[0:11]Bây giờ chúng ta nói tiếp về lý thuyết ha.
[0:17]Thật ra hầu hết những pháp môn thiền mà dạy ở các nơi á đều dạy vào cái chánh định sớm quá, không có cái căn bản chánh niệm, cho nên người tu dễ bị sốc, dễ bị những cái phản ứng này kia nọ. Nếu mà mình có cái căn bản chánh niệm thì mình tu các pháp môn khác không có trở ngại lắm. Nên chánh niệm rất là quan trọng. Quý sư về cố gắng mà thực hành.
[0:49]Hôm nay chúng ta sẽ nói về cơ chế của chánh định. Nhưng trước khi nói về cơ chế của chánh định, chúng ta nói về cái thanh lọc tâm. Thật ra, chánh niệm nó cũng chưa phải là cái căn bản đâu. Trước chánh niệm, nó có một cái phương pháp nữa gọi là thanh lọc tâm. Thanh lọc tâm này nghĩa là mình can đảm mình nhìn vào cái tâm của mình, tự phê phán.
[1:19]Nào giờ á, mình có cái thói quen là mình bênh vực cái tư tưởng của mình, những cái ý nghĩ của mình. Bây giờ mình can đảm, mạnh dạn thoát ra khỏi cái điều xưa cũ đó, mình nhìn lại từng cái tư tưởng để mà mình phê phán nó. Đây là sự chiến thắng vĩ đại. Nào giờ chúng ta dễ phê bình người khác lắm. Người khác mà nhúc nhích một cái cái mình đánh giá là hay, dở liền. Nhưng mà còn chính mình, từng cái tư tưởng, từng tư tưởng trôi qua thì khen ngợi nó, mình chấp nhận nó, nuông chiều nó. Chính vì lý do này mà mình không có được cái căn bản đạo đức trước khi bước vào chánh niệm. Mà tại sao tôi lại không nói cái thanh lọc tâm trước mà lại nói cái chánh niệm trước?
[2:10]Bởi vì có cái lý do thế này: thường một người nếu tu tập chánh niệm vững thì lần lần cái thanh lọc tâm nó xuất hiện theo luôn. Nó xuất hiện theo luôn. Nghĩa là một người đó, trong khi mà theo dõi tâm của mình, đánh giá tâm mình động hay tịnh là tự nhiên đánh giá được cái tư tưởng của tâm mình nó thuộc loại nào luôn, cho nên lúc đó nó xuất hiện đồng thời cái thanh lọc tâm.
[2:43]Nhưng mà đúng ra cái thanh lọc tâm là nó đi trước. Chúng ta phải hiểu thế này:
[2:50]trong cái cơ chế mà thiền định á là tâm không suy nghĩ nhưng mà vẫn còn cái biết.
[2:58]Không suy nghĩ,
[3:02]nhưng mà cái biết này, tức là cái tỉnh giác á, vẫn còn, chứ không có hết. Đây là chỗ mà nếu mà người không có kinh nghiệm sẽ hiểu lầm, cứ tưởng rằng khi cái tâm không suy nghĩ thì không còn biết gì nữa. Điều này là sai. Hôm rồi có một vị sư Nguyên thủy mới cho tôi cái cuốn thiền Tứ Niệm Xứ, rồi tôi đọc qua, trong đó có kể vài thành tích của một vài vị, họ ngồi được một ngày, hai ngày, ba ngày. Rồi khi được hỏi lại, khi người khác hỏi lại thì họ nói rằng trong suốt thời gian mà họ ngồi một, hai ngày như vậy thì họ không biết gì nữa. Tôi nói rằng: "Pháp này sai rồi." Nhưng mà trong cái cuốn sách nó nêu ra
[3:46]cái công phu, cái kết quả đó là xem như là một sự thành công, xem như một sự sở đắc cái thành công của cái vị đó. Nhưng mà khi tôi đọc qua, tôi nói sai rồi. Bởi vì đúng thiền định á, tuy không suy nghĩ, cái không suy nghĩ, cái lắng rất sâu rất sâu, nhưng mà cái biết không bao giờ mất. Cái biết không bao giờ mất. Mà nếu họ vào được tới vô thức giống như hôm trước chúng ta nói á thì có thể là tai không còn nghe, mắt không còn thấy, nhưng mà cái biết của vô thức nó phủ trùm hết, không có chuyện gì che giấu nó được. Cái đó mới đúng là chánh định. Còn không suy nghĩ, lắng sâu ngồi được một, hai ngày mà không biết gì nữa thì bắt đầu rơi vào cái hôn tịch. Hôn tịch.
[4:29]Cái này là một trạng thái nó hơi khác với ngủ một chút, nó hơi khác với ngủ. Nó có làm chủ hơn ngủ, nhưng mà chưa phải chánh định. Còn đúng trong chánh định, không bao giờ mất cái cái biết này, cái tỉnh giác này. Dù cái tỉnh giác đó nó thay đổi từng lúc, từng lúc. Như giai đoạn chúng ta hiện nay, chúng ta đang tu chánh niệm thì cái tỉnh giác đó nó thô, nhưng mà khi mình nhiếp vào định sâu, cái tỉnh giác đó nó tế dần, nó tế dần, nó vi diệu lần lần, nhưng mà không bao giờ mất cái này. Mà cái biết này á, nó có cái hay là thế này: trong khi tịch lặng, lặng lẽ không có chuyện gì hết, người đó giống như mà không biết gì hết.
[5:06]Khi một người ở trong chánh niệm hay ở trong chánh định á, người đó lặng lẽ như không biết gì hết. Nhưng mà đụng chuyện, nhúc nhích một cái, biết thiện, biết ác lập tức liền. Không có cái gì qua được. Đây là gọi là cái tuệ đó. Phần mình thì không nói, phần mình thì mình luôn luôn xét mình rồi, nhưng mà người khác họ nói ra một cái câu đạo lý thì trong đường tơ kẽ tóc rất nhỏ rất nhỏ, thấy được sai hay thấy được đúng liền, không có lầm. Để tôi kể một câu chuyện trong Góp nhặt cát đá.
[5:42]Trong Góp nhặt cát đá có câu chuyện là có một ông trà sư ở bên Nhật, ổng mới nhờ người thợ mộc leo lên để treo cái giỏ hoa ở trên cái xà nhà. Thì người thợ mộc leo lên mới chỉ: "Phải đây không?" Ổng nói: "Không phải, xích qua đây." Cứ đưa tay qua, ổng nói: "Không phải, xích lại, xích qua, xích lại, xích qua, xích lại." Một lát cái đúng cái điểm mà ổng đồng ý. Rồi cái người thợ mộc mới bí mật đánh dấu cái điểm đó, rồi tụt xuống, leo lấy giỏ hoa lên treo, giả vờ treo vào chỗ khác, ổng nói: "Không phải." Cứ chỉ qua, chỉ lại, chỉ qua này, tới khi mà ông thợ mộc chỉ lại đúng cái điểm mà ổng đã bí mật đánh dấu, ông trà sư mới đồng ý. Nó có nghĩa là thế này:
[6:19]cái cảm quan về sự cân xứng của vị trà sư đó, ổng đã chọn cái điểm đó là nó là cân xứng với toàn bộ cái căn phòng của ổng thì chỉ có một điểm duy nhất bằng cái đầu chấm cây bút chì thôi, không có điểm thứ hai. Hễ xích qua chút xíu ổng thấy liền. Thì câu chuyện tới đó dừng lại không nói nữa, để cho mình hiểu gì đó mình hiểu. Câu chuyện đó có nghĩa là thế này: cái trí tuệ của người tu là vậy đó. Cái chân lý, cái lẽ phải hay cái chánh pháp á, cái đúng của nó chỉ bằng đầu chấm cây bút chì, chỉ bằng cái đầu chấm cây bút chì. Rất nhiều người nói những điều giống nhau, mà kỳ thực là cách xa cái điểm đó mấy thước, hoặc là mấy tấc, hoặc là mấy phân.
[7:02]Như bây giờ chúng ta hiện nay nghe trên thế giới cũng nói rất nhiều về chân tâm, về Phật tánh, cũng nói là mỗi người đều có Phật tánh, là tâm mình là ông Phật, đừng tìm Phật bên ngoài. Chúng ta nghe cái câu này nó nát hết trơn, đâu cũng nói điều đó hết, nhưng mà sự thật nó cách xa cái điểm chấm bút chì đó hết mấy tấc, mấy thước rồi, chứ nó không đúng ngay thực sự chính xác cái điểm đó. Ví dụ như một người cũng nói nhân quả, nhưng mà sự thật cách xa cái điểm nhân quả đó tới mấy thước, mấy tấc rồi, chứ không đúng ngay chính xác thật là đúng cái chánh kiến của đạo Phật. Thì cái cái tuệ của người tu trong thiền định
[7:43]cũng vậy, cái biết tỉnh giác này cũng vậy. Bình thường nó lặng lẽ như không biết gì hết, nhưng một người nói ra một câu đạo lý thì trong tích tắc, mình biết liền cái sai đúng người đó liền, sai bao lâu, sai bao xa so với lẽ phải, so với chánh pháp. Hoặc là người đó làm một hành động gì đó thì trong, mình liếc qua một cái là mình đánh giá được người đó đúng sai chỗ nào liền. Nên rất là sáng, rất là sáng. Chính mình thì luôn luôn mình xét mình, không để cho một lầm lỗi nhỏ. Còn mọi người trước mắt hiện ra hết, nghĩa là người sai người đúng trước mắt mình hiện ra không sót một điều gì hết. Nhưng mà có cái là mình biết không phải mình soi mói,
[8:20]chỉ trích, biết trong cái thương yêu, tha thứ, giúp đỡ thôi, chứ không ai giấu mình được điều gì đâu. Khi một người tu thiền mà sáng rồi, không ai giấu mình được điều gì nữa. Họ nhúc nhích một cái mình biết người này tu tới đâu, nghĩa là trình độ tâm cỡ nào, thô tháo hay là tế nhị ở chỗ nào biết liền, không giấu được. Nhưng mà mình biết trong cái thương yêu. Biết người đó còn nóng tánh, biết người đó còn tham, biết người đó còn hơn thua, không giấu gì được. Nhưng mà mình biết trong cái thương yêu mà mình kết duyên để mình giúp đỡ, hướng dẫn người đó vượt qua, chứ không phải biết mà để soi mói, chỉ trích, nhưng cái biết rất sáng.
[8:55]Thì đó là cái người đã thuần thục chánh niệm. Còn vì mình lui lại chỗ thanh lọc tâm là cái người trước giai đoạn chánh niệm là giai đoạn thanh lọc tâm. Ví dụ như mình chưa có được chánh niệm, mình chỉ tu giai đoạn thanh lọc tâm là mình đánh giá tư tưởng mình thôi. Mỗi lần tư tưởng mình khởi lên, mình xem nó đúng, sai, thiện hay ác chỗ nào. Mình khách quan nhìn lại nó. Nào giờ mình có cái thói quen là mình nuông chiều nó, bênh vực cho nó, tư tưởng của mình. Bây giờ mình lật ngược lại, mình đứng ra ngoài cái tư tưởng của mình để mình phê phán lại tư tưởng của mình. Đây là việc làm hết sức can đảm mà hiếm người làm được.
[9:33]Tuy nhiên, một khi chúng ta đã xuất gia, chúng ta muốn nối tiếp mạng mạch của Phật pháp, chúng ta muốn làm chỗ nương tựa cho chúng sinh thì chúng ta phải có cái can đảm này là đánh giá được tư tưởng của mình, phê phán tư tưởng của mình, không nuông chiều, không thương tiếc nó nữa. Đây là cái can đảm hơn tất cả mọi sự can đảm khác. Ví dụ như là chúng ta có thể, một người ví dụ ở đây chúng ta có người từng đi bộ đội, đi xông vào chỗ sống chết, chiến đấu với bao nhiêu là quân địch để mà chiến thắng, coi thường cái chết, coi thường cái thương tích, xem thường cái bom đạn thì cái đó mình thấy là một sự can đảm mà
[10:14]về thì được là huân chương, được khen là anh hùng gì đó vân vân. Nhưng cái can đảm đó chưa bằng cái can đảm mà mình thoát ra khỏi cái tư tưởng của mình để mình phê phán lại tư tưởng của mình. Cái này nó khó hơn. Mà cái điều này thì xưa nay tất cả thánh nhân, tất cả vĩ nhân đều nói: "Chiến thắng được mình là chiến công oanh liệt nhất." Chứ bây giờ một chuyện xảy ra, ví dụ như người mình đang họp đại chúng vậy, người kia đưa lên một ý kiến, mình cũng đưa lên một ý kiến thì không bao giờ mình lui cái tâm mình lại để mình thấy cái hay trong ý kiến của người khác, mà mình luôn luôn thấy ý kiến mình là
[10:50]hay, là đúng, để bênh vực, bênh vực rồi bắt đầu mình công kích, chỉ trích nhau rồi nổi sân. Đó, nó từ cái mà mình không khách quan. Bây giờ mình không làm điều đó nữa. Khi mà có nhiều ý kiến cùng nổi lên, nói lên, mình tách ra, mình khách quan mình nhìn lại ý kiến mình và tìm cái hay trong ý kiến của người khác. Làm như vậy là mình tập không có nuông chiều tư tưởng mình nữa. Mình biết được tư tưởng mình đúng hay sai, hay thiện hay ác. Đó là cái căn bản để bước vào chánh niệm. Nó có hai giai đoạn. Cái thanh lọc tâm này nó đưa chúng ta đến cái chánh niệm dễ dàng lắm. Tại cái giai đoạn đầu của thanh lọc tâm đó là mình biết thiện ác.
[11:33]Giai đoạn này, giai đoạn này là thanh lọc tâm. Nhưng mà khi nó thuần rồi, tự nhiên tư tưởng ác nó dần dần nó bớt, chỉ còn tư tưởng thiện thôi. Mỗi lần mình khởi lên là chỉ còn cái thiện, chứ còn cái ác mình thanh lọc nó qua một năm, hai năm, ba năm nó bớt rất nhiều. Thì qua giai đoạn tự nhiên nó bước sang giai đoạn chánh niệm thứ hai là biết tịnh, biết động.
[11:56]Giai đoạn đầu á thì thiện ác lẫn lộn. Mình lần lần mình biết thiện biết ác nên cái ác từ từ nó lui, từ từ nó lui. Mỗi khi mình nghĩ lên cái điều gì là mình chỉ nghĩ lên một điều tốt, chỉ nghĩ nghĩ lên cái điều làm sao làm lợi ích cho người khác, làm sao mình trừ diệt được cái ích kỷ của mình, làm sao cho đạo pháp được sáng lên, mình quên cái bản ngã của mình đi. Nên cái thiện nó sáng lên từ từ, sáng lên từ từ. Cho đến một hai năm, hai ba năm như vậy thì không còn tư tưởng ác á, lúc đó chỉ còn tịnh hay là động thôi. Bởi vì mỗi lần nó khởi lên nó không có vấn đề để mình suy xét nữa mà chỉ đánh giá tịnh hay động. Động tâm cái mình biết:
[12:32]"À, vừa động tâm", mặc dầu cái động đó là động thiện, chỉ là những suy nghĩ thiện nhưng có động thì mình buông cái động, chỉ còn cái tịnh. Nhưng trong cái tịnh vẫn biết rõ ràng. Đây là cái chỗ mà ngang cái tịnh này chúng ta sẽ xuất hiện hai trạng thái, hai trạng thái nguy hiểm, hai cái lỗi nguy hiểm khi mà chúng ta được cái tịnh kéo dài. Cái tâm mình mà thanh tịnh kéo dài, ví dụ như kéo dài năm phút, mười phút, mười lăm phút mà được cái tịnh không động niệm nó sẽ xuất hiện hai cái lỗi. Một á là vui, cái vui này tức là cái tự hào.
[13:08]Hai là coi như là cái biết nó bị
[13:16]bớt cái tỉnh giác. Nó không mất hẳn, bớt cái tỉnh giác. Khi nó thanh tịnh quá, tự nhiên cái tỉnh giác này nó nó chìm dần dần, chìm dần dần. Nó giống như là mình chuẩn bị rơi vào một giấc ngủ nhưng mà không phải ngủ. Nó là một trạng thái hôn tịch, không suy nghĩ, không có say sưa như trong giấc ngủ, nhưng mà cái biết nó rất là yếu. Đây là một cái một cái lỗi của do cái tịnh. Và một cái lỗi thứ hai là cái tịnh này kéo dài mình xuất hiện cái trạng thái vui mừng. Lúc đó tâm mình nó rộn rã vui mừng, mà cái vui này nó kéo cái tự hào theo. Mình có cái tự hào bí mật nó khởi lên bên trong, nên lúc này cái ngạo mạn nó xuất hiện.
[13:57]Lúc đó mình sẽ cảm thấy là mình hơn người khác liền. Lúc đó mình nhìn chung quanh mình thấy: "Trời ơi, bao nhiêu người tu lăng xăng lăng xăng làm chuyện hình tướng không, không biết quay về nội tâm tu hành, mình mới được cái định". Ngay lúc đó mình có cái hơn thua khởi lên liền do cái tịnh này kéo dài. Cho nên, khi mà mình biết tịnh, biết động được một thời gian dài thì mình phải tránh hai điều này. Thứ nhất là phải ráng tiếp tục giữ cái tỉnh giác cho kỹ, mặc dầu đang thanh tịnh vẫn phải biết rất rõ, biết rất rõ, không được để lu mờ cái tỉnh giác này. Đó là tránh cái lỗi thứ nhất. Và tránh cái lỗi thứ hai là khi tâm nó vừa nhóm cái niềm vui lên mình thấy
[14:33]liền, buông xả liền, bởi vì mình biết cái vui này là nó kéo theo cái tự hào, mà cái tự hào có nghĩa là cái ngạo mạn nó đang phát triển. Vì lý do này mà chúng ta thấy tại sao đời nay chúng ta khó đắc đạo quả là vậy đó. Chúng ta nghe nói tu thiền, chúng ta rất thích, tại vì từ xưa từ Phật tới bao nhiêu chư thánh đều đắc đạo bởi thiền định, nên chúng ta hăm hở tu thiền. Chỉ tiếc rằng khi chúng ta vừa nhiếp tâm được vào tịnh, cái vui nó xuất hiện lên, cái tự hào nó khởi lên, cái ngạo mạn nó khởi lên, cái nó phá công đức lui lại, mình động trở lại liền. Vài ngày sau tâm mình loạn trở lại, không còn được định như trước nữa.
[15:10]Mình ngạc nhiên nói: "Ủa, sao được tịnh rồi mất?". Cái bắt đầu mình ráng tu một thời gian, cái được trở lại, được xong mình vui lên, tự hào, ngạo mạn, mất lui lại nữa. Nó cứ như vậy, nên là đến bây giờ mình tu khó thành công hơn người xưa là vậy. Mà tại sao người xưa thành công?
[15:29]Bởi vì chung quanh các ngài là những bậc thánh cao hơn các ngài rất nhiều, nên dù các ngài có nhiếp được tâm, các ngài không có tự hào vì biết mình còn dở, vì chung quanh là những Phật nè, những bậc A La Hán là những vị đã rốt ráo trọn vẹn, cho nên họ không có cái cái tự mãn nửa chừng. Còn mình bây giờ chung quanh không có thấy ai là thánh tăng hết, chỉ thấy giống như là mọi người đều là phàm phu với nhau, nên mình vừa nhiếp tâm được cái mình thấy mình hơn người khác, có một chút tự mãn, cái công đức nó biến mất hết trơn, loạn lại. Đây là cái lỗi. Thêm một điều nữa, một cái điều rất quan trọng trong việc tu tập thiền định là cái
[16:07]chỗ này, là mình tu tập cái tâm từ bi á, tức là quán từ bi hay từ bi quán. Cái điều này cực kỳ quan trọng cho người tu thiền. Khi mà chúng ta ngồi thiền sắp xả thì chúng ta đừng có xả không. Trước khi đó chừng năm phút mình dừng lại mình khởi từ bi quán, là mình tưởng rải lòng thương yêu phủ trùm tất cả chúng sinh trong pháp giới. Cái này nó làm cho cái công đức mình nó tăng lên vượt bực, nó phá những cái ám chướng bí mật ở trong lòng mình còn tồn tại. Vì nào giờ đó, vô lượng kiếp mình tích lũy cái ích kỷ, cái hơn thua, cái đố kỵ rất là nhiều ở trong trong sâu kín của mình nó thành cái nghiệp, nó che tâm thức thành ra nhiều
[16:54]lớp, nó ngăn nó ngăn tâm thức mình không vào định được. Thì một cái công phu, một cái tâm mà nó có cái công năng tạo thành công đức và nó xóa những cái nghiệp tâm cũ á, nghiệp thức cũ á là chính là cái từ bi quán. Mình ngồi đó mình tưởng là lòng mình thương yêu tất cả chúng sinh trong pháp giới, cái công đức nó lớn lắm, nó phá tan những cái nghiệp chướng cũ từ nhiều đời, nó giúp cho cái việc mình tiến vào định nó dễ dàng hơn. Nên trong bài kinh mà tu tập Từ Tâm á, Đức Phật có nói như vầy: Cái người mà tu tập cái tâm từ bi được tám điều lợi ích. Nhiều lắm nhưng riêng cái điều cuối cùng là điều thứ tám
[17:35]là sẽ được giải thoát, chắc chắn người đó được giải thoát vì cái phước của cái việc tu tập từ bi quán rất là lớn. Nên trong vấn đề mà thanh lọc tâm, củng cố đạo đức để chuẩn bị đi vào thiền định thì chúng ta nhớ cái cái tu tập từ bi quán đừng có bỏ qua.
[17:55]Bây giờ chúng ta nói về cơ cấu chánh định.
[18:02]Chúng ta ví dụ như tâm là một con đường thế này, thì phần trên này là ý thức,
[18:12]phần dưới này là vô thức. Ý thức nó có một chút xíu à, ý thức nó đâu khoảng ngắn thế này, nó không có cái ranh giới rõ rệt, nó không có ranh giới. Phần dưới này là vô thức, qua khỏi vô thức này mới là tuyệt đối. Thì cái ý thức này nó tùy người. Nhưng cái người mà có bộ não tốt, thông minh, hay là cái phước họ nhiều đó, họ sáng á, thì cái phạm vi ý thức của họ khá rộng, rộng. Còn cái người mà ngu si, tập khí dày, nặng, trí tuệ kém á, cái phần ý thức của họ có một chút à.
[18:51]Ý thức là cái phần tâm, cái phần hoạt động của tâm mà mình thấy được. Nhớ nha, ý thức là cái phần hoạt động của tâm mà mình thấy được, còn mà cái phần mình không thấy được á là nó thuộc về vô thức. Thì cái người mà ngu si, tập khí dày đó, họ thấy được một chút xíu của tâm họ. Cái người này khó độ lắm. Ví dụ như họ sân, mình nói phải quan sát cái sân mình lại, buông bỏ cái sân đi, họ không thấy, không làm được, vì cái gốc sân nó nằm ló từ trong này nó nó khởi lên mà họ chỉ thấy có một khúc này. Họ chỉ thấy cái khúc mà cái cái sân này nó đã khởi lên thành một ngọn lửa lớn ở ngay cái đầu mút của ý thức này
[19:31]rồi, cho nên là họ không hóa giải được nó nữa, mỗi lần sân nổi lên là họ theo cái sân đó mà họ làm tới. Hoặc khi ích kỷ nó khởi lên, hơn thua khởi lên, nó bắt nguồn từ vô thức nó khởi mà nó ra tới đầu ngọn của ý thức thì nó thô lắm rồi, nó mạnh lắm rồi. Thì ngang tới đây là mình chịu thua rồi, không kiểm soát nó được nữa. Mà người ngu, cái người mà nặng nghiệp á, họ chỉ thấy được khúc này, nên khi nó khởi lên rồi thì họ chỉ có chịu thua và làm theo thôi chứ không cưỡng lại nổi. Còn cái người mà có trí đó, cái tâm hạnh hiền lành, có tu tập nhiều đời, cái phần ý thức của họ nó lớn, nó thấy gần được tới cái gốc của cái phiền não.
[20:15]Cái gốc bung bung khởi của phiền não ở trong này họ thấy gần được rồi. Cho nên khi mà phiền não nó khởi lên á, nó ló lên được một chút xíu họ thấy thì nó nó chưa mạnh, nên bắt đầu họ khống chế được, họ hóa giải được. Cho nên cái người mà có trí sáng, phạm vi ý thức rộng, người này dễ kiểm soát phiền não, cái tâm hạnh họ hiền lành. Mới nhóm thô thô vừa thấy là họ thấy họ hóa giải được liền. Đây là cái cái mức độ ý thức. Và định là cái gì? Thì như chúng ta biết, định là là tâm nó không còn suy nghĩ, phải không? Căn bản là như vậy.
[20:57]Căn bản là không còn suy nghĩ, nhưng khi mà không còn suy nghĩ, chúng ta sẽ thấy cái ý thức này nó dời lần lần vào trong vô thức. Cho nên căn bản tâm không suy nghĩ nha, mà đúng hướng, nghĩa là chúng ta nói hôm trước cái bộ não của chúng ta đó, cái phần não,
[21:18]tức là cái chánh niệm nó sáng á, một người ngộ đạo thì cái phần thùy trán này nó mở nè.
[21:26]Thùy trán này nó mở, nhưng cái người định sâu á là cái phần vùng não phía sau này nó thanh tịnh. Thùy trán mở này tức là ngộ nè, còn mà cái này nó nó lắng được á thì tức là cơ chế định. Như vậy cái định á là nó thuộc vùng não phía sau, mà cái ngộ nó thuộc về vùng não phía trước. Ở đây chúng ta sẽ thấy có hai cái hai cái hình thức ngộ nha, hai trường hợp ngộ. Có người đó, cái vùng não này nó chưa có định sâu mà cái vùng thùy trán này nó mở trước, nên người này được ngộ rất sớm, xuất hiện cái trạng thái tỉnh giác rất sớm, nghĩa là nói là mình đã nhận được chân tâm, thấy được ông chủ, là định chưa sâu mà thùy trán đã mở nên họ ngộ rất nhanh.
[22:09]Nhưng mà rồi cái người này là đáng thương nhất, đáng tội nghiệp nhất. Định chưa có nên kiến giải nó phát ra, cứ lý luận về chân tâm, về Phật tánh, và cái ngã nó tăng lên, không kiểm soát được. Mặc dầu thấy rằng mình có ngộ nhưng mà cái hạnh thì không kiểm soát được nhiều. Cái định không sâu, kiến giải không nhiều, những cái câu thiền ngữ bí hiểm không hiểu nổi, nhưng mà vẫn thấy rằng mình đang ngộ, mà đúng người đó đang ngộ, vì cái thùy trán này nó mở rồi, nó thư giãn, nó giãn ra rồi, ngộ rồi, nên người này đáng thương. Người này các thiền sư gọi là người chết mà hồn phách chưa tan, là cái người ngộ quá sớm mà sức định chưa sâu mà đã ngộ vội quá,
[22:50]nên các thiền sư nói là chết mà hồn phách chưa tan. Còn có trường hợp ngược lại nha, có người là cái vùng này nó lắng thanh tịnh, nó định được mà thùy trán vẫn không mở. Đây là cái trường hợp ngược lại, là người này lắng định rất sâu mà thùy trán không mở, không có trạng thái ngộ. Họ ngồi họ nhiếp tâm thanh tịnh lặng lẽ, có thể họ ngồi một, hai ngày mà hỏi họ ngộ là gì họ không biết. Họ nói là: "Ngồi tâm không suy nghĩ nữa là thôi à, chứ còn ngộ là gì không hiểu." Mà đọc các thiền ngữ họ vẫn chưa hiểu lắm, mặc dù cái sức định họ sâu hơn cái người mà ngộ vội.
[23:28]Đó là trường hợp mà cái người mà họ ngộ trễ mà định sâu, nhưng mà cái người này là người may mắn nè. Vì sao? Vì họ được cái sức định như vậy mà không có ngộ nên họ không có kiến giải và không ngã mạn, ít ngã mạn và họ không có kiến giải, họ lặng lẽ lặng lẽ mà tu thôi. Nếu gặp thiện tri thức, cái người này mà gặp thiện tri thức chỉ nói một câu thôi, hét một tiếng hay đánh một cái là bừng ngộ liền, là thùy trán nó mở tung ra liền, và khi họ ngộ là họ ngộ rất sâu, ngộ rất sâu. Nên chúng ta đọc lại trong các thiền sử chúng ta sẽ thấy có những vị mà khi đến tại các ông thầy chỉ nói một tiếng là ngộ
[24:03]đạo, đánh một cái là ngộ đạo, là vì trường hợp này, trường hợp thứ hai, là cái định rất vững mà cái thùy trán nó chưa mở. Chúng ta nhớ câu chuyện của hòa thượng Thủy Lão đến tham vấn Mã Tổ, ổng tu ổng được định thuần quá rồi mà ổng không biết ngộ là cái gì, không biết Phật pháp là gì, thiền tông, tổ sư, chân tâm, Phật tánh gì. Ổng mới đến hỏi: "Bạch hòa thượng, đại ý của Phật pháp là gì?" Ổng muốn nói một câu cho nó gọn thôi, chứ ổng tu hoài ổng quá thuần, ổng mới tới hòa thượng nè. Cái ngài Mã Tổ nói: "Ta già lãng tai, nói nho nhỏ không nghe, xích xích lại gần đây hỏi lại." Ổng kia tưởng thiệt, xích lại gần gần:
[24:37]"Bạch hòa thượng, đại ý của Phật pháp là gì?" Ngài Mã Tổ đạp cho một cái ổng té ngửa ra ổng ngộ đạo liền. Mà đây nó trùng với câu sấm ký của ngài Bát Nhã Đa La là thầy của ngài Bồ Đề Đạt Ma đó, ghi trong cái sử á: "Sau này dưới chân ngươi xuất hiện một cái móng con ngựa tơ đạp chết người trong thiên hạ", là ám chỉ Mã Tổ, chữ Mã là ngựa đó. Nghĩa là đời của ngài Bồ Đề Đạt Ma mà truyền lần lần sẽ có một vị đệ tử này chỉ bằng một cái đạp của mình là khai ngộ cho người khác. Dưới chân ngươi sẽ xuất hiện móng con ngựa tơ đạp chết người trong thiên hạ là ám chỉ.
[25:16]Có nhiều trường hợp như vậy đó là cái người họ định thuần rồi, cho nên chúng ta đừng thắc mắc tại sao là người xưa họ họ dễ ngộ, không có dễ đâu. Họ tu hành 5 năm, 10 năm nhiếp tâm vào định rất là vất vả rồi mới gặp thiện tri thức khai ngộ. Rồi có những người nghe cái ngộ thích quá không có luyện cái định nên cứ đi tham vấn từ vị thầy này qua vị thầy kia, hy vọng là nhờ một câu nói của vị đó mà mình khai ngộ, cái tư tưởng đó là sai với Phật pháp. Bởi vì Phật pháp không có cái điều gì mà cái lợi ích đến từ bên ngoài hết, chỉ từ bên trong, cho nên ngài Triệu Châu mới nói thế này, Thiền sư Triệu Châu mới nói rằng:
[25:57]"Nếu ông dừng được một niệm còn hơn 10 năm đi hành cước." Đi hành cước tức là đi tham vấn đầu này đầu kia để tìm cái ngộ đó, ngài nói cái đó vô ích. Ở một chỗ mà dừng được cái niệm đi, cái đó ích lợi hơn 10 năm đi hành cước. Bởi vì ngài hiểu được cái này: Chính cái định sâu á nó làm cho mình cái ngộ lớn, chứ nó không phải là cứ đi tham vấn hỏi han đầu này đầu kia mà đúng. Đó là còn có những người như ngài Thái Hư, ngài Thái Hư gần đây á ngài rất là đặc biệt, cái tâm hạnh ngài rất là thuần. Cuộc đời ngài thì cũng nhiều cái phong phú. Hôm đó ngài xem bộ Đại Bát Nhã, ngài đang xem cái ngài nhập định, ngài ngộ đạo luôn, ngài Thái Hư.
[26:42]Rồi sau này có những lần mà ngài ngồi nhập định qua suốt một đêm. Dĩ nhiên cái định đó mà so với chư tổ, vị A-la-hán thì còn xa, chưa có gì đâu, nhưng mà trong thời hiện đại mà một người được như vậy cũng là hiếm. Thì ngài có cái hay là cái ngộ, cái định của ngài nó đi đôi với nhau. Từ lúc mà ngài ngộ rồi đó thì càng lúc ngài càng định và cái sức ngộ cứ càng lúc càng sáng cho tới cái ngày mà ngài tịch, thiêu ngài được mấy trăm viên xá lợi, ngài Thái Hư, là cái thời cận đại ngài mất năm 1900 mấy sáu mấy nè. Còn như ngài Hư Vân thì rất là đặc biệt. Ngài Hư Vân là cái sức định ngài quá sâu. Ngài khi mà ngài bắt cái nồi khoai mài lên
[27:24]ngài luộc, ngài trong khi chờ cái nồi khoai mài chín thì ngài ngồi thiền. Thì đến khi mà ngài xuất định là vì có mấy người huynh đệ lại lay dậy, dở cái nồi khoai nó mốc hết trơn, nó chín và nó mốc từ đời nào. Tức là ngài ngồi qua mấy ngày mà ngài không hay nữa. Cho nên sau này khi mà ngài ngộ là do cái chú thị giả làm rớt cái ly xuống, rớt cái tách xuống, vỡ một cái ngài bừng ngộ, thì cái ngộ của ngài thật là lớn. Nên bây giờ đấy, chúng ta đừng có vội vàng đi tìm cái ngộ, mà cứ lo nhiếp tâm cho đúng, cho nó định sâu. Mà cái định nó sâu rồi cái thùy trán nó mở không mấy hồi. Nhiều khi mình nghe một tiếng chó sủa,
[28:04]một tiếng lá cây reo, hoặc là một cái niệm thắc mắc nó khởi lên, ngay lúc đó mình tan vỡ liền, không có khó. Nhưng quan trọng là cái định. Bây giờ mình đi coi cái định là gì. Dĩ nhiên cái định là không suy nghĩ, nhưng mà khi không suy nghĩ như vậy á là trước hết là cái phần ý thức này nó không có động, những cái niệm thô là những cái niệm mà có ngôn ngữ nó tắt, rồi bắt đầu những cái niệm mà tế không ngôn ngữ nó cũng tắt luôn. Niệm mà có ngôn ngữ và không ngôn ngữ thì chúng ta đã nói lần trước rồi phải không? Hôm nay mình không lặp lại. Cái phần ý thức này nó thanh tịnh, nhưng mà khi nó thanh tịnh sâu
[28:39]đó mà mình không có tự mãn, mình biết khiêm tốn, được thiện tri thức hướng dẫn tiếp thì nó vào sâu dần dần, sâu dần dần. Cái vào sâu dần dần tức là cái ý thức này nè, nó từ từ nó dời vào vô thức dần dần, nó kiểm soát, nó đi vào vô thức lần lần. Nó vào chầm chậm, các vị sắp nhập định rồi đó. Nó vào lần lần trong vô thức. Mà khi mà nó vào được nhóm một phần phần vô thức, nó vào khoảng này là bức tranh thứ bảy rồi, còn bức tranh thứ tám nó khủng khiếp lắm. Cho nên thiền sư Quách Am này vẽ mười bức tranh chăn trâu là ngài hơi nhảy cấp. Cái giai đoạn mà đi qua cái vô thức này nó sâu lắm, nó xa lắm, lâu lắm nha không có gần.
[29:23]Nhập định được ý thức này coi vậy chứ nó lẹ, còn cái phần vô thức nó dài dằng dặc dằng dặc. Thì cái ý thức mình nó mới nhích vào lần lần lần lần trong vô thức, thì cái người mà vào định trong vô thức á họ mới thấy được cái hoạt động của vô thức là cái gì. Họ thấy được cái hoạt động của vô thức, nào giờ mình không có thấy. Cái người định sâu cái ý thức nó đi vào vô thức dần dần dần dần dần dần, mà khi nó vào được vào khoảng này, ý thức mà nó vào tới khoảng này thì nó cái vùng mà thần kinh thần kinh giác quan ở đây nè, thần kinh giác quan này là của gì? Của tai, mắt, mũi, lưỡi rồi đó, bị bỏ luôn, tức là nó dừng hoạt động.
[30:02]Ý thức mà nó vượt qua khỏi cái vùng này nó vào sâu vào trong này rồi á thì cái người này tai mắt không còn nghe thấy nữa, tai mắt không còn nghe thấy nữa. Nhưng mà lúc đó cái biết của vô thức nó phủ trùm, nó vi diệu, nên nó biết rất sáng, biết rất là vi diệu, biết thấu suốt tất cả. Ở chỗ này nè, nếu mà chúng ta nghe một người ngồi thiền tâm không suy nghĩ một ngày, hai ngày mà không biết gì, không biết gì thì mình biết là người này cái cái biết nó bị khiếm khuyết nên họ dừng ngay chỗ này, ý thức nó dừng ngay chỗ này rồi nó yên nghỉ, mà có thể ngồi được một vài ngày, hai ba ngày được. Ý thức nó đến khúc này thôi, nó khoảng sắp sửa vào được vô thức
[30:47]nó dừng lại ngay đó nó yên nghỉ luôn, nó không vào được nữa. Thì người này vẫn có thể ngồi được một, hai ngày, nhưng như vậy không phải chánh định, không thể đắc đạo được. Còn cái người đó mà đúng được thiện tri thức hướng dẫn bằng một cái phương pháp đúng á thì họ đi qua khỏi này họ vào luôn, họ vào lần lần họ kiểm soát được cái vô thức này nó làm gì ở trỏng. Nên lúc đó cái biết nó không mất, mặc dù họ không còn biết bằng cái thần kinh giác quan nữa, không còn biết bằng mắt bằng tai nữa, lúc ấy vô thức này tự nó biết luôn, tự nó phát sáng nó biết luôn. Hiện bây giờ nè, vô thức mình có đang biết không?
[31:22]Hiện bây giờ mình chưa vào định nè, cái vô thức mình có đang biết không?
[31:29]Quý sư suy nghĩ xem. Khi mình chưa vào định thì cái vô thức của mình nó có đang biết không, hay là nó không có biết, nó đợi vào định mới biết?
[31:45]Ví dụ như có một người nằm mơ thấy báo điềm trước cái chuyện nó sẽ xảy ra một năm mới xảy ra, hai năm mới xảy ra hay một tháng sau mới xảy ra, thì cái gì biết và làm thành giấc mơ cho họ?
[32:01]Vô thức đó. Trong chúng ta đang hiện giờ đang đây vô thức nó vẫn đang biết. Vẫn đang biết mọi chuyện đó. Nhưng mà cái ý thức này nó nằm ở ngoài này, nó không biết được vô thức đang biết cái gì. Cho nên mình giống như không biết gì hết, mình chỉ biết được cái phần của ý thức thôi. Còn khi mình nhập định cái ý thức nó vào trong này rồi đó, ý thức nó vào được vào trong vô thức rồi thì cái vô thức biết cái gì cái ý thức nó biết cái đó, nghĩa là mình biết cái đó luôn. Cái ngã chính của mình là nó nằm ở ý thức. Cái ngã chính á, còn cái gốc của bản ngã nằm trong vô thức, nhưng mà cái ngã chính nó nằm ở ý thức.
[32:36]Cho nên khi mà nó vào sâu rồi thì nó biết hết. Thì ngang vô thức chúng ta có thần thông. Thì ở đây ta giải thích tại sao mà vô thức nó có thần thông, nó có thể điều khiển hiện mây hiện gió đồ được.
[32:56]Thôi nói luôn đi. Bây giờ chúng ta sẽ giải thích tại sao mà vô thức nó có thần thông. Vạn hữu chia ra làm ba loại. Loại thứ nhất, cao cấp nhất là động vật phải không? Là chúng ta nè, hay là mấy con vật. Thấp hơn là gì? Là thực vật. Phải không? Thấp hơn nữa là gì? Khoáng vật. Thường khoáng vật thì chúng ta hay gọi là vô tri đó, vô tri vô giác, hoặc là nhiều khi thực vật mà chúng ta cũng gán cho là vô tri vô giác á, không có đâu. Động vật thì có tâm không? Có không? Có rồi phải không? Thực vật có tâm không? Có không? Có không?
[33:40]Cây cỏ đều có tâm linh hết. Điều này khoa học đã chứng minh xong rồi. Hôm nay mình không nói lại nữa. Khoa học đã chứng minh xong là cây cỏ có tâm linh hết rồi. Nếu cần thì mình cũng lặp lại tại bắt đầu từ đâu nha. Là bên Mỹ có cái ông này, ổng tên là Baxter. Ổng là là một nhà kỹ sư, mà ổng làm trong cái viện cảnh sát về điều tra hình sự. Ổng mới ngồi ổng nghiên cứu một cái máy dò nói dối. Tức là đo tư tưởng não của cái người đó. Tức là người đó nói dối dù rất nhỏ thì kim nó nhảy liền, nó báo như thế nào để biết người đó nói dối hay không. Ổng lo ổng nghiên cứu cái máy nói dối cho cảnh sát. Đêm đó thì ổng mệt, ổng ngồi trong phòng vậy cái ổng
[34:33]nó đang mệt cái ổng muốn giải khuây giải trí thôi, ổng mới nhìn thấy cái cây. Cái cây ở trong cây ở ổng trưng trong phòng á, ổng mới cắm hai cái điện cực vào trong cái lá cây đó, xong rồi ổng nhìn. Ổng vô tình ổng cắm xong ổng ngồi ổng nhìn nhìn, ổng nói: "Bây giờ nếu mình chế nước cho nó, mấy bữa nay nó đang khô nước, thì nước mà nó dẫn lên đó nó thấm vào thì cái điện trở của cây nó sẽ tăng lên, hoặc là cái sức mà dẫn điện nó tăng lên thì cái kim nó sẽ báo liền". Tại ổng có cái đồng hồ đo mà, máy ổng chế xong rồi, có đồng hồ đo. Nghĩa là cái điện mà nó điện cường độ dòng điện dù rất nhỏ rất nhỏ nó thay đổi cái là kim nó báo liền.
[35:10]Ổng mới ngồi ổng chế nước vô, ổng ngồi ổng chờ hoài nước thấm lên rồi mà kim không có nhích. Không nhích cái ổng vội ổng lấy quẹt, ổng nói: "Mình lấy quẹt mình đốt cái lá chơi, mình đốt cái lá cây đó". Ổng vừa mới khởi ý nghĩ đó thôi là kim nó nhảy liền. Kì, không lẽ không lẽ lá cây nó đọc được ý nghĩ của mình hay là nó vô tình? Cái ổng thôi ổng nói bây giờ thôi bây giờ đốt đốt lại coi. Ổng vừa mới nghĩ đốt lại, kim nó nhảy liền. Sao kì vậy ta? Ổng mới cầm cái hột quẹt lên, ổng đưa tới mà lòng ổng thì không nghĩ đốt, ổng chỉ hù thôi. Thâm tâm ổng thì không nghĩ là ổng sẽ đốt cái lá đó. Mặc dù ổng bật hột quẹt ổng đưa gần tới mà thâm
[35:48]tâm thì không nghĩ thì cái kim không nhảy. Nghĩa là lửa đưa tới gần như vậy mà ổng không nghĩ là đốt á, kim không nhảy. Bắt đầu ổng quyết định ổng đốt thì kim nhảy lại liền. Ổng hốt hồn, nghĩa là đêm đó ổng không ngủ nữa. Ổng khám phá một điều mới, từ đó bắt đầu ổng nghiên cứu hết tất cả mọi lá cây, từ cành cây, trái cây ở đâu cũng đọc thấy có tâm linh hết. Sau này người ta cứ nghiên cứu tiếp tục. Và những người cộng sự với ổng nghiên cứu cái này hơn cả 1000 cái cái 1000 trang báo cáo về cái vấn đề cây cỏ có tâm linh. Một người chủ mà đi xa về đó, nghĩa là ông đó ổng chăm sóc cái cây đó rồi cắm ổng đó ổng mấy nhà bác học này mới cắm
[36:26]điện cực để đo, khi ông chủ vừa đi ngoài xa đi về là đây kim nó nhảy lên hết, tức là cây nó reo vui á. Rồi hai cái cây để trong một cái cây để trong phòng vầy nè mà có một con nhện độc nó bò lại gần gần là cái kim đồng hồ nó nhảy, tức là cây nó đang xao động, nó sợ hãi. Hoặc là hai cái cây mà để gần nhau là kim nó nhảy liền, tức là nó có cái phản ứng gì với nhau á, không biết là nó mừng hay là nó ghét nhau không biết. Nhưng mà một lát thì nó lại yên. Nhưng nếu có một cái con chó hay con gì ngoài chạy gần lại là cả hai cây đều rung động, kim nó nhảy bên cả hai cây hết. Tức là nó có cái phản ứng đối với cái môi trường
[37:00]bên ngoài, cái tâm linh bên ngoài hết. Cái hiệu ứng này người ta gọi là hiệu ứng Baxter, lấy cái tên của ổng, người khám phá luôn. Cho nên thực vật mà có tâm linh là điều đã được chứng minh xong bởi khoa học, chúng ta không có bàn cãi nữa. Còn cái khoáng vật nè. Khoáng vật thì nói là mình nói là vô tri vô giác phải không? Nhưng mà xin thưa, vẫn có tâm linh. Ví dụ như một cái ly này thôi. Chúng ta đừng tưởng nó là vô tri vô giác, nó có khía cạnh tinh thần của nó trong đó. Thường ví dụ chúng ta nhìn vào cái bàn tay thế này là chúng ta chỉ thấy được cái lòng bàn tay chứ không thấy được cái lưng của nó.
[37:40]Cũng vậy, chúng ta nhìn vào vạn hữu, chúng ta chỉ thấy được khía cạnh vật lý của nó chứ không thấy được khía cạnh tâm linh của nó. Chúng ta chỉ thấy khía cạnh vật lý nó là gì? Là nó lớn bao nhiêu, nó nặng bao nhiêu, cái nó là gồm những nguyên tử nào, những phân tử nào, nó tương tác hóa học ra sao, vân vân. Đó là chúng ta nhìn thấy vạn hữu trên khía cạnh vật lý chứ chúng ta chưa thấy trên khía cạnh tâm linh. Nó có khía cạnh tâm linh ở trong đó. Đây là một sự thật. Nhưng mà cái tần số tâm linh của nó quá nhuyễn, mình không thấy được. Mình nói rằng động vật có tâm linh là bởi vì sao? Bởi vì trước hết mình là động vật cho nên mình biết, tự biết là mình có suy nghĩ.
[38:25]Và có thể đo được bằng các cái máy móc đo điện não đồ. Khi mà tâm mình suy nghĩ á thì mình đo bằng các máy móc là điện não đồ được, máy đo điện não. Cái động vật cái suy nghĩ mình thô lắm, cái phần ý thức của mình á suy nghĩ thô lắm. Cho nên mình dễ đo. Còn thực vật á nó cái cái tần số rung động của nó nó cực cao mà cực thấp, nó cực nhuyễn, cho nên mình khó đo, phải đợi tới cái ông Baxter này ổng chế được cái máy rất tinh vi thì mới đo được cái hoạt động tâm của thực vật. Còn cái tâm của khoáng vật nó còn cực kỳ nhỏ nhiệm hơn nữa, cho nên đến bây giờ vẫn chưa có một máy móc nào đo được. Vì lý do đó mình cứ tưởng là cây đá này, đất đá này không có tâm linh.
[39:13]Sự thật nó vẫn có. Nhưng mà vì tần số rung động của tâm linh nó quá nhỏ, mình không có máy nào đo được. Nhưng có một cái đo được. Cái gì ạ?
[39:25]Ở cái giai đoạn ý thức này đó là cái tâm mình nó thô ở mức độ của động vật. Khi qua đến cái giai đoạn này của vô thức á, thì đây mình gọi là thần kinh thực vật á. Thì cái rung động của cái tâm mình đó nó bằng với rung động của thực vật. Nên mình sẽ cảm nhận được cái tâm của cây cối. Cho nên các nhà ngoại cảm trên thế giới á, cái tâm họ nhập được vào định này, họ thấy cây cối phát sáng, tư tưởng của cây họ biết hết. Đây cũng là một điều mà tại sao Đức Phật của chúng ta tôn trọng sự sống của cây cối, của cây cỏ. Nên Ngài có dặn các đệ tử là phải tiết kiệm sự sống của
[40:07]sự sống của cây cỏ.
[40:13]Đó là vì lý do vì Đức Phật Ngài thấy được cái hoạt động của tâm linh của thực vật. Nhưng mà nếu nếu mà một người nhập định được tới chỗ này, cái vô thức của nó cái rung động nó nhuyễn nó trùng với cái khoáng vật thì lúc này là bắt đầu thần thông xuất hiện. Thần thần thông này mình gọi là thần túc thông á. Là phi hành biến hóa, hiện nước hiện lửa đồ được, là ngang ở mức độ này. Khi mà cái ý thức mình vào đến chỗ này thì cái tâm vô thức này nó điều khiển được cái cái vật chất. Bởi vì sao? Bởi vì cái rung động của vô thức ở giai đoạn này nó bằng với cái tần số tâm linh của cái vật chất, của khoáng vật á. Cho nên điều khiển được.
[40:59]Họ dùng ý nghĩ, họ buộc cái bàn này phải bay qua nè, họ buộc cái thân họ phải lên trên cao, bay đi được là lúc đó họ nhập định được vào cái chỗ này. Nên như ngài Hồi đó tôi lại quên tên rồi, ngài là đệ tử của Mã Tổ.
[41:21]Ngài cũng nổi tiếng mà sao tôi lại quên rồi.
[41:28]Ngài có thể bay lên hư không được. Trong khi hai bên đang đánh nhau, ngài bay lên hư không, ngài chỉ xuống quân chúng tan rã ra. Ngài cũng nổi tiếng lắm, hồi xưa tôi nhớ thì rõ mà giờ lâu quá không đọc tới là quên. A Đặng Ẩn Phong hả? Đúng rồi, ngài Đặng Ẩn Phong. Ngài Đặng Ẩn Phong á, tức là khi mà nhiếp được vào định tới chỗ này thì có thần thông mà phi hành biến hóa được là chỗ này.
[41:52]Đây là cái con đường tâm mà cái định của chúng ta là như vậy. Bây giờ chúng ta sẽ định nghĩa từng mức định. Bây giờ chúng ta không có định nghĩa theo cái Tứ Thiền hay Ngũ Định gì nữa, vì cái quan cái định nghĩa về Tứ Thiền, năm định á đến bây giờ vẫn còn gây tranh cãi, nên chúng ta sẽ định nghĩa về các lớp định theo các giai đoạn khác.
[42:18]Giai đoạn thứ nhất là không còn suy nghĩ
[42:25]nhưng còn giữ gìn.
[42:29]Này nhiều khi mình hay gọi là Sơ thiền. Giai đoạn cái định thứ nhất là không suy nghĩ nữa, nhưng mà tâm mình phải có cố gắng giữ gìn, nếu không giữ gìn nó mất liền. Cái thứ hai là không suy nghĩ
[42:44]nhưng mà không giữ gìn luôn. Này mình hay gọi là Nhị thiền. Cái này ngang bức tranh thứ sáu. Không, tức là tâm thanh tịnh lặng lẽ mà không cần giữ gìn mà vẫn luôn luôn ở trong định.
[43:00]Cái giai đoạn thứ ba là, mà hai cái này còn ở trong ý thức hết nha.
[43:23]Giai đoạn thứ ba là giai đoạn vào được vô thức. Giai đoạn thứ ba là vào, bắt đầu vào được cái vô thức này rồi, nhưng mà cái chưa qua, tức là đến chỗ này thì chưa qua được khỏi cái thần kinh giác quan, cho nên thần kinh giác quan chưa dừng hoạt động. Mắt vẫn còn thấy, tai vẫn còn nghe hơi hơi, hơi hơi. Những hoạt động bí mật của những tình cảm thương yêu, giận ghét là khám phá ra hết, không còn gì nghi ngờ nữa. Giai đoạn thứ tư là vào vô thức ha, ở trong vô thức
[43:53]mà ngừng giác quan. Giai đoạn thứ năm á là đến được cái đoạn cuối của vô thức.
[44:04]Hôm trước có sư nào hỏi là vô thủy vô minh á, là đến chỗ này nè. Này là bức tranh thứ tám.
[44:18]Và cuối cùng, giai đoạn thứ sáu là mình vượt khỏi vô thức hoàn toàn để chứng được cái bản thể tuyệt đối. Đây là mới đúng là Phật, mới đúng là Phật tánh. Đây mới đúng là bản thể tuyệt đối.
[44:33]Cái phương pháp để vào định thì sau này chúng ta nói. Một lần khi mà bàn qua tới các pháp môn á, chúng ta sẽ nói với nhau là cái phương pháp nào ưu, khuyết như thế nào mà tại sao vào định được. Chúng ta nói sau, bây giờ chúng ta cứ nói từng mức định trước.
[44:52]Vượt khỏi vô thức này mới thật sự là tuyệt đối. Nên ở đây khi mà chúng ta hiểu các giai đoạn này để làm cái gì? Để làm cái điều này: Là khi chúng ta nhiếp tâm được, chúng ta không bao giờ vội vàng lạm nhận cái chỗ của mình đã là tuyệt đối. Không bao giờ dám nhận đây là chân tâm, Phật tánh vội vàng hết, nên tránh được cái lỗi ngã mạn mà tránh được cái tà kiến. Cái chữ tà kiến nghĩa là hiểu sai, mà hiểu sai đây là do cái gì? Do cái lạm nhận, mình lạm nhận vội vàng quá. Nhiều khi mình nhập, nhiếp tâm được thanh tịnh mới ngang ý thức thôi mà nhiều người đã nhận: à, tôi đã nhận ra được chân tâm. Có người nhập được định vào sâu luôn tới vô thức, thấy mình có thần thông thì nói:
[45:37]tôi đã chứng được chân tâm, Phật tánh. Thì cái lỗi lạm nhận đó làm cho mình có tà kiến. Cái tà kiến nó đưa tới ngã mạn quá đáng, không có đức hạnh nữa. Nên đúng là vị đó có sở đắc tâm linh, vị đó có sở đắc tâm linh nhưng mà vẫn vẫn tà kiến, vẫn ngã mạn là vì cái lỗi lạm nhận, lỗi lạm nhận. Là chưa thật sự tới tuyệt đối, nó đâu ngang khúc này à, nhưng mà thấy tâm của mình nó quá vi diệu đi, nó quá thanh tịnh, quá sáng và mình có một số thần thông, nên nhận mình là đã chứng được Phật tánh. Đó, chúng ta phải biết hết cái những giai đoạn này và chúng ta có cái cảm nhận hết cái con đường phải đi này để mình không có lầm lẫn.
[46:22]Điều này chúng ta nói thêm một cái nữa là: Ai cũng có một cái tâm, tức là ai cũng có một con đường để đi đến tuyệt đối. Mỗi chúng sinh đều có một con đường là con đường tâm để đi đến tuyệt đối. Chúng ta không đi đến tuyệt đối này bằng phản lực, bằng tên lửa, bằng xe hơi, phi thuyền gì hết, mà chúng ta chỉ đi bằng con đường tâm của mình bởi cái sức định mà thôi. Nhưng cái
[46:53]tuyệt đối này là của mình hay của ai? Chỗ này của ai? Cái tâm này là chắc chắn của mình rồi, là mình theo con đường tâm này bởi cái thiền định để mình đi đến tuyệt đối. Vậy cái tuyệt đối này là của mình hay của ai?
[47:17]Ai trả lời đi.
[47:26]Sư Minh Trọng lại nói đi.
[47:30]Thầy Giác Thành lại?
[47:35]Vắng hả?
[47:39]Sư Minh Thống nè. Thử suy nghĩ coi cái tuyệt đối này là của mình hay của ai? Cảm ơn sư. Sư Minh Tấn đi. Sư có ý kiến không? Cũng đúng hả? Cảm ơn sư, làm thinh.
[48:03]Sư có nụ cười dễ thương, rất là đẹp trai.
[48:11]Đúng rồi, thật ra cái tuyệt đối này nó không còn là của riêng mình nữa. Cho nên đó là tại sao mà hôm trước á, hôm mà lần thứ hai tôi giảng tôi có nói rằng nếu mỗi chúng sinh đều có Phật tánh á, cái câu đó rất dễ hiểu lầm là vậy đó. Và mình có cái cảm giác rằng cái Phật tánh là của riêng mình, ai cũng có một cái Phật tánh. Cái câu đó,
[48:34]cái câu mình nói rằng...
[48:45]câu nói rằng mỗi chúng sinh đều có Phật tánh á dễ làm cho mình hiểu lầm là mình tưởng mỗi người đều có một cái Phật tánh riêng á. Mà chính ngày xưa là tôi cũng được thầy tôi dạy như vậy. Có người hỏi thầy tôi: Thưa thầy, nói là ai cũng có Phật tánh vậy là là chung một hay là nhiều? Thầy tôi nói: Không, riêng mỗi người nhưng mà giống nhau. Tôi cũng đinh ninh là vậy. Nhưng mà sau này, khi mà tôi tự một mình đi tìm thì tôi mới thấy rằng điều đó không phải nữa. Chỉ có con đường tâm này là của riêng mình, nhưng mà khi vượt khỏi con đường tâm rồi thì không còn riêng mình nữa. Đến đây thật sự vô ngã.
[49:25]Đến đây cái ngã vẫn còn, qua khỏi cái này rồi thì của chung cả vũ trụ, không có riêng một người nào nữa. Cho nên một bậc Thánh mà đạt được sự giác ngộ tuyệt đối này thì vị đó là một bậc Thánh không phải của riêng Trái Đất này hay của hành tinh, Thái Dương Hệ này, mà đó là một bậc Thánh của cả vũ trụ. Cả vũ trụ này chung đồng trên một bản thể tuyệt đối. Hôm trước kia tôi có giảng cho cái nhóm sinh viên mà được cái học bổng Hiểu và Thương á, mỗi tháng đến sinh hoạt tôi có giảng. Hôm đó tôi giảng cái đề tài tín ngưỡng, tại sao xuất hiện tín ngưỡng ở cuộc đời này, thì tôi có nói về cái Niết bàn tuyệt đối,
[50:04]một trong những cái tiên đề của đạo Phật, thì rất nhiều đứa không tin. Hầu hết là nó không tin là có một cái gì gọi là tuyệt đối hết. Thì mới vừa rồi đó, hôm đó thì không còn thì giờ để giải thích nữa, nên đã hết giờ thì tôi về tôi hẹn kỳ sau. Chủ nhật vừa rồi tôi có đến tôi giảng tiếp, tôi nói về tuyệt đối này. Bởi vì tụi nó là những đứa tri thức, học hành, nên tôi giải thích về tuyệt đối này rất là lâu, giờ nó mới chấp nhận. Còn chúng ta ở đây là những người ở trong đạo nên điều này tôi nói ít, nói sơ qua là chúng ta cảm nhận được hết. Nhưng riêng mấy đứa sinh viên thì nó không tin nên tôi giải thích về cái tuyệt đối này rất là lâu.
[50:38]Thì cái tuyệt đối này nó là của chung vũ trụ. Tất cả cái nền của vũ trụ này được dựng nên trên cái tuyệt đối chung đồng. Bây giờ chúng ta biết cái tuyệt đối này là không có ngã phải không? Giờ hỏi một câu: Thì khi một người đến cái tuyệt đối này đó thì hết ngã. Chúng ta nhớ có trạng thái mình nhập định, xuất định nha. Khi một người mà đang sống cuộc đời bình thường với ý thức, khi vị đó nhập định đó là vào lần lần cái vô thức, tùy cái khả năng của mình mình nhập định tới đâu, sâu dần, sâu dần. Riêng những vị Phật và những vị A-la-hán thì vượt hẳn vô thức để mà vào được tới cái tuyệt đối, nhập định chỗ này.
[51:27]Vậy xuất định đến đâu?
[51:37]Chúng ta phải tìm hiểu chỗ này để chúng ta giải thích được mọi cái nghi vấn còn tồn tại trong kinh điển, thích cho nó ra luôn. Xuất định là gì?
[51:49]Thì ngược lại chứ có gì, đi lui ra lại chứ có gì đâu.
[52:12]Ờ. Đúng đúng đúng. Vậy thôi có gì đâu. Mình sẽ lui lại từ từ, ý thức lui lại từ từ. Nhưng mà chúng ta thấy điểm này nữa. Ở đây là còn ngã, thấy không? Qua tới đây là hết ngã. Khi người đó lui nó lại phải là nhận lại cái ngã không? Đúng không? Đúng! Đây là điều khẳng định. Khi mà một vị xuất định là phải nhận lại cái ngã này, lui trở lại nè. Nhưng về tất cả những bậc Thánh, những bậc Thánh tuyệt đối nha, những vị A La Hán, Phật á, chứ mình không nói là những vị mà chưa hết ngã. Những bậc Thánh, khi mà xuất định sống trong đời sống bình thường, đều tồn tại cái ngã.
[52:54]Nhưng mà cái ngã của các Ngài khác với mình. Khác với mình ở chỗ nào? Là cái ngã của mình nào giờ nó chưa được thanh lọc. Cả cái khối này phải không? Nó chưa được thanh lọc nên nó nó quậy đủ thứ chuyện. Còn các Ngài đã đi xuyên qua được bản ngã rồi, tức là các Ngài kiểm soát nó hết rồi. Bây giờ các Ngài có lui lại sử dụng nó thì hoàn toàn cái ngã nó được trong sự kiểm soát. Nên các Ngài mới dùng cái ngã đó để gì? Để mà giáo hóa chúng sinh. Chứ nếu không có ngã thì ai mà đi đứng xưng hô với chúng sinh, nói năng? Ví dụ Đức Phật cũng vậy, đôi khi Đức Phật cũng phải xưng là ta hay là tôi, hay là xưng cái chữ Như Lai đi, cũng là hàm ý là ta chứ gì phải không?
[53:33]Cũng là cái ngã. Nên khi các Đức Phật nói chuyện với mọi người, Ngài vẫn phải dùng cái ngã của Ngài phân biệt giữa Ngài với các đệ tử, không có lẫn lộn. Nên Ngài đang sử dụng cái ngã lại. Hoặc các bậc Thánh A La Hán vậy, đã vô ngã rồi, nhưng khi các Ngài xuất định sống trong đời sống bình thường, các Ngài vẫn phải xưng là tôi. Thì tôi tức là cái ngã nó phân biệt với những người khác chung quanh mình phải không? Như vậy rõ ràng là sử dụng lại cái ngã. Nhưng mà cái ngã đó đã được hoàn toàn kiểm soát kỹ. Cái ngã bây giờ mình mới thấy nó không có lỗi. Nào giờ mình cứ nghe nói cái ta là có lỗi phải không?
[54:07]Bây giờ khi mà mình hiểu được đến chỗ này, mình mới thấy cái ngã nó không có lỗi. Cái lỗi là do mình có kiểm soát nó được hay chưa. Chứ còn nếu mình sử dụng nó được thì làm lợi ích cho chúng sinh rất tốt. Còn mình không kiểm soát nó được thì nó mới làm thành những phiền não tham, sân, si. Đây là điểm cực kỳ quan trọng mà chúng ta phải hiểu về bản ngã. Giống như đồng tiền vậy á, đồng tiền có lỗi không? Có tội không? Đồng tiền có tội không? Nói như trong giới nói cấm tỳ kheo giữ tiền.
[54:41]Đồng tiền có tội không? Thầy pháp danh gì? Huệ Tánh?
[54:50]Thầy nghĩ làm sao, đồng tiền có tội không? Cảm ơn thầy, mời thầy ngồi xuống. Thật ra đến chỗ này nó không có tên nữa. Mình muốn đặt tên gì đó mình đặt. Nhưng mà cái điều thế này nè, về cái tên ở chỗ này đó, nhiều người gọi là pháp thân, nhiều người gọi là Phật tánh, nhiều người gọi là chân tâm, chân ngã, đại ngã gì đó, tùm lum à, nhiều tên lắm. Nhưng mà nếu cái tên mình đặt mà nó có mang theo cái chữ ngã đó, dễ làm cho người tu hiểu lầm mình đang ở giai đoạn này lắm. Nghĩa là khi họ nhập định được vào vô thức thấy nó đặc biệt quá, quá vi diệu đi, và thần thông nó đã đầy tràn hết trơn rồi thì họ sẽ tưởng lầm cái đó là chân ngã.
[55:32]Tại vì cái ngã này nó vẫn hàm ý riêng tư. Mà trong khi đến cái chỗ tuyệt đối này nó không còn riêng tư nữa. Cho nên mình không nên dùng có cái chữ ngã trong cái đặt cho cái tên này. Vì đến đây nó không có riêng tư nữa. Dù là chân ngã hay đại ngã thì nó vẫn còn cái chữ ngã là hàm ý riêng tư. Cho nên thôi, mình đừng có đặt cái có cái chữ ngã cho cái tên của tuyệt đối ha.
[55:57]Giờ theo thầy Huệ Tánh, tiền có tội không? Đồng tiền có tội không? Như vậy tại sao Phật cấm mình giữ tiền? Dạ dạ dạ, đúng rồi. Nghĩa là thế này:
[56:14]đồng tiền nó không có lỗi, mà lỗi là do cách sử dụng, phải không? Cách sử dụng. Nếu mình có tiền mà mình dùng đồng tiền đó để làm cho cuộc đời này được đạo đức, cho cái người tu được yên tâm tu, phải không? Người khổ được bớt khổ thì đồng tiền đâu có lỗi, mà nó còn có phước nữa. Chỉ trừ trường hợp mình dùng đồng tiền đó để làm gì? Như người đời đó, họ đi quán bia ôm này kia nọ, họ hút ma túy hoặc họ để mua súng, mua đạn đi cướp giật lẫn nhau á thì đồng tiền đó mới là có lỗi, phải không? Thì cũng như vậy, cái thần thông là có lỗi không? Thần thông có lỗi không? Mà nhiều người cũng chống thần thông dữ lắm á.
[56:50]Có không?
[56:56]Thầy Minh Hòa là ai? Thưa sư, vậy cái thần thông có lỗi không? Dạ rồi, cảm ơn sư. Đúng rồi.
[57:09]Cũng vậy thế à. Nên có những người mà họ có thần thông nhưng mà vì họ còn bản ngã, họ chưa có đủ chánh kiến, họ dùng những thần thông đó cho những cái riêng tư, vị kỷ thì nó thành ra cái tội lỗi. Để khoe khoang hay là chiêu phục tín đồ làm cho họ theo mình cho đông thì có lỗi. Còn nếu mình dùng thần thông mà để làm lợi ích cho người khác, giáo hóa người khác thì không có lỗi. Đức Phật luôn rất thường xuyên dùng thần thông để độ đệ tử. Đức Phật rất thường xuyên. Như chúng ta nhớ trường hợp mà ngài Châu Lợi Bàn Đặc á, ngài dốt đến nỗi mà không thể mà học thuộc bài kệ rồi bị ông anh đuổi không cho tu nữa, ngài khóc.
[57:46]Đức Phật mới hiện ra khuyên ngài vững tâm, rồi Đức Phật bỏ đi. Cho đến khi mà ngài ngồi ngài nhìn cái khăn đó lần lần nó đang từ cái màu trắng nó ố từ từ thành vàng vàng, ngài ngộ được cái lý vô thường thì đúng lúc Đức Phật lại hiện ra một lần nữa giữa hư không, đọc một bài kệ, ngài nhập đạo luôn, chứng đạo. Đó là trường hợp dùng thần thông, trong kinh có ghi, cũng rất nhiều như vậy. Khi mà Phật xác quyết cái đạo của mình, Ngài cũng dùng thần thông nữa, rất là thường xuyên. Nhưng mà rõ ràng những điều mà Phật đã sử dụng thần thông làm cho người ta tăng thêm tín tâm, làm cho người khác sớm được khai ngộ.
[58:23]Cho nên thần thông không có lỗi. Chỉ trừ trường hợp thần thông mà mình có cái ngã. Bây giờ nhiều vị dạy thiền không thích thần thông, cứ cho nói hễ có thần thông là ngoại đạo. Cái đó là sự sai lầm lớn, vô tình phản bội lại Đức Phật. Không phải như vậy. Chỉ có người dùng thần thông sai thôi, không hiểu được. Thì cái bản ngã của mình cũng vậy, nó cũng giống như đồng tiền, giống như thần thông, nó không có lỗi. Cái lỗi là do mình chưa kiểm soát nó được, cho nên nó tạo thành phiền não tham, sân, si. Còn với các Ngài, các bậc Thánh, khi các Ngài xuất định, Ngài sử dụng trở lại bản ngã và Ngài dùng bản ngã đó để độ chúng sinh.
[59:03]Ngài đi đây đi kia, tiếp xúc với người này, nói chuyện với người nọ, cũng phân biệt ta và người rõ ràng. Mà để giáo hóa, để dạy dỗ, cho nên cái ngã nó không có lỗi. Nên hôm nay chúng ta xác nhận thêm một điều nữa về cái ngã, để khi mình đọc kinh mình đừng có thắc mắc. Có nhiều người đọc kinh thấy nói ủa, Phật cũng xưng ta, như vậy Ngài còn ngã hay không? Còn! Lúc đó thì đúng là Ngài sử dụng lại cái ngã đó, nhưng mà ngã nó không có lỗi. Bởi vì Ngài đã đi suốt con đường tâm rồi, nên Ngài trở lên trở xuống gì cái ngã nó không có lỗi.
[59:39]Qua hôm sau đó, chúng ta sẽ tham khảo các pháp môn. Hiện nay tu thiền có nhiều pháp môn lắm: người tu thoại đầu, công án, niệm Phật, hơi thở, tri vọng, đủ thứ hết. Qua lần sau chúng ta sẽ phân tích từng cái pháp môn đó, mỗi cái ưu khuyết như thế nào, để mình có cái nhìn khắp hết. Nên khi mình đang tu pháp môn này mình vẫn biết cái ưu điểm của nó và khuyết điểm của nó. Không bao giờ có một pháp môn tuyệt đối đầy đủ mọi ưu điểm hết, không bao giờ có. Bất cứ pháp môn nào, dù hay tới đâu cũng tồn tại một khuyết điểm bên cạnh. Chúng ta phải nhận định điều đó cho rõ. Cho nên một ông thầy nào mà khi dạy đạo,
[1:00:16]giảng một cái pháp môn mà lớn tiếng nói rằng pháp môn của ông ta là tuyệt đối đầy đủ mọi ưu điểm hơn hẳn mọi pháp môn khác thì mình biết ông thầy này phiến diện, hơi tà kiến và gây cho đệ tử mình cái bệnh độc tôn. Còn chúng ta nhìn đạo trên cái nhìn khoa học, khách quan thì phải biết hết tất cả mọi cái ưu điểm, khuyết điểm của từng pháp môn. Và chúng ta phải phân tích mỗi cái nó sử dụng như thế nào. Cho nên tôi cũng hy vọng rằng trong cái mùa hạ này, khi mà chúng ta cùng trao đổi với nhau về thiền định, thì sau này khi mà quý sư nghe nói tới bất cứ pháp môn nào mình cũng biết cái cách dụng công của nó và biết cái ưu khuyết điểm của nó.
[1:00:59]Nhờ đó mình không công kích ai hết. Và khi người ta tu pháp môn đó, mình có thể góp ý được là cái khuyết điểm nó còn nằm ở chỗ nào để người ta bổ sung cho nó tròn vẹn hơn.
[1:01:12]Thì lần sau. Bây giờ còn ít phút thì mình nói về cái khái niệm gọi là cái chữ chân tâm một chút.
[1:01:20]Cái chữ chân tâm chúng ta lập ra là để để đối với cái gì? Đối với cái gì?
[1:01:35]...với mình là vọng tâm đúng rồi.
[1:01:39]Vậy chân tâm nó nằm ở đâu? Tuyệt đối ha! Hôm nay mình học xong rồi cái bài này nên mình kết luận là chân tâm nằm ở đây liền. Nhưng nếu mình chưa học bài này mình sẽ nói chân tâm ở đâu? Thì ý thức vừa thanh tịnh cái mình nói đó là chân tâm liền. Hay là vọng tưởng vừa lắng xuống một cái, tâm mình vừa thanh tịnh cái mình nói ờ vậy là chân tâm ở đây. Nhưng thật ra nó còn tuốt ở trên đầu. Nên chúng ta hiểu cái này:
[1:02:11]cái gọi là chân tâm mình có thể dùng được với cái nghĩa khiêm tốn của nó đừng cho nó là tuyệt đối thì nó đồng nghĩa với sự tỉnh giác. Đồng nghĩa với sự tỉnh giác. Tức là khi mà mình thanh tịnh, tỉnh giác cái tâm đó có thể gọi là chân tâm. Cái tâm đó nó kiểm soát được vọng tâm, cái tỉnh giác này. Cái tâm loạn động suy nghĩ của mình á mà mình có cái sức tỉnh giác, thanh tịnh để kiểm soát được cái tâm loạn động kia thì cái này mình có thể gọi là chân tâm được. Chỉ có một cái điều là cái chân tâm đó so với bản thể tuyệt đối thật sự thì còn
[1:02:55]rất xa, rất xa. Cho nên từ đây về sau, một người nào đó tu trơn mở được cái thùy trán, ngộ được đạo, xuất hiện sự tỉnh giác tràn trề và nói rằng mình đã ngộ được chân tâm thì cũng không sai. Chỉ có cái điều là cái chân tâm đó nó đồng nghĩa với sự tỉnh giác và nó còn cách cái bản thể tuyệt đối rất xa. Mình hiểu một cách khiêm tốn thì mình không có cái lỗi ngã mạn. Còn nếu mình không hiểu điều đó, cái tâm mình vừa nhiếp được thanh tịnh cái mình vội vàng cho đây là Phật tánh, là chân tâm thì mình rơi vào tà kiến, cái ngã mạn nó xuất hiện liền.
[1:03:35]Nó còn vài phút, chúng ta để nêu câu hỏi đi, ai thắc
[1:03:47]mắc gì hỏi đi. Một lát thiền xong chúng ta cũng ngồi thiền ha, học xong chúng ta xuống ngồi thiền ha, đừng có bỏ ha! Mà mỗi ngày về cũng vậy, một ngày hai thời, ba thời ráng ngồi cho đều đặn, điều thân rồi tu tập chánh niệm, đừng có bỏ lỡ một bữa nào hết. Thứ nhất á, thứ nhất là cái người mà phải làm việc đầu não suốt ngày thì làm sao dụng công? Thì đúng là không dụng công được nếu mà giai đoạn họ còn quá kém. Trừ trường hợp họ đến bức tranh thứ sáu thì dù làm bất cứ việc gì kể cả làm việc đầu óc vẫn nhiếp tâm được. Đến bức tranh thứ sáu. Còn lúc mình mới tu mà phải làm việc lăng tăng thì rõ ràng không tu được, đó là điều khẳng định.
[1:04:29]Cho nên khi một ông thầy mà hướng dẫn đệ tử tu đó thì phải biết điều này, biết tùy cái giai đoạn của đệ tử. Nên cái người đó còn mới quá, cho tạo công đức, tập rèn giới luật, vân vân, rồi cho ngồi thiền. Cho có những ngày nhập thất để mà chú tâm vào dụng công cho nó tiến lên. Còn đến cái người mà ở bức tranh thứ năm rồi đó, là trong đời sống tu được rồi. Bức thứ tranh thứ tư hơi khó tại bức tranh thứ tư nó hơi có bức xúc dằn ép dữ lắm. Lúc cái niệm nó cứ muốn kéo dài mặc dầu mình thấy hết cái niệm, niệm thì nó muốn kéo dài mà mình thật sự thâm tâm mình thì muốn dừng lại. Lúc đó nó có cái bức xúc dằn ép ở bức tranh thứ tư.
[1:05:10]Còn bức tranh thứ năm á là rỗng rang dữ lắm, tâm rỗng rang, dễ tu rồi. Làm việc tùm lum vậy chớ mà vẫn đang nhiếp tâm được. Còn bức tranh thứ sáu thì hoàn toàn làm chủ mặc dù lúc đó mình rất bận nhưng không sao hết. Còn cái thiền sư Trí Hoàng bị quở đó là không phải ông tu dở hợt đâu, ông tu rất là đúng không có sai. Nhưng chỉ có cái điểm là thế này: là ổng được định mà cái thùy trán ổng chưa mở nên ổng chưa ngộ nhưng cái định ổng rất là vững. Cho nên ổng gặp Lục Tổ cái ổng ngộ liền. Là ổng định sâu mà thùy trán chưa mở nên ổng không lanh để mà đối đáp được với ngài Huyền Huyền Sách ha! Chứ nếu lúc đó cũng cái định đó thôi, không cần cao hơn,
[1:05:55]ổng mở được cái thùy trán là ổng đủ lanh lợi ổng đối đáp với ông kia liền. Nên chúng ta đọc cái đó đừng nghĩ là ổng tu sai hay là kém gì, không phải đâu, rất là hay đó. Nhưng mà cái thùy trán ổng chưa mở nên ổng chưa xuất hiện trạng thái ngộ, mặc dầu cái định nó đã lắng sâu, nó chuẩn bị cho sự bùng vỡ. Nên khi gặp Lục Tổ, ổng bùng vỡ, ổng ngộ cái là xong. Nó chỉ lắc một xíu thôi. Mà lúc đó, theo cái cảm nhận của tôi đó, tôi đọc cái đoạn đó tôi vẫn cảm thấy rằng cái về cái định ngài Huyền Sách chưa bằng ngài Trí Hoàng. Khi tôi đọc cái đoạn đó. Mặc dù là ngài Huyền Sách bắt bẻ ngài Trí Hoàng nhưng mà qua cái cách nói chuyện của ngài Huyền Sách,
[1:06:31]tôi vẫn cảm nhận cái định của ngài Huyền Sách chưa sâu bằng ngài Trí Hoàng. Mặc dù có ngộ, xuất hiện cái hiện tượng ngộ trước ngài Trí Hoàng. Ngài Trí Hoàng xuất hiện cái hiện tượng ngộ sau nhưng mà cái định ngài Trí Hoàng vững hơn ngài Huyền Sách, đó là cái cảm nhận của tôi. Cho nên chúng ta đừng sợ điều đó. Kinh sách nói tùm lum vậy đó, mình phải có cái nhìn của mình cho vững. Chứ không mình sẽ bị hoang mang à, đọc sách này thấy chỗ này, đọc sách kia thấy chỗ khác liền. Ai hỏi gì nữa?
[1:07:03]Lần sau á, khi mà mình nói về từng cái pháp môn á thì mình sẽ giải thích về cái điều này rất là rõ. Còn bây giờ tôi nói thì sợ nó dẫn xa luôn. Nó cũng có tạm thời nó được chứ không phải không. Ví dụ như là tâm mình nó rối quá, dùng một cái để mình kềm lại bớt một câu niệm Phật, hay có người thì dùng câu thoại đầu hay một cái công án hay là cái gì, có người thì đếm theo dõi hơi thở, cho vì cái cái biết mình nó không sáng, không kềm chế nổi cái vọng tưởng nó mạnh quá, cũng có trường hợp đó. Thì điều đó nó không có lỗi và không sai lắm đâu, không sai lắm. Nhưng mà mình phải hiểu khi mình sử dụng như
[1:07:38]vậy nó lợi ở điểm nào và nó hại ở điểm nào. Lần sau mình sẽ phân tích với nhau, phải không?
[1:07:49]Tức là nói chú ý vào một việc làm á? Bằng cớ là chúng ta đang làm việc nhưng suy nghĩ tùm lum chuyện hết trơn.
[1:08:06]Bây giờ nếu ví dụ như sư có tha tâm thông, tức là sư biết được tâm người khác ha, thì sư cứ nhìn một người đọc sách, cầm mở sách họ đọc, họ đang chăm chú đọc, sư sẽ đọc thấy họ ba bốn tư tưởng đi song song. Một cái tâm đang đọc sách, những tư tưởng vẩn vơ nó nghĩ tùm lum chuyện hết. Hiện thời cái đầu mình không phải một tư tưởng, một vấn đề đâu. Nên nói là cái tâm vọng của mình cùng một lúc năm sáu cái hay là chín mười cái tư tưởng nó đang cùng một lúc đang xuất hiện. Mà có cái nào nó rõ nhất á thì mình thấy thì mình tưởng mình chỉ có một tâm đó hay hai tâm đó. Chứ sự thực cùng một lúc nó đang có chín mười
[1:08:39]tâm nó đang xuất hiện song song với nhau. Nó như vậy đó. Bữa nào không tin để tôi dòm, tôi mở tha tâm thông tôi nhìn mọi người thử coi. Mời sư!
[1:08:52]Ai nói cũng được. Dạ, có chứ, tùy mình chứ. Tùy ý muốn của mình chứ. Ví dụ như cũng cái ý thức này nhưng mà mình luôn luôn mình chạy ra bên ngoài, mình quan sát bên ngoài thì lúc cái tâm mình nó loạn theo cảnh, nhưng cũng ý thức này mà mình xoay lại mình kiểm soát tâm mình thì lúc đó lại mình đang tu. À sẵn sư hỏi kể luôn. Vừa rồi tôi nghe có một cái bài kinh của một ông thầy bên nước ngoài cũng nổi tiếng dạy cái pháp môn gọi là pháp môn nghe, giải thích là nhĩ căn viên thông. Đáng lẽ lần sau tôi mới giải thích cái này nhưng mà sẵn sư hỏi nói luôn. Là nói: "Lắng nghe mọi cái âm thanh trên đời này mà lắng
[1:09:37]nghe với cái tâm vô tư không thành kiến". Thì sư đó gọi cái đó là pháp môn Quán Âm của ngài Bồ Tát Quán Thế Âm. Sư có nghe điều đó chưa? Và vị đó nói đó là pháp tu rất là hay, nghĩa là lắng nghe mọi âm thanh đâu đó như tiếng chén mới rớt nè, tiếng muỗng mới rớt, tiếng búa gõ bóp bóp chẳng hạn, nghe hết mọi cái âm thanh mà với tâm vô tư không thành kiến gọi đó là một pháp tu, tu thiền quan trọng.
[1:10:07]Nơi lúc đó tôi hỏi mấy đệ tử, tôi hỏi: "Vậy con nhìn thấy cái chỗ sai chỗ nào?". Thì chú nói liền: "Tâm nó xoay ra ngoài, không phải xoay vô trong". Mặc dù mình có gán thêm cái chữ là vô tư không thành kiến nhưng mà tâm nó vẫn đang xoay ra ngoài. Mà trong khi người tu là gì? Tâm xoay vô trong, kiểm soát được chính mình. Ai hỏi gì nữa?
[1:10:33]Cái đó giai đoạn thô, giai đoạn cạn ban đầu.
[1:10:39]À thì đúng rồi, đó giai đoạn ban đầu. Ví dụ giai đoạn ban đầu cái tâm được thanh tịnh thì người nào đứng trước mặt mình thuyết họ nói cái gì mình biết rõ họ đang nói cái gì, nhưng mà tâm mình không có động theo cái lời nói đó. Đó là giai đoạn định còn cạn. Còn giai đoạn định sâu hơn á thì biết có tiếng nói mà không biết cái gì nữa, không có phân biệt nữa. Tại tâm mình bắt đầu xoay vô trong quá sâu rồi. Còn cái giai đoạn kia là tâm nó còn ra bên ngoài một chút nên vẫn còn lắng nghe rõ nguyên cái câu văn người ta với ý nghĩa gì mình biết hết, là tâm đang còn chạy ra ngoài khá nhiều, mặc dầu mình không khởi phiền não,
[1:11:15]duyên theo mạnh, nhưng mà tâm nó đã ở bên ngoài rất nhiều. Còn ở giai đoạn định sâu hơn mình xoay vô trong quá nhiều rồi, chỉ nghe loáng thoáng người ta nói cái gì, biết người ta có nói cái gì đó mà không biết rõ nói cái gì. Không còn nắm rõ câu nói, ý nghĩa nữa, thì giai đoạn sâu hơn. Nhưng mà nói sâu hơn vậy cũng còn cạn lắm. Chưa có vào được tới trong này đâu. Mới đâu ngoài này nè. Cả hai giai đoạn đó đều đâu nằm khoảng ngoài này thôi. Giai đoạn đầu mà sư nói đó là hoàn toàn còn nằm ở ý thức. Khi người ta nói mình còn nghe hết câu văn người ta với cái nghĩa gì thì đang còn nằm ngoài ý thức.
[1:11:45]Còn giai đoạn mà mình lắng sâu vô mà có nghe người ta nói mà nghe loáng thoáng vậy mà không để ý nữa, không biết người ta nói câu gì nữa thì nó vào trong này một chút.
[1:11:59]Nhưng mà còn con đường vô thức còn dài lắm, chưa có gì hết. Thật ra như vậy nó hơi chậm á sư sư, hơi chậm rồi. Nó có khởi lên mà sau đó mình còn phải phán xét thì công phu người này chưa có nhạy lắm. Tại vì công phu mà tế đó là không có động được nữa, kể cả cái niệm thiện cũng không động được nữa. Mà dù cái niệm tế nó có nhốm nhẹ lên là mình đã biết nó thiện ác ngay từ đầu. Tức là nó nhanh đến cái độ mình nói cái chữ tích tắc nó cũng còn hơi chậm nữa. Cái chữ sát-na tôi không biết chỗ nào chứ nó nhanh lắm. Nó nhốm cái ngày đó là mình thiện ác mình đã biết xong rồi, không còn phải một thời gian nào phán xét hết.
[1:12:37]Nếu thực sự nó là định, nó nhanh vậy, không có chậm như vậy đâu. Nó không có động thô một cái niệm thiện dù là niệm thiện kéo dài không có đâu. Nhưng mà nó nhốm nhẹ cái thiện là mình đã biết nó thiện hay ác liền, tức khắc, nhanh lắm. Cho nên luôn luôn ở trong định và luôn luôn ở trong thiện pháp.