Transcript: Minh Triết Tối Thượng

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:02:59

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:08]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên Chư Tôn Đức. Kính thưa quý Phật tử. Hôm nay chúng ta sẽ nghe một bài ngă ngắn, cái đề tài rất là kêu, mà sự thật nó chỉ là câu chuyện vui thôi, cái tựa là Minh Triết Tối Thượng, Minh Triết Tối Thượng. Câu chuyện như thế này: là vào thời xửa thời xưa, có một vị vua bách chiến bách thắng. Là ngoài cái giang sơn của mình đã trị vì, thì ông đem quân đội ông đánh vào nhiều nước và được nhiều nước thần phục. Có những nước thì ông đánh vất vả rồi mới chiếm được, có những quốc gia là thấy cái quân đội ông kéo tới là họ đã buông gươm giáo đầu hàng. Nên ông trị vì những cái giang san rất là lớn, mà đến khi mà gặp bởi cái biển cả

[0:53]rồi thì cái đoàn quân mới dừng lại, cái biên giới quốc gia mới chịu dừng lại. Hoặc là đến gặp những đỉnh núi cao mà đoàn quân ngựa không thể vượt qua được nữa thì dừng lại, lấy đó làm biên giới. Đó là cái uy quyền của ông vua thật là hiển hách. Thì đến khi mà cái giấc mộng quyền lực của ông như đến chỗ cái tận cùng rồi, thì con người ta nghĩ lại, à đó là cái tâm lý. Tiền đầy kho, quyền không còn giới hạn, tất cả đều thần phục dưới bàn tay của mình, thì bây giờ còn cái gì cao hơn những điều đó nữa? Nhưng mà ông là một vị vua cực kỳ thông minh, rất là thông minh, rất trí tuệ. Cái điều mà trăn trở đó, ông không cần hỏi quần thần.

[1:37]Từ nào giờ là ông rất là giỏi, chỉ tay là dưới phải làm, mà làm là thành công. Nên lần này cũng vậy, khi mà cái quyền lực ông đã vô hạn rồi, đã không còn giới hạn, dường như các quốc gia lân bang đều thần phục hết rồi, ở trên đỉnh cao quyền lực, tự nhiên ông chợt nghĩ một điều: cái gì mới là cái kế tiếp mà cuộc đời ông phải chinh phục? Con người ta là như vậy, luôn luôn cứ muốn chinh phục đi tới. Và ông đi dạo trong cái vườn thượng uyển đầy những hoa thơm cỏ lạ. Lúc đó bao nhiêu cung nữ đi tới gần, ông đuổi ra hết, bao nhiêu những người hầu đến gần, ông đuổi ra hết. Ông muốn một mình trong cái khu vườn này,

[2:13]ông đi tìm cái gì nó còn cao hơn cả như cái quyền lực này. Và sau đó, mọi người cứ đứng nép nép xa xa, tại vì ông phất tay một cái là không ai dám bén mảng lại gần, cái uy quyền rất là dữ dội. Thì một lát sau thì ông vỡ lẽ ra, ông tìm đã được cái giải pháp, ông mới gọi các quan cẩn thần lại, ông nói thế này: "Trẫm đã ở trên cái đỉnh cao của quyền lực, không còn một quốc gia nào mà không bị trẫm đánh bại, không còn một quốc gia nào mà không dám thần phục trẫm. Bây giờ, các khanh hãy cho người tỏa đi hết tất cả mọi nẻo đường, vào trong hang cùng ngõ hẻm, thâm sơn cùng cốc, đi tìm hết tất cả những cái đạo lý, cái triết lý,

[2:56]cái minh triết của tất cả các quốc gia ở trên cái cõi đất này về cho trẫm. Vì trẫm muốn chinh phục một cái khác, đó là cái triết lý, cái đạo lý, cái đạo học, cái minh triết.". Khi lệnh của vua ban ra rồi thì lập tức các cẩn thần họp với nhau bàn, phân công chỉ đạo, chi tiền xuất quỹ đồ, bố trí vạch hướng đi rồi lên kế hoạch rồi là từng đoàn người tỏa ra đi khắp thế gian. Đó là họ cứ đi, đi mãi như vậy. Nghe nói nơi đâu có những vị giáo sư lỗi lạc cái họ đến họ học và ghi chép lại, ghi bằng cái ngôn ngữ mà ông vua ổng mới biết được. Nghe nói ở làng mạc đó có một vị triết gia thâm trầm, uyên bác, họ lại tìm đến họ lắng nghe và viết lại, viết lại.

[3:38]Có những người nghe nói trên hang sâu có một đạo sĩ ẩn tu mà nói những lời nào là như thần như thánh, cái họ leo lên những đỉnh đó để ngồi viết lại, viết lại. Thế là họ cứ đi, đi như vậy. Và nhiều năm trôi qua, bắt đầu ông vua ổng nhuốm bệnh. Dù là các lương y cố gắng chữa trị, nhưng mà bệnh nó cứ dần và ông vua mới nóng ruột, ổng hỏi: "Cái lệnh mà ta ra lệnh các khanh là đi tìm hết các nền đạo lý, triết lý trên thế gian này về cho ta đâu rồi?". Các quan nói: "Dạ thưa, đã về được một vài người nhưng còn rất nhiều người đi ở những chốn quá xa, chưa về kịp. Chúng thần sẽ cố gắng dùng những loại thuốc quý nhất để cho bệ hạ

[4:14]được là trường thọ muôn tuổi mà có thể đọc được hết tất cả những đạo lý tối thượng ở trên trần gian này, xin bệ hạ hãy yên tâm.". Thì ông vua vẫn tiếp tục bệnh, và từng người lác đác đem những cái đống thẻ tre mà viết được cái đạo lý đem về. Họ lập ra nguyên một ban. Khi là họ đã về gần như đầy đủ rồi, thì họ mới đến tâu: "Muôn tâu bệ hạ, tất cả đạo lý thế gian này chúng thần đã đem về gần như đầy đủ, chỉ còn một vài người không về có lẽ là do bệnh hoạn chết dọc đường, không còn liên lạc được nữa. Nhưng mà nôi như vậy là đã quá đầy đủ mọi đạo lý ở trên cuộc đời này.". Cái mới khiêng cái kiệu ông vua tới cái chỗ mà chất hết

[4:50]những cái thẻ tre mà ghi đạo lý trên thiên hạ đó. Khi mà đến, ông vua ổng nói: "Chừng nào trẫm mới đọc hết cái số thẻ tre này?". Chừng nào, trong khi là tuổi đã già, cơn bệnh đã tới, nhìn cái đống thẻ tre này từ đầu này qua tới đầu kia đem hết thiên hạ về, chừng nào trẫm đọc hết, "Trẫm chưa đọc được hết một phần nhỏ là trẫm đã chết rồi. Các khanh mau mau cho người đọc tổng hợp lại cho trẫm cho gọn lại.". "Dạ, tuân lệnh!". Bắt đầu gom hết bao nhiêu các học giả lại ngồi, ông đọc viết rút gọn lại. Thấy nguyên một đống này rút lại còn một thẻ, nguyên đống rút gọn lại còn một thẻ. Thì làm việc cật lực trong vòng hai năm, cái nguyên một cái nhà mà thẻ tre

[5:27]chứa đầy đạo lý của thiên hạ này còn lại là một đống bằng cái bàn này. Đem đống thẻ tre bằng cái bàn tới cho ông vua thì ông vua ổng nằm hấp hối rồi, ổng ngất nghé rồi, ổng thấy, ổng dòm cái đống bàn đó, ổng nói: "Trẫm hết đọc nổi rồi. Bây giờ các ngươi rút lại trong vòng, nghĩa là một tấm thẻ tre thôi. Chứ làm sao mà thời gian đâu mà trẫm đã gần chết rồi, mà cái đống thẻ tre bằng cái bàn này đọc chừng nào?". Nói: "Dạ, tuân lệnh!". Bắt đầu lấy cái bàn này đọc rút lại, rút lại, rút lại. Một tháng sau nữa, đem được hai tấm thẻ tre tới. Khi mà vô xin để được gặp nhà vua thì ông quan ngự y, các quan không muốn cho vô tại vua thực sự tới lúc đó là bắt

[6:03]đầu đứt hơi gần chết rồi, hấp hối lên cơn ngáp ngáp rồi. Cái mới nói, cái ông quan mà ngự sử lớn nhất mới nói: "Muôn tâu bệ hạ, qua trên 10 năm vừa đi sưu tầm đạo lý và tổng hợp rút gọn đạo lý, chúng thần tìm được hai cái minh triết tối thượng cho cuộc đời này, cao nhất của thế gian này, không có một cái chân lý nào, một đạo lý nào qua được hai cái minh triết tối thượng này.". Ông kia, ông vua khều khào: "Nói ta nghe, nhanh lên!". Ông phều phào. Ông rút cái thẻ tre thứ nhất ra: "Muôn tâu bệ hạ, minh triết tối thượng thứ nhất là: Tất cả thế gian là vô thường.". Nghe xong ông vua ổng đứt hơi ổng chết liền.

[6:40]Cái ông rút câu thẻ tre thứ hai ra thì ông kia ổng hết nghe được rồi. Còn một cái thứ hai nữa, ông vua hết nghe được, còn một cái nữa. Còn ổng cầm ngơ ngàng ngơ ngàng một cái thứ hai nữa không nói kịp, mà lúc đó không nói được nữa, mọi người òa lên khóc la lối tùm lum, nhưng mà ổng đứng đó là bởi vì cái nhiệm vụ, ổng buộc lòng phải nói luôn mặc dù nhà vua đã chết: "Muôn tâu bệ hạ, một minh triết tối thượng thứ hai nữa: Tất cả đều là nghiệp duyên, nhân quả chi phối.". Vậy là chúng ta hạnh phúc hơn ông vua đó. Ông vua đó có quyền lực đầy đủ mà chỉ nghe được một cái minh triết tối thượng: thế gian là vô thường rồi die.

[7:17]Còn hôm nay mình nghe được câu luôn thứ hai. Trong cái vô thường biến đổi đó, tất cả đều bị nghiệp duyên, nhân quả chi phối. Nên ta ngon hơn cái ông vua bá chủ thế giới đó rất nhiều.

[7:32]Chúng ta nghe điều này có lạ? Hai minh triết này nghe có lạ không ạ? Mình nghe có lạ không? Không. Người Phật tử mình đã nghe rất nhiều lần. Và nghe đến thấy thường và nhiều người nghe xong rồi quên luôn. Cái mà ông vua ổng phải đem đại quân cả cuộc đời ổng chinh phục cả thế giới, đem bao nhiêu tiền của cho 10 năm để mà đi tìm hết đạo lý trên thế gian, mất hết một năm để tổng hợp lại, và mất một tháng cuối cùng để rút lại được hai cái minh triết tối thượng, ta đã nghe rất nhiều lần: Thế gian là vô thường. Tất cả thế gian này là nghiệp duyên, nhân quả chi phối. Ta đã nghe rất nhiều lần, bởi vì sao?

[8:07]Bởi vì ta là đệ tử Phật. Còn cái ông vua đó, ổng không phải đệ tử Phật. Để ổng tìm được cái minh triết đó là phải vị vua cực kỳ quyền lực, giàu có mới đủ người để đi tìm được cái điều đó. Còn vì ta là đệ tử Phật, ngay từ lúc vào cửa chùa, quý thầy đã dạy ta hai cái điều đó: "Này con, tất cả thế gian là vô thường. Tất cả đều do nhân quả, nghiệp duyên chi phối.". Ta hạnh phúc hơn vua rất nhiều mà ta không biết, nhiều khi ta xem thường và không ứng dụng được vào trong cuộc đời tu tập của mình. Nên hôm nay, chúng ta kể cái câu chuyện Minh Triết Tối Thượng này để ta thấy rằng ta đang rất hạnh phúc mà nhiều khi

[8:49]ta không có ứng dụng được vào đời sống và sự tu tập nên rất là phí. Hai cái minh triết tối thượng đó nó có phải là cái đặt điều, cái vẽ vời của những ông đạo sĩ, triết gia hay không? Không phải, đó là sự thật. Cái gọi là chân lý, đạo lý, minh triết nó phải là sự thật. Và đó cũng chính là cái phương châm của đạo Phật. Đạo Phật là đạo thấy như thật, đúng như thật. Cái gì đúng như thế nào là biết đúng như thế, thấy đúng như thế. Rồi trên cái thấy như thế, biết đúng như thế, bỗng nhiên tâm ta khai ngộ. Cái sự tu hành của đạo Phật chính là như vậy. Thế cũng chỉ vậy thôi. Ta cũng chỉ nắm hai cái minh triết tối thượng

[9:35]đó để ta đi thôi, trong cái sự tu hành. Như hồi nãy là quý thầy hướng dẫn cho quý Phật tử ngồi thiền thì cũng chỉ là nắm trên hai cái minh triết tối thượng đó mà tu thôi. Một là thấy được tất cả vô thường. Hai là thấy tất cả là nhân quả nghiệp duyên chi phối, mà ta ứng dụng được hai đó rồi thì tâm linh ta sẽ khai mở, ta sẽ vượt qua được các vọng tưởng và từ từ nhập định để đi đến cái đích cuối cùng của đạo Phật là vô ngã hoàn toàn, không còn có ta nữa. Câu mà nói vô ngã hoàn toàn không còn có ta thì nhắc lại một chút xíu này, có một lần thầy cũng nhắc. Thầy nói tất cả các tôn giáo trên thế giới đều hứa hẹn.

[10:14]Khi ta đến với một tôn giáo, ta gặp một giáo sĩ, ta luôn luôn đón nhận một lời hứa hẹn cho tương lai. Nói: "À, con theo ta, con theo đạo của ta, con sẽ được thế này, con sẽ được thế kia", luôn luôn là hứa hẹn. Đạo Phật cũng hứa hẹn. Nhưng mà cái hứa hẹn của đạo Phật và các tôn giáo khác khác nhau một cách kỳ lạ, khác nhau một cách làm ta bất ngờ, đó là các tôn giáo khác đó hứa hẹn rằng nếu ta theo đạo đó bản ngã ta sẽ được hưởng thụ, được tôn vinh. Còn đạo Phật hứa hẹn một điều rất là quái lạ là nếu ta theo đạo Phật, cái bản ngã của ta đó mất luôn, không có gì nữa, rất là ngạc nhiên, rất là lạ lùng.

[11:02]Hầu hết con người ta đều muốn được một cái gì đó sau bao nhiêu năm công phu tu hành khổ hạnh, sau bao nhiêu cái công lao cống hiến cho cái đạo, sau bao nhiêu năm mà tôn thờ, tín ngưỡng cái thần thánh, họ phải được cái gì bù đắp lại, được cái gì vinh quang lại, cái gì hưởng thụ lại cho bản ngã của họ. Các tôn giáo đều hứa hẹn như vậy và chính vì người ta tin vào cái sự hứa hẹn đó cho một cái bản ngã vinh quang nào đó ở tương lai mà người ta đã đi theo các tôn giáo. Chỉ trong đạo Phật, rất lạ lùng, hứa hẹn một cái điều mà như không hứa hẹn, đó là nếu con theo Phật, con sẽ mất luôn cái bản ngã của con.

[11:42]Nào giờ con dùng cái bản ngã này để sống, dùng cái bản ngã này để đấu tranh, dùng cái bản ngã này để bươn chải và cuối cùng mong cho cái bản ngã này được hưởng thụ, nhưng không ngờ đi theo đạo Phật rồi bản ngã này sẽ biến mất. Vậy mà có những người có một cái thiện duyên gì đó, có một cái trí tuệ gì rất lạ lùng từ nhiều kiếp không hiểu, cuối cùng đã đón nhận lời hứa hẹn kỳ lạ này. Thay vì ta tin vào cái sự hứa hẹn là cho ta một cái bản ngã hưởng thụ ở tương lai, vậy mà ta đã đi theo Đức Phật để ta nhận lấy cái lời hứa hẹn của Phật là ta sẽ không còn bản ngã nữa. Một cái lời hứa mà như không hứa gì cả,

[12:24]một lời hứa kỳ lạ, một lời hứa giống như hư vô. Vậy mà ta có cái thiện căn gì đó, một cái trí tuệ lạ lùng nào đó, ta tin vào cái lời hứa này, ta đi theo cái lời hứa này và ta có cái cảm nhận rằng nơi cái bản ngã tan biến không còn đó, đó chính là cái hạnh phúc bình an tột độ, tuyệt đối không còn biên giới. Chính vì niềm tin đó mà ta đã dành cả cuộc đời, cả tâm hồn của mình để đi theo Phật. Cho nên vì vậy, những người nào mà ngồi đây, những người nào mà hết lòng đi theo con đường của Phật đã vạch ra để nhắm đến cái lý tưởng vô ngã đều là những người trí tuệ, khôn ngoan và vĩ đại. Để đi được đến cái đích vô ngã đó

[13:06]thì trước hết là ta phải biết cái minh triết tối thượng đầu tiên: thế gian là vô thường trước. Trong cái sự tu hành của ta là cứ nắm cái minh triết tối thượng này bắt đầu mà đi, bằng cái việc từ nơi cái thân của mình trước. Ta bắt chân ta ngồi kiết già, ngồi đúng tư thế. Ngồi cho đúng tư thế, đừng ngồi sai tư thế. Vì sao vậy? Vì cái tư thế kiết già mà Đức Phật đã ngồi như thế, đã dạy như thế, nó có những lý do chặt chẽ, chi tiết ảnh hưởng tới việc nhiếp tâm của ta. Nên đừng ngồi bừa bãi. Ráng ngồi cho bằng được kiết già, hai chân chéo lên. Hai cánh tay để như thế này, lòng bàn tay này để lên lòng bàn tay kia,

[13:46]cánh tay hơi khuỳnh ra một chút, toàn thân thẳng lưng, bất động, mềm mại. Những cái kỹ thuật đó đều có cái lý do nó tương quan giữa thân và tâm mà ta đừng có vi phạm, đừng có sai phạm. Phật đã dạy như thế, ta phải thực hiện nghiêm chỉnh từng chút như thế. Vì có ảnh hưởng giữa thân và tâm, hôm nay thời gian không nhiều, ta không thể giải thích vì sao cái bắt chân chéo như thế nó ảnh hưởng sự nhiếp tâm, vì sao phải ngồi cái dáng hoa sen như thế nó hỗ trợ cho việc thiền định thì ta không giải thích. Này thầy nói tiếp cái quán thân vô thường. Là ta biết thế gian này là vô thường, cái điều mà ông vua tới giây phút

[14:23]cuối cùng mới nghe được, hôm nay ta nghe được, nên ta hạnh phúc hơn vì ta có thời gian để thực hành mà bắt đầu bằng cái thiền định. Ta ngồi bất động đúng tư thế kiết già và quán thân mình vô thường. Biết cái thân này vô thường, tạm bợ, không tồn tại lâu, rồi sẽ chết. Vô thường có nghĩa là không tồn tại lâu rồi sẽ chết. Nhưng mà chết rồi chưa hết, thân nó sẽ tiếp tục tan hoại. Đức Phật buộc ta phải quán cái thân vô thường thật là kỹ lưỡng. Ta sẽ thấy cái thân này trong mấy ngày sau bắt đầu nó sình, thối, dòi nó ăn, rồi cái nó xẹp xuống trở lại, nó khô, nó khô rồi cái thịt khô đó, cái mỡ khô, cái gân khô từ từ nó tróc tróc tróc nó rớt

[15:07]ra thành bụi, nó rời khỏi xương, cuối cùng còn lại cái xương. Rồi cái xương đó qua nhiều năm tháng nó rã rã lần lần thành tro, thành bụi tan mất trong đất hay là bay theo gió luôn. Là cái quán thân vô thường mà Phật buộc ta quán là phải quán cho tới cái đó. Mà Phật dạy rất là kỹ. Có những người nào mà khi bước vào thiền định cứ lười, cứ muốn là hễ khi vào thiền là tâm cứ phải nhiếp vào trong an định liền, chứ đừng có phải quán chiếu nhiều, thì người đó sẽ không đạt được cái minh triết về sự vô thường của thân. Và như vậy, con đường thiền nó sẽ đến lúc nào đó nó đứng lại, không tiến xa nữa. Còn nếu ta vâng lời Phật, ta quán cái thân vô thường thật là

[15:53]chi ly, thật là kỹ lưỡng như Phật đã dạy, mà quán cho tới cái xương nó rã, nó tan thành bụi bay theo gió mất luôn, thì ta mới thấm thía được cái ý nghĩa của cái thân vô thường. Mà khi quán như vậy là không phải một ngày hai ngày mà là vĩnh viễn. Nói là vĩnh viễn thì ta cứ tưởng là không lẽ suốt đời ta ngồi thiền là cứ ngồi đó cứ lảm nhảm: "Ồ, cái thân này vô thường, rồi ngày nào sẽ chết, rồi thân, cái xác thịt mỡ sình lên, sọp xuống, khô rớt ra, rồi cái xương tan thành bụi, thành tro bay mất." Cứ ngồi cái lại nói nữa, nói vậy lải nhải suốt đời thì không nhập định được. Nhưng mà rất là may, rất là may cái điều là trong cái tâm thức của ta

[16:37]nó có một cái cơ chế hỗ trợ cho cái sự thiền định, cái quán chiếu. Chỉ cần những lần đầu, một tháng đầu, hai tháng đầu thôi, ta quán chiếu rất kỹ về cái vô thường của thân. Mà khi quán chiếu như vậy đó, mới ban đầu ta suy nghiệm á, có phải là 5 phút, 10 phút ta mới thấy được cái vô thường của thân, rồi tâm yên chút xíu ta trở lại ta quán cái vô thường của thân, chút xíu như vậy. Nhưng mà thời gian về sau là ta chừng một phút là ta đi qua hết cái ý niệm về vô thường của thân như thế. Mà khi ta tu được chừng một năm rồi thì chỉ trong một sát-na thôi, tích tắc một cái là ta nghiệm sâu xa cái ý nghĩa vô thường của thân.

[17:15]Còn khoảng thời gian còn lại là cái tâm thức rất yên tịnh. Đó là cái may mắn, mà đúng là chân lý của Phật nói là ta biết như thật, thấy như thật thì tâm mình sẽ đi vào yên tịnh. Đó là cái công thức á, chứ còn nếu không có công thức này thì ta vĩnh viễn không vào định được. May là nó có cái công thức của cái tâm thức của ta là nếu ta thấy như thật, đúng như thật, tâm ta sẽ vào định. Thấy thôi, biết thôi, không cần làm gì hết. Đó là cớ ta cứ quán chiếu cái thân vô thường thôi. Mà quán lâu rồi thì cái quán đó nó nhanh và nó thấu đáo. Nhanh là sao? Nhanh là trong tích tắc một cái, ta thấy hết cái thân nó vô thường một cách sâu xa.

[17:54]Thấu đáo là thấy luôn cái xương này sẽ tan thành bụi bay luôn. Đó là cái quán vô thường. Chỉ cái quán vô thường này là cái khởi điểm thôi, nhưng mà sau đó bắt đầu mọi điều kỳ diệu xuất hiện kế tiếp. Cái quan trọng là cái kế tiếp á. Nhưng mà cái ban đầu ta phải quán cho kỹ, quán cho đúng, quán cái thân vô thường cho kỹ, cho đúng. Nhiều người nghe nói là: "À, tu theo cái Tứ Niệm Xứ Phật dạy quán thân vô thường nó thường quá, nghe nó đơn giản quá, cái đó ai cũng biết hết, làm sao mà là chứng được đạo quả cao siêu?" Nhưng đâu có ngờ rằng chỉ với cái quán thân vô thường này thôi, tiếp tục sau đó vô số điều kỳ diệu xuất hiện, vì ta đã bắt đầu bằng cái minh triết

[18:36]tối thượng mà cái ông vua đó khổ nhọc bao nhiêu năm cả cuộc đời mới nghe được. Nay ta có thời gian bắt đầu ta thực hành vào trong thiền định thì chắc chắn rằng cái minh triết tối thượng này sẽ đưa ta đến một cái kết quả kỳ diệu, chứ không bao giờ cái minh triết tối thượng này nó dừng lại ở một cái suy nghĩ đơn giản rồi hết. Không phải là: "Ờ, đời là vô thường ha, rồi thôi hết chuyện", không có đâu. Cái câu "đời là vô thường" đó mà ta ứng dụng vào trong ngồi thiền để thấy thân là vô thường đó, nó là minh triết tối thượng cho nên nó sẽ đưa đến một kết quả kỳ diệu về sau này. Mà khi ta ứng dụng ngồi trong thiền,

[19:16]bắt đầu ta sẽ thấy lần lần lần lần, thì kế tiếp ta sẽ thấy thế này: khi mà ta quán thân vô thường thấu đáo rồi, tâm bắt đầu nó thanh tịnh dần, thanh tịnh dần, cái vọng tưởng khởi lên là bị ta phát hiện, ta kiểm soát được. Tâm nó thanh tịnh thì ta chợt thấy thêm một điều nữa trong cái thân này nó có nữa: trong cái thân vô thường này có hơi thở đi vào, có hơi thở đi ra. Không cần ta cố gắng thở, không cần ta điều khiển hơi thở, mà thân ta buộc nó phải tự thở chứ không nó chết liền. Do đó nơi cái thân vô thường này đang có hơi thở vào, đang có hơi thở ra và ta bắt đầu thấy được cái thứ hai này. Đầu tiên chỉ là thấy thân vô thường, sau đó ta thấy hơi thở vào, hơi thở ra.

[20:01]Nhưng mà nó có một cái chút tế nhị thế này: là thường khi mà ta vừa thấy hơi thở, cái lập tức ta điều khiển hơi thở liền. Ta sẽ cố gắng thở cho êm như thế này, thở nó dài như thế kia là ta đi sai liền, sai lời Phật dạy liền. Lúc đó bản ngã ta lớn lên từ từ theo cái điều khiển hơi thở. Nên ở đây Phật dạy ta rất là rõ, là hơi thở vào dài, ta biết hơi thở vào dài. Hơi thở vào ngắn, ta biết hơi thở vào ngắn. Hơi thở ra dài, ta biết hơi thở ra dài. Hơi thở ra ngắn, ta biết hơi thở ra ngắn. Biết thôi, Phật có kêu mình điều khiển không? Phật không kêu mình điều khiển phải dài như thế này, phải ngắn như thế kia, phải êm như thế nọ,

[20:40]tuyệt đối không, chỉ biết mà thôi, không điều khiển. Trong kinh Nikaya ghi rất rõ. Cho nên, khi mà ta thấy thân vô thường, bắt đầu thân tâm ta nó rỗng suốt từ từ từ từ thì bắt đầu ta nhận hơi thở vào, thấy hơi thở vào, thấy hơi thở ra. Và chỗ này nhớ đừng để điều khiển. Vì nó có một cái công thức rất là lạ, ta vừa để ý hơi thở một cái là bắt đầu ta điều khiển liền, ta thở cố ý thở vào, ta cố ý thở ra. Và khi cố ý thở vào, cố ý thở ra, cái bản ngã ta ngấm ngầm nó phát triển làm cho ta không đi đến cái vô ngã được. Nên ở đây chỉ biết hơi thở vào, biết hơi thở ra mà không điều khiển. Đó là cái kỳ diệu thứ hai bắt đầu xuất hiện.

[21:21]Cái thứ nhất là ta nghiệm được cái vô thường của thân một cách thấu đáo, rồi sau đó, cái kỳ diệu thứ hai là trong cái tâm thanh tịnh này, ta thấy hơi thở vào, hơi thở ra nơi cái thân vô thường này. Và lúc đó rất là là an lạc. Khi mà cái thân an lạc như thế, cái tâm an lạc như thế thì trí tuệ minh triết tiếp tục nó tự động nó xuất hiện, tự động nó xuất hiện chứ ta không cần ép, không cần ép, tự động nó xuất hiện. Ta sẽ thấy tiếp cái điều này nữa: là nơi cái thân vô thường này coi vậy chớ nó rắc rối. Ta nghe nói cái thân này vô thường nó đơn giản, lúc nào cũng chết, tan thành bụi xong ngay. Vậy mà không xong ngay, không đơn giản. Vì sao vậy?

[22:02]Bởi vì nơi cái thân vô thường này, nó có nguyên một hệ thống thần kinh cảm giác vui, buồn, sướng, khổ. Và đây mới là khởi điểm của mọi sự rắc rối. Chính cái cảm giác vui, buồn, sướng, khổ, ngượng ngùng, e thẹn, hạnh phúc, sợ hãi, buồn chán, tuyệt vọng, ngỡ ngàng, bối rối, hối hận, mắc cỡ, vân vân nhiều thứ. Chính mấy cái cảm giác nơi thân đó mà gây ra đủ thứ chuyện rắc rối trên cuộc đời này. Rắc rối làm sao? Rắc rối là ví dụ như có người nọ đau khổ đã tự tử, có một người ham thích quá độ đã đi cướp của giết người, có một người e thẹn đã làm thành một bài thơ, có một người mắc cỡ đã bỏ mất một cái dịp may trong đời, vân vân.

[22:49]Tức là từ nơi cái cảm giác vui của cái thân này, buồn, sướng, khổ của thân này, ta tạo vô số nghiệp trên cuộc đời này. Ta tạo vô số nghiệp và ta bắt đầu đụng vào cái minh triết thứ hai là nghiệp quả. Nghĩa là ta làm điều gì đó cho mọi người, bắt đầu nó thành cái nhân quả về sau cho chúng ta. Mà tại sao ta làm chuyện này, ta làm chuyện kia trên đời? Chính vì cái cảm giác buồn, vui, sướng, khổ mà nơi cái thân vô thường này nó có. Chớ đừng tưởng cái thân vô thường này ngày nào nó chết rồi nó hết chuyện, không có đâu. Lúc mà nó chưa chết là nó tạo ra đủ chuyện rồi, nó xúi ta đủ chuyện. Bởi vì nó có cả nguyên một cái cảm giác,

[23:29]nguyên một hệ thống thần kinh cảm giác buồn, vui, sướng, khổ. Và chính cái buồn, vui, sướng, khổ này đã thúc đẩy ta tạo không biết bao nhiêu là nghiệp ở trên đời này. Nên lúc đó ta ngồi thiền, đầu tiên ta thấy cái thân vô thường, rồi cái nó phát sinh điều kỳ diệu là tâm ta thanh tịnh, rồi cái nó phát sinh điều kỳ diệu thứ hai, ta thấy được hơi thở vào, hơi thở ra mà ta không điều khiển, nó phát sinh điều kỳ diệu thứ ba, bắt đầu ta hiểu ra được một điều: là ta bị lệ thuộc từ rất lâu bởi cái cảm giác vui, buồn, sướng, khổ của cái nơi cái thân này. Và ta thấy một điều rõ ràng, cái cảm giác đó nó tạm bợ,

[24:11]nó giả dối, nó ngắn ngủi, nó vô thường, nhưng nó thúc đẩy ta tạo nghiệp và cái nghiệp đó tồn tại rất lâu, tồn tại từ kiếp này sang kiếp kia, nó buộc ta phải trả quả. Thấy một cuộc vui nồng cháy nó tồn tại trong một cái vài tiếng đồng hồ, nhưng mà thúc đẩy ta làm một cái tạo nghiệp, ta trả tới ba kiếp sau chưa hết cái nghiệp đó. Vân vân. Chỉ vì một cái cơn giận, ta mắng một con người, "Thú vật!", ba kiếp sau ta phải làm thú vật, chỉ lỡ lời một cái từ câu nóng giận. Mà từ cái nóng giận, mà cái nóng giận là gì? Nó là một cảm giác tạm bợ rồi nó sẽ hết. Ví dụ có người nào đó xúc phạm tới ta làm ta giận,

[24:50]mà nếu lúc đó ta không biết cái giận này là vô thường, ta thấy cái giận này là quan trọng, cái tự ái này là quan trọng, ta đánh họ, ta chửi họ, ta mắng họ, ta chửi họ gấp bội lần mà cái họ đã xúc phạm tới ta, không ngờ ta gây thành một cái nghiệp mà ta trả tới năm kiếp, mười kiếp không hết được, không biết chừng được. Trong khi cái cảm giác nóng giận đó chừng một tiếng đồng hồ mất à. Nhưng mà trong một tiếng đồng hồ đó nó đã thúc đẩy ta làm một cái tội lỗi để rồi ta phải trả nghiệp ba kiếp sau, rất là phí phạm. Nên cái đường luân hồi nó cứ cuốn ta trôi lăn vì những cái cảm giác như vậy. Cho nên cái người mà thấy được thân vô thường,

[25:27]thấy được hơi thở vào, hơi thở ra, bắt đầu phát hiện ra được rằng những cảm giác vui, buồn, sướng, khổ mà nào giờ trói giăng cả cuộc đời ta thế này, sự thật cũng chỉ là vô thường, tạm bợ, cũng chỉ là chốc lát mà thôi. Và ngay đó ta dừng tay tạo nghiệp lại, không ngu dại gì đi theo một cái cảm giác ngắn ngủi để ta phải tạo cái tội mà ta trả quả báo rất lâu dài. Thí dụ một cái cuộc vui, một người nam ta say mê một cái bóng hình nào đó thì cái say mê nó tồn tại không lâu, nhưng mà để đeo đuổi được cái đam mê của mình ta đã làm không biết bao nhiêu tội ác. Hoặc là có những người vậy, thỏa mãn những cái trò đánh bạc,

[26:06]rượu chè của mình, cảm giác tồn tại chút xíu rồi lại phải hết, rồi đi tìm nó nó hiện ra chút xíu rồi lại phải hết. Nhưng một cái chút xíu hết, chút xíu hết nó cứ lặp đi lặp lại vậy, nó thúc đẩy ta phải lao vào những cái điều tội lỗi để thỏa mãn cái niềm vui ngắn ngủi của mình. Nhưng mà khi ta thực hiện cho được cái trò vui của mình rồi thì cái quả báo ta trả rất là dằng dai, khổ sở. Nên cái người ngồi thiền rồi họ thấy được điều này, thấy được cái cảm giác, cái cảm xúc lừa dối mình trong từng giây phút của cuộc sống và biết rằng đằng sau cái sự lừa dối đó là tội lỗi chập chùng, là cái luân hồi cuốn trôi ta vô tận không có giờ phút nào ngưng.

[26:49]Hiểu được điều này, ta kiểm soát được cái cảm giác của mình, tức là ta bắt đầu làm chủ được cuộc đời của mình, không ngu dại gì tạo nghiệp nữa. Nghe một lời khen, bình thường ta có cảm giác sung sướng khởi lên, nhưng bây giờ ta biết cái sung sướng đó tạm bợ, không quan trọng, buông. Giống như thiền sư Đổng Sơn á, lúc ngài sắp mất, ngài mới nói với đệ tử: "Ta có tiếng tăm ở đời, ai có thể vì ta trừ cái tiếng tăm đó?" Có người đệ tử bước lên nói: "Hòa thượng, cho con xin cái pháp hiệu." Cái ngài Đổng Sơn cười liền, nói: "Tiếng tăm ta đã hết." Đó là một cái câu nói mà tương thông giữa thầy trò. Tức là thường thường ví dụ như ta có một cái tên và ta tưởng cái tên

[27:30]đó của mình, rồi có người nào đó kêu cái tên đó ra khen, ta mừng; người nào kêu cái tên đó ra chửi, ta giận. Nhưng mà với một thiền sư đắc đạo, cái tên không phải của mình, cuộc đời này không phải của mình, thế gian không phải của mình, tiền bạc danh vọng địa vị không phải của mình, cứ kêu tên ra mà khen, hổng mừng; cứ kêu tên ra mà chửi, chẳng giận. Tên không quan trọng, nên vì vậy tên ảo tưởng nó không quan trọng, nên có người đệ tử mới bước ra: "Thầy cho con xin cái pháp hiệu, tức cho con cái tên đi, cái tên mà thầy nói là tiếng tăm á." Thật ra nó vô nghĩa, ông thầy ổng cười, ổng biết, biết người học trò này đã ngộ đạo,

[28:05]đã thấy được cái hư ảo của cái danh vọng thế gian, cái mừng, cái vui tạm bợ của những lời khen tiếng chê, cho nên sống tự tại vượt ngoài cái điều khen tiếng chê đó. Như hôm nay, ta chứng kiến một buổi tọa đàm rất là cảm động. Tăng Ni sinh trẻ mà giỏi, nhiệt tình, dấn thân để đem giáo pháp đến cho nhiều nơi xa xôi của đất nước mình. Ta nghe mà ta nghe với lòng biết ơn vì có những Tăng Ni sinh trẻ đã làm được điều như vậy. Thì một buổi chiều hôm nay là một buổi chiều tuyệt vời vì ta toàn nghe những lời khen. Nên nãy thầy mới nói với Thượng tọa trụ trì Từ Tân là Thượng tọa Thích Viên Giác, nói: "Buổi tọa đàm hôm nay ta nghe được rất nhiều lời

[28:46]khen và Phật pháp lớn lên từ những lời khen đó. Nếu mấy thầy cứ chê nhau, Phật pháp suy tàn liền."

[28:56]Nên hôm nay ta được hạnh phúc vì ở nơi buổi tọa đàm này ta nghe được rất nhiều điều khen, nhiều điều tán thán và hãy tin rằng Phật pháp sẽ lớn lên từ những cái lời khen như thế. Ta rất biết ơn quý thầy đã làm nên được những thành tích, những huyền thoại để ta cất được một tiếng khen. Tuy nhiên, đối với những quý thầy quý cô á mà có đạo hạnh, bộc bạch thì phải bộc bạch, ai khen thì cứ khen, nhưng thầy tin rằng quý thầy quý cô sẽ không động tâm vì những lời khen đó. Vì sao vậy? Vì cái lời khen nó cho ta một cái cảm thọ tạm thời của sự sung sướng, nhưng quý thầy quý cô biết rằng cảm thọ sung sướng đó vô thường, tạm thời rồi sẽ tan biến.

[29:41]Cho nên cứ tùy thuận theo đại chúng mà quý thầy phải làm việc, tùy thuận theo đại chúng mà quý thầy phải lên đây, tùy thuận theo đại chúng mà quý thầy quý cô phải bộc bạch, nhưng cái lời khen tiếng chê không là cái điều quan trọng đối với quý thầy quý cô. Mà chính nhờ cái bình thản trước lời khen tiếng chê đó mà quý thầy quý cô của mình sẽ có cái đôi chân cứng đá mềm mà đi mãi trên con đường Phật đạo, hoằng pháp, phổ độ chúng sinh. Thì tất cả Phật tử chúng ta cũng như vậy. Sống giữa cuộc đời này, ta đối diện rất nhiều với cái điều khen tiếng chê. Mà hãy nhớ, như hôm nay ta được nghe cái minh triết tối thượng:

[30:24]tất cả thế gian là vô thường, cái lời khen đó là vô thường, cái cảm xúc sung sướng ta là vô thường; hoặc cái điều chê đó nó là vô thường, cái cảm giác giận tự ái ta là vô thường. Thì đừng vì cái vô thường đó mà ta làm thêm một điều gì lầm lỗi. Đừng vì cái vô thường đó, cái sung sướng chút xíu đó mà ta trở nên kiêu ngạo, kiêu mạn. Đừng vì cái lời khen tạm bợ đó, cái cảm xúc tự ái tạm bợ đó mà ta trở nên thù hận, cố chấp. Nên đây là điều kỳ diệu nữa mà khi ta nghiệm ra được từ cái minh triết tối thượng của ông vua đó, biết thế gian là vô thường mà biết bao nhiêu điều tốt đẹp sẽ xuất hiện với chúng ta.

[31:09]Rồi nơi thân này có một cái não bộ, nó sinh ra những tư tưởng, cái tư tưởng khi nghĩ cái này, khi thì nghĩ cái kia. Và cái tư tưởng đó nó cũng sao? Cũng là vô thường. Có bao giờ mà ta có một tư tưởng mà duy trì được từ sáng tới tối không? Nếu mà ai có thể duy trì một tư tưởng từ sáng tới tối, thì chiều hôm đó gia đình phải đưa gấp vô bệnh viện tâm thần liền, điên liền. Không có tư tưởng nào tồn tại được lâu, và nó là vô thường. Cho nên ta phải biết nó là vô thường. Cái sai lầm nhất của chúng ta là ta tưởng ý nghĩ của mình là chân lý vĩnh hằng. Ta cố chấp, ta bám giữ, ta chống đỡ, ta bảo vệ, cuối cùng ta trở thành thù địch với mọi người khi có ai khác với ý ta.

[31:57]Ta trở thành con người khó tính, bảo thủ, già cỗi, lạc hậu, khắt khe và buồn cười. Chỉ bởi vì ta cứ tưởng ý nghĩ mình là đúng, nhưng do không biết rằng cái tư tưởng là vô thường, cuộc đời là biến đổi, mỗi khi nghĩ được cái điều gì hay hay, là lạ, ta cứ tưởng đó là chân lý vĩnh hằng, cái điều đó sẽ tồn tại mãi, và làm cho ta bị trói buộc bởi chính cái tư tưởng của chúng ta. Nhưng mà khi một người an trú trong thiền định, biết cái thân này là vô thường, biết trong thân vô thường này có hơi thở vào, có hơi thở ra và không điều khiển, rồi trong cái sâu xa thanh tịnh đó mới phát hiện ra cả cuộc đời ta bị trói giăng

[32:38]bởi cảm xúc vô thường, cho nên từ đây không bao giờ chấp cái cảm xúc đó nữa. Rồi bắt đầu phát hiện những cái não bộ ta nó phát ra những tư tưởng, tư tưởng cực kỳ tế. Chứ còn những cái suy nghĩ mà nó lăng xăng trong đầu ta coi vậy thô. Khi ở trong định sâu á, ta mới phát hiện những cái tư tưởng tế, những cái suy luận, những cái sáng tạo cực kỳ độc đáo mà sâu xa ở trong. Nhưng mà lúc đó ta mới nhìn thấy một điều nữa là những cái ý tưởng mà trong não bộ ta nó phát ra á, nó có hai cái yếu tố: một là tất nhiên do nghiệp nó thúc đẩy, tức là đời trước ta gây cái nhân gì đó nên đời này cái ý nghĩ nó hiện ra;

[33:14]và cái thứ hai nữa là những ý nghĩ trong cái não bộ ta nó phát ra nó là ngẫu nhiên, ngẫu nhiên không có chủ đích. Nên trong não ta, trong cái ý tưởng của ta, mình trong đạo Phật gọi là hành uẩn á, nó tồn tại hai yếu tố đồng thời, một là tất nhiên và hai là ngẫu nhiên. Tất nhiên là do nghiệp chi phối điều khiển. Ta phải thương ai, ta ghét ai toàn là do nghiệp chi phối. Đôi khi ta phát minh sáng tạo được cái gì độc đáo, đó là do phước đời xưa để lại. Đôi khi ta suy luận bậy một cái để ta đầu tư kinh doanh trật lất luôn, đó là do nghiệp chi phối. Cho nên đó là một phần trong những ý tưởng của ta khởi ra là do nghiệp của quá khứ.

[33:54]Cái phần thứ hai là phần ngẫu nhiên, vô chủ, không có định hướng, bất ngờ. Trong cái não ta nó có hai phần là tất nhiên và ngẫu nhiên. Và mọi chuyện trên đời này cũng vậy, có những điều là tất nhiên theo nghiệp. Hôm nay ta phải gặp ai, trên con đường đi ta suôn sẻ hay không là do nghiệp. Nhưng một chiếc lá rơi bên đường nhẹ nhàng, ngẫu nhiên, không có phải do nghiệp, nên nó hai phần. Nên cái tất nhiên là nghiệp của quá khứ, và cái ngẫu nhiên một khoảng trống đó để vạn vật được sinh hóa. Tại vì nếu bất cứ điều gì cũng được quy định răm rắp răm rắp hết thì thế gian này, vũ trụ này không còn sinh hóa nữa.

[34:32]Nên chính có một phần của yếu tố ngẫu nhiên mà vũ trụ được sinh hóa vô tận. Nên vì vậy Đức Phật cũng nói không phải hoàn toàn mọi chuyện đều do nghiệp. Nên nó cũng trừ được cái tư tưởng cực đoan của một số nhà đạo học theo tôn giáo. Có một số người tôn giáo họ cuồng tín Thượng đế đến nỗi họ nói thế này: là một giọt nước rơi cũng là ý của Thượng đế, ý chí của Thượng đế; rồi chiếc lá bay trên đường cũng là ý của Thượng đế. Thì những cái tư tưởng như vậy nó quá cực đoan, vì nó đều là cái gì cũng là tất nhiên hết, nó không đúng với chân lý. Đức Phật đã dạy không phải tất cả mọi điều đều là nghiệp.

[35:12]Và trong não ta ta sẽ thấy điều đó rất là rõ. Có những cái ý tưởng phát ra là do nghiệp, và có những ý tưởng phát ra ngẫu nhiên, vô chủ. Não ta cũng vậy và cuộc đời cũng vậy. Lúc đó ta nhận ra một điều là: một cái ý loại ý tưởng do nghiệp, ta không quyết định được; một ý tưởng thứ hai, ngẫu nhiên, bất ngờ, không phải ta quyết định được, nên hoàn toàn không có ta. Nên cái người mà họ nhiếp tâm được định tới mức độ này, họ hiểu được cái ý nghĩa vô ngã rất là lớn, dù họ chưa chứng được vô ngã. Dù họ chưa chứng được vô ngã để thành một vị A-la-hán, nhưng mà họ đã cảm nhận được cái ý nghĩa của sự vô ngã rất sâu sắc.

[35:54]Vì ngay cả những ý tưởng sáng tạo sâu xa nhất, những cái thông minh nhất của ta, sự thật không có chủ. Cho nên từ đó họ sống thênh thang giữa đời, cứ tùy duyên theo bổn phận mà làm. Tức là khi mà nước cạn thì nhón chân, khi mà nước sâu thì xắn quần, tức là cứ mọi chuyện tùy duyên mà sống. Là gặp việc thì làm, không gặp việc thì tu. Cứ như vậy, vì biết rằng thẳm sâu trong tâm hồn nó không có chủ, không có ngã, không có ngã. Cứ như vậy mà sống. Nên đây là một cái điều kỳ diệu kế tiếp mà khi một người nhờ công phu thiền định này hiểu được điều vô ngã, dù chưa chứng được vô ngã, nhưng minh triết đã mở ra trong đời sống này.

[36:35]Là trong đời sống này tuy vẫn làm đầy đủ bổn phận với mọi người, nhưng mà sự thật chẳng bao giờ chấp cái gì của ta nữa. Giờ có đem đống vàng để trước mặt cho họ, ký tên cho họ, mà có khi họ cũng ký nhận, mà trong lòng chẳng bao giờ họ nghĩ đống vàng này là của mình. Có đem danh vọng, địa vị đến tặng cho họ, mà nếu tùy duyên họ có phải nhận để làm, không bao giờ họ nghĩ rằng cái địa vị, danh vọng này là của họ, vì họ biết rằng thẳm sâu ngay cái tư tưởng của mình còn không phải là của mình nữa, thì tất cả những ngoại vật bên ngoài quần áo, nhà cửa, danh vọng, thân quyến này chẳng là gì của ta. Điều đó họ hiểu rất kỹ, hiểu rất sâu từng giây phút của cuộc sống,

[37:15]nên không có điều gì trên thế gian này ràng buộc họ được nữa, không có điều gì. Và những điệu người như vậy, nếu trên đời ta may mắn gặp được những người như vậy, ta hãy quỳ xuống đảnh lễ, vì họ có thể chưa làm thánh, nhưng họ đang đi trên con đường làm thánh một cách vững chắc. Và ta may mắn được gần gũi, thân cận những con người mà có cái minh triết như thế là cũng là một cái hạnh duyên trong cuộc đời của chúng ta.

[37:43]Trong thân này còn có cái biết nữa. Cái biết của mắt, của tai, của mũi, của lưỡi, của thân và của ý. Cái mắt, tai, mũi, lưỡi, thân á thì ta biết ngoại vật. Còn cái biết của ý là ta tự biết cái tâm của mình. Tức là tâm ta nói: "Mẹ ơi, hôm nay con buồn quá." Vậy cái gì biết tự biết mình buồn? Chính là cái ý thức biết mình buồn. Nói là: "Nãy giờ con suy nghĩ lung tung." Cái gì tự biết mình suy nghĩ lung tung? Chính là cái ý này. Còn nói: "À, hôm nay con thấy một con chim bay qua cửa sổ." Tức là cái thấy được ngoại vật đó thuộc là cái biết của con mắt, nhãn thức. Và nói theo khoa học là thần kinh thị giác. Nói:

[38:21]"Ồ, nghe cái dòng nhạc của Chopin rất là hay." Cái gì nghe biết là hay? Thì ta gọi là cái biết của tai, theo khoa học gọi là thần kinh thính giác, trong đạo Phật gọi là nhĩ thức. Thì những cái biết như vậy là biết cho đối tượng bên ngoài, còn cái ý thức là tự biết bên bên trong mình. Nhưng mà cái biết này nó nó thường hằng, nên ta không biết rằng nó vô thường. Nó nó nhanh quá. Những ý tưởng kia nó nó nhảy nhảy thế này ta biết. Ta biết là à nó mới có rồi nó mất, nó vừa khởi lên nó mất, ta biết rằng ý tưởng này là vô thường. Nhưng mà cái biết lúc nào nó cũng biết, nên ta có cái cảm giác rằng cái biết này là thường hằng, bất biến.

[39:00]Nhưng Phật đã dạy rất rõ: "Này các Tỳ-kheo, ngũ uẩn là vô thường." Mà trong cái ngũ uẩn vô thường đó có thức uẩn, tức là những cái biết. Những cái biết mà ta tưởng là thường hằng đó, sự thật cũng là vô thường. Cũng như cái bóng đèn nãy giờ ta thấy ánh sáng rất là đều, rọi không có gián đoạn, nhưng mà chỉ những nhà khoa học mới biết rằng nó vô thường, nó đang thay đổi, đang sinh diệt. Từng cái quang tử, từng cái photon đang bắn ra ào ào ào mà ta mắt thường không nhìn thấy. Cũng vậy, cái biết của ta trong tâm ta nó nó thường hằng quá, ta không thấy nó vô thường. Chỉ có Phật mới biết nó vô thường và dạy ta như

[39:40]thế, nên ta tin như thế và ta theo như thế. Thầy nói qua tới phần này nó hơi khó, hơi cao siêu. Nhưng mà ai nghe những điều này mà thâm nhập được là người đó có duyên rất lớn, có duyên lành rất lớn. Nếu nghe mà không thấy buồn ngủ mà nghe thấy hứng thú, thấy thích khi mà thầy nói tới cái phần thức ấm nè, và vẫn vô thường mà nghe thấy hào hứng, thích thú là biết cái căn lành của mình rất là lớn á. Rồi, một điều nữa, đó là những điều kỳ diệu ta thấy, bắt đầu cái điều này mới quan trọng nó liên quan đến cái minh triết tối thượng thứ hai là nhân quả. Lúc đó trong cái cơn thiền định, thân tâm ta thanh tịnh như

[40:20]thế như thế, thấy hơi thở vào, hơi thở ra như thế, biết cái cảm xúc vô thường, biết những ý tưởng vô thường, ngũ uẩn vô thường như thế, ta còn biết có cái nghiệp nữa. Thân tâm ta đang bị chi phối bởi nghiệp của quá khứ. Có khi lúc đó ta đang đau lưng, có khi lúc đó ta đang nhức đầu, khi lúc đó ta đang nhói tim, ta đang đau bụng, ờ có khi lúc đó ta đang bệnh, là cái thân này nó bị ảnh hưởng bởi nghiệp của quá khứ. Hoặc là có những người tu thiền mà khổ sở, vì sao? Vì không nhiếp tâm được. Nói: "Thưa thầy, con đã ngồi thiền 5 năm rồi, nhưng mà tâm con không nhiếp được, vẫn không yên." Nói: "Nhưng tại sao không bỏ?" Nói:

[41:01]"Thưa thầy, con không biết là sao, nhưng mà con con yêu thích thiền nên con vẫn tinh tấn ngồi thiền đều đặn suốt 5 năm qua, mặc dù không có kết quả." Thì mình biết ngay người này có căn lành, tu không tiến mà vẫn nỗ lực tu tập, người này rất có căn lành. Nhưng mà cái gì đã làm cho người này không nhiếp tâm được? Tức là khi quán thấy thân vô thường, rồi thấy hơi thở vào, hơi thở ra chút xíu cái là niệm khởi lên dắt đi mất tiêu, quên mất cái công phu của mình, quên mất cái thân này vô thường, quên mất hơi thở vào, hơi thở ra, bắt đầu lo nghĩ chuyện khác. Một lát giật mình nhớ lại, quay trở lại cái thân.

[41:35]Rồi bắt đầu thấy ờ quán thân vô thường, trong thân vô thường này có hơi thở vào, hơi thở ra, rồi được yên yên chút xíu, nhớ nhớ chút xíu cái vọng tưởng đâu bí mật khởi lên dắt đi, bắt đầu đi chợ Sài Gòn mua sắm Tết, nay gạo giá còn nhiêu, xăng còn bao nhiêu, vân vân. Lát giật mình nhớ lại: "Ý ý, chết! Mình tu quay trở lại quán thân vô thường", rồi thấy hơi thở vào, hơi thở ra. Cái một lát: "Cha, cái bà kia bả nợ mình 2 triệu bả đi đâu mất không biết giờ sao đòi." Nó lại cứ vậy. Mới mới đến than: "Thưa thầy, con ngồi thiền 5 năm rồi mà cái bà hàng xóm bả cứ bả mắc nợ con không trả làm giờ con không biết sao ngồi." Nên là ta phải hiểu thế này:

[42:10]cái việc mà ta ngồi thiền khó nhiếp tâm là do cái gì? Do cái gì? Do nghiệp của quá khứ. Nên đến cái giai đoạn này, khi mà gặp những chướng ngại như thế, hành giả bắt đầu ngồi quán nghiệp, là biết từ nơi nghiệp của quá khứ, tức là từ cái sai lầm, cái tội lỗi của quá khứ mà thân ta bệnh tật thế này, tâm ta loạn động như thế này. Mà khi nhìn thẳng vào cái bệnh tật đó, nhìn thẳng vào cái loạn động đó để biết rằng đây là tội lỗi của chính mình, chỉ vậy thôi và không cần diệt trừ, không cần phải diệt trừ cho cái thân này hết bệnh, cũng không cần diệt trừ cho nó hết cái loạn động, chỉ nhìn thẳng vào cái loạn động đó,

[42:54]nhìn thẳng vào cái thân bệnh đó mà biết rằng đây là nghiệp của quá khứ, tội lỗi của quá khứ, sai lầm của quá khứ, đó là chân thật sám hối. Đó là chân thật sám hối. Dĩ nhiên nói: "Thưa thầy, vậy là nghiệp gì?" Ta không biết được, vì nếu biết được quá khứ ta tạo nghiệp gì, ta đắc đạo mất tiêu rồi, cần chi tu nữa. Chỉ biết là sai lầm quá khứ thôi, trước đây ta đã phạm sai lầm nào đó, tội lỗi nào đó, nên bây giờ thân ta bệnh và tâm ta loạn, mặc dù ta rất cố gắng tu hành. Cứ như vậy thôi, nhìn thẳng vào thân để thấy cái thân này bất toàn và bệnh hoạn, nhìn thẳng vào tâm để thấy cái tâm này loạn động, đều do nghiệp.

[43:43]Cứ biết như vậy và không cần cho nó hết, không cần cho cái thân này phải hết bệnh, không cần cho tâm này hết loạn, mà không bao giờ quên điều đó, không bao giờ quên rằng thân bệnh, tâm loạn này là do tội lỗi, sai lầm của quá khứ, không bao giờ quên điều đó, cứ nhớ như vậy, vậy mà hết, vì đó là chân thật sám hối, đó gọi là cái phép quán nghiệp. Mà đến chỗ này thì ta đụng phải, ta ứng dụng được cái minh triết tối thượng thứ hai mà ông vua không kịp nghe. Ông vua mới nghe minh triết minh triết tối thượng thứ nhất ổng đứt hơi ổng đi mất. Hôm nay ta ngồi đây, ta nghe được cái minh triết tối thượng thứ hai:

[44:19]tất cả đều là nghiệp duyên chi phối. Mà khi biết rằng tất cả là nghiệp duyên chi phối như thế, mà ta biết rằng những cái bất toàn, bất an, bất như ý của ta như thế đều là nghiệp quá khứ, là tội lỗi quá khứ, là sai lầm quá khứ, biết như thế, nhìn thẳng như thế, không chạy trốn, không cầu mong cho hết, không bao giờ quên, đó là chân thật sám hối, và cái nghiệp của ta bị đánh lung lay tận gốc luôn. Thì lúc đó, có khi thân bỗng nhiên hết bệnh mà ta không mong cầu, vì cái nguyên tắc của quán nghiệp là không được mong cầu cho hết bệnh, không được mong cầu cho hết loạn. Nguyên tắc quan trọng là không được mong cầu.

[44:59]Không mong cầu, cứ nhìn thẳng cái nghiệp của mình như thế, vậy mà coi chừng nó hết nghiệp, bỗng nhiên thân ta khỏe lên, bỗng nhiên tâm ta thanh tịnh. Đây là điều rất là kỳ diệu của cái pháp môn quán nghiệp. Nên chỉ nơi cái quán vô thường, thấy thân này là vô thường mà từ từ ta thấy ra rất nhiều điều, thấy ra rất nhiều điều trong cuộc sống này. Và khi cuối cùng thấy được tới cái nghiệp luôn của nơi thân và tâm luôn, là ta đã sử dụng được hết cả hai cái minh triết tối thượng mà một vị vua đầy quyền lực đó khổ công với bao nhiêu quần thần đi tìm cả một đời mới thấy được. Mà thấy được rồi, ông vua thấy được phân nửa chết,

[45:38]quần thần có thể thấy được cái thứ hai mà không biết ứng dụng. Ta may mắn là đệ tử Phật, ta nghe được cả hai, và ta ứng dụng sâu vào trong thiền định và trong cuộc sống của mình để ta chuyển hóa tâm thức, chuyển hóa nghiệp của mình và để ta đến gần được với cái lý tưởng, cái mục tiêu vô ngã mà Phật đã hứa hẹn cho chúng ta.

[46:03]Khi ta ngồi thiền ta ứng dụng được như vậy, bắt đầu trong đời sống ta có những chuyển biến, có những chuyển biến. Đầu tiên là không còn tham chấp nữa. Cái tham của con người ta á nó ăn thua cái đạo đức. Ví dụ như có người đi theo Phật, Phật dạy là không tham, cho nên cũng hứa với lòng mình là sẽ không tham lam. Thì có một người nào đó mới đến đưa mình 5 triệu, nói: "Bây giờ tôi đưa anh 5 triệu, anh kiếm ông thầy Chân Quang anh chửi một câu cho tôi." Thì người này nói: "Không, Phật dạy tôi là không có tham, cho nên anh dù có đưa tôi 5 triệu tôi cũng không làm điều tội lỗi." Cái người kia móc ra 10 triệu:

[46:38]"Thôi anh chửi tiếng cho anh 10 triệu." Cái bắt đầu gãi đầu suy nghĩ lại. Tại vì cái đạo đức của mình cái giá của nó chỉ có 10 triệu, 5 triệu thì chưa mua được mình nhưng 10 triệu mua được, vì cái đạo đức mình chỉ giá có 10 triệu. Rồi có một cái người khác, nói: "Bây giờ anh chửi ông thầy Minh Khương này đi, ông này giá cao hơn, tôi cho anh 100 triệu." Nói: "Không bao giờ. Không bao giờ anh đưa tôi 100 triệu mà tôi chửi thầy Minh Khương." "200 nha." Cái bắt đầu nói: "Thôi, kỳ quá à!" Là vậy cái cái đạo đức mình giá chỉ có 200 triệu à, người ta lấy 200 triệu người ta mua đứt. Có người cũng vậy, tu một thời gian người ta đem 10 tỷ đồng ta mua mình,

[47:15]không động tâm, không lung lay, nhưng người ta nhả 11 tỷ, rớt liền. Cái đạo đức mình cũng có một cái giá, có cái giới hạn. Nhưng mà nếu ta ứng dụng được trong thiền định sâu xa như thế này, ta thấy rõ mọi điều như thế này, thấy rõ mọi cái vô thường của thân, của tâm, ta thấy được nghiệp chi phối, tâm ta nhiếp được vào định, phá được cái triền cái tham. Nhớ, trước khi nhập Sơ thiền ta phải phá năm triền cái, trong đó phải phá được cái triền cái tham, thì nếu cái người nào mà nhập vào trong thiền định mà phá được cái triền cái tham rồi, thì không phải 10 tỷ mà 100 tỷ, trăm ngàn lượng vàng, một đống vàng như núi để

[47:54]trước mặt, coi như một đống đất mà thôi. Phải tin như vậy, phải tin rằng có những bậc Thánh mà sự tu tập của họ đã vượt lên trên khỏi thường tình, không có một cái giá nào có thể mua họ được. Phải tin như vậy, và con đường thiền định là giúp cho ta đạt được điều đó, cho nên cái đầu tiên là ta vượt ra ngoài sự tham chấp, thứ nhất là tham chấp vật chất. Kế đó là những cái tham vọng. Ví dụ như ta có tham vọng ta phải được nổi danh, ta có tham vọng ta phải được quyền chức, thì cái công phu thiền định của ta vào sâu rồi nó phá tan cái đó luôn. Không bao giờ ta ham muốn ta phải nổi danh, không bao giờ ta ham muốn ta được địa vị quyền chức gì hết, lòng bình thản cực kỳ.

[48:37]Nếu ta vào được thiền định sâu, bắt đầu tới Sơ thiền thì cái bản năng mà về tham ái, tham dục tự nhiên của một con người bị diệt mất luôn. Không còn thương một người, mà ta trải lòng để thương yêu tất cả chúng sinh. Nghe nói cái tình thương yêu tất cả chúng sinh, ta thấy lý tưởng đẹp, mà nhìn lại lòng mình sao thấy không có. Nhưng nếu ta thành tâm tu tập, hướng về tích lũy và tu thiền, ta không còn bị bản năng tham ái, tham dục của cá nhân chi phối nữa, ta sẽ thấy lòng mình trải ra thương yêu được tất cả mọi người. Khi nhìn mọi người như thế này, ta thấy lòng mình trải ra thương yêu, quý kính một cách thật lòng mà sâu đậm.

[49:20]Quý Phật tử hãy nhìn lại mình, hãy nhìn lại chung quanh mình, một rừng người như thế này, ta có thể lắng lòng lại, hãy nhớ mình là đệ tử Phật và lắng trong thiền định, đừng có cái gì riêng tư nữa, ta sẽ thấy lòng mình trải ra thương yêu được cả 10 ngàn con người như thế này.

[49:40]Rồi là tự nhiên những cái tâm mà ích kỷ, nóng giận, oán thù mất mất mất mất hết. Cái lý tưởng hướng về sự giải thoát là kiên định, không gì lung lay được. Trong đó Phật gọi là phá được cái triền cái nghi, kiết sử nghi, là cái lý tưởng đối với đạo không còn gì lung lay được nữa. Ta nhìn mọi chuyện trên đời hết sức là là bình thản và thấy rõ mọi chuyện trên đời là nhân duyên tan hợp. Cái tỉnh giác của ta xuất hiện, cái vọng tưởng của ta diệt trừ, tâm ta sáng vằng vặc, vằng vặc, rỗng rang, bắt đầu 5 chuyện cái phá dần dần để chuẩn bị chứng luân sơ thiền. Thì con đường thiền hôm nay ta không có trình bày.

[50:18]Cuối cùng, xin cảm ơn Chư Tôn Đức Tăng Ni đã chứng minh lắng nghe và hộ niệm cho cái thời pháp của con được viên mãn. Con xin cảm niệm công đức của các ngài. Thầy cũng cảm ơn quý Phật tử đã lắng nghe. Xin chúc quý Phật tử có một đêm văn nghệ vui, một đêm an lành và một buổi lễ thành đạo thật là trang trọng. Và nhờ cái phước lành này, cuộc đời của chúng ta từ đây và mãi mãi về sau được nhiều may mắn và thành công. Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[51:01]Đời

[51:31]là giấc mơ, mọi chuyện thoáng qua,

[54:10]lòng nào đam mê.

[54:17]Thiên nguồn soi răng mi

[54:22]à, tìm về chân lý

[54:33]đạo mẫu từ bi. Trăng soi bên hiên và vầng mây

[54:51]bay êm êm, trong đêm mênh mông ngồi lặng yên theo hư không, dâng lên con tim niềm đậm sâu kính thương người, tan xa bao la tình yêu thương thắm cho đời.

[55:24]Thể xác y á vô thường. Á vô hường, buổi ca bên đường,

[55:42]lặng lẽ

[55:46]xa vô

[55:50]bao hơi

[55:54]thở ấm. Thơ âm. Ngồi đó

[56:01]quên dần,

[56:05]nhìn môi duyên trần. Chỉ có

[56:17]nơi đây

[56:21]thấm như

[56:25]bụi mờ.

[56:36]Con người ngồi thiền sẽ thương nhau, quên được hận thù hết thương đau.

[56:52]Xin tìm mẹ Thiên như mái ấm,

[56:59]thanh bình khởi nguồn cõi tâm linh, như là

[57:11]tia nắng đẹp soi vào đêm sẽ tan.

[57:59]Đời là giấc

[58:12]mơ, mọi

[58:21]chuyện thoáng qua,

[58:45]lòng nào đắm mê.

[58:52]Thiên Thiên muộn dõi dăng mi à,

[59:00]tìm về chân lý,

[59:08]đạo màu từ bi.

[59:21]Trăng soi bên hiên, tà vừng bay bay êm mềm, trong đêm mênh mông ngồi lặng yên theo hư không.

[59:37]Sớm

[1:01:27]Xin tìm về thiền như mái ấm,

[1:01:34]thanh bình cội nguồn cõi tâm linh.