[0:02]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên chư Tôn đức Tăng Ni. Kính thưa đồng bào Phật tử. Hôm nay cái bài nói chuyện của ta là nói về Tăng Ni, người xuất gia. Xuất gia có gì khác biệt? Hôm nay ta sẽ nói chuyện đề tài này với nhau nha. Xuất gia có gì khác biệt? Để ta hiểu về Tăng Ni hơn. Để ta hiểu về Tăng Ni hơn nghĩa là sao? Nghĩa là ta cưng Tăng Ni hơn nhưng mà cũng canh kỹ hơn, canh chừng kỹ hơn. Tăng là ai? Nó là một trong ba ngôi báu của Đạo Phật: Phật, Pháp, Tăng. Phật thì là Đấng giáo chủ, một bậc giác ngộ siêu phàm đã khai sinh ra một Đạo Phật, một tôn giáo mà suốt mấy nghìn năm qua chỉ đem những điều tốt đẹp cho thế giới này,
[1:00]một tôn giáo mà được những người trí thức nhất, những người nhân bản nhất đều yêu quý, đều ca ngợi. Nghĩa là khi xã hội văn minh tiến bộ thì người ta càng thấy Đạo Phật là là điều tốt đẹp cho con người. Và ta hay thường dẫn cái câu nói của nhà bác học Einstein ca ngợi Đạo Phật hết lời. Ông nói một tôn giáo mà dẫn đầu cho khoa học, một tôn giáo đại diện cho văn minh của nhân loại, thường nói như vậy. Cho nên từ cái câu nói của Einstein mà nhiều người trí thức cũng tìm về đến với Đạo Phật. Và người ta thấy rằng tôn giáo nào cũng bắt nguồn từ cách đây rất xa, mấy nghìn năm cả, vào cái thời mà khoa học chưa tiến bộ,
[1:46]thế giới chưa hội nhập, con người ít có phương tiện để hiểu biết nhiều. Cho nên các tôn giáo xuất hiện vào những cái thời đó nói thật ra cũng đều mang theo những điều sơ sứt gì đó. Vì lúc đó kiến thức con người còn ít quá, nên bắt buộc cái kiến thức, cái quan niệm, quan điểm, giáo lý của tôn giáo đều bị một cái hạn hẹp nào hết. Tôn giáo nào cũng bị như vậy, vì xuất phát từ mấy nghìn năm rồi. Nhưng chỉ riêng Đạo Phật cũng vậy, cũng xuất hiện từ mấy nghìn năm trước, nhưng mà khi xã hội tiến bộ văn minh lên thì Đạo Phật vẫn phù hợp như thường, vẫn đúng như thường. Đây là điều đặc biệt như vậy. Vì vậy mà ta tôn kính Đức Phật biết bao nhiêu.
[2:37]Một vị khai sinh một tôn giáo nói lên được cái chân lý của con người, chân lý của vũ trụ và cái may mắn, cái sáng suốt của cha ông ta đã chọn Đạo Phật là quốc đạo từ ngàn xưa, từ thời Đinh. Từ bắt đầu Đạo Phật đến đó là cha ông ta đã đón nhận về liền. Mà đón nhận về không phải vô tình ngẫu nhiên, mà đây là sự chọn lựa có trí tuệ của cha ông ta. Đến đời nhà Lý, đến đời nhà Trần, Đạo Phật và đất nước bước vào thời kỳ rất là hưng thịnh. Cái việc mà ta có cái sức mạnh để chiến thắng quân Nguyên Mông cũng là từ sức mạnh của Đạo Phật. Thì lúc đó có một cái nhân vật, một nhà làm quan lớn của triều nhà Trần là Trương Hán Siêu.
[3:26]Thì ông này ổng không ưa Đạo Phật lắm, ông không ưa Đạo Phật lắm. Lý do là thế này: thì lúc ổng còn trẻ, ổng là học trò của Trần Ích Tắc, Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc. Mà Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc là em ruột của vua Trần Thánh Tông, là chú ruột của vua Trần Nhân Tông. Thì lúc đó bên quân đội thì Trần Quốc Tuấn, Trần Hưng Đạo nắm giữ, bên tình báo thì Trần Ích Tắc nắm giữ. Thì Trương Hán Siêu là học trò của Trần Ích Tắc, được đào tạo về tình báo. Thì lúc đó Trần Ích Tắc cũng là một người mộ Đạo Phật, cũng tu tập thiền định theo Đạo Phật vào thời đó, vì thời đó là các vua quan đều theo Đạo Phật cả.
[4:13]Vua Trần Thái Tông - vị vua đầu tiên của nhà Trần là một thiền sư cư sĩ mà; vua Trần Thánh Tông cũng là một thiền sư ngộ đạo; vua Trần Nhân Tông lại càng là một thiền sư nổi danh. Lạ lùng, một cái chưa từng có cái triều đại nào trên thế giới mà ba đời: ông, cha, cháu đều đắc đạo cả, lạ lùng chỉ có nhà Trần. Thì Trương Hán Siêu là học trò xuất sắc của Trần Ích Tắc. Sau này bị vu oan rồi phải trốn đi và bị Trần Ích Tắc ra lệnh truy sát, tìm đâu là được là giết đó. Trương Hán Siêu phải chạy về quê của mình ở Ninh Bình, trốn lên trên những rặng núi đá vôi, núp trong những cái hang ở đó. Mà đến khi Trần Hưng Đạo ông biết được tiếng,
[4:57]ông bí mật tìm về, móc Trương Hán Siêu về cho mình, làm việc cho mình. Nên trong sử ta thấy hay ghi là Trương Hán Siêu là môn khách của Trần Hưng Đạo, môn khách tức là người cố vấn á. Thì khi Trương Hán Siêu về cứ cố vấn cho Trần Hưng Đạo, chuẩn bị dàn trận đánh với quân Nguyên và lập lại cái hệ thống tình báo qua bên cho quân đội của Trần Hưng Đạo. Chứ lúc đó tình báo là Trần Ích Tắc nắm, bên đây khi Trương Hán Siêu về đầu quân với Trần Hưng Đạo thì dựng cái hệ thống tình báo cho bên Trần Hưng Đạo độc lập với Trần Ích Tắc luôn. Và do đó ta khi mà đánh quân Nguyên, ta có cả hai cái lực lượng vừa là tình báo vừa là quân đội là như vậy.
[5:34]Thì ông Trương Hán Siêu á, ông sống gần tới 100 tuổi á. Bao nhiêu đời vua đi qua mất mất hết rồi ông vẫn còn sống, Phạm Ngũ Lão rồi chết hết này kia nọ. Thì ông lúc đó ông không thích Đạo Phật, tại vì ông thấy Trần Ích Tắc, thấy Trần Ích Tắc tu như vậy mà đi phản quốc, tính toán những điều sai lầm hết. Nghĩa là vì ham cái chức An Nam Quốc Vương mà đầu quân với giặc Nguyên, nghĩa là bí mật bán dâng nước này cho giặc Mông Cổ, nên Trương Hán Siêu không thích Đạo Phật. Rồi sau này vua Trần Anh Tông mới thấy Trương Hán Siêu ông này làm quan lớn của triều đình, trong khi cả vua quan gì mộ Đạo Phật hết mà ông này cứ không ưa Đạo Phật mới khó chịu. Mà khó chịu thế này:
[6:17]bắt ổng trụ trì chùa Quỳnh Lâm ở Quảng Ninh, Uông Bí á. Tức là từ một người, một quan là theo nhà Nho, chẳng hiểu gì Đạo Phật, không ưa Đạo Phật mà bắt về trụ trì chùa Quỳnh Lâm. Thế là Trương Hán Siêu đi về đó trụ trì rồi mới nghiền ngẫm kinh Phật, rồi mới thấy Đạo Phật là vĩ đại. Một nhà Nho mới thấy Đạo Phật vĩ đại, nên khi ông về mà ông làm cái bài Bạch Đằng giang phú, ông mới nhìn ra được cái lõi của cuộc chiến thắng. Ta thấy rằng cái nhìn của ông là nhìn tới nơi thấu đáo. Vì ta nghĩ rằng sau một cái cuộc chiến đấu, sau những cuộc chiến tranh tàn khốc như vậy, biết bao nhiêu xương máu, biết bao nhiêu tài năng để
[6:57]cống hiến, thì nếu ta ca ngợi thì ta có nhiều điều để ca ngợi. Nhưng mà riêng Trương Hán Siêu thì nhìn được cái lõi của cái vấn đề của cuộc chiến thắng đó mà ông nói rằng cái câu này: "Giặc tan muôn thuở thanh bình / Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao." Tức là khi ta chiến thắng giặc không phải là vì đất ta hiểm, cũng không phải là ta khéo, ta hay, ta giỏi đâu, mà cái lõi là cái đức của ta cao hơn của giặc. Giặc hung manh như vậy, nó đông đến như vậy, cả một cái đế chế của nó trải rộng từ Mông Cổ tràn hết Trung Hoa, kéo hết châu Á, tràn tới châu Âu. Vậy mà đụng vào cái nước Việt Nam bé xíu như một cái nắm tay
[7:42]mà đánh không nổi chỉ vì cái đức ta lớn hơn cái đức của giặc. Trương Hán Siêu nhìn ra điều đó. Và đây là chọn lựa đúng của cha ông ta. Khi ta chọn cái Đạo Phật để làm cái nền quốc đạo cho quốc gia mình thì cái đức của quốc gia ta lớn hơn, mà cái đức của triều đại nó lớn hơn, mà chính vì cái đức lớn ta chiến thắng được giặc. Đây là điều lạ. Sau này Trương Hán Siêu có một cái chiến công mà sử không bao giờ dám nhắc tới vì cuộc chiến công tàn bạo quá. Là lúc đó ta biết vào thời nhà Trần thì vua Chế Mân là dâng cho ta hai châu Ô, châu Lý mà nay kéo dài từ Quảng Bình về tới Quảng Nam á, để mà được gả Công chúa Huyền Trân.
[8:27]Ta nhớ chuyện đó không ạ? Ít năm cái ông Chế Mân ổng chết thì theo cái tục lệ Chiêm Thành là vợ phải thiêu theo chồng, thì triều đình ta mới đem một cái cô cung nữ cũng che che cái mặt vô, chết thay cho công chúa rồi lén, nghĩa là ngụy trang, giả trang cho công chúa rồi dắt công chúa đem về kinh thành Thăng Long. Cho nên là thật ra là Công chúa Huyền Trân không chết, chỉ bởi vì ta tráo người, có một người chết thay. Thì cô về cô phải trốn trong lãnh cung tại vì không ra ngoài sợ bị tình báo Chiêm Thành nó biết rồi nó làm giặc lên. Nhưng mà rồi sau này đến cái đời mà Chế Bồng Nga lên, chuẩn bị Chế Bồng Nga lên thì nó mới từ Đồ Bàn ở Bình Định nó mới suối ra,
[9:09]suối người dân Chiêm Thành vẫn còn ở tại từ Quảng Bình về tới Quảng Nam nổi loạn, đòi đất lại, đòi quay về trở lại với Chiêm Thành, không có theo Đại Việt nữa. Lúc đó là giặc của Chiêm Thành cứ gây rối loạn, rối loạn. Những cái đoàn giống như biểu tình họ đánh phá từ Quảng Bình về tới Quảng Nam. Thì lúc đó Trương Hán Siêu đã già. Thì triều đình mới sai Trương Hán Siêu vào để mà bình định lại, định an lại cho dân vùng đó. Thì Trương Hán Siêu ổng về Huế, về Phú Xuân, ổng mới nghiên cứu. Sau khi ổng nghiên cứu hết rồi, ổng mới phát hiện ra một điều là bởi vì cái người Chiêm Thành họ vẫn nói tiếng Chiêm
[9:48]Thành, họ vẫn mặc đồ Chiêm Thành, họ vẫn thấy họ là người Chiêm Thành, rằng đất này của họ bây giờ biến thành của Đại Việt chỉ vì có cưới một cái người phụ nữ. Cái giá rẻ quá, bây giờ giá đất 1m2 là không biết bao nhiêu tiền nha, mà thời xưa mà mua từ bốn tỉnh như vậy mà trả có một người phụ nữ à, thấy nó oan quá, giờ nó đòi đất lại. Nó bán rẻ quá, bán hớ, giờ phải đòi lại. Nó cứ nổi loạn thì ổng thấy là lý do là bởi vì văn hóa khác biệt và người Chiêm Thành vẫn cứ tiếp tục là người Chiêm Thành nên họ nổi loạn, họ đòi đất. Nên sau khi nghiên cứu xong tình hình rồi, ổng mới ra lệnh là may rất nhiều y phục Đại Việt,
[10:26]may mà trợ cấp lấy tiền của triều đình may, may tràn ngập, mua giấy mực viết tràn ngập hết. Sau đó ổng ra cái lệnh, một cái lệnh bí mật truyền trong dân mà không được công khai. Kỳ hạn trong một tháng, ai mở miệng nói tiếng Chiêm Thành, mặc quần áo Chiêm Thành: chém đầu. Cái lệnh đó ra bí mật nên trong sử giờ không có ghi, mà chém cũng hết một mớ. Thế là người Chiêm Thành sao? Lật đật mua đồ Đại Việt mặc, mà mua mà bán với giá rẻ, vừa bán vừa cho. Và bắt đầu tập nói, cho nên cái người Chiêm Thành họ nói tập nói tiếng Đại Việt họ nói trọ trẹ thành tiếng Quảng Nam bây giờ á. Đây ta có nghe tiếng Quảng Nam chưa?
[11:04]Ví dụ như nói hai cái thì họ sẽ nói thành "hưa cớ", tự nhiên tám thì họ sẽ nói là "tốm", đó, cái bị méo chữ méo chữ là vì thời đó ổng ra lệnh trong một tháng phải nói tiếng Đại Việt nên họ học không kịp, rồi họ nói méo giọng luôn tới bây giờ. Và chỉ vì trong một tháng tức khắc mà họ biến người Chiêm Thành thành người Đại Việt. Lúc đó ổng cho giấy viết cho người đi tràn ngập dạy tiếng Đại Việt và phát quần áo Đại Việt. Trong vòng một tháng mà ai mà còn nói tiếng Chiêm, mặc đồ Chiêm Thành là giết liền. Mà đúng là cũng giết hết một mớ đó, thì ở đó một thời gian bình định liền, giặc yên hết luôn. Trong một vài thế hệ người Chiêm Thành họ không còn thấy mình là người Chiêm
[11:41]Thành nữa, đồng hóa trong giây phút, chớp mắt, hết giặc luôn, yên luôn. Trương Hán Siêu, cái chiến công cực kỳ lừng lẫy về việc đồng hóa Chiêm Thành đến giờ không ai biết tại ổng ra cái lệnh tàn bạo quá. Ổng ra mà hễ mà không nói tiếng Việt, không mặc đồ Đại Việt: giết liền! Chớp mắt hết luôn, đồng hóa cực lẹ luôn. Cho nên kéo dài từ đó về sau là ta thấy ta nuốt luôn Chiêm Thành, mà người Chiêm Thành chống gì chống, chống không lại nữa. Vì cái đức của ta lớn quá. Đức của ta lớn mà trong đó là... từ cái tâm linh của đạo Phật. Rồi sau Trương Hán Siêu từ Huế sau khi bình định xong, ổng giết một mớ người cũng hơi bị nhiều nên
[12:17]về qua ổng hết tuổi thọ, ổng bệnh ổng chết. Triều đình đưa ổng vào Văn Miếu thờ trước Chu Văn An. Khi ổng chết rồi, Phạm Ngũ Lão chết rồi, thì bắt đầu mới những tay mà lộng thần mới làm mưa làm gió trong triều đình, rồi lúc đó Chu Văn An một mình không làm gì được, không đối phó nổi, dâng cái cái sớ yêu cầu chém đầu bảy tên lộng thần, nhưng mà vua không nghe nên ổng cáo quan về Hải Dương ổng dạy học luôn. Thì ta mới sau này thì Chu Văn An cũng được đưa vào Văn Miếu, nhưng mà trước đó Trương Hán Siêu được thờ đã rất là lâu. Vì những cái công lao đối với triều đình rất lớn, tuổi ổng rất lớn và ổng giữ gìn cái triều đình nhà Trần
[12:56]đứng vững luôn cho tới ngày ổng mất, đồng hóa luôn cả người Chiêm Thành, giữ yên bờ cõi luôn quý vị. Thì cái mà ổng nhìn ra được là cái từ nơi cái tâm linh đạo Phật mà tạo thành cái đức của cả một dân tộc. Mà ngày cha ông ta đã chọn lựa đạo Phật làm quốc đạo là một điều hết sức là là sáng suốt. Thì Phật là một cái ngôi báu đầu tiên mới có nên đạo Phật. Nhưng mà tôn giáo chỉ được phổ biến khi nào có gì? Có đạo lý, có giáo lý phải không ạ, gọi là Pháp. Có lời dạy của bậc giáo chủ, đó là cái quý thứ hai. Cho nên ta lạy Phật rồi ta lạy Pháp, tức là những lời dạy đó, những đạo lý cao quý đó. Và cái thứ ba là gì? Tăng.
[13:40]Tăng là những người xuất gia, sống cả cuộc đời theo theo đạo lý. Nhất là vào cái thời đại này là Đức Phật đã nhập diệt mà giáo pháp thì cực kỳ khó hiểu, phải không ạ? Bây giờ quý Phật tử đọc kinh hiểu không? Tụng kinh có hiểu không? Không, không hiểu nổi nếu không có người giải thích. Mà người nào giải thích? Tăng, tức là người xuất gia, Tăng Ni đó, Tăng là nói chung cho cả Tăng Ni. Mà tại sao người Tăng Ni có thể hiểu sâu mà để giải thích cho ta, dạy ta được? Vì sao? Vì... vì... vì có tu, có tu. Đó là những người đem cả cuộc đời của mình tu hành theo lời dạy của Đức Phật thì mới hiểu sâu cái đạo lý của Phật mà giải thích lại cho chúng ta.
[14:26]Chứ nếu mà không có Tăng Ni tu hành ta cũng chẳng biết gì về đạo Phật, nhiều khi tưởng ông Phật này là một ông Thần. Rồi như có cái bà, bà nhà rất giàu, thấy người ta thờ Phật thì bả cũng thờ thờ rồi bả hỏi: Cái ông đứng đứng ổng tên gì? Ông Phật đứng là tên gì? Rồi ông ngồi ngồi tên gì? Ông nằm tên gì? Mấy ông này có phải anh em nhau không? Đó, bởi vì không được học. Còn ở đây là cái giáo lý của đạo Phật cực kỳ quý giá, nhưng mà không phải dễ hiểu nên để hiểu được phải nhờ Tăng Ni. Mà người Tăng Ni làm sao mà hiểu được? Vì đem cả cuộc đời mình tu hành. Nên hôm nay ta mới định nghĩa lại, vậy người xuất gia có gì khác biệt?
[15:10]Và tại sao người xuất gia cao quý đến như vậy? Và cái thái độ của ta đối với người xuất gia là như thế nào? Ta tôn kính người xuất gia, nhưng mà tôn kính như thế nào? Thì tôn kính như thế này: Ví dụ bây giờ ta có một đống vàng ở nhà, ta có đống vàng chừng 100 lạng vàng, vậy quý không ạ? Quý không? Ta quý phải không? Quý rồi ta để đâu? Ta có phải để ngoài cổng, ngoài cửa không? Ta để đâu? Ta phải bảo vệ, thấy không? Ta bảo vệ, cất rồi đó, có nhưng mà phải bảo vệ kỹ. Thì Tăng Ni cũng vậy, Tăng Ni là mấy cục vàng của ta đấy. Cho nên ta cũng phải bảo vệ. Bảo vệ bằng cách nào? Giống như vàng, không cho người ta cướp,
[15:57]không cho người ta cắp, không cho người ta đánh tráo. Cướp thì cắp thì lấy mất rồi, còn đánh tráo nghĩa là đưa vàng giả vào thay vào đó họ lấy vàng thật đi mất và để vàng vàng giả vào làm ta cứ tưởng vàng ta còn, nhưng mà sự thật nó mất hết rồi. Thì Tăng Ni cũng vậy. Thứ nhất, đừng cho ai cướp. Đừng cho ai cướp là sao? Ví dụ như thấy mấy thầy Tăng đẹp trai thế này đừng cho cô nào cướp, phải bảo vệ đó. Đúng không ạ? Đúng. Hoặc là đừng cho tráo. Đừng cho tráo là sao? Thấy ổng vẫn còn đó, nhưng sự thật ổng đã mất rồi. Ổng đã hết tu từ lâu rồi, đã phạm sai lầm, lòng ổng không còn tu nữa, tức là thấy thì còn chứ thực ra bị tráo mất trong tâm rồi, phải không ạ?
[16:43]Cho nên ta phải bảo vệ Tăng Ni là bảo vệ, thứ nhất là phải Tăng Ni không bị ai cướp đi ra khỏi chùa, thứ hai là còn ở chùa là một người chân tu, đạo hạnh thực sự để cho ta nương tựa, học hỏi, đúng không ạ?
[17:01]Phải hết sức là yêu kính, quý trọng Tăng Ni, vâng lời, thừa sự Tăng Ni để ta được học hỏi giáo lý từ nơi Đức Phật mà thông qua cái lời dạy của của chư Tăng Ni, đúng như vậy. Nhưng đồng thời phải biết bảo vệ và canh chừng thầy, để sơ hở ra mất ông thầy uổng lắm nha. Thì bây giờ "xuất gia" nghĩa là gì? Chữ xuất gia nguyên cái nghĩa của nó là bỏ gia đình, đi ra khỏi gia đình. Cái người xuất gia để trở thành tu sĩ là người bỏ cái gia đình. Lạ lắm, nếu mà ta nói là cái người này đi tu thì ta hiểu là người này vào chùa mặc cà sa ha, xuất gia cạo tóc. Nhưng mà nếu dùng chữ xuất gia thì nó nói tới cái lõi, cái gốc của vấn đề.
[17:50]Cái chữ đi tu vậy chứ mà không nói được cái lõi của vấn đề, cái gốc của vấn đề, mà dùng cái chữ xuất gia như ngày xưa nói á mới nói được tới cái lõi của vấn đề. Cái người đi tu thì ta nói là à cái người đó vô chùa, mà thật sự đi tu thì ai đi? Ai cũng đi được cả. Chúng ta cũng đang đi tu đây, phải không ạ? Tức chúng ta đến chùa ta ngồi đây nghe Pháp, lòng mình lắng lòng thanh tịnh, mình vào lễ Phật, tức là mình đang đi tu đây. Cho nên ta dùng chữ đi tu này thì ai cũng đúng cả. Nhưng mà dùng tới chữ xuất gia rồi thì không, chỉ có người nào mà thoát ly hẳn gia đình, không còn dính líu gia đình nữa,
[18:27]không còn liên hệ gia đình nữa thì mới được gọi là là xuất gia. Cho nên cái chữ mà đi tu nó coi vậy chứ nó đơn giản, nó rộng rãi, dễ hiểu, ai cũng đi tu được. Nhưng mà nói tới chữ xuất gia rồi chỉ một rất ít người được chọn lọc. Những người quyết tâm cao và từ bỏ đời sống thế tục mới xuất gia được. Và sau đó ta mới dùng cái chữ là tu sĩ. Ta mới chữ tu sĩ, tu sĩ là dành riêng cho những người xuất gia. Còn sau này thì ta có nhiều cái chữ tu lai lai như vậy, ví dụ như tu sinh là cái người cư sĩ vào tu ít bữa ta cũng gọi là tu sinh, một cái khóa tu nào đó nha, tu sinh, rồi người đồng tu gì đó thì nó nó nó phổ biến, nó đại trà.
[19:11]Nhưng riêng chữ tu sĩ là bắt đầu phải có giấy phép chứng nhận của giáo hội, của nhà nước. Nghĩa là có trong cái danh sách của bên Mặt trận, Ban Tôn giáo quản lý, giáo hội quản lý vân vân gì đó. Mà cái gốc của tu sĩ, cái từ ngày xưa là xuất gia là bỏ gia đình. Đây mới là vấn đề lõi. Vậy cái việc bỏ gia đình là sao là vấn đề lõi? Ta mới thấy nó có cái ghê là thế này: Tất cả chúng ta sinh ra trên đời này ta đều từ một gia đình mà bước ra, phải không ạ? Có cha, có mẹ, có anh chị em mà bước ra, nên cái mối liên hệ ruột thịt đó cực kỳ sao? Cực kỳ chặt chẽ, phải không ạ? Rồi khi lớn lên một chút xíu, ta lại sao?
[19:55]Ta lại tạo ra một gia đình mới của mình bằng cách là có vợ, có chồng. Rồi sinh con, ta tạo tiếp một gia đình mới. Và cái mối liên hệ đó là sao? Cũng cực kỳ chặt chẽ, mật thiết và nặng nề. Cho nên, đối với cái mối quan hệ ruột thịt, máu mủ đó, mà mối quan hệ sống chết đó, lòng ta thiên vị gia đình mình nặng lắm, đúng không ạ? Ta thiên vị gia đình mình nặng lắm. Nó vừa là máu mủ, mà vừa là miếng cơm manh áo là sự sống. Khi ta sinh ra, ta lọt lòng mẹ, ta không tự sống được, mà phải có bố có mẹ nuôi đúng không? Vỗ về, ôm ấp, mớm từng miếng cơm, miếng sữa, mặc che từng mảnh áo, đắp từng miếng chăn.
[20:42]Đêm trời trở gió lúc bệnh hoạn, là phải bao nhiêu năm như vậy ta mới từ từ, từ từ cứng cỏi mà tự mình sống được. Rồi còn phải học, phải tập. Bố mẹ phải nuôi ta vất vả không biết bao nhiêu ngày tháng, rồi mới tới cái ngày mà ta có thể tự kiếm sống cho mình. Rồi chưa lo được bố mẹ bao nhiêu, cái ta bày đặt yêu. Lo yêu rồi cái đâu còn lo bố mẹ được nữa, thế là phải bắt đầu lo một gia đình mới. Bố mẹ lo cho ta đã rồi phải lo tiếp gia đình mới cho ta. Nên cái cái ân nghĩa về đời sống nó ràng buộc chặt chẽ kinh khiếp. Và chính vì vậy, trái tim ta, tình yêu thương của ta dành cho gia đình mình là là nặng nề, lớn lao vô cùng.
[21:24]Cái tình cảm đó ta gọi là sự thiên vị. Nếu bây giờ bất ngờ ai cho ta một tỷ đồng, thì cái điều đầu tiên mà ta nghĩ tới việc sử dụng một tỷ đồng đó là gì? Đem về cho gia đình mình, đúng không ạ? Chia cho con, cho cháu; nếu bố mẹ còn thì cũng chia cho bố mẹ, phụng dưỡng bố mẹ. Gia đình mình là số một, phải không ạ? Chứ có ai nói là: "Vừa mới có một tỷ đồng, đem phát hết cho dân làng", có không? Có, chỉ người xuất gia thôi, chứ còn người đời không có chuyện đó.
[21:59]Ví dụ bây giờ cho thầy một tỷ đồng mà nếu nói: "Thưa thầy, dân làng nghèo", thầy dám đem cho liền. Tại vì thầy không còn gia đình trong lòng thầy nữa, thầy xuất gia rồi. Nên cái khác nhau giữa người xuất gia và người tại gia là cái sự thiên vị đối với gia đình. Khi mà ta còn thiên vị gia đình thì ta được gọi là người tại gia cư sĩ. Còn khi nào mà lòng ta hết thiên vị gia đình thì ta được gọi là người xuất gia chân tu, người xuất gia tu sĩ. Cái chỗ này thiên vị hay không thiên vị. Nhưng mà có ai mà từ cái thiên vị khi xuất gia rồi một cái mất hết liền không còn thiên vị không? Không. Vậy chớ lòng vẫn nặng, lòng vẫn nặng.
[22:46]Vì nó là thói quen, nó là tình cảm, là máu mủ, là trái tim, khủng khiếp lắm. Thầy nhớ như thầy ngày xưa khi thầy đi tu rồi, đã từ bỏ gia đình đi tu rồi, trốn nhà đi tu rồi. Đêm nằm vẫn nhớ về nhà, vẫn lo không biết mấy đứa em mình nó đi học hành ra sao, có thiếu thốn không. Đó, mà đi tu rồi đó, lòng vẫn nặng. Không biết bao nhiêu năm rồi, tu rồi từ từ mới thoát ra. Cái cái sự thiên vị đó nó khủng khiếp lắm, mà buộc ta phải thoát ra khỏi sự thiên vị đó. Vì sao ta phải thoát? Vì thế này: vì cái quả vị A-la-hán là quả vị tối cao, cái quả Thánh tối cao trong đạo Phật chỉ đến cái người nào hết sạch cái lòng thiên vị đối với gia đình.
[23:36]Đó là điều kiện bắt buộc trong đạo Phật. Cho nên trong đạo Phật có quy định rất rõ thế này: cái người đó tu rất tốt, chứng đạo quả rất cao, nhưng vì không phải người xuất gia nên chỉ chứng được quả A-na-hàm, vì lòng thiên vị vẫn còn đối với gia đình mình. Còn cái người đó tu tốt, chứng đạo tột cùng mà là người xuất gia thì chứng được luôn tới quả vị A-la-hán luôn. Đó là cái công thức được quy định rất rõ trong đạo Phật, trong kinh Phật. Nên có một vài người cư sĩ khi nghe Đức Phật thuyết pháp bất ngờ chứng A-la-hán lúc chưa xuất gia. Đang còn là cư sĩ vào dự trong cái pháp hội. Như có hai cái trường hợp:
[24:20]một là một vị tướng quân của triều đình của Kosala, là tướng của vua Ba-tư-nặc. Lúc đó là phía Tây chiến tranh, ổng đem quân đi đánh, đánh thắng vẻ vang. Khi thắng vẻ vang trở về, vua Ba-tư-nặc cưng quá mới là tiếp đãi, chiêu đãi ổng trong bảy ngày. Trong chiêu đãi ngày là ổng ăn, uống, ca, múa, hát, nhạc để vinh danh cái ca ngợi chiến công của ổng. Thì trong những người vợ của ổng, ngày xưa mấy ông tướng nhiều vợ, thì trong đó có một người thiếp mà ổng yêu thương nhất thì cùng với ổng mà dự những yến tiệc đó.
[25:00]Tới được ngày thứ bảy, bà bất ngờ bà trúng phong trúng gió, ngã ra bà chết. Thì không nói hết được cái nỗi đau của ổng, ổng đau khổ cùng cực. Thì ngay lúc đó Đức Phật xuất hiện, Đức Phật thuyết cho một bài pháp. Ngay lúc đó ổng chứng A-la-hán luôn. Ông này cái công đức rất là lạ. Và khi chứng A-la-hán rồi thì ổng biết ổng chỉ có hai con đường: một phải xuất gia và hai nhập Niết-bàn, không được làm cư sĩ nữa. Vì người chứng A-la-hán họ dứt sạch cái lòng thiên vị đối với gia đình rồi. Và ổng chọn con đường là nhập Niết-bàn. Ổng cất mình lên trên cao, tự biến thành lửa, thiêu cháy hết thân mình rồi nhập Niết-bàn luôn. Sau này có người mới hỏi Đức Phật:
[25:40]"Cái ông đó ổng công đức gì mà không tu ngày nào hết trơn, đang đau khổ vì thất tình, vì vợ mất mà nghe Đức Phật thuyết pháp một thời ngắn chứng A-la-hán liền, công đức nào khủng khiếp như vậy? Trong khi tụi con theo Thế Tôn là bao nhiêu năm trời đằng đẵng tu hoài mà chưa chứng, mà sao ổng vậy?" Đức Phật mới nói: "Do công đức từ đời xưa ổng rất là lớn." Đó là một chuyện. Còn một chuyện thứ hai nữa là một bà hoàng hậu tên là Khema, vợ của vua Bình-sa, nước Ma-kiệt-đà. Thì vua Bình-sa ổng có tới bốn, năm người vợ, rồi có vài người thiếp nữa. Thì trong đó có hoàng hậu là Khema, bà ít có thích Đức Phật.
[26:16]Tại vì Đức Phật hay nói về chuyện từ bỏ, xả ly, không ham, không muốn, mà bà đang là hoàng hậu, một trong những hoàng hậu nên bà bà không thích. Lần đó cái vua Bình-sa mới lừa qua lừa lại dắt bà đi gặp Đức Phật để nghe thuyết pháp. Thì trong thời thuyết pháp đó, nghe xong ngồi tại chỗ bà chứng A-la-hán luôn. Đây cũng một điều rất là lạ. Cái phước gì kỳ lạ! Lúc sống thì làm hoàng hậu mà nghe pháp xong rồi chứng A-la-hán luôn. Bà hình như không bao giờ biết đau khổ thì phải, phước bà lớn quá. Thì Đức Phật khi thuyết pháp thì bà chứng A-la-hán ngay ngồi đó là Đức Phật biết liền. Đức Phật mới quay sang nói với vua Bình-sa, nói:
[26:55]"Này đại vương, hoàng hậu Khema vừa chứng A-la-hán. Và chỉ có một trong hai con đường: một là phải xuất gia, hai là nhập Niết-bàn liền, không còn sống đời thế tục được nữa." Vua Bình-sa nghe nói nhập Niết-bàn sợ quá, nói: "Dạ thôi thôi, cho xuất gia." Thì dù sao cũng còn sống để ổng được tới lui ổng thấy á, tại ổng vẫn còn ái mà, ổng vẫn còn yêu thương. Còn bà kia vừa chứng A-la-hán xong là sạch bụi trần liền, trong lòng dứt sạch cái ái dục liền. Cho nên là ổng đề nghị xuất gia thì bà xuất gia, thì bà trở thành một Tỳ-kheo-ni Khema thần thông lỗi lạc, rất là giỏi. Nên cái quả vị A-la-hán nó chỉ tương ứng với cái người không còn thiên vị gia đình.
[27:35]Vì vậy, chỉ người xuất gia mà lòng không còn thiên vị gia đình mới có thể chứng được quả vị tột cao là A-la-hán, còn không là đều là những quả vị thấp hơn. Và cái giá trị của người xuất gia là ở chỗ này: không thiên vị gia đình riêng tư của mình. Dễ làm không? Cái chỗ yếu của ta, cái chỗ mà hạnh phúc của ta, cái chỗ thiêng liêng của ta mà cũng là yếu điểm của ta chính là gia đình. Hãy nhớ điều đó. Hạnh phúc của ta cũng là nơi gia đình, phải không ạ? Thiêng liêng tình cảm của ta cũng là gia đình, và đó cũng chính là điểm yếu chết người của ta. Giặc muốn khống chế ta cũng đều khống chế gia đình ta cả.
[28:16]Trong những cái phim mà tình báo ta thấy á, nó muốn điều khiển khống chế ai thì nó nói: "Đây là vợ anh, con anh là tôi biết hết rồi. Nếu anh không làm, tôi giết hết những người này." Thế là bị khống chế. Nó đơn giản như vậy. Và ta biết có những tổ chức, tổ chức tình báo của giặc, cái cách mà nó chiêu mộ một con người nó tàn độc như thế này: ví dụ nó dụ người ta vào trong cái tổ chức, rồi bắt ký một cái hợp đồng, và phải trung thành. Và nếu anh phản bội thì gia đình anh gồm những người này, người này sẽ bị chúng tôi xử tử hết, anh đồng ý ký vào đây. Mà có dám không ký không? Nói: "Không, tôi không ký", giết anh tại chỗ liền vì anh đã biết chúng tôi rồi.
[29:01]Không theo không được. Mà nếu anh theo anh phải ký vào đây, tức là tự nhiên mình lấy cả cái tính mạng của cả gia đình mình đem làm con tin luôn từ đó. Gia đình mình vẫn sống vô tư không biết gì cả, mà không ngờ rằng đã bị ký vào ràng buộc vào một cái hợp đồng chết người bởi một người trong gia đình mình bí mật đi theo giặc mình không hay. Nên nhiều khi ta ngồi đây chứ coi chừng một người nào trong gia đình mình đã ký cái hợp đồng đó rồi ta không hay. Là cả tính mạng của nhà mình đang bị nằm trong cái hợp đồng đen đó, làm con tin, chết hết mà không hay. Thế là khi mà khống chế đó rồi, từ đó bắt gì phải làm và làm những chuyện
[29:38]cực kỳ vô lý cũng phải làm, làm những chuyện đổi trắng thay đen, tán tận lương tâm, làm những điều tàn ác cũng phải làm, bởi vì nếu không làm giết hết cả gia đình mình chứ nó không phải giết mình. Ghê như vậy đó. Rồi đó là cũng chính là điểm yếu chết người của ta. Cho nên, thầy hay dạy các đệ tử của mình như vậy, là gia đình của mình chỉ có năm sáu người, không quan trọng. Mà quan trọng cả đất nước mấy chục triệu, quan trọng là cả một cái đạo pháp thiêng liêng này. Mà thầy nói vậy, chứ trong lòng thầy không có gia đình. Chỉ có Tổ quốc và đạo pháp thôi. Gia đình năm sáu người không quan trọng. Thì như vậy ta mới sống, mới tu được.
[30:18]Còn thiên vị gia đình, ta không tu hành được, không làm việc đạo được. Vì cái thiên vị tình cảm nó cứ lén lút lén lút, nó khiến ta làm những điều sai và không hay. Cho nên, người xuất gia rồi với cái gia đình cũ, ta từ bỏ không thiên vị và dứt khoát không tạo nên một gia đình mới nữa. Lòng ta hoàn toàn trong sạch, trắng như vỏ ốc. Cái trái tim thương yêu của mình trải rộng khắp đất trời với tất cả chúng sinh, không còn thiên vị riêng một người nào. Cái người xuất gia phải là như vậy. Mà dễ làm được như vậy không? Không! Không phải một ngày một bữa được liền, mà đó là quá trình, quá trình tu hành rất gian khổ.
[30:59]Chuyển được tâm mình, chuyển được tâm mình một bước tiến rất lớn lao, ta mới từ cái mà tâm thiên vị với gia đình, từ từ bỏ dần bỏ dần cho tới hết thiên vị gia đình luôn. Lúc đó mới thực sự là người xuất gia chân chính. Còn mà nếu chưa được bỏ hết sạch cái lòng thiên vị gia đình, thì tuy là người xuất gia nhưng ta chưa thực sự phải là người xuất gia chân chính đâu. Đây là cái điểm mà rất là khó khăn. Nhưng mà nghe thầy nói câu này chắc quý thầy quý cô mình là sao? Nhìn lại mình vẫn thấy sao? Vẫn thấy sợ, phải không ạ? Thấy xét lại lòng mình nhưng vẫn thấy sợ, bởi vì trong chừng mực nào đó mình vẫn còn bị thiên vị gia đình.
[31:37]Có một lần vậy thầy cũng bị đánh tiếng hăm dọa. Nói thấy thầy cứ đi giảng về lòng yêu nước, giảng về tôn vinh đạo Phật, xây dựng Phật pháp. Nó đánh tiếng xa với thầy nếu mà thầy mà không có ngừng cái việc mà yêu nước, giết gia đình thầy. Thầy nói cho giết. Nếu phải chết thì đó là nghiệp của cha mẹ thầy, của anh chị em thầy. Vì họ phải nghiệp trả. Đừng có hòng mà lấy họ bắt chẹt thầy, điều khiển thầy để thầy làm điều trái với lương tâm, trái với cái quyền lợi của Tổ quốc và đạo pháp, đừng hòng. Giết thầy thầy cũng chẳng sợ, có giết hết cả nhà thầy thì cũng chẳng thay đổi lòng dạ ai. Không sao cả.
[32:23]Thì nó không giết nữa. Sau đó bắt đầu nó tổ chức cách khác, bôi nhọ thầy khắp nơi, phá tan chùa thầy luôn. Như vậy đó, cái cách khác đó làm cho thầy mất hết uy tín để mà nói đừng ai nghe. Và đến giờ này cũng vậy, đến giờ này nó vẫn tiếp tục bôi nhọ, đặt điều xấu nói về thầy khủng khiếp luôn. Cho nên quý Phật tử nếu mà có nghe ai nói một điều xấu về thầy thì trả lời thế này: "Cái này nghe cũng nhiều rồi." Nói trả lời: "Nghe nhiều rồi, cái việc nói xấu thầy đầy từ trên mạng và bây giờ vẫn rỉ tai đi nói." Khắp nơi, nơi nào biết ai là đệ tử của thầy là tới rỉ tai nói xấu thầy. Mà nhất là những người nào biết người nào có giúp đỡ
[33:01]cho chùa, cúng dường thầy là tới rỉ tai nói bậy. Nhiều khi chẳng cúng thầy được đồng nào mà cứ tới nói tôi cúng cho ông thầy Chân Quang năm sáu tỷ. Nói vậy rồi không còn ai cúng thầy nữa. Nên ở đây vậy, cái người xuất gia đó trên hình thức là ta từ bỏ trách nhiệm đối với gia đình, không lo cho gia đình nữa. Nên nhiều khi có những người đi tu chứ làm gia đình mình cũng oán trách lắm, nha. Nuôi một đứa con lên là cứ nghĩ sau này nhờ nó, bỏ đi tu mất tiêu, không còn trách nhiệm với bố mẹ. Nên nhiều gia đình trách. Chỉ những gia đình nào mà rất hiểu đạo thì mới ủng hộ cho con mình đi tu. Tại vì nghĩ rằng bây giờ mình có cúng chùa vàng bạc cũng không
[33:44]bằng cúng một đứa con mà mình yêu quý, để cho nó trở thành một người tu sĩ chân chính, sau này nó lo việc đạo. Cho nên phước lớn hơn mà cúng là cả ngàn muôn vàn tiền bạc nữa. Nghĩ như vậy thì cái số người đó rất là ít. Còn đa phần con mình bỏ đi tu là giận sôi máu lên, chửi chùa, chửi thầy quá chừng. Vác đơn kiện thầy từ Trung ương tới địa phương. Cái người đi tu là vậy, từ bỏ trách nhiệm đối với gia đình. Nhưng mà nếu ta tu không đúng á, lớn lên chút xíu, bắt đầu khi ta có một chút quyền lợi, tự nhiên mình vun đắp ngược lại về cho gia đình mình, bí mật lo lại cho gia đình mình. Đây là một điều ta làm ngược với cái tư cách, vai trò của người xuất gia đó.
[34:26]Có không? Có đấy! Có lắm! Có những người khi mà bắt đầu khá giả lên chút xíu cái tuồn tiền, lén lén tuồn tiền, tiền về nuôi gia đình. Cái đó là mang tội chết á, mang tội chết. Mà trong luật pháp ta đó, ta chưa có quy định tài sản người tu sĩ chết đi là chỉ được để lại chùa. Chưa có quy định đó của pháp luật. Mà vẫn tính theo gì? Thế gian. Nghĩa là một người chết đi thì tính coi người đó có vợ thì cho vợ, có con cho con, phải không ạ? Không vợ không con thì đưa ngược về bố mẹ, có đúng không ạ? Đó, cái luật pháp ta vẫn chưa có rõ ràng về điều về tôn giáo, về tu sĩ này. Cho nên như thầy vậy, thầy cũng sợ thầy chết bất
[35:05]ngờ, mà thầy cũng đứng tên một số tài sản chứ đâu phải không, thầy ghi rõ trong di chúc liền: "Khi tôi chết, tất cả những tài sản của tôi gia đình tôi không được hưởng một đồng nào." Ghi rõ như vậy. Chỉ những đệ tử kế thừa mới được quyền tiếp nhận để lo cho Phật pháp. Chứ thầy sợ lắm, đây là điểm hở của luật pháp mà. Nếu mà thầy không ghi cái di chúc đó, lỡ thầy chết bất ngờ thì cứ theo luật pháp, tiền này bố mẹ hay mấy đứa em thầy đưa luật sư kiện là lấy ngược hết về cho cha mẹ thầy liền. Mà bố mẹ thầy lấy rồi thì thành ra của mấy đứa em thầy, đúng không ạ? Bố mẹ thầy chết thì lọt qua mấy đứa em chứ gì.
[35:43]Đó, nó thành ra từ tiền của đàn-na tín thí của Tam Bảo, bất ngờ chạy ngược về thế tục là thầy, thầy cũng xuống địa ngục luôn nữa. Cho nên thầy phải viết cái di chúc trước là phải ngăn ngừa tất cả mọi tài sản là gì, là của đạo, gia đình thầy không được phạm vào, không được đụng vào, rõ ràng như vậy.
[36:07]Thì đây nói rằng thế này, cái người xuất gia tu hành á là chiến đấu với tham, sân, si, phải không ạ? Chiến đấu với cái ngã chấp, hơn thua, cái đố kỵ, tu tập cái tâm từ bi. Nói cho mênh mông, nhưng mà bây giờ thầy nói một điều một thôi, nói một cái góc một thôi cho người xuất gia thôi. Là cuộc chiến đấu trong tâm hồn mình còn thiên vị hay hết thiên vị đối với gia đình riêng của mình thôi. Chỉ chiến đấu giùm nhiêu đó thôi là đúng. Nếu cái người đi tu mà thắng được cái lòng thiên vị đối với gia đình riêng thì ta trở thành người tu chân chính, trở thành cái chỗ nương tựa cho chúng sinh. Còn nếu lòng ta cứ phảng phất phảng phất còn cái điều thiên
[36:50]vị với gia đình mình thì ta tu chưa chân chính. Cái góc nhiêu đó thôi, nhìn nhiêu đó thôi là đúng. Mà sợ nhất là ta tạo gia đình mới. Nghĩa là sao? Đi tu rồi bí mật có, có vợ, có con. Là ta đã từ bỏ gia đình này rồi lại bí mật tạo một gia đình mới, thì rất là nguy hiểm. Ta đã phải bỏ cái thiên vị với gia đình cũ, mà không ngờ tạo thêm một gia đình mới để thiên vị nhiều hơn nữa, chết luôn. Nên lòng mình không còn trọn vẹn với đạo. Đây là cái điều rất là, rất là đáng lo. Nên vì thế, là cái cuộc chiến của người xuất gia trong tâm mình là gì? Là vượt khỏi sự thiên vị, thiên vị gia đình. Đó là cuộc chiến gay gắt á, cuộc chiến vĩ đại.
[37:37]Tuy nhiên, để thắng được cái sự thiên vị với gia đình mình, thì phải làm sao?
[37:45]Thì phải tu tập làm sao mà vượt khỏi ái luyến, đúng không ạ? Vượt khỏi cái tình cảm nhỏ nhỏ riêng tư gọi là ái luyến. Mà để vượt khỏi được ái luyến đó, thì phải tu hướng về cái gì? Vô ngã, không còn cái ta. Tu tập thiền định làm sao hướng về vô ngã. Và hết được ích kỷ, tâm từ bi bao la. Mà để có thể tâm từ bi bao la, yêu thương được mọi người thì tâm ta phải, phải thanh tịnh. Đạo hạnh phải sâu dày. Và đây là cả một quá trình mà một kiếp chưa xong. Phải không ạ? Không có người xuất gia nào mà trong một kiếp thành tựu hết những điều này. Không có người xuất gia nào trong một kiếp mà có thể thành tựu
[38:33]được cái giới hạnh sâu dày, đạt được thiền định tâm thanh tịnh, trải được lòng yêu thương hết tất cả chúng sinh, vượt khỏi cái sự ích kỷ tầm thường, hướng tâm về cái vô ngã, vượt khỏi ái luyến và dứt sạch cái sự thiên vị đối với gia đình. Thường không người tu nào trong một kiếp làm được hết những điều này. Phải đi qua nhiều kiếp. Và chính vì trong một kiếp không thể thành tựu được hết điều này, do đó ta phải canh chừng. Phải canh chừng mấy người tu. Vừa yêu quý, vừa cúng dường, vừa thừa sự, vừa vâng lời, nhưng cũng canh chừng Thầy. Nha. Đừng tin Thầy đã chứng Thánh. Ví dụ bây giờ ta có ông thầy trụ trì cái chùa đây,
[39:21]ta rất thương Thầy, rất kính trọng Thầy. Thầy dạy bảo gì vâng lời. Đôi khi Thầy quở trách phạt ta, ta vẫn vui vẻ chịu cái hình phạt. Như Thầy vào Thầy bảo: "Tại sao đến giờ này mà hôm nay mà không, vào trễ mày không có nấu cho Thầy cái miếng miếng xôi, miếng chè để Thầy cúng Phật? Thầy bắt phạt lên quỳ nhang!" Ta ngoan ngoãn mặc áo tràng lên quỳ nhang ngay, quỳ hương ngay. Tức là mình yêu Thầy mình đến như vậy, mình thương Thầy mình, mình kính Thầy mình đến như vậy. Nhưng đang quỳ hương như vậy mà liếc liếc thấy có con cô đẹp đi vô thì: "Xá Phật xin con xuống con canh Thầy con cái đã, lát con lên quỳ nhang tiếp." Vô hỏi:
[39:58]"Cô đi đâu đây? Có việc gì? Vào gặp Thầy hả?" Và cái luật là người nữ không được một mình gặp Thầy Tăng. Đi đâu cũng phải hai người cho minh bạch. Cho nên cái Thầy la: "Sao không quỳ hương tiếp?" Nói: "Dạ, con có xin phép Phật, con xuống con bảo vệ canh chừng Thầy. Chừng xong rồi con lên con quỳ hương tiếp." Cho nên là nhớ như vậy. Ta thương Thầy, ta kính Thầy nhưng ta phải canh chừng Thầy. Cũng giống như Thầy đi đâu phải có con thị giả ngồi canh. À không bao giờ rời. Đi đâu bất cứ việc gì lúc nào cũng có người thị giả bên cạnh, nói chuyện với ai cũng có người thị giả bên cạnh. Không có gì để che giấu và Thầy sống minh bạch.
[40:39]Chỉ trừ những lúc mà Thầy đi vào cái chỗ mà một mình Thầy thì thôi, đứng ngoài cửa không có đi vô theo làm chi. Mấy người... Trừ những lúc đó thôi, còn ngoài ra lúc nào cũng có thị giả. Tới giờ ngủ Thầy đóng phòng Thầy lại thì thôi, bởi vì Thầy thì quen Thầy ở một mình, không có ngủ chung với ai hết trong phòng của mình, và trong nhà vệ sinh, rồi xong. Lúc lễ Phật Thầy cũng chỉ thích lễ một mình, không thích lễ chung. Vậy thôi. Ngồi thiền, không thích ai thấy, ngồi một mình thôi, vậy thôi. Còn ngoài ra bất cứ lúc nào phải có đệ tử Thầy chung quanh. Lúc nào cũng có người vừa là hầu cho Thầy, nhưng cũng vừa là bảo đảm cái sự
[41:17]minh bạch chân chính của Thầy, tính minh bạch của Thầy đối với đại chúng. Thầy không làm việc gì mà không ai biết, bất cứ Thầy làm việc gì đều phải có người biết, không có làm việc gì lén hết trơn. Mà đầu tiên thấy ông thị giả này, sau đó những đệ tử khác chung quanh Thầy đều phải biết hết. Cho nên vậy thì mình cũng vậy, mình đối với quý Thầy, quý Sư Thầy, quý Thầy, quý Cô, Tăng Ni cũng vậy. Mình phải yêu quý vì những người này họ giữ gìn mạng mạch của Phật pháp. Nếu không có những người xuất gia, đạo Phật tàn lụi liền. Có ai giải thích kinh điển đâu mà biết mà tu. Nên Tăng Ni họ dốc lòng cả một đời họ tu tập nên họ mới hiểu được kinh Phật.
[41:56]Cho nên ta phải yêu quý, yêu thì yêu, nhưng canh thì cứ phải phải canh chừng, đó, nhớ như vậy. Vì sao vậy? Bởi vì Thầy Cô ta chưa chứng Thánh. Thầy Cô ta một kiếp này cũng chưa tu xong, chứ đừng có nói mới mấy năm. Phải không ạ? Bây giờ ví dụ hỏi như Thầy đây xuất gia được bao nhiêu năm, thì Cô xuất gia được bao nhiêu năm, Ni sư được bao nhiêu năm rồi Ni sư hả? 30 năm. Vậy là thua Thầy vài năm. Thầy ba mươi mấy năm rồi. Nhưng mà có xong chưa? Chưa. Cho nên Ni sư đó tuy lớn tuổi nhưng ta vẫn phải canh chừng.
[42:35]Ni sư đó cũng phải canh, nhớ bảo vệ Ni sư đó nha. Chớ đừng có nói. Còn nhất là mấy Thầy đây thì đều phải bám chân 24/24 cho Thầy. Vì sao vậy? Vì việc tu hành gian khổ, ta bảo vệ đời tu cho Thầy mình. Vì thật sự có những lúc Thầy sẽ động lòng. Thầy nói cái chữ động lòng này cho nghe nè, Thầy phân tích cho nghe cái chữ động lòng. Bây giờ à đây có sẵn mấy cụ già già đây, mấy ông lớn tuổi đây. Bây giờ Thầy hỏi thật mấy ông nha, mấy ông già tóc bạc, đi mấy ông nhìn một cái cô gái trẻ đẹp, lòng có thích không? Hông Thầy hỏi thật. Thích không? Nói rất đúng. Nhưng mà nghĩ mình có dám làm gì không? Không, phải không ạ?
[43:24]Vì sao thích thì thích mà không dám làm gì? Vì đạo lý, phải không ạ? Vì văn hóa của dân tộc, vì cái tôn ti, cái trật tự, cái nề nếp, trách nhiệm đối với gia đình, với con cháu. Mình là ông rồi, có con có cháu đầy rồi, không thể thấy con gái cái tán tán tán lại lại gần như hồi trẻ được nữa, không có lại làm quen được nữa. Hồi xưa mình lỡ làm quen với bả rồi bây giờ ra một đống rồi, bây giờ không có làm quen thêm. Thích thì vẫn thích. Tại sao vẫn thích? Vì đó là bản năng tự nhiên của con người chưa chứng đạo. Bất cứ chúng sinh nào chưa chứng đạo đều nằm trong cõi Dục. Mà hễ còn Dục tức là trong lòng còn ái luyến.
[44:06]Nên hồi nãy ông bác trả lời một câu rất thành thật và đúng đạo lý Phật dạy. Có một ông quan, mất bố đó, chỉ có một người mẹ già nuôi con ăn học tới khi thi đỗ làm quan. Thì ông quan có hiếu lắm. Đi đâu cũng mang bà mẹ theo, đi làm quan chỗ nào cũng mang bà mẹ theo. Mà bà mẹ mới là người cố vấn cho ông quan này xử lý nhiều việc độc đáo. Có những lúc ông bí, không biết xử lý, vào hỏi kế của mẹ. Lạ ghê, bà mẹ già ngồi trong buồng vậy, chỉ cho con mình cái cách xử lý công việc của quan trường mà thành công hết. Có một lần đó, có một cái người nhà đến gõ cửa quan, mới nói là: "Bẩm quan, con trai tôi về cái vùng này học
[44:52]để thi mà bây giờ mất tích, không tìm thấy, hỏi không ai biết. Nhờ quan điều tra." Thế là ông quan ổng mới hỏi con ông tên gì, họ gì, bao nhiêu tuổi, dáng hình ra sao, bắt đầu ổng mới cho cái cái lính của ổng đi điều tra, đi hỏi hết, dò hết trong dân. Thì cái người lính con mới về báo lại, nói: "Thưa bẩm quan lớn, thì với cái hình dáng mà ông cụ tả thì người dân có trông thấy một nho sinh có về đây học một thời gian và có ở nhờ trọ cái nhà của một bà cụ già kia." Rồi sau đó ổng mới cho người đến hỏi thì bà cụ già nói: "Cái cậu đó có đến đây ở trọ học rồi đi đâu mất không biết nữa." Thì ông quan ổng mới đích thân ổng đến ổng gặp bà cụ.
[45:40]Ổng hỏi han chi tiết cái cậu nho sinh đó đến đây học lúc nào, mỗi ngày sinh hoạt ra sao, đến thầy đồ nào học, rồi cái tiền áo ăn uống như thế nào. Ổng hỏi hết chi tiết xong, ổng mới quay về. Ổng ngồi ổng cứ cắn bút, ổng ngồi ổng suy nghĩ về cái vụ án này. Mà cái cái ông bố của cái người nho sinh tìm con mất tích thì vẫn đang ở trọ đâu đó để chờ tin tức điều tra. Thì ông quan này ổng cứ cắn bút, ổng ngồi ổng suy nghĩ hết những tình tiết, mọi thứ hết, trong đầu ổng nghĩ lên một cái cái nghi, mà ổng không dám. Ổng mới vào ổng quỳ, ổng lạy mẹ ổng. Ổng nói câu này: "Cả đời con làm quan đều nhờ mẹ dạy dỗ,
[46:22]bây giờ con không dám làm nhọc mẹ nữa nhưng con xin mẹ một điều cuối cùng. Mẹ cho con biết một điều cuối cùng: Với người phụ nữ đến tuổi nào thì không còn cái ái dục?" Bà già bả chỉ cái hòm để sẵn dành cho bả, nói: "Chừng nào vô đó đó con." Ổng cho đi bắt cái bà già kia liền. Thì đúng bả là người chủ mưu, bả là người gây ra cái chết của cậu nho sinh rồi bả giấu xác luôn. Thật ra cái câu của bà già đó nói hơi bị sai. Bà già bả chỉ: "Lúc vô hòm mới hết ái dục", Thầy xin thưa không có. Vô đó xong cái ái dục vẫn còn, làm ma vẫn còn dê.
[47:03]Làm ma vẫn còn ái dục như thường. Vì sao? Vì chúng ta chưa chứng Thánh. Nha. Chúng sinh trong cõi này ở hình thức nào, dù người sống hay ma chết đều vẫn còn ái dục. Thì cái người chưa chết, tuổi mới già tóc hơi bạc thì ái dục vẫn còn, nhìn con gái đẹp vẫn thích như thường nhưng phải kiềm chế, phải không ạ? Vì tôn ti, vì trật tự, vì danh dự gia đình, vì trách nhiệm đối với con cháu nên phải kiềm chế rồi phải bỏ qua. Thích thì thôi, trừ bỏ cái thích đó, phải không ạ? Thấy thì thích nhưng mà sau đó phủi bỏ cái thích đó đi để tiếp tục sống một cuộc sống bình thường, đạo mạo, đứng đắn, đúng không ạ? Đúng không?
[47:43]Các Thầy cũng vậy.
[47:47]Các thầy ta cũng vậy. Khi thoáng nhìn một người hợp nhãn vẫn vẫn thích như thường. Nhưng vì trách nhiệm đối với đạo pháp, vì lý tưởng giác ngộ giải thoát cho nên phủi bỏ nó đi, để mà tiếp tục cái bước chân trên con đường đạo hạnh.
[48:08]Nhưng liệu thầy có phủi bỏ được dứt khoát hay không?
[48:14]Nếu mà một mình thầy, coi chừng thầy không đủ sức. Nhưng mà nếu có bao nhiêu Phật tử dân làng ngồi canh thầy, thầy đủ sức liền. Phải không ạ? Thầy nhìn thầy thấy thương, ờ bao nhiêu người trông cậy nơi mình. Cho nên, cái thích của mình, cái ái của mình thoáng khởi nên, thôi bỏ. Để chi? Để mình là một vị thầy làm chỗ nương tựa cho bao nhiêu Phật tử đây, bao nhiêu chúng sinh đây. Không nỡ không nỡ là phụ cái lòng tin của mọi người. Cho nên thầy vượt qua. Rồi mai mốt gặp người khác thì thích lại nữa, rồi lại sao? Lại vượt qua nữa. Cả một đời cứ như vậy mà thành nên cái đạo hạnh sâu dày. Tức là thầy cứ nhiều lần vượt qua cái thích của mình
[48:57]thì trở thành một bậc hòa thượng khả kính. Vì nhiều lần vượt qua nó trở thành cái đạo hạnh sâu dày, cũng giống như các ông cụ thấy gái đẹp thích không? Thích. Nhưng rồi bỏ, thích rồi bỏ, thích rồi bỏ. Cho nên khi về già rồi trở thành một bậc lão làng đáng kính. Nhớ như vậy. Cứ mỗi lần mà ta từ bỏ được một cái ý nghĩ sai, một ý muốn sai, cái công đức ta dày lên, cái đức hạnh ta dày lên, thành một người đáng kính. Các cụ già trong làng cũng vậy, mà các thầy tu cũng giống hệt như vậy. Cứ mỗi lần ta bỏ được một cái ý thích thì cái đạo hạnh ta sâu dày lên từ từ từ từ. Mà để có thể vượt qua được những ý thích này thì thực sự
[49:37]nhờ trợ lực của những người chung quanh rất nhiều. Phải không ạ? Ví dụ như ông cụ thì nghĩ tới con cháu mình, nghĩ tới danh dự gia đình, tới vai vế mình ở trong làng, vượt qua cái ý thích đó, không làm gì nữa. Thì quý thầy cũng vậy. Khi mà thấy có Phật tử chung quanh, nhìn thấy Phật tử thương quá, mọi người nương tựa mình, vượt qua cái ý thích của mình. Vậy đó, là cứ mỗi lần thắng được một cái ý thích thì lại thêm được một cái công đức. Nên cái chùa mà vắng vẻ, quạnh hiu, ít có Phật tử thì thường ông thầy ngã mất. Không có sức mạnh hỗ trợ của chúng sinh, ông thầy rất dễ ngã lòng. Trong những lúc bị lỡ bị thích một điều sai lầm,
[50:21]không có được cái sự hỗ trợ của người chung quanh. Còn nếu lúc đó có Phật tử đông, quý thầy biết bổn phận của mình nên vượt qua cái ý thích đó. Nên vì thế, quý Phật tử vậy, yêu quý chùa thì phải yêu quý thầy, mà yêu quý thầy thì phải đến chùa cho cho đông cho nhiều để cho thầy thêm sức mạnh mà tu hành. Thầy dạy mình tu nhưng sự hiện diện của mình cũng giúp lại cho thầy tu, đúng không ạ? Đúng như vậy. Cho nên đừng bỏ thầy cô đơn trong hiu quạnh, vắng vẻ nha. Lúc nào cũng tới lui chùa, mở những cái khóa tu, nhờ thầy mở những cái khóa tu. Ha? Thí dụ mỗi Chủ nhật đem con cháu tới học những bài học về đạo
[51:09]đức, còn mình thì ngồi thiền, tụng kinh, lễ Phật, chấp tác. Chùa này nhỏ quá thì không có việc gì nhiều thì mình tổ chức đi từ thiện trên làng, trên xóm. Vân vân, thì còn nhiều việc lắm, đại khái như vậy. Nhưng lúc nào làm sao trong chùa đừng để vắng người. Phật tử cứ phải luân phiên tới lui với nhau, tổ chức thành đạo tràng, có người trưởng tràng, phó tràng để mà liên hệ với nhau cho đỡ nhọc thầy. Rồi cứ luân phiên mỗi ngày đều có người người tới chùa. Người tới chùa để chấp tác mà cũng để canh chừng thầy.
[51:42]Còn những ngày Chủ nhật, thứ Bảy, ngày rằm, ngày vía đó thì mình đến đông hơn. Đó, thật sự khi mình có mặt đông như vậy, tăng thêm cái sức mạnh tu hành cho thầy rất nhiều chứ không phải không. Thầy dạy mình những cái đạo lý quý giá từ nơi Đức Phật nhưng mà sự có mặt của mình cũng là hỗ trợ cho thầy đi suốt cuộc đời tu hành chân chính hết kiếp này và qua những kiếp sau. Cho nên Phật tử mà đi chùa có phước là vậy đó. Đừng có nói là đi chùa có phước cho mình không. Không phải là nói là đi chùa tu cho mình không. Mình đi chùa mình tu cho thầy dùm chớ đừng nói. Vừa tu cho mình mà cũng vừa tu cho thầy mình, như vậy nữa.
[52:20]Nên đừng bỏ chùa nha. Nhưng có những người không muốn ta đi chùa, có những người muốn phá hoại đạo tâm ta, có những người hay nói bậy, họ nói xấu thầy ta, nói xấu đạo Phật để làm cho ta nản, ta bỏ chùa thì nhớ phải vượt qua cái điều đó nha. Giữ lòng kiên định với Đức Phật, một lòng tôn kính Phật tuyệt đối, một lòng yêu kính những lời dạy của Phật tuyệt đối, và sao? Và yêu kính thầy ta. Nhưng mà ta biết rằng thầy ta vẫn còn hạn chế vì thầy ta chưa phải là Phật, thầy ta chưa phải A La Hán, thầy ta cũng đang trên đường tu. Cho nên là ta phải yêu thầy ta mà phải canh chừng mà bảo vệ nha. Đặc tính của người xuất gia là gì?
[53:15]Cái đặc điểm của người xuất gia là sống không giống người thế tục. Không giống. Vì giống người thế tục rồi thôi ta hết tu à. Cho nên người xuất gia không giống người thế tục. Ví dụ như hình tướng là không được giống, sinh hoạt không được giống, ăn uống không được giống, rồi nhiều thứ không được giống. Ví dụ như bây giờ về hình tướng thì phải sao? Phải cạo tóc. Người tại gia thì được quyền gì? Uốn, nhuộm, à cắt hay duỗi thẳng, ghép gì đó. Hờ, nhưng mà người xuất gia thì không làm gì được nữa vì cạo mất tiêu rồi. Rồi người tại gia thì được quyền mặc đồ model phải không ạ? Đẹp, nhiều màu, còn người xuất gia thì chỉ được mặc cái manh áo cà sa như vầy.
[54:02]Bộ đồ này có đẹp không ạ? Xấu, sao đẹp được.
[54:08]Không có model, không có thời trang gì được. Ví dụ bây giờ người tại gia thì qua mỗi năm nó có mỗi cái model, còn người xuất gia rồi bao nhiêu mấy trăm năm nữa cũng cứ vậy hoài, không có thêm được cái gì hết, chỉ có vải hơi khác, mua không được nữa thì mua vải nào may vải đó, vậy. Nó không giống nhau như người người thế tục được. Rồi vấn đề ăn uống cũng vậy. Ví dụ cái người ăn uống á thì được quyền rượu thịt no say, phải không ạ? Ăn sung mặc sướng, nhưng người xuất gia thì phải ăn uống đạm bạc, không được kiểu mà rượu thịt no say. Vì sống đời đạm bạc vì sao vậy? Bởi vì mỗi một miếng cơm là mỗi một miếng nợ.
[54:47]Ăn nhiều nợ nhiều. Tại vì người xuất gia là sống nhờ cái gì? Nhờ sự cúng dường của đàn na, tín thí. Mà người ta đem miếng gạo, miếng tiền tới người ta cúng là mồ hôi, nước mắt ở đấy. Mà mình ăn cái món đó, mình ráng mình tu để mình độ lại cho chúng sinh. Và mỗi miếng ăn là mỗi miếng nợ. Mà có ai ngu gì muốn nợ nhiều không ạ? Phải không ạ? Không ai ngu gì muốn nợ nhiều. Cho nên vì vậy, người xuất gia ăn uống đạm bạc để ít nợ với đời. Ít nợ với đời thì tâm mình mới thanh thản mà mà tu hành được. Còn nợ nhiều quá mình nặng lòng lắm. Ta nhớ điều này, cái quy luật là thế này: nợ nhiều thì nặng lòng, nợ ít thì nhẹ lòng. Đúng không ạ?
[55:36]Ví dụ bây giờ mình vay ngân hàng hai trăm triệu, đêm mình ngủ còn ngon giấc không? Không, hết rồi. Còn ví dụ như mình gửi ngân hàng tiền dư mình hai trăm triệu, đêm ngủ ngon giấc không? Ngon. Là vì đó là tiền dư, thấy không? Mình thoải mái tâm tư, còn mình nợ họ, không biết ngày nào họ tới họ lấy cái nhà mất. Thì trong cuộc sống này cũng vậy. Ví dụ tại sao ta gặp một người ta nặng lòng, mà có gặp những người khác ta nhẹ lòng? Bởi vì kiếp xưa ta ta mắc nợ người này. Kiếp xưa ta mắc nợ người này. Cho nên khi gặp một cái tự nhiên ta yêu mến, ta nặng lòng, ta cứ nhớ nhung hoài thì phải hiểu rằng đó là nợ.
[56:22]Và người kia là hồi kiếp trước ta đã vay rồi. Còn ta gặp người vui vẻ chơi vui với nhau qua rồi thôi, không bận lòng lắm, không nặng lòng lắm là bởi vì kiếp trước ta ta ít nợ, không có nợ, hãy nhớ điều đó. Như có một người nói vầy: "Từ khi con lấy chồng đến nay, chỉ trừ những ngày chồng con đi vắng, còn ngày nào ổng có nhà ổng đều đánh con. Nhưng mà không bao giờ bỏ được." Vậy cái nghiệp là gì? Lý do gì? Không bỏ được mặc dầu ổng là là bạo lực gia đình, ngày nào cũng đánh trừ khi ổng đi vắng đâu thôi. Mà không bỏ được. Đố ai biết nghiệp gì? Thì biết là nợ đó, nợ rồi mới không bỏ được đó, mới thấy nặng lòng.
[57:12]Mà nợ gì? Để thầy nói nghe rồi sẽ thấy sợ, sẽ thấy sợ cái nghiệp của chúng sinh. Cái nợ là thế này. Ngày xưa ông chồng đó là chính là con trâu cày trong gia đình. Bà này là người chủ nhà. Ngày nào cũng bắt trâu ra đồng cày và đánh nó, đánh roi ngày nào cũng đánh. Phải không ạ? Cày thế nào cũng phải cầm cái roi quất chóc chóc đó. Ngày nào cũng đánh, và mắc nợ con trâu đó. Mới ban đầu con trâu nó mắc nợ mình nên nó đọa làm thân trâu để nó trả nợ mình. Nhưng rồi mình đòi nó quá, mình ép nó làm việc nhiều quá, bắt đầu mình mắc nợ lại. Trên đời đa số đều như vậy hết. Ban đầu người nợ ta, nhưng ta thấy được,
[57:58]ta ăn hiếp, ta ép tới, ta nợ người ngược lại mà ta không hay. Thì cái gia đình này cũng vậy. Con trâu nó mắc nợ, nó đầu thai vô làm trâu cày ruộng cho gia đình này. Nhưng mà ta ép nó làm quá sức, rồi ta đánh nó nữa, bắt đầu cái gia đình đó mắc nợ lại. Kiếp sau con trâu nó lên làm người, vì mắc nợ nó nên nó làm chồng. Làm chồng nhưng ngày nào nó cũng phải đánh lại để bù lại ngày xưa lúc bắt nó làm việc trên đồng ngày nào cũng quất nó bao nhiêu chục cái roi. Nói ví dụ á. Có một lần thầy gặp một cái cặp gia đình đó quý vị, thầy thấy người vợ sang trọng vô cùng, nhưng người chồng thì rất là bần. Nhưng mà hai vợ chồng là vẫn phải ăn đời ở kiếp với nhau.
[58:38]Thì suy nghiệm ra mới thấy thế này. Bà này ngày xưa, kiếp xưa, cũng là một tiểu thư công chúa. Ông này chỉ là một người hầu. Ổng hầu nhưng mà ổng lén thương, thương mà không dám nói. Và vì ổng thương ổng làm quá sức ổng, ổng phục vụ hết sức tận tình. Tức là sống chết, mưa nắng gì ổng cũng phục vụ. Rồi từ từ, cái bà công chúa này mắc nợ lại. Chớ khi người ta đến người ta làm người hầu của mình á, thì người ta mắc nợ mình. Nhưng mà khi người ta làm quá sức, người ta làm mà mài miệt như vậy, thì bỗng nhiên cái bà công chúa, tiểu thư này mắc nợ lại cái người hầu. Kiếp sau trở lại ổng làm chồng. Nhưng ổng vẫn mang cái dáng vẻ của một người hầu hơi bần bần.
[59:18]Còn cái bà kia trở lại làm vợ nhưng vẫn mang cái cốt cách của một tiểu thư công chúa đời trước nó vẫn sang cả. Lạ như vậy, nhân quả là vậy. Nên vì vậy, cái người tu sợ nợ. Vì mình phải trả trong nhiều cách mà không biết trả cách nào. Cho nên ăn uống đạm bạc, hưởng thụ ít ỏi, sơ sài. Ví dụ Phật tử có thương đem mình cúng thật nhiều, thì không dám hưởng, mà để dành tiền đó làm một cái gì cho lợi ích chung. Ví dụ đem lại xây, cất, tôn tạo, thì nó thành cái chùa chung để lại đời đời cho bao nhiêu người hưởng. Chứ còn phần mình vẫn vậy, vẫn một ngày vài bữa cơm dưa muối đạm bạc thế thôi. Rồi cũng mua sắm ít thế thôi.
[1:00:02]Đời này thì thêm cái di động thế thôi. Quá, đường xa gió bụi quá thôi thêm chiếc xe máy thế thôi. Đại khái vậy. Không dám hưởng nhiều vì sợ? Sợ nợ. Nên cái người tu khác với người đời, là khi người đời mà hễ có điều kiện thì hưởng thụ cho hết cái phúc đó đi. Còn người tu, khi có điều kiện cũng không dám hưởng thụ. Có cái khác nhau giữa người xuất gia và người tại gia là như vậy ha. Rồi cái người người xuất gia quý vị, không dám tham gia các trò vui của cuộc đời.
[1:00:40]Ví dụ như bây giờ là người ta đi khiêu vũ, người ta nhảy múa được. Quý thầy, cô mình có đi khiêu vũ được không? Người ta ôm nhau ta nhảy, mình có ôm nhau nhảy được không? Không. Không tham dự được các trò vui. Rồi người ta kéo co, người ta hò hét mình được tham dự được không? Rồi người ta coi đá banh người ta la: "Vô! Vô!" rồi mình có đứng lên mình nhảy lên mình "Vô! Vô!" được không? Không. Phải không ạ? Không tham dự được. Người ta đi đánh bài, mình đi đánh được không? Không. Tức là những trò vui của đời không tham dự được. Vì sao vậy? Vì sao tu buồn như vậy? Vì nếu mà ta tham gia các trò vui thế gian tâm ta làm sao?
[1:01:21]Loạn lên hết rồi làm sao mà nhiếp tâm thanh tịnh được? Mà nếu tâm không thanh tịnh thì làm sao vô ngã được? Mà nếu không vô ngã thì làm sao mà diệt trừ được cái thiên vị đối với gia đình được? Phải không ạ? Tâm phải vô ngã mới mới diệt trừ được cái thiên vị đối với gia đình. Mà muốn vô ngã tâm phải thanh tịnh. Mà muốn thanh tịnh phải giữ giới. Không tham dự, không tham gia các trò vui đời, để tâm không loạn. Vì các trò vui ngoài đời đều làm cho tâm loạn lên cả. Phải không ạ? Đều tâm loạn. Cho nên người xuất gia không có tham gia được các trò vui ở ngoài đời. Ví dụ bây giờ giới của Phật không có. Nói:
[1:01:59]"Dạ, con thọ Tỳ-kheo là 250 giới. Trong các giới này không có cái giới cấm đá banh. Cho nên con vẫn đá banh được. Và trong không có cái giới cấm cá độ, cho nên con cá độ được." Được không ạ? Không. Tuy ngày xưa không có đá banh, không có cá độ nên Phật đâu biết đâu mà cấm. Nhưng ngày nay ta phải tự biết. Vì sao vậy? Vì hễ tham gia những cái cuộc vui thế gian làm tâm ta loạn động. Tâm loạn động thì lấy đâu mà tu hành. Cho nên người tu không được tham dự các trò vui của thế gian. Hình tướng đã khác, ăn uống đạm bạc, y phục sơ sài, không dám hưởng thụ nhiều để tránh nợ, và cũng từ chối luôn các trò vui thế gian để giữ tâm hồn mình thanh tịnh.
[1:02:48]Phải không ạ? Tu sướng không? Tu sướng không? Cực phải không ạ? Rồi như vậy là không làm gì hết, thì như vậy người tu là một người sống cuộc đời an nhàn, đúng không ạ? Đúng không ạ? Nói: "Thôi cực quá rồi, mệt mỏi quá rồi thôi vô chùa tu cho nó khỏe, vô chùa nó nhàn á." Đúng không ạ? Có nhiều người nói: "Bồ bỏ tui rồi thôi tui vô chùa tui tu." Người thất tình đi tu. Nên nhiều người cứ tưởng: "Trời đất ơi, sao kỳ cái cô đó cô đẹp vậy mà cô đi tu, chắc cô thất tình." Không phải, người thất tình đâu vào chùa tu được. Người tu phải người có lý tưởng cao siêu, người tin kính Phật, hiểu sâu giáo pháp và khát khao thực hành cái giáo pháp đó.
[1:03:36]Và để trở thành một bậc thầy mẫu mực mà làm chỗ nương tựa, dạy dỗ cho chúng sinh. Chứ thất tình làm sao vào chùa mà tu được. Thất tình vô chùa ở nguôi ngoai được mấy bữa rồi lại chạy ra ngoài. Cho nên nói rằng, tu vô chùa tu cho nó sướng, cho nó nhàn, cho nó khỏe là một sai lầm. Tu không có nhàn. Nhưng mà phong cách thì an nhàn. Người tu không bao giờ có ra cái vẻ tất bật, vội vã. Công việc dù gấp rút vậy nè, ta vẫn nhìn thấy người tu điềm đạm, đĩnh đạc, khoan thai. Nhưng mà rất là bận rộn. Không có để thời gian trống. Cái người thế tục của ta không hiểu á, có những lúc nào mà ta nghỉ ở không được thì ta cứ nghỉ ở không, ta đi chơi vui được ta cứ đi chơi vui.
[1:04:24]Còn người xuất gia không có. Người xuất gia tiếc từng giờ. Tiếc từng giờ. Ví dụ như giờ đó mệt quá không làm việc được, thì ngồi ngả lưng nhưng lúc đó đang nhiếp tâm tu tập nhá, chứ không phải ngồi không. Người tu không có chuyện mà ngồi không biết làm gì, không có. Lúc nào phải giữ trong chánh niệm, thiền định. Còn ngoài ra, vừa giữ chánh niệm mà phải vừa làm bao nhiêu việc: Chấp tác, công quả, soạn bài, viết sách, giáo hóa, vân vân. Lúc nào cũng phải làm. Buông công việc ra, nếu mệt buông ra, lúc đó quay lại nhiếp tâm thanh tịnh kỹ hơn nữa, không có giờ nào bỏ không cả. Đó là người xuất gia.
[1:05:05]Không có khái niệm ở không đi chơi, không có chuyện đó. Người xuất gia như vậy. Vậy ta thích đi tu chưa ạ? Nghe xuất gia nãy giờ sợ chưa? Vậy đi tu được không? Dám không?
[1:05:22]Nên là, khi mà đã dành cả cuộc đời để tu tập như vậy, thì cái việc đầu tiên quan trọng của người tu là nghiền ngẫm kinh Phật để hiểu được cái đạo lý sâu xa mà ứng dụng tu hành trong cuộc đời của mình, trong nội tâm của mình. Cho nên thấy có ngồi đọc kinh lẩm nhẩm, thấy đi tới đi lui ngoài sân nhưng sự thật là đang tìm cách biến cái lời Phật dạy trở thành cái cuộc sống thật của mình. Tại vì lời Phật dạy chỉ là chữ nghĩa nằm trong trong sách từ ngàn xưa. Rồi mãi mãi cũng chỉ là cuốn sách kinh vậy thôi. Khô khan, vô tình, lạnh lẽo nằm đó. Chỉ khi nào có cái người đọc cuốn kinh đó mà hiểu, và biến những đạo lý đó thành cuộc sống, thì cái cái lời kinh đó mới trở thành gì?
[1:06:11]Trở thành cái sức sống cho cho cõi đời. Chứ còn không, mãi mãi là những cuốn kinh khô khan, im lìm, lạnh lẽo nằm trong giá kinh đó thôi. Nhưng mà người nào moi ra, từng lời, từng chữ đó ứng dụng vào cuộc sống, thì cái cuốn kinh đó mới trở thành vô giá, thành cái mạch nguồn tâm linh tràn đầy cái sức mạnh phả vào vào dòng đời, đem lại bao nhiêu điều tốt lành cho cho cuộc đời này. Nhưng thế nào gọi là từ cái lời kinh nằm trong cuốn kinh lạnh lẽo đó mà biến thành cái sức sống vô tận trong cuộc sống của mình? Thầy nói ví dụ thôi. Ví dụ trong kinh Phật nói rằng: Đệ tử Phật phải trải lòng từ bi yêu thương khắp
[1:06:55]tất cả chúng sinh, cũng chỉ là những câu nói. Sau khi đọc xong ờ hay ha ta gấp ta để lại không làm gì nữa thì cuốn kinh nó lại sao? Tiếp tục là khô khan, lạnh lẽo. Nhưng mà nếu ta nghe cái lời đó rồi bắt đầu ta nghiền ngẫm: Tại sao mình chưa yêu thương được mọi người? Làm cách nào để yêu thương được mọi người? Mỗi ngày phải lạy Phật, xin Phật gia hộ cho con mở được lòng từ bi, con yêu thương được mọi người. Mỗi khi nhìn thấy mọi người đông như thế này, đều nguyện lòng cho con yêu thương được chúng sinh. Thấy chim bay trên trời, cá lội dưới nước, nguyện lòng cho con yêu thương tất cả. Đó là mới tâm niệm thôi.
[1:07:36]Lâu ngày như vậy, mấy năm như vậy, cái lòng từ bi bắt đầu nó mới xuất hiện nhen nhúm, nhen nhúm từng chút từng chút. Bắt đầu nó biến thành hành động. Lúc đó, thấy một người khổ ta giúp như thế nào, thấy một người sai ta sửa như thế nào, thấy việc đời, việc đạo ta phải làm điều gì, tự bắt đầu tuôn trong tâm ra. Ta bắt đầu mới tác động vào cuộc đời. Ta nói với người này một lời, ta giúp cho người kia một việc, làm thay đổi tâm hồn của bao nhiêu người trong cuộc sống này. Mà bởi từ cái tâm từ bi của ta, ta nói một câu một chữ nó lay động được lòng người. Thế là cái tốt đẹp đó nó lan từ người này sang người kia, lan từ tâm hồn của một ông thầy lan sang vào vào cuộc đời.
[1:08:20]Thế người ta biết yêu thương, biết tử tế với nhau, vì người ta tin rằng trên đời này có điều tử tế. Còn trước đó, người ta cứ nghĩ trên đời sống là phải hơn thua giành giật. Ai cứ mánh khóe, thủ đoạn giành được cho mình phần hơn thì là có lợi. Nhưng đến khi ta thấy có một ông thầy sống đạm bạc, đơn sơ, yêu thương, tử tế được mọi người thì ta tin rằng: à, trên đời này còn có sự tử tế. Và ta thấy sống mà bằng cái sự tử tế, cuộc sống nó đẹp, nó đáng sống. Sống rồi lòng mình an vui, thanh thản, không sợ hãi, không tranh giành, không bon chen. Cứ ban tặng, cứ giúp đỡ, cứ tử tế, cứ buông xả và cứ phủi tay, không giữ gì cho mình.
[1:09:08]Vậy mà lòng mình an vui, vậy mà lòng mình hạnh phúc. Thế đó. Từ cái cuốn kinh lạnh lẽo, khô khan, từ những dòng chữ khó hiểu rớt vào tâm ông thầy bắt đầu biến thành cái lòng tâm từ bi. Và từ cái tâm từ bi của ông thầy bắt đầu biến thành sự cảm hóa trong cuộc đời. Và cái sự cảm hóa nó lan vào cuộc đời, cái đẹp nó tràn vào cuộc đời, cái hạnh phúc an vui nó đi vào cuộc đời. Cho nên người xuất gia là vậy, dành cả cuộc đời của mình nghiền ngẫm kinh Phật để mà đưa vào tâm hồn mình và biến thành cuộc sống của mình. Cực không? Cực lắm, không phải dễ đâu. Nhưng mà đẹp không? Đẹp lắm. Nha, cuộc đời tu hành của một người là như vậy,
[1:09:55]đẹp như vậy, như một vầng trăng rằm vằng vặc trên cao là như vậy. Cho nên khi một người xuất gia mà tu đúng á thì ta thấy thế này: nếu cái vị đó dù có kém dở, cũng nói được vài lời dạy dỗ cho người chung quanh. Mình nói là người đó tệ đó, kém đó, dở đó, nhưng mà nếu có đạo hạnh vẫn khuyên được người khác một vài lời ngắn ngủi, nhưng mà lay động được người ta, chuyển hóa được người ta. Còn nếu giỏi hơn thì có thể lải nhải thuyết pháp, nói dai nói dài, nói cho người ta ghét. Nãy giờ có ai ghét thầy không ạ? Thế thì lải nhải nói hoài thì sợ bị người ta ghét quá à. Cái người tu á, nó có hai cái thái độ sai mà ta nên tránh cho người xuất gia.
[1:10:47]Thái độ sai thứ nhất là kiêu mạn. Cứ nghĩ mình là người xuất gia, mình là thầy của thiên hạ, mình là trên mọi người. Ý nghĩ đó là kiêu mạn. Kiêu mạn nên tổn phước. Kiếp sau trở lại làm người thế tục, không được xuất gia nữa. Và ngay trong kiếp này tâm lý bắt đầu biến dạng, nói năng bỗ bã, bừa bãi, nói kiểu đầu đường xó chợ, rồi có khi phạm giới luôn, vì cái kiêu mạn. Nên cái người tu tuy là Tăng bảo, tuy là một điều quý giá trong Phật pháp, tuy được mọi người yêu kính nhưng lúc nào cũng phải tự thấy mình là gì? Là kém dở, thấy mình như là cát bụi, như là cỏ rác, thì người này tu được bền. Phải khiêm hạ mà tu, khiêm hạ trong đối tiếp với mọi người.
[1:11:41]Mặc dù biết mình làm thầy đó, biết mọi người kính trọng mình đó, nhưng đừng bao giờ nghĩ mình hơn mọi người, đừng bao giờ nghĩ mình là một đẳng cấp cao trên mọi người. Nghĩ như vậy là mang tội, tổn phước chết luôn. Rồi ngay đời này là thoái thất liền. Ngay đời này đạo hạnh ta sụt giảm. Sụt giảm là thứ nhất hoặc là ta phạm giới, hai, bắt đầu nhân cách ta biến dạng, nói năng bừa bãi, bỗ bã kiểu đầu đường xó chợ liền. Còn cái người mà tu đúng, ta sẽ thấy họ giữ được cái phong cách suốt đời, từng lời ăn tiếng nói nó điềm đạm, chững chạc, đạo đức đàng hoàng, không có chữ nào nói bừa cả. Đó là người tu đúng á.
[1:12:22]Còn bắt đầu nói bừa rồi là biết trong tâm người này có cái sai mà thường là kiêu mạn. Nên đó là thái độ sai thứ nhất. Cái thái độ sai thứ hai là khúm núm quá sức, khúm núm hèn hạ quá sức. Ví dụ nghĩ mình là người tu, thôi mình là kẻ ăn mày, thì ai cũng là thí chủ, gặp ai cũng khúm núm, ờ cung kính nịnh bợ, sợ sệt thì người này cũng không có đạo hạnh, phải không ạ? Ví dụ gặp các anh chính quyền, thấy các anh chính quyền, công an, sợ hãi khúm núm là bậy. Ví dụ các anh có cái vai trò của các anh trong cuộc đời này, các anh cán bộ lãnh đạo các anh có cái giá trị của các anh trong cuộc đời này, lo cho dân cho nước.
[1:13:01]Và cái người tu mình cũng có giá trị, cũng lo cho dân cho nước bằng con đường tâm linh. Mà khi mình tu đúng, cái đạo hạnh mình có mạnh rồi mình không bị rơi vào cái thái độ hèn hạ, khúm núm mà chững chạc, khiêm tốn, nhưng mà làm sao? Vẫn đĩnh đạc, đàng hoàng. Nên ta nhớ người tu có hai cái thái độ, người xuất gia hai thái độ sai: không được kiêu mạn, mà không không được khúm núm hèn hạ. Nhớ như vậy. Có cái gì đó vừa khiêm tốn mà lại vừa đĩnh đạc, đường bệ, oai nghi. Đó, là người tu như vậy, dễ không? Một điều thầy dặn với Phật tử này nữa nè là Phật tử thương thầy nhưng đừng trở thành cảm tính.
[1:13:49]Tại vì có một số Phật tử theo thầy lâu ngày, thương thầy bắt đầu thành cảm tính, bắt đầu chiều thầy và chiều mấy cái bậy. Ví dụ thầy có từng gặp những trường hợp như vậy. Cái thầy buồn quá, nói: thôi thầy bày sòng bài ra đánh cho đỡ buồn. Phật tử thương thầy cái lén lén đi mua bộ bài đem về rồi bảo vệ thầy đừng cho ai biết để thầy đánh cho đỡ buồn. Thấy tội nghiệp thầy, cả đời thầy tu hành chả biết gì đời cả, chả có gì vui cả, thôi kệ lâu lâu lén cho thầy đánh bài vài ván cho vui. Nhưng mà thầy đánh thâu đêm suốt sáng luôn, mất tu luôn, bỏ công phu luôn. Đó là ta chiều thầy bậy. Rồi thậm chí cái thầy thích những cái món lạ,
[1:14:33]cái lén lén kiếm về cho thầy, thương thầy quá tội nghiệp thầy đi tu cả đời không biết gì hết á. Cái đó là cảm tính rồi đó, nha. Cái đó là cảm tính chiều thầy chiều bậy rồi. Cho nên nhớ: thương thầy nhưng phải bảo vệ đạo hạnh của thầy. Thương thầy, không cho thầy làm bậy. Nhiều khi thầy nói xa nói gần thầy thèm cái gì nói: thôi thầy, thầy tu thầy bỏ cái thèm đó đi thầy. Phải góp ý như vậy để bảo vệ đạo hạnh cho thầy, chứ đừng có thương thầy rồi cái chiều thầy thành nó cảm tính. Có không ạ? Có đó, có vài nơi có, kỳ lạ như vậy đó chứ không phải không đâu. Ừ. Và cái này nữa, đừng bao giờ vội quay lưng khi thấy thầy mình phạm sai lầm.
[1:15:14]Vì thầy ổng phạm bữa nay chứ ngày mai nhiều khi ổng sửa ổng tốt lên lại. Mà nếu có người an ủi khuyến khích, về sau cuối đời ổng vẫn trở thành một vị cao tăng cao ni. Mặc dầu hồi lúc trẻ có khi ổng phạm sai lầm. Nhưng đừng bỏ, nha. Vì một cái lỗi ngày hôm nay có khi nó không còn cái lỗi của ngày mai nữa. Nhưng mà ngày hôm nay ổng trong sạch, đừng nghĩ ổng trong sạch suốt đời, mà cứ phải canh chừng ổng hoài. Nhớ như vậy. Mà ngày hôm nay ổng có phạm lỗi, cũng đừng nghĩ là ổng phạm lỗi suốt đời, có khi ngày mai ổng sửa được, trở nên rất là tốt. Cho nên đừng bao giờ quay lưng khi thấy thầy mình có những cái sơ suất, có những cái lầm lỗi.
[1:15:52]Phật tử như vậy mới là mới là thật lòng thương thầy, đúng không ạ? Nhớ như vậy nha. Cái khó của người xuất gia là thế này: là không nhiễm đời nhưng mà không cắt đứt liên lạc với đời. Người đời họ vui những trò này trò kia, ta không ta không vui, không tham gia. Người đời ái luyến thế này thế kia, ta không ái luyến, không nhiễm đời nhưng không có cắt đứt. Vẫn giữ mối liên lạc để chi? Để mà giáo hóa chúng sinh, mới độ chúng sinh, mới đưa chúng sinh về với Phật pháp. Chứ còn ta có cái quan điểm là cắt đứt hết, ẩn tu tuyệt đối trốn bặt, vẫn là điều không hay. Thì như vậy ta tu cũng vô ích, không đem lại được lợi lộc
[1:16:37]gì cho ai cũng là điều tổn phước, cũng không hay. Ví dụ như ta tránh duyên một thời gian nào đó thôi để nhập thất chuyên tu, để dồn sâu vào cái tâm linh thiền định thì được, nhưng một thời gian thôi, không phải là mãi mãi. Mà vẫn phải dành thời gian phụng sự, cống hiến, giáo hóa, độ sinh. Nha. Mà khi phụng sự, cống hiến, giáo hóa, độ sinh là có tiếp xúc. Mà có tiếp xúc, đừng để bị ô nhiễm. Cái khó là chỗ này. Hễ có tiếp xúc rồi bắt đầu có cái thích, giống như nãy ông cụ ổng nói đó: thích, có. Thì thầy tu cũng vậy, hễ tiếp xúc rồi bắt đầu thích. Thích cái gì? Thấy chiếc xe hơi đẹp á nhìn thấy cũng thích,
[1:17:18]thấy cái nhà lầu đẹp quá thấy cũng thích, thấy gương mặt cô đó dễ ưa quá thấy cũng thích. Thích nhiều thứ lắm chứ không phải không. Nhưng mà vì cái lý tưởng tu tập, vì bổn phận đối với Phật pháp, ừ vì mình phải làm chỗ nương tựa chúng sinh nên vượt qua cái thích đó. Vượt bỏ, hôm nay bỏ cái thích này, mai bỏ cái thích kia, để mà giữ cuộc đời mình trong sạch mà đi tới. Đó, như vậy. Nên khi mà tiếp xúc với đời thì sẽ có cái cái thích nó khởi lên, và phải vượt qua. Nên người tu là vậy, không nhiễm đời nhưng cũng không không cắt đứt liên lạc với đời, là như vậy nha. Và cái người tu cái nữa nè: giữ gìn phong cách của thánh, nhưng mà không được thấy mình là thánh.
[1:18:07]Tại vì trong đạo Phật vậy có những cái oai nghi giới hạnh là những điều của Thánh. Ví dụ khi đi phải đi làm sao, khi đứng phải đứng làm sao, khi ngồi phải ngồi làm sao, ăn phải làm sao, nói phải làm sao là trong luật của chùa có dạy hết, và những oai nghi đó là oai nghi của Thánh. Ví dụ như người tu không bao giờ mà được đứng mà kiễng chân hoặc là đứng chống nạnh tay vậy không có, lúc nào cũng điềm đạm, đi từng bước đặt tay đặt chân đúng chỗ, nhìn cũng đúng nơi, chứ không phải thấy ví dụ có một người đó họ móc cọc tiền ra mình cứ dòm dòm dòm dòm cái tay người ta đếm tiền hoài không được, cái chỗ đó phải quay mặt chỗ khác liền.
[1:18:42]Thấy người ta móc tiền ra rồi là phải quay mặt nhìn chỗ khác, vì đó là oai nghi của Thánh mà trong luật của chùa dạy rất kỹ. Rồi ví dụ như ta vừa đến thăm một thí chủ vậy có cái duyên sự đến thăm thì người ta cũng đón mình, nhưng mình vừa bước vào lúc mà người ta dọn dẹp chưa xong, nhà cửa rồi còn bừa bãi vừa để tiền để đó để quần áo quần áo lót quần áo trong tùm lum ta bước ra liền không bước vào nữa, vì luật không cho phép. Họ dọn xong cái nhà họ đàng hoàng ta mới bước vào nói chuyện đạo gì đó rồi bước ra. Đó là cái oai nghi của Thánh. Nên cái người tu là người giữ oai nghi của Thánh nhưng không
[1:19:17]được thấy mình là không được thấy mình là Thánh. Giữ oai nghi của Thánh để cho chúng sinh tin tưởng nương tựa, nhưng lòng mình không bao giờ thấy mình là Thánh để giữ cái gì? Giữ cái sự khiêm hạ nha, giữ cái sự khiêm hạ, cái đạo đức. Khó không? Bắt đầu sợ chưa? Và để thành tựu được tất cả mọi cái công hạnh cao siêu đó thì người xuất gia buộc phải có thiền định, phải có công phu thiền định hằng ngày để nhiếp tâm thanh tịnh đi vào cái vô ngã. Vì bản ngã là gì? Bản ngã là sự xoáy động của tâm. Khi cái tâm mà nó dừng sự xoáy động đó thì nó trở nên vô ngã dần dần. Khi mà nó dừng tuyệt đối thì người đó trở nên vô ngã.
[1:20:04]Còn khi nó còn động một ít thì còn chấp ngã một ít. Còn mà động quá sức thì là ta chấp ngã rất là rất là nặng, nó nặng nề. Nên người tu buộc phải có công phu thiền định hằng ngày, tu cho đúng phương pháp và một ngày phải ngồi được hai ba lần để lắng tâm trong thiền định. Và ngoài những lúc ngồi thiền đó, trong đời sống trong đi đứng nằm ngồi đều phải biết giữ chánh niệm nha, lúc nào cũng an trú toàn thân, biết thân này là là vô thường như vậy. Sợ chưa? Thấy trách nhiệm của người tu như vậy thấy sợ chưa? Chưa hả? Dám đi tu không? Cười trừ chứ dám! Khó đó! Hôm nay về ta nói với nhau cái đề tài xuất gia có
[1:20:50]gì khác biệt, ta đã thấy sự khác biệt chưa? Ta thấy yêu kính thầy mình chưa? Yêu nhiều hơn phải không? Và yêu nhiều hơn nên phải canh chừng kỹ hơn nha, không để sẩy, không để sẩy, không để mất, không để đánh tráo nha, để bảo vệ Tăng Bảo, giữ gìn cái mạng mạch đời đời cho Phật pháp của ta. Mà giữ gìn Phật pháp của ta cũng chính là giữ gìn cái tâm linh dân tộc ta, đất nước ta nha. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:21:22]Cảm ơn các các bác lãnh đạo nha đã giúp đỡ chùa để có một buổi ta ta pháp thoại ngày hôm nay nha. Công đức này cũng thuộc về các bác rất là nhiều. Thứ hai nữa là các cư sĩ đã mà phụ giúp với các sư thầy để mà dựng nên buổi pháp thoại này. Rồi cảm ơn quý thầy, quý sư cô đã về đây để chứng minh, hộ niệm cho buổi pháp thoại này. Và cảm ơn nhất là những người cất công về đây ngồi nghe. Vì có người ngồi nghe thầy mới giảng được, không có người ngồi nghe thầy không thể giảng được. Nên nhờ cái người đến nghe mà ta có cái bài pháp thoại thế này. Nguyện cầu mười phương Tam Bảo gia hộ cho tất cả chúng ta được
[1:22:04]nhiều phúc lành và thành tựu được Phật pháp cao siêu nha. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:22:56]Lời kinh con cầu xin với Đấng Như Lai sám hối cho muôn loài để cùng hướng đến tương lai. Lời kinh con cầu xin thế giới bao la sẽ hết phong ba, mang hạnh phúc chúng sanh bình an.
[1:23:28]Thành tâm con quỳ xuống nguyện theo con đường sáng. Ánh sáng rất nhiệm mầu chiếu vào lòng giữa cuộc đời mãi sương mờ.
[1:23:46]Con cầu lời kinh vọng mãi muôn đời. Con cầu bình an hạnh phúc muôn nơi. Con cầu lời kinh vọng mãi muôn đời. Con cầu bình an hạnh phúc muôn nơi.
[1:24:42]Lời kinh con cầu xin với Đấng Như Lai sám hối cho muôn loài để cùng hướng đến tương lai.
[1:24:58]Lời kinh con cầu xin thế giới bao la sẽ hết phong ba, mang hạnh phúc chúng sanh bình an. Thành tâm con quỳ xuống nguyện theo con đường sáng. Ánh sáng rất nhiệm mầu chiếu vào lòng giữa cuộc đời mãi sương mờ.
[1:25:41]Con
[1:25:46]cầu lời kinh vọng mãi muôn đời.
[1:25:52]Con cầu bình an hạnh phúc muôn nơi.
[1:26:08]Con cầu lời kinh vọng mãi muôn đời. Con cầu bình an hạnh phúc muôn nơi.