Transcript: Sự Nhẫn Nhục Của Thánh - Kinh Kim Cang 12

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:32:02

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:14]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:23]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:37]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:51]Mời quý Phật tử ngồi xuống.

[1:13]À Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta học kinh Kim Cang lần thứ 12.

[1:24]Cái đoạn này chúng ta sẽ nghe một đoạn kinh lại khen ngợi kinh Kim Cang này như thế này. Cái lời này của ngài Tu-bồ-đề: Bạch Thế Tôn, ngay như chúng con được nghe kinh điển này à rồi tin hiểu thọ trì cũng chưa gọi là khó. 500 năm sau, nếu có chúng sinh nào nghe được kinh này rồi tin hiểu thọ trì mới thật là người hiếm có nhất. Vì sao? Vì người đó ắt không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Đoạn này nghe đơn giản.

[2:10]Là khen ngợi rằng cái kinh này là loại kinh khó có dịp hay là khó có duyên để được nghe. Vì sao? Thì nói rằng vào thời Đức Phật mà nghe kinh điển này thì có vẻ bình thường vì còn Đức Phật để thuyết. Nhưng mà do kinh này khó nghe, khó hiểu, khó tin, cho nên 500 năm sau biết còn có ai truyền cái kinh điển này lại nữa hay chăng. Đó vì vậy là chúng sinh 500 đời sau sợ không còn cái cơ hội để nghe cái kinh điển vi diệu này nữa. Đây là cái lời than ở 500 năm sau nên rất là khó, rất là hiếm. Ở đây, cái người mà được nghe nó khó là bởi vì sợ rằng kinh điển thất truyền. Mà vì sao thất truyền? Là bởi vì không ai chịu truyền.

[3:01]Mà tại sao không ai chịu truyền? Vì người ta không hiểu. Người ta không hiểu nên người ta không thích, không thích, không thấy hay, cho nên người ta xem qua phất phớt rồi bỏ, không lấy làm quan trọng, không truyền cho người khác nghe nữa. Nên kinh điển sẽ từ từ thất truyền và qua 500 năm sau không còn ai nghe nữa. Đó là cái tâm lý rất là tự nhiên, rất là bình thường. Nó lạ thế này, có những điều quý á thì người ta giấu, mà có những điều quý người ta lại muốn cho nhiều người biết. Ờ trường hợp nào có những điều quý mà người ta lại giấu? Trường hợp nào? Ví dụ như

[3:47]vàng, khi mình có vàng thì thường sao? Mình hay hay giấu, mình chỉ khoe chút đỉnh thôi, mình đeo chút đỉnh mà nhiều khi đeo vàng giả rồi vậy thôi chứ không. Kim cương, ngọc ngà rồi mình giấu đâu chôn dưới đất mất tiêu, ít có thấy. Lâu lâu có tiệc tùng đem trưng chút xíu rồi sau đó đem cất. Hoặc là những cái môn võ bí truyền, những môn võ bí truyền nó đem lại cái công năng lớn thì cái nhiều vị võ sư họ không dám truyền. Họ sợ người sau học được rồi có cái ác tâm, cái quậy phá thì cái người mà thầy dạy mang tội. Ví dụ như là vào cái đời của ông cha mình á, cái việc mà một người tập võ rồi nhảy nóc nhà á bình thường,

[4:28]học chút xíu là xong, học chừng năm hai năm là nhảy nóc nhà. Nhưng mà chuyện đó ngày nay không làm được. Thì chúng ta nhớ kỷ lục của SEA Games vừa rồi là nhảy cao được nhiêu? Thầy cũng không coi, không biết, 2 mét 15 phải không? 2 mét 15, hình như thấy báo đăng như vậy. Trong khi nóc nhà cũng phải 3 4 mét. Mà người xưa thót cái nhảy lên không cần lấy đà, còn bây giờ là phải nhảy chạy lấy đà và nhảy đúng kỹ thuật, lượn người sao cho đừng có chạm sào gì đó. Thì hồi xưa có những cái bí truyền như vậy mà họ không dám dạy, sợ dạy rồi cái sợ người khác đi ăn trộm. Mà đã thực sự có những điều như vậy.

[5:05]Có những người võ sư giỏi võ, bởi vì họ mê học võ quá nên họ không có làm phước, rồi cái họ nghèo, họ nghèo họ không biết cách nào làm ra tiền thì nhớ mình có võ, thôi lấy võ đi ăn trộm. Họ về ở thành phố đây cách đây cũng mấy chục năm. Những cái nhà người ta mấy tầng họ thót cái nhảy tuốt lên trên lầu, họ luồn qua trong, họ lấy thì không ai cản nổi tại họ giỏi võ quá. Hoặc ở ngoài Huế, ngoài Huế cách đây khoảng chừng 8 90 năm vậy. Lúc đó thì ở có một cái tay đó võ Việt Nam giỏi lắm, chuyên môn là đi ăn trộm và cưỡng hiếp phụ nữ, nhất là những phụ nữ mà quý phái á, những cái tiểu thư á. Ở trong nhà cao kín cổng vậy tay nhảy qua nóc nhà đi vô trong là không ai cản nổi.

[5:47]Đó vì cái ông thầy ổng sợ là dạy cái công năng đặc biệt quá mà không có cái đạo đức thì ông thầy bị tổn phước. Nên lần lần cái võ thuật mất dần mất dần, chứ hồi xưa giỏi hơn. Rồi có một cái người ta giấu nữa là ví dụ những cái công nghệ kỹ thuật cao cũng giống như vậy. Ví dụ bây giờ có người nào đó họ nghĩ ra được cái phương pháp để chế tạo đĩa bay và thắng được trọng lực quả đất, thì họ không có dám công bố. Thầy nói ra là làm cho thế giới tiến thêm một bước kỹ thuật, nhưng mà có biết là người ta phục vụ cho con người hay là người ta lại dùng nó vào trong việc gây chiến tranh để mà giành cái ưu thế

[6:26]quân sự đối với thế giới thì thật là một hiểm họa cho thế giới. Không có biết là cái người mà nắm chủ công nghệ cao đó họ có tâm nhân từ hay họ lại muốn làm một cái bạo chúa như Tần Thủy Hoàng ví dụ vậy, đem quân xâm lược hết thế giới thì thật là tội nghiệp cho sinh đinh. Có những điều quý mà chúng ta thấy sẽ giấu. Nhưng có những cái quý thì người ta lại thích cho nhiều người biết, đó là cái gì?

[6:56]À, đạo lý. Ngộ vậy, lạ cái là khi mà chúng ta thấy cái đạo lý hay, chúng ta lại muốn cho nhiều người biết, là vì sao vậy? Bởi vì trong cái đạo lý có cái tính thiện, có cái tính từ bi ở trong, cho nên người mà khi đón nhận được đạo lý là tự nhiên người ta có cái tâm vị tha và muốn san sẻ cái điều hay điều tốt đó cho người khác. Nên cái gốc là bởi vì đạo lý luôn luôn khuyến cái điều thiện, còn vàng nó không khuyến điều thiện, mà nó chỉ khuyến khích cái lòng tham. À cũng như là những môn võ thuật cao nó không khuyến khích điều thiện mà nó dễ khuyến khích cái sự kiêu ngạo, hoặc là một cái kỹ thuật cao nó cũng khuyến

[7:37]khích một cái sự tham vọng của con người. Cho nên vì vậy, những người họ có trách nhiệm họ dè dặt. Còn đối với đạo lý nó có cái điều thiện, nó làm cho cuộc đời đẹp hơn, cho nên là khi người ta biết được đạo lý rồi thì người ta hay truyền bá là vì vậy. Còn nếu mà mình biết đạo lý rồi mà mình không truyền bá thì tại sao?

[8:03]Nếu mình có được cái đạo lý hay mà không chịu truyền bá thì lý do gì?

[8:11]Một là cái đạo lý đó không hay, phải không? Trong cái đạo lý đó không khuyến khích điều thiện, có thể giảng dạy cũng nói về đạo nhưng mà nó không làm người ta khai mở được cái tâm từ bi, sự thương yêu con người, lòng vị tha, cho nên cái người nghe cái đạo lý đó xong không muốn làm gì nữa. Đó là lý do thứ nhất là vì cái đạo lý đó. Lý do thứ hai là tại chính cái người nghe, sau khi mình nghe được cái đạo lý đó rồi mà mình không đủ sức lĩnh hội và tâm từ bi mình cũng không mở ra, tâm vị tha không có phát triển, cho nên mình lại tiếp tục thụ động mà không muốn truyền cái đạo lý cho ai hết. Chứ còn nếu mà đạo lý hay và tâm mình tâm thiện thì mình sẽ truyền liền.

[8:56]Thì như vậy 500 năm sau không bị thất truyền như là cái lời than của ngài Tu-bồ-đề. Nên ngài Tu-bồ-đề biết cái kinh này khó. Kinh này khó cho nên là sợ lần lần rồi bị thất truyền. Nhưng mà cũng cứ khen, cứ khen rằng à kinh này công đức rất là lớn, là ai mà thọ trì kinh này rồi đem giảng cho người khác nghe

[9:38]thì được

[9:54]công đức

[10:11]vô lượng. Chính nhờ cái lời

[10:34]khen đó mà giữ được kinh này tới ngày hôm nay,

[10:48]mà chúng ta hôm nay lại được nghe tiếp như vậy. Và đó là ngài mới nói rằng là người nào mà nghe được kinh này thì thật là hiếm có. Ờ tuy nhiên cái này, có một cái đoạn câu này thì làm cho chúng ta hơi ngạc nhiên ở chỗ câu nói rằng: cái người mà nghe được kinh này thì người đó đã thoát được bốn tướng: ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Thì hôm nay mình nghe được phải không? Mình thoát được tướng nào chưa? Mình thoát được một tướng mình leo lên bàn thờ thứ nhất ngồi. Thoát được tới bốn tướng là mình leo tuốt lên cái nóc nhà mình ngồi để cho người ta lạy. Nhưng mà rõ ràng mình chưa thoát được cái tướng nào hết, phải không?

[11:24]Vậy mà trong kinh khẳng định chắc như đinh đóng cột là: Vì sao? Vì người nào mà nghe được kinh này thì người đó không còn ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Cái câu này mình nghe giống như kết luận hơi vội, nhưng mà chúng ta thông cảm một điều là cái kinh văn ngày xưa cho tới ngôn ngữ ngày nay có cái khoảng cách hơi lớn. Và cái khoảng cách đó là khi chúng ta đọc lại kinh cổ như vậy, chúng ta phải ráng mà lấp đầy cái khoảng trống đó thì mình mới hiểu được cái lý do tại sao. Ở đoạn sau mới giải thích như thế này: là vì sao? Vì ngã tướng không phải tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng không phải là tướng. Vì sao?

[12:06]Vì nếu ai lìa tất cả tướng, ắt được gọi là chư Phật. Lại thêm một lần nữa nghe đơn giản, nghe gọn bâng. "Ly nhất thiết tướng tức danh chư Phật". Cái câu này thì chúng ta sẽ nghe rất nhiều thiền sư, rất nhiều pháp sư hay lặp đi lặp lại. Hỏi: Thế nào là Phật? Nói: "Ly nhất thiết tướng tức danh chư Phật" là lìa bỏ, rời được, buông xả được tất cả những tướng đó, là bốn cái tướng đó: ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, thì xứng đáng để được gọi là Phật. Thì câu này không sai. Nếu mà chúng ta tu đến cái mức độ mà chúng ta thoát được bốn tướng đó thì mình thành Phật rồi, thì câu này không hề sai. Nhưng mà nghe kinh này mà để gọi là lìa được bốn tướng thì

[12:47]mình thấy nó hơi không hợp lý lắm, không hợp lý lắm. À tuy nhiên, sở dĩ mà nói như vậy là bởi vì thế này: Bởi vì lúc đó ngài Tu-bồ-đề nghĩ rằng cái kinh mà khó như vậy, cái kinh mà khó nghe khó hiểu như kinh Kim Cang này, mà được người ta truyền tới 500 năm sau, thì như vậy chắc chắn là cái người mà truyền kinh á, phải là người có hiểu, có thực hành được kinh này. Và hiểu và thực hành đến cái mức độ cũng khá thâm sâu để có thể gọi là đắc đạo. Và cái người đó mà truyền cho ai thì người nào mà nghe được kinh này mà lĩnh hội được, chắc rằng người đó cũng đắc đạo. Là ngài lấy cái tâm trạng của ngài mà ngài đem đo với chúng sinh.

[13:32]Tức là thường người ta hay nói câu này: "Lấy bụng tiểu nhân mà để đo lòng quân tử", tức là mình xấu mình nghĩ ai cũng xấu. Mình hay nói dối ai nói cái mình cũng nghĩ không biết họ nói dối chắc là nói dối tại mình nghĩ mình hay nói dối mình tưởng vậy. Mình hay ăn cắp mình tưởng người ta cũng hay ăn cắp. Mình hay hơn thua hay ích kỷ mình nghĩ người ta cũng vậy nên gọi là "lấy bụng tiểu nhân để đo lòng quân tử". Còn ngài Tu-bồ-đề thì ngược lại, có nghĩa là lấy tâm của A-la-hán mà lại là để đo cho bụng của của phàm phu mình. Ổng tưởng là ai mà nghe kinh này là cũng xúc động, cũng khóc, và cũng chứng ngộ y như ngài.

[14:12]Tại vì ngày xưa là ngài chứng A-la-hán, rồi nghe kinh này ngài thấy tuyệt vời chứ người khác nghe không hiểu. Cho nên ngài nói 500 năm sau, người nào mà nghe kinh này mà hiểu thì cũng không thua gì ngài. Mà ngài là ngài chứng A-la-hán ngài biết, ngài biết là ngài đã vô ngã, nên ngài mới nói cái câu như vậy, nói một câu nghe xanh dờn, là 500 năm sau mà người nào nghe được kinh này là người đó thành Phật. Thấy lời mà tán thán quá sức như vậy, nên đúng là ngài đã mắc vào cái bệnh mà lấy tâm của A-la-hán mà đi đo bụng phàm phu của mình, của chúng ta thời nay. Thì thôi, này nói thôi thì mình cũng cảm ơn ngài

[14:49]nhưng mà mình mình không dám nhận, phải không? Không dám nhận. Còn nếu mà ai ở đây nghe mà đắc đạo thiệt thì cứ giơ tay lên nha. Lên thì mời lên chỗ khác ngồi, không ngồi dưới đó nữa.

[15:02]Cái định nghĩa bốn tướng là ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng thì chúng ta nghe rồi phải không? Nghe rồi phải không? Có ai chưa, ai nhớ không? Chúng ta nghe lại cái băng thứ mấy? Thứ hai phải không? Thứ hai hay thứ ba gì đó, chúng ta có nói rồi. Cho nên về chúng ta chịu khó nghe lại nha cái sự định nghĩa. Cho nên là ở đây chúng ta không lặp lại mất thời gian. Tuy nhiên ở đây nói là: "Ly nhất thiết tướng tức danh chư Phật" là lìa khỏi bốn tướng này xứng đáng gọi là chư Phật, thì ở đây đó mục tiêu của chúng ta tu hành là để thoát được bốn tướng như là lời răn nhắc trong kinh Kim Cang này.

[15:44]Nhưng mà muốn thoát được bốn tướng thì chúng ta phải có hai cái hai cái yêu cầu, hai cái yếu tố, hai điều kiện. Điều kiện thứ nhất á là chúng ta phải có mục tiêu thoát được bốn tướng, có cái mục tiêu đó rõ ràng. Biết bốn tướng là gì: ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả là cái gì, và có cái mục tiêu thoát, khát khao có cái lý tưởng, có cái định hướng rõ ràng. Và cái điều kiện thứ hai là phải có định lực cho sâu, tức là ngồi thiền nhập định cho viên mãn. Phải có hai điều kiện đó thì mới lìa được bốn tướng. Cho nên nếu như ngoại đạo á, tại sao gọi họ là ngoại đạo trong khi họ tu họ có thần thông á? Ví dụ những vị đạo sĩ ở trên dãy Hy Mã Lạp Sơn,

[16:28]những vị đạo sĩ ở Úc Châu, những đạo sĩ ở Tây Tạng, những đạo sĩ Trung Hoa, có nhiều người họ có thần thông, họ ngồi họ nhập được định luôn, nhưng mà không gọi là thoát được bốn tướng để gọi là chư Phật, chỉ bởi vì họ có cái điều kiện thứ hai là có định mà thiếu điều kiện thứ nhất là không có cái mục tiêu thoát bốn tướng, chưa từng có cái khái niệm về bốn tướng, cho nên không có cái lý tưởng thoát được bốn tướng. Vì vậy tuy có định có thần thông mà không thoát được bốn tướng, nên không xứng đáng gọi là chư Phật.

[17:05]Còn chúng ta, chúng ta nghe kinh Kim Cang này nên chúng ta có cái định hướng là mình tu để thoát được bốn tướng, là không còn thấy có cái ta hoặc là không còn thấy có cái ta này nó đồng với mọi người, không có tướng nhân, không có thấy mình như chúng sinh, không có thấy mình là một sự tồn tại nào nữa, xem tất cả như không. Mình có cái hướng đó rồi khi nghe kinh Kim Cang thì hiểu điều đó, nhưng mình thiếu cái gì? Mình thiếu cái điều kiện thứ mấy? Điều kiện thứ thứ hai là mình thiếu định lực, là cái sức định mình không sâu. Nên vì vậy, người đệ tử Phật nghe được kinh Kim Cang có cái khái niệm về bốn tướng thì phải nhanh chóng,

[17:49]tinh tấn mà siêng năng tu tập thiền định để đạt được cái định cho sâu. Thì khi có hai điều kiện đó, chúng ta sẽ lìa được bốn tướng, là như vậy. Còn cái đoạn Phật bảo ngài Tu-bồ-đề: "Đúng như thế, đúng như thế! Nếu người nào nghe được kinh này mà không kinh ngạc sợ hãi, phải biết người đó thật là hiếm có. Vì sao? Này Tu-bồ-đề! Như Lai thuyết đệ nhất Ba-la-mật cũng chẳng phải đệ nhất Ba-la-mật, đó gọi là đệ nhất Ba-la-mật." Nói chung cái mạch văn này không có gì dính gì hết trơn. Mình đọc cái văn hồi xưa nhiều khi mình cũng không hiểu hết nổi là vậy. Tại cái câu trước câu sau không có dính gì với nhau hết trơn á.

[18:32]Vì vậy khi mà chúng ta nghiên cứu kinh điển cổ, chúng ta phải bình tĩnh, phải rộng lòng, phải thông minh, phải đoán được cái ý ngày xưa các vị muốn nói cái gì, chứ còn đi theo từng chữ như kinh mình giải thích không ra. Tại câu trước câu sau nó không dính gì với nhau hết trơn, nó không giống như chúng ta cái thời đại ngày hôm nay là khi chúng ta học toán, là từ mỗi bước suy luận nó chặt chẽ nó liên quan với nhau từ đầu tới cuối, từ cái lúc mà chúng ta lấy cái giả thiết chúng ta đi dần qua bao nhiêu cái suy luận chứng minh để đến cái kết luận cuối cùng nó rất là chặt chẽ, không có điểm hở. Còn kinh điển ngày xưa không được cái logic như vậy,

[19:13]tức là câu trước nói một đường, câu sau nói một nẻo không dính gì với nhau hết. Mà chỉ vì là chúng ta tôn trọng kinh điển cho nên chúng ta ráng tìm ra được những cái khoảng trống mà trong kinh văn không nói rõ chúng ta lấp cho đầy. Tự chúng ta phải biết như vậy, nên quan trọng là biết cái gốc. Cái đoạn này nói là: Cái người nghe kinh này mà không ngạc nhiên, không nghi ngờ, không sợ hãi thì phải biết người đó là hiếm có. Thì ở đây, cái chỗ là nói lên cái tâm trạng bình thường của con người á, khi chúng ta nghe một cái điều gì mà nó trái với cái thực tế bình thường của mình hiểu thì chúng ta hay ngạc nhiên, hay ngạc nhiên.

[19:54]Còn người nghe mà không ngạc nhiên thì phải biết rằng: Một là người này đã nghe quen rồi, đã quen thuộc. Hai là nếu không quen thuộc thì cái trí tuệ của người này quá đặc biệt, quá sắc á. Nghe một điều lạ mà điều đó hợp lý mình nghe mình công nhận liền, công nhận lập tức liền. Bởi vì mình quá sắc bén, quá giỏi. Nên ở đây cái ca ngợi là cái người này hiếm có, nghe kinh này mà không kinh ngạc, hiếm có. Hiếm có vì hai điều: Một là người này đã nghe quen đâu kiếp trước rồi. Hai là người này thật là có trí tuệ. Ở đây chúng ta nghe kinh này mười mấy lần rồi có ngạc nhiên không? Có không? Không, thì chúng ta là những người hiếm có, những người quý hiếm.

[20:42]Mà chúng ta biết cái gì quý hiếm thì sao? Rất là mắc tiền. Cho nên nếu chúng ta mà đem đi ra cầm hay đem bán cũng có giá lắm phải không? Mà tại sao một cái điều mà nó trái với lẽ thường mà có một người nào đó có trí tuệ có thể chấp nhận được? Ví dụ như mình nói một cái điều thường thường thôi, ví dụ ông bà mình nói câu thế này: "Lạt mềm buộc chặt". Lạt mềm là sao? Tức là hồi trước á ông bà mình hay gói cái gói bánh hay gói xôi hay gói gì đó bằng cái lá chuối phải không? Bỏ vào lá chuối rồi cột lại, cột lại đó bằng cái cái sợi dây sợi dây lạt. Dây lạt đó có thể lấy từ tre, lấy từ cỏ. Nhưng mà cái sợi dây lạt đó mà nó mềm á

[21:31]thì siết cái gói đồ đó nó nó lại chặt, không lỏng. Còn cái dây lạt mà nó cứng á thì siết vô vậy chứ nó lại lỏng, nó có thể rớt trở ra lại. Ngày hôm nay thì chúng ta ít thấy điều đó. Vì sao? Vì chúng ta có cái túi xốp phải không? Có gì dọng đại nó vô cái xong chuyện hoặc rút dây cái thẹt có cái kỹ thuật cao, nên mình không còn biết được cái dây lạt mềm buộc chặt là gì. Vì cái câu mà "lạt mềm mà buộc chặt" á là một cái câu nó vẫn là một cái ngược với lẽ thường, ngược với lẽ thường. Là vì sao? Là thường á chúng ta nghĩ rằng muốn chắc á thì nó phải phải cứng, cái gì cứng thì cái đó mới làm nên cái chắc.

[22:13]À chúng ta nghĩ như vậy cho nên chúng ta muốn cột cái gì cho chắc thì chúng ta lấy dây cho nó cứng để chúng ta siết lại, đó. Nên chúng ta mua dây xích, dây lòi tói rồi dây cáp đồ cột vậy đó. Nhưng mà ông bà mình nói đừng, chớ. Cứ lấy cái dây lạt mềm mà buộc thì không nhúc nhích được. Câu đó làm mình ngạc nhiên, nhưng mà ông bà mình ám chỉ điều gì? Câu đó có phải là nói cái chuyện mà buộc cái bánh cam, bánh ít đi mua ngoài chợ không? Hay nói chuyện gì vậy? Nói chuyện đối nhân xử thế ở cuộc đời này. Là ví dụ như mình muốn cho người ta gắn bó với mình, là buộc, ràng buộc người ta đó, muốn cho người ta thương mình,

[22:54]mà nhất là nói những người vợ á, thì đừng có mà ăn hiếp người ta. Đó. Mà phải phải nhỏ nhẹ, phải mềm mỏng, mặc dù là cái thời đại ngày hôm nay thì nữ luôn luôn vô địch.

[23:13]Nam mặc dù là được nhiều ủng hộ, nhưng vẫn chỉ là huy chương bạc. Còn nữ luôn luôn vô địch. Mặc dù cái thời đại ngày hôm nay là vậy, nhưng mà đừng ỷ rằng mình vì vô địch mà mình đối xử thô bạo với người người nam. Phải nhớ như vậy. Nếu mà mình ỷ mình vô địch mà đối xử thô bạo với người nam thì mình sẽ buộc người ta không chặt. Đó. Như quý thầy đây cũng vậy, quý thầy cũng là người nam đáng thương, là người nam tội nghiệp mà thường hay thua sút như vậy, cũng giống như vậy, cho nên quý Phật tử nhớ cưng thầy, đừng có cứng rắn thô bạo với thầy, nhớ vậy. Bởi vì ông bà mình đã dạy là lạt mềm buộc chặt.

[23:55]Thì thường á ví dụ thế này, trong gia đình cha mẹ với con cái cũng vậy, ví dụ người cha mẹ có quyền, rồi cái thấy con cái mình nó có vẻ nó hơi ham vui hay đi chơi, kêu nó về tát cho bạt tai, la mắng nó. Hễ mà thấy nó đứng đứng nhìn cửa sổ cái, nạt cho một tiếng: "Không lo học, cái cứ đứng dòm bên ngoài chơi." Thì cái đó là cứng hay mềm? Cứng, lại không giữ được đứa con của mình. Và đứa con nó thấy gia đình không phải hạnh phúc. Trong khi nó đi chơi với bạn bè, nó đối xử lịch sự, nó có bộ hay hơn, vui hơn. Và cái tâm nó cứ hướng ra ngoài. Cho nên trước trong những trường hợp đó, thì mình nhớ ông bà mình nói

[24:33]lạt mềm buộc chặt, thì đừng có ỷ quyền cha mẹ mà đối xử thô bạo. Hãy hỏi con mình, chuyện gì, con muốn cái gì, nó thèm khát cái gì. Và có những lúc mà nó biết nó có cái sai, ví dụ nó ham vui với bạn, nó: "Dạ, hôm qua bạn con rủ đi vô chỗ đó vui lắm." Nói chỗ đó chỗ nào, thì mình nó kể những chuyện mình nghe là mình rùng mình liền, nhưng mình biết là tuổi con mình nó chưa biết sai trái, lúc đó mình quát tháo, đánh nó, coi chừng nó lại đi tiếp. Lúc mình ngồi ân cần mình giải thích cho nó nghe trước, nhưng vừa có cái cứng rắn, nhưng vừa có cái mềm mỏng tình cảm, như vậy con mình nó vì tình thương yêu, nó thương mình cái nó lại cảm

[25:08]thấy thôi, nó không còn bị bạn bè rủ rê khi mình đã giải thích một cách ân cần, chứ không phải lúc nào cũng ỷ quyền làm cha làm mẹ mà nạt nộ. Cái người có ưu thế đó, dễ sử dụng cái sức mạnh, cho nên lại buộc không chặt. Nên ông bà mình nói vậy, lạt mềm buộc chặt. Dù mình có cái khả năng để đàn áp, nhưng đừng, đừng, luôn luôn vậy, nhẹ nhàng, thuyết phục, vẫn là cái hay hơn. Nhớ. Hoặc là ví dụ như có những hình ảnh trái ngược như là nói đi vòng một khắc mà đi tắt một ngày. Những cái ngược với lẽ thường, muốn đi đến cái điểm nào đó, mình đi quanh vậy đó nó lại tới mau hơn là mình cứ đâm đầu đi thẳng.

[25:49]Mình nghe lạ, tại bởi vì trong hình học mình đã học là cái khoảng cách giữa hai điểm thì đường thẳng là đường ngắn nhất. Mình biết như vậy rồi, nhưng mà tại sao ông bà mình nói ngược là đường thẳng đi lại lâu? Thì cái điều này là chúng ta thấy cái nghe nó hơi ngược, nhưng mà cái người nào mà nghe câu đó mà thấy hay liền, thì người này làm sao? Có có kinh nghiệm sống ở trên đời, nên nghe không ngạc nhiên, nghe chấp nhận liền. Còn cái người mà không có kinh nghiệm sống á, mà nghe ông bà mình nói: "Đi vòng khắc, đi tắt ngày", mình nói ông bà mình hơi lẩm cẩm, thì cái người mà nghe mà ngạc nhiên thì người không có trí tuệ,

[26:30]không phải là người hiếm, người đó người đầy hết. Nên còn cái người hiếm là người nghe một điều lạ mà không ngạc nhiên, bởi vì mình có kinh nghiệm sống, có trí tuệ. Để đạt được cái mục tiêu, mà mình cứ phăng phăng lao tới thẳng, coi chừng mình sẽ vướng rất nhiều cái chướng ngại. Còn mình chịu khó luồn lách đi vòng một chút thì lại dễ chịu hơn. Mình muốn thành công thì đừng có phải là gạt hết mọi người để bước tới, mà chính là thương yêu, lấy lòng mọi người, nâng đỡ mọi người đi trước, và mình tự nhiên lại thành công đi sau, lạ như vậy. Còn mình muốn là chen lên, vượt hết mọi người để thẳng tới mục tiêu thì coi chừng lại thất bại, không tới.

[27:11]Còn nhiều khi mình giúp người ta cứ đi tới đi, à ai muốn thành công mình giúp người ta thành công, về sau cái sự thành công của mình rất là vĩ đại. Đó là cái điều mà kinh nghiệm sống của ông bà mình với cái khôn ngoan, cái trí tuệ để lại cho con cháu bằng một vài lời nói đơn giản mà mình nghiền ngẫm cả đời vẫn không thấy hết là vậy. Nhưng mà người nào nghe câu đó xong chấp nhận vui vẻ liền thì đó là người rất là trí tuệ, có kinh nghiệm sống. Ví dụ giờ thầy nói ngồi nghe pháp xin vui lòng đừng hút thuốc thì có người sẽ hơi khó chịu ngạc nhiên. Rồi cái câu mà "Lìa nhất thiết tướng được gọi là chư Phật".

[27:54]Cái câu này cũng lại là một cái câu đơn giản, làm cho chúng ta sẽ hơi ngạc nhiên một lần nữa. Đó, ai nghe câu này mà không ngạc nhiên là người đó là người có trí tuệ. Nha, cái đoạn sau để khen là khen cái đoạn trước này. Nghe cái câu mà "ly nhất thiết tướng tức danh chư Phật" mà nghe mình không ngạc nhiên là coi chừng mình cũng thuộc loại quý hiếm á. Vì sao vậy? Bởi vì nào giờ á, chúng ta hiểu á, thành Phật là cái gì? Là ngồi trên tòa sen, là phóng ra hào quang, là thuyết pháp như mây như mưa bất tận. Còn ở đây chỉ nói là trong tâm mình tu sao mà lìa được bốn tướng thì mình được gọi là đắc đạo thành Phật.

[28:36]Cái khái niệm nó nghe nó giản dị, nó trừu tượng quá, đôi khi mình không hiểu nổi. Không hiểu nổi. Đây là cái chỗ mà đánh giá cái người giỏi không giỏi đó, có trí tuệ hay không trí tuệ, là nghe một điều mà đơn giản nhưng mà lại sâu sắc, chấp nhận được, coi chừng mình là người quý hiếm. Là như vậy. Cái câu thứ hai trong cái đoạn này là: "Này Tu Bồ Đề, Như Lai thuyết Đệ nhất Ba La Mật cũng không phải là Đệ nhất Ba La Mật, đó gọi là Ba La Mật". Cái đoạn này nói về lục độ. Lục độ thì chúng ta biết rồi phải không? Đó là trong cái phép tu của Bồ Tát có sáu cái phép Ba La Mật. Ba La Mật là perfection á, chúng ta nói rồi.

[29:21]Thứ nhất là Bố thí, perfection á, bố thí thấy viên mãn Ba La Mật. Thứ hai là Trì giới, thứ ba là Nhẫn nhục, thứ tư là Tinh tấn, thứ năm là Thiền định, thứ sáu là Bát Nhã.

[29:43]Chúng ta nhớ nha, Bát Nhã là đỉnh cao của các pháp Ba La Mật. Chúng ta phải nhắc nhau điều này, để sau khi nghiên cứu kinh Kim Cang xong chúng ta học qua bài Tâm Kinh Bát Nhã, chúng ta phải hiểu cái khái niệm này. Ở trong cái lục độ gồm có Bố Thí Ba La Mật, Trì Giới Ba La Mật, Nhẫn Nhục Ba La Mật, Tinh Tấn Ba La Mật, Thiền Định Ba La Mật và đỉnh cao là Bát Nhã Ba La Mật. Hãy thuộc điều này, để sau này chúng ta học giáo lý chúng ta hiểu rõ và khi nghiên cứu qua Bát Nhã Tâm Kinh chúng ta biết rằng cái bài kinh đó không đơn giản, bài kinh đó rất dễ bị hiểu lầm và khi hiểu lầm thì chúng ta tu sai và đọa chết luôn.

[30:25]Rất nhiều người hiểu lầm bài Bát Nhã Tâm Kinh. Thì trong cái sáu pháp Ba La Mật này, thì cái đoạn sau chúng ta sẽ nghe Phật trích ra cái Nhẫn Nhục Ba La Mật để mà nhấn mạnh lại cái lìa bốn tướng: ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Cho nên đây thầy nói rằng Như Lai nói Đệ nhất Ba La Mật cũng không phải là Đệ nhất Ba La Mật. Thì trong sáu cái Ba La Mật đó không biết là Phật nói cái nào là Đệ nhất, không biết. Ở trong kinh văn này không nói rõ, tức là trong sáu Ba La Mật này Phật có khen một cái nào đó gọi là Đệ nhất Ba La Mật. Nhưng mà dù cho cái đó được gọi là Đệ nhất Ba La Mật thì cũng phải xem như

[31:06]không, nên mới gọi là chẳng phải là Đệ nhất Ba La Mật, nhưng mà vẫn là? Vẫn là Đệ nhất Ba La Mật. Tại trong kinh Kim Cang luôn luôn nói đi rồi nói lại để tạo thành một Trung đạo. Cái hay của kinh Kim Cang là Trung đạo, nhưng mà vì ngày xưa không có cái từ này, ngày xưa không có cái cách để diễn tả, cái ngôn ngữ còn ít quá, cho nên kinh văn đã diễn tả cái Trung đạo bằng cách nói đi rồi nói lại, nói đi rồi nói lại để cho mình hiểu được Trung đạo. Ngày nay mình ngôn ngữ quá thừa, nhiều khi mình lại hiểu lầm. Như vậy. Ở đây chúng ta hiểu rằng để thực hành Ba La Mật là Ba La Mật mà chẳng phải Ba La Mật có nghĩa là sao?

[31:50]Ba La Mật là pháp tu của Bồ Tát, nhưng mà chẳng phải Ba La Mật nghĩa là sao?

[31:57]Nghĩa là tuy thực hành chuyên cần cái phép Ba La Mật đó mà vẫn xem như? Không. Đó, cái khó là chỗ này. Cái khó là chúng ta thực hành một cái phép rất là chuyên cần, rất là chuyên cần, hết lòng mình mà lại coi như không. Cái chỗ khó là chỗ này, cái khó của Bồ Tát là chỗ này, của kinh Kim Cang là chỗ này. Chúng ta làm cái gì mà với hết tấm lòng của mình thì thường sao? Chúng ta rất là chấp, chúng ta rất là chấp. Còn ở đây, chúng ta muốn làm một vị Bồ Tát, một vị Bồ Tát là làm với tất cả tấm lòng của mình mà lại xem như không. Chỗ này rất là khó, rất là khó. Ví dụ như là khi mà chúng ta cái tâm hơn thua mạnh quá

[32:44]trong bóng đá, ví dụ trong bóng đá mà mình đi mình thắng nước khác, mình thắng nước khác thì mình sao? Mình điên cuồng lên, là do cái tâm hơn thua mạnh quá chịu không nổi. Và mình thua thì sao? Thì mình khóc. Thì cái đó là khi cái gì mà hết cái tấm lòng của mình thì mình mình chấp. Ít có cái người nào, ví dụ như xem bóng đá SEA Games mà mình thắng hay thua gì cũng bình thản. Có ai vậy không? Cái người đó giỏi không? Thế người nào mà xem bóng đá mà Việt Nam mình thắng hay Việt Nam thua đều bình thản thì cái người đó giỏi hay dở? Giỏi. Mà thua một người là người nào? Người không xem luôn. Cho nên có một cái ni sư vậy đó, đi từ thiện giữa đường về cái ông

[33:42]tài xế ổng tranh thủ đi về cho kịp mà coi SEA Games đó, ổng lái kinh hồn rồi tông vô xe tải chết hết luôn nguyên một chiếc xe. Nghĩa là đi không phải ở trong thành phố đó, mà đi ngoài đường quốc lộ mà vẫn chết vì SEA Games. Bởi vì ông tài xế ổng quá cuồng nhiệt với bóng đá, mà cái cuồng nhiệt đó là do cái tâm hơn thua của mình đó. Nên ở đây cái khó là cái điều mà chúng ta biết là hay. Ví dụ như cái bố thí Ba-la-mật đi, chúng ta biết cái bố thí Ba-la-mật là hy sinh hết cuộc đời của mình để phụng sự cho tha nhân. Cái chữ bố thí mình đừng nghĩ là xách tiền cho người ta nha. Cái nghĩa nó phải lớn hơn.

[34:22]Tức là hy sinh cả cuộc đời của mình để phụng sự cho tha nhân một cách trọn vẹn, hết tấm lòng của mình mà coi như không. Cái khó là cái coi như không. Cái thứ nhất đã là cực kỳ khó, phải không? Có mấy người trên cuộc đời này đem hết cuộc đời của mình để phụng sự cho tha nhân? Có không? Không có. Ngay cả đối với gia đình ruột thịt của mình, coi vậy chứ mình vẫn có một cái cái chừng mực thủ thế và ích kỷ. Ngay nói như vợ chồng đi, gọi là thề thốt thương yêu nhau rất mực đi, vậy chứ vẫn có một cái sự ích kỷ trong đó, vẫn ngấm ngầm, phải không? Nên vẫn gây gổ, vẫn trách hờn, vẫn giận dữ, vẫn có khi đánh lộn và có khi cũng chia tay.

[35:09]Vì không phải thương nhau đâu, vẫn có ích kỷ trong đó. Cha mẹ đối với con cái tình thương mênh mông trời biển, coi vậy chứ vẫn không phải là vị tha hoàn toàn, cũng không hẳn đâu. Không hẳn. Nên huống hồ là có một cái người nào mà đối với tất cả chúng sinh không quen biết mà mình có cái tâm nguyện đem cả cuộc đời mình để phụng sự cho chúng sinh, điều đó hiếm ghê gớm lắm. Mà người nào làm được điều đó mình đã gọi là Bồ Tát rồi, nhưng mà chưa phải. Phật dặn rằng nếu người nào mà làm được điều đó để gọi là Bồ Tát thì phải xem như không, nên mới gọi là Ba-la-mật mà chẳng phải Ba-la-mật. Cái chữ "mà chẳng phải Ba-la-mật" á,

[35:49]tức là dặn cái người thực hành Ba-la-mật phải xem như xem như không. Và câu thứ hai là: "nhưng vẫn gọi là Ba-la-mật", nói đi rồi nói lại nghĩa là sao? Nghĩa là tuy xem như không mà vẫn phải thực hành chuyên cần, phải hết tấm lòng của mình để phụng sự cho tha nhân. Đó gọi là nói đi nói lại để tạo thành cái ý nghĩa trung đạo. Kinh Kim Cang là như vậy. Chúng ta đọc trong suốt kinh Kim Cang chúng ta sẽ gặp cái lý luận tương tự như vậy rất nhiều. Và chúng ta phải hiểu cái câu mà nói đi nói lại có, không, không rồi vẫn là có là để tạo cho chúng ta một cái nghĩa trung đạo. Nên vì vậy, kinh Kim Cang này là cửa ngõ của Đại thừa,

[36:34]rất là vĩ đại, đơn sơ, dễ bị hiểu lầm, dễ tưởng nói là không, nhưng không phải, nói trung đạo. Cái trung đạo sâu xa này không mấy người hiểu được. Không mấy người hiểu được. Nên vì vậy mà được khen rằng cực kỳ hiếm quý giữa thế gian này. Một lát sau chúng ta sẽ thấy tiếp tục khen kinh này kỳ lạ lắm. Ví dụ nơi nào mà có kinh này thì nơi đó mọi người phải lại đó lễ lạy thờ kính như là có Phật, khiếp đảm như vậy. Có những đoạn sau chúng ta sẽ nghe. Bởi vì sao? Mới nghe đó mình tưởng là quảng cáo kinh, là dụ dỗ cho chúng sinh là tôn thờ kinh này cho vui, nhưng không phải. Nếu mình hiểu thật rồi, mình thấy đúng như vậy.

[37:19]Nói nội cái mà đem hết cuộc đời này mình thương yêu giúp đỡ mọi người mà coi như không, cái đó không mấy người làm nổi, phải không? Đây có ai làm được không? Không, phải không? Đó, nên mình biết cái người làm được điều này là cái viên ngọc quý giữa cuộc đời này. Bây giờ nêu cái nhẫn nhục Ba-la-mật: "Này Tu-bồ-đề! Ví dụ như nhẫn nhục Ba-la-mật cũng được Như Lai bảo là chẳng phải nhẫn nhục Ba-la-mật, đó gọi là nhẫn nhục Ba-la-mật." Ngài ví dụ một cái Ba-la-mật trong sáu cái. "Vì sao, này Tu-bồ-đề? Như xưa kia ta bị vua Ca-lợi cắt đứt thân thể, lúc đó ta cũng không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng.

[38:06]Vì sao? Vì nếu lúc bị phanh xẻ thân thể mà ta có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng thì sân hận đã phát sinh." Đoạn này Phật nói về nhẫn nhục và dẫn chứng chính cuộc đời của mình trong tiền kiếp. Trong tiền kiếp có một câu chuyện thế này: là lúc đó ngài Kiều-trần-như, ngài Kiều-trần-như thì hơn Phật khoảng 18 tuổi. khi mà ngày mà Đức Phật được sinh ra có các vị đạo sĩ Bà-la-môn đến để xem tướng cho thái tử, thì có nhiều người già và trẻ thì cái người trẻ nhất trong những người đạo sĩ mà xem tướng cho Đức Phật là ngài Kiều-trần-như. Sau này lớn lên thì ngài theo Đức Phật vừa tu mà vừa bảo vệ cho Đức Phật.

[38:53]khi thấy Đức Phật không sống khổ hạnh nữa ngài giận ngài bỏ đi. khi Đức Phật đắc đạo ngài lại đi tìm ngài Kiều-trần-như với bốn người kia để giáo hóa trước. Và ngài Kiều-trần-như là người ngộ đạo đầu tiên, ngộ đạo đầu tiên. Thì cái nhân duyên giữa Phật và ngài Kiều-trần-như thì nó có nhiều cái lắt léo, phức tạp, nhưng mà trong một kiếp thì có cái nhân duyên này nó đặc biệt: là lúc đó ngài Kiều-trần-như là một vị vua, mà ông vua thời xưa thì có nhiều cái cung nữ đoan vây. Đức Phật lúc đó là một vị tiên và vị này sinh ra biết rằng mình tu kiếp này để trả cho xong một cái nghiệp quá khứ. Nên ai hỏi ngài tu cái gì ngài chỉ trả lời là tu hạnh nhẫn nhục.

[39:39]Không biết nhẫn cái gì mà chỉ thấy ngài cứ lặng lẽ hay ngồi trong rừng, cũng chẳng thấy nhẫn gì. Nhưng ai hỏi thì ngài chỉ nói là ngài tu hạnh nhẫn nhục thôi. Là bởi vì ngài biết ngài phải trả một cái quả báo và ngài ngồi lặng lẽ để chờ đợi cái ngày mà cái nghiệp nó tới. Và cái ngày đó là cái ngày mà cái ông vua mà tiền thân ngài Kiều-trần-như đó bỗng nhiên phát hứng gì không biết, kéo hết quần thần, cung nữ đi vào rừng chơi, xem cảnh rừng. Là vua cũng có một cái khoảng rừng lớn để ngài đi săn, ngài đi chơi, vì cảnh nó cũng đẹp. Thì khi vua đi như vậy thì có nhiều quân sĩ bảo vệ và cung nữ cũng tràn vào.

[40:21]Lúc đó vua giống như không kiểm soát, cứ mặc cho mọi người đi như vậy. Thì có một số cung nữ đi lang thang, lang thang tới bắt gặp một vị đạo sĩ ngồi trên một cái bệ đá, ngồi trên một bệ đá thấp. Gương mặt của ngài rất là đẹp. Ngài ngồi trong cái dáng bình an, từ tốn. Nghĩa là nơi cái gương mặt nó đầy cái vẻ thánh thiện, an lành và trí tuệ, từ bi. Cho nên có những cái cung nữ nhìn gương mặt đó cái bỗng sinh lòng tôn kính nên đã đến quỳ xuống đảnh lễ và hỏi đạo. Hỏi đạo thì vị tiên đó thong thả trả lời. Thì có những cái cung nữ khác cũng thấy, cái bắt đầu bước lại, rồi cái người này réo người kia.

[41:06]Một lát sau thì phải chừng là ba, bốn chục cung nữ đã đến ngồi vây quanh để nghe vị tiên đó thuyết pháp và cũng thuyết về hạnh nhẫn nhục. Ngài đã nói rằng là trong cuộc sống này đầy những cái điều nghịch cảnh, và những nghịch cảnh đó là do những cái ác nghiệp mà chúng ta đã tạo ra từ nhiều kiếp, nên ngày nay là những nghiệp đó sẽ đến, nên chúng ta cố gắng nhẫn nhục để trả cho xong, chớ đừng có những cái phản ứng quá lớn mà tạo thêm nghiệp mới. Thì khi mà vị tiên nhân siêu phàm đó thuyết pháp như vậy thì các cung nữ nghe say sưa, cung kính. Thì ông vua ổng đi chơi một lát cái ổng quanh ổng thấy từ từ vắng bóng những người đẹp của ổng. Ổng mới cho đi tìm.

[41:55]Đi tìm thì quân sĩ mới báo lại là tự nhiên có một cái ông, hồi đó không kêu bằng ông thầy chùa như bây giờ, không biết kêu đạo nào đó ngồi mà các cung nữ kéo lại đó hết. Cái ông vua ổng hơi tức. Nghĩa là cái tự ái của người đàn ông chỉ muốn mình là trong cái đôi mắt của những người phụ nữ của mình, những người vợ mình, mình là người số một, không muốn có người đàn ông nào thứ hai, không có muốn người đàn ông nào hơn mình hết. Nên ông vua hầm hầm bước lại thì thấy cái cảnh thật là chướng tai, gai mắt: là một cái ông đạo sĩ nào đó, quần áo thì không gì đẹp đẽ, lành lặn lắm, mà đang được hưởng cái sự ngưỡng mộ,

[42:31]thán phục của những người vợ của mình, thì cung nữ tức là vợ. Thì cái tâm ganh tị tột độ của một người đàn ông khởi lên, mà nhất là cái kiêu hãnh của một ông vua nữa. Cho nên lúc đó ông không kềm nổi, lúc đó, nghĩa là cái bản lĩnh của một nhà chính trị lúc đó biến mất, chỉ nhường lại cho cái sự sân hận, ganh tị và nóng giận, mà đồng thời cái nghiệp cũ nó đã tới rồi, lúc đó không cưỡng lại được. Cái tâm trạng của ông vua mà ổng ganh tị đó là ngày nay có không? Ngày nay có đầy, có đầy, nên những bà vợ đã đi chùa rất là khó khăn là vậy. Tại vì nghĩa là khi mà bà vợ đi chùa về cứ khen ông thầy này

[43:11]đức độ, ông kia đạo đức, ông chồng nghe ổng chịu không nổi. Tại ông chồng ổng chỉ muốn làm sao trong đôi mắt em anh là tất cả, không có ông thầy chùa nào mà là tất cả trong đó được hết.

[43:25]Và vì vậy chuyện bây giờ vẫn xảy ra, nhưng mà chỉ có mừng một cái là ông chồng không phải là ông vua. Cho nên ông thầy chùa còn được, được yên ổn mà ngồi thuyết pháp, chứ còn không là tiêu tùng rồi. Nhưng mà ngày xưa thì lúc ông tiên lại không được như vậy. Cái xui của ông tiên là cái người mà đang ghen tị là ông vua đầy quyền lực. Đầy quyền lực. Cho nên ổng đến ổng mới nói là, nghĩa là ông ở đây ông ngồi đây làm cái gì? Thì ông tiên nói là à thưa Đại vương, tôi tu hạnh nhẫn nhục. À, nhẫn nhục hả? Rồi, cho nhẫn nhục. Ông rút gươm ra, ổng phăng một cái rớt cánh tay xuống liền. Thực ra đó, phải có người rất là giỏi võ và gươm rất

[44:05]là báu, chặt một cái mới đứt một cánh tay người ta. Chứ không ai chặt cái đứt liền được, đúng không? Không tin mình lấy con dao mình chặt thử tay mình coi, không có, không có ai đứt liền đâu. Cho nên ổng phang một cái rớt liền, máu tuôn ra liền, máu tuôn xối xả xuống rồi các cung nữ hét lên. Thì cái ông vua nói: "Thế còn nhẫn nhục nữa được không?" Cái ngài nói: "Được". Phớt thêm một cái nữa, rớt thêm một cái tay nữa. Phải tay- nói: "Nhẫn nhục được không?" Nói: "Được". Ổng quơ một cái rớt cái vành tai ra. Nói: "Còn nhẫn nhục được không?" Nói: "Được". Ổng rớt một quơ một cái nữa rớt thêm cái vành tai bên này nữa.

[44:36]Thì lúc đó là ông tiên chỉ còn có hai cái chân, tay hết luôn. Thì lúc đó là ông vua ổng đã đòi xong nghiệp cũ thì cái tâm sân biến mất đi, cái tâm giận biến mất.

[44:52]Mà thấy cái hậu quả mình để lại một cái người tu hành hiền lành, mình chặt mà không hề phản ứng chống trả thì lúc đó thay thế cho cái tâm sân hận là tâm gì? Hối hận cực độ. Buông gươm xuống liền, buông gươm xuống quỳ xuống liền. Tức là cũng đòi cái nợ, nhưng đòi xong rồi thì hối hận. Đây là tâm trạng của tất cả mọi người. Ví dụ khi mình muốn đánh ai á thì lúc đó mình đòi cái nghiệp cũ á. Nhưng mà mình dọng người ta một cái mà người ta không phản ứng, người ta im lặng, chịu đựng để người ta trả nghiệp thì mình đánh người ta được vừa hết nợ rồi, ngay lúc đó mình sẽ hối hận. Đó là tâm trạng chung.

[45:29]Còn nếu trả chưa hết nợ, mình sẽ đánh thêm mấy cái nữa. Đủ hết nợ rồi là hối hận, hối hận cả một đời. Nhất là những người mà đòi nợ bằng cách lấy dao đâm người ta chết nữa. Đòi nợ xong rồi cái giận nó hết, nhường lại cho cái gì? Cái sợ hãi và ăn năn, vì lúc đó phải bị bắt, bị bớ, bị tù đày. Thì ông vua đó bị như vậy thì khi mà ổng run rẩy quỳ xuống, ổng không nói được lời nào, chung quanh thì các cung nữ cực kỳ sợ hãi và bất mãn. Nghĩa là cái vị quân vương mà nào giờ mình thương yêu thì ngày hôm nay trở thành con người hèn hạ, cầm gươm giết một đạo sĩ không một tấc sắt trong tay, bất mãn. Và ông vua thì ổng ăn năn run rẩy thì cái vị tiên nhân

[46:12]đó sức tàn lực kiệt chỉ nói được câu thế này, nói: "Tôi không hề oán hận Đại vương". Thì đúng cái kiếp mà ngài trở lại làm Phật thì người mà ngài khai thị đầu tiên, tức là chứng vào Tu-đà-hoàn rồi chứng A-la-hán trước hết là ngài Kiều Trần Như. Chính là vị vua đó, ngài đã giữ được lời hứa. Cho nên để chúng ta thấy cái hạnh nhẫn nhục mà Phật tu trong nhiều kiếp á, thật là vĩ đại như vậy. Thật là vĩ đại. Mình nghe những chuyện này mình nhiều khi không cầm được nước mắt phải không? Chữ tiên á, chúng ta đừng có nghĩ là ngoại đạo xấu xa gì nha. Vì hồi xưa thôi, hồi xưa không có cái từ mà Sa-môn, Tỳ-kheo, A-la-hán gì hết nên thường những vị mà tu ẩn,

[46:58]tu trong rừng trong núi gọi là tiên, đừng nghĩ đó là ngoại đạo, đừng nghĩ như vậy. Chúng ta phải có cái tâm bao dung một chút, đừng có vì danh từ. Chúng ta hãy nhìn vào thực chất. Ví dụ có những cái vị đó họ không phải theo đạo Phật, ngày nay cũng vậy, họ không phải theo đạo Phật nhưng mà họ nói những cái điều gì nó chuẩn xác, nó hợp lý, hay thì mình vẫn sao? Mình vẫn quý trọng như thường, phải không? Đạo Phật mình là như vậy, đạo Phật là chân lý, chứ không phải đạo Phật là một tôn giáo đóng khung với hai cái chữ đạo Phật. Không phải là danh từ rỗng mà là chân lý, là lẽ phải. Nên bất cứ nơi nào ai nói được những điều gì hay,

[47:35]ai làm được những điều gì hay, chúng ta đều xem họ là như là đạo Phật, như là anh em với mình. Đó, cái tinh thần đạo Phật phải là như vậy. Còn nhẫn nhục thì để gọi là Ba-la-mật thì chúng ta hiểu sơ cái nhẫn nhục một chút. Nhẫn có bốn cái loại nhẫn nhục, bốn trường hợp mà chúng ta có thể nhẫn nhục được. Thứ nhất là chúng ta nhẫn vì sợ hãi. Khi có cái người nào đó họ ăn hiếp mình, họ ăn hiếp mình mà mình không có dám phản ứng. Cái mà mình không dám phản ứng thì gọi là nhẫn nhục, nhưng mà có khi vì sợ hãi. Ví dụ như là một cái người đó là hay ăn hiếp người trong gia đình mình, nhưng mà hôm nọ đi xe trái luật cái bị công an thổi tới,

[48:20]mà mặt ông công an ổng ngầu thì lúc ổng rầy thì có dám cự ổng không? Có dám giống như mình ăn hiếp người nhà mình không? Không. Là bởi vì làm sao? Vì sợ. Cho nên cái sợ nó đè mất cái cái sân. Cho nên tạm thời thấy ông đó giống như hiền lành nhẫn nhục, nhưng mà chỉ bởi vì sợ. Như có một cái đoạn phim trong cái phim mà dương cầm, cái người đánh dương cầm The Pianist được giải Oscar á, lúc mà Đức nó chiếm Ba Lan á thì lúc đó họ chuẩn bị gom hết những người Do Thái lại để đi vào trại tập trung mà giết hết, mà lúc họ đang kỳ thị người Do Thái thì có một cái ông già ổng cũng lớn tuổi, ổng đi trên đường, ổng nhìn đằng xa ổng thấy có hai tay sĩ quan Đức.

[49:04]Ổng lật đật ổng cúi mũ xuống ổng cúi đầu gằm gằm ổng đi. Hai tay sĩ quan đi qua khỏi ổng cái phát hiện ông này là Do Thái mới kêu ổng lại. Ổng nói: "Sao mày thấy tao mày không cúi đầu?" Cái ổng nói: "Tôi xin lỗi." Thì cái tay sĩ quan Đức dọng ổng một cái ổng té nhủi trong tường. Cái đứng bỏ đi, bỏ đi xong nó quay lại thì nó thấy ổng là ổng ổng không phản ứng, ổng chỉ lầm lũi ổng cầm cái nón lượm cái nón lên ổng bước đi tiếp, cái ổng kêu: "Nè, thằng già đó, đi xuống đường, mày không được đi trên lề." Tức là những người Do Thái lúc đó không được đi trên lề đường mà đi xuống đường, xe có tông thì chết thì bỏ.

[49:38]Cái thời họ phân biệt đối xử, nhưng mà không ai dám phản ứng nổi sân bởi vì lúc đó cái phát xít Đức khủng khiếp quá, giết người không gớm tay. Nên có những cái mà chúng ta vì sợ hãi mà mình không có nổi sân được, đó cũng gọi là nhẫn nhưng mà đây là cái nhẫn bắt buộc. Cái nhẫn thứ hai á là có đạo lý, là bởi vì mình biết suy nghĩ điều hơn lẽ thiệt và mình có chuẩn bị, có chuẩn bị. Ví dụ như khi mình tu thì mình biết cái nổi nóng là một cái không có hay, cái nổi nóng không có hay, nên mình đã thường suy nghĩ về điều này, mình đã thường tưởng tượng, đã tư duy, mình tâm nguyện thế này là kính lạy Phật, là con nguyện trong cuộc đời,

[50:20]trong cuộc sống này nếu có ai xúc phạm tới con, ai mắng, chửi, ai đánh đập con, con xin giữ được tâm hiền lành, thương yêu họ, không nổi giận. Mỗi ngày mình đều có chuẩn bị nó rồi nên đến khi mà đụng chuyện là có người chửi mắng mình, tự nhiên mình không giận, vì mình đã có chuẩn bị. Cho nên cái nhẫn thứ hai là cái nhẫn của cái tu, có sự chuẩn bị trước, có cái tư duy về đạo lý nên thành tựu được cái nhẫn này. Đó là trường hợp thứ hai. Trường hợp thứ ba là bởi vì tâm mình có vào được thiền, nó thường thanh tịnh thì cái nóng giận là cái khởi lên, cái bốc khởi lên ở trong tâm, nó như cái lửa vậy đó, nó bốc lên trong tâm.

[51:04]Nhưng mà do chúng ta chứng được thiền định nên tâm mình thanh tịnh thì cái nổi nóng nó vừa khởi lên cái bị mình nhìn thấy cái mình buông bỏ nó tan liền. Thì đây là trường hợp thứ ba là do có thành công trong thiền định mà kiểm soát được cái nóng rất là nhanh chóng để tiêu diệt được cái nóng giận đó, trường hợp thứ ba. Còn trường hợp thứ tư là một người đắc đạo thực sự, đã đi đến chỗ vô ngã, tâm hoàn toàn lặng tắt cho nên không còn có cái khởi lên nữa. Cái trường hợp thứ ba đó là có khởi lên nhưng mình có thấy rồi tắt, nhưng trường hợp thứ tư là không bao giờ khởi lên, đó là người đã đắc đạo hoàn toàn, gọi là vô sanh pháp nhẫn á.

[51:45]Cho nên ở đây nói là cái nhẫn nhục Ba-la-mật là cái nhẫn nhục mà đến chỗ trọn vẹn thì chúng ta phải thành tựu đúng ba cái sau. Cái thứ nhất thì tôi không nói, nhưng mà nhẫn nhục vì mình có cái chuẩn bị về đạo lý, nhẫn nhục vì mình có đạt được thiền định, và nhẫn nhục vì mình đã đắc đạo vô ngã là khi mình cứ tu như vậy trong ba điều này thì mình lần lần đạt được cái nhẫn nhục Ba-la-mật, là nhẫn nhục tuyệt đối luôn, không bao giờ giận ai hết, chỉ có thương yêu. Chúng ta nghe đoạn tiếp. "Này Tu-bồ-đề, ta nhớ lại 500 đời trước làm vị tiên nhẫn nhục, lúc đó ta không hề có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng." Tức là Phật xác nhận ngài đắc đạo

[52:30]đâu từ cái đời ngài làm ông tiên đó rồi, đâu phải là mới đắc đạo thời Đức Phật. Nên khi một vị mà ra đời làm Phật thì các ngài đã đắc đạo từ rất nhiều lần, rất nhiều kiếp. Mỗi lần ngài trở lại với thế gian là để làm một nhiệm vụ gì đó theo cái duyên, cái nghiệp vậy thôi. Giống như là khi mà ngài từ cung trời Đâu Suất xuống giáng sinh vào hoàng cung làm một vị thái tử là ngài đã là một vị Bồ Tát đắc đạo rồi. Nhưng về đó thì ngài theo nhân quả ngài trở lại làm con người bình thường, tu hành lại để mở ra một mối đạo, chứ không làm chuyện huyền bí. Chứ không bao giờ có một vị giáo chủ nào mà đến từ hư không để giảng đạo nha,

[53:10]thì không ai tin, phải luôn luôn là một người đến từ trong bụng mẹ. Luôn luôn như vậy, đó là cái thực tế. Giống như hiện nay Bồ Tát Di Lặc cũng vậy, ngài đang ở trên cung trời Đâu Suất để thuyết pháp, nhưng đến khi có nhân duyên mà ngài xuống thành Phật thì ngài cũng phải đến từ trong bụng mẹ, đó là duyên của vị Bồ Tát. Cái đoạn sau này: "Thế nên, này Tu-bồ-đề! Bồ-tát phải biết lìa tất cả tướng khi phát tâm cầu giác ngộ tối thượng, không nên phát tâm cầu giác ngộ tối thượng bằng cách dựa vào sắc, không nên phát tâm cầu giác ngộ tối thượng bằng cách dựa vào thinh, hương, vị, xúc, pháp, chỉ nên cầu giác ngộ tối thượng bằng cách không dựa vào đâu cả.

[53:53]Nếu tâm có dựa vào bất cứ điều gì, đó là một sự an trú sai lầm." Nè cái đoạn này. Đoạn này nêu ra một cái tiêu chuẩn chân chính khi chúng ta có cái lý tưởng cầu giác ngộ. Ở trong kinh văn chữ Nho là "phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm", tức là khởi lên cái lý tưởng tìm cầu giác ngộ. Thì ở đây, trong kinh văn có hai cái tiêu chuẩn. Là thứ nhất là lìa được bốn tướng là không vì tôn vinh cái bản ngã này mà cầu tìm sự giác ngộ. Là khi mà không tôn vinh bản ngã thì coi như ba cái tướng kia cũng giống nhau, đều phải coi như không. Là không thấy có mình là quan trọng mà đi tìm sự giác ngộ chân chính.

[54:40]Vì nếu mà chúng ta đi tìm cái sự giác ngộ mà vẫn xem trọng cái bản ngã này, tức là chúng ta xem cái quả vị Phật như là một sự tô điểm thêm cho bản ngã thì đó là một sự sai lầm. Bởi vì Phật tức là không có ngã, ý như vậy. Cái đoạn kế tiếp là không trụ vào ngoại cảnh để cầu thành Phật. Không trụ vào ngoại cảnh là những cái gì? Là nhiều điều lắm nên nói chung là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp là này. Ví dụ như là có người nào đó đi tu hành mà cầu sinh về cái cõi Thánh bởi vì nghe nói trên đó có lâu đài điện các rất là đẹp nên thích về đó để tu hành hay để an trú. Thì như vậy là người này đã dựa vào cái sắc, thinh, hương,

[55:24]vị, xúc, pháp gì đó để phát tâm tu hành thì là một sự phát tâm sai lầm. Hoặc là có người thấy rằng một vị thánh đắc đạo thì được nhiều người tôn sùng, đi theo lễ bái, ờ hướng về, vây quanh ủng hộ tôn vinh, thích cái điều đó cho nên muốn tu hành để đạt được cái vinh quang như vậy thì đây cũng là một người phát tâm sai lầm bởi vì đã dựa vào sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp gì đó. Hoặc là có người nghe nói rằng cái người tu mà đắc đạo thì thân tướng rất là đẹp, có nhiều thần thông phép lạ, ờ quyến thuộc huy hoàng rực rỡ, vân vân. Vì những lý do đó mà phát tâm cầu giác ngộ thì là một điều sai lầm, một điều sai lầm.

[56:10]Này vì sao? Là chỉ vì một điều này, cái đoạn sau nó mới giải thích cho cái câu này. Hôm nay mình nói trước chút xíu: "Mà chỉ nên vì tất cả chúng sinh mà phát tâm cầu thành Phật." Chỉ nên vì tất cả chúng sinh. Cái đoạn mà chỉ nên vì tất cả chúng sinh á, à chúng ta nghe cái đoạn kế tiếp chúng ta sẽ thấy nè. "Thế nên, Phật dạy Bồ-tát nên bố thí với tâm không trụ vào sắc. Này Tu-bồ-đề! Bồ-tát vì lợi ích của tất cả chúng sinh phải bố thí với tâm như thế." Đó, chính cái đoạn sau này là nhắc lại là trên cái đoạn trên là không được dựa vào tướng, không được dựa vào sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp để cầu thành Phật mà đoạn kế dưới nhắc lại liền.

[56:59]Ví dụ nội một cái bố thí đơn giản thôi thì không được dựa vào những cái lợi ích của mình, những cái quả báo của mình, cái mong cầu cái vinh quang như hôm trước chúng ta nói á. Có khi chúng ta bố thí vì cầu quả báo, có khi chúng ta bố thí vì để muốn mình hơn cái người mà mình cho, phải không? Có khi chúng ta bố thí vì chúng ta muốn mua chuộc cái thế lực để cho nhiều người ủng hộ mình, vân vân. Khi chúng ta bố thí vì chúng ta muốn lấy lòng cái người nào đó, vân vân. Đó là những cái bố thí mà Phật gọi là trụ vào sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Còn cái đoạn này Phật dạy là Bồ-tát chỉ bố thí vì lợi ích của tất cả chúng sinh.

[57:37]Cái đoạn này khẳng định nên cũng như để khẳng định rằng nếu chúng ta muốn phát tâm cầu giác ngộ thành Phật thì chúng ta chỉ nên có một cái mục tiêu duy nhất là vì, vì, vì tất cả chúng sinh, vì lợi ích của tất cả chúng sinh, vì sự giác ngộ của tất cả chúng sinh. Đó là một cái phát tâm chân chính nhất, không có cái nào hơn được. Nên cái đoạn này chúng ta thấy là kinh Kim Cang không hề nói không, mà kinh Kim Cang nói về cái đạo đức siêu việt của Bồ-tát là như vậy. Nhưng mà tuy nhiên, cái câu dưới này mới là khủng khiếp. Cái đoạn kế tiếp này làm cho chúng ta hiểu Đạo Phật thành Đại thừa hay Tiểu thừa là cái đoạn kế tiếp này.

[58:16]"Như Lai thuyết nhất thiết chư tướng tức thị phi tướng, hựu thuyết nhất thiết chúng sinh tức phi chúng sinh. Như Lai dạy rằng tất cả tướng cũng chẳng phải là tướng và cũng nói rằng tất cả chúng sinh cũng chẳng phải là chúng sinh." Cái câu này nếu mình hiểu sai một cái thì mình biến Đạo Phật thành một cái đạo kỳ quái liền. Chúng sinh mà không phải là chúng sinh.

[58:47]Nói chúng sinh mà không phải là chúng sinh tức là xem chúng sinh như không á. Xem chúng sinh như không. Cái câu này nói ra có thể làm nhiều người ngạc nhiên, rúng động nên cái đoạn tiếp Đức Phật nói: "Này Tu-bồ-đề! Như Lai là kẻ nói lời chân chính, nói lời thành thật, nói lời ổn định, nói lời không dối, nói lời không quái lạ." Tức là Ngài khẳng định cái câu Ngài vừa nói rằng, "Tất cả chúng sinh cũng không phải là chúng sinh" đó là một cái lời nói chân chính của Ngài. Ngài khẳng định như vậy. Thì ở đây, cái chỗ này chúng ta phải hiểu cho kỹ. Nếu mình hiểu sai mình tu theo Đạo Phật sai liền. Có nhiều người tu hành bị quả báo ở cái chỗ là xem chúng sinh như không.

[59:32]Ví dụ thế này: Có người mình tu theo cái pháp Bát Nhã thấy cái gì cũng là không. Cái mình đi trên đường mình nhìn tất cả mọi người, mình xem như không. Hoặc là mình đang ở trong hội chúng đông người như vầy, mình xem tất cả như không. Thì tưởng rằng mình tu đúng Bát Nhã Ba La Mật, không ngờ mình đang gây một cái nhân, gây một cái tội luôn á, rất là xấu. Vì nó có cái quả báo của nó. Đối với con người mà mình xem như không thì thứ nhất trong tâm mình á, mình mất cái từ bi. Cái đạo đức mất trước. Đúng không? Đúng không?

[1:00:15]Đạo Phật khuyến khích từ bi mà muốn thương yêu chúng sinh thì phải thấy chúng sinh là là có. Đúng không? Nó logic nó như vậy, không trật đường nào hết. Mình thương ai phải thấy người đó là có chứ. Thấy người đó là không làm sao mà thương? Phải không? Cho nên khi mà mình sống trên cuộc đời này, mình nhìn tất cả là không thì tâm từ bi mình mất, không thương ai nữa. Và như vậy mình rơi vào một cái lỗi rất là lớn là tu theo Đạo Phật mà tự hủy hoại, giết chết cái từ bi của mình. Mình sai cái căn bản rất là lớn, trong khi Đạo Phật là đạo của từ bi, cái thứ nhất. Rồi mình sẽ bị cái quả báo là sau này mình sẽ ở một cái nơi mà không có ai hết.

[1:01:01]Không có ai hết, cái quả báo tột cùng của sự cô độc. Là vì sao? Vì con người sống chung quanh mình để mình thương yêu mà mình lại coi người ta như không. Coi như không. Nên sau này mình sẽ sống một nơi không có ai hết. Nên ví dụ có những người nào đó chúng ta nghe kể câu chuyện là họ đi trên thuyền rồi cái thuyền bị đắm, họ trôi dạt vào hoang đảo không có người. Thì coi chừng cái người mà bị trôi dạt vào hoang đảo không có người lúc nào trước đây đó, trong kiếp nào đó, đã xem tất cả như không, xem mọi người như không. Thì ngày hôm nay họ sẽ không có một người nào để đúng với cái tâm của họ vào thời đó.

[1:01:45]Là như vậy. Đồng ý không? Cái quả báo này rất là lạ. Cái mà mình coi thường á rồi cái đó mình không có nữa. Nó sẽ có hai cái điều rất là lạ mà hôm nay chúng ta chưa có phân tích. Chắc lại tới Tết mới phân tích. Có hai cái điều làm cho chúng ta mất. Một là đối với cái mình có đó, mình coi như không, mình không có quý trọng cái mình có thì mình sẽ mất, không có nữa. Cái thứ hai đối cái mình có đó mình sử dụng sai, sau này mình cũng không có nữa. Ví dụ như tiền. Ví dụ đối với tiền á mà mình không biết quý trọng, sau này mình không có tiền. Hoặc là đối với tiền mà mình xài sai chuyện, sau này mình cũng không có tiền.

[1:02:30]Mà chúng ta dễ rơi vào cái lỗi này lắm. Cho nên chỉ có cái người nào hễ có tiền biết quý trọng và xài đúng chuyện, đúng mức thì người đó từ từ có tiền hoài. Từ từ có tiền hoài. Thì cái mà nhìn chúng sinh này cũng vậy, cái cửa ngõ này nếu không thông được là chúng ta làm cho Đạo Phật tách ra khỏi cuộc sống, rơi vào Tiểu thừa thụ động và chính mình tiêu luôn, hết phước luôn. Thế là con người để cho mình thương yêu hiện ra đầy trước mắt mình mà mình coi như không, sau này mình sẽ sống trong hoang đảo. Mà khi nào mình hối hận thương yêu con người thì lúc đó làm sao? Lúc đó tự nhiên sẽ có một chiếc tàu đi ngang,

[1:03:11]mình đứng đây mình quơ, kêu rồi người ta thả cái bè xuống người ta kéo mình ra. Lúc đó cái tâm hối hận mình đã đủ, còn không cứ cho tiếp tục sống hoang đảo. Cho nên vì vậy, những ngày giờ mà còn sống bên nhau thì chúng ta phải sao? Làm, nói như Trịnh Công Sơn á là cứ yêu nhau khi rừng thay lá vậy đó, phải không? Có cái bài đó, nhớ mang máng vậy đó, viết sai. Nhưng mà ở đây kẹt thế này, có nhiều người nói "nhưng mà nếu mà thấy chúng sinh là Phật, thì vô số ràng buộc phát sinh về những quan hệ, hình tướng, hơn thua, thương ghét lại là cái phiền toái. Nói bây giờ, nào giờ đó chúng tôi đã quá khổ vì

[1:03:53]con người, nó sống với con người này mệt quá. Là người ta hơn thua, ganh ghét, đố kỵ, nói xấu qua, nói xấu lại phát đuối. Rồi nội trong người thân của mình cứ vòi vĩnh, đòi mình hỏi mình phải thế này thế kia, mình quá mệt. Rồi đi ra ngoài trong cơ quan, đồng nghiệp thì bao nhiêu cái sự phải đấu tranh vất vả, luồn lách, tránh né để mà giữ được cái công ăn việc làm của mình. Thiệt là khổ. Ra đường muốn đi chơi SEA Games chút thì sợ công an, nó quá khổ đi, ví dụ vậy. Thì thì nói thôi coi mọi người, cuộc đời này như không, chúng sinh như không vậy mà nó khỏe, đỡ bận tâm vì ràng buộc". Họ nghĩ như vậy, nhưng không phải.

[1:04:30]Đây chúng ta phân tích nè. Ví dụ mình nói chúng sinh, chúng sinh tức là những con người mà mình đang thấy không? Có cái hình tướng và có tâm hồn, phải không? Tức là họ có một cái tinh thần, có cái tâm hồn của họ và có cái thân xác. Bây giờ cái thân xác của chúng sinh đó thì thế nào? Thì vô thường. Đúng không? Bữa nào ai cũng chôn hết trơn, đẹp xấu gì cuối cùng cũng xuống mồ hay vô lò hỏa táng Bình Hưng Hòa hết, ai cũng giống nhau hết. Cho nên thân xác cái của chúng sinh mà mình thấy, đây mà mình đang thương yêu á thì là vô thường. Cái tâm hồn của chúng sinh đó thì làm sao? Thì trong đó đầy đầy ngã chấp, phiền não và những vọng tưởng sinh diệt liên tục.

[1:05:13]Như vậy cái tạo thành của chúng sinh là thân và tâm thì hai cái đó là hai cái làm sao? Hai cái đó rất là không giá trị, hai cái rất đáng ngại. Bản thân mình cũng vậy, phải không? Cái thân của mình thì cũng vô thường, cái tâm của mình cũng đầy cái sinh diệt, những niệm sinh diệt nối tiếp, đầy ngã chấp, phiền não, hơn thua, ganh ghét đủ thứ. Mình cũng vậy và chúng sinh cũng vậy. Cho nên khi mình nhìn chúng sinh á, nếu mình nhìn vào cái thân để mình thương yêu thì tức là mình thương một cái tạm bợ. Thôi cái thân đó thì nên bỏ, không thương nữa. Dù đẹp cỡ mấy cũng thôi không thương nữa. Được không?

[1:05:49]Không ai dám ừ hết trơn á. Không ai dám ừ. Bây giờ cái tâm, thì thương cái tâm, thương cái tâm chịu không? Không. Thì cái tâm đó cũng đầy những cái ba trợn, khi thương khi ghét mệt quá. Bữa trước mới nói "Thương tôi", bữa nay đã "Ghét tôi" rồi. Nay thương người khác rồi. Rồi ngã chấp hơn thua, niệm sinh diệt đổi tùm lum hết. Nên cái tâm đó thôi mình cũng sao? Cũng bỏ luôn. Mà nếu mình nhìn chúng sinh mà thấy thân tâm đều không giá trị, đều bỏ hết thì mình thương cái gì bây giờ? Thì có phải là mình nói là xem chúng sinh như không, không? Mà nếu xem chúng sinh như không thì mình rơi vào cái lỗi gì?

[1:06:29]Hồi nãy vừa nói, phải không? Mất từ bi và sau này mình sẽ cô độc. Thì như vậy là mình thương chúng sinh thương chỗ nào? Ai biết? Hả? Nói gần tới nhưng mà chưa phải. Nè, để ý nè nha. Đây là chỗ nè, chỗ độc đáo của chư Phật nè. Thân chúng sinh thì vô thường, thấy không? Tâm chúng sinh thì vô ngã sinh diệt, nhưng mà nỗi đau khổ của chúng sinh thì rất đáng trân trọng, rất đáng quan tâm, rất đáng thương xót. Đời có ai không đau khổ không? Có không? Không. Ai cũng đau khổ. Mắc cười lắm, có một cái ông thầy thì khi ông giảng đạo, ổng có hỏi một cô Phật tử, bởi vì cái cô Phật tử này thì cô nói chung là cô cũng sống một đời sang trọng, sung sướng. Thì ổng hỏi cô là:

[1:07:24]"Nè, cô, cô có thấy đời là khổ không?". Thì cổ ngơ ngơ ngác ngác, cổ suy nghĩ một lát, cổ nói: "Dạ không, con thấy không có gì khổ hết". Đó, lại trường hợp đó rất đặc biệt. Thì cái ông thầy ổng ngạc nhiên, ổng nói: "Trên đời này có một người nào mà chưa bao giờ biết khổ?". Hỏi lại cổ lần nữa, cổ nói: "Dạ, cả đời con nhỏ lớn chưa khổ gì hết". Tại vì muốn gì được nấy. Một người phước cũng rất đặc biệt, muốn gì được nấy. Thì cái người chị mới rầy cái người em, nói: "Nếu mà em không khổ là em không biết tu". Tại vì theo đạo Phật á, có khổ mới biết tu. Thì cô em cổ cũng ngơ ngơ ngơ ngác ngơ ngác, cổ suy nghĩ, cổ nói:

[1:07:59]"Ủa, mà con đâu thấy đời khổ gì đâu? Nhỏ lớn có gì đâu khổ đâu". Cứ vậy. Mãi sau này cổ nghe cái băng Tứ Thánh Đế đó, thì cổ mới từ từ hiểu ra, à, đời khổ là như thế. Tức là cái khổ nó sâu hơn nhiều những cái cổ cảm nhận. Cái trí tuệ của Phật, những cái mà cổ cảm thấy là nó bình an, nó hạnh phúc, không ngờ nó ẩn chứa đều đều những cái đau khổ trong đó. Phải phân tích nghe tới Tứ Diệu Đế mới hiểu ra, chứ còn hiểu bình thường không thấy. Còn ở đây, thì chúng ta nói thế này, là những cái đau khổ mà sâu xa, vi diệu như Đức Phật phân tích á, nhiều khi mình chưa cảm nhận hết. Nhưng ở trong cái mức độ bình thường của con người với nhau,

[1:08:36]hầu hết chúng ta ai cũng đều đều có đau khổ, phải không? Đều có đau khổ. Và đau khổ nhiều lắm kìa. Cái trí tuệ mình càng sâu chừng nào thì mình thấy cái nỗi khổ nó giăng đầy thế gian chừng nấy. Càng đầy. Thấy nhiều người mặc đồ đẹp như vậy á, đi trên chiếc xe sang như vậy, nhưng nếu mình tìm hiểu kỹ, trong tâm cũng đau khổ, chứ chẳng có sung sướng gì đâu. À. Và như vậy chúng ta xem chúng sinh như không bởi vì cái thân họ vô thường, cái tâm họ sinh diệt, nhưng mà nỗi đau khổ của họ không được coi là không. Nếu cái nỗi đau khổ của chúng sinh mà mình xem như không luôn, ngay lúc đó mình không còn là đệ tử Phật nữa.

[1:09:15]Ngay lúc đó lập tức mình trở thành ngoại đạo liền. Nhớ điều này. Từ đây về sau nhớ. Cái yếu chỉ của kinh Kim Cang là chỗ này, chỗ chúng sinh mà không phải là chúng sinh, mà vẫn là chúng sinh là cái chỗ này. Là chúng sinh thân vô thường, tâm sinh diệt không có gì quan trọng, nhưng mà nỗi đau khổ của chúng sinh là điều rất đáng quan tâm. Là đó là chỗ mà toàn bộ đạo Phật phải hướng về để giải quyết. Đó cũng là cái chỗ mà chúng ta phải thương yêu, phải lưu tâm, phải để ý, phải thương xót, phải từ bi là vì như vậy. Là nỗi khổ chúng sinh không được coi như không. Mặc dầu cảm giác đó có khi cũng sinh diệt, phải không?

[1:09:52]Có khi nay khổ mai sướng gì đó không biết. Nhưng nỗi khổ của luân hồi sinh tử, nỗi khổ của ái biệt ly, nỗi khổ của oán tắng hội, nỗi khổ của ngũ ấm xí thạnh, cái là chi phối, thống trị trong tất cả cuộc sống này, trong tất cả kiếp sống và trong từng con người này là điều mà chúng ta phải phải trân trọng. Không được coi là không. Nhớ điều này. Hễ coi không cái này là chúng ta thành ngoại đạo liền, không còn là đệ tử Phật nữa. Cho nên vì vậy thì chúng ta quay trở lại cuộc sống này. Khi chúng ta đi trên đường phố, chúng ta nhìn rất đông người thì chúng ta phải phải thương yêu. Mặc dầu biết rằng chúng sinh là là như không vậy đó.

[1:10:40]Thân vô thường, tâm sinh diệt. Nhưng mà chúng ta vẫn thương yêu bởi vì tất cả chúng sinh đều đau khổ. Nhớ điều này. Đồng ý không? Đồng ý. Và cái Kinh Kim Cang cái chỗ này là chỗ giải quyết quan trọng lắm. Chỗ này giải quyết không được, chúng ta từ Đại thừa bước thành Tiểu thừa liền. Lát nữa chúng ta nói tiếp. Có cái đoạn nói nè. Nên chính vì cái chỗ lắt léo này mà cái kinh nói là: "Như Lai nói lời chân chính, không có nói lời quái lạ" là chỗ này. Bởi vì cái nghĩa lý rất là sâu xa. Mình mới nghe cái mình ngạc nhiên, nhưng mà hiểu cho kỹ rồi, đây là đạo lý rất là sâu xa. Cái câu: "Này Tu-bồ-đề, pháp mà Như Lai chứng được thì không thật cũng không hư".

[1:11:29]Không thật thì tức là không thật thì tức là giả. Không hư tức là thật. Vậy thì là làm sao? Đây là những cái chỗ mà trung đạo, những cái trung đạo này thật là khó hiểu. Nên nhiều người cứ tưởng là có một cái gì khác. Không phải. Không thật, không hư tức là ở giữa. Đúng ngay ở giữa rồi, không có gì thắc mắc nữa. Không thật là vì sao? Như chúng ta nói đó, những bài trước á, nó gọi là một vị A-la-hán có thấy mình chứng A-la-hán không? Không. Vì sao? Vì sao một vị chứng A-la-hán không thấy mình chứng? Bởi vì vì thấy mất đi hết trơn à, phải không? Thấy mất cái này mất cái kia chứ chứng có được gì đâu.

[1:12:16]Nên gọi là không chứng gì hết. Nhớ không? Hôm trước mình nói với nhau rồi. Ví dụ như là hồi mình chưa chứng á thì mình rất là sung sướng bởi vì mình còn cái gì? Còn tham, còn còn sân. Nhưng mà khi chứng rồi thì thì rất đau khổ bởi vì hết tham, hết hết sân.

[1:12:36]Đó, nghĩa là chứng là gì? Là mất đi hết. Nên gọi là không có gì để chứng. Thì hôm nay chỗ này cũng vậy. Cái pháp mà Phật chứng được là không thật, không hư. Cái không thật là bởi vì không có gì để chứng vì mất hết trơn rồi. Bốn tướng mất luôn, bản ngã mất luôn, vô minh mất luôn. Cho nên không có gì để chứng. Nhưng mà không hư, có thật là vì sao? Là bởi vì tự tại, phải không? An vui, làm chủ được sinh tử, muốn biết cái gì là biết cái đó, thuyết pháp độ sinh tới vô biên vô tận được. Thì như vậy có thể gọi là có thật. Được không? Trung đạo là như vậy, chúng ta phải hiểu cả hai mặt. Thì cái đoạn này nói mà pháp của Phật chứng được không

[1:13:24]thật, không hư chính là cái chỗ trung đạo này. Mất hết không còn gì nữa. Bản ngã, vô minh mất hết, không có thêm gì hết nên gọi là không có thật chứng gì hết. Nhưng không hư bởi vì rõ ràng cái vị mà như thế lại là một người rất an vui, rất tự tại, giải thoát khỏi luân hồi đau khổ và có thể khởi được diệu dụng thuyết pháp độ sinh được. Đây là chỗ để ý như vậy. Có đoạn nói này: Này Tu-bồ-đề, nếu Bồ tát hành bố thí mà tâm còn dựa vào một cái vấn đề gì đó thì cũng giống như người đi vào chỗ tối, chẳng thấy gì cả. Nếu Bồ tát hành bố thí mà tâm không dựa vào pháp thì cũng như người có mắt sẽ thấy được mọi thứ khi mặt trời chiếu sáng.

[1:14:08]Đoạn này dễ hiểu không? Thôi dễ hiểu ha. Tức là bố thí mà mình không có chấp gì hết như là trước mình đã nói rồi. Thôi đoạn này khỏi giải thích lại nha, đỡ mất công. Này Tu-bồ-đề, về đời sau, nếu có thiện nam thiện nữ nào có thể thọ trì, đọc tụng kinh này, Như Lai dùng trí tuệ Phật thấy rõ, biết rõ người đó thành tựu vô lượng vô biên công đức. Dễ hiểu không? Dễ hiểu phải không? Thôi khỏi giải thích, này nói nhiều rồi. Học kinh Kim Cang có mấy đoạn này khỏe nhất. Này Tu-bồ-đề, nếu có thiện nam thiện nữ mỗi ngày ba lần đem vô số thân mạng ra bố thí đến vô lượng trăm năm vạn kiếp, rồi lại có người nghe kinh này lòng tin không trái

[1:14:50]nghịch, người này được phước lớn hơn người kia. Huống nữa là người ghi chép, thọ trì, đọc tụng rồi thuyết giảng cho người khác. Nghĩa là đại khái nói chung là khen cái công đức của người thọ trì kinh và thuyết pháp. Nếu mà nói như vậy thì như quý thầy đang ngồi thuyết pháp đây phước nhiều không? Nhiều không? Cho nói lại một câu nữa đó. Nghe kinh nói thì nghĩ rằng quý thầy mà giảng kinh Kim Cang mà giảng cho sâu sắc, hay, hấp dẫn thì chắc là phước ghê gớm lắm phải không? Nhưng thực sự không phải như vậy. Thực sự không hề được như vậy. Như vậy có trái với kinh không? Nghĩa là kinh nói cái người mà thuyết pháp này phước lớn

[1:15:36]vô cùng, nhưng mà chúng tôi thì nói không phải như vậy. Như vậy là có phải nói ngược lại ý Phật không? Nghĩa là giảng thì đúng là có phước đó, nhưng mà không hưởng được trọn vẹn, bị ngắt bị nghéo hết. Là vì sao? Nè, quý Phật tử nghe cho rõ này nha, nghe rõ rồi sẽ thấy là một giảng sư đau khổ vô cùng, không sung sướng gì hết trơn. Cái người mà nấu cơm cho mình ăn là lấy hết mớ, phải không? Người cho mình cái bộ đồ mặc là lấy hết mớ, người cho mượn chiếc xe đi là lấy hết mớ, người cho tiền đổ tiền xăng lấy hết mớ. Nói chung là người nào mà có đưa phong bao là người đó lấy hết miếng. Rồi cái người mà cất cái chùa này là lấy phần lớn nè, để giảng nè.

[1:16:19]Đó cái người mà ngồi trên lầu á, có cái người đẹp đẹp trai ngồi trên lầu cạo trọc lốc á, thì cái người đó là lấy phần lớn. Lập ra cái đạo tràng để cho có thể giảng được cái hội này là lấy phần lớn. Rồi cái người mà ngồi canh thâu băng, gài điện, micro là lấy mớ, rồi người để hai giỏ bông này cũng lấy hết mớ. Nó khổ như vậy. Nghĩa là nhiều cái lấy, rồi cha mẹ sinh ra đã lấy hết mớ rồi, thầy tổ dạy dỗ mình là lấy hết mớ rồi, rồi những người bạn bè ân nghĩa với mình đã giúp đỡ mình trong cuộc đời là lấy hết mớ rồi. Thì vậy còn nhiêu? Còn phân nửa. Còn phân nửa, vậy phân nửa nhiều không? Cũng còn rất nhiều, nhưng mà xin thưa cũng không hưởng được luôn.

[1:16:58]Cái đau khổ là còn phân nửa mà cũng không hưởng được, cũng mất luôn. Mất vô chỗ nào? Chỗ này mới độc địa nè. Là khi mà chúng tôi ngồi soạn bài giảng là đã được sự âm thầm gia hộ của của chư thiên, chư Bồ-tát, chư Phật. Vậy mấy ngài có lấy không? Lúc ngồi giảng này chư thiên, chư Phật, chư Bồ-tát cũng đã gia hộ, thì ngài lấy không? Lấy sạch không còn miếng nào luôn. Cho nên một lát nữa khi giảng xong bước ra là tơi tả không còn gì, không biết đi về đâu hỡi em nữa, hết trơn. Cho nên nói, trong kinh nói thuyết pháp này phước rất là lớn thì không hề sai, nhưng mà cái người giảng không được hưởng, mà coi chừng mấy người ngồi nghe hưởng hết.

[1:17:44]Đó, nó vậy, cho nên lời Phật nói không sai, nhưng mà sự thật lại nó cay đắng vô cùng, ngang trái vô cùng. Ha. Nhưng mà bây giờ hổng lẽ là xúi thôi đừng ai cho tôi đồng nào để tôi hưởng được phước cho hết, phải không? Cũng kẹt, rồi hổng lấy gì mà ăn rồi đi giảng được, nuôi đệ tử, vân vân nhiều chuyện. Thôi đành phải đau khổ, mà đời là thế thôi, thế nhân là thế, không biết sao bây giờ.

[1:18:13]Này Tu-bồ-đề, nói tóm lại kinh này có công đức vô biên, không thể nghĩ bàn, không thể đo lường được. Như Lai thuyết kinh này chính là vì những người phát tâm Đại Thừa hoặc Tối Thượng Thừa. Nếu người nào có thể thọ trì, đọc tụng và còn giảng giải cho nhiều người khác cùng biết, Như Lai thấy rõ, biết rõ người đó sẽ thành tựu công đức vô biên, không thể nghĩ bàn, không thể đo lường hết được. Thì cái này thôi dễ hiểu rồi ha, khỏi cần. Những người như thế ắt hẳn có thể gánh vác đạo vô thượng Chánh Đẳng Giác của Như Lai. Vì sao, này Tu-bồ-đề? Vì nếu ai chỉ ưa thích một giáo pháp nhỏ tất bị vướng mắc vào ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến.

[1:18:57]Người như thế không thể nghe hiểu kinh này nên không thể thọ trì, đọc tụng, lại càng không thể giảng giải lại cho ai cả. Ở đây là bỗng nhiên chúng ta nghe hai cái khái niệm là Đại Thừa, Tối Thượng Thừa và tiểu pháp. Trong đây không có chữ tiểu thừa mà chữ là tiểu pháp, tức là một cái pháp nhỏ, thôi mình cũng hiểu nhưng tương đương với chữ tiểu thừa đi, như vậy. Chữ Đại Thừa, nguyên cái nghĩa là thừa có nghĩa là cỗ xe. Cho nên Đại Thừa là cái cỗ xe lớn, cỗ xe lớn là chở được nhiều. Thì người xưa thì không có dùng được hình tượng gì đó, cái việc dùng cái hình tượng nó đơn giản như vậy. Là tượng trưng cho cái bậc Thánh mà có hoài bão lớn,

[1:19:43]cái sức giác ngộ lớn, cái trí tuệ lớn, tâm lượng lớn và hoài bão lớn. Thì ở đây, một đạo Phật mà được gọi là Đại Thừa đó là một đạo Phật đó có cái sức năng động lớn và có khả năng cảm hóa cùng khắp thì mới gọi là một đạo Phật Đại Thừa. Còn nếu mà chúng ta hiểu sai cái nghĩa không, nghĩa là như nãy nói, thấy thấy chúng sinh là không để rồi mình không có trân trọng cái nỗi đau khổ chúng sinh, để rồi mình mất cái từ bi và không còn bận tâm để thương yêu ai, giúp đỡ ai và giáo hóa ai nữa thì như vậy đạo Phật không còn cái sức năng động nơi mỗi con người tu và không có khả năng cảm hóa cùng khắp thì như vậy một

[1:20:31]đạo Phật Đại Thừa lập tức biến thành Tiểu Thừa liền. Cái chỗ này nên hồi nãy chúng ta mới nói đó, là tại sao bỗng nhiên ở đây đặt ra vấn đề Đại Thừa, Tiểu Thừa, bởi vì cái câu vừa nói trên là xem chúng sinh như không. Cái chỗ này hiểu sai một cái, đạo Phật thành Tiểu Thừa liền, mình mất từ bi, mình không lo cho ai nữa. Cho nên vì vậy là để gọi là một đạo Phật Đại Thừa thì nơi mỗi con người chúng ta vậy phải luôn luôn trân trọng nỗi đau khổ của chúng sinh và thương yêu, giúp đỡ và giáo hóa. Lúc nào vậy? Còn cái người nào mà chưa biết đạo là mình không được phép ở yên, nhớ như vậy. Có thể là mình chưa có duyên độ họ liền nhưng vẫn để trong tâm

[1:21:14]mình, để trong tâm mình giữ trong tâm một cái món nợ đối với cuộc đời là còn có vài người nào đó ở gần bên mình chưa có biết Phật pháp, và mình xem đó như là một món nợ chưa trả được. Phải thấy, phải suy nghĩ như vậy. Còn ví dụ mình thấy trên cuộc đời nhiều người chưa biết đạo mà mình cứ sống thoải mái thì mình là Tiểu Thừa đó, là người hiểu sai, không biết đạo Phật hay hiểu đạo Phật sai. Cho nên thấy bao nhiêu người trên thế gian này chưa biết đạo mà mình tỉnh bơ. Cho nên mình thấy nhiều người chưa biết đạo, mình phải xem mình còn một món nợ đối với Phật pháp, đối với cuộc đời chưa trả được. Nó có những lý do mà để cho đạo Phật rơi vào Tiểu Thừa.

[1:21:58]Lý do là vì trong cái sự tu hành đó mình quá thiên vị vào chánh tinh tấn mà quên cái chánh nghiệp. Có nhiều vị dạy tu hành, nhất là dạy thiền thì chỉ dồn người ta vào cái sự tinh tấn thôi, tức là ráng tu thiền, ráng tu thiền để làm sao cho đắc đạo. Thì một cái đạo như vậy lập tức rớt vào Tiểu Thừa liền, không nói gì hết. Trong khi Phật dạy mình Bát Chánh Đạo đầy đủ, trong đó có cái chánh nghiệp là làm phước cho nhiều. Cho nên vì vậy, một vị thầy mà dạy đúng là phải dạy chúng sinh làm phước trước cái đã, tích lũy phước cho thật lớn. Dù họ chưa thể đắc đạo, họ vẫn sống một cuộc đời sống thoải mái cái đã,

[1:22:41]bớt khổ cái đã, bớt bị dằn vặt của cái cơm gạo cái đã, đó là một cái giải thoát. Chứ chưa nói tới mà đang đói meo, gạo không có ăn mà ngồi đó ngồi thiền cho tinh tấn là một cái sai lầm không chấp nhận được. Cho nên vì vậy là chúng ta phải tạo phước trước, nhất là trong cái thời đại hiện nay, chúng sinh phước mỏng nghiệp dày. Tất cả chúng ta đều là phước mỏng nghiệp dày, tu rất khó tiến. Chúng ta phải lấy phước làm gốc, tức là trong Bát Chánh Đạo lấy chánh nghiệp làm động lực để đẩy tiếp đi cho tới chánh định. Còn nếu mà chúng ta dạy đạo, chúng ta chỉ yêu cầu tinh tấn tu thôi, cứ ráng ngồi tu cho đắc đạo

[1:23:23]thì chú trọng cái chánh tinh tấn thì đạo Phật rơi vào Tiểu Thừa liền. Đó là một nguyên nhân mà nguyên nhân này rất thường gặp, rất thường gặp ở nhiều vị thầy dạy tu. Rất nhiều. Một nguyên nhân nữa là như chúng ta vừa nói, là Đại thừa mà hiểu sai nghĩa Không, cứ nói cái gì cũng không hết, mà cái gì cũng không, càng nói không mà tưởng là như vậy là hay, mà không ngờ là tiêu diệt đạo Phật, rơi vào Tiểu thừa, chấp không, và sau này mắc quả báo là mất hết không còn gì nữa. Cuộc đời mình danh dự cũng mất, sức khỏe cũng mất, tiền bạc cũng mất, quyến thuộc cũng mất, tình thương yêu mất và đạo quả mất luôn, trí tuệ mất luôn.

[1:24:08]Nếu mình xem tất cả như không, cái gì cũng không hết thì sau này quả báo nó sẽ xảy ra đúng như cái mình xem. Qua sau này chúng ta học bài Bát Nhã Tâm Kinh chúng ta sẽ nói điều này rất là rõ. Nếu mà cái gì cũng không hết, mình tưởng là hay, coi chừng quả báo sẽ thê thảm. Mà có nhiều người học Đại thừa hiểu sai chỗ này, cứ nói cái gì cũng không hết, cho đó là hay, không ngờ nó rơi vào đường tà và rơi vào đường Tiểu thừa luôn. Nên có hai nguyên nhân mà làm chúng ta rơi vào Tiểu thừa là vậy. Một là chỉ biết chánh tinh tấn mà không biết tạo phước của chánh nghiệp, hai là hiểu sai cái nghĩa Không. Còn bây giờ chúng ta định nghĩa qua cái chữ tiểu pháp.

[1:24:49]Tiểu pháp tức là một cái đạo lý về căn bản là đúng, nhưng mà không đào sâu, không đào sâu để cho có thể ứng dụng kỹ cho nhiều người được. Ví dụ câu nói thế này: "Gieo gì gặt nấy." Đúng không? Đúng, nhưng mà không có sâu. Thấy không? Nhân quả phức tạp vô cùng, chứ không phải là chỉ gieo gì gặt nấy đâu. Không phải là mình à nói tôi cho tiền người khác thì sau này tôi sẽ giàu, không có đâu. Có khi mình cho tiền người khác nhiều chừng nào, sau này mình nghèo mạt chừng nấy. Do không đào sâu, mình cho tiền người khác mà mình có phước là gì? Đúng, đúng người cho, người đó đang cần, đang đói, hoặc là người đó làm cái công việc chính đáng,

[1:25:29]người đó làm công việc nâng cao được cái đạo đức của xã hội, vân vân, thì đồng tiền của mình tạo thành cái phước. Còn mình cho ổng để ổng đi nhậu, đi đánh bài thì mình càng cho chừng nào, mình càng hết phước chừng nấy. Nên vì vậy nói câu "gieo gì gặt nấy" căn bản là đúng, nhưng mà không đào sâu thì cái đó gọi là tiểu pháp. Tiểu pháp là đúng căn bản mà không sâu, đó. Đó là cái thứ nhất gọi là tiểu pháp. Cái thứ hai gọi là tiểu pháp á là một cái đạo lý mà chú trọng nhiều vào lợi ích của bản thân. Tức là mình tu làm sao để mình được cái này, được cái kia. Ví dụ ngay cả cái mình cầu vãng sinh về Tịnh độ cực lạc một cách

[1:26:05]cực đoan cũng gọi là một tiểu pháp, cầu cho bản thân mình. Hoặc là mình tu mà mình cầu đắc đạo cho riêng mình cũng là một cái tiểu pháp, là cái từ bi mình không thực hành nhiều, gọi là tiểu pháp. Tức là một cái đạo lý gì đó không biết, mà chú trọng lợi ích của bản thân thì gọi là tiểu pháp. Cái thứ ba nữa để gọi là một tiểu pháp nữa là, khi một cái đạo lý không hướng đến cái đạo quả vô hạn, nghĩa là mình tu mình chấp nhận ở một mức độ nào đó thành công là được rồi. Ví dụ cái người tu mà chỉ cầu sao ngồi thiền được có phép chữa bệnh được là được rồi, gọi là tiểu pháp, không hướng đến cái đạo quả tuyệt đối.

[1:26:45]Hoặc có người tu nói: "Tôi, tôi tu làm sao mà tôi có thể làm xuất hồn đi được là được rồi." Đó là một tiểu pháp. "Hoặc tôi tu làm sao mà tôi có thể đi qua được mặt nước là được rồi." Đó là một tiểu pháp. Lòng chấp nhận một kết quả nhỏ là một tiểu pháp. Cái hệ quả của tiểu pháp là gì? Là cái người mà đi theo cái đạo lý đó sẽ trở nên tiêu cực lo cho mình, đó, lấy cái tinh tấn là yếu tố quyết định. Và người đó không lấy phước làm yếu tố quan trọng nên lơ là trong việc giáo hóa người khác, làm cho đạo Phật yếu luôn. Tức là mình đi theo tiểu pháp, mình không có tích cực giáo hóa thì mình làm cho đạo Phật yếu luôn.

[1:27:25]Một cái hệ quả nữa là những người tu sĩ trong đạo Phật hay là những người Phật tử trong đạo Phật thì ít có khả năng hợp tác với nhau để làm nên những Phật sự lớn. Là thường thường là không hợp tác với nhau được, thôi mạnh ai nấy làm, được người cái góc nhỏ nhỏ nhỏ và những công trình làm đều cũng nhỏ nhỏ nhỏ, không có những công trình lớn cho Phật pháp, đó. Rồi một cái hệ quả nữa là đạo Phật dần dần đi trở nên rời rạc, dễ bị các thế lực ngoại đạo tác động ngầm để chia rẽ, chống đối lẫn nhau. Do cái tâm mình hẹp hòi, nên chỉ cần người ta đến chùa A, người ta xúi chống chùa B, đến chùa B xúi chống lại chùa A, hai chùa chia rẽ nhau liền.

[1:28:04]Người ta nói khích ra cái mình chia rẽ. Ví dụ như mình đến chùa A, nói chớ: "À sao con thấy ông thầy bên chùa B ổng chê thầy quá, ổng chê thế này thế kia." Là mình sung lên liền. Rồi đến chùa B họ cũng nói như vậy là hai chùa ghét nhau. Còn nếu mình là người cái tâm vượt lên trên á, mình nghe người ta nói: "À có chùa B chê thầy đó." Mình cười cười, mình không xem nó quan trọng, chuyện vặt, mà không biết đúng hay không, mà dù cho có đúng mình cũng không giận, là do tâm mình vượt lên trên nên không bị chia rẽ. Nên có đụng chuyện gì mình vẫn liên lạc với chùa B bình thường, và mình xem như một cái lời nói xấu sau lưng là gió thoảng

[1:28:37]bỏ, không chấp, vẫn thương cái ông thầy bên kia. Thì như vậy không bị người ta xúi để chia rẽ. Còn bây giờ người ta xúi đâu là chia rẽ đó, xúi đâu chia rẽ đó. Mà chúng ta nên nhớ là tuy gọi là tôn giáo bạn chứ họ không phải là ít thủ đoạn đâu. Họ vẫn ngầm ngầm không muốn đạo Phật phát triển. Mà đạo Phật mình mà ngây thơ, không có bản lĩnh, mình không có cái đại pháp á, tức không có tâm lượng lớn, bị người ta xúi chia rẽ lẫn nhau liền. Đó là hệ quả của tiểu pháp, tu cái pháp nhỏ là bị như vậy. Và một cái hệ quả nữa là thế này, là một cái đạo Phật như vậy, họ thiếu khả năng thuyết phục vua quan để cho vua quan nể phục và kính trọng và ủng hộ đạo Phật.

[1:29:18]Tại vì người nào nấy tu cứ thầm thầm lo cho mình không, không có làm gì lớn được, nên không gây được một cái ảnh hưởng lớn để cho vua và quan nể phục. Họ nhìn vô họ chán, họ nói: "Tu cái gì mà thấy toàn chia rẽ nhau không, không có làm gì xuất sắc cho cuộc đời." Nên họ không nể. Không nể nên họ không tìm hiểu đạo Phật, và không nể không tìm hiểu thì họ không ủng hộ. Và như vậy, chúng ta dễ bị các thế lực ngoại đạo xúi giục để ly gián giữa đạo Phật và vua quan. Thời xưa, thời Đức Phật á, cái sự gắn bó giữa tăng đoàn với vua rất là nhiều, bởi vì ông vua rất là nể tăng đoàn. Ông vua ổng thấy Đức Phật và thánh chúng rừng rực

[1:29:56]oai nghi, nên vua rất là nể và ủng hộ, học hỏi. Nhưng mà nếu ngày nay, dùng chữ nếu thôi chứ mình không nói chắc, nếu ngày nay chúng ta bị rớt vào tiểu pháp, nghĩa là mình chỉ lo những cái đạo lý nho nhỏ, tâm hẹp hòi, không từ bi, không hợp tác, không làm được những chuyện gì lớn, thì vua quan họ nhìn vào họ không nể. Không nể thì không ủng hộ. Và khi không ủng hộ, thì nếu có một thế lực nào của ngoại đạo họ chen vào họ phá, thì là càng ly gián nặng nề giữa đạo Phật và vua quan và nhà nước nữa. Nên những cái hệ quả không lường được từ cái tiểu pháp này. Nên vì vậy mà chúng ta nói vậy, là chúng ta tu đừng bị vướng vào tiểu pháp là vậy đó.

[1:30:38]Tức là chúng ta đi đạt được cái trung đạo của Kim Cang thì tự nhiên đạt được cái vô biên, vô hạn. Chúng ta đừng có đòi cái lớn, mà chỉ đòi cái đúng thôi. Khi đúng thì tự nhiên nó phát triển thành vô biên, vô lượng, còn sai thì dù chúng ta có nói Đại thừa nó cũng là cũng là trật. Nên sai mà nói Đại thừa cũng hiểu lầm cái nghĩa Không, để rơi vào Tiểu thừa liền. Còn ở đây chúng ta đừng có cần nói đại nói tiểu, mình chỉ cần nói đúng trung đạo của Kim Cang, thì tự nhiên mình mở ra vô biên, vô tận. Thương yêu được chúng sinh, chúng ta không làm chuyện gì nhỏ, tâm từ bi phát triển lớn, cầu những đạo quả lớn,

[1:31:15]thương yêu tất cả chúng sinh và có cái tâm nguyện giáo hóa cùng khắp. Thì như vậy đó là cái trung đạo của Kim Cang, mở ra cả cái chân trời thênh thang cho Bồ tát tu hành và giáo hóa. Đó, chữ Tiểu thừa và Đại thừa là chỗ đó. Có ai hỏi gì không? Không hỏi gì thì chúng ta nghỉ.

[1:31:38]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sinh