Transcript: Triết Lý Về Sự Trung Dung

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:05:24

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:08]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay là mùng 3 Tết, quý phật tử về đây thăm ngôi chùa nơi xa xôi, quạnh quẽ này để lễ Phật và nghe Pháp. Thì hôm nay thầy xin được trao đổi đề tài là Triết lý về sự trung dung. Thật ra trung dung là một cái triết lý của nhà Nho, còn trung đạo là triết lý của nhà Phật. Thì trung đạo nó là đạo lý, là triết lý, còn cái trung dung là thái độ sống. Hai cái này có liên quan với nhau. Thì hôm nay thì ta không có nói về trung đạo, bởi vì cái triết lý về trung đạo rất là sâu xa, khó hiểu mà các nhà Đại thừa cũng phải vất vả nghiên tầm, suy luận đủ thứ mà cho đến giờ này cũng chưa chắc là ai đã nắm được cái giáo lý trung đạo đó.

[1:07]Ngài Long Thọ có viết cái cuốn Trung Quán Luận là để lý luận về cái đạo lý trung đạo này, mà đến hôm nay cái triết lý trong cái cuốn Trung Quán Luận của ngài Long Thọ vẫn là một thử thách cho biết bao nhiêu người học Phật. Sách ngài viết 26 chương như vậy, đủ thứ vấn đề như vậy mà đến giờ này nhiều người học vẫn không tìm thấy được cái ý nghĩa thật sự nó là gì, trừ những bậc thánh chứng đạo. Còn lại những học giả chỉ đi trên ngôn ngữ thì rất khó hiểu được cái uyên áo của cái trung đạo trong nhà Phật. Mà bên nhà Nho thì có cái trung dung, nhưng mà cái trung dung này thì nó lại giống với cái trung đạo

[1:47]mà Đức Phật giảng lúc mà ngài giảng đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như. Lần đó, khi mà Đức Phật cảm thấy rằng cái cái công phu khổ hạnh của ngài không đem đến sự giải thoát, nên ngài quyết định dừng cái sự khổ hạnh mà ăn uống lại bình thường để có sức khỏe mà tu tập. Thì khi mà ngài nhận cái bát sữa của cái của cái nữ gia chủ Sujata, thì năm anh em Kiều Trần Như bất mãn, nói rằng là là Sa-môn Cồ Đàm, tức là thái tử Sĩ Đạt Đa, đã thoái chí, đã không còn có lý tưởng tu tập, đã muốn tìm lại cái sự hưởng thụ của thế gian, cho nên họ đã từ bỏ ngài ra đi. Đây là điều mà các đệ tử không hiểu nổi thầy của mình.

[2:36]Và vì sao mà Đức Phật lúc đó phải bỏ cái khổ hạnh là bởi vì ngài cảm thấy rằng cái khổ hạnh của ngài từ trước đến giờ chưa có người nào làm nổi mà ngài vẫn không giải thoát, thì chắc chắn con đường này không đưa đến giải thoát, nó chỉ là một cực đoan nào đó. Vì cái khổ hạnh đó, nghĩa là yoga á, ta cứ tưởng nó là ép xác chứ không phải. Hồi xưa cái khổ hạnh của Ấn Độ là thế này, tức là người đó họ luyện được khí lực cho đến mức độ cao siêu rồi, thì bắt đầu họ lấy cái thân họ ra để họ thử nghiệm cái công lực mà họ có được. Ví dụ như bây giờ họ có thể là đứng một chân, dang hai tay ra giữa trời sương, trời nắng coi được bao nhiêu

[3:21]ngày, bao nhiêu thời gian, ai đứng lâu thì người đó thắng. Tức là đó là không phải là ép xác, mà đó là vận cái khí lực mình để để đem cơ thể ra mà thí nghiệm, mà chịu đựng, chứ đó không phải là cái cái ép xác. Chúng ta hiểu lầm, người ngoài nhìn vô thì thấy cái đạo sĩ đó như là hành hạ cơ thể mình, gọi là ép xác, nhưng mà chính đạo sĩ đó thì không thấy là khổ hạnh, mà chính đạo sĩ đó hiểu rằng là mình vận lực lên, dùng cái thần lực của mình đã luyện tập được mà thử thách cơ thể mình. Hoặc là cái người đó là nhịn ăn coi được bao nhiêu ngày, thì bắt đầu kiệt sức thì mới biết rằng cái công lực mình là đã đạt được đến trình độ đó.

[4:03]Hoặc là đứng chống hai tay, đứng dựng chân lên trời như chổng cây chuối vậy đó, là cái người đó đứng chống như vậy được bao lâu. Thì bên ngoài thì thấy là như đày đọa thân xác, nhưng mà chính cái người đạo sĩ thì biết rằng không phải là đày đọa, mà là dùng công lực để thử nghiệm thân xác mình. Thì do hồi xưa là cái Ấn Độ, các đạo sĩ Ấn Độ họ tin rằng cái người mà có thể khổ hạnh được như thế, tức là dùng cái công lực mà thử thách cơ thể mình như thế, thì là người mới có thể giải thoát được. Mà chính thái tử Sĩ Đạt Đa cũng đã tưởng nhầm như vậy, cho nên suốt sáu năm ngài đã dùng nhiều hình thức khổ

[4:42]hạnh mà trước ngài và sau ngài không ai làm nổi. Thế mà ngài vẫn không giải thoát được, nên ngài mới biết rằng con đường này nó là một cực đoan, phải trở lại. Thế là ngài trở lại uống sữa, ăn uống bình thường cho khỏe mạnh ra, bắt đầu đi bằng con đường thiền định. Nhưng mà khi thấy ngài uống bát sữa đầu tiên, năm anh em Kiều Trần Như là cái người một của hoàng cung gửi đi tu theo ngài đó, vừa tu theo ngài mà vừa để bảo vệ ngài đó, ngay lúc đó bất mãn liền, bỏ đi liền, không hiểu được thầy mình. Thì sau này khi Đức Phật một mình một bóng mà ngài đắc đạo rồi, thì ngài cũng thương tình ngài tìm đến năm anh em để hóa độ.

[5:19]Cái lời ngài nói đầu tiên là vậy, là cái đạo lý trung đạo, tức là sự vừa phải, nên cái trung đạo mà Đức Phật nói, nó chính là cái sự thái độ trung dung đó, cũng rất giống với thái độ trung dung của Khổng Tử, chứ nó không phải là cái trung đạo trong cái Đại thừa sau này. Cái trung đạo đó là cái trung dung, là đừng có làm gì cực đoan quá. Cái gì nó vừa chừng, nó vừa có cái này, nó vừa có cái kia thì ta sẽ đi đúng được cái đường chân lý. Chứ không thể nào mà chúng ta muốn đi mà chỉ đi một chân, hoặc là tôi chỉ đi chân bên trái, hoặc tôi chỉ đi chân bên phải, mà chân bên phải một bước thì chân bên trái một bước, như vậy ta sẽ đi tới, sẽ đi tới mãi.

[5:59]Thì trong cuộc sống này cũng vậy, ta cân đối giữa nhiều mặt với nhau, vậy đó, cái vừa chừng, cái vừa phải đó, thế mà khiến ta đi tới đích của cuộc đời này. Ở trong đạo cũng vậy, người ta vừa thế này một chút, vừa thế kia một chút, trong cái cân đối đó, vậy mà ta đi mãi, đi mãi, ta sẽ có ngày đạt được sự giác ngộ. Còn người nào mà chỉ ỷ cái thông minh, đào sâu một vấn đề cái tới tận cùng rồi thiên hẳn về vấn đề đó, vậy là chỉ là sự cực đoan mà không phải là cái trung dung, không phải trung đạo và coi chừng rồi ta sẽ thất bại trong cuộc đời tu hành của mình. Mà không phải là việc tu hành, cả cái việc ngoài thế gian

[6:39]cũng vậy, ai mà cực đoan đều từ từ đi tới thất bại cả. Nên do đó là hôm nay ta nói với nhau cái triết lý về sự trung dung để ta thấy rằng là việc chọn cho mình một cái thái độ sống, thái độ tu rất là rất là quan trọng. Ví dụ như bây giờ ta nói về cái thiền, thì cái người mà tu thiền á thì thường là họ phải quán thế gian này như huyễn, như hóa, như giấc mộng, như chiêm bao, như ánh lửa chớp, như sương rơi, nó không có thật, nó tạm bợ, không có thật, nhưng mà như là một giấc mộng, tuy có mà như không. Thì cái đạo lý này được nói đến rất nhiều trong kinh điển Đại thừa của nhà Phật. Cái việc mà nhìn thấy cuộc đời này như một giấc mộng,

[7:29]như chiêm bao, nó là một cái đạo lý rất là lớn mà hầu hết những người tu thiền đều phải quán tưởng. Khi quán tưởng như vậy, lòng ta rời xa cái cố chấp đối với thế gian, khiến ta sống giữa đời mà tự tại, thanh thản, không bận lòng. Thanh thản không bận lòng vì mọi chuyện trên đời dù được, mất, hơn, thua, thành, bại. Nhờ như vậy mà ta sống tự tại, an vui. Và cả trong lúc ngồi thiền cũng vậy, ngồi thiền mà khi ta quán tưởng thế gian này như một giấc mộng thì bỗng nhiên tâm ta cũng an tịnh từ từ, an tịnh từ từ, vọng tưởng ta mất dần, mất dần. Nên đây là một cái phép tu rất là hiệu quả, rất là hiệu quả.

[8:10]Và nhiều người vì thành công trong thiền định nhờ cái phép tu này, nhờ cái quán thế gian này là mộng huyễn này, vậy mà đã đạt được sự chứng ngộ nào đó trong Phật pháp. Nên người đó trở nên có tuệ giác phi thường, có sự an định sâu xa, trở thành một bậc thánh ở trong Phật pháp giữa cuộc đời. Nên cái phép mà lúc nào cũng nhìn thấy thế gian này như một giấc mộng, dù đi, dù đứng, nằm, ngồi, lúc nào cũng thấy cuộc đời như một giấc mộng, như chiêm bao, như huyễn, như hóa, không có thật, là phép tu rất là đặc biệt, rất là sâu sắc. Nhưng nếu như vậy rồi cái người thông minh bắt đầu mới đào sâu vào, đào sâu vào sẽ thành cực đoan và rơi vào vô lý. Lạ là như vậy.

[8:56]Ta cứ tưởng đây là cánh cửa mở ra vậy là được rồi thì ta cứ thế mà đào sâu, ta cứ tưởng rằng khi mà ta quan sát thế gian này mọi cái là như giấc chiêm bao và ta nhìn thật sâu, nhìn thật sâu vào mọi vấn đề đều như huyễn, như hóa hết thì có nghĩa là trí tuệ ta sắc bén lên, nhưng không ngờ không phải. Sự thật khi ta đào sâu dần, đào sâu dần, mọi thứ đều không có thật, bỗng nhiên ta trở nên ngu. Kỳ lạ như vậy. Ư bắt đầu nó đi vào một cực đoan là ta trở nên sai lầm liền, hoàn toàn sai lầm. Sợ, tại sao sai lầm như vậy? Là bởi vì thế này. Ví dụ ta xem cuộc đời như giấc mộng, ban đầu ta chỉ xem cuộc đời như giấc mộng,

[9:36]như chiêm bao, như huyễn hóa, vậy thôi nó bình thường, tâm ta bắt đầu an lành. Ví dụ như bây giờ nghe có người nói báo tin lành anh vừa trúng số giải thưởng gì đó được một tỷ đồng. Cái lúc đó mình sực nhớ liền, ôi đời như giấc chiêm bao mà, trúng số cũng như không trúng số, cái mình bình thản. Rồi do bình thản vậy, cho nên mình không mừng, không mừng như vậy cho nên khi người ta giao cho mình một tỷ đồng tiền trúng số, có điều quán huyễn hóa mà không biết sao có mua vé số thì mình chưa hiểu. Ví dụ như khi người ta giao mình một tỷ đồng tiền trúng số thì vì mình thấy là tỷ đồng này và cuộc đời như giấc mộng,

[10:12]nên mình không tham một tỷ đồng đó và mình dùng một tỷ đồng đó cái mình đi bố thí đầu này, mình cúng dường đầu kia, mình làm những điều công đức thì đó là rất là đúng, rất là đúng. Hoặc là à ví dụ như mình vừa đi công việc về, mình nghe nói nhà mình bị ăn trộm vô trộm sạch. Nếu mà mình không thấy cuộc đời như giấc mộng thì mình rất là đau khổ nà, tài sản, tiền bạc của mình, nhưng bây giờ là do mình thấy cuộc đời là một giấc mộng, là chiêm bao, là huyễn hóa, nghe nói ăn trộm lấy đồ sạch hết trơn cái lòng mình tỉnh bơ à. Thấy đời là giấc mộng, thì như vậy là đúng nè. Như vậy, như vậy là đúng, tu như vậy là đúng.

[10:48]Tuy nhiên, nếu ta cứ tiếp tục đào sâu, đào sâu cái lý luận mà như huyễn như hóa này, thì bắt đầu rơi vào cực đoan là thế này. Nói: "Đời là sao anh?", "Đời là giấc mộng." Đòi hỏi: "Cái ly này là sao anh?", "Cái ly này không có thật." Bắt đầu sai. Đây là cái lầm của những người mà quán không là bắt đầu từ cái chỗ này. Thấy cái ly này mà thấy là không. Quý Phật tử thấy ly này có hay không ạ? Có, nó là một sự thật hiện hữu. Nhưng bây giờ cái ly này rơi vỡ thì nó có hay không ạ? Nó cũng có nè, đều nó vỡ, nó mới rơi vỡ thôi, nó vô thường thôi chứ có gì đâu. Ví dụ cái người họ có một cái ly rất là mắc

[11:29]tiền, đồ cổ gì đó, giờ nó rơi vỡ một cái. Thì cái người đó nói thế này là đúng nè: "Ôi đời là giấc chiêm bao, mọi thứ là khi hợp, khi tan, khi có, khi mất, thôi bình thường mình không buồn" thì đó là đúng. Nhưng mà nếu nói: "Cái ly này không có trên đời, không tồn tại, không hiện hữu" là sai. Vì thật sự nó có chứ không phải không có. Vì trong thực tế nó có, nhưng mà vì ta thấy rằng cuộc đời như giấc chiêm bao, cho nên ta không bận lòng vì cái được mất của nó thì là ta đúng. Nhưng mà nếu ta nói rằng nó nó huyễn hóa đến nỗi nó không thật sự tồn tại, không có luôn, ta bắt đầu sai. Vì ta nói ngược lại một sự thật, mà sự thật nó là có.

[12:15]Mà những cái người mà tu theo Bát-nhã á, hiểu lầm á, quán không á, tức là mọi việc đang có mà cứ gán cho nó là không, bắt đầu là cực đoan, là sai lầm. Cái sai lầm nó dẫn ta đi đâu? Nó dẫn ta thế này. Nó dẫn ta đến cái chỗ là nói rằng các vật chất này đều không tồn tại, cái nhà không có, cái xe không có, cái cây không có, trong khi nó thật sự nó có. Không thể nói rằng nó không có. Rồi à các cõi giới không có, không có địa ngục, không có thiên đường, cũng không có. Rồi bắt đầu đi đến cái chỗ mà đỉnh điểm của sự sai lầm là thế này: Chúng sinh cũng không có luôn. Tức là bao nhiêu con người trước mặt mình như thế này, mà mình thấy không có.

[13:03]Chính vì không thấy chúng sinh có tồn tại thì ta mất cái gì ạ? Ta mất cái gì, mất luôn cái gì? Nếu không còn thấy có chúng sinh nữa thì ta mất cái gì? Ta mất luôn tâm từ bi, phải không? Mình không còn thấy có chúng sinh nữa thì lấy gì mình yêu thương ai. Mà tâm từ bi là cái đạo lý cực kỳ quý giá trong đạo Phật. Không còn lòng thương yêu tất cả chúng sinh, ta trở thành cây đá, ta trở thành tầm thường. Mà theo Phật, ta phải yêu thương muôn loài. Nhưng mà làm sao có thể yêu thương muôn loài được khi ta thấy muôn loài không có loài nào có thật, không có, không hiện hữu, không tồn tại? Mà tại sao ta thấy muôn loài không hiện hữu, không tồn tại?

[13:47]Vì ta nghĩ rằng không có cái gì có hết. Vật chất không có, các cõi giới không có, tất cả như huyễn như hóa. Nó đi đến cái mâu thuẫn. Từ một cái đạo lý làm cho ta bình an trước thành bại, hơn thua, được mất của đời, bỗng nhiên ta đào sâu mãi, đào sâu mãi, nó trở nên ta mất luôn tâm từ bi, ta đi sai. Từ cái ban đầu đúng là đạo lý quán tất cả là huyễn hóa cho ta sự bình an, tự tại, bỗng nhiên khi đào sâu, đẩy tới đỉnh điểm, ta mất từ bi, ta bắt đầu không còn đạo hạnh, không còn đạo lực nữa. Đó là cái gọi là cực đoan á. Nên vì vậy, cái gì cũng vừa phải thôi mới đúng là đạo Phật. Ví dụ như ta nói: "Ô, đời như giấc mộng mà, cho nên bây giờ ai khen mình,

[14:31]ai chê mình, mình lòng mình tự tại" là đúng. Nhưng mà đừng nói là như giấc mộng mà mình đẩy sâu, đẩy sâu tới mức độ là không còn con người nào trên đời này có thật nữa, là mình không cần phải yêu thương ai nữa, không cần phải làm những điều công đức nữa, rồi là tự mình tiêu diệt cái công đức của mình luôn, mình không thể tiến tu được nữa. Đó là cái lỗi của những người tu thiền. Đây là lỗi của những người tu thiền mà bị đẩy tới cực đoan, tới đỉnh điểm. Nên vì vậy, mà nếu ta nghe những bậc thầy mà dạy về thiền chân chính á là không bao giờ ta nghe các vị đó đẩy ta tới cực đoan đỉnh điểm. Không bao giờ.

[15:09]Ví dụ như là hồi trước thì thầy cũng là đệ tử của Hòa thượng, Hòa thượng Thích Thanh Từ, thì Hòa thượng cũng dạy thầy quán là thế gian này như giấc mộng. Mà quán vừa chừng vậy thôi đủ rồi, là mình tu thế là được rồi. Nhưng mà nếu mà thầy đẩy sâu thêm tới đến nỗi mà thấy không còn bông, không còn trái, không còn núi, không còn sông nữa, không còn người nữa, không còn chúng sinh nữa là bắt đầu thầy bị cực đoan sai lầm. Nên vì vậy có một thiền sư đã nói vậy đó: "Khi chưa tu thì tôi thấy núi sông là núi sông. Khi tu một thời gian tôi thấy núi sông không phải là núi sông", bắt đầu rơi vào cực đoan.

[15:47]Nhưng mà may rằng ông này ông ông có cái căn cơ ngộ đạo, ông đắc đạo, ông mới nói rằng: "Sau 30 năm rồi tu hành rồi mới thấy núi sông cũng là núi sông." Tức là mọi vật nó cứ có thật bình thường, nhưng mà lòng mình bình an là đúng rồi, chứ không cần phải là làm cho mọi vật nó phải không đi để mà mình bình an. Mình bình an là tự nơi chính mình bình an, trong thiền định chứ không phải là phải xóa hết, đốt hết, dẹp hết để cho đừng ai có cái gì trên đời này nữa thì tôi mới không bận tâm, không phải. Như vậy vô tình mình tiêu diệt cái lòng từ bi của mình, nó trở thành cực đoan. Đó là cái lầm của thiền.

[16:24]Nên những người tu thiền chân chính không bao giờ quán cái huyễn hóa tới cực đoan đến nỗi mà cái ly cũng không còn luôn, đó là sai. Và nó ngược lại vật lý học, ngược lại khoa học. Khoa học thấy nó rõ ràng là có, mà mình cứ gán cho nó là không, nên tự nhiên cái người khoa học họ nhìn mình lạ lùng. Nói: "Ngộ ha. Mấy người này tu lạ ha. Cái gì nó cũng có: Trọng lực có, Trái Đất có mà họ tu sao họ thấy không có gì có hết." Các nhà khoa học họ không chấp nhận. Cho nên ta chỉ dừng lại ở cái xem đời như một giấc mộng, đó là một triết lý thôi, triết lý nhẹ nhàng thôi, đừng xem nó trở thành một định luật

[16:58]giống như một nguyên lý khoa học để rồi ta phủ nhận sự tồn tại tất cả, trong đó phủ nhận sự tồn tại của muôn loài, rồi ta mất luôn lòng từ bi của mình, là một sai lầm. Bây giờ qua tới pháp môn Niệm Phật cũng vậy. Cái người niệm Phật trung dung á thì đúng, mà người niệm Phật tới cực đoan cũng sai luôn. Niệm Phật trung dung sao là đúng, mà niệm Phật sao là cực đoan? Chữ niệm á có nghĩa là nhớ. Ta niệm Phật là ta tưởng nhớ Phật. Cái đó rất là đúng. Ta tưởng nhớ Phật rồi để làm gì nữa? Ta tưởng nhớ Phật rồi để làm gì? Ta tưởng nhớ Phật là để ta nhớ đến lời dạy của Phật, nhớ đến công hạnh của Phật.

[17:42]Sau khi nhớ đến lời dạy của Phật, nhớ đến công hạnh của Phật rồi ta làm gì nữa ạ? Vâng, ta thực hành lời dạy đó. Ta biết sám hối, lễ Phật, thiền định, làm các điều công đức thì đó là tưởng nhớ Phật một cách chân chính. Đó là niệm Phật mà niệm Phật trung dung. Nên thầy có viết cái bài nhạc là: "Từng ngày con nhớ Phật, từng ngày con nhớ Phật, tưởng chừng như sống lại vào thời xưa chốn nào nhìn Phật đang bước qua." Mà đó mình tưởng nhớ Phật là nhớ công hạnh và lời dạy của Phật. Nhưng mà niệm Phật cực đoan là thế nào? Thế là, niệm Phật cực đoan tức là ta tưởng nhớ Phật bằng cái tên Phật, đọc tên Phật, gọi tên Phật,

[18:29]gọi hết và chặn hết tất cả mọi cái tâm niệm thiện khác không phát triển được. Muốn suy nghĩ một cái điều gì tốt cũng không có suy nghĩ được, muốn làm điều gì tốt không làm được, bởi vì chỉ chập tập trung vào gọi tên Phật thôi. Nên cái gọi tên Phật này là bắt đầu mà không thể nào phát triển một công hạnh nào nữa, bắt đầu rơi vào cực đoan. Nên thấy nói nghe à nói đi, đứng, nằm, ngồi đều niệm Phật, nghe thì thấy hay nhưng coi chừng ta chuẩn bị đi vào cực đoan. Vì sao vậy? Bởi vì trong cuộc sống này còn nhiều điều tốt đẹp mà ta phải làm và phải động tâm, và phải bận tâm. Khi một người đau khổ, ta phải giúp.

[19:09]Khi một người chưa biết Phật pháp, ta phải hóa độ. Có cha mẹ ta, ta phải báo hiếu. Bao nhiêu thầy cô, bạn bè, ân nghĩa ta phải đền đáp, chứ không phải là sống trên đời chỉ có một câu niệm Phật ở trong lòng. Chuyện của đất nước, chuyện của thế giới ta phải có trách nhiệm, chứ không phải chỉ có lấy câu niệm Phật che trong tâm mình rồi mất hết tất cả. Nên ta chỉ chấp nhận cái người tưởng nhớ Phật là thế này: Có khi rảnh ta lễ Phật, khi không làm gì ta niệm Phật. Ví dụ như ta đang đi trên đường, lúc đó không có gì phải bận tâm, ta thanh thản niệm Phật. Mà niệm Phật với lòng yêu kính Phật, chứ không phải niệm Phật để tính công, tính công:

[19:50]"Ồ nãy tôi đi trên đường cái tôi niệm được ba xâu chuỗi." Đó là niệm Phật mà kể công. Niệm Phật mà kể công, hôm qua thầy nói cái bài là đừng chấp công. Mà niệm Phật kể công rồi Phật có chứng không? Lúc đó có phải là kính yêu Phật không? Niệm Phật mà tính công là kính yêu Phật hay là, hay là tính công cho mình, hay là yêu kính mình? Cho nên vì vậy là ta niệm Phật trung dung, tức là rảnh niệm Phật để tưởng nhớ Phật, để yêu kính Phật, để lòng yêu kính Phật, lòng tôn kính Phật càng ngày càng tăng lên. Và sau đó, khi gặp việc, mọi việc trên đời này, ta thực hành lời Phật dạy, ta thực hành cái đạo lý của

[20:33]sự từ bi, của sự nhẫn nhục, của sự bố thí, của thiền định, của sự khoan dung, vượt qua những cái tâm ích kỷ, hơn thua, đố kỵ, nóng giận, hận thù, vân vân. Thì cái chính cái thực hành lời Phật dạy đó mà vượt qua những cái hơn thua, ích kỷ, giận hờn này kia nọ, chính cái thực hành lời Phật dạy, ta tăng trưởng được cái đạo lý từ bi, khiêm hạ, độ lượng đó, đó mới là yêu kính Phật, đó mới là tưởng nhớ Phật một cách chân chính. Cho nên vì vậy, cái người niệm Phật cũng có hai loại niệm Phật cực đoan và niệm Phật một cách trung dung. Mà niệm Phật trung dung mới là cái niệm Phật chân chính để ta tiến xa trên con đường đạo,

[21:15]vì như thế ta không có bị cực đoan, bị lập dị, bị cô lập mình khỏi cuộc đời này, mà ta mới có cơ hội làm được nhiều cái phước lành, mà chính làm được nhiều phước lành thì cuộc đời ta mới mới mở ra được, là như vậy. Đó là nãy ta vừa nói hai cái. Bây giờ, cái đạo lý từ bi yêu thương chúng sinh cũng vậy. Đạo lý từ bi yêu thương chúng sinh là một đạo lý rất đẹp của đạo Phật, nhưng mà nếu ta cực đoan ta cũng sai luôn nữa. Cực đoan cũng sai luôn. Cho nên cái gì cũng vừa phải thôi. Thế nào mà từ bi mà vừa phải, mà thế nào là từ bi là cực đoan?

[21:55]Từ bi mà cực đoan là thế này: là thí nói mình tưởng lòng mình yêu thương tất cả chúng sinh, ai mình cũng yêu thương hết, thì đó là rất là đúng. Mà Phật dạy mình phải như vậy. Là khi ta quỳ lạy Phật, ta cũng nguyện trải lòng yêu thương tất cả chúng sinh, rồi khi ta ngồi thiền, ta cũng quán tưởng trải lòng yêu thương tất cả chúng sinh. Thì cái này hoàn toàn đúng, không có gì sai. Nhưng bắt đầu bước vào cuộc sống thực tế, là ta không dám nghiêm khắc với ai hết. Coi là ai ta cũng ờ sao cũng được, thôi vậy nha, tốt nha, cái gì ta ai ta cũng chiều hết, bắt đầu là từ bi cực đoan. Và điều này trở thành ta phạm lầm lỗi, nhiều khi ta tạo nghiệp,

[22:36]tức là ta ta chiều cái người xấu luôn, và cuộc đời sẽ loạn lên. Cho nên cái từ bi tới cực đoan ta trở thành nhu nhược, và khi ta nhu nhược, ta không giữ được cái kỷ cương cho cuộc đời này, cuộc đời này sẽ loạn bởi vì ta. Thấy cái người xấu ta không dám răn nhắc, thấy người ác ta không dám tiêu diệt, cái chữ tiêu diệt này có nghĩa là khống chế họ, chứ không phải mình nói mình giết họ, thì lập tức cuộc đời này loạn lên liền. Cho nên từ bi là yêu thương tất cả, nhưng không có nghĩa là nhu nhược và tạo điều kiện cho kẻ xấu làm tới. Nó khác nhau như vậy, chứ không phải từ bi có nghĩa là tạo điều kiện,

[23:18]là dung dưỡng cho kẻ xấu cứ tiếp tục làm điều xấu ác với đời. Thì cái đó không phải từ bi, mà đó trở thành nhu nhược. Nhưng mà nhiều người đã hiểu lầm cái đạo lý từ bi này, nó trở thành cái sự nhu nhược. Nói: "Thôi mà, ai cũng thương, thôi hỷ xả đi mà, hỷ xả đi mà", cuối cùng là giống như cái người xấu họ cảm thấy rằng cái việc họ làm xấu không có không có bị ai phản đối, nên họ sẽ tiếp tục làm điều xấu. Ta phải làm sao cho cái người xấu họ thấy rằng cái việc họ làm xấu không ai chấp nhận hết, thì họ mới ngưng điều xấu được. Còn cái người mà cứ từ bi cực đoan á, vô tình giống như là mình chiều cái người

[23:59]xấu, và cái chiều người xấu đó, ta trở thành ta mang tội, ta mang tội. Cho nên nhiều người nói sao thấy ông đó ổng hiền quá mà ổng lại cuộc đời ổng khổ quá. Thì ra là đời trước ổng tu cái từ bi cực đoan. Ai ổng cũng ừ, ai ổng cũng chiều, ai ổng cũng được rồi hết, cho nên nhiều kẻ xấu đã vì vậy mà họ tiếp tục làm xấu, và ổng mang tội. Kiếp sau thì ổng cũng tiếp tục hiền lành, nhu nhược, nhưng mà cuộc đời ổng rất khổ, không có phước. Rất khổ, không tiền, không bạc, không gì hết, không có phước, chỉ bởi vì đời xưa ổng từ bi cực đoan, nhu nhược. Cho nên cái từ bi phải có trí tuệ, phải có cái sự nghiêm khắc và không dung dưỡng kẻ xấu.

[24:37]Đang nói bây giờ ta yêu thương tất cả mọi loài, nhưng mà nếu ta xem trên cái truyền hình mà Discovery chiếu về các loài động vật hoang dã ta sẽ thấy. Khi mà ví dụ như những nhà khoa học họ mới đặt những máy quay phim, họ vào rừng để họ theo dõi cuộc sống của các con hổ, con báo, con chó sói, con sư tử, thì họ quay những cái cảnh rất là rõ: thấy một đàn bò rừng vậy đó, đi cái con con con con sư tử nó nó lao ra nó rượt đuổi lên nó cắn cổ một con, ba bốn con nó đeo theo nó vật cái con bò rừng nó xuống nó cắn cổ. Cái con bò rừng không xoay sở được cái nằm đó chết. Chết thì nó ăn một con thôi cái nó đâu cần rượt cả

[25:13]bầy bò chi, thôi nó bỏ bầy bò nó không rượt nữa. Là là cả một đàn của nó mười mấy con nó xúm lại nó cắn thịt một con bò. Thì những cái con bò khác khi thấy là mình không bị rượt nữa thì quay lại, quay lại đứng xa xa nhìn cái con bò của mình mà bị cắn xé khóc, con nào nước mắt chảy chảy xuống. Và các nhà khoa học gọi là gọi là bảo tồn sư tử, cho nên để cho sư tử nó phải ăn thịt này kia. Mà trong lòng họ thì chỉ thương sư tử, còn cái chết thê thảm con bò rừng thì không ai động tâm. Thì như thấy như thế rõ ràng là nếu ta nói ta yêu muôn loài thì ta xử làm sao khi mà con người mỗi ngày phải giết heo, giết bò, giết cá, giết tôm để ăn?

[25:51]Khi mà mỗi ngày những con thú này cứ phải ăn con thú kia để tồn tại, tức là sự sống của các loài là mỗi loài này phải diệt cái loài kia, giành cái sự sống của loài kia để nuôi dưỡng sự sống của mình. Thì như vậy khi ta yêu thương muôn loài, ta xử cái việc này làm sao? Nếu đưa ta ra làm quan tòa, ta ngồi ta xử hết mọi loài, bây giờ ta xử làm sao đây khi mà loài nào cũng cần phải sống, mà muốn sống thì phải diệt loài khác, kể cả loài người? Hằng ngày ta ăn không biết bao nhiêu heo, bò, cừu, dê, cá, tôm, đủ thứ hết. Thì như vậy là ta xử làm sao đây? Nên do đó do đó mà nếu nói: "Thôi, bây giờ các loài không ai ăn ai nữa nha,

[26:32]không con nào ăn con nào nữa nghen", thì ba ngày chết sạch, trái đất này cũng chết hết luôn. Thì loài người cũng tuyệt chủng luôn. Như vậy, nếu nói rằng ta từ bi, ta yêu thương muôn loài, ta xử việc này ra sao khi mà chúng sinh đều phải ăn nuốt lẫn nhau để tồn tại? Nên một thực tế rất là đau lòng. Cho nên vì vậy cho nên trong cái thực tế mà ta chưa thể xử lý được, ta không thể ra lệnh cho loài này ngưng ăn loài kia, loài nọ không ăn loài kia nữa thì ta không ra lệnh được. Nó chỉ còn một cách là thôi, bây giờ là ta nghĩ đến cái lợi ích chung, cái sinh thái chung của toàn địa cầu mà cân đối cái sự sống muôn loài.

[27:07]Và còn những con người mà biết nghe, biết hiểu, biết học hỏi thì ta cố gắng đem đạo lý mà chia sẻ với nhau, để cho trước hết con người phải sống từ bi với nhau cái đã, yêu thương nhau, đừng làm hại nhau, đừng ăn thịt lẫn nhau cái đã. Rồi từ từ, lúc đó ta sẽ cái lòng từ bi cái lợi ích trải tới muôn loài khác nhau. Ví dụ như lần đó thầy ra Nghệ An thì gặp mấy cô Phật tử, cổ ở bên Lào cổ nuôi được hai trăm mấy chục con hổ. Không biết khu bảo tồn sao cổ nuôi cũng giỏi như vậy. Thì nói là hổ cổ thuần hóa được và mọi người có thể đến đó vuốt ve nó bình thường như một con chó. Và một ngày cổ phải nuôi tiền cho nó ăn là 100

[27:54]triệu đồng với hai trăm mấy chục con hổ đó. Rồi thầy hỏi: "Lấy thịt ở đâu vậy?", nói: "Dạ, con nhập thịt, thịt gà từ Thái Lan qua, tức là khi mà gà họ giết để đóng hộp thì nó còn có những cái phần dư dư á, thì con thầu hết cái phần đó đem về cho mấy con hổ nó ăn". Thì ta thấy đúng là vậy, cái sự sống muôn loài là cấu xé ăn nuốt lẫn nhau. Thì mình thương con hổ, nhưng mà nó ăn không biết bao nhiêu con gà mỗi ngày, mình nghe cũng rất là đau lòng. Và nhìn vào vậy ta thấy thế gian này đúng là đau khổ. Các loài ăn giết lẫn nhau chẳng có gì tốt đẹp cả. Nên đừng có tự hào là bởi vì ta sống mạnh, sống khỏe, sự thực là cái sự sống ta được nuôi

[28:33]dưỡng bằng sự ác độc, sự giết hại muôn loài. Cho nên cái đạo lý từ bi mà nếu ta cực đoan ngay lập tức là sự sống cũng tiêu diệt luôn á. Đây rất là lạ. Cho nên vì vậy ta cứ nghĩ đến cái sự sống chung mà thôi, sự sống chung. Và trong cuộc sống này thì ta yêu thương mọi loài là đúng, yêu thương muôn người là đúng, nhưng mà trong cái yêu thương đó ta nghĩ đến cái lợi ích chung và phải biết nghiêm khắc trước cái xấu cái ác, chứ không phải từ bi có nghĩa là chấp nhận, dung dưỡng cho điều xấu, điều ác. Nên ta phải cân đối giữa cái lợi ích của cộng đồng và lợi ích của cá nhân, chứ không phải là cái thằng ăn trộm nó đi nó ăn cắp đồ của

[29:13]người ta hết rồi thôi kệ từ bi cho nó đi mà tha cho nó đi. Trong khi là cả mười mấy con người bị nó lấy đồ sạch, mà ta không thương mười mấy con người cứ tội nghiệp người ăn trộm. Đó là không được. Nó phải cân đối giữa cái lợi ích của cộng đồng và lợi ích của của cá thể. Đó cái lòng từ bi nó phải được soi sáng bởi trí tuệ, chứ không được cực đoan là vậy. Rồi bây giờ ta nói về cái đạo lý vô ngã vậy. Đạo lý vô ngã tức là không có cái ta. Chúng ta hiểu vậy, cái người sống vô ngã là không vì lợi ích của mình. Là không có cái ta. Là yêu thương được muôn loài, mình thấy mình như đất, như bụi, sống tâm khiêm hạ thì đó là đúng.

[29:52]Cái đạo lý tuyệt vời, và cái người tu chứng A-la-hán trong đạo Phật cũng chính là cái người đã diệt được hoàn toàn bản ngã của mình, đạt được sự vô ngã hoàn toàn. Thì cái người vô ngã vậy là là đúng. Nhưng mà coi chừng nếu ta hiểu sai cái vô ngã này, ta trở thành cực đoan thì bắt đầu ta sống không có giống ai, cũng không lợi ích cho mình và cũng không lợi ích cho người. Cái bậc thánh mà họ chứng vô ngã đó, thì họ họ biết cái vô ngã trung dung là gì. Còn ta chưa chứng vô ngã thì ta sống theo cái quan điểm vô ngã cực đoan, rồi ta sống sai luôn, làm khổ mình và làm khổ người. Thí dụ hỏi: "Người đó ủa sao anh đi không đi dép vậy?" Nói:

[30:32]"Dạ con vô ngã mà, đi dép làm chi cho nó tô điểm bản ngã." Rồi một lát nó đạp nhầm cái gai một cái thế là nằm một ngày rồi bị phong đòn gánh gần chết luôn, thế là làm khổ mình làm khổ người. Thôi thì cứ đi vô cái chỗ gai góc làm ơn mang dép giùm. Cái vô ngã đâu phải là không mang dép mới là vô ngã, đâu phải vậy. Ví dụ như một khi một bậc thánh như là Đức Phật vậy, Ngài đã hoàn toàn vô ngã nhưng mà khi mà Ngài tiếp xúc với chúng sinh thì Ngài vẫn phải xưng hô Ngài là Như Lai hoặc là xưng là Ta. Thì cái đó là có ngã mà, có không? Có sao không có? Thì khi mà đã xưng hô rồi thì có ta có người rồi.

[31:10]Nhưng mà cái ngã của Phật á đã được kiểm soát và được làm chủ và đã được điều khiển được sử dụng, tức Ngài sử dụng cái ngã đó để giao tiếp với chúng sinh, chứ cái ngã không điều khiển được Ngài, không điều khiển được Ngài. Còn như chúng ta đó, là cái bản ngã đang điều khiển chúng ta. Cho nên khi mà ta tiếp xúc với ai thì ta cứ nghĩ lợi phần mình. Ta yêu thương ai vì người đó làm cái lợi cho mình, rồi ta giận ai bởi vì người đó xúc phạm tới mình. Tức là trong cái mọi sự đối tiếp, cái bản ngã của ta nó khống chế ta, nó điều khiển ta chứ ta không có thoát ra nó. Còn Đức Phật á thì đã thoát khỏi bản ngã

[31:52]và Ngài sử dụng bản ngã lại như một công cụ để giao tiếp với mọi người. Còn khi mà nhập định thì Ngài hoàn toàn vô ngã, Ngài trở thành toàn thể vũ trụ. Thì đó là cái trạng thái của một bậc thánh khi nhập định. Còn khi xuất định, Ngài sử dụng bản ngã, sử dụng cái xác thân này như là một công cụ để giáo hóa và đối tiếp với chúng sinh. Còn chúng ta chưa chứng được vô ngã như thế cho nên là ta hướng tâm vô ngã, ta sống theo đạo lý vô ngã, ta bắt chước cái vô ngã của thánh. Thì cái bắt chước cái vô ngã của thánh là rất là tốt. Do cái nhân là ta gieo cái nhân là ta bắt chước cái vô ngã của thánh nên ngày nào đó ta sẽ chứng được vô ngã như thánh. Thì đúng như vậy.

[32:36]Tuy nhiên cái bắt chước cái vô ngã của thánh đừng có để trở thành cái cực đoan. Là cái cực đoan là sống liều lĩnh, sống bất cần rồi vô ích cho cuộc đời này. Nói: "Đời này tôi không có, cái tôi cái ta tôi không có." Ờ cho nên: "Tôi không cần gì hết." Rồi sống liều lĩnh, nói năng thì ngang ngược, không có sự tôn trọng, nói: "Đời này làm gì có cái ta, có người đâu mà bày đặt phải lễ độ, phải lịch sự." Thế là cái vô ngã mà ta hiểu trở thành một cái sự ngang tàng chứ không còn là một cái đạo lý đẹp của một bậc thánh nữa. Nên ta bắt chước cái vô ngã của thánh nhưng mà ta hiểu sai, đẩy cái vô ngã đó trở thành cực đoan, cái mình sống ngang tàng không

[33:17]coi ai ra gì, không coi mình ra gì và cũng không coi người khác ra gì. Rồi ngang tàng, bướng bỉnh và ta càng ngày càng mang tội, nó thành một cái kiêu mạn. Ta vô ngã là để ta khiêm hạ, còn ở đây cái người hiểu sai vô ngã trở thành ngang tàng và trở thành kiêu ngạo, không coi ai ra gì. Đây là một loại cực đoan. Do đó cái gì cũng vừa phải thôi là như vậy. Hoặc là cái kỷ luật cũng vậy. Trong một tổ chức nào cũng cần phải có kỷ luật, có kỷ cương, có nền nếp để làm cho cái cái tổ chức đó nó ổn định. Tức là từ một cái không có gì mà muốn thành có thì nó phải có cái khung sườn. Giống như ta vậy, từ không có gì hết mà muốn có thành

[33:58]cái thân thể ta là phải có cái xương, có bộ xương. Rồi dựa vào bộ xương đó thịt mới đắp vô, gân đắp vô, da mới đắp vô rồi ta mới thành con người. Còn nếu bỏ cái khung cái bộ xương đó, ta thành đống thịt xẹp xuống một cục. Nằm cục đó muốn đi đâu lăn lăn lăn, chứ không có đi được như thế này, không có đi đẹp thế này. Nhưng mà nhờ cái khung xương mà ta thành cái con người đẹp như thế này, cái đầu tròn thế này, mắt to to thế này, mũi cong cong thế này, cái miệng lếch thớt lác như thế này, là nhờ có cái bộ khung xương. Thì cũng vậy, thì một cái chùa hình thành nên cũng phải có kỷ luật của cái chùa, một gia đình cũng phải có cái kỷ luật của

[34:33]gia đình, rồi một cái quân đội phải có kỷ luật quân đội, rồi một cái đất nước cũng phải có luật pháp của đất nước. Chính cái nhờ cái kỷ cương, cái kỷ luật, cái luật pháp đó mà xã hội này được ổn định. Tuy nhiên nếu ta cực đoan, nếu ta cực đoan thì cái kỷ luật đó trở thành cái việc mà gây đau khổ cho nhau. Tức là ta chấp nguyên tắc á, nó thành gây đau khổ cho nhau. Hồi có một lần tôi xem một bộ phim của Mỹ thì có cái anh chàng đó anh thuộc loại người vô gia cư, homeless, người vô gia cư. Vô gia cư rồi cái giấy tờ của anh cũng mất luôn. Thì một đợt đó cái chính phủ Mỹ mới kiểm kê lại hết mọi người để mà trợ cấp cho những người nghèo vô gia cư.

[35:22]Thì anh cũng đến anh xếp hàng để anh xin được trợ cấp. Thì khi cái cô đó cô ngồi cô đăng ký, cô ngồi cô làm giấy tờ đăng ký thì ảnh tới, ảnh nói: "Dạ tôi cũng là người vô gia cư xin đăng ký." Cổ nói: "Anh đưa giấy tờ đây." Nói: "Dạ tôi không có giấy tờ." Nói: "Anh không có giấy tờ làm sao tôi biết là anh là người có thật trên cuộc đời này?" Nói: "Thì tôi đang đứng đây nè." Nói: "Tôi không cần anh, tôi cần cái giấy của anh à." Lúc đó, câu chuyện thì nghe nó đơn giản nhưng mà làm cho ta thấm thía. Thì đúng là khi mà cổ cổ mà ngồi cổ đăng ký cái người mà vô gia cư để nhà nước trợ cấp á thì người ta phải có một cái gì nó căn cứ là giấy tờ.

[35:56]Là ai muốn đến đăng ký phải đưa giấy: "À tôi là công dân Mỹ, tôi có tờ giấy đây." vân vân thì đăng ký người đó rồi chụp hình rồi sau đó mỗi tháng mỗi tuần rồi đó đến đó người ta cấp tiền. Thì cái mục tiêu rất là đẹp, tức là trợ cấp cho cái người nghèo không nhà cửa, mục tiêu rất là đẹp. Nhưng mà cái nguyên tắc á, cái nguyên tắc là gì? Muốn được trợ cấp thì anh phải trình giấy. Cái nguyên tắc này bắt đầu nó thành một cái bước cản, một bước cản. Vì vậy rồi cái khi mà anh này ảnh tới đăng ký ảnh không có giấy, cô này cổ theo nguyên tắc liền, cổ quên cái mục tiêu. Mục tiêu là giúp người nghèo nhưng cổ quên cái mục tiêu đó mà cổ chấp nguyên tắc.

[36:32]Nói: "Tôi không cần anh, tôi cần cái tờ giấy của anh à. Có tờ giấy tôi mới biết là anh là người có thật trên đời, còn không có tờ giấy thì tôi đâu biết anh là người có thật trên đời." Cái câu nói rất là vô lý. Nó ảnh nói: "Tôi đứng đây nè thì tôi là người có thật." Nói: "Tôi không cần anh, tôi cần tờ giấy à." Ta thấy không? chấp nguyên tắc rồi cái ta không đạt được mục tiêu liền. Chấp nguyên tắc rồi ta không đạt được mục tiêu. Mà trong khi nguyên tắc nó chính là cái bộ xương, bộ khung để giữ cho xã hội ổn định, nhưng mà chấp nó cực đoan rồi chính nó cũng làm hại xã hội luôn, làm mọi người mất vui luôn.

[37:04]Hoặc giống như ta nhớ cái chuyện mà mà Lục Tổ Huệ Năng cũng vậy. Thì khi mà Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đến lúc già rồi, mới tới lúc nghĩ rằng tới lúc mình phải truyền y bát, truyền cái tổ vị lại cho cái người đệ tử kế thừa thì tổ Hoằng Nhẫn mới nói rằng: "Ai mà làm bài kệ mà xuất sắc thì ngài truyền y bát." Thì như ta đã đọc Pháp Bảo Đàn Kinh ta biết câu chuyện nó xảy ra, phải không? Là lúc đó là ngài Thần Tú là một vị thượng thủ trong pháp hội, là một đệ tử lớn, ngài làm một bài kệ rất là hay. Là thân thì thân ngài thì thấy thân ngài giống như cây bồ đề, tâm ngài nó sáng như là tấm gương, và hằng ngày ngài đều giữ gìn,

[37:46]ngài tu tập, ngài lau chùi để cho nó đừng có dính bụi. Là: "Thân như bồ đề thọ, tâm như minh cảnh đài, thời thời thường phất thức, vật sử nhạ trần ai." Cái công phu của một người tu hành mà tu hành đến cái mức độ mình tự tin, thấy thân mình như là cội bồ đề trí tuệ, tâm mình nó sáng như tấm gương, và mình giữ gìn cái công phu đó ngày từng lúc từng lúc không để cho một cái bụi trần nào dính vào, công phu rất vĩ đại, đừng có chê nha. Ngày nay khi ta học đạo á, khi ta đọc Pháp Bảo Đàn, ta đọc cái bài kệ của ngài Huệ Năng rồi cái ta cứ chê bài kệ ngài Thần Tú, nhưng sự thật bài kệ ngài Thần Tú vĩ đại lắm, không đơn giản.

[38:28]Cái người đến mức độ mà tu rất là chuyên sâu mới có thể tự tin mà nói lên bài kệ đó. Thầy nói nội cái mà "Thời thời thường phất thức, vật sử nhạ trần ai" là lúc nào cũng phải lau chùi, không để dính bụi trần, chỗ đó cực kỳ vĩ đại, cực kỳ vĩ đại, không đơn giản đâu. Chứ còn bình thường nhiều người đã không có cái thời thời thường phất thức đâu, nhiều người không có được cái mà lúc nào cũng phủi sạch, không có. Hằng ngày ta cứ lúc này ta nhiễm tham, lúc kia ta nhiễm sân, lúc nọ ta nhiễm ái. Cứ bao nhiêu cái bụi trần nó dính vào tâm ta, mà ta không lau ra kịp. Còn ngài Thần Tú, ngài tỉnh giác từng giờ từng phút,

[39:10]không để một chút sai lầm nào vướng trong tâm hồn mình. Cái công phu của con người đó rất vĩ đại. Nhưng mà chưa chứng thôi, chứ thực ra ngài cũng đã chứng mức độ nào đó rồi, nhưng mà nó chưa tới tột thôi. Chứ cái công phu của ngài đến cái mức độ đó phải nói là một bậc chân tu thánh thiện, không đơn giản. Mà chỉ vì ngài Huệ Năng là ngài chứng rồi, ngài ngộ rồi nên ngài nói câu ngược lại: Thân này không phải là cội cây, tâm này cũng có không có hình dung là một cái đài, tức là xưa nay chẳng một vật nào cả thì chỗ nào mà bụi nó bám được. Cái cảnh giới đó của người đã chứng. Cái mọi người ngạc nhiên liền,

[39:47]tại sao có một bài kệ của một người nào mà đã đến phi phàm như vậy? Thì Tổ Hoằng Nhẫn là người sáng suốt, ngài lập tức lấy đôi giày ngài chà cái bài kệ của ngài Huệ Năng liền. Mà vì sao vậy? Là bởi vì ngài thấy rằng nói cái bài kệ đã chứng á thì cũng hay, nhưng mà nhiều người không có đường tu. Còn giữ cái bài kệ của ngài Thần Tú lại đó, có công phu tu tập, thời thời thường phất thức, lúc nào cũng giữ gìn tâm mình, lau chùi những cái tâm niệm sai lầm. Chính cái có đường tu này chúng sinh mới được lợi ích. Còn cái câu nói của người đã chứng: "Xưa nay chẳng một vật, chỗ nào dính bụi trần" không có

[40:22]đường cho người ta đi, không có đường cho người ta tu. Mà chỉ bày tỏ cảnh giới người đã chứng, nó không có lợi. Cho nên Tổ Hoằng Nhẫn sáng suốt lấy đôi giày bôi luôn, đồng thời là giấu cái thân phận của cái người đã chứng lẫn ở trong chúng này. Và sau đó ngài mới gọi trong đêm canh ba, gọi ngài Huệ Năng vào thất mình và truyền y bát. Khi mà truyền y bát rồi đó, thì chúng nổi điên lên. Tại vì chúng họ mới nghĩ rằng là một cái thằng vì lúc đó ngài Huệ Năng ngài ốm nhom ốm nhách à, ngài giã chày không nổi phải cột cục đá lên mới đứng giã chày gạo được. Ô một cái thằng công quả đen đủi, xấu xí, ốm nhom ốm nhách,

[41:00]chưa xuất gia, chưa hề được phủi tóc, chưa thọ giới, tức là thân phận rất tầm thường ở nhà bếp, bỗng nhiên bây giờ trở thành nắm lấy tổ vị, thay thế sư phụ mình, không ai chịu nổi. Vì người ta chấp cái gì? Chấp nguyên tắc. Chấp nguyên tắc á. Tại vì theo nguyên tắc, mà theo cái nếp người ta đã nghĩ, thì phải là một cái người đã tu lâu năm, đã được chúng, đại chúng yêu kính, quý trọng, rồi là thân cận với sư phụ, thì người này mới là kế thừa cái tổ vị một cách tự nhiên. Bây giờ tự nhiên bỗng nhiên một cái thằng công quả ở đâu vô danh tiểu tốt, mỗi ngày đi qua mình chẳng bao giờ ngó tới nó, bữa nay nó trở thành tổ mình phải quỳ lạy nó, không ai chấp nhận được chuyện này.

[41:42]Bởi vì chấp nguyên tắc. Và chính vì cái chấp nguyên tắc đó, mà ta mới có một cái chuyện là trong đêm mà ông thầy phải chèo thuyền để đưa cho, đưa tiễn đệ tử mình tới bờ sông để người đệ tử trốn đi trong đêm luôn, ôm y bát đi mất luôn, và bao nhiêu năm sau? 15 năm sau mới dám xuất hiện. Suốt 15 năm đó không biết tổ là ai. Đó là một câu chuyện rất là thú vị, mà cũng rất là buồn ở trong đạo Phật cũng chính vì cái chấp nguyên tắc. Cho nên ta thấy cái nguyên tắc, cái kỷ luật, cái kỷ cương, cái luật pháp, nó là cái điều cần thiết cho xã hội, cho tổ chức, cho gia đình, cho chùa, cho Phật pháp. Nhưng mà nếu chấp nó thì thành cực đoan thì ta sẽ gây đau khổ cho nhau.

[42:27]Là như vậy, nên khi đưa ra một cái điều gì nguyên tắc ta phải xét đi xét lại, coi chừng là cái này là nguyên tắc hay là hay là cái sự ác độc. Hôm vừa rồi thầy cũng kể chuyện cho đệ tử thầy nghe, có một lần thầy cũng đã chấp nguyên tắc và thầy cũng phải hối hận cả đời mình. Mỗi khi nhớ tới chuyện đó thầy cứ hối hận. Lần đó thầy tới phiên nấu bếp. Nấu bếp mà chúng ở Thường Chiếu đông lắm. Đâu có sáu bảy chục người thầy nấu, mà nấu thì phải nấu nửa tháng. Có hai người, thầy nấu với ông sư đệ, mà ông sư đệ thì ổng cứ lo học ổng không thèm nấu, mình thầy chạy ra chạy vô, chạy trong bếp chạy ra sàn nước,

[43:05]sàn nước chạy vô bếp, chạy không chứ đi không có thời gian, khi đó làm liên tục. Lúc mình làm căng thẳng quá, đúng là lúc đó cái đạo lực mình giảm. Có một ông cụ già, ông đó ông tu trong chùa, ông mới lom khom lom khom đi vô nhà bếp, ông nói: "Thầy nấu cho con xin miếng cháo." Con bệnh. Lúc đó thầy mới quay hỏi: "Thầy đã qua ra khám, khán bệnh thầy thông, thông giáo chưa?" Tức là ông thầy đó phụ trách về khán bệnh. Tại theo nguyên tắc á, là khi nào mà bên khán bệnh á, cái người phụ trách về y tế đó, báo xuống nhà bếp là hôm nay nấu cái phần cháo đó cho người đó, thì nhà bếp mới nấu. Cho nên khi mà không có cái khán bệnh,

[43:41]mà ông thầy đó ổng tự ổng vô nhà bếp ổng xin cháo là ổng sai nguyên tắc. Cái thầy bèn đem nguyên tắc ra làm khó ổng. Thầy nói: "Thầy đã hỏi khán bệnh chưa, khán bệnh đồng ý chưa?" Ổng nói: "Dạ chưa." Cái thầy nói: "Thầy đi hỏi khán bệnh đi." Lúc đó thầy lại đo, nấu tiếp, mà suốt đời thầy hối hận vì cái nguyên tắc đó. Lẽ ra lúc đó không cần nguyên tắc, lẽ ra lúc đó thầy phải nấu cháo cho ông. Nhưng mà lúc đó là vì thầy bận quá, nên trong cái lúc mình đưa nguyên tắc ra làm khó ông già, và chỉ vì cái nguyên tắc đó thầy hối hận suốt cả đời. Cho nên do đó nguyên tắc thì là cần thiết, nhưng chấp nguyên tắc coi chừng ta ta phạm sai lầm.

[44:16]Hôm nay thầy kể chuyện này ra có lẽ là Phật cũng tha thứ cho thầy, thầy cũng sẽ bớt hối hận về chuyện này.

[44:25]Hoặc là trong cái ngồi thiền cũng vậy. Thì theo ngồi thiền, Phật dạy chúng ta là: "Hơi thở vào, biết hơi thở vào. Hơi thở ra, biết hơi thở ra." Thì tu vậy là đúng rồi. Nhưng mà coi chừng ta đi vào cực đoan. Là cực đoan là ta theo dõi hơi thở chặt quá, bắt đầu từ từ ta nắm lấy hơi thở, nắm hơi thở, nắm hơi thở, an trú hơi thở tại một điểm, rồi hơi thở từ từ nó nhỏ lại, nhỏ xíu như một đường tơ, và tâm ta cực kỳ vào an định, và ta tưởng mình đã đi đúng đường, nhưng đâu có ngờ rằng đó là một loại cực đoan trong hơi thở. Mà cái người cực đoan trong hơi thở dễ phát thần thông, và cũng dễ phát sinh tà kiến, rất là nguy hiểm.

[45:03]Cho nên Phật đã dạy ta thế này: "Cảm giác toàn thân, hơi thở vào. Cảm giác toàn thân, hơi thở ra." Tức là vừa ta biết hơi thở vào, ta biết hơi thở ra, nhưng cũng phải biết rõ toàn thân. Nhờ như vậy mà ta quán hơi thở ở trong sự trung dung, không có cực đoan. Cái đạo lý mà vừa biết hơi thở ra vào, vừa biết rõ toàn thân, để có được cái hơi thở trung dung này, thầy phải tu bao nhiêu năm trời mới tìm ra được, mới thấy cái vĩ đại của Phật. Còn hồi xưa không biết, hồi xưa là hễ mà nói: "Biết hơi thở vào, biết hơi thở ra" là mình nắm chặt hơi thở luôn. Nắm chặt hơi thở luôn rồi mình thấy nắm chặt hơi thở như vậy tâm mình yên

[45:43]là mình tưởng mình đã đúng đường, đâu ngờ rằng nó hoàn toàn sai đường. Đó là một loại hơi thở cực đoan. Mà hơi thở cực đoan rồi phát sinh không biết bao nhiêu tà kiến. Mà Phật đã dạy rất là rõ, dạy tâm cái hơi thở trung dung, vừa biết hơi thở ra vào, vừa biết rõ toàn thân. Phật tuyệt vời. Bởi vì ta càng tu rồi ta mới thấy cái vĩ đại của Phật. Cái vĩ đại của Phật trong những điều rất đơn giản, trong những điều rất đơn giản mà cực kỳ chuẩn xác. Mà chính vì cực kỳ chuẩn xác đó, mà ta mới có thể đi đúng trên con đường giác ngộ giải thoát được. Trật một cái là sai liền, trật một cái ta sai liền. Nên cái gọi là cái trung dung trong mọi vấn đề là một cái đạo lý rất là lớn,

[46:26]là một cái thái độ rất là đẹp để cho ta sống và để cho ta ta tu. Ngay cả hơi thở cũng vậy đó. Nên người nào mà biết hơi thở vào, biết hơi thở ra, mà vẫn cảm giác được toàn thân, người đó đã đi đúng con đường của Phật dạy. Và cứ thế, tâm nhiều khi nó chưa yên liền, tâm không yên liền nhưng biết rằng ta đi đúng đường, cứ như thế, từ từ tâm linh ta sẽ mở ra dần dần rất là rõ ràng. Còn cái người mà hơi thở cực đoan á, biết hơi thở vào, biết hơi thở ra mà không biết rõ toàn thân, từ từ cái nắm chặt hơi thở tại một điểm thôi, nắm chặt hơi thở nhỏ dần nhỏ dần lại thì thấy tâm mình vào định rất nhanh, nhưng mà ta chuẩn bị thành ngoại đạo,

[47:04]tà giáo luôn, sẽ phát thần thông, nhìn đâu biết đó, rồi thành ngoại đạo luôn. Còn khi ta vừa biết hơi thở vào, biết hơi thở ra mà vẫn biết toàn thân, ta lâu nhiếp tâm hơn, vọng tưởng ra ta nó vẫn khởi, nó vẫn khởi đều đều đều đều, những lý luận, tầm tứ nó vẫn khởi đều đều đều đều, nhưng không sao, ta đã đi đúng đường, cứ kiên nhẫn như vậy mà đi, cứ kiên nhẫn vậy mà đi. Nhưng mà ta đã đi đúng đường của Phật dạy, và từ từ sao? Ta sẽ đi dần qua con đường Tứ thiền, cứ như vậy. Bây giờ thầy nói qua một cái cực đoan khác nữa là ông trời. Ví dụ thế này, cái người nông dân hạn hán không cày cấy được, rồi cứ than thở riết, bỗng nhiên trời mưa xuống,

[47:48]cái người đó nói câu này, "Trời ơi, ông trời ổng cho trận mưa đỡ quá, bây giờ mới đi cày cấy được." Câu nói đó có sai không? Có sai không? Không, không sai, nói rất là đúng, ông trời ổng cho trận mưa đúng vậy đó. Hoặc là cái người đó họ không có con, cái bỗng nhiên người vợ họ có bầu, sinh được đứa con trai, mừng quá, nói "Trời cho tôi đứa con nối dõi." Câu đó có sai không? Không sai, cũng đúng đó, trời cho đứa con nối dõi, rất là đúng. Tức là cái đó là một cái gì mà ta biết ơn ơn trên. Trước những cái khó khăn cuộc đời, bỗng nhiên ta có những cái may bất ngờ nên ta nghĩ rằng cái may bất ngờ này nó ngoài cái khả năng

[48:25]của con người, con người không làm được, ta bèn đem cái đó ta nói là của ơn trên, và của ơn trên ta gọi là trời, trời cho. Nên cái chữ mà trời cho ta điều này, trời cho ta điều kia, tức là nói rằng ta biết ơn cái bậc thần thánh bí mật nào đó, mà ta cũng nói lên rằng ta rất khiêm tốn vì những cái may mắn mà ta có được này hoàn toàn ngoài tầm tay của ta, ta không có khả năng để tạo nên những điều này, mà sự thực là có một thế lực nào đó siêu nhiên đã giúp đỡ ta. Thì cái chữ trời cho này nó rất là hay, rất là đẹp, chẳng có gì phải lo cả. Nhưng nếu bắt đầu ta đẩy cái lý luận này tới cực đoan, bắt đầu ta sẽ gặp vô số điều vô lý.

[49:09]Ta đẩy cái lý luận này tới cực đoan là sao? Là thế này, ta nói cái gì cũng của ông trời tạo ra hết, bắt đầu ta vô lý. Lâu lâu ta gặp may mà ta thấy rằng mình làm không được cái điều này, bỗng nhiên mình gặp may cái mình bèn nói rằng trời cho, cái này đúng. Tức là có một thế lực siêu nhiên nào đó đã ban cho mình, đã giúp đỡ mình mà mình không làm nổi. Đây là cái lòng biết ơn thần thánh và cũng là cái tâm khiêm hạ của con người, cái này đúng. Nhưng mà bắt đầu đào sâu lý luận tới cực đoan, nói cái gì của ông trời tạo ra hết, bắt đầu ta sai. Chiếc lá rơi cũng bảo ông trời ổng làm cho lá rơi. Rồi động đất chết hai trăm ngàn người cũng nói

[49:50]ông trời ổng gây ra động đất, bắt đầu ta sai. Rồi cái HIV/AIDS chẳng lẽ ông trời ổng tạo ra? Phải không? Quái thai, đứa bé nó dính nhau, hai đầu, chẳng lẽ nói ông trời ổng tạo ra? Nên nếu mà từ cái trời cho mà đẩy tới cái cực đoan là cái gì ông trời cũng tạo ra hết trên đời này là ta rơi vào sai lầm lập tức liền. Nên do đó mà trong cái tín ngưỡng dân gian từ xưa cái gì cũng nói ông trời á, nó vừa chừng thì đúng, giống như Khổng Tử là đúng. Như Khổng Tử nhiều khi nói, "Trời cho ta có đức hạnh." Cái câu nói là ừ ngài nói rất là khiêm tốn, tức là không phải là ngài tự ngài mà ngài một cách kiêu ngạo mà ngài làm ra được những điều

[50:32]đức hạnh này, mà ngài cho rằng nó vẫn có một cái bí mật nào đó, có sự gia hộ nào đó của siêu nhiên mà khiến Khổng Tử ngài có cái minh triết, có trí tuệ, có đức hạnh để lại đạo lý cho ngàn đời sau. Cái câu nói ngài rất là đẹp, "Trời cho ta có đức hạnh." Hoặc người nông dân nói trời cho một trận mưa, những cái điều đó nó đẹp, nhưng mà đừng đẩy sâu nữa. Khổng Tử không lý luận tới nữa, không nói là trời tạo ra cái này, không nói trời tạo ra cái kia. Ngưng ngang như vậy thôi là đẹp, là trung dung. Còn bắt đầu mình đẩy tới cực đoan đến nỗi mình đi mình vấp té cái gãy hai ba cái răng cũng nói cũng trời, không lẽ ông trời ổng xô mình té gãy răng.

[51:09]Cho nên không không nói tới nữa, không nói tới nữa. Ngang chừng đó thôi là được rồi. Còn trong đạo Phật ta thì mọi điều có có nhân quả. Bây giờ nói tới nhân quả, cũng có cái nhân quả cực đoan nữa. Có nhân quả trung dung, ta hiểu nhân quả một cách trung dung nhưng mà cũng có khi ta hiểu nhân quả một cách cực đoan cũng sai lầm luôn. Thế nào là nhân quả trung dung mà thế nào là nhân quả cực đoan? Nhân quả trung dung nè, là ta trồng dưa được dưa, trồng ớt được ớt, ta làm điều lành ta sẽ được hạnh phúc, niềm vui, à ta gây điều ác thì ta sẽ gặp đau khổ, tổng quát vậy là đúng á, tổng quát vậy là đúng.

[51:49]Nhưng mà cái nhân quả mà cực đoan á, bắt đầu ta hiểu thành định mệnh, ta hiểu thành định mệnh, tức là cái người sinh ra có cái số à, tức là số thằng đó làm quan làm quan, số nhỏ đó làm giàu làm giàu, thôi đừng có làm gì nữa, bắt đầu ta hiểu thành định mệnh. Là hiểu nhân quả cực đoan trở thành định mệnh mà con người không thay đổi được. Sự thực là nhân quả thay đổi được. Vì sao vậy? Bởi vì cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên nó xoắn lại với nhau trên cuộc đời này. Chiếc lá rơi, mình đang ngồi nghe pháp bỗng nhiên có chiếc lá vàng nó rơi rụng đáp trên đầu mình, thì đó là nhân quả hay là ngẫu nhiên, vô tình?

[52:31]Hay con chim bay ra bay ngang mình ỉa cái nó không ỉa trúng ai, ỉa trúng ngay cái cái bánh mình đang đưa vô miệng, thì đó là nhân quả hay vô tình? Đó là tất nhiên hay ngẫu nhiên? Có lần ngài Quy Sơn đi với đệ tử của mình là ngài Ngưỡng Sơn, hai thầy trò đang đi trên núi bỗng nhiên con chim nó gắp một trái hồng nó bay ngang nó thả xuống trước mặt hai người để nó cúng dường. Ta thấy đức độ của hai vị thiền sư đó dễ sợ thiệt á. Cho nên con chim nó cảm nhận được đây là bậc thánh, hai bậc thánh, mà nó đi đâu nó gắp một trái hồng bay ngang nó thả xuống nó cúng dường. Cái ừm ngài Ngưỡng Sơn Huệ Tịch lật đật lượm lượm

[53:08]rồi lúc không có nước lấy cái áo phủi phủi. Ngài cũng hơi bị ở dơ nhưng mà chắc th- lúc đó là tại giữa rừng giữa núi mà, ngài phủi phủi lật đật ngài quỳ xuống dâng thầy mình, nói, "Thưa thầy, chim cúng dường thầy, con xin mời thầy ăn." Cái ngài Quy Sơn mới bẻ làm hai, nói, "Con cũng có phần, con cũng phần." Thầy trò thật là đẹp, tức là ông thầy cũng biết con chim nó cúng sự thực nó cũng cúng đệ tử mình đó, tại người đệ tử rất là đức độ, bẻ ra hai người người ăn nửa trái. Thì con chim mà nó gắp trái đó xuống á thì sự thật cái đó là không phải ngẫu nhiên đâu, đó là tất nhiên á. Tức là con chim nó cảm nhận được đây là hai bậc thánh đang đi trong đường

[53:40]rừng, nó lật đật nó nó bay nó đi tìm trái hồng mà nó biết cây nào có, nó gắp về nó cúng, thì đó là cái tất nhiên á, đó là nhân quả cảm nên. Còn bây giờ mình đang ngồi vậy chiếc lá vàng rơi trên đầu mình hoặc một chiếc hoa rơi trước mặt mình, đó là tất nhiên hay ngẫu nhiên? Nhiều khi một chiếc lá vàng nó rơi vô tình nó rơi trên vai mình thì đó không có gì quan trọng, nó chỉ là ngẫu nhiên thôi. Tại vì sau đó mình cũng chẳng bệnh, cũng chẳng ai làm thơ tặng mình vì cái chiếc lá vàng rơi trên vai mình cả. Nếu chiếc lá vàng rơi trên vai mình xong có người họ làm bài thơ tặng mình, "Chiếc lá vàng rơi trên vai em làm cho tôi thấy mà phát thèm",

[54:18]ví dụ vậy, có người mà làm bài thơ tặng mình á thì coi chừng nó không phải là không phải là ngẫu nhiên mà nó có cái điềm gì đó. Nhưng mà đây nó rơi xuống đầu mình cái bộp cái rồi nó cũng rớt xuống chẳng ai làm thơ tặng mình thì coi chừng nó chỉ là ngẫu nhiên, cũng chẳng phải là nhân quả gì đặc biệt. Nhưng mà ví dụ như buổi sáng sớm mình mở cửa ra mình bước ra ngoài cái tự nhiên có cánh hoa đâu nó rơi xuống trước mặt mình, thì đó là tất nhiên hay ngẫu nhiên? Coi chừng cái đó không phải ngẫu nhiên, coi chừng cái đó là một cái điềm báo rằng ngày hôm nay ta có một điều rất là vui xảy đến đời ta, nó báo cái điềm bằng cánh hoa,

[54:51]bỗng nhiên mở cửa buổi sáng mà cánh hoa rơi xuống trước mặt mình là điềm lành. Nên ta thấy rằng trong cuộc sống này vậy, cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên nó xoắn lại với nhau, hình như thầy chưa giảng về cái bài tất nhiên ngẫu nhiên này, nhưng hôm nay nói về bài trung dung nên thầy nói cho biết là ta hiểu nhân quả đừng hiểu cực đoan, mà trong cuộc sống này cái điều tất nhiên và cái điều ngẫu nhiên nó xoắn lại với nhau ta rất khó phân biệt, cho nên đừng đổ thừa là mỗi hạt bụi bay cũng là nhân quả, không phải, nó có cái ngẫu nhiên của nó nữa. Và có cái gì mà nó quan hệ đó, nó hệ trọng bắt đầu ta mới

[55:25]xét tới nhân quả và hiểu như vậy thì ta xử lý mọi điều cho nó hợp lý, không có liều lĩnh, không bỏ liều. Chớ đừng nói là nhân quả rồi cuộc đời nó giống như là là định mệnh thì không có, không có hay, đó đó là một cái nhân quả. Vì cái lòng mộ đạo cũng vậy, cái lòng mộ đạo trung dung và có lòng mộ đạo cực đoan. Thế nào là lòng mộ đạo trung dung và thế nào là lòng mộ đạo cực đoan? Cái lòng mộ đạo cực đoan là thế này, là mình tới chùa, sau khi hiểu đạo rồi mình mới nghe vài câu chuyện có những người chặt tay cầu đạo, có người thí cả thân mình vì đạo pháp, cái thế là mình về mình bỏ hết, gia đình bỏ hết, vợ con bỏ hết bổn phận đối với

[56:05]đất nước để gọi là theo đạo, thì cái mộ đạo đó coi chừng là một loại mộ đạo cực đoan, mà khi mộ đạo cực đoan rồi cái lại trái với đạo lý, trái với đạo lý. Nên vì vậy khi mà ta hiểu đạo rồi thì phải biết rằng cái bổn phận của ta lại là gia đình ta, là đất nước ta, là thế giới ta. Nên vì sao vậy? Bởi vì đạo cho ta cái cách để ta sống với đời rồi thoát khỏi cuộc đời, chứ không phải đạo là làm cho ta quay lưng với cuộc đời. Đó, phải hiểu đạo như vậy mới là hiểu đạo, mộ đạo trung dung. Còn không khéo ta mộ đạo một cách cực đoan rồi ta quay lưng hết tất cả, khi ta quay lưng hết tất cả ta cũng trái với đạo luôn.

[56:50]Còn nói bây giờ thưa thầy, vậy cái người mà nhập thất ở trong thất một mình, không làm gì hết, chỉ tu thôi rồi người ta bưng cơm mỗi ngày, như vậy có phải mộ đạo cực đoan không? Nói không. Cái người mà nhập thất như vậy là trước đó họ có cái quá trình tích lũy phục vụ rất nhiều rồi, họ phục vụ cho đời, phục vụ cho đạo rất nhiều đã đầy đủ duyên phước, khiến họ được cái phước duyên là ở trong thất không làm gì cả, chỉ lo tu thôi, mà mọi người vẫn vẫn giúp đỡ, vẫn ủng hộ, vẫn phụng sự, phục vụ cho họ, hộ thất cho họ để họ đi sâu vào tâm linh. Thì cái nhập thất mà đúng duyên đúng phước thì nó không phải là một loại cực đoan.

[57:28]Còn ngoài cái nhập thất ra, khi ta sống trong đời này ta cân đối giữa sự tu hành và sự phụng sự thì đó là mộ đạo một cách trung dung. Mà cái người mộ đạo một cách trung dung như vậy mới tiến xa trên con đường đạo được. Còn cái người mộ đạo cực đoan, bỏ hết cuộc đời chỉ còn biết có đạo, vậy chứ một thời gian sau sẽ bỏ đạo luôn. Tại vì khi họ đã trái đạo rồi thì sau này họ sẽ bỏ đạo luôn. Còn cái người lúc nào cũng cân đối, bổn phận đôi ba bên, vậy chứ họ đi mãi, đi mãi được tới cái đích của mình. Cái như làm phước vậy, như chúng ta biết vậy, là khi ta biết được Phật pháp rồi, ta muốn giác ngộ, giải thoát rồi,

[58:07]ta phải làm phước rất nhiều, vì nếu thiếu phước đời ta sẽ rất khổ. tâm linh mình không tiến, cơm không đủ ăn, nhà ở không yên thì lấy gì mà tu? Cho nên vì vậy là ta phải làm phước rất nhiều, khiến cho cái nơi ở ta ổn định, cơm ăn áo mặc không thiếu thốn, và cái tâm linh được khai mở. Cái phước nó giải quyết cho ta ba vấn đề đó. Cái phước nó giải quyết cho ta cái hoàn cảnh vật chất, sự sống, mọi duyên của thế gian và đồng thời cái phước giúp cho ta khai mở được tâm linh. Chính nhờ cái phước này mà ta tiến xa trên đường đạo, do đó Phật dạy chúng ta phải hết sức làm phước, cố gắng làm phước. Nhưng mà nhiều người không biết, bắt đầu làm phước cực đoan, thành ra làm tội.

[58:57]Thế nào là làm phước cực đoan mà thành ra làm tội? Tức là làm phước mà không cân đối với khả năng của mình. Nhà mình thì chưa có gạo ăn, chưa đủ gạo ăn, mà muốn có gạo để đi cúng chùa, thì bằng cách nào? Thứ nhất là vét gạo trong nhà mình, tức là đã thiếu rồi mình vét đi cho thiếu, rồi sao thấy thấy mình đem ồ cúng chùa có 5 lít gạo không đủ, chạy qua hàng xóm xin. Nói: "Vì tôi đi cúng chùa chị cho tôi thêm mấy lít gạo." Mà hàng xóm lúc đó họ cũng đang khó khăn, mà xin họ cà nẹo họ cà nẹo riết ghét quá họ cũng phải múc cho vài lít gạo, mình dồn vô bao lát đi cúng chùa mình hả hê, lên là: "Thưa thầy, nãy con cúng thầy được 20 lít gạo." Nhưng mà

[59:35]đâu biết rằng phía sau 20 lít gạo đem cúng chùa đó là bao nhiêu điều phiền toái của nhà mình và của hàng xóm. Cho nên làm phước đã biến thành làm phiền. Thì đây là làm phước cực đoan, làm phước mà ngoài khả năng của mình. Và có nhiều người rất là lạ, nhiều khi thầy quan sát có những Phật tử mình vậy, thầy cũng rầy hoài mà không biết sao họ không bỏ cái tật đó. Thầy thấy họ càng làm phước thì họ càng làm phiền người khác, mà họ càng làm phước càng làm phiền thì đời họ càng khổ, rõ ràng không hề được quả báo lành. Vì cái làm phiền nó mới nặng hơn cái làm phước. Chỉ đem thêm cho chùa 10 lít gạo nhiều khi chùa không

[1:00:10]quan trọng lắm, tại vì chùa cần lận tấn gạo lận. Cho nên mình bỏ thêm 10 lít chùa cũng chưa ăn thua gì với chùa, nhưng mà mình mất 10 lít của hàng xóm và gia đình mình thành lớn chuyện. Gia đình mình phải ăn cháo cả 10 ngày là rất là lớn chuyện. Cho nên cái làm phước coi vậy chứ không bao nhiêu mà cái làm phiền, cái tội nó lớn hơn nhiều, nên cuộc đời cứ càng lúc càng khổ. Có những người thầy quan sát thấy rõ như vậy. Thấy người này ham làm phước nhưng mà càng làm phước thì họ càng khổ, chỉ bởi vì cái làm phước họ tới đâu họ làm phiền người ta nhiều tới đó. Nên do đó là ta làm phước làm sao để đừng làm phiền,

[1:00:43]làm phước trong khả năng của mình, cái cân đối nhẹ nhàng như vậy, làm phước từng chút, từng chút mà cuộc đời mình tiến lên dần, tiến lên dần. Còn ham làm phước lớn để rồi làm phiền người khác thì cuối cùng mình mất phước mà chỉ thêm, thêm tội, rồi đời mình đau khổ thêm thôi. Bây giờ nói qua một cái khía cạnh trung dung và cực đoan nữa thế này. Ví dụ như có một lần đó, ông Tổng thống Pháp, Tổng thống Pháp Chirac á, ổng mới lên đài ổng kêu gọi nhân dân Pháp hãy đi mua sắm thêm, hãy đi mua sắm thêm một chút nữa để giúp cái nền kinh tế của Pháp tăng trưởng. Vì sao vậy? Bởi vì phải có người mua thì mới có người bán,

[1:01:23]mà có người bán thì họ mới lấy được từ những công ty, những hàng hóa từ những công ty. Thì những công ty đó có người tiêu thụ rồi họ mới sản xuất, mà có người mà họ có sản xuất họ mới thuê được công nhân thì mới tạo công ăn việc làm. Thì đó như vậy. Như vậy để cho có thêm công ăn việc làm thì phải có người mua sắm. Đó là một cái vòng xoay của kinh tế. Nên cứ ta cứ mua sắm nhiều là không ngờ ta đã kích thích sự tăng trưởng của kinh tế đất quốc dân lên. Thì điều này trong lý luận của kinh tế học không có gì phải nghi ngờ. Nghĩa là ta càng mua đồ nhiều chừng nào thì ta càng làm phước nhiều chừng nấy, tức là trong đó ta có đóng thuế,

[1:02:00]trong đó ta có kích thích sản xuất, trong đó ta có giúp tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người chỉ bằng cái mình đi mua sắm thôi. Thì nghe rất là có lý. Nhưng, nhưng mà cứ suốt đời mà đi mua sắm thì chuyện gì xảy ra? Hết tiền, nghèo. Đồng thời cái sự mà kích thích sản xuất á, cái làm ta phải khai thác tài nguyên cạn kiệt tài nguyên của trái đất, tức là môi trường bị phá hủy. Cho nên là cứ càng mua, càng kích thích sản xuất, càng tạo công ăn việc làm thì môi trường trái đất càng hư luôn. Như vậy kết quả là sao? Kết quả cái gọi là tăng trưởng kinh tế là sao? Là môi trường trái đất bị phá hủy. Rồi cái người mua tìm đâu mà mua hoài, phải không?

[1:02:40]Lấy tiền đâu ra mà mua hoài? Đó, đó là vấn đề. Do đó là ta thấy thế gian này nó lẩn quẩn cái vòng không lối thoát, nên ta làm gì vừa phải thôi, chứ không thể mà đẩy lên tới cái cực đoan được. Thấy ai hà tiện quá cái thầy cũng kêu: "Thôi kệ ráng mua đi mà, mua đi cũng kích thích kinh tế." Nhưng mà ai mua nhiều quá nói: "Thôi đừng có mua nữa, mua nhiều quá là phá hoại môi trường của trái đất." Cho nên như cái hàng hóa mà hàng rẻ của Trung Quốc vậy, hàng rẻ cực kỳ làm cho ai cũng thích mua, nhưng đâu biết rằng khi mà Trung Quốc họ sản xuất hàng rẻ để cho nhiều người mua thì cái môi trường, tài nguyên của Trung Quốc mất sạch hết, phá hết luôn.

[1:03:15]Các dòng sông dơ bựa bẩn, đồi núi bị đào loan lỗ hết, các mỏ quặng đồ hết luôn. Và những người công nhân họ phải làm lương giá thật rẻ thì mới bán được cái hàng rẻ và người công nhân vẫn tiếp tục nghèo. Mặc dù là hàng Trung Quốc tràn ngập thế giới nhưng mà người công nhân vẫn tiếp tục nghèo. Thì như vậy có ích lợi gì đâu? Nên do đó cái việc mà mua sắm tiêu thụ trong chừng mực nào đó thì được, nhưng mà đẩy lên tới đỉnh điểm thì bắt đầu lại là sự phá hoại chẳng hay ho gì. Cho nên ta thấy cái gì cũng vừa phải thôi, đừng có cực đoan quá. Hoặc bây giờ nói sống đơn giản vậy, ta tu theo Phật là ta sống đơn

[1:03:51]giản, thì sống đơn giản vừa chừng thôi, sống đơn giản đến nỗi mà không mua sắm thứ gì hết đúng là không góp phần kích thích kinh tế mà tới rơi vào cái khổ hạnh rồi lập dị luôn, lập dị luôn. Tức là giữa con người mọi người sống bình thường như thế này, mình lúc nào cũng làm khác khác không giống thiên hạ thì cái đó không phải là đơn giản nữa mà bắt đầu thành ra lập dị, thấy không? Cái đơn giản đã trở thành trở thành cực đoan. Do đó cái gì cũng vừa phải thôi. Nên hôm nay ta nói cái bài này là như một cái đạo lý làm cái quà tặng cho quý Phật tử đầu năm và hy vọng rằng là chính nhờ cái thái độ trung

[1:04:24]dung này trong mọi vấn đề này, trong cuộc sống này mà cuộc đời ta đều an vui, nhẹ nhàng, ta cứ làm cái gì cũng đúng. Chính vì ta làm gì cũng đúng, cho nên phước lành của ta tăng trưởng dần, tăng trưởng dần. Và chính nhờ phước lành tăng trưởng dần như vậy và những năm sau nữa, những năm sau nữa cuộc đời ta sẽ khá lên, hạnh phúc hơn, ổn định hơn, phát đạt hơn. Đó là thay lời chúc Tết đầu năm được không ạ? Nên ta có hệt: "Cái gì cũng vừa phải thôi, giúp ta tìm ra lẽ phải. Đời cũng giống dòng sông trôi, đổi thay xoay vần mãi mãi. Tâm hồn thanh khiết tinh khôi, mùa xuân an lành thư thái." Chúc quý Phật tử được nhiều phước lành ha,

[1:05:09]năm mới giàu sang, phát đạt, khỏe mạnh, làm được nhiều công đức, tu hành được tinh tấn, chia sẻ giáo lý được với nhiều người. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.