[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:22]Thầy với Phật tử ngồi xuống. Chúng ta học bài này với thêm bài nữa thì thôi mình tạm ngưng cái môn Nikaya vì chúng ta không có thì giờ để chúng ta đi sâu. Thì để bài này là bài 19 nè, bài tới nữa là bài 20, chúng ta nghỉ. Thì mình chuyển qua cái môn gọi là Quan Điểm Phật Sự. Vì quý thầy ở trong ban giám hiệu á có nói chuyện với tôi, nói rằng là sau khi mãn cái khóa này thì có một số tăng sinh sẽ tìm cách để học lên cao hơn. Nhưng cũng có một số tăng sinh thì phải trở về trú xứ để làm Phật sự. Cho nên cần có trước những cái quan điểm để làm cho đúng. Cho nên vì vậy tôi chuẩn bị cái môn đó. Còn riêng cái môn mà tôi ấp ủ là cái môn Phương Pháp Diễn Giảng
[1:10]á thì tôi chưa biết là sẽ giảng vào cái lúc nào và ở đâu. Đang nhờ quý thầy tổ chức. Mà giảng xong cái môn đó thì tôi gác kiếm, là rũ áo luôn, về trốn, nghỉ không giảng nữa. Giao cái trách nhiệm lại cho quý thầy. Hôm nay thì chúng ta học một phẩm trong Tương Ưng Bộ Kinh để giới thiệu với quý thầy về cái kinh Tương Ưng Bộ Kinh này. Kỳ tới thì chắc chúng ta sẽ học một bài nào đó trong Tiểu Bộ Kinh. Tương Ưng Bộ Kinh á thì bên A Hàm, Bắc tông thì gọi là Tạp A Hàm. Cái chữ "tạp" nhiều khi gây cho mình cái ý nghĩ là tạp nhạp, không phải. Tạp đây tức là nhiều vấn đề, nhiều chủ đề, nhiều đề tài lẫn lộn với nhau.
[1:58]Nhưng mà dùng cái chữ "tương ưng" bên Nikaya hay hơn. Là tương ưng. Ở đây trong mỗi phẩm, trong từng phẩm lại có nhiều bài kinh ngắn, và mỗi bài kinh ngắn á nó có cái tư tưởng, cái ý nghĩa nó đều liên quan, vây quanh chung một cái phẩm như vậy. Cho nên gọi là tương ưng với nhau đó. Tức là mỗi bài kinh á nó đều ăn khớp, nó đều tương ưng với những cái bài kinh chính trong cái chủ đề, trong một cái phẩm như vậy. Ví dụ như phẩm Hoa này, thôi sao không thấy hoa gì trong đây hết trơn không biết. Không thấy hoa gì trong đây hết trơn. Nhưng đều phẩm Hoa. Nhưng tuy nhiên bài này thì nói về cái tính cách vô thường của năm ấm.
[2:39]Bài này như vậy, nhưng mà nó có nhiều một số ý hay, một số ý nho nhỏ mà hay. Giờ chúng ta nghe cái bài trước: "Ví như, này các Tỳ kheo, một con sông từ núi cao chảy xuống, từ xa chảy đến, dòng nước chảy xiết. Trên hai bờ con sông ấy, nếu có cỏ lau Kasa mọc lên, chúng từ bờ rủ xuống. Nếu có các loài cỏ Kasa mọc lên, chúng từ bờ rủ xuống. Nếu có các loại cỏ Birana mọc lên," ai sửa chữ á, "chúng từ bờ rủ xuống. Nếu các loại cây mọc lên, chúng từ bờ rủ xuống." Cái này là văn hồi xưa. Giờ mình phải viết làm sao? Mình phải sửa lại, cho nên sau này đó quý thầy mà về già lớn tuổi một chút á, cái mình tập hợp lại với nhau mình sửa văn Nikaya lại.
[3:29]Giữ bản gốc này không bỏ, nhưng mà từ bản gốc này sửa thành cái văn mới cho những thế hệ sau này dễ đọc. Mình phải sửa là thí dụ như: "Có con sông chảy xiết, có bắt nguồn từ trên núi cao, dòng nước chảy chảy mạnh." Vậy đó ha. "Hai bên bờ con sông đó có nhiều loại cây, nhiều loại cỏ mọc và mọc rủ xuống theo dòng nước." Chứ còn đây cứ nói như vậy là lối văn xưa, nhiều khi đọc nghe nó ngán. Hình ảnh thì rất là đẹp. Bài kinh đây Phật giảng cái hình ảnh nó đầy cái tính cách nghệ thuật, thi vị, thơ mộng. Phải nói là văn như vậy là hay. Bài kinh mà Phật dùng cái hình ảnh như vậy là đẹp lắm. Mà văn hồi xưa thôi.
[4:09]"Rồi có một người bị dòng nước của con sông ấy cuốn trôi. Nếu người ấy nắm lấy cỏ lau Kasa, cỏ này có thể bị bị bực đứt. Do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Nếu có người nắm cỏ Kasa, cỏ này có thể bị bực đứt và người ấy bị trôi vào cái tai ách khổ nạn." Thì ở đây cái mình dùng một hình ảnh, đây một ví dụ minh họa làm cho chúng ta thấy rõ vấn đề trước khi Phật nói đến cái ý nghĩa chính. "Cũng vậy, này các Tỳ kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh," nhớ cái chữ này: "không thấy rõ", "không thuần thục Pháp các bậc Thánh, không tu tập Pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc chân nhân,"
[5:00]không thấy rõ các bậc chân nhân, để ý, "không thuần thục Pháp các bậc chân nhân, không tu tập Pháp các bậc chân nhân. Quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã là có sắc, hay sắc ở trong ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Khi sắc ấy của người ấy bị bực đứt, do nhân duyên ấy người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn." Rồi với thọ, với tưởng, với hành, với thức cũng giống như vậy. Cho nên mà ngược lại, tức là một người nào mà có thấy rõ các bậc Thánh, thấy rõ các bậc chân nhân, không quán sắc là tự ngã, không quán thọ, tưởng, hành, thức là tự ngã, thì người ấy đạt được sự giác ngộ, không rơi vào tai ách khổ nạn, không còn trở lui trạng thái này nữa.
[5:43]Cái bài kinh ngắn như vậy, ý nghĩa cô đọng như vậy. Ở đây cái ý nghĩa chính của bài này đó là nếu chúng ta chấp vào năm ấm thì chắc chắn năm ấm này không có bền vững vì chúng vốn vô thường, nó mong manh, không có chắc. Thì chúng ta dựa vào một cái không chắc chắn thì điều kết quả không thể tránh khỏi là chúng ta sẽ hụt hẫng, chới với và rơi vào đau khổ. Đó là lý luận, đó là lý luận. Rồi mình học bài kinh này mình hiểu không? Ngang đây hiểu chưa? Hiểu chưa? Thì cũng hiểu rồi, cái đó có gì đâu khó hiểu, phải không? Thì bài kinh với lý luận như vậy, với hình ảnh Phật đưa ra ví dụ như vậy, thì tạm là mình đã hiểu được rồi.
[6:28]Đồng ý không, thầy Trung Hiếu? Đồng ý không? Đồng ý, thấy không? Rồi sau này cái quý thầy lớn lên, cái quý thầy cũng đi giảng lại cho cho đệ tử mình. Giảng như vậy rồi người ta hiểu không? Hiểu không? Thì cũng hiểu thôi, vì mình hiểu mình giảng chắc chắn người ta hiểu rồi. Nhưng mà rồi sao nữa? Rồi đạo Phật cứ tiếp tục đi trên ngôn ngữ như vậy. Tại mình hiểu này không có thấm. Mình nghe giảng như vậy xong mình hiểu như vậy thì nó chưa vô xương vô tủy gì hết á, nó nằm mới ngoài da à. Rồi mình cũng giảng lại cái ngoài da cho người đệ tử sau này, rồi người đệ tử đó cũng truyền đạt cái ngoài da này cho những
[7:06]thế hệ sau đó, thì đạo Phật chỉ đi trên ngôn ngữ ngoài da. Đạo Phật không có sức sống và đạo Phật không phát triển được. Chúng ta để ý. Nên từng lời từng kinh này mình hiểu cho sâu, hiểu mà nó biến thành sự thực hành, sự lay động trong tâm hồn mình mạnh mẽ. Thì sau này khi mình giảng lại nó có cái sự tu tập, nó có cái sức mạnh của nội tâm nó truyền vào người nghe và buộc người ta phải tu, chứ không có dừng lại ở đây. Đây cũng là những yếu chỉ của phương pháp diễn giảng đó. Tuy nhiên mà để tu được á thì cái bước đầu nó có cái chữ thế này là: "thấy rõ các bậc Thánh" hay là "không thấy rõ các bậc Thánh",
[7:45]đó là cái cửa ban đầu để cho chúng ta bước sâu vào sự tu tập. Có thấy rõ các bậc Thánh rồi thì mới là: thuần thục Pháp các bậc Thánh, tu tập Pháp các bậc Thánh. Có thấy rõ, vậy thấy rõ đây nghĩa là cái gì? Ai hiểu? Thấy rõ đây nghĩa là gì? Thấy rõ các bậc Thánh có phải là mình gặp bậc Thánh rồi mình đứng mình dòm lom lom gọi là thấy rõ không? Có không? Phải không? Hả? Không phải. Vậy là cái gì? Vậy là cái gì? Ở đây có cái lạ là khi các nhà ngôn ngữ học đó mà họ nghiên cứu các ngôn ngữ trên thế giới thì họ phát hiện ra một điều là cái tiếng tiếng Anh nè, tiếng Đức, và tiếng Sang-ri, tức là tiếng Ấn Độ á, kể cả Pali nó cũng gần giống vậy.
[8:40]Pali với Sang-ri cũng gần gần chứ không cách nhau lắm. Sang-ri là tiếng Bắc Ấn Độ á. Ba tiếng này nó giống nhau y hệt á trên thế giới á. Vì tôi tôi không biết hết ba tiếng, cho nên tôi không có dẫn chứng nhiều. Mà trong tài liệu họ có ghi cái này. Ví dụ như trong cái tiếng tiếng Anh cái chữ chữ wisdom này nghĩa là gì?
[9:01]Wisdom này là trí tuệ, là sự thông thái. Ừm. Thì cái chữ trí tuệ và sự thông thái trong cái tiếng Ấn Độ là gì? Veda. Chữ V đọc là "quờ", Veda. Veda, wisdom này nó gần gần giống nhau không? Một bên là wisdom, một bên là Veda. Cả hai cùng nghĩa là trí tuệ hết. Nên kinh Vệ-đà đó, kinh Vệ-đà tức là kinh nói về trí tuệ nha. Cái chữ Vệ-đà nó là Veda trong tiếng Ấn Độ, mà nó rất giống cái chữ wisdom, quý thầy đồng ý không? Có cự nự gì không? Không phải không? Rồi cái tiếng anh, em nè, tiếng cha, tiếng mẹ, ba cái ngôn ngữ này giống nhau hết trơn. Nên ngộ như vậy. Thì ở đây trong bài này chúng ta có cái chữ thấy rõ phải không?
[9:50]Thấy tiếng Anh là "see". "See" là thấy, nhưng mà ở trong cái nghĩa này ví dụ như: come to see, ví dụ: "I came to see her last night", thì come to see này nghĩa là gì?
[10:05]đến thăm, đến thăm. Và có nghĩa nữa là gặp, phải không? "I saw her", ví dụ tôi trông thấy cô ta ở Long An last à yesterday, ví dụ vậy, thì tôi gặp cô ta thì chữ "see" đó lại có nghĩa là gặp. Như vậy chữ này có thấy là gặp, là thăm. Thì trong cái bài này vậy, khi mà hòa thượng dịch cái chữ tiếng Pali đó ra thành cái chữ thấy, thì nó cũng có nghĩa là gặp, là thăm. Nên ở đây, cái chữ mà thấy rõ các bậc chân nhân trong này có nghĩa là gì? Đến yết kiến, đến tiếp kiến, đến gặp gỡ, đến thăm hỏi, đến học hỏi. Là với cái thái độ khiêm tốn. Nên ở đây, cái chữ là thấy rõ bậc chân nhân, thấy rõ bậc thánh, nó hàm cái ý là chúng ta đến thăm viếng,
[10:54]học hỏi, gặp gỡ, tiếp kiến, thừa sự, hầu hạ, phụng sự. Nên cái nghĩa nó lớn lắm, có một chữ một thôi. Nên ở đây, làm cái sự nghiệp tu hành của một con người nó bắt đầu bằng câu đó, là thấy rõ bậc thánh. Nghĩa là chúng ta phải có một vị thầy để học. Phải có vị thầy để học. Chứ ban đầu mà đến với đạo chúng ta không có một vị thầy để học thì chúng ta không có cái cửa để đi vào sâu nữa, trừ trường hợp những người siêu xuất họ tự học mà chứng Phật, chứng Bích Chi Phật thì thôi mình không biết. Còn đa phần tất cả chúng ta đều phải có vị thầy để học. Chúng ta phải lựa được vị thầy hoặc nhiều vị thầy để mình phải siêng năng tới lui,
[11:39]thừa sự thăm hỏi, học hỏi, thì đó là cánh cửa đầu tiên. Còn nếu không có cái học ban đầu thì cái sự nghiệp tu hành chúng ta không đi về đâu cả. Do đó Phật đặt cái điều kiện này rất là mạnh, đầu tiên là thấy rõ bậc chân nhân, thấy rõ bậc thánh. Nhưng cái chữ "see" này cái còn có một nghĩa nữa
[12:02]là hiểu, phải không? Giống như vậy, ai nói mình cái gì cái tiếng Anh cái mình nói "I see", tức là tôi hiểu, phải không cô Tâm Huệ? Người Việt kiều không à.
[12:16]Đó, là nói "I see" tức là tôi hiểu được vấn đề. Cho nên ở đây vậy, như vậy khi mà nói thấy rõ bậc thánh, còn có nghĩa là một người đệ tử hiểu rõ được thầy mình. Tức là ở đây muốn nói rằng cái tâm tình, cái mối quan hệ giữa thầy và trò nó như một người tri kỷ nữa. Cái người mà đệ tử khá giỏi là hiểu được những điều thầy mình dạy tới bảy tám phần, giỏi, khá giỏi. Còn cái người đệ tử mà thầy dạy ra bao nhiêu hiểu hết thì đó là hạng đặc biệt rồi. Còn hạng mà thiên tài phi thường là chẳng những hiểu hết ông thầy mình mà tìm ra những cái ông thầy mình chưa biết luôn. Đó là hạng đệ tử phi thường. Trên đời hiếm có, trong lớp này chỉ có được ba
[13:05]bốn người thôi, chứ còn cũng không có nhiều. Có không ta? Ở đây nghĩa là ngoài cái gọi là hiểu được thầy mình, tức là hiểu trên lời dạy đạo lý của thầy mình á, cái người đệ tử giỏi hiểu cả tâm tình của thầy mình nữa. Tức là biết thầy mình muốn gì, cái khuynh hướng, cái sở thích, cái đời sống, những niềm u uẩn, những cái không nói được, hiểu được thầy mình hết luôn. Đó là cái khó. Tại vì ông thầy mình ổng chưa phải Phật, nên chắc chắn ổng cũng có nhược điểm. Nhưng mà một người đệ tử biết mà vẫn thương thầy mình, tại vì sao? Vì những điều đó nhỏ so với những cái vĩ đại khác của thầy mình. Thì như vậy là người đệ tử tốt, vừa học hỏi tận tình hiểu hết,
[13:53]thương yêu thầy mình, gắn bó hiểu thầy mình như một tri kỷ. Nhưng mà ở đây trong cái bài kinh này không phải là ông thầy thường mà là bậc thánh. Tức là đầu tiên mà chúng ta có thể hiểu được đạo á là cái mà chúng ta hiểu được sự vĩ đại, sự cao cả, cái trí tuệ uyên thâm của một vị thánh. Vì nếu mà mình không biết vị đó là thánh thì mình đâu có đến học, mình đâu có tu tôn kính, thì mình không được ích lợi gì hết. Cho nên nếu mình gặp một vị thánh trước mặt mình mà mình chả biết hệt, thấy ông này ổng cũng như mình, ngày cũng ba bữa tắm rửa một lần gì đó, thì trong lòng mình coi thường thì mình không có gì để học hỏi.
[14:33]Mà các vị thánh thì có ông nào mà khoe khoang đâu, ông nào cũng khiêm tốn. Hễ là vị thánh thì ông nào cũng khiêm tốn. Hễ mình hỏi nói không hỏi thì thôi, hoặc là thấy có duyên thì nhắc nhở vài câu nhẹ nhẹ, nhưng mà chỉ khi nào gặp một người mà thấy người đó khiêm tốn, thiết tha, khát khao học hỏi, thì cỡ nào cũng dạy hết không tiếc. Đó là cái tính cách của bậc thánh. Nhưng mà trường hợp mình gặp một vị vị đó là thánh mình không biết, mình gặp ổng cái mình "Này khỏe không?", cặp cổ mày kéo đi vô đây uống nước chơi, thì ổng cũng bình thường thôi, không có chuyện gì xảy ra. Mình không hỏi gì thì cũng không nói.
[15:08]Chỉ khi nào mà mình biết đó là một vị thánh, quỳ xuống cúi đầu đảnh lễ với tâm khiêm hạ và khát khao học hỏi, thì mình sẽ học được nhiều điều. Cho nên cái cánh cửa đầu tiên á để bước vào sự tu học là thấy rõ bậc thánh, tức là gặp gỡ, thăm hỏi, hiểu biết, đồng cảm, tri kỷ.
[15:31]Nếu mình gặp được một bậc thánh như vậy mà mình cũng có cái thái độ như vậy, mình có thái độ chân chính như vậy, thì đây là cánh cửa đầu tiên để chúng ta đi vào nhiều lớp tu tập về sau nữa. Đó đó là bài kinh này nói một câu ngắn, nhưng mà sự thực cả những vấn đề lớn nằm giấu ở phía sau. Và đây là cách mà để chúng ta học Nikaya. Nên quý thầy để ý là chúng ta không có thì giờ để học hết Tạng kinh Nikaya, chúng ta chỉ giới thiệu một số bài với nhau để làm cái nền, để gợi ý cái cách học hỏi, rồi sau này hoặc là quý thầy lên cao hơn rồi có điều kiện quý thầy sẽ được hướng dẫn kỹ hơn nữa nhiều hơn nữa.
[16:13]Ví dụ sau này quý thầy mà lên trên học viện gọi là hồi xưa gọi là cao cấp thì chuyên về Nikaya chuyên sâu á, thì lúc đó quý thầy giỏi lắm. Lúc quý thầy nhìn lại những buổi học chúng ta ở đây đúng là trò cỏ rác trẻ con, phải không thầy à?
[16:31]Thì hoặc là quý thầy sau này không học lên cao nữa, quý thầy về trú xứ của mình tự nghiên cứu, thì ở đây cũng là những cơ sở. Là những điều mà chúng ta nói chuyện với nhau đây cũng là cái gợi ý. Trong Nikaya vậy, cái hiểm hóc của nó là vậy, nhiều khi có một câu ngắn à. Câu ngắn mà mình thấy hiểu hết rồi, à không thấy rõ bậc thánh, thì những chữ đó không có chữ nào khó hết, nhưng không ngờ nó chứa trong đó cả cái ý lớn. Cái vấn đề mà thái độ của người đệ tử đối với thầy, cái vấn đề này chúng ta giảng mấy bài chưa hết. Tại vì nó không phải chỉ là lễ nghĩa lễ độ, ờ cư xử theo luật là trong cái chương mà 24 chương oai
[17:08]nghi là thị giả hầu thầy á, không phải chỉ có mấy dòng như vậy, mà cả cái tâm tình, cả cái nỗi niềm, cả sự đồng cảm, cả cái trí tuệ sâu sắc, cái đó mới là cái tính cách của người đệ tử thờ thầy, học với thầy. Cái vấn đề lớn mà chúng ta không có thì giờ mà cái đoạn kinh này nói có một câu một chút à. Nên vậy là khi mà đọc Nikaya chúng ta để ý mấy câu ngắn ngắn như vậy nhưng mà nó chứa những điều lớn. Và khi đó đụng chuyện, mình có thể đem ra dạy người khác một cách kỹ lưỡng được, ừ. Ở đây là cái bài kinh này á cái phẩm này đó nhấn mạnh ở cái tính cách của năm ấm là hư rỗng. Năm ấm thì chúng ta đã nói với nhau nhiều lần rồi phải không?
[17:53]Sắc thọ tưởng hành thức, nhưng quan trọng nhất là nên ở đây á là chúng ta hiểu rồi, là bám víu vào năm ấm giống như là mình đang trôi trên dòng thác luân hồi cuốn trôi mình, mà mình chụp lấy cái cành lau của sắc ấm thì nó cũng đứt rồi nó trôi nữa. Nghĩa là nếu trong đời sống này mà chúng ta chấp cái thân này thì rõ ràng chúng ta không thoát khỏi đau khổ. Đó là lý luận. Mình nói nãy giờ nghe đã tai chứ chỉ là lý luận, chưa thực hành. Mà chưa thực hành thì mình giảng một bài kinh Phật chưa có cái sức mạnh ở trong. Quý thầy nhớ để ý. Giảng kinh để ý chỗ này. Là tôi nói những này là đang nói là lần lần những
[18:35]kinh nghiệm mà giảng giải đó quý thầy để ý. Nhiều khi mình nói nghe hay lắm mà nãy giờ nói trên ngôn từ không à. Nghe đã tai mà nói trên ngôn ngữ, chưa thực hành. Nên mình phải nói được cái sự thực hành mà chính bản thân mình phải thực hành mới nói được. Ví dụ bây giờ mình muốn nói là đừng chấp vào sắc ấm muốn giảng cái câu đó cho hết cái sức mạnh của nó thì mỗi ngày quý thầy phải ngồi thiền. Bắt chân lên ngồi trong cái yên lặng, biết rõ toàn thân và thấy thân này hư giả, thấy như vậy. Rồi tĩnh hơn nữa trong đời sống hằng ngày, nếu mà có những lúc không phải bận tâm vì Phật sự, vì chuyện chùa, chuyện chúng,
[19:13]vì học hành bình thường ví dụ mình đi kinh hành thong thả dưới tàn cây đi tới đi lui mình cũng tự nhủ: "Thân này là hư giả." Nên nó là cả một cái quá trình lâu dài, tích lũy nó thành cái sức mạnh tâm linh, nó thành cái nội tại, cái sức mạnh nội tại của sự tu tập để chuẩn bị cho sau này mà mình giảng giải, nhớ vậy. Cái sự giảng giải phải bắt nguồn từ cái sự thực hành tu tập lâu ngày dài tháng, chứ không phải là chỉ lặn lội trên ngôn ngữ hiểu được nó, hiểu ờ vậy là hay rồi, được rồi đem đi giảng là sai, không có sức mạnh và đạo Phật chỉ đi trên bề mặt cạn cợt rồi không thành một cái sức sống cho cái cuộc đời này, chúng ta nhớ như vậy.
[19:54]Đây là điều quan trọng. Vì vậy, cái phẩm này ngắn nói rằng bám vào năm ấm là mình trôi vào đau khổ, câu đó ai cũng hiểu hết. Nhưng mà để giảng được điều này, mình phải thực hành năm này qua năm kia. Nghĩa là quý thầy phải ngồi lặng lẽ, bất động kiết già, biết rõ toàn thân, thấy thân mình là giả, thấy cho đến khi nào thân mình không còn nữa, thấy ngồi đó thấy mất thân luôn, rỗng rang mất hết, vọng tưởng lắng xuống hết luôn, rồi từ từ bắt đầu mình thấy tới thọ, thọ ấm nó hiện ra, thấy tới tưởng, thấy tới hành, thấy tới thức là phải có sự thực hành sâu vậy. Sự thực mà tới hành tới thức là mình bay được
[20:30]á, nó cao, lúc đó là trình độ rất là cao. Nhưng mà tuy nhiên ở bước đầu mà cái nền của nó vẫn là thấy sắc ấm trước, sắc ấm tức là cái hình hài này, cái thân xác này, đó là căn bản của sự tu tập. Mà không phải riêng quý thầy đâu, các cư sĩ tại gia cũng vậy. Nếu các cư sĩ tại gia mà muốn tiến bộ trong sự tu tập của Phật đạo thì cũng phải thường tự nhủ, thường tự thấy thân này là giả. Hoặc là quý Phật tử có thì giờ ngồi thiền hoặc không có thì giờ ngồi thiền vẫn phải ráng tự nhắc nhở mình thân này là giả, nó là nền tảng. Một lát nữa từ từ rồi quý thầy, quý Phật tử sẽ thấy Phật ca ngợi cái gọi là quán vô thường nơi năm ấm này.
[21:11]Phật nói là tối thượng trong các pháp tu tập. Dễ sợ như vậy, là cái trí tuệ cao nhất. Mà mình thấy nào giờ mình cứ nghĩ rằng cái pháp này là thấp nhưng lần lần một lát mình sẽ thấy không ngờ không ngờ là nó hiệu quả như vậy. Thấy thấp, căn bản, dễ thực hành nhưng mà hiệu quả rất là lớn. Ở trong đời sống mình từ từ cái nhân cách mình tăng cao lên mình không ngờ được. Ở đây vậy, nói là quán sắc là tự ngã hay tự ngã là sắc, nghĩa là cái người này coi thân mình là quan trọng, là tất cả là vun đắp cho thân này, muốn cho nó ăn thật ngon, muốn cho nó mặc thật đẹp. Nghĩa là nghĩ nó là quý, nghĩa là thấy nó nổi cái mụn là lật đật
[21:53]lo nặn lo đồ, xức nghệ xức đồ đi ngắm nghía tới lui hoài. Cái đó vậy, đó là cái mà vậy. Ở đây có quý thầy nào vậy không? Không? Nhưng mà dưới kia thì chắc nhiều. Nhưng mà khi mình chú trọng cái thân mình quá là mình bị rơi vào coi cái thân này là bản ngã, là ta thực sự. Giống như mình đang nắm cái cọng cỏ lau ở bên bờ sông mà lúc nước sông chảy xiết và mình hiểu là đau khổ đang chờ đợi. Cho nên vì vậy mình hiểu được bài kinh này cũng như hiểu được Phật pháp thì mình bớt xem thân này là quan trọng mà thường thấy thân này là hư giả, mặc sao vừa đủ, đừng có vì nó mà tô điểm quá sức. Tuy nhiên, đừng có bị rơi vào một cực đoan ngược lại là
[22:37]hành hạ cái thân này gọi là khổ hạnh, không cho nó ăn đủ chất, không cho nó ngủ đủ giấc rồi không cho nó tắm. Cái đó mới kẹt nha. Phải cho nó tắm á. Muốn nhịn muốn gì đó đâu không biết, nhưng mà xin tắm. Vì người chung quanh xin vui lòng ngày tắm hai bữa giùm.
[22:58]Đó là một cái cực đoan ngược lại, cũng đều là một cái sai lầm đối với thân. Cho nên, cái người mà đi đúng á tu tập đúng bên ngoài mình nhìn vô mình không biết người ta đang tu, đang quán thân này là giả vì họ sống rất bình thường, lặng lẽ. Không tô điểm cái thân cho đẹp nhưng mà không có làm ra vẻ lập dị, không có mặc quần áo rách rưới bên đây lòi đầu gối, bên kia lòi một cái gì mà nó ngó coi kỳ lắm, phải không? Nghĩa là vẫn phải tươm tất, đàng hoàng. Quý thầy nghe vậy cho nên yên tâm, nếu một ngày đẹp trời nào đó có ai đến cúng cho quý thầy một xấp vải kate silk thì quý thầy cũng cứ đau khổ mà nhận để mà may một cái áo cho đẹp mà mặc, vậy đó, phải không?
[23:38]Rồi ai đưa cho quý thầy một cái bánh ngon thì mình cũng buồn bã mà cầm nhai cho hết thôi chứ vì cái thân này nó cũng phải như vậy. Nay mình học rồi, phải không? Cứ đau khổ mà ăn cho hết cái bánh đó thôi chứ mình cũng không nên chia cho người khác lắm. Vì cái thân này nó cũng cần ăn, cần mặc là vậy, thế. Đó là cái mà nghĩa là từ cái hiểu bài kinh này, thấy thân này là giả, thân này không phải tự ngã đừng có chú ý đừng quan trọng thì bắt đầu áp dụng vào trong lúc ngồi thiền thường nhắc thân này giả, rồi áp dụng vào trong đời sống là sống với một chừng mực đối xử với thân này xem nó như phương tiện để tu tập.
[24:13]Mình giữ cái thân này một cách mình đối xử với nó công bằng vì nó đang là chiếc bè mình dùng nó để mình sống và tu tập. Là không có cung phụng nó cũng như không hành hạ, bỏ bê nó, nhớ là như vậy. Nên nhìn vô mấy người mà tu chân chính mình không biết người ta đang tu, không có vẻ gì kỳ dị, không có cái mặc đồ thất mão, đội đeo nơ mà cũng không có mặc đồ mà rách mà lòi chân, lòi lòi vai, lòi cùi chỏ đồ ra, không có. Họ bình thường lắm. Nhưng mà họ đang tu tập đúng hướng, vậy. Mà từ cái quán thân được rồi á dần dần nó mới tăng lên thấy được thọ, tưởng, hành, thức mà phải từ cái thân trước hết. Thì người mà như vậy gọi là người đi đúng con đường ở bài kinh này.
[25:00]Giờ chúng ta học qua bài thứ hai: bài Bông Hoa. "Này các Tỳ-kheo, Ta không tranh luận đối với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỳ-kheo, người nói pháp không tranh luận với bất cứ một ai ở đời." Khi không đâu Phật nói câu này vậy? Là bởi vì là lúc mà Phật xuất hiện giảng giải đó, Ngài thu hút quần chúng quá mạnh. Lần lượt là những người chưa có tín ngưỡng cũng theo Phật, những người đã có thầy có tổ là có một cái đạo gì của họ cũng từ từ đi theo Phật. Nên lúc đó nó dấy lên một phong trào không thể cưỡng lại được là sự chống đối. Nghĩa là các bậc thầy của các đạo khác chống Phật kịch liệt.
[25:45]Mà cái phương pháp để chống một người đang giáo hóa thì bằng cách nào?
[25:55]Quý thầy nghĩ ra cho biết cách? Hai cách, phải không? Một á là nói xấu về nhân cách, phải không? Nói rằng người đó không có đạo đức, thiếu tư cách, tồi bại gì đó, đó là nói về nhân cách. Cái thứ hai là chống về cái gì? Nói rằng giảng sai, phải không? Cái đạo lý này sao bài này ổng giảng câu này vậy là sai, bài kia ổng giảng sao câu này là sai, đó là công kích về lý luận và nói xấu về tư cách, hai cách mà để chống một người đang hoằng hóa. Thì lúc đó Đức Phật á Ngài vô tư. Ngài chỉ một cách bình thản lại đi truyền một cái chân lý khách quan, một cái sự thật khách quan cho mọi người tu tập thôi.
[26:42]Nhưng mà vì cái sự cuốn hút cái sự thu hút của Ngài đối với các tầng lớp quần chúng quá mạnh nên bị chống đối và bắt đầu người ta bắt bẻ, săm soi, tranh luận hơn thua. Và vì đó mà Phật mới thốt lên câu này: "Là Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta." Nên đó là một cái điều mà chúng ta thấy từ ngàn xưa tới ngàn sau cái chuyện này là chuyện bình thường của con người. Ở đoạn sau này nghe nè: "Này các Tỳ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là không, Ta cũng nói là không. Này các Tỳ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là có, Ta cũng nói là có." Ngang cái bản dịch này Hòa
[27:26]thượng Minh Châu, Hòa thượng mới đánh dấu này. Tức là ý Hòa thượng cũng nói ủa sao Phật nói sao kỳ quá? Mà giờ mình nghe câu đó mình thấy kỳ không? Thấy kỳ không? Thấy cũng kỳ kỳ. Nghe câu này nói sao ủa giống như Phật đâu không có gì hay á. Tức là đâu ai nói gì sẵn rồi cái Phật nghe ừ cái nào được thì nói theo. Chớ Phật không phải là một bậc đạo sư mở một con đường, tuyên thuyết một con đường, khai thị khai sáng mới một con đường mà để cho bao nhiêu người phải được tỉnh ngộ. Cái câu nói này giống như ủa có cái người có trí nào á nói cái gì rồi cái Phật nói theo, phải không? Nên người có trí ở đời chấp nhận là có, Ta cũng nói là có.
[28:06]Người có trí ở đời chấp nhận là không, Ta cũng nói là không. Nói nghe sụi lơ nói sao Phật kỳ quá. Bởi chỗ đó Hòa thượng Minh Châu đánh cái dấu hỏi, nói sao kỳ? Nhưng mà sự thật cái đoạn này là quan trọng vô cùng. Đoạn này rất là quan trọng cho những người mà sau này phải bước ra làm giảng sư đi hoằng hóa.
[28:26]Nếu sau này tôi có giảng về phương pháp diễn giảng, tôi cũng phải nói lại cái ý ngày hôm nay. Chỗ này rất là quan trọng, quý thầy phải chú ý chỗ này. Đây là cái hay của Phật pháp, cái hay của Phật pháp. Nghe câu nói thì kỳ chứ sự thực là độc đáo vô cùng. Cái người có trí đó là ai? Người có trí là ai?
[28:51]Cái người mà để được Phật gọi là có trí á thì người đó cỡ nào?
[28:57]Cũng phải là Phật, phải là Bích Chi Phật, phải là A-la-hán, phải không? Chứ còn người cù bơ cù bất như mình Phật kêu có trí không? Người cù bơ cù bất như mình Phật kêu là cái gì? Này kẻ ngu si kia!
[29:12]Sáng nay cúng giỗ rồi, còn dư đồ ăn đừng xuống bếp mà lục nữa. Phật nói như vậy, chứ còn mình chưa được gọi là người có trí. Còn cái người có trí á thì Phật mới đồng ý với họ. Nên ở đây ý Phật muốn nói điều gì? Cái ý của câu đó Phật nói là gì? Chúng ta nhớ cái này. Là Phật muốn nói rằng cái đạo lý mà Phật dạy á, nó là một chân lý khách quan. Không phải do Phật đặt ra, tưởng tượng, tô điểm rồi bày trò ra đủ thứ màn, không có, mà nó là một chân lý khách quan. Một cái gì, một cái đạo lý, một cái quy luật, cái nguyên lý, chân lý gì của con người, của cuộc đời, của thế giới, của vũ trụ. Nó là một việc cái khách quan mà ai là người có trí tuệ đều tìm thấy giống nhau
[29:59]như vậy, chứ không phải là không phải là một sự tưởng tượng mới của Phật. Chúng ta nhớ như vậy. Đây là yếu chỉ của Phật pháp sự... Sau này quý thầy đi giảng phải nhớ điều này, phải nhớ điều này, phải ghi xương khắc cốt cái yếu chỉ trong việc giảng pháp. Là chúng ta không được bày đặt ra một cái đạo lý gì lạ lùng trong cái trí tưởng tượng của mình, mà phải bắt nguồn từ cuộc đời thực tế, từ con người thực, từ những vấn đề của tâm tình của con người, của xã hội, của nỗi đau của con người, niềm hạnh phúc của con người, sự lầm lỡ của con người, sự sáng suốt của con người, từ đó mà chúng ta tìm thấy sâu hơn
[30:41]nhiều hơn những quy luật, những đạo lý mà chúng ta giảng thành những bài pháp. Thì những bài pháp đó nó thực sự có lợi cho con người và nó sẽ cuốn hút được, thu hút được sự chú ý của mọi người. Còn nếu mà chúng ta nói chuyện trên mây, trên gió thì nó không có lợi. Nghe nhiều khi đã tai nhưng mà từ từ người ta quay lưng hết, vì nó không có lợi cho người nghe. Ví dụ mình vào buổi giảng rồi mình nói là: Cách đây năm hôm, ở trên mây có một cuộc chiến đánh nhau giữa hai ông thần. Là ông thần mặt đen đánh với ông thần mặt trắng, mình kể một câu chuyện nói qua nói lại đã đời một tiếng rưỡi đồng hồ, hết, đi xuống không dính gì với trái đất
[31:22]này hết, thì người nghe họ nghe được không? Ban đầu họ thấy là lạ, họ cũng chú ý coi chuyện ông thần gì đó, giống phim á, nhưng mà nghe lát hết buổi giảng không thấy gì dưới cuộc đời á, lát nữa họ cũng phải tiếp tục xách giỏ ra ngoài chợ đi mua một bó rau muống, mua miếng đậu hũ về chấm nước tương ăn. Không dính gì với chuyện ông thần mặt trắng, mặt đen gì đánh nhau nãy giờ trong buổi giảng hết, rồi từ từ lần thứ hai mà nghe mình giảng nữa họ đi không? Đi không? Bắt đầu nản rồi. Vì những điều mình giảng cái đạo lý nó cao siêu gì không biết á, mà không dính gì với cuộc đời hết. Nên đó là một cái sai mà Đạo Phật không phải làm cái đạo tưởng
[31:58]tượng cho vui, mà Đạo Phật là chân lý để sống, chân lý khách quan, do đó chúng ta chỉ được nói đạo lý mà cái đạo lý đó bắt nguồn từ cuộc sống thực, của thời đại, của con người. Ví dụ như những lời Phật dạy có thể bắt nguồn từ 2.500 năm trước, nhưng mà chúng ta phải đem về đây áp dụng được cho những con người của ngày hôm nay, chứ không được mà nói xa nói xôi, kể chuyện xưa tích cũ, chuyện trên mây, chuyện các tầng trời mà không dính líu gì với con người, nó là một cái sai lầm, một cái thất bại. Thì ở đây nó đã là chân lý khách quan, nó không của riêng ai hết, thì chúng ta xem hai cái quan điểm của việc mà truyền bá giáo pháp.
[32:39]Thường á, cái người giảng á thường thường đứng với tư cách là người người dạy. Và khi mà người dạy thì chờ đợi cái người dưới điều gì? Hử? Chờ đợi cái người nghe điều gì? Hiểu, phải không? Tức là khi mà ở trên gọi là nếu là tôi dạy thì điều tôi mong mỏi là quý thầy, quý Phật tử hiểu, hiểu được cái đạo lý mà tôi dạy, vì đây là thầy và người hiểu là trò. Nhưng mà tuy nhiên, với cái điều mà Phật nói trong bài kinh này, thì ở đây cái tương quan giữa người giảng và người nghe không phải là thầy trò nữa, mà là người này.
[33:20]Người giảng là người trình bày cái đạo lý khách quan, và người nghe là người đồng ý hay gọi là đồng quan điểm. Cái giảng trong Phật pháp là vậy đó. Mặc dù trên lễ nghĩa, chúng ta vẫn xem nhau như là thầy trò, tức là người dạy, người hiểu. Nhưng mà Phật pháp á, yếu chỉ đúng Phật pháp á lại là người giảng là người trình bày đạo lý, cái chân lý khách quan có sẵn, rồi người nghe đồng ý, thấy điều này có lý, đúng. Thì ở đây nó thế này: Tại vì có một lần tôi cũng gặp một vài người, người này cũng ít quan tâm tới Phật pháp á, thì tôi thấy mấy Phật tử đó hay đi dụ người này nghe băng, dụ người kia nghe băng,
[34:06]tôi cũng bắt chước, tôi cũng bắt chước, tôi cũng đưa băng dụ: Nghe đi, băng này cũng hay lắm, không biết ông thầy nào ổng giảng hay lắm. Thầy nào ổng giảng dưới Long An nghe cũng hay lắm, ráng nghe. Thì người ta cũng đem về người ta nghe. Nghe xong người ta gặp người ta nói: À, thấy ông này ổng giảng cũng có lý. Nói cái này là tôi cũng đồng ý như vậy, tôi cũng thấy như vậy, thấy ổng giảng cũng vậy. Không, mà như vậy là đúng, không ngờ như vậy là đúng. Tức là cái người mà trình bày đạo lý á là cái người mà đã bỏ nhiều thời gian nghiên cứu, thực hành, chuẩn bị kỹ. Còn cái người mà nghe đó, họ không có chuẩn bị trước,
[34:43]không có thực hành, họ mắc bận cái việc khác. Ví dụ họ ở một cái ngành nghề khác, họ phải bận cái mưu sinh khác, họ nghiên cứu điều khác, nên họ không có thì giờ. Thì bây giờ họ đến họ ngồi nghe cái người trình bày đạo lý, nhưng mà may là cái đạo lý này là đạo lý khách quan, vì vậy họ vừa nghe tới đâu họ thấy có lý, hợp lý, họ chấp nhận tới đó, gọi là đồng ý hay gọi là đồng quan điểm. Mà ở đây là chính là sự thành công đó. Nên đây sau này khi quý thầy lớn lên quý thầy đi giảng, quý thầy nói được cái đạo lý không phải để người ta đón nhận, không phải để người ta đón nhận. Đừng nghĩ là khi mình giảng là mình đưa một cái kiến thức,
[35:24]một cái trí tuệ, một cái đạo lý gì mới cho người ta rồi người ta đưa hai tay người ta nhận bỏ vào lòng, không có. Mà mình nói lên cái gì nó có sẵn trong cuộc đời này, mình gợi cho người ta thấy như vậy, thấy như vậy, người ta nói: À, đúng, đúng, nói như vậy hợp lý, hợp lý. Người ta đồng quan điểm, người ta đồng ý. Nên ở đây là cái mình đã có chuẩn bị trước, nghiên cứu trước, mình trình bày giúp cho người ta thấy được sự thật có sẵn, và người ta đồng ý, đồng quan điểm. Đó là thành công. Có phải là quý Phật tử, quý thầy mà nghe nghe tôi giảng có cái cảm giác đó đúng không? Có cảm giác như à, đây là đạo lý có sẵn,
[36:01]nếu mình nghĩ tới mình cũng thấy đúng như vậy. Nhưng mà vì mình không chuẩn bị trước nên nghe ông thầy ổng nói trước thôi, nói trước một bước thôi. Có phải không? Đồng ý không? Có cảm giác đó không? Có không? Đó, đó là đúng với Phật pháp. Nên ở đây nó không có tính cách là một người cho và một người nhận, người dạy, người hiểu, mà ở đây tính cách là một người trình bày và người kia đồng ý. Vì sao? Vì nó là chân lý khách quan, nó không có của riêng ai. Không phải nó là chân lý đó nằm ở trong tâm tôi, tôi mới có và mới cho mọi người, không có. Cái chân lý đó nằm ở trong hư không, nó nằm trong cuộc đời của mọi người hết.
[36:39]Và tôi chỉ và mọi người cũng thấy giống như vậy và đồng ý, nên đây Phật pháp là như vậy. Phật pháp, đây là cái yếu chỉ để sau này quý thầy giảng giải đó. Nghĩa là chúng ta không được nói cái điều tô điểm vẽ vời xa rời thực tế, mà những điều chúng ta giảng phải là những cái điều có thật trong cuộc đời, hợp lý, khách quan, mà những người nào có trí, bình tĩnh, không thành kiến đều phải chấp nhận. Chúng ta nói thêm người có trí nữa nha. Còn cái người mà thành kiến, u mê, cố chấp, ngu si, bướng bỉnh thì thôi chịu thua, nói gì nói họ cũng không thấy được, họ không thể thấy được cái sự thật khách quan đó.
[37:17]Mà ví dụ bây giờ thế này: Khi mình nói cái đạo lý rằng là trong cuộc sống này đau khổ đầy rẫy, và trong cái đau khổ đầy rẫy đó à chúng ta có cái điều gì đó để chúng ta có thể san sẻ, giúp đỡ người khác, cho người khác một chút tình thương yêu, cho người khác một chút đôi tay dâng tặng, thì cuộc đời này nó bớt đen tối đi, bớt lạnh lẽo, bớt đau khổ đi, mà người ta sẽ vui hơn. Cái người được giúp đỡ, họ có một chút ấm lòng, chút hạnh phúc, mà cái người giúp đỡ cũng cảm thấy có cái niềm vui cao thượng nó xuất hiện trong tâm mình. Quý thầy, quý Phật tử đồng ý điều tôi vừa nói không? Đồng ý không? Quý thầy không đồng ý hả? Sao tôi cô đơn vậy nè?
[38:08]Chẳng lẽ đạo lý tôi nói không khách quan? Đồng ý không? Nói cho mạnh chút coi. Nhưng mà có người không đồng ý. Có người nghe nói: Cho mất buồn thấy mồ ở đó vui, nói kỳ khôi. Thế thì cái người mà nào giờ chưa bao giờ thương yêu ai, chưa bao giờ giúp đỡ ai, nghe tôi nói chống liền. Thì như vậy cái điều mà tôi nói á thì cái người có trí đồng ý, tức là cái người tốt đồng ý, cái người nào đã từng giúp đỡ, bố thí, thương yêu người khác đồng ý tôi nói liền. Phải không? Ở đây ai đồng ý giơ tay lên. Nghe nói lật đật giơ tay lên vì sợ mắng là không có trí hay sao? Nhưng mà còn cái người mà không có trí á nghĩa là
[38:50]thành kiến, u mê, ích kỷ thì phản đối liền. Nói đem cho làm sao mà sướng được? Cho nó mừng mình buồn thấy mồ, cho cái gì. Tức là họ phản đối liền, và như vậy khi một cái đạo lý nói ra, tự nhiên có người chấp nhận và người không chấp nhận. Thì ở đây Phật mới gài một chữ, người có trí sẽ chấp nhận, còn người không có trí không chấp nhận thì thôi chịu thua. Cái người đó mình có nói gì nói, họ vẫn không thể nào thấy được đạo lý, cho nên đừng vì ý kiến của những người đó mà mình bị lung lay, mình phải thay đổi cái quan điểm của mình. Đó là cái Phật dạy như vậy, chúng ta nhớ. Thì cái bài này nói một câu một chút vậy chứ mà hay.
[39:30]Vậy cái gì của người có trí ở đời nói là có, đó là nói là không, thì đó là sắc,
[39:40]Người có trí ở đời không chấp nhận sắc là thường còn, tồn tại mãi, thời ta cũng nói như vậy, ta cũng nói là không, không trường tồn, không có vĩnh viễn. Đó. Những điều gì người có trí không chấp nhận, đó là không chấp nhận sắc, thọ, tưởng, hành, thức là tồn tại vĩnh viễn, thì ta cũng như vậy. Đó. Phật nói như vậy có nghĩa là một sự khách quan thôi, ừm. Đoạn sau Phật mới nói mạnh: "Nhưng một khi mà Như Lai đã chứng ngộ từ cái pháp đó, đã tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ mà người nghe mà vẫn không biết không thấy, thì đối với người ấy ta xem là kẻ vô tích sự, không có trí,
[40:23]phàm phu mù lòa, như không có mắt, như không có thấy, như không có biết." Chỗ này Phật quở rất là mạnh. Nghĩa là khi mà Phật đã xác quyết đó là chân lý rồi mà mình vẫn quay lưng thì Phật quở trách rất nặng nề, thật là một người ngu si, mù lòa không chịu thấy, không chịu biết. Đoạn trên thì Phật nói những điều Phật nói là chân lý khách quan. Nhưng mà xuống dưới á, Phật nói từ cái trí tuệ chứng ngộ của Phật mà Phật đã khẳng định như vậy, nhiều người cùng thấy như vậy, vậy mà mình không chịu thấy, không chịu biết, vẫn quay lưng thì là một sự dại khờ, sự tăm tối si mê không thể tưởng tượng được. Phật trách rất là nặng. Và Phật nói những người đó giống như cái bông sen vươn lên
[41:06]từ nước vươn lên mà vươn lên không khỏi mặt nước, thế là nằm chìm trong nước, trong cái ô nhiễm và ướt át đó mãi. Còn cái người nào mà một khi Như Lai đã tuyên bố, đã xác chứng, trình bày, khai thị, phân tích, hiển lộ và người đó hiểu, nắm được, thấy được thì người đó là người có trí tuệ, người đó đi đến giải thoát, người đó giống như hoa sen từ dưới nước mọc lên khỏi mặt nước và không còn bị nhiễm, bị ướt bởi cái nước đó nữa. Chỗ này Phật ca ngợi như vậy. Đó là một cái bài, bài bông hoa. Rồi tới cái bài kế tiếp là bài Bọt nước. Bài này cực kỳ quan trọng. "Này các Tỳ kheo," lúc đó Phật đang giảng trên bờ sông Hằng,
[41:47]"dưới sông Hằng này chảy mang theo một đống bọt nước lớn, có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú quan sát và thấy bọt nước ấy là trống rỗng, không có lõi cứng." Nhớ.
[42:01]"Trong mùa thu, khi trời mưa những giọt mưa lớn trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến, người có mắt nhìn chuyên chú quan sát thấy bong bóng nước này là trống rỗng, không có lõi cứng." Nhớ. "Này các Tỳ kheo, vào cuối tháng mùa hạ, đúng giữa trưa đứng bóng, một cái ráng mặt trời rung động hiện lên." Ráng mặt trời là gì? Có thể là cầu vồng không ta? Có thể Phật muốn nói tới cầu vồng không? Cũng có thể ha, có thể như vậy. Thì văn xưa giờ mình dịch lại mình cũng không biết chắc lắm. Hay là cái quầng ánh sáng gì ta? Quầng cái bóng gì? Ở đây không phải nói mặt trời mà cái ánh sáng mặt trời nó hiện ra trong mây á.
[42:46]"Thì người có mắt nhìn vào cái ráng mặt trời đó thấy nó trống không, không có lõi cứng." Nhớ cái chữ không lõi cứng. "Này các Tỳ kheo, một người đi tìm cái lõi cây, cầm cái búa sắc bén đi vào khu rừng, người đó thấy cụm cây chuối lớn mọc thẳng lớn, người ấy chặt rễ, chặt ngọn và chặt tìm hết cái vỏ ngoài vỏ trong đi tìm cái giác thì mãi không thấy giác cây, không thấy lõi cây. Thì người có trí nhìn vào đó và thấy rõ rằng cái cây chuối này là trống rỗng, không có lõi cứng." Nghĩa là Phật ví dụ cho từng cái sắc, cái thọ, cái tưởng, hành, thức đều cũng như vậy đó, là đều trống rỗng không có cái lõi cứng, nên gọi là không.
[43:28]Chút nữa chúng ta phân tích. "Ví như một, này Tỳ kheo, một nhà ảo thuật sư đứng tại ngã tư đường bày trò ảo thuật, người có mắt nhìn rõ thì thấy những trò đó là trống không, không có lõi cứng." Ảo thuật là gì?
[43:45]Ảo thuật ngày xưa với bây giờ khác nhau, hai ý nghĩa khác nhau á. Ảo thuật bây giờ có cái nghĩa là mạt mắt, tức là khéo tay, nhanh tay nhanh chân á, làm mà người ta không thấy, chứ nó đều có, có thể giải thích được hết. Ví dụ như một anh chàng làm nghề ảo thuật đến gặp cô gái thì khen cô gái: "Hôm nay cô thật là đẹp đẽ. Khen đã rồi xin tặng cô cái bông hoa." Đưa tay ra không có bông hoa. Cái cô gái đang ngượng ngùng cái ảnh đưa đưa tay lấy trên trời lấy xuống cái hiện ra bó hoa tặng cô liền. Mình thấy mình hết hồn luôn, hết hồn. Nghĩa là từ tay không có mà chụp lên trời lấy xuống cái thấy ra một
[44:21]cái cánh hoa tặng cô, cô kia là phục lăn, cảm động phục lăn. Nói mấy thầy đừng đi học cái đó nha.
[44:32]Nói nghe người ta phục lăn cái mai mốt đi học những cái đó không à. Thì cái đó nó là mạt mắt, nó có cái kỹ thuật gì đó mà làm nhanh tay mình không thấy, chứ không phải là không giải thích được. Nhưng mà có cái ông David Copperfield bên Mỹ ổng làm thì thôi hết giải thích luôn. Ổng làm ổng đi xuyên qua Vạn Lý Trường Thành, ổng bay, ổng cho cái máy cưa cưa đứt con người ổng giang ra làm hai rồi nối ráp lại, không hiểu ổng làm cái gì luôn, ghê quá. Không giải thích nổi. Có nhiều cái ảo thuật mình giải thích được, có nhiều cái không giải thích được. Như ông Houdini, ông Houdini này là thần tượng của David Copperfield.
[45:08]Ông này ổng làm cái màn ảo thuật này mà tới bây giờ thế giới vẫn không giải thích được. Nghĩa là ổng dựng cái thang, ổng dựng cái thang đứng giữa trời nè không có điểm tựa nha, cái thang đứng, đứng yên á, ổng từ từ ổng leo lên, ổng leo lên leo lên tới ngọn thang cái ổng biến mất luôn. Rồi tới giờ người ta cũng không biết cái màn đó là cái gì nữa. Ừm, Houdini. Có nghĩa là những trò giải thích được, mà nó là hư ảo đó, nghĩa là mấy ổng có thể bùa làm bùa làm phép, làm người ta đứng người ta coi người ta thấy hiện ra những cái cô gái đứng nhảy múa rồi một lát ổng thu phép lại biến mất hết. Hồi xưa dễ sợ vậy. Cái ảo thuật mà đem đi biểu diễn là như vậy á.
[45:45]Rồi như là quý thầy có nghe mà cái người Ấn Độ mà người ta thổi sáo rồi điều khiển con rắn nó múa không? Có thấy có nghe chưa? Thấy ở đâu vậy? Trong phim phải không? Đó, mấy thầy giỏi. Người ta phải nghiên cứu như vậy đó chứ, là tu là người ta phải nghiên cứu như vậy đó chứ, hề hề. Thì có một cái nhà ảo thuật ổng làm cái này mới khủng khiếp nè: ổng quấn một đống dây thừng để ở chợ chợ rồi bắt đầu ổng ngồi ổng thổi sáo, cái dây thừng bắt đầu từ từ nó bò lên như con rắn vậy á, nó nhúc nhích vậy á. Nhúc nhích rồi nó leo từ từ tự nó đi lên. Nó lên tuốt trên trời cao luôn. Mà ổng cứ ngồi đằng sau ổng thổi sáo mà tự sợi dây thừng nó
[46:20]bắt đầu nó nhúc nhích như con rắn, nó lên lên lên lên tuốt trên trời đứng đứng đứng thẳng băng hết sợi dây luôn. Từ từ ổng thổi sáo nó từ từ nó cuộn cuộn đi xuống lại. Mấy cái màn ấy bùa phép gì mình không hiểu nổi nữa, thật là bí hiểm của người Ấn Độ ngày xưa. Ấn Độ xưa họ làm những màn đó. Thì ở đây Phật cũng nói nó là rỗng không có lõi cứng, không có thiệt, đó là cái mạt mắt. Thì đó, Phật nói là sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là rỗng không có lõi cứng giống như vậy. Ở đây chúng ta xem, và chúng ta thấy cái đạo lý lớn của Phật giáo Đại thừa là chữ Không á, không ngờ là nó nằm trong kinh của Nikaya, nằm trong Nguyên thủy.
[47:01]Ngày hôm nay chúng ta học chúng ta mới thấy được là cái nghĩa không của Đại thừa nó nằm ở đây mà Phật định nghĩa chính xác luôn, chứ nào giờ chúng ta mơ hồ lắm. Nhiều người học Đại thừa chứ thật ra mơ hồ, không hiểu chữ Không này. Trong chữ Nho nó có hai cái chữ: chữ Không và chữ Vô. Hai cái nghĩa khác nhau và hai cách viết khác nhau hẳn. Cái chữ Không này nghĩa là gì?
[47:26]Trống rỗng.
[47:29]Chữ Vô này nghĩa là không có. Nhưng mà khổ cái chữ này chữ này nó đồng âm với nhau. Nên khi mình nói: "Không, các pháp là không", mình không biết chữ Không này hay chữ Không này. Nếu mà nói là: "Các pháp là không" theo kiểu chữ Nho đó thì phải hiểu là các pháp trên đời này là trống rỗng, phải không? Nhưng mà nếu nói: "Các pháp là không" theo tiếng Việt Nam á, tức là các pháp trên đời này là không có. Và người ta bị lầm mãi về hai chữ này. Mà trong Đại thừa cái tư tưởng Không, cái tánh Không này là được nói xuyên suốt trong bao nhiêu bộ kinh Đại thừa lớn, đều nói về các pháp là cái Không. Trong bài kinh Bát Nhã chúng ta tụng hằng đêm á nhớ không?
[48:08]"Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm", nhớ không? Thì chữ Không này nè, chứ không phải là chữ không tướng này. Nhưng vậy chữ Không, cái rỗng này nghĩa là gì? Cái không có mình dễ hiểu rồi, là không có gì hết gọi là không có, là vô. Mà rỗng nghĩa là gì? Ở đây á nhiều người đã hiểu lầm cái chữ Không của chữ Nho thành chữ Không của Việt Nam. Nên khi mình gặp những người trí thức họ có học, họ có học thức đàng hoàng, mình nói theo đạo Phật: "Nói trên đời cái gì cũng không có hết", cái họ nói: "Đạo Phật vậy là hư vô chủ nghĩa, không thực tế, chối bỏ sự thật." Ví dụ trước
[48:51]mắt chúng ta nhìn thấy con người thấy vạn hữu, rồi đạo Phật tự nhiên phủ nhận coi như không có, coi như không có mặc dù nó có rất rõ. Thì chữ không có này là vô, và như vậy họ chê đạo Phật là hư vô chủ nghĩa, yếm thế, tiêu cực, bi quan, không nhìn đúng sự thật. Đó là vì chúng ta đã hiểu sai chữ Không và chúng ta nói chuyện với họ sai. Nhưng mà nếu chúng ta nói: "Các pháp trên đời này là rỗng", thì họ chưa dám phủ nhận mình, có thể cãi nhưng mình có cách để mình lý luận vì nó là sự thật, nó là chân lý. Nên ở đây cái chữ trống rỗng, như vậy chữ trống rỗng là gì? Nó không phải không có đâu, nó có đó, nhưng mà nó trống rỗng.
[49:33]Vậy trống rỗng nghĩa là gì? Quý thầy hãy nhớ lại chuyện ngày xưa, hồi quý thầy chưa đi tu. Ví dụ có hai người bạn trai nói chuyện với nhau, nói: "Bạn thấy cô đó làm sao?" - "Hơ, cô đó đẹp chứ mà rỗng."
[49:51]Rỗng nghĩa là làm sao? Rỗng là không có gì. Nói nghe mích lòng. Sao mà không có gì? Không có gì là thành chữ Vô rồi. Ví dụ nói cô đó rỗng: "Coi mặt mày bảnh bao đẹp đẽ vậy chứ rỗng." Nghĩa là gì? Hử, nghĩa là gì? Ai trả lời được? Ai hồi xưa có nói câu đó giờ đứng lên trả lời giùm coi. Hử? Đứng lên coi em. Bạch thầy, có ý nghĩa là nói rằng cô đó về nhân cách không có, tư cách đạo đức không có. Cái bản chất hả? Rồi có ai có bổ sung gì thêm không? Ai đẹp trai nè mới mới bị mấy vụ đó. Bạch thầy, con hồi xưa không có nói. Thôi ngồi.
[50:44]Ai nói giơ tay lên coi.
[50:48]Có mình An Ngôn có nói à, chết rồi. Thầy Đức Quang à, đẹp trai kìa có nói không? Có nói không?
[50:59]Đó có nghĩa là thế này, nghĩa là khi một cái người thanh niên gặp một người thiếu nữ nói chuyện với nhau, nghĩa là "Tình trong như đã, mặt ngoài còn e", Nguyễn Du đã nói như vậy. "Tình trong như đã, mặt ngoài còn e", thì khi nói chuyện một lát á, thì không ngờ cái người thanh niên này là cái người có đạo tâm. Cho nên sau đó đã vào chùa Thiên Khánh tu. Nên người này có triết lý, hiểu đạo, biết nhân quả, biết tội phước, là biết thiền định, biết lạy Phật, biết nhân quả, biết từ bi, nên người này một bụng triết gia ở trỏng á. Nhưng mà có nói chuyện cô gái này, cô gái này nói: "Bún riêu bên kia ăn dở, bún bò bên đây ăn ngon hơn.
[51:40]Rồi cái đồ modern, cái hàng này, cái năm nay nó hết thời vì mình phải mua cái đồ khác." Cái là cái người thanh niên, sao nói chuyện gì đâu tào lao ăn mặc không, thế là nó rỗng đi, không có cái đạo lý gì để sống hết á. Không có cái đạo lý, không có trí tuệ, không có cái sâu sắc, chỉ sống hời hợt, cạn cợt theo cái mà cái thường tình, nên gọi là rỗng, không có trí tuệ. Quý thầy đồng ý không? Đồng ý, khi mình chê một ai rỗng là nó hàm cái ý đó, đúng không? Đúng không? Không dám gật đầu vì sợ bị sợ bị bị gài bẫy, không có đâu, tôi thành thật lắm, tôi hỏi quý thầy bằng cái khách quan, chân lý khách quan á, có đồng ý như vậy không?
[52:20]Phải không? Nó không phải là quý thầy có nói mà chỉ cần mình nghe mình có thể hiểu được. Chứ đâu phải mọi điều tôi giảng là tôi đã trải qua hết, phải không? Nghe tôi nói vanh vách chứ nhiều cái học lỏm người ta không à, nhưng mình cảm nhận được điều đó như vậy. Phải không? Như có một lần vì ở ngoài Xuân Lộc, tôi giảng cái bài đề tài "Hôn nhân". Lúc mà mời tôi đến giảng đề tài đó cái mấy anh Phật tử lớn nói: "Chết rồi, hết chuyện mời thầy, mời thầy giảng đề tài hôn nhân, thầy biết gì mà giảng?" Tôi giảng một tiếng rưỡi hấp dẫn vô cùng.
[52:51]Nó vậy á, nên có những điều, có những sự thật không cần phải mình kinh nghiệm nhưng mình bình tĩnh mình quan sát, mình cũng thấy được. Cho nên khi mình chê ai rỗng, cái điều mà cái người thanh niên đó không đồng cảm với cô đó, nói cô đó rỗng, quý thầy đồng ý không? Tức là nó không có cái chất thật bên trong, mà Phật nói vậy, các pháp trên đời nó rỗng. Ở đây cái chỗ định nghĩa của Phật: không có lõi cứng. Không có lõi cứng, nãy giờ nói tới lui là không có lõi cứng. Chúng ta để ý cái định nghĩa nè. Vô thường nghĩa là gì? Vô thường là luôn luôn biến đổi phải không? Thường này là mãi mãi giống như vậy, vô thường là không được mãi mãi như vậy,
[53:33]không có tồn tại trong nguyên trạng như thế mãi, mà sẽ bị biến dịch, thay đổi. Thay đổi bên trong, thay đổi bản chất, thay đổi hiện tượng và tan hoại, gọi là vô thường. Và cái không, cái không tức là cái rỗng á, thì nó có nghĩa là không có lõi cứng, không có một cái lõi. Cứng này có nghĩa là tồn tại mãi. Cho nên cái ý mà không á, rốt cuộc cũng là cái ý vô thường này. Chúng ta nhớ như vậy. Ví dụ cái ý nghĩa không ở trong cái giáo lý Đại Thừa coi vậy chứ rốt cuộc cái nghĩa nó cũng là cái ý nghĩa vô thường. Nhưng mà cái vô thường này đó, mình không có lấy nguyên cả một sự vật khối nó là vô thường, mà đi tìm cái bản chất sâu thẳm của sự vật, sự việc đó.
[54:24]Coi có trong đó nó có một cái cốt lõi, một cái bản chất sâu thẳm nhất để có thể tồn tại mãi hay không, có giá trị mãi hay không. Nhưng mà nếu chúng ta tìm sâu thẳm trong sự việc, trong con người, trong sự vật, trong cuộc đời, trong thế giới, trong vũ trụ mà chúng ta không tìm thấy được nơi cái sự vật nào hết có một cái bản chất sâu thẳm tồn tại mãi thì chúng ta nói sự vật đó rỗng. Thì cái rỗng của cái lõi cứng đó cũng là cái lõi đó vô thường. Ví dụ bây giờ, chúng ta nói với nhau là ông thầy đó ổng giỏi, tức là ông thầy đó có thể bên ngoài ổng cái thân xác của ổng, như thầy Trung Hiếu đi, cái cái thân xác có thể là mong manh, tạm bợ, vô thường, thì cái đó mình dễ thấy.
[55:10]Nhưng bên trong cái thân xác đó chứa đựng trí tuệ uyên bác, một cái đạo đức vững chắc, thì đó gọi là cái chất bên trong, nó không phải rỗng. Không phải rỗng, nó có giá trị cho cái con người đó. Nhưng tuy nhiên, Phật cũng nói rỗng luôn, là đi vào trong cái sâu thẳm những cái bản chất mà mình có được, cái trí tuệ mình học hỏi được, cái nhân cách mà mình gầy dựng lượm được coi vậy chứ nó không phải là cái bền vững, chắc chắn, nó cũng không phải là lõi cứng để tồn tại mãi, nó vẫn là nhân duyên, có thể bị thay đổi. Thay đổi sao? Thay đổi là nếu một giây phút nào đó mà chúng ta sẩy miệng, chúng ta chê nhằm một bậc Thánh thì cái đạo đức,
[55:52]cái trí tuệ của mình từ từ đổ vỡ liền, nên nó không phải là cái lõi cứng tồn tại mãi. Nên cái bản chất sâu thẳm, cái mà mình thấy rất có giá trị vẫn không phải là cái lõi cứng tồn tại mãi, đó là cái đáng sợ. Đó là cái bản chất tâm hồn con người, cái mà chúng ta đi tìm đó vẫn không phải là lõi cứng tồn tại mãi, còn mọi sự vật, sự việc trên đời này đều như vậy. Ví dụ như căn nhà này có rỗng không? Cái rỗng chúng ta không nói cái khoảng không gian này, không gian vật lý này, mà đi tìm cái bản chất, cái lõi cứng nhất của cái nhà này có tồn tại mãi không? Thì chúng ta thấy cái lõi cứng nhất của cái nhà này là gì?
[56:33]Những cái khối bê tông, mà trong bê tông đó có những cọng cọng thép ở trong. Thép gọi là lõi cứng á. Nhưng mà rồi cái cọng thép đó tồn tại mãi không? Cũng không tồn tại mãi, vì theo quy định của kiến trúc thì những căn nhà bê tông này tuổi thọ cho phép là 50 năm, phải đập xây lại, ở lâu sập nguy hiểm. Nhưng trong thực tế, có những căn nhà bê tông người ta ở tới khoảng 7-8 chục năm, người ta ở tới 7-8 chục năm, nhưng rồi sau đó vẫn phải đập xây lại. Vì cái tiêu chuẩn của bê tông là không tồn tại lâu, dù cái lõi của nó ở trong là thép á, cốt ở trong là thép, nhưng không phải là tồn tại vĩnh viễn.
[57:13]Và nhiều thứ khác nữa, nhiều thứ khác nữa trong cuộc đời đều giống như vậy, không có cái lõi cứng bền vững. Nếu chúng ta cứ chịu khó đi tìm như vậy rồi sẽ thấy. Nên hôm nay, từ đây về sau á là chúng ta nghe nói cái tánh Không, chúng ta phải nhớ tới là cái bản chất sâu thẳm có thể tồn tại mãi nhưng không có cái bản chất đó, gọi là rỗng. Từ đây mà chúng ta học qua các kinh Đại Thừa mà chúng ta bắt gặp cái chữ Không này, chúng ta nhớ lại ngày hôm nay. Không ngờ rằng cái tư tưởng Không của Đại Thừa nói không biết bao nhiêu tạng kinh lớn đầy chất hết cả tạng kinh như vậy là lại xuất hiện trong bài kinh rất nhỏ bé của Tương Ưng Bộ Kinh.
[57:52]Phật định nghĩa về chữ Không nghĩa là gì. Hay như vậy. Hôm nay chúng ta may mắn học được cái bài này, chúng ta thấy cái nối nhau giữa Nguyên Thủy và Đại Thừa. Cái chữ Không vậy, cái chữ Không mà các nhà Đại Thừa giải thích nhiều khi còn bị lộn, bị sai, mà chữ Không mà do chính trong Nguyên Thủy Phật giải thích thì hoàn toàn chính xác, rất hay, rất thâm thúy, rất chắc chắn.
[58:16]Chúng ta qua cái bài "Phân Bò". Có một lần có cái vị đó hỏi Đức Phật là có sắc có thọ tưởng nào mà bền vững, thường hằng hay không? Thì Đức Phật mới trả lời là không có, lúc đó Đức Phật mới thò tay cầm lên một miếng phân bò và nói với vị Tỳ Kheo ấy. Thì lúc đó đọc chỗ này tôi cũng không hiểu lúc đó ai cho Phật ngồi chỗ có miếng phân bò kế bên cạnh không hiểu. Không biết chơi kỳ quá, hay mời Phật giảng pháp mà để toạ ngồi xong để đống phân bò kế bên vậy. Mà không biết phân bò khô, phân bò ướt nữa, mới khổ chứ. Nên thôi mình hy vọng đây là miếng phân bò khô rồi, phải không? Nên Phật thò tay xuống nắm đưa lên để ví dụ,
[58:54]giảng giải nó không có chuyện gì xảy ra.
[58:59]Quý thầy đừng có bắt chước nha, bữa nào tôi lên đây ngồi giảng, bên cạnh có đống phân không phải bò nữa là mệt nữa đó. "Đến cho một ngã thể nhỏ như thế này", chữ ngã thể này mình phải hiểu là một cái vật thể nhỏ, cũng không tồn tại lâu. Cái phân bò ở bên Ấn Độ ngày xưa chớ nó quan trọng lắm, dùng để đun, giống như bên Tây Tạng vậy. Bởi vì núi tuyết nhiều nên không có rừng cây nhiều, thường có những đồng cỏ, họ nuôi những con bò yak, những con bò đó nuôi để lấy thịt nè, nuôi để làm sức kéo, nuôi để lấy phân, phân đó phơi khô để làm đun, đun nấu. Thì phân bò Ấn Độ thì chắc nó cũng khô như vậy và xem cái văn hoá nó bình thường.
[59:43]Vì có khi là người ta làm nhà bằng vách đất á, người ta trộn người ta làm những cái mầm trĩ, đan những mầm trĩ xong người ta mới trộn đất sét với rơm và với phân bò, phân bò tươi, rồi giẫm trộn lại rồi người ta trét lên cái vách đất. Vách đất mà được trét như vậy á thì nghe nói rằng nó bền vững hơn, ít bị mối ăn hơn. Nhưng mà khi mình làm, mình xử lý nó, mình chế biến nó thì nó hơi hôi. Quý thầy có biết chuyện đó, ở dưới đây không biết Long An có không ta? Có hả? Trộn vách đất với phân bò hả? Nhưng mà tuy nhiên làm cái nhà đó cũng phải để cả bảy ngày, một tuần nó khô hết rồi mới ở được chứ không vô nó bị cái mùi hôi.
[1:00:21]Ở đây Đức Phật có kể cái này: "Thuở xưa, này các Tỳ Kheo, ta là vua Sát Đế Lợi đã làm lễ quán đảnh. Ta có 84.000 đô thị, ta có 84.000 sàng toạ làm bằng ngà, bằng vàng, ta có 84.000 con voi, ta có 84.000 con ngựa, ta có 84.000 cỗ xe, ta có 84.000 châu báu, ta có 84.000 phụ nữ." Nghe đây rụng rời ha. "Ta có 84.000 chư hầu, 84.000 con bò cái, 84.000 áo quần, 84.000 dĩa bàn."
[1:01:02]Tức là Đức Phật nói thế này, từ trong những cái kiếp xa xưa, Đức Phật đã là Chuyển Luân Thánh Vương với tột đỉnh của sự vinh quang mà đến ngày nay tất cả không còn gì hết, biến mất vì vô thường. Nghĩa là cái phước mà chúng ta tạo được đó rồi cũng vô thường, cũng tan biến. Ngày hôm nay, Ngài chỉ sinh ra trong một tiểu quốc nhỏ, trong cái hoàng cung, được vua cha thương yêu rất mực nhưng nó không phải là một cái vương quốc lớn, một đế quốc lớn, chỉ là một tiểu quốc nhỏ. Tuy Ngài sống sung sướng thiệt, nhưng mà những cái phước vinh quang tột đỉnh ngày xưa đã biến mất hết rồi. Đó là Phật nói cái tính cách vô thường của cái phước hữu lậu.
[1:01:46]Nghe cái đoạn kinh này sẽ có nhiều người hiểu lầm, con người ta hay thích hiểu lầm lắm. Năm nay tôi sống tới bốn mươi mấy tuổi rồi, già, và một điều mà tôi buồn nhất là con người ta dễ hiểu bậy, dễ hiểu lầm.
[1:02:02]Hồi còn trẻ còn nhỏ, thì nhiều khi mình còn có cái nhiệt tình để mình giải thích đính chính, tới chừng giờ già rồi hết muốn nói gì hết, hết muốn nói gì với ai. Trước cái tâm tình con người vậy, con người ta dễ hiểu lầm. Tôi nói có một lần tôi tâm sự với người Phật tử, nói ví dụ như bây giờ mình nghe một câu chuyện nhỏ, ngắn, rồi cái người mà nghe câu chuyện đó xong đi thuật lại cho chính xác mà cho đúng hoàn toàn không có, không có. Chỉ được bảy tám phần. Còn người nào mà nghe xong mà thuật lại chính xác hoàn toàn á thì người đó thuộc loại người thông minh, trí tuệ, giỏi trên đời này, không có đâu.
[1:02:39]Còn mình nghe một cái câu chuyện dài một chút mình kể lại thì bảo đảm còn bốn năm phần, trật hết những phần còn lại. Trí con người ta vậy đó. Rồi còn mình chứng kiến một sự kiện, ví dụ trong chùa xảy ra chuyện này xảy ra chuyện kia, có chuyện xô xát, có chuyện này xảy ra đủ thứ, rồi mình đem mình kể qua hàng xóm bảo đảm trật gần hết luôn, không đúng nhiều. Cuộc đời là vậy đó, cuộc đời là vậy. Bởi vậy đó là lý do tại sao, ví dụ như bây giờ ông thầy ổng giảng nguyên một cái bài giảng giáo khoa xong ổng cho làm bài tập thì trong lớp mấy người được 10 điểm? Được vài người à. Nghĩa là người đó hiểu được hết bài đó, làm được đúng bài toán đó.
[1:03:17]Còn đa phần hiểu không hết bài giáo khoa đó, làm không đúng bài toán đó nên chỉ được từ 8, 7, 6 điểm trở xuống thôi. Cũng như vậy, chúng ta sống trong đời, thường chúng ta không hiểu hết sự việc mà chúng ta chứng kiến. Chúng ta hiểu không hết, chúng ta rất là dễ hiểu lầm. Cho nên trong bài kinh này cũng vậy, khi chúng ta nói rằng là khi Đức Phật nói rằng cái phước vinh quang tột đỉnh của ngài trong quá khứ ngày hôm nay đã biến mất hết thì cái phước hữu lậu là như vậy á, cái hữu vi là như vậy, bắt đầu chúng ta xuất hiện cái hiểu lầm gì? Đừng có tu tập phước hữu lậu mà lo tu tập phước vô lậu, mình xuất hiện lầm liền.
[1:03:54]Không phải như vậy. Vấn đề như thế này: Tất cả chúng ta phải xuất phát từ cái tâm vị tha thương yêu mọi người. Khi xuất phát từ cái tâm vị tha thương yêu mọi người, chúng ta sẽ giúp đỡ con người, chúng sinh trên hai lĩnh vực. Một là tinh thần, chúng ta muốn cho họ hiểu biết, giỏi, có đạo đức, có tu tập. Và chúng ta giúp đỡ họ trên vật chất, trên đời sống, miếng ăn, miếng mặc. Mình giúp đỡ được khi mình có tâm vị tha. Và khi mình giúp con người được hai điều này, mình sẽ được thành cái phước và cái phước đó nó cũng có hai khía cạnh của nó. Một là cái sự phát triển về tâm linh và hai là cái đời sống thịnh vượng.
[1:04:32]Đó là cái chắc chắn kết quả nó phải xuất hiện khi chúng ta có cái tâm vị tha. Hai cái này nó phải có. Cái tâm linh này á thì giống như nói nói nó vô lậu á nhưng xin thưa nó cũng vô thường luôn. Cái đời sống thịnh vượng, vật chất nó vô thường là đành rồi, cả tâm linh cũng vô thường luôn nữa. Ví dụ ngày xưa Đức Phật đã đạt được cái tột đỉnh vinh quang nhưng rồi biến mất. Cái tâm linh này cũng vô thường là gì? Ví dụ khi chúng ta làm phước, phước còn á tự nhiên mình sáng suốt khủng khiếp. Những cái người mà những cái thương gia, những nhà tài phiệt lớn trên thế giới á là thứ này nè. Họ nhìn thế giới, nhìn cuộc đời họ đánh giá được hết.
[1:05:10]Nghĩa là giá mặt hàng nào sẽ lên, thế giới sẽ chuyển biến thế nào, xã hội nào sẽ bất ổn định, ở đâu để họ đầu tư đúng mức và họ giàu lên. Cái trực giác họ mạnh. Nhìn con người biết người đó ra sao, sử dụng người đó hay không sử dụng người đó, họ nhìn họ đánh giá được liền. Chừng nào hết phước thì nhìn không ra nữa, trật hết. Đó là cái tâm linh. Cũng nhờ cái phước á mà tâm linh sáng suốt đặc biệt nhưng cũng vô thường. Tuy nhiên, cái tâm linh này đó, ngoài cái vô thường ra nếu mình khéo giữ gìn, khéo tu tập, biết khiêm tốn, biết duy trì, vun đắp thì có thể đi đến tuyệt đối luôn của Niết bàn như Đức Phật đã đạt được.
[1:05:46]Nghĩa là Đức Phật ngài cũng được cả hai cái phước: vừa tâm linh, vừa đời sống. Nhưng mà với cái đời sống này thì nó theo luật vô thường biến mất hết, ngài không còn gì nữa. Nhưng cái tâm linh ngài khéo giữ gìn và cuối cùng ngài đã đạt được Phật quả. Hai cái khác nhau như vậy. Nhưng mà từ cái tâm vị tha thì nó bắt buộc nó phải đi theo cái tiến trình đó. Vì vậy, chúng ta không được nghe cái bài kinh này rồi cái hiểu lầm, nói từ đây là chỉ giúp đỡ về tinh thần hay chỉ lo tu tập thiền quán mình, không chịu giúp đỡ người khác về tinh thần và vật chất là một sự sai lầm, một cái hiểu lầm lớn. Ở đây Phật chỉ nói như vậy cho biết là
[1:06:24]cái phước, pháp hữu vi nào cũng biến đổi, không có tồn tại.
[1:06:31]Tới cái bài kinh đầu ngón tay, chắc học không hết quá. Đức Phật mới nói rằng cái đầu ngón tay này thì nó giống như là phân bò. Nói tới dây thừng đi. Là cái sự luân hồi này không có điểm bắt đầu đối với chúng sinh mà còn bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc. Thường thường á chúng ta nghe nói chúng ta có kiếp trước, kiếp sau. Trước kiếp này mình có kiếp trước, trước kiếp trước có kiếp trước nữa, kiếp trước nữa và chúng ta đặt vấn đề kiếp ban đầu là gì? Và có vài người đã vội vàng trả lời: "Ơ kiếp ban đầu chúng ta là một chân linh của Thượng đế cho xuống trần, xuống trần bị mê trần cái rồi lạc rồi trôi lăn.
[1:07:11]Giờ phải ráng tu để trở về với Thượng đế, với Cha, với Ngọc Hoàng." Có nghe chưa? Quý thầy nghe cái đó chưa? Có đó, có mấy cái đạo giải thích kiểu đó đó. Nhưng mà trong đạo Phật không có. Cái ban đầu của luân hồi là gì? Là luân hồi, là vô minh. Chứ không bao giờ mà ban đầu có cái thanh tịnh rồi vô minh hết. Chúng ta nhớ nghen, đừng có ai mà nói rằng: "À trước khi vô minh là gì? Là tâm mình vốn thanh tịnh rồi một niệm trần lao khởi lên che lấp." Đó là tầm bậy á. Cái đó là ngược với Phật á. Phật nói rõ ràng: Từ khởi điểm ban đầu mình đã là vô minh. Khởi điểm ban đầu đã là vô minh. Đừng có nói mà khởi điểm ban đầu mình là tâm thanh tịnh nha,
[1:07:53]tâm vốn thanh tịnh rồi cái bị trần lao che lấp rồi cái vô minh rồi bây giờ tu cho thanh tịnh lại rồi mai mốt vô minh lại giờ. Không có. Ban đầu mình là vô minh luôn. Thì có những cái lớn lao khó có thể biến đổi như là biển có thể khô cạn, núi Tu Di có thể biến mất, nhưng mà luân hồi không bao giờ biến mất đối với người còn vô minh, khát ái. Núi Tu Di ở đâu? Đó, có mấy cái từ nhỏ nhỏ vậy chứ là chúng ta bí đó. Núi Tu Di ở đâu? Có nhiều người tìm không thấy núi Tu Di, rồi bắt đầu mới tưởng tượng vẽ ra cái hình đem bán tùm lum. Là có cái hình mà thấy nè, vẽ cái núi thấy không, ở đây là tầng trời Dạ Ma, tầng trời Đâu Suất rồi tầng trời Tứ Thiên Vương gì đó.
[1:08:37]Thấy cái hình này đem bán không? Màu màu, có màu tùm lum á. Thấy không? Thấy có nhiều chùa treo, nhiều nhà cũng treo không? Không phải, ai không biết ai tưởng tượng nữa. Núi Tu Di nó đơn giản vậy hết, là ngày xưa người Ấn Độ á, cái vùng đông bắc Ấn Độ họ sống gần cái dãy Hy Mã Lạp Sơn, phải không? Hồi đó họ gọi là núi Tuyết vì nhìn lên cái núi đó thấy trắng xóa trên đỉnh tuyết không. Và họ không biết là thăm thẳm mãi ở những ngọn núi kia là gì. Có một vài người có máu phiêu lưu đi tìm coi, đi mãi đến tận cùng của những cái dãy núi đó là cái núi chúa là gì, hết cái biên giới của núi là gì thì họ không bao giờ trở về để báo lại.
[1:09:17]Không bao giờ, họ bỏ xác trên đó luôn. Cho nên cái núi Tuyết á, cái Hy Mã Lạp Sơn đối với người Ấn Độ thời xưa vĩnh viễn là sự bí mật, cái gì huyền bí. Và họ tin rằng chập chùng của những ngọn núi cao xa thăm thẳm chập chùng cao ngất, nhiều ngọn chập chùng đó là có ngọn núi chúa, núi cao nhất, gọi là núi Tu Di. Chỉ đơn giản vậy thôi, cái văn hóa nó đơn giản. Bây giờ mình biết nó là ngọn gì? Ngọn Everest. Đó là ngọn cao nhất của thế giới đó, ngọn Everest trong cái rặng núi Hy Mã Lạp Sơn. Đó chúng ta nhớ điều đó. Thì dù cho những cái đó biến mất hết thì luân hồi vẫn không có thay đổi. Giống như là một con chó bị dây cột trói vào cái cột và nó chạy vòng
[1:10:03]vòng mãi quanh cái cột đó nó không thoát được thì cũng vậy. Khi chúng sinh mà bám vào, chấp vào sắc, vào thọ, vào tưởng, vào hành, vào thức thì người đó phải vĩnh viễn không có thoát khỏi khổ đau. Chỉ có những người nào mà biết tu tập, không có đắm vào năm uẩn thì người này được giải thoát. Cái câu nói đơn giản này đừng có hiểu sơ sơ kiểu đó nha. Rồi có một bài khác Đức Phật nói về cái tâm. Đức Phật mới hỏi là có thấy một bức danh họa, ngày xưa cái nền hội họa của Ấn Độ cũng phát triển lớn, là Phật nói cái tâm nó còn phức tạp hơn cả cái bức danh họa đó. Nghĩa là người họa sĩ vẽ và tô điểm nhiều điểm phức tạp từng điểm nho nhỏ chút chút.
[1:10:50]Phật nói tâm con người vô cùng phức tạp. Cái mà chúng ta thấy được nơi tâm mình á, những ý nghĩ, những tình cảm chỉ là những điểm rất là nhỏ thôi. Cái sâu thẳm bên trong nó sôi sục như một cái nồi nước sôi từng cái ý niệm nhỏ nhỏ nhỏ nhỏ như vậy. Ví dụ khi quý thầy ngồi thiền rồi thấy tâm mình lắng xuống thanh tịnh, tưởng mình hết ý niệm, không có đâu, không có hết ý niệm đâu. Lúc đó vẫn còn vô số ý niệm nhưng mà những ý niệm đó nó quá nhỏ, nó chút chút chút chút chút chút đầy hết cả tâm mình, mình tưởng nó thanh tịnh chứ không có thanh tịnh. Nhớ cái tâm nó phức tạp như vậy và Phật là vị mà chứng đạo nên ngài thấy rõ về tâm.
[1:11:27]Còn chúng ta hiểu về tâm mình coi vậy chứ hời hợt lắm. Và tâm này làm cho chúng sinh thanh tịnh hay là chúng sinh ô nhiễm. Trong một thời gian dài, tâm này bị tham sân si nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỳ kheo, chúng sinh bị nhiễm ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sinh được thanh tịnh. Đó. Đó là cái Phật nói về tâm, mà cái bài này nó lại trùng với một đoạn trong kinh Hoa Nghiêm, ngộ ghê, là tâm như công họa sư, họa chủng chủng ngũ uẩn. Tâm như một ông một họa sĩ giỏi á, vẽ hết năm ấm này vẽ tới năm ấm kia. Là trong cái luân hồi vô tận của chúng ta vậy, cái nghiệp, cái tâm á nó tạo thành hết năm ấm này đến năm ấm kia.
[1:12:10]Đó là tư tưởng của kinh Hoa Nghiêm, thì chúng ta lại bắt gặp cái tư tưởng đó nằm ở trong kinh Tương Ưng Bộ Kinh của Nguyên Thủy. Đây là những cái nối rất là hay. Sau này quý thầy nào mà có làm một luận chứng làm gạch nối giữa Nguyên Thủy và Đại Thừa thì đây là những điểm mà chúng ta làm chứng cái sự liên lạc chặt chẽ giữa Nguyên Thủy và Đại Thừa. Mà bên Nguyên Thủy á dễ hiểu, đơn giản, gọn, nhỏ hơn, còn Đại Thừa thì triển khai lớn lắm. Có một cái bài là bài Cán Búa là Đức Phật cũng ra một ví dụ giống như cái người mà thợ rìu, họ cầm cái cán búa để họ họ lao động mà lâu ngày lâu năm quá cái cán nó
[1:12:51]mòn theo từng cái ngón tay nắm lại thì họ biết rõ điều đó. Phật cũng ví dụ giống như cái cột buồm mà đứng ngoài nắng á, dây buồm đứng ngoài nắng ngoài mưa từ từ nó mục, nó nát thì cũng vậy. Một người mà chịu khó tu tập là Tứ Niệm Xứ nè, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám chánh đạo thì người này cũng thấy rõ những cái phiền não, những kiết sử của mình đang bị suy yếu dần dần, bị suy yếu dần dần. Đó là Phật nói như vậy. Nhưng mà cái sự tinh tấn đó phải giống như là cái con gà ấp trứng, không được gián đoạn, phải tinh tấn mãi. Vì nếu chúng ta tu mà ngày nóng ngày lạnh ngày
[1:13:35]nóng ngày lạnh thì mình không có tiến bộ. Phải tu tập mãi, tinh tấn mãi thì cũng như vậy, cái trứng gà mà được ấp liên tục thì nó mới có thể nở thành con gà, còn không thì nó thành cái gì? Trứng gà... trứng gà lộn. Không, trứng gà lộn là cái gì ta? Tôi cũng không biết nữa. Phải không? Phải là do con gà ấp nó không thành hay sao?
[1:14:03]À ở đây quý thầy đã học về bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi rồi chưa? Trong Phật pháp căn bản học rồi phải không? Phải không thầy Đức Hoàn? Phải thầy dạy rồi phải không? Hả? Sao trong Thiên Phước nói là học rồi? Thầy đã dạy chưa? Có rồi. À vậy hiểu rồi phải không? Hên quá, tôi khỏi giảng. Tôi tính là kỳ tới đó giảng những cái ý này. Nhưng mà thầy Đức Hoàn giảng rồi thì thôi, kỳ tới mình học một bài trong Tiểu Bộ Kinh thôi. Tiểu Bộ Kinh thì mênh mông lắm, học nhất là cái Pháp Cú, hay mà không có thì giờ để học. Có cái bài cuối cùng là bài Vô Thường Tánh là do tu tập làm cho sung mãn vô thường tưởng,
[1:14:50]cái bản in này thiếu một chữ tưởng nha, tức là quán vô thường mà quán cho tới thuần thục, chuyên sâu thì tất cả dục tham được đoạn tận, tất tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được đoạn tận. Cái quán vô thường á Phật khen ngợi như vậy. Ví dụ như một người làm ruộng trong mùa thu dùng một cái cày lớn cắt đi tất cả rễ mọc trong khi cày thì cũng vậy, cái quán vô thường cắt đi được tất cả những dục tham, sắc tham, hữu tham, vô minh, ngã mạn. Ví như một người cắt cỏ, cắt đứt cây cỏ nắm lấy đầu ngọn cỏ đập lên đập xuống, đập tả đập hữu rồi quăng một bên cũng vậy.
[1:15:33]Khi cái quán vô thường này được làm cho sung mãn thì những dục tham, những ngã mạn được tận trừ. Giống như một chùm xoài bị cắt đứt từ cành thì các trái xoài dính vào cũng bị cắt đứt theo cũng vậy. Chúng ta chỉ việc quán vô thường cho sung mãn thì tất cả những phiền não, vô minh, ngã mạn bị đoạn tận hết. Giống như một cái ngôi nhà có nóc nhọn, này các Tỳ-kheo, thì các rui các kèo phải đều xuôi từ cái ngọn đó mà đi xuống hết thì cũng như vậy. Là chỉ một cái pháp môn quán vô thường này thì tất cả những cái phiền não, vô minh, ngã mạn đều được tận trừ hết. Ở đây Phật ví dụ ca ngợi cái quán vô thường dữ lắm.
[1:16:11]Ví như, này các Tỳ-kheo, nếu có những tiểu vương nào thì trong những vua ấy đều phải lệ thuộc vào vua Chuyển Luân Vương. Chuyển Luân Vương là tối thượng đối với họ, cũng vậy đối với tất cả các pháp môn tu nào thì cái quán vô thường cũng được gọi là tối thượng trong các pháp môn. Ví như, này các Tỳ-kheo, ánh sáng của các loại sao gì tất cả ánh sáng ấy đều không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng. Ánh sáng của mặt trăng được xem là tối thượng trong các ánh sáng ấy, cũng vậy, này các Tỳ-kheo, quán vô thường được xem là tối thượng trong các pháp tu. Phật ca ngợi cái pháp quán vô thường.
[1:16:45]Ví như, này các Tỳ-kheo, trong mùa thu khi trời mở rộng và gột sạch mây, mặt trời mọc lên trên bầu trời đuổi sạch tất cả u ám khỏi hư không, bừng sáng, chói sáng và rực sáng, cũng vậy, này các Tỳ-kheo, do tu tập làm cho sung mãn cái pháp quán vô thường thì tất cả dục tham, sắc tham, hữu tham, vô minh được đoạn tận, ngã mạn được tận trừ.
[1:17:07]Tu tập vô thường như thế, này các Tỳ-kheo: Đây là sắc, sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt; đây là thọ, là tưởng, là hành, là thức; là thức tập khởi, là thức đoạn diệt thì tất cả các vô minh, tất cả các ngã mạn được tận trừ. Cái này đoạn sau vì không còn thời gian nên chúng ta lướt nhanh qua một chút, nhưng cái ý thì nó tổng quát như vậy, quý thầy có thể tư duy thêm. Ở đây chúng ta để ý chỗ này một chút xíu. À khi mà nói cái sự tinh tấn tu tập thường xuyên như gà ấp trứng á thì chúng ta thường hiểu lầm nữa, con người ta vốn hay hiểu lầm, là mình phải bỏ hết mọi chuyện trên đời mình nhập thất thôi.
[1:17:49]Chỉ chuyên tâm mà ngồi tu thiền như vậy nhập thất thôi thì như vậy mới là là tinh tấn. Nhưng mà đó là hiểu lầm á. Chúng ta phải hiểu rằng cái đời sống vị tha đó cũng là tu tập, cũng là tinh tấn. Nhớ như vậy. Khi không có duyên sự gì á chúng ta bắt chân đi ngồi thiền, chúng ta đi kinh hành, chúng ta thiền quán là tinh tấn. Nhưng khi có duyên sự mà làm lợi ích cho Phật pháp, cho chúng sinh, mình nỗ lực, nhiệt tâm, tận tụy làm đó cũng là tu tập, đó cũng là tinh tấn nha. Và hai cái đó hỗ trợ qua lại cho nhau. Chớ chúng ta đừng có chấp một bên, chấp một bên không có tu tới đâu hết. Ví dụ mình không có ngồi thiền
[1:18:27]mà mình chỉ lo tận tụy đi làm việc từ thiện cũng không thành công. Vì mình không kiểm soát được tâm mình nên việc làm từ thiện lúc nào đó nó sẽ biến thành cái gì? Thành cái tự hào, cái nóng nảy, hơn thua, cái tham danh. Và ví dụ như bây giờ chúng ta chỉ chuyên ngồi thiền mà không làm việc từ thiện thì chúng ta không có phước để phá vỡ những cái bóng che trong tâm mình, tâm linh không thể khai mở. Cho nên cả hai mặt đó đều cần thiết hết. Cái người tu phải như vậy, không được chấp một bên. Với trong đây Đức Phật nói nhiều khi không cần ước muốn giải thoát, chỉ cần tu tập giải thoát thì đã là mình sẽ đạt được giải thoát.
[1:19:06]Cái câu này mình hiểu lầm lần nữa. Có người nào mà không ước muốn giải thoát mà đi tu không? Có không? Không. Khi chúng ta đang quyết tâm tu đó tức là mình có cái khát khao mãnh liệt phải được giải thoát dù không nói thành lời. Nên đọc trong bài kinh á chúng ta phải cẩn thận coi chừng hiểu lầm. Vì trong bài kinh Đức Phật nói không cần ước muốn, cứ tinh tấn tu tập. Nhưng mà hổng có ước muốn làm sao tinh tấn, phải không? Đó, nhưng có điều đừng nói thành miệng à nói: "Tôi là muốn giải thoát nha, tôi tu nè, tôi ăn chay trường bữa nay tôi ăn chay đó." Mấy mình nói như vậy thì nó không tới đâu. Cứ lặng lẽ ăn chay, cứ lặng lẽ tọa thiền,
[1:19:43]cứ lặng lẽ giúp đỡ thương yêu con người thì mọi việc nó sẽ tốt. Vì chính cái hành động nó luôn luôn xuất phát từ cái ước muốn mãnh liệt. Nó là vậy. À thôi cái bài này chúng ta tạm tạm dừng ở đây. À có câu hỏi hôm trước là chúng tôi thiếu nợ nay xin trả luôn. Có người hỏi: "Trong các pháp bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, pháp nào là chánh nhân để thành Phật?" Pháp nào cũng chánh nhân hết, đừng bỏ nào hết trơn, bỏ một cái khập khiễng không thành gì hết. "Sám hối có hết tội không?" Câu hỏi này hay nè. Khi mà chúng ta làm cái nghiệp gì đó, ví dụ như ngày xưa có lần mình lỡ
[1:20:22]mình đi ăn cắp mà mình ăn cắp cái món đồ sau đó cái vì cái ăn cắp của mình mà người ta vô cùng đau khổ, khốn đốn, nó thành cái tội lớn. Đến khi mình biết đạo, biết nhân quả, sợ hãi thế là ngày nào mình cũng lạy Phật mình sám hối. Mà chuyện nó đã qua xưa, mình không gặp lại để làm đem trả người ta lại nữa. Đó, bây giờ mình chỉ còn biết lạy Phật sám hối thì có hết tội hay không? Nó như thế này: Là nó sẽ hết cái xấu trong tâm hồn mình, là cái thứ nhất. Khi mình lễ kính Phật thì từ từ những tính chất tốt đẹp của những vị thánh xuất hiện trong tâm mình dần dần một cách tự nhiên. Đó là ngày xưa mình có thể tham lấy đồ người ta nhưng mà khi mình lạy
[1:21:08]Phật nhiều rồi cái đó biến mất liền, không bao giờ lặp được nữa. Ngày xưa mình có thể chửi mắng người khác được nhưng khi mình lạy Phật nhiều rồi mình không thể mở miệng nói nặng người khác được. Thế là cái tốt đẹp nó xuất hiện trong tâm mình một cách tự nhiên như mây như gió, như mây bay như nước chảy, không cần phải gượng gạo, không cần phải cố gắng. Ví dụ như nếu chúng ta không lạy Phật á, mình muốn mình là người hiền lành á thì mình phải ngồi đâu ngồi im một chỗ, phải cẩn thận giữ gìn để người ta thấy mình hiền lành, nhưng mà nhìn vô vẫn thấy giả dối. Còn nếu mình siêng năng mình lạy Phật á,
[1:21:39]không cần cố gắng hiền lành, người ta nhìn vô người ta thấy mình hiền lành tự nhiên. Nó lạy Phật hay như vậy, làm cho tâm mình tốt một cách tự nhiên như vậy. Cho nên những cái xấu trong tâm sẽ biến mất. Nghĩa là lúc ngày xưa bao nhiêu cái tâm xấu mới khiến cho mình đi ăn cắp, ngày nay khi lạy Phật cái đó biến mất. Là cái thứ nhất. Cái thứ hai là cái nghiệp mà mình làm người ta khổ sở, khốn đốn á mình phải trả. Nhưng nhờ công đức lạy Phật khiến mình có cơ hội trả một cách khác nhẹ nhàng hơn, hoặc là khiến mình gặp lại người đó rồi mình giúp đỡ người đó nhiều hơn cái số mình đã lấy cắp, cái oan trái biến mất luôn.
[1:22:18]Nó như vậy. Còn hoặc là nếu phải trả thì cũng không đến nỗi khốn đốn. Là nghĩa là Phật, Bồ Tát âm thầm gia hộ để cho mình trả cái nghiệp xưa một cách nhẹ nhàng mà vẫn công bằng, vẫn đầy đủ mà không phải khó chịu. Chứ còn nếu mình không lạy Phật sám hối á thì lâu ngày lâu tháng nó thành lãi là mình sẽ bị ăn cắp mà có thể tới tự tử chết luôn, nghĩa là vào đường cùng luôn. Nên ở đây là cái công đức lạy Phật sám hối là như vậy: Vừa gột sạch nội tâm mình mà vừa tạo điều kiện để cho mình dễ trả cái nợ cũ.
[1:22:56]"Quy y Tam Bảo có lợi gì?"
[1:23:00]Quy y Tam bảo nó là một lời thề suốt đời, suốt kiếp, hết kiếp này sang kiếp khác. Vĩnh viễn mình là đệ tử Phật, mình là đệ tử của Pháp của Phật, là đệ tử của chư Tăng. Đó là một lời thề, một lời thề với tất cả cái tâm hồn, với tất cả sự quyết tâm của mình. Và nhờ một lần như vậy, một lần thề như vậy, đời đời kiếp kiếp mình có cái nhân với Phật pháp. Có thể mình đầu thai sinh vào nước Thiên Chúa giáo, vào nước Hồi giáo, hay vào đâu đó, nhưng rồi cuối cùng đều phải gặp lại Phật pháp để tu hành. Đó là cái công đức quy y Tam bảo. Đó là công đức nhỏ đó, còn rất nhiều công đức lớn khác nữa, mà nếu khi mình quy y, mình còn tu tập được nữa thì phước rất là lớn.
[1:23:40]Đó, cái câu trả lời như vậy. Thôi giờ chúng ta nghỉ ha, hết giờ rồi. Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả,
[1:23:59]đệ tử và chúng sanh
[1:24:06]đều trọn thành Phật đạo.
[1:24:44]Ngoài trời hoa bay bay,
[1:24:51]mịt mù sương khói giăng.
[1:24:59]Bầy câu chim líu lo,
[1:25:06]vượn ngồi lắng nghe kinh.
[1:25:13]Trầm lắng nghe trong ta
[1:25:21]từng giọt mưa long lanh,
[1:25:28]từng dòng suối róc rách, từng giọt nắng trong ngần.
[1:25:39]Ngoài trời hoa rơi rơi,
[1:25:47]mịt mù đầy sương khói.
[1:25:54]Trầm lắng nghe trong ta, nghe trong ta điều nhiệm mầu.
[1:26:22]Ngoài trời hoa bay bay,
[1:26:46]mịt mù sương khói giăng.
[1:26:53]Bầy câu chim líu lo,
[1:27:00]vượn ngồi lắng nghe kinh.
[1:27:08]Trầm lắng nghe trong ta
[1:27:15]từng giọt mưa long lanh,
[1:27:23]từng dòng suối róc rách, từng giọt nắng trong ngần.
[1:27:34]Ngoài trời hoa rơi rơi,
[1:27:41]mịt mù đầy sương khói.
[1:27:48]Trầm lắng nghe trong ta, nghe trong ta điều nhiệm mầu.
[1:28:39]Ngày rằm tháng bảy Vu Lan, chim oanh vũ bay đến chùa dâng lễ Phật. Ngày rằm tháng bảy mưa ngâu, chim oanh vũ bay đến chùa dâng lễ Phật. Ngày rằm tháng bảy Vu Lan, em mang hương hoa đến chùa dâng lễ Phật. Ngày rằm tháng bảy mưa ngâu, em mang hương hoa đến chùa dâng lễ Phật.
[1:29:10]Trầm hương thơm ngát mười phương, chắp tay tâm niệm:
[1:29:20]Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên. Lửa thiêng đốt cháy nghiệp chướng oan khiên, niềm an lành trăng tỏa ánh chân như, chuông Bát Nhã âm vang lời sám nguyện.
[1:29:43]Thành tâm con cầu xin Đấng Từ Tôn cho mẹ hiền thân tâm mạnh khỏe, cho bông hồng
[1:29:57]cài áo
[1:30:07]con tươi thắm, cho mẹ hiền mãi mãi sống bên con.
[1:30:16]Ngày rằm tháng bảy Vu Lan, chim oanh vũ bay đến chùa dâng lễ Phật.
[1:30:25]Ngày rằm tháng bảy mưa ngâu, chim oanh vũ bay đến chùa dâng lễ Phật. Ngày rằm tháng bảy Vu Lan, em mang hương hoa đến chùa dâng lễ Phật. Ngày rằm tháng bảy mưa ngâu, em mang hương hoa đến chùa dâng lễ Phật.
[1:30:50]Mẹ yêu, tóc trắng như vầng mây, nắng mưa dãi dầu. Thương con, mẹ sống suốt đời vì con. Dù bao cay đắng mẹ vẫn bên con. Bao đêm trường lao khổ biết khôn cùng, luôn lo lắng mong con được nên người.
[1:31:24]Lòng mẹ ôi từ bi sánh gì hơn, con ghi lòng báo ân từ mẫu,
[1:31:33]cho bông hồng cài áo con tươi thắm, cho mẹ hiền
[1:31:52]mãi mãi sống bên con.