Transcript: Nguyên Khí

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:09:33

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:00]Mời mời mấy thầy ngồi.

[0:04]Đây là thầy Trí Đức, ngày xưa dạy học cho sư phụ ở Long Hồ, dạ. Mấy chục năm, bốn năm chục năm. Năm chục năm rồi. Bốn mươi mấy năm rồi nha. Bốn mươi mấy năm rồi mới được gặp lại thầy. Hồi đó thầy dạy văn, nhờ thầy dạy văn kỹ lưỡng mà bây giờ sư phụ mới biết viết văn. Thì ừm

[0:37]Sao giờ thầy ngồi thầy nghe em giảng á thầy nha?

[0:42]Thầy cũng là một võ sư, coi mảnh khảnh vậy chứ trong người có một cái võ công cũng rất là thâm hậu nha.

[0:54]Hôm nay mỗi người chúng ta thì ta nhớ lại cái lúc mình còn ở trong thai mẹ như thế nào? Có ai còn nhớ không kìa? Ừm cái trí nhớ của chúng ta bị hạn chế, cứ càng lớn tuổi thì cái quãng đời lúc tuổi thơ ta mất dần, quên dần, quên dần. Ở cái tuổi này không còn ai nhớ mình lúc hai tuổi hay ba tuổi mình ra sao cả, và tuyệt nhiên hồi ở trong thai mẹ thì tuyệt đối không ai nhớ gì cả, trừ những người đắc đạo. Những người đắc đạo họ có thể nhớ lại dần dần, nhớ luôn cái cảm giác hồi còn ở trong thai, chứ còn như chúng ta thì cái vô minh che mờ, chúng ta không nhớ được.

[1:47]Có một nhà văn, có một nhà văn ông anh này ảnh cũng tu theo đạo Phật. Ảnh cũng có cái lâu lâu ảnh cũng có cái trực giác ảnh lóe lên. Có anh ảnh ảnh ảnh nhớ lại, lúc bây giờ ảnh lớn tuổi rồi nhưng mà ảnh nhớ lại hồi ảnh khoảng ảnh khoảng hai tuổi. Nói rằng: "Tôi đang ngồi ở trước nhà chơi, cái chợt sực nhớ lại cái cảm giác của mình ở một kiếp trước mình làm con dơi đang đeo ngược ở trên cái sàn nhà. À cái cảm giác đó rất là khủng khiếp." Khi mà nhớ lại cảm giác đó ảnh ảnh bật khóc thét lên, la lên, nhà không biết tại sao. Rồi thấy đứa nhỏ hai tuổi tự nhiên ngồi khóc thét lên, la lên không biết sao.

[2:33]Mà chỉ ảnh mới hiểu. Ảnh nói lúc đó là nhớ lại cảnh mình đang là một con dơi bấu ở trên cái trần nhà mà cái cảm giác nó ghê rợn lắm, sợ hãi lắm chứ không phải là bình an. Như vậy. Thì hiếm hiếm người mà nhớ lại được cái lúc mình hai tuổi là gì, còn đa phần chúng ta đã quên hết rồi. rất ít khi như vậy. Cái ký ức chúng ta bị nó nhạt nhòa nhạt nhòa dần, càng lớn tuổi thì ta quên dần quên dần. Hôm nay chúng ta nói về thiền, ta nói một cái giai đoạn rất là quan trọng của con người, đó là giai đoạn mà chúng ta còn ở trong thai mẹ.

[3:14]Còn ở trong thai mẹ, lúc đó chúng ta ra sao mà nó liên quan đến cái cái sự sống sự chết sau này như thế nào? Khi chúng ta ở trong thai mẹ, chúng ta có một cái nguồn

[3:31]một cái nguồn nguyên khí tinh khôi chưa bị phân tán và hứa hẹn chúng ta sống hoài không chết. Nếu mẹ cứ để ta trong thai mẹ mãi, chúng ta không chết, nhưng mẹ ta rồi phải sinh ta ra, rồi mẹ ta cũng chết, rồi ta cũng từ từ khi lọt lòng ra rồi, bắt đầu cái nguyên khí tinh khôi đó nó bị phân tán, tức là ta từ từ đi tới cái tuổi già rồi chúng ta chết.

[4:06]Cái nguyên tắc nó là như vậy. Nhưng mà tại sao lúc ở trong thai mẹ là cái nguyên khí tinh khôi, rồi tại sao ra khỏi thai mẹ bỗng nhiên cái nguyên khí đó bị phân tán? Cái lý do nó nằm ở chỗ là khi ra khỏi thai mẹ, chúng ta bắt đầu nhìn thấy, bắt đầu nghe. Đó là những cái giác quan chúng ta bắt đầu hoạt động để tiếp nhận cái ngoại cảnh bên ngoài, kế theo nữa chúng ta bắt đầu suy nghĩ.

[4:38]Chúng ta đi ra khỏi thai mẹ, chúng ta có mấy cái những cái giác quan khởi lên như là miệng ta ăn nếm được mùi, mũi ta ngửi, tai ta nghe, mắt ta nhìn và não ta suy nghĩ. Toàn bộ những hoạt động đó đều nằm ở trên đầu. Toàn bộ những hoạt động đó đều nằm ở trên đầu. Nó làm cho cái chân âm của ta ở dưới bụng bị rút lên trên đầu từ từ, từ từ, từ từ. Mà khi rút lên sạch chân âm rồi thì người đó phải chết. Đó là nguyên tắc. Cái chân âm ở dưới bụng ta đó, dưới bụng dưới, nó là cái gốc của cái cuộc sống này.

[5:24]Cái điều này thì y học bên Tây y không biết, nhưng bên Đông y xác nhận đó là một điều chân lý. Từ các vị như Hải Thượng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh thiền sư, vô số những vị mà võ sư cao cường, những cái nhà y học lỗi lạc ở Đông phương đều biết rằng cái chân âm là cái nguyên khí chúng ta tích tụ, tích lũy ở dưới bụng dưới cả. Các ngài hay gọi là cái đan điền hay là khí hải.

[6:00]Nếu cái nguyên khí đó nó cứ tụ lại ở cái vùng đan điền bụng dưới thì ta ổn định cuộc sống, tinh thần minh mẫn, khỏe mạnh, sức khỏe dẻo dai. Ta giống như là trường sinh bất lão vậy đó, cái người sẽ được trẻ hoài. Còn nếu cái chân âm nó mất, cái vùng cái bầu nguyên khí đó ở dưới bụng ta nó tiềm tàng tiềm tàng, nó bị chảy lên dần dần dần dần lên trên, nó cạn dần cạn dần thì ta đi tới cái tuổi già từ từ từ từ từ từ. Mặc dù ta có đi qua một giai đoạn trưởng thành, thanh niên khỏe mạnh nhưng thực sự cái chân âm nó cũng đang mất dần, mất dần. Khi ta đến cái tuổi thanh thiếu niên thì cái cơ thể vật chất, cơ bắp, xương bắp này nọ phát triển rất là mạnh

[6:54]thì ta thấy ta đang khỏe lên, nhưng thực sự thực thì từ lúc lọt lòng cái chân âm ta đã mất dần mất dần. Lúc đang tuổi thanh thiếu niên, chân âm vẫn đang mất dần mất dần. Cho đến khi ta bước vào cái tuổi xế 40, 50, 60 thì cả hai cái đều cùng suy. Cơ bắp suy, cái chân âm nó cũng suy, nên ta già yếu nhanh chóng, mọi cái đều suy hao. Thân thể yếu đã đành, cái não ta cũng yếu rất là nhanh, trí nhớ ta mất, ta bắt đầu lẩm cẩm, bắt đầu ừm mất thông minh, quên trước quên sau. Đây là một cái cũng là một cái bất lợi về cái tuổi già. Nhưng mà còn những người nếu mà họ biết tập luyện giữ chân âm thì chân âm nó chậm thoát hơn,

[7:53]chậm thôi, chứ hết thì nó vẫn phải hết vì ta cứ phải nghe, phải nhìn, phải thấy, phải suy nghĩ thì cái chân âm nó vẫn thoát chầm chậm từ từ từ từ. Còn người không biết tu tập, suy nghĩ nhiều quá, não cứ suy nghĩ liên tục rồi cứ tiếp nhận cái ngoại cảnh nhiều quá, mắt cứ nhìn, tai cứ nghe thì cái tốc độ mà chân âm nó mất nó nhanh, nhanh thì ta mau bệnh, mau chết. Còn bây giờ ta tu là làm gì? Ta tu là để làm cho cái chân âm nó chậm mất đi, chậm thoát đi, tức là cái tuổi già nó khựng lại, cái thời gian ta sáng suốt ra còn dài hơn, nguyên tắc là như vậy. Nên cái việc mà tu tập với cái sức khỏe, cái nội lực, cái chân âm nó liên quan với nhau rất chặt chẽ.

[8:44]Cái người tu tập mà không hiểu về cái chân âm thì ta dễ bị tu sai. Có nhiều cái phương pháp tu thiền, thế giới này nhiều nơi dạy thiền. Nhưng không phải nơi nào dạy cũng đúng. Nhiều khi ta nghe: "Ờ, ở đây có ông thiền sư ổng dạy thiền, có cái trung tâm đó dạy thiền." Nghe chữ thiền ta đừng bị gạt. Vì sao vậy? Vì không biết là cái nơi dạy thiền đó có đúng hay không. Có những phương pháp thiền làm cho ta mất chân âm rất nhanh. Thấy thì ngồi nhắm mắt đó, cũng thở đó, cũng tĩnh tâm đó, nhưng cái cách đó toàn để tâm trên đầu, làm mất chân âm nhanh hơn nữa. Ta tập cái lối thiền đó, ban đầu thấy yên yên

[9:33]nhưng về sau cơ thể ta suy hao rất nhanh. Ta nhớ như vậy. Cái nguyên tắc ở chỗ này: Khi ta lọt khỏi thai mẹ, bắt đầu miệng ta phải bú sữa nè, vị giác khởi động, tị giác khởi động, thính giác khởi động, nhãn giác khởi động và não ta suy nghĩ, ý căn khởi động. Toàn bộ những giác quan đó đều nằm ở trên đầu hết. Thì bây giờ mà ta ngồi thiền ta cũng để tâm trên đầu nữa, đi tìm sự thanh tịnh nội tâm bằng cách kiểm soát tâm ở trên đầu một lần nữa, thì chân âm nó thoát nhanh gấp đôi lần người khác. Thấy thì cũng ngồi tu đó, nhưng mau chết hơn người ta. Hồi đó cũng vậy, có một cái vị tướng nó cũng rất là nổi danh.

[10:18]Ổng cũng rất là nổi danh, thầy cũng không tiện nói tên. Nghe nói là tới lúc ổng lớn tuổi, ổng tu thiền theo đạo Phật. Mà không biết ai dạy cho ổng. Chỉ một năm sau thầy nhìn lại cái hình của ổng thầy hết hồn liền, bởi vì ổng suy một cái ào xuống liền, mất liền cái không còn cái vẻ tinh anh nữa. Người suy hẳn luôn. Thầy nói: "Chết rồi, ổng tu thiền sai. Ổng dụng công một lối thiền sai nên gương mặt tiều tụy nhanh quá. Mới năm trước năm sau là ổng sụp hẳn liền gương mặt, mất hết thần sắc liền. Mặc dù một năm trước đó gương mặt vẫn còn rất là tinh anh, chỉ một năm sau thôi gương mặt tiều tụy, mất trí liền." Thầy đến thầy thăm ổng rồi chụp hình chung

[10:59]với ổng, vì ổng cũng là một danh nhân của đất nước mình. Ngồi chụp hình chung với ổng nhưng mà thầy rất là buồn, vì ổng không còn có thể nói năng lanh lợi được nữa. Không còn giống như một vị tướng oai phong lẫm liệt mà đánh đông dẹp tây mà gây nên những cuộc chiến thắng toàn cầu nữa. Lúc ổng ngồi ổng rất là thụ động và tinh thần đã mất rồi, chỉ mở miệng nói được vài chữ thôi. Nói: "À, con của Phật đấy à." Vậy, hết. Chỉ nói được vài chữ, rất là buồn. Mà thầy biết là ổng đã tiếp nhận nhầm một pháp môn sai lầm. Dạy thiền, ai dạy ổng thiền mà tâm cứ để trên đầu, lực bốc lên hết nên ổng già suy rất là nhanh.

[11:41]Tiếc ghê nhưng mà không biết làm sao, mình không đủ sức để nói chuyện với ổng. Tại ổng nghĩ rằng ổng ở địa vị đó và những cái người mà dạy thiền cho ổng là những người cấp cao nào đó mình không biết, nhưng thực sự là lầm. Còn tại sao mà ta nói rằng khi ta ở trong thai mẹ, ta đang có một cái bầu nguyên khí tinh khôi? Là ta nhớ điều này: Trong thai mẹ ta dùng giác quan nào ai nhớ không? Nhớ lại coi hồi đó mình còn trong thai mẹ. Mình lọt lòng mẹ thì cái vị giác khởi động, há miệng nè, miệng bú nè, khứu giác khởi động, tị giác khởi động nè, thính giác khởi động nè, nhĩ giác khởi động và bộ não ý căn khởi động, toàn trên đầu không.

[12:25]Vậy ở trong thai mẹ cái giác quan nào hoạt động?

[12:32]Trong thai mẹ ta có một giác quan hoạt động, đó là xúc giác, da, thân giác. Toàn thân ta khởi động. Đứa bé trong thai mẹ chỉ có cảm giác chỉ có cảm giác nơi da, nơi thân thôi. Thầy nói đúng không ạ? Nhớ lại coi đúng không, thầy nói có sai không? Mọi người có nhớ lại không? Lúc đó chỉ chỉ có cảm giác bằng da, bằng toàn thân không à, đúng không ạ? Vậy là mấy người nhớ, thấy không? Đó, mấy người gật đầu đúng là nó nhớ rồi đó, nhớ rồi đó. Ta không dùng miệng, mũi, tai, mắt và không suy nghĩ đầu. Lúc đó chỉ có toàn thân cảm giác thôi. Cảm giác toàn thân. Nhớ chưa? Vậy mình ngồi thiền tức là gì? Mình đang trở lại vào thai mẹ. Nha.

[13:24]Cái đường lối thiền của chúng ta vậy. Ngồi thiền, cảm giác toàn thân, biết rõ toàn thân, an trú toàn thân. Đó chính là lúc mà ta trở về với trạng thái như ở trong thai mẹ. Ta phục hồi lại cái gì? Cái nguyên khí tinh khôi của mình mà đã bị mất đi bởi bởi cái cuộc sống dữ dội, khốc liệt, khắc nghiệt, đắng cay này. Nên trong lúc ta ở trong thai mẹ thì không có hơi thở, còn khi ta thoát thai mẹ thì ta mới có hơi thở. Còn lúc trong thai mẹ ta chỉ có cảm giác toàn thân, an trú toàn thân. Ví dụ như cái người mẹ nghe nhạc, đứa bé nghe không? Nó nghe, nhưng nó nghe qua cái run rung động của làn da đó, chứ nó không phải nghe rõ bằng khứu giác lắm đâu.

[14:23]Nghe cái tiếng nhạc mà nó thấm qua toàn thân nó đó, toàn thân nó cảm nhận cái nhạc mà mẹ nó nghe. Có một câu chuyện rất là lạ. Cái hai vợ chồng ở bên Đức, người vợ là Việt Nam, người chồng là Đức. Người chồng là một cái công chức của chính quyền của Đức. Rồi hai vợ chồng cái biết đạo. Rồi nghe những bài giảng rồi tìm về với tìm về thầy quy y, cả hai hai hai vợ chồng đều quy y.

[14:55]Khi về, hai vợ chồng quy y rồi, hai vợ chồng mới phát nguyện là sống với nhau như bạn để tu hành, chứ không còn những cái xác thịt của vợ chồng. Nên không có con, nên họ không có con. Nhưng mà cái nhà chồng á, bố mẹ chồng thì trông một đứa cháu nội, họ cũng giống như mình thôi, cái bản năng tự nhiên, rất thèm có một đứa cháu nội để bồng, để ẵm, để yêu thương. Hối hoài nhưng mà hai vợ chồng đó đã phát nguyện với nhau tu hành. Không có không thể có con được. Cái người vợ mới viết thư về hỏi hỏi thầy: "Bây giờ cái trường hợp này là làm sao?" Nên nghe câu hỏi nghe câu trả lời của thầy rất là kỳ cục.

[15:44]Thường thường người ta cứ nghĩ rằng thầy nói: "Ờ đừng nha, cứ vậy." Thầy nói: "Không, con mắc nợ nhà chồng của con rất là nhiều. Con phải trả người ta bằng một đứa cháu nội, không còn cách nào khác đâu. Con không quỵt nợ được đâu. Nhưng vấn đề đó không phải lớn. Và nếu con phát nguyện như vậy, thì đây là điều mà con lại làm được công đức. Hai vợ chồng cứ quỳ lạy Phật, mà xin cho một vị nào đó vào thai để sau này đem đạo đức cho thế giới." Thế là hai vợ chồng mới vâng lời cứ quỳ lạy Phật suốt 1 tháng, gần nhau, cấn thai liền lập tức. Cấn thai liền cái báo lên, đó gia đình nhà chồng rất là mừng.

[16:27]Thì cô này lúc mà thai còn bé thì cô vẫn ngồi thiền mỗi ngày. Nhưng mỗi khi ngồi thiền cô đều nói với em bé: "Bây giờ mẹ con ta ngồi thiền nhé." Thế là cổ lên cái bàn Phật cổ ngồi thiền. Cứ đúng giờ đó thì cổ, buổi sáng thì chồng đi làm hết rồi, mọi chuyện nhà xong cái cổ cứ lên bàn thờ cổ ngồi thiền, mà đều nói với cái thai vậy: "Mẹ con ta ngồi thiền nhé." Cái hôm đó cô bị đau bụng. Đúng cái giờ của ngồi thiền cô bị đau bụng nên cô phải đến bác sĩ. Cổ lạy Phật xong rồi không ngồi được, cái tới bác sĩ. Thì bác sĩ ổng siêu âm, ổng siêu âm qua ổng mới nói: "Ủa, sao đứa bé nó ngồi nó tập yoga nhở?" Mà cô nói là đúng giờ đó là cổ ngồi

[17:05]thiền, cũng kêu nó ngồi thiền, thì đúng giờ đó khi siêu âm ra nhìn vào cái hình siêu âm thấy đứa bé đang ngồi ngồi như ngồi kiết già tập yoga vậy. Rất là lạ, giống như nó nó nghe được cái ý của mẹ mình và nó cũng ngồi thiền theo như vậy. Đấy là cái cảm giác của đứa bé đó, rất là hay. Bây giờ ta biết rằng khi ở trong thai, ta an trú toàn thân, biết rõ toàn thân, cảm giác toàn thân. Thì chính cái trong thai đó ta bắt buộc vì cái cơ chế của cơ thể như vậy, đứa bé không làm gì khác được, nên tự nó tạo thành cái nguyên khí trong suốt 9 tháng 10 ngày. Nên trong suốt 9 tháng 10 ngày đó đứa bé nó làm sao?

[17:53]Nó đang tu thiền ở trong á. Tự nhiên, tự nhiên tất cả mỗi người chúng ta ở trong thai mẹ đều là những thiền sinh cả. Nhưng vừa lọt lòng mẹ, quên liền, bỏ tu liền. Mừng quá bỏ tu liền, đó là lý do mà ta trôi lăn theo theo dòng đời đó.

[18:15]Rồi ta đau khổ. Chứ nếu ta thoát thai mẹ mà ta vẫn giữ được cái công phu biết rõ toàn thân, an trú toàn thân, cảm giác toàn thân, thì ta tiếp tục từ một thiền sinh sẽ trở thành một thiền thiền sư. Và cuộc đời mình không đau khổ, vậy. Vì thế bây giờ ta có một cái kết luận, một cái định lý tiếp tục như thế này: Cái người mà bị sinh non là sao?

[18:51]Và cái người sinh già tháng là sao?

[18:56]Cái người mà sinh non á, tức là họ ủ trong thời gian mà thiền định ở trong thai đó, chưa đủ 9 tháng 10 ngày rồi bị sinh ra, đúng không ạ? Tức là họ chưa đủ 9 tháng 10 ngày, tức là ngồi thiền trong đó chưa đủ 9 tháng 10 ngày, bị thoát thai sớm. Cho nên cái nguyên khí của họ nó tích lũy không bằng người ta. Còn cái người đủ tháng sinh ra, 9 tháng 10 ngày thì ta tích lũy đủ cái nguyên khí bước ra, cho nên cái người ta coi vậy có sức đề kháng hơn. Còn cái người sinh non coi vậy họ bị yếu một cái gì đó, họ dở một cái gì đó. Không biết thế nào tìm coi trong họ cũng có một khuyết điểm gì đó cái người bị sinh non do họ không đủ không ủ đủ 9 tháng 10 ngày.

[19:43]Còn cái người mà sinh già tháng á, tức là người ta 9 tháng 10 ngày người ta sinh, cái người này tới mười tháng mấy mới sinh hay 11 tháng mới sinh, thì họ đều có năng lực đặc biệt hơn người.

[19:58]Chúng ta nhớ trong đạo Phật mình ai là một người bị mang bầu rất là lâu? Ai? Một là ngài Sīvali. Tôn giả Sīvali ở trong bụng mẹ bao lâu? 7 năm. 7 năm không sinh ra được. Sau này cha là Mahāli, còn mẹ ngài là một công chúa một nước khác, cha ngài là hoàng tử của một cái nước Vesālī, hai nước đó kết hôn với nhau vậy. Thì đến khi mà cứ thấy thấy vợ mình mang bầu 7 năm rồi không sinh, đến phải xin thỉnh Đức Phật. Thế là Đức Phật phải cho ngài Xá Lợi Phất đến trước, Đức Phật tới sau. Ngài chú nguyện một cái rồi sinh ra liền. Sinh ra rồi sao? Tóc tai dài ngoằng ra, biết nói liền lập tức và xin đi theo xuất gia luôn, tức là ra rồi nhận thức đầy đủ.

[20:52]Và ngay hôm đó, cạo tóc xong chứng A-la-hán liền, theo Phật đi luôn. Tức là cái con người trong bụng mẹ 7 năm ra rồi không ở lại hoàng cung một ngày nào, đi theo Tăng đoàn đi luôn. Ngài Sīvali sau này là một vị A-la-hán cực kỳ lỗi lạc. Đó là một người. Còn một người thứ hai nữa ai ta nhớ không?

[21:15]Ngài Huệ Năng. Ngài ở trong thai mẹ cũng rất là lâu, sinh ra rất là lâu, nên ngài có cái năng lực rất là đặc biệt. Ngài là người Việt Nam. Trong cái sử ngài ghi rõ: "Ta là người Lĩnh Nam mà", là Việt Nam. Nên khi mà đi đốn củi nuôi mẹ vào cái nhà giàu, nghe cái ông nhà giàu tụng kinh Kim Cang bừng ngộ đạo, ngộ đạo bước đầu liền. Khi ngộ đạo rồi không ở đời được nữa, thôi thúc phải đi tu. Nhưng còn mẹ, thế là ông nhà giàu ông cũng là Phật tử, nên ổng rất là tử tế, ổng nói: "À thôi nếu cậu muốn đi tu thì để mẹ cậu tôi lo, thế tôi cho tiền nè để bà tôi sắp xếp", cũng gặp một ông Bồ Tát kia chứ. Thế là ổng cho tiền để sắp xếp nuôi mẹ,

[21:59]rồi ngài khăn gói vượt lên phía bắc gặp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, rồi trong 6 tháng ở đó không quản giã gạo rồi được Tổ khai ngộ, chứng đạo luôn. Đó là một người thứ hai như vậy. Còn ai nữa biết không? Nên cái người mà ở càng ở trong thai mẹ lâu lâu, làm cho mẹ mình cực nhưng mình rất là khỏe. Trong chùa mình cũng có một cái cô vậy, cô Tường Phổ, cũng già tháng mới sinh ra, nên cổ có năng lực cũng lạ, từ bé đã nhìn thấy vong, thích nói chuyện với vong bình thường, đến bây giờ. Bây giờ vì chúng ta là những người không phải sinh già tháng. Ở đây có ai sinh già tháng không dạ? Thôi coi như mình không có sinh già tháng,

[22:44]nhưng mà bây giờ mình tu thiền cũng làm sao? Cũng an trú toàn thân, cảm giác toàn thân thì cũng bù lại cho cái việc mình sinh thiếu tháng, không sao hết. Ta đang phục hồi lại cái nguyên khí tinh khôi của mình bằng cái phương pháp thiền định đúng như đúng như Phật dạy, rất là hay. Nhưng mà cái an trú toàn thân, cảm giác toàn thân lúc còn ở trong thai mẹ nó khác vì nó vô ý thức. Nó là cái cơ chế sinh lý, tâm lý bắt như thế. Còn bây giờ ta có trí tuệ, nên hôm nay khi ta ngồi thiền mà nói rằng là ta an trú toàn thân, biết rõ toàn thân, ta an trú bằng trí tuệ của con người, nên ta độc đáo hơn, hay hơn hồi ở trong thai.

[23:33]Nếu ta dụng công đúng thì nhiều điều vi diệu sẽ xuất hiện. Cái biết rõ toàn thân, an trú toàn thân là gì?

[23:43]Đối với đứa bé đó, cái cảm giác của nó chỉ là biết toàn thân mà ra, còn bây giờ ta, ta nhìn vào trong cơ thể của mình, không nhìn ra ngoài nữa. Đây, cái mấu chốt nằm ở chỗ này, cái bí mật nằm ở chỗ này. Hôm nay ta nghe kỹ để mà dụng công cho đúng.

[24:06]Ta ví dụ như có căn nhà thế này, cái người chủ nhà chạy tuốt ra ngoài sân để mà nhìn ra ngoài kia ngoài đường để thấy xe cộ chạy đi chạy lại thì ông chủ nhà đó làm sao?

[24:22]Ông chủ nhà đó là loạn tâm phải không ạ? Động tâm, hướng ra ngoài, người đó không biết tu tập, chạy theo dòng đời, tham sân si. Và do chạy ra bên ngoài, cứ nhìn ra bên ngoài, nên nói về tâm lý thì người này loạn động, nói về y lý thì người này mất chân âm rất nhanh, mất cái nguyên khí rất nhanh vì cứ hướng chạy ra bên ngoài. Đó là người thứ nhất, là loại phàm phu, và đó là con người của chúng ta trước khi chúng ta biết Phật pháp. Bây giờ hạng người thứ hai là cũng chạy tuốt ra ngoài đường đứng á nhìn người ta á, cái nhà mình thì bỏ đó, mà chạy tuốt ra ngoài cổng á đứng nhìn xe cộ qua lại, nhưng bây giờ không theo dòng đời mà biết rằng:

[25:09]"À, con người, cuộc đời, dòng đời xuôi ngược chỉ là hư ảo, tạm bợ, vô thường." Cho nên tiến hơn một bước thì như vậy lòng làm sao? Lòng bớt, bớt loạn động, bớt mê đời, bớt tham đắm, bớt ô nhiễm. Đó là người thứ hai. Đúng không ạ? Và cái người tu Phật lọt ở cái cảnh giới thứ hai này rất nhiều. Thật sự vẫn bỏ căn nhà mình chạy ra ngoài đường đứng á, và nhìn dòng đời mọi người xuôi qua ngược lại loạn động. Nhưng mà trước đây thì nhìn cái dòng đời xuôi ngược đó mê đắm cười khóc theo dòng đời, thấy cái xe tông nhau mừng quá vỗ tay: "Ồ, nó mới tông nhau mừng quá", hoặc là thấy ai đi qua đẹp quá nhìn:

[26:02]"A, người này đẹp quá", ai xấu quá chê người ta, tức là khóc, buồn khóc cười theo dòng đời, mê đắm ô nhiễm theo dòng đời, loạn tâm theo dòng đời, người phàm phu. Bây giờ người thứ hai cũng đứng đó nhìn dòng đời, nhưng được học đạo lý nên biết rằng à cuộc đời này là hư ảo, vô thường, tạm bợ, giả dối, không có thật. Nên cũng nhìn dòng đời xuôi ngược, cũng nhìn đủ mọi cảnh, nhưng lòng thì sao? Không bớt mê đắm. Đó là cảnh giới thứ hai mà người tu Phật ở cảnh giới thứ hai này rất nhiều. Đây là những người sao? Nổ thuyên thuyên. Ta gặp người nào mà tu theo Phật mà nói hay gặp ta hay nói chuyện đạo lý, hay nổ, hay giảng đạo, đều là cái người thứ hai này.

[26:59]Cái người thứ hai này rất thích nói pháp, trong đầu tuôn ra rất nhiều kiến giải. Trước đây đó, ta cũng hay nói bậy nói bạ là mê đắm phàm phu, nhưng khi bắt đầu nhìn dòng đời mà thấy đời hư ảo thì cho rằng bớt mê đắm nhưng phát sinh một cái hiệu ứng là rất thích nói đạo lý. Và người này sao? Cũng mất chân âm, tại vì đứng ở ngoài đường á, cái nhà mình trong đây không giữ, đứng ngoài đường nhìn cuộc đời và thấy cuộc đời hư ảo, thấy có một bước tiến bộ nhưng chân âm vẫn bị mất, tại đứng nhìn đứng ngoài đường nhìn ra ngoài, động cái giác quan, suy nghĩ nhiều. Và sao? Người này có cái đặc biệt là nói rất hay,

[27:44]nhưng âm thầm bí mật bên trong lỗi lầm còn rất nhiều, vẫn tham, vẫn sân, vẫn si, và đặc biệt vẫn dâm dục. Đó là hạng người thứ hai á. Nên cái người thứ hai này nghe nói đạo lý nhiều, nhưng xin vui lòng đừng tin. Tại vì coi vậy chứ họ vẫn lỗi lầm rất là nhiều. Họ nói đạo lý rất nhiều, nghe tu rồi thích lắm, mình tưởng họ chứng Thánh tới nơi á, nhưng sự thực người này chưa thoát được cái thân phận phàm phu, vì còn đứng ngoài ngõ á. Còn đứng ngoài ngõ, đó là người thứ hai, nha. Hạng người đây là nhiều người bị lắm, mà rất nhiều tông phái cũng bị như vậy, dạy người cũng chỉ ngang đó thôi. Đây hạng người thứ ba.

[28:31]Hạng người thứ ba là cái người mà biết rằng nếu mà để cái giác quan nhìn ra bên ngoài, thì mình hướng tâm ra ngoài thì cái tâm động, mất mất chân âm, nên biết trở lại với thân, cảm giác toàn thân, an trú toàn thân. Đây là hạng người thứ ba. Ngon lành chưa ạ? Ngon chưa? Ngon chưa? Ừm. Chưa ngon đâu, chưa ngon đâu. Vì sao vậy? Vì cái người này à biết là mình bỏ cái thân mình mà chạy ra theo ngoại cảnh sai, nên lui lại, thay vì đứng ngoài cổng kia lui lại đứng nơi cái cửa trong này. Tức là trở về với thân mình, cảm giác lại thân mình, an trú lại thân mình. Đây là người thứ ba, khá hơn một chút. Cảm giác lại toàn thân, nguyên khí bắt đầu bớt hao tổn. Nhưng sao?

[29:34]Vẫn còn nhìn ra ngoài đường. Chân âm vẫn thoát, vẫn mất chầm chậm chầm chậm, mất chậm hơn nhưng vẫn mất. Vì sao? Vẫn nhìn ra ngoài đường. Người này bớt nói lại, biết hàm dưỡng lại, bớt lỗi lầm lại nhưng vẫn hao tổn nguyên khí, chân âm vẫn mất, tâm vẫn còn loạn, chưa có yên. Đây là hạng người thứ ba. Ừm. Và đây là hạng người thứ tư đây. Hạng người thứ tư đây mới đúng. Cái hạng người thứ tư này mới là cái an trú toàn thân của con người có trí tuệ. Còn cái hạng người thứ ba đó, cũng là an trú toàn thân, cảm giác toàn thân, nhưng là của cái bé ở trong thai, vẫn nhìn ra bên ngoài. Cái trạng thái thứ ba, cái người thứ ba,

[30:28]biết toàn thân, an trú toàn thân nhưng mà vẫn nhìn ra ngoài. Đó là của bé trong thai nhi á. Còn cái thứ tư là của cái người biết tu hành sâu xa, là cái người đó đứng ngay cửa nhà mình và nhìn vô bên trong nhà mình.

[30:47]Đứng ở cửa nhà và xoay lưng lại, nhìn vào trong nhà mình. À. Đây là người thứ tư, thì tới cái người thứ tư này mới là người thực sự biết tu tập thiền định. Đây là cái an trú toàn thân của cái người con người có trí tuệ. Còn cái người thứ ba đó là của thai nhi á, coi như thai nhi vẫn phải chưa phải hoàn chỉnh. Nhưng mà ta là thoát thai ta lớn lên, ta có trí tuệ ta mới thành cái người thứ tư được. Đứng ở cửa quay nhìn vô trong luôn, không có nhìn ra ngoài nữa. Ai hiểu cái này không?

[31:28]Hiểu không mà vỗ tay kìa. Thì khi ta ngồi thiền, ta ngồi như Đức Phật vậy đó, ta nhắm mắt lại, biết rõ toàn thân và biết sao? Nhìn vô hết trong mình, không còn hướng ra các âm thanh, sắc tướng bên ngoài nữa, nhìn vào trong thôi. Cái trong thân mình thấy gì đó không biết, có khi thấy gan thấy ruột, có khi không thấy, chỉ thấy một khối thân thôi cũng được, mà cứ nhìn vô trong, không nhìn ra ngoài nữa. Đây là cái an trú toàn thân ở mức độ

[32:01]cao cấp của người biết tu, mà trong bốn hạng người, đây là hạng người thứ tư, hạng người thứ tư nha. Nên từ đây ta nhớ cái công phu này, cái nguyên tắc này để tu tập thiền định, là an trú toàn thân mà nhìn vào hẳn trong thân, nhìn vào cái khối thân nội tại của mình. Có người nhìn lâu thì thấy luôn cả gan ruột bên trong đang hoạt động, nhưng mà ta không cần, không cần động tâm cầu tìm cái đó, vì cái đó hiện ra cũng là một loại ảo ảnh. Ta cứ nhìn một khối thân thôi, cứ nhìn vô trong thì nó sinh ra lập tức một cái hiệu ứng. À. Khi ta an trú toàn thân mà ta nhìn vào bên trong mình, chứ không nhìn ra ngoài như cái thai nhi,

[32:46]ta nhìn vào bên trong mình thì lập tức sinh ra một cái hiệu ứng là hơi thở hiện ra liền. Hơi thở vào ta thấy hơi thở vào, hơi thở ra ta thấy hơi thở ra, mà lúc đó cái vọng tưởng và cái hơi thở nó dính với nhau như thế này. À. Hai cái vọng tưởng và hơi thở dính nhau thế này. Hễ mà vọng tưởng mà nó động lên một cái thì nó nhích hơi thở rối loạn. Mà nếu cái ta nắm hơi thở, ta giữ cho êm lại, vọng tưởng êm lại liền. Nhớ không? Đây là nguyên tắc quan trọng cực kỳ, mọi người nhớ giùm thầy nha. Thầy nói lại, thầy nhắc lại chút xíu. Khi ta an trú toàn thân, cảm giác toàn thân mà nhìn hết vào trong thân mình chứ không nhìn ra

[33:31]ngoài, nhìn vào trong cái khối thân của mình bên trong, thì phát sinh lập tức một cái hiệu ứng: hơi thở hiện ra liền. Hơi thở vào, hơi thở ra rất rõ ràng. Và cái hơi thở vào, hơi thở ra đó nó dính với cái vọng tưởng của mình, dính chặt. Vọng tưởng động một cái, hơi thở động liền. Mà hơi thở động một cái, vọng tưởng động theo liền. Hai cái nó dính chặt. Do đó đến lúc này, ta chỉ cần ứng dụng đúng lời Phật dạy là biết rõ hơi thở, nhẹ nhàng, điều hòa hơi thở nhẹ nhàng, thì sao? Vọng tưởng nó bị kềm theo đó không khởi được nữa, tâm lập tức yên liền. Vì vọng tưởng với hơi thở lúc đó nó dính nhau thấy rất là rõ,

[34:19]nên giữ cái hơi thở êm êm êm êm thì vọng tưởng êm theo luôn, không khởi nữa. Đây là bí quyết, đây là chìa khóa. Nhưng cái hơi thở vào, hơi thở ra ở cái người bình thường chúng ta,

[34:34]thì cái hơi thở ra nó giúp cho chúng ta thanh tịnh tâm dễ hơn hơi thở vào. Do đó cái công thức là ta hít vào

[34:49]ít, êm, nhẹ; thở ra dài khoảng gấp năm lần, thì ta cái vọng tưởng nó bị dính vào cái hơi thở đó, vọng tưởng nó dính với cái hơi thở đó nó yên lắng theo luôn, đó là nguyên tắc. Nên ta nói rằng cái hơi thở là gạch nối giữa thân và tâm. Ta nói rằng hơi thở là gạch nối giữa thân và tâm là ta nói trên lý thuyết thôi, ta có niềm tin thôi. Nhưng đến khi mà ta an trú được toàn thân, nhìn vào khối thân, hơi thở hiện ra thì lúc đó thực sự ta mới thấy rằng hơi thở và vọng tưởng dính chặt nhau như thế này. Thì lúc đó cái câu nói mà hơi thở là gạch nối giữa thân và tâm là sự thật, không còn là lý thuyết nữa,

[35:42]lúc đó là sự thật, lúc đó ta chứng nghiệm rõ ràng. Hơi thở và vọng tưởng đi theo nhau, dính nhau như thế này. Nên ta giữ hơi thở cho êm thì vọng tưởng êm luôn. Ta quên hơi thở một cái thì vọng tưởng khởi lên liền. Mà tại sao ta quên hơi thở? Bởi vì ta quên cái an trú toàn thân nhìn vô trong. Mà tại sao ta lại quên cái an trú toàn thân đi? Bởi vì thiếu phước. Cho nên nói gì thì nói, cuối cùng cái gốc tu vẫn nằm ở chỗ gì? Phước. Phước. Cái người làm phước nhiều, ta dễ nhớ được toàn thân, ta dễ nhớ được hơi thở. Còn người nào ít làm phước thì tự nhiên ta hay bị quên thân, quên hơi thở.

[36:39]Đó là lý do mà khi ta bước vào tu tập, nhất là tu tập thiền định, thì ta phải siêng năng tạo phước rất là nhiều. Mà siêng năng tạo phước rất là nhiều là một cái câu nói

[36:55]căn bản thôi, chớ cái người mà hiểu đạo kỹ á thì không có nói cái câu là siêng năng tạo phước rất là nhiều, mà người đó phải nói rằng cả một cuộc đời của mình, mỗi một hơi thở của mình chỉ vì lợi ích của chúng sinh mà sống, không bao giờ sống gì cho mình nữa. Đến mức độ như vậy, đến độ vị tha tuyệt đối, ta mới gọi là cái người biết làm phước là như vậy, sống hoàn toàn vị tha, chỉ sống cho chúng sinh mà thôi, không sống cho mình nữa. Lúc đó ta mới thấy một điều thế này: Khi tâm đã an tĩnh, khi tâm thanh tịnh

[37:40]thành một khối thì ta mới nhận ra rằng đó là cái giao điểm của hơi thở, của thiền định và của đạo đức. À. Cái người mà đạo đức cho đến hoàn chỉnh thì tâm họ cũng đi tới cái chỗ gì thành một khối thanh tịnh. Cái người tu thiền thuần thục trong hơi thở, tâm cũng thành một khối thanh tịnh.

[38:09]Và cái thanh tịnh của đạo đức, cái thanh tịnh của thiền định nó trùng với nhau một chỗ.

[38:18]Vì vậy, cái đạo đức tới đâu thì cái thiền định tới đó. Phước nhiều thiền định hỗ trợ cho thiền định tiến xa, nhưng trong cái bản chất á, thiền định và đạo đức là đi song song với nhau. Nên Đức Phật có nói trong một bài kinh Nikaya rằng: "Khi ta nhìn thấy người nào còn có hắc pháp, hắc pháp là cái tâm bất thiện, cái tâm không có đạo đức á. Ta khi ta nhìn thấy một người nào còn có hắc pháp ở trong tâm thì ta biết rằng người đó không thể được giải thoát hoàn toàn. Còn khi ta thấy người nào mà không còn hắc pháp trong tâm, tức là tâm đã đạo đức hoàn toàn, thì ta biết người này sẽ được giải thoát hoàn toàn." Nên cái đạo đức và cái thiền định giác ngộ giải thoát

[39:14]là đi song song với nhau, trùng với nhau, gặp nhau ở tại một điểm. Cái tâm mà giác ngộ thiền định tuyệt đối cũng là cái tâm đạo đức tuyệt đối. Đó là nguyên tắc. Vì vậy, khi ta bước vào tu tập thiền định thì ta nhớ một điều thế này: ta phải tu tập cái gì? Đạo đức. Đúng không ạ? Phải là hoàn thiện đạo đức. Đạo đức từng trong cái ý nghĩ của mình, trong cái lời nói, trong cái hành động mà nhất là trong ý nghĩ, đừng bao giờ có một ý nghĩ sai lầm nho nhỏ len lén ở trong tâm. Phải đạo đức thật là hoàn hảo. Cái thứ hai là gì? Là công đức. Cả một đời chỉ làm lợi ích cho chúng sinh mà làm một lợi ích cho tới chỗ tột đỉnh

[40:08]để nói rằng là ta đạt được cái vị tha tuyệt đối. Từng mỗi một hơi thở, mỗi một miếng nước, miếng cơm, mỗi một hành vi cử chỉ chỉ sống vì chúng sinh mà thôi. Đó là cái công đức. Thứ ba là gì? Khí công. Là ta biết về cái nguyên tắc của cái chân âm, nguyên tắc của nguyên khí, đó mà giữ gìn tập luyện, đừng để tâm mình bị phân tán, đừng để nguyên khí mình bị phân tán. Ba cái đó là ba cái hỗ trợ rất là lớn cho thiền định: đạo đức, công đức, khí công. Ba cái đó. Rồi cái nguyên tắc để ta nhiếp tâm là đến cái chỗ mà ta nhìn lại được toàn thân bên trong của mình. Xoay lưng lại, không nhìn ra đường nữa mà nhìn vào trong nhà mình.

[41:04]An trú toàn thân và nhìn hết vào trong thân của mình. Khi an trú toàn thân, nhìn hết vào trong thân của mình thì một cái hiệu ứng phát sinh ra là lập tức hơi thở hiện ra. Và cái hơi thở hiện ra đó ta thấy nó làm sao? Nó dính với vọng tưởng. À nó đi theo vọng tưởng chặt chẽ. Hễ mà vọng tưởng động thì hơi thở động liền, mà nếu hơi thở động, vọng tưởng động liền, mà nếu ta điều hòa hơi thở thì vọng tưởng phải yên liền lập tức. À cái nguyên tắc như vậy. Hôm nay vì hôm nay ta nghe tới cái chỗ này là những cái chìa khóa sâu xa của thiền định. Mà khi ta biết hơi thở vào, biết hơi thở ra, giữ hơi thở điều hòa như vậy mà vẫn làm sao?

[41:56]Song song vẫn là biết toàn thân, nhìn vào trong thân thì lực không bị chạy lên trên đầu. Không có để ý trên đầu. Thiền là làm cho tâm được yên tĩnh. Tâm, hoạt động của đầu là những suy nghĩ. Thiền là làm cho đừng suy nghĩ, nhưng không bao giờ để tâm trên đầu để canh chừng vọng tưởng cả. Tuyệt đối nha! Nên ai tu thiền nói làm dừng lại các suy nghĩ bằng cách để tâm trên đầu để canh chừng vọng tưởng thì đó là phương pháp tu sai. Vì để tâm trên đầu làm cho cái chân âm này nó bốc lên nhanh hơn bình thường, làm cho chúng ta suy kiệt rất là nhanh. Đó là trường hợp mà khi mà thầy nhìn thấy cái vị tướng ổng tu thiền ổng tu nhầm.

[42:54]Mới năm trước vẫn còn mạnh khỏe, tinh anh, nghe đồn ổng tu thiền một năm sau nhìn lại ổng suy kiệt liền, gương mặt si và mất hết cả cái sự tinh anh liền. Rất là buồn. Vì cái lối mà tu canh chừng vọng tưởng ở trên đầu. Đó canh chừng vọng tưởng trên đầu làm lực chạy lên trên hết, lần lần nhiều bệnh phát sinh. Nên ở đây ta an trú toàn thân mà an trú toàn thân này nó lại quan trọng là ở đâu? Ở dưới cái bụng. Nhìn thấu luôn tới cái bụng của mình ở phía trong. Phía trong chứ không nhìn bên ngoài, đứng ở ngoài để nhìn vô trong, nhìn thấu bên trong và biết hơi thở. Nhưng khi vừa biết hơi thở ra vào, vừa biết toàn thân

[43:37]mà ở dưới bụng thì ta chỉ cần điều chỉnh hơi thở làm cho cái gì? Cho cái vọng tưởng nó dừng lại chứ không cần canh cái vọng tưởng. Đó là nguyên tắc, không có được trực tiếp mà diệt vọng tưởng mà chỉ khéo léo điều khiển cái hơi thở mà thôi. Vì lúc đó hơi thở và vọng tưởng nó đeo theo nhau rất là chặt. Thấy rõ rõ ràng như vậy. Chỉ điều khiển hơi thở thì ta kiểm soát được vọng tưởng, không có để tâm trên đầu. Cũng giống như ta đánh giặc, muốn thắng giặc thì thực sự không cần phải giết giặc. Mà phải làm cái gì?

[44:29]Giết giặc ác lắm.

[44:33]Ta muốn thắng giặc thì đừng có giết giặc, không cần giết giặc. Mà làm cái gì? Ta chỉ cướp lương thực thôi, rồi thôi là tự giặc nó tiêu à không thấy gì hết trơn. Tại vì lương thực tới đâu là giặc tới tới đó. Chỗ nào mà hậu cần, lương thực không tới thì giặc phải rút lui, đúng không ạ? Thì giặc nó muốn đánh vô đó nhưng nó bảo là: "Đủ lương thực hậu cần không?" Nó đánh vô mũi đó. Bên hậu cần nói: "Không, không đủ." Thế là trận đó nó không đánh. À còn nó: "Đủ rồi, mỗi đứa ôm đống lương khô rồi đánh đi!" Là nó đánh liền. Bây giờ ta đừng cho nó ăn thì nó không đánh ta nữa. Nên ta đừng thèm đánh giặc, nó tới đâu kệ nó.

[45:14]Ta cứ đi lùng, đi tìm cái lương thực của nó mà đánh thôi. Đó là cái trận mà ta đánh quân Nguyên lần thứ ba. Hai lần đầu cái nó không đem theo lương thực, nó đánh tới đâu nó cướp ăn tới đó. Đó là nguyên tắc của quân Nguyên Mông. Nhưng mà ta dùng cái kế "vườn không nhà trống", ta chạy, giặc chạy tới đâu ta mang lương thực đi hết, cái nó tới chiếm đất mà nó không có gì ăn, nó đói rồi bị ta quấy phá hai lần nó thua. Nó yếu rồi ta đánh lại nó thua. Lần thứ ba nó rút kinh nghiệm, nó không cần đánh cướp lương thực, nó chở lương thực đi. Và nó đem quân thì nó đổ bộ đi đường bộ phía Bắc qua, lương thực thì nó đi đường thủy qua mà đem nhiều lắm,

[45:53]đem nhiều lắm, đủ ăn luôn, không cần cái thức ăn của tụi bay. Thì mình không đánh, mình làm cái gì? Mình đánh lương thực thôi. Đánh cướp hết lương thực, đốt hết luôn. Đáng lẽ mình giấu lại mình ăn, nhưng bị một cái làng nó chỉ điểm cái nó quay lại nó tìm lại để nó nó lấy lại lương thực, ta buộc lòng ta phải đốt lên. Nên ta có cái khu gọi là khu Bãi Cháy ở Hạ Long. Cái tên Bãi Cháy là ta đốt lương thực, đốt mà tới cháy, cháy khét luôn. Thì cái ta đánh giặc là như vậy thì hơi thở, cái vọng tưởng cũng vậy. Đừng có mà canh ở trên đầu diệt vọng tưởng. Khi ta đã an trú toàn thân rồi, ta thấy rõ cái vọng tưởng

[46:32]và hơi thở đeo theo nhau và chỉ canh cái hơi thở thôi. Giữ hơi thở cho điều hòa, vào ra biết rõ ràng thì vọng tưởng yên liền. Đó là nguyên tắc như vậy nha. Và ta cũng nhớ một điều nữa là khi ta an trú toàn thân, ta biết rõ toàn thân thì ta đang chui trở lại vào trong thai mẹ nha. Sống lại hiền lành, vô tư vào trong trong thai mẹ hạnh phúc vô cùng. Không có gì hạnh phúc bằng ở trong thai mẹ hết trơn á. Thức ăn cứ tự vào thôi, không phải lo việc gì trong đời cả, như

[47:12]vậy.

[47:16]Cái lỗi của chúng ta,

[47:21]khi chúng ta thoát khỏi thai mẹ, ta tiếp nhận cuộc đời, ban đầu ta cũng chưa suy nghĩ nhiều đâu. Nhưng mà lúc đó ta có trực giác, đứa bé nào cũng có trực giác rất mạnh. Đứa bé nào cũng biết thẳng tâm của người khác cả. Khi ta mới sinh ra đó, trong vòng 1 năm, 2 năm, ta biết tâm của người chung quanh mình hết. Tâm của người chung quanh mình suy nghĩ cái gì ta biết hết. Biết nhưng mà biết, không nói được, không rõ ràng và cũng không cử động được. Cho nên ta thấy giống như đứa bé nó là không biết gì, nhưng sự thực nó đang biết hết. Vì sao? Vì nó không biểu lộ cái nó biết ra được. Tay chân nó yếu đuối, nó như mê mê ngủ ngủ,

[48:08]mê mê ngủ ngủ, nhưng mà chung manh có gì nó biết hết. Và chính trong giai đoạn này, đứa bé nó tiếp xúc với các vong linh rất dễ dàng. Mà trong giai đoạn này, các vong linh cực kỳ thích lại giỡn chơi với các đứa bé. Các vong linh đó là ai? Một là ông bà. Ông bà nội, ông bà ngoại thấy có đứa cháu rồi mừng lắm, cứ lại mà đùa giỡn với nó, làm mấy đứa nhỏ nó cứ khóc thét lên nửa đêm. Hoặc là các vong linh lẩn quẩn trong nhà, không phải là ông bà, nhưng mà cái người khác cứ tới giỡn với đứa con nít. Y cái tâm lý đó y như tất cả chúng ta. Tất cả chúng ta đều bị một cái khuynh hướng bản năng tự nhiên là yêu thích trẻ em, đúng không ạ?

[48:52]Thấy con nít đứa nào ai cũng lại bồng hun miếng nựng nựng, đúng không ạ? Tất cả chúng ta đều như vậy. Và xin thưa quý vị, ma cũng vậy. Ma cũng thích con nít như vậy. Và con nít nó nhận ra liền. Con nít nó tiếp xúc rất dễ dàng. Nhiều khi nó lảm nhảm, nó cười, nó khóc, nó giật mình á. Đừng tưởng vậy, nó đang giỡn với ma, ma đang đến tiếp xúc với nó. Đứa bé nó có trực giác, biết hết tâm mọi người chung quanh, nhưng không phản ứng được thôi. Đến khi mà nhờ cái trực giác đó, đứa bé nó mới học được ngôn ngữ của loài người. Ờ, thương ba không con? Ăn đi con, mâm đi con. Nó hiểu hết, nó hiểu cái... người lớn muốn nói cái gì.

[49:35]Mặc dù nó chưa biết ngôn ngữ, nhưng nó biết qua cái tâm. À, lúc đó nó mới so sánh, khi cái tâm nghĩ như vậy thì cái miệng nói như vậy. Đó là bắt đầu của cái học cái gì? Học được ngôn ngữ của loài người. Lại đây con. Nó không biết chữ lại đây con, nhưng nó nhìn vào cái tâm nó thấy, nó hiểu cái tâm của người lớn và nó bò lại. Thì từ từ cái nó chụp cái ngôn ngữ để nó làm cái đầu mối mà giao tiếp với con người và nó mất dần cái gì? Mất dần trực giác. Nên khi ta lớn lên, ta không còn khả năng biết được tâm của người khác nữa, mà ta chỉ còn biết được cái gì? Biết được ngôn ngữ thôi. Nghe người khác nói rồi mình mới hiểu thôi.

[50:25]Mà họ nói dối hay không, mình không còn kiểm soát được nữa. Vì mình chỉ còn nắm được ngôn ngữ, dựa vào ngôn ngữ. Còn tâm người ta, trong lòng người ta nghĩ cái gì, mình hết biết rồi. Nhưng hồi còn bé thì biết ạ. Hồi còn bé là biết. Đó là lý do mà có một số trường phái thầy bùa luyện thiên linh cái.

[50:51]Là họ rất là ác độc. Họ dụ dỗ ăn nằm với một cô gái cho có bầu. Rồi họ dắt cô gái đó vào rừng, họ mổ bụng, họ giết lấy cái bào thai về, họ luyện. Mà phải mổ bụng bằng cái dao bằng tre. Lấy đứa bé về. Còn người mẹ chôn lén đâu đó, đem đứa bé về nó tẩm nó ướp sau đem thờ và để lấy được cái trực giác của đứa bé trong bào thai ra. Từ đó là nó mách đủ thứ chuyện cho ông thầy bùa đó hết. Người ta đến, người ta hỏi cái gì là ông thầy bùa đó ông nói vanh vách, vanh vách. Vì sao vậy? Vì có đứa bé nó, nó mách bên tai. Đó là nguyên tắc luyện thiên linh cái. Hôm nay thầy nói ra, vui lòng đừng bắt chước nha,

[51:34]mà thành ra vi phạm pháp luật, ác động tội lỗi, chết là đọa địa ngục à, nha. Đừng nhớ là đừng, đừng có luyện rồi nha, đừng có luyện. Thiên linh cái là mới ghê. Vì đứa nhỏ nó tinh anh, nó có trực giác. Khi chúng ta... bắt đầu tiếp nhận cái ngôn ngữ của con người, chúng ta mất cái trực giác đó. Chúng ta sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và não chúng ta từ đó khởi động cái dòng suy nghĩ bằng cái ngôn ngữ. Nhớ như vậy, những cái ý nghĩ của ta đều là ngôn, ngôn ngữ, đều được trang bị ngôn ngữ trong đầu. Ta nói lải nhải ở trong, ở trong đầu và chính cái nói lải nhải trong đầu không làm sao dừng được. Ta cứ nói, nói, suy nghĩ hết chuyện này chuyện kia.

[52:25]Thậm chí ta ngồi thiền nó vẫn sao? Vẫn nói, đúng không ạ? Và cái quá trình tu tập để cho dừng cái lời nói trong não ta là một quá trình vô cùng vất vả, cực khổ.

[52:40]Nhưng... có những con người cho rằng là phải suy nghĩ để biết chuyện này, chuyện kia, và họ thích suy nghĩ. Những người đó mất chân âm rất nhanh, đầu tới già chút xíu rồi hư hao rất nhanh. Còn loại người có trí tuệ, biết rằng cái suy nghĩ đó là gì?

[53:05]Làm cản đường trí tuệ. Chính cái suy nghĩ nó ngăn cản cái trực giác. Hồi còn bé ta không có suy nghĩ, ta biết thẳng tâm người. Lớn lên, ta có cái suy nghĩ của ngôn ngữ, ta không còn trực giác biết tâm người. Bây giờ đi tìm lại cái trí tuệ trực giác ngày xưa bằng cách dừng cái suy nghĩ lại. Thì lúc đó ta có trí tuệ, ta biết trực tiếp vào mọi điều của cuộc sống này. Ta biết mọi điều của thế gian này, ta biết tâm người khác và thậm chí ta biết được kết quả của trận bóng đá chiều nay, ai thắng biết luôn. Thầy không nói đùa, thầy không hề nói đùa chuyện này.

[53:55]Cái suy nghĩ nó làm cho ta mất chân âm. À, nhớ như vậy. Cái suy nghĩ trên đầu làm cho cái chân âm ở dưới bụng của ta cạn dần, cạn dần. Giống như khi ta thắp đèn thì cái dầu ở dưới này nó bị bị hao. Mà cái sợi dây tiêm bấc á, chính là cái đường xương sống của ta. Nó lấy cái lực từ cái nguồn chân âm vô hình, nó đưa lên trên não để cho não ta thắp lên. Đó là cái hoạt động của suy nghĩ. Thì bây giờ, nếu ta không thắp nữa, ta không thắp sáng trên đầu nữa thì có phải là ta vô dụng không? Không. Nếu ta không có đốt ngọn đèn ở trên đầu nữa, không suy nghĩ nữa, thì cái dầu ở phía dưới nó biến thành ánh sáng toàn.

[54:50]Mà cái ánh sáng toàn thân ở dưới này nó mới là bình an, mới là hạnh phúc. Còn cái ngọn đèn mà cháy leo lét leo lét trên đầu, coi vậy chớ là vô minh, là hạn hẹp, ít ỏi, tầm thường. Ta tắt được ngọn đèn ở trên đầu, cái nguồn chân âm ở dưới nó nuôi ở phía dưới bụng ta, nó mới thành cái nguồn ánh sáng của tuệ giác. Nên cái người đi, đi tìm cái tuệ giác chân chính thì ta phải tắt cho được, dừng cho được cái cái suy nghĩ ở trên đầu. Nguyên tắc là như vậy, để mà trở lại như em bé, an trú toàn thân, biết rõ toàn thân và thắp sáng toàn thân. Cái quan trọng là vậy, thắp sáng toàn thân, chứ không phải suy nghĩ để mà làm cái ngọn đèn

[55:43]leo lét, leo lét, thắp sáng ở trên đầu. Cái khác nhau là là cái đó vậy.

[55:53]Bây giờ tôi nói thế này: thì cũng ham tu, cũng ham dừng cái suy nghĩ, à cũng cần có trực giác, cũng rất muốn biết là

[56:06]trận này bên nào thắng. Ta cũng rất cần chứ không phải không. Nhưng mà trên đời này không thể không suy nghĩ, phải không ạ? Vì trách nhiệm của ta với cuộc sống, ta phải tính toán. Giống như các thầy mình bây giờ muốn cất chùa, không phải ngồi không suy nghĩ tự nhiên chùa mọc lên được không? Không. Phải làm sao? Đi ngồi coi ai là người có thể cúng tiền, nha. Ai là người có thể cúng tiền. Phải tìm tiền cái đã. Rồi đi làm quen. Rồi làm quen rồi nó phải nói làm sao. Rồi có tiền rồi thì thiết kế chùa ra làm sao? Thi công làm sao? Quản lý làm sao, giám sát làm sao? Nhiều chuyện phải suy nghĩ lắm. Nên sống trên cuộc đời này không có cái chuyện mà hoàn toàn không suy nghĩ.

[56:52]Mặc dù ta biết rằng cái suy nghĩ làm ta mất chân âm. Nhưng không thể hoàn toàn không suy nghĩ. Vậy nếu phải suy nghĩ thì ta suy nghĩ cách nào để bớt hại? Ta suy nghĩ cách nào?

[57:13]Nếu phải suy nghĩ thì ta chỉ suy nghĩ điều thiện mà thôi, nha. Suy nghĩ những điều trong chánh pháp, trong điều thiện, điều lợi ích cho chúng sinh, giúp người, suy nghĩ về đạo đức. Thành kính tưởng nhớ về Đức Phật, về các vị thánh, về những người khả kính. Thì những cái suy nghĩ đó nó tạo cho chúng ta một cái phước. À. Và cái phước đó nó bù lại cho cái chân âm bị mất. Còn nếu ta suy nghĩ mà suy nghĩ chuyện ác thì ta bất lợi trên cả hai. Cái suy nghĩ nó đã làm mất chân âm rồi rồi lại thêm cái suy nghĩ ác, suy nghĩ bậy nó làm ta mất thêm phước nữa, mất thêm đức nữa thì ta mất cả chì lẫn chài. Thì ta hao tổn toàn bộ cuộc sống này.

[58:11]Còn nếu ta suy nghĩ điều thiện thì cái chân âm vẫn bị mất nhưng mà bù lại ta được cái cái phước. À. Nên ta không mất cả chì lẫn chài. Cái phước nó bổ sung lại, nuôi dưỡng lại, gìn giữ lại cho cuộc đời ta, tâm hồn ta, sức khỏe của ta. Và

[58:38]do suy nghĩ những điều thiện ta có phước thì ta lại dễ dàng vào trong thiền định. À. Nên nhiều người cứ nói câu này: là nếu muốn tu thiền thì phải bỏ hết để mà tu chứ. Tại vì còn phải vướng bận suy nghĩ tính toán thì làm sao mà thanh tịnh nội tâm? Đó là người đó chưa hiểu cái nguyên lý này. Nếu ta hiểu cái nguyên lý rằng dù ta bận tâm, dù ta bận công nhưng mà cái bận rộn đó trong điều thiện thì cái phước nó sẽ nuôi dưỡng thiền định của ta. Người đó dù rất bận rộn nhưng bắt chân lên ngồi là tâm yên liền, có kết quả liền, thiền định đến liền. Vì sao? Vì cả ngày người đó chỉ bận trong điều trong điều thiện mà thôi.

[59:33]Nên là có những người cư sĩ hoặc là có quý thầy cũng vậy, nhiều khi bận ban ngày đi học, đi làm, phải tính toán, phải sắp xếp nhưng luôn cố gắng làm trong những điều thiện thì đến khi tới cái buổi ngồi thiền bắt chân lên ngồi, tâm vẫn nhiếp yên như thường.

[59:53]Còn một người quan niệm rằng phải bỏ hết tất cả để sống trong yên tĩnh mà nhiếp tâm ngồi thiền thì cái người này họ không hiểu được cái giá trị của cái phước trong thiền định. Bỏ hết không làm gì hết, không giúp ai luôn, không hại ai nhưng cũng không giúp ai, chỉ mong rằng cho mình đừng bận tâm. Đừng bận tâm để dễ tĩnh tâm. Cái công thức này nghe có vẻ đúng nhưng lại là sai vì từ từ ta hết phước. Do đó trong đạo Phật nó xuất hiện hai trường phái về thiền. Một trường phái là bỏ hết để tập trung thiền tĩnh tâm cho có kết quả.

[1:00:44]Đây là cái con đường mà tu thiền để chứng thiền. Một cái phái mà Đức Phật không chấp nhận, nhưng ngày hôm nay cái phái này nở rộ khắp nơi trên rất nhiều quốc gia của đạo Phật. Nhiều quốc gia của đạo Phật thậm chí những quốc gia đó lấy đạo Phật làm quốc giáo, mở rất nhiều trung tâm thiền đều đi theo cái khuynh hướng loại thiền này. Là dùng sức, thời gian, hoàn cảnh để mà chuyên chú tu tập thiền định cho được tĩnh tâm, không quan tâm tới đạo đức hay công đức. Đây là một trường phái thiền. Và người này nếu có kết quả chỉ là chứng thiền chứ không có chứng thánh. À. Không có chứng thánh. Còn cái trường phái thứ hai, đây mới là trường phái của Phật dạy:

[1:01:42]là tu thiền tĩnh tâm để chứng thánh. Và cái người này thì khi mà tu tập thì họ hoàn thiện hai điều đi theo: một là đạo đức, hai là công đức. Nên họ sống hi sinh, vị tha, lo lắng, bận rộn nhưng làm bao nhiêu điều thiện cho cuộc đời này, lấy cái phước đó đưa vào trong thiền định. Thì người này khi vừa tu tập thiền định mà vừa hoàn thiện đạo đức, khi họ chứng một cái thì họ chứng luôn thánh quả chứ không phải chỉ là chứng những tầng bậc thiền định. Hai con đường khác nhau. Một bên là chứng thiền, chứng những tầng bậc thiền, định sâu chừng nào thì thiền chứng cao chừng nấy. Nhưng một bên là chứng thánh, vừa có thiền định mà vừa có đạo đức.

[1:02:41]Thiền định và đạo đức song song càng cao chừng nào thì thánh quả cao chừng nấy. Đây là hai cái điều khác nhau rất khó phân biệt. Chính vì rất khó phân biệt nên một thời gian mấy nghìn năm sau Đức Phật, nhiều trường phái bị nhầm lẫn giữa hai cái này, trộn lại cái này, cứ tưởng cái người định tâm được, chứng được thiền, người đó cũng là thánh, nhưng không. Đây là điều bí mật. Mấy ngàn năm không ai biết. Không ai biết thì sao thầy biết? Chỉ bởi vì thầy đặt ra cái tiêu chí là tôn kính Phật tuyệt đối, cố gắng tìm lại cho bằng được những gì Phật dạy. Thầy mới phát hiện ra một bài kinh Phật dạy trong Nikaya:

[1:03:32]chứng thiền và chứng thánh khác nhau. Thầy mới đọc ngang đó thầy cứ ngỡ ngàng vì nó đánh ngược lại hết những suy nghĩ của mình trước tới giờ. Và thầy phải mất 30 năm mới hiểu được điều này: tại sao chứng thiền khác với chứng thánh.

[1:03:51]Chứng thiền cứ dồn hết sức của mình, lấy hết cái phước bao nhiêu kiếp quá khứ tập trung vô tu thiền để mà chứng thiền. Còn chứng thánh thì trong khi tu tập thiền định tĩnh tâm vẫn phải trau dồi đạo đức, vẫn phải làm rất nhiều điều thiện. Và chính cái tâm đạo đức và cái điều thiện đó cộng với cái thiền định đó mới chứng thận thánh quả. Nên cái người mà chứng thánh và người chứng thiền nó có hai khuynh hướng khác nhau. Cái người chứng thiền muốn bỏ hết, tìm nơi vắng vẻ mà ngồi để vào định cho sâu. Còn người chứng thánh á lúc nào cũng bị thôi thúc thôi thúc bởi cái tâm từ bi mà mà đành phải làm sao?

[1:04:40]Đành phải hi sinh cái hạnh phúc thiền định của mình mà đi giáo hóa. Cái đó khác nhau, hai cái đó khác nhau rất rõ. Nên ta tu tập cũng vậy, nhớ để ý điều này: khi ta có kết quả rồi, tự nhiên ta thích bỏ hết để tu là biết mình đang trôi vào cái con đường chứng thiền. Lúc đó phải ráng mà quán từ bi, lễ Phật rất nhiều, phát nguyện giáo hóa rất nhiều để cho cái lòng từ bi nó nó lớn lên. Lớn lên và nó là cái nhân quả để ta chứng chứng thánh quả. Chứ còn nếu không có từ bi ta chứng thiền mà không chứng thánh quả. Nên khi ta vào thiền, ta tác ý ba cái tâm hạnh: một là tôn kính Phật tuyệt đối, hai là trải lòng yêu thương chúng sinh vô hạn, ba là khiêm hạ tột cùng.

[1:05:38]Chính ba cái tâm hạnh khi ta bắt đầu bắt chân ngồi thiền, đó là cái nhân để chứng thánh quả. Nhớ như vậy. Nên nào giờ thực sự ta đang tu tập như thế này là con đường đúng của Đức Phật dạy để chứng thánh quả chứ không phải chỉ để chứng thiền mà thôi. Vì thế, những người mà tu tập theo thầy đều cực khổ. Ai tu theo thầy đều cực khổ cả. Còn những người mà sợ cực, đừng theo thầy, nha. Vì sao? Vì theo thầy, thầy đì cho sói trán luôn. Thầy hành hạ cho khổ sở, cho vất vả luôn. Thấy đó, khóc lên khóc xuống luôn. Bao nhiêu mồ hôi nước mắt gì phải lấy ra hết để mà phụng sự chúng sinh, phụng sự Phật pháp. Để chi?

[1:06:33]Để khơi dậy cho bằng được cái lòng vị tha, từ bi của mình. Đạo đức nó chỉ được khẳng định bằng hành động, chứ đạo đức không có cái chuyện nói suông. Không có chỉ chuyện nói rất hay về đạo đức thì ta gọi người đó là người có đạo đức, không phải như vậy. Ta chỉ được gọi là một người có đạo đức khi người đó có những hành động thiện đem lại lợi ích cho chúng sinh, cho cuộc đời. Mà cái hành động thiện càng nhiều thì khẳng định rằng nội tâm người này đạo đức lớn. Vì ta vừa tu tập thiền định, vừa củng cố cái đạo đức. Mà để củng cố cái đạo đức thì phải củng cố bằng bằng mồ hôi, tiền bạc, công sức và nước mắt,

[1:07:30]chứ không có cái chuyện mà củng cố đạo đức chỉ bằng những lời nói suông. Nhớ như vậy. Vì vậy, ai là đệ tử của thầy thì phải chuẩn bị cái tinh thần là gì? Vất vả, cực khổ trăm bề mà vẫn vui nha. Còn vất vả rồi cái thấy khổ thì người này không phải đệ tử của hai ông Phật: Phật Quang và Phật Ngọc nha.

[1:08:06]Ta muốn cho mình thành tựu cái gì thì ta phải giúp cho người khác thành tựu cái đó. Đó là nguyên tắc của luật nhân quả, đúng không ạ? Nên vì vậy, ta muốn cái việc tu thiền của mình tiến bộ thì ta phải làm sao?

[1:08:23]Giúp cho mọi người cũng tu tập thiền định nha. Đó là nguyên tắc của luật nhân quả. Nên khi mình phát tâm tu tập thiền định, đừng tu một mình. Lúc nào cũng tìm cách mà thuyết phục nhiều người cùng tu theo, giúp đỡ mọi người cùng tu, ủng hộ mọi người cùng tu, hỗ trợ cho mọi người cùng được tu thiền thì cái nhân quả trở lại với chính chúng ta. Chứ đừng có tu thiền cứ lặng lẽ tu giấu, tu một mình, ta rất khó thành công. Cuộc đời này nó là như vậy, luật nhân quả là như vậy. Xin cảm ơn quý vị đã lắng nghe. Cảm ơn, cảm ơn thầy. Dạ, cảm ơn thầy Trí Đức hôm nay đã về đây thăm em và cũng ngồi nghe hết một bài pháp.

[1:09:14]Hồi xưa phải ngồi nghe thầy dạy học, bây giờ cái được hạnh phúc là được thầy ngồi nghe trở lại. Hôm nào xin trân trọng mời thầy lên trên núi thầy ở một vài tháng nha. Thôi bây giờ ta nghỉ nha.