Transcript: Chia Sẻ Kinh Nghiệm Thuyết Giảng

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 2:11:24

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:10]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:26]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:41]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:58]Thỉnh đại chúng ngồi xuống. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thì tôi nghe nói nghe Thượng tọa Tấn Đạt nói là khóa này sắp ra trường, rồi mời tôi đến nói một buổi về kinh nghiệm hoằng pháp, diễn giảng. Thì thôi làm một buổi giao lưu vì có duyên, chứ sự thật vấn đề diễn giảng thì rất là mênh mông, rất là lớn, mà quý thầy quý cô thì cũng đã học rất là nhiều. Bản thân về Phật học mình cũng đã qua những cái trường lớp rất là lâu, rồi lại cũng đi ngót 3 năm về cái khóa chuyên về cái giảng sư này. Thì ắt hẳn là mỗi người đã có cái nhiều cái tư lương. Tuy nhiên với cái cương vị là như là một cái người đàn anh đi trước một

[1:50]chút, có một số kinh nghiệm thì chúng tôi cũng tiện đây mà trao đổi một vài vấn đề, hi vọng rằng nó cũng sẽ đóng góp được một ít cho cái sự nghiệp làm Phật sự hoạt động giảng dạy của quý thầy quý cô sau này. Hồi trước kia thì khi mà dạy ở Trung Cấp Long An thì tôi có dạy cái môn hoằng pháp này, và có một cái giáo trình chuyên cho nó luôn là cái cuốn sách này: Nghệ thuật hoằng pháp, đúng không? Cho nên nếu tiện thì cũng mời quý thầy quý cô tham khảo thêm. Dạ, hôm nay cầm giới thiệu bìa thôi. Theo cái sự nhận xét của tôi đi nơi này nơi kia, tôi thấy một điều thế này: là cái người mà giáo thọ giảng sư á,

[2:43]mình tu cái gì thì nó sẽ xuất phát ra cái giáo lý đó khi mình giảng dạy. Và cái giáo lý mà nó nó nó hiện ra đó, thì nó thu hút được cái số đối tượng đến với nó. Nếu mà cái giáo lý nó hiện ra nó phù hợp với cái người già gần chết, thì những bài giảng của mình chỉ có những người già tới nghe thôi, nghe rồi để chờ chết. Còn nếu cái giáo lý của mình mà nó phù hợp với cái lớp trẻ á, thì thu hút lớp trẻ tới. Nếu giáo lý mình nó phù hợp với cái người trí thức á, thì cái lớp trí thức họ tìm tới. Đó, nó như vậy. Do đó ta thấy như mỗi một người giảng sư, họ thu hút được một cái số đối tượng phù hợp với căn cơ căn duyên trình độ của họ.

[3:35]Và hiểu điều này rồi ta định trước cho mình, nó giống như là một cái nhân duyên, một cái nhân quả ta gieo, là ta chọn cho mình cái đối tượng nào để mình sẽ giảng dạy trong suốt cuộc đời của mình. Bây giờ quý thầy quý cô nghĩ trong suốt cuộc đời làm giảng sư của mình, mình sẽ giảng dạy cho đối tượng nào? Ví dụ đối tượng những người nhà quê, bình dân, thì cứ đi tìm cái giáo lý đó, mình sẽ có một cái giáo lý đó để dạy cho họ và đi hết các miền quê để dạy cho họ. Hoặc là nói mình giảng được cho lớp người trí thức, à hoặc lớp người giàu sang, lớp người có khoa bảng, thì mình chuẩn bị cái giáo lý để thu hút cái đối tượng

[4:18]và thuyết phục giảng dạy được cái đối tượng đó. Hoặc là mình cái đối tượng của mình là giảng dạy cho những người xuất gia chuyên tu, thì mình chuẩn bị cái giáo lý đó. Nhưng mà để có thể là thu hút được họ, làm cho họ ưa thích, thì cái giáo lý đó phải hấp dẫn, phải lợi ích. Cái giáo lý đó phải làm giảng làm sao là người ta ưa thích nha. Cái yếu tố ưa hấp dẫn là yếu tố rất quan trọng của một giảng sư. Mình giảng mà người ta không ưa, không thích, coi như bài bài giảng nó thất bại. Mà trong suốt cuộc đời của mình sẽ giảng rất nhiều bài, thì cái tỷ lệ mà cái bài dở đó nó phải rất ít, mà tỷ lệ cái bài hay phải rất nhiều,

[4:58]thì mới gọi là một giảng sư giảng dạy thành công. Còn nếu tính ra mình đi giảng ví dụ giảng được 100 bài, trong bao nhiêu năm giảng được 100 bài, mà cái tỷ lệ 5/5, tức là 50 bài hay 50 bài dở, cũng không gọi là một giảng sư thành công. Phải bảo đảm là 70 bài hay, còn 30 bài lại là vừa vừa. Đó là một giảng sư tốt, giảng sư tốt. Như vậy mới gọi là hoàn thành trách nhiệm giảng dạy của mình, chứ còn nếu mà tỷ lệ bài giảng hay ít quá, không được. Mà đứng lên bục giảng á, khi mình nói thực sự á nói hay nó vừa là công đức, lợi ích, an lạc cho người nghe, mà nó dở thành tra tấn liền. Thành tra tấn, không ai chịu nổi.

[5:40]Cứ ngồi yên một chỗ mà ngồi nhìn một người nói lải nhải lải nhải mà nói dở, sự thật nó đau khổ còn hơn là chắc không đến nỗi cha mẹ mất, nhưng mà đau khổ lắm, đau khổ lắm. Ta thấy thế này: làm giảng sư là ta ganh đua với ai? Ta ganh đua với Hollywood đó. Một bộ phim của Hollywood tốn khoảng ít nhất phải 10 triệu đô tới 50 triệu đô họ làm một bộ phim. Trong bộ phim đó cái diễn viên xuất hiện có khi là 10 người tới vài ba trăm người, mà cái phần mà nhân viên phục vụ cho bộ phim đó cũng vài ba trăm người, rồi chi phí kỹ thuật điện ảnh cực kỳ tốn kém. Một tiếng rưỡi. Và trong một tiếng rưỡi đó, bao nhiêu là lời thoại,

[6:23]bao nhiêu là hành động, bao nhiêu là kĩ xảo để thu hút cái người xem, mà suốt một tiếng một tiếng rưỡi đồng hồ coi không chán mắt. Vậy mà vẫn có bộ phim dở bị chê. Còn ta làm giảng sư, mấy người? Một người duy nhất. Một người mà cạnh tranh với 3 400 người của một cái hãng phim. Một người chỉ có tốn có ly nước thôi, cạnh tranh với 50 triệu đô la để chi phí cho một cái hãng phim, mà ta phải làm sao phải hấp dẫn được thính chúng ngồi nghe suốt 1 tiếng rưỡi, một tiếng, 45 phút, hoặc 1 tiếng, 1 tiếng rưỡi, thậm chí 2 tiếng, mà người ta nghe người ta vừa nghe vừa thích. Nghĩa là làm giảng sư là một mình chống mafia,

[7:02]tức là một mình mà cạnh tranh với cả cái Hollywood như vậy. Như vậy cái tài mình phải là rất giỏi chứ không có đơn giản đâu. Nghĩa là khi đưa ra một bài giảng cái sức thuyết phục phải rất cao, cái sự hấp dẫn là phải rất là lớn, làm cho người ta ngồi nghe mà bị gắn chặt với cái bài giảng, từng lời từng chữ mình tuôn ra là đi vào lòng người, nghĩa là cái tâm người giảng và tâm người nghe gắn chặt với nhau luôn suốt 1 tiếng rưỡi như vậy, thì mới gọi là một bài giảng thành công. Mà để như vậy là không phải dễ. Hồi xưa thì tôi cứ tưởng, lúc đó là mình cũng đi giảng thì cũng đi tu cũng nghiên cứu đàng hoàng.

[7:36]Thật ra thì tôi không có được học qua trường lớp đàng hoàng, tự chỉ nghiên cứu thôi, rồi được không biết sao quý thầy cái chùa mến mới mời đi giảng riết. Thì tôi cũng nghĩ là ai giảng cũng được, ai đi tu rồi cũng phải giảng được, nên gặp những người thầy quen mà không có chịu đi trụ trì rồi mà không chịu giảng dạy cho Phật tử tôi phiền lắm. Tôi mới đến tôi nói nè: "Thầy giảng dạy đi không, mỗi ngày sám hối là phải phải giảng cho Phật tử nghe, ít thôi, 30 phút 45 phút thôi, đừng giảng nhiều nhưng phải giảng". Cái 2 năm sau quay lại thăm thầy đó, hỏi: "Sao rồi, thầy giảng dạy sao rồi?". Nói: "Dạ, thì con cũng nghe lời thầy con giảng á,

[8:10]nhưng mà con giảng mới đầu sám hối thì Phật tử họ để dép ở nhà tổ á, cái sám hối Phật xong xuống nhà tổ lễ tổ rồi mới mang dép đi về. Sau này biết con có giảng cái họ mang dép họ để chánh điện, để cho sám hối xong họ bước ra họ mang dép họ chạy luôn, không nghe nữa." Bỏ luôn. Ngồi tôi cứ thắc mắc hoài: "Ủa sao kỳ vậy ta?". Rồi mãi sau này mới biết là đúng là không phải ai cũng giảng được. Từ đó bắt đầu tôi mới vừa giảng mà vừa phân tích lại từng khía cạnh của một bài giảng, để gọi là một bài giảng thành công nó phải bao nhiêu yếu tố tất cả trong đó. Thì lúc đó mới viết thành cuốn sách này. Cuốn sách này.

[8:47]Trong cuốn sách này á thì chia làm hai phần: một phần đầu là đàm đạo, phần sau là thuyết giảng. Tức là đàm đạo là có hỏi qua đáp lại, hỏi qua đáp lại, mình không phải nói liên tục, vì người ta hỏi mình đáp hoặc là mình hỏi xong người ta đáp, cho nên là nó không có liên tục mà nó có cái tham gia của cái đối tượng ngồi với mình. Và những đối tượng tham gia nó không đông, nhưng mà đó là cái bước thực tập ban đầu. Còn tới thuyết giảng là mình mình mình nói mãi, mình nói mãi, nói cho hết, cuối bài giảng rồi mới cho hỏi. Thành thử ra cái mức độ mà cái sự hấp dẫn đòi hỏi phải cao hơn rất nhiều, hơn hai phần.

[9:22]Và tôi bắt là các tăng ni sinh hồi đó học là phải tập đàm đạo trước. Tức là đàm đạo giỏi rồi mới có thể thuyết giảng được giỏi, chứ không phải dễ. Lúc đó tôi mới nhìn lại bản thân mình: à thực sự là vô tình mình đã đi qua cái giai đoạn đàm đạo mà mình không biết, cứ tưởng leo lên bục giảng ngồi là giảng, không có đâu. Là phải đi qua cái giai đoạn đàm đạo là sao? Là vô tình khi mình còn là cư sĩ, chưa xuất gia là đã có những buổi trao đổi đạo lý nảy lửa. Tôi cũng dùng chữ nảy lửa là có những lúc rất căng thẳng, là có những đối tượng họ hiểu đạo Phật kiểu gì đâu không biết, họ hiểu giống như là phế bỏ Pháp bảo, Tăng bảo hết,

[9:57]coi thường chư Tăng Ni, coi thường giáo lý hết, bắt đầu nổi xung thiên lên. Lúc cũng vẫn là cư sĩ thôi, còn lúc đó còn quá nhỏ và cũng còn hăng máu. Thế là ngồi bình tĩnh lý luận họ từng bước, từng bước, từng bước tới chừng nào bẻ gãy hết lý luận của họ, bắt họ phải là kính Phật trọng Tăng lại rồi mới là mới gọi là anh gọi là hiểu Phật pháp. Chứ anh là cư sĩ, mặc dù anh là giáo sư, mà ông đó cũng giỏi thiệt, anh là giáo sư, anh bằng cấp anh nhiều mà anh hiểu đạo theo cái kiểu anh coi thường người xuất gia là không được ạ. Phải ngồi lý luận lại: từ nhân quả, anh nhân thế, quả thế, nhân thế, quả thế, lý một lát ổng bí luôn.

[10:29]Tức là thật ra đời mình đã trải qua nhiều cái buổi đàm đạo nảy lửa như vậy nên cái cái sức thuyết phục đã từ từ hình thành. Cho đến khi vào làm chú tiểu, đi vào làm chú tiểu thì lúc đó ở cái chùa quê, lúc ở Đại Tòng Lâm á, cái chùa đêm xuống là chỉ có đèn dầu tù mù trong làng chứ không có điện. Từ làng quê ra tới Đại Tòng Lâm nó xa mà đường vắng tanh. Lúc đó chùa Đại Tòng Lâm nó mênh mông, nó vắng mà trong xóm làng đó vắng ghê lắm. Rồi người Phật tử họ không có gì vui chơi, kéo ra chùa, cái tụng kinh xong cái thấy Phật tử mà cứ cầm mấy cái đèn lồng đi về, đi tìm về nhà mình thấy tội quá. Thì tôi mới nói nói với thầy chúng trưởng, lúc đó mình mới làm điệu à:

[11:06]"Thưa thầy, thầy cho con cho phép con kể chuyện Phật giáo cho Phật tử họ nghe cho vui, chứ không để họ đi ra tụng kinh rồi đi về không". Cái ông thầy chúng trưởng nói: "Ờ ờ, thôi thôi chú mày làm gì đó làm". Cái tụng kinh xong: "Ngồi ngồi lại, ngồi lại chú nói cho nghe". Lúc mới làm điệu, kể chuyện Phật giáo. Nghĩa là ban ngày thì đi lao động làm ruộng làm đồ á, chiều tới mà chuẩn bị mà tới sắp tụng kinh là đi tắm rửa xong cái lật cái bộ kinh Hiền Ngu ra, đọc một cái rẹt ra một câu chuyện nào đó, gấp lại, lên tụng kinh xong cái là kêu Phật tử ngồi lại kể cho nghe. Kể rồi thêm mắm dặm muối rồi phân tích một chút mà

[11:38]làm tăng cái đạo tâm cả cái xóm nó lên luôn. Thì lúc đó tôi mới thấy rằng: à thì ra là vô tình mình đã tự rèn luyện qua những cái thực tập này thực tập kia, chứ không phải khơi khơi mà bước lên làm giảng sư, giống như là một cái cơ duyên gì đó. Hồi mà sau này tôi không biết, tôi cứ tưởng là làm giảng sư cái leo lên mà nói ào ào ào, đâu phải đâu. Mà có một lần vậy, có một lần tôi đến thăm một cái ban đại diện đó trong một cái trường hạ, lúc đó là đang là trường hạ đông người, quý Tăng Ni nào tập hợp ở đây đông lắm, mình đến tìm mấy thầy chánh đại diện thăm thôi. Bước vô cái ông thầy ổng nói: "Bữa nay ông thầy giáo thọ đi vắng, mời thầy Chân Quang lên ngồi giảng luôn".

[12:13]Trời ơi, chưa biết gì hết trơn. Mà trước mặt mình là Tăng Ni mấy vị là có vị Hòa thượng, Thượng tọa, Ni sư ngồi đầy hết trơn mà không hề soạn bài, không chuẩn bị. Cái mà thầy ổng ra lệnh đâu dám cãi. Mà trong đầu chưa có gì hết trơn. Mà lúc đó cũng chưa là giảng sư nữa, thật sự lúc đó chưa là giảng sư, chưa đi giảng nữa. Cứ thấy phải nghe lời mới leo lên ngồi. Ngồi nói đúng 25 phút hết biết nói cái gì, cái đứng lên hồi hướng, xách xe chạy mất, không bao giờ dám quay lại. Mà lúc đó là nhớ cái bộ kinh là Tiểu kinh Rừng sừng bò ở trong Nikaya á, lấy ra để mà phân tích về đời sống hòa hợp của chư Tăng,

[12:47]nói rằng người đã là Tăng Ni thì phải đừng sống bằng tâm mình mà phải cố gắng sống bằng tâm của huynh đệ, đó là cái tiêu chuẩn hòa hợp của các vị A-la-hán. Mà làm sao để mà bỏ tâm mình mà sống bằng tâm của huynh đệ, đó là cái sự tu hành như thế nào. Thì nói ngắn gọn thì ý vị thì nó cũng có vậy, nhưng mà nói ít quá cái thành ra bài giảng không có giá trị và rõ ràng người ta thấy mình non tay. Nhưng mà lúc đó ông giáo thọ đi vắng, ông chánh đại diện bắt lên giảng đại trong mùa hạ. Rồi qua năm sau cái mới chính thức là giảng nguyên cái mùa hạ cho cái trường hạ đó luôn, lúc đó mới soạn bài kỹ. Cũng giảng Nikaya, rút ra những bài trong Nikaya giảng thì năm

[13:24]sau mùa hạ thì giảng rất là vững vàng luôn, đại khái là vậy. Thì cái quá trình vô tình tôi được rèn luyện rồi không biết, rồi sau này thì mới đúc kết đó là viết thành cái cuốn này. Nên thỉnh quý thầy, quý cô cứ tìm tham khảo xem. Bây giờ trở lại cái vấn đề thế này. Trở lại vấn đề là ta giảng cái giáo lý gì thì ta thu hút được cái số đối tượng đó. Và quý thầy, quý cô phải nghĩ trong đầu mình trước, nghĩ trong đầu mình là suốt đời này khi đi làm giảng sư mình giảng cho ai? Và giống như một sứ mệnh mình tự đặt cho mình. Nếu quý thầy, quý cô nghĩ rằng mình có khả năng giảng cho chỉ cho cái người đồng bào dân tộc ở miền núi thì tư duy về điều đó.

[14:03]Tư duy về văn hóa của họ, ngôn ngữ của họ, tập tục, đời sống của họ hết để chuẩn bị đi theo cái hướng đó. Và đó là một sứ mạng lớn của Giáo hội đang còn thiếu rất là nhiều. Hoặc quý thầy nghĩ rằng là có những vùng quê ở Nam Bộ người ta có cái văn hóa đó, có những cái tín ngưỡng đã có sẵn người ta như thế: người thì đạo Hòa Hảo, thậm chí là cái người Hồi giáo, thậm chí người một số người Tin Lành, Thiên Chúa mới, rồi một số Phật giáo ở miền xa. Và quý thầy nghĩ rằng ánh sáng Chánh pháp, chân lý nó ở đó chưa sáng, chưa chuẩn, mình cần đến với họ thì chuẩn bị tâm tư của mình, chuẩn bị cái giáo lý để về nói với họ.

[14:42]Hoặc là quý thầy nào nghĩ ở miền Tây Bắc, ở ngoài Bắc á, cái vùng đó là vùng Phật pháp dường như còn trắng và các đạo khác họ cứ tìm cách xâm nhập. Nhà nước thì rất thích cho đạo Phật đến mà không có người dám gánh vác thì quý thầy, quý cô gieo trong lòng mình điều đó và kết quả nó sẽ trổ ra ở ngoài miền Tây Bắc. Mình chuẩn bị cái giáo lý đó, chuẩn bị hết những kiến thức về văn hóa, đời sống, ngôn ngữ, tư tưởng của họ, vân vân, để rồi mình sẽ ứng dụng Phật pháp. Hoặc có quý thầy nào nghĩ rằng mình có duyên với những người trí thức ở thành phố thì chuẩn bị trước, vì đây là cái lớp mà khó nhất. Khó nhất là cái người trí thức thì họ bằng cấp nhiều,

[15:20]họ biết nhiều và sự hoài nghi cũng rất là lớn. Do đó, để thuyết phục được họ, cái đầu mình phải hơn cái đầu của họ trong mọi lĩnh vực. Ví dụ họ chuyên ngành về tài chánh thì mình phải có cái nhận định về cái ngành tài chánh giỏi hơn họ, biết được những điều mà họ chưa từng biết dù họ học qua tiến sĩ. Hoặc là đối tượng đó họ là bác sĩ y khoa thì họ học bằng cấp bác sĩ của họ nó gần giống như thạc sĩ, tiến sĩ của mình mà khi để cho mình dạy họ cái đạo đức cái của người y bác sĩ, mình phải hiểu về lĩnh vực của họ hơn họ, hiểu về cái đạo đức thâm sâu hơn họ mới làm thầy họ được. Cho nên nếu ai nghĩ rằng tương lai mình sẽ là những giảng sư

[16:02]cho những người trí thức thành phố thì cái mức độ chuẩn bị phải cao hơn, nuôi dưỡng cái tâm hồn mình kỹ hơn, vân vân. Thì tôi đi giảng hơn 20 năm và giảng cho rất nhiều đối tượng, nhưng mà và đối tượng nào tôi giảng rất bình tĩnh, kể cả những quan chức rất là lớn. Nhiều khi trước mặt mình ngồi là những quan chức rất là lớn, mình giảng rất là bình tĩnh, không có gì hết. Vậy mà có một lần tôi một bài giảng tôi toát mồ hôi hột luôn, lúng túng luôn, nghĩa là chưa từng có trong đời, chưa từng vậy nè. Là biết ai không? Giảng cho người dân tộc Ê Đê. Đứng lên cái là giảng 10 phút đầu ráng giảng, mình giảng toát mồ hôi mà họ cứ ngồi ngơ ngơ ngơ, bắt đầu từ từ họ ngủ.

[16:42]Trời, mà một giảng sư mà trước mặt mình mà người nghe mà ngáp, người từ từ ngủ rồi mình giảng không nổi nữa. Mà chết rồi, bao nhiêu người đang trông đợi mình mà giảng mà cái kiểu mà cái người dân tộc họ ngơ ngơ không hiểu, từ từ họ nhắm mắt, họ ngáp là chết luôn rồi đó. Bắt đầu là phải hạ thấp xuống, hạ thấp, hạ thấp, hạ thấp xuống tới cái mức mà giảng về cái gì quý thầy biết không? Giảng về trái ớt nè, trái bí nè, trái cà, bắt đầu họ mới mở mắt ra họ nghe, họ gật đầu. Vậy đó! Lần đó là toát mồ hôi luôn, giảng xong bài đó là thôi toát mồ hôi hột luôn. Thì ra mới biết rằng cái bài khó nhất không phải là giảng cho

[17:11]những người trí thức mà chính là giảng cho người dân tộc đó. Họ không biết gì hết trơn. Mình thì biết quá nhiều mà họ không biết gì hết, cái mình phải hạ thấp xuống. Tới chừng nói chuyện con tắc kè, con cá, coi trái ớt, trái bí, trái cà thấy họ nghe lọt lỗ tai, rồi bắt đầu họ mới chịu mở mắt họ nghe. Lúc phải đưa cái luật nhân quả, đưa cái lý vô thường rồi cái đạo đức nhân ái: đừng sống ích kỷ, phải sống vị tha, vân vân, mà qua những hình ảnh cây cà phê của họ trồng nè, trái dưa leo, trái bí, trái ớt rồi con thằn lằn đó thì bắt đầu họ cười, họ vui đồ, họ đứng lên họ phát biểu đồ vui vẻ. Còn trước đó mình nói, mặc dầu là cũng khá thấp rồi,

[17:46]họ nghe họ ngơ ngơ nhìn lát họ ngủ mất tiêu. Đó bài giảng sợ nhất trong đời tôi. Bây giờ trở lại lần nữa là quý thầy, quý cô chọn cho mình cái đối tượng hoặc là quý thầy, quý cô nghĩ rằng mình có thể bao quát hết mọi đối tượng thì đây là cũng rất là hay, ý tưởng rất hay, nhưng mà đòi hỏi cái sự phấn đấu mình lớn. Nghĩa là mình có thể đi về cái miền quê xa xôi giảng cũng được, bước ra thành thị giảng cũng được, vào trong cái giới trí thức giảng cũng được hay là người Tăng Ni mà những vị mà đã tu hành lâu mình giảng cũng được. Nếu mà quý thầy, quý cô nghĩ mình có thể bao quát được cái đối tượng đó thì tâm đó cũng rất là tốt, tâm đó tâm Bồ-tát đó,

[18:25]nhưng mà đòi hỏi cái sự chuẩn bị mình rất là lớn, rất là lớn. Nãy ta nói là cái giáo lý loại nào sẽ thu hút được cái đối tượng đó, bây giờ ta trở lại cái căn bản: ta tu cái gì nó ra cái giáo lý đó. Và ta nhớ một điều: giáo lý ta dạy từ cái ta tu hành chứ không phải từ cái ta hiểu biết, nhớ giùm nhé. Vì sao? Vì ta dạy bằng cái ta hiểu biết thì mình là con vẹt và cái bài giáo lý đó không có sức thuyết phục. Đây là điểm mấu chốt: Tại sao có những giảng sư bước ra giảng hấp dẫn, có những người giảng sư ra giảng nghe khô queo, người ta nghe không nổi? Chỉ bởi vì cái bài giảng đó từ cuộc sống của họ,

[19:08]từ sự tu hành chân chính của họ, hay chỉ là từ cái ký ức, cái sự thu thập kiến thức của họ? Hai cái đó khác nhau một trời một vực nha! Khác nhau một trời một vực đó. Quyết định sự thành công của giảng sư hay không. Khác nhau xa lắm! Do đó, buộc cái người đã đi làm giảng sư, tức là làm thầy thiên hạ đúng nghĩa, thì phải có công phu tu hành sâu dày, không có nói chuyện chơi. Nó không giống như làm cái người chuyên viên thuyết trình về lý thuyết, học sao nói lại vậy. Mà sự thực bây giờ ta nói là những cái giáo sư dạy ngoài đời đi, họ cũng đi qua kinh nghiệm của cái môn của họ. Ví dụ ông giáo sư dạy toán, thì ổng phải làm,

[19:52]giải không biết bao nhiêu bài toán khó rồi, thì ổng đứng lên bục giảng ổng ung dung ổng giảng. Ngóc ngách những định lý, định đề, những cái bí hiểm, những cái khúc mắc, những cái thủ thuật giải toán ổng nắm hết, và bài giảng ổng rất là hay. Mặc dù cũng là toán, nhưng rất là thú vị, vì ổng giải không biết bao nhiêu bài toán. Hoặc là một ông thầy dạy lý, dạy hóa, mà ổng đã từng ở trong cái phòng thí thí nghiệm, từng trong phòng thí nghiệm, thì ổng giảng cái sức thu hút nó khác với một người chỉ học trên lý thuyết biết rồi nói lại. Một cái người mà giải nhiều bài tập chừng nào thì dạy hay chừng nấy.

[20:23]Còn chúng ta, bài tập ở đâu? Bài tập trong sự tu hành của mình, bài tập trong sự chiến đấu với những sai lầm của chính mình, bài tập trong cái sự gì? Ứng xử với tất cả mọi người cho đúng đạo lý, thì đó chính là bài tập của ta. Và ta giải bài tập này càng nhiều chừng nào thì những bài giảng sau này của ta nó hấp dẫn chừng nấy. Đó, đây là cái nguyên tắc cực kỳ quan trọng. Do đó, để làm một giảng sư giỏi, ta vui lòng hạ thủ công phu nghiêm túc cho nhiều lĩnh vực. Mà cái quan trọng, cái tu của chúng ta á, nói thì quý thầy quý cô, nếu mà nói theo lời dân gian là đầu có sạn về sự tu hành, xuất gia cũng đã quá lâu,

[21:10]trải qua những trường lớp, những công phu ở chùa sớm tối đã nhiều quá rồi, thì tôi không dám có ý kiến về sự tu hành. Tuy nhiên, tôi chỉ nhắc một điều: Quý thầy quý cô tu cái gì đó tôi không biết, nhưng mà cái đó nó phải thành giáo lý, và giáo lý đó nó làm giáo lý sống động hút được mọi người vào trong bài giảng của mình, nên cái công phu đó phải coi lại, kiểm tra lại. Tôi không biết và tôi không có dám có ý kiến, tại quý thầy quý cô đều có bổn sư, có tông phái của mình. Nhưng coi lại giùm tôi, cái tông phái của mình, bổn sư mình dạy cái gì nó sẽ ra cái giáo lý mình giảng, và cái giáo lý đó nó hút được một số người. Nha!

[21:50]Cái ngôi chùa mình xuất gia, ông thầy ổng dạy đạo mình, cái tông phái mình tu thành con người của mình, rồi thành những đối tượng mình sau này sẽ nghe mình giảng, điều đó để ý lại. Và nếu quý thầy quý cô nghĩ rằng mình sẽ làm lợi ích chúng sinh cho bao nhiêu đối tượng nào nữa thì đi ngược lại cái sự tu của mình. Tức là mình tu cái gì đó để nó tạo thành một giáo lý mà hút được rất đông đối tượng. Nghĩa là cái người già cũng nghe cũng thích, người trẻ nghe cũng thích, cái người ở trong đạo đã thuần thành nghe cũng thích, cái người ngoài đạo mới vào đạo nghe cũng thích, cái người trí thức nghe cũng thích,

[22:24]người ít học bình dân nghe cũng thích, quan chức cán bộ nghe cũng thích, và cái người làm việc tư nhân nghe cũng thích. Nếu mà muốn cái giáo lý mình đủ sức hút như vậy, coi lại cái tu của mình. Cái tu nó chuẩn mực như thế nào đó mà nó nhiếp hóa được hết chúng sinh sau này. Mà để có thể có một cái tu mà nhiếp hóa được hết chúng sinh sau này thì cái tu đó càng chuẩn với Đức Phật chừng nào thì nó càng hiệu quả chừng nấy. Ở đây ta có nhiều tông phái, mỗi tông phái thì thường là khai thác cái sở trường của mình, và ta nhớ một điều: Cứ đi riêng với cái sở trường thì nó lấy được một ít a quần chúng lại thôi.

[23:03]Nó sẽ tạo ra một giáo lý và lấy được một ít quần chúng thôi, chứ không lấy hết được quần chúng. Do đó, hôm nay họ mời ta giảng ở hội này, nghe thấy thích, qua cái hội giảng khác người ta không thích mình nữa. Tại vì sao? Tại vì cái giáo lý mình giảng hút được một số ít người. Mà tại sao vậy? Bởi vì cái cách tu của mình nó là như vậy, cái nhân quả nó là như vậy. Nên do đó, ta phải có một cái công phu để hạ thủ, công phu tâm linh để hạ thủ chuyên sâu, đồng thời ta có một cái đời sống đạo hạnh. Cái đời sống đạo hạnh đó và cái công phu ẩn mật đó, hai cái nó tương tác liên quan hỗ trợ nhau. Và hai điều đó thành cái giáo lý của ta.

[23:42]Mà thế nào gọi là một cái công phu chuẩn mực để sau này nó thành một cái giáo lý mà nó nhiếp hóa được rộng rãi chúng sinh, thì ta cố gắng tìm về cội nguồn ban đầu của Đức Phật càng kỹ càng tốt, đừng đi ra nhánh xa quá. Đừng đi ra nhánh xa quá. Ta có những cái mà đi ra nhánh xa quá như thế nào? Thứ nhất là Thiền tông Trung Hoa, sự thực cũng là một nhánh phát triển rất là xa sau này. Rồi cái Tịnh Độ tông niệm Phật Di Đà vãng sanh cũng là một nhánh phát triển về sau này. Rồi cái sau này gọi là Mật tông hay còn gọi là Kim Cang thừa á, cũng là một nhánh phát triển sau này, cả ngàn năm sau Đức Phật mới có.

[24:21]Tổ sư thiền cũng gần cả ngàn năm sau Đức Phật mới có, Tịnh Độ tông cũng vậy, cả ngàn năm sau mới có. Rồi hoặc là thậm chí nói thẳng luôn cả cái Abhidhamma của Nam tông cũng bị luôn, cũng không phải là gốc. Vì cái Abhidhamma là một sự triển khai Nikaya nhưng mà không phản ánh hoàn toàn cái Nikaya của Phật. Do đó, ta cố gắng dựa chắc vào bộ Nikaya làm nền tảng. À và cái khai thác, cái hiểu Nikaya này là đúng là tùy duyên của mỗi người, tùy bản lĩnh của mỗi người. Cùng cái Nikaya đó người ta nhìn thấy đạo lý thế này, cùng Nikaya đó người ta nhìn thấy đạo lý thế kia thì tùy cái bản lĩnh của mình, của ông thầy dạy mình.

[25:00]Ông thầy ổng hiểu sao ổng dạy mình vậy, mình hiểu theo ổng là mình đi theo cái gốc của ổng. Nên cố gắng thoát ra độc lập để cố gắng làm sao tiếp cận được đúng nhất với ý của Phật. Còn những vị thầy của ta, ta mang ơn và ta nương vào vị đó, nhưng đừng đứng ngay đó. Luôn luôn phải phải thiết tha đi tìm sát với ý của Phật. Ông thầy mình là một sự gợi ý thôi, chứ ông thầy mình ổng giảng chưa chắc đúng với đúng ý của Phật. Nghĩa là ông thầy mình ổng nhìn cái kinh đó qua cái tâm thức của ổng, qua cái trí tuệ của ổng ổng triển khai như vậy, nhưng mà tới mình, lúc nào trong tâm nguyện cũng cố gắng tiếp cận sát hơn nữa với cái ý của Phật.

[25:37]Ý Phật, Phật đã nhập Niết bàn rồi làm sao biết ý của Phật? Cho nên đây là một bài toán khó mà tự quý thầy quý cô phải tìm, phải giải, chẳng ai giải được cho mình cả. Và nếu quý thầy quý cô may mắn, có túc duyên mà mình giải được những bài toán đó, nghĩa là hiểu được cái kinh điển sát với ý của Phật, ứng dụng vào đời sống tu hành thì cái cơ duyên là sau này mở ra giáo lý mình nhiếp hóa chúng sinh rất là rộng. Nhớ vậy. Càng tiếp cận sát vào ý của Phật chừng nào thì đối tượng mà ta giáo hóa là rộng chừng nấy. Còn cách càng xa cái ý của Phật chừng nào thì đối tượng mà ta giáo hóa nó hẹp lại chừng nấy, bởi vì ta đi ra ngọn.

[26:18]Mà nhớ ngọn thì nó vài nhánh thôi, còn đi về cái gốc, lấy hết toàn bộ cái cây, bao nhiêu cành, lá, hoa, quả gì nắm cái gốc là nắm hết. Còn nếu ta ra ta ôm một nhánh thì ta ôm một nhánh thôi, nó có chừng ấy lá, chừng ấy hoa, chừng ấy quả, còn ta chụp được cái gốc, ta lấy hết toàn bộ. Do đó, cái nhận thức của ta về giáo lý phải cố gắng là đến tiếp cận sát với ý của Phật, chứ không ai dám nói mình đúng với ý Phật hoàn toàn, không ai hết đâu. Chỉ Phật với Phật mới hiểu hết, A-la-hán với A-la-hán mới hiểu hết, còn ta đang còn tu, ta không cách nào hiểu hết. Nhưng lòng ta, tâm nguyện thẳm sâu trong lòng ta

[26:54]cố gắng là tiếp cận gần nhất với ý của Phật. Nãy giờ là ta nói ra cái nguồn giáo lý, và cái nguồn giáo lý đó phải kinh qua một cái sự tu hành thiết tha, tinh tấn, khổ hạnh. Nếu quý thầy quý cô mà chưa từng có những cái giây phút mà chiến đấu với chính mình vất vả thì giáo lý mình không hấp dẫn. Cái điều kiện này chứ khó lắm á, quan trọng lắm. Quý thầy quý cô phải chọn một pháp môn mà pháp môn đó gần với cái ý của Phật nhất, Để tu tập hạ thủ công phu mà phải đi qua những giây phút cực kỳ đau khổ thì sau này cái giáo lý mình giảng mới hấp dẫn. Nhân quả nó là như vậy. Vì nó thành sống rồi, giáo lý nó thành giáo lý sống trong cuộc

[27:42]đời của mình, chứ không phải mình nghe sao nói lại vậy. Đúng vậy, nó trở thành giáo lý sống. Cái ý của Phật lớn, nhưng mà ta tóm lại một cái một: diệt trừ bản ngã. Diệt trừ bản ngã. Một cái câu bốn chữ thôi, diệt trừ bản ngã thôi, diệt trừ sạch bản ngã chứng A La Hán. Trên đường diệt trừ bản ngã, muôn vàn đức hạnh hiện ra. Chỉ một cái diệt trừ bản ngã là tóm hết gần hết được giáo lý đạo Phật. Nhưng để cách nào để diệt trừ bản ngã, đây là vấn đề mà ta nói hết kiếp này tới kiếp sau chưa hết. Và trên con đường mà bản ngã được diệt trừ dần dần đó, vô số điều gì nó hiện ra thì đây là điều mà ta phải trải nghiệm nơi chính mình.

[28:25]Mà cứ mỗi một bước ta bước được một bước trong cái việc diệt trừ bản ngã, ta nhìn được cái lỗi của mình, nhớ như vậy đi, cái gốc đó. Nói tu thì mênh mông, mà ta cố gắng rút lại một cái cho nó gọn, cái mục tiêu tối hậu vẫn là diệt trừ bản ngã. Mà trên con đường diệt trừ bản ngã này, trên con đường đi đến nó thì ta có pháp môn hay gọi là phương pháp, kỹ thuật gì đủ thứ hết trơn. Giáo lý, pháp môn hả? Mà trên con đường đi của nó, trên con đường đi này nó hiện ra vô số điều, những đạo hạnh, những trí tuệ từ từ nó nảy nở. Ta chưa diệt trừ xong bản ngã, ta chỉ đi thôi thì trên đường đi này vô số điều tốt đẹp nó hiện ra.

[29:04]Trong đó có một cái điều là ta làm thầy được thiên hạ. Là vì sao? Vì mình đi đúng cái con đường này. Và vô số điều tốt đẹp nó hiện ra trên con đường ta diệt trừ bản ngã, có một điều cực kỳ quan trọng là biết lỗi chính mình. Cái biết lỗi chính mình này đó, nó đi càng lúc nó càng vi diệu dần dần. Ví dụ như, mới ban đầu ta tu sơ sơ, cái ta mới phát hiện ra thì ra mình còn hay nóng tánh, à biết rồi ráng sửa. Mình tu một thời gian cái mình nói: đôi lúc mình nghe người ta chê mình còn tự ái, cái mình biết được thêm cái lỗi là cái tự ái. Cái tự ái này nó tế hơn cái nóng nảy, nhưng mà nó tế hơn nó vậy.

[29:43]Thì từ từ như vậy, tu cho đến cái khi mà sau này cái mà ta biết lỗi á, nó thuộc là lỗi của Bồ Tát chứ không phải lỗi của phàm phu nữa. Nó không còn những cái lỗi bình thường à tham, sân, đố kỵ, nóng giận, ích kỷ, hơn thua, à nói nhiều hay nói lỗi người khác, không còn những cái lỗi thô đó nữa. Mà một người mà tu hành đã sâu xa rồi, cái biết lỗi của họ là cái biết lỗi của hệ thống cao cấp của bậc thánh của Bồ Tát á. Mà mình mà tu mà tới mức độ biết lỗi sâu xa tới cỡ đó là cái giáo lý của mình là một giáo lý cực kỳ sống động và hấp dẫn. Nên đây là cái con đường mà ta phải đi, quyết tâm đi mà phải hạ thủ công phu cho bằng được.

[30:22]Nó hai điều, cái tu này gồm hai điều: một là cái công phu tâm linh, hai là một đời sống đạo hạnh. Đời sống đạo hạnh. Đời sống đạo hạnh nó nhiều thứ lắm. Đời sống đạo hạnh là kiểm soát, thúc liễm chính mình, giữ được cái giới hạnh của chính mình và cư xử với mọi người đúng lẽ, hợp lý, vân vân, những thứ mà nó tỏa ra hết được như vậy. Lần lần nó đi tới mình diệt trừ bản ngã, kiếp nào đó thì ta không biết. Từ việc mà diệt hết bản ngã thành A La Hán á, có khi một kiếp này người nào có duyên chứng, có khi ngàn kiếp sau mới chứng, nhưng đó là lộ trình ta buộc phải đi. Và bây giờ là nơi ta xuất thân từ ông thầy nào đó,

[31:01]từ bổn sư nào đó ta không biết, nhưng mà cái lộ trình chính của đạo Phật là cái lộ trình này. Bất cứ anh là tông phái nào, pháp môn nào, hệ phái nào không biết, nếu mà không đi đúng con đường diệt trừ bản ngã, ta không đi đúng cái lõi của đạo Phật. Mà không đi đúng cái lõi của đạo Phật, sau này cái giáo lý mình nó nó lòi ra, nó phát ra để giảng người ta á nó lệch lệch một mé, thu hút rất ít người. Còn ta đi đúng được cái lộ trình mà diệt trừ bản ngã này, cuộc đời ta nó tỏa hương đạo đức, trí tuệ nó phát ra, mình gặp đối tượng nào mình cũng nhiếp phục được hết, bởi vì nó là cái lõi của Phật giáo.

[31:37]Cái lõi mà Đức Phật đã dạy, đó là kinh nghiệm của chúng tôi đó. Nên quý thầy, quý cô có đi đúng cái lõi này rồi, sau này mình gặp bất cứ đối tượng nào và có thể cái kiến thức mình không bằng người ta, nhưng mình giữ đúng cái lõi này, mình vẫn nhiếp phục người ta được. Người ta vẫn yêu quý mình bằng những cái lời dạy của mình nhẹ nhàng, từ ái, sâu sắc mà ích lợi cho họ. Vì sao vậy? Vì trên thế gian này bất cứ đối tượng nào anh cũng bị vướng một cái rất kẹt là bản ngã. Từ trên cho cái người lãnh đạo, ông vua cho tới người thứ dân, cuộc sống họ đều chỉ lấn cấn lấn cấn chung quanh cái bản ngã này, thành bao nhiêu phiền muộn, khổ đau.

[32:15]Ta không đi chuyên sâu vào lĩnh vực của họ, ví dụ họ kinh doanh tài chánh, họ kinh doanh kỹ thuật, họ phát triển địa ốc, họ sản xuất cái này cái kia kệ họ, nhưng luôn luôn suốt đời họ cứ khổ vì cái bản ngã của họ. Và ta là người có kinh nghiệm diệt trừ bản ngã nơi chính mình thì ta giải tỏa họ được một vài lời. Nhiều khi chỉ một vài lời nói nhẹ nhàng thôi đã làm cho họ yêu mến. Mà nếu mà họ có thể lắng nghe ta trong suốt một bài giảng mà ta vạch cho họ đi giải tỏa họ cả cái lộ trình này thì cực kỳ lợi ích và bài giảng ta chắc chắn là mình dùng chữ hấp dẫn, có nghĩa là cái người nghe thấy có lợi

[32:52]ích cho bản thân họ, làm cho họ chăm chú, họ yêu mến, ta gọi là hấp dẫn. Cái chữ hấp dẫn có nghĩa là nó cái từ nó cạn và nó thế gian lắm, nhưng mà nghĩa chính của nó là gì? Vì cái bài giảng có lợi cho người nghe. Mà người nghe là ai? Đủ thứ hạng người trên đời. Mà đủ thứ hạng người, ai cũng vướng một điều: bản ngã. Ta đi đúng cái lộ trình này, ta nhiếp hết chúng sinh. Nhớ như vậy nha, đây là cái quan trọng. Do đó, giảng sư làm thầy thiên hạ thì ta cần có hai điều hơn người: một là giới hạnh đạo đức hơn người, hai là trí tuệ kiến thức hơn người, sau đó mới được quyền nói làm cho người ta nghe, dạy cho người ta tin.

[33:37]Cái giới hạnh đạo đức hơn người chính là cái này, cái diệt trừ bản ngã. Còn cái trí tuệ kiến thức hơn người thì gồm cả nội điển lẫn ngoại điển. Trong cái thời đại này, cái thời đại mà thông tin tràn ngập toàn cầu, cái thời đại mà thế giới hội nhập lại với nhau, cái sự đối diện các nền văn hóa rất là lớn và nảy lửa. Do đó, cái lượng kiến thức mà con người ta ngày nay tự nhiên bỗng nhiên có rất là lớn, ai cũng vậy. Và cái người giảng sư là một người xuất gia vốn là một người xuất gia tu hành đạm bạc, nhưng mà khi đã làm giảng sư, gọi là làm thầy thiên hạ rồi, tự nhiên nó buộc mình có một cái điều là kiến thức phải hơn người, rồi người ta mới nể.

[34:22]Ví dụ mình nói về một lĩnh vực nhiều khi nó liên quan tới khoa học một chút mà mình nói trật, cái người trí thức người ta nghe người ta chê một chút xíu trong lòng người ta thôi, cái người ta bớt tin tất cả những giáo lý khác mà mình nói. Còn về ví dụ mình nói kiến thức khoa học chuẩn một chút xíu, người ta nghĩ rằng mình là người có văn hóa, có học, cái đó quan trọng lắm. Cái điều mà tôi vừa nói đây, tôi vô tình thôi, cũng tự trang bị chính mình mà tôi không biết. Có cái thời gian lúc đó tôi ở Long Hải thì không có chỗ ở, cho nên tôi vào tôi xin ở trong cái nghĩa địa. Lúc đó đó là cái bãi nghĩa địa tha ma mồ mả không,

[34:59]thì nó có một cái mảnh đất trống trống và tôi xin dựng cái chòi, cái cốc để tôi ở. Vừa ở được 2 ngày cái người ta tới người ta chôn cái mả cách cách đúng cái chỗ mình ở hai thước. Bước đúng hai thước là người ta chôn cái mả ngay đó, mới đó, mình thì ở bên đây, thì kệ chôn chôn cứ ở. Lúc đó dựng cái chòi lá ở đó tu. Ban đêm mà ngồi thiền xong, bước ra ngoài đi kinh hành dưới những bóng cây đó là cứ khi mà có ánh trăng thì gió thổi lào xào lào xào cái tàn cây in dưới đất, và cái những dãy mả nó cứ nằm tăm tắp tăm tắp tăm tắp vậy, mình cứ đi ra những cái dãy mả mình đi kinh hành. Ngồi thiền xong rồi đi kinh hành cứ vậy.

[35:33]Cũng tu 2 năm đó rồi mới lên núi. Thì lạ một cái điều thế này, thời gian đó thì tu thì tôi ban ngày rảnh chút xíu tôi viết sách, viết cái cuốn về nhân quả, thì bỗng nhiên có một sự thôi thúc kỳ lạ trong lòng cứ bắt phải chạy ra ngoài cái quầy quầy sách, quầy báo ở ngoài chợ đó, mua mấy cái cuốn kiến thức của thế giới về đọc. Mà không ngừng được, một cái sự thôi thúc rất kỳ lạ là thôi cứ hễ nó ra tờ nào rồi mua tờ đó, mua chất cả đống luôn vậy đó, mua coi. Coi lần lần rồi, sau đó mới nghĩ thế này: à, thế giới nó đang sống như thế, thế giới đang phát triển và nó suy nghĩ như vậy, vậy đạo Phật nói gì?

[36:09]Bắt đầu đối chiếu giữa cái kiến thức của thế giới với cái giáo lý đạo Phật nó ăn làm sao với nhau, cái nào nó ăn khớp, cái nào không ăn khớp, đạo Phật phải bổ sung điều gì cho thế giới, vân vân, là trong suốt 2 năm như vậy. Mà không biết tại sao, như một sự thúc đẩy rất là lạ trong lòng, cứ vậy. Cho đến qua 2 năm rồi khi mà à thì mình đi tu lâu quá rồi, mình không có biết gì ngoài đời, thì nhờ mấy cái tạp chí đó lần lần mới hiểu rằng thế giới ngày hôm nay họ đã đi đến mức độ này, họ đã suy nghĩ như thế này rồi, bây giờ giáo lý đạo Phật áp dụng vào cho thế giới là phải thế này, phải thế này. Rồi sau 2 năm rồi thôi hết, không có đọc nữa.

[36:46]2 năm đó bây giờ, từ đây về sau thì mỗi ngày đệ tử thì mua cho tờ báo, đọc phớt phớt qua mấy cái tiêu đề, coi cái tiêu đề nào quan trọng cần thì đọc kỹ cái nội dung, không cần thì thôi đọc qua những tiêu đề cho biết rồi thôi gấp báo lại, vậy thôi. Tức là bổ sung kiến thúc kiến thức của thời đại thêm dần dần chút chút. Còn trong 2 năm ở đó đó, tự nhiên giống như Phật bắt vậy á. Bắt là phải hiểu về thế giới. Mà mình đi tu thì đã bỏ hết rồi không nghĩ, không ngờ lúc đó Phật bắt phải hiểu, làm vô tình nâng cao một bước về kiến thức ngoại điển. Nên sau này khi mà tôi đi giảng, nhiều khi gặp những đối tượng

[37:22]mà cái tri thức họ rất là cao, mà mình phải nói để thuyết phục cho được họ luôn, vì mình hiểu về lĩnh vực của họ, có những cái góc mình hiểu hơn họ luôn, họ mới phục. Nên đây là cái điều cũng là một trong những kinh nghiệm mà tôi chia sẻ lại với quý thầy, quý cô. Như có lần vậy tôi đi vào trong bệnh viện giảng về đề tài là đạo đức y khoa. Lúc đó là một cái bệnh viện có tên là Bệnh viện E. Hồi khi mà nhận được cái thư mời thì tôi nghĩ là chắc cái bệnh viện này nó nhỏ, tên nó có một chữ à: E. Chứ như mình ở đây là Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch rồi Bệnh viện Thống Nhất thì chữ nó dài dài. Nhận cái thư mời người Ban Giám đốc Bệnh viện E

[38:00]kính mời Thượng tọa Thích Chân Quang ra trao đổi một buổi vậy đó, thì thôi cũng soạn bài ra. Tới chừng bước vô: trời ơi, nguyên cái bệnh viện mênh mông to lớn! Hỏi ra, đây là bệnh viện trung ương. trị những ca đặc biệt, nhà ngang dãy dọc, bệnh viện lớn quá chừng lớn thì vào mời hết bác sĩ, y tá, điều dưỡng rồi gì, các ban giám đốc mời vào trong hội hội trường, giảng về bài Đạo đức Y khoa. Và mình nói được những góc cạnh mà chính họ là người ở trong ngành của họ phải giật mình vì mình khai thác được những góc cạnh lạ. Là lý do là thứ nhất cũng này, diệt trừ bản ngã là cái lõi của mình, và thứ hai vì mình hiểu sâu nội tình của họ là do vô tình có những kiến

[38:38]thức ngoại điển làm cho bài giảng nó hấp dẫn, thuyết phục được. Cho nên sau cái buổi giảng, ông giám đốc bệnh viện lên ổng vui mừng, ổng mừng quá, ổng nói là thầy nói về đạo đức y khoa là rất dễ đụng chạm, vậy mà thầy đã lách qua lách lại, không đụng ai, không mất lòng ai hết, nhưng mà vẫn dạy cho họ được. Đó là cái khéo á. Rồi có một lần có một cái ngân hàng ở ngoài Nha Trang mời tôi ra giảng, một cái ngân hàng ngoài Bắc chứ đã, mấy ngân hàng ngoài Bắc giảng rồi tới hội doanh nhân giảng và vừa rồi là cái ngân hàng VietinBank á ở ngoài Nha Trang mời ra giảng. Thì lĩnh vực mà hoạt động tài chánh ngân hàng

[39:11]của họ là lĩnh vực mà mình không biết đâu. Nhưng mà buộc mình cũng phải đi sâu vào họ để hướng dẫn họ vì họ đang hoạt động trong lĩnh vực đó, họ đang ở trong lĩnh vực đó, mình không lẽ mình đem cái chuyện mà đi bán bán chợ trời mình giảng vào được, phải nói trong lĩnh vực tài chánh ngân hàng của họ và phải nói đúng và nói sâu hơn cái họ biết. Cái khó là cái vậy. Để làm thầy người ta mà, biết nhiều hơn người ta, nên hồi nãy tôi nói cái đối tượng mà ta giảng là vậy đó. Nếu quý thầy quý cô đã chấp nhận mình có một đối tượng rộng, bao quát, ai mời cũng giảng được hết thì cái kiến thức của mình về nội điển ngoại điển phải rất là lớn.

[39:48]Nó đòi hỏi sao, cả cái trí nhớ, cái trí thông minh và sự nhận thức cuộc sống nhạy bén. Là ai cũng nhìn thấy mọi người đi qua đi lại trên đường nhưng mà ta nhìn người đi qua nhìn người đi lại ta thấy vô số đạo lý hiện ra, còn cái người mà trí tuệ kém thấy người đi qua đi lại không nghĩ ra điều gì hết. Là không làm giảng sư được ạ. Cái người và làm giảng sư là gì? Nhìn điều gì trong cuộc sống cũng thấy đạo lý hiện ra, cũng có thể nói lên đạo lý được hết. Đó là tất, nhất thiết pháp vô phi Phật pháp. Nhất thiết pháp vô phi Phật pháp, tất cả các pháp gì cũng là Phật pháp. Đó, ăn cơm uống nước là Phật pháp,

[40:25]buôn gánh bán bưng ngoài chợ, chạy xe qua, kẹt xe cũng là Phật pháp. Bây giờ thử bây giờ ví dụ hiện nay nó có vấn đề rất là nóng của xã hội là ùn tắc giao thông, kẹt xe. Nếu quý thầy quý cô đặt vấn đề là ai mời mình giảng một bài đó mình sẽ giảng như thế nào? Quý thầy cô quan tâm chưa? Giác Thuần đứng lên trả lời giùm thầy. Nếu có ai mời mình giảng về ùn tắc giao thông thì mình nói làm sao? Đưa cái micro xuống cho thầy trả lời.

[41:01]Dạ, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Cung thỉnh thượng toạ và kính thưa đại chúng, nếu nói về một bài pháp về ùn tắc giao thông thì chúng ta nói đến cái phần đạo đức à con người và cũng như là xã hội và văn hóa, hai cái điều đó đọng lại. Văn hóa... Ờ cảm ơn thầy, đó là một ý. Ai có ý kiến bổ sung? Mời thầy. Có ai là lớp trưởng, xin lỗi ai là lớp trưởng trong đây? Thầy ghi tên những người trả lời nha, nếu trong bài tập mà có thì cho thêm điểm vô. Thầy... A Di Đà Phật, à như vừa rồi Thượng tọa nói là tất cả các pháp đều là Phật pháp thì cái suy nghĩ của con thì nếu như có một người hoặc là một vị nào đó hoặc một

[41:49]cơ quan nào đó mà mời mình giảng về cái ùn tắc giao thông thì con phải liên hệ với Phật pháp mà Phật pháp lấy tâm làm trọng là con phải là là vậy là bế tắc cái đề tâm. Là đây là cái tiêu đề mình soi vào. Tức là kẹt tâm nên kẹt xe hả? Ý tưởng rất lạ, ý tưởng rất lạ. Tại vì kẹt xe thì mình phải đưa ra mấy cái tiêu đề, thứ nhất là trời mưa, trời gió cái đường nó hẹp quá mà xe thì nó nhiều. Thứ hai là không có sự nhường nhịn nhau mà trong đạo Phật gọi là lục hòa. Thí dụ như người một người chịu nhường một thì cái đường tự nhiên nó nhỏ mà nó trở thành lớn. Rồi rồi rồi. Còn một người mà chen chen một chút,

[42:33]đã nó chật mà chen một chút mà ngay nhất là ngay chăng giấc chiều mà mấy cái ngã ba đường mấy ngã tư á là nó bị chèn ép là nó bị kẹt xe. Rồi cảm ơn, tức là ý thầy đưa Phật pháp vào thì nói đến đạo đức phải không? Của người đem cái giáo lý đạo Phật về vô ngã, hòa hợp mà ứng dụng cho người lái xe phải không ạ? À cái ý của con nói như thế này, nếu như tâm mình thông, Tâm thông. đi trên cái đường mà nó chật thì mọi người tâm đều được thông hết, ý thức được hết Đường đã... thì không có bị bế tắc. Nếu có bị bế tắc đi chăng chỉ trong nhất thời hóa giải rất là mau. Không ảnh hưởng cho lòng phiền đến anh em giao thông. Ờ ờ ờ.

[43:10]Rồi rồi rồi cảm ơn thầy. Còn nếu tâm người chưa thông thì Đi tới đâu thế giới có rộng lớn thì tự mình làm kẹt... Đại khái vậy. Kẹt tâm nên kẹt xe. Rồi ta cho tràng pháo tay. Mời sư cô mới giơ tay. Sư cô đó, sư cô. Cô có ý kiến gì? Những ý tưởng rất là độc đáo đi chứ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên Thượng toạ, kính thưa quý thầy quý cô. Theo như con thì con luôn nghĩ là lúc nào cũng vậy, khi mà ra đường, nhất là ra đường là con nghĩ đến cái sự an nguy của mọi người là trên hết. Và và từ cái sự an nguy đó mà mình luôn có cái tâm nhường, nhường chứ không có chen lấn, tranh giành hay là mình vi phạm luật giao thông

[44:02]sẽ gây nguy hiểm cho mình và cho người. Nam Mô A Di Đà Phật. À mời thầy, mời thầy. Ba người tương đối ý giống nhau. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch Thượng toạ cùng toàn thể đại chúng. Cái vấn đề mà ùn tắc giao thông là một bài pháp sống để cho tất cả mọi người hiểu rằng là trước khi mình muốn triển khai về một cái vấn đề ùn tắc giao thông thì trước tiên là mọi người phải am hiểu về vấn đề giao thông, có nghĩa là hiểu về cái vấn đề là pháp luật trong cái vấn đề an toàn giao thông. Thứ hai nữa là mọi người phải biết thực hiện cái quy định của pháp luật nhà nước đưa ra về vấn đề tham gia giao thông đường bộ cũng như đường thuỷ.

[44:56]Thứ ba nữa là cái con người sống trong xã hội cộng đồng này nếu mà chúng ta không tuân thủ về cái vấn đề an toàn giao thông mà không đặt cái tâm của mình vào đó thì rõ ràng không có cái sự nhường nhịn với nhau. Giả sử như lúc đèn đỏ là dừng nhưng mà mình cố tình mình vượt qua cho nên từ cái chỗ mình không tuân thủ cái quy định đèn đỏ thì đã bao nhiêu người đã mất mạng như vậy. A Di Đà Phật. Rồi, rồi cảm ơn thầy, đại khái. Sao không cho tràng pháo tay? Đó là ta mới ví dụ người ta mời mình giảng ùn tắc giao thông, ba bốn vị đều nói giống giống nhau. Ta quên một điều: người quá đông. Mà tại sao người quá đông?

[45:40]Vì người ta sinh nở tăng hay là người nhập cư về quá nhiều? Mà tại sao người ta cứ dồn về thành phố để người ta sống? Vì người ta tìm được cơ hội để làm việc, để học hành. Như vậy có nghĩa là những cơ hội học hành và làm việc cứ dồn về thành phố hút người về làm thành phố kẹt. Như vậy nó liên quan không phải riêng đạo đức đâu, những vấn đề xã hội về kinh tế. Cho nên ta phải nhìn thấy hết chứ ta chỉ đứng góc cạnh của đạo đức không, giải quyết không hết vấn đề. Cho nên đây là ta vừa mới nói để nhắc một điều là ngoài cái đạo lý, đạo đức, ta phải kiến thức về xã hội, xã hội học nha. Đó. Đó, mới thử lửa quý thầy cô chút xíu á.

[46:21]Lớn lắm, vấn đề nó lớn lắm, không có đơn giản đâu. Bây giờ vấn đề nè, ví dụ hôm nào đó sau này quý thầy quý cô đi giảng có tiếng tăm rồi ở địa phương nói thầy giảng hay quá, mời thầy vô trại giam giảng giùm. Rồi ai có ý kiến, mời sư nãy giơ tay đó. Vô trại giam giảng gì trong trỏng? Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên Thượng toạ giảng sư, kính thưa đại chúng. Theo như Thượng toạ nêu ra cái vấn đề, theo đóng cái vai đó thì con sẽ vô, một là giảng về nhân quả. Vì tất cả hôm nay chúng ta do cái nhân... Tuyệt vời, ý này hay. Hết rồi hả? À thôi được. Đó cũng là một ý nha. Đánh một cái đúng liền á chứ không phải không. Ai có ý kiến gì bổ sung?

[47:02]Bên đây chưa ai giơ tay. Nếu được mời vô trại giam ta giảng cái gì? Ủa sao... sao khu phố này nó đìu hiu quá vậy nè? Giơ tay lên! Phải có những trường hợp mà ta không có thời gian để chuẩn bị. Như hồi nãy sư hỏi cái đứng lên trả lời một câu cũng rất là hay. Như ba... hai thầy với một cô kia cũng vậy, thời gian không có chuẩn bị mà đều đứng lên nói được. Còn nữa hả? Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch Thượng toạ, kính thưa quý thầy quý cô. À theo con thì con cũng xin được giảng nghiệp báo. A Di Đà Phật. Tức là con ủng hộ quan điểm của ông sư nha, thì thôi không cần phát biểu. Nói vậy là mình chỉ nói mình ủng hộ thôi. Mình có ý gì thêm không?

[47:45]Đây đây, có sư cô đây, đưa qua. Có sư cô này giơ tay. Dạ Mô Phật. Ở tại đây thì con xin gợi đến cho họ là phải chuyển đổi, cải hoá lại tâm, tức là làm mới lại tâm mình. Đó là về việc sám hối. Dạ Mô Phật. Không, ý này hay. Việc mà làm mới tâm nó lớn lắm phải không? Rất là mênh mông. Nhưng mà ý chính là câu này, nghe rất là thú vị. Rồi bây giờ ví dụ có một trường hợp khác. Có trường hợp khác, bây giờ là trẻ em giờ nó mê game đến nỗi trở thành tội phạm, nếu ta được giảng vào trong nhà trường giảng cho học sinh để hạn chế bớt cái việc mà nghiện game của trẻ, ta giảng làm sao? Ai giơ tay? Ai? A Di Đà Phật.

[48:32]Ngưỡng bạch trên Thượng toạ giảng sư, kính thưa toàn thể đại chúng. Hiện tượng trẻ em vấn nạn game online hiện nay đang là vấn đề nóng của xã hội. Và nếu như con được chia sẻ với các em về vấn đề game, thì thứ nhất đó là phần định hướng từ gia đình và định hướng từ nhà trường. Sau đó là cho các em có những môi trường sinh hoạt tốt để đạo đức các em được định hướng về đạo đức cho các em giống như là các khóa tu về đạo đức chẳng hạn, và các em sẽ có môi trường sinh hoạt lành mạnh, từ đó các em sẽ không sa đà vào vấn đề game online. Cảm ơn con. Thầy thầy thầy thầy không hỏi nữa, thầy ngừng ngang đây nói chỗ này một chút xíu.

[49:20]Vừa rồi ta ra ngoài Bắc ta giảng, trong đó tôi có nói cái điều này: Chúng ta sống trên đời này chúng ta có một số bản năng. Chúng sinh ai cũng có cái bản năng cả. Cái bản năng đó nó tự nhiên và nó thôi thúc. Ví dụ như bản năng ăn, ta phải ăn để sống, ta phải thở để sống, ta phải mặc để sống. Rồi khi mà người ta lớn lên, mà chúng sinh khi bị phát dục thì bắt đầu có thêm cái bản năng gọi là bản năng tình dục. Nhưng mà có một cái số nó không thuộc về bản năng, nhưng mà khi nó xâm nhập rồi cái nó chiếm một vùng não của ta biến thành bản năng, ví dụ như ma túy. Khi cái người mà họ chích họ hút ma túy,

[49:54]cái hóa chất nó đi vào trong máu rồi khi nó lên trên não, nó mới khu trú ở trên não. Khu trú nghe nè, đây là danh từ của y khoa. Khu trú tức là nó đóng lại đó luôn, và nó biến thành bản năng, không có nó là chết. Và ta gọi là nghiện. Đây là cái kiến thức về y học về khoa học. Và để chữa một cái người bị nghiện, ta phải hóa giải cái vùng não đó, tẩy cái hóa chất đó không còn cho nó đóng trên đó nữa thì mới mất, chứ còn không nó tự nhiên nghiện vì nó thành trở thành bản năng. Cái không phải bản năng trở thành bản năng. Và lạ một cái game online rất là lạ. Nó không phải hóa chất đưa vào não. Nghĩa là khi chơi game online, nó chỉ là những

[50:35]cảm thọ thích thú, hào hứng, hồi hộp, là khi giận khi tức khi thích khi vui, mà bỗng nhiên nó khu trú trên não biến thành bản năng, tạo thành một cái nghiện. Nên để gỡ cái nghiện bản năng này ra, vấn đề lớn lắm. Thì nãy giờ là tôi hỏi mấy câu bất ngờ, quý thầy quý cô chưa hề được chuẩn bị, nhưng mà quý thầy quý cô cũng đứng lên nói một ý như vậy thì tương đối là tốt. Nhớ như vậy nha, trong cuộc đời giảng sư của mình, khi mình giảng là những bài mình có chuẩn bị sẵn, và có những trường hợp người ta đứng lên người ta giơ tay người ta hỏi, lúc đó phải trả lời liền, không có thời gian chuẩn bị. Cho nên phải tu và phải có kiến thức sẵn.

[51:14]Mà cái dung nạp kiến thức á, nhớ giùm thầy cái điều này là có mà như không, còn không mình điên chết á. Cái yếu tố này quan trọng lắm. Xong không tức thị không tức thị sắc á, sắc tức thị không á. Có mà như không nghĩa là sao? Nghĩa là cái việc mà mình tiếp nhận những cái kiến thức của thế gian là ngoại điển á, cái mình phải tiếp nhận một cách ung dung thong thả giống như vô tình, ngẫu nhiên, chứ không có ham hố, không có ép, không căng thẳng, mình thành người đời mất á. Lúc nào cũng đứng vững ở sự tu, nhưng mà rồi thong thả, nhẹ nhàng mà tiếp nhận những kiến thức ngoại điển để sau này dạy người ta, để rồi mình nhìn vấn đề nó sâu hơn,

[51:55]chứ không phải mình chỉ nói mà chỉ trong đạo lý thì nó kiến thức mình ít quá thì cái đạo lý mình ứng dụng trong đó nó chật. Còn khi kiến thức mình rộng ra thì cái đạo lý mình ứng dụng trong đó nó rất là rộng. Ví dụ như nói chuyện ùn tắc giao thông, ví dụ như khi mà kiến thức của ta về xã hội ít thì ta cứ rầy cái người đang lái xe thôi, anh phải có đạo đức, anh phải nhường nhịn, ta chỉ triển khai được nhiêu đó thôi. Nhưng mà nếu ta cũng cái vấn đề ùn tắc giao thông, ta nhìn thấy nó lớn hơn là từ vấn đề nhập cư, từ vấn đề mà phân bố việc làm và việc học không đồng đều trong cả nước, cứ dồn một vài thành phố lớn người ta đổ

[52:31]hết về đó khiến đông người, đông xe quá nó phải kẹt. Thì như vậy giải quyết cái vấn đề là đem lại một sự bình đẳng hơn cho cái mặt bằng của cả nước. Nơi nào cũng có cơ hội học, nơi nào cũng có cơ hội để làm việc, nơi nào cũng có đời sống tương đối bằng bằng nhau thì người ta không dồn về thành phố nữa. Và như vậy cái đạo lý để mà kêu gọi xây dựng một cái xã hội tương đối đồng đều thì cái đạo lý nó lớn hơn nhiều, triển khai nó lớn hơn nhiều. Và cái bài giảng của ta nói về sự phân bố xã hội nó đồng đều trên cả nước, đừng có dồn về một vài địa phương, thì nó không phải chỉ nhắc cái người lái xe mà ta góp

[53:06]ý luôn cả lãnh đạo nhà nước luôn. Bài giảng lớn ra liền, do kiến thức ta nó lớn. Hoặc là bây giờ nói trở lại cái bài giảng trong trại giam, ví dụ người ta mời ta vào giảng trại giam, thì bây giờ ta nói về cái nhân quả, nói nhân quả nắm hết cái gốc, nói sạch hết á. Nếu mà nhân quả mà nói được là hóa giải sạch luôn. Còn cái sư cô gì đây nãy nói cái mà chuyển hóa tâm thức, cái đó lớn á. Nói cái hết luôn, nó hết luôn vấn đề. Thì lớn hết á nhưng mà ta phải hiểu mỗi người có một hoàn cảnh phạm tội rất kỳ lạ. Phạm tội xong rồi nhiều người không biết tại sao mình phạm tội. Có những trường hợp như vậy, do đó ta phải có kiến thức về tội phạm học.

[53:42]Nghĩa là bao nhiêu trường hợp họ phạm tội. Có những cái ngẫu nhiên phạm tội, có những cái bị thúc đẩy phạm tội, có những cái nuôi dưỡng tâm lý lâu ngày rồi phạm tội, rồi có những cái cá nhân phạm tội, có cái tổ chức phạm tội, vân vân. Có nhiều trường hợp như vậy để ta biết cũng là nhân quả đó, cũng là chuyển hóa tâm thức đó, nhưng mà đối tượng này chuyển hóa sao, đối tượng kia chuyển hóa làm sao, đối tượng nọ chuyển hóa sao, nên bài giảng mình nó rộng lớn ra luôn. Nên kiến thức ta lớn, cái giáo lý ta nó đi theo kiến thức nó tỏa ra để nó xử lý, thành ra bài giảng ta cái cái mức tầm mức của nó lớn lên, làm bài giảng lớn của một giảng sư có tầm cỡ. Nhớ như vậy.

[54:19]Là kiến thức ta tới đâu, giáo lý của ta nó vươn ra tới đó nó xử lý, thành ra bài giảng ta là của một giáo sư một giảng sư có tầm cỡ. Còn không kiến thức ta ít, ta loay hoay loay hoay vài vấn đề nhỏ nhỏ nhỏ, tức là dạng ta là một giảng sư ở tầm mức thấp. Nhưng mà cái lớp này là lớp giảng sư gì? Cao cấp. Cao lắm nha không, cao không có phải nhỏ, cho nên phải lớn à, đó. Hoặc là... Thôi để lát hỏi câu khác. Nhớ như vậy, cái kiến thức ngoại điển vậy. Rồi bắt đầu mới tới cái nói. Nói thì mấy năm qua ta học nhiều quá rồi, giờ không có học lại cái đó. Chắc là quý thầy quý cô mấy năm qua cũng đã học cách nói cho dễ hiểu và hấp dẫn phải không ạ? Có phải không? Có rồi phải không?

[55:01]Sao gật đầu không mạnh kìa? Có phải không? Nói cho dễ hiểu. Nói cho dễ hiểu cái này là một thiên tài. Coi vậy không đơn giản. Nói mà người ta nghe người ta hiểu được mình là một thiên tài. Là vì sao vậy? Vì thứ nhất là khả năng dùng từ của mình phù hợp với người nghe, mà người nghe lúc đó đối tượng mình là ai mình phải đọc được người ta, cảm nhận được người ta. Khi mình ngồi lên bục giảng một cái đối tượng trước mắt mình là ai mình phải có trực giác cảm nhận được người ta đang ở trình độ nào để mình dùng từ cho thích hợp là cái thứ nhất. Cái thứ hai, những từ đó được sắp thành câu, thành chuỗi, thành từng mệnh đề có chấm có phết trong chớp mắt sắp liền.

[55:49]Bộ não mình hoạt động nó là phải Core i7, chip nó là phải Core i7 xử lý cực nhanh. Và cái vấn đề mình đưa ra theo một trình tự logic, cái nào câu nào nói trước, ý nào nói trước, ý nào nói sau, ý nào nói sau nữa rồi lại lặp lại ý trước để nhấn mạnh lần nữa, trở ra ý sau một lần nữa. Cái sự sắp xếp từng câu từng ý để đi vào lòng người ta, cái con chip xử lý trong đầu mình lúc đó phải cực kỳ nhanh. Cho nên ta nói mà người ít học cũng hiểu được, mà người học nhiều phải thán phục. Dĩ nhiên người học nhiều họ hiểu rồi, người thấp bà bán xôi mà hiểu được thì cái ông cử nhân ổng phải hiểu. Nhưng mà cái bà bán xôi bả hiểu bả thích đương nhiên,

[56:33]cái ông cử nhân ổng nghe ổng hiểu mà ổng vẫn không thấy đây là một điều bình thường mà ổng phải thấy đây là một điều độc đáo, mới lạ. Cái chết là của ông giảng sư là cái chỗ này. Ví dụ như đối tượng ta nghe là đồng đều, cái người đó họ là trí thức hết, hoặc là tăng ni sinh đã tu lâu ngày hết, dễ lắm, ta chỉ dùng một mức độ ta nói. Nhưng mà nếu lỡ cái hội chúng của ta là hội chúng rất là sai biệt, cái người trình độ rất thấp, người trình độ rất cao mà mình phải nhiếp phục cho được hết. Nên ta phải có cái cách nói nào đó dễ hiểu đối với tất cả mọi người mà người tri thức cũng phải thán phục vì đây là điều độc đáo, mới lạ, có lợi cho họ.

[57:17]Còn người bình dân hiểu được là mừng rồi. Nên cái bài giảng cái vực của nó phải rộng. Ta nói gọi là cái vực nhiếp hóa của bài giảng. Ta dùng cái chữ "vực". Tức là từ cái đối tượng rất cao về tri thức tới cái đối tượng rất thấp về tri thức. Có những người khi ra giảng cái vực này nó hẹp, nó chỉ chỉ ở ngang cái khúc này thì giảng được, thấp hơn giảng họ không hiểu, cao hơn nói họ không phục. Hoặc là có những người giảng cái cấp này thì nghe phục, cấp dưới nghe không hiểu gì hết. Hoặc là có những người chỉ giảng cho những người bình dân nghe thôi, còn người mà họ cao cấp chút xíu họ nghe họ chán.

[57:52]Nói mấy này thường, nghe có gì đâu. Còn cái giảng sư mà giỏi cái vực này càng lúc nó càng rộng từ từ, cái người thấp nghe hiểu thích, cái người tri thức cao nghe cũng thán phục luôn là cái vực rộng. Và đây lệ thuộc vào trí tuệ và tài năng của ta, cái này không ai giống ai. Tuy nhiên, ta phải có cách mở rộng cái vực này ra. Khi mình đã làm giảng sư rồi, mình phải mở rộng cái vực này. Nghĩa là giảng sao người thấp nghe cũng được, người cao nghe cũng được, cái vực càng lúc càng lớn. Mà lớn cho tới top luôn, tới top là gì? Ví dụ ví dụ như có một ông vua trong đầu ổng là đầy đủ trí tuệ, bản lĩnh, khôn ngoan,

[58:28]kiến thức, quyền lực mà nghe mình giảng ổng cũng phải thán phục thì coi như ta thành giảng sư đệ nhất của địa cầu này. Là tới top rồi đó, tới top.

[58:41]Và để có thể có đạo lý, có ý tưởng và có câu chữ mà chinh phục được hết vậy cái sự dễ hiểu rất là quan trọng. Mà thôi cái này thì hôm nay ta không có thời gian đâu, mình nói gợi ý sơ với thầy cô tính vậy. Để làm một giảng sư thành công, ta có ba cái yếu tố mà ta phải lệ thuộc. Thứ nhất là ta lệ thuộc vào cái duyên với chúng sinh trong quá khứ. Nếu cái người nào trong quá khứ ta từng kết duyên lành với chúng sinh nhiều, tự nhiên ta dễ được chúng sinh ủng hộ, mến mộ. Có khi bài giảng mình cũng chưa hay lắm mà người ta cứ yêu thích, không biết tại sao. Đây là một lý do rất là bí mật. Có người leo lên bục giảng mà mình biết là người đó rất là uyên

[59:26]bác, rất giỏi á, leo lên người ta ngồi người ta không thích. Tự nhiên cái tâm của người giảng sư với tâm của thính chúng không dính nhau, cứ trơ trơ à, kỳ lạ, mà không lý giải được. Nên đây nó là vấn đề thuộc là nhân duyên quá khứ. Nên nếu trong kiếp trước lòng ta từ bi, ta hay thi ân, bố đức, hay giúp người thì kiếp này ta leo lên bục giảng chưa mở miệng nói thấy người ta đã yêu mình, đã thương mình. Có trường hợp đó. Quý thầy, quý cô có thấy cái đó chưa kìa? Đúng rồi. Nên khi mình đã lệ thuộc duyên quá khứ rồi thì ta làm sao? Bó tay. Bây giờ không sửa được. Thôi ta gieo duyên cho kiếp sau. Nếu cái người mà ít duyên với chúng sinh rất khó làm một giảng sư thành công.

[1:00:12]Mà có trường hợp có những người mà ác duyên với chúng sinh leo lên ngồi bục giảng người ta nhìn thấy bản mặt người ta đã ghét rồi, nói người ta không nghe. Người đó thôi đành đi về mà đi. Đi đâu? Đừng có đi câu cá nha, không có về Biển Tây cắm câu đâu. Đi về mà làm thầy thuốc. Có khi ta về ta ta làm nghề thuốc một đời, có khi ta đi làm từ thiện một đời, đi bố thí kêu gọi đầu này cúng dường, bố thí đầu kia, hoặc có khi ta đi ta làm hạnh bắc cầu, đắp đường là những cái duyên đó đó, nó gieo duyên với chúng sinh, khiến cho nhiều chúng sinh chịu ân nghĩa với mình. Đời sau ta leo lên bục giảng, họ chưa biết mình là ai,

[1:00:56]tự nhìn thấy mặt ông thầy đó dễ thương cái muốn nghe coi ổng nói cái gì. Đó từ cái duyên đó mà thành giảng sư giỏi, chúng sinh yêu thích. Đây là cái duyên lành. Có những ca sĩ hát không hay lắm nhưng hễ chường cái bản mặt ra là người ta cứ vỗ tay ầm ầm. Mà mình ở trong chuyên môn mình biết, nghe cái giọng này không đặc biệt, không quá xuất sắc, mà sao người ta cứ mê? Thì chỉ có một vấn đề là đời xưa gieo ân nghĩa nhiều quá. Cũng xin tự giới thiệu quý thầy thì tôi cũng là người hơi biết về âm nhạc, có thể viết nhạc được, thậm chí có thể hát được. Mặc dù hát người ta chê nhưng cũng hát được. Quên mất tiêu. Tôi cũng hay viết nhạc lắm,

[1:01:39]viết cũng cả trăm bài, rồi nhạc đạo, nhạc này, nhạc kia, vậy. Từng ngày con nhớ Phật,

[1:01:47]dường chừng như sống lại vào thời xưa chốn nào nhìn Phật đang bước qua.

[1:02:00]Phật là muôn ánh sao, mở đường con bước vào.

[1:02:10]Thôi ngưng thôi, nhiêu đó thôi, ngưng chút xíu. Bài Từng Ngày Nhớ Phật. Một yếu tố thứ hai nữa ta phải lệ thuộc nữa là sự gia hộ của chư Phật, chư Bồ Tát. Ta đừng có nghĩ là khi ta giảng là cái tài của mình nha. Ai mà nghĩ rằng mình đứng trên bục giảng là mình giảng nhờ cái tài của mình thì người đó giảng 5 năm sau không giảng được nữa. Vì đó là sự kiêu mạn, kiêu mạn khiến ta hết phước. Cái người mà đứng lên bục giảng làm giảng sư đó phải hiểu mình là một cái công cụ của Phật, mình là một cái trạm trung gian của Phật để phát sóng thôi, chứ mình không là gì cả, mình chỉ là cỏ rác, là cát bụi, làm ơn nhớ câu đó trong đầu giùm.

[1:02:54]Ví dụ ta giảng một bài rất thành công, mọi người vỗ tay, ai cũng yêu quý, xuống xin chữ ký rồi chụp hình túm lùm hết thì nhớ giùm một điều, không phải do mình. Mà nếu mình biết rằng mỗi câu, mỗi chữ, mỗi ý mình phát ra đều có sự dìu dắt bí mật của chư Thiên, chư Bồ Tát thì mình khiêm hạ được, và khi mình giữ được cái tâm khiêm hạ đó thì Phật còn cho mình giảng tiếp. Còn nếu một lúc nào đó mình khởi động lên một cái niệm: "Tôi giảng bài này là trí tuệ của tui, tài năng của tui" thì bài kế tiếp giảng không được nữa. Và ba năm sau cái nghiệp giảng sư mất luôn, không ai mời đi giảng nữa. Nhớ giùm.

[1:03:32]Cho nên cái yếu tố mà kiêu mạn hay khiêm hạ là quyết định cái sự nghiệp giảng sư của ta. Mà cái kiêu mạn này nó thầm kín dữ lắm à! Nó rất là thầm kín bởi vì sao? Bởi vì tất cả chúng ta đều bị bản ngã, làm được việc một cái là nó kiêu mạn liền. Cái này là cái ta phải chiến đấu cho tới khi nào thì hết? Cái kiêu mạn này? Ai có ý kiến? Ai giơ tay lên để kiểm tra giáo lý coi. Cái kiêu mạn này ta chiến đấu tới khi nào thì hết? Ai giơ tay trả lời? Để kiểm tra giáo lý coi, nắm vững giáo lý không? Mời thầy. - Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch Thượng tọa, theo như Thượng tọa giảng ở trên bảng á, trước tiên cột mắt môn,

[1:04:17]sau biết lỗi của mình và diệt trừ được bản ngã thì cái người mà càng biết lỗi của mình sâu sắc chừng nào thì người đó sẽ diệt trừ kiêu mạn đến mức độ sâu sắc chừng đó. Dạ còn nếu nói theo giáo lý căn bản á thì người này sẽ diệt trừ một chi phần trong Tập Đế là tham, sân, si, mạn, nghi. Ờ thầy diệt trừ tới cái phiền não chướng và sở tri chướng thì cái tâm kiêu mạn sẽ không còn nữa thì lúc đó liền chứng quả A-la-hán. - Rồi cảm ơn, cho tràng pháo tay. Có ai có ý kiến gì nữa không? Con có ý kiến gì không? Thầy nghe con nói lảm nhảm gì á.

[1:04:59]Câu trả lời thầy gồm hai phần: một phần là thầy lấy theo cái ý này, và câu này không điểm; phần thứ hai nói theo giáo lý căn bản, phần đó được phân nửa số điểm, chưa đúng giáo lý căn bản. Ai có ý kiến nữa? Con, cô ni đó. - A Di Đà Phật, kính bạch Thượng tọa. Như con biết thì cái tâm kiêu mạn thường xuất hiện với những người mà họ có một chút xíu thành công. Mà muốn diệt trừ cái tâm kiêu mạn này thì theo con nghĩ chỉ có chứng đến quả A-la-hán mới diệt trừ hết được. - Vì sao chứng tới A-la-hán thì diệt trừ được kiêu mạn? - Dạ kính bạch Thượng tọa, khi mình chứng quả A-la-hán thì những cái căn bản phiền não và cái tùy phiền não được dừng lại,

[1:05:45]được dừng lại, giống như mình đoạn được tham, sân, si, nên chi mình... - Con trả lời giống câu hỏi này, con chỉ được phân nửa điểm thôi. Ai có một câu trả lời chuẩn xác hơn về giáo lý căn bản? Cái này là phần giáo lý không được quyền không biết ạ. Giáo lý này quan trọng lắm ạ. Vì sao con nói A-la-hán là hết kiêu mạn thì thầy công nhận, nhưng mà vì sao? Giáo lý nào? Giáo lý nào nói cái này? Nói cho đúng cái giáo lý căn bản coi. Học quá cao rồi: Trung cấp, Vạn Hạnh, Đại học đủ thứ trển rồi. Sư, rồi. - Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên Thượng tọa giảng sư cũng như đại chúng cùng quý Phật tử...

[1:06:22]- Thôi thôi, đừng rào đón nữa, nói trả lời luôn đi. Nói luôn đi, nói liền đi, đừng rào đón. - Muốn đoạn trừ được kiêu mạn á để đắc quả A-la-hán thì cái vị đó phải đắc được nhân tướng và ngã tướng. Khi đắc được nhân tướng và ngã tướng thì không trở về chân tâm đắc quả A-la-hán. Mô Phật. - Không đúng, không đúng giáo lý căn bản. Con nói lại phải không? Rồi con nói lại, con bổ sung con nói lại. À thôi thầy nói đi, thầy nói trước đi. - Dạ con thưa thầy là chứng diệt được kiêu mạn thì phải chứng A-la-hán. Rồi trước khi qua A-la-hán thì mình qua bốn quả: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán. Thì quả thứ ba A-na-hàm thì mình mới diệt được

[1:07:00]chuyển hóa được năm hạ phần kiết sử và... - Tuyệt vời! Đây mới là giáo lý căn bản! Đây mới là giáo lý chuẩn nha. Cái mười kiết sử đi theo mà bốn quả chứng á phải thuộc lòng. Và vì sao? Bởi vì lộ trình mình tu là đi qua cái mười kiết sử đó. Diệt từng cái kiết sử. Ví dụ chứng Tu-đà-hoàn thì diệt kiết sử nào? Ba kiết sử. Kiết sử gì? Thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Thân kiến nghĩa là gì? Thân kiến nghĩa là gì? Ai trả lời? Mười kiết sử này phải thuộc lòng, phải nắm cho chắc, vì đó là lộ trình mình tu bao nhiêu kiếp sắp tới nên phải biết, không được hiểu sai. Thân kiến là gì? Con. Dạ kính bạch Thầy là thân kiến là mình do mình chấp cái thân này là ta...

[1:07:47]Đó đó đó đó! Trật hết. Trật hết. Cái ngôn ngữ của mấy ngàn năm trước bây giờ ta hiểu sai. Thầy không trách con đâu, bởi vì ai cũng hiểu sai hết. Thân kiến là ích kỷ, đơn giản vậy thôi. Cái người chứng Tu Đà Hoàn rồi họ không sống ích kỷ nữa, họ sống lòng rất tràn trề vị tha, nhưng mà còn sân, còn tham chút, nhớ cái đó. Nghi là gì? Là không đủ niềm tin với Tam Bảo, nhất là Phật. Nên cái người chứng Tu Đà Hoàn rồi họ phá được cái nghi rồi, niềm tin của họ đối với Phật là tuyệt đối. Giới cấm thủ là gì? Mình phải giữ giới mà tại sao nói phải giới cấm thủ lại là sai, nghĩa là sao? Nhớ, giới cấm thủ là cố chấp các nguyên tắc. Vì sao vậy?

[1:08:32]Trong cuộc sống này, để đi đến mục đích, người ta hay lập ra những cái nguyên tắc. Nhưng mà chính những nguyên tắc này lại là cái cản đường đi đến mục đích. Nên cái người mà chứng Tu Đà Hoàn rồi, họ không bị những nguyên tắc làm cản đường. Họ sử dụng nguyên tắc và họ có khi họ bỏ nguyên tắc, vì cái chính là gì? Là mục tiêu, chứ không phải là nguyên tắc. Nên cái người chứng Tu Đà Hoàn họ sống nhẹ nhàng, thoải mái lắm. Ví dụ như ngài Trần Nhân Tông người ta nói là sao? À: "Cơ tắc xang hề, khốn tắc miên", thấy không? Đó, đói thì ăn mà mệt thì thì nghỉ. Trong khi những cái người mà họ giữ giới đó,

[1:09:07]"Ê, ngày ăn được có một bữa ăn đúng ngọ nha, trước ăn không được ăn sau ngọ." Đó là nguyên tắc. Mà ngài Trần Nhân Tông ổng chứng rồi ổng nói: "Cơ tắc xang hề, khốn tắc miên", lúc nào đói thì ăn, không đói thì ăn làm chi. Tức là ngài biết nguyên tắc, nhưng mà lúc đó ngài biết cái mục tiêu: ăn là để no, no có sức khỏe, sức khỏe để tu. Đó đó, và cái năm hạ phần kiết sử trong đó nó có cái mạn của của A Na Hàm, tức là chứng tới A Na Hàm rồi vẫn còn cái mạn ngấm ngầm, nó không có thô như ta, nhưng vẫn còn mà tới A La Hán mới hết. Cho nên cái câu đó là để trả lời câu này ta phải thuộc 10 hạ phần kiết 10 kiết sử mà thuộc rất kỹ,

[1:09:41]vì đó là cuộc đời tu hành mình phải đi qua và phải soi rọi từng giờ từng phút. Mà làm một giảng sư, suốt đời phải chiến đấu với cái này. Vì ta chưa phải là A La Hán. Cho nên hễ giảng được một bài hay là cái thằng này nó nổi lên, nó chiếm tràn ngập tâm hồn mình. Có một lần cũng vậy, có một lần cái tôi đi đến một cái pháp hội tôi nghe giảng. Thì mình cũng là một giảng sư nhưng mà vì là cái pháp hội huynh đệ tông môn cho nên tôi cũng vào tôi ngồi xuống dưới hội chúng, mà ngồi dưới đất xếp bằng và ngồi lặng lẽ nghe giảng. Thì thấy ông thầy ổng giảng xong ổng bước ra mặt ổng phơi phới à. Tôi nói chết rồi.

[1:10:16]Khi mà ổng giảng trước bao nhiêu người nghe như vậy, ổng bước ra lòng ổng vui, ổng hớn hở, mà trước khi giảng thì ổng không có, mà sau khi giảng thì ổng hớn hở, tôi nói chết cái ông này rồi. Bị cái này. Quý thầy quý cô nhớ, khi mình lên bục giảng mình giảng như mây như mưa, giảng hào hứng, giảng hấp dẫn, ai cũng vui mừng, ai cũng thích, mình nhìn nét mặt người ta mình thấy người ta rất thích. Nhưng mình xuống bục giảng rồi, mặt mình phải bình thản như chưa từng nói câu nào. Vì luôn luôn diệt trừ cái kiêu mạn này. Thì đạt được chỗ đó mới hiểu câu trong kinh Kim Cang mà Phật nói: 49 năm Như Lai chưa từng thuyết một lời.

[1:10:53]Cái câu mà 49 năm Như Lai chưa từng thuyết một lời nó không phải là đạo lý cao siêu mà nó là đạo đức của một con người không còn kiêu mạn. Vì vậy, trong cái yếu tố mà để làm giảng sư á, yếu tố thứ nhất là ta có duyên với chúng sinh quá khứ, yếu tố thứ hai là được Phật gia hộ, mà để được Phật gia hộ thì lòng mình lúc nào cũng khiêm hạ. Lúc nào cũng nghĩ mình là một công cụ mà Phật sai, ví dụ Phật sai con đi giảng thì con đi giảng, Phật không cho con giảng con ở nhà con nghỉ, con tu, Phật bắt con đi giảng hội chúng này con đi giảng hội chúng này, Phật kêu con đi giảng hội chúng kia con đi giảng hội chúng kia, rồi mà con chỉ là một công cụ

[1:11:28]của Phật, con giống như cái thùng rỗng vậy đó, mà tiếp sóng của Phật đến với chúng sinh, còn con không có công lao gì hết, không có cái gì của mình hết. Được một người tăng trưởng đạo tâm toàn là nhờ cái gì? Nhờ sự gia hộ của Phật nha, mình không là cái gì hết, lúc nào phải ghi tâm khắc cốt cái câu này thì sự nghiệp giảng sư mới bền. Một chút kiêu mạn rồi là ngừng lại liền. Nhưng mà cái kiêu mạn là cái phải chiến đấu tới khi A La Hán. Nhớ, cái đó quan trọng lắm. Mà quý thầy quý cô ghi khắc cái điều này rồi sẽ thấy có một điều mầu nhiệm xảy ra. Một điều mầu nhiệm xảy ra là gì? Ví dụ như tôi vậy, nhiều khi tôi không biết là sắp tới là

[1:12:08]có bao nhiêu bài giảng, thấy áng chừng là nghe nói người ta mời nhiều quá, mình không biết nữa tại vì tôi cũng không quản lý, đệ tử nhận lời mời rồi lên lịch rồi mới báo cho mình ngày đó "Thưa thầy, những ngày đó có bài giảng ở chùa này chùa kia, thỉnh thầy đi." thì tôi nhìn nhìn qua nói "Ờ ờ" vậy thôi, chứ không biết rồi mình soạn bài. Mà có một cái điều rất lạ đến giờ tôi cũng không hiểu được là nhiều khi không lường trước mình cứ rảnh rảnh thì mình soạn một số bài giảng trước dàn xếp dàn bài, mà soạn mấy bài là đúng mấy hội giảng mời mình chính xác. Hết rồi thôi, cũng vừa hết bài giảng soạn trong vở luôn, hết luôn.

[1:12:40]Không biết tại sao, nó như có ai cầm tay mình vậy đó. Đúng rồi. Hoặc là lên bục giảng vậy, có những cái điều mà lúc mình soạn bài cái ý đó nó chưa có, nhưng mà khi lên ngồi bục giảng là những cái ý đó nó hiện ra, nó từ đâu nó tới. Và mới hiểu rằng thực sự là trên từng bước đường làm Phật sự của mình, Phật dắt tay mình đi chứ mình không là cái gì cả. Ta hiểu được điều này ta càng lúc càng khiêm hạ. Chỉ những người không biết á thì mới kiêu mạn, mới tưởng mình giỏi. Còn nếu ta nghiệm kỹ mọi điều trong cuộc sống, ta không dám kiêu mạn đâu. Thực sự hiểu ra một điều: mình không là gì cả, mình chỉ là cỏ rác, là cát bụi mà thôi.

[1:13:21]Nên ráng mà khiêm hạ để mà làm Phật sự, ráng khiêm hạ để mà giảng thì Phật còn cho mình giảng, còn mình tự hào một cái rồi là ngừng lại liền, bất cứ việc gì. Và kiểm soát cái tâm đó rất là rất là khó. Mà nó có một cái điều nữa, hồi nãy ta vừa nói lệ thuộc duyên chúng sinh quá khứ, lệ thuộc vào sự gia hộ của chư Phật, Long Thiên, Bồ Tát trong hiện tại, mà nó có một lệ thuộc cái này nữa, là một cái sự khả ái vô hình nơi chính chúng ta. Cái này nó là một cái phước duyên, nhân quả. Cái sự khả ái vô hình này nó là không phải là một cái đẹp trai, mà cái khả ái vô hình đó không biết là cái gì đó mà khi ta lên ngồi trên bục giảng người ta nhìn vô người ta thấy dễ chịu.

[1:14:06]Có thể là cái người đó họ cũng chưa từng có duyên với ta trong quá khứ, nhưng mà ngày hôm nay nhìn mặt ta họ thấy mến. Không phải vì duyên quá khứ mà vì ta có một cái sự khả ái vô hình. Cái sự khả ái vô hình đó nó không phải là cái nét đẹp, mà là cái gì đó, nếu người đời họ gọi là cái gì? Đúng đúng, có duyên, đó. Đúng là có duyên. Trong lớp mình, nhìn coi, nhiều người có duyên lắm. Nhiều người, nhiều người có duyên lắm. Nhiều người có duyên lắm. Nhiều người có duyên. Mà có duyên không phải là đẹp trai hay đẹp gái nha, không phải đâu, mà nó là cái gì đó không biết. Mà theo tôi, thì tôi nghĩ rằng, tôi nghĩ rằng chứ chưa chắc

[1:14:51]đúng đâu, nhưng mà theo tôi tôi nghĩ, có lẽ do cái đức tu. Tức là cái người đó thường hay lạy Phật, sám hối, à đối với các vị tôn túc mình có cái lòng kính trọng, đối với huynh đệ thì mình thương yêu, là cái thứ nhất, rồi còn ra ngoài đối với Phật tử thì mình có cái khiêm hạ, quý mến, tôn trọng. Đó, những việc Phật sự nhỏ nhỏ trong chùa không có từ nan, ví dụ về mà khi thấy có ai bệnh mình chăm sóc, thấy nhà vệ sinh dơ mình đi lau quét, rồi tức là việc làm gì mình cũng làm, chính cái đức tu đó mà bỗng nhiên tạo thành cái sự khả ái. Tôi nghĩ là vậy. Quý thầy cô có đồng ý không ạ? Chắc là được phải không?

[1:15:32]Vừa rồi à tôi được cái thư mời ra ngoài Bắc dự cái lễ chúc thượng thọ của Hòa thượng Thích Thanh Bích. Hòa thượng 100 tuổi. Hòa thượng 100 tuổi thì à Hòa thượng ở chùa Hội Xá. Hòa thượng 100 tuổi mà vẫn còn nhớ tất cả mọi điều trong cuộc đời của mình. Tiếng Pháp vẫn nói ro ro, chứ không nói chữ Nho nha. Người à mà bây giờ đó, mình không biết tìm cái bậc thánh ở đâu, nhưng mà ra nhìn Hòa thượng, Hòa thượng nhỏ xíu à, tại già rồi xương nó thoái hóa hay lùn lại, ai cũng vậy, Hòa thượng nhỏ, lưng còm, gầy ốm mà nhìn mình cảm giác như mình được gặp một ông Phật ở giữa đời. Hòa thượng à có những cái hạnh thế này,

[1:16:17]là sống cực kỳ đơn giản, cả đời không cầm tới tiền bạc và sống cái vô ngã, hư vô mà nó biến thành cái vị tha cho đến mình không thể không thể hiểu nổi. Như hồi xưa Hòa thượng ở trong chúng, trong liêu phòng ban đêm Hòa thượng đi ra ngoài đi vệ sinh, ngoài Bắc thì nó lạnh lắm, thì có một ông thầy ổng cũng trở mình ổng mở mắt ra thấy cửa phòng mở, ổng mới lật đật lại ổng đóng lại ổng gài lại, gài then lại. Hòa thượng đi vô, mở cửa nhẹ thấy biết là đã bị gài, Hòa thượng lặng lẽ đứng ngoài hiên suốt đêm luôn, không gọi. Sáng ra mọi người hết hồn hỏi sao cụ không gọi? Thượng nói, Hòa thượng nếu gọi một người nhưng nó động hết cả

[1:16:56]liêu, người ta không yên giấc, thôi một mình Hòa thượng cứ đứng ngoài sương lạnh chịu để cho đại chúng được yên giấc. Mà đó chỉ là một việc rất nhỏ thôi. Vô số những việc khác. Rồi hôm nay lễ mừng thượng thọ, tôn vinh Hòa thượng lên ngồi ở trên với vị Pháp chủ, phó Pháp chủ, mình nhìn cứ nhìn như ba ông Phật, mà nhất là Hòa thượng nhỏ mà đôi mắt như hư vô, mình nhìn sâu vào đôi mắt đó mình thấy không có gì trong trỏng hết, thực sự như là hư vô. Nhưng mà mỗi khi nói chuyện với mình thì bất cứ ai ngài cũng xưng con, dù đó là một tăng trẻ, và hiền hòa, hiền lành cực kỳ. Cái từ bi nó cứ tuôn trào khi tiếp xúc, còn khi không có tiếp xúc,

[1:17:37]mình nhìn vào đôi mắt của ngài không có gì trong trỏng hết, cực kỳ hư vô. Đến nỗi khi tôi đến tôi đảnh lễ ngài, được quỳ một bên ngài để hầu chuyện, ngài cứ nắm tay ngài nói chuyện với từ bi mà cả ngài chưa bao giờ gặp mình, mới gặp lần đầu. Rồi Hòa thượng mới xích qua khỏi cái phản, Hòa thượng nói, "Thầy lên đây ngồi với con." Lúc đó mình dám lên ngồi không? Mình lên ngồi là trời sấm sét nổ lên oánh chết liền không nói gì hết. Mình đâu có dám. Nhưng mà thấy cái đức tu của ngài mà bây giờ ngài không nói nhiều, không giảng dạy gì nhiều, chỉ bằng cái đức tu thôi mà thành vô số bài Pháp mà tăng ni người ta ngưỡng mộ.

[1:18:13]Thật sự là mình vẫn còn những vị như là Phật sống vậy đó, rất là lạ. Và tôi cảm thấy đời mình rất là hạnh phúc khi một lần mà được gặp vì được dự cái lễ mừng thượng thọ. Mà người ta ví dụ người tám mấy chín mấy bắt đầu lẫn, quên trước quên sau ha, ngài không có nha. Tất cả mọi chuyện đều nhớ, hỏi tới đâu trả lời tới đó, mà rất từ bi, rất nhân ái, lạ lùng lắm. Cho nên một là một vị giảng sư mình nói mà để tạo thành cái sự khả ái vô hình để mọi người mến mộ là phải do cái đức tu. Cái đức tu đó là ta không nói được ha, nó thành là 3.000 oai nghi, 8 muôn tế hạnh thì mỗi người ta thôi, thôi ráng vậy.

[1:18:53]Ta nói về một cái à hai tiêu chuẩn vàng của giảng sư.

[1:19:00]Là một bài giảng phải đúng ý Phật và phải hấp dẫn, đó là tiêu chuẩn. Vì giảng sai ý Phật thì ta mang tội. Thậm chí có những giảng sư chết rồi đọa địa ngục, hay đọa súc sinh vì giảng sai, giảng nhầm tà kiến. Nhiều người cứ tưởng hễ làm giảng sư là sẽ có phước, không có đâu. Có người làm giảng sư xong tới cuối đời hết sạch phước, thậm chí rồi đọa súc sinh luôn, vì đã giảng sai ý Phật, giảng nhầm tà kiến. Mà cách Phật 2500 năm, liệu ai dám chắc rằng mình luôn luôn hiểu đúng ý Phật? Cho nên vì vậy, cái mục tiêu mà giảng cho đúng ý Phật là một cái điều phải đau đáu suốt đời của mình. Rất là sợ mình chủ quan theo ý mình mà giảng sai Phật.

[1:19:58]Nói dạ thưa thầy, như vậy chúng tôi giảng theo ý mà thầy tôi đã dạy? Cũng không bảo đảm. Thầy tôi là ai? Là vị bổn sư mà tế độ cho mình, hoặc là những giáo thọ sư mà mình đã học trong suốt cuộc đời của mình, cũng không bảo đảm là những vị đó đã hiểu đúng ý Phật. Cho nên cái tiến trình cái lý tưởng mà hiểu đúng ý Phật là một cái tiến trình của nhiều kiếp và mãi mãi, nó không lệ thuộc ai, không lệ thuộc bổn sư của mình và cũng không lệ thuộc giáo thọ sư của mình. Ta biết ơn bổn sư ta, ta biết ơn giáo thọ sư ta là những người khơi gợi cho ta, những người đặt cái thềm thang cho ta để ta bước tới sát ý Phật.

[1:20:42]Chứ những điều bổn sư ta dạy, những điều giáo thọ sư ta dạy chỉ là gợi ý mà thôi, chỉ là gợi ý, nhớ điều đó. Và chính ta mãi mãi đi tìm cái bản ý chuẩn xác nhất của Phật là gì để ta ta học, ta tu, ta theo đuổi, và ta giảng dạy. Do đó, là một người giảng sư để gọi là làm lợi ích cho chúng sinh thì phải giảng đúng ý Phật. Mà tìm ở đâu ra ý Phật? Thì trước hết vẫn là học. Nhưng sau đó phải tu. Có tu ta mới ta mới kiểm tra lại cái giáo lý ta đã học có đúng hay chưa. Còn không, ta cứ nói như sách nói, nhiều khi trật lất. Sách nào nói mà trật lất? Xin thưa, sách cổ của mấy ngàn năm qua cho tới sách hiện đại này đều vẫn có thể nói sai ý Phật.

[1:21:42]Thậm chí có những cuốn sách mà bởi những tên tuổi rất uy tín, thậm chí vẫn có thể nói sai ý Phật.

[1:21:50]Các vị tông sư ngàn xưa, các tác giả của ngàn xưa cho tới những vị tông sư danh sư của thời nay, ai cũng chỉ là sự gợi ý cho ta để ta tìm tới ý của Phật. Chứ không chắc ai đã hiểu đúng ý của Phật nên đừng bao giờ lệ thuộc bất cứ một tác phẩm nào. Dù ta nghe bao nhiêu lời tôn vinh, ca ngợi, kệ, ta phải tu và trải nghiệm đó, để tìm cái ý của Phật. Nên một giảng sư là phải giỏi tu, rồi mới giỏi nói sau, nhớ như vậy. Có những tác phẩm mà ở đây tôi không tiện nêu tên ra, vì nêu tên ra mít lòng, vì có những cái tông phái họ tôn thờ những tác phẩm đó, bây giờ mình chê thì kỳ, chứ sự thật là không tác phẩm nào bảo đảm cả, không tác phẩm nào bảo đảm, chỉ là gợi ý thôi.

[1:22:50]Ví dụ như bộ Nikaya thì coi như ta được xem là bộ mà gần với lời Phật nói nhất, thì hiện nay chỉ có bộ đó là ta cố gắng khá mà mà y cứ. Sau Nikaya rồi, tất cả mọi điều đều phải tham khảo với một sự dè dặt. Nó có cái bộ luận mà tạm gọi là khó nhất của Đại Thừa là bộ Trung Quán Luận, bộ nó mỏng chứ không có dày, Trung Quán Luận bộ khó nhất. Bộ đó là bộ thách thức rất là nhiều trong cái giới học giả trong Phật đạo Phật từ xưa tới nay. Là của ngài Luận Sư Long Thọ, đôi khi được cho là một vị tổ của Thiền tông, đôi khi được cho là người đã trướng tác hầu hết những kinh điển Đại Thừa, và ngài cũng là người viết bộ Trung Quán Luận và đứng tên đàng hoàng.

[1:23:36]Bộ luận đó là khó nhất, thách thức, vì người ta hiểu không hết nữa, không dám phán đoán nó đúng hay sai cỡ nào. Vì phải ta hiểu rất kỹ nó, rồi sau đó ta mới trải nghiệm để coi nó đúng thế nào, sai chỗ nào. Riêng cái bộ Trung Luận nhiều khi mình hiểu không hết, chứ đừng có nói tới việc mà dám phê phán nó đúng sai. Còn rất nhiều bộ luận khác mơ mơ hồ hồ, mơ mơ hồ hồ, ta đều phải dè dặt lại, thời xưa cũng vậy và thời nay cũng vậy. Do đó, thấy người giảng sư hoặc người tu Phật, ta biết ơn tất cả những vị tông sư, những vị danh sư, bổn sư, giáo thọ sư, vì họ là người gợi ý cho ta. Để ta đến tìm được bản ý đúng nhất của Phật, nhớ như vậy giùm, đó.

[1:24:18]Và khi ta tìm được bản ý tạm gọi là gần đúng nhất của Phật thì ta mới có được những lời dạy, những bài giảng lợi nhất cho chúng sinh. Nếu ta nói sai, nhớ cửa địa ngục mở ra. Cho nên đi làm giảng sư tuy có vẻ là vẻ vang đó, vinh quang đó, nhưng cái sự nguy hiểm cũng rất là lớn. Vì tôi cũng quan sát rất nhiều những trường hợp các giảng sư và đều lấy làm lo sợ. Họ là những lực lượng chủ đạo để phát triển Phật giáo, những giảng sư, nhưng họ cũng có thể là những người làm cho Phật pháp việc bị lụi tàn, bị suy sụp, và chính họ cũng phải chịu đọa vào ác đạo, rất là đáng lo. Nên do đó, ta phải hết sức khiêm hạ,

[1:25:07]lúc nào cũng khẩn cầu, lúc nào cũng lễ Phật sám hối, đừng bao giờ chủ quan là tự sức mình, lúc nào cũng xin Phật gia hộ cho con lúc nào cũng hiểu được đúng ý Phật, nói được đúng ý Phật. Vì ý Phật vẫn là một cái gì? Vẫn là một cái gì cao xa mà khó ai với tới được, đó là cái yếu tố thứ nhất của một bài giảng, đó là yếu tố vàng. Yếu tố thứ hai là giảng cho hấp dẫn. Vì nếu ta nói đúng ý Phật rồi mà nói nó khô quá, nó chán quá, người ta không tiếp nhận được, cũng giống như mình có của báu mà cho người ta không lấy được thì chúng sinh cũng không được lợi ích. Mình nói đúng ý Phật rồi mà người ta nghe không lọt tai

[1:25:49]thì cũng không thành một bài giảng có lợi cho chúng sinh. Nên vì vậy là phải giảng cho hấp dẫn. Mà làm thế nào để giảng cho hấp dẫn thì đây là điều ta không thể nói trong một vài tiếng đồng hồ hay trong một vài ngày. Đây là chuyện của của rất nhiều năm, nhiều tháng. Nhưng tôi có một cái bí quyết để cho quý thầy, quý cô tập mà giảng hay được. Tôi lấy được bí quyết này từ trong âm nhạc, từ trong âm nhạc. Tôi biết đánh đàn từ năm 10 tuổi, ừ, thì đánh guitar, rồi sau này học piano thêm, chút đỉnh thôi chứ không giỏi, rồi sau này tôi biết sáng tác, viết nhạc, thì mới nghiệm ra một điều thế này: Để cho tới cái ngày mà mình viết được một bài nhạc mà người ta

[1:26:36]nghe người ta chấp nhận được, thì không biết bao nhiêu năm mình đã phải đánh những bài nhạc của các nhạc sĩ khác rất nhiều. Cho nên mới biết đàn, không có ai đánh một bài nhạc của mình cả, phải không ạ? Phải đánh cái bài nhạc của ai đó, phải tấu một bài nhạc của ai đó, của tác giả này, của nhạc sĩ kia. Làm những bài nhạc khó dần, nó dễ dần cho đến nó khó dần. Nhớ hồi xưa mới biết đánh đàn là tập cái bài gì, bài Tình Sầu của Trịnh Công Sơn, "Tình yêu như trái phá, con tim mù lòa, một mai thức dậy", đại khái, mới 10 tuổi mà đã yêu đương tùm lum thì bài nó vậy ai biết đâu. Rồi cái bài thứ hai là bài Thu Sầu của Lam Phương á,

[1:27:11]"Mùa thu thưa nắng, gió mang niềm nhớ" đó, "người về lặng lẽ, tình vẫn bơ vơ", mấy thầy cô có nghe bài đó chưa? Bài đó nhạc sến sến không à. Rồi cái lần lần cái mình mới nâng lên, đánh những bài khó dần khó dần, rồi đánh những hợp âm phức tạp dần, mà khi đánh tới đâu thì mình mới cảm nhận, mình mới cảm nhận lại những cái giai điệu của nhạc sĩ họ đã tạo ra. Mà sức cảm nhận nó sâu dần sâu dần, để mình nghe từ cái nốt này nó chuyển qua cái nốt kia nó tạo thành cái âm hưởng loại gì. Càng ngày cảm nhận sâu dần sâu dần cho đến cái ngày bắt đầu tự mình viết được một bài nhạc. Bắt đầu tự mình viết nhạc là do cái cảm xúc mà của tôi

[1:27:49]đối với bổn sư của mình là Hòa thượng Thanh Từ đó: "Ngày xưa con bơ vơ trong đời u tối, trầm luân, nghe đau thương kiếp làm con người.

[1:28:03]Từ khi hoa xuân sang gặp thầy dẫn lối, đưa con thoát cuộc sống chơi vơi, qua bên kia bến bờ đi tới nơi luôn sáng ngời ánh mặt trời."

[1:28:20]Đại khái là vậy, rồi lúc đó mới viết được cái bài nhạc của chính mình. Là cũng do mình đã thấu quá nhiều nhà của người khác. Hồi xưa có cái ông kiến trúc sư nổi tiếng của Việt Nam, không biết ai biết tên ổng không, Ngô Viết Thụ. Ổng là người mà thiết kế cái Dinh Độc Lập á, bây giờ ta gọi là Dinh Thống Nhất á, và nhiều công trình con vậy. Ổng học kiến trúc ở bên La Mã, bên Ý, và khi ổng tốt nghiệp là ổng đậu khôi nguyên, khôi nguyên, tức là hạng nhất thủ khoa của cái khóa đó, được vinh danh ở tại La Mã, người Việt Nam như vậy. Cái đề tài của ổng là ổng vẽ khi cái tốt nghiệp của ổng là vẽ một nhà thờ trong hang núi.

[1:28:57]Ổng đi khảo cứu một cái hang ở bên Ý, sau đó thì ổng về ổng vẽ một cái nhà thờ, ổng sẽ chỉnh trang cái hang đó lại thành một cái nhà thờ. Bài đó quá độc đáo cái ổng được giải khôi nguyên. Mà lý do tại sao? Là vì trong suốt thời gian mà ổng làm sinh viên học kiến trúc bên đó đó, ổng vô trong tàng thư của đại học, ổng lấy hết tất cả những bản vẽ nào mà ổng thích ổng ngồi ổng vẽ lại hết, vẽ lại, copy lại. Hồi đó là không có giống như bây giờ là có máy tính mà ta cứ nhấn nút, ta cầm con trỏ mà kéo kéo mà đường nét nó hiện ra, không có, phải ngồi gạch từng nét, gạch từng nét thế này. Mà vẽ một bài vẽ kiến trúc cực lắm, có một cái bàn nghiêng nghiêng,

[1:29:35]có cái thước chữ T, cả đêm người ta ngủ hết mình cũng phải cong lưng mà vẽ, vẽ từng nét, mà mỗi cái nét vẽ có những nét nó cách nhau là một phần tư mi-li-mét phải vẽ cho chính xác. Mà cái viết đó loại dày mấy ly, rồi cái nét viết đó loại mỏng mấy ly, nó thể hiện từng loại nét. Là người kiến trúc vẽ bài vẽ cực lắm. Mà ổng ngồi ổng lôi trong tàng thư ra ổng vẽ lại từng bài, từng bài của những người đàn anh mà đã từng học ở đây, mà những cái bài vẽ được chấm điểm cao, ổng lấy ổng vẽ lại hết. Đến cuối cùng, ổng có một bản vẽ của ổng để đời luôn, được giải Khôi nguyên La Mã. Kiến trúc cũng vậy, âm nhạc cũng vậy và tới giảng sư cũng vậy.

[1:30:16]Và tôi thường nói với các đệ tử mình, khi bắt đầu đi giảng, đừng khờ dại tự mình soạn một bài mới để giảng liền. Hãy lấy lại một bài giảng của ai đó giảng, một bài giảng nổi tiếng của ai đó. Khi mình đã nghe giảng sư này, giảng sư kia giảng và mình thấy bài này hay, thích, rồi khi có ai mời mình giảng, mình giảng lại đúng bài đó và mình nói rõ xuất xứ. Nói: "À, kính thưa quý phật tử, hôm nay có duyên gặp các phật tử trong cái buổi lễ Bát Quan Trai này hay trong buổi lễ Phật đản này là thầy xin phép được giảng lại bài giảng có tựa đó của vị thượng tọa đó, của hòa thượng đó." Nói rõ xuất xứ và nói rõ tựa đề.

[1:30:57]Giống như là một ca sĩ khi lên hát thì nói làm sao, phải không? À, hôm nay là gì đó cái người MC giới thiệu làm sao? "Hôm nay là ca sĩ gì đó Huỳnh Hoa sẽ hát cái bài Không Yêu Được Anh Là Em Chết của tác giả Nguyễn Văn Bi", ví dụ vậy. Họ nói rõ tựa và nói rõ tên tác giả, sau đó họ hát, và người ta có ai chê không? Không, người ta thích vô cùng. Thì giảng sư cũng vậy. Khoảng ba năm đầu cho tới năm năm đầu đi giảng, ít khi mình giảng một bài mới của mình mà cứ giảng lặp lại cho hay những bài giảng của một một giảng sư nào đó nổi tiếng mà mình cảm thấy thích. Và khi giảng mình giới thiệu rõ ràng.

[1:31:41]Thì giống như ca sĩ, cũng một bài hát đó hết người này hát chỗ này tới người kia hát ở chỗ kia, nhưng mà mỗi lần hát là một lần mới và mỗi lần hát là bộc lộ cái bản lĩnh của người ca sĩ. Lúc đó không có ai khen nhạc sĩ viết bài đó hết, mà người ta khen gì? Khen ai? Khen ca sĩ. Nhớ như vậy. Thì cũng vậy, khi ta đi giảng khoảng ba năm đầu tới năm năm đầu, mình không giảng bài gì của mình hết. Cứ giảng một bài của một giảng sư nào đó và giảng cho hay. Lúc người ta có khen cái ông tác giả cũ không? Không, người ta khen cái người đang giảng trước mặt người ta. Đây là một bí quyết rất độc đáo. Cứ giảng lại đúng và mình giới thiệu xuất xứ,

[1:32:17]nói hôm nay thầy giảng lại cái bài đó của vị thầy đó, cứ nói rõ ràng. Và người ta nghe nhưng mà sự thật khi mình giảng lại nó bộc lộ bản lĩnh riêng của mình, nó bộc lộ cái cái công đức tu hành của mình ở trong đó, chứ không bao giờ giống y khuôn. Cũng như nhạc sĩ ổng viết bài nhạc đó ra mà chính ổng hát thì làm sao? Nghe không nổi, hát dở. Phải nhờ ca sĩ, nhưng mỗi ca sĩ hát cái bài đó lại bộc lộ một cái bản lĩnh riêng và người ta thích là thích, thích ca sĩ. Thích ca sĩ, người ta trả cho cái ca sĩ bữa đó lên hát 10 triệu đồng tiền cát sê, còn ông nhạc sĩ viết bài đó người ta trả bản quyền ổng nhiêu?

[1:32:54]200.000. Người ta vẫn yêu quý cái người trình bày trực tiếp thì cũng vậy. Bắt đầu bước ra làm giảng sư từ bây giờ có ai mời ta đi giảng, ta không cần phải soạn bài mới, cứ lấy một bài giảng nào đó ta thích giảng lại. Nhưng mà khi giảng lại rồi ta được một cái lợi thế là ta có quyền điều chỉnh chút xíu cho hay hơn. À, đây là cái lợi thế. Còn cái ông giảng sư ổng giảng cái bài cũ đó, trong cái lúc nhất thời ổng là người đầu tiên giảng bài đó cho nên có những khuyết điểm lầm lẫn ở trong đó mà ổng chưa thấy. Đến khi mình giảng lại bài của ổng, mình nhận ra những điều đó, mình chỉnh giùm ổng lại, chỉnh sửa chỉnh sửa lại, công đức nó thuộc về mình.

[1:33:34]Và ta cứ giảng lặp lại những bài giảng của các giảng sư khác thôi từ ba năm tới năm năm, sau đó tự nhiên, bỗng nhiên mình có sức sáng tác, bỗng nhiên mình tạo ra được những bài giảng mới của mình rất độc đáo và rất hấp dẫn. Lúc đó mới đạt được cái yếu tố thứ hai là giảng hấp dẫn. Yếu tố thứ nhất là đúng ý Phật thì cái đây là do ta tu hành, ta lễ Phật, ta sám hối, ta làm các công đức vô số, vân vân. Yếu tố thứ hai hấp dẫn là do ta thực hiện cái bí quyết này giống như là ca sĩ, giống như là ông Ngô Viết Thụ kiến trúc sư. Bây giờ ta ứng dụng điều đó trong Phật pháp cũng sẽ rất thành công. Mà tại sao sau khi ta giảng bài của những người khác,

[1:34:18]tới khi ta tạo một bài giảng riêng thì nó lại hay? Tại sao? Tại sao? Tại vì nhân quả. Cái nhân của sự khiêm hạ nằm ở đây. Khi ta giảng lại bài của một ai đó có nghĩa là lòng ta làm sao? Ta, ta tôn trọng người đó. À, ta biết kính trọng cái người giảng sư đã tạo ra bài giảng đó mà ta biết kính trọng là ta có phước. Cái phước nằm ở đó. Nên nó tích lũy lâu ngày nó thành cái quả, bắt đầu ta tự ta tạo ra được những bài giảng rất là hay vì ta biết tôn trọng những giảng sư khác. Nhớ như vậy. Cái câu mà ông bà mình nói không bao giờ sai là: "Kính thầy mới được làm thầy." Và trong việc giảng dạy cũng vậy,

[1:35:03]lúc nào ta cũng phải yêu kính những bậc đi trước của ta. Lúc nào cũng vậy, yêu kính vì có họ, Phật pháp mới được nối tiếp. Cái mạng mạch Phật giáo tồn tại được á do ba điều. Một là do những vị tu chứng. Chứng này chưa thể là A-la-hán nhưng mà có cái tâm linh đặc biệt, đã là người giữ gìn cái đức cho Phật giáo, giữ gìn mạng mạch cho Phật giáo. Thứ hai là những người chưa tu chứng nhưng giới hạnh đàng hoàng. Và thứ ba là do những bậc giảng sư. Do ba bậc này mà Phật pháp được được nối truyền, được thiệu long thánh chủng á. Thì trong ba bậc này ta đều kính trọng hết nhưng riêng mình làm mình đi theo

[1:35:47]con đường giảng dạy thì mình rất kính trọng những bậc giảng sư, những người đã đi trước mình là một trong ba yếu tố mà giữ gìn Phật pháp. Cái lòng yêu kính một bậc giảng sư tiền bối là cái phước để ta trở thành một giảng sư giỏi. Còn nếu đối với những bậc tiền bối đi trước mà ta có cái lòng bất kính hay nói vài câu đố kỵ, ta tiêu á, hết phước á. Có khi những vị đi trước ta giảng không hay bằng ta, đó là điều nói thật. Vì sao? Vì các ngài giảng theo lối cổ. Mình bây giờ mình ngồi nghe, nghe không nổi đâu. Ví dụ như bây giờ ta đặt ta đi ngược lại khoảng sáu, bảy mươi năm trước, cái thời mà Phật giáo mới được chấn hưng,

[1:36:30]à những cái làng quê như chùa Kim Huê hay là Phật học viện Lưỡng Xuyên dưới Trà Vinh hay là ở Bến Tre, Hội Khánh á, lúc đó là các vị tôn túc ta mới theo cái lời kêu gọi của Hòa thượng Khánh Hòa và cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc mới đứng lên chấn hưng Phật giáo, mới mở những cái lớp gọi là gia giáo. Thì lúc đó là trong một cái phòng nho nhỏ, bé bé, nhiều khi bằng một phần ba cái phòng này. Cái bảng nhiều khi cũng không có. Bàn ghế ngồi chỏng trơ, chỏng chỏng bằng mấy cái liếp tre. Kinh thì người có, người không, phải viết. Ví dụ một ông thầy ổng có một cái cuốn kinh, ổng cầm đây là phải truyền tay nhau mượn mà viết lại.

[1:37:04]Rồi bắt đầu ngồi nghe ông thầy ổng giảng. Ngồi nghe ổng giảng mà phải nói là những cái người hết sức là chân tu mới ráng mà ngồi nghe. Còn mà như ta ngày nay mà ta đặt lại cái lớp đó thì giờ này làm sao? Ta đã phiêu bồng giấc mộng hết rồi, ngủ sập sỏe rồi. Các vị nói ê a, nói nhiều khi không nhìn mình, ngồi mà nhiều khi cầm mắt kiếng lên coi chữ đó chữ gì rồi ngồi giảng, mà mình nghe không nổi. Nhưng mà những vị ngày xưa vẫn chăm chú nuốt từng lời. Và nếu mà nói so lại mà nói mức độ hấp dẫn, các vị xưa không hấp dẫn. Nhưng ta phải yêu kính các bậc đó, vì có những vị đó ta mới có ngày nay. Cái lòng yêu kính những bậc giảng sư tiền bối là cái phước cho giảng sư.

[1:37:49]Đó là đó là do cái tâm khiêm hạ. Nên bây giờ nếu ta lấy lại một bài giảng của các ngài, ta giảng lại và có khi giảng hay hơn các ngài, đó là chuyện bình thường và đó là ơn nghĩa của các ngài chứ đừng nghĩ mình hay hơn là mình giỏi hơn các ngài, không có đâu. Vào thời đó các ngài làm tới mức độ đó là quá giỏi. Ngày hôm nay ta phát triển hơn là cũng bổn phận như vậy và đời sau này con cháu ta sẽ giảng giỏi hơn ta nữa. Nó cứ tiếp tục như vậy. Nhưng cái đạo đức là cái gì? Cái đạo đức ở chỗ là lòng ta yêu kính được những bậc tiền bối và lòng ta kỳ vọng ở những thế hệ đàn em của mình. Còn khi nào là mất đạo đức?

[1:38:29]Khi nào mà ta bất kính với bậc tiền bối và ta không muốn ai giỏi hơn mình ở phía sau là mất đạo đức. Cho nên một người giảng sư nhất là khi mà đã thành danh, nhất là khi mà đã tạm thành danh trong cuộc đời giảng dạy của mình thì trong lòng lúc nào cũng mong có những người đến sau mình và giảng hay hơn mình thì Phật pháp mới được phát triển. Còn bây giờ mình giảng hay mà mong đừng cho ai giảng hay bằng mình, sợ nó nổi hơn mình là cái tâm đó là tâm tiêu diệt Phật pháp, tâm đó là tâm ác. Do đó, mình chưa nổi danh thì thôi không có gì vấn các vấn đề, nhưng mà đã bắt đầu thành danh một chút, lúc nào ngày đêm phải mong có một người giảng giỏi hơn mình để nối tiếp Phật pháp.

[1:39:12]Giống như mình ngày nay mình đã giảng hấp dẫn hơn các vị tiền bối ngày xưa và đó là quy luật. Nhưng lòng ta lúc nào phải yêu kính các ngài. Đó là cái phước của sự khiêm hạ và thành cái quả ta mới mới giảng được. Rồi, còn một cái đạo đức này cái này nói phụ thôi chứ hôm nay không cần nói điều này nhưng mà sẵn nói thì nhắc luôn. Có bao giờ Phật pháp được phát triển, được xây dựng bởi duy nhất một giảng sư không? Phải rất nhiều, rất nhiều giảng sư ở khắp nơi. Nhưng mà có phải là quá nhiều giảng sư rồi mỗi ông giảng một đường không? Cũng không. Nếu mà nhiều giảng sư, mỗi ông giảng một đạo Phật khác nhau thì làm sao?

[1:39:50]Đạo Phật cũng tiêu luôn. Nhưng mà làm sao để mà giảng sư các nơi đều phải giảng hòa chung một đạo Phật chung. Đạo Phật thì như một viên ngọc, rất nhiều góc cạnh mà góc cạnh nào cũng đẹp. Mà mỗi một giảng sư khi thì giảng góc cạnh này, khi thì giảng góc cạnh kia, nhưng mà đều chung một cái viên ngọc Phật Pháp đó. Chỉ khi ta giảng một góc cạnh nào đó mà nó nằm ngoài cái viên ngọc đó thì mình thành tà đạo. Mà mỗi người giảng một nẻo vì đạo Phật tiêu luôn, vì làm cho phân hóa, làm chia rẽ. Do đó là ta luôn luôn mong rằng trong bầu trời Phật giáo này rất nhiều giảng sư giảng, ai giảng cũng hay và hòa chung một cái lõi chung của đạo Phật để đạo Phật không bị phân hóa.

[1:40:37]Nhưng mà làm sao Trước cái tình hình mà ví dụ như mình đi mình gặp những vị giảng sư đồng nghiệp, à hỏi sao thầy ở đâu, à tôi cũng đi giảng đâu này, gặp ô huynh ở đâu, giảng đâu kia, thì nhớ một điều phải yêu kính lẫn nhau. Ta không được giống như một cái người thế gian, giống như những ca sĩ thế gian là con chim ghét nhau tiếng hót, là ca sĩ ganh tị với nhau về giọng ca, tuyệt đối trong đạo Phật không được điều đó. Mà trong đạo Phật là các giảng sư phải yểm trợ nhau. Nhiều khi ta không biết rành về nhau, nhưng mà ai hỏi ta, ta luôn luôn ca ngợi những giảng sư bạn. Ví dụ như tôi vậy, có một lần có người đâu đâu ở nước ngoài gọi điện về, hỏi:

[1:41:21]"Thưa thầy, thầy có biết thầy Nhật Từ không?" Tôi nói: "Biết chứ." "Thầy Nhật Từ làm sao thầy?" Nói: "Tốt chứ sao. Thầy cũng giảng sư, Phật học tốt, không có gì đâu. Có gì không?" "À, thầy với thầy Nhật Từ làm sao thầy?" "Ờ, thì thầy, thầy Nhật Từ cũng là bạn tốt nhau thôi, rất ủng hộ nhau, không có gì cả. Có gì không?" Rồi thôi cúp máy. Chả hiểu họ hỏi cái gì. Nhưng mà nhớ điều đó, luôn luôn cái câu trả lời lúc nào cũng phải ủng hộ những giảng sư bạn. Đó là đạo đức trong đạo Phật của mình và cái này làm cho ta thành cái phước. Còn ví dụ như có ai hỏi: "Thầy Nhật Từ làm sao thầy?" "Tôi cũng không rành nữa,

[1:41:56]ông này ổng giảng khi được khi không gì đó." Cái câu nói đó là sao? Nó bộc lộ cái sự ganh tị, một sự kém đạo đức và một sự chia rẽ trong đạo Phật. Chỉ một vài câu nói thôi mình phước mất hết. Nên sau này vậy, thôi thế hệ đi trước ta không nói, nhưng mà sau này quý thầy, quý cô mình tung cánh chim đi vào trên mọi nẻo đường để giáo hóa chúng sinh. Rồi khi thì gặp nhau, khi thì nghe tiếng về nhau, nhưng nhớ trong lòng lúc nào cũng yêu quý nhau. Nếu ai hỏi gì về ta, ta luôn luôn ủng hộ. Nói ví dụ, ví dụ có một người đặt cái câu hỏi thế này, nói: "Dạ thưa thầy, sắp tới đây tụi con có buổi lễ, là con muốn mời thầy giảng, nhưng bên kia thì mời ông thầy kia giảng."

[1:42:37]Mình với ông thầy đó là bạn, hồi xưa cùng học ở Hòa Khánh, ví dụ vậy. Hỏi: "Bây giờ con không biết làm sao, con phân vân." Thì mình trả lời làm sao? "A, nó ông thầy gì đó hả? Trời ơi, hồi đó học chung với thầy, ổng học dở lắm." Thầy là lúc đó thầy trong lớp thầy lúc nào cũng giỏi, là ổng đó ổng dở lắm, là xong đời mình tiêu rồi đó. Đời mình tiêu rồi. Mình phải trả lời làm sao? Trả lời: "Nên mời ông thầy đó giảng nha. Ông thầy đó hồi đó học chung với thầy và thầy biết ông tốt lắm." Có thể là ổng dở, có thể đúng là kỳ đó ổng học với mình ổng kém hơn mình, nhưng mình không được nói dở giỏi lúc đó, mình nói làm sao?

[1:43:11]"Ổng tốt lắm." Mình lấy cái tốt của ổng để mình bảo đảm cho cái việc giảng dạy của ổng, và đó gọi là huynh đệ ủng hộ nhau. Và như vậy cái đức tu của mình nó càng lúc càng lớn, và tự nhiên làm sao? Tự nhiên sau này những bài giảng của mình rất là lưu loát và rất là hấp dẫn, vì nó là nhân quả. Hồi đó có một lần tôi nhớ tôi cũng cũng được chút chút như vậy. Lần tôi về cái miền quê, thôi tiện không tiện nói tên ra, nói tên nó cũng nổi tiếng quá rồi biết tùm lum. Lúc cái ông thầy trụ trì ổng mới nói: "Nè, thầy Chân Quang à, đây nè cái buổi giỗ tổ lớn lắm ha, thì tôi đã mời thượng tọa này giảng ở chùa này rồi,

[1:43:46]thì bây giờ ngay cái chùa tổ đình này thầy giảng cho tôi một bài, đúng vào đó luôn, tại vì lễ thì nó có một buổi thôi. Sáng mai là làm lễ chính rồi, thì giảng giải là tối đêm trước thì mời cái ông thầy kia là một giảng sư cũng có tiếng giảng ở chùa này, còn thầy thì giảng ở chùa này." Tôi lắc đầu liền, nói: "Không thầy. Thầy phải dồn hết thính chúng vào một chùa để cho vị kia giảng được đông, chứ còn chia ra làm hai rồi cái thính chúng nó ít đi thì không có cái hội giảng nào được long trọng hết. Nhớ nha, thầy dồn hết một thính chúng để cho nó long trọng, như vậy nhìn vô bộ mặt Phật giáo nó vui.

[1:44:18]Còn còn tôi đi về tôi dự lễ là với tính cách là con cháu thì vậy là quý rồi. Thầy cứ để giảng và sáng mai dự lễ chung nhau, thôi không có gì hết." Như vậy. Và đó là cái cách mà các giảng sư ta phải ủng hộ ngầm lẫn nhau. Cái vị kia họ không hề biết mình ủng hộ đâu, nhưng mà lương tâm mình biết, Phật biết và nhân quả nó có. Từ đó về sau là việc đi giảng của mình luôn luôn hanh thông và bài giảng luôn hay, vì đó là cái thuộc về đức tu. Đó, để giảng một bài giảng hấp dẫn thì nó có những bí quyết như vậy. Đúng ý Phật nói rồi, cái hấp dẫn là ta phải tập giảng lại những cái bài giảng giảng hay có trước, lặp lại.

[1:45:00]Ta yêu kính những bậc giảng sư tiền bối. Ta yêu kính những bậc giảng sư đồng thời và ta luôn luôn ủng hộ những huynh đệ, bạn bè đồng học với ta mà cùng bước ra ngoài làm các Phật sự như vậy. Đó. Đó là những cái nhân quả thôi chứ còn mà cái kỹ thuật để giảng hấp dẫn thì ta từ từ ta nói tới đây. Nhớ một điều thế này, nếu mà nói là đúng tiêu chuẩn á thì có ai nghĩ là nói: "À, cái này mình đi học giảng sư, mình giảng 5 năm rồi thôi không giảng nữa là hết rồi, hết nghề." Có ai nói vậy không? Không, mà phải giảng làm sao? Suốt, suốt đời. Nhưng mà liệu mình có đủ giáo lý giảng suốt đời không? Có không?

[1:45:46]Ví dụ như 10 năm sau họ đến nghe, cái nói: "Ủa, cái bài này hồi trước 10 năm trước con nghe thầy giảng rồi, sao thầy giảng lại?" "Tại thầy hết nghề rồi con ơi, thôi con chịu khó nghe lại." Có vậy không? Không. Mà cứ càng giảng là càng mới, tới khi nào mình kiệt sức vì bệnh không giảng được nữa thì thôi, chứ không ai nghĩ hễ làm giảng sư mà giảng 5 năm là thôi nghỉ giảng tại hết nghề, không có chuyện đó phải không? Nhưng mà để có thể có cái nguồn đạo lý vô tận mà giảng suốt đời thì đòi hỏi trí tuệ mình phải vô tận. Nhưng mà ở đây ai là trí tuệ vô tận giơ tay lên cho tôi lễ bái? Ai? Ai dám giơ tay nói mình trí tuệ vô tận không? Không.

[1:46:26]Cho nên vì vậy, ta cũng khiêm hạ, biết mình có cái sự hạn chế và cố gắng đừng vượt quá khỏi cái sở trường của mình. Nhớ nha, đừng vượt quá cái sở trường của mình, đó gọi là sự khiêm tốn á. Tuy nhiên, nó lạ một cái điều thế này: ví dụ mình nghĩ rằng cái khả năng mình chỉ giảng trong một số lĩnh vực này thôi, nhưng mà mình được cái đức khiêm tốn, khiêm hạ, mình được cái phước là mình yêu kính những bậc tiền bối, rồi mình hay lễ Phật, vân vân. Bỗng nhiên một ngày kia trí tuệ mình mở ra khỏi lĩnh vực đó. Mình cứ nghĩ là 10 năm mình hết vốn rồi, thôi vậy cũng được, làm Phật sự 10 năm như vậy là một đời người cũng được rồi.

[1:47:04]Nhưng không ngờ bỗng nhiên chưa hết, bỗng nhiên nó mở ra thêm những điều gì lạ, mình đi tới nữa, chỉ vì nhờ cái đức tu, cái sự khiêm hạ. Cho nên một giảng sư phải tu dữ lắm, không được giỡn chơi. Càng nói chừng nào thì bên trong phải càng thúc liễm tu hành, chứ đừng có nghĩ là: "Ờ, tôi giảng sư là tôi làm thầy rồi là thôi vậy được rồi", không có đâu. Mình giảng sư mình giảng được một bài rồi nhưng mà việc tu mình là con số không, chưa là gì cả, nên phải cố gắng suốt đời. Đó là nói về cái cái tự biết giới hạn phạm vi của mình, đừng đi quá, đừng vung tay quá trán, nhưng cái sự khiêm hạ đó lại bất ngờ mở cho ta về sau.

[1:47:44]Còn phần mình, lúc nào mình cũng khiêm tốn, tự giới hạn mình lại, không dám đi quá đà. Nhớ, nhưng nhân quả lại đi con đường khác á, tự nhiên mở ra. Một cái yếu tố để hấp dẫn nữa là thế này: đừng nói dài, đừng nói lâu vượt quá khả năng tập trung lắng nghe của khán giả. Vì cái người mà họ ngồi nghe á, cái khả năng mà ngồi yên một chỗ mà lắng nghe hoài nó có giới hạn, chứ không ai ngồi mãi hết. Chúng ta, tăng ni đó, hồi nãy nghỉ 10 phút vô ta ngồi nghe lại được, vậy mà có một số trốn thấy không? Tức là cái khả năng làm thầy rồi đó mà còn nửa chừng bỏ trốn, nên không phải ai cũng đủ khả năng mà ngồi nghe suốt một buổi đâu.

[1:48:25]Đó là tăng ni đó, còn Phật tử lại càng ít hơn. Do đó, ta phải giảng trong cái giới hạn của họ. Giảng trong giới hạn, đừng vượt quá khả năng. Có một lần đó cái có một người mời tôi tới giảng, khi mình đang ngồi chờ để tới phiên mình nói, phát biểu, thì cái người này giới thiệu, người kia dẫn chứng, người dẫn chương trình, trời ơi lúc khán giả mấy em là gia đình Phật tử đứng nghiêm chỉnh vậy rồi mới ngồi nghe như ban đạo từ, ban huấn từ vậy. Tới khi mà cuối cùng mời tới: "Xin mời Thượng tọa Chân Quang giảng", tôi nói đúng ba câu, nghỉ liền. Vì hết sức chịu đựng rồi, nhìn mặt mấy em nó hết sức chịu đựng rồi.

[1:49:01]Nãy giờ mấy người kia là đủ hết rồi, đã chiếm hết khả năng chịu đựng đứng nghe rồi, mà mình nữa là nó thành cái thù oán trong bụng. Tuy không nói ra mà lòng lúc nào cũng: "Thôi mà, nín đi mà, nín đi mà cho nó nghỉ", thành thù oán liền, nói lâu quá người ta thành thù. Nên vì vậy nói đúng ba câu xuống liền, trời ơi mặt đứa nào nấy nó mừng, thấy thương vậy đó. Và có những trường hợp nhiều khi mời tôi giảng tôi nói 5 phút, có trường hợp giảng 15 phút, có trường hợp nhìn tới nhìn lui giảng nửa tiếng đi xuống, không giảng nhiều. Do đó, mình phải liệu khả năng cái người ngồi nghe tới đâu mà mình nói tới đó, đừng khờ dại giảng chỉ biết phần mình nói nói nói nói

[1:49:39]mà người ta muốn chết ở dưới rồi mà mình không chịu ngưng. Quý Phật tử phải không? Nghe muốn chết phải không? Nãy giờ chết chưa? Chưa? Như hồi xưa á, mấy vị nãy các vị giảng thũng tha thũng thẳn chữ Nho mà ngồi nghe nổi là vì cái đạo lực họ quá lớn. Cũng giống như bây giờ, ngồi nghe cả buổi như vậy mà vẫn ngồi nghe được vì Tăng Ni có đạo lực. Mà những người này mà ngồi nghe có đạo lực ráng chịu đựng như vậy sau này mới giảng tốt được vì có sức tu, còn nghe chút xíu rồi trốn cúp cua đi hết là mấy người đó đáng ngờ lắm. Sau này đạo lực họ không biết tới đâu, mà nếu đạo lực yếu rồi mình giảng cái gì cho người ta.

[1:50:17]Sức tu mình yếu thì mình đem cái gì mình tặng cho chúng sinh, không có. Nên thứ nhất, làm ơn kiểm soát được bài giảng đúng thời gian theo đúng cái hoàn cảnh lúc đó nha. Đừng khờ dại giảng dài, giảng dai rồi giảng dở. Cái mà gọi là khả năng lắng nghe của người nghe đó tới đâu thì mình giảng ngắn hơn cái đó một chút. Ví dụ họ nghe thêm 10 phút nữa là họ đuối rồi thì trước 10 phút mình ngưng, thì họ còn cảm tình với ông giảng sư này, không coi ông giảng sư này là kẻ thù. Còn ví dụ họ tới 10 phút nữa họ hết chịu nổi rồi mà mình giảng thêm 10 phút thì 10 phút sau là 10 phút oán thù, 10 phút hận thù á.

[1:50:57]Nói thật đó nha, không phải chơi đâu. Từ đó về sau họ nhìn tới mình tới đâu, họ đi ngoài đường họ gặp mình là đôi mắt họ lườm lườm, nói ủa trước mình giảng đạo lý cho họ nghe mà sao giờ họ nhìn bằng đôi mắt hình viên đạn? Lý do là mình giảng dư 10 phút quá sức chịu đựng của họ, nhớ như vậy nha. Phải có trực giác đoán được họ ngồi nghe tới đâu, nhìn hoàn cảnh mà quan sát. Một điều nữa là đừng dùng ngôn ngữ chuyên môn của mình nhiều quá, mình phải nói bằng ngôn ngữ của người nghe, chứ không phải ngôn ngữ của mình, của người nói. Ngôn ngữ của người nghe thì người ta mới hiểu, còn mình dùng những ngôn từ chuyên môn đi ào ào người ta hiểu không nổi.

[1:51:35]Tôi nghe rất nhiều người Phật tử than phiền, nói: "Thầy ơi, con nghe ông thầy đó con nghe không nổi vì ổng nói từ gì con không hiểu, ổng nói cái gì chữ Nho không hà." Nói đúng! Lý do sao? Tại quý thầy đó học ở trong trường Phật học, dạy toàn những từ đó không, thì những cái từ mà suốt từ sơ cấp, trung cấp tới cao cấp Phật học, quý thầy đó được học là những từ đó. Và cái từ đó trở thành cái tiếng nói của quý thầy, thành tiếng lòng của quý thầy, thành tiếng bản ngữ của quý thầy, nhưng mà tiếng đó đối với Phật tử nó là một ngoại ngữ, nó là một ngoại ngữ. Chết! Do đó, bây giờ những người đang học ở đây cũng

[1:52:14]vậy, quý thầy đang có một cái ngôn ngữ mà đối với mấy người ngồi sau lưng là một ngoại ngữ. Quý thầy đem ngôn ngữ ra giảng, dưới người kia chết hết. Cho nên vì vậy, khi giảng, quý thầy quý cô làm ơn dịch ra tiếng Việt Nam giùm. Tại 9, 10 năm học trong các trường Phật học, quý thầy cô đã đang thâm nhập một ngôn ngữ khác, không phải ngôn ngữ của thời đại, không phải là tiếng lòng của các Phật tử đang ngồi nghe. Nên nhớ, ta phải chuyển ngữ, nói bằng ngôn ngữ mà người dưới kia họ hiểu, chứ không phải nói bằng ngôn ngữ chỉ có mình hiểu. Nên mình học trong trường Phật học là một chuyện, khi làm giảng sư phải lật ngược hết tất cả ngôn ngữ đó lại.

[1:52:55]Trước khi làm giảng sư, ta phải có một thời gian chuyển ngữ hết lại những từ mà ta đã học trong trường Phật học. Làm ơn nhớ nha, đây là giai đoạn quan trọng. Nhiều người quên cái giai đoạn này, lật đật bước ra làm giảng sư thì khi ra giảng giống như giảng bằng ngoại ngữ vậy á, không ai hiểu gì hết. Đó là lý do mà không hấp dẫn, không nói được bằng tiếng lòng của người nghe. Cái tiếng lòng là gì? Tôi yêu đất nước tôi từ khi mới ra đời, à ơi. Mẹ hiền ru những câu xa vời. À à ơi tiếng ru muôn đời. Cái bài bài đó dài lắm, nhưng mà trong đó có cái từ là tiếng lòng tôi. Tiếng mẹ, tiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi, trải nghìn năm thành tiếng lòng tôi.

[1:53:44]Tiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi, thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi. Ơi tiếng ơi...

[1:53:55]Nói như vậy, tiếng lòng và người ta hiểu được cái tiếng đó thôi. Cho nên quý thầy quý cô khi ra trường làm ơn chuyển ngữ hết lại, chuyển ngữ hết. Cứ Bồ đề quả vị, Vô thượng Bồ đề gì không ai nghe không hiểu ai hiểu gì hết trơn á, không hiểu gì. Bồ Tát thập địa rồi gì không ai hiểu, không ai hiểu, nha. Sửa đó là ngôn ngữ. Cái hấp dẫn nữa là nhờ những chuyện kể. Hồi xưa có cô Như Thủy, cô giảng pháp cô hay kể chuyện lắm, từ đầu tới cuối bài giảng cô kể chuyện không à, nên ta nghe ta cũng đã tai lắm. Thì ta cũng vậy, nhưng đừng cái khối lượng chuyện kể, cái tỉ lệ nó phải vừa hợp, đừng có đè hết bài giảng lại cũng không hay.

[1:54:32]Một tỉ lệ vừa chừng thì bài giảng có giá trị, nhưng mà phải có chuyện kể trong đó, chứ còn nguyên một suốt bài giảng mà không có chuyện kể nào hết thì bài giảng nó sẽ khô. Nhưng chuyện kể nó có hai loại: một loại chuyện có tính ngụ ngôn ví dụ và một loại chuyện có thật, và có một loại thứ ba là chuyện bịa hoàn toàn. Mà trong đạo Phật ta, trong sách cổ của Phật giáo, chuyện bịa nhiều lắm, và quý thầy quý cô làm ơn lựa, chọn lọc giùm. Đừng có khờ dại hễ chuyện này trong sách Phật có là lật đật đem kể giống như là chuyện có thật mà sau này người tri thức họ nghe họ bắt bẻ chết. Vì sao? Vì rất nhiều câu chuyện bịa nó không phù hợp với

[1:55:12]khoa học nữa, nó không phù hợp với lịch sử nữa. Các những nhà sử học họ nghiên cứu họ biết câu chuyện đó không có, nhưng mà trong sách có ghi, mình tin chết tin sống mình đem ra kể lại, cái giới mà họ chuyên môn họ có nghiên cứu họ biết liền, và bài giảng mình bị mất giá trị vì mình đã dẫn chứng một câu chuyện bịa mà trong đạo Phật mình chuyện bịa nhiều lắm. Ta chấp nhận là chuyện ngụ ngôn mà nghe biết nó là ngụ ngôn không có thật, à được. Và ta kể những câu chuyện phải có thật, nên quý thầy quý cô phải có một bụng các câu chuyện ở trong bụng mình khi đi làm giảng sư. Những câu chuyện đó là chuyện cổ trong Phật giáo,

[1:55:51]chuyện trong lịch sử của Việt Nam, chuyện trong lịch sử thế giới, chuyện đương đại, chuyện thời đại, kể cả những chuyện phim, rất hay. Ví dụ như có một câu chuyện này, rồi có một cái bộ phim, bữa thầy quên coi mất cái tựa, bữa coi Triệu Văn Trác đóng phim kungfu võ thuật cổ trang rất là hay. Rồi có người hỏi: "Thưa thầy, Phật A Di Đà có thật không?" Mình trả lời làm sao? Không trả lời, kể một câu chuyện, câu chuyện phim mới được coi. Một cái người nhân vật vai chính á là bị kẻ thù giết cha, bắt con, còn vợ thì trốn được theo chồng, nuôi chồng. Và ông chồng ổng phục hồi vết thương lại, bắt đầu ổng luyện võ.

[1:56:36]Khi ổng luyện võ thì có hai cái vị thánh võ, thánh võ sư nào đó siêu đẳng lắm hiện ra dạy cho ổng, rồi mỗi ngày ổng đều về ổng khoe với vợ. Ổng nói là: "Hai vị võ thánh hiện ra dạy anh, hôm nay công phu anh đã tăng tiến." Thì bà vợ cũng nghe nghe vậy thôi, nhưng cái bà thầy thuốc bả bắt mạch thì nói ông này mắc bệnh tâm thần, hoang tưởng. Tức là cái chuyện mà hai ông thánh võ hiện ra dạy ổng không có, không có thật á. Cái bà vợ nghe vậy sợ quá mới lén đi theo chồng để coi ông chồng có hai ông võ thánh hiện ra dạy, thì đúng bà vợ không thấy có hai ông võ thánh nào hết. Thấy một mình ông chồng đánh ịch đụi ịch đụi,

[1:57:11]bay lên chỗ này bay qua kia, té lên té xuống như là đang đấu với một người nào. Cái bà vợ mới khóc. Kêu khi ông chồng về, ông mừng quá: "Hôm nay anh đánh bại được ông thân võ thánh đó luôn." Vợ nói: "Không anh, em đi theo anh hổng có ông võ thánh hết, anh bị bệnh tâm thần." Ổng nói: "Không, bao nhiêu tháng qua hai ông dạy anh mà." Nói: "Không, anh bị mắc bệnh tâm thần rồi, hoang tưởng rồi." Ông chồng ổng nói: "Ủa, thật quá mà tại sao?" Cái một lần sau ổng đi nữa cũng gặp ông võ thánh đó ra hiện ra đánh với ổng. Đánh xong rồi ổng mới hỏi, nói: "Ngài có thật hay không vậy?" Tức là cái nhân vật đang đứng với ổng:

[1:57:43]"Ngài có thật hay không vậy?" Ông kia trả lời: "Ta có thật hay không không quan trọng, miễn là ngươi cứu được con ngươi." Thì bây giờ ai hỏi: "Phật A Di Đà có thật không?" Nói: "Có thật hay không không quan trọng, miễn là mình nhiếp tâm thanh tịnh được." Trả lời.

[1:58:05]Đó, tức là ta có nhiều câu chuyện, loại chuyện thật trong lịch sử, chuyện thật ở các sử sách khác, chuyện sử Việt Nam, sử thế giới, chuyện đương đại, chuyện trong báo đăng thời sự và thậm chí có những chuyện phim được quyền dẫn. Nó minh hoạ được cho bài giảng của ta và làm cho bài giảng hấp dẫn thêm, nên giảng sư phải có một bụng các câu chuyện kể. Rồi có một cái hấp dẫn nữa là đôi khi hấp dẫn nhờ ta trích dẫn thơ ca, danh ngôn, tức là những câu ngắn nhưng mà nhiều khi đọc lên một bài thơ cũng cũng rất là thú vị, làm cho bài giảng nó vui thêm, ừ. Rồi có một điều mà một người hoằng pháp phải để ý thế này, là quan điểm về chính trị. À, người ta nói:

[1:58:46]"Tại sao đạo Phật phải quan điểm chính trị?" Vì thưa, chưa có một tôn giáo nào thoát khỏi chính trị cả, và đạo Phật cũng vậy. Ví dụ như đạo Kitô giáo thì họ gây ảnh hưởng lên chính trị rất là mạnh. Đạo Hồi giáo thì họ chiếm chính trị, nắm quyền luôn. Còn đạo Phật thì thường là khi một cái nhà lãnh đạo quốc gia mà họ thấy giáo lý đạo Phật hay, họ yêu mến và họ ủng hộ, chứ đạo Phật không cố tình gây ảnh hưởng vào chính trị. Đạo Phật cũng không hề bao giờ có tham vọng chiếm lấy quyền lực chính trị, nhưng mà đạo Phật cũng lệ thuộc rất nhiều vào sự ủng hộ của chính trị. Ngày xưa khi Đức Phật bắt đầu đắc đạo giáo hoá thì Ngài

[1:59:30]liền lập tức trở về Vương Xá độ vua, vua Bình Sa liền, gây nghĩa là tìm sự ủng hộ của vương quyền liền. Và suốt cả mấy nghìn năm lịch sử qua ta thấy cũng rất rõ, thời đại nào mà Phật giáo được sự ủng hộ của quyền lực chính trị thì thời đại đó Phật giáo được hưng thịnh. Còn có những thời đại mà khi cái người nắm quyền lực chính trị họ không ủng hộ, Phật giáo rất khó hoạt động, rất khó phát triển. Đó là luật tự nhiên. Và cũng vì vậy, nên do đó, người trong đạo Phật ta cũng phải có cái quan điểm về chính trị cho phù hợp, vừa phù hợp với đạo lý mà vừa phù hợp với xã hội. Điều này quan trọng lắm á, nó quyết định cái sự phát triển của Phật giáo.

[2:00:14]Vì nếu quan điểm chính trị ta sai, ta không phát triển Phật giáo được. Giờ cái tiêu đề, phương châm của Giáo hội ta là gì? Đạo pháp, Dân tộc, Chủ nghĩa xã hội. Bây giờ cái chữ "chủ nghĩa xã hội" này ta hiểu thế nào? Nó có phải chính trị đơn thuần hay không hay là có đạo lý ở trong đó? Chỗ này phải hiểu cho ra, còn nếu không ta cứ gượng gượng, mình để cái chữ "chủ nghĩa xã hội" vô, mình nói: "Cái này nhà nước bắt tui chứ tui hổng phải tui có." Mình hiểu như vậy, mình không làm việc được, nên phải hiểu cái chữ "chủ nghĩa xã hội" này cho ra để mình vui vẻ mà làm việc, phấn khởi mà làm việc. Chủ nghĩa xã hội là gì?

[2:00:49]Là ngược với tư bản chủ nghĩa. Tư bản chủ nghĩa là gì? Tức là một loại chủ thuyết chính trị mà trong đó cho phép, khuyến khích người ta sở hữu tư nhân, cho phép người ta đi tìm lợi nhuận cá nhân qua các doanh nghiệp, nghĩa là cái người ta cứ làm ăn và cứ làm giàu thoải mái. Nghe hạnh phúc không ạ? Nghe rất đã, rất đã tai, rất hạnh phúc, rất tự do, rất độc lập. Chủ nghĩa tư bản, thoạt nghe rất hạnh phúc, tự do, độc lập. Vì anh muốn sở hữu nhiêu sở hữu cũng được, muốn giàu nhiêu cũng được hết. Thoạt tiên, ồ, đây là cuộc sống hạnh phúc, tự do! Nhưng, kết quả là gì? Những cuộc biểu tình nổ ra bên Mỹ,

[2:01:34]nghĩa là người dân đổ ra đường biểu tình quá chừng luôn vì sao? Vì họ cuộc sống họ càng ngày càng sa sút, tài sản họ không còn nữa. Vì sao vậy? Vì có quá nhiều người giàu lên. Những người mà cái tài sản họ nhiều khi còn giàu hơn cả một cái quốc gia nhỏ bé nào đó nữa. Họ cả mấy chục tỷ đô la, trong khi tài sản của một cái quốc gia nhỏ bé nào đó ở một góc nào đó cũng chỉ có vài tỷ đô la thôi. Nghĩa là sao? Là vì khi cho phép mà được tự do sở hữu, chạy theo lợi nhuận, người ta bằng cái ưu thế của mình, bằng cái tài năng bản lĩnh của mình, người ta trở nên giàu có. Nhưng mà nhớ một điều, khi mà một người giàu lên tột

[2:02:15]độ có nghĩa là rất nhiều người khác đã nghèo đi. Đây là điều bất ngờ của chủ nghĩa tư bản. Chúng ta hiểu thế này, ví dụ như là có những cái ngọn đồi nó giống giống nhau thì bằng bằng thế này, nhưng bỗng nhiên bây giờ có một cái ngọn đồi, núi nó đôn lên nó cao, thì tất cả dưới này sao? Phải khuyết xuống hết. Đất ở đây nó phải dồn lên hết nó mới lên được một ngọn núi này. Cũng vậy, tài sản của rất nhiều người bị gom lại mới thành một tỷ phú này. Cho nên khi ta nghe tin là đất nước đó vừa xuất hiện một tỷ phú thì ta phải biết rằng đất nước đó xuất hiện mấy ngàn người không có nhà, mất hết tài sản rồi, nó mới gom tiền lại hết cho một người đi lên.

[2:02:52]Cho nên vì vậy mà trong một số bài giảng, tôi mới cảnh báo cái xã hội và cảnh báo luôn những người mà hoạt động xã hội thế này: Việt Nam ta đừng bao giờ khờ dại chạy đua là có nhiều top tỷ phú này. Đừng nói, "À, Việt Nam tôi bắt đầu đã có những tỷ phú bằng thế giới", không, đó là sự nguy hiểm. Vì sao? Một người giàu lên là tiền chạy hết về người đó, rất nhiều người khác không còn tiền nữa, họ gom lại hết. Cho nên Việt Nam ta phải chạy theo cái mục tiêu gì? Ít người nghèo nhất. Chứ không được chạy theo là bắt đầu có nhiều người giàu nhất, mà phải chạy theo mục tiêu là ít người nghèo nhất, là càng ngày Việt Nam không còn người nghèo nữa.

[2:03:31]Tức là giữ cái tài sản không cho nó gom lại một, hai người mà giữ cái tài sản nó trải đều cho cả xã hội để ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành tử tế. Và cái quan điểm rằng không để cho tài sản gom lại một số người quá nhiều để làm cho bao nhiêu người khác mất nhà, mất tài sản, để cho tài sản nó trở nên nó đồng đều hơn, đó gọi là chủ nghĩa xã hội. Thì như vậy, để thực hiện được cái việc mà không để cho tài sản nó dồn lại một vài người nhiều quá, mà nó cứ trải đều đều đều đều để tương đối người ta đừng sai biệt nhau, đừng có để những người lam lũ không nhà không cửa lăn lộn ở hè đường, trong khi có những người khác ở trên cái đỉnh cao của những ngôi nhà

[2:04:09]bao nhiêu tầng, sang trọng, hút một điếu thuốc là bằng người ta tiền người ta xài cả một năm, ăn một bữa cơm là người ta sống được mấy năm. Không để xã hội xảy ra bất công quá như vậy, thì ta phải có cái quan điểm chủ nghĩa xã hội. Và chủ nghĩa xã hội đó nó là một ước mơ, một lý tưởng, một đạo đức chứ nó không phải chính trị nữa. Đó, cái mà ta theo đuổi cái ước mơ đừng để cho ai giàu quá, nghèo quá mà người ta tương đối sống hạnh phúc với nhau vì người ta bằng bằng nhau. Nghĩa là anh có chiếc xe hơi, tôi không mua được xe hơi nhưng tôi được có chiếc xe máy, cũng được; chứ không phải anh có xe hơi còn tôi là dép cũng không có mà đi.

[2:04:46]Một xã hội như vậy nó quá xấu đi. Nên ta cần một xã hội đẹp hơn là cái sự giàu nghèo nó chênh lệch không nhiều lắm, phải có giàu nghèo chứ không bao giờ cào bằng được, nhưng mà sự giàu nghèo đó đừng chênh lệch quá để xã hội nó đẹp hơn, và đó là chủ nghĩa xã hội. Và cái tiêu đề mà Giáo hội ta theo đuổi là Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội này nó không phải là chính trị nữa mà nó là lý tưởng, đạo đức mà trách nhiệm xây dựng này nó không phải của cán bộ, đảng viên mà là của chính những tu sĩ ta. Khi ta bước đi trên mọi nẻo đường nhân thế này, khi ta đem lời của Phật ta tung rải giữa cuộc đời này,

[2:05:25]ta gieo vào tâm hồn của biết bao nhiêu con người này, cũng là ta xây dựng một xã hội mà không có sự cách biệt giàu nghèo. Cũng là ta góp phần xây dựng một xã hội mà người ta đồng đều với nhau hơn, gần gũi với nhau hơn, yêu thương nhau hơn. Đó chính là lý tưởng của tu sĩ, chứ nó không phải chính trị nữa. Mà nó cũng là quan điểm chính trị, hễ ai hỏi ta là gì, nói: "Dạ, Giáo hội tôi theo đuổi phương châm Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội". Nói: "Như vậy anh làm chính trị hả?". Nói: "Không, đây là đạo đức của chúng tôi, đạo đức của Phật giáo. Tôi nhìn cái vấn đề này bằng đạo đức của Phật giáo và nó vô tình trùng

[2:06:00]hợp với chính trị tôi không biết, nhưng nó là ước mơ của chúng tôi". Nói: "Như vậy anh làm cách nào mà để cho tài sản nó đồng đều? Anh đi cướp người giàu anh cho người nghèo hả?". Nói: "Không, đạo Phật không đi con đường đó. Đạo Phật chúng tôi không có đi chuyện mà đi cướp người giàu lấy của người nghèo, như vậy vi phạm pháp luật. Mà chúng tôi gì? Bằng lời dạy của chúng tôi, chúng tôi khuyên bảo những người mà họ có phước, họ làm ra nhiều tiền, họ hãy mạnh tay hơn để san sẻ với người nghèo. Thay vì họ cứ giữ riêng cho họ mà rồi khi chết chẳng mang được đồng nào theo, chỉ mang theo tội phước. Đạo lý của chúng tôi là như vậy.

[2:06:35]Đời vô thường, chết bỏ lại hết! Cả cái quần áo, vàng bạc cái gì cũng bỏ lại, chỉ có tội phước. Chúng tôi đem đạo lý nhân quả tôi khuyên mọi người, và chúng tôi đem lòng từ bi đạo Phật tôi dạy mọi người để mọi người mạnh tay hơn, mạnh tay hơn chứ không có ít ạ. Vì họ quá giàu mà họ chia chút chút cũng không phá được cái chênh lệch giàu nghèo, họ phải rất mạnh tay trong việc san sẻ tài sản của họ cho những người chung quanh. Và như vậy chúng tôi xây dựng một chủ nghĩa mà đồng đều hơn, tốt đẹp hơn, gần gũi hơn, tử tế hơn, yêu thương nhau hơn. Cái đó tôi gọi là chủ nghĩa xã hội".

[2:07:12]Và tôi cũng hết giờ.

[2:07:17]Quên, có một câu hỏi, thôi phải trả lời chút nha. "Cho con hỏi, làm thế nào để hoằng pháp thanh thiếu niên có hiệu quả, mô hình hoằng pháp cho thanh thiếu niên là gì?". Cái này là chúng tôi rất có kinh nghiệm, chùa Phật Quang chúng tôi rất có kinh nghiệm. Hè nào chúng tôi cũng mở một cái khóa học hè, tập trung khoảng 1 tháng rưỡi tới 2 tháng cho học sinh, từ lớp 6 tới lớp 11. Ừm, và cái mô hình này chúng tôi cũng đi nơi này nơi kia kêu gọi để mà thực hiện. Cho nên cái tâm lý để dạy cho thanh thiếu niên, cách hoằng pháp hiệu quả thanh thiếu niên chúng tôi khá có kinh nghiệm, nhưng mà không thể nói một vài lời, nên hẹn một dịp nào, nào khác.

[2:07:57]Còn cuốn sách này thôi tặng cho lớp trưởng nha, kỷ niệm. Sau này quý vị trở thành những giảng sư thành danh nha, đem những điều vàng ngọc gieo rắc vào tâm hồn của mọi người. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bái bạch trên Thượng tọa Thượng Chân Hạ Quang, Ủy viên Từ thiện Xã hội Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ngày hôm nay đáp lại lời thỉnh cầu của ban giám hiệu cũng như toàn thể tăng ni sinh lớp Cao cấp Giảng sư khóa V của chúng con, ngài trở về ban bố cho chúng con những kinh nghiệm trong cuộc sống hoằng dương chánh pháp, chỉ dạy cho chúng con phương pháp để diệt trừ bản

[2:08:46]ngã và có tầm nhìn sâu rộng hơn đối với thính chúng trong mọi thời đại. Chúng con nguyện khắc cốt ghi tâm, nhớ lại những lời dạy của ngài để trang bị cho mình một hành trang trên bước đường hoằng dương. Và trong giờ phút thiêng liêng, thanh tịnh này, chúng con cùng tất cả quý nam nữ Phật tử không biết nói sao hơn, chỉ cầu nguyện cho Thượng tọa pháp thể khinh an, tứ đại được điều hòa, lục căn thanh tịnh, mãi mãi là người chỉ đường cho hàng hậu học chúng con trên bước đường tu học. Và giờ phút này chúng con thành kính dâng lên ngài những đóa hoa tươi thắm và món quà khả kính, ngưỡng nguyện trên ngài từ bi hoan

[2:09:32]hỷ chứng minh, nạp thọ cho chúng con được trọn phần công đức. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[2:09:47]À, xin chúng ta cho một tràng vỗ tay thật lớn, thật nồng nhiệt nữa đi ạ! Và giờ đây chúng con, trong buổi pháp thoại, chúng con có cảm tác một bài thơ kính gửi đến ngài, đó là: Chân tâm liễu pháp truyền trao, Quang minh tỏ sáng muôn màu pháp âm, Thượng cầu giác tánh minh tâm, Tọa vị Phật Quang tùng lâm sáng ngời. A Di Đà Phật, kính gửi đến ngài.

[2:10:19]Theo sự chỉ dạy của Thượng tọa, cung thỉnh chư tôn đức Tăng và quý nam nữ Phật tử chúng ta hồi hướng. Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.

[2:10:37]Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.

[2:10:51]Pháp môn vô lượng thệ

[2:10:59]nguyện học.

[2:11:04]Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

[2:11:15]Chúng con xin cung thỉnh Thượng tọa hoan hỷ trở về phòng khách để dùng nước giải lao. Nam Mô A Di Đà Phật.