Transcript: Ái Ngữ - Tứ Nhiếp Pháp 02

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:30:33

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:08]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Bổn Sư Thích

[0:21]Ca Mâu Ni Phật. Chúng con thành kính cung thỉnh Thượng tọa cùng toàn thể đạo tràng đồng an tọa.

[0:41]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:59]Hôm nay chúng ta nghe tiếp cái đề tài Tứ Nhiếp Pháp, lần thứ hai là Ái Ngữ.

[1:10]Lần trước thì chúng ta học bài Bố Thí. Về tháng vừa rồi thầy với các Phật tử có bố thí thử chưa? Có bố thí không? Có người nào bố thí thử thì bữa nay hết tiền đi xe lại đây nên không có mặt, còn người có mặt ở đây chưa có bố thí thử.

[1:31]Hôm nay chúng ta học bài Ái Ngữ. Thật ra về đề tài về lời nói thì chúng tôi đã trình bày lác đác trong những năm qua cũng nhiều đề tài. Nên hôm nay trở lại cái đề tài cũng là vấn đề lời nói nên có thể có bị trùng lắp. Tuy nhiên cái đề tài về ái ngữ trong tứ nhiếp pháp vẫn có một cái nét riêng. Vì sao vậy? Vì hôm trước khi chúng ta học về những đề tài về lời nói thì chúng ta chỉ khai thác khía cạnh tu thân trong cái ngôn ngữ, còn hôm nay chúng ta trao đổi với nhau về đề tài ái ngữ thì đây là hạnh của Bồ tát, chứ không phải là một cái sự tu tập bình thường, đây là hạnh Bồ tát. Cho nên cái vấn đề ái ngữ này coi vậy chứ cũng khó không phải dễ.

[2:18]Buồn cười lắm, lúc mà chúng tôi soạn cái bài Ái Ngữ này để hôm nay đi ở đây giảng thì lúc mà khi ăn cơm chung với các đệ tử ở trong chùa, chúng tôi nói câu này. Nói: "À, thầy soạn bài Ái Ngữ thầy mới phát hiện ra là chùa mình từ thầy tới trò chưa có ai ái ngữ hết." Rồi có nhiều người không được chữ i mà bị chữ c nữa, tức là chữ ái mà nó có chữ i đó mà nhiều khi không có chữ i mà thành chữ c nữa. Cho nên người nào mà tu mà không khéo là thầy cho chữ c à. Nói là bây giờ gặp ai cái chúng tôi cũng hỏi: "Con là i hay c?" Cái nhiều người chưng hửng không hiểu gì hết á. Phải giải thích một hồi mới biết i,

[2:59]c là cái gì, không biết đây ai i ai c chùa mình. Ni sư trụ trì bảo đảm là i. Còn... quy mô nhỏ. Vì đây là hạnh Bồ tát cho nên chúng ta thấy là nó không có phải là cái lịch sự bình thường nữa, mà đây là cả một cái tâm huyết, cả một cái lý tưởng trong cái từng lời nói mà khi chúng ta giao tiếp với con người, với chúng sinh. Ở đây chúng ta dùng chữ chúng sinh chứ không còn riêng với con người. Cái đầu tiên á, cái định nghĩa về ái ngữ là thế này: tức là gieo duyên lành hay gọi là chiếm cảm tình bằng cái lời nói ngọt ngào, thương yêu, đó là ái ngữ trong tứ nhiếp pháp. Vì trong tứ nhiếp pháp là chúng ta hiểu điều

[3:47]là, tứ nhiếp pháp là bốn phương pháp để kết duyên lành, cũng là để chiếm cảm tình của chúng sinh. Đó là cái định nghĩa căn bản tứ nhiếp pháp. Lần trước thì chúng ta học qua cái cách là gieo duyên lành, chiếm cảm tình bằng cách bố thí. Và ngày hôm nay chúng ta học qua bài thứ hai là gieo duyên lành, chiếm cảm tình bằng cái lời nói ngọt ngào, thương yêu. Cái chữ ái là vậy đó, ái tức là thương yêu, ngọt ngào, nhã nhặn, tử tế, ân cần. Ở đây là Phật chỉ dùng cái chữ ái ngữ là vì thật ra cái ngôn từ ngày xưa cách qua mấy ngàn năm à không có đủ từ như bây giờ. Giờ nếu chúng ta thấy, thì chúng ta so sánh hai cuốn từ điển,

[4:37]một cuốn từ điển Pāli mỏng chút vầy, mỏng chút xíu, tờ giấy, khổ giấy thì nhỏ bằng phân nửa của cái tờ giấy A4, nhỏ mà mỏng chút vầy là tất cả mọi từ của Pāli cổ nằm trong đó hết. Thì chúng ta hiểu rằng hồi xưa từ không có nhiều. Giờ chúng ta so sánh một cuốn từ điển tiếng Anh nó dày cỡ này, từ điển mà Webster đó từ bên Mỹ họ xuất bản dày cỡ này, to thế này, to đùng thế này, là họ liệt kê được một trăm mấy chục ngàn từ, có những cái cuốn từ điển gần hai trăm ngàn từ, không biết họ lấy đâu ra. Còn cái cuốn từ điển tiếng Việt của Việt Nam mình thì cũng dày cỡ này, bự thế này. Dĩ nhiên là cái tiếng Anh họ phong phú,

[5:20]họ nhiều từ, bởi vì đó là sự đóng góp và sự phát sinh nhiều thời gian. Ở Việt Nam mình thì ít hơn một chút, ít hơn một chút, nhưng mà cái Pāli ngày xưa rất là ít. Cho nên vào cái thời đó mà Đức Phật dùng cái từ ái ngữ thì chúng ta phải hiểu cái nghĩa lớn hơn nhiều, chứ không phải là cái chữ ái ngữ chỉ là ái ngữ. Có nhiều cái từ vào cái thời xưa mà ngày hôm nay chúng ta học á, chúng ta phải suy luận thêm, chứ nếu mà chữ sao hiểu như vậy, chúng ta sẽ hiểu không hết ý của Phật. Đây là cái điểm chúng ta để ý một chút. Nhiều từ lắm, nhiều từ mà thời xưa nói vậy thời nay nói khác. Ví dụ trong kinh Nikāya, có một đoạn Đức Phật nói thế này, nói:

[6:01]"Khi Như Lai nhìn thấy một người nào còn hắc pháp ở trong tâm thì ta biết người này chưa thể giải thoát viên mãn." Cái chữ hắc pháp mà nếu mình dịch theo nguyên nghĩa nó chỉ là gì? Tức là cái pháp đen. Pháp đen, có cái thứ đen gì trỏng, pháp đây có nghĩa là nhiều lắm, hắc pháp này nghĩa là có mấy cái món đồ đen đen gì ở trong tâm. Nhưng mà giờ mình phải hiểu sao? Mình phải dịch làm sao? Cái tâm bất thiện, à cái tâm chưa có đạo đức, như vậy. Thành thử là cái từ ngôn ngữ xưa tới ngày nay nó có khoảng cách, mà khi chúng ta học lại, chúng ta phải biết hiểu vào tâm của Phật để biết được cái nghĩa lớn hơn cái ngôn ngữ mà nó chuyển tải.

[6:47]Ở đây chúng ta vừa nói tới một chữ rất tham vọng là: hiểu thẳng vào tâm của Phật. Mình là sao mà dám hiểu thẳng vào tâm của Phật? À nhưng mà thật ra đây không phải là một cái tham vọng hay một cái điều kiêu ngạo, mà đây là một sự thành tâm, một sự thành tâm. Có nhiều cái điều, nhiều cái ngôn ngữ mấy ngàn năm qua chúng ta học lại qua kinh, qua điển, thậm chí qua sách, qua vở không nói hết được cái ý Phật muốn dạy mình vào thời điểm đó, không hết nói hết. Và cái điều quan trọng là vì không hiểu hết ý của Phật nên chúng ta sẽ, sẽ thực hành không hết lời dạy của Phật rồi tu sai, rồi không đạt được sự giải thoát viên mãn như mà Phật mong muốn ở chúng ta.

[7:30]Nên cái điều mà chúng ta phải cần là hiểu cho hết ý của Phật, hiểu thẳng vào tâm của Phật. Mặc dầu dựa vào một chút ngôn ngữ, đó là một điểm tựa thôi để chúng ta hiểu hết vào tâm của Phật. Nó giống như là cái hình ảnh một người mà họ tập võ công cao siêu. Chúng ta nói chuyện kiếm hiệp chút, là ví dụ họ đi qua sông thì họ phi thân, họ đạp trên mặt nước họ qua, nhưng mà bởi vì họ không đủ cái lực để mà dẫm trên mặt nước đi như một vị A-la-hán có thần thông, cho nên họ phải ném những cái cọng lau hay là những cái miếng gỗ lên trên mặt nước cho nó nó nổi bập bềnh, rồi họ nhảy lên trên miếng gỗ đó,

[8:12]họ làm điểm tựa để họ nhảy tiếp qua cái miếng gỗ thứ hai, nhảy tiếp qua miếng gỗ thứ ba, rồi nhảy tiếp đi lên trên bờ bên kia. Thì ở đây đó cái chỗ tựa rất là ít, mong manh, nhưng mà cái cú bật của họ thì rất là xa. Đó là cái người mà gọi là có nội công thâm hậu, có khinh công phi thường, là cái điểm tựa rất ít nhưng mà cú bật rất là xa. Nó cũng giống như là ở ngoài Bắc chúng ta đó, có một cái môn phái võ thuật vừa rồi họ có trình chiếu trên tivi, họ quay trực tiếp luôn, quay trực tiếp chứ không phải là cắt xén làm kỹ xảo, là nơi cái sông Đuống á, dòng dòng sông chảy chậm thì những người võ sư đó họ trải những tấm chiếu lên trên đó,

[8:51]trải những tấm cót lên trên đó, họ trải từ bên đây sông qua bên kia sông, rồi một cái người võ sư họ hít hơi thở, họ vận khí thế nào á, họ nhảy xuống họ chạy băng băng băng băng từ trên những mảnh chiếu, những tấm cót, chạy một hơi băng qua bên kia sông luôn. À nếu như mình thì mình vừa nhảy xuống mình rớt lọt thỏm chìm luôn, mình lôi cả mền chiếu cót chìm xuống sông luôn, nhưng mà họ chạy họ chỉ giẫm nhẹ giẫm nhẹ thôi, và cái camera của truyền hình họ quay bám sát bám sát theo từng bước chân của họ, không sao hết. Nên Việt Nam mình vẫn còn có người làm được cái khinh công chạy qua mặt nước, chạy qua bờ sông.

[9:21]Tức là chúng ta thấy họ cần điểm tựa rất ít nhưng mà cái cú bật đi rất xa. Thì ngày hôm nay chúng ta học kinh của Phật cũng vậy, cũng với cái trí tuệ lớn như vậy, nghĩa là cái điểm dựa của chúng ta vào cái ngôn ngữ rất ít nhưng mà điều chúng ta hiểu, hiểu rất nhiều, rất rộng, rất lớn vào cái tâm mà Phật muốn nói, những giáo lý mà Phật muốn dạy, mặc dù ngôn từ mà Phật để lại cho hậu thế rất là hạn chế. Đây là cái bản lĩnh của người đệ tử Phật mà học Phật ngày hôm nay. Chúng ta học cái bài Ái Ngữ này chúng tôi nhắc sơ điểm đó một chút, nghĩa là người đệ tử Phật ngày hôm nay phải có một cái khí công,

[10:03]khinh công, nội công phi thường giống như người mà đã đi qua sông. Họ đã dựa vào rất ít nhưng mà cú bật đi rất là xa. Chúng ta cũng vậy, dựa vào vài ngôn từ rất sơ sài của cái Ấn Độ cổ nhưng chúng ta nhảy rất xa, bật rất xa vào trong cái biển trí tuệ của Phật, vào trong cái tâm ý mà Phật muốn truyền tải đạo lý cho chúng ta. Cũng vậy, cái chữ ái ngữ Phật dùng rất đơn giản nhưng mà chúng ta cũng phải nhảy bật vào trong cái đại dương trí tuệ của Phật để mà tìm hiểu như thế nào. Thì ở đây, chúng ta thấy trong cái bài học thứ nhất là bố thí để gieo duyên lành, để chiếm cảm tình thì chúng ta phải tốn tiền, đúng không? Phải tốn tiền.

[10:48]Có ai bố thí mà không tốn tiền không? Cái bố thí mà không tốn tiền? Coi có ai người ta gần như chưa nghĩ ra, nhưng đại khái là hễ cứ bố thí là móc tiền. Rồi có người mới nói thế này, nói thưa Thầy là bố thí là khi mình làm phước thì mình có phước, nhưng mà như vậy tại sao mình bố thí mình hao tiền? Nói thì bố thí phải hao tiền cái đã chứ muốn có phước phải hao, chứ làm sao mà có phước không hao được? Thì mọi chuyện đều như vậy hết, khi chúng ta làm một điều phước luôn luôn phải hao tốn. Đó là nguyên tắc. À phải hao tốn, chứ không thể mà không có hao tốn mà làm được việc phước. Tuy nhiên, qua cái bài thứ hai này rất là lạ,

[11:27]không tốn tiền mà vẫn tạo được phước, mà vẫn kết được duyên lành với chúng sinh, mà vẫn chiếm được cảm tình của chúng sinh. Nên cái này thuộc lòng bản lĩnh, mà có điều rất là lạ là ông bà mình cũng khám phá điều này rồi. Hồi xưa Phật nói cách đây 2500 mấy năm thì ông bà mình cũng nói mà không biết nói từ năm nào. À ông bà mình nói là từ khi mà có thơ lục bát thì ông bà mình cũng đã đã nói rồi. Ai nhớ? Ai nói nhớ? Đó, chúng ta thông minh, trí tuệ như vậy chứ đâu có dễ, không không? Lời nói không mất tiền mua, không tốn ngàn nào, lựa lời mà nói cho, cho vừa lòng nhau. Tuyệt vời, vỗ tay hoan hô những người đó.

[12:10]Thì ở đây này, cái hạnh thứ hai trong Tứ Nhiếp Pháp thì lại hoàn toàn không tốn tiền. Nhưng mà qua tới cái mà thứ ba, thứ tư là khác nha. Kì tới chúng ta học cái mà Lợi Hành, Đồng Sự thì tốn công, tốn tâm lực rất nhiều trong cái Lợi Hành, Đồng Sự. Bây giờ chữ ái ngữ chúng ta hiểu rộng hơn là thế này: nó không còn phải là một lời nói nữa mà nó là thái độ giao tiếp. Mà thái độ giao tiếp nó có chữ ái, cho nên thêm cái tính từ là thái độ giao tiếp ân cần, từ ái, nhã nhặn, chứ không phải chỉ là lời nói. Nên ở đây chúng ta học bài ái ngữ nó không riêng là lời nói nữa mà toàn bộ cái ánh mắt, cử chỉ tay chân của mình, cái nhăn mày,

[12:50]nhăn mắt gì cũng thành cái ái ngữ trong Tứ Nhiếp Pháp để chiếm cảm tình người khác. Ví dụ như mình gặp ai thay vì mình nói, mình cười duyên cái coi chừng nó là ái ngữ, coi chừng ái ngữ. Và như vậy, ở đây thì chúng ta thấy một điều thế này: Tứ Nhiếp Pháp là cái cách làm việc của Bồ Tát, cho nên cái thái độ mà lịch sự, ân cần không ngờ lại là cái thái độ của Bồ Tát. Không ngờ là thái độ của Bồ Tát. Mà trong cõi người mình có không? Có không? Có, mình có sẵn. Tức là mình có nhiều cái phương pháp để giao tiếp với nhau một cách lịch sự, ân cần, khả ái, cõi người mình đã có rồi chứ không phải là không.

[13:33]Không phải là khi nào mà tu thành Bồ Tát mới làm được, mà con người cũng đã làm điều này rất là nhiều, và Bồ Tát chỉ là triển khai, nâng cao từ những điều con người đã có thôi, chứ không phải là cái gì xa xôi. Tuy nhiên, Bồ Tát mình có cái định hướng xa xôi hơn, sâu sắc hơn, độ lượng hơn, đẹp hơn và chân tình hơn. Chứ còn cái thái độ mà ân cần, lịch sự, nhã nhặn á thì loài người mình đã có, nhưng mà chỉ có khác là đôi khi chúng ta chỉ là bề ngoài, đôi khi chúng ta giả dối, đôi khi chúng ta dùng để lừa đảo, và chúng ta không có cái định hướng cho một cái ngày mai xa xôi để mình giáo hóa, mình tiếp độ những chúng sinh đó về với Phật Pháp.

[14:16]Đôi khi mình thiếu cái định hướng đó, còn Bồ Tát có cái định hướng rất là rõ, là cười duyên với người nào một cái là trong đầu đã có ý đồ, mai mốt dụ người này theo đạo Phật. Ở đây mình đã có cái đó chưa? Nếu ai mà gặp mọi người, cười duyên một cái mà trong đầu đã có ý đồ sau này sẽ dụ người này đi quy y, thì người đó là Bồ Tát. Ở đây ai giơ tay lên? Không ai đưa tay. Còn khi mình cười duyên là chỉ để Tôi đi tu tôi không rành đâu. Thường thường ngoài đời mình cười duyên để làm cái gì ta? Mấy Thầy cười duyên để làm cái gì? Đi gặp người cười duyên làm cái gì?

[15:00]Nhiều khi chỉ để chào, phải không? Nhiều khi để chào, còn những mà nam nữ mới lớn mà cười duyên thì nguy hiểm vô cùng, nguy hiểm. Ở đây đó chúng ta thấy một điều thế này, điều rất là lạ nha. Chúng ta xem cái Tứ Nhiếp Pháp, bốn cái là: Bố Thí, Ái Ngữ, Lợi Hành, Đồng Sự. Bố thí là tốn nhiều tiền. Cái lợi hành á là cái mà mình dùng công sức để mình giúp người thì tốn công. Còn cái đồng sự á là mình hòa đồng với mọi người để tạo cái thân thiện thì cũng tốn công lắm. Ừ, mấy này đều tốn. Cái ái ngữ tương đối là cái ít tốn nhất. Nhưng mà Phật lại xếp cái ái ngữ đứng vào hàng thứ hai trong cái hiệu quả mà chiếm cảm tình của chúng sinh. Đây là điều rất là lạ.

[15:52]Chúng ta hãy suy nghiệm về điều này. Từ trí tuệ của Phật thì không phải đơn giản, không đơn giản. Là chúng ta so sánh nà, Bố Thí là tốn tiền, Phật cho hạng thứ nhất, tại đó là cách mà chiếm cảm tình người ta nhanh nhất, cứ lấy tiền cho thiên hạ thế nào người ta cũng thương mình. Rồi ví dụ như mình lấy cái sức lực mình đi mình cuốc đất giúp người ta, cũng chiếm cảm tình đó, nhưng mà Phật lại xếp vào hàng thứ ba. Còn cái Ái Ngữ là cái thái độ ân cần, lịch sự không tốn tiền, không tốn sức nhiều mà cái hiệu quả trong chiếm cảm tình của người khác, Phật lại đánh giá là hàng thứ hai. Đây là điều chúng ta hãy suy nghiệm điều suy nghiệm điều này.

[16:30]Có mấy lần vậy à chúng tôi đi vào nơi bán hàng này, hàng kia để mình mua đồ. À khi nào mua đồ thì khi vào gặp những người những nhân viên bán hàng, mà thường những nhân viên bán hàng người ta hay chọn là người người nữ, người nữ. Thì khi vào gặp cái cô đó cô tiếp xúc, cổ nói năng lịch sự à thưa Thầy một điều, thưa Thầy một điều, xưng con Thầy con cười tươi. Rồi mình lặng lẽ mình đứng mình quan sát nhìn cái cô đó cô bán hàng với những người khác, có những người rất là bực dọc, vô nhiều khi nói năng thô lỗ, cự nự, khiếu nại thì họ được học cái nghiệp vụ của họ, họ vẫn nói chuyện rất là ân cần, vẫn mềm mỏng, vẫn kiên nhẫn, vẫn thuyết phục.

[17:07]À mà chính như vậy khách đến rất là đông, giữ được cảm tình của khách, cho nên khách đến là đông. Cho nên cái người mà bán hàng thì họ không có bố thí, tại bố thí mà sập tiệm người ta, phải không? Người bán hàng thì không có lợi hành, đâu có thời giờ đâu mà đi ra mà đi cuốc đất hay là gánh vác gì giùm ta. Người bán hàng chỉ dùng một chiêu một, đó là ái ngữ, vậy mà giữ được cái tình cảm của khách hàng để khách hàng cứ tới lui mua hàng hoài. Và đây là điều làm chúng tôi cũng suy nghĩ, và chúng tôi thấy dường như là Đức Phật của chúng ta nói không có gì sai. Đức Phật đã xếp cái Ái Ngữ vào hàng thứ hai,

[17:40]không tốn tiền nhưng mà chiếm cảm tình rất là tốt, và đây là điều chúng ta phải học ngày hôm nay với nhau là vậy. Cái thái độ giao tiếp là cách gieo thiện duyên rất lớn chỉ sau bố thí vì hai điều. Điều thứ nhất là hằng ngày chúng ta đều phải tiếp xúc với mọi người, và khi tiếp xúc như vậy thì mình cứ xuất chiêu ái ngữ ra, thì trong ngày đó mình hành cái hạnh Bồ Tát không biết bao nhiêu lần, thấy không? Ít có ai thường chúng ta ngồi đây thì không có ai trốn trong thâm sơn cùng cốc hết, à chúng ta vẫn sống giữa đời và phải tiếp xúc với mọi người. Mà nếu mình có học được cái chiêu ái ngữ của Bồ Tát,

[18:15]thì trong suốt một ngày đó mình ái ngữ không biết với bao nhiêu con người, tức là mình thực hành cái hạnh Bồ Tát rất nhiều lần, và mình gieo được thiện duyên rất là lớn. Đó là cái cái hiệu quả mà vì vậy. Cái thứ hai là không tốn tiền cho nên cho mà không bao giờ sợ hết, cho mà không bao giờ sợ hết. Có những cái ví dụ mình muốn bố thí lớn, nhưng mà mình không có tiền nhiều vì đôi khi nó hết, mình không đủ sức làm, nhưng riêng cái ái ngữ này cho hoài không bao giờ hết. Có ai thử chưa? Nghĩa là suốt một ngày chúng ta cứ ân cần, tử tế, cười vui, nói năng lịch sự với con người, không bao giờ cùng tận hết.

[18:49]Chỉ trừ khi nào mà nó hết? Chỉ trừ khi nào mà không còn đủ sức cười mà nói năng tử tế với ai nữa, khi nào? Khi nào hết gạo ăn, đói quá mang đòn gánh. Chớ hễ còn gạo ăn thì vẫn còn có thể nở được nụ cười trên môi, phải không? Đó chừng nào mà không còn gạo ăn, đói lăn đùng ra nằm giẫy tê tê đó thì thôi chịu, chứ còn nần nặc. Đây là cái món quà vô tận mà chúng ta có thể tặng cho con người để gieo thiện duyên, nhưng mà đặc biệt là chúng ta có ý đồ ở trong đó. Mỗi một ánh mắt chúng ta nhìn con người với vẻ thương yêu, mỗi nụ cười chúng ta cười với vẻ thương yêu đều ẩn chứa đằng sau một cái tâm hạnh Bồ Tát rất lớn

[19:27]là mong cho những chúng sinh này đều thành tựu được Phật đạo. Cái điểm khác nhau giữa Bồ Tát và con người là chỗ này, là chỗ này. Nà bây giờ, chúng ta đi sâu vào một chút từ từ. Ái ngữ của Bồ Tát khác với kẻ lừa đảo ở chỗ nào? Là bởi vì cái sự ân cần, lịch sự của Bồ Tát nó phải xuất phát từ lòng thương yêu thật sự. Đây là một cái điều kiện bắt buộc. Nếu không có từ lòng thương yêu thật sự, thì người này chỉ là lịch sự, giả dối theo kiểu thế gian, hoặc thậm chí là người lừa đảo. Bởi vì những người mà họ chuyên nghiệp về lừa đảo họ ngọt lắm, ngọt lắm, ngọt ngọt trân và tuyệt vời. Ở đây có ai bị lừa đảo lần nào chưa?

[20:15]Có ai chưa? Có khi chúng ta cũng bị rồi chút chút, hoặc có khi bị lừa những cái vốn nặng mà mình cũng không biết. Lừa nó có nhiều trường hợp lừa, không phải là lừa tiền không. Thế còn lừa gì nữa? Ủa ai thông minh dữ kìa? Đó. Nói chung là lừa tiền hay lừa cái đó đều là cái miệng rất là rất là khéo, rất là ngọt, rất là khéo ngọt. Cho nên khi mà chúng ta gặp một người mà ngọt ngào, thì chúng ta hãy nhớ, không biết đây là Bồ Tát hay là kẻ lừa đảo. À mà nếu đây là kẻ lừa đảo, thì đây là kẻ lừa tiền hay là kẻ lừa cái chữ T kia? Nó phải nhớ. Nhớ, chúng ta hãy để ý điều đó một chút. Bởi vì cả hai đều ngọt ghê lắm.

[21:01]Nhớ như thế này là coi vậy chứ mỗi người chúng ta mình có cái trực giác. Một cái người mà họ ngọt ngào với cái tâm chân thật, mình coi vậy chứ mình cũng nhận ra. Còn cái người họ ngọt ngào mà chỉ đầu môi chót lưỡi, đôi khi mình cũng nhận ra. Có không? Nói chứ cũng cảm nhận được phải không? Cảm nhận. Tuy nhiên cũng có những người không nhận ra được để rồi bị lừa là vì sao? Vì sao? Vì vì nghiệp che tâm. Lúc đó cái nghiệp của họ bị lừa cho nên họ không nhận ra được điều đó, họ không nhận ra được cái người kia chỉ ngọt bên ngoài mà cái tâm giả dối. Như có trường hợp một cái cô gái dắt một người bạn trai về thăm

[21:43]gia đình, trình diện gia đình mình, thì cái người bạn trai này ngọt ngào lắm, ân cần, lịch sự, tử tế nói chuyện. Nhưng mà cái ông bố ổng mới nói riêng với con gái, nói: "Bố nhìn cái thằng này trông nó giống hạng lừa đảo, con biết lý lịch nó rõ không?" Nói: "Dạ không, rồi ảnh làm trưởng phòng trong công ty gì đó, con có tới chưa? Con chưa, con chưa tới nhưng mà nghe ảnh nói vậy." Đó, thêm điểm. Nghĩa là ông bố ổng ổng bắt đầu ổng cảm thấy ổng lo ngại, ổng có cái trực giác gì đó, nói thằng này nó ngọt nhưng mà tao thấy ghê ghê quá. Còn đứa con gái thì nó mê tít thò lò nó không thấy gì hết. Mà đúng là một năm sau thì chuyện nó xảy ra.

[22:18]Nên khi mà nghiệp che tâm thì có khi chúng ta không nhận ra được cái tâm của những người mà họ giả dối. Còn nếu chúng ta không bị nghiệp che tâm, chúng ta vẫn có cái trực giác để chúng ta nhận ra điều đó chứ không phải không. Hoặc bây giờ không phải người lừa đảo mà một người họ thành một cái chuyên nghiệp là họ ăn nói lịch sự, khéo léo mà chỉ là đầu môi chót lưỡi, mình cũng nhận ra được, mình cũng nhận ra được mà không phải là bồ tát. Rồi một điều thế này nữa, nên hai điều chúng ta so sánh nè: một cái người thương yêu chúng sinh mà để trong bụng không bày tỏ ra cũng không phải là hạnh bồ tát.

[22:55]Còn một người ngọt ngào mà không thật sự thương yêu thì người này là tiểu nhân gian dối, chúng ta để ý điều này, để ý điều này. À lặp lại nè: cái người thương yêu mà để trong bụng không phải hạnh bồ tát. Mà vì sao vậy? Là bởi vì Phật dạy chúng ta rất rõ ái ngữ. Phật dạy chúng ta ái ngữ, nghĩa là chúng ta thật lòng thương yêu chúng sinh thì đó là cái tâm bồ tát, nhưng chúng ta phải ái ngữ là phải bày tỏ cái thương yêu đó cho chúng sinh. Đó là hạnh bồ tát. Thương yêu là tâm bồ tát, ái ngữ là hạnh bồ tát, hai cái này phải có. Còn cái người nào mà im lặng, ít nói, ít bày tỏ, mỗi khi mình nói, nói:

[23:38]"Sao anh sống thầm lặng quá vậy, không thấy anh có vẻ từ bi?" thì người này trả lời là: "Tôi thương yêu chúng sinh mà tôi không thích bày tỏ." Thì không biết cái người đó có nói dối hay không, nhưng mình có thể kết luận trước hết người này không có hạnh bồ tát. Còn cái người mà nói tôi thương yêu, là tâm bồ tát thì mình chưa kết luận được, đó, nhưng tuy nhiên hạnh bồ tát là phải bày tỏ, không có che đậy chỗ này. Còn ngược lại, một người không thương yêu mà vẫn ngọt ngào thì đó là hạng tiểu nhân, không thật. Bây giờ chúng ta liệt kê thử một số điều để gọi coi ái ngữ là những cái gì, chúng ta liệt kê.

[24:19]Thì ái ngữ của bồ tát coi vậy chứ có nhiều cõi khác nhau, nhiều cõi khác nhau. Ví dụ như khi một vị bồ tát ở trên cõi trời thì vị bồ tát đó có cái cách sử dụng ái ngữ khác. Tại ở cõi trời cái phước người ta rất là lớn, cái tâm người ta rất là linh mẫn, à thì bồ tát sử dụng cái thái độ ân cần, lịch sự ở cái cách thức khác. Hoặc khi một vị bồ tát à đi xuống dưới địa ngục, à gặp những chúng sinh dưới địa ngục, thì chúng sinh địa ngục lúc đó là những người có tội, gây nhiều lỗi lầm, đang bị giam cầm, đang bị trừng phạt, thì bồ tát có cái cách để dùng ái ngữ, cái thái độ đối xử lịch sự khác. Còn riêng ở loài người thì có cái cái đặc trưng riêng của loài người và

[25:08]vì chúng ta ở loài người nên chúng ta nói chuyện loài người, chúng ta không đủ sức để biết được cái ái ngữ của cõi trời, cũng như chúng ta cũng không cần phải quan tâm đến cái ái ngữ ở cõi ở cõi địa ngục. À chúng ta quan tâm đến cái ái ngữ của cõi người để chúng ta thực hành. Bây giờ điều kiện thứ nhất của cái ái ngữ là giọng nói. Giọng nói. Là phải có cái giọng nói nghe ân cần, nghe thương yêu, nghe lễ độ, nghe tôn trọng. Chúng ta phải có cái giọng nói. Ví dụ thế này, là chúng ta mời cái người ăn cơm, à người ăn cơm, à chúng ta nói: "Ăn đi! Ăn đi!" Nghe như vậy thì cái giọng nói nghe không có không có ái ngữ.

[25:52]Mà phải nói làm sao? Nói làm sao? Đây ai ái ngữ nói giùm coi, tôi nói không được. Thầy nói giùm hả? Quý thầy lên biểu diễn chữ "Ăn đi" coi. Hả, ví dụ mình nói: "Ăn đi" là nghe nó không ái ngữ, mà mình nói: "Ăn đi!"

[26:09]Tức là mình nói nghe nó có thể là nó kéo nhựa nhựa làm sao đó không biết, đúng rồi đó, nhưng mà nghe nó dễ thương lắm cơ, đó nghe người ta muốn ăn liền. Đó là cái giọng nói. Mà phải tập như vậy. Thì tập được như vậy lâu ngày á mình có cái giọng nói rất là hay, là cái người nào mà thường hay nói với cái giọng nói ân cần, lễ độ, tôn trọng thì lâu ngày mình được cái quả báo là cái giọng nói trở thành bản chất của mình luôn. Còn cái người nào mà mình không có cái giọng nói bày tỏ được sự thương yêu, ân cần, nhã nhặn thì lâu ngày cái giọng nói nó thành bản chất của mình là nghe nó chát chúa, nghe nó cục mịch, nghe nó gay gắt.

[26:48]Thì đây là một cái thất bại lớn, một cái thất bại lớn, nó thành ra cái phá tướng. Bởi vì sao vậy? Bởi vì mấy ông thầy bói của chúng ta á trong nhiều cái để coi bói thì có nghe giọng nói để đoán tướng nữa chứ không phải không. Nghĩa là nghe giọng nói biết người này sẽ là người bần hàn, khổ sở, hay nghe giọng nói biết người này sẽ là một người sang quý. Mà làm sao là giọng nói bần hàn? Bởi vì giọng nói nghe nó khô khan, cục mịch, không tình cảm. Chứng tỏ người này nhiều kiếp không thương ai, cho nên đời này hiện ra cái giọng nói không có tình cảm thì bảo đảm đời trước không thương ai, đời này chẳng ai thương mình, giúp mình, sẽ nghèo.

[27:26]Đó là kết luận nhân quả. Còn người nào có cái giọng nói khả ái, dễ thương, chứng tỏ rằng người này nhiều kiếp thương yêu người khác, cho nên đời này tự nhiên sẽ được nhiều người thương yêu, giúp đỡ và sẽ giàu sang. Cho nên vì vậy ở đây chúng ta muốn mà thầy bói bói chúng ta giàu, chúng ta phải phải tập giọng nói nha, dễ thương. Mà cái quan trọng là mình phải tập nói với nhau. Cũng hai cái chữ: "Ăn đi" à hoặc là người khi người ta vào tới nhà mình, mình mời người ta ngồi, thì mình cũng kéo ghế, mình nói: "Ngồi đi!" Đó, nói câu đó người ta muốn đứng đó luôn, không ai muốn ngồi nữa. Còn nếu mình kéo ghế ra cũng hai chữ: "Ngồi đi", nhưng mình nói nhẹ nhàng.

[28:10]Vì mỗi lần mình biểu diễn hay mắc cỡ đó. Không biết mình nói "Ngồi đi", đại khái sao không ra nữa, quý thầy đây chắc rành hơn, không biết sao, lên biểu diễn. Đại khái vậy, bữa nào phải luyện lại, biểu diễn lại chứ chưa có tập, nói này chưa, nhất là những người nào mà có hát cải lương, đờn ca tài tử đồ đó, mấy người đó nói chữ đó chắc là dễ thương, hồi nãy mình có nghe. Rồi cái thứ nhất là giọng nói. Cái thứ hai là những cái từ mình dùng ở trong nói. Cái từ là nhiều khi thêm chữ hai ba chữ nhưng bắt đầu nó thành ái ngữ mà thiếu một hai chữ cái nó thành ra không có ái ngữ. Ví dụ bây giờ cũng mời người ăn hồi nãy nè.

[28:50]Là ví dụ như mình kêu là đứa bé lại cái đưa cái bánh kêu: "Ăn đi!", nghe không ái ngữ, mà nếu thêm chữ cái ái ngữ liền. Chữ gì? "Con", sao có người giỏi vậy ta? Đó, mình kêu: "Ăn đi con!", thêm chữ ái ngữ. Ví dụ như là ví dụ mình gọi một đứa nào đó, đứa cháu, mình kêu: "Cháu!" không ái ngữ, mình thêm chữ cái ái ngữ, chữ gì?

[29:15]"Cháu à", thêm chữ "à" vô. Có không? Ái ngữ liền. Mà thường cái từ này người miền Bắc hay dùng, người miền Nam mình ít dùng. Miền Nam có không ta? Sóc Trăng này có không ta? Có phải không? "Cháu à", đó nghe ái ngữ liền thấy không? Ừ, hoặc thì như là mình gặp quý thầy mình kêu: "Thầy!", nghe nó không ái ngữ, phải có giọng nói hay, còn "thầy" không nghe không ái ngữ mà phải cái gì mới ái ngữ? "Thầy ơi!", nghe ái ngữ liền, thêm chữ vô cái ái ngữ liền, đó. Hoặc là có một cái chữ mà nghe ái ngữ lắm, nó có chữ này, ví dụ thế này: à khi mình gặp người bạn, khi chia tay nhau thì mình nói cái lời thế này, nói là:

[29:56]"Cho tôi gửi lời thăm ba mẹ anh!" À: "Cho tôi gửi lời thăm ba mẹ anh!" Thì câu đó nghe chưa ái ngữ, mà thêm chữ là ái ngữ liền, chữ nào? "Nhé"? "Nhé" hả? Thông minh vậy ta, kỳ ta. Ồ, mấy thầy Sóc Trăng này đúng là thầy ơi thật là hay. Đúng vậy, thêm chữ "nhé" nè: "Cho tôi gửi lời thăm ba mẹ anh nhé!", nghe ái ngữ liền. Đó, mấy thầy hay ghê chưa, cực kỳ thông minh đó. Đó là những cái đó là cái nguyên tắc thứ hai. Nguyên tắc thứ hai là khéo thêm một vài từ cần thiết thì nó tạo thành ái ngữ. Thay vì chúng ta phải kéo nhựa nhựa thì chúng ta không cần kéo nhựa, chúng ta dùng vài cái từ, những cái phụ từ để nó thay cho cái chữ kéo nhựa nhựa.

[30:41]Ví dụ như chữ nãy chúng ta: "Ăn đi", chúng ta phải nói nhựa nhựa nghe mới ái ngữ, bây giờ mình chỉ thêm chữ "con", thấy không, vậy đó. Rồi cái nguyên tắc thứ ba, cái micro này bữa nay nó không có ái ngữ luôn á, nói thiệt. Cái nguyên tắc thứ ba của ái ngữ á là kêu đến cái đối tượng chứ đừng có nói trổng. Ừ. Nghĩa là nói chuyện phải kêu tới cái đối tượng đó, chứ đừng có nói trổng. Ví dụ thế này, là muốn gọi một người nào đến, thấy đằng kia, mình kêu: "Tới đây! Tới đây!" là trong cái đó mình nói trổng, không có kêu đến cái người mà mình muốn kêu, thì mình phải thêm cái chữ vô. Ví dụ cái người đó là mình gọi thường gọi bằng chị, thì mình nói nè: "Chị!

[31:23]Chị đến đây!", thêm chữ vô, thì nó thành ái ngữ, tức là có gọi đến cái người đó. Cả ngay đứa bé cũng vậy, nhiều khi mình nói: "Tới đây! Tới đây!" cũng không ái ngữ, mà thêm chữ là: "Con tới đây!", có ái ngữ liền, tức là gọi đến cái đối tượng. Ừ, tắt phía ngoài. Rồi ví dụ như mình đi trên đường, mình muốn hỏi điều gì đó, mình chợt mình đi ngang qua một cái người mình mới hỏi người ta là: "Có thấy thằng nhỏ mặc áo xanh đi qua đây không?" Đó là câu hỏi hỏi trổng, mình không có gọi đến cái người mà mình hỏi, thành thử không ái ngữ. Mà mình phải gọi đến, mình phải hỏi vậy nè: à "Thưa bác," "thưa anh," "anh có thấy đứa bé vừa đi ngang qua đây không?" Đó,

[32:00]thêm, tức là mình gọi đến cái đối tượng người ta, thì thành ra ái ngữ. Cái nguyên tắc này dễ biết phải không? Đó, cũng là dễ biết chứ không phải không. Nguyên tắc thứ tư nữa của ái ngữ nó là thế này: là mình phải chú ý đến ưu điểm để khen ngợi và khuyến khích. Nhớ luôn luôn như vậy. Trong cái nguyên tắc của ái ngữ thì cái điều mà khen ngợi ưu điểm là ưu tiên số một, là điều quan trọng số một. Khi mình gặp ai tiếp xúc nói chuyện thì xin nhớ một điều: ráng tìm cho ra ưu điểm của người ngồi trước mặt mình, dù mình đã quen lâu hay mới quen. Quen lâu rồi thì càng dễ tìm ra ưu điểm. Mà nhớ là suốt năm suốt tháng cứ tìm ưu điểm con người

[32:41]để khi nói chuyện mình có thể sử dụng ái ngữ được. Chớ còn quanh năm suốt tháng mà cứ để ý rình rập lỗi người ta không thì không nói được ái ngữ. Nhớ như vậy. Còn cái người mà mình mới gặp, mình mới gặp lần đầu mình không biết nhiều, nhưng mà theo nguyên tắc của ái ngữ, mình vẫn tìm cách thấy được ưu điểm của người đó để khi nói chuyện phải khen. Khi nói chuyện phải khen. Thường thường á là mỗi người sống trên đời với mình hay có cái ưu điểm mình biết mà nhiều khi người ngoài không biết. Cái người đó họ tự biết họ có ưu điểm đó, mà nếu ai lôi đúng ưu điểm ra mà khen thì lập tức cái người khen trở thành tri kỷ liền, trở thành tri kỷ liền.

[33:19]Ừm như có một lần vậy, chúng tôi gặp cái anh đó, anh có mái tóc rất là đẹp, mái tóc nó gợn cong tự nhiên chứ không phải do uốn, mà coi nó đẹp lắm, nó không có để tua dài như một nghệ sĩ phóng túng, vừa phải, cong gợn vừa đúng cách rất là đẹp. Mà nhìn cái cách anh chải thì mình cũng biết rằng anh cũng thấy được cái ưu điểm của anh. Nhưng mà khi nói chuyện thì người ta không để ý, thì chúng tôi khen liền, nói: "Anh có mái tóc thật là đẹp, ít có." Trời ơi từ đó ổng cưng mình không biết cái gì nữa. Thấy đây là một người tri kỷ á, chỉ có người này mới nhìn ra cái mái tóc tuyệt vời gần nhất thế giới của ổng mà. Đâu phải á.

[33:54]Cho nên vậy, nhưng mà mấy mấy thầy mình thì kẹt là không khen được mái tóc, rồi tới mấy thầy, mấy thầy phải tìm điểm khác. Ví dụ mấy thầy mà muốn khen về cái đầu tóc thì mình nhìn nhìn một lát, cái mình nói: "Thầy thầy cạo đầu khéo thiệt, bóng loáng." Đó, cũng là một cách. Nhiều khi mấy thầy cạo khéo mà không ai khen, cũng thiệt buồn. Hoặc là mình thấy một cái người nói chuyện mình họ có cái vẻ trầm tĩnh, mình lấy cái đó mình khen. Đó, những cái điều đó mình chưa được, nhưng mình thấy người nói chuyện họ trầm tĩnh, mình nói: "Thật tôi hiếm thấy ai có phong cách trầm tĩnh như anh, thật là đặc biệt." Hoặc là cái người đó họ khiêm

[34:26]tốn, khi họ nói chuyện họ nhỏ nhẹ, họ nhã nhặn, họ nhường nhịn thì mình khen liền, khen nói một người tu hành chỉ cần được cái khiêm tốn như anh thôi là cũng có một đời sống thánh thiện. Nói một câu khen như vậy thì phải nói đó là một cái ái ngữ làm cho mình kết duyên lành với người đó liền. Hoặc là cái người mà nhất là những người mà đẹp trai dễ khen vô cùng, vì người đẹp trai một ngày họ phải soi gương họ ba bốn lần, họ biết họ đẹp. Mà sao không chịu khen? Rất là dễ giận. Giờ mình cứ khen, gặp cứ khen. Phải không? Ví dụ như mình gặp quý cô mình khen: "Nay sao thấy quý cô đẹp trai quá?" cũng tốt, không sao hết trơn.

[35:04]Người nào vậy. Hoặc là người tài giỏi, mình khen cái tài của người ta. Khen cái tài của người ta là dễ nhất, bởi vì cái người có tài là họ phải qua nhiều năm tháng phấn đấu dữ lắm mới thành tựu được tài năng. Nên những cái điều đó khen rất là xứng đáng. Là mình khen mình cũng chân thành mà người ta cũng mát lòng mát bụng. Ha vân vân, có nhiều điều để khen. Chỉ có một điều trong cái nhân quả đó thì thế này: khen ngợi có cái tác dụng là khuyến khích người ta phát huy cái ưu điểm, nhưng cũng có thể làm kích thích cái sự kiêu mạn. Ha đây là điều chúng ta cẩn thận một chút khi chúng ta khen. Mình hà tiện lời khen quá thì mình mất cái ái ngữ,

[35:43]nhưng mình rộng rãi lời khen quá có khi làm người ta kiêu mạn. Đây là điều chúng ta cẩn thận. Nên có nhiều người mà họ thành công lớn rồi họ sụp đổ chỉ bởi vì những người chung quanh khen họ nhiều quá, khen họ nhiều quá. Đó cho nên mà cái người mà được khen phải tỉnh táo mà cái người sử dụng lời khen cũng phải cẩn thận, mặc dù khen ngợi là một trong những nguyên tắc của ái ngữ. Cái sửa lỗi cũng là cái công đức lớn nhưng mà dễ mất lòng lắm. Đây điều chúng ta thấy thế này: là vì chơi với nhau chân tình thì buộc lòng phải góp ý về sửa lỗi để cái người bạn của mình tiến bộ, đệ tử của mình tiến bộ, người thân của mình được tiến bộ.

[36:24]Nhưng có một điều là khi mình góp ý sửa lỗi luôn luôn tự ái, luôn luôn mất lòng. Ngay cả những người bình tĩnh nhất tự nhiên họ cũng có cái khó chịu tiềm tàng. Mặc dầu họ biết mình nói đúng nhưng vẫn có cái khó chịu tiềm tàng. Nên vì vậy, trên cái nguyên tắc của ái ngữ là chúng ta muốn nói góp ý một điều lỗi thì chúng ta trước đó chúng ta phải khen 10 cái điều tốt. Phải khen 10 cái ưu điểm, khen 10 lần rồi mới được một lần góp ý sửa lỗi. Thấy mày. Ví dụ như ta thấy người nào đó một người nào đó ví dụ như là họ đi nhanh quá. À mình muốn nói họ đi chậm lại cho chõng rải một chút xíu, mà khi không mình cứ nói:

[37:05]"Anh đi nhanh quá coi kỳ." là từ đó họ tránh mình đi, mình mất cái hạnh Bồ Tát liền. Nên trước khi mà mình thấy cái nhược điểm họ rồi mình muốn góp ý thì mình phải la cà, nói chuyện nhiều lần mà mình đếm bữa nay mình khen ổng: "Cái đầu tóc đẹp", ghi sổ một lần. Rồi bữa sau: "Cái áo hôm nay may khéo ghê", hai lần. Đếm cho đủ 10 lần rồi tới lần thứ 11 mới nói: "Nhưng mà điều anh đi hơi nhanh quá. Anh đi chậm lại chút nữa thì tuyệt vời." Nói vậy, họ không giận. Nhớ như vậy. Nguyên tắc nó vậy. Và một cái nguyên tắc của ái ngữ nữa là những lời chúc, những lời chúc. Là những lời chúc chân tình, lúc gặp như lúc chia tay, vân vân, chúng ta đừng quên điều này.

[37:49]Thật ra người Việt Nam mình hơi bị hà tiện cái lời chúc. Ở các nước mà họ văn hóa hay văn minh cao họ không hà tiện lời chúc, chúng ta hay bị hà tiện lời chúc. Nên vì vậy bây giờ phải phải thay đổi lại. Ta để ý lại này chút, người Việt Nam mình hơi bị khô khan, nên mất cái hạnh Bồ Tát. Những lúc gặp gỡ nè chúng ta phải chúc nè, những lúc tạm biệt nè phải chúc nè, cuối bức thư phải chúc nè, những cái dịp lễ mà mình gửi thiệp với quà cho nhau phải chúc nè. Thì những cái gì cần phải chúc không? Chúng ta chúc cái gì? Chúc được cái gì? Thứ nhất là? Sức khỏe, đúng, đúng. Thứ hai là? Sức khỏe là thuộc về thân, rồi cái niềm vui thuộc về tâm ha.

[38:32]Chúc bạn luôn luôn được mọi điều an vui. Chúng ta dùng chữ an vì mình theo đạo Phật cái chữ an rất là quan trọng. Chứ còn chúc vui không á là nó xao động vì việc thế gian lắm, mình hãy chúc thêm chữ an vui. Hoặc là thêm chúc là chúc ông bà được nhiều may mắn, tạo được nhiều công đức ha. Ví dụ như gặp đứa bé đang học đang còn phải lo học thì nói: "Bác chúc cho cháu học giỏi." À: "Thầy chúc cho con được học giỏi, kỳ này được thi đậu.", vân vân. Mình gặp các cái người nữ Phật tử mà bắt đầu lớn tuổi dần dần thì mình nói chúc cho cô được trẻ mãi. Vậy là trúng tâm lý người ta liền. Hoặc là mình gặp tới những người mà mới lập gia đình thì

[39:10]mình chúc cho người ta là được gia đình hạnh phúc. Còn mình gặp những vị tôn túc thì mình chúc những câu là pháp thể pháp thể làm sao? Khinh an. Chúng sinh chúng sinh dị độ. Chúng sinh dị độ là dễ độ đó. Bởi vì sao? Bởi vì chúng sinh thật sự rất là khó độ, cứng đầu lắm không phải không. Cho nên phải chúc cho chúng sinh dị độ cho ngài bớt cực. Rồi tuệ đăng thì thường chiếu. Đó, đại khái những câu như vậy. Nó nhiều câu nữa. Đây là những cái câu mà thuộc về công thức cũng không hay lắm, lặp đi lặp lại nó sẽ nhàm. Lặp đi lặp lại sẽ nhàm. Nhưng mà lòng thành của mình thì tự nhiên mình sẽ sáng tạo ra nhiều câu chúc rất là hay.

[39:50]Và những cái điều chúc tốt đẹp trong cuộc sống này thì Phật dặn chúng ta là đừng bao giờ quên. Hãy nhớ như vậy. Đầu thư hay gặp nhau khi chia tay, chúng ta tập lại. Ví dụ bây giờ mình gặp nhau đi chùa cũng vậy, à đi chùa rồi lát khi chia tay nhau mỗi người đi về một đường là lát nữa là áp dụng liền ha. Mình sẽ chắp tay chào nhau và nói rằng: "Chúc cho bạn" Làm sao? Chúc cho bạn? Thôi nghĩ tới đó thôi bây giờ không có nói, không nói giùm. Nói giùm lát ra làm lại y chang kỳ lắm. Hả? Đó là tự mình nghĩ ra cái gì đó, à đó. Mình phải hoặc là mình soạn trước một trăm cái câu chúc, tức là mình móc từng câu ra cho người này.

[40:33]Câu thứ nhất cho người này, móc câu thứ hai cho người kia, câu thứ ba hết một trăm câu bắt đầu quay lại câu thứ nhất lại cho người vậy. Đó. Xui lắm rồi một người mới trùng hai câu với nhau. Nhưng mà khi mà lòng chúng ta có thương yêu tự nhiên mình bật ra được những lời chúc cảm động, chúc cảm động. Rồi đó là một cái nguyên tắc của ái ngữ là những lời chúc. Rồi chúng ta nhớ thế này nữa: trong cái nguyên tắc ái ngữ là đừng tiếc những lời nói thương yêu. Đừng tiếc những lời nói thương yêu mà rất là thật lòng. Những lời nói thương yêu ví dụ thế này. Ví dụ như quý thầy, quý cô ở trong chùa cái mình gặp người Phật tử đến

[41:13]chùa, đến chùa thăm, hỏi gì đó thì cái câu mình nói thế này là: "Thầy rất là vui khi con đến đây." Câu đó rất là thật lòng, không có nói dối. Nhưng mà câu đó thuộc về ái ngữ. Nhiều khi mình thấy người ta đến mình vui, quý thầy quý cô thấy Phật tử đến chùa vui không? Vui không? Vui không? Có thầy không nói, lẳng lặng lẽ ai biết được bụng buông. Quý cô thấy vui không? Vui phải không? Mà mình không chịu nói thì mất cái hạnh Bồ Tát. Phải nói. Ví dụ mình thấy người Phật tử đến, mình thật sự mình vui thì mình nói là: "Thầy rất là vui khi hôm nay con đến đây", nói câu rất chân tình. Chứ còn mà chúng ta nếu mà không thì mình còn cái câu nói này ví dụ như là:

[42:00]"Sự có mặt của quý vị hôm nay làm tăng thêm phần tốn kém của chùa chúng tôi, chúng tôi xin thành thật biết ơn quý vị" câu đó thầy không nên nói. Hoặc là trong khi nói chuyện, như nói người thế gian nói chuyện với nhau, cái bài hôm nay nói nghe cười riết à. Ví dụ mình nói với một người cháu nhỏ hơn mình, nhưng mình vẫn nói những câu ái ngữ thôi. Khi đang nói mình nói thế này: "Bác mong cháu mãi", tức là trông, cứ trông cháu đến thăm mãi là "Bác mong cháu mãi". Những cái câu nói nhẹ như vậy, chân tình như vậy, thương yêu như vậy không được quên. Ví dụ thế này, mình là mẹ, làm cha đối với con mình, khi con mình nó lớn lên,

[42:42]ví dụ năm nay nó 14, 15 tuổi hoặc là 16, 17 tuổi, quý Phật tử kiểm điểm lại coi có bao giờ mình nói câu này: "Mẹ thương con lắm", có nói chưa? Có không? Người nào có là người đó cực kỳ là hiếm á. Bình thường không nghe, không nghe. Lớn rồi cái thấy giống như là không cần bày tỏ nữa phải không? Hồi nhỏ thì bồng, nựng, hôn hít, rồi lúc nào cũng vẽ thương yêu. Con mình nó lớn từ từ từ từ từ rồi cái bỗng nhiên cũng lo đó, cũng thương á, cũng lo cho nó ăn học, lo tương lai sự sản, nhưng không bao giờ mở miệng nói rằng: "Ba thương con lắm", không bao giờ nói. Mấy ông có không? Never, không bao giờ. Mà đó không phải hạnh Bồ Tát.

[43:29]Bây giờ phải tập lại. Một lát nữa, khi chúng ta rời cái chùa Đại Giác thân yêu này, chúng ta về nhà, chúng ta gặp cái con của mình thì đầu tiên là những Phật tử nam phải nói trước: "Ba thương con lắm". Thì lúc đó ba con mình nó sẽ hơi trợn mắt nó dòm mình, nó không hiểu là hôm nay ba đi chùa về, một là ba bị tâm thần, hai là ba bỗng nhiên tuyệt vời hơn hơn bình thường. Nhưng mà từ từ nó sẽ thấy mình không phải tâm thần, rồi mới thật là đúng ba mình tuyệt vời chứ không phải tâm thần, khi mình nói vậy. Tại không bao giờ ba mình nói: "Ba thương con lắm" mà toàn: "Mày mua cho tao gói thuốc", ví dụ vậy.

[44:07]Bữa nay tự nhiên ông già ổng đi chùa về ổng trở giọng: "Ba yêu con lắm" thì nó nhưng mà phải tập nha, lát chiều về phải tập, tập cái gì và báo cáo, rồi báo cáo về đây kết quả cho Ni sư, để cho Ni sư thưởng. Hoặc là con cái cũng vậy, nhiều khi mình thương ba mẹ mình á nhưng mà không nói, mà chính cái không nói đó nó cũng mất cái ái ngữ của hạnh Bồ Tát. Và điều này là Phật cũng chê nữa, cho nên chúng ta phải tập nói là lâu lâu vậy nhiều khi là trước khi đi ngủ vậy là ba mẹ mình vào phòng chuẩn bị vào lên giường ngủ mình cũng nói: "Mẹ ngủ ngon nha, con thương mẹ lắm, con thương mẹ lắm". Một cái câu nói đó là nói với mẹ mình nhưng cũng là hạnh Bồ Tát, Bồ Tát.

[44:53]Tối nay về làm được không? Các Phật tử ở đây trẻ nè. Được không? Còn Phật tử già già thì "Ba mẹ thương con lắm", lát về tập cho thầy nha. Trừ những người không có con. Mắc cười lắm, đây là những nguyên tắc ái ngữ mà chúng ta phải tập, mà nhiều khi mình nghiêm khắc quá hoặc là cái môi trường văn hóa của mình nó không có là mình không quen nói những điều này. Khi mình nói mình thấy ngượng ngượng, nhưng ngày hôm nay bắt đầu phải tập lại để làm sao những cái người nào đó họ lạ, họ đến với đạo Phật họ thấy trong đạo Phật có một cái văn hóa gọi là ái ngữ một cách rất là chân tình. Khi họ vào cái chùa thì họ không còn thấy cái chùa có vẻ

[45:35]nó nó lạnh lùng nữa, mà vào gặp quý thầy, quý cô tiếp đón ân cần. Rồi ngay cả những người cư sĩ thôi, cũng một người cư sĩ đã đi chùa lâu năm, không tiếp xúc được với quý thầy, quý cô nhưng mà tiếp xúc với cái người cư sĩ cũng nghe những lời nói thương yêu. Ví dụ cái người cư sĩ đó thấy một người họ đi đến viếng chùa, thấy cái người này có vẻ lạ, nó lạ, mới nói là: "Thưa bạn, có phải bạn lần đầu đến đây không? Bạn có cần gì để tôi giúp? Muốn gặp ai hay muốn tìm hiểu kinh sách hay không? Tôi rất là vui khi bạn đặt chân đến ngôi chùa này". Đó, những cái câu nói ái ngữ như vậy làm cho người kia họ không hiểu

[46:12]nhiều về đạo Phật, nhưng mà họ thấy gặp những người của đạo. Cho nên vì vậy, khi chúng ta ái ngữ được với mọi người, chúng ta đang làm hạnh Bồ Tát, chúng ta đang phụ tiếp với quý thầy, quý cô trong việc giáo hóa chúng sinh. Và như vậy, công đức không nhỏ. Nhớ, khi hành cái ái ngữ không mất tiền mua, nhưng mà công đức không nhỏ, phước rất là lớn.

[46:36]Rồi những cái câu thế này: "Anh nhớ em quá", đừng nghĩ bậy nha, cái này anh trai nhớ em trai. Đó, một ví dụ anh trai với em trai nhiều khi gặp nhau khô khan lắm, nhưng sẽ tập. Nhiều khi mình là anh trai, nó là em trai, cũng: "Anh nhớ em quá, lâu ngày gặp lại", cũng cho nhau cái tình thương yêu như vậy. Hoặc là mình là một vị thầy trụ trì chùa, rồi một người đệ tử cư sĩ rồi đến chào mình để ra đi, nói: "Thưa thầy, con không ở Sóc Trăng nữa, kỳ này con đậu đại học, con phải về Sài Gòn con học". Thì quý thầy nói: "Tình thương của thầy sẽ theo con trên mọi nẻo đường". Những cái câu nói như vậy, cái câu nói này không phải nói sáo,

[47:13]nói rỗng, bởi vì đứa bé nó suốt thời gian nó tới lui với chùa, nó biết thầy rất là thương Phật tử, nên câu nói đó nó biết là thật và nó sẽ cảm động, và đúng là nó mang cái tình thương yêu đó đi lên trên mọi nẻo đường, dù xa quê hương. Được không? Quý thầy làm được không? Quý thầy làm được. Hoặc là mình gặp những người bạn của mình á, mình nói là: "Chúng tôi vẫn luôn nghĩ về bạn với cái tình cảm thấm thía nhất". Mấy câu nói như vậy mà mình nói thật lòng thì thành hạnh Bồ Tát, đừng nói giả. Mình nên mình phải tập thương yêu và cái đó là tập bày tỏ thương yêu, đó là Bồ Tát, nhớ như vậy. Còn ví dụ mình chưa tập thương yêu mà mình nói là:

[47:52]"Chúng tôi vẫn luôn luôn thương bạn" thì thành giả dối, thì không phải hạnh Bồ Tát. Cho nên trước khi mình có cái hạnh ái ngữ thì phải tập cái tâm từ bi hơi kỹ, hơi nhiều một chút. Cái nguyên tắc là như vậy. Một nguyên tắc nữa của ái ngữ đó là nên hỏi han, mỗi khi gặp nhau nên hỏi han. Cái hỏi han này nó giữ ở cái giới hạn là không tò mò vào đời tư người ta, nhưng mà để bày tỏ cái sự quan tâm của mình đến người khác. Ở trong cái chừng mực, mức độ thân tình á, đừng biến thành tò mò, nhưng mà vừa để bày tỏ mình quan tâm. Ví dụ gặp nhau, mình hỏi: "Sao, sức khỏe lúc này thế nào? Gia đình anh vẫn bình thường nha?

[48:37]Chị và các cháu vẫn vui?". Đó, những cái câu hỏi han là mình gặp một người nhưng mình hỏi đến những người chung quanh, điều đó chứng tỏ mình quan tâm. Nhưng mà đừng để hỏi quá thành tò mò. Ví dụ: "Sao, lúc này anh làm ở công ty nào? Một tháng anh lãnh lương được nhiêu? Rồi xài hết đủ không? Bao nhiêu? Hả?". Vậy là hỏi cái bắt đầu rồi là không phải là thành ái ngữ nữa, mà bắt đầu coi chừng nó thành chữ C. Khéo léo những điều đó một chút. Và mình nhớ những cái điều mà đặc biệt riêng thì càng hay. Ví dụ như mình gặp một người mà biết cái người này hay làm thơ, gặp nhau chào: "Anh khỏe không? Mấy năm nay anh có làm những bài thơ nào mới không,

[49:16]cho tôi xin với?", vậy, "Hoặc anh có xuất bản được một cái tập thơ nào không? Hay anh có vẽ thêm được một bức tranh nào hay không?", vân vân. Đó, đối với những người mà có cái gì đặc biệt á thì mình hỏi ngay đúng những điều đặc biệt của họ thì chứng tỏ là mình rất là quan tâm. Và điều này làm cho người ta rất là vui, hỏi han như vậy. Rồi ví dụ như là quý thầy, cô gặp nhau vậy thì hỏi về chùa chiền sao, chùa thầy đã có sửa sang gì thêm không, đệ tử lúc này đông không, và chúng sinh có dễ độ không, hỏi nhiều, vân vân, đó. Thì những cái điều mà mình hỏi han là chứng tỏ mình có quan tâm. Còn gặp nhau chào hỏi lơ mơ lơ thơ rồi thôi không hỏi gì thêm cũng là một cái dở.

[49:58]Nhưng mà nhớ, điều chỉnh volume vừa đủ, đừng hỏi nhiều quá. Hỏi nhiều quá người ta tưởng mình là công an điều tra gì nữa, hơi kẹt. Hỏi vừa đủ thôi, ừ, nha. Khi nói chuyện với nhau, hễ mà đồng quan điểm thì mình phải nhanh chóng chụp lấy cơ hội đó để mình bày tỏ sự quý trọng liền. À, nếu là đó, còn khi mà không đồng quan điểm thì mình có cái cách khác. Còn khi mà đồng quan điểm thì nhanh chóng là mình chụp lấy cơ hội liền. Ví dụ là khi mà nghe người ta nói điều gì đó vừa ý mình, ví dụ như có người nói rằng là bây giờ phải vận động Phật tử chúng ta làm gương trong cái việc mà giữ gìn đường phố sạch sẽ.

[50:41]À, tại vì thấy là cái ý thức người dân chưa cao, hay xả rác. Bây giờ mình nói hoài không được mệt quá, giờ vận động Phật tử, mỗi người Phật tử mình khi ra đường phải biết nhặt rác hay là tổ chức những ngày là Phật tử chùa Đại Giác đi nhặt rác trên đường để làm cái gương về phong trào bảo vệ đường phố. Mà mình cũng nghĩ như vậy, thế mình mới nói: "À, tôi rất vui mừng trước cái ý kiến của bạn." À, mình phải bày tỏ, phải có một câu đó vô liền. Chứ nghe xong rồi cái rồi cũng coi bình thường mà không có nói một cái câu để khen ngợi thì không phải là ái ngữ. Ái ngữ là phải bày tỏ sự vui mừng, sự quý trọng khi mà cái ý kiến giống ý kiến của mình.

[51:21]Ừm. Hoặc là khi mà mình bàn với nhau làm cái việc từ thiện là nên giúp người nào, nói bây giờ có ví dụ số tiền của những người Phật tử mình á chỉ có một cái số tiền nhất định là 20 triệu gom lại để làm từ thiện, mà có tới hai nơi hai nơi để làm. Thì trong đó mình cứ bàn với nhau không biết làm bên nào. Làm bên này bỏ bên kia thì không được. Một bên là những cái xóm người nghèo à xóm người nghèo, một bên kia là nhà cháy, ví dụ vậy, bàn qua bàn lại. Thì ví dụ như khi mà có cái người họ nói là nên giúp cho cái nhà cháy trước bởi vì cái người nghèo họ lây lất được, mình kiếm tháng sau mình có thể giúp được.

[52:06]Nhưng cái người cháy nhà mà bây giờ mình không giúp thì họ cực kỳ khổ, nên phải giúp hai, ba cái nhà mà họ họ họ họ bị cháy, vân vân. Mình thấy đồng ý kiến. Và khi họ phân tích qua lại rõ ràng, họ lý luận thì mình mới nói một câu là: "Cái điều bạn trình bày đã làm cho vấn đề trở nên vô cùng sáng tỏ." Đó là cái câu khen ngợi, khen ngợi khi mình thấy họ trình bày hay, đúng và đồng cái quan điểm với mình, nắm liền. Ừm. Hoặc là mình nói một câu là: "Thật là khó ai có thể phủ nhận cái điều bạn vừa nói được." Cái câu nói nó nhẹ nhưng mà là lời khen, lời khen cũng làm vui lòng người khác. Ừm. Nhưng mà nhớ mình đừng có nói câu này:

[52:44]Ví dụ như bạn nó làm từ thiện, cái người kia họ lý luận đủ cách hết để thôi dành cái số tiền từ thiện cho ba cái căn nhà bị cháy thì mình đừng nói câu này: "Tôi có nghĩ điều này trước khi bạn nói." Nói câu đó là dễ giận lắm á, mình thấy hơn người ta, đừng có nói như vậy. Mà chỉ nên nói là: "Điều của bạn thì không ai có thể phủ nhận được, nó làm cho vấn đề được sáng tỏ." Đó. Còn mình có nghĩ ra điều đó trước rồi thì cũng làm ơn giấu lại giùm nha. Nhớ điều này. Còn ví dụ như là trái quan điểm thì sao? Ví dụ như họ nói không không đúng như mình nghĩ thì mình cũng có cách khéo léo để giữ lại cái tình cảm.

[53:20]Có thể quan điểm thì móp rồi, nhưng mà tình cảm phải giữ lại bằng những câu nói khéo léo như thế này, ví dụ lại. Là ví dụ như là bây giờ chùa mình á chủ trương là đi trồng rừng. À, ví dụ chùa tổ chức là xin khu đất ở cái vùng nước mặn đi trồng cái rừng cây nước mặn đó, hoặc là bảo vệ sinh thái. Thì có người một người đứng lên họ phản đối, họ nói: "Trồng rừng đâu xa xôi, nó không thực tế. Thôi lấy tiền để lấy công sức của Phật tử để làm chuyện khác." Cái điều đó không đồng quan điểm với mình. Họ nói cũng hay lắm, thì mình có thể mình nói câu này: "À, có lẽ tôi chưa hiểu hết vấn đề mà bạn nói, nhưng bạn trình bày rất là lưu loát,

[54:00]khúc chiết." Câu đó không đồng ý gì hết trơn thấy không? Nhưng mà mình cũng khen một câu để giữ lại cái tình cảm được. Đó, vậy. Hoặc là ví dụ như là tổ chức cái lớp học tình thương. Ừm. Tổ chức mình tính là tổ chức cái lớp học tình thương cho những em mà không có cơ hội đến trường, nhà nghèo, mình tổ chức cái lớp, mình nhờ thầy cô giáo đến dạy, mình vận động đi trả lương cho cô giáo rồi vận động tiền mua vở, viết rồi vân vân, tạo điều kiện cho các em mà nghèo đến được học. Thì trong khi bàn cái vấn đề đó thì có người ý kiến này, có người ý kiến kia, có những người ý kiến không giống mình. Nhưng mà khi mà họ nói không giống mình, mình có thể nói câu này:

[54:41]"Là tuy quan điểm của tôi chưa giống với bạn, nhưng mà quan điểm của bạn đã soi sáng cho tôi rất nhiều." Đó. Hoặc là mình nói câu là: "Tôi sẽ cố gắng nghiên cứu điều bạn vừa trình bày." Đó. Hoặc là ví dụ như là khi mà bàn về vấn đề bệnh sida, ví dụ vậy, nói: "Bệnh sida hiện nay là đe dọa thế giới." Thì có người đứng lên họ nói: "Theo tôi, sida có thể dùng xi măng để chữa, gọn lẹ." Thì mình có thể mình nói câu này: "Rất thú vị khi nghe bạn trình bày, tôi sẽ xem xét thêm là đúng là xi măng có trị được sida hay không?" Ví dụ vậy. Thì những cái câu đó là hoàn toàn không có đồng ý gì với nhau hết trơn á, nhưng mà mình giữ lại được tình cảm,

[55:22]chứ không phải vì cái sự trái quan điểm mà mình tống cho vài câu mà nó xa nhau luôn. Ví dụ như người ta nói một câu không vừa ý mình cái mình nói: "Sao ngu quá!" rồi thôi là từ đây mãi mãi không thấy nhau nữa.

[55:39]Thường thường á, ái ngữ là mình phải nói gì đó. Nhưng mà có cái không nói mà cũng là ái ngữ, làm thinh mà cũng là ái ngữ, ai biết không? Cứ làm thinh thôi, vậy mà vẫn được xem là ái ngữ.

[55:56]Là biết lắng nghe, à, không ngờ cũng chiếm được cảm tình của người khác. Ví dụ khi người ta đang trình bày vấn đề, mình biết lắng nghe, bày tỏ, người ta chỉ thấy mình chăm chú thôi là người ta cũng vui lòng nữa. Nhưng mà tuy nhiên vì chúng ta là người đệ tử Phật nên lúc nào chúng ta cũng phải giữ chánh niệm, cho nên tuy lắng nghe mà tâm không có hoàn toàn chạy theo cái điều mình nghe, mà trong tâm vẫn thầm niệm Phật hay trong tâm vẫn thầm quán thân này là vô thường, vân vân. Đó, mặc dù mình vẫn chăm chú lắng nghe. Đó. Mình biết bày tỏ thái độ theo câu chuyện. Ví dụ lúc người ta nói chuyện đến cái lúc mà thú vị mình có nở nụ cười,

[56:40]lúc người ta khôi hài mình biết cười, lúc người ta nói chuyện thương tâm mình có bày tỏ cái thái độ thông cảm, chia sẻ, đó như vậy. Chứ không phải lắng nghe mở mắt trừng trừng nhìn người ta rồi người ta nói gì nói mình cứng khứ nét mặt mình như một tượng đá không nhúc nhích gì hết thì là là bể mánh, người ta biết người này giả bộ không có lắng nghe. Đó. Nên mình có theo dõi, vừa có theo dõi cái câu chuyện nhưng mà thật sự thì mình vẫn bí mật niệm Phật, vẫn bí mật là thấy thân này vô thường. Đó, vì mình là đệ tử Phật. Ừm. Cái cử chỉ mà lịch sự, lễ độ, ân cần cũng được gọi là ái ngữ. Đây gọi là cái văn hóa giao tiếp, văn hóa giao tiếp.

[57:19]À, thứ nhất là cái cử chỉ chào. Thì trong các dân tộc trên thế giới á mà cái dân tộc mà có cái chào mà kỹ nhất á, hình như là người Nhật. Kế đến là Ấn Độ. Người Ấn Độ thường là chắp tay ha, xá nhau. Rồi cái lối chào đó nó lan qua các nước Đông Á hết: Thái Lan, Campuchia, Lào, Miến Điện đều theo đó, và đạo Phật mình cũng chấp nhận cái lối chào đó vào trong đạo Phật luôn. Còn người Nhật thì họ xếp hai cái tay dọc theo thân hình ngay ngắn và họ cúi gập người xuống chào. Nghĩa là cái người mà càng đáng kính á thì cái mức độ gập người càng sát. Mà ngay cả ông giám đốc, ông giám đốc mà gặp mấy người

[57:58]công nhân ổng cũng gập người ổng chào như vậy. Cho nên nội cái mà gặp nhau mà cúi gập người chào là cái người Nhật họ đã tập được cái thể dục suốt cả ngày. Mà chính vì nhờ cái văn hóa đó mà không không biết có phải vì đó mà người Nhật họ giỏi quá chừng luôn, tinh tế, kỹ lưỡng trong việc bày tỏ cái sự tôn trọng người khác. Ừm. Còn người Âu Mỹ thì chào sao? "Hello!" Xong rồi quơ tay quơ chân. Còn người Việt Nam mình chào sao? Người Việt Nam mình? Này hỏi mấy người lớn lớn tuổi mới biết chứ người trẻ hết biết rồi. Người Việt Nam chào sao?

[58:40]Người Việt Nam? Ủa, quên hết rồi hả? Khoanh tay cúi đầu, ha? Nhưng mà ngày nay thì lớp trẻ hết khoanh tay cúi đầu nổi rồi phải không? Lớp trẻ bây giờ là không còn cái đó do gia đình dạy không kỹ, mất cái nề nếp. Từ từ dòng chung quanh mình không thấy ai khoanh tay cúi đầu, mình khoanh tay cúi đầu hơi kỳ. Bây giờ mình chào sao? Nhúc nhích cái đầu chút xíu, vậy là tử tế lắm rồi đó. Bây giờ là nhúc nhích cái đầu. À, vừa rồi chúng tôi có về một cái miền quê, chúng tôi gặp cái gia đình đó, thì cái người cha người mẹ dạy con rất là kỹ. Con lớn gì lớn, lớn tuổi nghĩa là con lớn tuổi già có chồng có vợ

[59:21]có con hết rồi, gặp khách vẫn phải khoanh tay cúi đầu chào. Dù năm nay cái người con ông đã 40 tuổi rồi, nhưng mà hễ gặp khách, cái người lớn là phải khoanh tay cúi đầu, bắt như vậy. Còn những đứa con nhỏ của ông thì khỏi nói, là lễ phép nhất cái làng đó luôn. Mà đúng là khiến sao có cái đức nên con cái học hành nên người hết. Mình không biết là những cái điều tốt nào mà gia đình đó làm, nhưng chỉ thấy cái nội cái chào thôi cũng làm cho gia đình đó có cái đức, nên con cháu nên người hết. Ví dụ như trong đó có một đứa quy y theo đạo Phật, ngoan ngoãn, lễ phép, đi học ở đâu thầy cô cũng thương, mà học cực kỳ giỏi, học xong đại học thì trường giữ

[1:00:00]lại làm giảng viên luôn, quá giỏi. Thì chúng tôi nghĩ đó cũng là cái đức của gia đình mà nhìn cách mà ông dạy cho con, ông lễ độ mình cũng nể giữa cái thời đại như vậy. Thì bây giờ là mình là Phật tử mình phải phục hồi điều này. Vừa dạy cho con mình ngoan cho nó có cái đạo đức, mà đồng thời cũng là cái ái ngữ của Bồ Tát, là tập lại cái chào. Hoặc là mình chào theo đạo Phật, mình chắp tay chào, cúi đầu, hoặc là khoanh tay cúi đầu rõ ràng, chứ không có được giơ tay hello, không được, hoặc gật gật cái đầu. Giờ phải tập lại. Rồi ngoài cái chào thì còn nhiều cái cử chỉ mà bày tỏ sự tôn trọng trong suốt thời gian tiếp xúc.

[1:00:40]Ví dụ như cái kéo ghế mời ngồi. Nghĩa là cái cách kéo ghế mời ngồi, mình khéo một chút thành ái ngữ, mà không khéo cái thành ra mất cái ái ngữ. Ở đây có cái ghế, mời quý thầy kéo thử là biết. Cũng cái kéo ghế mời ngồi nhưng mình kéo cái rát "Ngồi đi!" là xong ngay, thua liền. Nhưng mình kéo ân cần, ngồi toàn cái thân người mình từ trên xuống dưới mình bày tỏ sự tôn trọng, mời người ta ngồi rất ân cần. Nội cái đưa tay mời ngồi nó cũng đẹp nữa. Cũng đẹp. Thì đó cũng là ái ngữ. Quý thầy quý cô thì chắc là quý thầy cô mình thì khéo, có thể như vậy, nhưng quý Phật tử để ý, phải không? Nội cái mời ngồi, cái đưa tay ra nó cũng dịu dàng, đẹp đẽ, lịch sự.

[1:01:25]Mình có coi kịch chưa, khi người ta, diễn viên họ giở nón họ chào, thấy không? Họ giở nón ra, chào rồi cúi đầu xuống, rất là đẹp. Thì mình không đến nỗi như vậy nhưng mà một cái hoặc là mời mọc cũng đẹp, hoặc là mời dùng cơm, mời dùng nước, đưa khăn giấy, những cái ân cần đó cũng đều là ái ngữ hết. Mà trong cái ái ngữ có một cái nữa quan trọng là cái nụ cười. Cái nụ cười thân ái luôn luôn phải dễ dàng nở trên môi. Cái này rẻ tiền vô cùng nhưng mà quan trọng. Từ cái tâm thương yêu của mình thành cái nụ cười thương yêu con người. Nếu mà chúng ta thiếu nụ cười thì hoặc là chúng ta khô khan quá, hoặc chúng ta đang bận tâm lo lắng điều gì quá.

[1:02:10]Nhưng mà không được đóng kịch cười, vì nếu mình không có thương yêu mà mình cười xã giao thì từ từ nó thành cái giả dối, không được. Cho nên phải xuất phát từ lòng thương yêu và tập có cái nụ cười, đừng hà tiện nụ cười. Cái nụ cười trong tướng số cũng là một quý tướng. Cái người mà có nụ cười đẹp, chúng ta sẽ tin chắc một điều cuộc đời người đó sẽ gặp nhiều may mắn. Vì sao vậy? Bởi vì thường là khi thương ai chúng ta mới cười, và mình tích lũy cái điều đó từ nhiều kiếp thì kiếp này mình phải được hưởng phước, mình vừa được phước cái nụ cười đẹp mà vừa được phước là cuộc đời may mắn. Còn nếu mỗi lần mà nhe răng mình cười cái người ta rùng rợn á,

[1:03:02]lạnh xương sống hết thì cuộc đời mình sẽ gặp nhiều bất trắc. Cho nên vì vậy, kể từ ngày hôm nay, kể từ chiều nay là chúng ta về nhà soi gương và tập cười.

[1:03:16]Tháng sau gặp lại chúng ta sẽ thấy ai gặp nhau cũng cười, ngồi nghe Pháp cũng cười, nghe xong Pháp cũng cười, đi trám củi vô cũng cười, nghĩa là sau đó người ta sẽ mời bác sĩ tâm thần về đây luôn.

[1:03:31]Cười là khi nào thì mình cười? Mình định nghĩa thế này nè. Khi nào thì cười? Vui phải không? Đúng, khi vui khi vui mới cười. Mà khi gặp nhau mình cười tức nghĩa là mình muốn nói điều gì? Khi gặp anh tôi rất là vui, đó. Còn hễ gặp ai cái mình méo miệng cái, khi gặp anh tôi rất là là đau khổ, tức là tôi ghét nát. Cho nên còn mình gặp nhau mình cười tức là mình thương người ta, mình vui, thay vì mình nói câu thành lời là "Tôi rất vui khi gặp bạn", mình không nói mà mình chỉ cười, người ta cũng hiểu tương đương như vậy. Và vì vậy, cái nụ cười là để nói cái ý đó chứ không gì hết trơn á. Nói ý đó. Rồi có một cái nữa cũng bày tỏ cái tình thương yêu nữa là cái ánh mắt.

[1:04:20]Ánh mắt. Là cái ánh mắt thân ái. Cái này thì nó cũng là một ngôn ngữ, một là ngôn ngữ. Ngôn ngữ là thế này. Khi chúng ta thương yêu là có những lúc mà mình không có nói, ví dụ mình không nói được, ví dụ mình đang nói chuyện với những cái vị khách thì chợt có đứa bé bước vào nó chào, mình không nói chuyện được, không nói chuyện được. Mình đang nói chuyện với các bậc lớn thì mình chỉ quay ra mình mỉm cười và mình nhìn nó thôi. Nhưng trong cái nhìn đó mình gởi vào đó mình cho nó biết là à thầy rất thương con, thầy rất vui khi con đến đây, bằng cái ánh mắt thôi, là gởi qua đó tình thương yêu liền.

[1:04:56]Ánh mắt tự nhiên nó hiện ra cái lòng thương mến, đứa bé nó nhận ra liền. Và đó là một ngôn ngữ, ngôn ngữ của ánh mắt. Ở đây chúng ta thường hay sử dụng ngôn ngữ ánh mắt không? Có, phải không? Nhiều khi mình không bằng lòng ai điều gì thì ánh mắt mình gườm lên là nó cũng bày tỏ ra, đó là ngôn ngữ. Hoặc khi mình thương ai mình nhìn ánh mắt triều mến cũng là ngôn ngữ. Và ngôn ngữ này rất là hiệu quả, người ta nhìn người ta biết chứ không phải không. Và có những cái vị tôn túc, những vị hòa thượng tu tập từ bi nhiều đời hay sử dụng đôi mắt để ban rải tình thương yêu chúng sinh thì những vị đó mình đến mình gặp họ mình chới với liền. Mình gặp họ là sao?

[1:05:37]Họ nhìn mình một cái là mình chỉ quỳ xuống để đảnh lễ thôi. Ví dụ như trước đây ở Ấn Quang, Hòa thượng Thiện Hòa, Hòa thượng Thiện Hòa ngài được đôi mắt đó. Là ai đến với ngài là quỳ xuống đảnh lễ liền, tin liền, thương mến liền. Bởi vì cái biết sao ngài tu tập cái lòng từ bi nhiều đời cho nên nó ra vậy. Nên chúng ta phải tập như vậy và đó cũng là một ái ngữ. Đó cũng là một ái ngữ trong đó. Nãy giờ chúng ta nói về lời nói, cử chỉ, nụ cười, ánh mắt. Giờ chúng ta nói tới cái tâm. Tâm của ái ngữ là cái gì? Khi mình thương ai á, mình hay lo lắng cho người đó, mà khi lo lắng người đó, tự nhiên mình hay tìm hiểu thêm

[1:06:22]là người đó cần gì, cần gì, có cái gì khó khăn. Đó là logic, logic. Cho nên cái người mà thương yêu là trong tâm lúc nào cũng hay đặt cái câu hỏi là người kia cần gì? Nếu trong tâm mình không có câu hỏi đó thì biết rằng mình ít có thương yêu ai. Ví dụ như quý thầy quý cô ở chùa mà mình có lòng thương yêu Phật tử thì khi Phật tử mà đến chùa á, thì ngay cái mắt mình nhìn thấy Phật tử đến chùa ngoài cái nụ cười, ngoài cái ánh mắt, lúc này chưa nói chuyện kịp nha, nói chuyện thì mình sẽ có nhiều câu độc chiêu rồi không nói rồi, nghĩa là nội cái ánh mắt cái nụ cười để mình bày tỏ cái thương yêu thì trong tâm mình đã đặt nên câu hỏi liền:

[1:07:07]Người này đến đây giờ này có chuyện gì, đã ăn cơm chưa, đi đoạn đường xa hay gần, có mệt hay không? Một loạt câu hỏi khởi lên trong đầu liền. Vì nếu là một người Phật tử đến đây gần thì tự nhiên câu đó nó tan liền, nhưng mà nếu người đó đi từ xa đến thì bỗng nhiên mình ưng toan điều đó lo điều đó để giải quyết cho người ta. Ví dụ người ta mệt quá thì mời uống nước, sửa chỗ nghỉ ngơi thế nào vân vân, tức là trong tâm khởi lên cái đó liền. Như vậy chúng ta coi lại tâm mình. Khi mình gặp người thân quen mà lòng mình trơ trơ không thắc mắc gì về người ta hết, không cần biết người ta có cần gì hay không, biết người ta có cái khổ cái vui gì hay

[1:07:47]không hết, thì biết rằng mình chưa thương yêu ai. Thì phải coi lại cái tâm hồn của mình. Còn nếu mà khi gặp ai mình cũng luôn là tự hỏi người này có điều gì khó khăn chăng, đó, thì biết rằng mình có thương yêu, đó. Cái điều này nó nằm ở trong tâm, nó không ra bên ngoài, nhưng mà sau đó sẽ biến thành hành động. Tự nhiên mình có những cái ưu ái, những cái ân cần mà đúng cái điều người ta đang khổ sở, rất là hay. Tự nhiên mình nhìn một người đi đến thì bỗng nhiên cái mình cảm nhận là người này rất là khát, mình lật đật kêu làm nước trước liền. Không phải là cái mời nước thông thường nữa, mà kêu một ly nước thiệt đầy, thiệt to, thiệt mát.

[1:08:29]Vì biết người này đi một đường xa đến khát nước, nhìn vô tự nhiên mình hiểu được, vân vân. Tóm lại, ái ngữ là gì? Nãy giờ chúng ta nghe nói tùm lum hết, giờ rút lại một câu ái ngữ là để làm cái gì? Mục đích của ái ngữ là chiếm cảm tình. Đó là mục đích. Nhưng ái ngữ là gì?

[1:08:53]Đó nãy giờ mình nghe mình kể hết mọi điều rồi đó. Giờ mình định nghĩa lại ái ngữ là gì? Mặc dù biết mục tiêu của ái ngữ là gieo duyên lành, chiếm cảm tình với chúng sinh, để sau này hóa độ chúng sinh. Nhưng định nghĩa ái ngữ là gì? Hả? Lời nói dễ thương, chỉ một góc thôi. Vì không phải lời nói, ánh mắt, nụ cười, cử chỉ, đủ thứ hết.

[1:09:24]Đây, định nghĩa: "Tóm lại, ái ngữ là thông báo cho người ta biết mình thương yêu người ta." Đúng không? Bằng tất cả mọi phương tiện: lời nói, ánh mắt, nụ cười, cử chỉ, đúng không? Đồng ý không? Công nhận không? Đồng quan điểm không? Đó, vỗ tay cũng là một ái ngữ, vỗ tay cũng là một ái ngữ. Đó, vỗ tay cũng là một ái ngữ. Rằng, đó là để mình thương, ta thương nhau hết trơn á. Đó. Thay vì mình nói một câu đơn giản: "I love you", thay vì nói câu đơn giản đó, mình bằng nhiều cách khác mình nói: bằng ánh mắt, bằng nụ cười, bằng những lời hỏi han ân cần. Đó mình thông báo bằng nhiều phương pháp, kể cả cái câu:

[1:10:08]"I love you mommy", "Mẹ ơi, con yêu mẹ lắm". Thay vì mình nói câu đó, cũng là một phương pháp nhưng mà còn rất nhiều cách để mình nói rằng mình thương mẹ mình. Hoặc là một người Phật tử đến với chùa gặp quý thầy quý cô, thì thay vì gặp sư cô: "Sư cô, I love you!", thay vì thay vì nói câu đó, thì mình bằng nhiều cách khác: "Cô ơi, con yêu cô lắm", mình có thể là tặng bó hoa, tặng cái thiệp, tặng xấp vải hoặc nói những câu ân cần hỏi han. Như vậy tóm lại, ái ngữ là để thông báo cho người đó biết rằng mình thương yêu họ, ha, vậy. Nhưng mà không phải là gặp cái vỗ tay liền là nói thương yêu nha. Mặc dầu vỗ tay cũng là một ái ngữ,

[1:10:49]nhưng mà không phải vừa mới gặp nhau vỗ tay cái người ta không biết chuyện gì. Phàm phu á thì cần đủ cách như nãy giờ chúng ta nói, từ lời nói, giọng nói, cử chỉ để mình thông báo mình yêu thương con người, đó là cái cách bình thường. Còn Bồ Tát thì có khi chỉ im lặng thôi mình cũng nhận ra được rằng là các Ngài thương yêu mình. Bởi vì tiếc rằng chúng ta chưa gặp được một vị Bồ Tát trên đời, cho nên mình chưa có cái kinh nghiệm này. Một ngày nào đó hay một kiếp nào đó, hoặc có khi sau khi chúng ta chết, chúng ta về cái cõi trời, chúng ta gặp được nhiều vị Bồ Tát trên đó, chúng ta sẽ thấy một điều là có khi các Ngài không nói điều gì,

[1:11:32]không làm điều gì mà mình vẫn nhận ra được rằng các Ngài đang thương yêu mình tha thiết. Bồ Tát là vậy. Là vì sao vậy? Bởi vì tình thương yêu của các Ngài cực kỳ mạnh, nó toát từ trong tâm đi đi ra thẳng tràn tuôn ra bên ngoài, từ tâm của Ngài tràn vào tâm của mình, đánh vào tâm mình rất mạnh nên mình nhận ra liền. Có khi các Ngài chưa kịp nở nụ cười, mình đã biết rằng đây là người sẽ thương yêu mình. Nghĩa là có bao nhiêu điều lầm lỗi mình sẽ giấu hết mọi người nhưng mình sẽ không giấu người này vì mình biết người này thương yêu mình. Nên đó là điều, có nhiều điều chúng ta sai lầm, mình không thèm nói với ai hết mà mình chỉ quỳ xuống trước Phật,

[1:12:07]mình lặng lẽ sám hối thôi là vì mình tin Phật thương yêu mình. Mà mình tin thôi vì mình chưa gặp Phật thật, mình tin có bức tượng, mình tin, chứ nếu thật sự gặp Phật hoặc gặp một vị Bồ Tát, các Ngài chưa kịp nói, chưa kịp cười là mình đã nhận ra là mình tắm trong cái biển thương yêu của chư Phật, chư Bồ Tát liền. Đó cũng là một cái ái ngữ. Các Ngài đã thông báo được liền dù chưa cần qua lời nói, còn mình phải thông báo bằng rất nhiều cách, nhưng các Ngài im lặng nhìn mình là mình đã thấy được tình thương yêu liền. Mà mình cũng phải tu như vậy, mình cũng phải ráng mình tu tập như vậy, quán từ bi cho chín muồi

[1:12:43]để mà khi chúng sinh đến gặp mình, họ nhận ra được rằng mình thương yêu họ. Còn đệ tử Phật chúng ta, khi mà nói đệ tử Phật thì nói chung và chúng ta chia làm hai là xuất gia và tại gia, thì ưu tiên cho người xuất gia cái câu nói này: là thời gian trẻ ban đầu á thì chúng ta tập bày tỏ cái thương yêu bằng lời nói, bằng hành động và bằng tâm, mà tâm thì lúc đó chúng ta chưa có chín chắn lắm. Nhưng mà khi già rồi á thì chỉ bằng tâm thôi mà chúng sinh vẫn cảm nhận được thì mình tu hành một đời đó tương đối tốt. Nghĩa là một đời mình tu hành mà tốt á, cái đánh giá là lúc về già á là mình không nói nhiều, không làm nhiều mà những người Phật tử và những

[1:13:28]đệ tử tới lui họ vẫn nhận ra được là thầy mình rất thương mình là thành công. Một người tu được tới mức độ đó là đời tu đã tốt. Đó như vậy. Còn người cư sĩ cũng bắt chước theo gương hạnh của quý thầy quý cô là như vậy. Lúc còn trẻ, mình dùng nhiều cách, lời nói, cử chỉ để bày tỏ thương yêu chúng sinh, nhưng về già rồi, con cháu đông rồi, nhiều khi không nói, không làm mà con cháu vẫn nhận ra được mình thương yêu chúng là thành công, tu hành như vậy là thành công. Một điều quan trọng mà Phật dặn chúng ta nữa là phải ái ngữ kể cả với người vắng mặt. Nãy giờ chúng ta nói là chúng ta ái ngữ với cái người

[1:14:09]trước mặt, nhưng mà có khi cái người đó họ vắng mặt. Khi mình nói về họ, mình vẫn đủ thủ tục, đủ thủ tục để nói về cái người đó. Mà đối với cái người vắng mặt mà mình vẫn nói những cái lời nói ân cần thương yêu được thì đó là ái ngữ chân thật, đó là tình thương yêu chân thật. Còn cái người mà giả dối á, cái người trước mặt á thì mình ân cần, mà người vắng mặt thì mình thấy có vẻ coi thường thì đó là giả dối. Nhưng mà vì chúng ta chân thật cho nên chúng ta phải bày tỏ cái sự thương yêu ngay cả khi người đó vắng mặt. Khi mình đang nói chuyện với người trước mặt nhưng mình đề cập tới một người khác, mình vẫn nói với cái lòng thương yêu, ân cần, quý trọng, ha.

[1:14:53]Còn ví dụ như là mình gặp cái người bạn A nói chuyện rất là ân cần, rồi sau đó mình nói: "Anh có gặp anh B, anh phải nói rằng là tôi gửi lời thăm anh và chúc cho anh B được nhiều điều tốt đẹp." Đó, đó là mình ái ngữ cả với người vắng mặt, điều đó đừng quên, đừng quên. Khi mà cái hạnh ái ngữ chúng ta dày lên, vững chắc lên thì chúng ta ái ngữ cả với cầm thú và cây cỏ.

[1:15:24]Ngay cả những con vật nuôi của mình như chó, như mèo là mình nói chuyện với nó vẫn nói chuyện tử tế, thương yêu chứ không có coi thường. Dù đó là một con chó thôi nhưng mình vẫn nói chuyện thương yêu, mặc dầu có khi nó không hiểu, nhưng đừng tưởng nó không hiểu. Nó vẫn có cái trực giác, nó không biết mình nói gì nhưng mà nó nhận ra được cái tâm của mình và cái giọng nói của mình có thương yêu hay không. Và cũng thành cái duyên lành để kiếp sau khi nó trở lại làm người thì nó với mình có duyên lành để mà mình hướng dẫn nó tu tập. Và cả với cây cỏ. Cây cỏ thì không có tái sinh, không có gặp lại để mà độ

[1:16:02]nhau, nhưng mà cái tấm lòng của một người đệ tử Phật là thương yêu hết cả cây cỏ, thương yêu cả thiên nhiên. Một cọng lá, một cọng cỏ, cánh hoa, một cành cây, một gốc cây, một bóng cây xanh, một bụi, lùm rừng đều làm cho mình thương yêu được hết. Và mình có thể không nói với cây cỏ rằng: "Tao thương mày lắm" hay "Tôi thương bạn lắm" hay là vân vân, nhưng mà cái ân cần, cái chăm sóc, cái ánh mắt nhìn và cái tấm lòng của mình đối với cây cỏ cũng có thương yêu. Ai đã làm được điều này?

[1:16:38]Cho nên chúng ta thấy là nếu mình tu theo đạo Phật, suốt một đời mình thương yêu không đủ, suốt một đời thương không đủ. Mắt mình nhìn ở đâu cũng là những cái gì để mình thương yêu hết, từ con người, con thú, cây cỏ, trời xanh, mây trắng, tất cả đều làm chúng ta thương yêu được hết. Cái ngược lại của ái ngữ là sự nghiêm khắc. Mục đích của nghiêm khắc là để làm gì? Là để cho cái người dưới họ sợ, họ biết lỗi. Cho nên sự nghiêm khắc là hoàn toàn có tính giáo dục. Ví dụ như là mình có một người đệ tử, người đệ tử đó phạm cái lỗi, phạm có cái lỗi gì đó thì mình nghiêm khắc rầy là để cho người đệ tử biết rằng là họ đã sai, họ phải sợ.

[1:17:25]Nên cái mục đích của sự nghiêm khắc là để giáo dục. Cho nên vì vậy không được lạm dụng để ra oai. Có nhiều người khi nghiêm thì người chung quanh sợ, thấy người ta sợ mình thì thích, thích như vậy của mình có oai cho nên hay lúc nào cũng bày tỏ cái sự nghiêm khắc. Thì như vậy là lạm dụng và như vậy là kiêu ngạo, khinh người, mất ái ngữ, nó không nên. Và chúng ta nhớ một điều, nếu thiếu cái lòng từ bi thì sự nghiêm khắc sẽ trở thành cái sự khắc nghiệt, mà sự khắc nghiệt nó rất gần với sự ác độc. Mà có sự ác độc thì chúng ta rất dễ bị đọa. Cho nên do đó là nếu mà chúng ta cần cái sự sử dụng cái nghiêm khắc

[1:18:15]để răn dạy người dưới của mình, chúng ta phải cần có cái nền tảng, cái điều kiện trước đó là chúng ta đã yêu thương rất nhiều thì chúng ta mới được quyền rầy, chúng ta mới được quyền dạy. Còn nếu trước đó mình không có yêu thương nhiều mà mình dùng nghiêm khắc nhiều thì chúng ta bắt đầu đi sai cái hạnh của Bồ Tát, cái hạnh ái ngữ, chúng ta đang đi trở thành cái khắc nghiệt và đi dần vào cái cái ác độc. Chúng ta nhớ như vậy. Chúng ta có thể sẽ còn vài phút để ai nêu câu hỏi thì hỏi. Cái hạnh ái ngữ của Bồ Tát mà chúng ta nói với nhau ngày hôm nay có dễ làm không? Dễ không? Dễ không? Ai nói dễ vậy là giỏi hơn chúng tôi rồi đấy.

[1:18:59]Chúng tôi chưa làm được.

[1:19:03]Không đơn giản. Kiểm lại coi có không? Không đơn giản, phải không? Không đơn giản. Coi vậy chứ không đơn giản. Tức là bằng cái tấm lòng chân thật của mình, mà chúng ta có những câu nói khéo léo, ân cần để bày tỏ cái tình thương tới mọi người. Chúng ta có những cử chỉ, chúng ta có nụ cười, có những ánh mắt để bày tỏ tình thương yêu mọi người. Coi vậy chứ không dễ. Bởi vì sao? Bởi vì chúng ta thiếu một điều quan trọng là lòng từ bi. Lòng từ bi chúng ta chưa có dày, đây chính là trở ngại. Tuy nhiên, điều thế này: bởi vì đây là hạnh của Bồ Tát, mà đây là lời dạy của Phật, cho nên chúng ta phải rèn luyện.

[1:19:48]Chúng ta biết điều này, có khi một thời gian dài chúng ta không quan tâm. Chúng ta không quan tâm tới những cái cách thức lịch sự, giao tiếp. Chúng ta không quan tâm đến việc bày tỏ tình thương yêu với con người. Nhưng mà hôm nay học bài này, chúng ta nhớ đây là lời dạy của Phật. Mà lời dạy của Phật đối với chúng ta, nó là một mệnh lệnh. Xin nhớ, xin nhớ điều này. Xin nhớ điều này: lời dạy của Phật đối với chúng ta là một mệnh lệnh không thể không thi hành. Chúng ta đánh giá một người đệ tử Phật tu tập tốt hay không, ngoan hay không là ở chỗ này. Có người xem cái lời dạy của Phật là tự giác. Chúng ta làm hay không làm tùy mình, bởi vì đạo Phật nói là tự giác.

[1:20:32]Tu không tu tùy chúng sinh, đến hay không đến tùy chúng sinh, làm không làm tùy chúng sinh. Thì đó là những con người hạ căn. Nhưng đối với một người thiện căn sâu dày trong đạo Phật, thì mỗi lời dạy của Phật là một mệnh lệnh buộc chúng ta phải thi hành dù phải chết. Hãy nhớ điều đó. Và cũng như vậy, hạnh ái ngữ này là lời dạy của Phật. Và đã là lời dạy của Phật thì đối với chúng ta là một mệnh lệnh. Và đã là một mệnh lệnh phải thi hành thì chúng ta phải rèn luyện suốt cuộc đời của mình để tập cho chúng ta có được cái hạnh ái ngữ. Và tất cả mọi người, đệ tử Phật đều tập được cái hạnh ái ngữ này

[1:21:11]rồi thì nó biến thành một cái văn hóa mới trong đạo Phật. Và từ cái văn hóa mới trong đạo Phật này nó lan ra khắp cả cộng đồng bên ngoài con người. Nghĩa là khi một người họ đến với chùa, đến với đạo Phật, luôn luôn họ đón nhận được tình thương yêu, luôn luôn họ đón nhận được cái ái ngữ. Và họ sẽ dễ dàng kết duyên lành, quyến luyến, thương mến đạo Phật để tìm hiểu đạo Phật nhiều hơn và tu hành tinh tấn hơn. Đó là nhờ toàn bộ công lao của tất cả những người đệ tử Phật, vì những người đệ tử Phật đã biết xem lời dạy của Phật là một mệnh lệnh mà thực hành cái hạnh ái ngữ này. Và chúng ta cũng không quên là tu tập thiền định, bởi vì sao?

[1:21:51]Bởi vì nhờ có thiền định mà chúng ta giữ được cái tâm bình thản trước mọi biến động để chúng ta giữ được ái ngữ. Bởi vì ví dụ như là mình lúc nào mình cũng nói ân cần, nhã nhặn, mà lúc ai chọc mình giận quá cái mình hét lên cái mất ái ngữ. Nhưng mà nếu mình có thiền định, tâm mình bình an thì lúc người ta chọc mình vẫn không giận mà vẫn giữ được những lời nói ái ngữ. Cho nên thiền định và ái ngữ liên quan với nhau. Một điều cuối cùng chúng ta muốn nói với nhau nữa là nhờ cái hạnh ái ngữ này, con người sẽ thương yêu nhau hơn. Và chúc cho quý thầy, quý cô cũng như quý Phật tử sẽ thành tựu được hạnh ái ngữ để con người sẽ thương yêu nhau hơn.

[1:22:33]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Có ai hỏi gì không? Có ai hỏi gì không?

[1:22:43]Thôi khỏi hỏi ha, chúng ta chỉ nhìn nhau thương mến là được rồi. Nhớ ha. Xin chúc cho mọi người đều được an vui, đều được hạnh phúc ha. Tháng sau chúng ta gặp lại nhau hai ngày liên tiếp nha.

[1:22:59]Kính mời toàn thể đạo tràng cùng đứng lên. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch Thượng tọa, tuy không gian có thể thâu, Thượng tọa và chúng con có thể chia tay nhau, và dẫu thời gian có qua đi và xóa nhòa tất cả, nhưng những lời dạy đầy ái ngữ và tha thiết của Thượng tọa sẽ là trang châu báu để cho ban tu và toàn Phật tử tỉnh Sóc Trăng chúng con âm thầm mang theo suốt cuối đoạn đường trần. Và trong

[1:23:32]giờ phút trang nghiêm này, chúng con không còn biết nói gì hơn, chỉ chắp tay và cầu nguyện mười phương chư Phật gia hộ cho Thượng tọa được pháp thể khinh an, chúng sanh dị độ. Nơi nào chúng sanh cần thì Thượng tọa sẽ đến và nơi nào ban tu cùng toàn Phật tử tỉnh Sóc Trăng chúng con thỉnh cầu, Thượng tọa sẽ đi. Kính chúc...

[1:24:03]Thời gian nơi đây đã được viên mãn, chúng con thành kính cung thỉnh Thượng tọa cùng toàn thể đạo tràng hồi hướng. Chúng sanh

[1:24:22]vô biên thệ nguyện độ. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.

[1:24:34]Pháp môn vô lượng

[1:24:40]thệ

[1:24:47]nguyện học.

[1:24:57]Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

[1:25:29]Lời mẹ ru con đến những khu vườn, ru con trưa nắng í a.

[1:25:44]Trong mộng cười ngoan, suối mộng con thơm. Lời mẹ ru con nghe ra nơi nằm, ru con nghiêng nghiêng nằm, con ngủ giấc tròn cho mẹ ngồi trông.

[1:26:17]Thuở mẹ ru, mẹ ru con ngủ, con ngủ trên mây, con ngủ trên mây.

[1:26:33]Tiếng khóc ban đầu, ban đầu còn đau, còn đau, còn đau.

[1:26:48]Lời mẹ ru đếm vắn ngón tay hồng, ru con khôn lớn í a.

[1:27:03]Con rộng rộng tim, con ngủ cho yên. Mắt mẹ ru con nên mắt ưu phiền, đôi khi cũng ưu phiền, con ngủ giấc hiền mưa nhỏ ngoài đêm.

[1:28:06]Lời mẹ ru như tiếng hát trên trời, ru con ru mãi í a.

[1:28:21]Nên người mẹ vui, suối bạc tóc trôi. Đời mẹ ru con, mai kia cũng muộn, nên mây xa đường trường, con ngủ giấc hồng cho mẹ tròn lưng.

[1:28:53]Thuở mẹ ru, mẹ ru con ngủ, con ngủ trên mây, con ngủ trên mây.

[1:29:10]Tiếng khóc ban đầu, ban đầu còn đau, còn đau, còn đau.

[1:29:24]Rồi một mai con đã lớn khôn rồi, con thôi thơ ấu í a.

[1:29:39]Mẹ rời thật mơ, mẹ rời chiêm bao. Đời mẹ ru con bao lâu mỏi mòn, nên lâu cũng mỏi mòn, bây giờ mẹ nằm lá đổ ngoài sân.

[1:30:12]Lá đổ ngoài sân, lá đổ ngoài sân để ru mẹ ngủ.