[0:41]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay ta nghe tiếp về bài Pháp Cú, cái tựa hôm nay là "Ngài Xá Lợi Phất vĩ đại", mà nói theo tên của, đọc theo Ấn Độ là ngài Sariputta. Chữ Sari là cái dòng họ của người mẹ, còn chữ Putta có nghĩa là người con. Sariputta tức là người con của dòng dõi Sari. Cái bài kệ ta sẽ nghe hôm nay là: "Như đất không hiềm hận, Như trụ đá kiên trì, Như hồ trong thanh tịnh, Như bậc Thánh bay cao." Cái, cái nhân duyên để cho Phật nói lên bốn cái câu kệ này là như thế này.
[1:32]Lần đó, sau mùa an cư kiết hạ, thì chư Tăng tập trung một chỗ để tịnh tu. Rồi sau mùa an cư, ngài Xá Lợi Phất mới từ giã Phật và các huynh đệ để chia một nhóm các huynh đệ Tỳ kheo của mình đi về vùng khác mà khất thực. Vì trong suốt 3 tháng hạ, cái sự cúng dường tập trung ở một địa phương nhiều quá rồi. Các Phật tử đã phải gánh cho số chư Tăng rất là đông trong suốt 3 tháng hạ, nên ngài rất là tế nhị là sau 3 tháng an cư, ngài chia người đi bớt, chia, đó là một cái sự khéo léo của ngài, để giảm bớt cái gánh nặng cho sự cúng dường của Phật tử. Thì khi mà ngài đắp y mang bát đến đảnh lễ Phật, đến chào hết các Tỳ kheo huynh đệ như vậy,
[2:27]ngài rất là khiêm cung, hòa thuận, và và lễ độ, ngài, người lớn người nhỏ gì ngài chào hết, ngài sót một người. Rồi trong lúc đông người chen chen nhau, tại mọi người cũng đến chào ngài, vì ngài là người lãnh chúng mà, người là thống lĩnh Tăng đoàn của Phật hết tất cả mọi nơi, nên khi mà ngài chào mọi người thì mọi người cũng kính trọng ngài và chen chúc đến để chào ngài. Thì lúc đông quá như vậy, ngài chào sót một vị, mà lúc đó ngài mới xoay người đi, thì cái túi y của ngài phía sau lại vô tình đụng vô cái mặt của ông đó một cái, cái thành ra một cái có cớ thì để cho cái ông Tỳ kheo đó ổng bất mãn.
[3:14]Ổng nói rằng là ngài khi dễ ổng, chào bao nhiêu người mà không chào ổng, rồi còn cố ý lấy cái túi y đánh vào mặt ổng một cái nữa, không coi ổng ra gì. Cái ông đó mới lên mách Phật nói rằng là: "Bạch Thế Tôn, là Tôn giả Xá Lợi Phất ỷ mình là cái người cao trọng, là người thống lĩnh Tăng đoàn đã không coi mọi người ra gì. Ra đi mà chào người này, không chào người kia. Như con à, không được chào mà còn bị ổng ổng thục cùi chỏ một cái thiếu điều bể mặt." Thật ra ngài chỉ xoay cái túi y ngài đụng mặt chút xíu thôi, mà ổng từ túi y biến thành cái cùi chỏ một chút. Thì lúc đó là ngài đã đã đi xa rồi,
[4:00]ngài đi xa rồi, thì Đức Phật mới thấy ông kết tội ngài quá, nói là: "Ông có hiểu lầm chăng?" Này, ngài nói: "Ông có hiểu lầm chăng? Thầy Xá Lợi Phất là một người rất là đạo đức, trí tuệ, làm sao lại có chuyện đó?" Nói: "Dạ, Thế Tôn không biết chăng, tụi con sống dưới này tụi con biết. Thật là bao lâu nay tụi con chịu đựng không nổi." Rồi bắt đầu ổng nói đủ thứ chuyện, tức là ngài mà đi khất thực mà lấy đồ ăn về nhiều, ổng cũng nói, nói: "Người đi ra miệng lưỡi để mà dụ dỗ Phật tử để lấy đồ cúng về." Còn bữa nào mà ngài mà mang thức ăn về ít á, nói: "Ổng đi ổng khất thực mà ổng không nghĩ tới cái người
[4:42]nào bệnh, về ổng xin cho mình ổng thôi, còn bao nhiêu người bệnh nằm ở tịnh xá chờ ổng không nghĩ tới. Mà ổng là người lãnh đạo Tăng đoàn mà như vậy đâu có làm gương được." Là nói chung cái gì ổng cũng moi ra ổng nói được hết. Từ một cái chuyện chút chút như vậy, kết tội ngài nặng nề. Rồi sau đó Phật nói: "Thôi, để Ta gọi Xá Lợi Phất về nói chuyện với ông." Thì trong khi chờ đợi vậy là ổng đi xuống chúng Tăng ổng nói, ổng rỉ tai, ổng nói xấu, nói Xá Lợi Phất thế này, Xá Lợi Phất thế kia, thế là mọi người cũng ngạc nhiên. Mọi người có những người mà đã chứng quả thì họ vững tin vào Phật, vào Pháp, và Thánh Tăng,
[5:20]vững tin vào đạo hạnh của ngài Xá Lợi Phất nên họ chỉ cười và khuyên. Nhưng mà còn có một số Tỳ kheo mới vào tu thì khi nghe nói xấu ngài Xá Lợi Phất như vậy họ cũng hơi dao động. Không biết cái này nói thật, mà ổng nói nghe hợp lý quá, nói nghe chi tiết cặn kẽ quá, nhiều chuyện quá, mà chuyện này sai thế này, chuyện kia sai thế kia, nói chi tiết cặn kẽ quá nên họ hơi dao động. Họ dao động nói: "Chà, có lẽ chắc ngài cũng có sơ suất. Cái người mà thống lãnh cả Tăng đoàn cho Thế Tôn như vậy, coi bộ hơi hơi kẹt rồi nha." Mà khi mà chê ngài Xá Lợi Phất thì lập cũng là chê ai? Chê Phật luôn, tại Phật chỉ định ngài làm thống lãnh Tăng đoàn.
[6:02]Nên cái sự dao động nó mất niềm tin với một bậc Thánh Tăng, mất lây luôn cho tới Phật luôn. Chúng ta thấy cái sự nguy hiểm. Mà khi nói xấu như vậy, nó làm mất tín tâm, mất đạo tâm của bao nhiêu người, cái tội này không phải nhỏ. Thì cái bắt đầu ổng xuống ổng đi ổng rỉ tai hết người này tới người kia, cái chuyện lan Tăng đoàn là lao xao lao xao lao xao hết trơn. Thì lúc đó ngài Ca Diếp, ngài Ca Chiên Diên, với ngài A Nan mới theo lệnh của Phật, cho người đi đuổi theo để thỉnh ngài Xá Lợi Phất quay lại. Và cũng nói sơ qua cái sự tình như vậy cho ngài. Và các ngài đó, ngài A Nan, ngài Ca Diếp, ngài Ca Chiên Diên là hy vọng rằng
[6:48]là khi mà có mặt như vậy, hôm nay ngài Xá Lợi Phất sẽ rống lên tiếng rống của con sư tử để từ đây vĩnh viễn chấm dứt những cái cái thói mà hay nói xấu, hay công kích, chia bè chia phái lẫn nhau trong Tăng đoàn, mà từ lâu nó không thành lớn chuyện, nhưng đôi khi nó có những người còn ngấm ngầm ngấm ngầm làm cho Tăng đoàn là không hoàn toàn thánh thiện, thanh tịnh như là Thế Tôn mong mỏi, vì có những con người như thế. Nên khi ngài Xá Lợi Phất đi nửa đường, cái nghe có lệnh gọi, cái phải quay trở về lại cùng với một số chư Tăng cũng đông lắm, mấy trăm người đi. Khi quay về đến tịnh xá, ngài cũng vào ngài đảnh lễ Phật,
[7:29]rồi Phật mới cho gọi chư Tăng lại hết, ngồi đó. Đức Phật mới hỏi: "Này Xá Lợi Phất, có một vị Trưởng lão đây, tên này, không vui với ông vì nghĩ rằng ông xem thường Trưởng lão đây, vì ông đã xâm phạm đến cơ thể,
[7:54]và vì ông coi thường mọi người, và vì ông không có trọn vẹn trong trách nhiệm của một người lãnh đạo Tăng đoàn. Thì hôm nay Như Lai muốn nghe ông hãy nói lên quan điểm của mình." Ta thấy Đức Phật cũng rất là hay, không bao giờ mà để nghe một bên, giống như một quan tòa thời mà văn minh hiện nay vậy, tức là khi có một người kết tội, phải có một người luật sư biện hộ, rồi quan tòa ở giữa nghe hai bên trước khi đưa ra một phán quyết. Chứ còn ta hay bị cái tật là nghe một bên, nghĩa là nghe ai nói xấu ai, tin liền mà không hỏi cái người bị nói xấu lại để xem người ta trả lời như thế nào, quan điểm như thế nào.
[8:39]Mà ý của Đức Phật cũng muốn cho ngài Xá Lợi Phất nói lên cái đạo hạnh của mình trong cái lần này. Thì đây là cái đoạn mà ngài Xá Lợi Phất đã trả lời như thế này. Khi mà Đức Phật hỏi là: "Có thật là ông đã xem thường vị Tỳ kheo này? Có thật là ông đã xâm phạm đến cơ thể của vị Tỳ kheo này? Có thật là ông không tròn trách nhiệm trong việc lãnh đạo Tăng đoàn hay không?", thì ngài Xá Lợi Phất lại không trả lời là có hay không, mà ngài chỉ nói thế này: "Kính bạch Thế Tôn, xin cho con được nói lên cái ý niệm về quán thân mà con tu tập giữ gìn, và con cũng xin xem cái ý niệm về quán thân này như là một
[9:29]món quà tinh thần con kính tặng cho các huynh đệ của con khi chia nhau rong ruổi trên mọi nẻo đường để tu tập và giáo hóa. Kính bạch Thế Tôn, lúc nào con cũng xem mình như là đất. Đất bình an hoan hỷ khi được người giẫm đạp đi lên, con cũng vậy, con xin được bình an hoan hỷ khi có người xem thường, giẫm đạp. Đất sẽ rộng lòng đón nhận những rác rưởi bẩn thỉu mà người vất bỏ lên, con cũng xin được rộng lòng đón nhận những ý nghĩ xấu cho con hay những lời nhục mạ nặng nề. Bạch Thế Tôn, cũng như đất chịu đựng sự cày xới để mọc lên những vườn cây trái ngọt hay ruộng lúa thơm ngon, con cũng xin chịu đựng sự tổn
[10:20]thương để vững bước mang cho đời những niềm vui hạnh phúc. Bạch Thế Tôn, cũng như đất nâng niu đỡ đần cuộc sống mọi loài trên đất, con cũng xin tôn trọng đỡ đần bất cứ ai cần đến con trong cuộc sống này. Bạch Thế Tôn, con xem mình như thanh niên Chiên-đà-la, làm những việc hèn mọn nhất trong đời là đổ rác hay gánh phân, vui vẻ chịu người sai bảo, con cũng xin vui vẻ làm những việc hèn mọn nhất để được làm vui lòng mọi người. Bạch Thế Tôn, con xem mình như cái giẻ lau xóa đi dơ bẩn của đời và nhận lấy sự dơ bẩn đó về mình, con cũng xin nhận lấy mọi điều xấu xa bẩn thỉu để cho đời được thơm sạch mát lành.
[11:11]Bạch Thế Tôn, con xem mình như nước để rửa sạch cho đời rồi phần mình chảy ra cống rãnh, con xin được phụng sự cho đời và còn lại mình trôi vào quên lãng mà thôi. Bạch Thế Tôn, con xem mình như củi lửa thắp lên ánh sáng và đun nấu thức ăn giúp ích cho đời rồi phần mình xin trở về tro bụi bay xa. Bạch Thế Tôn, con xem mình như gió thổi mát lòng người những buổi trưa hè, đem đến cho đời những cơn mưa phơi phới, rồi phần mình tan vào cõi vắng hư vô. Bạch Thế Tôn, con xem thân này là vô thường, ngày nào thành đất bụi bên đường, từng ngày sống là sự đòi hỏi của ăn uống, thở và đủ mọi thứ cung phụng vất vả.
[12:00]Bạch Thế Tôn, với suy nghĩ như vậy lòng con không hề xem thường hay ác ý với bất cứ ai, với bất cứ một chúng sinh nào, lòng con chỉ có tình thương tràn ngập đến muôn loài, mong cho mọi loài thương yêu nhau và tu theo Thánh đạo giải thoát."
[12:20]Thì sau cái lời nói của một con sư tử như thế thì nhiều vị Tỳ kheo đã khóc.
[12:29]Và lúc đó đất rúng động lan xa như một cơn là địa chấn. Khi mà ngài tự xem mình như là cái giẻ lau, như là người gánh phân hèn mọn. Cái chữ người gánh phân hèn mọn hôm nay ta không hình dung ra, nhưng sự thật là như thế này. Vào thời xưa bên Ấn Độ, họ xây nhà họ không có hệ thống nhà vệ sinh. Đến bây giờ cũng vậy, đến bây giờ trong Ấn Độ rất ít nhà có nhà vệ sinh. Thì lúc đó mỗi gia đình á, cái nhà nào sang trọng á, nhà giai cấp Bà-la-môn hay thương gia á thì họ có cái thùng. Cứ mỗi buổi sáng như vậy thì sẽ có cái người thuộc giai cấp Chiên-đà-la đến vào trong cái phòng vệ sinh đó, đổ cái thùng phân đó vào cái gánh phân của mình,
[13:18]súc rửa cho sạch sẽ rồi đặt cái thùng đó trở lại cho cái vị trí đó cho cái chủ nhà. Rồi tới tháng lãnh tiền hay lấy cơm gì đó. Họ gánh cái thùng phân đó để họ đi rất xa, ra làng ra xóm xa mà đi cho khuất, không được gặp ai, không được tiếp xúc ai, cấm không được giẫm lên cái bóng của bất cứ người nào, họ phải tránh xa mọi người bởi vì họ là thuộc giai cấp hèn hạ cực độ. Rồi họ đi họ đổ phân như vậy để họ kiếm miếng ăn, rồi cứ cứ đi qua một người như vậy, cứ đi gom nhiều căn nhà như vậy, đầy rồi họ lại đi. Nếu họ vẫn còn được hợp đồng với nhiều nhà khác thì họ lại trở vào cả một ngày như vậy cứ đi gánh phân.
[13:53]Và cái giai cấp đó là giai cấp còn thua thú vật của xã hội Ấn Độ. Cho nên khi mà nói tới giai cấp Chiên-đà-la thì trong lòng người ta chỉ có sự xem thường. Mà ở đây ngài Xá Lợi Phất tự xem mình là người gánh phân hèn mọn, chịu người sai việc bảo, xin làm những việc bẩn thỉu để nhường lại cho đời sự thơm sạch mát lành. Thật ra hôm nay đó thì thầy thuật lại nó chỉ là một phần ngàn những điều của ngài đã nói hôm đó, chứ hôm đó cái bài pháp của ngài Xá Lợi Phất rất dài, cực kỳ cảm động và rúng động từ cõi trời rớt xuống tới những cõi thần thánh hết, rúng động hết. Cả đất cũng rung lên, nhưng hôm nay
[14:35]thầy không có đủ trí tuệ để thuật lại những điều mà ngài Xá Lợi Phất đã nói lên tiếng rống của con sư tử như thế. Thì sau một cái bài pháp nói về quán thân và ý niệm tu thân và cái sự khiêm hạ tột cùng của mình thì nhiều vị Tỳ kheo khóc và cái cái vị Tỳ kheo mà vu khống ngài không còn chịu đựng được nữa đã quỳ xuống lạy ngài, xin ngài tha tội vì ông đã nghĩ xấu về ngài, đã vu khống ngài. Thì Phật mới bảo ngài Xá Lợi Phất: "Này Xá Lợi Phất, ông hãy tha thứ cho vị Tỳ kheo này, vì nếu ông không tha thứ thì vị Tỳ kheo này sẽ bị một cái quả báo thê thảm, đầu có thể vỡ thành bảy mảnh lập tức." Thì lúc đó ngài mới chắp tay cúi chào vị Tỳ kheo,
[15:28]quỳ xuống đảnh lễ Phật mà nói thế này: "Bạch Thế Tôn, con sẵn lòng tha lỗi cho tôn giả này và cũng xin tôn giả này hãy tha lỗi cho con vì con đã làm phiền lòng ông." Tới mức này mình chịu hết nổi rồi. Nghĩa là cái đạo hạnh của ngài, cái sự khiêm hạ tột cùng của ngài thì đúng là như đất á. Nghĩa là vì Đức Phật bảo ngài phải tha lỗi thì ngài cũng nói thuận theo Đức Phật và tha lỗi, nhưng lập tức cũng xin ông kia tha lỗi ngài vì ngài cũng đã làm phiền lòng ông. Cái phiền lòng đó dù ngài không cố ý, dù là đông quá ngài chào sót, hoặc là trong lúc mà quay qua quay lại để chào người này chào người kia
[16:10]cái túi y của ngài vô tình đụng ổng, chứ hoàn toàn ngài không có ý, nhưng ngài vẫn tự nhận đó là như là cái lỗi của mình để mà được xin lỗi ông. Thì khi mà ngài cầu xin sự tha lỗi của ông kia như vậy thì các Tỳ kheo ai nấy đều khóc và kính phục cái sự độ lượng, khiêm hạ tột cùng của tôn giả. Và Đức Phật, trước cái không khí như vậy ngài lặng lẽ nói lên bốn câu kệ để ca ngợi cái thánh hạnh của ngài Xá Lợi Phất: "Như đất, không hiềm hận; Như trụ đá, kiên trì; Như hồ trong, thanh tịnh; Như bậc thánh, bay cao." Đẹp như vậy.
[16:56]Ta thấy là cái người vĩ đại như tôn giả Xá Lợi Phất mà còn bị nghĩ xấu, bị kết tội thì ta đừng ngạc nhiên khi mà nghe sự chỉ trích lẫn nhau giữa cuộc đời này. Vì sao vậy? Bởi vì tất cả mọi người ngấm ngầm thẳm sâu bên trong ta có một bản ngã, cái sự kiêu mạn và sự hơn thua, lúc nào cũng muốn mình hơn người khác. Mà muốn hơn người khác á bằng cách tài năng của mình, cái đạo đức của mình để vượt lên chứng tỏ rằng mình hơn người khác thì không dễ. Cho nên để chứng tỏ mình hơn người khác bằng cách là chê người khác thấp xuống thì cái đó nhanh vô cùng, dễ vô cùng. Nên đa số trên đời này ai cũng mắc cái bệnh rất lớn là
[17:44]sẵn sàng nói xấu người khác, sẵn sàng tin khi có người khác bị nói xấu mà không có bình tâm để xét lại. Vì hễ có một người xấu, một người kém thì ta có cái ảo tưởng rằng ta hơn, ta giỏi. Cái ảo tưởng khủng khiếp, nguy hiểm như vậy. Chứ còn nếu mà ta có cái lòng từ bi của Bồ tát, ta nghe một người xấu, người kém ta xót xa, ta thương cảm, ta không muốn trên đời này ai là người xấu, ai là người kém hết, ta muốn là mọi người phải vượt lên, phải giỏi hơn, phải cao cả hẳn và càng hơn ta thì càng tốt. Thì nếu ta có cái tâm Bồ Tát đó và trên đời này nhiều người cùng có cái tâm Bồ Tát đó thì cõi này thành cõi thiên đường tịnh độ.
[18:34]Nhưng mà tiếc rằng chỉ bởi vì lòng người chưa vượt qua được điều này, chưa vượt qua được cái ngã mạn, cái hơn thua, cái chê bai, cái muốn người khác phải thấp hơn mình, phải xấu hơn mình, dở hơn mình, nên miệng cứ thích nói xấu, tâm cứ thích nghĩ xấu và lòng mình luôn luôn sẵn sàng tin cái điều nói xấu người khác. Và chính vì vậy, cõi này vẫn mãi mãi là một cõi đầy đau khổ. Con người vẫn ghét bỏ, hơn thua, thù hận, tranh đấu, tranh giành, mưu hại lẫn nhau. Đời đã khổ vì sinh lão bệnh tử thì chồng thêm bao nhiêu cái khổ vì con người thù ghét nhau, hãm hại nhau. Nên ta thấy là cái thường tình nhất là cái mà
[19:21]con người nói xấu, nên ta hiểu rằng khi nghe nói xấu ta hiểu ngay đó là chuyện bình thường của một con người, của cuộc đời này. Chỉ có những người nào có đạo tâm vững chắc, thuần thiện thì mới vượt khỏi cái sự tầm thường để không còn nói xấu người khác nữa. Nên ở đây, hãy nhớ lại, hãy kiểm điểm lại mình từ lúc mình sinh ra lớn lên cho tới ngày mình gặp Phật pháp, mình đã nói xấu con người nhiều hay ít? Rồi hãy kiểm điểm lại từ lúc mình bắt đầu gặp Phật pháp cho tới cái ngày hôm nay cùng ngồi đây, ta đã nói xấu người khác nhiều hay ít, ta có thích nói xấu người khác hay không, ta có tin vào cái điều người nói xấu lẫn nhau hay không?
[20:11]Nếu mà thực sự từ lúc gặp Phật pháp đến đây, ta từ bỏ cái điều kết tội vu vơ, nói xấu bậy bạ hay dễ tin cái sự chỉ trích, vu khống lẫn nhau, thì thực sự đạo tâm ta có tiến bộ, ta bước lên từng ngày, ta vượt lên từng giờ trong cái sự tu tập. Còn nếu mà từ khi gặp Phật pháp đến nay, miệng mình vẫn còn bi bô nói xấu, tai mình vẫn còn thích nghe cái lời nói xấu lẫn nhau thì ta biết ta chưa thoát khỏi cái sự tầm thờ thường của thân phận một con người. Hãy kiểm điểm lại mình như vậy. Rồi còn cái trên nhân quả, thì tùy cái đối tượng mà ta nói xấu sẽ đem lại cho ta cái mức độ tội nghiệp như thế nào. Vì nếu cái người nói xấu đó là một người phàm phu thì ta có tội mà ít.
[21:05]Nếu cái người ta nói xấu đó là người có đạo đức thì cái tội ta chồng lên nặng. Mà nếu người đó là người làm được nhiều công đức cho đời, thì cái tội ta rất nặng. Mà nếu mà người ta nói xấu là một bậc thánh triết thì công đức bao nhiêu kiếp ta bị đốt tiêu sạch luôn. Chỉ có cửa địa ngục chờ ta trước mắt, bỏ thân này rớt xuống địa ngục liền nếu mà cái người ta nói xấu là một bậc thánh. Tuy nhiên, khi mà ta nói xấu ai, ta có nghĩ người đó là bậc thánh không? Không. Ta tin chắc như đinh đóng cột rằng người đó là người xấu, và người đó ta phải công kích, ta phải vạch mặt chỉ tên cho mọi người biết. Ta nghĩ người đó rất là xấu.
[21:51]Ta tin chắc như đinh đóng cột rồi ta mới nói xấu. Cho nên bây giờ ta gặp một người, nói: "Sao chị hay mắc nói xấu người khác thế vậy?" Nói: "Nó vậy tôi phải nói cho mọi người biết chớ." Họ tin chắc là họ không nói sai. Mà ta thấy rằng nhưng không ngờ là họ đã nói sai. Nên vì vậy, ta đừng tin vào tâm mình, đừng tin vào ý nghĩ của mình, đừng chấp vào cái ý của mình. Cái người mà cố chấp cái ý của mình á, khi vào ngồi thiền tâm không thanh tịnh. Vì trong đời sống mình chấp ý thì khi ta vào thiền, cái ý đó nó dẫn ta đi, vọng tưởng nó khởi không dừng được. Còn nếu mà trong đời sống lúc nào ta cũng tỉnh
[22:31]giác, cẩn thận với tâm mình, không tin vào tâm mình, không tin vào ý mình, thì khi ta ngồi thiền ta rất dễ buông bỏ mọi cái vọng tưởng. Vì nhân như thế thì quả như thế. Ta chấp cái ý thì cái ý nó sẽ theo ta mãi, còn ta không chấp cái ý thì ý nó sẽ rời khỏi tâm ta để tâm ta có thể nhiếp vào trong thiền định. Mà cái chấp ý nó nặng quá, có thể là ta phản bội cả thầy tổ mình, có thể ta phản bội luôn Phật pháp luôn, và ta có thể làm bất chấp những cái điều tội lỗi mà cứ tưởng mình đúng vì mình chấp cái ý của mình. Ở trên đời là như vậy. Như cái ông tỳ kheo nọ vậy, chỉ vì một chút tự ái rồi bừng bừng bừng lên,
[23:15]cứ kết tội ngài Xá Lợi Phất là xấu, rồi bất cứ điều gì ngài làm ổng cũng nhìn thấy là xấu và ổng gán tội, kết tội, thêm mắm dặm muối vô. Và lúc đó, lời nói ổng và tâm ý ổng chắc như đinh đóng cột rằng ngài là người xấu. Mà nếu nói ngài là người xấu thì Đức Phật là người gì? Trong khi Đức Phật chỉ định ngài làm thống lĩnh Tăng đoàn. Cho nên ta thấy cái tội nó dây chuyền, nó tiềm ẩn á, công kích ngài Xá Lợi Phất tức là ẩn, tiềm ẩn, tàng ẩn, ngầm ngấm ngầm là công kích Phật. Mà vì chấp cái ý mình phản bội luôn Đức Phật ngay đó. Nhưng mà ông này còn may, còn may là Đức Phật gọi ngài Xá Lợi Phất về để ngài nói lên tiếng rống của con sư tử,
[23:59]trở thành một bài pháp tuyệt vời cho muôn đời sau. Và ông hối hận, nên cái thời gian đó nó không kéo dài. Chứ nếu ông nuôi dưỡng cái tâm xấu đó chừng một năm, thì ông phải đền trả cái tội nghiệp này trong địa ngục vài trăm ngàn năm, vài trăm ngàn kiếp không biết chừng được. Người ta công kích nhầm một bậc A La Hán thông tuệ siêu phàm như ngài Xá Lợi Phất thì không có địa ngục nào đủ cho ta ở hết. Thì cái cái cái tội mà chấp cái ý mình để thành kết tội người khác, ta không lường được cái sai lầm của mình lúc đó, ta không lường được. Còn chúng ta ngày hôm nay vậy, ta không được sống trong thời đại của Đức Phật,
[24:38]nên ta không hiểu trí tuệ và đạo hạnh của tôn giả Xá Lợi Phất vĩ đại đến mức độ nào. Không phải vô cớ mà ngài thống lãnh Tăng đoàn cho tới cái ngày mà ngài nhập diệt. Không phải vô cớ ngài vừa chứng A La Hán xong, Đức Phật chỉ định ngài làm thống lĩnh Tăng đoàn liền. Không phải vô cớ, đó là duyên phước của vô số đời, vô số kiếp về trước. Ngài và ngài Mục Kiền Liên là đôi bạn thân, hai vị ở trong hai khu vực làng ở ven cái thành Vương Xá, ở cái nước Ma Kiệt Đà. Thì hai vị đó có cái duyên phước gì đó là hai cái nhà giàu sang, trưởng giả, dòng dõi Bà-la-môn và học rất là giỏi. Cả hai khi vào thành Vương Xá học với những vị thầy thiện
[25:28]nghệ, nên hai vị là những bậc cũng văn võ song toàn. Thì ngài Xá Lợi Phất và ngài Mục Kiền Liên là học chung một thầy vào trong cái thành Vương Xá. Thì sau đó thì hai vị tự nhiên lại không có thích mà đi vào cái việc làm quan hay là buôn bán, mà cứ thích đi tìm đạo, nên thường gặp nhau để bàn về chuyện đạo lý. Có một lần đó có một cái lễ hội đông người ở thành Vương Xá. Thì trong cái lễ hội đó có nhiều cái đoàn hát, có hội chợ buôn bán, có những cái gánh hát, những cái cô gái lượn lờ lượn lờ đồ, những cô gái đi biểu diễn thời trang, những cô gái đi tìm người yêu đầy hết. Thì hai ngài đi cùng với gia nhân,
[26:14]tại hai ngài đi đâu cũng có những người hầu đi theo. Thì trước cái cảnh vui nhộn như vậy á thì mọi người cứ tưng bừng thích đi coi cái trò chơi này, đi coi trò chơi kia. Tại họ cũng có những trò xiếc, trò ảo thuật rồi múa võ, biểu diễn cũng nhiều thứ lắm, rồi cũng cờ bạc rồi tùm lum y như bây giờ. Thì mọi người cứ hăm hở kéo nhau cười vui hả hê rồi đi từ cái chỗ này qua chỗ kia để xem cái hội chợ. Nhưng mà trong cái đám người đông như vậy, có hai thanh niên mặt mày tuấn tú, khôi ngô, tướng mạo sang trọng, đi cùng với gia nhân đi từ nơi này qua nơi kia nhìn, nhưng mà gương mặt thì ưu tư như đang suy nghĩ về một vấn đề gì rất là xa xôi, khó hiểu.
[27:00]Thì khi mà nhìn cái con người ta vui đùa như vậy, hai người nói với nhau thế này: "Thế gian này thật sự thật chỉ là một cái gì nó tạm bợ. Mọi người hào nhoáng vui chơi đó, đâu biết phía sau này họ phải quay về đối diện lại với cuộc sống thực tế, là cũng phải cày sâu cuốc bẫm, tìm kiếm từng miếng ăn vất vả, gom góp từng cái đồng tiền, rồi phải đối phó với bao nhiêu là những cái bất hòa trong cuộc sống, trong gia đình, đối phó với những cái sự mưu hại, thù ghét lẫn nhau giữa cuộc sống. Lâu lâu có hội chợ rồi tìm đến vui hả hê trong tạm bợ để khuây khỏa quên đi nỗi khổ cuộc đời, rồi lại quay về với cuộc sống thực tế.
[27:38]Cuộc đời nó cứ quanh quẩn như vậy, chứ nó không có cái niềm vui vĩnh hằng thực sự." Cái hai người nói: "Thôi, tôi và anh, chúng ta phải đi tu thôi, đi tìm đạo mà tu. Tôi nghe nói có ngài Sanjaya, một vị Bà-la-môn cũng thông tuệ, ta hãy đến đó làm đệ tử của người." Cái thế là ngài với ngài Mục Kiền Liên cùng đến đó đầu sư với ngài Sanjaya, cũng vị Bà-la-môn. Nhưng sau này Sanjaya cũng theo Phật luôn. Một hôm ngài Xá Lợi Phất đi trên đường gặp ngài Assaji. Ngài đi trên đường cái ngài thấy tôn giả Assaji đang ôm bình bát đi khất thực. Ngài đứng ngài nhìn không không chớp mắt, ngài nói: "Ở đâu ra một bậc sa môn kỳ tuyệt như thế này?
[28:22]Dáng đi, điệu đứng như mây trời thanh thản, toàn thân như là có hào quang, điềm đạm, hư vô, lòng như là một cái hồ trong không có bụi." Ngài nói: "Ở đâu ra một vị sa môn thế này?" Ngài mới đến ngài quỳ xuống, ngài chắp tay, ngài nói: "Thưa tôn giả, thầy tôn giả là ai? Tôn giả tu pháp môn gì mà toàn thân tôn giả như là có hào quang, điềm tĩnh và thanh tịnh đẹp đẽ như thế này?" Thì ngài Assaji mới nói như thế này, đọc lên bài kệ bốn câu: "Các pháp do duyên sinh, rồi cũng do duyên diệt. Thầy ta, Đại Sa Môn, đã tuyên giảng như thế." Ngay câu đó xong thì ngài Xá Lợi Phất chứng Tu Đà Hoàn liền. Ta cũng vừa nghe xong, có ai chứng không?
[29:20]Những vị mà chứng Tu-đà-hoàn đều thấy chỗ này: khi họ chứng quả Tu-đà-hoàn xong thì họ đều thấy là các pháp do nhân duyên có sinh rồi sẽ có diệt. Cái câu này bây giờ mà diễn lại mình có hiểu không? Hiểu liền, mọi người hiểu liền, tức là các pháp do nhiều yếu tố để hợp thành rồi sẽ lúc nào đó đủ duyên nó sẽ tan đi; đời là vô thường, ai có sinh thì cũng có chết; rồi cái nhà ta hợp lên, xây lên, vài ba trăm năm sau ngôi chùa này cũng sẽ rã ra, vân vân, phải không? Bây giờ có hiểu không? Hiểu hết. Có ai chứng không? Không chứng. Tại sao? Tại sao ta hiểu cũng như ngài Xá Lợi Phất đã hiểu, cũng như ngài Assaji đã từng hiểu, mà ta không chứng? Lý do thế này:
[30:07]lý do là nói về cái quả chứng, cái đạo quả mà tu chứng á, nếu ta xét theo mặt mà
[30:18]đạo hạnh á thì có những tiêu chuẩn thế này, thế kia; nhưng mà nếu ta xét theo não bộ á, cấu trúc của não bộ, sinh lý của não bộ, thì nó có một cái cấu trúc thế này. Với cái người phàm phu như chúng ta á, cái sự xâm chiếm của cái ý niệm á, nó dính vào cái cái quan điểm, cái tư tưởng, cái sự tham chấp vào cái tai, cái mắt rất là nhiều. Ta nhìn cuộc đời, ta thấy cuộc đời rất là thật. Những ý nghĩ của ta nghĩ về cuộc đời nó đều dính chặt vào cái tham, cái đắm, cái chấp, nên cuộc đời rất là thật. Khi nghe giảng thì ta cũng hiểu: đúng là đời này cũng tạm bợ thiệt, nhưng mà cái sự bám của cái hệ thống vỏ não,
[30:59]những cái xung động thần kinh á, những cấu trúc của sinh lý tế bào não nó bám chặt vào những ý niệm đó ở trong não của ta, nên ta vẫn thấy đời là thật. Ví dụ thầy hỏi: thấy đời là giả không? Ngồi đây dạ: giả; đời có sinh có diệt đúng không? Dạ: đúng, đúng tróc không có gì trật. Nhưng mà khi ta bước ra ngoài khỏi cổng chùa một chút xíu, ai nói nặng ta một câu ta buồn, rồi móc túi mà không tìm thấy chiếc chìa khóa xe là nhảy cẫng lên liền, hoặc là móc túi vô rút ra không còn thấy cái hai triệu đồng hồi nãy bỏ trong túi nữa là xanh mặt hết trơn. Ta ta bị như vậy. Cái đó cái khác nhau giữa cái hiểu và cái chứng á.
[31:37]Còn cái người mà khi chứng Tu-đà-hoàn, tự nhiên trong sinh lý não họ cái cái cấu trúc não bỗng nó giãn ra một cái, nó giãn ra nó tách ra khỏi sự đắm chấp đó của tai, của mắt và của ý niệm, bỗng nhiên họ thoát ra khỏi cuộc đời, họ nhìn cuộc đời như là một người đứng ra khỏi dòng sông. Cái khác nhau của phàm phu là người đang trôi trên dòng sông, mà như ta là Phật tử, ta đang trên dòng sông, ta đang lặn hụp theo những con sóng, sóng đó mà ta nói rằng: à, con sóng này nó giả, ta biết con sóng này nó giả, nhưng ta đang lặn hụp trên những con sóng đó. Còn một bậc chứng đạo, họ đứng trên bờ, họ nhìn những con sóng và họ nói:
[32:14]con sóng này là giả, sinh diệt. Ta và bậc Thánh đều hiểu giống nhau, đều nói giống nhau là con sóng biển này là sinh diệt, là nhấp nhô, là tạm bợ, nhưng cái khác là ta ở trong cái con sóng bị nhồi lặn đó mà ta nói nó giả, ta biết nó giả; còn bậc Thánh đứng ở trên bờ biết nó giả, thấy nó tạm bợ, khác nhau. Khác nhau chỗ đứng, mà chỗ đứng đó trong cái cấu trúc não nó tách ra, nó nhả ra khỏi sự đắm chấp rất là lạ. Lúc đó có nhiều vị Thiền sư đã buột miệng nói: như trút được gánh nặng ngàn cân. Cái trút được gánh nặng ngàn cân là cấu trúc não nó giãn ra một cái, rất là lạ. Thì cái người chứng Tu-đà-hoàn, họ bước lên bờ họ nhìn lại dòng sông
[32:59]như một người đứng ở trong cái não mình nhưng mà tách ra khỏi sự đắm chấp của thế gian, bỗng chợt thấy thế gian rõ ràng là hư ảo, là sinh diệt, là tạm bợ, cái gì có sinh rồi sẽ có diệt, mọi điều tạm bợ. Các pháp do duyên sinh rồi sẽ do duyên diệt, Thầy ta Đại Sa-môn đã tuyên giảng như thế. Thì ngay cái câu nói đó, cái duyên của nhiều đời bùng khởi ha, ngài chứng Tu-đà-hoàn liền. Rồi ngài đảnh lễ ngài Assaji, hỏi thăm cặn kẽ về Đức Phật rồi ngài về gặp ngài Mục Kiền Liên, nói: Huynh, hồi nãy tôi vừa gặp một vị thánh Tăng, tôi hỏi như thế, ngài đã nói câu như thế: các pháp do duyên sinh rồi cũng do duyên diệt,
[33:42]Thầy ta Đại Sa-môn đã tuyên giảng như thế. Ngài lặp lại xong thì ngài Mục Kiền Liên chứng liền, Tu-đà-hoàn liền, lạ lùng như vậy. Làm cái khi chứng rồi, bước ra khỏi cuộc đời rồi thì cái lý tưởng xuất gia bùng lên liền, không còn gì nghi ngờ nữa. Thế là hai ngài từ giã gia đình đến xin Phật xuất gia. Lúc đó là hai bà mẹ của ngài rất là phản đối vì hai bà là tu theo Bà-la-môn. Thì cái chí xuất gia đã quá mạnh nên hai ngài về chào cha, chào mẹ xong rồi đi, đến xin Phật xuất gia. Đức Phật đang ngồi giảng, thấy hai ngài từ xa đi tới, Đức Phật ngừng lại nói với chúng Tăng: Đó là một đôi bạn phước duyên viên mãn.
[34:24]Thì mọi người chỉ nghe Phật giới thiệu vậy cũng không hiểu gì. Thì khi bắt đầu xuất gia theo Phật, một tuần sau ngài Mục Kiền Liên chứng A-la-hán, hai tuần sau ngài Xá Lợi Phất chứng A-la-hán. Khi hai ngài chứng A-la-hán xong thì Đức Phật triệu tập Tăng đoàn lại mới nói thế này: Từ lâu, Như Lai vừa là một bậc Đạo sư phải dạy dỗ tứ chúng, mà vừa phải sắp xếp, lãnh đạo, tổ chức mọi điều trong Tăng chúng. Đôi khi cái công việc nó chiếm nhiều thời gian, nên hôm nay Moggallana và Sariputta đã là một vị A-la-hán viên mãn, từ đây Như Lai giao cho hai người này được quyền thống lãnh Tăng đoàn khắp nơi, thay cho Như Lai điều khiển, xử lý tất cả mọi việc.
[35:14]Từ đây, bất cứ ai có việc gì liên quan đến Chánh pháp, liên quan đến Tăng đoàn, liên quan đến đời sống và mọi thứ đều phải hỏi ý kiến của Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. Đức Phật tuyên bố trịnh trọng, thế từ đó hai ngài ra là lãnh đạo Tăng đoàn luôn. Thì ta phải biết thế này: với trí tuệ của một một bậc Chánh Giác như Đức Phật thì cái việc mà chỉ định hai ngài để thống lãnh Tăng đoàn không thể là một điều vội vã hay sai lầm. Dù trước hai ngài đã có rất nhiều vị A-la-hán chứng đạo. Nếu mà kể ra cho tới lúc mà Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên mà chứng A-la-hán thì lúc đó là khoảng ba trăm A-la-hán rồi, đã chứng khoảng ba trăm A-la-hán.
[35:59]Mà nếu mà tính cho hết cái cái cái phái thờ lửa của các anh em Ca Diếp ở cái bên bờ sông Ganga á thì có thể là gần tới cả ngàn vị A-la-hán nếu mà nói tính theo con số tròn của trong kinh để lại, còn ta tính ít ít thì cũng phải được khoảng hơn ba trăm vị A-la-hán. Vậy mà Đức Phật chỉ định một người chứng sau, một người tu sau lên lãnh đạo Tăng đoàn liền. Nên ở đây ta phải hiểu thế này: là tuy trong đạo Phật cũng có nói tới tuổi đạo trước sau, cao thấp nhưng điều đó chỉ là tương đối, mà cái đạo hạnh, cái phước duyên mới là điều quan trọng, ta phải hiểu như vậy. Ta cũng không nghe rõ cái hệ thống tổ chức Tăng đoàn của
[36:44]thời Đức Phật ra sao, rồi chia nhỏ ra các địa phương như thế nào, mỗi khi có người gia nhập hoặc là các Tỳ-kheo di chuyển nơi này nơi kia thì các vị quản lý như thế nào ta không có hiểu hết. Ta đọc lại cái Tạng Luật thì ngài Upali hỏi Phật và Phật chế ra một số quy tắc, ta cũng không hình dung hết được cái tổ chức thời đó và cái sự lãnh đạo đặc biệt của hai vị trong suốt thời gian bốn mươi mấy năm như thế là như thế nào, ta không không hiểu hết. Nhờ có hai vị lãnh đạo Tăng đoàn mà Đức Phật của ta được rảnh rang để chuyên tâm mà giáo hóa. Tại Đức Phật giáo hóa là vừa giáo hóa cho cõi người mà vừa giáo hóa cho cõi trời.
[37:24]Ban ngày thì ngài giảng cho chư Tăng, cho tứ chúng, cho cư sĩ, mặc dầu lúc đó là chư Thiên đến nghe rất là đông, nhưng mà đêm đến có những vị chư Thiên tiếp xúc với Phật trực tiếp luôn, các vị hiện hình ra để mà hỏi Phật, nên Đức Phật nghỉ rất là ít. Một đêm Đức Phật nghỉ có một canh giờ khoảng hai tiếng đồng hồ, ngài nằm đó, rồi phải ngồi thiền, rồi giáo hóa chư Thiên. Ban ngày thì Đức Phật đi khất thực và giảng dạy cho tứ chúng, nên ngài rất là bận. Nhưng mà nhờ có ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên lãnh đạo Tăng chúng, nên Đức Phật được yên tâm, rảnh rang giáo hóa, công đức rất là hay. Thì các vị chia nhau đi du hành, thường là nối hai cái kinh đô của hai nước
[38:06]là một cái kinh đô là Xá-vệ, Savatthi của nước Kosala và cái kinh đô cái thành Vương Xá của nước Ma-kiệt-đà, đó là hai cái đế quốc lớn, hai cái vương quốc lớn. Họ có lại có bà con thân thích với nhau giữa hai cái dòng vua chúa đó, tức là em gái của ông của ông vua này lại là vợ của ông vua kia. Mà hai cái kinh đô đó là hai vị vua đều ủng hộ Phật pháp, cho nên Phật pháp tại hai kinh đô đó phát triển rất là lớn. Cho nên Đức Phật không thể là cùng một lúc ở hai nơi, không thể thể hiện thần thông kiểu đó như người ta nói, cho nên là cái ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên phải chia nhau đi qua đi lại giữa hai kinh đô đó và thỉnh thoảng đi du hành ở nhiều khu
[38:46]vực khác để kiểm tra, nhắc nhở Tăng chúng nên thành nhiều cái câu chuyện hay. Nhưng chỉ tiếc rằng là thời đó người ta không ghi chép lại, người ta chỉ kể miệng rồi quên lãng, chứ nếu như thời nay, đụng đâu mình móc vi tính ra mình gõ lốc bốc lốc bốc, lấy camera lên mình quay thì mình sẽ dựng lại được cái cuộc đời vĩ đại của ngài Xá Lợi Phất rất là hay. Còn thời đó, bao nhiêu lời khen ngợi đối với ngài, bao nhiêu câu chuyện của ngài xử lý mọi việc một cách thông minh, sắc sảo thì người ta chỉ khen rồi lần lần mấy đời chết hết rồi cái quên dần, quên dần, chỉ còn lại cái kinh Phật được truyền miệng mà thôi, cũng rất là tiếc.
[39:24]Vào thời đó đó, có một số bài kinh Đức Phật giảng đơn giản, rồi nhiều người không hiểu, phải gặp ngài Xá Lợi Phất, ngài Xá Lợi Phất ngài giảng lại sâu, kỹ hơn, gần gũi hơn làm cho mọi người hiểu. Cho nên bây giờ kinh cũng chép lại được một số ít thôi, chứ sự thật lúc đó ngài Xá Lợi Phất giảng nhiều lắm, hầu hết là nghe Phật giảng mà không hiểu đều đi kiếm ngài Xá Lợi Phất hỏi lại, rồi ngài ngài giải thích cặn kẽ và sâu sắc. Nhưng mà vì là người ta chỉ lo nhớ lời kinh Phật, ví dụ như là Phật nói về Tứ Thánh Đế... Tứ Thánh Đế rồi Đức Phật mới nói là oán tắng hội, ái biệt ly, ghét mà gặp nhau là khổ, thương mà phải xa cách là khổ.
[40:06]Khi đi gặp ngài Xá Lợi Phất thì ngài Xá Lợi Phất giảng cái điều đó rất là kỹ. Ngài nói rằng là cái ghét mà gặp nhau không phải chỉ là Đức Thế Tôn nói về con người, không phải là hai cái người đó ghét nhau mà cứ ở chung với nhau là khổ, không phải. Những điều ta không ưa, ta không thích như cái gương mặt ta bị xấu, ta không thích mà ta cứ phải ở với nó suốt đời, sống chung với gương mặt xấu suốt đời, khổ không? Rồi ví dụ như một người có cái chân tật nguyền là điều ta không thích mà ta phải ở chung với cái chân què đó suốt đời, khổ không? Khổ lắm phải không? Đó. Vân vân, nó có nhiều cái. Nghĩa là ngài nói về cái oán tắng hội, ngài đào rất là sâu,
[40:43]chia chẻ rất là kỹ, làm cho mọi người bùng vỡ ra mà nhìn mọi điều trong cuộc sống này nó rõ ràng hơn, rất nhiều rất nhiều điều như vậy. Đó. Rồi ví dụ như nói là ái biệt ly là thương nhau mà phải xa là khổ, ngài cũng nói không phải là Đức Thế Tôn nói về con người với con người không đâu. Những điều ta ưa thích mà không bao giờ ta có được, đó là nỗi khổ. Ví dụ mình nghèo, mình thấy người kia họ giàu, cái giàu của họ là điều ta ưa thích mà ta không có, ta phải lúc nào cũng đứng từ xa mà nhìn, khổ không? Cũng là khổ. Ta thấy một cái cô gái yêu kiều, diễm lệ mà cái gương mặt rất là đẹp, ta rất thích ta cũng được đẹp như vậy, nhưng mà ta không đẹp như vậy,
[41:22]đó là cái ưa thích mà không có được cũng là cái nỗi khổ. Đó, vân vân. Nghĩa là ngài giải thích mọi cái giáo lý của Phật lại, nó sâu hơn, kỹ hơn, làm cho mọi người hiểu thật là thấu đáo và người ta an vui trong Chánh pháp của Phật. Nên trí tuệ của ngài Xá Lợi Phất là như vậy. Mà nhiều điều nhiều điều lắm, chỉ tiếc là bây giờ ta không không ghi được hết. Nhưng khi mà khi mà làm lãnh đạo á thì ta phải ta ta ta hiểu một số điều thế này: là một cái Tăng đoàn của Đức Phật gồm cả Tỳ kheo và cư sĩ, tứ chúng mà ngài đứng sừng sững là một người lãnh đạo uy tín suốt cả bốn mươi mấy năm trời thì ta phải hiểu rằng cái trí tuệ, cái đạo hạnh của ngài vượt
[42:08]lên hơn mọi người mới giữ được cái sự kính phục của người ta mãi mãi như thế. Chứ còn nếu cái người lãnh đạo mà kém hơn mọi người thì có thể là người ta cũng theo cái cái quy tắc mà người ta tôn trọng, nhưng mà rồi lần lần mình không còn uy tín để lãnh đạo, vì người ta sẽ tự ý làm những điều khác, vì người ta không nể mình nữa. Người ta sẽ xé rào, làm những điều không còn theo lệnh, theo quy củ nữa, và lúc đó Tăng đoàn sẽ từ từ hỗn loạn. Mà tổ chức nào cũng vậy, tổ chức nào mà cái người lãnh đạo không giỏi hơn cái người dưới mình một cái đầu thì từ từ tổ chức đó sẽ rối loạn, tan rã. Đó là quy luật.
[42:48]Còn cái tổ chức mà đứng vững được, ổn định được lâu dài thì ta phải hiểu ngay là cái người lãnh đạo đó hơn mọi người một cái đầu, nên mọi người nể phục và vâng lời. Là như vậy. Thì ở đây, cả Tăng chúng rất đông các bậc Thánh mà ngài được kính tin như vậy, phải hiểu là cả cái sự phi thường. Thì để hiểu những tiêu chuẩn mà để lãnh đạo tốt thì ta nêu ra một số điểm như thế này: Tiêu chuẩn thứ nhất là xử lý việc gì cũng hợp lý, tối ưu.
[43:19]Ví dụ như ta sắp xếp à ví dụ hôm nay số Tăng chúng này sẽ ở bên đây, số Tăng chúng kia sẽ ở bên kia. Người ta hỏi: "Vì sao?" Thì mình phải giải thích liền: "Vì Tăng chúng này họ từ đâu đến, họ đã đi mấy ngày, họ mệt thế nào, cái số nhà này như vậy là thích hợp. Còn số Tăng kia vì họ từ đâu đến, họ ở đâu mấy ngày nên họ ở bên kia là thích hợp." Phải có lý do và phải hợp lý, phải tối ưu. Người ta không bắt bẻ được thì người ta mới tin mình. Đó là một chuyện. Mà phải tích lũy những cái điều mình xử lý như vậy, những cái mệnh lệnh của mình như vậy suốt đời như vậy thì người ta mới khâm phục mình cả một đời ổn định.
[43:55]Còn nếu mình xử lý một cái lệnh mà người ta còn bắt bẻ được trong đó vô lý, nói: "Ủa, sao lại thầy để ông này ổng ở đây? Ổng ở đây không có hợp, ổng lại nói dai mà mấy cái người này thì họ không đủ sức điều khiển ổng, thầy để đây là không được, phải đưa qua bên kia." Tức là mình ra cái lệnh xong mà có người lại góp ý mình sửa lệnh mình là mình mất uy tín liền. Mất uy tín lãnh đạo liền. Đúng không ạ? Chính xác như vậy. Vì vậy, cái người mà lãnh đạo trước khi đưa ra một mệnh lệnh nào là mình phải dò trước xét sau, tự mình phải rà hết. Khi nào cần lấy ý kiến mọi người, khi nào mình phải chính mình
[44:26]quyết định chắc chắn là đã tính trước toán trước hết. Có khi mình yêu cầu mọi người lại để lấy ý kiến vì mình cũng đã tính toán rồi, cái việc mà mọi người lấy ý kiến được điều nào, không được điều nào để làm gì, chứ không phải là vì mình bí mà kêu mọi người đến lấy ý kiến. Nhưng vì nên để cho mọi người tham gia ý kiến thì sẽ được sự đồng thuận gì đó, chứ không phải vì mình bí. Không cần ai có ý kiến, vẫn một mình mình đưa ra mệnh lệnh, sắp xếp, tổ chức, điều khiển được hết. Nhưng có khi phải kêu mọi người lại để lấy ý kiến vì một lý do khác nữa. Nên đây là cái bản lĩnh đầu tiên của người lãnh đạo là xử lý mọi việc cách hợp lý, tối ưu. Chữ "tối ưu" nghĩa là gì?
[45:06]Không ai còn có thể xử lý tốt hơn nữa thì mình mới là người lãnh đạo. Chứ mình đưa ra xử lý rồi còn có người chỉnh sửa mình hay hơn là mình mất uy tín lãnh đạo liền. Đó là tiêu chuẩn thứ nhất để làm người lãnh đạo tốt. Tiêu chuẩn thứ hai là khi ra cái chỉ thị nào cũng chuẩn xác, không thừa, không thiếu.
[45:29]Thấy mình bảo người ta làm mà có những việc không cần phải làm, tức là thừa. Và cái chuyện mà sai người ta làm mà thừa, mình bị tổn phước liền vì làm tốn công sức của đại chúng. Ví dụ nói bây giờ à sau mùa an cư rồi, bây giờ chư Tăng dọn lại con đường này cho sạch. Ta dọn ba con đường: con đường này qua đây, con đường này qua kia, con đường qua kia, nhưng trong ba con đường ta làm có một đường không ai đi hết, ta dư một con đường, lệnh ta bị thừa và thừa đó ta bị tổn phước liền, tại vì ta sử dụng công sức của đại chúng không tiết kiệm, phí. Cũng giống như người ta xài tiền, mình xài tiền mà xài không
[46:05]đúng chỗ tổn phước, sau này không có tiền xài nữa. Giống như ngài xài nước á, xài nước mà xài phí phạm, lấy nước xịt xịt rửa xe cho đã chảy tràn lan, mai mốt sẽ được mời về sa mạc mà sống cho biết đá biết vàng với người ta. Cũng như vậy. Đúng không? Ở đây ai hay cầm vòi xịt nước rửa xe? Mấy ông, này hỏi mấy ông, cưng xe cứ xịt nước rửa xe ào ào. Cũng vậy, thì khi ví dụ ta đưa ra cái lệnh bị thiếu, à nói bây giờ làm à đi nói trong chùa mình á, nói bây giờ ta xây thêm một dãy bếp này, thêm một dãy bếp này để phòng lễ vậy. Nhưng mà sự thực cái chỗ đó không ai tới nấu hết trơn, vì nấu ở đó nóng, nó không hợp lý rồi người ta dời qua chỗ khác
[46:47]người ta nấu, tới chừng lễ lộc vậy thiếu người ta phải bày ra ngoài trời người ta nấu thêm, tức là lệnh mình bị thiếu. Không đủ. Dạ, vẫn là bị tổn phước, vì công việc nó xảy ra không hợp lý. Cho nên cái trí tuệ sâu sắc của người lãnh đạo khi ta ra một chỉ thị không được thừa, không được thiếu. Đó là bản lĩnh thứ hai của người lãnh đạo. Cái bản lĩnh thứ ba của người lãnh đạo là ta đối xử với từng người ưu ái, tử tế vì lợi ích của họ. Tức là dưới tay mình, ví dụ như một người lãnh đạo có mười người thì trong mình đối phó xử với mười người đó đều phải ưu ái, tử tế hết, mà không phải để lấy lòng nha, vì lợi ích của họ, của người dưới mình.
[47:29]Mình phải thương người dưới mình. Ví dụ một người giám đốc mà có hai trăm công nhân thì mình phải đối xử ưu ái, tử tế với cả hai trăm công nhân này vì lợi ích của họ, không phải vì lấy lòng cho mình, cũng không phải vì lợi dụng công sức lao động của họ để phục vụ công ty mình, mà cái sự ưu ái, tử tế đó vì chính họ. Hoặc là ví dụ như một cái ông mà Chủ tịch nước vậy là ông phải tử tế hết cả tám chục triệu dân này chứ không phải là vì để lấy lòng, không phải là vì đến bắt tay người này, bắt tay người kia để quay phim, chụp hình lấy lòng, mà phải thật sự thương dân, thương nước. Mà nên như vậy càng làm lớn mà làm lớn đúng nghĩa là càng vất
[48:07]vả, vì cái lòng thương mình phải thương rất nhiều người, rất nhiều người, chứ không phải là giả dối lấy lòng được. Thì như vậy mới là tiêu chuẩn của một người lãnh đạo tốt. Rồi tiêu chuẩn thứ tư là là ta có khả năng chỉnh sửa lỗi lầm của những người dưới mình có hiệu quả. Tại vì chắc chắn là những người dưới ta sẽ có lúc họ lầm lỗi thì trong cái lầm lỗi đó nó có cái quy định về cái sự trừng phạt, cái kỷ luật rồi. Nhưng mà cái quan trọng á là ta sửa lỗi lầm cho họ có hiệu quả để cho họ đừng lỗi lầm nữa, chứ không phải là chỉ trừng phạt cho đã tay, cho đã giận mình, không phải, mà phải đủ khả năng cải hóa họ thành ra thành người tốt.
[48:49]Nên cái người lãnh đạo cũng phải là người giáo dục. Đây là cái cái yếu tố cực kỳ quan trọng. Nhớ, nhà lãnh đạo cũng phải là nhà giáo dục. Cái thời đại mới này á thì cái vai trò lãnh đạo họ tách ra khỏi giáo dục thì tưởng là văn minh, sự thực lại là làm dở. Hồi xưa á, một ông quan cũng là một nhà giáo dục. Cho nên ta đọc lại những chuyện xưa, những kinh cũ ta thấy là làm quan phải biết dạy dân, chứ đâu phải là quan lại chỉ là cai trị dân đâu, mà ông quan là phải biết dạy dân. Nên người lãnh đạo cũng là người giáo dục. Hoặc là có người nói, như nói khi mà sau này cái ta xem lại những cái vị tướng lãnh của cách
[49:35]mạng vào cái thời chống Pháp á, khi họ nói về Bác Hồ họ đều nói: Đây là cái đội ngũ được Bác đào tạo, tổ chức, tức là tổ chức là lãnh đạo mà đào tạo, giáo dục, được Người giáo dục, đào tạo và tổ chức để thành một cái lực lượng cách mạng mà giải phóng dân tộc, vân vân, ta nghe như vậy. Cho nên cái yếu tố thứ tư của một nhà lãnh đạo giỏi phải là một người giỏi giáo dục, dạy dỗ. Như vậy. Yếu tố thứ năm để làm một người lãnh đạo giỏi là thế này: là dẫn dắt mọi người đi về được một lý tưởng chung, một mục đích chung.
[50:12]Cái mục đích của ta là gì? Tại ta không phải là một nhóm người vô công rỗi nghề, không định hướng. Khi ta có một cái tổ chức thì ta có cái lý tưởng, cái mục đích của tổ chức đó. Ví dụ như là ta một gia đình thì cái mục đích của gia đình là gì? Là ta xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, đạo đức trong gia đình và giáo dục cho những đứa con lớn lên trở thành những công dân tốt cho xã hội, mục đích đó. Vì nói bây giờ một cái công ty, mục đích làm gì? Là để phát triển xây dựng kinh tế đóng góp xã hội và xây dựng đời sống của anh em công nhân à và đầy đủ bổn phận thuế đối với xã hội, và đồng thời tạo nên cái môi trường cộng đồng hòa
[50:54]hợp thân ái, vui vẻ với nhau, ta có cái mục đích. Hoặc là bây giờ nói một cái tôn giáo lý tưởng là gì? Thì mỗi tôn giáo có lý tưởng khác nhau, ta không có ý kiến. Ví dụ nói lý tưởng đạo Phật là lý tưởng gần và lý tưởng xa. Lý tưởng gần là giúp cho con người tạo được nhiều công đức trong cuộc sống này, còn lý tưởng xa là giúp cho chúng sinh đều được giác ngộ, giải thoát. Đó, có lý tưởng. Thì cái người lãnh đạo là phải xác định cái lý tưởng, cái mục tiêu của mình và dẫn dắt mọi người đi đúng hướng đó, không cho đi sai lệch. Không cho đi sai lệch là sao? Ví dụ thế này, ví dụ như là một người lãnh đạo cái giáo hội,
[51:38]giáo hội Phật giáo đi, thì phải biết là Phật giáo có cái lý tưởng là xây dựng giải thoát, giác ngộ và ở gần hơn xây dựng đời sống hòa hợp, thương yêu, hạnh phúc, tạo được nhiều công đức. Con người có đạo đức sâu xa, sống vị tha, từ ái, đó là lãnh đạo giáo hội phải hướng về mục đích. Nhưng mà nếu trong cái giáo hội đó người ta cứ cạnh tranh quyền lực với nhau, người này muốn giành chức này, người kia muốn giành chức kia thì cái người lãnh đạo đã không dắt được mọi người đi về lý tưởng của Phật pháp, đã đi lạc hướng. Hoặc là trong gia đình phát hiện ra người vợ thích đánh bài, con thích đi thời trang, xì ke thì ta đã lạc hướng,
[52:17]không dắt được mọi người đi về một lý tưởng là xây dựng một mái ấm gia đình hạnh phúc, yêu thương, đạo đức và đầy triển vọng. Đó là ta đã đi lạc mục tiêu. Cho nên vì vậy, phải xác định được cái mục tiêu, lý tưởng và người lãnh đạo lúc nào cũng lèo lái con thuyền đó đi về cái hướng đó, không cho đi lạc mục tiêu. Đó là cái bản lĩnh thứ thứ thứ thứ năm. Còn cái bản lĩnh thứ sáu của người lãnh đạo là thế này: là vượt qua cái tình cảm riêng tư, không cho chi phối vào việc chung. Đây là cái người lãnh đạo giỏi hay không là chỗ này. Tại vì con người ai cũng có những tình cảm riêng tư, nhưng mà nếu mình làm lãnh đạo thì yêu cầu xin
[52:58]vui lòng cắt bỏ tình cảm riêng tư giùm.
[53:03]Lãnh đạo càng lớn chừng nào thì phải càng dẹp cho sạch cái tình cảm riêng tư. Ví dụ một ông giám đốc, ông có vợ, mấy vợ thì chưa biết, nhưng cái gia đình của ông, một mái ấm ông thì là một cái riêng tư của ông. Và công ty của ông làm cái việc chung, số đông người, quyền lợi của đông người, thì ông không bao giờ được vì lợi ích của gia đình mà làm cho bóp nghẹt cái quyền lợi của công ty để phục vụ gia đình. Đó là để cái quyền lợi riêng ảnh hưởng tới công việc chung. Hoặc là một nhà lãnh đạo đất nước, thì bây giờ đâu có ai bắt một ông thủ tướng, một ông chủ tịch mà mà độc thân. Ông cũng được quyền có vợ, có con, nhưng
[53:45]tuyệt đối không được để cái tình cảm gia đình chi phối vào việc điều hành đất nước. Sự thực, khi một người mà đến có cái trách nhiệm lãnh đạo càng lúc càng lớn rồi thì phải hiểu gia đình là sự ràng buộc, là sự ngăn cản, vì cái tình cảm riêng lúc nào nó cũng đòi hỏi nó chen vào việc chung. Mà để làm một người lãnh đạo giỏi rồi, không nên để tình cảm riêng chen vào công việc chung, phải mạnh dạn cắt cho đứt. Nên nếu ai trong chúng ta
[54:17]muốn trở thành cái người lãnh đạo tốt thì phải chuẩn bị lòng mình xem nhẹ những tình cảm riêng. Phải mạnh dạn như vậy mới là người lãnh đạo giỏi được. Cái công việc mà cái lợi ích chung của mọi người nó buộc ta phải sáng suốt, phải xem trọng cái quyền lợi của mọi người, phải đặt tình thương đối với tất cả mọi người. Lúc đó mình sẽ thấy rất rõ, nếu có một cái tình cảm riêng tư mà nó nằm ở trong tim mình, nó là cái gai.
[54:45]Ví dụ thời còn trẻ, cái người đó họ chưa leo lên cái chức mà lãnh đạo lớn, hoặc còn trẻ nhỏ, họ có yêu một cái cô nào đó, yêu rồi hứa hẹn nhau, thề đầu bạc răng long rồi đủ thứ thương em tha thiết, không có em ngày anh chết nhăn răng, ví dụ vậy, nói đủ thứ chuyện, rồi cái cô kia cũng nghe nói chết nhăn răng quá sợ quá, thôi trối chịu cho cưới. Cưới xong rồi cái lo thương vợ, ga-lăng vợ, nào sinh nhật vợ là nhớ này nhớ kia rất là mẫu mực, nhưng lần lần cái người này có phước leo lên lãnh đạo lớn, có khi lãnh đạo tới hàng tỉnh, khi lãnh đạo tới hàng cấp trung ương. Lúc đó người này mới nhận ra một điều:
[55:23]cái tình cảm riêng tư mà ngày xưa ta tưởng là hạnh phúc, bây giờ chính là cái gai, chính là cái gai nhọn. Vì sao việc điều hành đất nước đòi hỏi quá nhiều công sức, tâm huyết, một cái tình cảm nhỏ nhỏ nào đều là sự trở ngại hết. Cái điều thứ bảy, bản lĩnh thứ bảy của người lãnh đạo là thế này: là có tầm nhìn xa trông rộng mà cái nhìn xa trông rộng của mình đôi khi ít ai hiểu được. Ví dụ mình tính toán chuyện này, sắp xếp chuyện kia vì mình đã nhìn trước cái thời gian nó 10 năm, 20 năm, 50 năm, có những người họ nhìn trước sự việc ba bốn trăm năm, họ sắp xếp từ bây giờ. Ví dụ một người lãnh đạo Phật giáo, họ tính trước là bây giờ họ phải
[56:05]làm những điều gì để Phật pháp phát triển bền bỉ hàng 500 năm sau. Tính như vậy không phải dễ, mà những cái tính của họ không ai hiểu được. Nên cái người lãnh đạo phải là đủ bảy cái tiêu chuẩn này mới là người lãnh đạo giỏi. Ta nhắc lại: thứ nhất là xử lý việc gì cũng hợp lý, tối ưu; thứ hai, ra chỉ thị nào cũng chuẩn xác không thừa, không thiếu; thứ ba, đối xử với từng người ưu ái, tử tế vì lợi ích của của họ; thứ tư là có khả năng chỉnh sửa lỗi lầm của từng người một cách có hiệu quả; thứ năm là dẫn dắt được mọi người đi về một lý tưởng chung, một mục đích chung; thứ sáu là vượt qua tình cảm riêng tư, không cho chi phối công việc chung;
[56:51]và thứ bảy là có cái tầm nhìn xa rộng mà ít người hiểu được. Đủ bảy tiêu chuẩn này ta hãy làm người lãnh đạo. Bây giờ, ngài Xá Lợi Phất của ta là ngài ngoài bảy cái ưu điểm đó, ngài còn là một vị A La Hán siêu phàm thông tuệ. Một người lãnh đạo giỏi là ta đã phục lăn rồi, huống hồ đây là một bậc A La Hán hoàn toàn vô ngã, trí tuệ siêu phàm, giỏi từ cái giáo lý cho đến giỏi điều hành mọi công việc, biết được tâm người, biết được ý người, biết được thời cơ, biết được hoàn cảnh mọi sự. Có những cái ngài không học mà ngài vẫn biết, giỏi. Có một lần đó khi mà ông Cấp Cô Độc xin phép để cúng dường xây cho Phật một cái tinh xá thì Đức Phật mới sai ngài Xá Lợi
[57:43]Phất đến để chỉ huy cái việc xây dựng cái cái tinh xá đó. Thì ngài không phải là người mà xuất thân là học kiến trúc hay xây dựng, nhưng mà tự bằng cái trí tuệ của ngài, ngài sắp xếp hết, chỉ định, chỉ đạo hết, quy hoạch cái khu vườn đó, cái khu nhà Phật nằm đâu, khu nhà chúng nằm đâu, cái sân nằm đâu, mỗi đường đi lối bước nằm đâu, rồi cái cấu trúc trong căn nhà đó cái cấu trúc nào nó xây thế nào xây thế nào như một ông kiến trúc sư mà đã học qua bảy năm. Giỏi như vậy, mà nhiều việc khác nhiều việc khác nữa, việc ngài chưa từng học nhưng mà khi tiếp xúc đến một cái ngài lập tức biết rõ toạc ra liền, sắp xếp chỉ đạo đâu ra đó liền.
[58:22]Chính vì vậy mà suốt bốn mươi mấy năm ngài lãnh đạo tăng đoàn, trừ có mấy người kỳ khôi, còn hầu hết mọi người đều kính phục ngài răm rắp vì cái trí tuệ, nên đến nỗi mà cái danh hiệu của ngài truyền đời tới bây giờ là Đệ nhất Trí tuệ Xá Lợi Phất. Cái trí tuệ này ta phải hiểu là không phải là trí tuệ trong kinh điển đâu, mà là trí tuệ trong lãnh đạo, trong tổ chức. Đó, cái trí tuệ như vậy. Cái sự kính phục đối với tôn giả đã đưa tăng đoàn vào nền nếp, dù Đức Phật không có đưa ra một cái chủ trương là ràng buộc sắt đá. Ta thấy thế này: bất cứ một tổ chức nào mà muốn vững chắc phải có cả hai điều kiện:
[59:06]thứ nhất là quyền lợi cho những thành viên trong đó, họ theo tổ chức đó họ phải có cái quyền lợi gì để họ sống họ mới theo, còn vô cái tổ chức đó không có quyền lợi gì hết không ai theo nổi; cái thứ hai nữa là có kỷ luật trừng phạt khi mà cái người trong tổ chức đó họ vi phạm. Nên phải có hai điều này thì cái tổ chức đó vững mạnh. Ta nên nhớ tất cả mọi tổ chức chính trị, tình báo, quân sự, xã hội đen đều dựa vào hai điều đó hết. Một là cái người tham gia tổ chức đó được quyền lợi gì, lãnh lương ra sao, ăn uống ra sao, khen thưởng ra sao; và thứ hai là nếu vi phạm họ bị trừng phạt tới mức độ nào.
[59:43]Ví dụ như theo luật pháp quốc gia thì ở tù mấy tháng cho tới tử hình, còn xã hội đen thì phải giết sạch cả gia đình, vân vân, thì mỗi cái họ đều có một cái quy luật, có quy luật của họ. Nên ta thấy ví dụ một cái gia đình tự nhiên chín người chết sạch hết, bị đốt cháy hết thì ta phải hiểu là nó thuộc hệ thống kỷ luật của một cái nhóm xã hội đen. Nó vậy thôi, nó bị sự trừng phạt. Khủng khiếp như vậy. Còn quốc gia thì tùy theo cái tội đó quy định ra tòa phán là mấy tháng, mấy năm, chung thân hoặc là quá lắm thì mới tới tử hình. Thì hoặc là trong quân đội thì sao, trong tình báo thì sao, vân vân thì tùy mỗi loại có cái
[1:00:16]kỷ luật, mà phải có cả hai cái, vừa quyền lợi mà vừa kỷ luật thì mới ràng buộc người ta ở trong cái tổ chức chặt chẽ được. Nhưng mà trong trong đạo Phật thì hai cái đó hoàn toàn không có. Cái người đến với đạo Phật không có quyền lợi gì hết, mà khi vi phạm cũng chẳng có một cái hình thức trừng phạt nào cả. Nên đạo Phật là một tổ chức mà lỏng lẻo nhất thế giới này vì hai điều đó không có. Bây giờ hỏi nè: những người, ví dụ bây giờ quý thầy quý cô mà xuất gia đi theo chùa thầy thì thầy phải nuôi, đó là quyền lợi thôi bắt buộc rồi, nó phải theo. Rồi khi mà có lỗi thì thầy bắt quỳ nhang hay gì gì đó thì thôi là
[1:00:57]được rồi, thì trong chùa nó phải hơi có hai điều đó một chút, nhưng mà so ra với các tổ chức của xã hội đều rất là lỏng lẻo. Còn vô số những Phật tử mà đi theo đạo Phật Có được, tháng có được đồng lương nào không? Ai trả lời không là rất khiêm tốn. Nói: "Thưa thầy, con theo thầy con không được đồng lương nào mà lâu lâu con còn phải móc tiền cho thầy nữa." Chứ không có quyền lợi gì hết. Mà mỗi khi vi phạm như vậy thì thầy có phạt được không? Thầy không biết đường đâu mà phạt ở nhà mình. Chỉ có những người nào mà thầy biết là cực kỳ ngoan, cực kỳ trung thành á thì thầy mới phạt. Vì thầy biết rằng khi thầy phạt người đó, người đó không bỏ thầy.
[1:01:39]Ví dụ thầy kêu lên, thầy nói là: "Vừa rồi con đã sai lầm thế này, bây giờ thầy bắt con vô quỳ nhang." Thì người đó ngoan ngoãn vô cắm cây nhang lên bàn Phật ngồi quỳ sám hối mà không giận thầy. Còn bây giờ có một người nọ, nói nè: "Ông hồi rồi tôi nghe nói ông đi nhậu lung tung bị ông quỳ nhang", là ổng không quỳ nhang, bỏ thầy đi luôn mà nói xấu thầy nữa, phải không? Đây vì không có ràng buộc được, không ràng buộc được. Cho nên cái người Phật tử nào mà thầy nghiêm mặt, lạnh lùng, thầy rầy, thầy la, thầy bắt phạt thì phải hiểu là người đó làm sao? Một Phật tử rất tốt. Còn cái người Phật tử nào thầy gặp thầy cũng
[1:02:14]vui cười, khen ngợi là Phật tử đó làm sao? Chưa chắc ăn. Vì thầy sợ thầy nói nặng cái bỏ thầy luôn, cho nên thầy không dám nói nặng. Cho nên để ý, để ý coi mình thuộc loại Phật tử tốt hay xấu là hãy nhìn thấy thầy. Gặp mặt mà thầy la, thầy cúi đầu bắt quỳ nhang là biết mình là đã, thầy đã xem mình là thuộc loại đệ tử ruột rồi. Còn mà gặp chưa bao giờ nghe thầy la mình một câu, chưa bao giờ thấy thầy bắt mình quỳ nhang thì ráng tu thêm nữa. Tại mình chưa phải đệ tử ruột của thầy. Vì vậy ta thấy rằng là chính vì đến với đạo Phật, mọi người không có quyền lợi nhiều. Chư Tăng đi tu theo đạo Phật không được giữ tiền
[1:02:53]riêng, ngày ăn một bữa rồi phải đi khất thực. Khất thực là xin xỏ người ngoài, chứ đâu có xin Phật đâu, Phật đâu có cho gì đâu. Cho nên cái sự ràng buộc rất là ít. Vậy mà để giữ được cái tăng đoàn nề nếp ổn định trong bao nhiêu năm, cho tới mấy ngàn năm cho tới giờ này thì ta phải hiểu là vì mọi người đến đây có một cái đạo lý, có cái lý tưởng. Và mà vào cái thời của Đức Phật á, cái sự ổn định của tăng đoàn như vậy chính là do cái công đức siêu việt của ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. Các ngài lãnh đạo tăng đoàn quá giỏi, xử lý mọi việc quá hợp lý, đối xử với từng người ưu ái, mọi việc đâu đó ổn định hết, cho nên tăng đoàn rất là vững chắc vào thời Đức Phật.
[1:03:35]Sau Đức Phật thì bắt đầu hơi yếu dần yếu dần, thì ta phải nhờ vào cái định chế khác. Nhưng thời đó cái công lao của ngài Xá Lợi Phất thật là, thật là siêu việt. Ừm. Nếu mà ngày hôm nay ta có một cuốn sổ mà ghi chi tiết về hành trạng của ngài Sāriputta thì lòng của ta là tôn kính ngài vô hạn. Chỉ là ta chỉ nghe thoáng thoáng, nhắc nhắc trong kinh, nghe nói ngài trí tuệ đệ nhất chứ ta không biết rõ. Cho nên ta không đủ lòng tin kính với ngài. Hôm nay ta học cái bài kinh này là ta được nghe một góc rất nhỏ thôi để ta khởi lên cái lòng tôn kính đối với một bậc thánh siêu phàm hiếm có giữa cái, cái thế giới này từ ngàn xưa cho tới ngàn sau, rồi.
[1:04:18]Tuy nhiên là ta nhìn cái trung đạo ngài Xá Lợi Phất ta thấy rất là hay. Đức Phật hỏi là: "Ông có xem thường vị Trưởng lão Tỳ-kheo này không? Ông có xúc phạm đến cơ thể...", tức là ý là nói ông có thục cùi chỏ không đó, "...xâm phạm cơ thể người Tỳ-kheo này không? Ông có không hoàn thành cái nhiệm vụ lãnh đạo đối với tăng đoàn hay không?" Thì ngài không trả lời yes or no, mà ngài nói thành một cái bài pháp tuyệt vời, xem cái, về cái hạnh như đất làm cho ta nghe ta rất là cảm động. Mà chỉ cần nghe ngài nói bài đó xong người ta hiểu ngài có hay không? Không bao giờ ngài xem thường ai, không bao giờ ngài làm buồn khổ hay xâm phạm, xúc phạm tới ai.
[1:05:01]Lúc nào ngài cũng tận tụy để phụng sự, lãnh đạo tăng đoàn. Lúc nào cũng mong cho mọi người thương yêu nhau và cùng phát tâm hướng về sự tu tập, thánh đạo, giải thoát. Khi hiểu như vậy rồi, khi ngài nói như vậy rồi thì mọi người hiểu đó là một cái câu trả lời. Một câu trả lời thành một bài pháp thay vì trả, trả lời cãi, cãi, cãi vội vội vàng vàng. Cho nên ta bắt chước ngài ở điểm này rất là hay. Ví dụ sau này có một người nào đó nói với ta là: "Tôi thấy bà đi chùa mà bà còn ác quá." Thì mình sao? Thì mình đừng có gân cổ lên mà cãi: "Bà nói tôi ác hồi nào, ở chỗ nào?" Đừng có nói như vậy. Lúc hãy nhớ lại ngài Xá Lợi Phất. Lúc đó mời bà ngồi xuống:
[1:05:43]"Thưa bà, như là đất, là mọi người giẫm chân qua, tôi cũng xem mình như là đất..." Vân vân ha. Mình làm, nói sao cho người kia họ không còn nghĩ mình đi chùa mà ác nữa là mình thành công mình bắt chước được ngài Xá Lợi Phất. Cho nên thầy mong rằng mọi người học thuộc cái bài này, nha. Mai mốt mà có ai nói xấu mình cái mình cũng nói với người ta nhỏ nhẹ: "Tôi xem mình như là người gánh phân...", ví dụ vậy, "...tôi xem mình như người giẻ lau, tôi xem mình như là lửa củi đốt lên ấm áp cuộc đời, còn phần mình thành tro bụi bay xa..." vân vân ha. Nói như vậy thì sẽ thành là một cái cuộc nói chuyện rất là hay
[1:06:19]thay vì là mình cãi đổng lên hoặc là đôi khi mình im lặng. Cái im lặng nó cũng có lúc hay. Có những lúc ta im lặng để cho nó qua hết cái nghiệp của mình thì lúc đó tự nhiên cái cơ hội để ta bày tỏ nó sẽ xuất hiện. Thì đến khi cái người mà nói xấu mình, họ sẽ hối hận rất là nhiều. Ở đây ta thấy cái cách ngài trả lời có cái đặc điểm như thế này. Nhất là ngài không có nói kiểu này. Nói: "Bạch Thế Tôn, con xem cái lời nói xấu con như không có."
[1:06:51]Ngài không trả lời kiểu đó. "Con không xem cái lời nói xấu con như gió thoảng qua tai nên con vẫn tự tại, bình an." Cái câu nói như vậy nó có cái dở nào? Nó có cái dở là ta bất cần đời, ta không từ bi, mặc dù có vẻ như ta tự tại, nhưng cái tự tại đó hơi tàn nhẫn, hơi kiêu ngạo và thiếu từ bi, đúng không? Cho nên ta cẩn thận. Có nhiều người nói: "Ôi! Nó nói thì nói coi như không, coi như gió thoảng qua tai." Nhưng mà nếu ta học theo cái câu nói đó, ta sẽ trở nên kiêu ngạo, bất cần đời và thiếu từ bi. Còn ngài Xá Lợi Phất ngài không nói vậy, mà ngài nói: "Bạch Thế Tôn, con xem mình như thanh niên Chiên-đà-la đi gánh phân.
[1:07:38]Xin nguyện làm những việc hèn mọn nhất trên đời để giành lấy cái bẩn thỉu về cho mình và dành cho đời mọi sự thơm sạch, mát lành." Hai câu trả lời khác nhau xa. Một bên là nói nghe như tự tại nhưng kiêu ngạo và bất cần đời, thiếu từ bi. Một bên là gì? Khiêm hạ, đạo đức, hy sinh, thương yêu, nhẫn nại, khác nhau hẳn. Nên hôm nay ta học cái bài Xá Lợi Phất này, ta phải chỉnh lại cái cách mà ta suy nghĩ khi ta đối diện với những nghịch cảnh của cuộc đời. Gặp phải nghịch cảnh cuộc đời, nói: "Dạ, thầy yên tâm. Con là xem mọi cái như pha, hổng có gì để con bươn đầu bước tới vững bước trên đời, xem mọi cái như không." Nghe như hay,
[1:08:22]nghe như là cũng bình an tự tại nhưng rất tàn nhẫn. Còn ở đây ngài Xá Lợi Phất là sao? Xin làm một cái nước để rửa chân cho người, xin làm cái củi để sưởi ấm cho người đêm đông, xin làm cái giẻ lau để lau cái bụi bẩn dưới bàn chân của người. Thì cuộc đời cứ chà đạp, cứ xúc phạm và con xem đó như là chất liệu của cuộc sống để con vươn lên, để con tiếp tục làm thành những điều tốt đẹp cho mọi người. Nghĩa là trong bất cứ điều gì trong câu trả lời của ngài đều là hy sinh phụng sự, hy sinh phụng sự, chứ không phải là bất cần, không phải bất cần. Nên ta, từ cái bài nói chuyện của ngài ta phân tích ra có những điều nó sâu xa,
[1:09:05]đẹp đẽ mà ta không lường được hết, không lường được hết. Nên hai cái cách mà để đối diện với nghịch cảnh cuộc đời nó khác nhau, ta cẩn thận. Cái thứ nhất là ta sân si, ta chống lại cái người đã xúc phạm ta. Cái thứ hai, cực đoan thứ hai ta coi như không có, ta bất cần để giữ bình an tự tại nhưng mà rồi thành ra kiêu ngạo và tàn nhẫn. Còn cái trung đạo của ngài Xá Lợi Phất là xem mình như là cái sự thấp hèn để tiếp tục được bước tới, được hy sinh, được phụng sự, được yêu thương con người. Khác hẳn, vượt lên trên hẳn cái thường tình của cuộc đời. Mãi mãi thế giới cần cái đạo lý này để yêu thương nhau mà để sống vượt qua những
[1:09:45]khó khăn, những gian khổ, những sự thù hận như thế này, mãi mãi như vậy. Rồi có một lần thầy gặp cái cô Phật tử, thầy mới nói: "Ủa, sao gặp thầy không chào nha?" Cái cô nói: "Dạ, con thấy con cũng như thầy, thầy cũng như con, nên con khỏi chào." Thầy không biết là nói cái đạo lý này ở đâu ra, quái lạ. Nói dạ thầy con dạy là mọi người như nhau, thầy con dạy là phải xem mình cũng như Phật, mình cũng như tổ. Thầy nói cái như này, cái bình đẳng này hơi ăn gian, tại mình coi mình như người cao để mình nâng bản ngã mình lên. Còn như ngài Xá Lợi Phất lại không coi mình như Phật mà coi mình như gì? Như đất, như giẻ lau.
[1:10:26]Ngài xem mình bằng những cái thấp, chứ không phải mình bằng những cái cao. Cho nên một cái là ăn gian để thấy mình bằng rồi không cần ai, không chào ai; còn một cái thấy mình thật thấp để có được cái đạo đức, cái thương yêu, sự hy sinh, sự tận tụy tiếp tục. Hai cái bằng khác nhau. Cho nên bậc thánh đã lựa chọn một cái bằng, một cái bình đẳng hết sức là đẹp để được cái khiêm hạ. Còn cái người phàm phu tà kiến thì chọn cái bằng để nâng cái bản ngã mình lên, mình đọa mất luôn, có thể bị điên luôn, kiếp sau có thể đọa làm súc sinh liền vì cứ nghĩ rằng mình bằng thầy mình, mình bằng ông tổ đang thờ ở trên, rồi mình thậm chí mình bằng ông Phật.
[1:11:04]Đó là tà kiến. Ta thấy là trong thẳm sâu mỗi con người ta đều có cái kiêu mạn muốn hơn người, nên ta mới nói xấu người khác. Còn nếu ta có cái tư duy được như ngài Xá Lợi Phất đã tự mình là xem mình là thấp rồi, mong muốn cho mọi người hơn mình hết thì thế giới này thật là thật là hòa bình, thật là thánh thiện. Và không ai nói xấu ai nữa, không ai muốn hơn ai nữa, và khi ai thấy ai hơn mình thì hết sức là vui mừng, hạnh phúc. Mà cái người nào mà thấy được như vậy là ta gieo cái nhân để làm thánh như ngài Xá Lợi Phất. Trong cái đoạn cuối, ngài có nói về cái bí quyết của thiền định là cái quán thân.
[1:11:47]Ngài nói rằng, "Bạch Thế Tôn, con xem thân này là vô thường, ngày nào thành bụi đất bên đường, từng ngày sống là sự đòi hỏi của ăn, uống, thở và đủ mọi thứ cung phụng vất vả." Đó là phương pháp bí quyết của thiền định.
[1:12:04]Khi ta an trú trong thiền định thì cái kỹ thuật là ta phải thấy ngồi đúng tư thế kiết già, giữ thân mềm mại, bất động. Ta biết rõ toàn thân từ đầu tới chân, rồi thấy rõ thân này là vô thường. Cái vô thường là thân này sẽ chết, sẽ tan hoại, xương sẽ thành bụi bay mất. Phải nghiệm cái vô thường cho đến mức độ sâu xa như vậy. Rồi khi mà ta nghiệm cái vô thường sâu xa như vậy rồi, ta chợt thấy trong cái thân vô thường này đang có hơi thở vào, hơi thở ra. Ta biết rõ hơi thở đó mà không điều khiển. Không điều khiển hơi thở đó dài hay ngắn theo ý mình, không điều khiển hơi thở đó mạnh hay nhẹ theo ý mình, mà chỉ lặng lẽ biết thôi.
[1:12:49]Có khi hơi thở nó mạnh, có khi hơi thở đó nhẹ tùy theo cái vọng tưởng ở trong tâm ta. Khi nào tâm ta vọng tưởng nhiều, hơi thở nó sẽ bị nặng, bị mạnh. Khi nào tâm ta thanh tịnh, tự nhiên hơi thở nó rất là nhẹ nhàng. Và ta chỉ biết chứ không điều khiển. Nếu ta không biết thân này vô thường thì ta mất chánh niệm. Nếu ta không biết cái hơi thở đang ra, đang vào là ta mất chánh niệm. Còn nếu lúc nào ta cũng đang biết rằng thân này là vô thường, lúc nào ta cũng đang biết rằng có hơi thở vào, hơi thở ra thì ta đang giữ chánh niệm, tu tập và đó là pháp môn căn bản nhất, là cánh cửa để đi vào thiền định tâm linh.
[1:13:30]Chỉ như vậy thôi, không cần gì nữa. Vậy mà từ từ vọng tưởng nó lắng dần, lắng dần xuống, tâm ta thanh tịnh dần, thanh tịnh dần, lần lần ta nhận ra những điều sâu xa về thân như ngài Xá Lợi Phất đã dạy. Thân này là sự trói buộc bởi vì phải lệ thuộc vào miếng ăn, miếng uống và hơi thở. Ngừng thở chết liền, thiếu uống ba ngày chết liền, thiếu ăn hai tuần chết liền, vân vân là sự ràng buộc. Rồi bao nhiêu thứ phải cung phụng nó: phải quần áo, phải nhà ở, rồi sống trong môi trường phải sạch sẽ, phải có tương quan đối xử với con người, phải sống cho đàng hoàng, phải theo luật pháp quốc gia, theo định chế xã hội, đủ thứ mọi ràng buộc từ nơi cái thân này.
[1:14:10]Nên thân này sự thật là sự ràng buộc. Chỉ có người không tỉnh mới đem thân này ra mà hưởng thụ, vui chơi, chìm vào những trò vui tạm bợ, chìm vào những lạc thú tầm thường. Còn bất cứ ai nghiệm ra được sâu xa trong thiền định những điều này rồi, không còn ai có hứng thú gì với những lạc thú trần gian, chẳng còn ai muốn hưởng thụ tầm phào, mà sự thực lúc nào cũng chỉ muốn an trú trong thiền định bằng cách ngồi kiết già, biết rõ toàn thân, biết thân này vô thường, rồi thấy hơi thở vào, hơi thở ra. Khi tâm thanh tịnh rồi ta mới nhận ra là cái thân thì vô thường, trong cái thân này là cả cái nhu cầu lớn đòi hỏi ta phải cung phụng cho nó.
[1:14:53]Trong cái thân này có những cảm thọ khổ vui mà ta bị nô lệ suốt đời. Ta phải làm mọi cách để đừng cho cái thân này nó khổ, ta phải vất vả làm đủ mọi thứ để cho cái thân này nó vui. Rồi trong cái bộ não của thân này là những ý niệm không có chủ, ý niệm vô chủ. Những vọng tưởng, những ý nghĩ của ta không có chủ, không có chủ nhân mà ta cứ tưởng là ta suy nghĩ. Nói thưa thầy, tôi suy nghĩ thế này; thưa bác, tôi nghĩ thế này, sự thật không có. Cái suy nghĩ ở mức cạn nó vẩn vơ, nó tầm bậy tầm bạ, chẳng cần ta muốn nó cũng khởi lên tầm bậy tầm bạ. Nãy giờ ngồi nó có nghĩ trong đầu không? Đủ thứ chuyện. Nó có chủ không?
[1:15:34]Không có chủ, tự nó nghĩ, nó muốn nghĩ thì nghĩ à, không có chủ. Mà ta thanh tịnh dần, thanh tịnh dần thì giống như là mình chủ động làm chủ, mình muốn nghĩ thì mới nghĩ, không nghĩ thì thôi. Rồi ta tưởng thưa thầy, con làm chủ được ý nghĩ mình, con muốn nghĩ thì nó nghĩ, con không muốn nghĩ thì thôi, tức là người này mức thiền định khá, nhưng sự thật vẫn là vô chủ, vẫn không có bản ngã. Khi mà ta nhập định sâu hơn nữa thì mới thấy cái mà ta tưởng là ta chủ động suy nghĩ cũng chỉ là một bản ngã lừa dối thôi, không có thật. Nên cái ý niệm này không có chủ. Khi hiểu như vậy rồi, cái hiểu cái tâm này là những ý niệm không
[1:16:10]có chủ, cái thân này, những cảm giác này là sự ràng buộc làm ta phải nô lệ, cái thân này là sự trói buộc và vô thường, ta an trú trong đó rồi, cái trí tuệ mình nghiệm sâu và cái sức thiền định mình tăng tiến dần dần, tăng tiến dần dần, và ta thấy được một cái hạnh phúc mà trên thế gian này không bao giờ có được: cái hạnh phúc trong thiền định.
[1:16:33]Khi ngài nói về cái phương pháp quán thân như thế và ngài xin phép Phật, "Xin cho con được nói về cái quán thân này như là một món quà của con dành cho các huynh đệ trên các nẻo đường tu hành giáo hóa." Mà đúng là như vậy, khi mà ta nghiệm được cái quán thân này là ta đã nắm được cái yếu chỉ tu tập thiền định trong Phật pháp. Nên ai hôm nay mà nghe được những điều thầy nói thế này mà về có thể bắt chân ngồi đúng được như vậy là phải hiểu rằng ta được cái duyên phước rất là lớn. Cứ nắm như vậy mà tu là không sợ sai, không sợ sai, và ta đi ta đi theo ta làm đệ tử được ngài Xá Lợi Phất vĩ đại. Cho nên là
[1:17:17]khi mà vị Tỳ kheo kia hối hận xin lỗi thì ngài cũng xin lỗi lại vì đã vô tình mà làm phiền người. Ta thấy cái cái nhận lỗi về mình của ngài, cái hạnh mà nhận lỗi về mình của ngài là tới tột cùng trên thế giới không có người thứ hai làm nổi. Thấy người ta phiền mình cũng tự trách mình, mặc dù mình không hề có lỗi vẫn tự nhận lỗi về mình. Mà cái hạnh tự nhận lỗi về mình là cái hạnh của ngài Xá Lợi Phất, một bậc thánh tột cùng. Nên từ đây về sau, có thể trước đây ta đụng chuyện gì ta cũng đổ lỗi cho người khác, thì hôm nay ta nghe được câu chuyện của ngài, ta kính yêu ngài vô hạn, ta cũng nguyện học theo cái hạnh của ngài
[1:17:58]là bất cứ chuyện gì xảy ra, trước hết ta xin nhận lỗi về mình. Xin nhận lỗi, xin mọi người hãy tha thứ cho tôi vì tôi cũng đã có lỗi. Cho nên vì vậy mà Phật mới ca ngợi ngài bằng bốn câu kệ là ngài như đất, như một trụ đá, như hồ trong và đó chính là hạnh của một bậc thánh siêu phàm bay cao. Cho nên kính yêu ngài vô hạn, ta nguyện với chư Phật rằng là sẽ không bao giờ ta giận ghét ai để phải nói xấu, kết tội ai nặng nề, nhất là không bao giờ nghĩ xấu những bậc đáng kính. Lời nguyện thứ hai là ta nguyện sẽ độ lượng, tha thứ, chịu đựng khi gặp phải nghịch cảnh, sự thù ghét, sự nhục mạ của cuộc đời.
[1:18:47]Vì ta kính yêu ngài, ta sẽ nguyện hai điều này với Phật như vậy. Lời Sāriputta, trời tuôn muôn đóa hoa, đất cây sanh trái ngọt, người thương người thiết tha. Lời Sāriputta, mong người dẫm chân qua, thân này là đất sỏi, thanh thản và hiền hòa. Lời Sāriputta, nhận lấy điều xấu xa để cho đời thơm sạch, mình gió bụi bay xa.
[1:19:18]Con quỳ xuống lạy người, xin được uống từng lời, kính yêu người vô hạn, niềm đau nào sẽ vơi. Con xin theo lời Người, yêu thương hết cuộc đời, để thấy mình là đất, nâng dậy những niềm vui. Xin thế giới loài người, dưới ánh sáng mặt trời, hãy thương nhau đầm ấm, để nước mắt ngừng rơi. Ôi Sariputta, lời Người triệu khúc ca, sáng soi cả thế giới, hạnh phúc nào lan xa.
[1:20:47]Người Sariputta, làm mưa những hoa trời à,
[1:21:15]cho đất xanh màu tươi, thương mến nhau thật rồi.
[1:22:35]Xin thế giới loài người à, trong ánh sáng mặt trời à, lòng thương nhau đầm ấm à, để nước mắt ngừng rơi à.
[1:22:52]Ôi Sariputta, vang lừng trong thế giới à, muôn khúc ca đẹp ngời à, chiếu sáng cho cuộc đời à.
[1:23:38]Người Sariputta, làm mưa những hoa trời à, cho đất xanh màu tươi, thương mến nhau thật rồi.
[1:25:21]Ôi Sariputta, vang lừng trong thế giới à, muôn khúc ca đẹp ngời à,
[1:25:33]chiếu sáng cho cuộc đời à.