Transcript: Tứ Niệm Xứ 07

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:35:00

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:01]À hôm nay cái bài giảng của Sư phụ là bài Tứ Niệm Xứ thứ bảy, một bài chuyên sâu về thiền nên rất là khó nghe. Hôm nay cái bài này chỉ những người nào có tinh tấn dụng công tu thiền thì mới nghe nổi. Còn người mà chưa có thực hành thiền, nghe bài này không nổi. Và vì thế, nếu trong khi trong khi chờ nhau để mà tan cái buổi giảng rồi để về đó, mà trong khi ngồi nghe, ta thấy người ngồi bên cạnh ta ngủ, đó là normal, chuyện bình thường nha, tại bài này mà nghe mà không ngủ mới lạ á, còn nghe mà ngủ là bình thường, bài này rất là khó nghe. Bài Tứ Niệm Xứ sáu bài là đã khó rồi, hôm nay tới cái bài thứ bảy rất là khó.

[0:55]Hai hai hai hai hai ngài có cái tai nghe phiên dịch chưa, có hết chưa, à có rồi.

[1:04]Hai đứa nào mà nó chạy như giặc như cướp ngân hàng vậy con? Nghi phạm mà chạy như cướp ngân hàng vậy, ai chặn lại bắt coi coi phải không? Trời ơi! Ở

[1:18]đằng xa xa đằng kia ngồi ổn định hết cho Sư phụ nha, không có đi tới đi lui à.

[1:26]Như ta đã biết vậy, thiền định là cái phần đỉnh cao trong sự tu tập của đạo Phật. Đạo Phật thì có nhiều cái cách tu từ cái căn bản rất là thấp và lên tới rất cao, đó là thiền định. Mà chỉ khi nào ta đạt được cái định rất sâu, sâu đến tuyệt đối, thì ta mới đạt được sự giác ngộ, giải thoát thực sự. Đây là một điều rất là khó. Thường thường vậy, cả cái thế giới này có một số người cũng thích tu tập thiền định, nhưng chỉ đạt được một mức định vừa phải nào đó rồi thôi. Rồi có khi không tiến lên mà lại lui ngược trở lại, trở lại bình thường như lúc trước vậy. Như hôm nay vậy, Sư phụ nhận được một cái tin có một ông cụ vừa mất

[2:23]mà Sư phụ biết là lúc ông còn trẻ, ông cũng nhập được thiền, nhưng sau đó ông thoái lui hoàn toàn, hư luôn bộ não, bây giờ thì mất, sống cũng rất là lâu, mất. Nên việc thiền không hề dễ một chút nào. Cho nên nếu cái người nào mà khi nói về đạo Phật, chỉ nói về thiền định mà không nói cái nền của thiền định là gì, đó là một sự thiếu sót rất là lớn. Vì khi ta leo lên rất là cao thì ta cần cái nền rất là vững chắc. Giống như một người khi mà được sự giàu sang rồi mà không nhớ tới những lúc mình cần cù làm phước, làm ăn, xoay sở, đó là một điều sai lầm. Cũng giống như khi ta nghe nói về thiền mà chỉ nói về thiền,

[3:13]không nói đến cái lúc mà ta vất vả tu tập ở phía trước, bao nhiêu công lao, khó nhọc, bao nhiêu cái tâm hạnh đạo đức, bao nhiêu cái công quả phúc lành, mà ta bỏ hết chỉ nói tới thiền định thì chắc chắn người đó cũng cũng sai. Vì thiền định là đỉnh cao, nhưng có cái nền rất là kỹ. Khi ta nói về Tứ Niệm Xứ, ta chỉ nói về cái cao của thiền định, ta bỏ qua cái phần căn bản. Đây là điều rất dễ làm cho ta hiểu lầm là cứ đến với đạo Phật, đến với thiền là đi vào cái chỗ cao siêu. Còn khi mà ta nói về Bát Chánh Đạo á thì rất là may mắn, ta sẽ nghe từ cái căn bản ban đầu của sự tu tập. Còn Tứ Niệm Xứ là chỉ chuyên dành cho cái phần cao, đó là phần thiền định.

[4:04]Hôm nay nghe á, cứ từ từ mà ngủ, không sao hết, bài này cũng rất là khó, phải vậy.

[4:12]Nói về thiền định thì Đức Phật có đưa ra ba cái con đường. Một là Tứ Thiền, bốn mức độ thiền định từ cạn tới sâu: từ Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền. Nhưng ngay cái chữ Sơ Thiền, ngay cái the first level of meditation, ngay cái cái cái Sơ Thiền thôi, cả mấy tỉ người trên thế giới này chưa chắc có một vài người nào nhập được. Chứ đừng có nói, nghe chữ "sơ" ta tưởng sơ sơ, sự thực Sơ Thiền đã rất là vĩ đại. Đó là bốn cái bốn cái mức độ thiền mà nếu ta đạt được tới cái mức Tứ Thiền, ta gọi là đạt được cái định tuyệt đối. Thế nào gọi là cái định tuyệt đối thì hôm nay ta cũng không có thời gian

[5:10]để giải thích hết, vì nó vi diệu, cái sự vi diệu của Tứ Thiền. Nhưng mà nếu ta đạt được cái Tứ Thiền thì ta chuẩn bị đạt được sự giác ngộ tối cao của đạo Phật. Đó là con đường thứ nhất. Con đường thứ hai, cũng là thiền định, là con đường Tứ Niệm Xứ. Tứ Niệm Xứ cũng là bốn cái mức độ thiền định nhưng có chỗ nắm.

[5:39]Lát thầy giải thích tại sao có chỗ nắm. Và cái con đường thứ ba là con đường Tứ Quả Thánh: chứng từ Sơ Quả, Nhị Quả, Tam Quả tới Tứ Quả A La Hán. Ba con đường này khác nhau, cách tiếp cận khác nhau, cách giải thích khác nhau, cách nhìn góc nhìn khác nhau. Nhưng một người đệ tử Phật tu tập hướng về sự giác ngộ đều phải nắm rõ cả ba cái con đường này, ba cái góc nhìn này trong sự tu tập của đạo Phật. Thứ nhất là Tứ Thiền. Khi nói về Tứ Thiền thì Đức Phật chỉ định nghĩa là cái sức định sâu dần, sâu dần, không nói gì hơn. Tức là cái người mà nhập được Sơ Thiền thì cái trạng thái tâm đã thanh tịnh như thế,

[6:29]hỷ lạc như thế, nhưng còn những cái tầm tứ, những cái quan điểm bí mật chôn sâu ở trong tâm chưa hết, nhưng đã vượt khỏi cái dục lạc, vượt khỏi cái tâm xấu ác. Nghĩa là nếu cái người nào mà chứng được Sơ Thiền thì ta nắm chắc họ được hai điều: một, ly dục ly ái dục; hai, không bao giờ làm điều ác được nữa.

[6:58]Đó là lý do, ví dụ khi ta đánh giá một con người vậy. Ví dụ ta có thể người đó còn có thể làm điều ác bởi vì người đó chưa nhập được Sơ Thiền. Còn nếu một người nhập được Sơ Thiền rồi thì ta yên tâm người đó không làm điều ác được nữa. Vì đó là ly dục, ly bất thiện pháp, dứt khỏi ái dục và không làm điều bất thiện được nữa. Nên cái Sơ Thiền vĩ đại là như vậy. Và khi mà cái người mà chứng Sơ Thiền chết, lên thẳng luôn cõi Trời Sắc giới luôn, cõi vượt khỏi cái Dục, và đó là một tầng trời rất là cao. Nên ta nghe chữ "sơ", trong cái tiếng Việt Nam "sơ" có nghĩa là simple, đơn giản, nhưng sự thực cái chữ "sơ" trong cái chữ Nho,

[7:41]trong tiếng Ấn Độ, it's the beginning, là bước đầu của sự vĩ đại. Mà vĩ đại như vậy mà mới sơ thì ta hiểu cái Nhị Thiền, cái Tam Thiền, cái Tứ Thiền của đạo Phật cao siêu đến mức độ nào. Cái mức độ Nhị Thiền được định nghĩa là tắt hết hoàn toàn cái vọng tưởng, cả trong sâu, cạn và sâu, dứt hết luôn. Cái Tam Thiền là đi lọt vào cái tiềm thức, cái vô thức của của tâm hồn. Tại vì trong tâm của ta á có hai loại: là ý thức là những cái tâm mà ta nhìn thấy được nơi chính mình; nhưng trong thẳm sâu của tâm ta còn một cái cái cấu trúc vô thức ta không nhìn thấy, thì chỉ những người nhập được Tam Thiền mới lọt vào đó được.

[8:41]Mà cái người mà nhập được Tam Thiền, thấy được cái cấu trúc Vô thức của mình thì người này bắt đầu có thần thông. Thần thông rất là cao siêu, có thể bay lên được chứ không phải không. Còn Tứ thiền là đạt đến cái bản chất của vũ trụ, tới bản chất của vũ trụ, biết hết mọi điều trong vũ trụ, biết hết cả cái không gian mênh mông vô tận, vô lượng kiếp trước, vô lượng kiếp sau, cả mênh mông pháp giới các cõi nắm lại hết luôn trong một điểm nhỏ thôi. Cả cái pháp giới mênh mông vũ trụ vô tận cùng này chỉ nằm trong một giọt nước. Nên cái cái Tứ thiền vĩ đại không thể tưởng tượng mà không một triết thuyết nào,

[9:23]không một khoa học nào có thể hiểu được cái mức độ Tứ thiền này. Và hầu hết rất hiếm ai trên cái thế giới này chứng được Tứ thiền. Vì cái sự vĩ đại của Tứ thiền và có thể công đức của chúng sinh trong cái thời đại này không đủ. Nên ta chỉ nghe nói mà thường ta hiểu lầm, hiểu lầm, ta hiểu lầm rất là nhiều. Rất nhiều vị sư cũng tu tập thiền định, tâm mình cũng đạt được định nhưng không ai xác nhận đó là mức thiền nào. Có khi mới đạt được chánh niệm tỉnh giác mà tưởng mình đã Sơ thiền, Nhị thiền, mà có khi mới chứng được Sơ thiền đã tưởng mình chứng A-la-hán. Thế giới này ta bị thiệt thòi vì ta không còn có Phật để minh định ta

[10:13]chứng được tới chỗ đó là chỗ nào và hầu hết khi chúng ta tu tập có kết quả, ta đều tự phong cho mình ở một cái mức độ chứng rất là cao. Đó là lý do hầu hết chúng ta đều bị tổn phước và những kiếp sau rơi trở lại cả. Có những vị thiền sư ta đọc trong sách rất nổi tiếng, ta không ngờ rằng những đời sau, 1.000 năm sau, 500 năm sau tái sinh trở lại bình thường cả, chỉ bởi vì cái thời mà các vị đó chứng ngộ không có ai cho các vị đó biết là các vị đang chứng ở mức độ nào. Các vị cứ tưởng mình rất cao siêu. Đây là cái lầm của mọi chúng sinh trong cái thời đã cách xa Phật. Chúng ta bị thiệt thòi vô cùng, nên tuy nhiên

[11:02]nếu qua cái bài Tứ niệm xứ bảy này hay là qua luôn cái loạt bài mà Tứ diệu đế sắp tới vậy ta có thể hình dung được cái sự vĩ đại, cao siêu tuyệt đối của Phật pháp thì ta đỡ bị lầm cho mình ở những đời sau, đời này và những đời sau. Nếu khi ta tu tập có kết quả thì ta không bao giờ tự cho mình là đã đạt được cái cái cái vị trí, cái kết quả rất là cao và biết rằng nó còn rất thấp, nhờ vậy ta không bị tổn phước, ở những đời sau còn có cơ hội mà tiến lên. Chớ còn không, đời này thấy ung dung tự tại thanh thản, đời sau rớt trở lại là một người rất tầm thường, chỉ bởi vì ta hiểu lầm cái quả chứng của mình.

[11:49]Nơi đây vậy là

[11:55]cái Tứ thiền á, cái nguyên tắc của Tứ thiền nó bao gồm hai điều: một là cái kỹ thuật và hai là cái công đức quá khứ (technology and blessing) là nếu ta có phước thì ta nhiếp được tâm. Nếu ta thực hành đúng kỹ thuật thì ta nhiếp được tâm. Đó, cần hai cái này thôi. Mà nhiếp được tâm là gì? Tâm ta dần dần hết vọng tưởng. Khi tâm ta dần dần hết vọng tưởng thì từ từ ta đạt được những trạng thái kỳ lạ trong nội tâm với sự ung dung, tự tại, sự rỗng rang, sự sáng suốt, đủ thứ hết, lúc đó tha hồ mà làm thơ làm kệ rồi đọa luôn á, thật ra nó chưa là gì. Tuy nhiên nó cũng quá đặc biệt so với ta, so với ta bao nhiêu kiếp chưa bao giờ đạt được cái mức định này.

[12:47]Thế mà ngày hôm nay ta nhiếp tâm ta lọt vào đó được rồi, ta rất là ngỡ ngàng, rất là thích thú và thường hay bị lầm. Nhưng mà nhớ Tứ thiền là cần hai điều, một là gì? Kỹ thuật, hai là công đức. Tức là nếu ta có công đức quá khứ ta sẽ nhiếp tâm được, hai ta đúng kỹ thuật ta sẽ nhiếp tâm được. Cái kỹ thuật để đi Tứ thiền là gì? Thường là hơi thở. Đức Phật dạy hơi thở rất là nhiều, nhưng mà hơi thở không đơn giản. Đó là lý do tại sao mà ta cứ thở ra thở vào, thở ra thở vào tới chết hấp hối rồi, thở ra thở vào cũng chưa vào định được là vì sao? Vì thực sự cái kỹ thuật về hơi thở không hề đơn giản tí nào, không dễ tí nào.

[13:35]Thấy hơi thở vậy, ta đang thở ra thở vào, bây giờ ta đang nghe Pháp, ta quên hơi thở, không để ý. Cơ thể ta tự nó thở sao nó thở, miễn đừng có tắt thở thôi. Hễ nó còn thở thì ta còn ngồi nghe Pháp, nó tắt thở thì thì tính sau. Nhưng mà ta đang quên hơi thở, bây giờ nói tới hơi thở, ta để ý hơi thở, bắt đầu ta thấy hơi thở mình nó mạnh lên, đúng không? Để ý coi phải không? Khi mà đây thầy vừa nói tới hơi thở, bắt đầu mình nhìn lại hơi thở mình thì hơi thở mình nó mạnh hơn lúc nãy. Hồi nãy mình quên mất không biết nó thở như thế nào, bây giờ vừa nhắc tới nó cái bắt đầu nó thở mạnh lên, đúng không? Is it right?

[14:18]Đúng không? Phải trả lời câu này, đây là những kinh nghiệm. Tại sao nó mạnh lên?

[14:26]Vì trong một hơi thở ta thở vào, ta thở ra tới ba yếu tố đang thở:

[14:37]một, ta cố ý thở;

[14:41]hai, ta không cố ý nữa thì những cái rung động bí mật trong tâm thức nó thúc đẩy hơi thở mạnh lên; và cái thứ ba là hơi thở đúng, hơi thở tự nhiên của cơ thể không bị ai tác động.

[15:01]Nghe lạ chưa? Nhắc lại nha, biết lại ba hơi thở không? Về nhà ngồi thiền thẳm sâu rồi ta mới thấy được. Thứ nhất là ta cố ý thở, ta cố ý thở vào, ta cố ý thở ra. Mà cái cố ý này là gì? Là cái tâm vọng tưởng của ta. Cho nên khi ta ngồi thiền, ta cứ thở vào, ta thở ra và cứ cố ý thở vào, cố ý thở ra, thật sự tâm thức của ta đang được gì?

[15:34]Activate, được kích động. Nên không bao giờ mà ta chứng đạo được, không bao giờ ta nhiếp tâm được bởi vì ta cố ý thở. Ta đang nuôi dưỡng cái tâm. Ta bám vào hơi thở, nhưng sự thực ta cũng gì? Ta cũng kích động cái tâm thức của ta. Ta đang cố ý thở mà, ta thở bằng cái cố ý của ta. Nên ta càng thở chừng nào thì ta càng nuôi dưỡng, càng thêm cái lực cho cái tâm thức của mình và cái tâm thức đó không bao giờ lắng xuống được. Đó là lý do mà Phật dạy: Thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra, nghĩa là có cố ý thở không? Có ráng thở không? Không. Cái câu nói của Phật ở trong kinh á: Thở vào ta biết thở vào, thở ra ta biết thở ra, không có cố ý thở.

[16:26]Ta chặn được một cái yếu tố thứ nhất của hơi thở là cố ý thở. Còn ta cứ cố ý thở, ta kích động nuôi dưỡng cái tâm thức của mình hoài, cứ tu hoài mà động hoài, tu hoài cái vọng tưởng khởi hoài không bao giờ nhiếp được là vì cái yếu tố thứ nhất cố ý thở. Cái yếu tố thứ hai là bây giờ ta không cố ý thở nữa, để cho hơi thở nó tự thở, tức là biết hơi thở vào, biết hơi thở ra, biết mà không điều khiển, biết mà không cố ý thở thì tưởng mình ngon rồi, nhưng không ngờ sao? Vẫn còn một cái tâm kích động hơi thở bí mật ở trong tầng sâu của tâm. Ta cứ để ý thấy bây giờ mình không cố ý thở nữa nhưng bỗng nhiên hơi thở mình nó mạnh lên, đúng không ạ?

[17:14]Tự nhiên nó mạnh lên, tự nhiên nó kéo dài ra và tự nhiên nó lôi mình phải thở cho mạnh. Mình không cố ý, nhưng hơi thở tự nó mạnh lên. Thì cái mà hơi thở tự nó mạnh lên đó nó ở đâu ra? Chính là trong cái bề sâu của tâm thức mình tác động. Cái chỗ này rồi làm sao? Thì cái chỗ này phải cố ý mà khéo giữ lại, buông nó luôn. Đây là cái tầng rất sâu, nhìn thấy được tới chỗ này là tâm mình cũng khá yên rồi mới thấy nó được chứ không phải dễ đâu. Nếu mà ai không cố ý thở, không để cho cái rung động của tâm thức bí mật nó kích động hơi thở thì lúc đó chỉ còn lại một hơi thở chậm, ít, êm. Đây là hơi thở tự nhiên, hơi thở đúng của thiền.

[18:01]Đó là lý do mà trước giờ chúng ta cứ nhắc nhau hoài: Cố gắng khéo giữ hơi thở chậm, ít, êm. Ít chớ đừng có nhiều nha, vì ta bị lầm, ta cứ tưởng là thở nhiều cho có nhiều oxy rồi sẽ làm khỏe người hoặc là khỏe tỉnh bộ não. Không không, càng thở nhiều càng bị động tâm. Cứ nghe lời khuyên: Chậm, ít, êm là đúng là hơi thở tự nhiên của hơi thở, đó là hơi thở của của thiền định. Mà không tin á, ta có cái máy mà đo SpO2 á, ta chặn vào ngón tay á, ta đeo vào ngón tay. Ví dụ ta trong một ngồi thời giờ ngồi một thời ngồi thiền, ta cứ thở chậm, ít, êm, sau khi xả thiền ra ta lấy cái máy đo SpO2 kẹp vào ngón tay, ta sẽ thấy cái con số mà oxy máu nó sẽ

[18:53]nhảy khoảng 99 và 100%, nghĩa là không hề bị giảm oxy máu mặc dù trong cái suốt thời ngồi thiền ta thở chậm, ít, êm, nhớ. Thì đó là hơi thở thật của thiền, một lát nữa ta sẽ nói ha. Nếu mà ai nắm được hơi thở này thì ta biết ta có con đường để đi vào Tứ thiền. Ta tu ta thực hành đúng kỹ thuật của thiền là tìm được cái hơi thở đó, hơi thở chậm, ít, êm, không cố ý thở của ý thức, không bị rung động của vô thức thúc đẩy hơi thở, chỉ còn hơi thở tự nhiên, chậm, ít, êm thì chính hơi thở đó mà ta bám vào đó ta đi sâu vào thiền định, lần lần vượt qua được chánh niệm, bắt đầu nhập vào chánh định. Từ Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, chính cái hơi thở đó ha.

[19:45]Và đây là kỹ thuật nên ta nói cái Tứ thiền thì cần hai yếu tố: một là kỹ thuật, hai là công đức của quá khứ, the past blessing. Chính công đức quá khứ giúp cho ta đạt được thiền định và cái kỹ thuật, kỹ thuật hơi thở, nhưng hơi thở không dễ tí nào. Nó có ba yếu tố trong hơi thở ta phải gạt bỏ hai cái yếu tố, chỉ còn lại một yếu tố mà Phật dạy: hơi thở chậm, ít, êm, vậy thôi.

[20:23]Bây giờ cái con đường thứ hai của thiền là Tứ niệm xứ. À, cái cách nói của Đức Phật đời xưa về Tứ niệm xứ làm cho ta bị khó hiểu. Quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp. Qua mấy ngàn năm, không ai hiểu hết. Đến nỗi bên Myanmar các sư lập ra ba cái trung tâm thiền Tứ niệm xứ: một cái trung tâm dạy quán thân trên thân, một cái trung tâm khác dạy quán thọ trên thọ, một trung tâm khác dạy quán tâm trên tâm, còn quán pháp trên pháp thì không biết, bỏ. Đó là do hiểu lầm, chứ sự thật Tứ niệm xứ là một chuỗi liên tục. Điều bất ngờ nhất, chính Thiền tông Trung Hoa,

[21:08]các tổ sư thiền ở Trung Hoa là đang đi đúng con đường Tứ niệm xứ mà không biết luôn. Tại sao vậy? Tại vì ngôn ngữ cách biệt. Nên khi các thiền sư Trung Hoa mà chứng được Tứ niệm xứ nhưng mà không biết đó là Tứ niệm xứ nên đã đặt ra một khái niệm mới là bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Cái này em có dịch qua được tiếng Anh khen hay.

[21:42]Nghĩa là cái gì? Trong Tứ thiền á thì ta cái sức định sâu dần từ Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, còn cái Tứ niệm xứ á thì cũng cái sức định sâu dần sâu dần bằng cái gì? Bằng cái tìm thấy chính mình. À, tìm thấy chính mình. Chính mình cái thứ nhất mà ta nhìn thấy là cái thân này, là do ta trước đó ta tu tập nhiều cái phép quán, nhiều cái công đức, nhiều cách dụng công: quán vô thường, quán hư ảo, quán không và quán tội, vân vân, tức là cứ thấy mình là một khối tội. Cứ quán nhiều thứ như vậy cho đến ngày bắt đầu tâm ta chợt thanh tịnh, ta nhận ra mình, myself, oneself, là cái thân này.

[22:37]Lúc đó đi, đứng, nằm, ngồi, co tay, duỗi chân lúc nào tâm cũng dính với thân và thấy thân này chính là mình. Mà cái thân đó đẹp không? Thân đó đẹp không? Thấy rõ bản chất của của thân, thấy chính mình là thân và thấy cái thân đó là gì? Là bất tịnh, là sinh diệt, tạm bợ và đau khổ và tội lỗi.

[23:05]Và thấy rõ mà không tránh né. Nhớ như vậy, cái nguyên tắc của Tứ niệm xứ là ôm lấy niềm đau. Thấy mình là cái thân và ở yên với cái thân đó, không có trốn khỏi cái thân đó. Mặc dù cái thân đó là một cái thân vô thường, sinh diệt, đau khổ và tội lỗi, nhưng an trú trong cái đau khổ đó, an trú trong tội lỗi đó, an trú trong cái vô thường đó, an trú trong cái bất tịnh đó mà mà trú tâm, không có chạy ra khỏi đó. Đây là cái chính mình đầu tiên của một thiền sư. Nhưng mà cái bước này là bước cạn và dễ nhưng tâm đã bắt đầu yên, tâm không có loạn nữa khi mà an trú được nơi chính cái thân mình. Ở cái mức độ thứ hai là quán thọ trên thọ,

[23:52]lúc đó thấy mình, oneself, ourselves, là gì? The feeling, chỉ là cảm giác mà thôi. Và nhìn trên cuộc đời này tất cả chúng sinh và cả chúng ta là đầy tớ của cảm thọ, của cảm giác. Đói, ta muốn ăn; khổ, ta muốn khóc; vui, ta thì cười; thấy tiền thì tham; à, thấy... Nói chung là tất cả cuộc sống này bị chi phối bởi cảm thọ, bởi cảm giác, nhìn kỹ lại sẽ thấy điều đó. Bây giờ ta thấy chúng sinh vất vả, khổ đau đủ thứ hết trơn á, cũng là đều là cảm giác cả. Tất cả bị theo đuổi bởi cảm giác mà thôi. Và cái ta là gì? Cái ta chỉ là cảm thọ. Và cái cảm thọ đó gì? Bấp bênh, mong manh, thay đổi, chỉ là khổ đau và nó là

[24:45]đầu mối dẫn dắt chúng ta đi vào luân hồi sinh tử. Nhưng mà khi sức định của ta đạt được tới mức độ mà thấy chính mình là cảm thọ, là cảm giác là cái sức định rất là sâu, nhưng đừng chối bỏ cái cái chính mình đó, phải an trú trong đó để mà đi tiếp. Cũng giống như trong cái Tứ thiền mà ta tìm được cái hơi thở chậm, ít, êm mà nắm nó mà đi xuyên qua hết cả sinh tử luân hồi, cũng chỉ nắm cái hơi thở đó mà thôi, chứ không có buông hơi thở đó. Mặc dầu nó là chậm, ít, êm, cái cực kỳ vi tế của hơi thở đó mà nắm chắc nó đi qua luân hồi. Thì trong cái Tứ niệm xứ ta tìm được cái chính mình, an trú trong chính mình, đi dần dần dần dần qua cái chính

[25:29]mình đó, đi qua khỏi luân hồi sinh tử luôn. Cái chính mình đầu tiên là cái thân, chính mình thứ hai là cảm giác, là cảm thọ. Mà khi mà tìm được cái chính mình là cái cảm thọ rồi, nó ở một tầng cao của triết học rồi. Còn khi mà ta mới tìm được cái chính mình ở cái thân á, coi vậy chứ lý luận nó đơn giản: à, thân này là tứ đại, sinh, già, bệnh, tử, khổ đau, tội lỗi, dễ hiểu. Bắt đầu có mấy người ngủ rồi, rất là tốt nha. Nghe cái này mà ngủ là đúng, còn nghe mà thức mới kỳ đó. Ngủ tiếp đi mà, kệ! Ai vỗ tay vỗ, cứ ngủ tiếp đi, không có phiền hà gì hết. Dòm đây trên đây dòm xuống thấy hết trơn à, ai ngủ thấy hết á.

[26:16]Nhưng mà bài này nghe ngủ là đúng, các bạn nghe ngủ là đúng. Mấy thầy mà ngủ là hơi có vấn đề nha! Ngồi ngắm. Cái cho vậy, khi mà ta tìm thấy chính mình chỉ là cảm giác, cảm giác của giận, của buồn, thương, ghét, khổ, vui đủ thứ hết và ta tức cười vì nó. Nhưng mà khi nhìn ra được cảm giác đó rồi tâm ta rất là yên. Đây là một mức độ giác ngộ sâu của Tứ niệm xứ mà trong nhà thiền thì gọi là kiến tánh á, thấy được chính mình, thấy được chính ta, đó là kiến tánh á. Nhưng mà vì nhà thiền họ dùng cái ngôn ngữ khác chứ thực sự đó chính là Tứ niệm xứ, chứ không có ai có thể tu khác với lời Phật dạy được, Đức Phật là bao trùm hết tất cả.

[27:00]Mà khi ta thấy xuất hiện cái Thiền tông Trung Hoa giáo bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, ta tưởng có một cái đạo thiền nào cũng là đạo Phật mà hoàn toàn khác với lời Phật dạy, ta sẽ ngạc nhiên: ủa, sao lại có một cái người nào tu cũng chứng đạo mà khác lời Phật dạy? Không có khác. Đức Phật nói hết rồi, chỉ là vì ngôn ngữ khác biệt mà thôi. Ở cái mức độ thứ hai là quán thọ trên thọ đó, thấy chính ta là cảm giác, mức độ đó mình nhìn cuộc đời này có một cái mình có cái trí tuệ, có cái sáng suốt mà nhìn thấy tức cười, thấy tức cười. Ví dụ bây giờ hôm nay tại sao chúng ta về đây? Cũng là cảm thọ.

[27:44]Cái điều cảm thọ đầu tiên ta thương nhớ người thân của mình về đây muốn làm lễ cầu siêu. Cái cảm thọ thứ hai là cái lễ Trung thu trên chùa mình coi vậy nó vui, cái vui là cảm thọ. Và có cái cảm thọ rất đặc biệt: buffet 90 món ở trên nhà lễ tân.

[28:10]Mới ban đầu thầy cứ nghĩ đi tu là sống đời đơn giản, đạm bạc, ăn sơ sơ, tam thường bất túc. Tam thường bất túc là ba cái thứ nhu cầu căn bản của con người không có nhiều: ăn sơ sơ, mặc sơ sơ, ngủ sơ sơ. Cứ nghĩ đi tu là nghĩ vậy, nhưng mà không ngờ sau này mới thay đổi quan điểm. Hồi sáng mới nói chuyện với các ông sư đệ mình

[28:36]là lần đó thầy cái đến thăm Hoà thượng Chơn Thiện lúc mà ngài còn sống á, ngài cũng là ở trong Quốc hội và cũng là Phó Chủ tịch của Giáo hội. Đến thăm ngài ở chùa Tường Vân ở Huế thì ngài mới kể cái chuyện cái chuyến mà ngài đi sang các nước Hồi giáo, đi thăm tôn giáo với giao lưu vậy đó. Thì các vị các vị giáo chủ Hồi giáo mới mời ngài vào, Hoà thượng Chơn Thiện mình đó, vào để

[29:04]giống như là lễ bái cái thánh đường của họ, cái đền thờ của họ. Ừ. Cái đền thờ của họ đẹp khủng khiếp lắm cơ! Bao nhiêu tiền, bao nhiêu công trình, bao nhiêu trí tuệ họ xây dựng đẹp. Họ mặc cái đồ kinh hoàng luôn, họ mặc đồ đẹp như vua chúa. Nhìn cái đồ họ nhìn cái đồ họ mặc rồi phải không, thầy nhìn cái ảnh là thầy sợ rồi. Nhưng rất may, hôm đó Hoà thượng ta mang theo cái bộ đồ mà hồi nãy hồi hồi hồi chiều là các thầy của mình mặc á. Có mũ Tỳ Lư, hiệp chưởng, có áo tía, có cái y đồ đắp lên, thấy nhìn không thua họ. Lúc đó từ đó thầy thay đổi quan điểm liền. Thầy nói khi cần đẹp thì phải đẹp. À.

[29:43]Khi cần đơn giản thì đơn giản, nhưng khi cần đẹp thì phải đẹp. Và chúng ta cứ phải đơn giản cũng là một cái chấp. À, cũng vậy, nói đi tu là ăn uống sơ sơ thôi cũng là một cái chấp. Có khi ăn ngon cũng rất là quan trọng. Thầy không nói đùa, ví dụ khi ta lên chùa, hôm nay các nhà bếp ta đãi buffet 90 món.

[30:06]Có ai ăn đủ 90 món giơ tay lên cho thầy coi. Có cái mặt nào ăn đủ 90 món không? 90 món là để mần chi rứa? Nấu mần chi nhiều vậy?

[30:22]Thực sự ta sẽ thấy cái cảm giác mà khi ta đến chùa dự một buổi tiệc mà thức ăn rất là ngon,

[30:34]cái giá trị nằm ở đâu? Có phải giá trị nằm ở món ăn ngon không? Phải không? Không. Không phải giá trị nằm ở cái ngon hay thức ăn nhiều, mà chính là khi ta về đây dự cái tiệc của chùa, ta cảm thấy mình có phẩm giá, có giá trị.

[31:01]Nên nói là phải mặc đồ xấu, đó là một cái chấp. Khi cần mặc đồ đẹp, phải mặc đồ đẹp. Nên ta có cái sư thúc Huệ Thông của ta vậy, khi mà ngài lên đây ngài tụng kinh, ngài mặc đồ nghiêm chỉnh, đúng tiêu chuẩn của kinh sư, mũ Tỳ Lư, hiệp chưởng đàng hoàng, áo y tía đồ đàng hoàng, buổi lễ trang nghiêm lên liền. Khác liền. Đó, bắt buộc. Cũng như nhiều người về chùa ta ăn vậy, ăn thức ăn phải đầy đủ và ngon, ta cảm thấy ta có phẩm giá, đạo ta có giá trị, nó khác như vậy. Nhưng mà những cái đó vẫn là gì? Vẫn là cảm giác, vẫn là cảm xúc. Và cả cuộc sống này là như vậy, đều là cảm giác, đều là cảm xúc.

[31:47]Nhưng cái may của ta là ở trên chùa cũng là cảm giác, cũng là cảm xúc, nhưng là cảm giác, cảm xúc nó cao thượng, hướng về đạo, cho nên lòng ta thanh thản, an vui. Còn ở một nơi nào khác ở ngoài kia, ở ngoài thế gian kia, con người cũng bị nô lệ cho cảm xúc, con người cũng là đầy tớ của cảm giác, nhưng là gì? Đó là những cảm giác, những cảm xúc thấp hèn, tội lỗi, ti tiện và tăm tối, khác. Chứ thực sự, chúng ta cũng chỉ là gì? Là cảm xúc và cảm giác mà thôi. Đây là cái quán thọ trên thọ. Nên cái người mà ngộ được chính mình là cảm thọ, mở ra vô số cái triết lý để nhìn cuộc đời và có thể giảng dạy rất hấp dẫn cho người khác.

[32:36]Còn cái mức độ thứ ba là quán tâm trên tâm. Lúc này thấy mình là tâm. Mới nói thì cũng thấy mình là tâm? Không, không đâu. Thực sự ta đang ngồi đây, ta chưa bao giờ thấy được tâm mình. Nói chơi cho vui vậy thôi. Ta chỉ là nô lệ của tâm, chưa bao giờ ta thấy được tâm mình. Chỉ những bậc đại ngộ, chỉ những bậc Thiền sư đại ngộ mà mà trong kinh hay ghi, trong nhà Thiền hay ghi đó, sư hoát nhiên đại ngộ, chỉ có những người hoát nhiên đại ngộ, người đó mới thấy được tâm mình là gì. Còn chúng ta ngồi đây, chưa ai thấy được tâm mình. Nói: "Con thấy suy nghĩ con thấy!" Cái mà ta suy nghĩ, ta thấy, nó chưa phải tâm mình.

[33:21]Tâm mình ở trong tầng sâu, rất là sâu. Khi mà ta thấy được tâm mình, ta thấy cái thấy mình ở đâu ra, ta thấy cái nghe mình ở đâu ra, ta thấy cái co tay duỗi chân mình là ở đâu ra, xuất phát từ từ đâu ra, thấy rất là rõ, thấy rất là rõ. Lúc đó mới thật sự là thấy được tâm mình, thấy tận cội nguồn của tâm mình, thấy tận cội nguồn của mọi giác quan, hành vi, lời nói, thấy tới tận cái gốc của nó. Mình nói ở đâu ra? Thấy luôn tới cái gốc đó. Mình nhìn là ở đâu ra? Thấy tới cái gốc của cái nhìn. Nghe là ở đâu ra? Thấy tới cái gốc của cái nghe. Cái đó người đó mới gọi là quán tâm trên tâm, người đó mới gọi là hoát nhiên đại ngộ.

[34:03]Nên tại sao có cái chuyện tích là gì? Giữa đại chúng bao la, Đức Phật đưa cành hoa sen lên, ngài Ca Diếp mỉm cười. Ám chỉ là câu chuyện đó thật không? Không có thật, trong nhà Thiền đặt ra thôi, nhưng mà nó ám chỉ một cảnh giới của sự ngộ đạo. Ngài thấy được cái gốc của cái nhìn, chứ không phải ngài nhìn hoa sen. Hoặc là khi một thiền sinh vào gặp thiền sư hỏi: "Thế nào là đại ý của Tổ sư?" Dựng cái phất tử lên. Nó không phải cây phất tử, mà có nghĩa là cái gốc của cái nhìn đó, ông thấy được chưa? Hễ thấy được rồi thì người đó là người thấy được tâm. Nghĩa là người thấy được mình là quán tâm trên tâm, thấy chính mình là tâm.

[34:45]Mà cái tâm đó không phải là cái tâm vọng tưởng này, tâm đó là tầng sâu của tâm. Đạt Tiếng ngộ gật gật đầu, có vẻ ngộ rồi đó nha. Nghe vậy ngộ rồi, hiểu rồi đó.

[35:00]Còn cái tới quán pháp trên pháp thì ngay chỗ này là thực sự là giải thoát, là giác ngộ. Quán pháp trên pháp là mình không còn là mình nữa, mà mình đã trở thành gì? Chân lý của vũ trụ. Chân lý của vũ trụ là gì?

[35:15]Không nói một lời mà hết được, nhưng mà tới Giao thừa sư sẽ giảng cái nền tảng của vũ trụ sẽ đề cập lại cái chỗ này. Thì quán pháp trên pháp, ta không còn là ta, mà ta là chân lý của vũ trụ. Lúc đó các ngài không thấy mình là gì nữa, nhưng mà mọi nguyên lý cuộc đời, mọi đạo lý cuộc đời, mọi chân lý của cuộc đời của vũ trụ này biết hết tất cả, gọi là quán pháp trên pháp. Nhưng mà cái điểm này thì chỉ là những bậc giác ngộ mới đạt tới, chứ các Thiền sư cũng chưa đạt tới. Các Thiền sư thường là dừng lại ở chỗ quán tâm trên tâm, chứ các Thiền sư chưa chưa đạt được tới chỗ quán pháp trên pháp của A La Hán.

[35:52]A La Hán mới thấy được cái quán pháp trên pháp, không mình không còn là mình, mình là chân lý. Thì ở đây, cái cái khác nhau giữa Tứ Thiền và Tứ Niệm Xứ ở chỗ này. Nếu cái người nào mà Tứ Thiền mà nắm được cái hơi thở chậm, ít, êm cho tới nó tế, nó nhuyễn, không bao giờ buông thì có thể đi tới luôn Tứ Thiền, A La Hán. Nhưng tiếc là khi mà ta nắm hơi thở chậm, ít, êm đó, đến lúc nó thuần rồi á, thấy nó dừng hơi thở rồi bỏ hơi thở luôn, bị lừa cái chỗ này, không tiến xa được nữa. Rất nhiều người bị cái tình trạng này. Nói: "Thưa thầy, con không còn hơi thở." Đó là ảo giác. Hơi thở vẫn còn, nhưng mà tìm không ra, bỏ mất rồi và không đi xa được nữa.

[36:42]Nên hơi thở là một chỗ dựa để ta đi qua Tứ Thiền, nhưng rất nhiều người tâm yên rồi, bỏ hơi thở, cái chênh vênh không còn cái chỗ bám, rồi từ từ bỗng nhiên lui lại. Có khi có thần thông, có khi có được một chút ít trí tuệ, bao nhiêu năm rồi bỗng nhiên bị lui lại. Có khi 30 năm rồi vẫn rớt trở lại phàm phu. Cái Tứ Thiền coi vậy chứ nó không chắc là vậy đó. Vì bám vào hơi thở, mà không ai bắt ta phải bám hơi thở, ta tự ta buông, đâu có ai dạy đâu. Ta tự ta buông hơi thở, từ từ cái nó mất cái chỗ dựa, ta tuột lại không hay. Còn cái Tứ Niệm Xứ nó có cái hay cái này, là nó tìm được chính mình, ta nắm cái chính mình đó ta đi, không bao giờ rời.

[37:21]Đó là lý do mà các Thiền sư ngộ đạo rồi không có lui nữa, vì có chỗ dựa đó là cái chính mình. Chính mình là thân, chính mình là cảm giác và đặc biệt chính mình là tâm, tâm ở tầng sâu thì không lui nổi. Chỉ có cái lui là thế này, Khi các vị mà hoắc nhiên đại ngộ, thấy được tầng sâu của tâm, tự cho mình bằng Phật thì cái ý nghĩ đó sẽ phá tan công đức của các ngài một ngàn năm sau. Một ngàn năm sau các ngài mới rớt trở lại thành một người bình thường vì cái ý nghĩ thầm kín thầm kín: "Ta bằng Phật rồi". Ta mới thấy có người mà leo lên ngồi trên vai Phật hoặc là đem tượng Phật xuống đốt này nọ đó. Tự tại vô cùng chỉ bởi vì các ngài thấy tâm mình bằng Phật rồi.

[38:09]Nên chỗ quán tâm trên tâm bị hiểu lầm. Các ngài sẽ được hưởng cái cái cảnh giới chứng ngộ đó một ngàn năm. Qua một ngàn năm sau, tái sinh lại trở lại người bình thường. Nhưng mà đi được một ngàn năm chỉ bởi vì bám được chính mình. Nhớ như vậy, bám được chính mình. Mà cái chính mình đó, nếu ở đâu ta tìm ra được chính mình? Thì nó vừa có kỹ thuật mà nó vừa có công đức. Cái kỹ thuật là gì? "Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm", buông sạch đi, cái điểm chính mình nó hiện ra. Buông sạch đi, không giữ gì hết, ngồi buông lỏng hết. Nên khi mà ta nghe nói ngồi buông lỏng không làm gì, người ta gọi là buông tay dưới vực thẳm nghìn

[38:52]dặm, đầu sào trăm trượng buông tay, rớt luôn đi, bỏ đi, không cần nữa, không sợ nữa, mất hết, không cần bám giữ cái gì, tưởng mất hết, không, cái điểm chính mình nó hiện ra. Thì ta tìm được nó, có thể bám vào nó mà đi được một ngàn năm. Qua một ngàn năm rồi, lùi trở lại nếu ta không đạt được cái quán pháp trên pháp, nếu ta không đạt được vô ngã hoàn toàn. Đây là cái Tứ niệm xứ nó có cái hay là có chỗ nắm, là có cái chính mình để nắm. Nhưng mà nếu ta tưởng cái chính mình đó là cao siêu thì một ngàn năm sau ta rớt. Còn cái Tứ thiền á, nếu ta nắm được cái hơi thở tới tận cùng thì ta cũng đi được tới hết cái Tứ thiền.

[39:32]Nhưng đa phần mọi người buông hơi thở nửa chừng, từ từ bị lui lại rất là sớm, thường ngay trong kiếp này đã bị lui lại. Thường là như vậy. Cũng có một số vị đi qua luôn, nhưng không nắm được hơi thở, tuột lại liền. Còn cái Tứ niệm xứ, nắm được chính mình có thể đi được một ngàn năm. Mà nếu đạt được vô ngã thì giải thoát luôn. Có hai cái đó nó khác nhau như vậy. Đó là lý do mà sau này ở cái xứ Kuru, Đức Phật tán dương cái Tứ niệm xứ là vậy. Bởi vì tu theo Tứ niệm xứ, ta có chỗ bám để đi được rất xa. Còn cái Tứ thiền, có khi ta tuột cái chỗ cái cây cái gậy hơi thở, ta dễ bị lui lại. Lý do là như vậy.

[40:14]Còn Tứ thánh quả là sao? Tứ thánh quả: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán thì lại cái cách tiếp cận của Tứ thánh quả lại là khác, lại là theo dõi đạo đức thôi.

[40:31]Đạo đức ta còn tham, còn sân, còn si, còn ích kỷ, còn kiêu mạn, còn ái dục, còn ác độc hay không? Đó là những cái cái cái cái cái cái cấu thành của cái đức hạnh. Như không còn ác độc, không còn ích kỷ, không còn kiêu mạn, không còn tham lam, không còn nóng nảy, vân vân thì đó là người có đạo đức. Mà nếu ta mất dần những cái kiết sử đó thì ta chứng được thánh quả. Nên cái thánh quả lại không có lý luận trên cái sức định. Tứ thiền á thì ta lý luận trên sức định, cứ định càng sâu thì ta đạt được cái thiền cao. Tứ niệm xứ thì ta lý luận trên cái chính mình, hễ ta đạt được cái chính mình là cái gì tới mức độ tâm thì ta ở mức độ sâu.

[41:14]Còn Tứ thánh quả thì nói về đạo đức. Ta có còn nói dối không, gian dối, lừa đảo, có ác độc, có kiêu mạn không? Nhưng cái đạo đức, thật ra, chỉ trong đạo Phật mới nói được hai tầng đạo đức:

[41:33]một tầng triền cái và một tầng kiết sử.

[41:38]Ví dụ như khi một cái người mà chứng được chánh niệm, tâm rỗng rang, thanh thản, họ không có nổi nóng nữa. Thì cái không nổi nóng đó chỉ là hết triền cái sân chứ không phải hết kiết sử sân.

[41:57]Hết triền cái sân, vẫn chưa hết sân, chừng nào hết kiết sử sân mới thật sự là hết sân. Mà hết kiết sử sân, chứng tam quả A-na-hàm. Còn hết triền cái sân thì tâm được vui vui thôi, thanh thản, nhẹ nhàng thôi. Chỉ trong đạo Phật mới phân ra hai loại sân, hai loại nóng nảy khác nhau, rất là lạ. Nên nó giống như thế nào? Tại sao mà sân nó có hai loại? Ta nói ví dụ như cái sân đó là một con rồng độc nó quẫy trong tâm ta. Và rồng nó có hai loại: một loại nó ở trên mây và một loại rồng nằm ở dưới đất, rồng địa long á nằm dưới đất, còn cái vân long là vẫn nằm ở trên trời. Rồng ở trên mây nó sống nhờ ở đâu?

[42:40]Sống nhờ những đám mây, sống lẫn trong đám mây. Nếu mây tan thì con rồng đó sao? Biến mất. Tâm ta được dệt bởi một đám mây vọng tưởng. Và trong cái đám mây vọng tưởng đó, cái nóng nó nằm ở trong đó. Nên cái người đạt được chánh niệm, họ tan cái đám mây ra, tâm rỗng rang, không có vọng tưởng, cái sân biến mất liền, thấy người đó thanh thản không có sân. Nhưng con rồng dưới đất còn, cái sân dưới bản năng còn dưới đất thẳm sâu còn. Và chỉ khi nào cái người đó chứng thánh quả, bới dưới lòng đất lên, không còn những con rồng đó nữa, không còn cái hang ổ cho rồng nó sống nữa thì thật sự mới hết con rồng, hết sân hoàn toàn, chứng được thánh quả thứ tư thứ tá thứ ba là A-na-hàm.

[43:31]Đây là cái phải nói là chỉ trong đạo Phật mới có thể nhìn tới cái thấu suốt, thấu đáo cái tâm thức của ta như vậy, tới cái đạo đức như vậy. Và việc chứng Tứ thánh quả là đánh giá trên đạo đức. Cái người mà được một phần đạo đức thì chứng một phần thánh quả, được thêm bao nhiêu phần đạo đức thì chứng thêm một phần thánh quả, mà tới khi đạt được

[43:57]đạt được cái đạo đức tối cao, diệt trừ chấp ngã thì chứng A-la-hán, là tứ quả.

[44:06]Đây là nói theo đạo đức thôi. Cái người mà chứng tam quả đầu tiên á cái người chứng sơ quả đầu tiên là diệt trừ ba kiết sử. Ba kiết sử này thôi là ta vượt qua không nổi. Thứ nhất là ích kỷ. Cái người mà chứng Tu-đà-hoàn không còn ích kỷ. Cái này mình tu cả một đời chưa xong. Sống một đời hoàn toàn vị tha, không bao giờ nghĩ gì cho mình nữa, chỉ nghĩ cho chúng sinh, chỉ nghĩ cho Phật pháp, không bao giờ sống vì mình nữa. Đó là cái kiết sử đầu tiên phải diệt để chứng Tu-đà-hoàn. Ngay cái này rất nhiều người không vượt qua. Cái thứ hai là cố chấp, tức là giới cấm thủ á. Thường con người ta sống trên đời ta phải lập ra các quy luật

[44:50]để cho cái xã hội nó ổn định, cái cộng đồng nó ổn định. Nhưng những quy luật đó cũng những cái làm khổ nhau, bắt bẻ nhau, hành tội nhau là chính những quy luật đó. Thì bậc Tu-đà-hoàn là người vượt ra khỏi điều đó. Tuy cần quy luật nhưng không chấp vào quy luật. Nên sống lúc nào cũng linh động, uyển chuyển và trí tuệ và sâu sắc. Đó là một bậc Tu-đà-hoàn, không có cố chấp. Ví dụ như bây giờ coi trên cái đó: "Ồ anh", nghĩa là ông công an ổng bắt cái ông ông xe vô ổng phạt, nói: "Anh Cái camera là quay cái đoạn đường đó anh quẹo bên trái, anh đi trái làn đường cho nên tôi giam bằng anh 3 tháng, rồi phạt anh nghĩa là 50 triệu

[45:40]vì anh lái xe bên trái, camera nó quay rõ ràng." Ông tài xế mới nói: "Nếu tôi lúc đó tôi không tạt qua bên trái, tôi cán cái con nhỏ nó vừa đâm ra ngoài đường. Trong nhà nó chạy quăng cái tôi phải né tay lái tôi phải cán qua." Nói, ông kia ổng nói: "Không, tôi không biết. Nhưng mà hễ anh qua bên trái thì giam bằng anh 3 tháng và phạt anh 50 triệu. Còn anh tránh con nhỏ đó là cái chuyện của anh với con nhỏ đó." Đó là cố chấp á. Lẽ ra phải vinh danh cái ông đó. Ổng tạt qua bên trái, không tông ai, cứu được mạng con nhỏ là phải vinh danh. Nhưng mà vì cố chấp quá, cứ lấy cái luật ra mà làm khổ nhau.

[46:17]Nên ở đây là ta để ý trong chùa cũng vậy. Chùa phải thế này, phải thế kia. Trong luật trong chùa cũng rất là nghiêm ngặt, rồi ta dùng cái luật đó ta bắt bẻ nhau cũng là cố chấp. Mà một bậc Tu-đà-hoàn họ vượt khỏi điều này, họ rất là sáng suốt. Cái điều đó là đúng hay không đúng, sai không sai, luật là nơi lương tâm của họ chứ không phải là những quy định của chữ nghĩa. Cái hay của bậc Tu-đà-hoàn là tới mức độ này. Luật là lương tâm, là trí tuệ, là đạo đức ở trong tâm họ chứ không phải là chữ nghĩa, không phải những quy định bên ngoài. Mà bậc Tu-đà-hoàn họ đạt tới mức độ đó. Cái điều này ta cũng rất khó đạt được.

[46:54]Cái thứ ba của một bậc Tu-đà-hoàn là gì? Diệt được cái nghi. Trong cuộc đời này sai hay đúng, hiểu rất rõ, không có do dự. Cái gì là đúng, cái gì là sai, biết rất rõ, không có mờ mờ hồ hồ. Bậc Tu-đà-hoàn. Ba điều này ta vượt qua không nổi. Nhưng mà phải người nào đạt được ba cái đạo đức này, một là vị tha, không còn vị kỷ, hai là không có cố chấp và ba là không có hồ nghi, do dự thì người này chứng sơ quả Tu-đà-hoàn, bước vào dòng thánh, được kết nạp vào dòng thánh. Điều này ta không vượt qua nổi. Thì Tứ thánh quả lại phải đánh giá trên đạo đức. Nên ta có ba cái con đường của thiền định: một là Tứ thiền, đánh giá theo mức độ định sâu hay cạn;

[47:41]hai là Tứ niệm xứ, xem ta đã tìm thấy được ta là ai ở mức độ nào; và thứ ba là Tứ thánh quả là ta đạt được bao nhiêu phần đạo đức để đạt đến được A-la-hán hoàn toàn. Đó là ba cái con đường như vậy.

[48:01]Ở đây ta thấy thế này:

[48:05]Nếu một người nào mà chứng được Tứ thiền rồi chứng được tam minh thì người đó là A-la-hán. Tam minh là gì? Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh. Bây giờ mà định nghĩa ba minh này nữa chết luôn á. Để đợi trong Tứ niệm à Tứ diệu đế rồi sư phụ giảng, ha. Bây giờ thì nói vậy: hễ Tứ thiền mà chứng được tam minh thì người đó là A-la-hán. Đó là đường về ấy. Còn cái Tứ niệm xứ thì phải có Thất giác chi và cũng phải có tam minh thì mới là A-la-hán. À. Tứ niệm xứ thì đòi cái Thất giác chi, tức là ba bảy cái trạng thái của một bậc thánh là gì? Trạch pháp, Tinh tấn, Hỷ, Khinh an, Niệm, Định, Xả. Cái đó kỳ trước định nghĩa rồi, bây giờ không nói lại.

[48:55]Nhưng mà tính chất của bậc thánh là phải gồm Thất giác chi, bảy cái trạng thái đó. Đó là Tứ niệm xứ phải có bảy trạng thái Thất Bồ-đề phần đó và cũng phải có tam minh thì mới là A-la-hán, đó là người tìm được chính mình đó. Còn Tứ thánh quả thì cứ đạt được đạo đức hoàn toàn thì là chứng A-la-hán. Nhưng mà ở đây, trong cái Tứ thiền á, nó có những cái cái cái trạng thái lừa chúng ta. Lừa chúng ta thế này: một là cái cảm giác rỗng rang. Trước đây ta nặng nề, cái tâm thức ta nặng nề, tâm lý ta nặng nề, bây giờ bỗng nhiên ta rỗng nhẹ ra một cái. Mình đi mà như đi trên mây vậy á, rỗng rang. Ta cảm giác á một cảm giác nhẹ nhàng,

[49:38]khinh an và hạnh phúc, có cái hỷ lạc ở trong, có cái hạnh phúc ở trong. Rồi ta đạt được một cái mức độ định là không cần dụng công gì.

[49:50]Ta không cần cố gắng gì nữa, tâm cứ tự nó ở trong định. Và cái thứ tư: có thần thông. Mình lại gần ai, dòm mặt người ta, biết người ta là người như thế nào. Bốn cái điều này giết chết tất cả các hành giả.

[50:14]Nhắc lại bốn cái trạng thái, người tu thiền sẽ bị giết chết bởi bốn cái trạng thái này: một là cảm giác rỗng rang. Nào giờ tâm hồn mình rất là nặng nề, bỗng nhiên hôm nay nó nhẹ tênh, rỗng trốc, không còn gì trong tâm thức hết, sung sướng vô cùng. Thứ hai là cảm giác đi như đi trên mây á, đi mà chân không chạm đất á. Cái cảm giác hỷ lạc, hạnh phúc nó cứ xuất hiện một cách nhẹ nhàng. Cái thứ ba là không dụng công gì nữa. Trước đây là phải ráng thở, ráng quán, ráng đồ tâm mới yên, bây giờ không làm bất cứ điều gì tâm nó tự nó thanh tịnh. Và thứ tư là có thần thông, bắt đầu có thần thông, biết chuyện này biết chuyện kia.

[50:56]Khi xuất hiện được bốn điều đó rồi, ta bắt đầu chết. Nghĩa là sao? Ta tưởng mình cao siêu rồi. Nhưng thực sự vẫn còn rất là thấp. Nhưng có một lần vậy, hôm đó có ngài Trí Khải, ngài là trưởng cái tông Thiên Thai đó, người khai sáng cái tông Thiên Thai. Ngài đến ngài gặp một ông tăng. Ông tăng thấy ngài bước vô mà ổng không thèm đứng dậy chào, trong khi ngài là một bậc tôn túc rất là nổi tiếng, nó không thèm đứng dậy chào. Ổng mới hỏi: "Khi ổng ngồi thiền, đó, ổng có thể biết được trong núi kia có một ông tăng đang quán vô thường ở trỏng á, thì cái cái cái trình độ ổng là gì?" Ngài Trí Khải nói liền:

[51:35]"Ông mới mấp mé chưa vào định, nhưng vì hôm nay ông vừa nói ra cho ta nghe nên ông đã mất rồi." Ông kia quỳ xuống lạy liền: "Ủa con vừa mất rồi!" Vừa nói xong mất liền. Ta thấy không? Có những cảm giác ta được thanh tịnh giống như có thần thông. Nhưng mà sự thực nó còn rất cạn. Nhưng mà ta cứ tưởng mình rất là cao. Cái chết của thiền là đa phần ta tưởng mình đã chứng rất là cao.

[52:01]Ngủ thì cứ ngủ đi nha, không sao đâu. No problem. Yeah. Sleep, no problem, because it's very difficult. Chỉ cầu cho hai vị sư đừng ngủ thôi. À, we hope two these the venerables don't won't sleep.

[52:19]Và đây là cái ta cẩn thận. Cho nên khi ta ngồi thiền mà đạt được xuất hiện bốn cái này, vui lòng nhớ mình vẫn còn rất là cạn, rất là thấp. Mà có lần sư phụ nói đó, mình chỉ là một đồng xu hoen rỉ, chỉ là miếng giẻ rách mà thôi, so với cái sự chứng ngộ của bậc thánh. Thì bây giờ mình có đạt được bốn trạng thái này: một là rỗng rang, hai là khinh an hỷ lạc, ba là không cần dụng công vẫn ở trong định, và bốn là thần thông thì xin vui lòng nhớ rằng ta chỉ là miếng giẻ... miếng giẻ... không được lành nữa đó, giẻ rách thôi, so với cái trạng thái của chư thánh thật sự, phải nhớ điều đó. Nếu không nhớ điều này ta sẽ chết và sau này

[53:02]thậm chí có những người phát điên luôn á. Khi mà đạt được một số kết quả, bốn cái trạng thái này rồi cứ tự khen mình, tự cho tới khi phát điên lên luôn. Cái tự khen nguy hiểm vô cùng. Và bây giờ những cái trường hợp như đó, mấy cái mức độ tiến đó làm cho ta quên những nhược điểm còn tồn tại của mình. Ta có bị ba cái nhược điểm còn tồn tại dù tu có kết quả.

[53:29]Đó có những người bắt đầu từ từ rời khỏi chùa đi dần dần là rất đúng, bởi vì trời thì đã khuya, gần chín giờ, mà nói hoài không hiểu cái gì. Nghe hoài quá mệt đi nên từ từ đi rất là đúng. Hoặc là không được cứ ngủ nha. Cái bài hôm nay rất là khó. Nay hôm nay bài rất là khó. Không biết chỉ sợ là tối quá rồi mọi người về có được hay không à. Được không? Hay ngủ lại? Ngủ lại cũng được. Nãy giờ là đã giảng hơn một tiếng đồng hồ mà mới được có một phần ba.

[54:05]Báo tin buồn mới có một phần ba. Có đau khổ không? Nghe có đau khổ? Nếu có đau khổ, đó cũng chỉ là cảm giác, nhớ giùm nha. Mà cuộc đời này là ta nô lệ cho cảm giác nha, vậy thôi. Các thầy có phải về sớm không ạ? Thôi ngủ lại đây một đêm ở rừng núi đi nha, các thầy ở Giác Quang nè. Ta có ba cái nhược điểm còn tồn tại mà thường ta hay bị quên khi ta tu thiền có kết quả. Cái nhược điểm thứ nhất là nghiệp quá khứ của ta chưa sạch. Chứng thì chứng vậy chớ nghiệp quá khứ còn. Mà nếu mà ta không sám hối cho kỹ, ta không đề phòng cho kỹ, nghiệp quá khứ trỗi dậy nó quật ta một lúc nào ta không hay. Cái nhược điểm thứ hai, phước ta chưa đủ để tiến

[54:53]xa đến vô tận, đến sự giác ngộ hoàn toàn. Đời xưa mình cũng có phước đó chớ không phải không, nhưng phước được một chút thôi, được định một chút thôi, nhưng mà tới ngang đây mình hưởng rồi thì lúc nào đó dừng lại rồi bắt đầu lui lại, chứ ta chưa hề đủ phước để tới chứng tới A-la-hán. Đây là nhược điểm thứ hai mà ta không biết. Đó có một đoàn rút đi, đúng rất là đúng, very good. Chứ mấy đứa nhỏ bắt nó ngồi nghe tội, khóc bây giờ. Cái bài này khó nghe lắm chứ không phải dễ.

[55:37]Đó là cái thứ hai. Và cái nhược điểm thứ ba mà ta thường quên: thẳm sâu trong nội tâm ta vẫn còn gì? Vô minh, chấp ngã, kiêu mạn, ô nhiễm, ích kỷ và tội lỗi. Đây là ba nhược điểm ta vẫn còn sâu ở trong tâm mình. Thứ nhất nhắc lại, khi ta tu được tiến bộ thì ta thường quên ba cái nhược điểm của chính mình. Nhược điểm thứ nhất là gì? Nghiệp quá khứ chưa... chưa sạch. Nhược điểm thứ hai là gì? Phước để tiến đạo tới tột cùng chưa... chưa đủ. Và thứ ba: thẳm sâu trong nội tâm này ta vẫn còn vô minh, chấp ngã, kiêu mạn, ích kỷ, ô nhiễm và tội lỗi. Ta vẫn còn nguyên. Mà khi cái nên đây là cái phải hiểu được ba cái nhược điểm

[56:34]này để ta có thể mà xoay xở tiến tu chớ không có tự mãn. Đây là ba cái điều này rất là quan trọng. Tu tiến gì tiến, làm ơn nhớ ba nhược điểm này vẫn còn tồn tại. Nếu người nào quên ba cái nhược điểm này thì sẽ thoái đọa liền, lui lại liền, không thể vượt lên cao được nữa, ha. Nên những cái nhược điểm đó nó sẽ sao? Nó sẽ trỗi dậy và quật ta ngã lúc nào không biết. Quật ta ngã mà khi nó quật ngã, sợ vô cùng. Như lần trước thầy có kể câu chuyện của ngài Sơ Sơn á. Ổng nói nói một câu nói bậy cái là ổng 30 năm ăn vô ói ra, ăn vô ói ra hết. Đúng 30 năm rồi mới hết cái đó, chỉ vì một câu nói bậy. Mà trong cái câu nói bậy đó nó là do cái gì?

[57:22]Thẳm sâu cái kiêu mạn nó điều khiển. Tức là không biết rằng mình vẫn còn bị, mở một câu nói vô tình xúc phạm với người huynh đệ chứng cao hơn mình, mất 30 năm tiêu ngược là ói ăn vô rồi ói ra hết, 30 năm. Cái nhân quả là sợ như vậy. Nên khi ta biết mình còn ba cái nhược điểm đó thì ta phải làm điều gì? Một là phải làm phước mãi mãi, không bao giờ được ngưng cái việc làm phước. Dù là gì? Quét cầu tiêu cũng phải làm, lượm rác phải làm. Là giúp ai được điều gì cứ phải ráng mà mà làm mà giúp, không từ nan việc lớn việc nhỏ gì. Phải tích lũy phước từng giọt, từng hạt bụi từng hạt bụi. Phước ta cần phải như một cái núi á, nhưng mà mỗi một hạt bụi

[58:11]nhỏ này đều mình gom lượm hết, không bỏ sót một hạt bụi nào. Phải như vậy, phải tích lũy cái phước nó đến mức độ như vậy. Mà ta biết rằng phước cần phải như một cái núi mà cơ hội để ta làm phước chỉ là từng hạt bụi nhỏ mà không bao giờ từ chối. Lựa được hạt nào nhặt hạt đó, được hạt nào nhặt hạt đó. Được cái duyên làm phước nào là làm liền, không bao giờ từ chối. Và đặc biệt không được bao giờ được lười biếng. Vì người lười lười biếng không làm phước được. Phải rất là siêng năng. Trong tâm ta phải nhắc nhở mình lúc nào cũng siêng năng siêng năng, Tứ chánh cần đó. Chánh cần chớ không phải tinh tấn nha.

[58:47]Cần tức là siêng năng làm phước. Trong cái làm phước á thì nó có hai yếu tố: một là tôn kính bậc thánh, và hai là hóa độ chúng sinh. Tôn kính bậc thánh, đối với bậc thánh như các vị Đức Phật, các vị Bồ-tát, các vị A-la-hán và cả chư thiên trên trời cũng vậy, ta một lòng tôn kính các ngài, lễ kính các ngài, lễ bái các ngài. Nên cái việc mà ta hay lạy Phật cũng là một cái phước để giác ngộ. Đừng không được bao giờ coi thường cái việc lễ Phật. Mỗi ngày đều phải ráng lễ Phật, không được coi thường. Và cái thứ hai là hóa độ chúng sinh, tìm mọi cách để giúp cho chúng sinh giác ngộ. Giống như hôm nay vậy, Kim Tử Long đem được

[59:29]13 người bạn của mình về chùa để quy y.

[59:34]Sư phụ ra chỉ tiêu mỗi năm chỉ cần gì? Một người. Ổng làm luôn cái 13 người là ổng đủ chỉ tiêu 13 năm. Nhưng mà nói thì nói chứ tháng sau làm nữa nha. Ổng lỡ rồi. Đó, nhớ nhớ như vậy. Nhớ hai điều, một là tôn kính bậc Thánh, hai là hóa độ chúng sinh. Ta giúp mọi người đủ thứ, ta giúp mọi người miếng ăn, miếng mặc, cơ hội, việc làm đủ thứ, chỉ để làm gì? Để đưa mọi người về với Phật pháp, chứ ta không giúp người chỉ để thỏa mãn một cái nhu cầu của họ trong lúc đó. Thấy thấy họ đói, cho họ miếng ăn, dừng lại rồi thôi là chưa phải làm phước của việc giác ngộ. Việc làm phước của việc giác ngộ, cho họ miếng ăn mà phải nói cho họ nhân quả, họ nghe một chút rồi mới bỏ đi.

[1:00:19]Và gieo cho họ một cái lòng kính Phật, gieo cho họ niềm tin nhân quả rồi ta mới rời đi, chứ không có cho miếng ăn rồi như nó thỏa mãn, à vui rồi, "Ồ hôm nay tôi đã làm phước, hôm nay tôi giúp cho một người đói có miếng ăn", không có dừng ngang đó. Lúc nào cũng phải nhớ đưa mọi người về với giác ngộ. Đó, đó làm phước là như vậy. Còn cái nghiệp quá khứ của ta thì phải làm sao? Sám hối. Sám hối và quán là cái phép quán tội trên tội. Tức là biết chính mình chỉ là một khối tội từ vô lượng kiếp. Là khi vọng tưởng khởi lên, biết đó là dấu hiệu của của tội lỗi quá khứ. Khi tâm thanh tịnh thì sao? Nhớ rằng trong thẳm sâu của nội tâm vẫn còn

[1:01:07]vô minh, chấp ngã, kiêu mạn, ích kỷ, ô nhiễm và tội lỗi nằm ở trong đó, ác độc nằm ở trong đó. Vẫn biết như vậy. Nên nhớ đây là phép quán tội trên tội. Nhờ cái phép quán tội trên tội này mà ta thường nhắc mình vẫn còn tội lỗi quá khứ chưa sạch, và cái thứ hai dù có cái thanh tịnh nhưng thẳm sâu bên trong vẫn còn rất nguy hiểm, vẫn còn vô minh, chấp ngã, kiêu mạn, ích kỷ tùm lum ở trong đó đó. Thường nhớ như vậy, thường quán như vậy, có cái thường nhớ như vậy, thường quán như vậy là một cái công phu rất là quan trọng. Rồi một cái điều nữa nè, một cái kỹ thuật. Nhớ vậy thiền định nó luôn luôn gồm kỹ thuật và gồm đạo lý.

[1:01:51]Cái kỹ thuật ở đây là ta an trú tâm ở dưới đáy bụng hội âm.

[1:02:00]Cái an trú tâm dưới đáy bụng hội âm á Cái huyệt hội âm ở dưới đáy bụng nó có tác dụng gì?

[1:02:10]Cái an trú tâm ở dưới để ý ở dưới đáy bụng hội âm á Nó có mấy cái tác dụng vừa là triết lý, vừa là y học, mà vừa là tâm lý rất là hay. Về cái triết lý, khi mình để tâm ở dưới đáy bụng hội âm á mình khiêm hạ hơn, mình biết mình còn thấp kém. Cái đó cái tâm lý đó rất là có lợi. Về cái y học á, khi ta để tâm ở dưới đáy bụng hội âm á những cái trục trặc trên não của ta, từ từ ta chữa được. Ví dụ như ta mắc cái bệnh hay quên, à ta mắc cái bệnh hay quên. Ví dụ như mình ở nhà, vợ mình quản lý tiền bạc, cái buổi sáng cái vợ đưa cho mình 200.000đ để tiêu, mình quên cái mình qua, "Em em, em đưa tiền anh?"

[1:02:59]Thì bà vợ nói, "Hồi nãy em đưa anh rồi." Nói, "Đâu có, chưa." Cái đó là mắc chứng hay quên và rất nguy hiểm. Nhất là nhà mà vợ đã quản lý tiền bạc, quên mấy cái đó phiền vô cùng. Thì cái người nào mà mắc cái bệnh hay quên để tâm ở dưới đáy bụng hội âm, từ từ nhớ lại. Thì bà vợ khuyên, "Anh phải để tâm dưới đáy bụng hội âm nha, chứ đừng có đưa rồi mà nói chưa đưa, phiền vô cùng." Vô cùng. Và nhiều cái bệnh khác, những bệnh như mất ngủ, hay quên, ít thông minh, kém thông minh, thì để tâm ở dưới đáy bụng hội âm ta cũng tự nhiên bộ não ta tốt lên từ từ, tốt lên từ từ, mình sắc bén lên, nhìn mọi điều sắc bén.

[1:03:39]Mà nếu cái người mà tu mà được định á, mà để tâm ở dưới đáy bụng á thì xuất hiện thần thông trực giác rất là nhanh, rất là sớm. Cái lợi của việc để tâm ở dưới đáy bụng hội âm rất là mầu nhiệm, nhớ như vậy. Thêm cái nữa nè, thêm cái yếu tố tâm lý của để tâm ở dưới đáy bụng hội âm là thế này:

[1:04:02]Khi tâm ta vào được trong thanh tịnh, nhiều cảm giác, nhiều trạng thái mầu nhiệm nó hiện ra, khinh an, hỷ lạc, rỗng rang, đủ thứ hết! Và những điều đó làm cho ta kiêu mạn. Nhưng nếu ta an trú tâm ở dưới đáy bụng, ta quên sạch mấy cảm giác đó hết, mấy trạng thái, bỏ hết không cần. Nên ta không bị kiêu mạn. Ví dụ khi tâm ta thanh tịnh, mình được cái hỷ lạc, mình cứ núp ở dưới đáy bụng hội âm, mình không bị cái kiêu mạn của do mấy cái trạng thái đó tạo ra. Nên cái việc mà để tâm ở dưới đáy bụng hội âm rất là có lợi. Và đặc biệt, cái người nào mà giữ cái hơi thở chậm, ít, êm thì tâm phải để dưới đáy bụng.

[1:04:47]Ta sẽ tìm thấy được cái hơi thở chậm, ít, êm. Còn nếu mà mình không để tâm ở dưới đáy bụng á, mình loay hoay loay hoay để thở làm sao cho được chậm, ít, êm rất là khó. Nhưng mà để tâm dưới đáy bụng rồi từ từ từ từ, tự nhiên mình thở được chậm, ít, êm rất là hay về cái ở đáy bụng á. Đó là một kỹ thuật rất là đặc biệt. Ta nhớ như vậy. Cái hơi thở chậm, ít, êm là một chiếc phao đưa ta qua khỏi cái sông sinh tử.

[1:05:24]Có nhiều trạng thái, nhiều vọng động, nhiều trình độ, nhưng kệ nó, mọi cái cứ giữ được hơi thở chậm, ít, êm ta đi mãi đi mãi, vậy chứ mà vượt qua khỏi cái cái cái bến bờ sinh tử để tới được bến bờ an vui, giác ngộ. Rồi khi ta tu đến cái mức độ mà không cần làm gì tâm vẫn thanh tịnh, không làm gì hết, ngồi chơi phơi phới mà tâm vẫn thanh tịnh, đây là lúc nguy hiểm. Lúc đó tự mình đặt ra bao nhiêu cái cái lời tự khen cho mình, "Tâm mình tự thanh tịnh này bất sanh bất diệt" gì đủ thứ trên đời, chết à! Nên nhớ một điều: Khi tâm ta thanh tịnh mà ta không cần dụng công gì thì phải nhớ là tội xưa chưa chưa sạch,

[1:06:09]phước nay chưa chưa đủ, thẳm sâu bên trong vẫn còn chấp ngã, kiêu mạn rất là nhiều. Ta được nửa bài rồi đó, bây giờ còn nửa bài nữa. Sợ chưa?

[1:06:25]Thôi để sư ráng rút rút rút cái nửa bài sau cho nó nhanh một chút.

[1:06:33]Ta bây ta ta ta rút lại cái Tứ thiền. Cái tiêu chuẩn, cái sự quan tâm của Tứ thiền là gì? Là định sâu hay là cạn. Còn cái quan tâm của Tứ niệm xứ là gì? Là xem chính mình là là gì, đang ở mức độ nào, ta là ai. Mà nếu tìm được cái ta ở mức độ sâu, thì đó là chứng Tứ niệm xứ ở ở mức độ cao. Còn cái Tứ thánh quả là quan tâm gì? Quan tâm còn kiết sử gì hay không, còn đạo đức đã tới đâu rồi, đó. Ta thấy ba cái con đường đó, và cái người Phật tử, một người hành giả, một người đệ tử Phật phải thành thạo cả cả ba điều này. Phải biết Tứ thiền con đường đi như thế nào, Tứ niệm xứ đi như thế nào và Tứ thánh quả đi như thế nào.

[1:07:22]Trên con đường ta tu, ta tự tại giữa ba cái con đường đó hết. Khi ta nhiếp tâm vào trong thanh tịnh, nắm hơi thở mà đi, đó là con đường Tứ thiền. Nhưng ngay khi nắm được hơi thở chậm, ít, êm, để tâm ở dưới đáy bụng, ta cũng thấy rõ chính mình luôn. Thấy rõ chính mình là gì, Tứ niệm xứ nằm trong đó luôn. Và lúc nào cũng nhớ thẳm sâu trong tâm mình là gì, còn vô minh, chấp ngã, kiêu mạn, đó là ta đánh vào cái gì? Đánh vào kiết sử. Để làm gì? Ta đi con đường Tứ thánh quả. Là nghĩa là ta một bước chân nhưng mà đi ba con đường luôn, một bước chân mà đi ba con đường tự tại như vậy. Nên ai tu cái gì mình biết hết á.

[1:08:05]Mình có thể lý giải và có thể hướng dẫn, giúp đỡ cho người ta cặn kẽ được. Khi người ta đi con đường Tứ thiền, mình biết người ta hễ Tứ thiền thì người ta thường kẹt chỗ nào, gỡ giùm cho người ta, để hướng dẫn người ta. Người ta đi con đường Tứ niệm xứ, cứ thích kiến tánh, giác ngộ thì mình hướng dẫn cho người ta cái kẹt của Tứ niệm xứ nằm ở chỗ nào. Còn cái người mà đi con đường Tứ thánh quả thì ta phân tích về cái đạo đức. Nhớ là dù tâm bạn được thanh tịnh, trong đó vẫn còn vô minh, chấp ngã, kiêu mạn, ích kỷ, độc ác, ô nhiễm. Đó, nhắc họ cái đó thì họ có thể đục sâu cho tới tới A-la-hán luôn, tới chứng được Thánh quả.

[1:08:47]Bây giờ vậy, thấy một người tu rất là tốt nhưng mà nếu mình dạy cho người ta cái chỗ này nè, họ nói mà, "Dạ tôi tu thiền tâm tôi rất là thanh tịnh. Khi bắt chân lên rồi là làm các động tác rồi xong, ngồi là tâm thanh tịnh liền." Thì người này có chứng thiền nhưng mà chưa chứng quả. Thì ta nhắc họ một điều này, "Bạn làm ơn nhớ rằng, nhớ rằng, nhớ rằng" thì đó là quán chiếu, "thẳm sâu bên trong vẫn còn vô minh, chấp ngã, kiêu mạn, ích kỷ, ô nhiễm, độc ác, nhớ giùm điều đó." Mà nếu họ nghe lời mình, họ nhớ cái này thì từ cái chứng thiền, họ chứng liền quả Thánh liền. Có thể là một tháng sau, hai tháng sau họ chứng quả Thánh liền,

[1:09:31]mà không biết quả Thánh nào, nhưng sẽ chứng được quả Thánh, bởi vì sao? Bởi vì đục vào kiết sử. Cái nhớ đó là cái đục vô kiết sử. Không có nói về cái thanh tịnh hay không thanh tịnh mà nói về đạo đức. Nhớ rằng trong thẳm sâu nội tâm vẫn còn vô minh, chấp ngã, kiêu mạn. Nói cái câu đó rồi mà người ta nhớ cái câu đó người ta quán chiếu khi người ta tâm được thanh tịnh, thì người ta chứng được Thánh quả. Nên có những người vậy, nói ừ "Thưa sư phụ, tâm con thanh tịnh tới mức độ này." Nói, "Con làm ơn nhớ giùm, thẳm sâu con vẫn là vô minh, chấp ngã, nhớ giùm câu đó." Khi mà thầy nói câu đó để làm gì?

[1:10:10]Thầy nói, "Nếu người này giữ được câu này, người này chứng A-la-hán liền." Thì ta đục vô cái chỗ đó, ta xoáy vô đó, ta nhắm vào nó thì người này sẽ chứng được Thánh quả. Còn nếu ta không nhớ cái điều đó, thì cứ loay hoay đứng ở thiền mà thôi. Cứ loay hoay đứng ở thiền chứ không có vượt lên xa được, vậy. Khi ta học toán, à ta nhớ cái đường đồ thị phải không? Đây là trục, ngang là trục x, trục đứng là trục y. Ta có một cái hàm số y = f(x), ví dụ như là y = 3x² + 2, ví dụ vậy, thì chắc chắn con đường nó sẽ là đường parabol, hoặc là cái đường đồ thị nó đi lên đi xuống thế nào vậy, đó, ta thường có cái đường đồ thị.

[1:11:06]Thì khi ta tu tập, cái đường ta cố gắng à ta tinh tấn, ta sám hối, ta lễ Phật, ta làm phước, thì cái đường đồ thị của ta nó lên từ từ từ từ từ từ từ từ thế này.

[1:11:21]Rồi nó lên luôn không? Lên luôn hay là bắt đầu nó trở quẻ, hay nó đổi hướng?

[1:11:31]Lên luôn không? Không biết. Tùy một điều kiện. Điều kiện đó là gì? Là xem bắt đầu từ lúc nào ta tự khen mình bí mật ở bên trong. Thì cái đường đồ thị bắt đầu nó trở quẻ, nó đi xuống từ từ từ từ từ từ.

[1:11:55]Ví dụ như cái mình gặp một ông bạn ở trong quán nhậu, ổng ngồi ổng uống rượu uống bia, cái mình mới khuyên ổng tu hành, cái ổng giác ngộ, ổng bỏ rượu bỏ bia. Sư phụ nói không đụng ai nha Tuệ Đức Huy, sư phụ không có ám chỉ ai nha.

[1:12:14]Ví dụ ta gặp một người trong quán nhậu, à uống rượu uống bia, nhậu nhẹt cái ta khuyên, ta nói về nhân quả, nói về nỗi khổ cuộc đời, cái người này bỗng nhiên thức tỉnh giác ngộ, cái bỏ nhậu, tu, đi đến chùa tu. Tu nhưng mà tiến đạo từ từ từ từ từ từ từ từ, mọi trạng thái vậy. Có thể là lái xe từ Đắk Lắk về đây một mạch ví dụ khỏe mạnh vô cùng vân vân, tiến dần dần tiến dần dần dần dần. Mười năm sau cái mình vô quán nhậu gặp ổng trỏng lại. Xuống lại. Tại sao vậy? Tại có một chỗ nó bắt đầu nó chuyển hướng, nó không đi lên nữa mà nó đổi hướng đi xuống. Lý do gì? Lý do là ngay cái lúc bắt đầu bí mật trong tâm tự khen mình.

[1:13:01]Đó là lúc bắt đầu ta chết. Mà cái ý niệm tự khen mình nó bí mật, ta không kiểm soát được, mà lúc đó ta không có một vị thầy bên cạnh để nhắc ta, thì coi như ta trở về quán nhậu lại như xưa, trở lại. Nên ở đây vậy, phải tự mình mà kiểm soát cái ý niệm tự khen mình. Mà ta không đủ sức kiểm soát nó, vì cái kiêu mạn nó mạnh quá. Chỉ có một cách duy nhất là mỗi ngày ráng mà lễ Phật, à, cứ lễ Phật xin nhờ Phật gia hộ. Cho nên khi ta tiến từ từ tiến từ từ, tâm ta rỗng rang từ từ, thanh tịnh dần dần, trí tuệ ta sắc bén lần lần, mọi cái cơ hội mọi cái điều tốt đẹp nó hiện ra từ từ, nhưng tuyệt nhiên ta không khen mình.

[1:13:52]Nó vừa mới nhúm ý niệm tự khen mình là sám hối liền, chận liền, xin lỗi Phật liền, nói: "Con vừa mới tự khen, con xin sám hối, xin Phật gia hộ cho con mãi mãi biết con chỉ là là cát bụi, là cỏ rác mà thôi". Cứ vậy đó, rồi cái đường đồ thị nó không bị quẹo xuống, nó không có rẽ xuống mà nó lại tiếp tục đi lên từ từ từ từ từ từ. Nhưng mà dễ không? Dễ không?

[1:14:21]Khó hơn bắc thang lên trời. Tại sao vậy? Tại vì khi ta tiến càng lúc càng lên cao, những cái cảnh giới nó quá siêu việt, cái sức định nó quá mầu nhiệm, những cái trí tuệ, những cái thần thông nó cứ phát dần phát dần ra, rồi ta không thể kềm được cái tự khen mình. Mà không kềm được thì sao? Cái đường đồ thị bắt đầu chuyển hướng đi đi xuống. Mà không phải ngay kiếp này, không phải 10 năm sau gặp lại nhau trong quán nhậu mà 1000 năm sau. Có khi đến như vậy, có khi cái quả báo nó phải 1000 năm sau nó mới hiện ra, chỉ bởi vì cái ý niệm tự khen mình. Nên trên con đường dài của thiền định, một người hành giả giỏi, một người kỵ mã giỏi,

[1:15:14]một người chiến sĩ giỏi, một người dũng sĩ giỏi chính là cái người kềm chế được cái ý niệm tự khen mình bí mật ở bên trong. Kềm thôi chứ diệt không nổi đâu, tại vì tới khi ta chứng A-la-hán ta mới diệt được cái kiêu mạn. Chưa chứng A-la-hán, kiêu mạn cứ còn và cứ tự khen mình. Thì ta chỉ kềm để nó đừng cuối đường để đừng có rẽ đi xuống thôi, kềm thôi, diệt diệt không nổi, mà cái sức kềm của ta cũng không kềm nổi. Phải nhờ gì? Nhờ Phật lực gia hộ. Cứ thường phải lễ kính Phật. Nên cái người nào mà lễ kính Phật nhiều coi vậy chứ họ đi được xa, còn cái người nào mà lười không chịu lễ kính Phật coi vậy chớ cái đường tu ngắn, không có tiến xa được.

[1:16:03]Nên làm gì làm, vẫn phải ráng mà mà lễ Phật, dù có bận việc cơ quan cỡ nào, dù có học hành cỡ nào, vẫn phải ráng mà lễ Phật, chớ đừng nói: "Tôi là cán... gọi là thượng tá rồi, tôi không lễ Phật", chết à nha.

[1:16:27]Nên ta sợ cái đồ thị đi xuống vậy đó.

[1:16:34]Có một ngày đẹp trời,

[1:16:38]cái ta gặp một cái ông đó, ổng ngồi ăn xoài. Cái trái xoài nó vàng vàng, sáng sáng rất là đẹp, ổng gọt ra ổng ngồi ổng cắt từng miếng ổng ăn, ổng hít hà. Sư phụ nói vậy có chảy nước miếng không? Ráng, ráng chịu, tại vì đang diễn tả cái điều quan trọng. Ổng cắt từng miếng xoài ra, ổng ngồi ổng ăn, ổng nhấp, ổng nho, ổng hít hà rồi: "Ngon quá đi!". Cái khi mình chảy nước miếng, cái mình xin, ổng không cho, ổng nói: "Của ai nấy ăn", không cho, cái tự hái mà mà ăn, tự có mà ăn. Thì mình mới hỏi: "Làm sao? Trái xoài nó làm sao mà ăn?". Ổng mới nói: "Cái trái xoài đó nó chua chua, ngọt ngọt, thơm thơm, thanh thanh, ăn rất là thích".

[1:17:26]Mình cứ hỏi tới và ổng cứ kể, ổng vừa ăn vừa nhai vừa nuốt vừa kể xoài nó ngon thế này, nó ngọt thế này, nó thanh thế này thế kia, ổng ngồi ổng kể riết à. Mà mình càng hỏi thì ổng cứ kể và ổng không cho một miếng nào. Chừng nào mình có xoài ăn?

[1:17:44]Không bao giờ. Mình không có xoài ăn. Thế là mình nhớ cái lời ổng kể về trái xoài, cái mình đem mình kể tới người khác. Mình mới gặp người khác: "Nè nè, tôi nói cho bạn nghe, trên thế giới này có trái có một trái rất là ngon gọi là trái xoài". Cái người kia hỏi: "Trái xoài sao?". "Nó chua chua, ngọt ngọt, thơm thơm, thanh thanh, ăn vô nó sung sướng vô cùng".

[1:18:10]Rồi cái người kia có xoài ăn không? Cũng nghe nói thôi, không có ăn. Mà nghe rồi tưởng mình cũng ăn được rồi, cái ông đó đem lời nói ổng nói truyền người khác. Và đạo Phật tiêu luôn.

[1:18:26]Đó là các thiền sư, đây là lỗi của các thiền sư.

[1:18:32]Các thiền sư chứng ngộ, đạt được sự giác ngộ, đạt được cái nội tâm siêu tuyệt, phi thường, đến khi đệ tử tới hỏi, ổng cứ diễn tả cảnh giới của ổng, là ha vượt khỏi tam giới, tự tại, bất sinh bất diệt, không dụng công, không một mảy bụi bám vào. Ổng ngồi ổng kể chuyện giống như y như cái ông mà ăn trái xoài mình hỏi ổng, xin ổng, ổng cứ toàn ổng kể trái xoài, đúng không? Phải không? Thì ông thiền sư cũng vậy, ổng cứ diễn tả cái cảnh giới nội tâm chứng ngộ của ổng. Mình nghe xong cái mình thuộc, mình bắt chước, mình đi mình nói lại. Thì cái ông thiền sư đó không biết ổng có bị cái lỗi kiêu mạn không, không biết.

[1:19:13]Nếu ổng không bị kiêu mạn thì ổng tiến đi luôn, còn ổng kiêu mạn thì ổng rớt. Nhưng nạn nhân là mình. Mình nghe ổng diễn tả trái xoài, mình đem mình kể lại. Mình nghe ổng diễn tả trạng thái chứng ngộ, mình đem mình thục lại. Mình đọa liền.

[1:19:32]Và đó là lý do đạo Phật bị suy tàn luôn, không còn ai chứng ngộ nữa. Chỉ bởi vì ông thầy ổng không nói về cách trồng trái xoài, ổng không hướng dẫn cách trồng cây xoài, ổng chỉ diễn tả cái vị ngon của trái xoài cho đệ tử và giết sạch đệ tử, giết sạch đạo Phật luôn. Từ đó đạo Phật không còn ai chứng ngộ nữa. Đây là cái lỗi mà khi ta đọc các sách thiền ta cẩn thận.

[1:20:01]Nên khi ta nghe một ai họ tu có, có tiến bộ, họ nói về cái trạng thái của họ, ta yêu cầu dừng lại không được nói nữa. Tại vì anh đang diễn tả trái xoài, anh không hướng dẫn cách trồng xoài. Đạo Phật tiêu vì anh á. Anh cứ diễn tả trạng thái chứng ngộ là Đạo Phật tiêu hết, hoang tàn không còn gì nữa. Anh phải diễn tả hướng dẫn cách trồng xoài: tìm hạt giống thế nào, tìm đất ra sao, làm tơi đất thế nào, bón đất thế nào, gieo xuống thế nào, tưới nước thế nào, cây lên, bắt sâu bắt cỏ thế nào để cho nó ra trái, ra sum sê để vô số người được ăn cái cây xoài đó. Thì đó mới là một bậc thầy, một bậc đạo sư chân chính.

[1:20:42]Bậc đạo sư không nói cao siêu mà chỉ nói cách làm thôi. Làm ơn đi nhặt rác, vô quét cầu tiêu, vô nấu bếp, bưng đồ phục vụ cho người ta, đưa người về quy y, nghe những bài Pháp này đi. Tức là ta giúp cho mọi người tu, hướng dẫn mọi người tu, hướng dẫn mọi người làm phước, không có diễn tả cái trạng thái của mình. Thì người này mới là người làm cho Đạo Phật được hưng thịnh lâu dài về sau. Còn cái người mà cứ diễn tả cái trạng thái chứng ngộ, người đó tiêu diệt Đạo Phật. Cái người mà cứ kể về trái xoài, sau này thế gian này xoài tuyệt chủng luôn, không còn ai có xoài ăn nữa vì không ai biết trồng cả.

[1:21:24]Đạo Phật cũng bị như vậy. Nên ta rất ngại các thiền sư mà mở miệng cứ diễn tả các trạng thái cao siêu của sự chứng ngộ, không thế này không thế kia, cao siêu thế này cao siêu thế kia, giết hết người học rồi Đạo Phật suy tàn như vậy đó. Ta nhớ về thiền là kết hợp bởi ba điều: một là kỹ thuật cho đúng, hai là đạo lý, ba là phước, và có cái thứ tư nữa là sức khỏe nữa. Ta nhắc lại: thiền là sự kết hợp của bốn điều. Một là gì? Kỹ thuật, phương pháp cho đúng nè. Ví dụ như ta để tâm ở càng ở dưới thấp thì ta dễ nhiếp tâm, còn ta để tâm ở trên cao lên tới đầu, bộ não sẽ hư về sau. Nên về kỹ thuật cho đúng chứ.

[1:22:15]Về hơi thở, ba yếu tố hơi thở ta phải biết để cuối cùng chỉ còn hơi thở chậm, ít, êm. Về kỹ thuật, đó là về kỹ thuật phải biết. Yếu tố thứ hai của thiền là đạo lý, là phải hướng về vô ngã. Ta tu cho được thanh tịnh, phải đi tìm cho được vô ngã, không còn cái bản ngã nữa. Đó mới là đúng về đạo lý. Và cái thứ ba là yếu tố phước. Tu thiền cần phước rất lớn, nên ta cứ phải lễ kính Phật mãi, cứ phải hóa độ chúng sinh mãi, giúp ai được điều gì ráng mà, mà giúp. Đó là yếu tố thứ ba. Và yếu tố thứ tư là yếu tố sức khỏe. Phải làm ơn tập luyện, ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, ngủ nghỉ đàng hoàng, biết giữ gìn sức khỏe. Bốn yếu tố của thiền:

[1:23:00]một là kỹ thuật, hai là đạo lý, ba là phước, bốn là sức khỏe. Nhớ cái điều đó vậy ha. Nên khi ta có một cái thành công gì, từ bốn cái kỹ thuật bốn yếu tố đó ta sẽ có được cái thành công, ta có ưu điểm, ta có phước báu rồi ta có kiêu mạn. Và khi có kiêu mạn rồi thì ta đọa lạc về sau, cái vòng lẩn quẩn rất là khó thoát ra. Khi ta tụ hội độ đủ bốn yếu tố: kỹ thuật, đạo lý, phước, sức khỏe thì chắc chắn ta sẽ có thành công. Khi có thành công rồi, ta có ưu điểm rồi, ta có phước báu rồi, bắt đầu ta lại có kiêu mạn. Và cái kiêu mạn tự khen mình làm cho ta thoái đọa về sau, rất là nguy hiểm vô cùng.

[1:23:58]Khi ta có phước thì tâm ta dễ yên. Khi ta có tội thì tâm ta loạn động. Đó là cái nguyên tắc à. Nên khi ta có vọng tưởng động lên thì biết đó là tội lỗi quá khứ. Khi tâm ta yên thì biết mình vừa có được một chút phước. Cứ nhìn cái vọng tưởng mà biết tội, biết phước của ta. Nhưng ví dụ khi tâm yên phước đó đã nhiều chưa? Chưa. Tu được là tâm yên một chút, phước đó chưa hề nhiều, chưa hề đủ để đi xa đến tận cùng. Bởi vì bên trong cái nội tâm yên ổn đó vẫn còn vô minh, chấp ngã, kiêu mạn, tội lỗi, đủ thứ ở trỏng á. Phải hiểu điều đó để mới tiến được, được xa. Bây giờ ta nói về cái vào dòng Thánh. Vào dòng Thánh là

[1:25:00]ta có một sự kết nối tâm linh đối với chư Phật, đối với các vị A La Hán, đối với các vị Bồ Tát, đối với các vị chư Thiên. Có một sự kết nối tâm linh và các vị trong đó họ giao giao lưu với nhau hết, giao hòa với nhau hết, họ biết về nhau hết. Giống như là kết được kết nạp vào trong cái dòng cái hội vậy, thì gọi là nhập lưu đó, vào dòng Thánh. Cho nên bên ngoài thì mắt nhìn mắt, mặt nhìn mặt nhau thế này, nhưng sự thực cái kết nối cõi này nó lỏng lẻo. Còn cái kết nối tâm linh giữa các vị Thánh với nhau mới là sự kết nối bền vững. Hiện nay ta có khái niệm là internet đó, có thể kết nối mọi người ở nhau khắp thế giới thông qua kỹ thuật điện toán.

[1:25:46]Đó cũng một cái gợi ý cho ta. Thì kết nối các bậc Thánh với nhau cũng như vậy. Khi các vị chứng đạt được cái quả Thánh, chứng đạt được thiền định thì ở trong cái cõi tâm linh sâu xa đó các vị kết nối được với nhau.

[1:26:01]Mấy cái này nói thì thôi nó không biết chừng nào hết thôi.

[1:26:15]Cái người mà vào dòng Thánh á kết nối được với các vị Bồ Tát thì nó có cái ưu điểm hơn chúng ta là các vị ít có phạm sai lầm. Hễ phạm sai lầm thì được các vị Thánh nhắc nhở, cho nên không phạm. Còn ta chưa kết nối được với các vị, ta phạm sai lầm là tự mình chịu luôn á, là đi luôn, đứt luôn á. Còn cái người mà đã vào dòng Thánh rồi họ không thoái đọa là vì vậy á. Cho nên nói tại sao khi mà chứng Tu-đà-hoàn rồi thì Phật nói người này sẽ chứng A La Hán chứ không bao giờ bị đọa vào ác đạo, vì kết nối được dòng Thánh, các vị Thánh họ hỗ trợ nhau hết. Đó là vị này Nhất lai là còn trở lại kiếp người này một lần,

[1:26:59]Bất lai không bao giờ trở lại cõi người này nữa, đi luôn. Là bởi vì các vị Thánh họ đỡ đần, họ cùng một phe với nhau, cùng một hội với nhau, họ giữ cho nhau không bị đọa. Còn mình chưa kết nối vào đó, mình sai lầm không ai cứu. Chỉ khi nào mình rất may mắn có thầy tốt bạn lành, có một người rất là sáng suốt gỡ giùm cho mình cái sai, chứ còn không là tự mình bị đọa vậy á.

[1:27:30]Thế giới này đầy đau khổ,

[1:27:34]và cái đau khổ đó được nuôi dưỡng bằng tà kiến và ác nghiệp nên không bao giờ dứt. Cái đau khổ của cuộc đời này không bao giờ dứt, bởi vì chúng sinh cứ bị tà kiến, cứ bị suy nghĩ sai mãi mãi không có đường, đường ra. Nên cái nhiệm vụ của chúng ta cố gắng mà truyền bá Chánh pháp, làm cho mọi người hiểu về nhân quả, làm cho mọi người có niềm tin về sự giác ngộ, làm cho người biết tôn kính Phật để cho từ từ chúng ta thoát ra được tà kiến và vơi đi cái khổ đau. Chứ còn cái tà kiến, cái ác nghiệp cứ vây lấy, giam hãm cả cái thế giới này trong khổ đau, rất là đáng thương. Có những người cũng có lý tưởng tu hành

[1:28:26]nhưng mà lại tiếp nhận một cái đạo lý sai rồi cực khổ cả một đời không có kết quả gì cả. Nên ta nói cái phương pháp rất là quan trọng. Nhiều khi ta gặp một vị, vị Tăng, ta nhìn thấy cái tuổi đạo ta hết hồn, rất là lâu, nhưng mà nhìn đạo hạnh không có gì cả. Cái tuổi đạo rất là lớn,

[1:28:52]thậm chí có khi tới Hòa thượng, nhưng mà ta quan sát kỹ thì người đó không có đạo lực, không có đạo hạnh. Chỉ bởi vì vị đó đi sai đường, rất là tội nghiệp. Còn những người nào mà cái tuổi đạo họ lớn nhưng họ đi đúng đường thì cứ càng về già, cái uy đức, cái đạo hạnh, cái đạo lực, cái đạo tâm họ nó càng ngày càng sáng vằng vặc lên đến nỗi quỷ thần cũng phải kiêng nể. Nên cái quan trọng là ta đi đúng đường hay không. Nhưng cái việc mà đúng đường của ngày hôm nay, cách Phật đã 2500 năm, là một điều rất là khó. Nếu thực sự ta không được gia hộ, ta rất dễ đón nhận nhầm một cái phương pháp sai lầm rồi đem cả cuộc đời của mình đi theo đó và không có kết quả gì cả.

[1:29:43]Không có kết quả, rất là đáng thương. Tiêu tốn biết bao nhiêu là cơm, là cháo, là thời gian, là tiền bạc, là công sức, nhưng không kết quả, chỉ bởi vì ta sai đường. Rất là đáng thương. Nên ta cầu nguyện thế giới này vậy, Chánh pháp được soi sáng. Khi ta gặp được Phật pháp, ta gặp được Chánh pháp, gặp được đúng con đường đi để mỗi một ngày, mỗi một giờ của mình đều là tiến đạo. Chớ nhiều khi tu qua năm rồi nhìn lại hổng thấy tiến gì hết, là có cái sai chỗ nào á. Chứ mình tu đúng rồi nó tiến từng ngày, tiến từng tuần, tiến từng tháng. Nếu ta tu đúng.

[1:30:33]Thôi nói lâu quá rồi mệt, thôi bây giờ thôi ta tổng kết lại thế này chút xíu để nghỉ ha. Ta có ba cái điều mà ta tự vấn:

[1:30:46]Tội phước ta bao nhiêu, ta phải tự đánh giá được. Cái thứ hai: vô minh, kiết sử, đạo đức của ta như thế nào, tự mình đánh giá. Và thứ ba: ta đang đứng ở vị trí nào, đường đi còn bao xa. Nha, ba cái này lúc nào cũng phải tự vấn, tự hỏi chính mình và đừng chủ quan. Hỏi, thứ nhất hỏi về tội phước, nhắm mình có phước nhiều hay không. Ở đây ai thấy mình có phước nhiều, giơ tay lên, sư phụ mời thêm bánh Trung Thu nữa. Ai thấy mình có phước nhiều? Thầy. Lát mời thầy thêm cái bánh Trung Thu nữa nha. Cái thứ hai là ta phải đánh giá mình cái vô minh, kiết sử, đạo đức của mình như thế nào.

[1:31:43]Thấy mình tốt, có thật sự đã tốt chưa? Thấy mình tử tế, đã thật sự tử tế chưa? Thấy mình hiền lành, có chắc là đã hiền lành chưa? Cẩn thận điều này. Và cái thứ ba, trên con đường thiền định xa xôi đó, ta đạt được cái mức độ nào, chớ đừng có tự phong mình là quá cao mà thành ra tổn phước nha. Hôm nay vậy thôi ta kết thúc bài Tứ Niệm Xứ bảy ở đây, tại vì nhiều người còn phải đi ra về, vân vân. Ta... Thôi khoan ngồi. Ta đi qua Tứ Niệm Xứ bảy bài, từ cái căn bản, ta định nghĩa thân thọ tâm pháp là gì, và ta hiểu và nhận thức về cái thân, về cảm thọ, về tâm, về pháp, và đi tuần tự tới đi vào thiền định, để biết rằng Phật dùng cái từ ngày xưa quán tâm trên

[1:32:41]tâm, quán thọ trên thọ, là cái từ bây giờ là chính mình là gì, hai cái đó khác. Và cái thời Trung Hoa ngày xưa cho là chân tâm, kiến tánh; thời ngày nay: chính mình là gì; thời Đức Phật là: quán cái gì trên cái gì. Cái ngôn ngữ nó biến đổi theo thời gian và theo vùng miền, để ta cố gắng hiểu cho đúng thì để hiểu rằng không có ai tu ra khỏi những cái điều Phật đã dạy, hiểu như vậy. Hôm nay ta nói về Tứ Niệm Xứ, nó liên quan tới Tứ Thiền và Tứ Thánh Quả, và liên quan tới cuộc đời tu tập của của ta. Hễ ta tu tập, ba điều này phải biết cho kỹ: Tứ Thiền, Tứ Niệm Xứ, Tứ Thánh Quả, nghe tới nghe lui, nghe tới nghe lưu lui,

[1:33:26]và khi ta thiền định nhiếp tâm, cả ba điều đó phải hiện ra, phải bao gồm trong đó hết. Phải Tứ Thánh Quả, biết mình vẫn còn kiết sử, không chủ quan. Tứ Niệm Xứ, an trú trong cái thẳm sâu của chính mình trong cái hơi thở chậm, ít, êm và ở dưới đáy bụng. Tứ Thiền, xem cái mức độ vọng tưởng của mình nó hết dần, hết dần tới cỡ nào. Ba điều đó đều phải phải biết. Và một điều vậy, lúc nào cũng nguyện lòng tôn kính Phật tuyệt đối, yêu thương chúng sinh vô hạn, và thấy mình chỉ là gì? Cát bụi, cỏ rác, tội lỗi, vô minh. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng con xin thành kính tri ân sư phụ, kính thỉnh toàn thể hội chúng khởi thân hồi hướng.

[1:34:21]Nguyện pháp giới chúng sinh cùng

[1:34:30]tinh tấn tu hành, thoát chấp ngã vô minh, đồng viên thành Phật đạo.

[1:34:50]Chúng con xin thành kính cung thỉnh sư phụ hồi quy phương trượng.