Transcript: Lý Thuyết Thực Hành Thiền 07

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:17:50

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:11]Cho nên nếu mà mình

[0:23]nhiếp tâm được, vượt qua đó tâm nó yên hơn một chút, cái sự dằn ép nó bớt thì cái ngứa từ từ nó mất.

[0:31]Còn nếu mình cứ tiếp tục đứng ở cái chỗ mà dằn ép nó không vượt qua được thì cái ngứa nó kéo dài khá lâu.

[0:44]Có trường hợp mà ngồi thiền thấy người nặng như hòn núi, chợt thấy mình ngồi nặng như một khối núi. Có ai bị trường hợp này không? Không ai. Hên quá. Thì

[1:09]có cái này, nó là cái này là do dằn ép á, nó gắt, tức là nó không phải là do cái dằn ép nhẹ nhàng của người công phu đúng, mà trong đầu mình có dằn ép thật sự. Cho nên đây là do dụng công sai. Một sự dằn ép thật sự nó làm cho người mình xuất hiện những cái ảo giác như vậy.

[1:33]Thì cái này mình phải phá giải lập tức liền, đang ngồi mình phải xả người liền. Mình đang ngồi kiết già nghiêm chỉnh, hễ mà cảm giác nặng nặng nặng, thấy người mình thành một khối núi, cho nó tan cái ảo giác đó ra, coi lại cái tâm dằn. Thường thường chúng ta tu mà cái phước mình có khi chưa đủ, lúc đó chưa đủ để nhiếp tâm được, cho nên mình quá cố gắng, nó xuất hiện sự dằn. Cái dằn ép này nếu mình có phước do cái huân tu giới đức, mình làm lợi ích cho chúng sinh, phước đi kèm vượt qua trơn. Còn không thì chúng ta phải buông xả, thì nó hết. Còn không mà cứ dằn ép dằn ép mà cứ để cảm giác nặng nó kéo dài, có ngày phát điên.

[2:24]Đầu tiên nếu mà nó cứ tiếp tục kéo dài là nó làm tới độ chóng mặt và ói mửa. Đó là tổn thương tới thần kinh trung ương là mình sẽ bị tưng tưng. Cho nên ngay cái này là phải động người cho hết cái cảm giác đó, rồi coi lại công phu mình dằn ở chỗ nào, tìm đến cái vị thầy mà mình học hỏi. Nhờ soi sáng, vị đó sáng mắt nhìn coi mình dằn chỗ nào. Phải có cái này. Khi mình tu mình dằn, mình không biết mình dằn. Mình cứ tưởng là mình dụng công đúng. Kỳ lạ, cũng một câu nói của ông thầy, ổng nói về cách tu, mỗi người hiểu khác nhau hết là do cái nghiệp của họ. Ví dụ như nói rằng, "Biết vọng thì buông".

[3:04]Ví dụ như nói là chánh niệm á, vọng tưởng khởi lên mình biết, mình không chấp nhận, không theo, buông. Câu nói nghe nhẹ nhàng, nhưng mà có những người khi dụng công, do cái nghiệp thì có thể rơi vào cái tình trạng là cái chữ "buông" của họ, họ tác ý buông thành ra cái dằn. Thành ra có cái sự dằn ép, đè nén không chừng.

[3:35]Rồi có cái ảo giác thứ hai là thấy người nhẹ. Ngồi đó thấy người nhẹ lâng lâng lâng lâng như muốn bay lên. Cái cảm giác này nó nằm ở giữa cái người mà chuẩn bị có thể nhiếp tâm được, chuẩn bị sắp tới nhiếp tâm được, nhưng đồng thời đang lúc mình gần nhiếp tâm được thì mình lại dằn, thì nó xuất hiện cái hiện tượng là người nhẹ lâng lâng lâng lâng. Nhưng trong cái nhẹ lâng lâng này đó, mình hơi có cái nghi ngờ chính mình một chút. Nó khác với cái khinh an của một người vào định đúng. Cái người vào định đúng, người họ cái cảm giác gọi là khinh an á, nó rỗng rang, nhẹ nhàng, nhưng rất bình thường mà mình không có nghi ngờ gì về mình hết.

[4:14]Còn cái người mà cảm giác nhẹ lâng lâng, ngây ngất ngây ngất lên á là mình, mình thấy giống như là mình tu được một kết quả gì mà trong lòng mình vẫn có cái nghi chính mình, cái đó là ảo giác chứ không gì. Nếu cái này mình không biết mà mình hơi có cái chủ quan, ngã mạn, mình cho rằng mình tu khá,

[4:33]kéo dài một thời gian nữa, bắt đầu mình cũng sẽ rơi vào trạng thái điên. Ảo giác này cũng nguy hiểm. Cho nên khi mà mình thấy người mà lâng lâng lâng lâng như muốn nhấc lên á, đừng tưởng là đi đâu, bị ảo giác. Mình cũng phải động người, lắc lắc lắc người lại cho nó tan cảm giác đó bình thường trở lại ngồi, rồi coi lại mình dằn ở chỗ nào. Cái dằn, cái kiềm chế, nhưng cái cái vùng não của mình á, khi xuất hiện mà mình thấy cái lực nó căng ở vùng đó nhiều quá thì mình coi chừng là mình dằn ở chỗ đó. Còn mà dụng công đúng á, nó có cái tập trung, có cái chú tâm, nhưng mà nó không có nặng nề. Nó có hơi căng thẳng một chút. Giai đoạn đầu nó như vậy.

[5:21]Giai đoạn đầu nó hơi căng thẳng nhẹ nhẹ, nhưng nó không có có giống như lực mà gồng lên cho cái não mình nó gồng thì không phải. Mình mình xem lại kỹ coi cái não mình có vẻ hơi gồng để cho có cái dằn dằn cơ học, chứ nó không phải là một cái dụng công trong cái đạo lý, mà nó là một cái dằn ép của cơ học. Thì cái đó là sai, coi lại. Tự quan sát lại. Mà như vậy là chỉ là cái phước của mình là cái thiếu phước chỗ nào, khiến mình có hiểu sai và dụng công sai. Chứ dụng công thiền nhờ phước, nhờ phước ngấm ngầm của nhiều kiếp có hướng dẫn đưa mình đi, chứ còn cái tài cũng là ảo. Cái ảo giác khác là thấy người to ra.

[6:05]Khi ngồi thiền, bỗng nhiên mình có cảm giác người mình nó lớn dần lớn dần lớn dần ra, như là cả cái nhà to ra. Có một lần có cái ông gì đó ổng kể lại, tại vì ông này ổng là đệ tử của Hòa thượng Hư Vân, sau này thì ổng hoằng được, thuyết pháp. Ổng viết rằng lúc ổng ngồi thiền ổng cảm thấy thân ổng hiện to to to lên. Và ổng nói là ổng chứng được cái tướng đại sĩ, giống như trong kinh Phổ Môn mà hiện thân đại sĩ để thuyết pháp. Thì ổng nói khi mà ổng thấy cái ảo giác người to to to ra vậy, tức là ổng chứng được cái tướng đại sĩ. Nhưng mà có cái hên là ổng không bị điên. Sau đó ổng xuất hồn được nữa, ổng kể lại những cái thành tích mà ổng tu được.

[6:51]Nhưng mà tôi đọc lại cái phần trình bày của ổng đó thì tôi thấy nhưng mà Hòa thượng Hư Vân thì không có sửa. Cho nên là một cái ảo giác sai, không có đúng. Mà cũng hên là không biết sao ổng lại vượt qua được, không bị gì nữa. Có lẽ là cái phước ổng cũng có, cho nên không có trầm trọng, không có quá đáng. Nhưng mà hiện thấy to to to lên là bắt đầu ảo giác rồi. Cũng là do sai, có một sự dằn ép ngấm ngầm. Có định, nhưng mà có dằn.

[7:23]Nên ở trong cái định này đó, mình khéo léo tiếp tục mà dụng công đúng á thì nó nhẹ nhàng nhẹ nhàng, nó bứt luôn, nhẹ nhàng suôn sẻ, suôn sẻ. Còn ở đây có định, có nhiếp tâm được chứ không phải là không, có được, nhưng mà có dằn ép thì hiện tượng nó xuất hiện ra.

[7:40]Rồi một hiện tượng khác nữa là thấy người nhỏ lại. Khi mình ngồi thiền như vậy, tự nhiên thấy người mình nhỏ nhỏ nhỏ nhỏ nhỏ lại như là bằng cọng cỏ thôi. rồi thấy nhỏ lại còn bằng cái nắm tay, rồi còn tưởng là thấy được cái tướng của vô ngã, nhỏ như vậy, nó cũng là một loại ảo tưởng thật mà cũng đều do dằn ép.

[8:06]Một cái hiện tượng là nó lâng lâng, có hiện tượng là hơi nóng chạy theo xương sống. Có người cứ ngồi thiền một thời gian bỗng nhiên thấy luồng hơi nóng từ dưới xương cùng nó chạy theo xương sống, lên tới vai nó lan tỏa khắp người nó nóng, có người nó chạy lên tới đầu. Không biết có ai gặp hiện tượng này không?

[8:30]Rồi sau đó thì như thế nào? Thôi bỏ. Tức là xả thiền đó chứ không có ngồi tiếp. Rồi ngồi lại. Nó có cái trường hợp này, có một cô đó cũng là cư sĩ ở Rạch Giá, không có tu gì hết. Nhưng mà bỗng nhiên bình thường vậy là hơi nóng tự nhiên từ dưới xương cùng đi lên, cứ mỗi đêm cổ ngủ là hơi nóng cứ bốc lên. Thấy không? Cái luồng hơi nóng á, mà bên yoga người ta rất thích chuyện này, cũng như là bên tập khí công người ta rất thích cái luồng hơi nóng này. Nó bốc lên, nó lan tỏa khắp vai, nó lên tới đầu. Làm người cổ toát mồ hôi, cổ sợ. Cổ đang đi xe Honda ngoài, đang lái xe mà hơi luồng hơi nóng từ dưới xương cùng tự động bốc lên.

[9:17]Người cổ có trực giác lạ lùng. Cổ nhìn người, người đầu tiên cổ gặp chứ cổ nhìn mặt là cổ biết tên người đó là cái gì. Cổ có thể tiên tri bói được nữa. Nhưng mà vì cổ sợ quá, vì sợ quá cho nên chính cái tâm trạng sợ hãi đó làm cho tinh thần cổ khủng hoảng. Cổ hoang mang rồi cổ phát bệnh. Cổ đến cổ nhờ một ông thầy châm cứu, ông này cũng giỏi. Ông nói: "Tôi chặn đứng cái luồng này được, nhưng mà cổ đừng có hối hận." Lúc đó cổ không biết nó quý như thế nào hết, cổ nói: "Cổ không hối hận, miễn chặn lại cho cổ." Ổng mới lấy điếu thuốc ổng đốt ngay cái huyệt ngay chỗ lỗ tai này nè. Từ đó là hơi nóng lên đó đụng hơi nóng của ông là đi mất, không lên, tắt luôn.

[9:59]Người cổ trở lại bình thường. Sau này thì cổ gặp tôi, cổ mới kể lại hết sự tình. Tôi mới nói là: "Rất tiếc cho chị. Rất tiếc." Là cái ông kia ổng biết giá trị của luồng hơi nóng nên ổng nói chị là: "Coi chừng hối hận" là ổng biết giá trị của nó. Nhưng mà tại vì chị đòi dừng, với lại là chị không hiểu nó như thế nào, cho nên chị buông cái cơ hội này ra.

[10:23]Trước hết, kiếp trước chắc chắn phải có tu. Thứ hai là bây giờ bắt đầu cái kết quả của kiếp trước nó xuất hiện cho hai mà nó xuất hiện ra hai trường hợp. Cái luồng hơi nóng á nó chạy theo xương sống, cái này nó thuộc hệ thống kinh mạch, hệ thống kinh mạch huyệt đạo. Mà hệ thống kinh mạch huyệt đạo nó thuộc về cấu trúc của tâm linh và hệ thần kinh thực vật. Hệ thống kinh mạch huyệt đạo.

[10:59]Huyệt đạo là những cái mắt xích tâm linh và cấu trúc tâm linh của cơ thể. Cấu trúc huyệt đạo, cấu trúc tâm linh nó gồm hệ cấu trúc tâm linh cộng với thần kinh thực vật. Nghĩa là nó thuộc về vô thức, cái hệ thống huyệt đạo. Hôm trước chúng ta có nói là cái sự tồn tại của vật chất, ví dụ như chúng ta nhìn cái ly này, nó không chỉ thuần là vật lý mà nó còn có cái sự tinh thần của nó nữa. Thì con người chúng ta, cái cấu trúc con người mình nó có hai cái mảng: một là cấu trúc vật lý là những tế bào thần kinh này nọ, và hai là cấu trúc tâm linh. Cái cấu trúc tâm linh này nó làm thành hệ thống huyệt đạo.

[11:44]Như những cái huyệt đạo khi mà người Đông phương khám phá dùng để chữa bệnh thì người Tây phương họ ngạc nhiên họ không tin. Tại vì khi mà mổ xẻ họ không có thấy. Nhưng mà vì cái hiệu quả thật sự của nó nên người Tây phương phải chấp nhận. Ví dụ như trong gây mê, họ châm tê thì có thể mổ mà người bệnh nhân không đau. Điều này thì bên Tây phương họ không giải thích được. Vì sự hiệu nghiệm cụ thể của nó nên người Tây phương buộc lòng chấp nhận là có sự tồn tại của huyệt đạo của kinh mạch. Khi họ chấp nhận rồi thì họ đi tìm nó. Nhưng mà họ mổ xẻ họ không thấy, ví dụ cái tiệt khổng cắt mổ ra không thấy gì hết.

[12:25]Khoảng cách đây khoảng 10 năm, có một nhóm chuyên gia người Pháp họ mới khám phá huyệt đạo bằng cách này: Họ bơm một loại hoá chất đặc biệt vào trong cái huyệt. Cái vị trí huyệt thì không biết đâu nhưng mà họ theo cái kinh nghiệm của Đông phương, họ nói đây là huyệt nên họ chích vào đó. Thì họ thấy là nếu mà không phải huyệt đạo á, cái hoá chất nó nằm im có một cục à. Nhưng mà nếu đúng vào cái huyệt thì hoá chất nó tan ra, nó toả ra thành cái hình như ngôi sao, thì đó là đúng cái huyệt họ chụp hình được. Họ chụp cái hình đó. Nên họ xác định được vị trí huyệt đạo bằng một cái mô hình hoá học. Họ làm được nên họ nói đó là vị trí huyệt đạo có thật.

[13:07]Mặc dầu trên giải phẫu học không tìm thấy nó, nhưng cái tương cái tác dụng của nó là có thật. Nó có tác dụng nhưng nó vô hình, nó thuộc về cấu trúc tâm linh. Thì cái luồng hơi nóng đó nó là sự hoạt động của vô thức. Tâm linh hay tâm thức tức là hệ thống cấu trúc vô thức của mình, hoạt động vô thức. Mà ở đây là nó tự ý, nó không thông qua ý thức. Có nghĩa là đây là một dạng mà giống như chúng ta nói hôm trước, vô thức nó hoạt động ngoài sự kiểm soát của ý thức. Chúng ta không muốn nhưng mà nó tự động nó hoạt động. Mà tại sao cái vô thức nó tự động hoạt động ngoài sự kiểm soát của ý thức? Là vì hai lý do:

[13:52]Lý do thứ nhất là lúc đó ý thức chúng ta bị yếu là do chúng ta dụng công có cái sai, nó hơi không đúng. Mặc dầu nó có cái định, có thể người này nhiếp tâm được rồi đó nhưng mà cái sức tỉnh giác hơi yếu một chút, cái ý thức nó càng ngày nó yếu dần. Cái ý thức nó yếu mà cái vô thức người này nó mạnh, nên nó khởi hoạt động thoát ngoài sự kiểm soát của ý thức. Nhưng mà đây là trường hợp nhẹ, nó chỉ là cái luồng hơi nóng. Có những người mà cái vô thức nó hoạt động mạnh quá thì nó xuất hiện những hiện tượng đồng cốt, hoặc là cái tiếng nói bên tai, hoặc là những ảo ảnh thấy người trong vô hình tới nói chuyện với mình mà người chung quanh mình thì không thấy.

[14:33]Người ta gọi cái này là coi như bị tâm thần phân liệt thể hoang tưởng. Thì tự họ thấy những cái hình ảnh như là những thiên thần, ma quỷ từ đâu nói chuyện với họ mà người chung quanh thì không ai thấy. Đó là sự trỗi mạnh của vô thức. Thì cái luồng hơi nóng này đó là sự hoạt động của vô thức. Nhưng mà vô thức như chúng ta đã nói, nó có cái năng lực thần thông. Cho nên cái người mà luồng hơi nóng bốc lên á là người đó vô thức bắt đầu phát huy cái sức mạnh của nó. Cho nên người này nếu mà khéo đó là sẽ có những năng lực hơn bình thường. Mình chưa gọi là phi thường, nhưng hơn bình thường. Hơn bình thường nghĩa là những năng lực gì?

[15:13]Năng lực đó có thể họ có một số trực giác mà nhìn người họ bói được, hoặc là họ có thể chữa được những cái bệnh đơn giản nhờ cái luồng hơi nóng này. Bên nội công,

[15:27]bên mà nội công của Thiếu Lâm Tự, họ cũng luyện cái hơi nóng này. Đầu tiên họ dùng cái sức tưởng thành cái sức định, sau đó họ tưởng hít hay thở họ đi vòng vòng cái đường chu thiên hai kinh nhâm mạch và đốc mạch. Cho đến cái ngày mà nó kích thích được cái luồng hơi nóng nó xuất hiện theo cái ý của họ và họ dẫn cái luồng hơi nóng nó chạy quanh người luôn. Cho nên đây là ý thức chủ động. Ý thức chủ động, nghĩa là những người mà luyện nội công của Trung Hoa, họ có ý thức chủ động tạo được cái luồng hơi nóng. Cho nên nó không nó khác với cái người mà cái luồng hơi nóng tự động bốc lên như trường hợp của cô đó hay là như chúng ta

[16:03]trong ngồi thiền có xuất hiện được luồng hơi nóng. Nhưng nó không có hại. Cái luồng hơi nóng nó bốc lên như vậy thì không có hại gì hết. Nó làm cho người mình khoẻ lên vì cái vô thức nó trỗi dậy, mà vô thức nó trỗi dậy thì nó có cái sức mạnh của nó nên nó không có hại. Chỉ là chỉ là nếu mà thấy trường hợp như vậy thì chúng ta cố gắng tăng cái sự tỉnh giác của mình. Mình biết rõ cái tâm mình hơn chút nữa để mình kiểm soát được cái hoạt động của vô thức. Tức là mình tăng cái biết, tăng cái sự kiểm soát đối với tâm mình. Tâm dù động mình cũng biết là động, tâm tịnh biết rõ là tịnh. Tăng cái tỉnh giác lên.

[16:40]Không sao hết, luồng hơi nóng đó nó tốt không có hại.

[16:46]Một cái trường hợp,

[16:51]một cái hiện tượng nữa là thấy hào quang trước mắt. Có người mở mắt, nhắm mắt, nhưng thường người nhắm mắt, bỗng nhiên thấy trước mặt mình xuất hiện một cái vầng sáng. Cái vầng sáng này tuỳ người, có người thì sáng vừa vừa, có người thì sáng sáng phóng vút về rất xa. Ở đây có hai trường hợp. Người mà thấy hào quang trước mắt là người bắt đầu tâm nhiếp được vào định. Tâm nhiếp được mới có xuất hiện hào quang. Cái hào quang này nó không phải là sự tưởng tượng. Cái người mà tưởng tượng cái hào quang nó khác. Có người như vậy, có người ngồi thiền cái chủ trương là tưởng tượng để xuất hiện hào quang.

[17:35]Nhưng mà cái tưởng tượng đó nó sai. Nó giống như là pháp quán tưởng không đúng, dùng cái quán tưởng nguy hiểm. Còn cái người mà nhiếp tâm được á thì thấy cái vầng ánh sáng xuất hiện trước mặt họ rất rõ ràng, rất cụ thể. Cái hào quang này là như thế này: Người đó nhiếp tâm được nhưng mà trong cái tâm tế có động, trong cái tâm tế có động và cái cái năng lực của họ hơi tập trung về phía trước trán. Hơi tập trung phía trước trán nên cái ảo ảnh nơi thần kinh thị giác nó xuất hiện. Nói là ảo ảnh chứ không ảo ảnh đâu, nó là năng lực nó tập trung về một điểm. Bởi vì mình có định rồi nên nó có năng lượng

[18:20]và chính cái năng lực này nó tạo thành cái vầng sáng, cái vầng sáng của tâm linh. Nhưng cái vầng sáng này nó rõ lắm chứ không có phải là ảo ảnh mơ hồ mà mà tưởng tượng, vầng sáng rất là rõ.

[18:35]Nên nó là một cái năng lực của tâm khi một người đã nhiếp được. Tuy nhiên nó có hai dạng: một là có động trong cái tâm tế, trường hợp này là thế, trong tâm tế có động.

[18:51]Cái tâm tế này chứng tỏ là

[18:56]cái tâm tế là tức là tập trung, tức là cái tâm mình hơi có chú ý về phía trước trán.

[19:09]Hai cái này cộng lại, cộng với cái sức định tạo ra cái hào quang. Và có một số người nhất là

[19:21]khi họ phát tâm họ đi tu là ngồi thiền phải chiêm ngưỡng cái hào quang. Khi có định hào quang hiện ra thì ngồi đó chiêm ngưỡng cái hào quang đó. Cái chiêm ngưỡng cái hào quang này nó rất giống cái bệnh mà gọi là chiêm ngưỡng cái tự tánh của người ngộ đạo. Hôm trước chúng ta nói một người mà họ xuất hiện cái hiện tượng ngộ đạo, họ cũng dễ bị cái cái bệnh là chiêm ngưỡng cái trạng thái ngộ đạo để mà phát sinh biết bao nhiêu cái kiến giải bậy bạ. Nên ở đây, để trị cho cái bệnh cái người đó cũng như trị cái bệnh của người mà phát thấy hào quang thì lui tâm về phía sau. Lui tâm về phía sau để mà kiểm soát cái tâm tế thì sẽ tắt được cái hào quang.

[19:59]Mình tiếp tục nhiếp sâu vào định, chứ không đứng đó nữa. Trường hợp thấy hào quang. Một cái hiện tượng nữa là

[20:11]khi ngồi thiền mà thấy thân mình cứng như là khúc gỗ. Ở đây có sư nào gặp

[20:24]trường hợp này không? Có ai không? Ngồi một hồi, lâu.

[20:38]Khi một người mà trước đây có cái quá trình điều thân kỹ, nghĩa là tâm mình lúc nào cũng tác ý giữ gìn cái thân mình cho mềm mại và bất động nên nó có cái nhân nó rớt vào trong đó, có cái căn bản điều thân vững rồi. Thì cái người này mà ngồi thiền nhiếp tâm được vào định thì thấy thân cứng ngắc lại. Cái cảm giác rất là cứng. Cứng này mình rờ thì nó vẫn mềm chứ nó chưa có cứng đâu. Nó chưa phải rờ vào cái nó thành đồng thành sắt như là người mà nhập diệt tận định, chưa phải như vậy. Nhưng mà cái người đó, chính họ cảm thấy thân họ rất là cứng, không nhúc nhích nữa, ngồi thiền rất là vững và ngồi thiền rất ngon.

[21:18]Đây là cái hiện tượng của người có định và điều này tốt, không sao hết. Miễn là không có chấp nó là thành quả thôi. Nhưng mà tuy nhiên đó là cái kết quả của hai cái: một là quá trình điều thân và hai là cái sức định. Cái trường hợp mà thân cứng á là cái định nó cộng với cái căn bản điều thân trước kia tốt. Một cái hiện tượng của người... Có một hiện tượng nữa là sau khi tu một thời gian, cảm thấy trí nhớ bị kém, không còn nhớ nhiều được như trước nữa. Có ai bị như vậy

[22:01]không? Ai giơ tay lên coi. Chưa bị hả? Chưa bị. Không ai bị hết không? Mà rõ ràng từ lúc bắt đầu tu thiền là bắt đầu cái trí nhớ giảm hẳn. Cái nguyên nhân của nó là như thế này:

[22:23]Tâm có nhiếp được,

[22:28]tâm có nhiếp được cái này. Tuy nhiên chưa sâu nhưng mà có nhiếp được, nhưng mà đồng cái lúc đó cái biết nó bị yếu.

[22:40]Ví dụ như là khi mà mình có vọng tưởng, mình biết mình có vọng tưởng, nhưng khi tâm mà không có vọng tưởng đó, thì cái biết mình nó cũng mờ luôn. Để ý lại coi. Để ý kỹ coi có phải không? Khi mà tâm mình nó yên á, trong cái giai đoạn mà nó không có vọng tưởng á, tự nhiên cái biết mình nó cũng mờ mờ mờ mờ. Chính cái biết lúc đó nó yếu, làm cho cái trí nhớ mình nó nó giảm, đây là một dạng bệnh. Còn à mình ngồi thiền đúng á thì tâm càng định trí nhớ càng sắc, rất sắc sảo.

[23:20]Như là có một cái cô Phật tử đó, cổ ở lại nhà cổ tập ngồi thiền, thì cổ bận rộn quá nên tôi chỉ dạy cho cổ điều thân thôi. Tôi bảo: "Tập cho kỹ hôm nào vài tháng lên thầy chỉ tiếp." Chứ không có chỉ gì hết, chỉ ngồi điều thân thôi. Cổ cứ ngồi yên lặng quan sát thân mình, giữ cái thân này mềm mại bất động, không tập gì hết. Thế thì cổ bận quá cổ không lên được, 2 tháng sau cổ mới lên. Cổ nói rằng: "Con chỉ mới tập điều thân thôi mà trí nhớ con đã rất bén. Hồi nào con cảm thấy con không thể nào mà nhạy như vậy được. Sau này ai nói thốt qua một câu là con nhớ liền, không làm sao quên được. Nhiều chuyện, nhiều việc trong ngày rất nhiều vấn đề mà con không

[23:59]nhớ không bỏ sót việc gì, mà chỉ mới có điều thân thôi." Chúng ta thấy cái sự cái cái cái vi diệu của cái sự tỉnh giác. Cho nên chúng ta mà trí nhớ bị kém là do tâm có nhiếp được, người này tâm có nhiếp được. Nhưng khi mà tâm nó yên như vậy, lúc mà tâm nó không vọng tưởng thì cái biết mình nó bị yếu theo lúc đó. Muốn để trị cái bệnh này thì mình phải làm sao? Lúc mà tâm nó yên á, lúc mình mình tự nhủ trong đầu mình, mình khởi cái niệm tự nhủ ra, biết thật rõ, biết thật rõ. Nhắc chừng chừng chừng chừng, ám thị tự nhủ mình bằng cái câu đó: "Biết thật rõ, biết thật rõ", để cho cái biết nó sáng sáng

[24:41]sáng, cái sức tỉnh giác nó sáng sáng sáng dần trở lại. Cho nên sau này khi mà tâm nhiếp vào định rồi thì cực kỳ tỉnh giác. Định và cái sự tỉnh giác đi đôi. Định sâu chừng nào thì sức tỉnh giác sáng chừng đó. Đó là người vừa định vừa ngộ. Còn cái người mà định mà không có sức tỉnh giác thì cái sự ngộ yếu, trí tuệ không có lanh lợi, trí nhớ kém. Nên ta để ý cái điều này.

[25:11]Một cái hiện tượng nữa là có người tu một thời gian cảm thấy hình như thụ động, thấy chán đời, tiêu cực, không còn tha thiết gì mọi chuyện trên đời.

[25:27]Có ai bị hiện tượng này không? Không ai bị hết.

[25:36]May duyên có cái tâm nguyện nên không có bị. Cái trường hợp mà thụ động chán đời này là cũng do cũng y như cái trí nhớ kém, là tâm có nhiếp được phần nào ít nhiều nhưng lúc đó cái biết không biết, sự tỉnh giác không có. Cho nên ở trong cái thanh tịnh lặng lẽ đó bỗng xuất hiện cái tư tưởng tiêu cực chán đời. Còn cái người mà đúng trong cái định á, tâm nhiếp được và cái tỉnh giác sáng, thì tự nhiên họ siêng làm việc hơn bình thường, làm việc không biết mệt, làm gì làm không chán và nhìn cuộc đời một cách bình an, bình thản, không có buồn vui thất thường, không có thấy chán đời. Cho nên ta thấy cái tỉnh giác quan trọng ghê.

[26:22]Thiếu nó là chúng ta đi sai liền. Mà định, chúng ta nhớ chỉ hai điểm này thôi, không vọng tưởng và cái biết rất là sáng, cái tỉnh giác rất rõ, chỉ hai yếu tố đó, nó làm thành cái thiền định của đạo Phật. Chỉ như vậy thôi. Những cái hiện tượng mà thụ động chán đời là ta cũng nhiếp tâm được một phần nào nhưng mà cái biết nó kém quá, cái tâm trạng tiêu cực xuất hiện. Nên ở đây vậy, chúng ta cứ việc thắp cái biết cho nó sáng trở lại. Thế thôi, bắt đầu tự nhiên ta ngồi yên vui, bình an, hoan hỷ lại.

[27:01]Cái hiện tượng hôn trầm, có ai ngồi thiền bị buồn ngủ không? Ngồi thiền thì buồn ngủ, nó có hai loại buồn ngủ. Loại buồn ngủ, một là buồn ngủ do mình do mình buồn ngủ thiệt. Tức là cơ thể mình nó mệt mỏi, nó cần cái giấc ngủ, cho nên lúc mình ngồi thiền, ngoài ý muốn nó nó nạp cái buồn ngủ. Một loại buồn ngủ thứ hai là do nghiệp. Tức là cái buổi thiền không phải là giờ mình thấy buồn ngủ, nhưng hễ bắt chân lên ngồi thì cứ riu ríu con mắt, một cái cơn buồn ngủ ở đâu che hết cả cái tâm mình mờ mịt mờ mịt hết, chìm vào giấc ngủ không cưỡng lại được. Mặc dù giờ đó là mình cũng vừa mới ngủ dậy, hoàn toàn bình thường, không phải là người thiếu ngủ.

[27:47]Thì đây là cái hôn trầm, hôn trầm do nghiệp.

[27:55]Có một dạng hôn trầm nữa là do phương pháp sai, nói sai nhưng nó cũng do nghiệp, nhưng mà nó cạn hơn, là do phương pháp sai, là khi vọng tưởng còn, chưa nhiếp tâm sâu, mà cái biết thiếu, rơi vào trạng thái chiêm bao mộng mị ở trong giấc ngủ liền.

[28:18]Thì ba cái trạng thái hôn trầm này chúng ta chữa bằng cách nào? Đối với cái hôn trầm mà do mệt mỏi thì mình chữa cách nào?

[28:36]Đi nằm xuống ngủ. Đối với cái loại hôn trầm mà mệt mỏi á thì khi mình ngồi thiền mà cảm thấy buồn ngủ thì xin vui lòng vào mùng ngủ. Đừng ráng. Mà đây là tôi nói nghiêm chỉnh chứ không phải nói đùa đâu. Giấc ngủ rất cần thiết để phát triển não bộ, cho nên thiếu ngủ người ta suy nhược thần kinh. Mà để chuẩn bị cho một đầu óc tỉnh táo minh mẫn là phải ngủ đủ giấc. Sau này khi nào sức định mình sâu thì giấc ngủ mình ngắn lại mà nó vẫn khỏe, lúc đó mình bớt giờ ngủ để tăng giờ tu. Cho nên cái việc mà mình tinh tấn á, nó phải cân đối với cái sức định của mình và cái thể tạng cơ thể của mình, chứ không phải tinh tấn do một sự áp đặt, ép buộc không thích hợp, vô lý, không phải vậy.

[29:27]Nên trước tiên khi mà chúng ta khởi cơn hôn trầm lên thì mình phải có cái trí tuệ, trí tuệ quan sát biết mình thuộc loại nào trong ba loại đó. Mà cái trí tuệ tự biết mình á, nó xuất phát từ đâu? Nó do cái chánh niệm thường ngày của chúng ta. Do là mình thường xuyên biết chính mình, quan sát tâm mình á, lúc đó cái trí nó sáng lên, mình phân biệt trong cái đường tơ kẽ tóc cái loại hôn trầm đó là loại gì. Cơn buồn ngủ xuất hiện thì mình biết nó là loại mệt mỏi do mình kiểm soát lại trong ngày đó mình bận rộn, buổi trưa không ngủ được, làm việc nhiều quá, vân vân, thì mình ngủ đi, ngủ nửa tiếng, một tiếng, xong trở dậy rửa mặt cho tỉnh táo, rửa mặt rồi lại ngồi tiếp.

[30:14]Nhưng đây là việc cần thiết. Có một thiền sư ổng ngồi thiền bị buồn ngủ quá, ổng trị ổng bằng cách là ổng ra ngoài cái bờ vực ổng ngồi. Ổng nói: "Mình hễ mà hôn trầm một cái mình rớt xuống vực chết." Chính cái tâm trạng sợ chết á nó làm cho tan cơn hôn trầm, nhờ vậy mà sau này ổng đắc đạo. Câu chuyện này tôi không biết thiệt hay giả. Cứ nghe kể như vậy, cứ cho là thiệt. Thì đối với một trường hợp của thiền sư áp dụng, nhưng có những người bắt chước ổng thì té một cái chết ngắt rồi thì sử không có ghi nha, nhớ điều đó. Nhớ điều đó. Mấy người mà nghĩa là bắt chước cái đó chết thì không ai thèm ghi sách

[30:50]sử chi cho nó bỏ bu, mà mình chỉ nghe thấy cái người mà họ chống lại cơn hôn trầm một cách phi thường, gan dạ, thành công, mình bắt chước, nhưng bắt chước mình thành công hay mình chết luôn thì không biết. Nếu mình thành công thì sách sử sẽ ghi, mà mình chết luôn thì không ai ghi, mà người sau tiếp tục không có kinh nghiệm. Người sau mà nghe họ cũng không biết, họ cứ tưởng phải làm như vậy mới thành công, mới chiến thắng được hôn trầm, còn cái trường hợp mà người chết luôn thì không thấy ghi. Nên ở đây mình phải tự biết mình, tinh tấn một cách hợp lý. Do cái chánh niệm mình biết cái loại hôn trầm

[31:19]mệt mỏi, do cái sa sút trong cái ngày đó. Như hồi đó tôi ở trong chúng cũng vậy, cứ đúng giờ ngồi thiền, đúng giờ ngồi thiền, mà cái công việc thì nó nó bất thường. Có những ngày mà buổi trưa mình phải lao động mệt quá, công việc thì trong chùa mệt quá chịu không nổi, mà tới tới 7:30 gõ bảng là phải phải lên ngồi thôi, chứ không có được nghỉ, mặc dầu đuối lắm rồi. Thế là tôi phải đành. Vì mình mà bỏ đi ngủ á thì sẽ bị cuối tháng là bị sám hối, phiền phiền phiền, nó cũng không nên, không tốt. Nhưng nhất là những trong mùa hạ, có nhiều nơi tới họ cũng an cư trong chùa mình, mà hôm đấy mình là một trong chúng ở trong cái

[31:57]chùa, nào giờ mình cũng lại là cái chúng mà lâu năm, lớn Đem lên thỉnh nguyện. Thưa Thầy, bữa đó con buồn ngủ, con mệt quá con bỏ ngồi thiền một bữa, nó mất cái hệ thống cái chùa. Cho nên đành phải ráng mà ngồi thiền. Mà tôi biết là ngồi không thể nổi, mệt quá. thì làm sao để phân biệt? Bỏ đi ngủ thì dứt khoát không được, phải ngồi, mà ngồi thì chắc chắn là không thọ nổi, buồn ngủ quá. Thì hồi

[32:27]đó đó, tôi ngồi tôi bắt chân kiết già nghiêm chỉnh, ngồi thẳng lưng tôi nhắm mắt tôi ngủ luôn, thì không ai biết tôi ngủ cả. Mấy huynh đệ đi tuần thiền á, có mấy vị thầy lớn đi đi qua đi lại thấy tôi ngồi bất động nghiêm chỉnh, tới giờ gõ beng beng cái buông chân xuống chạy về giường bay lên giường ngủ luôn, cũng khò luôn cũng ngon ơ hà. Mà điều đó hợp lý. Còn cái trường hợp mà do nghiệp... Dạ, thưa Thầy...

[33:04]như là cái ra-đa vậy... ngồi thiền... Mà sư cảm thấy là sau khi mà như vậy rồi, cái thức tỉnh cái... mình ngủ phải không? Sau khi ngủ sư mới ngồi lại hay gì phải không? Mà sư thấy ngồi tốt? Tốt thì... thì không phải do nghiệp. Đây là một cái góp ý sư nói rất hay. Tức là sư trường hợp lạ là sư mà cơn buồn ngủ kéo tới trong khi ngồi thiền thì một lát nữa mây kéo tới. Mà như vậy là... như là thân thể mình nó báo trước bằng giấc ngủ. Có khi là hồi nhỏ mỗi lần mà trời mưa cái sư hay ngủ không ta? Chứ bây giờ nó lặp lại?

[33:55]Khi bắt đầu sư hạ thủ công phu... Có lẽ đây là một cái dạng phản ứng của cơ thể hả? Và nếu sư cảm thấy rằng nó khỏe sau đó mình không bị buồn ngủ tiếp thì như vậy là tốt, nó hợp lý với cơ thể. Cái trường hợp là thế này: ví dụ như mình buồn ngủ do nghiệp, hễ ngồi thiền là ngủ, không ngồi thiền thì tỉnh queo, không buồn ngủ. Bắt chân lên ngồi lại thì buồn ngủ lại, cái này là do nghiệp. Thì lát nữa mình nói về trường hợp thứ hai là do nghiệp. Thì do cơ thể là... tôi nói do mệt mỏi, sư Hỷ góp ý thêm là do bệnh lý. Và... À, bây giờ chúng ta nói tới hôn trầm là do nghiệp. Do cái nghiệp gì đời trước mình đã gieo không biết,

[34:39]mà bây giờ hễ bắt chân lên ngồi là buồn ngủ. Xả ra đi thì tỉnh queo. Nói chuyện thì không buồn ngủ, mà bắt chân lên ngồi là buồn ngủ. Mà cái cảm giác buồn ngủ nó u ám, kỳ lạ lắm, kỳ lạ. Cái này mình tự biết, mình đã cảm thấy cái cơn buồn ngủ nó khác hẳn cơn buồn ngủ của cái mệt mỏi hay bệnh lý. Khác hẳn. Ở đây có ai bị

[35:01]không? Có ai bị? Chắc chắn người tu nào cũng trải qua cái này. Chư thầy có cảm thấy là nó u ám, mờ mịt, kỳ lạ lắm phải không? Nó khác với cái cơn buồn ngủ vì sinh lý.

[35:21]Cái nghiệp này thì nó do nhiều nguyên nhân. Bây giờ tôi nói cái nguyên nhân nặng là nguyên nhân đời trước. Mình gieo cái nghiệp nặng á, đời này nó bị. Còn cái nghiệp của sư Tâm là nghiệp nhẹ, là nghiệp của đời này, là do cái tự hào bí mật. Trong một thời gian mình tinh tấn, mình cảm thấy mình hơn người khác. Chính cái tâm lý tự hào bí mật nó phát sinh cái nghiệp, nó tạo thành cái cơn buồn ngủ nó chặn cái công phu mình lại. Hoặc là nó tạo thành vọng tưởng. Cái tâm tự hào này ghê gớm lắm. Sau này mình, lần tới sau này đó, khi bắt đầu mình giảng về những loại sở đắc, cái tâm sở đắc hay vô sở đắc,

[35:56]mình sẽ trở lại cái tâm tự hào để mình đào sâu kỹ hơn. Thì hôm nay mình nói sơ sơ về nghiệp của cái hôn trầm ha. Là người này đời trước tạo cái nghiệp gì? Không thể là, có thể là đời trước hay là mấy chục kiếp trước, vô tình có một lời phỉ báng Tam Bảo. Lúc mình chưa biết Phật pháp, cái mình thấy những người thân của mình đi chùa, mình bực mình, công kích Phật pháp. Rồi qua những kiếp sau mình được giáo hóa, được những vị thầy nào đó có đức độ giáo hóa mình rồi mình theo đạo Phật. Theo đạo Phật bắt đầu mình phát tâm tu dần dần, tinh tấn tạo phước từ từ đến bây giờ mình nỗ lực tu hành. Thì cái nghiệp mà công kích Phật pháp từ năm bảy chục kiếp trước nó

[36:39]rớt lại, cản trở cái tâm linh của mình, mình không tiến được. Hoặc một cái nghiệp khác là từ tiền xưa mình không biết tu thiền, mình tu pháp môn khác với thiền, thấy người khác tu thiền mình có công kích, có công kích. Thì cái nghiệp này nó gần đây thôi, có thể kiếp này cũng bị mà một vài kiếp trước mình có bị. Thì đến khi mình ngồi thiền tự nhiên nó u ám, hoặc là hôn trầm hoặc là vọng tưởng dồn dập. Nó làm cho mình bức xúc, khó tu. Bức xúc, khó tu. Thì để trị cái này thì nó có... Như tôi nhớ bản thân tôi nè, xưa khi mà tôi nhập thất tôi hạ thủ công phu, khi mà cái cơn buồn ngủ nó kéo tới, tôi đang ngồi như vầy mà thường thì tôi

[37:24]không bị buồn ngủ, tôi ngồi thiền thì cũng tỉnh táo, cũng tịnh, mà khi nghiệp nó kéo tới rồi, mờ mịt mờ mịt hết, mà mình quyết tâm tôi đứng dậy tôi đi, tôi đi kinh hành để mà chống lại cơn buồn ngủ. Nhưng cái thất tôi hồi xưa làm rất nhỏ, đi từ cái giường đến cái tường. Trời thì ban đêm khuya lạnh tôi cũng không muốn đi ra ngoài kinh hành. Trời đất ơi cái thất nó nhỏ lắc nhắc, tôi đi tới đi lui, đi chừng ba bốn vòng quẹo qua trở lại, đi tới đi lui mà nó buồn ngủ đến độ tôi té đập đầu vô vách tường, rồi đứng lên lại, không chịu thua, tiếp tục đi nữa, cho tới chừng nào nó tan cái cơn buồn ngủ đó mới mới ngồi thiền trở lại.

[38:01]Cho nên khi mình chiến đấu như vậy nên cái thứ nhất là dùng ý chí, để chiến đấu với cái loại loại mà hôn trầm do nghiệp này. Cái đó mình phải có ý chí.

[38:15]Cái mà hôn trầm mà do mệt mỏi á thì mình không dùng ý chí, mà do sự khôn ngoan mình có thể đi ngủ, nghỉ ngơi. Nhưng mà cái hôn trầm do nghiệp là mình phải dùng ý chí để vượt qua. Tại vì cái nghiệp này là có sự giải đãi, tích nhiều đời trước của mình đã đã rớt lại, đã tạo thành, nên thứ nhất là dùng ý chí vượt qua như tôi nói là phải cố gắng đi kinh hành cho tan cơn buồn ngủ. Hoặc có vị thiền sư như ngài Từ Minh á, ngài ngồi thiền mà buồn ngủ ngài lấy cái mũi giáo, ngài đâm vô bắp đùi để cho đau đớn. Hoặc có người mà ngồi ngay vực thẳm sợ té, không buồn ngủ. Tức là mình dùng ý chí tối đa để mà chống lại cái cái hôn trầm do nghiệp, đó là cái thứ nhất.

[38:55]Cái thứ hai là tạo công đức trong đời sống trở lại. Cái chữ công đức này là tôi nói trên hai phương diện là cả phước và đức, tôi gọi chung là công đức trong Phật pháp, phước và đức như thế này: Đối với cái đức là tâm mình coi lại mình có cái ngã mạn, tự hào? Mình thấy người ta tu không bằng mình, có cái đố kị hay không? Thí dụ như mình không có cái tự hào, ngã mạn, nhưng mà mình thấy huynh đệ mình tu tiến, mình có ganh tị không? Thí dụ như người huynh đệ mình nhiếp tâm được, báo cáo rằng thấy ngồi thiền rất là lâu, nhiếp tâm được, mình có một cái gì đó nó ấm ức rằng sao mình thua người ta, mình chưa tiến được người ta chẳng hạn.

[39:35]Thì chỗ đó cho nên củng cố cái đức này lại, xem tâm mình còn cái lỗi đó phải sửa. Và thứ hai là tạo công, tức là tạo phước, thì đối với những huynh đệ mà tu hành xung quanh mình, phục vụ, phục vụ, lo cho họ miếng ăn, giấc ngủ, thuốc thang, tạo cho họ mọi sự thuận lợi để tu hành. Nên một là ý chí, hai là tạo công đức thì trị cái hôn trầm, cái hôn trầm này nó khốc liệt. Có những người bị cái nghiệp hôn trầm đeo đẳng hai ba năm thì bỏ thiền. Rồi có những người do cái tâm nguyện lớn từ nhiều đời họ không bỏ thiền. Nhưng có khi họ chiến đấu sáu tháng, một năm trời mới tan được, tới khi nào mà nó hết nghiệp cũ, ý chí nó tăng lên, công đức đủ thì phá tan được.

[40:20]Cái nghiệp hôn trầm ghê. Cái trường hợp hôn trầm thứ ba là do phương pháp sai. Phương pháp sai nghĩa là,

[40:33]có những người khi mà nghe nói tới cái nhập định, ngồi đó bất động không biết gì nữa, cái họ mới tưởng tượng là có một cái dạng nhập thiền định gì đó, họ ngồi họ mới tưởng họ ép cái tâm họ cho nó vào cái hư vô, thấy không? Đúng rồi, họ nghe cái chữ hư vô, Họ nghe cái chữ hư vô thì họ tưởng tượng đó là một trạng thái mờ mịt, mênh mông, mê man, tàn tịch nào đó. Cái họ ngồi đó họ nhắm mắt lại họ tưởng tượng cho nó phiêu diêu bay bổng, chính cái dụng công sai của họ ép họ vào trạng thái mơ màng, buồn ngủ, ngủ luôn như là ngồi ngủ luôn, chiêm bao luôn, đó là một cái dạng của phương pháp sai. Cái phương pháp sai này đó,

[41:16]cái phương pháp sai này mình kể tới là trường hợp có khi là phương pháp đúng, mà mình cái biết mình kém lúc vọng tưởng còn.

[41:25]Ví dụ như vọng tưởng còn, nhưng mà cái biết suy kém

[41:33]thì cũng làm cho mình bị hôn trầm. Còn cái vọng tưởng nó hết rồi mà cái biết kém thì nhiều khi nó hạ nên mình chìm lặng đi, cũng không đặng rơi vào trạng thái hôn tịch, chứ không có mất thấu. Nhưng mà bây giờ vọng tưởng còn mà cái biết kém là ngồi đó mà chiêm bao luôn, mơ luôn. Chúng ta đã nói qua ba dạng hôn trầm.

[41:59]Nó có trạng thái ngủ, tức là như nãy chúng ta nói lại là mình biết rõ cái thể tạng của mình, phải không? Cân đối cái giấc ngủ nó hợp lý, ở một mức độ nào đó gọi là hợp lý, nhưng mà nếu mình ít hơn cái đó thì đó là một cực đoan và nó nhiều hơn cái hợp lý đó gọi là giải đãi. Cho nên ở đây là chúng ta phải tự biết mình, tự biết mình rất rõ. Như mình cảm thấy là với cái sức định của mình hiện nay mình định chưa sâu lắm, cơ thể mình mạnh hay là khỏe, yếu cỡ này thì mình ngủ cỡ này mình cảm thấy là vừa. Với cái lao động hằng ngày của mình thì mình ngủ cỡ này là vừa. Nếu mình ngủ ít hơn thì mình sẽ cảm thấy nó tinh thần bị suy kém không tu được,

[42:41]mà nếu mình ngủ nhiều hơn thì nó sẽ rơi vào trạng thái là... Phương pháp mà ngồi mình niệm cái câu pháp, đó là hai loại. Một là chúng coi lại cái giờ giấc mình ngồi. Cái giờ giấc ngủ của Sư ví dụ như là: một, yếu tố thứ nhất là ngủ thiếu, vì khuya thức nhiều quá, ngủ không đủ. Với thứ hai là cái câu pháp mà niệm liên tục á là nó rơi vào trạng thái thấy không? Câu pháp là cái vọng tưởng cố ý, một loại niệm mà cố ý phải không? Niệm chủ tâm như mình đã nói. Nhưng mà khi cái niệm nó một cách quen thuộc, mà nó thuộc làu làu, nó tự khởi thì nó trở thành cái niệm gì? Niệm vẩn vơ, hôm trước mình nói rồi.

[43:21]Thì cái đó nó rất là nhẹ nhàng, nó giống một loại vọng tưởng. Và đồng thời mình không có tăng cường cái biết. Hai cái này cộng lại tạo thành giấc ngủ là rất đúng, đúng là công thức này. Còn cái trường hợp như sư đó mà gục mà đến nỗi không biết thì tôi nghĩ là cái này nghiệp gia tăng hơi nặng hẳn, nhưng mà hôn trầm của nghiệp á nó nó nặng quá cho nên mới có. Dĩ nhiên là cũng do cấu trúc của não, nhưng mà nó cũng xuất phát là do nghiệp nặng quá, nên cái người này là phải dùng ý chí và lòng dũng mãnh dữ lắm mới được. Ngủ nhiều quá đáng, chưa thích hợp với thể tạng mình. Thứ hai là cái câu pháp mà niệm liên tục trở thành thói quen thì

[44:00]từ cái niệm cố ý biến thành cái niệm vẩn vơ của vọng tưởng. Và cái biết không được thắp sáng. Hai cái này cộng lại tạo thành giấc ngủ, mình vừa mới nói qua. Bây giờ mình nói qua vấn đề hôn tịch. Cái trạng thái hôn tịch là cái trạng thái nó không phải là một giấc ngủ. Mà nó là một người đã nhiếp tâm được, không có vọng tưởng nữa. Nói không vọng tưởng nữa thì mình phải hiểu là không có vọng tưởng thô thôi, chứ vọng tưởng tế thì đương nhiên là còn. Tức là người không có vọng tưởng thô. Cái hôn tịch là thứ nhất là không còn vọng tưởng thô nữa, vọng tưởng rất tế thì còn, hơi thô thì hết rồi. Và thứ hai là cái biết này nó

[44:46]nó không phải là yếu nữa mà nó mất luôn. Nó mất luôn. Không vọng tưởng mà cái biết mất luôn. Cái người này là trong đời sống bình thường khi họ chưa tu đó, lòng họ rất ít vọng tưởng, lòng họ rất ít vọng tưởng, nó nhẹ nhàng như mây như gió. Thấy họ sống một đời sống vô tư, hiền lành, ngây thơ, thật thà. Nên khi họ vào đạo thì tâm họ dễ vào định. Nhưng mà chính vì cái ngây thơ, hiền lành đó, đơn giản quá mà thiếu cái tỉnh giác. Lúc mà họ ngồi họ không được thiện tri thức hướng dẫn kỹ thì cái biết từ từ nó tắt dần, tắt dần, tắt dần. Họ vẫn cảm thấy không có gì xảy ra hết, mà họ không có cảnh giác,

[45:22]họ vẫn cảm thấy êm ả đi, ngồi hai ba tiếng, ba bốn tiếng, bốn năm tiếng luôn. Rồi cái biết tắt luôn, mất luôn, nên sẽ rơi vào trạng thái gọi là hôn tịch.

[45:36]hôn tịch, nhưng mà rất là tịch diệt mà mê man.

[45:43]Người này cũng là có cái phước tu chứ không phải là không, nhưng mà không có cái duyên gặp thiện tri thức để mà đánh thức, đánh thức cái biết của họ dậy. Những người này đó, khi họ ngồi thiền bốn tiếng, năm tiếng, sáu tiếng, một ngày, hai ngày cũng được. Họ hôn tịch, họ ngồi qua đêm, từ đầu hôm ngồi tới sáng cũng được, mà hỏi không biết gì hết. Cho nên họ không chứng đạo được. Mặc dù tâm họ rất là yên, nhưng không chứng đạo được, vì thiếu cái biết. Nên đối với người này mà bị trạng thái này thì phải buộc họ điều thân lại để tập cho họ quan sát cái thân của họ để tăng cái biết lên. Buộc họ phải tu chánh niệm trong đời sống, đi đứng nằm ngồi luôn luôn quan sát

[46:19]cái tâm kỹ, biết cái tâm thật rõ để thắp cái biết cho nó sáng lên. Rồi phải dùng cái câu mà tự nhủ như nãy tôi nói: cái tâm nó thanh tịnh, biết thật rõ, biết thật rõ. Tự nhủ ám thị như vậy nó thắp cho nó sáng cái tỉnh giác lên, sáng cái biết lên lại. Chữa được nhưng mà chữa lâu lắm. Tại họ quen cái biết họ mất rồi. Tâm họ yên cái nó chìm mất luôn, mất biết, thành ra chưa họ không bị điên. Người có cái phước, họ không có cái nghiệp để bị điên, chỉ là rơi vào trạng thái hôn tịch thôi. Còn người mà có nghiệp nặng á, nghĩa là không có vọng tưởng, hết vọng tưởng mà cái biết tắt là điên liền. Nghiệp ở trong vô thức nó tự động trỗi dậy.

[46:58]Cái biết mất tức là cái ý thức mất. Mà vô thức của họ là cái vô thức bệnh hoạn, đầy nghiệp, nó sẽ khởi lên thành một cái ngã mới, nó quậy tan nát luôn, thành ra điên, điên khùng. Hai cái này cộng lại là một là hôn tịch, hai là điên, do người cái nghiệp phước khác nhau. Nếu cái người không nghiệp thì chỉ rơi vào hôn tịch, còn người mà có nghiệp, vô thức nó trỗi dậy nó quậy là điên. Nên cái biết tỉnh táo bình thường quan trọng lắm. Có

[47:31]nói hiện tượng khác là có người ngồi thiền, tu thiền một thời gian bỗng nhiên cái đạo đức bị sa sút. Quý Sư có chứng kiến ai bị không? Là thấy người đó hồi xưa chưa tu dễ thương, tu thiền một thời gian bỗng nhiên là tánh tình khó chịu liền. Hơi cằn nhằn, cự cục, ích kỷ hơn, nóng nảy hơn, sân hận hơn này kia ha. Sư có chứng kiến ai bị

[48:01]không? Có. Có trường hợp này là ai vậy? Khi họ chưa biết tu gì hết trơn thì dễ thương, tới tu được một thời gian bỗng nhiên lại tánh tình khó chịu. Hồi lúc mà tôi ở trong chúng này, tôi cũng có nói đùa, tôi hay nói với huynh đệ, tôi nói: "Ông nào mà chưa ngộ đạo á thì tôi chơi được, còn ông nào ngộ đạo thì tôi hổng dám chơi nữa". Sợ cái chữ "sở đắc" này. Khi họ có cái kết quả nào đó,

[48:33]có sở đắc, thì ngay lập tức ngã mạn kéo vô. Kỳ lạ. Bởi cái con đường đạo thật là mênh mông phức tạp. Mình cứ nghĩ là tu tiến thì cái đạo đức nó tăng, không ngờ tu có kết quả thì đạo đức lại mất.

[48:54]Cái đó là do nó cái giáo lý sai. Như chúng ta hôm trước chúng ta nói, ngộ đạo á, cái thiền trán nó mở ra, mà người đó cứ quan sát cứ chiêm ngưỡng cái rỗng rang phía trước mà không lui lại phía sau á, thì lúc đó là cái cái ngã nó tuôn ra. Tới thêm cái dạng này. Cái dạng tự tánh, mình cứ... sợ cái danh từ "tự tánh". Nghĩa là Thiền tông Trung Hoa là luôn luôn dùng hay thích dùng cái chữ này. Tôi thì tôi dị ứng. Tại vì cái chữ "tự" đó, nó hàm ý gì? Phải không? Chữ "tự". Nếu người ta

[49:32]dùng cái chữ là thể tánh, chân tánh, cái gì đó, nó không có cái chữ "tự" á, thì nghe nó có vẻ nó không có riêng lắm, ha. Nhưng mà dùng chữ "tự tánh", có cái chữ "tự" là nghe cái nghĩa duy tự, duy ngã ở trong đó.

[49:49]Chữ tự nó chỉ riêng, nghĩa là riêng, cho nên nó ẩn chứa cái gì? Mà hễ riêng thì nó ẩn chứa cái gì?

[50:00]Ai mà nói chứng tự tánh gì tôi né liền, tôi không dám nói. Thì hễ cái tự nhiên mà đi như vậy.

[50:07]Nên họ mới xuất hiện được cái trạng thái tỉnh giác của ngộ đạo đúng không có sai, đúng họ tu có kết quả. Nhưng mà do tưởng lầm. Hôm trước chúng ta đã nói với nhau cái con đường tâm nó rất là dài, cái ý thức nó ngắn cỡ này thôi. Dù họ có xuất hiện trạng thái ngộ đạo nó vẫn còn đứng ở trạng thái ý thức chứ chưa vào trong vô thức được. Thấy không? Nhưng mà cái tỉnh giác ở ý thức này họ lạm nhận là tự tánh. Rồi họ tuôn khởi kiến giải, họ nói thiền ngữ, hiểu thiền ngữ. Tức là bày tỏ cái được của họ, mà chính cái bày tỏ nó rơi vào cái lỗi.

[50:46]Bày tỏ cái hiểu của mình về thiền, hiểu của mình những câu thiền ngữ bí mật. Và khi mà nhận cái gọi là tự tánh thì củng cố cái ngã. Mà thực ra cái chỗ đến của mình còn rất xa, chỉ mới cái tỉnh giác ban đầu của ý thức đó. Mà mắc hai cái lỗi là khoe khoang, củng cố bản ngã, và thứ ba là lạm nhận.

[51:10]Lạm nhận là cái tỉnh giác rỗng rang đó chưa là gì mà lạm nhận nó là tự tánh. Thấy không? Chân tâm Phật tánh thì đặt cái tên nó rất là kêu, tạo thành cái tự hào âm thầm, âm thầm nó nung nấu trong lòng mình mãi. Nên người này cái ngã nó lớn, mắc bệnh khoe khoang, mắc bệnh lạm nhận. Và khi ba cái này nó hợp lại thì bắt đầu nó tạo thành cái gì? Cái đạo đức sa sút. Cái người này mình nói chuyện với họ, mình thấy họ cái ngã họ lớn, khoe khoang rồi bắt đầu xuất hiện nóng nảy. Khi mà xuất hiện cái nóng nảy rồi, cũng cái bản ngã nữa, nó lòi ra những bệnh khác nữa, cái bệnh, bệnh gọi là đố kỵ. Đố kỵ nghĩa là thế nào?

[51:54]Tự nhiên mình ác là cái chỗ này nè, tự nhiên mình không muốn có người nào khác thành công nữa. Đã cùng tu thiền với nhau vậy đó, nhưng mà nghe ở đâu người ta thành công mình cảm thấy khó chịu, đó. Cái tự, cái tự tánh này nó dễ đưa tới cái tự sát, tự tử,

[52:14]tiêu diệt cái công đức của mình.

[52:19]Nhưng mà khi những cái bệnh này nó hợp lại rồi, nó làm cho mình trở thành con người nóng nảy, khoe khoang, tự cao và đố kỵ. Như cùng huynh đệ tu với mình, mình nghe ai hơn chút mình không muốn, mình chỉ muốn mình là người duy nhất độ chúng sinh thôi, không còn ai được quyền độ chúng sinh nữa. Ví dụ có khi là cùng một ông thầy ra mười đệ tử, mười ông đệ tử đều ngộ đạo hết. Mười ông đứng ra mười góc, mười phương trời khác nhau để giáo hóa, nhưng rồi sẽ công kích nhau. Đây là hiện tượng mà Thiền Trung Hoa đã bị và Thiền Việt Nam cũng sắp sửa bị. Nếu chúng ta đọc lại toàn bộ cái sử của Thiền Trung Hoa,

[52:59]chúng ta sẽ thấy là khi mà một người từ một cái tông phái khác đến hỏi đạo ông thiền sư này là ông thiền sư bác ông kia thẳng tay, bác thẳng tay không thương tiếc. Mà trong khi ông kia là người ngộ đạo, ổng ngộ đạo thì ổng phải có cái kinh nghiệm của ổng, có phương pháp của ổng chứ! Chứ đâu có là tầm thường được. Nhưng mà bị bác luôn. Cho nên có những cái thầm kín chi phối. Nên

[53:22]chúng ta hiểu thiền sư ngộ đạo thì chúng ta đừng có tưởng là ai cũng đi hết con đường tâm này, chưa. Đa số đứng ở đây, nhiều lắm là qua khỏi ý thức một chút, đứng ở đầu ranh giới của vô thức. Rất hiếm người đến được tầng đáy của vô thức. Còn cái người mà vượt qua khỏi hết con đường tâm tới tuyệt đối thì như sao buổi sáng, như lá xanh mùa thu, rất hiếm. Cho nên những cái luận ngữ, những cái lục, kiến giải của thiền mà chúng ta đọc được ngày hôm nay đó, hầu hết không phải của những người đã đến tuyệt đối. Mà thường chúng ta đọc được của những thiền sư họ lý luận á, họ đang đi trên con đường này mà họ tưởng là họ tuyệt đối.

[54:02]Nên những kiến giải nghe rất trời xanh, nghe đủ thứ phức tạp, nhưng mà kỳ thực chưa phải là hoàn toàn. Mà tại sao tôi nói như vậy? Là bởi vì chúng ta phải biết điều này để chuẩn bị sau này, khi mà thế giới họ đến, khi khoa học họ bước vào thiền, họ mổ xẻ, sắp sẻ ra hết thì mình đã biết trước rồi,

[54:29]Mình không có bị sốc, không có vội vàng.

[54:38]Cái người mà muốn sửa lại thì sửa từ giáo lý của họ, kiến giải của họ. Yêu cầu họ trình bày kiến giải, cho đến khi nào họ hiểu thì thôi. Khi họ trình bày ra, xuất hiện cái điểm mình sửa liền, sửa liền. Tới khi họ hiểu rồi, xong rồi đó, họ mới cảm thấy rằng dù họ có được cái gì, tâm họ có vi diệu cỡ nào, họ được định cỡ nào, ngộ cỡ nào,

[55:02]thì chưa là gì trên con đường tâm này. Thì cái lý luận nó khác. Và khi họ đừng có lạm nhận cái tự tánh, họ phải hiểu cái thể tánh tuyệt đối đó là cái chung đồng, không có riêng nữa. Thì lúc đó mặc dầu mình được cái công phu sở đắc mà mình không dính. Mình không cảm thấy còn cái gì nó đang riêng là mình không chấp nhận nó. Ví dụ hôm nay mình đạt được cái định đó, đang được cái sức ngộ gì đó, nhưng mà mình cảm thấy nó vẫn còn riêng của mình, chứ không có chung đồng với vạn hữu, thì mình biết cái đó vẫn còn là dở. Nhờ mình biết nó là dở nên nó không có bị cái ngã mạn. Đây là cái điểm quan trọng. Khi mình tu, mình có cái kết quả, nhiếp được vào định,

[55:38]xuất hiện trạng thái ngộ, tâm rỗng rang, vi diệu, mà mình vẫn biết mình là dở. Thấy không?

[55:47]Chúng ta tu phải được điều này, ít ai được điều này. Khi mà mình nhiếp tâm được có kết quả thì mình đều thấy mình hay. Cho nên cái khó vượt qua, đó là lý do tại sao mà chúng ta không chứng đạo được. Là chúng ta vừa có kết quả, chúng ta cảm thấy mình hay, có cái tự hào, cái công đức tan, lui lại, lại dao động tâm ta, tâm lại biến đổi. Mai mốt nhiếp tâm lại được, thấy mình hay, cái công đức nó mất, lại lui lại. Còn người mà dù được cái gì vẫn thấy mình dở, người đó còn có công đức hoài. Nhưng tại sao, tại sao một người, ví dụ như cũng nhập định ngang cõi này đi, nhưng mà tại sao một người thấy mình hay mà một người thấy mình dở? Do cái gì?

[56:29]Cái tri kiến của họ.

[56:36]Cái chánh kiến của họ từ ban đầu. Cái người mà thấy mình dở đó là cái chánh kiến của họ từ ban đầu là họ biết là phải đi hết đây mới tới. Nên họ thấy là dở, mặc dầu tâm họ nhập định được một hai ngày, rực rỡ, sáng tỏ. họ biết là dở tại vì họ có cái chánh kiến từ ban đầu của họ. Họ nhận định về thiền, cảm nhận về thiền họ sâu xa, họ biết còn xa. Còn cái người mà cái chánh kiến ban đầu ít quá, họ không biết là cái đích nó nằm ở đâu, lờ mờ lờ mờ không biết, nên nhiếp tâm được tới chỗ này nó quá vi diệu. Tâm lúc này nó phủ trùm, thấy tâm mình nó lui lại được khoảng đời bao nhiêu kiếp quá khứ, thấy tâm mình phủ trùm cả vùng không

[57:14]gian rộng lớn, nghe thấy tâm mình đã được, xong rồi. Do cái chánh kiến từ buổi đầu, nên chúng ta nếu sau này chúng ta tu hoặc là chúng ta hướng dẫn người khác cho họ cái chánh kiến, cho họ một sự cảm nhận để họ nhìn thật xa, ta giúp họ không có bị tự mãn giữa đường. Vì chính cái tự mãn giữa đường mà ngày nay Phật pháp mình bị lu mờ, những người chứng đạo không nhiều do cái tự mãn nửa đường. Nếu mà trong Phật pháp chúng ta có sự giải thích cho nó sâu sắc để không bị cái tự mãn giữa đường, thì sau này Phật pháp sẽ được nhiều người chứng đạo hơn. Nhưng một hiện tượng nữa là cái tiếng nói bên tai.

[58:05]Có người ngồi thiền được định một thời gian, bỗng nhiên bên tai xuất hiện tiếng nói rồi xui, phải làm theo tiếng nói, tiếng nói nó buộc cái gì phải làm, buộc cái gì phải làm. Có một lần đó tôi đi đến tôi có việc chữa bệnh, tôi gặp một sư. Ông sư thì coi như là nói là bị bệnh điên và nằm chữa. Tôi mới hỏi ông sư tu thế nào, thì ông sư mới thành thật kể lại cái cuộc đời của mình. Đầu tiên sư không phải bên Khất Sĩ, sư bên một cái phái, cái chùa có vẻ là Bắc Tông. Sư thích cái hạnh của Milarepa, muốn tìm về được nguồn tu. Mà lúc đó sư còn ở thành phố Sài Gòn mà nhập định mà xuất hồn đi được á. Lát nữa mình nói tới xuất hồn.

[58:56]Xuất hồn đi được á, nên sư cảm thấy mình có cái trình độ vững, có thể từ giã thành phố đi được, không cần thiết nữa. Sư từ giã thành phố đi về sơn Châu Đốc, lên núi Sam tu. Tu theo cái kiểu là...

[59:14]cái đồn tu ở trên cái... Chùa

[59:22]gò gò xung quanh... Ai khó mới đón...

[59:33]Sư lên trên cao cái đồi đó tu nữa, có cái hang riêng để tu. Mà Phật tử người ta lên thăm sư là sư lại biến đi chỗ khác. Nên là ngồi thiền, sáng ngồi tới trưa, xả thiền ra... ...vượt thoát, thì nó lại nhập định không có nhiều, một hai lần rất nhanh. Có những khi ngồi nhập định từ sáng tới chiều, không mệt, rất là khỏe. Rồi bắt đầu thấy buông thư, con buông rất là nhanh. Buông thư là không có dùng sức nữa, không dùng... Rồi thì có một sự thăng tiến mà con thấy... rồi thì xuất hiện các ảo ảnh. Thì đó là, khi con ngồi, khi con đi, khi con làm việc, nhắm mắt cũng thấy, mở mắt cũng thấy, trên thực tế nhắm mắt thấy vô số những ảo ảnh.

[1:00:17]Và trong một cơn ảo ảnh con thấy có một ông già, râu ria tóc bạc đó, đưa tay xoa đầu, nói con là: "Đắc được Thủ Lăng Nghiêm tam muội."

[1:00:28]Nghĩa là rất nhiều ảo ảnh hiện ra như vậy, như là một sự khen ngợi, cho nên con cứ tiếp tục... Mà ảo ảnh nó tiếp tục càng lúc càng... Vô trong đó cả tuần, tới cái lần cuối cùng, ổng mới trừng mắt nhìn thì thấy trên trời rất nhiều thiên nữ mang hoa đến rải. Một thiên nữ mang một vòng hoa đến tròng vào cổ thì xiết một cái, giật mình la một tiếng. Từ đó Sư phát điên. Đầu tiên Thác Tiêu Sư là...

[1:00:58]thì nó mắc bệnh hoài có hết cái gì đâu. Sau sư lại... Sư làm, nghĩa là xúi Sư làm những chuyện phạm giới. Nhưng cái người, cái đối tượng nó vùng thoát được. Sau đó Sư lại... nó cứ bò qua tới nơi, ờ, cứ đổi tượng Phật quay chỗ này qua chỗ kia. Nhưng đến chừng bò lên ôm tượng Phật, Phật đổi chỗ rồi, chỗ này, qua bữa sau cũng thấy Phật đổi chỗ rồi, Phật bắt đầu quay lưng đổi... Nghĩa là khi đó... tức không thể kiềm tỏa, không làm chủ được mình, bỏ đi lang thang, đi về quê. Một lần cầm cuốc định đánh ông già mình, bởi vì cái tiếng nói bên tai: "Đang cuốc đất trỏng á, giống thằng điên đi tu hành ha." Cuối

[1:01:38]cùng bực quá em nó cầm cuốc định đập ổng già, nhưng mà ông già ổng né được. Hả? Xúi Sư làm đủ thứ chuyện, rất là tồi tệ, Sư không kiềm chế được. Hôm đó lúc mà ở gần tôi, tôi quan sát tôi thấy Sư bớt, lúc đó lại có cái cô đó đi ngang qua, cái Sư móc mắt vô nhìn cổ, nhìn trừng trừng. Giờ ngó ngó, nhưng mà cô đó về tôi mới hỏi: "Tại sao mà Sư không tỉnh được? Mà khi đó là..." Tui thưa: "Này, mày có tỉnh không?" Sư nói là: "Chắc lúc đó con tai... tai... Thấy người ta đi ngang ngứa tai, chứ không dám vô trừng mắt nữa, cứ ngước mắt nhìn." Tôi gặp một người cũng tương tự như vậy. Cũng một người ngồi bắt nhập định thì làm sao mà cứu được, ông nhập định được.

[1:02:23]Nhưng bây giờ mấy ông thầy nói gì mà lại nói là ổng qua hết à? Tại cảnh giới mấy thầy mà nói qua ổng qua hết, ổng nhập định qua suốt hết. Vừa nói tới định mức nào trỏng diễn tả còn sâu hơn nữa, nhưng mà nó vẫn bị. Chữa trị rất là vất vả, gian nan. Còn cái vị sư mà tôi kể là chết,

[1:02:48]Dĩ nhiên là mọi cái đều do cái nghiệp đời trước. Cái duyên của hiện tại, cái duyên cuối cùng của hiện tại để mà nó phát sanh cái bệnh là do gì? Nhưng

[1:03:07]mà khi nhịn đói lâu ngày, không ăn không uống, bắt đầu ảo ảnh xuất hiện, lúc đó không biết có cách nào để cứu người đó không thầy? Dạ không sợ đâu. Thức tỉnh rồi, cho nên là mình là thương xót người đó được. Nhưng khi tới giai đoạn ảo ảnh, giai đoạn này... Thất thần. Từ từ vô thức nó trỗi dậy, trỗi dậy. Mà ảo ảnh tức là vô thức sống dậy ngoài ý thức của mình. Mình đâu muốn có giấc mơ đó. Nó muốn tới thì nó tới à, khổ vậy đó. Đến lúc mà mất hoàn toàn ý thức, thì bắt đầu nó làm chủ tâm hồn mình. Thì có người là nghe tiếng bên tai của mình, có người là thấy có người tới nói chuyện bên tai của mình.

[1:03:48]Coi như là Thượng đế, thần linh đồ không hà. Ảo ảnh. Thế nhưng thế mà nhìn là biết liền. Nhưng cái nguyên nhân hiện tại, cái duyên cuối cùng để nó bùng vỡ luôn là: tự hào, tự cho mình là hơn người, tự cho mình là giỏi, tự hào. Không, nó

[1:04:09]vi tế lắm. Nhưng đây là những cái dại, tất cả các con, tôi vạch trước. Sau này ví dụ như là chúng ta tu được đến cảnh giới nào đặc biệt, nghe chưa? Hễ một niệm khởi nhẹ lên trong mình, nghe chưa? Là hoàn toàn sẽ bị tu sai, tai hại vô cùng, nghe chưa? Có một lần, hồi tôi nhớ

[1:04:32]hồi tôi mới bắt đầu tu, lúc đó còn cư sĩ, lúc đó tôi đang đi học ở trong ký túc xá, tới giờ khuya rồi, bạn bè nó ngủ thì tôi mới ngồi một mình tôi thiền. Hồi đó là còn khó khăn. Tôi ngồi trong cơn mê man có nghĩa là không tỉnh, lúc đó mà vọng tưởng còn nhiều hoặc bị hoặc bài. Tôi thấy một người giống như người đàn bà bước gần tới bên sát ngồi bên tôi, bắt đầu nói này tiếng nọ, thật là ghê sợ. Nhưng mà cũng may mắn là tôi được thầy tôi đã cảnh giác trước những sự việc đó. Nói người tu mà hễ xuất hiện như vậy là đều không phải. Ngay lúc đó tôi mở mắt lên, tôi không thấy nữa, rồi tôi tiếp tục. Cho tới khi thấy cái tiếng nói mất rồi thì mới tỉnh lại.

[1:05:21]Tôi mới tự đánh giá rằng: ừ, cái này mình còn mê, còn cái biết còn thiếu, và còn sợ. Cho nên ở đây một lần nữa chúng ta nhắc lại cái sự tỉnh giác, cái biết rõ rất cần thiết. Để giúp cho chúng ta vượt qua những cái trỗi dậy của cái vô thức, cái thói quen của vô thức. Để ý thức chúng ta luôn luôn tỉnh giác và mọi hiện tượng xảy ra đều như ảo ảnh. Thưa, xuất hồn.

[1:05:58]Xuất hồn là như thế nào? Đối với sự xuất hồn là tà đạo hay chánh đạo?

[1:06:12]Xuất hồn tà đạo hay chánh

[1:06:23]đạo? Tà đạo? Hả? Đúng. Chúng ta suy nghĩ xuất hồn là tà đạo hay chánh đạo? Không phải?

[1:06:44]Chánh đạo? Lạ lùng! Mà hồi trước này, trước năm giải phóng, có cái ông gì đó, ông Lương Sĩ Hằng, chuyên môn tu thiền xuất hồn. Cho rằng xuất hồn là cái đích của đạo Phật, à cái đích của tu hành. Họ xuất hồn họ đi cõi này cõi kia để họ học đạo tiếp, và nhưng khi mà chết rồi là bay ra hả? Không có, không phải chuyện này.

[1:07:11]Trong đạo Phật nó có cái danh từ tam muội... Cái tam muội này có nghĩa là dịch chữ Samadhi là đại định, nhưng mà nó chúng ta phải hiểu như thế này mới mới là đúng nè: Cái tam muội này nó không phải là cái định không có gì, mà cái định có cái dụng, có khởi dụng. Cái tam muội tức là cái định có khởi dụng.

[1:07:39]Ví dụ như cái người đó họ hiện hay là có nhiều cái loại tam muội quá tôi không nhớ tên hết. Có người họ thị hiện cái tướng gọi là

[1:07:51]ba hay là Kim Thân Tam Muội, họ ngồi đó là cái thân biến thành vàng rực. Có người thì họ hiện cái tướng gọi là Vô Lượng Quang Tam Muội thì họ ngồi thiền cái là cả phòng sáng rực, rực rỡ luôn. Tức là trong cái định đó họ khởi cái dụng ra, họ khởi muốn cái dụng đó. Có người họ hiện trong cái họ ngồi thiền thì họ dùng cái tam muội gọi là Nhất, Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội, thì bắt đầu họ phân thân ra nhiều thân, họ muốn biến thành hình nào cũng được, tức là toàn hảo. Cho nên cái tam muội, cái định mà có khởi dụng là cái Du Hí Tam Muội đó, mà gọi nôm na là xuất hồn. Trong đạo Phật có, nhiều thiền sư có.

[1:08:33]Như ngài à không nhớ tên, là ai thiệt không nhớ.

[1:08:49]Thưa quý vị, duyên khác thưa quý vị. Nó lạ như thế này:

[1:09:05]khi mà tâm nhiếp vào định, nó cạn chứ không nó cạn chứ không có sâu đâu. Khi mà người nhập vào định rồi, thì do cái tác ý của họ một cách cố ý hay không cố ý, à có không cố ý là họ không biết không muốn nha, nhưng mà do một cái thầm kín bên trong mà không biết, bắt đầu họ cảm thấy cái tâm của họ nó rời khỏi thân họ rồi nó bay vút lên cao kia.

[1:09:32]Cái tâm này chúng ta gọi là cái tâm thôi, chứ đừng nói gọi là cái hồn. Như chúng ta đã nói, Như chúng ta đã nói cái cái con người mình cấu tạo bởi cấu tạo vật chất và cái cấu tạo tâm linh. Thì cái tâm này chính là cấu tạo tâm linh. Có những người tu thiền mà là vô thức đó. Rồi nhập trong định rồi họ cảm thấy do họ cố ý là cái định có khởi dụng hoặc là họ không cố ý vô tình lần đầu họ không biết hết, chứ hồi nào giờ họ chưa từng biết cái này. Nhưng vô tình lần đầu trong cái tác ý bí mật trong vô thức mà không biết, nó thúc đẩy cái tâm linh của họ thoát ra khỏi cái thân bay lên không trung. Bay lên rồi bay đến cái này cái kia. Ví dụ như họ bay nhà con chó nó nói cái gì,

[1:10:12]sáng ra họ nói nhà con chó đó kể lại đúng là ta la làng hết. Có thật. Đây gọi là du hí tam muội.

[1:10:23]Thì cái trường hợp này nó có hay và có dở là thế này. Cái hay tức là người này có nhiếp vào định được, không phải là không. thành ra tam muội. Nhưng cái dở là cái gì? Nó giống như cái nhánh rẽ. Ví dụ cái tàn cây nó lên cao đó, thì nó có nhiều cái nhánh. Mỗi cái nhánh là một loại thần thông. Nhưng mà đây cũng là một cái bẫy và những cái cọng rừng nó dâng lên, nó dâng lên ở một cái cảnh giới huyền hoặc nào đó. Cho nên cái tam muội là cái định mà có khởi dụng, thì nó có cái hay là nó có cái năng lực phi thường, nhưng nó có cái dở là nó làm cho người ta bị lạc. Còn nếu không, cứ đi thẳng, cứ nhập cái định, cứ nhập cái định trọn vẹn thì nó

[1:11:10]không, thì nó không... Còn cái thiền xuất hồn của nhóm ông Tám Lương Sĩ Hằng á thì họ coi cái xuất hồn này, là

[1:11:17]họ lấy cái xuất hồn này là xong. Còn cái xuất hồn này thì cái lối dạy của họ nó có hay và có dở. Cái hay là đối với người có căn cơ định á, thành ra họ xuất hồn được. Họ cứ an trú trong cái xuất hồn này riết nên họ cũng thuần thục và điêu luyện trong cái xuất hồn này, họ cũng có những khả năng tâm linh như trị bệnh bằng điện này kia đồ vân vân. Nhưng mà cái dở của họ là cái phương pháp của họ nó không có khoa học, không đúng, nên rất nhiều người bị điên khi mà ép tâm mình để mà xuất hồn. Cái người ngồi mà chưa có định á, cái ngồi đó tưởng xuất hồn cái ép ép ép tâm mình đến chừng đó tưởng tượng cái tâm nó bay

[1:11:57]ra, rồi thần kinh não bị hư, rồi bắt đầu tâm thần.

[1:12:03]Còn cái người mà xuất hồn là do cái định tự nhiên của họ, nhiếp tâm định tự nhiên rồi đó, tự nó thoát khỏi cái thân này nó bay đi, nó tự nhiên nó không có ép. Còn mình không có định, mình cứ ép cái tâm mình cho xuất hồn, cho xuất hồn đi, không có xuất được mà cái não lại bị hư. Cho nên người mà tu theo xuất hồn rất nhiều người bị tâm thần, bị điên. Còn cái người tu theo đạo Phật á, họ không có muốn xuất hồn, nhưng mà do họ được định rồi do cái tác ý bí mật trong vô thức á họ thoát cái tâm ra họ đi. Họ cũng thọ dụng được cái xuất hồn là du hí tam muội, nhưng mà ở đây phải có, họ phải dừng lại, đừng có ham hố, đừng đi mãi cái chỗ đó, nó nguy hiểm, trở lại.

[1:12:40]Và cái cách phá cái xuất hồn này nó có hai cách phá, hai cách phá. Khi mình ngồi do cái tác ý trong vô thức bí mật đó thoát cái tâm mình ra mình bay đi, nó có hai cách để phá. Một á là do là do cái khởi cái cái niệm ám thị, tức là lúc đó mình biết liền, mình biết là mình đang xuất hồn lên không trung, mình biết rồi, bắt đầu xuất hồn rồi, cho nên thôi không đi nữa, trở lại, không nên đi vào tiếp con đường, nên do cái niệm, niệm do chánh kiến của mình, cái từ từ từ nó trở lại, bởi vì cái niệm nó làm chủ, nó tự trở lại. Đó là cách thứ nhất. Cách thứ hai nữa là, cách thứ hai nữa

[1:13:22]là khi mà mình thấy tâm mình thoát lên cao hay đi ra khỏi trời đó, thì mình chú ý lại hơi thở, biết rõ hơi thở nơi mũi, chú tâm biết rõ hơi thở nơi mũi, tự nhiên toàn bộ ảo ảnh tắt mất hết, rồi xuất hiện trở lại nơi cái thân của mình, đang ngồi. Nhiếp trở lại hơi thở, hoàn toàn nhiếp lại hơi thở. Thì ảo ảnh gì mà nó xuất hiện, mình chú tâm biết rõ lại hơi thở là nó tan biến. Nó có hai cách. Một là dùng cái kiến giải đúng, dùng cái niệm để mình chấm dứt cái ảo ảnh đó, cái tam muội đó. Hai là do mình chú tâm biết vào hơi thở nơi mũi thì nó cũng tắt được ảo ảnh. Đó, nên như trường hợp của sư mà trở lại do cái chánh kiến, phải không?

[1:14:07]Là cái chủ động của mình trở lại. Đó là trường hợp thứ nhất, là phá cái cái cõi. Nên nó không sai đâu, nó không sai đâu. Nhưng mà nó là một dạng nhánh rẽ, một dạng tam muội mà trường hợp của sư là do do không không cố ý, tại vì trong vô thức nó ngấm ngầm đâu đó rất là sâu xa, nó tự động nó trồi lên. Còn những người mà bên xuất hồn thì họ cố ý cho nó khởi lên được. Nhưng có nhiếp tâm được thì nó mới xuất hiện cảnh đó. Họ mà đời này có tu tới đó, hoặc không là đời trước ông nào có tu. Giờ nói tới thần nhãn khai phát. Thần nhãn khai phát là

[1:14:51]như một người ngồi, họ ở trong định, bỗng nhiên họ thấy được cái cảnh rất xa. Cách đó mấy trăm cây số, họ cũng thấy người thân nào đó tự nhiên hiện lên. Mà đặc biệt là thấy người kia đi tới đi lui làm cái gì đó rõ ràng như là trên màn ảnh vậy. Đó là thần nhãn. Thần nhãn khác thiên nhãn. Thiên nhãn là phải tới tuyệt đối, phải không? Cái này là thần nhãn. Thì cái này nó cũng phải người nhiếp tâm dữ lắm mới có được. Dưới ý thức qua khỏi ý thức một chút rồi mới có những trường hợp này. Cái này thì nó cũng là một dạng tam muội vậy thôi, là thần nhãn, cũng là một dạng tam muội. Và dĩ nhiên cái tam muội nào cũng vậy nó cũng có cái hay dở.

[1:15:34]Cái hay nó là mình nhiếp tâm được, đôi khi mình cũng biết nhiều điều kỳ diệu. Nhưng cái dở của nó cũng là nhánh rẽ, làm cho mình không tiến sâu vào được định nữa để đi hết con đường tâm của mình. Và cách phá nó cũng là hai loại: một là mình chủ động kéo tâm lại trong cái thanh tịnh vô tướng, không thấy cái cảnh đó nữa, là cách thứ nhất; cách thứ hai là mình chú tâm trở lại hơi thở nơi đầu mũi. Thì như vậy á, cái những cái cảnh tượng hiện ra nó tắt, tâm mình không còn phóng xa nữa, mình lôi trở lại liền. Cái hiện tượng mà thần nhãn khai phát á là tâm mình nó phóng xa bỏ xác, phóng rất xa, đi tới mấy trăm cây số như vậy.

[1:16:12]Nhưng mà khi mình biết như vậy, mình kéo tâm lại, chú tâm lại vào hơi thở và mũi thì nó cũng được. Nó có nhiều quá.

[1:16:26]Có nhiều cái trường hợp mà ngồi tu nó có những trạng thái khác nhau khác nhau. Thì đúng ra là

[1:16:34]mỗi người mình nên đặt vấn đề mà hỏi, trao đổi ha. Nó cũng còn một số vấn đề mà chưa rõ. Như người mà ngồi mới ngồi thì rung người, rùng mình, nó khác nhau. Còn đó là rung chân, rung mà rung chân nè, rồi có người mà bất ổn. Hai cái người ngồi gần bên, tôi nhìn thấy một người là dằn ép trên não mà rung chân. Tôi nói là tu, nhưng mà tâm định để nó không dằn ép nữa thì nó không rung nữa sao. Còn một người thì, à không phải, cái người đó tôi nói là do dằn ép trên não nên bị rung chân, nên tu hóa giải dằn ép đó nó hết rung. Còn một người rung thì tôi nhìn thấy nó là do nó căng cái gân ở dưới chân nè.

[1:17:18]Tôi nói là: Xả bớt, buông ra cho nó hết căng cái gân thì nó hết. Đúng là thấy chú kia khi mà ngồi nhẹ nhàng, hết căng cái gân cái là nó hết giật, hết gồng luôn. Còn cái chú mà tôi nói dằn trên não thả ra, xả bớt, tu không dằn nữa, thả lỏng ra thì hết cái rung. Cho nên tùy, mỗi hiện tượng nó phát ra nó có nguyên nhân tiềm ẩn của nó, mà mình phải trị tận nguyên nhân của nó mới hóa giải được. Ở đây thì nó còn 3 phút. Ai hỏi, trao đổi được một người, hai người, ta ngồi tiếp.