[0:09]Kính thỉnh Thượng tọa giảng sư cùng toàn thể Phật tử, pháp hội niệm hồng danh Phật. Nam Mô
[0:20]Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:35]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:53]Nam Mô Bổn Sư Thích
[1:02]Ca Mâu Ni Phật. Cung thỉnh Thượng tọa giảng sư an tọa. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch Thượng tọa giảng sư, hôm nay thật là một ngày đẹp trời, tươi mát hòa quyện cùng với niềm vui của toàn thể Phật tử đạo tràng chùa Pháp Hải chúng con. Thừa theo lời thỉnh cầu, ban tổ chức Thượng tọa đã không quản ngại đường xá xa xôi và sức khỏe và quang lâm về để thuyết giảng cho Phật tử được trọn phần pháp lạc và chúng con xin phép được trân trọng giới thiệu cùng toàn thể quý vị Phật tử và kính thưa quý Phật tử, thật là hạnh phúc thay, tứ chúng đồng tu và nhân buổi lễ húy nhật của Hòa thượng Khai Sơn chùa Pháp Hải.
[1:59]Trong buổi lễ thuyết giảng sáng hôm nay chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng toàn thể quý vị Phật tử, Thượng tọa giảng sư Thích Chân Quang, trụ trì tu viện Phật Quang, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xin trân trọng giới thiệu cùng toàn thể Phật tử.
[2:19]Và kính thưa quý Phật tử, Phật pháp khó nghe, mà ngày nay chúng ta thật là hạnh phúc được câu hội tại đạo tràng và hạnh phúc lớn nữa và chúng ta cũng sắp sửa chuẩn bị được nghe lời thuyết giảng của Thượng tọa giảng sư đang đối trước mặt chúng ta để ban pháp từ cao cả. Vậy chúng tôi mong rằng chúng ta hãy cố gắng thanh tịnh tâm tư để lãnh hội lời thuyết giảng của Thượng tọa và chúng tôi mong rằng sau khi quý vị lãnh hội lời thuyết giảng, tâm hồn được thư thái, nhẹ nhàng, vơi đi mọi phiền não, ưu tư trong ngày thuyết giảng hôm nay. A Di Đà Phật! Và chúng tôi xin nhường lời lại cho Thượng tọa giảng sư.
[3:04]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay nhân dịp về đây thì chúng ta trao đổi nhau vài đạo lý nho nhỏ, cũng không có gì quan trọng. Tuy nhiên là thì nói chuyện với ni sư trụ trì thì thầy khen ni sư là nơi cái vùng quê như vậy mà dựng được một ngôi Tam Bảo như thế này thì phải nói là công đức của quý ni sư rất là lớn. Mà khi nói chuyện một lát thì mới hay là quý ni sư đây như là huynh đệ với nhau, quanh quanh đây về cái tập hợp, câu hội, hỗ trợ lẫn nhau trong những ngày lễ như thế này. Thì đây cũng là cái tình huynh đệ, tình đồng đạo, tình đồng song, tình pháp lữ rất là đáng quý. Hồi nãy thầy mới nhắc lại với ni sư một cái điều có một lần thầy giảng trong
[3:47]cái khóa trụ trì nào ở Thiên Khánh, khóa trụ trì ở cái mùa an cư. Thầy nói khi mà cất được cái chùa cao như vậy, ni sư phải leo lên nóc chùa ngồi, ni sư tưởng thầy nói giỡn không phải. Bắt đầu ni sư mới nhìn qua chung quanh hết. Thế là tầm mắt mình mà nhìn thấy cái nhà nào, làm phải đưa cái nhà đó về với đạo Phật. Tức là từ nơi cái chùa mình nhìn ra chung quanh, hãy mắt mình nhìn thấy ở đâu á là khu vực đó phải trở thành khu vực quản lý của chùa, trở thành tín đồ của chùa, đệ tử của chùa. Phải như vậy thì mới xứng đáng cất cái chùa lớn như thế này. Còn không mình cất cái chùa thấp thấp mình leo lên mình ngồi,
[4:21]mình thấy hai, ba căn cái hết rồi mình độ hai, ba căn. Còn nếu cái chùa to thì cái phạm vi mà làm việc Phật sự mình phải lớn. Là bởi vì sao? Bởi vì người đi tu có cái nhiệm vụ rất rõ là hoằng pháp độ sinh. Cho nên khi mà về một nơi trú xứ nào đó, tức là mình nhận lãnh một cái sứ mạng của Phật giao, mình dựng được một ngôi Tam Bảo, tức là nhận được cái ân huệ và cái trọng trách từ nơi Đức Phật. Mình phải làm tròn cái trọng trách đó là đem mọi người về với Phật pháp. Mà đem bao nhiêu người? Thì nói là cái tầm mắt mình nhìn thấy bao nhiêu, mình đưa về bấy nhiêu. Mà đưa như thế nào? Thì mới nói ni sư là ni sư phải chịu khó đi thăm từng nơi.
[4:59]Chứ không phải ở trong chùa rồi cứ đóng cửa trong chùa niệm Phật tu giải thoát, không phải. Cái tinh thần đạo Phật là cái sự giải thoát nội tâm với cái việc giáo hóa chúng sinh bên ngoài nó liên quan với nhau. Cho nên cái người tu sĩ trong chùa không phải là chỉ biết có cái chùa mình rồi đóng cửa lại rồi tu, không phải. Mà phải đi tới nơi này, nơi kia thăm hỏi những người cư sĩ ở chung quanh mình, tới lui hỏi thăm và mời họ về chùa chơi, rồi lần lần mới giáo hóa họ Phật pháp, rồi mời họ về chùa lễ Phật, sám hối. Và mỗi ngày sám hối là quý thầy, quý cô trong chùa đó phải giảng pháp. Chưa quen thì giảng nửa tiếng thôi,
[5:34]đừng giảng nhiều vì người ta chưa đủ sức ngồi nghe lâu và mình cũng chưa quen giảng lâu, nhưng mà phải giảng nửa tiếng mà cho hay. Nửa tiếng mà nó hay để lại ấn tượng hơn giảng 1 tiếng rưỡi mà giảng dở, người ta ghét lần sau người ta không dám tới chùa nữa. Có một lần vậy, thầy khuyến khích người huynh đệ cũng về ổng tu trì ở chùa, cũng có chức vụ trong giáo hội thì mới nói là: "Mỗi ngày sám hối thầy phải giảng cho Phật tử nghe". Ông nói là: "Con chưa có tập giảng". Mới nói: "Thầy tập giảng riết rồi được, phải giảng". Đợi khoảng hai năm sau quay lại thăm ổng, hỏi: "Sao lúc này thầy giảng sao rồi?". Nói:
[6:04]"Mới đầu con cũng nghe lời thầy con giảng thì thường thường á là xá tổ xong để dép ở đó, rồi đi lên chánh điện sám hối, sám hối xong ngồi đó nghe giảng, rồi mới đi xuống nhà tổ, xá tổ rồi mới lấy dép đi về. Kế con giảng mấy lần, họ rút kinh nghiệm, họ đưa dép họ để chánh điện. Sám hối xong từ từ họ tuột xuống chánh điện, họ lấy đi về hết trơn, còn ngồi một mình con giảng. Ngồi cái, cứ ưu tư hoài nói sao kỳ vậy ta? Sao Phật tử gì kỳ khôi vậy?" Thấy không phải. Sau này tôi mới phát hiện ra một điều là thầy chưa có kinh nghiệm giảng mà thầy giảng dài quá, Phật tử chịu hết thấu à. Người ta lạy Phật xong người ta mệt rồi đó,
[6:34]mà ngồi quất luôn hai tiếng đồng hồ nữa, nên là không còn ai chịu nổi. Ở nhà người ta phải có việc nữa. Cho nên mới nhớ, mới nhớ là dặn ổng dặn, mà quên dặn ổng giảng ít ít thôi. Hồi xưa cũng vậy. Hồi xưa vậy, lúc mà thầy về chùa có một cái chùa quê, cái buổi sám hối Phật tử tới thầy cũng giảng, giảng có 4-5 phút à, giảng vừa gọn vậy mà Phật tử người ta thích, người ta cứ tới hoài. Nhờ giảng ít mà hay. Nên nói là ở vùng sâu, vùng xa như thế này mà quý ni sư dựng được cái ngôi Pháp Bảo vậy, phải có một cái kế hoạch để độ chúng sinh, đưa chúng sinh về chùa. Tuy nhiên, có những trường hợp mà khi Phật tử họ chưa có quen với Phật pháp nên
[7:11]cái những giáo lý mà nói cho người ta nghe nó phải thiết thực hiện tại. Đó là điều mà hôm nay chúng ta trao đổi với nhau. Chúng ta phân tích với nhau cái lời nói của Đức Phật. Đó là hồi thời Đức Phật có nhiều cái đạo lý thời đó đưa ra lắm mà nhiều đạo lý sai. Đến khi Đức Phật Ngài xuất hiện, Ngài mới tạo mở ra một con đường mới, một chân lý mới là Phật pháp để chỉnh đốn lại những cái suy nghĩ sai lầm của cái đạo học Ấn Độ vào thời bấy giờ. Vì thời đó nhiều giáo phái tranh luận lung tung mà tà kiến cũng nhiều. Cứ đợi đến Đức Phật xuất hiện, nhưng mà đủ thứ giáo pháp hết trơn như vậy rồi người ta không biết thế nào mới là một giáo pháp đúng, một giáo pháp sai.
[7:52]Đức Phật mới định nghĩa thế này, nói: "Pháp là thiết thực, hiện tại, không thời gian, đến để mà thấy, được người trí tự mình tin hiểu". Đây là một loạt những tiêu chuẩn mà Đức Phật xác định thế nào là giáo pháp, một giáo pháp chân chính: thiết thực, hiện tại, không thời gian, đến để mà thấy, được người trí tự mình chứng hiểu. Đó là Phật định nghĩa như vậy. Và hãy y cứ vào đó để biết đó là một giáo pháp đúng hay không hay là sai. Giờ chúng ta phân tích nhau một chút xíu. Yếu tố thứ nhất mà Đức Phật nói về là tính chất thiết thực, Phật pháp là phải thiết thực. Thiết thực nghĩa là làm sao? Thiết thực nghĩa là thứ nhất là thực tế,
[8:36]là giáo lý của đạo Phật phải thực tế, nói những điều có trong cuộc sống, chứ không nói những điều sai lầm, những điều không có trong cuộc sống. Cho nên thứ nhất là phải thiết thực, không có nói chuyện mơ hồ. Mà cái thiết thực đó nó còn có nghĩa là vừa là thực tế mà vừa là đúng sự thật nữa. Thực tế nghĩa là trong cuộc sống chúng ta nghe nói cái đó chúng ta áp dụng vào đời sống của mình, chúng ta thấy có hiệu quả, có kết quả. Đồng thời giáo pháp đó là nói những điều có thật, chứ không phải là nói những điều huyền hoặc từ mình chế ra, mình đặt ra, bịa ra mà nói. Không được, không được tưởng tượng ra để mà nói.
[9:12]Đây là cái tính chất của giáo pháp, nên Đức Phật nhiều khi Ngài nói xong là nói suốt 45 năm ta chưa hề thuyết pháp. Nhiều người sẽ thắc mắc mà nói tại sao Phật nói cái pháp cả 45 năm mà bây giờ Ngài lại phủ nhận là Ngài không hề thuyết pháp? Là bởi vì thế này, ý Ngài nói là Ngài không có đặt ra. Ngài không hề tưởng tượng, Ngài đặt ra một cái giáo pháp để cho mình phải theo, mà Ngài chỉ nói những điều nó có thật trong đời sống, trong vũ trụ, trong nhân sinh, trong kiếp người này. Và vì vậy, cái ý nghĩa mà thiết thực là thực tế, là những điều không phải tưởng tượng đặt ra. Ví dụ như bây giờ có một cái ông thầy nào đó,
[9:45]một giáo chủ nào đó ổng đến nói với mình, ổng nói là ổng có cái đạo hay lắm, ai bước vô đó ngồi tụng niệm rồi mặc cái áo mà hở lưng, hở tai, một chân có ống, một chân không có ống thì sẽ mau đắc đạo, ví dụ vậy, thì đó là một cái đạo không thiết thực vì ổng tưởng tượng ra. Ổng tưởng tượng ra rồi nói ai theo là sẽ được thì cái đó không phải là giáo pháp chân chính. Cái giáo pháp chân chính là không đặt ra một cái thế giới mới, mà chính là nói những điều có trong cuộc sống. Ví dụ người ta sống, người ta phải ăn, phải ở, phải nói chuyện với giao tiếp, rồi có người có gia đình, có người không có gia đình.
[10:21]Đó, những điều đó là điều mà giáo pháp phải giải quyết, chứ không phải là nói những điều xa xôi, kỳ lạ mà không có thực. Nên phải làm sao là cái giáo lý đó phải gần gũi trong cuộc sống, phải áp dụng vào trong đời sống được. Đây là một cái yếu tố để chúng ta nhớ. Khi chúng ta nghe pháp, chúng ta biết giáo pháp đó đúng hay không đúng là vậy. Ví dụ một người nói giáo pháp mà họ nói chuyện đâu ở trên mây trên trời, không dính gì đời sống của mình hết thì mình hiểu ngay cái này không phải giáo pháp của Phật. Đây là một định nghĩa đầu tiên. Cho nên có những vị mà khi giảng pháp cứ nói những điều trong
[10:52]kinh xa xưa, coi vậy chứ lại sai tinh thần Phật pháp. Bởi vì sao vậy? Bởi vì cái tinh thần của Phật pháp là nói những điều ở trong đời sống người ta áp dụng được. Ví dụ như cái người có hoàn cảnh khác nhau, là có người giàu, có người nghèo, nhưng mà khi nghe một bài pháp họ đều áp dụng được vào trong hoàn cảnh của họ hết thì đó mới là giáo pháp. Ví dụ cái người nghèo họ phải buôn gánh bán bưng, đi làm vất vả, ít khi có tiền để tiêu, là sống cái gì cũng phải dè xẻn, thì khi nghe một bài pháp, trong bài pháp đó nói một cái điều gì đó không biết nhưng mà họ về trong cái cảnh nghèo của họ, họ bắt đầu họ an vui,
[11:27]họ tu dưỡng được đạo đức, họ làm được những điều thiện nho nhỏ rồi cuộc đời họ qua một tháng sau họ cảm thấy có một cái hạnh phúc, qua một tháng sau nữa cái hạnh phúc đó lớn thêm chút nữa thì đó chính là giáo pháp của Phật. Đó là người nghèo. Còn cái người giàu cũng vậy, ví dụ như người giàu có xe có cộ, có tiền có của, thì khi đi nghe giáo pháp thì họ cảm thấy đạo đức họ tăng trưởng, cái ỷ giàu của họ nó giảm bớt xuống. Họ đối với cái người nghèo họ thấy họ thương quý hơn, họ bớt có cái khinh bỉ. Thì khi họ bớt khinh người nghèo, tự nhiên lòng họ thấy họ vui hơn, họ độ lượng hơn, hạnh phúc hơn thì đó là giáo pháp.
[12:04]Nghĩa là phải nghe làm sao mà người giàu nghe cũng lợi ích, người nghèo nghe cũng lợi ích. Tại vì có những cái tâm lý mà làm cho chúng sinh đau khổ là ở chỗ là người ta ghét nhau. Ví dụ như cái người nghèo á thấy cái người giàu thì ganh tị rồi ghét rồi nói xấu. Mình không giàu được như người ta, mình ganh cái người giàu. Rồi cái người giàu ỷ mình giàu, coi thường cái người nghèo. Ví dụ thấy cái người nghèo đó họ ít học, nhiều khi họ đến chỗ đông người họ lại nói lớn tiếng, tức là cái chứng tỏ là họ ít học. Vì cái người mà có văn hóa đến chỗ đông người mình nói vừa đủ nghe, không có nói oang oang bắt ai cũng phải nghe mình.
[12:39]Thế nhìn vô cái người giàu mới nghĩ trong bụng: "Dân gì đâu mà kém học, thất học, kém văn hóa", cái nghĩ trong bụng bực bực. Thì cái đó là cái kiêu ngạo của người giàu, mình không biết thương người nghèo. Nên thế giới cứ như vậy, cứ người này ghét người kia và cho cuộc sống càng lúc càng đau khổ là vì vậy. Thì khi đến với giáo pháp, họ phải được cái điều là cái điều đó mất đi. Nghĩa là cái người nghèo mà thấy cái người giàu họ biết quý trọng, bởi vì họ biết cái người giàu này đời xưa có làm phước nè, biết làm phước, biết thương người nên bây giờ được giàu. Còn mình không giàu bởi vì kiếp xưa mình có cái bỏn
[13:13]xẻn gì đó, chắc chắn, nên quý gặp người giàu quý. Rồi cái người giàu cũng vậy, người giàu gặp cái người nghèo thì thương. Thương là nói: "Mình cũng may mắn là có làm chút phước, còn những người kia họ không biết làm phước nên họ nghèo, nên mình cầu mong làm sao cho họ biết được đạo lý, họ biết làm phước để mai mốt họ đừng khổ nữa". Thì dù có khi họ ăn nói hơi thất thố một chút, cái tư cách họ hơi kém một chút, nhưng mình cũng có cái thông cảm, có cái thương. Thì cuộc sống như vậy là tốt đẹp, mà giáo pháp phải đem được điều đó. Hoặc là cái người nghèo họ không có cơ duyên đến với Phật pháp, nhưng khi đến nghe giảng thì trong Phật pháp cho
[13:52]họ một cái cuộc sống an vui với cái nghèo của họ. Ví dụ bây giờ là họ chưa thể chuyển được nghiệp, chưa có thể làm được nhiều cái điều phước để có thể phát triển được cái đời sống của mình lên, để có thể được may mắn hơn mà chưa được như vậy nên họ nghèo. Thì khi họ đến với Phật pháp, Phật pháp dạy cho họ một cái đời sống đơn giản và biết đủ. Nghĩa là họ khó khăn thì khi đến chùa dạy cho họ cuộc sống biết đủ. Thì thôi bây giờ lỡ ngồi nghe ghế không dựa cũng thôi an ổn ráng ngồi, từ từ mới kiếm sau. Rồi về ví dụ như họ thiếu, họ vui trong cái thiếu của họ. Họ xem cái thiếu đó là một cái may để họ rèn
[14:28]luyện, họ biết đủ và diệt trừ cái tham. Tức là họ nhờ giáo pháp nên họ vui được trong cuộc sống của họ, và giáo pháp phải đem cho họ cái niềm vui đó. Rồi trong cái khó khăn đó, trong cái biết đủ, trong cái đơn giản đó, họ bắt đầu biết làm phước. Nghĩa là vì không có tiền nhưng mà có công, rồi họ sẽ đi đến thăm chùa Pháp Hải và họ thấy cái con đường đi từ ngoài đường nhựa vô đây con đường lầy đó, nó sình lầy, họ vác cuốc họ đắp để cho ai đi đến chùa đều dễ dàng, không bị lầy lội là họ biết làm phước, họ vui trong điều đó. Và chúng ta sẽ thấy cái người nghèo không có đồng nào, vậy mà vác cuốc đi đắp đường cho người ta đi á,
[15:05]rồi sẽ thấy mình có cái niềm vui mà nhiều khi người giàu không có. Rồi cuộc đời mình sẽ bắt đầu may mắn lên dần dần. Thì giáo pháp phải dạy cho người ta cái điều thiết thực, thực tế đó của người nghèo. Rồi người giàu cũng vậy, người giàu đâu phải là không có những cái buồn trong cuộc sống. Cho nên có cái năm nào thầy nhớ TV chiếu một loạt phim là "Người giàu cũng... cũng khóc". Có coi phải không? Đó, mấy người này nghiên cứu kỹ lắm nha, hay lắm chứ không phải chơi đâu, người nghèo không biết. Người giàu vẫn có những cái ngang trái, cái khổ sở của người giàu chứ không phải dễ. Thì khi đi đến với giáo pháp vậy, thì trong cái giàu sang đó họ phải lo toan,
[15:38]phải bảo vệ, phải cạnh tranh, phải đấu tranh, phải giữ gìn cũng cực khổ ghê lắm. Rồi trong cái giàu nó có cái sinh tật nữa. Trong gia đình mình tự nhiên tự nhiên ông chồng ổng sinh tật, cái bà vợ sinh tật, cái con cái nó hư. Những cái đó cũng khổ sở vô cùng. Thì khi đến chùa thì giáo pháp của Phật phải giúp họ giải quyết những điều đó, chứ không phải là trên mây xanh. Chứ không phải đến gặp ông thầy cô nói: "Thưa thầy, chồng con giờ ổng có vợ bé, con con giờ nó hút xì ke. Giờ cô dạy con làm sao?". Cái cô dạy: "Ờ thôi con niệm Phật nữa cầu vãng sanh đi con". Rồi không bao giờ tới chùa nữa, giáo pháp nó không thiết thực. Phải không?
[16:11]Không thiết thực. Cái giáo pháp là phải thiết thực, phải làm sao cho thằng con hết xì ke là đầu tiên cô dạy là: "Phải đem công an lại bắt nó đi vô cai giùm". Đó là thiết thực. Nói: "Ủa, trong kinh Phật có dạy vậy hả?". Nói: "Kinh Phật chưa dạy nhưng mà cô mới chế ra", nó cũng vậy, kêu công an bắt đi cai giùm cái. Rồi nói: "Giờ chồng con có vợ bé làm sao?". Có vợ bé thì thôi đừng kêu đi đánh ghen kinh Phật không dạy cái đó, để mình nghĩ ra cái nào mới, là phải khuyên lơn ổng làm sao rồi phải ráng, đại khái làm sao chuyển nghiệp gì đó. Cô mới nói: "Ờ, vì kinh Phật cũng chưa có cái dạy cái vụ mà giải quyết mà chồng có vợ bé làm sao
[16:43]cho nên cô cũng chưa có biết, nên để ít bữa ba bữa nữa cô nghĩ ra chỉ cách". Rồi bắt đầu là mình cùng thực hiện để kéo ổng về. Sự thật nói thì nói đùa, nhưng mà trong những điều éo le đó cuộc sống vẫn thường xảy ra và phải làm sao cho người Phật tử á họ vui, họ bớt khổ và họ từ từ họ giải quyết, gỡ được những điều đó ra. Thì giáo pháp phải thiết thực điều đó, chứ không có nói trên mây xanh. Người nào đến với đạo Phật cũng được lợi ích, mà cái lợi ích là họ áp dụng vào trong đời sống, trong gia đình họ được, chứ không phải là quay lưng với cuộc sống. Rồi tìm một cái gọi là cầu an đó, thủ phận hay là trốn né mà an, không bao giờ đâu.
[17:21]Vì sao vậy? Bởi vì nghiệp, nghiệp nó làm mình đau khổ thì mình phải chuyển chứ không có trốn nghiệp được. Giống như Đức Phật nói đó, nghĩa là không thể nào vào trong hang sâu, trong núi cao, dưới đáy biển hay trên không trung mà trốn được nghiệp. Ở đâu nghiệp cũng đòi cho bằng được, là nếu chúng ta có những điều đau khổ trong cuộc sống, trốn đâu nghiệp cũng đòi, bước vô chùa trốn rồi vẫn đau khổ triền miên. Nghĩa là ngồi tụng kinh mà nhiều khi nhớ chuyện nhà rớt nước mắt, cái nỗi đau khổ nó vẫn đè nặng trong trái tim của mình. Chỉ trừ trường hợp mình giải quyết cho nó xong mới hết thôi. Còn ví dụ như quý thầy, quý cô mà rảnh việc đời,
[17:55]có thể bước vào xuất gia được, bởi vì nghiệp thế gian nhẹ. Được cái phước là nghiệp thế gian đời trước họ ít gây, họ có cái phước rồi vào chùa xuất gia được. Còn mình bị rồi thì không tránh được thì cứ phải giải quyết. Và đạo Phật cho mình cách để giải quyết cái đó. Rồi trường hợp cái người đến với đạo, người căn cơ dày mỏng khác nhau. Có người vừa vô chùa cái giống như về lại quê hương của mình, thấy cái tượng Phật thân thương vậy là muốn lạy liền, thấy cái tà áo nâu, tà áo vàng là thương mến liền. Vì đời xưa làm sao? Đời xưa đã từng tu tập, từng đi chùa hoặc đã từng ở trong chùa. Rồi bây giờ sinh qua cái quên,
[18:31]nhưng mà khi gặp lại cái cảnh chùa thì thấy thương nhớ. Có người vậy, nhiều khi chưa biết đạo Phật, chỉ nghe tiếng chuông chùa gõ tiếng boong một cái, giống như là nhớ cha nhớ mẹ, đi tìm về chùa liền. Thì đó là người có căn cơ dày. Rồi đến nơi á, nhiều khi không gặp, không nghe quý thầy, quý cô dạy nhiều. Vô chào quý thầy, quý cô xong, cái quý thầy, quý cô kêu: "Con con con ra đằng sau, con xách nước giùm thầy." Ông thầy đó ổng cũng chẳng biết mình quen lạ, kêu: "Con đi gánh nước giùm, đổ lu giùm," là đi gánh liền, mà vui vẻ. Đó đó, người đó là có cái thiện căn sâu dày, nên người đó dễ dạy. Thì đạo Phật, tự nhiên cho tụng kinh,
[19:04]nhắc nhở đạo lý sơ sơ là áp dụng được trong cuộc sống liền. Nhưng có những người căn cơ mỏng, cái duyên với đạo Phật rất là ít. Cái duyên với đạo Phật rất ít là sao? Ít là cái này: nghĩa là kiếp trước á, hổng hề biết đạo, cho tới chết cũng chẳng biết đạo Phật. Nhưng mà may là ở trong nhà có người biết đạo, khi chết rồi cái người nhà mới thỉnh quý thầy, quý cô lại tụng cho mình. Thì lúc mình chết, cái thần thức mình đang mờ mịt, thì nhờ quý thầy, quý cô tụng kinh đó, cái thần thức mình cái tâm mình mới nương theo cái tiếng tụng niệm của quý thầy, quý cô, cái bắt đầu cái mới có lòng hướng về Phật pháp.
[19:35]Rồi cái người nhà đem mình về Bình Hưng Hòa thiêu luôn, thiêu xong cái lấy cốt đem vô để trong chùa gửi trỏng luôn. Gửi trỏng để cho tu, thế là mình theo cái nguyện lực và theo cái cốt mình để cái mình ở trong chùa luôn. Thế là lúc sống thì không hề biết Phật pháp, tới lúc chết rồi đó, là mới để hũ cốt được trong chùa thì cái thần thức, cái hương linh cứ lẩn quất lẩn quất trong chùa rồi bắt đầu nghe quý thầy tụng kinh, niệm Phật rồi dần dần cái tâm mới yên lần lần để lại ở già lam nằm đó. Rồi đến duyên đầu thai cái sinh vào gia đình ai đầu thai lại. Khi đầu thai lại thì không biết gì Phật pháp, cái duyên rất là mỏng.
[20:10]Duyên rất là mỏng, nhưng mà nhờ lúc chết mình có ở trong chùa nên bắt đầu có cái duyên. Thì một ngày đẹp trời nào đó, cái ai rủ đi chùa, cái bị cái duyên là mà lúc mình chết cốt mình để trong chùa mà, cái có ai rủ đi chùa thôi cũng đi. Cũng đi mà nghe cái gì cũng thấy làm lạ hết trơn, không nhớ, thấy hổng thích nhiều. Vô cái bữa nay ăn chay, cái trong bụng cũng là: "Chà, ăn chay sợ xót ruột." Cái dọn cơm rồi dòm tới dòm lui thấy légume, tàu hũ đồ không á, bụng cũng buồn buồn. Tại cái duyên lành không có, ít. Rồi kêu lên chùa quỳ lạy tụng kinh, cái nó quỳ đau đầu gối mà tụng sao cái điệu nó buồn quá, ê a hoài nó không bằng cái nhạc
[20:46]pop, nhạc rap, nhạc gì đó, nhạc đứt, nhạc rai rap, nhạc nối gì đó thì thầy không rành lắm. Thì đại khái sao nó không bằng, nghe ê a buồn quá, giống vọng cổ quá, nói đại khái vậy. Nghĩa là cái gì lại ai lạy thì mình cũng lạy theo, vì còn chút xíu duyên cho nên mình không đứng lên bỏ đi ra, thì cũng ráng theo cái thời kinh tụng mà lòng nó không khoái, không vui. Là biết là cái người này đời trước hổng biết tu mà chỉ có lúc chết lỡ cốt để chùa thôi. Thì những người này phải nói rất là khó độ, nhưng mà Phật pháp cũng phải độ cho được hết. Nghĩa là Phật pháp khi mà có yếu tố thiết thực rồi thì người nào cũng sẽ được độ.
[21:20]Là sao? Cái người mà thiện căn rồi thì dễ. Ví dụ nói: "Con phải tin có nhân quả nha, hễ là làm bậy là mai mốt khổ à. Còn làm cái điều đúng, mình giúp người thương người thì sau này được hạnh phúc, có nha," cái tin liền. Là cái người mà có thiện căn tin liền, là về nhà mỗi khi làm cái gì là cân nhắc, hổng biết điều này đúng điều này sai, mình làm này người ta có buồn hay không. Đó, cứ cân nhắc, giữ gìn cái đạo đức, giữ gìn nhân phẩm và luôn luôn kiểm soát ba nghiệp của mình: hành vi, lời nói, ý nghĩ kiểm soát. Người đó có thiện căn. Còn cái người không có thiện căn hổng tin, nói: "Mày làm người ta khổ mai mốt mày khổ à." Ngồi ngơ ngơ cười cười, nói:
[21:56]"Làm sao mà khổ? Đời này mạnh được yếu thua, chứ làm sao mà mình làm người ta khổ mình khổ?" Cái người không có thiện căn thì họ suy nghĩ ngược lại liền, trong tâm họ có cái phản kháng. Ví dụ họ chưa mở miệng nói ra thì họ cũng cười cười cười cười, thấy họ cười nhạt nhạt là biết họ hổng tin, bởi vì người này không có thiện căn. Nhưng mà giáo pháp Phật cũng phải độ được người đó, phải nói làm sao đó mà thiết thực, cho họ thấy thiết thực là họ phải tin. Và đây là cái giỏi của một người giáo hóa trong đạo Phật, của một giảng sư hay của một giáo thọ. Gặp cái người mà bướng bướng hổng tin, nhân quả hổng tin, thì phải có cách nói thiết thực để người ta tin.
[22:31]Cách thiết thực thì nó nhiều cách. Cách thứ nhất là kể chuyện. Ví dụ mình là người đời với nhau, nói: "Hồi xưa đó, tôi là cũng hổng tin nhân quả như em vậy đó, nhen, nhưng mà tôi thấy trước mắt ở trong cái xóm của tôi, có cái ông đó hồi xưa ổng nghênh ngang, ổng giàu có ổng ăn hiếp người này ăn hiếp người kia, người nào cũng khổ vì ổng, cả cái làng khổ vì ổng. Tới chừng khi chết, không có một manh chiếu. Nghĩa là con cái thất lạc đi tứ tung, ổng chết cô độc có một mình và nhà đó là cái nhà người ta đã lấy mất, chết bờ chết bụi không có manh chiếu đắp lên, tôi thấy rõ ràng." Thế mình kể chuyện rồi kể nhiều chuyện
[23:07]nữa, bắt đầu mới chứng minh trong đời thế này thế kia vậy đó, lần lần, để cho cái người mà họ dù có cái căn cơ họ mỏng, duyên với Phật ít, bắt đầu biết sợ, biết sợ từ từ. Kể chuyện: "Nói hồi xưa ở cái xóm tui, có cái bà đó bả nghèo, nghĩa là bả chỉ gánh cái gánh chè đậu đen đi bả kêu đầu làng cuối xóm bả bán, nhưng mà đi đường bả thấy cái miếng chai là bả lượm bả bỏ vô, hay là thấy có sình có lội cái hố nào là bả đắp cho người ta đi, cứ vậy đó, vừa đi bán mà làm phước, vậy chút chút vậy mà tới chừng bả già bả báo trước cái ngày chết, con cái về đầy đủ, là gia đình nhà cửa là xây được lên đàng hoàng,
[23:42]con cái nên người hết." Mình nói như vậy, nghĩa là dù có tích một chút đức, vậy mà nó vẫn có cái kết quả về sau. Nghĩa là đối với những người căn cơ mỏng, mình kể chuyện rồi chứng minh từ từ. Nghĩa là đạo Phật là cái đạo thiết thực là như vậy, chứ không có mơ hồ. Cái thiết thực của đạo Phật, cái người xuất gia đó lìa xa thế gian rồi vẫn được lợi ích, mà cái người tại gia sống chìm trong thế gian đủ thứ phức tạp cũng được lợi ích, đó là cái thiết thực của đạo Phật. Ví dụ cái người đó xuất gia rồi thì không có gia đình, à không phải đi làm ăn vất vả, rồi cách biệt đối với thế gian, đại khái là sống nhờ vào sự giúp đỡ Phật tử thôi,
[24:20]thì giáo pháp đạo Phật rõ ràng là rất nhiều bài kinh dạy cho người ta cách tu hành, để từ một đời sống thanh thoát đó, người ta vượt lên từ từ để tiến tu, được giải thoát luôn, rất là ích. Còn người tại gia đủ thứ chuyện phức tạp trong đời, phải lo cho gia đình, phải lo sinh kế, thì đạo Phật vẫn mở cho người ta hướng đi để người ta tu ngay trong cái cảnh động đó, tu ngay trong cái đời sống phức tạp khó khăn đó, là Phật pháp phải có đường luôn. Nghĩa là khi nói: "Thưa thầy, thưa cô, thấy quý thầy, quý cô vô chùa tu nó yên, chứ quý thầy, cô không biết đâu, tụi con ngoài đời tụi con phải lo đủ chuyện hết.
[24:55]Nghĩa là đóng thuế xong, tháng sau tới thuế kêu nữa. Con mới đóng tiền học xong, bắt đầu tháng sau kêu đóng tiền học nữa. Rồi cái sợ làm bữa nay có, mai không, đủ chuyện phải lo, mệt lắm. Nói thiệt tụi con khó tu, lâu lâu tới thăm quý thầy, cô một chút cho vui vậy thôi chứ quý thầy, cô đừng kêu con tu, tu không nổi." Không được. Còn đạo Phật phải nói thế này: "Đạo Phật là dạy những người như tụi con tu á. Tức là tụi con càng bận rộn chừng nào, phải lo toan chừng nào thì đạo Phật là dạy những người đó. Chứ còn mà những người vô chùa rồi thì dễ rồi." Rồi vậy nói: "Ủa, tụi con bận rộn lo chuyện đời sao lo tu?" Đó,
[25:31]ngay trong cuộc đời là giáo pháp có con đường để cho ta tu. Rồi, "Vậy tu làm sao?" Thì xin hãy tới chùa mỗi ngày mỗi tuần, thì từ từ dạy chứ nói một lời sao hết phải không? Từ từ mình dạy người ta. Trong cái cách lo, cái khổ đó mà biết thương người, biết giúp người, biết vượt qua, biết kềm chế, biết sống tốt, không sân, không tham, chuyển hóa lần lần, ngay trong cảnh động đó từ mình mở ra một con đường an vui, rồi cái từ từ mở ra một con đường phước thiện, rồi từ từ hoàn cảnh may mắn đến với mình dần dần. Rồi người ta thấy tin. Nghĩa là hai năm sau người ta đi chùa, được quý thầy, quý cô dạy, dạy để giải quyết những
[26:08]vấn đề trong đời sống phức tạp người ta một cách đúng hướng. Hai năm sau bắt đầu đời người ta an vui, may mắn, là vẫn có những cái phức tạp như cũ, nhưng mà bỗng nhiên tâm an vui và may mắn nó đến dần dần. Thì đạo Phật thiết thực như vậy, đem đến kết quả thật sự cho người ta ngay trong cuộc sống, phải như vậy. Mà Đạo Phật dạy có người mà tin Phật pháp thì được lợi ích đã đành, mà cái người không hề tin Phật pháp mà khi nghe giảng áp dụng được vẫn được lợi ích, vẫn được hạnh phúc luôn. Ví dụ gặp cái người đó trẻ tuổi, học cao, không tin gì hết. Thì khi đến chùa, bạn bè rủ đến chơi vui thôi chứ chả
[26:44]thèm để ý, chả tin Phật, chả tin quý thầy, cô. Thấy quý thầy, cô úi họ cũng như mình vậy thôi, cũng con người, cũng xác thịt có gì đâu hay. Có cái đầu cạo trọc lóc vậy khác một chút vậy thôi chứ có gì. Nghĩa là họ không tin. Nhưng mà khi họ nghe giảng một thời rồi họ phải thay đổi quan điểm liền. Họ thấy rõ ràng là Đạo Phật dạy người ta những cái điều sống tốt đẹp trong cuộc sống, dù họ không cần phải tin Phật, không cần phải vào chánh điện lạy Phật, nhưng mà nếu họ áp dụng được những lời dạy đó là không cần tin nhưng mà bạn hãy sống ở đời một cách khiêm tốn. Nghĩa là dù mình học giỏi phải biết đừng ỷ vào cái giỏi của mình.
[27:17]Mà gặp cái người dở hơn mình, biết nâng đỡ họ lên. Đó, Đạo Phật dạy như vậy. Thì cái người dù vẫn không tin Phật nhưng mà hãy sống khiêm tốn cái đã và hãy quý trọng mọi người chung quanh mình cái đã. Và cuộc đời mình tự nhiên có những niềm vui đáp lại. Còn nếu mình giỏi, không tin Phật đã đành đi, mà giỏi rồi coi thường mọi người thì cuộc đời cứ lận đận hoài, xin việc đâu làm cũng không được, làm được ít bữa người ta đuổi ra. Đủ thứ chuyện lận đận hết, hãy thay đổi đi. Thì cái người đó dù không tin Phật, không quý trọng thầy, cô về mà áp dụng được điều đó rồi họ vẫn thấy đúng hướng, cuộc đời họ may mắn,
[27:51]ổn định, vững vàng hơn, hơn là trước kia cứ lận đận hoài mặc dù họ rất giỏi. Có một lần vậy, có một lần cái người mẹ dắt người con trai lên chùa gặp thầy, thì bà nói người con trai bà giỏi, nhưng mà luôn luôn cứ lận đận và nhiều khi tuyệt vọng, muốn tự tử. Lên gặp, thì cái điều thầy nói đầu tiên là: "Tại con tự cao, con tự cao quá, con cứ tưởng con giỏi quá. Cho nên con lận đận. Thôi bây giờ con cứ tôn trọng mọi người đi, con cứ nghĩ mình không giỏi nữa. Bởi vì thực tế đã chứng minh con làm đâu con thất bại đó, thì thôi khỏi có tự cao, bây giờ con nghĩ mình dở giùm đi. Đó, con tôn trọng mọi người chung quanh đi,
[28:29]và muốn mọi người chung quanh giỏi hơn con đi, rồi năm sau lên gặp thầy. Nếu mà còn như vậy nữa, thầy sẽ bắt đền con một chiếc xe Honda Trung Quốc". Thì nó dù không tin Phật pháp, nó cứ áp dụng đúng cái đạo lý của sự khiêm hạ thì cái người đó cũng sẽ bắt đầu có cái ổn định trong cuộc sống mình. Và Đạo Phật thiết thực là như vậy, không nói chuyện mơ hồ. Nhưng mà trong cái thiết thực thế này, nó có những điều có thực mà mắt mình không thấy. Ví dụ như: các cõi trời, cõi địa ngục vân vân. Cái đó có thật, nó cũng là một điều thiết thực á, nhưng mắt mình không thấy. Thì bây giờ, ví dụ mình nghe nói Đạo Phật là thiết thực, người ta nói:
[29:01]"Thôi mình không có nói chuyện cõi trời, không nói chuyện cõi địa ngục. Vì sợ là không thiết thực", coi chừng lại sai. Vì sao? Vì cõi trời, cõi địa ngục là cõi có thật, Phật đã nói trong các kinh điển. Nên đây là điều mình phải không sợ, phải khẳng định. Ví dụ như ai nghe mình nói tới cõi trời, nói: "Thôi, sống trên đời nói chi cõi trời, mắt có thấy đâu". Nói: "Không thấy nhưng có". Giống như có nhiều cái điều trong cuộc sống này mắt không thấy mà có. Ví dụ sóng radio, sóng tivi mình có thấy không? Không. Nhưng mà có thật. Bởi vì nếu không có làm sao bật tivi lên có hình, thấy không? Khi mình mở tivi lên mà có hình thì rõ ràng là có cái
[29:38]sóng vô tuyến nó truyền tới cái tivi của mình. Mình phải bắt anten lên mình câu cái sóng đó. Sóng đó mắt không thấy, nhưng mà có. Thì trong cuộc sống này cũng vậy, ví dụ như cõi trời là cái mắt mình không thấy, nhưng có. Phật nói điều đó, chúng ta tin. Và cần phải có cõi đó để dành cho những người công đức rất lớn. Ví dụ như có người người ta nói vậy, mình nói khẳng định: "Phải có cõi trời để dành cho những cái người mà công đức rất lớn sinh về". Vì sao vậy? Phước họ lớn quá. Cái hành tinh, cái thế giới loài người này không xứng đáng để họ ở nữa. Cái hành tinh mà nay lụt, mai bão, nay ngập nước, mai hạn hán rồi nay chiến tranh
[30:13]rồi rồi mai hòa bình, không đáng để cái người đó sống. Bởi vì họ quá thánh thiện, phước họ quá nhiều, họ phải có cái cõi xứng đáng với họ để họ về. Cõi đó rất hạnh phúc, rất yên bình, muốn gì được nấy. Rất là tốt đẹp, phải có cõi trời. Thì cũng vậy, phải có cõi địa ngục để cho những người quá tệ, quá ác, quá bỉ ổi phải sinh về đó. Những con người mà sống trên đời không biết thương ai, chỉ mưu hại người này, ích kỷ, hẹp hòi, giành giựt người kia, làm khổ hết người này, làm khổ người kia thì người đó không xứng đáng sống ở cái cõi người này khi vui khi buồn này nữa, mà họ chỉ xứng đáng sống ở một cái chỗ mà chỉ thuần là nỗi đau khổ mà thôi.
[30:48]Thì phải có cõi địa ngục để dành cho hạng người đó. Cho nên tuy cái điều này không thấy được, nhưng nó vẫn là một giáo pháp thiết thực, mình không sợ. Chứ ai nói: "Ủa giảng pháp nói chi chuyện siêu hình?". Nói: "Không. Mặc dầu là siêu hình không thấy nhưng là điều có thật, phải nói vì Phật đã nói rất nhiều". Cho nên chúng ta theo lời Phật, chúng ta nói lại không sợ. Tuy nhiên, mình không được nói những chuyện huyền hoặc, phi lý. Ví dụ như kể một cái chuyện tích nói: "Mấy người ráng tu nha". Làm sao mà tu? Tại ngày xưa có con nai nó biết tu, mà sau này nó chết nó sinh cõi trời. Nói: "Con nai làm sao nó biết tu?". Tại vì con nai đó nó ở gần ngôi chùa,
[31:27]cái nó hay vô nó nói chuyện thầy trụ trì thôi cho nó ở nó tu, tại vì nó sắp chết. Cái chuyện đó thôi đừng bao giờ kể, là chuyện chuyện bịa, chuyện không hợp lý. Con nai mà biết vô nói chuyện rồi xin ở tu mấy ngày để trước khi chết lên cõi trời là chuyện xạo. Cho nên những chuyện nó không thiết thực, đừng kể. Nghĩa là chúng ta nói điều gì bảo đảm có thật, đôi khi siêu hình nhưng phải có thật. Còn cái chuyện mà giống như chuyện cõi y này mà này nọ, thôi đừng kể. Kể cái tính cách ngụ ngôn thì cho vui, phải báo trước người ta chuyện ngụ ngôn không có thật thì được. Chứ còn kể mà xác quyết: "Tin này có thiệt nha", là không nên.
[31:56]Điều đó nó mất cái tính thiết thực của Đạo Phật. Yếu tố thứ hai là hiện tại. Hiện tại nghĩa là cái giáo pháp nó phải phù hợp với cái thời hiện đại, chứ không được nói cái điều mà xa xưa, tích cũ mấy ngàn năm cứ lôi ra nói hoài, riết không ai chịu nổi. Quý phật tử có nghe vậy chưa? Ví dụ mình đi nghe pháp mà mấy thầy toàn kể chuyện đâu mấy ngàn năm hồi trong kinh nói hoài, nghe phát mệt, có không? Có không? Có phải không? Đâu nghe đâu mà biết có không có. Nghĩa là đạo lý phải gắn liền với thời đại, mà phải dùng cái ngôn ngữ của thời đại, chứ mình nói cái chuyện mà toàn cái ngôn ngữ của chuyên môn của kinh điển, người nghe nghe không nổi.
[32:32]Chỉ có những người mà chuyên học sâu mới hiểu tạm thời vậy thôi, chứ còn người mới nghe không được. Cho nên là cái ngôn ngữ phải ngôn ngữ của thời đại, mà nếu có kể chuyện, nên kể chuyện của thời đại. Ví dụ như nói nhân quả thì mình kể chuyện là Afghanistan, Iraq đồ gì đó, nghe nó lý thú một chút, nó vui một chút mà nó có thiệt mà nó thời đại, chứ đừng kể: "Ngày xưa ở một cái nước Kế Tân có một tôn giả", mình chả biết nước Kế Tân ở đâu mà tôn giả đó là gì. Rồi ví dụ như là có những cái khái niệm mà mấy ngàn năm qua, ví dụ như ngồi đó là hàng Thanh Văn, Duyên Giác, giờ chả biết Thanh Văn, Duyên Giác là ai.
[33:08]Cứ nói hoài Thanh Văn, Duyên Giác chả biết là ai. Có một lần vậy, có một cái sư cô đó làm một cái cuốn từ điển về Phật pháp cái đến trao đổi với thầy. Cái cô đưa ra trong một loạt, cô nói: "À, giáo pháp này dành cho Thanh Văn, Duyên Giác, giáo pháp kia Bồ Tát Đại Thừa". Mới quay lại: "Đâu mày chỉ thầy coi Thanh Văn, Duyên Giác là ai, chỉ coi?". Cái chỉ không ra, nói: "Con cũng không biết ai nữa, mà thấy trong sách nói vậy". Nói: "Thôi vừa, thôi bỏ giùm thầy đi. Tối ngày cái Thanh Văn, Duyên Giác không biết ai đâu mà Thanh Văn, Duyên Giác, rồi bày đặt chê bên đây Tiểu Thừa, bên kia Đại Thừa, mất lòng tùm lum hết trơn.
[33:37]Mình chê ngưởi ta Tiểu Thừa, người ta ghét chứ làm gì đâu. Rồi mình tự xưng mình Đại Thừa, thành ra mình tự cao. Tức là hai ba cái sai. Thôi, dẹp giùm cái vụ đó". Bây giờ mình nói thiệt trong cuộc sống hiện tại nè, tức là cái người đó ít duyên Phật pháp, người đó có thiện căn nhiều, nghe vậy nó dễ hiểu phải không? Đó, cái người đó là người tốt, người kia người xấu, người nọ có đạo đức, người này ít đạo đức, nói vậy dễ thấy. Tối ngày cái Thanh Văn, Duyên Giác, chuyện đời xưa thôi bớt đi. Cho nên là Đạo Phật là phải giải quyết những vấn đề của hiện tại. Những vấn đề hiện tại của thế giới là cái gì?
[34:06]Ví dụ như vấn đề tôn giáo cực đoan, à hồi xưa không nghe tôn giáo cực đoan, bây giờ có những cái tôn giáo cực đoan mà ví dụ ai không theo đạo của họ, họ giết. Bây giờ mình đến mình sống gần của họ, họ bắt mình theo đạo, mà nếu không theo thì dọn nhà đi chỗ khác á, để ở lâu họ giết liền. Họ quăng trái lựu đạn vô cho nổ sập cái nhà chơi. Thì có những những vấn đề đó phải giải quyết làm sao? Chứ không có nói chuyện xưa tích cũ nhiều nữa. Rồi ví dụ như là cái chuyện mà cái người có phước, khi có phước rồi họ có thế lực, khi họ có thế lực rồi cái họ hay chèn ép cái người yếu thế. Ví dụ bây giờ họ có cái miếng đất rộng,
[34:41]à cả mẫu, nhưng mà cái góc cuối cùng của họ hơi lõm vô tại có cái nhà của người nông dân họ ở đó, cái họ thấy miếng đất họ không đẹp. Cái họ kêu cái người nông dân đó: "Bán cho tôi để miếng đất tôi cho vuông". Người nông dân nói: "Trời, nhà mồ mả tổ tiên tôi ở lâu dài ở đây, bây giờ bắt bán đi đâu? Mà bán mua giá rẻ quá làm sao bán được?". Thế là cái người này mới dùng thế lực mua chuộc chính quyền, kêu chính quyền tới o ép, ăn hiếp đồ rồi nửa đêm tới cho người đập sập cái nhà người ta luôn. Người ta sợ quá lật đật cái người ta bán tháo bán đổ người ta chạy đi mất. Tức là mình ỷ cái phước mình, dùng thế lực lớn mình chèn ép người cô thế.
[35:14]Mà đó là một chuyện nhỏ, trên đời còn nhiều chuyện khủng khiếp hơn cái đó nữa. Thì Đạo Phật mình phải nói những điều đó và giải quyết những điều đó, làm sao cho con người ta sống kiềm chế lại, thương yêu nhau hơn. Đó những điều đó của hiện tại, chứ đừng có kể chuyện xa xưa nhiều quá mệt. Rồi vấn đề của thời đại nữa vấn đề phá rừng. Đó, rừng là cái nôi tạo nên cái sự sống cho cái thế giới này, mà con người ta quay lại giết cái nôi của mình, chặt phá rừng hàng ngày, hàng giờ. Rừng nó mất dần dần thì cái nôi mà ngày nào mất hết rồi thì cuộc sống trên thế giới này cũng tiêu diệt luôn. Thì đó là vấn đề của hiện đại.
[35:47]Là cái người trong Đạo Phật của mình, dù là người xuất gia hay tại gia, cũng phải biết khuyên bảo nhau bảo vệ những màu xanh. Nghĩa là bảo vệ rừng, rồi quanh làng quanh xóm mình có những cái cây nó mọc á, cái nhiều người tới cưa mình cản, mình nói đừng, nếu không có quá cần thiết đừng cưa cây này. Tại vì một cái bóng cây thì vẫn là giữ được một cái mầm sống cho nhân loại, chứ đừng đụng đâu chặt đó, đừng đụng đâu phang, quơ đó, không nên. Đó là những vấn đề mà đạo Phật mình phải giải quyết của hiện tại. Hoặc là vấn đề cờ bạc, rồi đi đâu hễ rảnh chút móc cái bộ bài ra ngồi đánh với nhau trong hóc, trên xe đồ đâu ôi quá chừng chỗ.
[36:21]Quý Phật tử có thấy không? Thấy không? Sao đi đâu thầy cũng thấy đánh bài, riết người ta không còn cái gì vui nữa là đánh bài mới là vui. Mà không biết vui gì trỏng, không biết ai ghiền bài nói thầy nghe vui gì trỏng thầy cũng chả biết. Cứ đụng đâu móc đánh bài. Và những cái đó làm cho tâm hồn người ta cái nó thấp xuống dần dần, thấp xuống gì? Bởi vì mình muốn lấy tiền của người khác bằng một cái hên xui, rồi chưa nói lừa gạt nha, chưa nói là cờ gian bạc lận, mà chỉ nói là bằng một cái may là cái tiền của người kia trong túi người ta biến thành trong túi mình, chỉ qua một cái may rủi thì cái đó nó vừa ác, vừa tham và đạo Phật mình phải khuyên
[36:53]người ta từ bỏ cái niềm vui kiểu đó đi, không nên. Bởi vì nếu mà cứ nhiều người đánh bài như vậy chúng ta thấy cái đạo đức của xã hội nó sẽ xuống dần dần, xuống dần dần hết rồi nó hư hỏng cả cái xã hội này. Cho nên có nhiều người hay tham đánh bài rồi cái nhiều nhà nước họ thành lập những cái sòng bài, những casino để cho những người ghiền bài thì cứ vô đó đánh. Nhưng mà đâu biết rằng nó cũng là những cái mầm mống, những cái ổ của tội phạm, rồi từ nơi đó sản xuất ra những con người không có đạo đức, rồi vấn đề ma túy, vũ trường, vân vân. Tức là nhiều vấn đề của thời hiện đại mà chúng ta phải đem
[37:25]đạo lý của đạo Phật để giải quyết giùm cho thời đại, chứ đừng có nói cái chuyện xa xưa nhiều quá, không được. Nên đạo lý phải gắn với cái đời sống và cái tâm tình của người nghe trong hiện tại, cái người nghe họ đang ưu tư những điều gì thì đạo lý phải giải quyết vấn đề đó giùm cho người ta, chứ đừng có nói chuyện xa xưa vậy. Tuy nhiên có thế này, ví dụ như thầy đi, thầy giảng cái giáo pháp nó phù hợp với thời hiện đại nên thầy nói những cái chuyện thời hiện đại không, rồi cái 300 năm sau cái thời đại đó thay đổi qua chuyện khác nữa thì bây giờ cứ đem cái giáo pháp thầy ra nói thì còn thích hợp không?
[37:56]Không, lúc đó đó phải có những người khác thay thế cái giáo pháp này bằng giáo pháp khác mới là vẫn đúng là đạo Phật nhưng mà lại phù hợp với cái thời gian của 300 năm sau, chứ không có giữ cái giáo lý ngày hôm nay hoài. Những điều phù hợp ngày hôm nay thì 300 năm sau không còn phù hợp nữa, phải thay đổi. Ví dụ như là sau thời Đức Phật á, khoảng 600 năm, 600 năm là xa lắm, lâu lắm rồi nha chứ không phải ít đâu. Nghĩa là 600 năm là lâu lắm á, thì giáo pháp mà thời Đức Phật bỗng nhiên không còn phù hợp, giáo lý cốt lõi á thì vẫn đúng, không bao giờ sai, nhưng những điều mà Phật nói trong thời đại đó qua 600 năm sau nó hết phù hợp,
[38:36]thế là có một số vị tổ Đại thừa mới mở ra một giáo lý mới là giáo lý Đại thừa, giáo lý phát triển để phù hợp với cái xã hội của Ấn Độ 600 năm sau. Thì 600 năm đó so với mình đây là cách mình khoảng nhiêu? 2000 năm. Thì cái giáo pháp Đại thừa cách đây 2000 năm cho tới bây giờ còn phù hợp không? Bắt đầu nó thành xưa rồi, bắt đầu nó cũng trở nên lạc hậu rồi. Mà nếu mình cứ khư khư giữ cái giáo pháp của cách đây 2000 năm nữa mình lại sai một lần nữa. Nên do vậy mà thời đại ngày hôm nay, của thế kỷ 21 này, chúng ta phải mở ra giáo lý mới, mặc dầu vẫn dựa vào cái cốt lõi của đạo Phật từ Đức Phật nguyên thủy, nhưng mà ngày hôm nay thế kỷ 21 phải có giáo lý mới.
[39:15]Và chúng ta phải phát huy để mà làm lợi ích cho cái thế giới hiện tại. Rồi 300 năm sau cái giáo lý ngày hôm nay không còn phù hợp nữa thì phải có một vị nào khác mở ra một giáo lý mới nữa. Tức là giáo lý phải mới hoài, luôn luôn phù hợp với cái thời hiện đại, mặc dù cái cốt đạo Phật thì không thay đổi. Đó là yếu tố hiện đại, yếu tố gọi là hiện tại của Phật pháp. Đừng có nói những chuyện xưa quá khứ, cũng đừng có nói quá xa về chuyện viễn tưởng tương lai chưa tới, nhưng phải giải quyết được những vấn đề hiện đại, hiện tại, đương thời của con người, mới lợi ích cho con người được. Đó là yếu tố thứ hai là thiết thực hiện tại.
[39:53]Tính chất thứ ba là không thời gian. Không thời gian có nghĩa là thế này, tại sao vừa mới nói hiện tại bây giờ lại nói không thời gian? Vì không thời gian tức là không quá khứ, không không hiện tại, không không tương lai. Nhưng vừa mới nói hiện tại sao bây giờ lại nói là không thời gian? Vì cái từ hồi xưa không có, chúng ta phải thông cảm là có nhiều cái từ ngày nay chúng ta có mà vào thời Đức Phật cách đây 2600 năm không có. Do vì vậy, khi mà chúng ta dịch cái từ của Đức Phật chúng ta phải đổi chữ lại. Ví dụ lúc đó dịch cái chữ là không thời gian thì bây giờ chúng ta phải dịch cái chữ là là Ai nghĩ ra? Nói lớn lên.
[40:34]Hồi xưa Phật nói là không thời gian thì bây giờ mình phải dùng cái chữ gì mới chính xác? Là đúng mãi mãi. Chịu không? Chữ này xài được không ta? Chịu không? Không ai chịu hả? Không ai chịu thì nghĩ ra chữ khác giùm đi chứ làm sao giờ. Thầy chỉ dịch được bao nhiêu đó à. Nghĩa là Phật dùng cái chữ là không thời gian thì ngày nay mình dịch là đúng mãi mãi. Được không? Chịu ha, không cự nữa nha. Chứ lát đi xuống dưới rồi nói cự, ông dịch trật để tôi dịch vậy hay hơn mà nãy hổng chịu nói. Đúng mãi mãi, dù trải qua nhiều thời đại khác nhau. Nghĩa là yếu tố của giáo pháp của Phật á dù thời đại có thay đổi nhưng mà yếu tố cốt lõi nó không bao giờ sai.
[41:15]Ví dụ, luật nhân quả. Luật nhân quả thì dù là trước Đức Phật cái luật nhân quả không bao giờ sai, phải không? Thời Đức Phật, sau Đức Phật tới bây giờ cũng không sai và mãi mãi vĩnh viễn về sau này cũng không bao giờ không bao giờ sai. Nghĩa là ai làm ác thì phải chịu khổ, ai làm thiện thì sẽ được hạnh phúc. Thì dù bất cứ thời đại nào cũng không bao giờ sai, ta gọi là đúng mãi mãi. Thì đây là một tính chất của giáo pháp là vĩnh viễn đúng, không bao giờ sai. Vậy khi chúng ta nói giáo pháp là phải đạt được yếu tố đó. Vừa thiết thực, thực tế trong cuộc sống, vừa phù hợp với thời hiện đại nhưng mà phải đúng mãi mãi.
[41:53]Chứ không được là mới đúng bữa nay qua ngày mai cái trật lất là không phải giáo pháp của Phật, phải đúng mãi mãi. Nó đã đúng từ ngàn xưa, đúng bây giờ và ngàn năm sau, triệu năm sau vẫn tiếp tục đúng thì đó mới là giáo pháp của Phật. Mà luật nhân quả là như vậy. Còn ví dụ như mà có những cái giáo lý nào đó mà bây giờ đúng, mai mốt người ta chứng minh nó trật là không được. Ví dụ thế này, như trong khoa học hay bị cái này lắm, như nói là đây là một cái vị thuốc làm cho người ta khỏe, tăng sức đề kháng, chống được cảm cúm, đó là thuốc gì? Thuốc gì? Vitamin C, đó có người nào biết thuốc giỏi đó. Vitamin C uống vô thì sẽ sao?
[42:33]Tăng sức đề kháng, nó là mấy chất chua đó, rồi trị cảm cúm, phải không? Nhưng mà 30 năm sau bắt đầu người ta phát hiện ra vitamin C uống nhiều thì sao? Sạn thận, kết sạn thận rất là dễ. À rồi nhiều cái rắc rối khác xảy ra nữa, đôi khi nó cũng làm yếu tim thêm nữa, cho nên cái C uống nhiều không phải tốt. Nghĩa là cái điều đó mới đúng 30 năm trước, 30 năm sau bắt đầu trật. Nhiều cái vị thuốc như vậy. Cho nên những cái điều đó nó không phải là cái chân lý vĩnh hằng. À ví dụ vậy. Ví dụ như vào cái thời mà quân chủ á thì cái đạo lý của xã hội thời đó là thế này, là đất nước này là của ông vua. Cái sinh mạng người dân nằm trong tay ông vua.
[43:15]Là vua bảo cái gì phải nghe lời cái đó. À đó là cái đạo lý hồi đó. Cho đó là đúng, ai mà đi ngược cái đó là người đó là người phản bội. Người đó không phải quân tử, không phải đạo đức. Cái người đó bất trung. À vào cái thời đó là như vậy. Nhưng mà sau này cái nhiều ông vua ông làm bậy quá, người ta chịu hết xiết, cái bắt đầu người ta đổi qua là cái đất nước này của ai? Đất nước này là của của dân. Phải không? Bây giờ hết của vua rồi bắt đầu dân dân làm chủ. Đại khái ai lãnh đạo, ai quản lý mình không biết, nhưng mà người dân là làm chủ, đại khái như vậy. Cho nên bây giờ là mọi việc là chọn cái người
[43:48]lãnh đạo thì dân họ đi bỏ phiếu họ bầu. Nhiều chuyện quan trọng thì trưng cầu ý dân, hay đại khái là như vậy, bởi vì dân làm chủ. Là cái thời đại ngày hôm nay mà ngày hôm nay coi điều đó là chân lý. Bây giờ mà mình mở miệng mình nói là đất nước này là của ông chủ tịch là điều đó là người vừa lạc hậu, vừa dốt mà vừa không đạo đức nữa. Đó đại khái bây giờ hễ nói đất nước này của ai? Nói: "Của dân. Còn ông chủ tịch nước này không phải, ổng chỉ là đầy tớ của dân thôi". Đại khái đạo lý bây giờ là vậy. Nhưng mà coi chừng, coi chừng trăm năm sau khác nữa. Coi chừng trăm năm sau đất nước này hổng phải của ông vua,
[44:20]cũng không phải của dân, mà không tới đó mới tìm ra chứ giờ không biết, nói trước, nói trước người ta bắt. Đại khái là như vậy. Có những cái nó chỉ đúng một thời gian, hoặc là thế này, vào cái thời đó cái tự do của con người không có vì người ta lệ thuộc vào ông vua. Vì vậy cái người ta phản kháng, người ta nói phản kháng lại nói con người phải có tự do, không có tự do không được, đẻ ra là phải có tự do liền, muốn gì làm gì cũng được hết, không được ngăn cấm. Bây giờ cái đó là đạo lý, nhưng mà coi chừng ạ, coi chừng trăm năm sau họ xét lại, nói không, con người ta mới đẻ ra mà cho đạo đức liền đó là mối nguy của xã hội.
[44:52]Tại đâu biết cái thằng bé có đạo đức hay không, phải không? Nếu nó có đạo đức á thì nó muốn làm gì, chắc chắn nó sẽ làm điều tốt mà thôi. Ví dụ bây giờ nó muốn đi chơi thì chắc chắn nó sẽ đi chơi chỗ tốt. Ví dụ nó muốn mua một cái búa thì chắc chắn cái búa đó đóng đinh nó làm mấy chuồng gà, chuồng vịt thôi chứ không bao giờ nó đi nó đập người ta. Thì nó muốn làm gì cũng được, tự do vì nó có đạo đức. Nhưng mà còn cái đứa mà nó không có đạo đức, nó cho tiền nó đi mua con dao, biết nó làm gì không? Liền nó lụi người ta. Hoặc nó mua búa thì nó đi nó đập đầu người ta. Cho nên cái người mà không có đạo đức thì không được quyền có tự do nhiều.
[45:23]Cho nên 100 năm sau nữa bắt đầu người ta mới xét lại khái niệm về tự do. Con người không phải ai cũng đáng được tự do mà tùy người thôi. Rồi 100 năm sau bắt đầu mới vụ mà hết cái vụ tự do này. Ờ bây giờ thì vẫn đang còn nói là tự do dữ lắm, nhưng mà 100 năm sau chuyện nó sẽ khác. Nên chúng ta thấy có những cái đạo lý, có những cái lý luận mà nó bị thay đổi theo thời gian, lúc trước đúng giờ hết đúng rồi. Nhưng mà đối với giáo pháp của Phật thì phải đúng mãi mãi. Ví dụ như thế này, ví dụ bây giờ nói là cái câu chú này nó tụng vô ly nước này uống hết bệnh. Thì vì mình bắt đầu mình tụng vô ly nước,
[45:58]mình tụng chú gì cái gì úm ba la úm ba la gì đó, cái mình đưa người ta uống, cái người hết bệnh thiệt nha, họ đau bụng đưa vô uống hết bệnh thiệt. Cái mình nói đúng cái này là chân lý. Qua 5 ngày sau cái mình cũng vậy có người tới nhức đầu mình cũng úm ba la úm ba la cái đưa người ta uống xong uống xong cái người ta té xỉu luôn, thì cái đó có phải chân lý không? Không phải Phật pháp, nó không ổn định. Nó nay đúng mai không thì cái đó không phải Phật pháp. Cho nên thôi cái úm ba la không được, vì phải úm ba vô gì đó. Cứ úm ba ra là không được rồi, vì úm ba vô. Cái đổi đi nữa. Nên chúng ta để gọi là giáo pháp hay là để gọi là ngồi trên pháp tòa
[46:31]mà nói giáo pháp hay là để chúng ta học hỏi giáo pháp, hay để chúng ta nói chuyện chúng ta san sẻ cái giáo pháp với một người bạn của mình cũng vậy, phải bảo đảm điều đó không bao giờ sai ạ. Nếu mà điều đó nay đúng mai sai thì đừng có nói, thì không phải Phật pháp. Ví dụ như vấn đề luật nhân quả là vĩnh viễn đúng hoặc là Tứ diệu đế. Tứ diệu đế là vĩnh viễn đúng nha. Trước Phật cũng vậy, thời Phật vậy, sau Phật cũng vậy, bây giờ cũng vậy và vĩnh viễn ngày sau thì con người luôn luôn đau khổ, phải không? Và nguyên nhân đau khổ luôn luôn là ích kỷ, phải không? Và luôn luôn có một cái Niết bàn để người ta giải thoát và luôn luôn con đường
[47:04]đi đến Niết bàn là Lá, Bát Chánh Đạo không có trật đường nào nữa hết trơn. Cho nên, bất cứ thời đại nào thì Tứ Diệu Đế vẫn là bất biến, vẫn vĩnh viễn đúng, cái đó Phật gọi là không thời gian. Hoặc là thiền định cũng vậy. Khi mà ngồi thiền để tâm hồn chúng ta thanh tịnh, chúng ta lắng sâu được những bợn đọng rồi từ từ đi sâu vào để hóa giải được cái bản ngã của mình, đạt được cái vô ngã thì đó là một con đường chân chính duy nhất. Thời nào cũng cần. Thời xưa ngồi thiền cũng có ích lợi, bây giờ ngồi thiền càng quan trọng hơn nữa và vĩnh viễn sau này, khi mà khoa học họ tiến bộ đến cái mức độ nào nữa thì thiền định vẫn luôn luôn quan trọng.
[47:41]Và xin thưa, 500 năm nữa, thiền định là điều cực kỳ quan trọng. 500 năm sau nếu con người không biết thiền, người đó không thể sống được trên cuộc đời này. Tại sao? Đây là một lời tiên tri nha. Thì Phật tử ráng chờ 500 năm sau đúng hay không. Nếu mà 500 năm sau không đúng thì lại đây thầy đền cho một chiếc xe Honda Trung Quốc. Tại sao mà 500 năm sau nếu mà không biết thiền định, không sống được trên cuộc đời này? Giống như bây giờ người không biết chữ, sống trên đời này sao? Rất thiệt thòi, không làm gì được hết. Đi đường lạng quạng đi tông xe, tại vì những bảng hướng dẫn mình không đọc được. Nghĩa là mọi cái mà giao dịch đều phải có qua văn bản, có chữ viết.
[48:23]Bây giờ cái thời này mà ai không biết vi tính là đã bắt đầu thiệt thòi rồi đó. Chừng 50 năm nữa mà không biết vi tính là người giống như người mù chữ. Nhưng mà 500 năm sau mà không biết thiền định là người không thể sống được trên đời. Nếu sống thì nói sống như một con thú nuôi trong nhà, không dám bước ra ngoài. Tại sao? Bây giờ nghe cái lời tiên tri nha. Bởi vì sau này, tất cả máy móc đều được điều khiển bằng ý nghĩ, bằng tâm, mà chỉ người tâm định được mới điều khiển được cái máy nha. Những cái máy móc về sau rất khủng khiếp. Ví dụ như bây giờ à một cái máy bay á mà muốn bay á, nó phải có cái cánh nó tựa lên không khí và nó có cái
[48:59]phun hơi phản lực ra để nó đẩy máy bay đi tới. Đó là nguyên tắc bay bây giờ. Còn về sau này, ví dụ 500 năm sau, họ không bay như vậy nữa, mà cái máy bay nó có thể không cần cái cánh, nên nó có thể cất cái hình dáng giống như cái nhà này cũng được, nó không cần cái cánh nữa. Và tự vật liệu nó thông minh, nó biết hóa giải trọng lượng, nó cất lên hay nó bay qua bay lại theo ý nghĩ của người ngồi điều khiển trong đó. Mà nó không chịu nhận mệnh lệnh bằng một cái nguyên tắc khác, không có nhấn nút. Mình nhấn nút truyền lệnh vào nó không biết, nó không đọc được. Cái máy của 500 năm sau không nhận lệnh được bằng cái điều khiển bằng bàn tay.
[49:32]Bây giờ mình điều khiển máy móc bằng bằng bàn tay. Nghĩa là mình nhấn nút này, mình nhấn nút kia. Hồi xưa đó thì điều khiển bằng cả cánh tay, chân đạp cái pê-đan này, tay kéo cái cần kia thì máy nó nhúc nhích. Cái thời đại hiện nay là họ chỉ nhấn nút thôi. Nhưng mà 500 năm sau thì khi mình nhấn nút, máy nó không biết, nó không hiểu, mà mình chỉ truyền cái ý nghĩ mình vào thì nó hiểu, nó bay đi. Mà chỉ người nào có định thì mới truyền được cái mệnh lệnh mình vào trong cái máy đó. Mà không phải là cái máy bay, cả cái nhà của người ta cũng vậy nữa. Đi trong cái nhà, 500 năm sau rồi cái nhà nó không giống như vậy nữa.
[50:04]Mà cái cửa muốn mở, chỉ truyền cái ý nghĩ vào cái là nó mở cửa ra và chỉ chủ nó mới mở được, ăn trộm mở không bao giờ được. Mà nếu không đúng mày quay lại đây kiếm. Và lúc đó cái người nào mà không có cái tâm linh mạnh, sống trên đời không được, sống phải lệ thuộc vào cái người mà họ có cái sức định, mình sống nhờ họ. Còn chính mình không làm chủ được nữa, bởi vì toàn bộ sự điều khiển bằng ý nghĩ hết. Mà cái người tâm rất thanh tịnh, rất định thì mới điều khiển được máy móc. Cho nên bây giờ đó, có nơi người ta biết thiền định là gì, có nơi không biết thiền định là gì, có nơi cho dạy thiền trong
[50:35]trường học, trong nhà tù, mà có nơi vẫn chưa cho dạy thiền. Nhưng 500 năm sau, thiền định là khả năng bắt buộc của một con người sống được trên thế giới này. Lúc đó thế giới này rất giống cõi trời, rất giống, vì ai cũng phải tu thiền hết. Nghe hấp dẫn không? Hấp dẫn không? Hấp dẫn ha. Ráng chờ, hãy đợi đấy.
[50:56]Hoặc là cái giáo lý về từ bi. Giáo lý từ bi là cái lòng mà thương yêu tất cả chúng sinh, không ghét ai hết, dù thế nào cũng không ghét, luôn luôn thương yêu mọi người. Và lòng từ bi đó phải trau dồi sâu thẳm, thường xuyên trong tâm mình. Thì cái giáo lý đó trước thời Đức Phật cần không? Thời Đức Phật cũng vậy, sau Phật vậy, bây giờ cũng cần và vĩnh viễn nhân loại luôn luôn cần tình thương yêu với nhau. Dù một ngày nào đó khoa học tiến tới cái mức độ chỉ cần điều khiển bằng ý nghĩ thôi, thì căn nhà này có thể bay lên nó dời qua bên kia nó ở. Ví dụ bữa nay nước sông xuống thấp quá, cái họ dùng ý nghĩ họ nâng cái nhà họ gần xuống bờ sông ở chơi.
[51:32]Tới cái mùa mưa lũ nước dâng lên, họ dùng ý nghĩ họ bưng cái nhà họ bay lên trên trời đặt lên trên đồi ở chơi. Ví lại khoa học ngày nào đó tiến bộ đến mức độ như vậy thì con người ta vẫn vĩnh viễn cần thương yêu nhau, vẫn cần có người để thương yêu nhau, chứ máy không thể thương yêu con người được. Nên cái đạo lý về từ bi là bất biến, là vĩnh viễn đúng. Và giáo pháp của Phật phải là như vậy. Khi chúng ta nói chuyện với huynh đệ của mình về đạo lý, cẩn thận, chúng ta chỉ được nói những điều gì mà đúng mãi mãi. Còn những điều gì mà nay đúng mai sai thì thôi đừng nói. Nói chơi thì được chứ nói thiệt không được.
[52:06]Có nhiều cái tục lệ ví dụ như nay đúng mai sai. Ví dụ như bây giờ cái tục tảo hôn, hồi xưa là người ta lập gia đình rất là sớm, 13, 14 tuổi tự nhiên muốn gả hết trơn, có không? Có phải không? Mình có nghe kể, giờ thì không thấy. Nhưng bây giờ luật pháp cấm, bởi vì điều đó làm sao? Điều đó ảnh hưởng tới sức khỏe của người mẹ, có thể là sinh ra đứa con cũng èo uột rồi người mẹ cũng dễ chết nữa, cho nên không được tảo hôn, phải trễ chút. Rồi có những trường hợp mà hứa hôn với nhau từ khi mà mới sinh ra đó, hai bên hẹn hứa hôn, lớn lên hai đứa nó không thương nhau nó không chịu, thành thử những cái đó cũng lần lần phải thay đổi.
[52:41]Rồi ví dụ như hiện nay mình còn cái tục lệ mà luật pháp phải công nhận là mang họ cha, con đẻ ra thì mang họ cha. Coi chừng 100 năm sau là con đẻ ra mang họ mẹ. Chuẩn bị nha, tin buồn cho mấy ông. Tại sao? Tại vì con ai đẻ thì chắc chắn là con của của người mẹ đó, nhưng mà ông cha không biết của ai à, phải thử gen mới biết à. Coi chừng thử ra gen của ông hàng xóm, chết thiệt. Thì thôi để chắc ăn nhất là người mẹ nào đẻ con thì mang họ của mẹ đó là bảo đảm, phải không? Đúng với thực tế. Chứ người đàn bà này đẻ nhưng mà lại mang họ của người đàn ông, không hề chắc ăn. Nói vậy có mếch lòng ai không ta? Có đụng chạm ai không?
[53:19]Thôi đừng giận nha, thôi đừng giận để nói tiếp. Nhiều tôn giáo cũng vậy. Nhiều tôn giáo cũng phải thay đổi cái giáo lý của họ. Ví dụ như là là trước đây là có nhiều tôn giáo tin rằng có một ông trời ổng tạo ra hết tất cả, cái gì cũng do ổng tạo ra hết. Nhưng bây giờ bắt đầu người ta thấy vô lý từ từ. Nói nếu có một ông trời tạo ra hết thì tại sao ổng tạo ra người giàu, tạo ra người nghèo để cho người sướng người khổ? Ổng tạo ra chiến tranh, tạo ra bệnh tật, phải không? Rồi ổng tạo ra cái con đường sình hồi nãy mình đi vô cực thí mồ, phải không? Nó vậy. Như vậy ông trời ổng tạo ra làm chi vậy? Nên lần lần những cái lớp trẻ tri thức ở bên châu Âu người
[53:55]ta bớt tin cái tôn giáo của họ vì không hợp lý nữa. Mà lần lần người ta đổ qua Đạo Phật, bởi vì Đạo Phật nói gì? Đạo Phật nói mọi chuyện nó do nhiều yếu tố hợp thành, do nhiều nguyên nhân, chứ không phải là do một ý muốn của một con người, một thần linh nào hết. Cho nên có một số tôn giáo trong tương lai cũng phải thay đổi, hoặc nguyên tắc về đạo đức đôi khi cũng phải thay đổi. Nhìn vào cái thời đó, vào cái thời mà cách đây không bao lâu hoặc là hiện tại, ở một số quốc gia theo Hồi giáo, nó có cái luật là một người phụ nữ mà ngoại tình thì bị gì? Ném đá cho tới tới chết. Nhưng mà vừa rồi do thế giới người ta phản kháng,
[54:31]có một người phụ nữ ở bên cái xứ ở châu Phi cô cũng ngoại tình, bị bắt được thì chuẩn bị đem ra ném đá thì cả thế giới bênh vực. Cả thế giới nói cái tội đó không phải đáng để tử hình, phải không? Cái tội đáng tử hình là gì? Là có một số ví dụ như là nước mình thì là buôn bán ma túy với cái số lượng bao nhiêu, hoặc là tham nhũng đến mức độ bao nhiêu, hoặc là giết người cướp của gì đó, thì cái tội ác quá đó thì mới bị. Còn ví dụ người phụ nữ ngoại tình thì có thể phạt họ, nhưng mà không phải tử hình. Cho nên cái đạo đức phải thay đổi chứ không có được như vậy. Nó có nhiều nguyên nhân, vân vân. Là cái quan điểm về giáo lý, quan điểm về đạo đức lần lần phải
[55:06]thay đổi lại chứ không có khắt khe như ngày xưa nữa. Ví dụ như là bên cái xứ Hồi giáo ấy, đàn ông thì được mấy vợ? Mấy? Bốn vợ. Thì ở bên cái xứ Pakistan á, đàn ông họ phải tuân thủ lời dạy của giáo chủ nên ông nào cũng phải ráng cưới cho đủ, đủ bốn vợ. Giờ bắt đầu mới than trời. Mới đầu họ nghĩ rằng là đàn ông là được Thượng đế thương, cho nên cho được lấy bốn vợ. Sau này họ mới thấy: "Không, đàn ông là bị Thượng đế phạt mới buộc phải lấy bốn vợ." Để làm chi vậy? Bốn vợ thì thì có bốn cái. Bốn cái gì? Không phải bốn nguồn hạnh phúc, mà bốn bà bà chằn. Trời ơi! Rồi đẻ ra một đống, bốn đống đứa con, nuôi không nổi.
[55:50]Nuôi không nổi mà ông chồng thì càng lúc càng gầy còm, ốm yếu. À bà vợ thì bà nào bà nấy cứ khỏe mạnh, sung sức mà tranh giành với nhau, ông chồng thì vừa nuôi vậy không chịu nổi, bắt đầu ổng ngồi ổng than trời trách đất, trời Thượng đế sao bắt ổng phải lấy bốn vợ. Cái hồi trẻ thì lấy không đủ bốn vợ không chịu. Cho nên có những cái quan điểm mà lần lần theo thời đại phải thay đổi lại hết, không được. Bây giờ bắt đầu những người đàn ông của Hồi giáo họ đang mơ ước giống như người Việt Nam mình, là một người đàn ông chỉ được lấy một một vợ, một vợ lớn mà thôi, vợ lớn.
[56:25]Thì ở đây á, chúng ta nói cái yếu tố mà không thời gian là nói cái điều gì nó phải đúng mãi, đúng mãi. Còn có những cái nó tạm bợ, nó thay đổi thì thôi, mình tùy xã hội mình nói một chút xíu. Giống như thời Đức Phật, Đức Phật có cái hay nha, lạ vậy, là vào thời Đức Phật lúc đó là người đàn ông họ cũng có nhiều thê thiếp, chứ không phải không đâu. Nhưng mà trong kinh Phật tuyệt đối không bao giờ có cái sự khuyến khích một người nam nhiều người vợ. Giống như là Phật biết trước cái xã hội sẽ thay đổi, sẽ thay đổi là sau này cái điều mà một người đàn ông nhiều người vợ là không đúng nữa. Cho nên trong kinh Phật điều đó rất là lạ,
[56:58]mà trong khi thời đại đó xã hội là như vậy, mà trong kinh Phật, Phật luôn luôn tránh né, không bao giờ, không bao giờ nói điều đó, tìm hết không thấy. Rõ ràng là như Phật biết trước hay sao á là sau này người ta không chấp nhận chuyện mà một chồng nhiều vợ nữa. Cũng là một cái hay. Nên cũng là một tính cách mà cái đúng của Phật nó kéo dài là vậy. Một yếu tố nữa trong giáo pháp của Phật nữa là đến để mà thấy, đến để mà thấy. Có những sự thật mà phải được chứng minh bằng thí nghiệm, có cái bằng cớ xác đáng thì người ta mới chấp nhận. Có những sự thật, ví dụ như khoa học kỹ thuật hay là nhân quả, thí dụ vậy.
[57:33]Khoa học kỹ thuật là sao? Ví dụ như nói thế này: là cây mà mình có đủ nước thì nó sẽ sẽ tươi, mà cây thiếu nước thì sẽ sẽ héo. Cái điều đó bất cứ chỗ nào mình thực hiện là đều đúng như vậy hết trơn, không có trật, nó là chân lý. Mà chân lý là tới nơi phải thấy như vậy. Ví dụ có người nói thế này, nói: "Ở chỗ tui đó, trồng cây mà không tưới nước nó héo rồi nha." Mình không tin, nói: "Ủa, chỗ tui là trồng cây không tưới nó vẫn xanh." Cãi nhau, bởi vì: "Tui thấy điều đó, tui không tin cái điều mà không có nước cây nó héo." Nhưng bây giờ phải chứng minh cho ra: Cây của anh sở dĩ mà không cần tưới nước nó không héo là vì lý do gì? Vì lý do gì?
[58:10]Cái rễ nó cắm sâu dưới đất dưới có nước trỏng á. Cho nên nước là một thành tố quan trọng cho sự sống của cây cối. Chứng minh ra, cái từ đó, à à, như vậy đúng chân lý là cây phải sống có nước. Tức là có những điều, có những chân lý mà phải chứng minh rành rẽ, thí nghiệm cho thấy rồi người ta mới tin. Đó. Thì ở đây là đạo Phật cũng vậy. Trước hết đạo Phật là đến để mà thấy, chứ nói bắt người ta tin không, không phải đạo Phật á. À, đây là một yếu tố. Và chúng ta hiểu điều này để chúng ta học đạo cũng như chúng ta giảng đạo, là chúng ta nói những điều gì đó mà khiến cho cái người kia họ không cần dùng
[58:48]đến niềm tin, mà họ phải thấy nó là xác đáng, thì đó là giáo lý. Là ví dụ như mình nói là thế này, mình nói về giáo lý từ bi, mình nói: "Khi mà anh thương người ta đó, tự nhiên người ta thương anh." Thì câu này người ta nghe người ta tin liền chưa? Tin liền không? Chưa. Vì mình không có Ví dụ bây giờ nói: "Tôi đi ngang tôi khởi tâm tôi thương mấy người kia, tôi thấy mấy người kia đâu có thương tôi đâu?" Nói: "Không, tại anh chưa thấy đó, anh ráng đi. Anh sẽ ráng trong cuộc sống anh thường xuyên, khi mắt anh nhìn tới ai anh cũng đều khởi cái tâm thương người đó. Anh tập cho tôi ba năm." Thì cái người đó nghe lời. Nghe lời, hễ nhìn thấy ai,
[59:24]người xa lạ cũng khởi cái tình thương gửi tới người đó. Rồi đi ngang cái chỗ mấy ông kia đang đánh bài sùm xèo, cũng gửi lòng thương tới đó một chút. Đi qua một chỗ mấy ông nhậu chả để ý gì tới mình, cũng gửi lòng thương vào đó một chút. Gặp những người huynh đệ, nhiều khi người ta cũng không nói chuyện với mình, mình cũng gửi cái lòng thương đó một chút rồi đi, không nói. Nhìn thấy là mình gửi cái tình thương đến đó liền mà không cần cho người ta biết. Chỉ như vậy, ba năm sau thì bắt đầu kết quả nó tới là sao? Mình đi đâu cũng được người ta thương mến hết. Tự nhiên kết quả nó đến, nhân quả. Lúc đó người ta mới thấy: "À, đúng!
[59:57]Đúng là họ đã làm điều đó và họ đã được điều đó." Và đó chính là Phật pháp: đến để mà thấy. Thực hành đi, thí nghiệm đi, rồi kết quả ra đúng y như vậy, đúng y như vậy. Quý Phật tử tin không? Tin điều này không? Tin, phải không? Đó, nó là như vậy, mà nói chỉ là cái tâm thôi đó. Chứ còn bây giờ ví dụ như là mình làm những điều thiện, mình thương người mình giúp người bằng vật chất, bằng sức lực, bằng hành động cụ thể làm cho người ta được lợi ích, thì mình làm như vậy qua năm năm, mười năm rồi sẽ thấy cuộc đời mình thay đổi liền, thay đổi liền. Tự nhiên rất nhiều điều may mắn đến với mình. Đó là kết quả của cái việc làm phước mà do luật nhân quả, rất là rõ, không có trật.
[1:00:38]Rồi ví dụ như là một người nghe nói về thiền định có khả năng làm cho người ta sống khỏe mạnh hơn, tinh thần thoải mái, vui hơn, bớt đau khổ hơn. Thì mới đầu mình nghe nói thì mình cũng không biết, nhưng cứ thực hành, nhiếp tâm cho yên rồi gặp những chuyện đáng lẽ mình phải buồn, giờ mình không buồn nữa. Luôn luôn mình dễ chịu, luôn luôn vui, mà tinh thần nó khỏe, cái thân mình cũng khỏe thêm được một chút. Đó là những cái mà đến để mà thấy ở trong đạo Phật, chứ không phải là đạo Phật buộc người ta phải tin. Mà đạo Phật luôn luôn khuyến khích người ta thí nghiệm, thực nghiệm nơi bản thân để người ta thấy được kết quả, nên gọi là đến để mà thấy.
[1:01:16]Chứ còn ví dụ mình dựng một cái giáo lý lên mà mình buộc người ta cứ phải tin, mà ai tin nhiều thì khen, thì đó không phải Phật pháp. Nhớ như vậy nha. Ví dụ như mình đến gặp một cái đạo mà giờ nói là cái người mà không có tin á là cái người kém đạo đức. Nói câu đó không phải đạo Phật. Đạo Phật không cần người tin. Đạo Phật cần cái người đến để thấy. Còn nói gì cũng tin hết thì sai tinh thần của đạo Phật. Nhiều cái tôn giáo như vậy đó, đến đó mà mình có vẻ hoài nghi họ chửi liền. Họ nói: "Đồ kém đức tin!" Tại sao họ ghép cái chữ tin với chữ đức, đố ai biết? Để họ cho rằng cái tin là một cái quý, nên gọi là đức tin.
[1:01:55]Mà nếu cái người nào mà mình coi thường cái niềm tin thì mình gọi là mê tín hay là thứ dễ tin, thứ cả tin thì mình chê, còn cái người mà cho rằng niềm tin quan trọng thì họ gọi là đức tin. Thì mình đến đó mình nghi ngờ giáo lý của họ, cái họ nói người kém đức tin. Nhưng mà xin thưa, đạo Phật cần những người kém đức tin. Cái người nào ít tin, người đó sau này sẽ là người giỏi về Phật pháp. Còn người nào nói đâu tin đó, nói đâu tin đó, người đó là người rất dở về Phật pháp. Nhớ như vậy nha. Nhớ như vậy. Nói đâu tin đó là người dở về Phật pháp. Vì sao? Người mà dở về Phật pháp ấy rồi trong cuộc sống mình cũng dễ sai lắm.
[1:02:31]Ví dụ mình đang ngồi nói chuyện nhau, một người nói: "Nói đồn nghen, nói cái đứa con gái đó không phải là con của bà đó." Mình nghe mình chưa hiểu ất giáp gì mình tin liền, bắt đầu mình đi nhìn bà đó ngờ ngợ: "Bà này xưa không biết lén phén ai, đứa này không phải con bả." Rồi gặp đứa con nói, nói: "Tội nghiệp con ghê, con không biết cha con là ai." Tới chừng mà người ta biết chuyện thì sao? Người ta tới người ta cào nhà mình cho sập. Tại vì nó mất danh dự người ta, mà trong khi mình chỉ nghe một tiếng nói thì không kiểm chứng, lật đật tin rồi lật đật xử sự như vậy là cái mình nghĩ xấu về người khác theo một cái lời nói vô cớ, tại mình dễ tin.
[1:03:05]Thì người dễ tin như vậy là trong cuộc sống mình sẽ phạm sai lầm. Và đi vào trong Phật pháp, mình sẽ học được cái điều tầm bậy, không phải lõi Phật pháp. Cho nên đến với Phật pháp cần những con người biết hoài nghi. Ai nói gì cũng thấy nghi cái đã. Không biết ông này nói chắc đúng không? Nãy giờ ông Chân Quang ổng ngồi ổng nói lải nhải nãy giờ, e ổng nói trật lắm á. Kiểm chứng lại. Vậy, phải biết hoài nghi thì mới là người giỏi Phật pháp. Mà sau này khi mình đi mình giảng đạo, không ai bắt bẻ được nữa hết. Bởi vì sao? Bởi vì cái giáo lý mà mình tin, mình hiểu, mình nắm vững vì mình đã thực hành qua, thấy kết quả rồi, thấy kết quả rồi.
[1:03:40]Cho nên bây giờ đừng hòng ai bẻ được nữa. Tại vì sao? Vì mình thực hành qua, thấy kết quả quá rõ, chứ còn trừ trường hợp mà mình chỉ tin rồi nói lại, tin nói lại, người ta bẻ một cái cứng họng liền. Cho nên giáo pháp của đạo Phật là khuyến khích đến để mà thấy. Có những điều á nhiều khi có thật mà chúng ta chưa thấy nổi, có duyên mới thấy thôi. Ví dụ như vấn đề luân hồi: con người chết ở kiếp này sẽ tái sinh qua kiếp sau, thì cái điều đó mình thấy được không? Không thấy nổi đâu, mà là một chân lý đó. Thì cái điều này á chúng ta phải bằng bao nhiêu cái suy luận hết sức thông minh của mình, mình mới chấp nhận nổi,
[1:04:15]hoặc là những người có cơ duyên mà nhớ lại được tiền kiếp thì mới thấy được, mới tin được, chứ còn bình thường mới nghe liền cũng khó tin lắm, chứ không phải không. Luân hồi là một cái chân lý có thật, rất quan trọng trong quan điểm giáo lý, nhưng rất khó thấy. Đầu tiên là người có duyên lành với Phật pháp chỉ tin thôi. Tuy nhiên, nếu một người nào mà có trí tuệ thì suy luận một lát cũng ra, tại vì cuộc sống không thể là chỉ một kiếp này rồi chấm dứt hết, mất hết tất cả. Vì chúng ta không thể là đầu tiên có mặt ở đời này. Vì sao vậy? Nếu đầu tiên có mặt ở đời này thì chúng ta phải có một cái xuất phát
[1:04:47]giống hệt nhau, là phải sinh trong một gia đình giống nhau: nghèo bằng nhau, giàu bằng nhau, khỏe bằng nhau, thông minh bằng nhau, phải không? Xuất phát từ một mức đích ban đầu giống nhau, nhưng không phải. Chúng ta có mặt đời này cái mình sinh trong gia đình nghèo, sức khỏe thì èo uột, mặt mày thì xấu xí, nói lải nhải không ai nghe, ví dụ vậy, cái xuất phát không bằng nhau. Một người thì lại được ưu thế nhiều hơn mình, thì như vậy nó nguyên nhân nó phải nằm ở đâu là kiếp trước khác nhau. Cho nên mình tin chính vì sự chênh lệch đó phải có kiếp trước, vì có cái xuất phát khác nên bây giờ chúng ta khác nhau.
[1:05:18]Nên do cái sự suy luận cực kỳ của trí tuệ, chúng ta chấp nhận có luân hồi, chứ còn thấy chưa thấy nổi. Cho nên có những cái chân lý mà chúng ta đến, thấy, thực hành thấy, nhưng cũng có những chân lý mà chưa đủ sức để thấy, thì buộc lòng cũng phải tin một chút. Tuy nhiên, đạo Phật khuyến khích chúng ta là đến để mà thấy, không tin vội, cái gì cũng phải thực hành, cái gì cũng phải suy nghiệm rất kỹ thì chúng ta mới thấy được như vậy. Có những cái giáo lý căn bản đem an vui lập tức, ví dụ như là đạo đức, có đạo đức tâm mình an vui liền. Dù cuộc đời có thể hơi cay đắng nhưng mình vẫn an vui. Hoặc là sự trầm tĩnh là làm cho mình bớt sai lầm,
[1:06:00]đó là điều không thể chối cãi, phải không? Nhiều lý như vậy. Hoặc là cái người nào mà sống cứ biết tìm vui, chỉ ham vui, thì cái đích đến của họ là chỗ nào? Là sự đau khổ. Bây giờ ham vui thì chắc chắn chỗ đến sẽ là đau khổ. Vì sao vậy? Bởi vì người ham vui là người Người ham vui là người... ích kỷ, đúng. Người ham vui luôn luôn là người ích kỷ. Nhớ như vậy. Và người ích kỷ thì chắc chắn là sẽ bị... bị... đau khổ, nhớ như vậy. Ích kỷ là nguyên nhân của đau khổ. Cho nên mình nhìn thấy một người đàn ông, một người đàn bà mà tối ngày cứ lo kiếm chuyện vui thì biết ngay trong tâm người này là người ích kỷ
[1:06:38]và cái sự đau khổ là luôn luôn chờ đợi họ ở phía sau. Cho nên cái người sống á mà không ham vui, lo cho người khác thôi, chứ bản thân mình không cần vui, là người đó không ích kỷ, người đó vị tha và cái sự chờ đợi của người đó mai sau là... là hạnh phúc, nhớ như vậy. Thì đó là những điều mà chúng ta có thể thấy được, đến để mà thấy được, không cần tin. Điều này không cần tin, đến để thấy được. Cho nên trong đạo Phật, cái niềm tin đơn thuần là điều ít được khuyến khích. Mình đến với một giáo pháp mà nghe cứ phải hù phải tin, không tin là mắc tội, không tin mắc tội, mình nên từ giã cái giáo lý đó liền.
[1:07:14]Nhớ như vậy. Nói: "Phải tin kinh này là cao quý" thì đừng, từ từ xét lại, không có tin. Phải hoài nghi và đến để mà thấy, thực nghiệm bản thân mình thấy đúng, thì tới chừng đó mà mình truyền cái giáo lý đó rồi thì không ai bắt bẻ được, vì mình đã nghiền ngẫm, thực hành quá kỹ, nhớ như vậy. Một yếu tố nữa là "được người trí tự mình tinh hiểu". Được người trí tự mình tinh hiểu là làm sao? Tức là cái điều này mình thấy là đúng, thì đừng có nghĩ là có một mình mình thấy là đúng, sẽ có những người trí tuệ khác cũng thấy giống như mình. Phải thấy giống như mình thì đó mới là chân lý. Chứ cái chân lý mà có một người thấy đúng nè,
[1:07:56]người khác không thấy đúng, thì coi chừng nó không phải chân lý. Giống như cái yếu tố mà "không thời gian" vậy. 3000 năm trước nó là đúng, 3000 năm sau nó không đúng nữa, thì đó không phải chân lý, không phải Phật pháp. Phật pháp là cái gì 5000 năm trước là đúng, 5000 năm sau, 5 triệu năm sau vẫn đúng. Thì cũng vậy, cái người thứ nhất nghiệm bản thân mình thấy là đúng, thì người trí tuệ thứ hai nghiệm bản thân mình cũng thấy đúng, cũng thấy đúng thì đó mới là chân lý. Nghĩa là nơi người nào áp dụng cũng phải đúng hết. Mà cái người trí ở đây không phải là người có trí, mà là bậc thánh. Cái chữ "trí" dùng trong kinh ám chỉ người đã chứng thánh,
[1:08:32]tức là người đã có tuệ nhãn, có thần thông, hiểu thấu được nhân quả, luân hồi, hiểu thấu được những điều trong tam giới này. Cái đó gọi là bậc trí, là người chứng thánh á. Chứ không phải cái người đọc kinh nhiều, nhớ nhiều là trí đâu, không phải. Chữ trí tức là bậc chứng thánh rồi đó. Cái người đó là người không còn thành kiến, thương ghét cá nhân không có thiên vị. Và cái người đó tâm họ rất khách quan, khi họ thấy điều gì đúng thì điều đó đúng là đúng thiệt, mà họ nói điều gì sai, điều đó sai thiệt. Đó là cái người mà ngày xưa các thiền sư nói thế này: "Hồ đến thì hiện hồ, Hán đến thì hiện Hán".
[1:09:10]"Hồ đến hiện hồ, Hán đến hiện Hán" là làm sao? Hồ là ai? Hồ là người Ba Tư hay là người Ấn Độ á. Hồi xưa người Trung Hoa họ gọi cái người ở phía Tây là người Ấn Độ hay người Iran, Iraq á, họ gọi là người Hồ. Thì một cái người mà tâm thanh tịnh á, thì cái người Ấn Độ tới dòm là biết đây là người Ấn Độ. Hán là người nào? Người Trung Hoa, người Tàu tới dòm biết: à đây là người Tàu. Người thế nào đến mình biết là người như thế đó. Dễ biết không? Bây giờ người Mỹ tới mình dòm biết là... là Mỹ, mà Pháp tới biết là... Pháp, Campuchia tới biết là... là Campuchia, dễ biết không? Dễ biết. Nhưng mà thiền sư không nói đơn sơ như vậy. Thiền sư nói câu:
[1:09:51]"Hồ đến hiện hồ, Hán đến hiện Hán" nghĩa là thế này: khi một người vừa bước tới trước mặt mình thì người đó tốt, xấu trong tâm thế nào biết liền. Đó là người ích kỷ biết ích kỷ, người độ lượng biết người độ lượng, người có thiện căn biết có thiện căn, không thiện căn biết không thiện căn. Tức là biết những điều bí mật trong tâm. Khi một người tâm thanh tịnh như các thiền sư á, thì hồ đến hiện hồ, Hán đến hiện Hán. Mình vừa bước tới trước mặt ngài, vừa sụp xuống lạy, họ biết mình ra sao liền. Biết cuộc đời mình sẽ ra sao, tâm hồn mình sẽ ra sao liền. Thì đó là người người trí, tức là bậc chứng thánh.
[1:10:24]Thì cái người đó đó, họ công nhận cái gì đúng thì cái đó là đúng, mà họ bảo cái gì sai thì cái đó sẽ là sai. Ví dụ như mình đến gặp một vị có trí tuệ, tức là người mà đã "hồ đến hiện hồ, Hán đến hiện Hán", mình nói là: "Thưa ngài, con học được cái đạo lý này không biết đúng hay sai, nhờ ngài kiểm chứng giùm." Thì cái vị đó mới hỏi: "Đạo lý gì?" Nói rằng: "Thưa ngài, có một người dạy cho con rằng muốn mau đắc đạo thì giữa trưa 12 giờ phải ra đứng giữa trời và đứng chống một chân, đứng một chân, một chân co lên thì sẽ được giải thoát khỏi luân hồi sinh tử." Ở đây có ai thực hành cái giáo lý đó chưa?
[1:11:02]Trưa 12 giờ ra đứng ngoài đường lộ co một chân lên, có không? Không. Đó, thì: "Con không biết kết quả như thế nào?" Thì cái vị mà chứng thánh họ sẽ nói rằng: "Kết quả là con sẽ được một chiếc xe tới đưa con đi về Biên... Biên Hòa." Như vậy á, chứ còn chứng đạo giải thoát thì không giải thoát đâu. Nên cái người trí mà họ nói vậy là chắc ăn. Chắc ăn vậy từ đây là mình không bao giờ giữa trưa 12 giờ mình ra đứng ngoài đường mình co một chân nữa, phải không? Tức là "được người trí tự mình chứng hiểu" là những bậc thánh khi mình hỏi họ đúng sai thế nào, họ sẽ nói cho mình biết. Sự thật á, cái điều sai, điều đúng á đôi khi nó cách nhau
[1:11:37]trong đường tơ kẽ tóc thôi, mình khó nhận ra lắm. Ví dụ có người nói mình câu này: "Ôi, đạo nào cũng tốt, đạo nào cũng dạy mình ăn hiền ở lành, theo đạo nào cũng được." Câu đó nghe đúng không? Nghe giống như đúng nhưng hoàn toàn sai. Có phải là đạo nào cũng giống nhau không? Không, không đạo nào giống nhau đâu. Đạo khác nhau muôn trùng trên thế giới. Có đạo hiền lành, có đạo cực đoan, có đạo dựa vào niềm tin, có đạo phải khuyến khích trí tuệ, có đạo đúng mãi mãi, có đạo là đúng được 3 tháng, qua tháng sau trật liền. Mặc dù nói cái ăn hiền ở lành thì đạo nào cũng nói giống giống nhau. Đạo nào cũng nói:
[1:12:11]ờ nên thương người, giúp người, có hiếu cha mẹ, nói giống giống nhau để chi vậy? Tại vì đó là những cái chuẩn mực đạo đức của xã hội, không được nói ngược lại. Vì nếu nói ngược lại người ta không cho đó là một tôn giáo tốt nữa. Vì không cần tôn giáo, thì cái chuẩn mực đạo đức vẫn là phải sao? Trên đời sống phải... phải thương nhau, giúp nhau, con cái phải hiếu với... với cha mẹ. Đó là chuẩn mực chung, mà tôn giáo phải tuân thủ. Cái đạo đức đó không phải từ nơi tôn giáo đi ra, mà đạo đức đó là tôn giáo học được của xã hội, của loài người. Cho nên không có đạo nào dám nói khác hết. Thì không có đạo nào dám nói khác điều đó, mình cứ tưởng là đạo nào cũng giống nhau.
[1:12:47]Nhưng sự thật là tôn giáo đã mượn cái chuẩn tắc của xã hội để làm đạo đức của mình, rồi sau đó đi sâu vào triển khai ra, mới là triển khai sai hay đúng là tính sau. Và có nhiều đạo đã triển khai rất sai lầm, cho nên đừng tưởng đạo nào cũng như đạo nấy, đạo nào cũng nói ăn hiền ở lành. Nghe thì thoạt đúng nhưng mà kỳ thực rất là sai. Cho nên chúng ta thấy trên đời này có những cái sai và đúng nó cách nhau trong đường tơ kẽ tóc là như vậy. Mà chỉ có những bậc trí á mới chứng hiểu được rõ ràng từng chút từng chút một. Còn cái người mà mình nói đạo này đạo kia họ nói: "Ôi, đạo nào cũng tốt, đạo nào cũng ăn hiền ở lành,
[1:13:21]theo đạo nào cũng được." Thì mình đọc ngay cái tâm người đó làm sao? Cái tâm của người nói câu đó là tâm gì? Tâm bướng bỉnh, phải không? Hời hợt, vừa cạn cợt vừa hời hợt vừa bướng bỉnh, mà nói với cái giọng điệu phản kháng mà hơi kiêu ngạo nữa. Chứ còn một người mà hiền lành, khiêm hạ, họ không nói câu đó. Họ sẽ lắng nghe, tại vì biết đạo này đạo kia coi vậy chứ vẫn có cái sai biệt chút chút, tìm ra coi như thế nào, chứ không có nói mà lùa đại một cái đạo nào cũng như đạo nấy, không có. Đừng có tưởng đạo nào cũng như đạo nấy, không có đâu. Và chúng ta hôm nay nói với nhau những điều này để làm chi?
[1:13:53]Để khi chúng ta học đạo, chúng ta biết lựa cái đạo nào như vậy mà học. Học giáo pháp chúng ta lựa cái giáo pháp: thiết thực hiện tại, không thời gian, đến để mà thấy, được người trí tự mình chứng hiểu. Chúng ta lựa cái giáo pháp nào đủ năm tiêu chuẩn này hãy học. Rồi sau này khi chúng ta giảng đạo cho người khác cũng vậy, chúng ta phải giảng cái chân lý nào đó đủ năm tiêu chuẩn: thiết thực hiện tại, không thời gian, đến để mà thấy, được người trí tự mình chứng hiểu, thì hãy giảng, phải không? Đó, đó là Phật nói định nghĩa như vậy để nhắc chúng ta cái cách học đạo và cách dạy đạo. Thì hôm nay có duyên gặp nhau ở đây, chúng ta cũng cầu chúc cho quý
[1:14:29]ni sư ở đây mở mang được cái mối đạo ở khu vực này thật là... là rộng lớn. Phật tử sẽ tới lui tấp nập, cái con đường sình sẽ biến thành con đường... con đường nhựa, chùa lớn hơn, Phật tử đông hơn, mọi điều tốt đẹp hơn. Và tất cả mọi người từ Tăng Ni đến Phật tử ai cũng dạy và học đạo rất là... rất là giỏi theo năm tiêu chuẩn mà Phật đã nói. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:15:00]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thật là hy hữu thay giáo lý Phật đà. Trong suốt một tiếng đồng hồ hơn và chúng con cũng đã được nghe lời thuyết giảng của Thượng tọa cũng như toàn thể Phật tử. Và chắc rằng trong lời thuyết giảng nhiệm mầu mà Thượng tọa đã truyền đạt, chúng con tin chắc rằng quý vị Phật tử phần nhiều cũng sẽ lãnh hội và vơi đi rất nhiều não phiền, thêm lớn niềm tin trong Phật pháp. Với đạo tình cao cả và cũng vì sự hoằng pháp lợi sinh mà Thượng tọa giảng sư mặc dầu sức khỏe yếu kém cũng như vì Phật sự quá nhiều,
[1:15:53]và công việc Phật sự đa đoan nơi bổn tự và đường xá xa xôi mà Thượng tọa cũng đã trở về để đem giáo từ của Phật đà trang rải cho toàn thể quý vị Phật tử.
[1:16:09]Với đạo tình cao quý ấy, thật là chúng con không biết nói gì để đáp tạ thâm ân cao cả của Thượng tọa giảng sư. Và xin thay lời toàn thể quý vị Phật tử hướng về Thượng tọa tâm thành đảnh lễ bái tạ. Và kính nguyện hồng ân chư Phật luôn gia hộ Thượng tọa giảng sư pháp thể vô biên an lạc, Phật sự viên thành, mãi là một vị lái thuyền tài giỏi để đưa tất cả chúng sanh qua bến bờ giác ngộ. Một lần cuối xin kính nguyện hồng ân chư Phật niệm Thượng tọa thân tâm thường lạc. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thỉnh Thượng tọa cũng như toàn thể pháp hội hồi hướng. Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả...
[1:17:19]Chúng đệ tử và chúng sanh
[1:17:29]đều trọn thành Phật đạo. Ban nghi lễ cũng như ban chung khánh, cổ xin cử khởi chuông trống Bát Nhã để cung tiễn Thượng tọa giảng sư hồi quy phương trượng. A Di Đà Phật.
[1:17:55]Có ai hỏi câu nào nữa không ta?
[1:17:59]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch thầy, nãy giờ thì con cũng được nghe thầy giảng rất là nhiều câu. Nhưng mà trong đó có một cái câu lý giải của thầy về cái A Lại Da Thức, đối với con là một điều hoàn toàn mới mẻ, vì đây là lần đầu tiên con được nghe. Ừ vậy thì bây giờ con xin thầy giảng giải thêm cho con biết là, như theo thầy thì là A Lại Da là cái kho chứa, khi mà chết đi thì nó tồn tại ở cái dạng sóng. Và như vậy thì, cái sự chuyển tiếp của nó đến khi luật nhân quả chi phối thì nó biến mất, thì nó đi đâu? Và khi luật nhân quả chi phối thì cái không gian và thời gian thì bao giờ bắt đầu nó có?
[1:18:37]Ví dụ khi mà vô bào thai mẹ thì cái không gian, thời... Nó mất luôn rồi. Mất luôn. Tức là nó bộ nhớ nó lệ thuộc vào cái chỗ chứa nó. Dạ. Lúc sống á thì nó lệ thuộc trong bộ não mình. Mà khi chết á thì nó lệ thuộc vào cái sự rung động của linh hồn. Tại vì linh hồn như dạng plasma. Cái linh hồn là nhớ nơ- nếu mà mình nói vật chất nó là một dạng plasma, nó là một sự rung động thôi. Thì trong cái rung động đó nó chứa thông tin. Nó chứa nên ký ức tiếp tục tồn tại qua đó. Nhưng khi vào thai mẹ thì linh hồn nó tan mất. Để tạo một kiếp sống mới thì cái đời sống cũ phải mất, đó là đương nhiên. Không thể cùng một lúc, nghĩa là chúng sanh tồn tại một lúc ở hai nơi,
[1:19:14]nghĩa là vừa trong bào thai mẹ mà vừa vất vưởng bên ngoài, đồng ý không? Cho nên để có mặt trong bào thai mẹ thì linh hồn phải tan biến, đồng ý không? Chứ còn cách lý giải nào nữa không? Siêu hơn nói thầy nghe. Hễ đã tồn tại trong bào thai mẹ thì linh hồn là trước đó phải phải tan. Giống như nguồn điện cung cấp cho tivi mất, tivi tắt tối đen liền, không còn gì nữa. Đồng ý chưa? Thì A Lại Da Thức mất. Những thông tin chứa đựng được trong cái linh hồn đó mất hết hoàn toàn. Đó là lý do tại sao khi chúng sinh đầu thai lại không còn nhớ gì nữa. Chỉ còn nhân quả tạo lại tính cách của mình thôi. Sẽ có người hỏi thầy:
[1:19:55]thế tại sao có người nhớ được tiền kiếp, một vài người nhớ được tiền kiếp? Hoặc là có người nói tu đắc đạo nhớ được tiền kiếp. Như vậy cái nhớ đó thuộc về gì? Cái nhớ đó không phải là thuộc A Lại Da Thức, không phải thuộc. A Lại Da Thức đã biến mất theo linh hồn rồi. Một tính cách mới, con người mới được xuất hiện nhưng mà do nhân quả cũ tạo nên, do cái nhân cũ tạo nên. Nhưng mà đôi khi có trường hợp người ta đã nhớ lại tiền kiếp, thì cái nhớ lại tiền kiếp đó, thầy nói đó là một loại thần thông bất ngờ theo duyên xuất hiện. Nếu do tu thì đó là một thần thông làm chủ bởi chính mình tạo ra, mà nếu không phải do tu thì do một cái duyên gì đó,
[1:20:34]có một trợ duyên bí mật nào đó, thành ra một loại thần thông bất ngờ khiến người đó nhớ lại một đoạn của tiền kiếp. Và khi mà họ nhớ lại như vậy, họ có một cái trách nhiệm, họ có một cái sứ mạng gì đó để họ phải nhớ lại, để họ phải nói cho nhiều người biết về điều đó, chứ không phải không. Nên cái nhớ đó không phải là A Lại Da Thức của một vài người đó, mà họ là một sứ mạng, một thần thông được trợ duyên. Trợ duyên. Có chứ. Linh hồn có giới tính. Nam vẫn là nam, nữ vẫn là nữ, bê đê vẫn là bê đê. Bởi vì linh hồn vẫn còn mang cái nhân quả lúc còn sống mà. Cái trớn lúc mình còn sống thế nào nó đẩy qua thấu tới linh hồn y chang như vậy.
[1:21:14]Cho nên có nhiều người nói chết là hết, thầy nói đừng hiểu lầm, đừng hiểu lầm. Ví dụ thế nào? Ví dụ như một người bị thất tình, bị người tình phụ, đau khổ quá và nghĩ rằng để chấm dứt nỗi đau khổ này chỉ còn có cách là là chết. Sau đó họ mới mua thuốc thuốc bảo vệ thực vật của Trung Quốc, đại khái vậy, uống vô thì không ngờ là thuốc giả, không chết. Cái họ mới đành phải đi mua thuốc của Việt Nam uống vô lần đó mới chết. Thì sau khi chết rồi thì họ tưởng là hết đau khổ, không ngờ khi họ chết rồi đó, trong cái thế giới đó họ đau khổ gấp mười lần lúc còn sống. Bởi vì sao? Bởi vì họ vẫn biết hết. Họ vẫn biết là đúng là cái người tình của mình thương yêu có đến thắp
[1:21:54]cho mình cây nhang, sau đó vẫn tiếp tục hú hí với cái người mới kia. Và đau khổ còn gấp mười lần vì thấy tận mắt. Cái nhân quả không hề hết. Hoặc là một cái người à cái người ví dụ như bị đâm một dao vô bụng, rồi cái đau đớn, vật vã rồi cái chết. Rồi cái sau khi chết rồi cái nói: ờ, thôi ổng chết thôi yên chứ hồi nãy ổng ổng bị thương ổng đau đớn tội nghiệp quá. Nhưng lúc chết hết không? Không! Trong cõi linh hồn đó vẫn tiếp tục ôm cái bụng mà la. Cái đau vẫn chưa hết. Nghĩa là cái trớn của lúc sống đẩy qua tới cái lúc chết luôn chứ không có hết. Dễ sợ như vậy. Ví dụ một cái người bị bệnh tâm thần điên điên
[1:22:33]rồi cuối cùng cái sẩy té giếng chết, nói: thôi, nó té giếng khỏe đời nó chứ nó sống điên tội nghiệp, lúc chết không, tưởng sao, không. Chết tiếp tục làm con ma điên. Con ma cũng tàn tàn điên điên chứ không phải con ma tỉnh. Nghĩa là cái trớn của cái nghiệp của lúc sống thế nào nó đẩy luôn qua tới lúc chết luôn, không có hết. Vậy làm sao mới hết? Chỉ có tu làm phước chuyển nghiệp. Mà để bảo đảm rằng hết là lúc sống phải dòm thấy, lúc sống phải dòm thấy. Dòm thấy là người đó an lành, bình an lúc sống thì khi chết đó mới là một cái cái vong linh, một cái giác linh, một cái hương linh an lành, tự tại.
[1:23:07]Cho nên chúng ta đừng trông đợi, nghĩa là đợi chết rồi mới có chuyện tốt đẹp, chết rồi mới hứa hẹn chuyện tốt đẹp, thầy nói là một cái điều không hiểu hết nhân quả. Phải tu làm sao ngay khi lúc mình còn sống là mọi điều tốt đẹp hiện ra từ từ hết, hiện ra từ từ hết. Thì lúc đó khi mình chết bảo đảm là có những kết quả lành thật sự, phải nhớ như vậy. Kính bạch thầy, con hỏi thêm một ý chỗ này chút. Đức Phật nói khi mà ngài sử dụng túc mạng minh để mà nhìn về cái kiếp sống quá khứ của mình thì nó rõ ràng như là cái người ngồi ở trên lầu và nhìn xuống cái ngã tư đường thấy người đi qua đi lại rất là rõ.
[1:23:50]Rồi đồng thời, như người phàm thì khi chết lại không biết gì về cái kiếp quá khứ của mình. Thì như vậy có nghĩa là ở Đức Phật có thần thông thì ngài đọc được những cái sự kiện của quá khứ. Còn người không có tu thì chưa có thần thông thì không đọc được. Thì như vậy cái sự kiện quá khứ nó vẫn có được sắp xếp, lưu trữ ở chỗ nào đó thì khi có thần thông mới đọc lại được những sự kiện cũ đó, bạch thầy? Nó thuộc về nhân quả tuyệt đối. Nó vẫn là nhân quả tuyệt đối và nhân quả tuyệt đối thì của vũ trụ không cần không gian, không cần thời gian. Mình phải hiểu cái cấu trúc tuyệt đối của vũ trụ, cái chỗ này rất là khó nói.
[1:24:30]Để thầy nói, trong cái câu văn á thì Đức Phật không phải là nói là đứng ở trên ngã tư đường. Thiên nhãn minh á thì mới giống như đứng trên ngã tư đường. Trên cái lầu ở ngã tư đường để dòm người qua lại là thiên nhãn minh, dòm chúng sinh. Còn túc mạng minh là ngài sống lại với kiếp quá khứ như chính mình đang sống, chứ không phải là đứng nhìn từ xa, không phải là thấy mình làm cái này không, không có, lúc đang sống lại. Sống lại với chính mình, lui lại lui lại mình sống lúc đó. Lúc mình làm trẻ thơ mình lăn mình bò sao, rồi lui lại nữa mình trong bụng mẹ sao, rồi lui lại nữa lúc đó mình ở trong cõi súc sinh sao,
[1:25:00]lui lại nữa là lúc mình sống cái đời sống già lúc trước kia sao, là sống lại. Sống lại nhưng cái trí tuệ nó lướt rất là nhanh mà rất là rõ, không bỏ sót chi tiết. Không cần phải sống đủ một trăm năm để hiểu. Ví dụ như kiếp đó mình sống sáu chục năm thì không cần là lúc nhập định phải sống lại đủ sáu chục năm, mà lướt một cái rẹt qua là trong sáu chục năm đó nhận ra hết luôn. Cái túc mạng minh nó như vậy. Mà cái thấy lại đó nó thuộc về cái tính tuyệt đối của vũ trụ. Mà tuyệt đối vũ trụ nó lưu trữ như thế nào cái này thật là khó nói nữa. Có một lần thầy nói nó ở đâu nè, hình như trong cuốn Năm Ấm Giảng Giải á,
[1:25:30]trong cái bộ đó, thầy có nói về cái cấu trúc tuyệt đối của vũ trụ chỗ này. Bữa nay thầy chưa muốn nói, tại nó rất là cao. Hồi trước thầy có nói một lần rồi. Có nói một lần phải không? Nói rất cao, phức tạp quá nên thầy nói thôi tạm thời để đó đi, từ từ nói. Nghe lại trong băng Năm Ấm Giảng Giải thì có nói rồi. Dạ như người mù mà họ không thấy đường, giả dụ họ té xuống giếng họ chết đi, thì như vậy thì khi mà họ chết thì họ vẫn là con ma mù? Như vậy thì khi mà con đọc một số sách thì nói là ờ khi mà mình chết thì cái thần thức mình gọi là cái Bardo đó, họ giống như có thần thông, chứ không còn cái sắc thân thôi thì
[1:26:10]lúc đó là có thể là xuyên qua tường được và rất là sáng suốt. Như vậy thì cái cái ma mù đó nó còn mù nữa không thầy? Ma mù vẫn mù, nhưng mà cái biết khác. À! Bởi vì thế này nè, hồi nãy a hồi nãy thầy nói cái chuyện mà khi khai hoang khu đất trống á, phải không? Rồi sau đó cái đất trống đó mình trồng cà phê mọc lên, mình nói là của mình, phải không? Lúc đó thầy nói trở lại trong cái tâm linh cũng vậy. Đầu tiên mình khi mình tu một thời gian á trong cái tâm linh của mình á nó trống, rồi mình cứ tưởng lầm là cái trống này là tâm của ta. Cái mình nhờ một thiện tri thức nào đó báo cho biết cái trống này
[1:26:44]là của vũ trụ không phải của mình, cái mình buông cái chấp. Nhưng mà tưởng sao, tưởng buông chấp thời gian, bỗng nhiên mình thấy sau một thời gian này trong cái trống đó nó xuất hiện sự thông đạt. Cái biết. Cái biết rất là sáng suốt, biết này biết kia hết. Lúc đó mình giành trở lại: Không, cái này là của tôi lại, không còn là của vũ trụ nữa. Mình cái cái ngã nó bị gợi ý để chấp trở lại một lần nữa. Thì chúng ta hiểu điều này: cái không gian tâm linh của vũ trụ có tính thông đạt. Nó là vậy. Ngoài ra nó còn một số tính khác nữa. Ví dụ nó có tính thương yêu nữa. Cái không gian tâm linh của vũ trụ,
[1:27:15]cái tâm rỗng không đó, mà khi nó rỗng sâu rồi nó có thêm cái tính của từ bi nữa, nên từ bi là một thuộc tính của tâm linh. Bây giờ chúng ta chưa có, chúng ta ráng tập tu thôi, để mình phù hợp với với cái từ bi đó thì mình dễ đắc đạo. Nên người tu từ bi dễ đắc đạo là vậy đó. Bởi vì từ bi là cái tính chất của tâm linh, của vũ trụ. Bên cạnh đó có cái tính thông đạt, tức là cái gì cũng biết hết. Trong cõi tâm linh nó có tính thông đạt. Thì khi mình chết, mình bỏ cái thân xác vật lý này, mình trở thành linh hồn. Linh hồn đó nó là chất liệu plasma của tâm linh, nó rung động của tâm linh, nên nó lấy được sự thông đạt của tâm linh một phần.
[1:27:53]Và trong khi mà nè, cái linh hồn nó lấy được cái sự thông đạt của tâm linh một phần rồi thì nó biết được nhiều hơn lúc mình còn sống. Thầy nói này hiểu không? Hiểu không? Nên đó lý do tại sao mà con ma biết nhiều hơn con người. Là vì vì họ sống với cái trạng thái của tâm linh, cái plasma rung động của tâm linh để tạo thành cái hình hài của họ. Và tâm linh nó có tính thông đạt. Thì dĩ nhiên cái vong hồn đó họ chưa đạt được cái thông đạt tuyệt đối như một vị thánh, nhưng mà họ lấy được một phần của sự thông đạt nên họ biết chuyện này, biết chuyện kia nhiều hơn. Và chính cái biết đó làm cho con ma nhìn thấy mà hiện về thì
[1:28:26]mình vẫn thấy đôi mắt mù, nhưng mà vẫn biết tùm lum chuyện. Đó là bằng cái biết thông đạt. Đi cũng không lộn đường. Nó vậy đó. Ừ. Trời ơi, người sống hỏi chuyện người chết không. Rồi hòa thượng á hòa thượng Trúc Lâm bỏ thầy xuống địa ngục nữa, khổ ghê. Thôi nghỉ ha. Thôi chúc quý thầy, các cô, quý Phật tử ngồi thiền tốt và ngủ ngon nha. Nam Mô...