cho mình là hay. Lúc nào trong đôi mắt nhìn kỹ họ vẫn có một nét gì khiêm tốn, hiền lành. Thì đó là người đúng. Nên ta thấy chỗ này cái tuệ là cái sáng suốt,

[48:54]thì ta tưởng là cái người có tuệ sáng suốt rồi người đó phải vĩ đại? Không. Cái người mà có tuệ, có sáng suốt rồi lại họ nhỏ nhẹ lại, hiền lành, khiêm tốn lại. Nhớ như vậy. Nên quý thầy cứ mỗi ngày hai ba ngày soi gương mình nha, soi gương nhìn vô đôi mắt mình mà thấy còn cái nét khiêm tốn, biết mình còn trí tuệ. Mà nếu soi gương nhìn vô đôi mắt mình mà như nẩy lửa, tự hào, rồi xong rồi đó, hết rồi đó. Mất tuệ rồi nó mới lòi mấy cái đó ra. Nên bây giờ ta nói vậy, để giữ được giới ta cần cả ba điều: giới giữ bằng ý chí, định giữ bằng cái thiền và trí tuệ bằng cái sự sáng suốt. Ba cái điều đó nó là một cái chân cái kiềng, kiềng ba chân.

[49:38]Nhưng nhớ một điều thế này:

[49:43]Nãy giờ ta nói à cái Giới Định Tuệ là hỗ tương giữ gìn lẫn nhau phải không? Giới sinh Định, Định sinh Tuệ, nhưng mà Tuệ cũng sinh Giới, Định cũng cũng sinh Giới. Ba cái chân kiềng như vậy hỗ tương với nhau ta biết rồi. Nhưng sự thật còn cái thứ tư, nó nằm núp đằng sau á. Có cái thứ tư này ta mới giữ được giới. Có cái thứ tư bí mật này ta mới tập được Định. Có cái thứ tư bí mật này ta mới thành được Tuệ. Cái thứ tư, đố ai biết cái thứ tư này là gì? Đố ai biết cái thứ tư này là gì? Phước nha. Phước là một điều hết sức sơ đẳng, căn bản, nhưng mà không có phước thì không có chuyện gì thành tựu cả. Vì nói:

[50:35]"Ủa, sao thầy nói hồi nãy giữ giới bằng ý chí?" Đúng vậy, giữ giới bằng ý chí. Ví dụ như việc có một người họ tới, họ nói: "Thầy thầy, thầy đừng cho sư phụ biết nha, con cho thầy năm triệu." Mình nói: "Ờ ờ" cái mình móc túi bỏ, mình móc cầm năm triệu bỏ túi, không cho sư phụ mình biết, mình vừa phạm giới.

[50:59]Bây giờ nói là người giữ giới khước từ: "Không. Nói thầy sẽ nhận nhưng thầy sẽ báo sư phụ. Và tùy sư phụ quyết định là sư phụ cho thầy cất hay sư phụ bắt bỏ vào quỹ Tam Bảo chung thì thầy sẽ tuân thủ." Đó là người giữ giới. Nhưng ở đâu ra, ở đâu ra cái ý chí, cái quyết tâm mà mình khước từ một cái sự riêng tư đó để đem tiền lại thành cái chung, mà luôn luôn đặt mình dưới sự giám sát của sư phụ mình, không bao giờ làm điều gì mà sư phụ không biết? Ở đâu ra cái ý chí đó? Ở đâu ra cái quyết tâm đó? Ý chí không tự nhiên mà có, nhớ giùm, ý chí do, do phước mà có. Nhớ giùm điều này.

[51:46]Nên tất cả đều phải có phước làm nền tảng cả. Nhớ như vậy. Không có phước không có ý chí, không có ý chí không có chuyện giữ giới. Tất cả đều bằng phước làm nền tảng cả. Mà phước là những gì? Vô số điều, nha, đầu tiên là lễ kính Phật. Đó, nếu không lễ kính Phật Đà, lấy đâu ra phước để mà tiến tu? Nhớ như vậy. Cho nên cái có một cái nơi, một cái nguồn phước vô tận mà ta không cần tốn một đồng nào mà vẫn lấy được, đó là lễ kính Phật. Bởi vì Đức Phật là Đấng tối tôn, tối thắng, phước lực của Ngài là vô lượng vô biên, cho nên ta chỉ cần một trái tim tôn kính Ngài tuyệt đối và bằng cái hành vi, bằng cái thân hành là quỳ lạy Ngài

[52:38]trang nghiêm thì bắt đầu phước tích lũy vô vào cuộc đời ta lần lần, lần lần. Nhớ như vậy, chỉ bằng cái lễ Phật thôi. Siêng năng lễ Phật là phước tích lũy vào cuộc đời ta dần dần, dần dần. Người nào tu đến một giai đoạn nào đó mà nghĩ mình tu lâu, tu giỏi rồi, không cần lễ Phật nữa, là người đó phước bắt đầu mất dần, mất dần rồi hoàn tục luôn. Còn người nào vẫn còn nghiêm trang lễ Phật thì cái phước tu còn giữ gìn suốt một đời và có thể kéo dài qua đời sau. Nhớ như vậy, nên cái phước là cái thứ nhất. Rồi ngoài cái việc lễ kính Phật, còn có gì? Tôn kính những bậc trưởng thượng, những bậc tôn đức, yêu thương những đàn em mình,

[53:21]giúp đỡ những chúng sinh còn mê muội, vô số vô số điều để tạo thành cái phước. Mà có cái phước rồi, ta có ý chí, ta có sức mạnh ý chí để giữ, giữ giới. Có phước rồi, ta mới có cái gì? Ta mới có sự tinh tế, sâu sắc, kiên trì để mà tu tập thiền định. Có phước rồi thì ta mới có cái gì? Ta mới có cơ hội để học hỏi kinh, luật, luận và ta mới có cái cái sự gia hộ của Phật bí mật trong tâm để mình biết được lỗi mình. Nhớ như vậy. Nãy giờ ta nói vậy, người có trí là người thấy được lỗi mình, càng tu lâu thì càng thấy được nhiều cái lỗi vi tế. Nhưng mà ở đâu ra, ở đâu ra cái khả năng mà thấy được lỗi mình nếu

[54:07]không được chư Phật gia hộ, nếu không có phước, nhớ như vậy. Cái người mà còn thấy được lỗi mình là người còn có phước, còn người nào mà hết thấy lỗi mình rồi, người đó vô phước rồi. Nhớ như vậy. Cho nên ta nói là Giới Định Tuệ, tam vô lậu học là nấc thang đưa ta lên bầu trời giác ngộ, giải thoát, nhưng nhớ một điều, cái nền của ba cái điều đó là phước. Nên vì vậy, một người đệ tử Phật mà nhất là một người xuất gia, suốt một cuộc đời không bao giờ ngưng làm phước. Nhớ như vậy. Dù cái phước nhỏ như một hạt bụi, làm được vẫn phải làm. Nên cái người mà đệ tử Phật hiểu được điều này rồi, cả một đời hy sinh, dấn thân, cống cống hiến,

[54:55]phụng sự, không bao giờ tiếc công, tiếc sức, nên không bao giờ có cái chuyện một tỳ-kheo mà lười nhác cả. Tỳ-kheo mà lười nhác, người đó không phải tỳ-kheo. Người đó trước sau cũng tiêu. Một người tỳ-kheo là một người cực kỳ siêng năng từ những việc rất nhỏ cho tới cái việc sau này giáo hóa chúng sinh, thừa sự Tam Bảo, cực kỳ siêng năng. Có chết cũng không bao giờ mà lười biếng. Nhớ như vậy, từng việc nho nhỏ, từng việc nho nhỏ. Mà quý thầy có để ý, mình càng tu đúng chừng nào, mình càng siêng năng chừng nấy là đúng. Còn tu một thời gian rồi không muốn làm gì nữa là mình đã sai rồi. Mà sai cái này là phước cũng đã hết rồi,

[55:42]bắt đầu mới có cái ý nghĩ bậy bạ là không cần làm gì. Còn cái người tu đúng càng tu càng siêng, càng tu càng siêng. Trước khi vô hòm còn phải làm vài việc, đi quét rác một vòng rồi mới leo vô hòm nằm. Tức là cái cái tinh thần mà phụng sự là không bao giờ ngừng. Nhớ nhớ một tỳ-kheo là một người siêng năng. Sa-di thì còn lười lười được, thấy nó còn lười lười bởi vì nó mới tu, nhưng mình là tỳ-kheo rồi là không có cái chuyện lười, chuyện gì cũng phải gánh vác. Thầy mình kêu một, mình phải làm gấp hai, gấp ba. Nhớ như vậy, thầy mình kêu một phải làm gấp hai, gấp ba. Cái công đức của tỳ-kheo là là như vậy.

[56:23]Ta cũng phân tích chút xíu là giáo pháp và giới luật. Khi mà Đức Phật mới đắc đạo, Ngài đi giảng đạo, Ngài chưa có lập giới. Hơn mười năm sau Ngài mới lập giới. Sau này trước cái sức ép của cái Tăng đoàn bắt đầu phức tạp, ngài Ưu-ba-ly mới đề nghị, nhưng mà trước đó, trước khi chính thức thiết lập giới thì ngài Ưu-ba-ly đã đề nghị Phật nhiều cái luật nho nhỏ nho nhỏ rồi. Đến khi chín muồi rồi thì bắt đầu Đức Phật thiết lập giới, vì giới nó là phân định tội phước rõ ràng. Còn cái luật thì nó nhẹ hơn, là à nên làm thế này, không nên làm thế kia; y con nên treo thế này, hạ y con nên treo thế kia là luật.

[57:08]Nhưng mà giới rồi nó thành tội, bị kết tội và bị trừng phạt, cho nên tới mười mấy năm sau mới giới mới được thiết lập. Thì ta thắc mắc: "Ủa, nếu giới nó quan trọng như vậy, tại sao mà khi Đức Phật lập Tăng đoàn đi tuyên giảng, Ngài không có lập giới liền mà chỉ giảng pháp thôi hả?" Đây, cái câu trả lời là thế này: Giáo pháp là mênh mông, rộng lớn, trừu tượng. Giới luật là tập trung, thu hẹp và cụ thể. Nhớ như vậy. À ví dụ bây giờ nói là có một cái giới là ta không bao giờ được nói dối xưng mình chứng đạo. Có một cái giới đó, giới đó là giới Ba-la-di á. Giới đó được lặp lại hai lần trong 250 giới

[57:54]tỳ-kheo, giới đó được lặp lại hai lần. Một là trong giới Ba-la-di, giới nặng á, hễ mở miệng xưng mình chứng đạo thì người này bị loại ra khỏi Tăng đoàn. Đó là một cái giới. Nó phân định tội phước liền, hễ ai mở miệng nói câu đó rồi là người này đem ra hạch tội trước Tăng chúng và tẩn xuất khỏi Tăng đoàn vì đã phạm giới Ba-la-di, là trọng giới. Nhưng Giới đó là hẹp, cụ thể, tập trung. Anh nói câu đó rồi là tội đi. Nhưng mà trước khi có cái đó thì ta có cái giáo pháp, bắt đầu mới phân tích: À giáo pháp là thế này, là cái người mà nếu ta mở miệng xưng mình là thánh, vì sao? Vì tâm ta vọng cầu cái sự kính trọng của chúng sinh.

[58:41]Ta muốn cầu cái vinh quang của một bậc thánh, thèm khát sự ngưỡng mộ, sự cúng dường, sự cung kính của chúng sinh. Và như vậy đây là cái tâm hưởng thụ cá nhân, tôn vinh bản ngã. Nhưng cái nguy hiểm là thế này, khi ta hưởng cái vinh quang của một bậc thánh thì nghĩa là sao? Thì cái luật nhân quả nó bù trừ trở lại, ta phải làm một con, con thú để nó mới bằng. Tại phước của mình chỉ là một phàm phu. Mà nó đang làm phàm phu, mình tích lũy, mình tu từ từ thì chắc phàm phu sẽ lên từ từ lên thành thánh. Nhưng mà chưa phải là mình công phu tu hành thật sự, mà mình bằng cái lời nói dối để mình hưởng cái phước của một bậc thánh,

[59:21]thì nhân quả nó bù trừ nó lật ngược lại, chắc chắn mình phải đọa làm súc sinh liền. Buông cái thân đó là xuống súc sinh hoặc ngay trong đời đó bắt đầu điên liền, tại vì điên cũng là một dạng của súc sinh hoặc địa ngục. Cái luật nhân quả nó bù trừ lại liền. Cho nên là giáo pháp thì phân tích à vì thế, như thế, nhân quả như thế, trước sau như thế, cho nên là không nên là dối xưng mình là thánh. Đó là giáo pháp nói mênh mông, trừu tượng như vậy. Còn giới luật tập trung chặt một dao một: Anh nói câu đó, kết tội tẫn xuất khỏi Tăng đoàn liền. Nên phân biệt giữa giáo pháp và giới luật. Mới ban đầu trong 10 hơn 10 năm đầu,

[1:00:00]Đức Phật chỉ nói giáo pháp mà không nói giới luật. Vì sao? Vì trong giai đoạn đó các vị Tỳ-kheo thời đó đó nghe giáo pháp mà tự ấn định ra giới luật, tự không sai phạm, không cần giới luật. Từ giáo pháp mà có giới luật rồi. Nhưng đến khi những cái thế hệ sau người ta không đủ trí tuệ đó, nghe giáo pháp mà không rút ra được cái giới luật, nên Phật buộc phải chế cái giới luật cho cụ thể: Đây, sai! Đây, đúng! Rõ ràng. Còn trước kia chỉ cần nói giáo pháp, các vị tự có giới luật. Giống như ngày hôm nay chúng ta vậy, có những điều Phật không chế giới, nhưng ngày hôm nay nếu ta hiểu giáo pháp, ta phải tự chế thêm một số giới nữa cho mình.

[1:00:45]Tự chế thêm, tự chế thêm tùy theo theo thời đại. Ví dụ thế nào? Ví dụ ngày xưa là đâu có chuyện mà có xe gắn máy phải không nè. Bây giờ là có xe gắn máy. Có xe gắn máy đi đường phải đội cái mũ bảo hiểm nữa cho nó đúng luật pháp. Thì ta phải tự chế mình những cái điều mà trong giới không hề có, trong luật không hề có, nhưng bằng cái trí tuệ của giáo pháp ta phải tự rút ra giới luật. Ví dụ: không vi phạm luật giao thông. Khi đèn đỏ hiện ra rồi, ta phải ngừng trước cái vạch trắng người ta kẻ, chứ không được mà một Tỳ-kheo đèn đỏ mà chạy xe vượt qua khỏi vạch trắng hay lấn lên cái chỗ lằn gạch của người đi bộ nhìn mất tư cách, mất phẩm giá.

[1:01:24]Có một lần vậy, tôi đi Sài Gòn, lúc hồi xưa còn đi học, chạy chiếc xe máy. Đang chạy nhanh nhanh nhanh để cho qua đèn đỏ, tới nơi cái đèn đỏ nó dừng mất tiêu. Phải thắng riết lại cho kịp dừng trước vạch trắng, bánh xe nó vừa chạm cái lằn vạch trắng là xe dừng lại kịp thời. Bên cạnh có hai ông công an. Hai ông ngoảnh đi, ông công an ổng nhìn, ổng nhìn tôi cái rồi ổng nhìn xuống cái bánh xe, ổng nhìn vệt trắng, ổng hơi gật đầu nhè nhẹ. Tức là ổng nói cái ông thầy này đàng hoàng. Ông thầy này nghĩa là cái thời đó là chưa có cái mà gắt gao. Nhưng mà mình là người tự rút ra đó. Đó một ông thầy, Tỳ-kheo, một thầy tu không thể mà đèn đỏ rồi

[1:02:01]ráng lấn lấn lấn lấn lấn mà dừng ra khỏi vạch trắng mà hoặc là đậu lên trên, dừng trên chỗ lằn cho người đi bộ, vân vân. Có nhiều điều rất nhỏ. Nhưng mà nếu hiểu giáo pháp, tự quý thầy phải rút ra cái giới luật cho mình. Nhiều thứ nữa nha. Hôm nay chúng ta không tiện nói. Thôi vài điều chúng ta nhắc nhau cho xong luôn kìa. Thứ nhất là giới nó có tính hai mặt: Một, giới đó là khuôn vàng thước ngọc. Hai, nó có tính cố chấp. Người giữ giới nào rồi cũng cố chấp hết trơn. Cho nên ta giữ giới bằng trí tuệ, vì ta có tam vô lậu học mà, thì đó là người giữ giới mà không bị cố chấp. Nên ta không bị rơi vào cái lỗi là giới cấm thủ.

[1:02:43]Nhớ như vậy, giới cấm thủ là một điều không đạo đức. Mà khi một người chứng sơ quả Tu-đà-hoàn phải diệt cho được cái cố chấp của giới cấm thủ. Mà giới nó có tính hai mặt: một là khuôn vàng thước ngọc, hai là cố chấp. Thì ta phải giữ giới thế nào? Ha ta giữ giới bằng trí tuệ, cho nên mình giữ giới mà mình không thành con người cố chấp, nhớ như vậy, vẫn từ bi, vẫn bao dung, nhớ như vậy. Một điều nữa là thế này: Đừng khờ dại ở một mình. Phải nương tựa đại chúng để mà trì giới hạnh nha. Còn lúc nào đó mình thấy mình đủ lông đủ cánh thích làm trụ trì, tách rời thầy mình ra, cất một cái am là mình đã sai rồi.

[1:03:22]Mình làm cho Tăng đoàn yếu đi rồi. Một cái chùa đông tăng chúng vẫn tốt hơn một cái am ông thầy ở một mình. Chỉ có một hạng người được quyền ở một mình, đó là hạng Bích Chi Phật. Mà quý thầy đã đủ căn cơ Bích Chi Phật chưa? Có không? Chúng ta đây chưa ai đủ căn cơ Bích Chi Phật hết. Đừng bao giờ nghĩ chuyện ở một một mình mà hư. Ở một mình trước sau cũng hư. Tổ mình rút cái câu đó nói hoài: "Hổ ly sơn hổ bại, tăng ly chúng tăng tàn". Lúc nào cũng nương chúng mà được giữ gìn giới hạnh, để được mình tuân thủ giới luật, truyền trì giới luật, bảo vệ giới luật, tôn thờ giới luật, tạo thành một cái gì,

[1:04:08]sự thiêng liêng mầu nhiệm nơi nơi giới luật, thì phải ở nương đại chúng với nhau, nhớ như vậy. Đại chúng là biển phước mênh mông, mình con thuyền nhỏ được đi bình an trong đó. Đại chúng là ngọn cao sơn, mình là một hạt bụi, một viên sỏi được nương tựa nơi cái ngọn cao sơn đó để mà truyền trì giới hạnh, nhớ như vậy. Một điều nữa ta dặn nhau nữa là đừng công kích người kém giới mà phải tìm cách giúp họ trì giới. Thấy cái người đó họ yếu giới, mình phải xem biết ngay họ thiếu phước, họ chê bai ai á, không đủ lễ kính Phật, họ không đủ cái công đức mà tôn kính những bậc tôn túc, nên cái giới họ cứ kém kém kém kém, ý chí họ bạc nhược làm sao á.

[1:04:55]Mình phải lại khuyên răn, nâng họ lên, khuyên bảo họ, đó: "Ráng lễ Phật đi, ráng làm điều phước đi để tăng ý chí lên nha, mà giữ được giới luật", nhớ như vậy. Hồi nãy chúng ta nói rồi đó, cái người mà trì giới đúng, tự nhiên có cái uy đức mà quỷ thần cũng phải yêu mến, vậy. Cái người mà giữ giới đúng rồi, vừa nghiêm trang mà vừa khiêm nhu, chứ không phải nghiêm trang mà cao ngạo hay là cố chấp hay khó tánh. Nghiêm trang mà khiêm nhu, vậy. Trong cái thời đại nhiều cám dỗ này, càng lúc ta sẽ càng thấy nhiều cái cám dỗ, khi mà khoa học kỹ thuật nó càng lúc nó càng tiến cuốn phăng hết tất cả mọi thứ, thì nhớ lúc đó con người còn cần tâm linh hơn bao giờ hết.

[1:05:43]Nếu thiếu cái tâm linh mà khoa học kỹ thuật nó cứ tiến như thế này thì thế giới sẽ diệt tận, con người sẽ giết nhau nhanh hơn. Nên vì vậy khoa học càng tiến bộ thì con người càng cần đạo đức tâm linh. Mà ai là người giữ cái giềng mối tâm linh đạo đức đó cho nhân loại này? Ai? Đó là những người mà ngày mai tấn giới đó nha. Đó là những người ngày mai đăng đàn thọ giới, là những người mà giữ gìn cái giềng mối tâm linh đạo đức cho thế giới này. Quý thầy phải hiểu cái trách nhiệm của mình như vậy mà tinh tấn tu hành, hiểu không? Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.