Transcript: Biết Và Làm

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:32:48

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:12]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Mời các cô các chú cùng ngồi. Hôm

[0:26]nay chúng ta nghe tiếp cái loạt bài về những cái sự khác biệt giữa hai cái phạm trù đối lập với nhau. Đề tài hôm nay là Biết và Làm. Thì từ giờ nhiều khi mình nghe có những cái sự than phiền là sao, ờ biết mà không làm được, hoặc có người nói mà sao không làm được, ờ là tri nan nan tri bất nan hành hay là tri mà không thể hành. Hoặc là chúng ta cũng nghe cái thuyết là tri hành hợp nhất của Vương Dương Minh, nghĩa là biết tức là làm. Mà có trường hợp nói tôi biết mà tôi làm không được. Đây là cái điều mà chúng ta cũng thường hay nghe. Thì hôm nay chúng ta cùng nhau mổ xẻ những cái vấn đề này và để xem

[1:15]và sau đó mình sẽ đối chiếu lại với bản thân mình để mình thấy rằng mình đã biết được điều gì và mình đã làm được điều gì. Thì những điều biết và làm của từng con người trong Phật pháp nó ảnh hưởng đến toàn bộ Phật pháp chứ không phải một cá nhân. Như có một lần á, có một người hỏi tôi, nói làm sao con ngồi thiền rất tinh tấn mà không vào định được. Thì tôi nói cái việc vào định hay không vào định của một người nó liên quan tới toàn bộ đạo Phật chứ không phải của cá nhân người đó. Đây là điều lạ, chúng ta nghe thì chúng ta cứ nghĩ rằng ai tu nấy chứng, ai ăn nấy no, ai tu nấy đắc. Chứ tại sao mà việc tu của một người

[2:05]mà lại là cái ảnh hưởng chung, là một kết quả chung hay là một cái cơ cấu chung của toàn bộ đạo Phật, nghe nó hơi lạ, nhưng đó là sự thật. Cái điều này thì nó hơi khó hiểu, hôm nay thì chúng ta sẽ không giải thích điều này vì điều này nó hơi cao, hơi khó hiểu. Nhưng tuy nhiên đã có một lần thì tôi trả lời điều đó, tôi nói việc tu chứng của một người coi vậy chứ liên quan tới toàn bộ đạo Phật hết chứ không phải chuyện đùa. Vì cái người đó tu tinh tấn dữ lắm, nhưng tuy nhiên chưa đắc đạo, vì cái duyên chung của Phật pháp thì người đó chưa thể đắc đạo, đừng tức lắm. Còn mà có người tu tự nhiên tâm vào định được, phát sinh trí tuệ được, nói:

[2:50]"Ờ, tại vì cái duyên chung của Phật pháp và cái duyên của người đó phù hợp với toàn bộ như vậy là đến lúc người này phải phát huệ, phải giác ngộ, phải chứng cái gì đó. Đó là cái duyên chung." Chứ nhiều khi chúng ta nghĩ là việc tu của mình mình là của riêng mình mình không phải, hoàn toàn sai, không phải, ảnh hưởng lớn. Bây giờ thì chúng ta nói trở lại cái Biết và Làm. Thường thường nếu mà trên nguyên tắc thông thường á thì muốn làm một việc gì thì chúng ta phải biết rõ rồi mới làm, phải không? Đó là nguyên tắc thông thường của cuộc đời này. Tức là dù ít dù nhiều chúng ta cũng phải biết rõ vấn đề đó rồi mới làm.

[3:37]Như ví dụ như một người mà muốn cất cái nhà thì ít ra là cũng phải có cái kiến thức về nó. Mình phải biết sơ sơ cái nhà là kiểu dáng gì, cất tốn bao nhiêu tiền, vật liệu gì. Đó là mình là người chủ nhà. Nhưng mà nếu cái việc đó mình đem bàn với một cái người thầu khoán thì ông này ổng còn biết nhiều hơn nữa, biết từng chi tiết nhỏ phải làm cái gì nữa. Nhưng mà ông thầu khoán này, nếu mà ổng kỹ á, ổng đi ổng hỏi ý kiến của một ông kiến trúc sư, thì ông kiến trúc sư thì ổng hiểu tất cả mọi vấn đề của cái nhà. Ở đây đó ừm cái người mà kỹ sư xây dựng hoặc là cái người thầu khoán á họ làm nhiều chớ về cái lý thuyết hay về cái lý luận,

[4:27]về cái biết xây dựng nó không có nhiều bằng cái người kiến trúc sư. Người kiến trúc sư họ không trực tiếp xây nhưng họ biết về cái nhà nhiều hơn. Đó là cái sự phối hợp giữa cái người kiến trúc sư là người vạch kế hoạch và cái người thực hiện xây dựng là biết và làm phối hợp. Ở đây thì chúng ta thấy nếu mà chúng ta mới biết sơ sơ, mình làm thế nào cái nhà cũng trật. Còn nếu mà mình khiêm tốn lại, mình vay mượn cái biết của người khác, tức là mình hỏi ý kiến của những người chuyên môn thì cái việc làm mình đỡ sai lầm hơn. Cũng như một người bây giờ muốn đi vào đạo, đi tu thì ít ra cũng phải biết đạo Phật là gì,

[5:10]trên đường tu có qua những cái bước khó khăn nào, tu là làm cái gì. Biết sơ sơ vậy, cộng thêm cái thiện căn từ những đời trước nữa, cho nên bây giờ quyết định đi tu, thì ít ra phải vậy, phải biết sơ sơ. Còn có những người khác thì trước khi đi tu sống y như người tu luôn. Tức là ở nhà họ giờ giấc, nề nếp, ăn chay, tụng kinh, tọa thiền, giữ gìn giới luật dần dần. Khi cái người cư sĩ ấy bước vào chùa chưa tu, lâu lâu đến chùa công quả thì cái hạnh, cái đức y như người xuất gia, thì cái người đó họ biết quá rõ trước khi họ làm. Đó, nhưng mà dù sao đi nữa thì chúng ta cũng thấy là phải biết rồi mới làm, chứ cũng không thể là là không biết mà làm.

[6:05]Mà ở đây cái bản lĩnh cái bản lĩnh của một con người là chuẩn bị kỹ chừng nào thì việc làm của mình dễ thành công chừng nấy. Đây là cái người khôn ngoan trong cuộc sống. Thường á, nếu mà nói theo cái lý âm dương thì cái sự chuẩn bị là âm, mà bắt tay làm việc là dương. Hoặc là nếu mình nói không dựa vào lý âm dương, mình chỉ nói vào sự khôn ngoan thông thường của con người thì cái chuẩn bị là cái cái gốc quan trọng, giai đoạn quan trọng. Có khi những công việc mà mình chỉ làm chừng một ngày nhưng mà để chuẩn bị cho một ngày đó mình chuẩn bị 2 tháng thì người đó là người giỏi. Ví dụ như là chùa có một buổi lễ gì đó,

[7:00]nhưng mà ni sư trụ trì chuẩn bị đâu 3 tháng trước, mà lễ chỉ trôi qua một ngày. Trong ngày đó cũng hết, vài tiếng đồng hồ buổi sáng xong hết, nhưng chuẩn bị cho buổi lễ đó 3 tháng. Cũng giống như một vị giảng sư, một vị giảng sư mà cẩn thận, một bài giảng chỉ có 1 tiếng rưỡi đồng hồ, nhưng soạn bài đó, đặt bút mà soạn á, 3 4 ngày tới 1 tuần. Đó là đặt bút soạn, nhưng mà trong đầu nuôi dưỡng đề tài đó là 3 4 tháng trước. Thì cái bài giảng nó vững, đó. Nghĩa là cái sự chuẩn bị kỹ chừng nào thì khi mình thực hiện nó dễ thành công, nó chu đáo chừng đó. Mà ở đây là cái bản lĩnh của con người trong cuộc sống.

[7:48]Cái người càng lớn á thì người ta tốn cái thời gian chuẩn bị càng lâu. Còn cái người mà nhỏ tuổi hay người trẻ tuổi mới lớn lên trong cuộc sống chuẩn bị ít, thường là bị nông nổi, vội vã. Đây là cái cái quy luật chung, chúng ta không tránh khỏi. Thường một thanh niên khi mới lớn lên trong cuộc sống, định làm cái gì là bắt tay làm liền. Hễ thấy cái gì mình biết hơi hơi, ham thích là xắn tay áo vào làm liền, thường thất bại. Còn người lớn tuổi, hễ định làm việc gì tính trước, tính sau, tính qua, tính lại. Vì kinh nghiệm nhiều quá nên họ thường họ chín chắn, họ thành công hơn. Họ không táo bạo, không có dám táo bạo như tuổi trẻ.

[8:36]Nhưng mà khi đã làm họ chuẩn bị rất kỹ, đó là vì người người lớn tuổi. Mà chúng ta thấy, như vậy giữa cái biết và cái làm thì thường biết rồi mới làm, mà biết nhiều chừng nào thì cái việc làm nó tốt đẹp chừng đó, phải không? Còn mà thường thường nếu chúng ta chỉ đoán, biết sơ sơ rồi cũng làm thì việc làm nó không có tốt. Chúng ta ví dụ như là chúng ta muốn làm cái việc phước, chúng ta muốn tạo điều thiện thì do đâu? Cũng là do mình hiểu biết luật nhân quả trước. Như là chúng ta đã đọc những cuốn sách về luật nhân quả, đã đi nghe nói chuyện về luật nhân quả, đã từng chính mình suy ngẫm về luật nhân quả vài năm, vài tháng rồi.

[9:27]Thì lúc đó mình đã hiểu quá vững rồi. Rồi thường trong cuộc sống mình suy xét đó, mình nhìn người này mình suy luận nhân quả như thế nào, thế kia, nhìn người kia suy luận nhân quả, cái người mình nó thành thấm rồi, chắc chắn. Thấy một người đẹp, mình hiểu nhân quả; mình thấy người xấu, mình biết nhân quả; thấy người giàu trong trường hợp này nhân quả gì, giàu tại sao mà còn dữ, còn người kia nghèo mà hiền, nhân quả gì, mình biết. Ví dụ thấy một người siêng năng đến chùa làm việc đạo nhưng mà tính tình còn tự cao thì mình biết nhân quả sẽ đi về đâu; hoặc là có người mình thấy hiểu đạo sâu mà thụ động thì mình cũng hiểu nhân quả người này sẽ đi về đâu.

[10:15]Đó, nghĩa là cả một quá trình dài mấy năm như vậy, đọc sách, nghe giảng, tham khảo, suy gẫm cho đến khi cả con người mình là ngắt miếng thịt nào ra cũng nhân quả không thì lúc đó là con người mình thẳng tiến Lúc nó bắt đầu mình lu- luôn luôn mình tránh điều ác và làm việc thiện. Phải không? Vì biết tội phước rõ quá rồi. Nên từ đó là cái biết đã được chuẩn bị kỹ, nên từ đó cái việc làm cẩn thận. Hễ nói một điều gì, làm điều gì, cân nhắc, cân nhắc, để coi coi mình có cái phạm vào sai lầm hay không. Đó là cái hiểu biết đưa đến cái làm. Cũng giống như thiền quán cũng vậy. Thiền quán là đỉnh cao của sự tu tập.

[11:04]Sự tu tập thì có nhiều cái giai đoạn, nhiều mức độ, nhưng mà thiền quán là đỉnh cao. Chúng ta nói điều này cũng có nghĩa là một người đến với Đạo để tu hành, đừng bao giờ vội vàng tu thiền liền. Hễ mình nghe nói pháp môn nào à tu hả, đi vô đây, chùa này dạy thiền, đừng vội vàng. Bởi vì thiền là một giai đoạn phát triển cao của sự tu tập. Mà nếu trước đó chúng ta không có chuẩn bị nhiều điều thì ngồi thiền dễ bị điên loạn, phá hỏng bộ não, gọi là tẩu hỏa nhập ma, nó là như vậy. Đó là giai đoạn cao. Rồi bây giờ ví dụ như mình là người Phật tử thuần thành, trước khi đến với thiền định mình đã tu tập

[11:51]nhiều cái công hạnh khác, tức là mình đã tu dưỡng được đạo đức, đã làm được nhiều điều phước lành, biết tụng kinh, biết ăn chay, à biết giúp đỡ, biết hy sinh, nhiều cái công hạnh thuần thục, nghiên cứu kinh điển đâu đó rồi, và mình cảm thấy mình đã đến lúc mình phải đi vào sự an định của nội tâm, thì đây là giai đoạn đúng lúc chín muồi. Mà khi quyết định như vậy, thì trước hết mình cũng phải hiểu biết xem coi thiền là gì ở trong đó. Thiền là mình phải tìm đến một vị thầy có kinh nghiệm để mình hỏi, rồi mình đọc sách biết nhiều mặt rồi mới bắt đầu thực hành. Nhưng ở đây nó cũng là cái hên xui may rủi, nó tùy theo công đức của mình.

[12:37]Vì sao? Vì bây giờ sách thiền tràn ngập, sách thiền tràn ngập khắp nơi hết, rất nhiều tác giả viết về thiền, cho nên mình không biết ai đúng, ai sai. Mà có những cuốn sách được viết ra bởi những người tu có kết quả, có những cuốn sách được viết ra bởi người chỉ mới hiểu cũng viết. Rồi có những trường hợp có những cuốn sách viết ra bởi người tu có kết quả, nhưng không đi qua nhiều cái giai đoạn phức tạp rắc rối, ổng thấy ổng tu dễ dính quá đi, ổng tu mấy bữa ổng vô định mất rồi, rồi ổng lấy cuốn sách đó ổng viết thì ai tu theo cũng trật hết. Rồi có cuốn sách được viết ra bởi một người tu quá cực khổ,

[13:20]ổng đi qua nhiều giai đoạn quá khó khăn trong nội tâm, rồi từ từ ổng mới đạt được, thì cuốn sách này viết ra nó sẽ rộng rãi, có nhiều cái kinh nghiệm mình tham khảo, mình đỡ sai lầm hơn. Đó là đọc sách. Đọc sách xong cũng chưa đủ, tại vì lời nói trên sách nó không có chuẩn, thế là mình phải tìm đến một vị thầy nào đó mà mình có duyên, thì ở đây hên xui may rủi. Nếu mình may mắn, mình gặp được vị thầy ổng ổng vừa khéo tu vừa khéo dạy, thì mình có hy vọng, có hy vọng là mình sẽ được hướng dẫn tốt. Nhưng mà nếu mình không may mắn, mình gặp vị thầy mà ổng khéo tu mà không khéo dạy, hay ổng nói hay mà ổng không có

[14:02]thực hành nhiều, thì thì việc tu hành của mình cũng không có không có thể tiến sâu được, không có dễ dàng. Nên nhưng mà làm cách nào để chúng ta gặp được một vị thầy tốt?

[14:17]Thì đây là điều cũng khó, vì trong cái thời đại của mình, hoặc là trong cái chỗ mình ở, có cái ông thầy tốt hay không cái đã. Có một vị minh sư mà vừa tu hay vừa dạy hay, có hay không cái đã. Nhiều khi thời đại đó chưa có người đó. Nhiều khi trong khoảng năm, sáu mươi năm chưa có một con người như vậy, là vừa dạy hay mà vừa tu hay, là mình đành chịu, là mình thiếu duyên, thiếu phước, ráng chịu. Còn nếu may mắn trong cái thời đại của mình có một người như vậy, họ vừa tu hay vừa dạy hay, thì mình có hy vọng. Tuy nhiên, cũng chưa chắc có duyên để gặp. Ở đây là nhờ duyên của Phật pháp run rủi đưa đẩy,

[14:57]chứ tự mình mình không thể nào biết được ông thầy nào hay, ông thầy nào dở. Vì có những ông thầy nhiều khi do cái duyên của mình, mình thấy ổng hay, mình theo ổng, theo một thời gian ổng dở ẹt à, ổng dạy mình trật lất luôn à. Rồi có cái duyên mà mình may mắn, mình có duyên với ông thầy ổng giỏi, mình đến gặp cái tự nhiên mình mến mộ, theo ổng tu đúng luôn. Đó, nên cái chỗ mà để đi tìm cái biết cho việc tu tập thiền định, chúng ta thấy khổ công chứ không phải dễ. Khổ công, do đó trước hết thường là mình cứ cầu nguyện chư Phật gia hộ cho mình tìm được minh sư, tìm được vị thầy chân chính, xứng đáng, rồi sau đó mình nghiên cứu thật kỹ, hành từ từ, từ từ.

[15:40]Nên cái việc thiền định là cái quan trọng, vì nó là cái đỉnh cao của sự tu tập. Mà nó đã là đỉnh cao thì nó cần cái sự chuẩn bị còn nhiều hơn nữa. Chúng ta thấy ví dụ như mình nói tổ chức một buổi lễ cũng phải chuẩn bị hai, ba tháng, tổ chức một bài giảng cũng phải sắp xếp mấy tháng, á, nó nuôi dưỡng đề tài mấy tháng. Quý Phật tử biết chứ có những đề tài như tôi muốn giảng vậy là tôi nuôi dưỡng mấy năm á. Như cái bộ Tâm lý đạo đức là bài đề tài đã nuôi dưỡng mấy năm rồi mới bắt đầu giảng. Và hiện nay cũng vậy, chưa giảng mà tôi cũng đã nuôi dưỡng một số đề tài cho mấy năm sau rồi. Như vậy đó, do mình quan sát trong sự tu tập của chính mình,

[16:22]sự tu tập của chư Tăng Ni khắp nơi, và mình cảm thấy điều gì cần nên nói, thì lúc đó là mình đã nuôi dưỡng từ từ, từ từ, chứ không phải tới lúc mà à tới ngày nào sắp đi giảng ngày bữa nay mới lật ra để mà chuẩn bị thì bài giảng nó cạn cợt lắm, không ra gì. Ở đây những bài giảng nó phải được xuất phát từ trong đời sống thực, trong sự tu hành thực của mình và của mọi người. Và những cái điều xuất phát từ đời sống thực, trong cuộc đời thực đó, là không thể nào quan sát trong vài tiếng đồng hồ mà hết, mà phải là sự quan sát của nhiều năm nhiều tháng như vậy, nên nó mới chín muồi được. Thì như vậy, chúng ta đã theo nguyên tắc:

[17:03]biết rồi mới làm, mà biết càng kỹ thì việc làm càng tốt đẹp. Đó là cái khái niệm. Bây giờ thì chúng ta sẽ nói qua cái tính chất thứ hai của biết và làm là có những điều mà biết tức là làm luôn. Hồi nãy thì mình nói là phải biết rồi mới làm, phải không? Nhưng bây giờ chúng ta sẽ thấy có những trường hợp lạ là biết tức là làm luôn. Nghe lạ không? Thì ở đây chúng ta sẽ thấy ví dụ thế này. Thường thường những cái mà biết tức là làm á, đó là những cái việc ở trong nội tâm á, trong nội tâm. Ví dụ như bây giờ chúng ta học theo Phật, mà chúng ta thấy thân này hư giả, tạm bợ, thì cái đó là cái biết, mà cái biết đó tức là làm á,

[17:56]cái biết đó tức là tu luôn rồi, chứ không cần thêm cái gì nữa. Ví dụ như khi chúng ta học tới bài kinh Tứ Niệm Xứ hoặc là bài kinh Thân Hành Niệm trong a trong Nikaya, thì chúng ta sẽ thấy Phật nói như thế này: là bây giờ hãy quan sát cái cơ thể của một con người từ lúc bắt đầu sinh ra, phát triển lớn lên trưởng thành, rồi từ từ già nua, yếu đuối. Hãy nhìn một cô gái vào cái thời xuân trẻ, da dẻ tươi tắn, tốt đẹp, nước da mịn màng, mắt xanh, tóc đen, và hãy nhìn thấy cô gái đó đến lúc trở thành tuổi già, da nhăn nheo, tóc bạc, mắt mờ, tai lãng, đi run run, và trong kinh Nikaya có câu này vui lắm:

[18:50]cái lưng còng như một cái mái nhà, lưng còng như cái mái nhà. Chư Phật tử thấy lưng ai còng như cái mái nhà chưa? Mình nghe thì nói ủa sao Phật nói như cường điệu vậy, nhưng mà sự thật không phải nha. Có lần tôi cũng gặp vài ba bà cụ già đúng là lưng như cái mái nhà luôn vậy đó, lưng như cái mái nhà, không có bằng cái mái nhà của người Thượng thiệt, nhưng cũng bằng cái mái nhà như cái cốc của tôi vậy nè. Đi mà không phóng. Rồi rồi Phật lại nói tiếp: rồi đến một lúc nào đó thân hoại mạng chung, cái người đó chết. Chết rồi, chúng ta hãy quan sát cái cơ thể đó. Từ từ Ở đây thường thường mình chôn vô hòm hết rồi, không ai thấy.

[19:35]Chứ bên Ấn Độ thì người ta quăng vào thi lâm, nghĩa là quăng vào cái rừng để xác chết cho chim, thú rồi ăn. Thấy cũng rùng rợn quá ha. Cũng hơi lạ ha, cái phong tục kỳ chứ như mình mình đâu có dám để cho người thân mình như vậy. Thì cái thân đó từ từ nó sao, nó sình ra to như một cái cái bong bóng, hồi xưa không có bong bóng, nhưng nó sình to lên như vậy, sình trương, rồi có những chỗ nứt nẻ và nước nó chảy ra dần dần, cái mùi hôi bốc lên. Phật diễn tả nó kỹ lắm. Rồi từ từ cái nó sình lên miết rồi từ từ cái nó khô xẹp từ từ trở lại. Thì cái thịt một ít thịt thì nó hoại ra bên ngoài, giòi bọ ăn, một ít thịt nó bám lại trong xương.

[20:18]Rồi một thời gian nữa cái cái thịt mà nó dính trong xương nó khô quá cái nó rớt khỏi xương, rớt xuống, và những con này con kia đến ăn, còn lại cái bộ xương. Cái bộ xương nằm trên mặt đất là có những con thú đi nó gặm, nó lôi cái đầu lâu thứ này, cái xương tay kia nó lôi đầu kia. Rồi một thời gian nữa, cái xương đó theo thời gian mục dần mục dần, rã ra thành tro, thành bụi. Phật bắt mình ngồi phải suy nghĩ, quán về điều đó, để mình biết một sự thật, mà biết một cách sâu sắc là thân này là vô thường, là hư giả. Chỉ cần biết thôi, mà khi biết như vậy tức là tu, tức là làm. Cái đó, cái biết đó tức là làm.

[21:00]Mà để cho cái biết nó thật thấm thì mình phải suy nghĩ một cách sâu sắc như vậy. Hồi lúc mà tôi mới đọc Nikaya, thì đọc đến cái đoạn mà Phật tả tỉ mỉ quá, nhiều khi tôi cũng hơi ngạc nhiên. Nói sao mà Phật nói chi mà nói tả thực cho đến đau đớn về cái thân xác của một con người thì ai cũng biết. Mà Phật nói làm chi mà nó lột trần và đau đớn quá. Nhưng mãi đến khi mà sau này mình tu theo nhiều năm nhiều tháng rồi, mới thấy là thật cái trí tuệ của Phật không ai bằng. Nên cái người mà mình mới tu nhiều khi mình biết ơn Phật chút chút, tu lâu mình mới thấy không cách nào mình đền ơn được Phật. Những điều Phật đã nói, cái trí tuệ của Phật gửi gắm trong từng lời kinh,

[21:43]tiếng kệ để mà mình thực hành, nhưng mà mình thực hành không có đúng. Thực hành không đúng. Thực hành theo lời Phật dạy trật nhiều lắm, trật. Sau này thì càng tu mình cứ thành tâm mà lạy Phật, dần dần mình mới phát hiện ra những cái điều mình đã thực hành sai ở lúc trước. Lạ lùng lắm. Có nhiều cái điểm mà Phật nói thấy mình đã hiểu rồi đó. Ví dụ như mình nói là thở vào, thở ra, thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra. Ở đây chúng ta nghe cái đó chưa? Cũng nghe hết rồi phải không? Có thực hành thử chưa? Cũng thực hành rồi luôn rồi, có người thực hành. Nhưng mà trật lất à. À mình thấy cái câu Đức đơn giản hiểu rồi,

[22:28]làm rồi, cũng được rồi, mà xin thưa trật lất. Lạ lùng như vậy. Nên sau nhiều năm tháng để học kinh Phật rồi tu hành, tôi mới chỗ đó là chỗ mà tôi ngạc nhiên. Tôi ngạc nhiên tôi nói thật là đúng là chúng sinh thiếu phước, Phật nói rõ nhưng mà thường chúng ta làm sai, mà cái sai đó trong đường tơ kẽ tóc. Mình nghĩ đúng hết rồi: Ờ thì thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra rõ ràng. Có gì đâu mà sai, quá dễ, đâu có gì đâu mà sai. Nhưng trật hết trơn. Mà trật chỗ nào thì xin hẹn đón nghe cái băng nói về hơi thở lần khác. Chứ không phải đón xem phim gì đâu, mà để đón nghe băng khác, chuyện giống phim thị quá. Thì là như vậy đó.

[23:16]Nên ở đây chúng ta trở lại cái mà biết thân là hư giả từ hồi đó đến giờ. Tôi cũng ngạc nhiên là Phật nói chi tỉ mỉ quá thì mình cũng quán thân là hư giả rồi. Thì khi tôi tu vậy thì mình cũng thường quán thân, tâm, hoàn cảnh này là hư giả chứ có gì đâu mà mà... thì cũng được, có gì đâu mà Phật nói chi quá, nói rắc rối mình nghĩ nó thành ra quá rắc rối quá dài dòng. Nhưng mà không ngờ phải vậy. Chính những điều Phật nói kỹ như vậy là vì lòng từ bi của Phật quá lớn. Phật phải nói rất chi tiết, chi tiết như vậy, để chi? Mình thấm sâu vào xương vào tủy mình cái điều đó là thân này là hư giả. Mà khi thấm thật kỹ rồi đó, cái ấn tượng nó mạnh trong

[23:59]tâm rồi đó thì mình đỡ phải cực khổ tác ý quán. Mà khi mình bắt chân lên ngồi mình nghĩ đến thân là mình thấy thân này nó rã rời từng cục sình trương thấm thật kỹ và cái chấp thân nó tan từ từ, tan từ từ. Trong các điều chấp, thì chấp thân là căn bản. Tu đó, thì có nhiều vấn đề để tu, trong đó là để định tâm nè, để phá chấp. Hai cái đó phải đi song song với nhau. Là phải tâm phải được định và chấp phải được phá, đó gọi là tu. Thường thì người ta dùng cái chỉ để định tâm và người ta dùng quán để phá chấp, đó là hai cái song song vậy. Vì nếu định mà chấp không hết thì thành ngoại đạo, không phải chứng thánh, chỉ được định mà không chứng thánh.

[24:44]Còn nếu như phá chấp mà không được định thì cũng không thể chứng thánh, mà cũng không gọi là phá chấp nữa. Tại vì phải có định thì mới phá được chấp. Nên hai điều đó phải đi song song song song với nhau. Mà trong các chấp của mình đó thì nó nhiều lớp nhiều thứ dày đặc hết á. Tuy nhiên cái nền của nó là cái chấp thân. Vì mọi cái tư tưởng mình cũng ở trên thân mà ra, mọi cảm giác của mình cũng từ thân mà ra, mọi cái tham muốn mình đối với cuộc đời cũng bởi vì mình yêu cái thân của mình mà ra hết, mình thương người này mình ghét người kia cũng từ cái thân mình ra hết. Mà chính cái thân này nó phát sinh cái cảm thọ hạnh phúc

[25:20]hay đau khổ thì ai mà làm mình hạnh phúc mình thương người đó, ai làm mình đau khổ mình ghét người đó. Như vậy cái thương cái ghét nó cũng liên quan cái thân này. Rồi mình muốn nhà cao cửa rộng tiền bạc thiệt nhiều thì cũng là vì để nuôi cái cái thân này. Cho nên nó có rất nhiều lớp chấp trong nội tâm mình thì cái chấp căn bản vẫn nằm ở cái thân trước. Nên tu hành căn bản phải phá cái chấp thân. Muốn phá chấp thân thì phải biết thân này hư giả, mà muốn biết thân này hư giả thì biết sơ sơ không được, biết thiệt kỹ. Một ngày nào đó ví dụ như mình bị xe lửa cán hai chân, mình thấy thân mình nó nó giả rõ ràng không không có gì nữa.

[26:03]Thấy trời, bữa trước hai chân còn của mình, giờ của xe lửa lấy mất rồi. Phải không Thúy Như? Hoặc là cái người nào thân yêu của mình đó, mới ngày hôm trước còn nói chuyện mình, ngày hôm nay xe tông mất. Mình thấy cái thân này nó hư giả. Nhưng mà Đức Phật đề phòng trong trường hợp mình là một người mà không bị xe lửa cán hai chân, mình là một người mà không có người thân bị xe đụng mất, thì mình đang sống cuộc đời rất bình an, thì Phật phải dạy về cái cái cái cái bản chất vô thường của thân thiệt kỹ, sưng sình, chết sình trương, thú chim ăn xé xác đồ, tan thành tro bụi thổi bay theo gió. Đó là Phật dạy kỹ để đề phòng trong trường hợp mà mình không bị

[26:47]một cái sự cố gì để đánh vào một cái ấn tượng mạnh trong tâm. Tự mình phải, tự mình phải có cái suy tư và Phật gợi ý, gợi ý cái suy tư đó cho mình thật kỹ. Thì khi mà mình biết điều đó, tức là là người thường quán thân này giả, người đó đang tu, đang tu rất tốt, rất căn bản, đừng cần cái gì cao trước hết. Có nhiều người khi mình tu thiền, mình mơ ước cái pháp môn thiệt cao để mau thành Phật, nhưng mà hãy nhớ đó là xây lâu đài trên cát. Cái quán thân này hư giả là nền tảng của mọi việc, nó là pháp môn quan trọng. Mà nhiều khi không cần tiến lên pháp môn nào hết, cứ đứng ngay cái chỗ quán thân hư giả, nhiều vị đắc A-la-hán luôn.

[27:34]Trong kinh Phật ngày xưa ghi điều đó rất rõ. Hay như vậy. Rồi ví dụ như chúng ta có một trường hợp khác: biết tức là làm. Ví dụ như là mình mình nhận ra được lỗi của mình, tức là mình đang hết lỗi đó, tức là đang sửa lỗi đó.

[27:53]Đây là biết tức là làm. Ví dụ như trước đây mình có một cái cái ganh tị với cái người nào thành công hơn mình, cái tâm ganh tị đó thầm kín, mình không thấy. Nhiều khi mình thấy bực bội mình nói câu này mình chê người này, nói bực bội câu mình chê người kia, mình không biết tại sao mình bực người ta. Nhưng lúc nào đó do công đức lễ Phật lâu ngày, phước tăng lên, phước tăng lên tâm sáng lên, tâm sáng lên mình... lúc có khi mình thấy người kia được thành công, mình vừa nhóm cái ganh tị lên mình thấy liền: "Rồi, đây! Cái lỗi của mười mấy năm nay nằm chỗ này, nằm cái chỗ mà mình đã ganh tị người ta mà không

[28:38]thấy." Mà khi mình đã chân thành mình nhận được cái lỗi, thấy được cái lỗi thì lỗi nó còn không? Còn không? Còn không? Còn phân nửa. Hết thì chưa hết liền được, còn phân nửa. Đó, rồi khi mình đã biết như vậy, mình cộng thêm cái mình sám hối, mình hối hận, nuôi dưỡng cái hối hận, nuôi dưỡng cái sám hối đó thêm thời gian vài tháng nữa thì hết luôn, đó vậy. Nhưng mà ban đầu mình biết được lỗi thì đã là mất đi phân nửa cái lỗi đó rồi. Thì như vậy cái này chỗ này biết tức là làm, biết tức là làm. Hoặc là ví dụ như mình có một cái tham vọng là mình muốn được làm lớn, muốn được nổi bật trước mọi người.

[29:23]Người ta ngoài ta nhìn thấy hết trơn rồi, mình không thấy. Tại ở đâu mình cũng vẻ muốn làm nổi, ở đâu mình muốn ăn trên ngồi trước, mình muốn nói câu này câu kia nghe nó sôi tụ giữa đám đông để cho mọi người chú ý thì mình thấy bình thường, vui chứ có gì đâu, đâu có gì đâu lỗi phải. Nhưng mà có một người nào đó họ bên ngoài họ tinh ý họ dòm thấy hết á, thấy mình muốn nổi, mình đang có cái tham vọng thầm kín, đúng hay không? Rồi do thời gian mình đi chùa, tu tập kính trọng chư Tăng, kính trọng quý thầy quý cô, lễ Phật, tụng kinh, tọa thiền. Một hôm trời đẹp nào đó cái mình phát hiện ra thì ra cái thằng của mình là một cái nội tâm

[30:08]lúc nào cũng thích nổi bật trước thiên hạ, có cái tham vọng làm lớn trước thiên hạ. Mà khi biết như vậy là nó mất hết phân nửa, chỉ còn thêm thời gian giữ cái hối hận hay là sám hối nữa thì nó hết luôn. Đó, có những trường hợp đó thì biết tức là làm, biết tức là làm. Hoặc là cái hối hận, hối hận nó hay lắm. Có một lần chúng tôi cũng nói về đề tài hối hận trong loạt bài Đạo lý - Đạo đức. Hôm nay chỉ nói phớt qua thôi. Ví dụ khi mình thấy mình có cái lỗi nào đó rồi mình hối hận, dĩ nhiên là lỗi hơi lớn lớn mình mới hối hận sâu sắc, chứ còn lỗi thường thường thì mình ít có hối hận. Là ví dụ như một người con ở trong gia đình,

[30:58]bao nhiêu năm mình không quan tâm đến cha mẹ mình lắm, nhưng rồi đến một ngày nào đó bỗng nhiên mình thấy hoặc là mình nghe kinh hoặc là mình chứng kiến cái tấm gương hiếu hạnh của những người khác hoặc là do lòng từ bi của mình tu tập tăng trưởng lên thì tự nhiên cái cái người đầu tiên mà mình phải thương yêu là cha mẹ mình trước. Cái lúc đó cái mình nó sực thấy lại là nhiều năm tháng qua mình thờ ơ...

[31:31]Thì lúc đó cái hối hận nó kéo dài. Vì cái lỗi nó nó nó lâu quá, cái hối hận. Còn nếu mà cái lỗi mà tức tốc thì mình biết cái là mình bỏ từ từ, vượt qua liền. Còn cái mà những cái lỗi lâu làm cho mình hối hận. Như có những ông chồng cũng vậy, nhiều khi lúc trẻ chưa biết đạo hay đối xử với vợ tệ bạc, hay chạy theo những cuộc vui, chạy theo bạn bè, theo tiệc rượu, và nhiều khi theo bồ theo bịch. Đến lúc nào đó lớn lên, trầm tĩnh lại, cái ham muốn vui chơi không còn nữa, mà rồi lại gặp Phật pháp, biết tu hành, cái sực nhớ lại cái quãng đời tuổi trẻ thật là phí phạm. Thì nhìn lại vợ, nhìn lại con mình,

[32:16]lúc đó tràn đầy cái lòng thương yêu, thì hối hận, cái hối hận nó kéo dài. Nhưng mà khi hối hận như vậy đó là cái lỗi của mình đã bớt từ từ, cái tội của mình đã bớt từ từ. Ở trên chư Phật, chư Thánh đã chứng giám. Chỉ sợ cái là mình không hối hận đó, cái lỗi mình khó hết. Còn có hối hận là lỗi đang hết dần dần, hết dần dần. Cái hối hận nó hay lắm. Lỗi lớn trầm trọng cỡ nào mà hễ có hối hận là được chư Phật chứng minh liền. Luôn luôn chư Phật, cái chư Phật, chư thiên trên trời ghi nhận cái tâm đang hối hận của mình xảy ra kéo dài thời gian dài. Và và hộ trì cho mình từ từ, từ từ. Hoặc là có những người ở trước đây chưa biết

[33:01]Phật pháp thì ghét người tu, ghét người tu. Cứ nghĩ rằng người tu là người ăn bám xã hội, đạo đức giả, làm những việc không thực tế, không đóng góp được cho sự tiến bộ của xã hội, họ nghĩ như vậy. Cho đến cái ngày họ biết được Phật pháp, họ tu tập cực khổ, rồi họ mới thấy cái giá trị của người tu, lúc đó họ mới hối hận lại, nhiều năm tháng trước họ đã xúc phạm đến người tu. Cái hối hận nó kéo dài, kéo dài. Như tôi còn nhớ vậy, có điều là cũng không có nặng lắm, nhưng mà nhớ lại nhiều khi bật cười hồi còn nhỏ có ông cậu, ổng hay chọc người tu. Thì ông bảo ổng hay dạy tôi những điều này điều kia từ nhỏ vậy,

[33:46]có khi ổng dạy tôi bắt chân ngồi kiết già, nói bắt ngồi vầy là giống ông Phật nè. Rồi ổng bắt tôi chắp tay lên, cái nói người ta niệm Nam Mô A Di Đà Phật, còn mình niệm là Nam Mô Ai Đi Đà Lạt. Thì tôi hồi nhỏ cười cũng không biết, ổng nói sao cũng cười cười nghe vậy không hiểu gì hết. Rồi ông cậu ổng qua đời sớm rồi thôi. Nhưng mà rồi lớn lên khi mình biết đạo rồi mình mới nghĩ rằng, à, đó cũng là một sự xúc phạm, một cái trêu đùa, trêu đùa cái việc niệm Phật đó là cái lỗi. Tuy nhiên lúc đó mình nhỏ quá, mình bị thụ động nên mình nghĩ không thành lỗi, dù có một chút hơi hơi ăn năn nhưng mình nghĩ không đáng.

[34:24]Nhưng mà còn nếu cái người nào mà trong cái tình trạng đó mà kéo dài thì khi mà họ nhận ra lỗi họ hối hận lâu dài. Nhưng cái hối hận đó được Phật chứng minh liền. Là ví dụ chúng ta so sánh hai trường hợp sẽ thấy một người ừ phỉ báng, xúc phạm người tu, nhìn thấy ai xuất gia tu hành cũng đều coi thường ở trong lòng. Gặp vỗ vai kêu bằng anh bằng chú mà khinh khỉnh nữa. Thì cái người này cho tới chết vẫn không biết lỗi mình thì chết đọa liền. Chết nghĩa là qua đời sau sinh vào những cái nơi thấp hèn, hèn kém. Còn cái người ví dụ cũng vậy, cũng thời gian đầu do hiểu lầm người tu coi thường, nhưng đến khi hiểu sâu vào đạo rồi, họ biết lỗi mình, nói:

[35:11]"Người tu không phải ai cũng xấu. Mà nếu cái người nào mà tốt, nghĩa là thực hành được lời dạy của Phật một cách tinh tấn, thì thiệt là những viên ngọc của cuộc đời, đạo đức họ rất tốt, tốt người thường không bằng được. Chớ còn cái người tu xấu thì thôi đành chịu rồi, ở đâu chẳng có. Ở trong môi trường nào cũng có người tốt người xấu. Ví dụ có những người tu giả dối, ừ ích kỷ, lừa lọc, gian tham, hình thức phô trương, vân vân, thì cũng có chứ không phải không. Nhưng mà ngoài những người đó ra, cũng còn những người tu rất là tốt. Mà nếu cái người nào mà họ chân thành, tinh tấn thực hành lời Phật dạy thì người đời theo không lại. Thì vì sao?

[35:55]Vì họ có cái con đường đi quá thênh thang, quá thiêng liêng, quá chuẩn xác của Đức Phật dạy lại, hơn là những người đời dù có thể tốt đó, nhưng không bao giờ tốt một cách sâu sắc được hết, bằng những người mà đã có được con đường của chư Phật để lại." Nhưng khi họ hiểu được điều đó, họ hối hận thì cái tội của họ 20 năm trước đó xúc phạm chư Tăng thì họ nuôi dưỡng hối hận, có nhiều khi hối hận 3 năm hết tội kia của 20 năm luôn, chỉ cần 3 năm hối hận. Thì lúc mà mỗi ngày mỗi giờ họ hối hận, ở trên chư Thánh nhìn xuống cũng thấy cái tâm đó và chứng minh họ từ từ, an ủi, giúp đỡ, thủ hộ họ dần dần để từ

[36:36]từ cho họ vượt qua hết lỗi lầm và từ từ họ có thể tiến tu được. Đó, đó là cái tâm hối hận nó lợi ích. Vì như vậy, chỉ khởi tâm biết lỗi là đã làm, đã tạo thành công đức, đã vượt qua được chấp trước dần dần. Đó, chúng ta thấy có những cái như vậy. Hoặc là ví dụ ví dụ như một người tu tập có được định tâm, tâm đã vào được định, rồi họ nghiên cứu một cái công án của Thiền tông, lúc nào đó bừng sáng họ ngộ luôn. Lúc mà họ hiểu được câu án đó là lúc đó họ là chứng Thánh luôn, là giác ngộ luôn. Thì ngay lúc đó, cái đó biết tức là làm. Hễ biết là cuộc đời mình bước qua một vị trí khác, thành một con người khác luôn.

[37:23]Đó là nghiên cứu được có công án của Thiền. Đó là có những trường hợp như vậy là biết mà tức là làm. Mà để đạt được điều đó cũng đau khổ, day dứt lắm chứ không phải dễ. Như ngày xưa có ông Vương Dương Minh, ông là một nhà Nho. Ông là một nhà Nho rồi ông đi tìm chân lý đến lúc ông bị đày vào trong cái vùng mọi rợ, ở núi sâu. Chính trong đó, một lần ông đã hiểu được cái lý cuộc đời này là một giấc mộng, ngay đó tâm ông bừng ngộ luôn. Và ông ngộ đúng y chang một thiền sư, thiệt là lạ, điều đó thật là lạ. Là ông là một nhà Nho nhưng cái ngộ của ông là cái ngộ của một thiền sư. Nên từ đó ông ông bắt đầu ông phát triển cái đạo Nho

[38:11]trở thành Đạo Phật luôn, thành Đạo Phật luôn. Tên tuổi của ông cũng để lại lịch sử của Trung Hoa cũng nhiều. Bên Nhật thì họ áp dụng cái lý thuyết của ông hơn. Nên ông là người mà đưa ra cái thuyết "Tri hành hợp nhất", hễ biết tức là làm. Chỗ này làm nhiều người ngạc nhiên. Có người thì nói phải biết trước rồi làm mới rồi mới làm, mà ông Vương Dương Minh nói: "Biết tức là làm." Là chính cái chỗ mà nội tâm của ông đã ngộ được nên ông nói điều đó. Trong khi bừng ngộ rồi, ông nói ông biết được chân lý rồi thì ngay đó cuộc đời ông thành người khác rồi. Ông vượt qua được phiền não, tâm được an tịnh, tự tại, có trí tuệ làm đâu đúng

[38:48]đó, nên ông thấy à biết tức là hành là làm, tri tức là hành. Nên ông đưa ra cái thuyết "Tri hành hợp nhất" là vì cái cái chỗ ngộ của mình. Nhà Nho đến bây giờ chứ nhiều khi vẫn còn thắc mắc cái chỗ ông Vương Dương Minh tại sao tri hành hợp nhất, tại sao biết tức là làm. Mà vì họ không hiểu được cái chuyển biến nội tâm dữ dội của ông. Đốn ngộ một cái là biết tức là làm. Đây là điểm đặc biệt. Còn các thiền sư thì rất là nhiều, chúng ta nghe như vậy. Hoặc một ví dụ khác để chúng ta thấy biết là tức là làm. Ví dụ như khi vọng tưởng khởi lên, mình biết được, mình không chấp nhận, vọng tưởng tan liền.

[39:30]Thì cái biết đó là biết tức là làm, biết tức là tu. Đây là con đường gọi là chánh niệm tỉnh giác. Như Hòa thượng Thanh Từ thì gọi là pháp môn "tri vọng". Còn hồi xưa Đức Phật gọi là "chánh niệm tỉnh giác". Mà pháp môn nào cũng phải đi qua cái ngã ba đó hết, ngay cái chỗ hội tụ đó hết. Là cái chỗ mà vọng tưởng khởi lên mình biết liền, không có để nó gạt, không để chạy theo. Thì cái đó biết nó, thấy nó, không theo nó, tan liền. Thì cái đó cũng biết tức là làm, biết mà tức là tu, là như vậy. Rồi có trường hợp mà biết cũng tức là tu là thế này, có những cái bài giảng cẩn thận, thấu đáo, cẩn thận, thấu đáo, kỹ lưỡng

[40:18]thì chỉ cần mình lặng lẽ ngồi nghe, nghe cái từ từ tâm hồn mình thay đổi liền. Nghĩa là mình nghe 10 băng tức là mình đang tu luôn 15 tiếng đồng hồ. Trước khi nghe 10 băng giảng với sau khi nghe 10 băng giảng, tâm hồn khác nhau. Quý Phật tử có có kinh nghiệm này chưa? Có chưa? Có nhiều người như vậy. Họ nghe băng giảng thôi, chỉ lặng lẽ ngồi nghe thôi, thì nghe tức là biết đó, mà tâm hồn thay đổi liền. Thì như vậy rõ ràng ở đây biết tức là làm. Ở đây có ai vậy chưa cà? Nghe băng mà thấy tâm mình an vui, thay đổi, chuyển hóa có không? Có. Sao nghe một ít người nói có quá à?

[40:59]Sau năm mươi hỏi lại đứa này, sao la nó lớn lớn sức nhiều nhiều chút nha. Và có trường hợp như vậy á, là có ở đây nó không đòi hỏi mình phải phải vận động nhiều, không đòi hỏi mình phải suy tư nghiền ngẫm nhiều để đạt được một cái biết mà tức là làm, mà chỉ cần mình gì? Có cái máy casset. Và đi kiếm cái băng nào mà ông thầy nào ổng giảng chu đáo đó rồi ngồi lặng lẽ chọn chỗ ngồi nghe. Ngay đó biết tức là làm, ngay đó tức là tu. Nên ở đây chúng ta còn có thêm một pháp môn. Trong thời đại mới này mình có thêm một pháp môn nữa là pháp môn nghe băng casset. Vì nghe tức là tu đó. Có người gặp người khác khuyên người ta "niệm Phật đi",

[41:48]tức là mình đang truyền bá pháp môn niệm Phật hoặc là pháp môn Tịnh Độ. Có người gặp ta mà nói "anh phải biết vọng, vọng khởi đừng có theo", đó là mình đang truyền bá pháp môn tri vọng. Trách nhiệm tĩnh giác. Có người gặp ta nói "anh cố gắng anh theo dõi hơi thở nha", đó là truyền bá pháp môn theo dõi hơi thở. Có người gặp ta đưa băng: "Nghe đi", đó là truyền bá pháp môn nghe băng.

[42:13]Bây giờ chúng ta xét qua tính chất thứ ba giữa biết và làm. Là có nhiều trường hợp giữa biết và làm là những khoảng cách xa diệu vợi. Đúng không? Biết là vậy đó mà làm không nổi. Đúng không? Mà thường gặp không? Thường, phải không? Thường gặp lắm. Ai cũng muốn làm Phật, ai cũng muốn làm Thánh, ai cũng muốn giác ngộ, giải thoát, ai cũng muốn tinh tấn tu hành hết. Nhưng mà không hiểu sao tiếng réo gọi của trần gian nó vẫn êm đềm, dễ chịu quá. Cho nên mình cứ hẹn. Hẹn: "Ờ thôi bữa sau ngồi thiền cũng được, hôm nay nghe cho xong bài nhạc cái đã". Hoặc là nói: "Ờ thôi lần khác thôi lỡ rằm rằm này thôi qua rằm sau

[42:59]mình đi chùa cũng chưa chết mà, kể cũng còn đi chùa. Thôi nay đi đi công viên nước cái đã, bạn bè rủ". Nhưng mà khi mà đi công viên nước về rồi bắt đầu ngồi mới hối hận. Nói: "Sao kỳ quá ha! Mình đáng lẽ phải đi chùa tinh tấn tu mà lại ham chơi đó". Là chúng ta thấy giữa cái điều tốt mình biết cần phải làm và cái việc làm đó thiệt là xa xôi, xa xôi khó làm chứ không phải dễ.

[43:26]Như nhiều người vậy muốn ăn chay ăn không được. Có không? Ở đây có ai vậy không? Có không? Chỗ này thấy nghe đông thiệt á phải không? Nghe không được.

[43:44]Là có có người ăn chay dễ lắm. Có người cái sao ăn vô nghe cái bụng nhão ngoét, xót xa cồn cào. Rồi ráng đợi 8:00 Phật đi ngủ, lần lần. Rồi cái nghe gõ cóc cóc ngoài đường á. Cầm miệt cóc cóc. Lát nữa nhiều khi chờ cái thằng kẹo cóc cóc: "Mọi lần sao thấy nó đi rồi, giờ này nó chưa đi ngang?". Đó là những cái chúng ta thấy giữa cái biết và làm. Mình biết ăn chay tốt, nhẹ nghiệp, bớt nghiệp sát sanh, tăng được phước, dễ tu. Không phải là dễ các vị. Vì như vậy giữa biết và làm là một khoảng cách xa mà cái nối giữa biết và làm đó mình dùng cái gì để nối? Dùng gì để nối? Dùng ý chí. Phải không? Đó là mình quyết tâm thì mới làm được.

[44:41]Là cái quyết tâm, cái ý chí này là cái nối lại giữa biết và làm.

[44:48]Bây giờ mình biết là lạy Phật là nền tảng của mọi công đức, chắc chắn vậy. Nhưng tới giờ đáng lẽ lạy Phật, có chuyện này chuyện kia cái mình mình bỏ đi. Thì đó là cái ý chí mình không đủ. Nhưng nếu đó mình quyết tâm, mình mình lạy được. Thì như vậy, chính cái quyết tâm cái ý chí á là cái mà nó nối lại giữa cái biết và làm. Nên cái người mà quyết tâm cao, ý chí mạnh là người dễ làm được nhiều việc lớn là vậy. Cho nên tôi vẫn ca ngợi hoài cái điều mà Hòa thượng Hư Vân làm. Là khi mà ngài phát tâm ngài đi núi Văn Thù, đi núi Ngũ Đài Sơn để lễ Bồ Tát Văn Thù, ba bước thì lạy một lạy, ba bước thì lạy một lạy.

[45:36]Mà cái đoạn đường ngài đi thì dài hơn từ Sài Gòn ra Hà Nội.

[45:44]Mà không có cái đường sạch như mình. Đi có những lúc đi băng qua rừng, qua suối. Có những lúc đi qua cầu, có nhiều cái đoạn đường đèo hiểm trở. Và khi mà gần tới núi Ngũ Đài Sơn rồi thì ngài phải đi qua ngọn núi tuyết. Thì chợt có một cái ông già ổng đi ngược chiều với ngài. Ổng hỏi ngài đi đâu? Nói ngài đi núi Ngũ Đài lễ Văn Thù. Ổng nói ổng đi về Trường An nhưng mà ổng... thế là nhờ vậy, ngài đi theo cái dấu giày mà đi. Rồi đến lúc mà tuyết phủ mà ngài không còn gì ăn nữa, ngài lạnh quá ngài nằm gục trong cái chòi rách nát của ai, thì cũng ông già đó trở lại. Ổng phát hiện ngài rồi ổng chăm sóc, nấu cháo cho ngài,

[46:30]cho ngài ăn uống rồi ổng khiêng đồ giùm cho ngài đi lạy, đi lạy Bồ Tát. Đó là cái, nhưng mà không ngờ ông đó chính là Bồ Tát Văn Thù. Do cái tâm ngài quá chí thành nên Bồ Tát hiện ra để để mà giúp đỡ cho ngài. Nhưng mà đây chúng ta thấy cái ý chí của ngài quá sức tưởng tượng. Bây giờ mình làm làm không nổi. Mình ở nhà thôi, có tượng Phật, mình mỗi ngày mình lạy bao nhiêu lạy thôi, mà mình còn còn còn cảm thấy là hẹn lần hẹn lữa, ầu ơ ví dầu chứ không có quyết tâm được. Thì qua cái mình thấy mình yếu đuối tâm hồn, mình bạc nhược ý chí, mình mới hiểu là tại sao người ta làm Thánh được. Vì ý chí người ta nó quá sức đi.

[47:18]Còn tại sao mình cứ mãi mãi làm chúng sinh? Cứ mãi mãi là trôi lăn trong luân hồi sanh tử? Rồi cứ chạy tìm miếng ăn, manh mặc, quằn quại tái sinh qua tái sinh kiếp này, tái sinh kiếp kia lăn trôi? Vì như vậy, vì cái biết và cái làm nó không được nối lại bởi một quyết tâm cao độ.

[47:41]Mà đây là điều ừm tôi ngạc nhiên mà sau này rồi mới hiểu, trong thượng phần kiết sử, năm thượng phần kiết sử mà một vị A La Hán phá được có cái gọi là phóng dật.

[47:57]Nếu mà nói về mười kiết sử thì chúng ta sẽ nói trong đề tài khác, nhưng ở đây tôi nói sơ sơ chút. Là khi mà để chứng được A La Hán, từ một vị A Na Hàm mà chứng được A La Hán phải phá được năm kiết sử cuối cùng. Năm kiết sử cuối cùng đó là sắc ái, vô sắc ái, phóng dật, ngã mạn và vô minh, năm điều. Thì trong đó có cái phóng dật. Phóng dật nghĩa là chưa đủ quyết tâm. Cái quyết tâm để mà thực hiện điều tốt chưa có đạt được cái mức độ vô biên vô lượng, còn bị giới hạn. Thì người như vậy chưa thể chứng A La Hán được. Chúng ta nghe nói dễ sợ chưa? Dễ sợ. Bây giờ ví dụ một người mình tinh tấn mãnh liệt để tu hành, nhập thất,

[48:51]ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật thường xuyên tinh tấn không hở, không xen. Nhưng mà coi chừng, coi chừng vẫn vi tế là còn bị cái kiết sử phóng dật chi phối, nghĩa là cái quyết tâm đó coi nhiều nhưng vẫn chưa đạt được cái vô biên vô lượng thì người như vậy chưa thể chứng A La Hán. Ngài Hư Vân vậy, lúc mà ngài đi lạy Phật, lạy Bồ Tát Văn Thù núi Ngũ Đài như vậy, cái quyết tâm đó mình thấy như là vô biên vô lượng rồi đó. Mặc dù là ngài chưa chứng A La Hán vào lúc đó, nhưng mà chúng ta thấy cái kiết sử về phóng dật của ngài muốn tắt mất rồi, muốn hết. Nên người như ngài chứng Thánh là phải. Còn chúng ta không có đạt được là vì chúng ta còn phóng dật.

[49:43]Cái phóng dật mà đến cái mức độ mà tinh tấn, khổ hạnh đủ thứ á, vậy chứ vẫn bị Phật chê là còn phóng dật. Nên ở đây mình có được một cái tinh tấn gì đó trong sự tu hành thì phải hiểu chưa bao nhiêu đâu. Cái kiết sử phóng dật còn nhiều lắm. Chừng nào mà cái sức tinh tấn của mình, cái quyết tâm của mình đến vô biên vô lượng, lúc đó mới gọi là phá được cái kiết sử phóng dật trong cái năm kiết sử cuối cùng để chứng A La Hán. Còn mà giảng hết về mười kiết sử thì à thì để một dịp khác. Có lẽ là tôi giảng cho Tăng Ni chứ không có giảng cho cư sĩ. Đó nghe! Ví dụ như bây giờ chúng ta biết là hút thuốc lá là có hại cho sức khỏe, phải không?

[50:30]Nói như vậy hơi đụng chạm một hai người ngồi ở ngoài. Tốn tiền và bất lịch sự giữa chỗ đông người. Vì khói thuốc lá của người khác vẫn có thể làm cho mình bị ung thư phổi. Nên bây giờ có nhiều người cái ý thức cao về môi trường, họ đi đến chỗ đó mà có khói thuốc lá họ không chấp nhận, vì họ sợ hại phổi của họ. Nghe cái mùi thuốc lá lẫn trong không khí là họ không chấp nhận, vì họ muốn giữ bầu không khí này cho trong sạch. Như vậy cái người nào mà hút thuốc lá thì như vậy làm khó chịu người khác. Thì mình phải bỏ. Nhưng mà bỏ được không? Có nhiều người tuyên bố một câu xanh rờn: "Bỏ vợ được không bỏ thuốc lá." Quý phật tử có nghe mấy ông tuyên bố câu đó chưa?

[51:20]Từ nhỏ tới lớn tôi nghe nhiều người tuyên bố câu đó lắm rồi đó. Câu thật là xanh dờn. Thật là tội nghiệp cho ai mà lấy nhằm mấy cái ông đó, bỏ vợ chứ không chịu bỏ thuốc lá. Có một lần có vị sư, ông sư, ông sư khất sĩ thì ông hút thuốc, cũng như một số vị cũng hút thuốc, mà tôi không hiểu sao ông này quyết tâm ông hay quá. Cái ông nghe cái băng giảng là Sống Đơn Giản, ở đây quý phật tử nghe chưa? Cái băng đó nghe chưa? Ông nghe xong thì tôi có phê bình cái việc hút thuốc, ông tự nhiên ông quyết tâm bỏ. Mà dĩ nhiên ông là một vị sư, đối với tôi thì tôi đâu phải là là là sư phụ gì của ông mà để ông phải vâng lời, phải không?

[52:09]Chỉ là một băng giảng mà mình nghe tham khảo thôi, nhưng mà không ngờ là ông nghe hợp lý, có lý người tu phải như vậy, ông quyết tâm bỏ. Ừm mà vì tôi cũng không có ghiền thuốc lá nên tôi không hiểu được cái ghiền nó cỡ nào, mà mình nghe ông diễn tả lại thấy thương thiệt. Ông nói: "Trời, nó thèm thèm quá, thèm xanh mặt xanh mày." Nhưng mà đã thề với Phật bỏ, ổng đi ổng sắm con dao Thái Lan to to, để dưới bàn Phật. Ông nói, ông thề một câu: hễ tay nào cầm điếu thuốc lá thì tay kia cầm con dao đó chặt. Ông thề một câu mạnh như vậy mà bỏ, bỏ luôn. Khó chịu qua một tuần là bỏ luôn được thuốc lá. Mà tính ông thì ông hơi ngang, tại ông cũng giỏi võ và ông hơi ngang.

[52:54]Thì mấy sư chung quanh đó thấy ông bỏ thuốc lá cũng hay lại chơi và mời. Mời cho ông thì ông từ chối. Thì cái vị sư kia mới hỏi: "Tôi mời sư vậy sư có có giận tôi không?" Ông nói: "Mời hai lần thì chưa giận, nhưng mời tới lần thứ ba là tôi đánh đó." Mà ông nói thì ông nói là làm, mà ông này có tật nói đâu làm đó nên người ta cũng hơi ngán. Từ đó thôi và ổng qua luôn. Hay thật! Nên đây cũng là một trường hợp lạ, là biết và quyết tâm là làm được với một cái rất là khó làm. Nhiều người đã bỏ thuốc mà không bỏ được.

[53:33]Có những cái như vậy, có những cái nó làm mình lệ thuộc về cảm giác như là ăn trầu, hút thuốc lá, uống rượu, đánh bài, vân vân. Có những cái điều đó mình không hiểu được cái cảm giác đó là gì, mình không ở trong đó không hiểu được. Ví dụ như tôi từng nghe nhiều người gọi là thích đánh bài, ghiền đánh bài, mà gọi là có máu cờ bạc, tôi nghe phê bình như vậy. Ở đây quý phật tử có nghe cái chữ đó không, máu cờ bạc có nghe không? Có, phải không? Thì thì tôi hay có tật là quan sát cuộc đời, khi nghe nói một người có máu cờ bạc thì tôi mới lắng tâm mình xuống, tìm hiểu trong tâm người đó cái máu cờ bạc là gì, mà làm sao họ hễ mà gặp sòng bài rồi là

[54:17]sà vô, bỏ hết mọi chuyện trên đời lại, sà vô liền? Thì lúc đó tôi mới tìm ra được cái cảm giác của họ thế này: là cái hồi hộp á, tại vì khi ăn thua là mình mất tiền, ăn là được tiền mà thua là mất tiền, cho nên tiếc của lắm, mà ăn thì mừng, thua thì thì thì thì buồn. Thì cái cảm giác mừng và buồn và lúc mà trước khi cái giây phút mình nặn cái lá bài, trước khi mình mình biết mình thắng hay thua nó hồi hộp, thì không ngờ cái cảm giác hồi hộp này làm người ta ghiền. Không ngờ. Cũng như cái người hút thuốc lá thì tôi không biết cảm giác, nhưng mà nó cũng có cái gì đó làm người... giống như người ta ghiền ăn ớt, à ăn ớt ghiền, tôi biết, nó cay rần rần.

[54:59]Nên ở đây nó có những cảm giác làm người ta ghiền và người ta khó bỏ. Nên ở đây, để bỏ được những điều đó phải có ý chí lớn, quyết tâm lớn. Mà chính cái ý chí, cái quyết tâm nó là một cái tính chất của thánh, tính chất của thánh. Chứ trong cái người bạc nhược, thiếu ý chí, không nghị lực thì khoan nghĩ đến chuyện làm thánh, khoan nghĩ làm chuyện thánh. Thì người này nếu thấy mình quyết tâm chưa cao, nghị lực chưa mạnh thì được phép tiếp tục mặc đồ bông hoa và đánh má hồng, môi son, đi dép mô-đen tự do, vì chưa có ai bắt mình làm thánh hết, cứ tiếp tục vui chơi, vui chơi. Còn khi nào mà mình quyết tâm cao rồi thì lúc đó có quyền bắt

[55:45]đầu từ bỏ lần lần những cái đó để chuẩn bị làm thánh.

[55:51]Ví dụ như là chúng ta biết là mình muốn làm phước là phải tiết kiệm để dành tiền, chứ tiền đâu sẵn mà làm phước, phải không? Thì phải tiết kiệm. Nhưng mà nhiều khi mình không cưỡng lại được cái việc chi tiêu cho bản thân. Mình bỏ ống heo từ từ, nói: "Hằng ngày nay mình bỏ 5.000 nghen, ngày kia bỏ 10.000, để dành tới cuối tháng là mình đem tiền về chùa cúng hay bỏ vào cái chỗ tổ từ thiện, hay là đem tặng gạo cho cái người nghèo ở cuối xóm." Quyết tâm để, để từng đồng từng đồng. Bắt đầu đếm được, bữa nay được 300.000. Thì chuyện gì xảy ra? Thì có một người nói: "Có cái bộ đồ mới ra nó đẹp gì đâu,

[56:34]cái vải này thiệt á, khó tìm, cái hàng này hàng hiệu mới ra, mặc nó mướt, dễ chịu gì đâu." Cái lúc đó mình suy nghĩ giữa hai bên: một bên là cái bà già cuối xóm, một bên là bộ đồ mới. Mình suy nghĩ một lát cái mình có lý luận rất hay: "Coi vậy chứ bả chưa chết. Tại hồi nào giờ mình chưa cho bả, mới lại một bao gạo thì bả cũng đâu chết, bây giờ mình không cho bả cũng không chết. Thôi mình mua bộ đồ để tháng sau để dành tiền lại rồi cho bả sau, tới chừng đó chắc bả chưa chết." Thì đó là chúng ta thấy vậy, là cái việc mà mình muốn làm phước, biết làm phước với cái ý chí để làm phước khó lắm, không có dễ.

[57:13]Đây là cái chiến thắng giữa phàm phu và thánh. Và ví dụ như người đệ tử Phật mình ai cũng biết là phải định được tâm thì mới có thể chứng thánh. Nhưng mà việc mà ngồi thiền đều đặn rồi khi ngồi thiền chân nó tê và nó đau lên, tiếp tục chịu đựng để ráng ngồi, cái đó, đó là thử thách, không phải ai cũng làm được. Nên nhiều người mà do căn cơ thấp đau chân rồi qua ngày mai không muốn ngồi nữa thì người này đúng là cứ tiếp tục trôi lăn. Còn người nào đau chân rồi cứ tiếp tục ngồi thì người này là hạt giống tốt trong Phật pháp.

[57:56]Hoặc là ví dụ như mình biết rằng cái công đức của tâm từ bi lớn. Như sáng nay có một người có một người hỏi tôi, hỏi: "Tại sao thấy cái người tu đó mà không có lòng từ bi?" Thì tôi mới nói rằng: "Cũng nên thông cảm, vì để có lòng từ bi là phải tu tập mỗi ngày và 5, 10 năm sau từ bi mới xuất hiện chút chút. Cho nên có khi người đó không có tu tập từ bi mỗi ngày, tuy có biết về từ bi, có hiểu về từ bi, có nói về từ bi nhưng không có tu tập mỗi ngày, cho nên nhiều khi đi tu 10 năm sau chưa có từ bi." Nên chúng ta thấy đó mình muốn có lòng thương yêu mọi người thì phải tu tập từ bi mỗi ngày. Mỗi ngày mình quỳ trước Phật hay lúc mình ngồi thiền,

[58:41]lúc nào cũng vậy, cũng phải tập chan rải tâm thương yêu muôn loài hết, cứ tập như vậy mãi, hết ngày này qua ngày kia thì 5 năm sau, 10 năm sau mới có từ bi chứ không phải dễ đâu, không phải dễ đâu. Nên nhiều người Phật tử mình tốt lắm. Ví dụ bây giờ tôi đang ngồi đây tôi nhìn xuống quý phật tử, thì tôi cũng thấy rất nhiều người tốt, nhiều người có tâm đạo tinh tấn. Nhưng mà người mà có cái lòng từ bi tự nhiên trong đây hơi ít, không phải nhiều, chỉ được có vài người, khó như vậy. Nên phải tập nhiều năm nhiều tháng, cứ âm thầm một mình trước bàn Phật nguyện Phật gia hộ đồng thời rải tâm thương yêu chúng sinh,

[59:20]lâu năm lâu tháng mới có thể có từ bi, chứ không phải dễ đâu. Tuy nhiên chúng ta thấy điều này: là cái ý chí ở đâu mà có? Chúng ta thấy giữa biết và làm là một khoảng cách xa, nhưng mà cái khoảng cách đó nối lại được bằng quyết tâm và ý chí. Nhưng cái vấn đề mình đặt ra là: ở đâu mình có ý chí, phải không? Ví dụ mình nói: "À đó là điều tốt, tôi muốn làm." Làm không được. Bây giờ thầy nói là: "Phải có ý chí." Thì bây giờ tôi muốn có ý chí thì ở đâu có ý chí? Ai biết?

[59:59]Xin thưa là phước, chính từ phước mà có ý chí.

[1:00:06]Cái công đức này do nhiều hình thức mà làm thành, hoặc ví dụ như đơn giản nhất là mình cứ kiên trì mỗi ngày lạy Phật với lòng tôn kính thiết tha. Từ từ qua một tháng sau, hai tháng sau bắt đầu mình thấy người mình có quyết tâm dần dần đó. Khi mình định làm việc gì tự nhiên mình quyết tâm làm được. Mới hai tháng là đã thấy có kết quả, ý chí tăng lên từ từ. Còn nếu mình lạy Phật qua được năm, ba năm rồi thì người này kiên cường như núi như đá. Dĩ nhiên chưa đạt được cái quyết tâm như một vị A La Hán, chưa đạt được. Nhưng mà kiên trì lạy Phật mỗi ngày, một ngày lạy 50 lạy, 100 lạy, 5, 10 năm như vậy thì người này không lung lay nổi, không lung lay nổi.

[1:00:48]Quyết tâm làm việc gì là quyết tâm, vì cái công đức lễ kính Phật đã tạo thành ý chí rồi, nên người này hễ biết là làm, biết là làm, muốn là làm, muốn là làm. Thì do công đức lạy Phật. Và cũng có một số công đức khác cũng đưa đến ý chí, ví dụ như là mình hay giúp đỡ người khác, chính cái giúp đỡ người khác cũng là một quyết tâm. Rồi cái quyết tâm đó nó tạo thành một quyết tâm khác là sau này mình muốn làm điều tốt, dễ làm lắm. Hoặc có trường hợp như một người thấy người rớt xuống sông, cái mình quên nguy hiểm mà nhảy xuống mình vớt luôn. Một lần quyết tâm nhảy xuống vậy chứ mà nhiều kiếp tạo thành

[1:01:26]con người có ý chí lớn, hễ làm là làm, muốn làm là làm. Thì cái này nhiều khi không chuẩn bị được, mà trong lúc đó gan dạ vì thương người mà làm liều, thì cái cái nhân quả, cái phước nó cũng tạo thành cái ý chí nhiều kiếp sau. Hễ người này miệng nói là là tay làm, hễ biết muốn làm là làm liền. Đó. Bây giờ chúng ta nói qua về nhân quả của biết và làm. Trước hết mình nói về nhân quả của cái biết. Nãy giờ thì chúng ta nói có biết rồi mới làm, thấy không? Hoặc là biết tức là làm, hoặc là biết có ý chí rồi làm. Nhưng bây giờ ở đâu ra cái biết? Ở đâu ra cái biết? Ở đâu ra để cho mình hiểu được điều này, biết được điều kia?

[1:02:11]Có trí tuệ sáng suốt, soi sáng được điều này điều nọ trong cuộc sống, trong sự tu hành, trong đạo lý? Ở đâu ra cái biết đó? Thì cũng phải có nhân có quả. Đó, mình có cái nhân gì đó mới tạo thành cái biết cho đời này, cho đời sau. Thì chúng ta thấy ví dụ như bây giờ, tại sao quý Phật tử biết Phật pháp, mà mình bước ra đây vài chục bước mình thấy cái người này là không biết Phật pháp rồi? Phải không? Bước ra hàng xóm vài chục bước thôi là có những người không hề biết là hôm nay có bài giảng, không biết tu tập là gì, không biết lạy Phật là gì, cách đây vài chục thước à. Đó, mình biết được Phật pháp mà có người không biết được Phật pháp.

[1:02:52]Rồi bây giờ là không có người giảng hay đi, nhưng dù sao cũng có người giảng dở dở mà nghe cũng đỡ buồn, thấy không? Chân Quang ví dụ vậy. Thì cũng còn biết, mà có người cũng không biết, ví dụ vậy. Còn nếu mình có phước hơn thì mình gặp được những vị hòa thượng tôn túc xuất sắc hơn nữa, thì đó là cái quý của mình, là cái may của mình. Nhưng bây giờ đặt trường hợp như quý Phật tử đang là những người ít phước, thì mình gặp được ông thầy ổng cái trình độ ổng thấp thấp như là tôi, vậy đó. Rồi người nào mà phước lớn hơn nữa thì gặp được những vị cao hơn nữa. Đó, thì ở đây chúng ta thấy cái duyên phước mà để gặp Phật pháp,

[1:03:33]gặp thầy, gặp tổ này nọ là đã là một cái nhân duyên kỳ lạ chứ không phải dễ, do cái duyên từ đời trước chứ không phải đương nhiên mà có được. Đó, là mình muốn có cái biết là đã là một cái duyên rồi. Cái cơ duyên này thì nó nhiều nguyên nhân, nhiều trường hợp, ví dụ như là vô tình mà mình có duyên. Ví dụ bây giờ quý Phật tử với tôi đi, à quý Phật tử ở đây nghe tôi giảng là đời xưa cũng có duyên gì rồi chứ không phải không. Có cái duyên gì ngày nay mới nghe, chứ có người ví dụ nghe tới tôi là là bĩu môi, là đời trước không có duyên. Nhưng có người nghe cái tự nhiên thích đi nghe, đó là cái duyên đời trước, mà duyên đời trước ở đâu có

[1:04:20]thì có nhiều khi nó chỉ ngẫu nhiên vô tình thôi chứ không có gì hết á. Ngẫu nhiên thế nào? Ngẫu nhiên là có khi đời trước ừm tôi là người ăn xin, quý Phật tử cho tiền, cái đời này tôi mắc nợ, tôi phải đến trả. Hoặc ngược lại, hoặc ngược lại đời trước nhiều khi tôi là ừm một người anh trong gia đình, nhiều khi quý Phật tử lại là người em rồi nuôi nấng, bảo bọc nhau cái đời này gặp nhau quý mến. Hoặc có khi ngược lại, nhiều khi đời trước quý Phật tử là bà ngoại tôi không chừng nữa. Rồi cứ rầy rà tôi miết làm tôi cũng khổ sở lắm, ví dụ vậy. Vậy đó, nhưng mà có một chút duyên đó rồi đời này, đời này gặp lại, đời này gặp lại mà gặp lại thì cứ gặp rầy rà tôi hoài.

[1:05:08]Cho nên tôi hay bị gặp Phật tử rầy rà là chuyện đó đó, thì còn bà ngoại, bà nội gì không biết được. Thì có những cái nó vô tình như vậy, mà bây giờ cái tôi đi tu, thành thử quý Phật tử có duyên cái rồi nghe pháp. Rồi có nhiều trường hợp lạ lắm, như có một người lại đi tu cái được một vị ở trong vô hình cứ gia hộ theo gia hộ miết à. Mà mình tìm hiểu nguyên nhân là tại sao? Đơn giản thôi, đơn giản là vì cái người mà chứng thánh ở trên cõi trời là cha, mà cái người ở dưới này là con. Một kiếp xưa, cái ông cha ổng tu đắc đạo lên trời luôn, còn người con cứ tiếp tục luân hồi. Luân hồi nhưng mà ông cha ổng nhớ,

[1:05:46]ổng biết, ổng biết ờ trong kiếp đó người này là con mình, rồi kiếp này đang đầu thai ở đây, cũng đang tu đây, thì ở trên cõi trời cứ thầm thầm gia hộ mãi. Đó, nhiều khi là do ngẫu nhiên như vậy và mình có duyên với Phật pháp mà có duyên với những vị thánh nào đó, đó là như vậy. Vô tình mà cũng có khi là do do đạo đức mà thành được cái duyên. Ví dụ như mình nghe ở đâu có một vị thầy tốt, mình cũng không có duyên với vị đó, nhưng mà do tâm mình tốt, tâm mình tốt quá mình hễ nói ai tốt cái mình đến gặp,

[1:06:25]đến gặp học hỏi rồi từ đó kết duyên. Nghĩa là cũng có cái nhân đạo đức từ ban đầu rồi sau đó mới kết duyên với nhau được, là như vậy. Rồi chúng ta thấy có nhân quả này nữa nè, ví dụ cái người nào biết được điều hay mà không có giấu giếm, tìm cách muốn cho người khác cũng biết được điều đó như mình, thì người đó đời sau làm sao? Cái biết nó còn khủng khiếp nữa, biết nhiều điều nữa, gặp đâu cũng biết, cái gì cũng hiểu hết, có duyên học đủ thứ chuyện hết, thông minh vô cùng, trí tuệ vô cùng. Thì cái người đó là do đời này hễ biết không có giấu. Người Việt Nam mình hay là người Trung Hoa hay có cái tật giấu

[1:07:07]nghề, hễ có cái nghề làm ăn rồi là giấu, chỉ gia đình truyền con cái thôi chứ không có để cho lọt người ngoài. Chính vì cái nhân đó mà xã hội không có phát triển. Rồi có những trường hợp vậy, thì có một lần ừm tôi đọc một cái bài báo,

[1:07:26]thì bây giờ thời đại này họ hay ăn cắp cái bản quyền của người khác, ví dụ tác phẩm người khác xuất bản ra cái họ lén họ lấy họ làm thành tác phẩm của họ rồi ăn cắp bản quyền. Thì bài báo đó nói rằng: "Bây giờ sợ cả ăn cắp tư tưởng nữa. Nhiều khi mình có một cái ý tưởng hay, mình đem ra mình nói chơi chơi trước bạn bè, thì mình chưa kịp viết cái một thằng bạn trong đó cái nó viết cái bài đó nó đăng báo, nó lấy bản quyền đó luôn, thì nó xuất bản trước nó đăng báo trước, thì lúc này ai cãi được nữa phải không? Chừng nào mình đã đăng báo trước thì cái này mới là cái tư tưởng này là bản quyền của mình.

[1:08:02]Nhưng mà mình mình mới nói chơi chơi là một lát nó về nó viết bài đăng báo liền, ăn cắp ý tưởng đó. Nên sợ và giữ ý tưởng của mình thật kỹ." Thì cái người như vậy coi vậy chứ cũng không hay lắm. Ở trong cuộc đời là vậy, có những cái mình phải rộng rãi bố thí. Cái điều mình biết á cho hết đi, đừng thèm giữ, cho sạch. Nếu nếu điều đó là điều có lợi cho con người, nếu người ta biết được điều đó người ta tốt lên, người ta đạo đức hơn, người ta giỏi lên, người ta cuộc sống người ta đỡ vất vả, cứ cho người ta biết hết, không sao hết trơn, không giấu gì hết, không giấu gì. Ừm có lần tôi nghe nói chuyện này mà tôi không biết có đúng

[1:08:41]hay không, à có thể là điều tôi nghe nó cũng không đúng lắm, nhưng mà bây giờ thì tôi cũng kể lại thôi. Thì có một cái sư, cái cô đó, ni cô đó nói: "Nói trong một bài giảng của thầy, thầy nói nhiều điều quá, chứ còn con đi học thì con thấy vài vị rót thỏ, bữa nay nói một chút, bữa khác nói một chút, giống như giấu lại để mà còn giảng ra lâu. Giảng lâu chứ bây giờ nói toạc ra một cái rồi hết giảng luôn, đâu còn cái gì nữa đâu giảng." Thì tôi nghe thì tôi không biết cô đó có nói chính xác không, tôi nghĩ chắc quý thầy cũng không đến nỗi như vậy. Tuy nhiên tôi suy nghĩ về cái nhân quả, tôi nói cứ nói cho hết đi, rồi chứ mai mốt có cái khác nói nữa.

[1:09:21]Đừng sợ, hễ cái điều gì mình thấy đó là điều hay, cứ đem cho hết, tặng hết mọi người đừng sợ. Còn cái người mà sợ: "Giờ đầu năm mà giảng cái này thì cuối năm không biết lấy gì giảng á, thôi giấu giấu lại bớt," thì cuối năm hết giảng luôn, không có gì để giảng luôn. Còn đầu năm biết nhiêu cho hết, vậy chứ cuối năm có nữa. Vì trong cái quá trình mình tu tập, sự hy sinh, sự vị tha rồi Phật gia hộ cho mình có những điều gì đó để trao đổi thêm với con người, vậy. Nên trong sự tu tập cũng như trong cuộc đời, trong cái sự khôn ngoan của cuộc đời vậy, mình biết mình cứ cho hết, đừng giấu. Còn mình biết mà giấu thì kiếp sau không biết gì hết.

[1:10:03]Đó là một cái nhân để biết. Một cái nhân để biết nữa là khi mình thấy người nào có trí tuệ, mình thật tâm mình quý kính người đó. Hễ mình thấy người đó học giỏi, người đó trí tuệ, thâm sâu trong lòng mình tôn trọng thì đời sau mình có trí tuệ, mình hiểu biết nhiều. Còn nếu mình đố kỵ, coi chừng, đố kỵ rồi kiếp sau hết hết biết một điều gì luôn. Cái tâm đố kỵ nó nguy hiểm. Thường thường thì quý Phật tử ít có đố kỵ với thầy, mà hay đố kỵ lẫn nhau. Cái người nào ngang nhau đó mới đố kỵ lẫn nhau. Mà đố kỵ như vậy rồi đời sau hết luôn, công đức hết và không làm được điều gì nữa. Thì bây giờ mình nói qua cái làm.

[1:10:45]Đó là cái nhân quả của cái biết á, bây giờ nhân quả của cái làm. Thì làm được hay không làm được coi vậy chứ vẫn do phước đằng sau chi phối đằng sau. Chứ không phải tự nhiên, không phải là mình nói ờ tôi có quyết tâm là tôi làm được, muốn làm là làm được. Coi vậy chứ không đơn giản. Phải quyết tâm, phải có phước nữa rồi mới có thể làm được. Chính cái phước nó chi phối khiến cho việc làm mình nó suôn sẻ hay không. Muốn một việc được thành công phải có ba yếu tố. Thứ nhất là biết, biết cách làm. Thứ hai là quyết tâm làm. Và thứ ba là sự may mắn, sự may mắn. Bây giờ mình biết rồi, cái cách làm nằm trong bàn tay rồi,

[1:11:26]thứ hai là mình quyết tâm làm rồi, nhưng mà gặp xui là vẫn thất bại. Quý Phật tử đồng ý với tôi không? Đồng ý không? Nhất là những người lớn tuổi, những người đã sống trên đời quá lâu năm rồi, đồng ý không? Quá ha. Hồi trước có một lần có một người đó nói với một người bạn, nói: "Tôi biết nghề làm tương và tôi biết cái lợi nhuận của tương, nên bây giờ tôi bắt đầu tôi sẽ làm về tương và tôi nói rằng hai năm sau tôi sẽ giàu." Cái người đó tuyên bố. Rồi tôi âm thầm tôi chờ đợi cái cái cái người đó. Hai năm sau thì ông đó còn nghèo hơn lúc ổng mới nói nữa. Nghe không, xất bấc xang bang không nhà không

[1:12:03]cửa, lang thang lếch tha lếch thếch luôn. Trong khi ổng là đã từng là làm tương trong một cơ sở, nắm hết công nghệ không còn không biết và quyết tâm làm giàu rất cao, nhưng chỉ có thiếu yếu tố thứ ba là không may mắn. Nên hai năm sau nghèo khổ còn hơn lúc trước nữa. Cho nên qua cái đó rồi mình phải thấy thấm. Cho nên đừng bao giờ ỷ vào cái tài của mình. Coi biết nhiều biết chứ không chắc ăn, phải có thêm cái phước gì đó để giúp cho mình có cái sự may mắn trong cuộc sống. Thì cái người mà có phước lớn họ phát sinh được cái trực giác, cái biết họ nhạy bén hơn người thường. Ừ thì cũng thêm một điều nữa là cái người mà có phước lớn á

[1:12:48]tự nhiên được nhiều người khác phụ giúp trong công việc. Là khi mình làm việc gì là không phải một mình mình làm mà tự nhiên nhiều người phụ một tay một chân. Đó lại là do cái phước, cái phước của cái làm. Cái phước của cái biết á mà phước lớn á làm cho mình có trực giác, là thoáng nhìn một cái là biết hết, hoặc là mình không cần nhìn, chỉ cần hướng tâm về việc gì là biết về công việc đó liền. Đó là cái phước lớn quá tạo thành trực giác. Thì trong việc làm cũng vậy, hễ mình có phước á thì một mình mình làm hoặc thành công, phước lớn nữa đó, tự nhiên có nhiều người đến góp chung tay góp sức để phụ mình làm, hoặc là thành công.

[1:13:26]Đó đó gọi là cái phước của biết và làm. Bây giờ chúng ta nói về tính chất thứ năm: Người đệ tử Phật phải hiểu biết rộng và hành động mạnh mẽ. Chi vậy? Hôm nay mình nói về biết và làm không phải nói chơi, mà để xác định lại người đệ tử Phật phải biết nhiều mới được, phải sáng suốt, rộng rãi và hành động thì mạnh mẽ. Chi vậy? Chi? Thì từng người như vậy, từng người như vậy thì tự nhiên Phật pháp hưng thịnh mạnh mẽ lên liền, đúng không? Chứ bây giờ mình có 1 triệu Phật tử mà 1 triệu người này tu lơ mơ, làm lơ mơ, biết lơ mơ thì đạo Phật coi như có đạo Phật cũng coi như không. Nhưng ví dụ bây giờ 1 triệu người đó, mỗi người biết thêm một chút

[1:14:18]và làm mạnh thêm một chút nữa, tự nhiên đạo Phật mạnh lên liền. 1 triệu người cùng làm mạnh, đúng không? Cho nên ở đây thì mình không biết là tín đồ Phật giáo bao nhiêu, không biết điều đó, nhưng chỉ biết trước hết bổn phận của mình là mình phải trau dồi kiến thức, sự hiểu biết và quyết tâm mạnh mẽ của mình để làm, để tu tập cho bản thân mình và làm được những điều từ thiện. Đó bản thân mình có tu, rồi mình siêng năng giúp đỡ người khác. Mỗi người một chút như vậy, toàn đạo Phật mạnh lên liền. Đó nên đây là điều cần thiết, chúng ta phải biết nhiều và làm nhiều. Nhưng mà muốn biết nhiều phải làm sao?

[1:14:57]Là chúng ta phải học hỏi thì mới hiểu biết chánh pháp, phải đi nghe giảng, nghe băng, đọc sách thì mới hiểu biết chánh pháp. Và sao nữa? Rồi nhờ hiểu biết như vậy chúng ta mới sống đúng và tu đúng, mới làm đúng. Nhưng ở đây nó ngược lại, chính việc làm đúng làm cho cái biết nó đúng trở lại. Nên biết đưa đến cái làm, nhưng cũng ngược lại, chính cái làm cũng củng cố lại cái biết. Khi chúng ta làm chúng ta mới phát hiện ra những điều mình biết chưa hết, những điều mình còn thiếu sót và lại cái kinh nghiệm trong khi làm nó củng cố, hỗ trợ lại cái biết trước đó, cái kiến thức trước đó. Phật tử đồng ý không? Phải không?

[1:15:38]Đó. Biết đưa đến làm, nhưng mà làm cũng hỗ trợ trở lại cái biết đúng hơn. Chính cái làm giúp cho chúng ta thứ nhất là có kinh nghiệm và thứ hai là có phước. Cái làm này là làm đạo lý đó nha, chứ không phải là làm mọi chuyện tào lao trên đời. Làm này tức là tu tập nè, làm phước nè, gọi là làm đó. Mình học bài này làm có nghĩa là làm phước, có nghĩa là tu tập. Thì chính cái việc làm đó làm cho chúng ta có kinh nghiệm và có cái phước. Và khi cái phước như nãy chúng ta nói, nó tạo ra cái biết. Hồi nãy chúng ta nói rồi phải không, phước tạo ra cái biết. Như vậy biết để làm và chính cái làm cũng tạo thành cái biết trở lại.

[1:16:19]Nó vậy. Có một vài lần chúng tôi cũng nói, nhưng hôm nay nhắc lại một chút, là giữa cái thế giới siêu hình và thế giới hữu hình này có khác nhau về cái biết và cái làm, khác nhau. Là người trong thế giới siêu hình á, ví dụ như người chết, các vong linh đó, họ biết nhiều điều lắm, nhưng không làm được gì hết, biết nhiều điều mà làm được rất ít.

[1:16:44]Ví dụ bây giờ như có một số vong linh đang ngồi sau lưng mình ngồi nghe pháp đi, thì họ biết trong đây người nào sao sao hết.

[1:16:54]Người nào hay nhõng nhẽo, người nào hay ăn hiếp bạn, vân vân, họ biết hết. Người nào rộng rãi, thương yêu, người nào có đức hay không có đức họ biết, nhưng mà không nói gì được với mình, không khuyên gì mình được hết, không tiếp xúc với mình được, không có duyên. Nên họ biết rất nhiều mà họ không làm được. Hoặc là họ nhìn một người họ biết: "À người này qua ngày hôm sau nè có số tiền lớn tới", họ biết. Biết thì thôi chứ không làm gì được. Còn mình thì làm được rất nhiều điều. Phải không? Mình làm được rất nhiều điều. Mình trong cái cõi sống này mình cực khổ mà làm được điều này, được điều kia và dễ tạo thành phước, rất dễ tạo thành phước.

[1:17:34]Còn cái người ở cõi âm họ biết mà không làm được. Mình làm mà biết rất ít, những điều mình suy luận mình dựa vào giáo pháp để mình biết nhân biết quả rồi cố gắng làm, chứ mình mò mò mình làm. Nên thường là mình sống chủ quan, mình không có mình không hiểu tội phước nhiều nên mình dễ làm bậy. Do mình biết ít quá mà hay làm nên mình thường mình dễ làm bậy. Còn cái người ở cõi âm, họ sống trong đó họ biết tội biết phước hết, nhưng mà không làm được gì. Đó là hai cái mâu thuẫn giữa cõi sống và cõi chết. Chính vì lý do đó mà những người ở trong cõi chết, cõi âm á, khi họ biết quá nhiều rồi cái từ từ nó tăng

[1:18:16]cái lòng họ là thiết tha muốn làm điều tốt. Cứ tăng lên dần dần, tăng lên dần dần. Chính cái tâm đó thúc đẩy họ đi tái sinh. Cái tâm đó mà nó mạnh đến lúc nào thuần rồi cái họ đầu thai lại liền. Họ đi tái sinh, họ muốn sống để họ làm được điều này làm được điều kia. Còn mình mà muốn biết được nhiều thì mình phải sao? Đừng có chết nha. Đi chết biết được nhiều nhưng mà thôi, kệ cứ ráng sống mà làm. Chứ người chết á muốn làm thì phải sống, phải không? Phải đầu thai vào cõi sống. Còn người sống mà muốn biết thì phải... mà thôi đừng chết. Ráng tu ráng tu rồi mình sẽ biết, nghe giảng rồi mình sẽ biết, học hỏi rồi mình sẽ biết nhiều.

[1:18:57]Rồi khi biết nhiều ráng làm sao đúng cái tội cái phước như vậy. Đó là hai cõi ngược nhau. Cho nên mỗi người chúng ta vậy, chúng ta phải siêng năng làm việc từ thiện, để truyền bá Phật pháp để mình củng cố đạo Phật lại. Chứ đạo Phật từ lâu cũng ngó thấy suy thoái chứ không có mạnh lắm đâu. Bây giờ cái nhiệm vụ của mỗi người đệ tử Phật là cố gắng xây dựng lại Phật pháp bằng cái gì? Bằng cái mình phải biết giáo pháp nhiều hơn và mạnh mẽ tu tập, siêng năng làm việc từ thiện nhiều hơn, siêng năng giúp người khác hiểu đạo thêm, chứ đừng có để tu một mình nữa. Cứ tu một mình là điều làm cho đạo Phật từ từ suy tàn.

[1:19:37]Bây giờ chúng ta nghiên cứu qua cái biết và làm của các vị thánh một chút. Là một vị thánh á có cái biết vượt thời gian. Cái biết của vị thánh mà trong cõi sống nó giống như người chết vậy đó, cũng biết được quá khứ, vị lai, biết tâm tánh, biết căn cơ của con người hết trơn à. Nhưng mà vị thánh nó đang sống. Đang sống nhưng mà biết vượt thời gian đó. Đó, là nhưng có cái điều là cái người chết á họ không biết được nhiều kiếp, chỉ trừ trường hợp là họ sinh lên cõi trời. Cái người nào mà tu tập làm phước, đến khi mà chết sinh lên cõi trời thì họ có thể nhớ được một số kiếp, năm sáu kiếp trước. Nhưng mà cái kiếp của họ có như vua trời Đế Thích,

[1:20:18]ổng nói rằng ổng nhớ được 14 kiếp trước. 14 kiếp là lâu lắm á, những kiếp của trái đất là lâu lắm. Còn thường thường thì không phải là ai cũng nhớ hết mọi kiếp của mình, chỉ nhớ được một số kiếp nào đó thôi, năm sáu kiếp nào đó, chứ không phải nhớ nhiều lắm. Đó là cái biết quá khứ, rồi còn biết vị lai cũng vậy. Là khi một vị thánh họ nhìn mình cái họ biết, à bây giờ ngồi đây tu vậy chớ, một thời gian sau vậy sẽ có những chuyện trục trặc. Hoặc là một thời gian sau tự nhiên người này sẽ xuất gia và tu rất tốt, chứng đạo luôn. Họ biết trước hết trơn à. Họ nhìn người họ biết trước. Là cái biết của vị thánh cũng như cái biết của người cõi âm cũng gần gần như vậy.

[1:20:57]Nhưng khi nhìn tâm một người, họ biết người này có đức độ hay không có đức độ, mà có thể tu tiến hay không tu tiến, mà biết trước cuộc đời của mình như vậy. Đó là cái biết quá khứ, biết vị lai và biết tâm niệm chúng sinh. Thường như vậy, các vị thánh hoặc kể cả những vị thánh trên cõi trời đấy, biết được tâm niệm chúng sinh rất là sâu. Mình khởi tâm như hạt bụi nhiều khi mình quên mất, vậy chứ đã được ghi nhận rồi. Một vị thánh họ đã biết rồi. Một vị chư thiên tử họ đã nhận ra được cái tâm đó rồi. Ví dụ như mình đang tu, mà chợt mình có khởi niệm mình thích tiền một chút xíu, thích một chút mình bỏ qua mình quên mất.

[1:21:40]Nhưng mà mình đã bị ghi nhận rồi. Vào ngày đó, năm đó, tháng đó, giờ đó, ngươi đã khởi một cái niệm thích tiền, nên bây giờ nhân quả là bây giờ ngươi phải đi ra mà làm kinh doanh. Có cái mình quên mất, nhưng mà đã thành nhân thành quả hết, đã bị ghi nhận hết. Đây là cái đó. Nhưng mà nếu lúc đó mình biết, nếu mình vừa biết à mình vừa có niệm tham tiền, giật mình nhìn lại à tôi có niệm tham, cái mình sám hối, thôi con nguyện sám hối Phật, con không nghĩ tới tiền bạc. Thì cái nghiệp bị xóa, rồi đời sau mình không bị xô vào cái việc làm kinh doanh. Nên từng chút từng chút chứ cái tâm niệm của mình là bị biết hết.

[1:22:21]Còn các vị vậy, đó là cái biết các vị thánh. Còn các vị làm là bằng cái gì? Làm bằng thần lực phi thường, nhưng mà kín đáo và thuận theo nhân quả. Ở đây chúng ta nói cái phép lạ của các vị thánh á là làm rất là siêu việt phi thường, nhưng phải nhớ là kín đáo và thuận cái luật nhân quả, chứ không có phô bày, không phô bày. Chúng ta đừng tưởng là hễ thánh xuất hiện trên đời là cứ giơ tay hô biến là biến cái nhà lá thành nhà lầu hay cái nọ, hô biến cái tự nhiên con sông có một con cầu bắc qua đi, không có đâu, đừng nghĩ như vậy. Các ngài làm đúng với nhân quả và kín đáo. Kín đáo ví dụ thế này. Như mình đến đó mình mình lạy Phật, mình cầu cho hết bệnh.

[1:23:05]Không ngờ có cái ông mà ông thầy ổng quét, ổng quét, ổng đang quét chùa gần đó, ổng là ông thánh mà không hay. Ổng mặc đồ rách rưới, dơ dáy, ổng đang quét chùa gần gần đó, ổng biết mình bệnh quá vô cầu Phật, hết bệnh, ổng chữa bệnh cho mình. Mình không biết. Mình vẫn thấy ổng tiếp tục quét lá bình thường, quét lá trên sân bình thường, nhưng mà không ngờ ổng đã truyền thần lực qua ổng chữa bệnh mình. Mình lạy Phật xong đi ra hết bệnh, mình nói Phật chùa đó linh quá. Nhưng không ngờ là chính một ông tăng trong chùa ổng chữa không hay. Đó vị thánh họ làm họ không cho mình biết, chứ không phải nói: "À, bệnh hả?

[1:23:41]Lại đây đây thầy, thầy xoa đầu cho qua nha, để tay con về con hết bệnh", là bộc lộ. Cái đó không phải tính cách của vị thánh. Cái đó tính cách của những thầy phù thủy hay những người nào, ông thầy nào, chứ không phải vị thánh. Nên người nào mà mình thấy họ nói ra có vẻ phô trương, phép lạ, thì phải biết không đúng với đức thánh trong đạo Phật. Những vị trong đạo Phật họ làm bí mật không hay. Nhiều khi họ giúp mình rồi đó, mình tới mình nói họ, nói: "Trời sao thầy ơi, con con con buồn quá, sao con nghĩ tới thầy cái con gặp may à?" Cái ổng nói: "Trời, hồi giờ đó thầy ngủ, thầy không biết đâu". Họ kín đáo họ giấu, họ không khoe.

[1:24:18]Mà việc làm nó thuận với nhân quả. Ví dụ biết cái nghiệp người đó nặng rồi, không có giúp được, không có chữa chạy gì được hết trơn, thì chỉ khuyên thôi. Khuyên họ chuyển được, làm phước, chuyển gì đó, rồi chịu qua cái nạn đó rồi từ từ phước nó phục hồi lại, chứ cứu cũng không nổi. Vì cái nghiệp chúng sinh nó vẫn thuận theo nhân quả. Như ví dụ như một người đến: "Con làm ăn thất bại quá, con bị bể hụi, cầu Phật cho con trúng số con có tiền để con trả nợ hụi lại". Thì không có Phật nào cho mình được điều đó hết. Vì đụng tới tiền bạc nó là nhân quả mạnh. Cái vật chất nó là nhân quả căn bản. Giống như nãy chúng ta nói,

[1:24:57]trong các cái chấp, thì cái chấp thân là chấp căn bản nhất. Phá được chấp thân rồi những chấp khác dễ phá. Thì cũng vậy, mọi cái phước của mình về cái trí tuệ, về hình dung, sắc đẹp thế nọ, coi vậy chớ nó không có cái gốc bằng cái vật chất, tiền bạc, của cải. Cái phước của nhân quả nó quan trọng. Cho nên một lời vài lời cầu nguyện không chuyển được cái vấn đề tiền bạc, không chuyển được. Nên mà muốn chuyển cái phước về tiền bạc, chỉ có chịu khó làm phước, chỉ có chịu khó là nhịn ăn nhịn mặc mà làm phước, thì sau này mình mới có phước về tiền bạc, chứ không bao giờ bằng lời cầu nguyện mà chuyển được tiền bạc.

[1:25:34]Đó như vậy. Những cái khác có thể lời cầu nguyện chuyển được, một chút bệnh tật hay một chút trí tuệ, chút hiểu biết, mình cầu nguyện có khi mình được điều đó. Nhưng tiền bạc thì đừng nghĩ như vậy, tiền bạc phải do cái phước tạo thành, chứ lời cầu nguyện khó chuyển về tiền bạc. Có lần trong bài kinh trong bài kinh mà thí dụ Dấu chân voi, Đức Phật bảo rằng: "Ai mà chứng đến Tứ Thiền, có thần thông rồi, nhưng phải biết được Tứ Diệu Đế thì mới thực sự là chứng đạo, mới thực sự là hiểu được sự vĩ đại của Phật và của Phật pháp". Là chứng được Tứ Diệu Đế, hiểu được Tứ Diệu Đế. Thì ở chỗ này chúng ta phân biết,

[1:26:18]phân biệt chút cái biết về Tứ Diệu Đế của chúng ta và của thánh. Như ở đây thì hầu hết ai cũng biết Tứ Diệu Đế rồi phải không? Đã nghe nói rồi chưa? Khổ, Tập, Diệt, Đạo nghe giảng chưa? Cũng nghe luôn rồi phải không? Vậy là đã hiểu rồi. Nhưng mình chưa thành thánh. Còn một vị mà ở trong Tứ Thiền á, họ thấy được Tứ Diệu Đế rồi họ thành A-la-hán liền. Như vậy giữa cái Khổ, Tập, Diệt, Đạo mình hiểu được với cái Khổ, Tập, Diệt, Đạo của một vị thánh hiểu được khác nhau chỗ nào? Đây chính là cái biết khác nhau giữa phàm phu và thánh. Như nội cái đầu là cái Khổ, mình hiểu khổ như thế nào? Khổ chừng nào mình nghèo, khổ bệnh hoạn,

[1:27:00]đau đớn mình mới thấy đó là khổ, phải không? Nên cái biết về khổ của mình nó cạn. Còn một vị thánh họ hiểu về cái khổ sâu sắc, tinh vi như một hạt bụi. Cái chỗ này khó thể nói thành lời.

[1:27:18]Chỗ này khó nói, để hôm nào khác rồi có Có một lần chúng tôi có nói ví dụ như bây giờ nói nguyên nhân của khổ là gì?

[1:27:28]Nguyên nhân của khổ là gì? Có khi mình nói là do ác, phải không? Có khi mình nói là do ích kỷ, có khi mình nói là do vô minh. Phải không? Hễ mình nói cạn á thì mình nói nguyên nhân của đau khổ là do ác. Mình nói sâu hơn chút nữa nguyên nhân của đau khổ là do ích kỷ. Mình nói sâu hơn nữa nguyên nhân của đau khổ là vô minh. Thì ở chỗ này chính vô minh là đau khổ, chứ không phải vô minh là nguyên nhân nữa. Mình đừng có nghĩ à vô minh là nhân và đau khổ là quả, phải không? Khi một vị thánh á mà họ ở trong cái thiền định sâu thẳm, họ thấy được cái vô minh, ngay đó họ chấm dứt vô minh, họ thấy được khổ là đó luôn.

[1:28:10]Nghĩa là vô minh cũng tức là đau khổ luôn. Nhưng mà nói vô minh tức là đau khổ người ta hổng hiểu. Phải buộc lòng Phật phải giảng à vô minh nó đưa đến hành rồi đến thức rồi danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, rồi sân, thủ, hữu rồi sinh lão tử, ưu bi khổ não là Phật phải giảng ra một tiến trình như vậy để cho mình thấy là mình thấy à lý luận mình nghe hợp lý à có cái này nó sinh ra cái kia, kia sinh ra cái nọ. Nhưng mà đối một vị mà trong cái thiền định sâu thẳm, ngay vô minh là đau khổ. Nhưng cái hiểu đó nó quá sâu, nó ngoài cái hiểu của mình. Chúng ta thấy cái biết của phàm phu và biết của thánh cùng một vấn đề vẫn khác nhau, khác nhau hẳn luôn.

[1:28:55]Cũng giống như Bát Nhã vậy, và nói tất cả pháp là không nhưng mình biết là một chuyện mà cái vị thánh biết điều đó là khác mình, hổng có giống mình. Nên giữa cũng một đề tài giáo lý đó mà mình biết khác, thánh biết khác. Rồi vấn đề thiền định cũng vậy, Phật tánh, thiền tông cũng vậy, coi chừng mình biết khác mà thánh biết khác. Nên khi mình nhưng khi mà mình hiểu cái cái biết và làm này rồi á, mình không bao giờ dám nghĩ dám chắc rằng, mình phải dè dặt không bao giờ dám chắc rằng những điều mình biết là đã đúng hoàn toàn hết. Đây là chỗ mình phải khéo léo dè dặt. Mình biết dẫu biết rõ hết vậy đó, nói:

[1:29:35]"Trời, tôi hiểu quá rồi, và từ đây nắm ở đây để tu", nói vậy trật. Như có người nói thôi từ đây đừng đi tìm kiếm đâu hết, đóng cửa lại xoay lại nơi chính mình mà tu tập. Câu đó trật lất, câu đó là một câu tự cao.

[1:29:52]Phải làm sao biết lỗi mà tu, mà phải có vị thầy chỉ cho mình mình mới thấy được lỗi. Còn nói thôi đừng đừng có đi nơi này nơi kia nữa, cứ quay lại nơi mình mà tu, đó là một câu nói tự kiêu. Quý phật tử đừng có nghe mấy câu đó mà dụ nha. Mình nghe câu đó mà mình tin là mình rơi vào cái tự kiêu giống như người ta luôn. Phải biết học hỏi, biết kính trọng những người có kinh nghiệm. Vì có những cái lỗi của mình mình đâu thấy được, mình không tự thấy được, nhưng mà do vị thầy nào sáng mắt chỉ mình thấy được à đó là lỗi, và nhờ thấy đó là lỗi mình vượt qua được lỗi. Chỗ đó là biết tức là làm, phải không?

[1:30:33]Do đó bây giờ á chúng ta học cái bài này thì chúng ta thấy cái bổn phận của mình phải làm sao? Là mình phải biết giáo lý, phải siêng năng tu tập để tâm hồn mình có từ bi, có đạo đức, có thiền định, và phụ giúp quý thầy quý cô trong việc hoằng hóa. Quý thầy quý cô có bổn phận hoằng hóa là đành rồi, nhưng mình là người đệ tử Phật thì từng người từng người cũng đều có bổn phận phụ giúp quý thầy quý cô hoằng hóa. Thì như vậy đạo Phật mới hưng thịnh chứ không phải lúc nào cũng chờ đợi quý thầy quý cô. Mà một đạo Phật như vậy là một đạo Phật gì? Năng động, mạnh mẽ, và đầy ích lợi cho thế gian chứ không còn là một đạo Phật thụ động nữa.

[1:31:17]Cái mái chùa yên tĩnh thanh vắng nghiêm trang đó không phải là nơi để mình núp cuộc đời đâu, mà chính nơi đó là nơi tạo ra ánh sáng cho cuộc đời, nơi đó là nơi khởi phát được cái nguồn thương yêu cho cuộc đời. Khi mình đến được cái chùa không phải là mình trốn, mà nơi đó mình tiếp nhận được giáo lý, tiếp nhận được trí tuệ, tiếp nhận được từ bi, thiền định, mình đem điều đó trở lại với cuộc đời. Một đạo Phật như vậy á mới là đạo Phật tràn trề lợi ích cho thế gian. Mà tất cả chúng ta dù người xuất gia hay tại gia đều phải làm được như vậy, đều phải biết được nhiều và làm được nhiều.

[1:32:01]Có ai hỏi gì không? Hết giờ hỏi rồi. Nhưng hỏi cũng hết giờ. Thôi nghỉ nha. Chúc quý phật tử an vui ha, tinh tấn, biết nhiều và làm nhiều. Nam

[1:32:23]Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nguyện đem

[1:32:33]công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sinh...