[0:14]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:23]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:36]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:48]Mời quý Phật tử cùng ngồi xuống. Chúng ta học bài à Tiểu kinh Mālunkyā. Ừm bài kinh này cũng a cũng đặc biệt. Hầu hết tất cả những cái luận bản mà nói về đạo Phật một cách tổng quát, nói về những tính chất của đạo Phật, đều hay nhắc tới bài kinh này. Nhất là những vị mà hay nói đến khía cạnh thực tế của đạo Phật, ờ cho rằng đạo Phật không bao giờ có những lý luận viển vông, xa xôi, thì hay dẫn bài kinh Mālunkyā này. Cho nên ơ đợt này thì chúng ta học Nikāya đó, dĩ nhiên là chúng ta không thể học hết mọi bài Nikāya ở trong a tam tạng kinh điển được. Chúng ta chỉ dẫn một số bài tiêu biểu nào đó để chúng ta hiểu được cái tư tưởng
[1:44]của Phật giáo nguyên thủy, ờ những tư tưởng của Nikāya. Đây là những bài tiêu biểu và nhiều khi là những bài quen thuộc. Hồi những đợt trước mà tôi a tôi dạy Nikāya ở nơi khác á thì tôi hay lựa mấy cái bài mà ít có đụng hàng, ờ ít ai giảng. Nhưng lần này thì không biết sao, chắc Phật bắt lại giảng toàn mấy bài hay đụng hàng, toàn là những bài mấy vị khác hay quen thuộc. Hôm nay chúng ta học bài này, lần sau thì chúng ta sẽ học bài kinh Aṅgulimāla. Quý thầy có nghe cái này quen không? Quen, ừm, cũng trong Trung Bộ Kinh II. Và chúng ta sẽ nghỉ hai tuần rồi mới học. Kỳ tới chúng ta học vào ngày mùng 2 tháng 2 âm lịch ha, ên bỏ hai tuần.
[2:35]Vì kỳ tới tôi mắc tổ chức cái khóa tu ở trên chùa đó, đáng lẽ tôi dạy vào ngày 18, nhưng vì mắc cái khóa tu trên chùa nên tôi dạy sớm. Nên đó, nên chúng ta nghỉ hai tuần. Bây giờ chúng ta nghe sơ qua cái câu chuyện trong kinh một chút. Quý thầy có kinh bổn à nhưng mà thôi, kệ cũng nói. Mọi người ai không có kinh bổn nghe một chút. Có một lần Tôn giả Mālunkyā Mālunkyā á là cái tên thường là cái họ của người mẹ, còn Putta là người con, con của người Mālunkyā. Nên thời này Ấn Độ có vẻ hơi còn mẫu hệ. Đang khi độc trú tịnh cư, thì ngài chợt khởi lên những cái suy nghĩ như thế này: "Có một số vấn đề mà không bao giờ nghe Thế Tôn nói hết,
[3:27]không bao giờ nghe Thế Tôn giải thích nói đến, đó là thế giới này là thường còn hay là vô thường?" Ngày xưa gọi là thế giới, bây giờ mình phải gọi là vũ trụ. Cái từ nó khác nha, ý nghĩa thì nói như vậy nhưng mà cái từ nó khác. Nghĩa là ông thắc mắc thế này: "Mọi điều ở trong cái thế giới này, trong vũ trụ này là vô thường. Ví dụ như con người phải chết, hoa phải tàn, cái nhà lâu ngày nó sẽ phải sập, nên chánh điện mình có phải chuẩn bị mà xây là vậy. Mấy Phật tử coi có lo được, phụ lo nha. Chánh điện sắp xây gần sập rồi đó. Cuộc đời thì nó vô thường như vậy, nhưng mà toàn bộ cái vũ trụ này có vô thường hay không?
[4:11]Có bị biến mất hay không?" Đó là cái thắc mắc của ông. Chứ còn những cái nhỏ nhỏ trong vũ trụ này thì đúng là vô thường rồi. Nhưng mà còn nguyên cái vũ trụ này có đến lúc nào tự nhiên nó mất tiêu hết hay không? Thắc mắc của ông. Hay là nó vĩnh viễn nó còn mãi? Rồi, "Cái sinh mạng và thân này là một hay là khác?" Nghĩa là cái cái đời sống của con người nó là thuộc cái thân này, hay là thân này chết rồi đời sống vẫn còn tiếp tục ở một trạng thái khác? Ừ, không nghe Phật nói rõ ràng. "Thế giới này là hữu biên hay vô biên?" Nghĩa là cái vũ trụ này đó nó chỉ có một cái giới hạn chừng nào đó thôi. Giới hạn là ừm đi đến lúc nào đó thì không còn có cái gì là thiên
[4:57]thể hay không còn thiên hà, không còn những hành tinh. Hả? Chỉ còn khoảng không chấm dứt cái giới hạn. Hay là cái vũ trụ này vô biên vô tận, cứ đi mãi đi mãi không bao giờ hết thế giới, không bao giờ hết các thiên thể, các ngôi sao, các hành tinh. Đó là điều ông thắc mắc. Rồi, và ông thắc mắc một điều trong đạo học là không nghe nói là, "Như Lai sau khi nhập diệt rồi là còn hay là mất?" Không biết là Đức Phật khi mà nhập Niết bàn rồi thì Ngài sẽ còn tồn tại như một vị thần linh hay là Ngài đã biến mất vào hư vô, mà như Phật thường hay nói Niết bàn là như là củi hết lửa tắt. Nghe giống như chấm dứt hết, nên có những điều ông thắc mắc như vậy.
[5:42]Ông thắc mắc rồi thì ông mới no- mới nói là: "Ta hãy đem những vấn đề này đến hỏi thẳng Đức Phật. Là xem Đức Phật nói giải thích những vấn đề đó như thế nào. Nếu mà Đức Phật trả lời một cách rõ ràng mạch lạc hết, thì ta sẽ tiếp tục tu hành. Còn nếu mà Đức Phật không trả lời được, không giải đáp một cách thỏa đáng, thì ta sẽ bỏ học pháp và hoàn tục." Cái thắc mắc của ông tự nhiên nó mạnh và ông xem những điều đó rất là quan trọng. Những vấn đề lớn, những cái vấn đề lớn, những kiến thức lớn của vũ trụ, của nhân sinh, của đạo học rất quan trọng. Rồi buổi chiều, sau khi ngồi thiền xong, ông đến Đức Phật, ông mới nói rằng:
[6:33]"Bạch Thế Tôn, trong khi con ở một mình con chợt khởi lên những ý nghĩ như vậy là Thế Tôn đã bỏ qua, không nói đến những vấn đề lớn lao, trọng đại, quan trọng như vậy, cho nên con nghĩ rằng bây giờ con sẽ đến con trình bày những cái thắc mắc đó, xin Thế Tôn giải đáp. Nếu mà Thế Tôn biết, xin hãy cho con biết. Còn nếu mà Thế Tôn không biết, thì Thế Tôn hãy thẳng thắn nói rằng: "Ta không biết, ta không thấy điều này", để con tính. Và nếu mà Thế Tôn không giải đáp thỏa đáng, thì con có nghĩ rằng con sẽ từ bỏ học pháp để hoàn tục. Như vậy, xin Thế Tôn hãy cho con biết thế giới này là thường còn hay là vô thường, một lúc nào đó chấm dứt biến mất hết?
[7:28]Nếu Thế Tôn biết, xin hãy giải thích, và nếu không biết, xin Thế Tôn hãy thẳng thắn nói là không biết. Và vấn đề là thế giới này là hữu biên hay vô biên, xin Thế Tôn hãy nói cho con biết. Nếu Thế Tôn không biết, cứ cứ thành thật khai báo là ta không biết, ta không thấy, để con tính. Rồi sinh mạng và thân này là một hay là khác? Rồi Như Lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi chết? Xin hãy cho con biết điều đó. Nếu mà Như Lai không trả lời được, Thế Tôn không trả lời được, thì con sẽ từ bỏ học pháp để hoàn tục." Thì Đức Phật, Ngài mới quở. Ngài nói: "Này Mālunkyā, ngay buổi đầu khi ngươi theo ta để xuất gia
[8:12]học đạo, ngươi ta có bao giờ hứa với ngươi rằng ta sẽ trả lời, sẽ nói đến những vấn đề đó hay không?" Nói: "Dạ, bạch Thế Tôn, không." "Ta có hứa với ngươi rằng ta sẽ nói thế giới này là thường còn hay là vô thường? Ta có nói với ngươi sinh mạng với thân là một hay khác? Ta có nói với ngươi Như Lai sẽ tồn tại hay không tồn tại sau khi chết hay không?" "Bạch Thế Tôn, không." "Vì ta không hứa với ngươi thì tại sao ngươi đòi sẽ từ bỏ học pháp để hoàn tục nếu ta không trả lời? Thì như vậy này kẻ ngu si kia, ngươi là ai và ngươi phủ nhận cái gì?" Mỗi lần Đức Phật quở trách ai, Ngài hay mắng là kẻ ngu si. Cái chỗ này nè:
[9:00]"Ngươi là ai và ngươi phủ nhận cái gì?" Cái câu này nghĩa là: "Vậy cái người mà lúc mà xin xuất gia đó với cái người mà bây giờ đòi phải trả lời câu đó mới tu tiếp là hai người hay một người? Cho nên hỏi ngươi là ai và ngươi phủ nhận cái gì? Ta đâu có hứa đâu mà tự nhiên ngươi đòi điều kiện?" Đó. Rồi Đức Phật mới nói tiếp và Ngài đưa một cái ví dụ. Ví dụ này rất nổi tiếng. Tất cả những cuốn sách viết về đạo Phật đều dẫn cái ví dụ này ra hết. Có rút gọn lại. Là: "Này Mālunkyā, nếu có ai nói rằng: "Ta sẽ sống phạm hạnh theo Thế Tôn cho đến khi nào Thế Tôn trả lời cho ta biết những vấn đề là thế giới thường còn hay
[9:44]là vô thường, Như Lai tồn tại hay không tồn tại?", thì người ấy sẽ chờ đợi cho đến chết mà vẫn không được nghe Như Lai trả lời." Đức Phật khẳng định là Ngài không trả lời. Và Ngài ví dụ như là một người bị ai đó bắn cái mũi tên tẩm thuốc độc, thuốc độc rất là là nặng, rồi những người bà con huyết thống mới mời một y sĩ về khoa mổ xẻ đến để chữa. Như vậy vào thời Đức Phật bên Ấn Độ người ta đã biết giải phẫu rồi nha. Mình đọc cái kinh này rồi lác đác mình nhận ra được cái văn hóa, cái văn minh của đất nước Ấn Độ vào thời đó. Như vậy thời xưa bên y học họ đã biết giải phẫu. Nhưng mà khi cái vị bác sĩ đó đến đòi rút mũi tên
[10:33]để chữa trị thì người này cản lại không cho: "Tôi sẽ không chịu cho rút mũi tên này ra cho đến khi nào tôi chưa biết được ai đã bắn tôi. Người đó là một người ở Tiền Giang hay Mỹ Tho hay Long An hay Thủ Thừa? Tôi sẽ không bao giờ chịu rút mũi tên này ra cho nếu mà khi tôi chưa biết cái tên người đó là gì, nghĩa là người tên người đó pháp danh là An Lương hay An Trí hay An Ngôn gì, chưa biết thì không chịu. Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi mà tôi chưa biết cái người đó là cao hay là thấp, là mũi tẹt hay là mũi vọp, là người bực thường hay người bực trung? Tôi sẽ không bao giờ chịu rút mũi tên này ra nếu chưa
[11:16]biết người đó là da đen, da sẫm hay da vàng. Tôi sẽ không chịu rút mũi tên này ra nếu tôi chưa biết người đã bắn tôi thuộc làng nào, thị trấn nào. Mà cái cung bắn á, cái tên thì biết rồi cái tên nó nằm đây rồi biết rồi, nhưng cái cung mà để bắn á là làm bằng cung hay bằng nỏ? Mà cái cung đó đó, cái dây của cái dây cung đó làm là dây leo hay cây cau hay gân thú vật hay dây gai hay cây có nhựa? Tôi sẽ không chịu rút ra cho nên nếu tôi không biết được cái độc này thuộc loại độc nào." Và Đức Phật nói: "Này Malunkyaputta, người ấy sẽ chết mà vẫn không biết được điều gì cả. Vì sao? Vì cái thời gian mà độc tố nó ngấm rất là nhanh,
[11:59]còn cái thời gian để đi tìm hiểu những điều đó thì thật là thật là dài." Thì cũng vậy, người nào mà chờ đợi để Như Lai trả lời cho họ về những vấn đề lớn lao đó thì họ sẽ chờ đến chết mà Như Lai vẫn không trả lời. Đức Phật không nói mình không biết nha, mà Ngài nói Ngài không trả lời thôi. "Này Malunkyaputta, đời sống phạm hạnh không có tùy thuộc vào cái hiểu biết về thế giới này là còn, thường còn hay là vô thường. Này Malunkyaputta, nghĩa là dù cho cái vũ trụ này là thường hay là vô thường thì cái điều vẫn luôn luôn có là sinh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não mà Ta dạy con đường đoạn trừ ngay trong hiện tại.
[12:56]Này Malunkyaputta, dù thế giới này là hữu biên hay là vô biên thì điều rõ ràng là vẫn có sinh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não mà Ta đã tuyên thuyết, dạy bảo, vạch ra cái con đường để chấm dứt những cái đau khổ đó. Này Malunkyaputta, dù cho Như Lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi chết thì thực tế vẫn có sinh, có già, có bệnh chết, ưu, bi, khổ, não chi phối kiếp người mà Như Lai bày ra cái con đường để vượt qua cái sầu, bi, khổ, não đó.
[13:37]Do vậy, này Malunkyaputta, hãy chấp nhận là không trả lời những gì Ta không trả lời." Câu nói Đức Phật nói rất là mạnh. "Và hãy chấp nhận là có trả lời những gì Ta có trả lời. Và này Malunkyaputta, điều gì Ta không trả lời? Đó là: thế giới này thường hay vô thường Ta không trả lời. Đó là: thế giới này là vô biên hay hữu biên Ta không trả lời. Đó là: sinh mạng với thân này là một hay khác Ta không trả lời. Đó là: Như Lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi chết Ta không trả lời. Này Malunkyaputta, hãy chấp nhận đó là điều Ta không trả lời. Còn điều nào Ta trả lời? Đó là... Vì sao à vì sao Ta không trả lời?
[14:29]Này Malunkyaputta, vì điều ấy không liên hệ đến mục đích, điều ấy không phải là căn bản của phạm hạnh, điều ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Cho nên điều ấy Ta không trả lời. Và này Malunkyaputta, điều gì Ta trả lời? Đây là khổ, này Malunkyaputta, đó là điều Ta tuyên thuyết, Ta trình bày, Ta trả lời. Đây là nguyên nhân của khổ, đó là điều Ta trả lời, Ta trình bày, Ta tuyên thuyết, Ta nói đến. Đây là chỗ chấm dứt của đau khổ, này Malunkyaputta, đó là điều mà Ta giải thích, Ta bày ra, Ta mở rộng, Ta tuyên thuyết, Ta hướng dẫn. Này Malunkyaputta, đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ,
[15:22]đó là điều Ta trả lời, Ta hướng dẫn, Ta tuyên thuyết, Ta chỉ dạy. Này Malunkyaputta, vì sao? Vì điều ấy có liên hệ đến mục đích, điều ấy là căn bản của phạm hạnh, điều ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, vì vậy những điều ấy Ta trả lời. Do vậy, này Malunkyaputta, hãy chấp nhận là không trả lời những điều Ta không trả lời, hãy chấp nhận là trả lời những điều Ta có trả lời." Đó là chúng ta đọc lại nguyên cái bài kinh đó, nguyên nhưng mà không phải nguyên văn, vì tôi đọc theo kiểu diễn lại theo cái lối văn mới. Quý thầy có nghe vậy là tôi sửa văn á. Đó là sau này khi quý thầy nói về Nikaya cũng nên nên như vậy,
[16:16]chứ còn đọc theo nguyên văn nó xa với ngôn ngữ hiện đại quá, cái người nghe khó hiểu. Quý thầy thấy tôi vẽ vậy được không? Cho mấy điểm? Khi mà nghe đọc bài kinh này có ai có cảm giác, có suy nghĩ gì không? Có ai có suy nghĩ gì không? Thật ra tỳ-kheo Malunkyaputta thì ổng không có có phải là ngu si như Phật mắng lắm đâu, nhưng vì cái cách hỏi của ổng nó sai thôi. Chứ đúng ra tất cả con người chúng ta đều có cái bệnh, nói là cái bệnh chứ là cái hay của loài người là khát khao hiểu biết những điều mình chưa biết, đó là đặc tính của con người. Loài vật thì có thể là không có cái khát khao hiểu biết ở trong tâm nó.
[17:08]Mà có hay không mình cũng không biết, tại mình cũng không... Thứ nhất mình không biết tâm nó, thứ hai hồi kiếp mình làm bò, làm chó gì mình cũng quên mất tiêu rồi. Thì coi như coi như thú vật thì không biết, không có khát khao hiểu biết, còn loài người đều có một cái đặc điểm giống nhau là khát khao hiểu biết những điều mình chưa biết và luôn luôn đi tìm cái nguyên nhân của mọi sự vật, sự việc trên cuộc đời này. Giống như ngày mà chúng ta còn nhỏ, khi thấy trời mưa thì mình thắc mắc mình mới hỏi ba mẹ mình: "Ba ơi, tại tại sao có nước rơi xuống? Tại sao có trời mưa? Mưa như vậy?" Thì lúc đó ba mẹ mình trả lời làm sao?
[17:51]Lúc ba mẹ mình trả lời làm sao, nhớ không? Hồi nhỏ nói làm sao? "Ông trời ổng ổng ấy", phải không? Dạ. Thì coi như trả lời một câu cho nó xong chuyện để mình chấm dứt cái thắc mắc của mình, vì cái thắc mắc nó khó chịu lắm. Dù rằng nghĩa là dù cái mưa này là do ông trời ổng ấy hay là ổng không ấy thì nghĩa là vẫn vẫn làm vẫn làm chúng ta ướt áo, phải không? Những cơn mưa đầu mùa thường làm em ướt áo, những cơn mưa đầu mùa thường làm cây mắc nhau, nghĩa là cái nguyên nhân nó làm sao nhưng mà trong cái thực tế trước mắt vẫn là làm cho xanh đồng ruộng, làm cho cây ra hoa ra quả, làm cho cuộc sống tươi mát lên.
[18:37]Nó trước mắt là vậy, nhưng mà chúng ta không dừng ngang cái điều trước mắt, chúng ta muốn tìm cái nguyên nhân và chúng ta nghe câu trả lời: "Ông trời ổng ổng vậy đó" rồi mình dừng lại, tin, bắt đầu thắc mắc cái khác nữa. Đến khi mình lớn lên một chút, lớn lên một chút thì cái thắc mắc nó lần lần nó đi sâu dần sâu dần vào nhiều vấn đề của kiếp người, của cuộc đời này. Cái lối hỏi của ông Malunkyaputta thật ra ông đại diện cho hầu hết loài người để hỏi về những vấn đề lớn của vũ trụ, của nhân sinh, của đạo học, ông thay mặt cho chúng ta. Nhưng những câu hỏi của ông á nó hơi nó hơi khác những câu hỏi mà đa số con người thắc mắc, mặc dù cũng là những vấn đề lớn.
[19:25]Chứ thường thường á mà nếu mà hỏi những vấn đề lớn á, mình phải hỏi thế này nè: "Trái đất này ở đâu mà có?", phải không? "Con người từ đâu mà có?" Nếu bây giờ mình thắc mắc về vũ trụ thì mình sẽ thắc mắc: "Vũ trụ bắt đầu xuất hiện từ lúc nào?" Hoặc là mình học đạo thì mình biết rằng con người, kiếp người, chúng sinh là luân hồi vô tận cứ sinh hết kiếp này đến kiếp khác, thì mình sẽ thắc mắc là: "Cái kiếp đầu tiên của chúng sinh là như thế nào mà bây giờ cứ trôi lăn vào trong luân hồi, rồi có khi chúng sinh thì làm người, có chúng sinh thì đọa làm thú?" Nhìn những con chim, những con sâu, con bọ mình không hiểu cái nguyên
[20:08]nhân ban đầu mà tại sao bây giờ quá cách biệt giữa mình và cái con sâu, con bọ đó. Thì chúng ta thắc mắc nhiều vấn đề lắm, nên cái thắc mắc của ông Malunkyaputta nó hơi cao là: "Sinh mạng với thân là một hay khác? Như Lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi chết?" thì là nó hơi cao. Chứ thường thường những cái vấn đề mà thắc mắc chung á là chúng ta hay thắc mắc là: "Con người từ đâu mà có? Vũ trụ do đâu mà thành lập? Kiếp sống đầu tiên con người là như thế nào? Vũ trụ này là hữu hạn hay vô hạn?", nghĩa là vân vân, nhiều cái thắc mắc như vậy. Ở đây ai có cái thắc mắc nào độc đáo không mình nêu ra?
[20:52]Chắc nhiều khi bất ngờ không có. Thì chúng ta thấy thế này: trong cái thắc mắc của con người đó đó thì giống như là cha mẹ mình đã nói là là trả lời tại sao mưa rơi thì ngày xưa những tôn giáo khác cũng đã trả lời. Trả lời để cho mọi người yên tâm, yên tâm không thắc mắc nữa và tin vào cái tôn giáo đó là đã giải quyết được những vấn đề lớn của nhân sinh và vũ trụ.
[21:23]Các các tôn giáo khác trả lời như thế nào? Ví dụ như nói là: con người từ đâu mà có, thì các tôn giáo khác trả lời sao? Tự? Từ một Thượng đế sinh ra, phải không? Đó, họ đã trả lời như vậy. Rồi ví dụ như nói vũ trụ ở đâu mà có, thì họ cũng nói là: từ một Thượng đế sinh ra. Đó là một câu trả lời y như ba mẹ mình ngày nhỏ đã trả lời cho một đứa con nít, đứa con nít. Mà lúc đó, khi mà con người nhận được câu trả lời từ một ông giáo chủ nào đó, thì hãy hiểu rằng mình cũng bị xem như một đứa bé. Và câu trả lời đó là một câu trả lời nông nổi, vội vã. Nông nổi, vội vã. Để cho người ta yên tâm đừng thắc mắc nữa,
[22:19]nhưng rồi chúng ta thấy nó không phải là chân lý. Chính vì nó không phải chân lý nên dần dần tự nó bộc lộ ra mọi cái bất hợp lý trong câu trả lời đơn giản đó. Nên cái gì nó đúng á, thì càng đi tới nó càng hợp lý, mà cái gì nó không đúng, cứ càng đi tới sẽ càng không hợp lý. Nên rồi người ta sẽ đặt lại vấn đề là: vì sao Thượng đế trong cái yên ổn một mình của mình, mà tại sao tạo ra thế giới, vũ trụ, tạo ra con người với đầy đủ cái niềm vui, nỗi khổ hết để làm gì? Phải chăng ngài buồn? Rồi có nhiều tôn giáo trả lời rằng Thượng đế ngài rất thương yêu những gì mà ngài đã tạo ra, thương yêu cái chúng sinh, cái con người mà ngài đã tạo ra.
[23:07]Rồi người ta sẽ đặt lại vấn đề: nếu mà ngài thương yêu con người, thương yêu chúng sinh ngài đã tạo ra thì tại sao ngài đã đem đến quá nhiều đau khổ cho thế gian này? Tức là tại sao ngài đã tạo ra lầm lỗi của con người, ngài đã tạo ra thiên tai, lụt lội, hạn hán, động đất, chiến tranh, bệnh tật? Rồi ngài bây giờ ngài chưa chịu yên, ngài còn tạo ra tiếp tục cái bệnh AIDS nữa, đe dọa loài người. Như vậy, phải chăng Thượng đế đã thương con người? Cho đó là bắt đầu những bế tắc rồi chúng ta thấy nè. Nếu là Thượng đế là toàn năng, ngài tạo ra tất cả, phải không?
[23:54]Thượng đế toàn năng mà, ngài tạo ra tất cả, tạo ra vũ trụ và tạo ra mọi điều theo ý ngài muốn, thì rõ ràng ngài đã tạo ra lầm lỗi của con người và tạo ra đau khổ.
[24:09]Thế gian này có đau khổ không? Quá nhiều đau khổ, phải không? Quá nhiều đau khổ. Như vậy, nếu mà ngài đã tạo ra lầm lỗi và đau khổ cho con người thì ngài có thương yêu con người không? Có không? Ngài không thương yêu con người. Như vậy, nếu thật sự có một Thượng đế mà đã tạo ra loài người, tạo ra thế giới, và cuối cùng chúng ta đã kết luận rằng cái cái đấng đó không có thương yêu gì những cái chúng sinh mà mình đã tạo ra, thì như vậy đấng đó có đáng để chúng ta tôn thờ không? Có không? Có không? Không, không thương mình thì lấy gì mình thờ làm chi. Mình chỉ tôn thờ những người nào thương yêu mình thôi.
[24:54]Quý thầy, quý Phật tử đồng ý với tôi không? Mình chỉ tôn thờ những vị thánh như vậy thương yêu mình thôi. Cho nên lớn lên ví dụ như khi nào mà quý thầy tự nhiên mình có cái uy đức lớn đối với chúng sinh là vì sao? Chỉ khi nào mình có lòng từ mênh mông phủ trùm chúng sinh, tự nhiên mình có uy đức lớn. Tự nhiên chúng sinh gặp mình thương yêu là bởi lòng thương yêu. Cái lòng từ bi đó, nó quan trọng. Nên một cái đấng toàn năng, nhưng mà thật ra nếu có thật sự một Thượng đế toàn năng tạo ra tất cả, thì đấng đó cũng không đáng để chúng ta tôn thờ vì đã không có lòng thương yêu. Bây giờ mình đặt vấn đề:
[25:34]Đấng đó là đấng thương yêu, vừa toàn năng vừa thương yêu. Nhưng mà đau khổ vẫn hiện hữu đầy trên thế gian này, thì như vậy đấng này là gì? Rõ ràng là bất lực, phải không? Thương chúng sinh, nhưng mà chúng sinh vẫn đau khổ. Như vậy vị đó không đủ khả năng chấm dứt đau khổ cho chúng sinh. Đồng ý không? Hợp lý không? Hợp lý không? Như vậy vị đó bất lực không làm được. Nếu vì vị đó bất lực không làm được thì vị đó có toàn năng không? Không, không toàn năng. Nếu vị đó không toàn năng, thì vị đó có thể tạo ra được vũ trụ không? Vậy là vị đó không tạo ra được tất cả. Mà vị đó không tạo ra được tất cả, thì vị đó còn được gọi là Thượng đế nữa không?
[26:26]Như vậy, nếu vị đó có thương yêu chúng sinh, thương yêu tha thiết thì vị đó không phải Thượng đế. Còn nếu vị đó là một Thượng đế toàn năng thì vị đó không có thương yêu, không đáng để chúng ta tôn thờ. Cho nên cái câu trả lời vội vã, nông nổi từ cái buổi hoang sơ của Trái Đất, hễ cái điều gì mình không hiểu nguyên nhân thì cứ gán cho một vị Thượng đế thì nó đưa đến bế tắc, cuối cùng cũng không có Thượng đế luôn. Đó, chúng ta thấy. Rồi rồi con người có cái tật là cứ thích điều mới, chán điều cũ. Nhiều năm cứ nghe có một ông Trời, chán, bắt đầu lập ra thêm nhiều vị thần bên cạnh, mỗi vị phụ trách một miếng.
[27:11]Ví dụ như lửa, đặt ra có thần lửa. Rồi hễ nếu mà chiến tranh, hai bộ tộc đánh nhau thì có thần chiến tranh. Trong cái thần thoại Hy Lạp nhiều vị thần lắm, Jupiter, Mars, Venus... Venus là thần tình yêu, Mars là thần chiến tranh, Jupiter là giống như Thượng đế cao nhất. Nó nhiều vị, nhiều vị như vậy. Rồi ở các bộ tộc châu Phi thì có thần núi, thần sông như vậy. Đó là do do cái tâm lý con người thích điều mới, chứ cái điều gì có hoài nó chán. Cũng cái tâm lý đó mà ngày nay chúng ta thấy chúng ta cứ thích phải nghe nhạc mới, chứ không thích nghe một bài nhạc hát đi hát lại hoài. Cũng như cái thời trang quần áo cũng vậy, mặc một kiểu hoài nó chán.
[27:56]Mới ban đầu cho cái quần nó to, từ từ tóp tóp tóp lại một chút, tóp lại một chút cho nó rách đầu gối, rách đầu gối rồi nó xẻ giữa rồi từ từ phình phình phình phình ra lại, phình ra lại một chặp chán bóp bóp bóp lại, nghĩa là cái tánh con người nhiêu đó chuyện. Thì ngày xưa vậy, cái triết lý nó cũng như vậy đó. Và chúng ta thấy ở đây có hai cái có mấy cái trạng thái để chúng ta so sánh là là cái trả lời vội vã của những tôn giáo thời hồng hoang với cái không trả lời của Đức Phật. Cái thứ nhất á, chúng ta để chúng ta so sánh ba cái trạng thái này mà chúng ta đánh giá. Thứ nhất là trả lời một cách vội vã là cho có Thượng đế tạo ra.
[28:44]Cái thứ hai là không thể trả lời và lúng túng không thể trả lời, vì không biết đâu mà trả lời. Và thứ ba là không trả lời, mà không trả lời một cách đĩnh đạc, uy vi, có bản lĩnh, là là cái cách của Đức Phật á, ba cách đó. Hai cái đầu á, là cái trả lời đại á là do đâu mà trả lời đại?
[29:12]Không biết mà muốn chứng tỏ rằng mình mình giỏi.
[29:18]Còn cái thứ hai á là lúng túng không thể trả lời được thì người này không biết nhưng mà có thật thà, ấy không chịu trả lời vì mình không biết thì không trả lời. Cho nên lúng túng, nhưng mà coi vậy chứ có thật thà ở trỏng. Còn trường hợp của Đức Phật không trả lời, mà không trả lời một cách rất bản lĩnh. Đức Phật khẳng định, nếu người nào chờ Phật trả lời thì chờ tới chết Phật cũng không trả lời. Phật không nói Phật không biết nha, ngài không nói ngài không biết nhưng mà ngài nói ngài vĩnh viễn không trả lời câu này. Nên cái không trả lời của ngài nó đanh thép, nó sắc bén, đầy bản lĩnh. Và vì sao ngài không trả lời?
[30:02]Thì vì ngài trả lời đơn giản là vì nó không liên quan đến sự tu tập, giải thoát, chấm dứt đau khổ. Chúng ta lát chúng ta bàn tiếp nó nhiều vấn đề của cái tại sao Phật không trả lời, mà trước hết thì chúng ta cứ hiểu rằng đơn giản như Đức Phật nói là vì nó không liên quan đến cái sự tu tập. Giống như tức là nguyên nhân của mưa á, dù là tại sao trời mưa thì trước hết cái giọt mưa này vẫn làm chúng ta mát mẻ, vẫn làm chúng ta trồng trọt, cày ruộng được. Và có những lúc cái mưa cũng đã làm cho chúng ta có một cái cảm xúc để làm nên một bài thơ: "Mưa rơi từ ngàn xưa, mưa rơi về nẻo mơ. Mưa đem sầu thiên thu đến cho ta.
[30:51]Mưa rơi ngoài hè đêm.
[30:54]Mưa rơi và còn rơi, không bao giờ mưa ngơi."
[31:00]Giờ chúng ta sẽ thấy nói rằng cái bản lĩnh mà Đức Phật đã không trả lời thì thứ nhất là cái cách của Malunkyaputta hỏi có vẻ hỗn và thiếu niềm tin với Đức Phật, phải không? Cái cách hỏi đó rất là hỗn. Nói rằng: "Nếu mà Phật không biết, xin cứ thẳng thắn nói không biết để con ra đời, không tu nữa." Nghĩa là khi mà tôn giả khởi cái thắc mắc đó lên thì trong tâm là có mơ hồ rằng dường như Phật không biết tất cả, không phải là Phật đã biết hết mọi điều trong vũ trụ, trong thế giới này. Ở đây chúng ta thấy Đức Phật được xưng là Chánh Biến Tri, biết khắp tất cả, thì không phải là Ngài không biết đâu,
[31:50]nhưng mà Ngài dứt khoát không trả lời, không trả lời một cách đầy bản lĩnh chứ không trả lời vội và không lúng túng. Là vì cái cách hỏi của Malunkyaputta là hỗn. Mà nếu trường hợp gặp tôi cũng vậy, khi một người đến với mình mà hỏi câu đó, hỏi với vẻ xấc xược, mình cũng không trả lời. Tại trong đạo Phật, hằng ta đã không đủ lòng tôn kính thì không nói pháp. Ở đây quý thầy hầu hết đã thọ Tỳ-kheo hết chưa? Nhưng mà đa phần thọ hết chưa? Đa phần phải không? Thì trong Tỳ-kheo có một cái giới, giới Tỳ-kheo thì không được nói cho cư sĩ nghe, nhưng tuy nhiên giới này là giới nhỏ, nói chắc cũng không đến nỗi để quý Phật tử nghe mà biết ứng xử một chút.
[32:35]Trong cái giới đó có nói rằng: "Không được thuyết pháp khi mà cái người hỏi họ đứng chỗ cao, mình đứng chỗ thấp. Không được thuyết pháp khi mà mình đang đứng thì họ ngồi. Không được thuyết pháp khi mà mình ngồi, họ nằm." Nghĩa là gì? Nghĩa là mình không thuyết pháp cho người mà không biết tôn kính Phật pháp khi hỏi, phải không? Khi hỏi, mình phải hiểu như vậy. Cho nên ở đây là vì Malunkyaputta hỏi với cái cách không đủ niềm tin với Phật nên Phật không trả lời. Nó giống như trong giới vậy đó. Nhưng mà đây là cái gốc của giới, còn nếu mình theo hình thức, có khi ví dụ như người ta tỏ vẻ cung kính nhưng mà người ta không
[33:17]phạm, ví dụ như mình đứng ở chỗ cao, người ta chỗ thấp người ta hỏi, nhưng mà lòng người ta cũng đầy khinh mạn, ngạo nghễ, mình đọc được cái tâm đó, mình cũng không trả lời luôn. Mình phải hiểu cái gốc của giới chứ đừng chấp trên hình thức của giới. Chấp trên hình thức của giới là bị rơi vào giới cấm thủ liền. Phải hiểu cái gốc của giới thì mới không bị rơi vào giới cấm thủ. Ví dụ trong trường hợp của tôi cũng vậy, nhiều khi có một người cư sĩ lại, lúc đó tôi đang, vì trên núi nó hay có đồi có dốc, tôi đang bước lên thì họ đứng ở trên, họ chắp tay hỏi: "Thưa thầy, vấn đề vậy." Thì lúc đó mà nếu theo đúng
[33:52]giới, cái tôi lật đật tôi chạy lên đó, hất... "Đạo hữu xuống dưới đứng đó tôi mới giảng cho nghe", thì họ, họ nghĩ sao? "Trời! Ông thầy này ông kỳ khôi, kỳ cục vậy ta! Nói pháp thì nói đi, bày đặt đứng lên đứng dưới nữa." Mà họ đâu có biết mình là bị giới như vậy. Nhưng mà ở đây mình quan trọng là cái tâm của họ, mình thấy: "À! Cái tâm người này họ đứng trên cao chứ tâm họ ở dưới thấp, thôi kệ, cứ đứng ở dưới mà nói lên cũng được, miễn họ cung kính là được." Chứ còn mà cứ bắt theo đúng hình thức giới mà leo lên đứng dưới này là, là coi chừng là phản tác dụng, phản tác dụng, cho nên rơi vào giới cấm thủ liền.
[34:26]Như có một lần có ông sư, ông sư Nam tông, ổng đến chùa tôi vào cái bữa ăn cơm. Vào bữa cơm mình mời ổng ăn đàng hoàng, ổng không chịu ăn. Ổng nói theo cái luật của ổng là phải có Phật tử dâng cúng, ổng mới bắt đầu ăn được. Thế là loay hoay mình đứng lúng túng, vì chùa mình cứ ăn là xúm nhau ngồi ăn. Thế là phải nhờ một cô cư sĩ chạy lại quỳ xuống dâng bát cơm lên cho sư, rồi à, bắt đầu sư mới bắt đầu thọ thực đàng hoàng. Đó là chấp trên hình thức á. Cái đó rơi vào giới cấm thủ mất tiêu. Nên thấy coi chừng á, mấy cái đó cẩn thận. Thì ở đây là cái cách hỏi có vẻ hỗn mà Đức Phật không trả lời, Ngài quở trách không trả lời, và đồng thời là thiếu niềm tin nữa.
[35:10]Thì trường hợp tôi thấy như bản thân tôi cũng vậy, nếu có người nào họ ghé chùa, họ hỏi cái điều gì trong đạo lý mà cái cách hỏi của họ không trân trọng, tôi không trả lời. Tôi chỉ nói bâng quơ vậy cho nó qua chuyện, nói đùa đùa, nói như, nếu mình không trả lời hoàn toàn thì họ nói mình khinh dễ, cho nên trả lời, mà tôi trả lời tôi vừa giống như khôi hài mà vừa giống như trả lời rồi cuối cùng không trả lời, rồi thôi cho qua chuyện đó luôn, họ muốn nghĩ sao họ nghĩ. Còn cái người mà mình thấy họ thật tâm tìm hiểu thì mình trả lời một cách đàng hoàng với người này. Mà nếu mình không biết thì mình sẽ nói rằng:
[35:50]"À, xin lỗi đạo hữu, thầy không biết. Đạo hữu muốn tìm hiểu vấn đề này cho rõ, cố gắng đi về Long An vào chùa Thiên Khánh gặp Tăng sinh sẽ hỏi thêm, chứ thầy không biết." Nó vậy. Còn nếu mà vấn đề gì mình biết thì mình sẽ trả lời đàng hoàng. Mà nếu họ hỏi với cái tâm không đàng hoàng thì mình cười cười nói khôi hài cho qua luôn. Là như vậy, Phật pháp là như vậy. Đó, đó là nguyên tắc. Rồi một điều nữa, ở trong cái cách hỏi của Malunkyaputta, ổng đòi hoàn tục. Ổng nói: "Phật không trả lời thì con từ bỏ đời sống phạm hạnh này để trở lại đời sống thế gian." Là tại sao vậy? Đây là một cái lỗi lớn nè.
[36:34]Là vì sao? Vì dám đem cái lý tưởng tu hành ra đánh vào một ván bài: Nếu Phật trả lời con tu, Phật không trả lời con không tu. Nghĩa là đã xem cái lý tưởng tu hành của mình rất là nhẹ, chỉ vì một cái thắc mắc gì đó thôi. Không thấy được sinh tử là việc lớn, luân hồi là nỗi khổ, không thấy được cái ưu bi khổ não tiếp tục đè nặng trong tâm hồn mình, không thấy được cái phiền muộn, vị kỷ, chấp ngã nó giăng kín cả tâm hồn và thúc đẩy mình vào cái luân hồi tái sinh mãi mãi. Không thấy được những, những vấn đề đó là lớn mà dám đem đánh cuộc, đem cái lý tưởng tu hành đặt vào một ván bài: "Hễ được thì tu, không được không tu." Nên đây là một cái sai lầm lớn.
[37:22]Cái điều này làm tôi nhớ đến có một lần, hồi đó lúc đó tôi còn sa-di, vì cũng ham tu quá tôi mới ra tôi cất một cái chòi nhỏ ở bên cánh đồng vắng, thì có một cái người thanh niên từ ngoài Huế, Quảng Trị cũng vào đây để xuất gia. Đã xuất gia rồi nhưng mà chưa thọ giới sa-di. Vì lý do chỗ ở vào cái thời buổi đó khó khăn nên có đến cái tá túc nơi cái chòi của tôi vậy. Thì cái chòi tôi nó nhỏ lắm, chỉ có cái nhà bếp rồi người ở cái chòi, người ở cái nhà bếp qua ngày vài ngày. Thì trong một bữa ăn, cái người đó mới nói thế này, nói: "Khi mà ở ngoài Huế vô đây để đi tu là em có cái dứt khoát lắm." Nói:
[38:06]"Dứt khoát là sao?" - "Bảo vô đây mà nếu cái điều kiện ăn ở không đàng hoàng là em, em về liền, chứ không có tu mà kiểu như vậy." Cái tôi mới khuyên, nói: "Em lầm rồi. Khi mình tu là mình phải sống chết với việc tu hành của mình." Thì tôi nhớ lại đúng là cái người thanh niên đó đã đem cái lý tưởng tu hành của mình mà đánh cuộc phải không? Đánh cuộc với cái điều kiện ăn ở. Nếu ăn ở được thì tu, ăn ở mà không đàng hoàng không tu. Họ đã đánh cuộc như vậy. Vài hôm sau thì người, người chú điệu đó, nói điệu chứ cũng lớn tuổi rồi, từ giã tôi ra đi để đi tìm nơi ở đâu đó thì không biết. Sau đó thì tôi về Thường Chiếu tôi ở tiếp.
[38:48]Một hôm tôi đang ở trên sân, ở sân chùa tôi làm gì, thì tôi nghe gọi: "Thưa thầy!" Tôi quay lại: "Thầy nhớ con không?" Nghĩa là gặp một người thanh niên cũng đẹp trai, đạp chiếc xe đạp, vì thời đó cũng chưa có cúp, có đồ nhiều, lúc đó đi xe đạp là bình thường. Tôi nhìn, tôi, tôi, tôi, tôi, tôi không, không nhớ được. Mà tôi không dám lắc đầu mạnh, lắc đầu mạnh mình có vẻ vô lễ nên tôi nhìn, tôi cười cười, tôi lắc đầu nhè nhẹ để chờ người ta nói cái mình nhớ, mình gật đầu lại cho nó kịp, chứ mình lắc đầu mạnh quá cái người ta nói mình nhớ rồi gật đầu lại nó kỳ. Đó cũng gọi là oai nghi đó, những cái tế oai nghi, tế hạnh đó.
[39:27]Tôi cười cười, tôi, tôi lắc đầu nhè nhẹ. Nói: "Hình như, như thầy không nhớ đạo hữu." Cái mới nói: "Dạ thưa thầy, lúc đó con ở với thầy, con gặp thầy ở cái cốc cốc đó." Tôi nói: "Ủa! Em ra đời rồi hả?" Nói: "Dạ, không có chỗ ở rồi con ra đời con về luôn." Nói: "Giờ ở đâu?" Nói: "Dạ, con về Phước Thái." - "Rồi sao?" - "Dạ." - "Có vợ con chưa?" - "Dạ, con có một đứa con rồi." - "Bây giờ làm gì?" Nói: "Dạ, con đi bán bong bóng." Thôi biết làm sao giờ! Bây giờ cái nhân duyên nghiệp mỗi người. Rồi hỏi: "Rồi bán rồi đủ sống không?" Nói: "Dạ, cũng được." Rồi nói: "Thôi thì khi nào rảnh lên đây nghe Hòa thượng giảng pháp đồ vậy."
[40:04]Thì tôi thấy cái nhân quả nó vậy, giống như cái bài kinh Malunkyaputta y chang à. Nghĩa là đã đem cái lý tưởng tu hành của mình để đánh cuộc vào vấn đề gì đó là không được, không được. Nghĩa là dù chúng ta có thể đau khổ, dù chúng ta có thể thiếu thốn, dù chúng ta có thể không đạt được ý nguyện, nghĩa là dù chúng ta có bao nhiêu điều bất trắc trong cuộc sống, nhưng tất cả những điều đó nó chỉ là cát bụi so với cái lý tưởng tu hành của chúng ta sừng sững như ngọn núi Thái Sơn. Chúng ta phải nhớ điều đó. Không có gì mà có thể so sánh được, đánh đổi được với lý tưởng tu hành của chúng ta cả. Quý thầy đồng ý không?
[40:43]Đồng ý nha! Dù có ai mà tới gặp quý thầy hăm là: "Em tự tử chết liền!", thì kệ, cứ cho chết, vì không có gì có thể so sánh được với lý tưởng tu hành hết. Mấy thầy coi chừng đó, coi chừng có ngày tới người, có người mà đòi hăm tự tử trước mặt á là mấy người đẹp trai nè: Minh Đạo nè, Minh Trí nè, à Trung Hiếu nè, đó đó coi chừng nữa nha. Thì nhớ ngày hôm nay tôi đã nói trước nha: "Không có một điều gì có thể so sánh được với lý tưởng tu hành hết." Liệu đó! Còn anh ôn mà mặt nhăn nhăn lên thì không lo, thôi không lo. Có hai cái lý do mà để những vấn đề đó không nên được trả lời là vì thế này: Thứ nhất là phải khoa học phát triển tới,
[41:33]tới đỉnh cao, rất cao mới có thể trả lời được một số vấn đề; và thứ hai là vấn đề tâm chứng, có những đề đó, những vấn đề là phải chứng ngộ rồi mới biết được điều đó, chứ không phải là dễ. Cho nên đây là cái, cái khó. Nói khoa học á, vào cái thời cách đây 2500 năm, mọi điều còn rất là sơ sài nên không thể giải thích được hết. Ngay như cái thời đó mà nói tại sao có mưa cũng không trả lời được, chứ đừng có nói, phải không? Thời đó cũng không trả lời, chỉ nói là do rồng thôi, làm thôi. Thế còn bây giờ thì mình trả lời là gì? Mình trả lời là gì? Hơi nước trên trời phải không, gặp lạnh kết tủa lại,
[42:15]tụ lại thành giọt rơi xuống, hóa lỏng rơi xuống, gọi là mưa. Rồi rơi vào cái bầu không khí nên bị xé toán ra thành nhiều hạt nhỏ. Thì chúng ta giải thích như vậy. Và thường là nó có được một hạt bụi để làm cái nhân cho cái giọt nước đó. Và chúng ta nghiên cứu như vậy vào thời bây giờ. Nhưng cách đây 2500 năm, điều đó không trả lời được. Có nhiều vấn đề chúng ta sẽ thấy nó không đơn giản. Ví dụ như nói là: "Tại sao cha mẹ sinh con thì con giống cha mẹ?" Bây giờ mình giải thích làm sao? Ừ, gen di truyền phải không? Do cái gen di truyền này mà con cái giống cha mẹ. Nhưng mà cách đây 2500 năm, điều này có biết không? Không biết.
[43:01]Mà bây giờ, muốn biết được vấn đề gen di truyền này, chúng ta học bao nhiêu năm mới tới vấn đề này? Cái này trong sinh vật lớp 12 phải không? Xuống 11 rồi hả? Vậy năm nay đã đưa xuống lớp 11 rồi, chứ ngày xưa là lớp 12. Thì như vậy chúng ta phải học 11 năm chúng ta mới biết điều này. Mới biết được cái gen, cái cấu trúc của gen nằm trong tế bào, ừ và nó, cái cấu trúc như thế nào và nó đã, nghĩa là từ cái cái nhân ADN này, nó nhờ cái mã sao chép ARN để nó truyền cái thông tin đó tạo thành một tế bào mới giống như nó như thế nào, và cái cấu trúc những cái phân tử, những cái nguyên tử là như thế nào.
[43:41]Những cái kiến thức đó chúng ta phải học đằng đẵng 11 năm mới tới nó, mới biết được tại sao mà khi con cái sinh ra thì thường giống cha mẹ. Giống cha mẹ, rất ít khi nào giống ông hàng xóm. Đó là do cái gen di truyền này. Thì chúng ta phải 11 năm, nên nếu lúc đó có một người nào đó mà hỏi là: "Tại sao, xin thầy trả lời cho con tại sao con cái sinh ra giống cha mẹ?" thì mình phải đứng nói với họ suốt 11 năm rồi mới bắt đầu nói tới cái gen này được. Mà khoa học thời đó không có, phải không? Nó đơn giản như vậy. Hoặc là người nào đó hỏi: "Con người bắt đầu từ đâu mà có?" Con người bắt đầu từ đâu mà có, không đơn giản đâu.
[44:24]Hoặc là chúng ta thắc mắc là khi mà Trái Đất thành lập, nó chỉ là một cái khối đất đá, nước, hơi nước, mây, gió quay cuồng ở trong đó. Trái Đất này thời gian mới thành lập các nhà khoa học cho là bão tố quay cuồng chứ nó không có hiền lành như bây giờ. Rồi sau này khi mà rừng mọc cây đồ lên, nó điều hòa nhiệt độ lại, cái bắt đầu nó lặng gió lại. Chứ ngày lúc mới thành lập thì ở đây là một khối đất đá, nước quay cuồng, bão tố quay cuồng. Thì trong đó, từ đâu bỗng nhiên xuất hiện đời sống? Đời sống là của cây cỏ mọc trước, rồi những sinh vật nhỏ, rồi những sinh vật lớn, cuối cùng là để con người xuất hiện, từ đâu mà có?
[45:09]Thì theo thuyết của Darwin nói rằng đó là gì? Tiến hóa phải không? Tiến hóa di truyền đột biến và tiến hóa dần dần. Mà ngày nay nó cũng chưa được chấp nhận hoàn toàn đâu. Ngày nay cái đó vẫn chỉ là một thuyết chưa được công nhận hẳn, chưa được gọi là một nguyên lý khoa học. Cho nên lâu lâu vẫn có vài người đưa ra cái thuyết người ngoài hành tinh đã đem vào Trái Đất một cái gen của giống người thử nghiệm, họ thử nghiệm qua nhiều giống. Thì mới đầu nó tạo cái ra con tinh tinh, nó tạo cái ra dã nhân gì đó, tạo ra khỉ không được cái sửa riết sửa riết, bây giờ mới được cái khuôn mặt mà đẹp trai như thế này, đang ngồi trước mặt chúng ta.
[45:46]Có người thì... Rồi cái người ngoài hành tinh mới yên tâm mà lên đĩa bay bay về cái tinh cầu của họ. Là cũng có nhiều cái thuyết giải thích như vậy. Mà cứ càng về sau thì người ta càng dựa vào nhiều cái lý luận khoa học, nên đòi cái trình độ khoa học rất cao mới trả lời được. Lúc đó làm gì có thì giờ để trả lời? Thời gian là để mà ngồi tu cho đắc đạo. Chứ đâu có mà ngồi, hổng lẽ Phật ngồi, Phật giảng cho ông tì-kheo Mālunkyāputta đó luôn 12 năm để trả lời là con người bắt đầu từ đâu mà có, phải không? Mà chưa chắc nha! Với kiến thức về gen á, chúng ta 11 năm chúng ta mới biết. Nhưng mà để khi Trái Đất này còn là một khối đất đá,
[46:26]nước quay cuồng mà nguyên nhân từ đâu sự sống xuất hiện, có khi chúng ta đòi hỏi 300 năm nữa câu trả lời này mới bắt đầu xuất hiện. Nghĩa là khoa học vẫn phải tiến thêm 300 năm nữa mới có câu trả lời. Hoặc là: "Vũ trụ từ đâu mà có?" Coi chừng phải thêm một thiên niên kỷ thứ tư nữa, tới năm 3000 chúng ta mới bắt đầu nghe được câu trả lời. Không phải là dễ. Có nhiều vấn đề như vậy, cho nên quá mất thì giờ. Rồi điều thứ hai nữa là cái tâm chứng nữa. Nó đòi hỏi cái tâm chứng nữa, chứ không phải là là là cái cái hiểu biết thông thường. Ví dụ như chúng ta học về gen di truyền thì chúng ta chỉ cần cái cái lý trí, lý luận từ từ chúng ta biết tới.
[47:15]Nhưng mà có những vấn đề phải tâm chứng mới biết. Đây là điều rất là lạ. Ví dụ như mình nói là vật chất, vật chất nó thô, nó cứng như thế này. Và bản chất nó là gì mà tại sao nó tạo ra cái sức hút? Như như chúng ta đứng đây là là Mặt Đất hút chúng ta xuống theo lực gì? Lực hấp dẫn, phải không? Trọng lực tức là lực hấp dẫn. Rồi giữa hai thiên thể như Mặt Trời ở đây, Trái Đất quay quanh là do cái gì? Là do có một cái lực hút giữa hai thiên thể lại với nhau, và đồng thời cái lực ly tâm kéo Trái Đất ra, nó quân bình rồi nó cứ quay riết như vậy. Nhưng mà lực hấp dẫn đó nó được tính theo công thức gì?
[47:57]F = k nhân cho tích số của hai thiên thể chia cho bình phương của khoảng cách. Đây là cái công thức. Nhưng mà đó là tính cái phương, cái công thức mà tính cái lực của hai thiên thể. Nhưng mà cái lực này ở đâu mà có? Tại sao vật chất tạo ra cái lực này? Đến bây giờ chưa giải thích được. Đến bây giờ chưa giải thích được. Mà có khi phải 1000 năm sau chúng ta mới giải thích được. Mà có khi khi mà tìm ra được bản chất của vật chất là gì, coi chừng lúc đó khoa học nó bước sang vấn đề tâm linh luôn. Đến lúc đó mới thấy được bản chất của vật chất, không ngờ nó lại là vấn đề của tâm linh chứ không phải là thuần vật chất.
[48:40]Hiện nay khoa học cứ đi mãi trên cái lĩnh vực vật lý này, mà chưa bước sang được cái vấn đề tâm linh. Chỉ khi nào mà khoa học bước sang lĩnh vực tâm linh thì khoa học mới có thể mở mang ra nhiều thứ. Mà trong đó tôi có cái cảm nhận, tôi nghi ngờ nếu tìm ra được bản chất của vật chất, thì không ngờ nó là vấn đề của tâm linh. Hôm nay chúng ta không có thì giờ để nói là tại sao mà tôi suy nghĩ như vậy. Từ từ, khi nào có dịp thì nói. Chính vì cái vấn đề tâm chứng này nè, có nhiều điều mà chúng ta không thể biết bằng cái suy nghĩ bình thường được. Giống như: "Cái kiếp ban đầu của chúng sinh là gì?"
[49:20]Vấn đề này, chúng ta luân hồi vô lượng kiếp rồi. Nhưng mà khởi điểm của luân hồi đó là trạng thái như thế nào? Mà để chúng ta phải luân hồi, luân hồi. Cái khởi điểm ban đầu đó như thế nào? Thì cái điều này khoa học có tiến thêm 10.000 năm nữa không giải quyết được. Mà nó là vấn đề của tâm chứng. Cái vị nào như Đức Phật hay các vị A-la-hán mà chứng được Túc mạng minh á, có thể là nhớ được vô lượng kiếp trước của mình, thì người đó mới thấy được cái kiếp ban đầu. Mà có bao giờ chúng ta nghe Phật diễn tả kiếp ban đầu là gì không? Có nghe chưa? Cho nên cái kiếp ban đầu, cái khởi điểm của luân hồi là một cái điều gì biết được mà không thể nói được.
[50:05]Có nhiều điều như vậy, biết được mà không nói được. Cái mà biết được mà không nói được làm tôi nhớ đến chuyện của Cống Quỳnh. Lúc đó ổng đi ngang cái bờ sông đó, ổng thấy mấy ông chèo đò than là quá ế, quá đói. Cái ổng nói: "Thôi được rồi, ta giúp cho các ngươi. Giờ các ngươi ra cái cồn ngoài đảo ngoài sông á, ngươi cất cái nhà cho ta." Mấy người đó xúm nhau ra cất cái chòi. Thì ổng ra đó ổng mới viết một hàng chữ ở trỏng, ổng viết nhiều chữ. Ổng nói: "Cái người nào mà ra đây, mà về nói cho người khác biết ở trong đây có cái gì đó, thì xin thần binh là tiêu diệt cái gia đình nó, cho ba mẹ nó không còn đầu thai nữa,
[50:45]cho con cái nó chết bất đắc kỳ tử, cho nó đói kém thê thảm nó." Ổng viết ổng chửi nguyên một dọc trong đó, thê thảm ở trong đó. Rồi sau đó, cứ bắt đầu người ta ngạc nhiên, ngoài đó thấy cái chòi mà có gì tờ giấy xanh xanh đỏ đỏ, bắt đầu người ta thuê thuyền chèo ra coi. Coi xong, biết rồi, vô cái: "Có gì ngoài ấy anh?" Rồi biết không nói được, cứ khoát khoát cái tay. Thế là cái người khác lại xúm chèo đò ra, kéo ra coi coi được, chừng nào mà hết cả cái thành Hà Nội đó biết hết rồi thôi, thì bắt đầu người ta hết coi rồi, tôi mới thôi người ta không đi đò nữa thôi. Đó là cái biết được mà không nói được.
[51:24]Thì trong cái những vấn đề lớn này cũng vậy, có nhiều vấn đề biết được mà nói không được, vì nó vượt ngoài ngôn ngữ, vượt ngoài tư tưởng. Do đó, chỉ có tu mới biết thôi chứ không biết được. Nhiều luận bản Đại thừa sau này đã cố gắng dùng ngôn ngữ để diễn tả những đạo lý cao siêu mà thời ban đầu Đức Phật tránh nói đến nhiều quá. Đức Phật không bao giờ diễn tả trạng thái Niết Bàn chứng ngộ là gì. Ngài chỉ nói căn bản tứ thiền, sáu thần thông, coi như là một công thức cố định để làm tiêu chuẩn, ngoài ra ngài không diễn tả mông lung. Nhưng mà những kinh Đại thừa sau này thường hay diễn tả tâm mênh mông trùm khắp pháp giới,
[52:10]rỗng rang sáng tỏ, rồi bất động hư vô, vượt ngoài hư không, tức là những cái kinh và luận Đại thừa sau này thì diễn tả rất là nhiều, mà thời Đức Phật, Đức Phật không diễn tả. Với trí tuệ của Phật mà Phật không diễn tả cũng là có cái ý của ngài. Ngài không muốn những cái điều mà chứng mới biết trở thành cái hiểu. Đó là lý do tại sao bây giờ mà Phật học viện nhiều mà tu viện ít là vậy đó. Vì do lý luận nhiều quá rồi cái chúng ta cứ nghĩ à mình đã học tới rồi, mình hiểu rồi, thôi yên tâm. Yên tâm không không thực hành để tìm cho ra. Đó. Nên ngày hôm nay chúng ta phải tránh cái điều đó. Chúng ta ngoài việc học là đừng có học để xem diễn tả
[52:55]Niết Bàn là gì, lý luận là gì, mà phải học cái con đường thực hành để đạt được cái tâm chứng thực sự. Đó, đó là cái con đường học chân chính. Nên quý thầy bây giờ có học cơ bản, đừng có nghĩ rằng học để lấy bằng cấp hay lấy cái sự hiểu biết, mà phải tìm ra cái cách dụng công thực sự trong nội tâm của mình để nhiếp tâm được vào định, để trải được lòng từ đối với chúng sinh, để giữ gìn được đạo đức, rồi sau này mình mới đủ uy đức mà làm hưng long Phật pháp được. Ở đây thực ra không phải là đạo Phật không thể giải quyết những nghi vấn đó. Chúng ta thấy là khi mà Đức Phật từ chối không trả lời, ngài đã từ chối một cách đường bệ,
[53:42]uy nghi, đĩnh đạc, chứ không phải ngài lúng túng. Do đó, không phải là ngài không biết. Nhưng mà những vấn đề đó chưa phải lúc nói, hay là cái người ở trình độ đó không thể hiểu được, nói rất mất thời gian, chứ không phải là Đức Phật không giải quyết được, không biết đâu. Mà cái điều quan trọng cần thiết là con người cần phải thoát khỏi đau khổ, phải đạt được sự giác ngộ. Đó là cái căn bản trước. Giống như là vậy, như là khi mà cái căn bản có rồi thì cái đỉnh cao chúng ta sẽ tự nhiên thiết lập được. Còn nếu cái căn bản chưa có thì chúng ta với đi tìm đỉnh cao, chúng ta sẽ rơi té.
[54:32]Giống như là khi mà chúng ta bình an tu tập, đắc được thiền định thì nhiều vấn đề mình chưa biết, chưa ai nói cho mình, tự nhiên mình biết. Còn nếu chúng ta chưa có đạt được thiền định thì mình không biết được. Mà cái quan trọng vậy là cái đau khổ nó đang đè nặng trong tâm hồn mình, mình phải thoát nó ra được cái đã, rồi mới nói tới chuyện hiểu biết những vấn đề cao siêu. Cái điều mà chúng ta cần biết bây giờ là biết con đường để ra khỏi đau khổ, chứ không phải biết những chuyện viển vông quá xa xôi. Giống như là con người ta phải có ăn trước, rồi mới nói chuyện đến những cái chuyện triết học, nghệ thuật cao hơn.
[55:22]Cái ăn, cái mặc là cái nền tảng, nên chúng ta nhìn vào lịch sử, nếu chúng ta thấy vào trong thời đại đó họ cất được những cái công trình kiến trúc vĩ đại với những cái đền thờ lớn, chạm trổ những cái pho tượng vĩ đại trong những hang động xưa thì phải biết chắc rằng vào cái thời đó ở vùng đó nông dân trúng mùa, làm ăn được, người ta mới dư thời gian để phát triển qua nghệ thuật, qua triết học, qua đạo học. Nên cái câu nói mà: "Có thực mới vực được đạo", vực là vực đứng dậy đó, vực tức là làm cho đứng dậy, chứ không phải giật được đạo là giựt giật giành đâu nha, không phải nói như miền Nam mình có thực mới
[56:06]giựt được đạo, không phải, "Có thực mới vực được đạo" là làm cho đạo đứng dậy được, mới làm cho hưng thịnh đạo pháp được. Nên là muốn làm cho hưng thịnh đạo pháp phải có ăn cái đã. Cái câu nói nghe rất là đơn giản nhưng là rất là chí lý. Nên thời xưa vậy, người ta có ăn rồi người ta mới phát triển lên những vấn đề cao hơn về tinh thần thì cũng vậy. Chúng ta phải ra khỏi đau khổ cái đã, tâm hồn mình phải bình an, hạnh phúc cái đã, rồi mới nói đến những cái kiến thức cực kỳ cao siêu ở phía trước. Đó là cái cái nền như vậy. Một điều nữa là khi chúng ta hiểu được
[56:49]mọi điều như vậy thì chúng ta phải tự biết kiềm chế cái khát khao hiểu biết của mình, cái thắc mắc của mình lại. Vì chúng ta biết cái thắc mắc này chưa phải lúc để giải quyết, phải tự mình biết kiềm chế lại, chứ đừng có nông nổi như là Tỳ-kheo Ma-lun-khi-gia đã dám là đã day dứt, bị thôi thúc vì cái thắc mắc đó mà dám đem cái lý tưởng tu hành của mình ra đánh đổi luôn cho cái thắc mắc đó. Nên chúng ta phải tự biết kiềm chế cái thắc mắc đó lại, vì có những việc cần thiết trước mắt phải làm, chứ không phải là thản quyết, giải đáp những điều đó. Một điều nữa chúng ta phải để ý là cái hiểu biết, mình gọi là trí tuệ, nó có cái nguyên nhân của nó.
[57:39]Nguyên nhân là gì? Ai biết? Cái nguyên nhân của trí tuệ là gì? Chính từ bi là nguyên nhân của trí tuệ. Chính lòng thương yêu tạo thành hiểu biết. Đây là cái công thức. Ngược lại, thì trí tuệ cũng làm cho chúng ta có từ bi. Khi chúng ta hiểu biết cũng làm cho chúng ta có thương yêu. Khi mình thương yêu á, ví dụ khi mình thương một cái người đó thì mình để tâm, mình quan sát về đời sống người đó, tự nhiên mình hiểu họ được nhiều điều, mình thông cảm được nhiều điều. Có thể người khác chê trách người đó nhưng mình do mình thương yêu, mình để tâm mình vào cái tâm của người đó, vào hoàn cảnh người đó, mình mới phát hiện ra
[58:26]là người đó không có lỗi như người ta chê, mà họ có những lý do rất chính đáng. Đó là do chính từ bi, chính thương yêu ừ đã đã hiểu biết về người đó. Ngược lại, hiểu biết cũng làm cho chúng ta thương yêu. À ví dụ là khi mình nhìn thấy một người từ xa đi đến, mình với đôi mắt thông minh, mình nhìn người đó cái mình biết được người này ba ngày chưa có gì ăn hết. Và mình biết được người này đang trong cái cơn khốn khổ, mình biết người này nhìn vẻ mặt biết người này tốt nhưng mà trong cái họ mình thương, biết rồi tự nhiên mình thương. Tuy nhiên, cái nhân quả chính vẫn là thương yêu trước và hiểu biết sau.
[59:10]Nếu hai cái chúng ta chưa có cái nào hết thì mình nên lập cái từ bi trước, rồi trí tuệ sẽ có sau, chứ đừng có vội vã đi tìm cái trí tuệ trước vì nó là cái ngọn, coi vậy chứ nó là cái ngọn. Nếu không có thương yêu mà chúng ta chỉ đi tìm cái hiểu biết, biết hết bài kinh này tới bài kinh kia, giải đáp được hết thắc mắc này tới thắc mắc kia, nó cũng chỉ là cái ngọn rồi chúng ta sẽ đổ vỡ. Cho nên, chúng ta hãy bắt đầu bằng cái từ bi, bằng cái thương yêu, tự nhiên mình sẽ biết được rất nhiều điều kỳ diệu. Tôi nói thật. Khi mà quý thầy thương yêu được chúng sinh, tự nhiên quý thầy trí tuệ phát ra, bỗng nhiên mình có nhiều điều để mình nói cho mọi người nghe.
[59:54]Cái điều này thì tôi chưa nói, tôi sẽ chỉ nói trong cái loạt bài mà phương pháp diễn giảng á thì những điều này tôi sẽ nói. Là chúng ta phải thật lòng thương yêu chúng sinh. Một thời gian sau tự nhiên mình thấy mình có nhiều điều phải nói, bỗng nhiên mình trở thành giảng sư. Dù trước đó mình không mong ước mình trở thành giảng sư đâu, mình không mong mình nổi tiếng đâu, mà mình chỉ vì thương yêu con người quá cái tự nhiên mình nhìn ở đâu cũng thấy vấn đề này cần phải giải quyết, cần phải bổ sung, cần phải đóng góp, cái bỗng nhiên trí tuệ khai mở nên mình nói thao thao là xuất phát từ lòng thương yêu đó.
[1:00:32]Nên quý thầy nào mà muốn sau này làm giảng sư thì xin thưa từ bây giờ mỗi đêm mỗi ngày phải trải lòng từ thương yêu tất cả chúng sinh. Tôi có lời khuyên rất thành thật. Vì sau này nếu mà tôi dạy tới cái môn đó thì tôi vẫn phải kêu như vậy thôi. Cái người giảng sư phải là người có lòng thương yêu rất mạnh đối với mọi người, mọi loài. Còn nếu mà không có thì không làm giảng sư thành công đâu, chỉ là người nói đi nói lại thôi, nghe người ta không có thích đâu. Phải có lòng thương yêu thực sự, ừ. Và như vậy những cái thắc mắc của tôn giả Ma-lun-khi-gia cũng như những cái thắc mắc mà của chung của loài người
[1:01:15]là vũ trụ từ đâu mà có, ừ kiếp sống con người đầu tiên như thế nào, nó là những câu hỏi hỏi đến tận cùng của căn đế, hỏi đến tận cùng của tuyệt đối. Và như vậy nó phải có cái trí tuệ cũng sâu thẳm đến tuyệt đối như vậy mới biết được những cái điều, những cái thắc mắc tuyệt đối kia, phải không? Phải không? Vì thắc mắc là một cái thắc mắc quá lớn cho nên cái trí tuệ phải rất lớn, cùng cực mới hiểu được nó. Và theo nhân quả, muốn có một cái trí tuệ cùng cực tuyệt đối thì phải có cái gì tuyệt đối trước? Phải có từ bi trước, phải không? Phải có từ bi tuyệt đối, đạo đức tuyệt đối, thiền định tuyệt đối, rồi mới đến cái trí tuệ vô hạn.
[1:02:05]Nên do đó, những cái thắc mắc đó đáng cũng đáng để chúng ta tìm hiểu lắm chứ không phải không. Nhưng mà con đường để hiểu được những cái thắc mắc đó, những vấn đề lớn đó, chúng ta buộc lòng vẫn phải đi trở lại từ ban đầu con đường của Bát Chánh Đạo. Con đường của thiền định, của đạo đức, của lòng từ bi. Đó, chúng ta cũng phải trở lại từ căn bản mà Đức Phật đã dạy chứ không còn con đường nào khác, chứ không thể nào mà đòi hoàn tục, không tu mà có thể đủ trí tuệ để hiểu những vấn đề đó. Phải như vậy, nên vẫn phải tiếp tục tu nếu muốn hiểu những vấn đề lớn của nhân sinh và vũ trụ.
[1:02:51]Vì quả luôn luôn đến sau nhân. Trong một số bài kinh khác thì Đức Phật cũng có Đức Phật cũng có nói về vũ trụ, về nguồn gốc con người đến từ thiên giới, chứ không phải không. Có cái lạ là trong Trường Bộ kinh á, có một bài Đức Phật nói về nguồn gốc con người đến từ trời Phạm Thiên. Mà có cái lạ là khác với bài kinh Malunkyia này, đối với bài kinh Malunkyia này á thì hầu hết các sách viết về đạo Phật đều dẫn ra, nhất là cái ví dụ mũi tên. Còn cái bài kinh mà trong Trường Bộ kinh tôi quên cái tựa, mà Phật kể về nguồn gốc con người đến từ thiên giới á, thì không có một cuốn sách nào dẫn ra hết. Hình như người ta thấy mơ hồ,
[1:03:42]hơi khó tin, thấy không hợp lý hay sao, không ai dẫn hết trơn á. Rồi người ta nghi ngờ không biết phải Phật nói hay không nữa, mà nghe sao kỳ quá. Tại ngày xưa Phật kể là: Vào thời đó, khi Trái Đất này mới thành lập, thì ở trên mặt đất này đất đá nó ngon, ngọt như bơ, như sữa vậy, và tỏa mùi thơm ngào ngạt lên đến cõi trời Phạm Thiên. Thì lúc đó chư thiên trên trời Phạm Thiên mới bay xuống chơi, và nhiều vị thấy đất ngon quá mới bốc lên ăn, uống. Mà khi ăn nhằm cái đất đây rồi cái mất thần thông, không bay về thiên giới được, phải ở lại. Đó là cái nguyên nhân ban đầu mà có loài người sống ở đây.
[1:04:26]Nghe tin không? Nói ai tin thì tin chứ tôi cũng từ từ mới tin. Rồi những người đó, trong thời gian ban đầu khi mà chư thiên nó sống ở Trái Đất này thì họ sống thoải mái, no đủ, tuổi thọ rất là cao. Là cái gì nghĩa là vật thực tràn đầy hết, muốn ăn thì cứ bốc mà ăn. Cây rừng mọc đầy đó, những cái trái ngon, trái ngọt, muốn ăn thì cứ hái mà ăn. Họ sống một đời nó thanh thản, an nhàn, hạnh phúc như vậy. Rồi chợt có một vài chúng sinh, một vài vị thiên tử mà đã đọa thành loài người á, khởi lòng tham. Thay vì khi nào mình đói thì mình ra mình lấy ăn, cái hái trước một mớ để dành, cất. Thì do cái tâm tham đó, bắt đầu tổn phước,
[1:05:17]rồi cây cối nó không còn ra quanh năm cho ăn nữa mà nó ra có mùa, nó ra có mùa. Đúng mùa nào mới có cái trái nào. Rồi cái những vị đó do cái khó khăn, rồi tâm tham nó lại lo xa, khởi lên nữa, thế là vị đó mới giành là: "Khu đất của tôi khu này, là không cho ai đụng, để bảo đảm rằng tôi đủ ăn." Đó, do cái giành giật và tham, quơ cào, lo sợ đó, cái họ lại tổn phước một lần nữa, là cái cây trái bắt đầu nó bớt ngon. Khế thì đã bắt đầu hơi chua chua chứ không còn hoàn toàn là khế ngọt nữa. Rồi nhiều loại cây, nhiều loại trái nó đều bớt ngon đi, rồi nó ra theo mùa, nó hạn chế do người ta giành giật với nhau lần lần lần lần.
[1:06:06]Thì lúc đó người ta phải, có những loài mà muốn ăn mà phải trồng mới ăn được, ví dụ như lúa vậy. Là phải trồng theo mùa mới có ăn, rồi trồng đem vô chưa ăn được là phải giã, phải xay, rồi người ta giành giật nhau từng khu, từng con nước, từng khu đất để trồng. Và khi mà giành được cái tâm tham nổi lên thì cái sân si, cái ác độc nổi lên, người ta đánh với nhau để giành đất. Do cái tranh chấp giải quyết riết, nên họ mới chọn ra một người để phân xử làm công bình, để giữ cho không ai nghĩa là tranh giành với ai hết, ai ở khu đất nào ở yên khu đất đó, cái bờ ranh nằm đó. Và người ta gọi cái người mà đứng ra để cai quản,
[1:06:47]phân xử đó gọi là Đại vương, Đại vương. Đó là trong kinh này có một bài trong Trường Bộ kinh, Phật có nói về nguồn gốc loài người như vậy. Thì tôi chưa đủ trí tuệ để tin điều đó. Tuy nhiên, tôi hiểu rằng dường như đây là một cái bài ngụ ngôn nhiều hơn là sự thật.
[1:07:11]Ngụ ngôn là thế nào? Ngụ ngôn rằng: khi con người ta tham lam thì tự nhiên người ta tổn phước, và khi người ta tổn phước thì hoàn cảnh chung quanh không còn thuận tiện nữa. Dường như là Phật gởi gắm cái đạo lý đó trong cái câu chuyện đó hơn là nói thật về nguồn gốc của con người. Thì ngược lại, một người nào đó sống một đời sống buông xả, vị tha, hỷ xả, có ai cần cho, bố thí rộng rãi hết, sẽ thấy tự nhiên hoàn cảnh chung quanh thuận tiện, dễ dàng. Và cái điều đó nó không phải là đợi vào cái thời xa xưa thượng cổ nữa mà ngay trong bây giờ, ngay trong cái đời mà con người ta còn đầy rẫy ích kỷ, hận thù thế này,
[1:07:59]mà nếu ai vượt lên được cái tham lam, sống vị tha, buông xả, sẽ thấy hoàn cảnh của mình tự nhiên trở nên thuận tiện dần dần. Ví dụ có tiền, có cho hết, ai cần cho hết, ai cần gì cứ giúp. Đến lúc nào đó khi mình cần chỉ khởi ý niệm, tự nhiên vật chất tới liền. Ở đây có quý thầy nào đã được cái trạng thái đó chưa? Có chưa? Có chưa? Chưa. Hồi sáng tôi hỏi Tiên Phước có vài cô trả lời có, mà tôi không biết là là là có thiệt hay không. Nhưng mà những cư sĩ á, có một số cư sĩ lớn tuổi mà cả một đời sống rộng rãi, bố thí đều có kinh nghiệm đó hết. Không giữ gì cho mình, không lo sợ cho ngày mai, chỉ hy sinh trong hiện tại, vậy mà khi nào cần khởi niệm là có liền.
[1:08:56]Đã có nhiều người như vậy. Mà sở dĩ chúng ta tổn phước vì chúng ta tham và chúng ta lo sợ. Chúng ta lo sợ cho ngày mai, cho cái thiếu thốn của ngày mai. Chúng ta lo sợ một điều gì đó không chắc có thật rồi để tạo nghiệp là quơ cào, vơ vét, bảo thủ, giữ gìn, ôm chặt. Nếu người nào mà đi ngược lại điều đó, sống hy sinh, vị tha, đừng lo sợ thì sẽ thấy cứ từng ngày đi tới là từng ngày yên vui, hoàn cảnh tự nhiên trở nên thuận tiện. Tuy nhiên cũng phải làm phước từ ba tới năm năm rồi mới bắt đầu mình thấy kết quả. Có nhiều người nói: "Sao con, con cũng đi chùa, nghe Phật dạy, nghe quý thầy dạy con cũng bố thí làm phước mà sao thấy con còn khổ á?" Hỏi:
[1:09:48]"Đạo hữu làm được bao lâu nhiều rồi?" Nói: "Dạ, cũng mấy tháng nay." Mấy tháng chưa thấm. Ít nhất ba năm trở lên, năm năm trở lên rồi mình sẽ thấy, tự nhiên hoàn cảnh thay đổi liền. Mà khi làm phước như vậy, trong thẳm sâu tâm hồn đừng cầu phước, đừng cầu phước thì sẽ được điều đó. Nên là có một bài kinh Đức Phật cũng đã nói về nguồn gốc loài người nhưng mà tôi nghĩ, nó như là câu chuyện ngụ ngôn để chê trách con người là đã tham lam, lo sợ rồi tạo thành mọi điều bất an cho cuộc sống này, giành giật với nhau vậy. Còn những kinh Đại thừa như kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp Hoa, vân vân, kinh Đại Bảo Tích đồ vậy, cũng đều nói về vũ trụ nhiều.
[1:10:37]Những vũ trụ quan trong các kinh Đại thừa của Phật giáo thì thật là mênh mông, kỳ vĩ. Chưa bao giờ có một tôn giáo nào mà nói được về vũ trụ như trong các kinh điển của đạo Phật. Ví dụ như kinh Hoa Nghiêm, ngay cái phẩm ban đầu, phẩm đầu tiên thôi, khi mà đọc cái phẩm đầu tiên của kinh Hoa Nghiêm mà mình không đủ trầm tĩnh nè, không đủ kiên nhẫn thì mình không bao giờ đọc hết được cái phẩm đó. Bị choáng ngợp bởi một cái hình ảnh vũ trụ quá mênh mông, quá kỳ diệu, quá vĩ đại. Vào cái phẩm đầu cứ diễn tả có thế giới hình như cái võng, trong đó ánh sáng màu gì, chúng sinh như thế nào. Có thế giới hình cong, có thế giới hình chén. Trong đó chúng sinh như thế nào,
[1:11:26]màu sắc ra sao, sinh hoạt ra sao, cứ diễn tả hết thế giới này đến thế giới kia trong cái phẩm đầu tiên. Mình nghe mình không thấy đạo lý gì hết trơn á, cứ toàn là diễn tả thôi. Nên nếu người nào không kiên nhẫn, không đọc hết cái phẩm đầu của kinh Hoa Nghiêm. Nhưng mà nếu người nào kiên nhẫn đọc hết thì người này tự nhiên tâm mở tung ra luôn. Bao nhiêu cái chấp nhỏ nhặt trong đời sống buông xả liền. Cái hay của kinh Hoa Nghiêm là như vậy. Chỉ lặng lẽ đọc một cách kiên nhẫn tức là tu. Kinh Hoa Nghiêm á, chỉ lặng lẽ đọc thôi tức là tu. Lạ lùng như vậy. Cho nên đúng á thì những kinh đó không phải Phật thuyết,
[1:12:09]nhưng mà người nào mà viết được kinh đó thì tôi nói, thì vị này cũng là Phật, cũng là Bồ-tát chứ không phải là tầm thường. Kinh của Đại thừa lạ lùng không thể tưởng tượng được. Tuy nhiên là chúng ta thấy thế này, là trước mắt á chúng ta cần biết đúng hướng để áp dụng được cho đời sống thực tế của mình trước, trước khi chúng ta đi tìm những câu giải đáp quá xa xôi, quá xa cái đời sống thực tế của mình. Nên có nhiều người người ta cũng phê bình, nói: "Tại sao Mỹ nè, các nước nè, cứ đổ xô đi tìm, phóng phi thuyền đi vào vũ trụ, thế này thế kia mà biết bao nhiêu người đang còn nghèo đói, ngành giáo dục thế giới còn chưa có hoàn hảo,
[1:12:59]những cái người bệnh chưa có đủ tiền để chăm sóc mà cứ đổ tiền mà phóng vệ tinh đi vào vũ trụ?" Cũng có người trách như vậy. Đó, cái câu trách đó nó cái cái cái quan điểm nó cũng gần gần, giống giống với chúng ta như vậy. Là chúng ta cần giải quyết những vấn đề trong đời sống thực tế trước, biết cái biết vừa phải, đúng hướng, rồi từ đó chúng ta mới đi lên cao, chứ đừng có vội vượt lên quá cao như là Tỳ-kheo Malunkyia vậy. Còn trong việc tu hành á, nhiều khi không cần biết đọc, biết viết vẫn tu được, vẫn chứng đạo được. Là không cần cái kiến thức nhiều, một cái kiến thức rất ít ỏi trong đạo lý thôi, vẫn có thể tu chứng đạo được.
[1:13:45]Giống như ngày thời Đức Phật vậy, là các tỳ kheo rất ít người biết chữ, chỉ có một số tỳ kheo mà xuất thân từ giai cấp Bà La Môn, hay giai cấp Sát Đế Lợi thì có học chữ thôi. Chứ còn những tỳ kheo mà xuất thân từ các giai cấp khác thì không biết chữ. Mà các vị cũng chứng đạo như thường. Là chúng ta thấy để tu thật sự không cần nhiều kiến thức. Nếu bây giờ chúng ta khởi cái tâm là mình chỉ tu cho chứng, có thể mình bỏ học, mình cứ ráng tu thôi. Mà chỉ sợ là không đủ phước thì tu không chứng thôi. Chứ nếu mà đủ phước rồi thì cũng không cần biết điều gì nữa, vẫn tu chứng được. Còn chỉ khi nào mà chúng ta cần hòa nhập với cộng đồng
[1:14:32]để làm lợi ích cho chúng sinh thì kiến thức bao nhiêu cũng không thừa. Biết bao nhiêu cũng không thừa. Nên là ngày hôm nay, ngoài cái việc chúng ta biết chữ rồi, chúng ta phải học xong lớp 12, biết về toán, lý, sinh vật đủ mọi điều, chúng ta bây giờ phải biết tới máy vi tính. Vì đó là phương tiện thông tin hiện đại, phải biết rồi. Rồi lúc nào đó rảnh mình phải biết về âm nhạc nữa. Vì biết đâu sau này là
[1:15:04]những bài, những nghi lễ của đạo Phật áp dụng nhiều âm nhạc ở trong đó, là thầy tu mình phải biết nguyên tắc của âm nhạc. Những cái cấu trúc nốt: đô, rê, mi, fa, son, la, si; những nốt thăng, nốt giáng; những hợp chủ âm la thứ, mi trưởng như thế nào; những điệu 2/4, 3/4, 4/4 như thế nào; valse, boston như thế nào. Để khi cần mình có thể làm là gợi ý, hướng dẫn lại cho các Phật tử mà thực hành cái nghi lễ cho đúng với cái điệu nhạc của nó. Phải không? Đó. Có thể là kính lạy Đấng Vô Thượng Có nghĩa là chúng ta có thể hát về nó: Người là một đại dương mà con như giọt nước, Người là ngọn cao sơn mà con như hạt bụi.
[1:15:54]Hôm giờ có hát lại bài đó không? Nói một câu gì mà nghe chán đời kìa. Ở trên chùa tôi, tôi bắt đầu tụng kinh cho bằng bài đó. Bắt đầu đang giai đoạn thử nghiệm coi có được hay không. Có nghiêm trang vì cho làm tới nữa. Đó có những cái điều như vậy, chúng ta phải biết ví dụ như là nhiều cái kiến thức mà để chúng ta
[1:16:20]áp dụng trong việc hoằng pháp. Tôi nói ví dụ như là sau này đó, trong các chùa đó, vào cái thời tụng kinh của chiều tối thứ Bảy đó, là tụng kinh 20 phút thôi. Sau đó thuyết pháp 45 phút, và sau đó cho một tiếng để vui chơi văn nghệ. Cái thời tụng kinh chiều thứ Bảy á. Chi vậy? Bởi vì vào ngày đó là học sinh nghỉ học, phải không? Chủ Nhật nghỉ học thì cha mẹ có thể dắt con em mình đến chùa tụng kinh vào chiều tối thứ Bảy. Thì tuổi trẻ nhiều thì mình không được tụng cứ đều đều mà cứ ư a mà cái kiểu này nó nghe nó chán chết trong khi nó đang thích nhạc pop, nhạc rap gì đó, nhạc rock, nhạc gì đó. Thì mình phải phải sinh hoạt vui tươi lên.
[1:17:10]Cho tụng kinh bữa đó tụng 20 phút thôi. Rồi cho phải thuyết pháp 45 phút rồi cho sinh hoạt vui chơi văn nghệ. Nên quý thầy phải có kiến thức để làm được điều đó rồi mình mới dẫn dắt được cái lớp trẻ mà nó đến chùa nó thấy là vui tươi. Chừng nào nó lớn lên điềm đạm, nó thích những cái việc tu hành sâu lắng thì nó đến vào những ngày khác mình hướng dẫn thiền định dần dần, vân vân. Nên quý thầy mình phải đa hệ. Chứ không phải là cứ chỉ biết cái điệu điệu tụng kinh này là không được, phải biết bày trò chơi. Phải biết thuyết pháp nè, phải biết hát nè. Rồi phải biết cố vấn về tâm lý, gia đình. Phải biết tư vấn về hôn nhân, không biết có nên không?
[1:17:54]Rồi vân vân nhiều cái. Vì tôi cũng bị hoài, tôi bị hoài. Nhiều người cứ hay lên chùa hỏi những chuyện những chuyện riêng, làm như mình ông thầy bói vậy á. Bị hoài. Hôm ở trên núi thì tôi có giảng cái bài đó. Có mấy thầy ở dưới Trà Vinh lên hỏi: "Tại sao trong chùa mà có xin xăm, bói toán?" Thì tôi trả lời một bài rất là dài. Khi nào quý thầy có rảnh thì lấy mà tham khảo. Nguyên nhân tại sao nó xuất hiện những điều đó trong trong đạo Phật, trong chùa? Chúng ta không trách được đâu, nó có nguyên nhân. Và cái nguyên nhân nó hợp lý lắm chứ không phải không. Mặc dù so với kinh điển thì thấy nó trật.
[1:18:31]Nhưng nó có nguyên nhân của nó. Mà muốn biết nguyên nhân như thế nào, xin hãy đón nghe cái băng đó. Thế nên đối với những điều đó, để tu và để giáo hóa chúng ta cũng cần một số kiến thức. Nhưng mà đừng có quá xa xôi, viển vông, không thực tế và làm mệt mỏi tâm trí. Đừng biết quá nhiều. Như tôi cũng vậy, tôi không có đọc nhiều sách đâu. Nhiều người nghe tôi giảng thao thao tưởng là tôi uyên bác học hết sách này, hết sách kia, sự thật tôi làm biếng đọc sách và ít đọc lắm. Bước vào cái cốc của tôi là biết. Chỉ có vài cuốn sách ngoe que mà có nhiều cuốn không bao giờ tôi đụng tới. Trưng để đó chơi vui, người ta dòm thấy hết hồn chưa.
[1:19:10]Cuốn gì trong không biết, không biết, ít đọc lắm. Tôi chỉ đọc những cuốn nào cần thiết cho việc tu tập và giáo hóa thôi. Ờ nhiều khi tôi nói với quý thầy đó, có những luận bản cổ của đạo Phật dường như không cần thiết cho sự tu hành lắm. Tôi nói có rất nhiều luận bản như ngài à Cưu Ma La Thập vậy. Nghe ngài cực kỳ giỏi, học rất nhiều luận bản sâu sắc. Thì tôi mới nói ngài phải giỏi như ngài mới học nổi những luận bản đó. Thì như vậy những người bình thường không học nổi thì họ không tu được à? Nên rõ ràng có nhiều cái luận bản rất là sâu là cao gì đó không biết. Nhưng mà cũng không chắc là có lợi cho sự tu lắm đâu.
[1:19:48]Cho nên mình không cần đào quá sâu vào trong chữ nghĩa và sách vở. Mình biết để tu, biết để tu, biết để giáo hóa trong chừng mực vừa phải, đừng đi quá sâu vào những kiến thức mênh mông của nhân loại mà làm mệt mỏi tâm trí, mất thì giờ. Tự mình phải biết hạn chế cái kiến thức mình trong một lĩnh vực nào đó vừa phải đối với mình. Đừng đi quá xa. Còn về vấn đề siêu hình, chúng ta thấy là Khổng Tử cũng thẳng thắn từ chối không trả lời những câu hỏi về siêu hình. Như có một người hỏi ngài: "Khi chết rồi, con người đi về đâu? Ở trong trạng thái nào?" Thì ông trả lời: "Ta chưa chết nên ta không biết." Khổng Tử can đảm,
[1:20:30]không biết nói rằng không biết, đó là người trí, phải không? Khổng Tử nói nên ông rất thành thật và rất can đảm. Ông không lúng túng. Ông cũng rất đĩnh đạc, nhưng mà công nhận rằng mình không biết. À Khổng Tử như vậy. Thì cũng khá giống với đạo Phật. Chỉ có cái đạo Phật, Ngài biết mà Ngài không nói vì nó chưa đúng lúc, chưa đúng lúc. Tuy nhiên, dù sao một chút hiểu biết sơ sơ về những vấn đề lớn lao cũng làm chúng ta yên tâm tu tập. Ví dụ như là thế giới, vũ trụ là vô thường hay là vĩnh cửu? Chúng ta có nhiều cái thuyết lắm. Ví dụ nói rằng thế giới từ lúc ban đầu thành lập rồi phát triển lên từ từ, lúc nào đó cái nó suy tàn rồi tan vỡ, chết hết.
[1:21:19]Từ từ thành lập lại, con người thành lập vũ trụ trở lại. Nó cứ thành lập rồi rồi tan hoại, thành lập rồi tan hoại cả vũ trụ này như vậy. Có thuyết như vậy. Có thuyết khác không phải. Là ví dụ như trong cái vũ trụ này có nhiều thiên hà, nhiều thiên thể, rồi có cái thiên thể này bị hoại diệt, từ từ lại xuất hiện một cái thiên thể khác. Rồi cái thiên thể đó nó già lớn lên, nó hoại diệt. Ở chỗ khác lại xuất hiện cái thiên thể với thiên hà khác, tập hợp lại. Nghĩa là lúc nào cũng tồn tại một vũ trụ. Nhưng mà trong vũ trụ đó có nhiều cái thiên thể khi thì xuất hiện, khi thì mất đi. Rồi có một cái thuyết là vũ trụ đầu tiên xuất hiện từ một vụ nổ gọi là Big Bang.
[1:22:04]Do đâu? Cũng do một ông Thiên Chúa. Cũng của ông Thiên Chúa không à. Do ông Giám mục Lemaître. Ông này làm thầy tu mà cũng là một nhà thiên văn, ông mới nhìn lên trời, ông thấy các thiên hà nó cứ càng lúc nó càng dời xa nhau, dời ra xa nhau. Và ông nghĩ rằng: "Như vậy ngày xưa nó ở chung chỗ với nhau, nó ở gần nhau, phải không?" "Bây giờ đang rời xa nhau có nghĩa là ngày xưa ở gần nhau." Kết luận đó đúng không? Hợp lý không? Quá hợp lý. Và như vậy nó gần nhau nữa, gần nhau nữa thì nó là gì? Tức là ngày xưa nó ở chung một điểm thôi rồi nó bung nó nổ ra. Và trên đường đi nó rời xa lần lần ra, nó tạo thành những tinh cầu, những thiên thể,
[1:22:46]những hành tinh, những ngôi sao và những hành tinh đó từ từ có sự sống. Bây giờ nó vẫn tiếp tục nó dời xa nhau vì do cái trớn từ vụ nổ ban đầu. Ông lý luận như vậy và ngày nay cả thế giới đang ra sức củng cố cho lý thuyết này. Chỉ có riêng nhà khoa học Chân Quang này thì không bao giờ tin cái chuyện đó. Có thể là tại tôi dốt cũng có, nhưng mà tôi không tin. Là vì tôi có kinh nghiệm là cái gì mình thấy thì thường không có đúng. Ví dụ như ngày xưa vậy, chúng ta luôn luôn thấy mặt trời mọc ở hướng Đông và lên rồi lặn hướng Tây, phải không? Và người ta kết luận sao? Mặt trời đã quay quanh trái đất, phải không?
[1:23:29]Thì mắt thấy rõ ràng mà. Mắt thấy là mặt trời mọc hướng Đông, lặn hướng Tây, đi vòng vòng. Thì như vậy là mặt trời quay quanh trái đất. Thấy như vậy và kết luận như vậy hợp lý không? Quá hợp lý á. Nhưng mà đúng không? Không đúng. Lạ lùng chưa? Có những chân lý hoàn toàn nó ngược lại với cái mình thấy. Cho nên cái việc mà thấy các thiên hà nó rời xa nhau để rồi kết luận là ngày xưa nó gần chung một chỗ nhau, nó bung ra từ một vụ nổ, coi chừng chúng ta phạm phải một cái sai lầm từ thời thượng cổ trở lại. Là thấy làm sao kết luận vậy, coi chừng trật á. Nên tôi không tin cái việc mà vũ trụ bắt đầu từ một vụ nổ.
[1:24:13]Coi chừng nó có nguyên nhân khác mà mình nhìn thấy là các thiên hà nó rời xa nhau ra. Có những cái chân lý vậy, mình thấy chứ nó nằm ở chỗ khác. Do đó, có một người nào đó nói câu này mà tôi thấy thiệt hay. Là: "Bạn đừng bạn chỉ tin phân nửa những gì bạn thấy và đừng tin những gì bạn nghe." Tôi thấy ông nào ổng sống trên cuộc đời cũng già lắm mới kinh nghiệm câu đó. Và tôi cũng nghe như vậy, nhiều lời đồn đại hỏi lại trật lất hết trơn. Rất nhiều lời đồn, qua đồn lại trật lất hết. Nên có nhiều người lại gặp tôi hỏi: "Thưa thầy, con nghe người ta nói thầy chơi bùa, không ai gặp thầy là mê thầy, bỏ không được."
[1:24:57]Nghe cũng lắc đầu luôn biết sao giờ. Nó đồn, rồi có nghe đồn nhiều cái câu còn động trời nữa kìa mà không tiện nói ra đây. Vì vậy, tôi mới thấy là có nhiều cái điều mình nghe đừng có tin là chính xác. Cái thấy mà coi chừng còn trật đó, thấy sờ sờ trước mắt coi chừng trật á. Nên có nhiều điều như vậy. Rồi vật chất thành hình khi nào? Chúng ta đều biết vật chất là gì, là những bên trong là một cái nhân phải không, có proton và neutron, nhiều hạt nhỏ; bên ngoài là cái đám mây quay cuồng của những hạt electron. Nhưng mà cái cấu trúc ban đầu của electron từ đâu mà tạo thành electron, từ đâu tạo thành proton, neutron,
[1:25:40]chưa ai trả lời nổi mà tôi nghĩ một hai ngàn năm nữa chưa chắc trả lời nổi. Và có khi là khi tìm ra được cái bản chất của những hạt proton, neutron đó, coi chừng lúc đó phải gặp phải vấn đề tâm linh, lúc đó vật lý trở thành tâm linh. Coi chừng như vậy. Coi chừng lúc đó khoa học vật lý trở thành tâm linh rồi mới tìm thấy được cái bản chất của vật chất là gì, mới biết rằng tại sao vũ trụ này nó hút nhau như vậy và tại sao các thiên hà nó dời xa nhau như vậy, tới lúc đó mới trả lời nổi. Còn bây giờ mà cứ tưởng rằng từ một vụ nổ, coi chừng chúng ta hố, hố như người thượng cổ đã hố. Rồi Như Lai nhập diệt rồi còn hay là mất?
[1:26:25]Nghĩa là sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, Ngài tồn tại như một vị thần linh hay là Ngài biến mất vào hư vô? Nghĩa là nếu hiểu Ngài tồn tại như một thần linh thì giống như chuyện Tề Thiên Đại Thánh, Ngài hiện ra mà đấu phép với Tôn Hành Giả, đưa bàn tay cho nên là Tôn Giả, Tề Thiên nhảy qua, nhảy không được Ngài úp luôn. Thì nghĩ hiểu rằng Đức Phật tuy nhập Niết bàn nhưng vẫn tồn tại một cõi giới nào đó như một thần linh. Còn nghe mình nói Niết bàn như củi hết lửa tắt thì Phật nhập Niết bàn rồi biến mất vào hư vô, cả hai cách hiểu đều sai. Đức Phật nhập Niết bàn rồi không có biến mất nhưng không có tồn tại như một thần linh.
[1:27:04]Ngài trở thành toàn thể vũ trụ, toàn thể chúng sinh, luôn luôn ở bên cạnh để cảm ứng và gia hộ cho chúng ta, luôn luôn như vậy. Những điều chúng ta cầu nguyện có khi nó được vi diệu là do sự gia giúp đỡ của chư thiên. Nhưng mà cái sự cảm ứng ban đầu là do chư Phật. Khi thấy mình thành tâm cầu nguyện với chư Phật thì chư thiên, chư Bồ tát đều giúp đỡ chúng ta một cách cụ thể, nhưng mà chư Phật thì không trực tiếp giúp đâu. Ngài chỉ dùng cái cảm ứng và cái đức độ trong Niết bàn thôi, mà việc giúp mình cụ thể này kia nọ là do chư thiên. Rồi cái kiếp ban đầu của chúng sinh là sao? Chúng ta chỉ khi nào chứng rồi mới biết được thôi,
[1:27:53]mà biết rồi cũng không nói được luôn nữa. Có cái thuyết nói rằng: "Thuở ban đầu tâm chúng ta thanh tịnh, phải không? Ban đầu tâm mình vốn thanh tịnh, rồi một niệm bất giác khởi lên, thế là mình trôi lăn vào luân hồi sinh tử." Quý thầy nghe thuyết này chưa? Bây giờ mình đặt lại vấn đề: Mình tu cho nó hết cái mê này mình trở lại cái thanh tịnh này, phải không? Mục đích là bây giờ là ngày xưa là tâm mình vốn thanh tịnh nè, rồi mình bị một niệm bất giác mình đi luôn vào trần lao nè, bây giờ mình tu cho nó hết trần lao để trở lại cái thanh tịnh này, đúng không? Như vậy có hay không? Vì cái thanh tịnh này từ ngày xưa nó không tự
[1:28:31]giữ được nó nên nó mới bị bất giác khởi lên. Bây giờ mình trở lại cái thanh tịnh này đâu có hay gì, coi chừng ngày nào bất giác khởi lên nữa mình trôi nữa à, đúng không? Quý thầy đồng ý không? Vì cái thanh tịnh ban đầu ngày xưa này nó không tự giữ nó được, bất giác mới khởi lên. Bây giờ mình tu cho đã để trở lại cái thanh tịnh này thì cũng đâu có hay ho gì, ngày nào bất giác khởi lên nữa nó cũng không giữ được nữa. Cho nên cái thuyết nói rằng ban đầu chúng sinh vốn thanh tịnh rồi bị trấc bất giác khởi lên, thuyết đó sai. Nên có nhiều vấn đề mình có thể hiểu sơ sơ sơ sơ để mình yên tâm mà tu thôi, chứ cũng đừng bận tâm lắm về nó như vậy.
[1:29:18]Ừ họ phát triển dần dần tới những kiến thức mới, họ cũng khát khao đi tìm cái tuyệt đối của vũ trụ lắm, nhưng họ không có trả lời bậy. Họ trả lời chầm chậm, họ biết được một họ tìm hai, họ biết hai họ tìm ba, họ biết ba họ tìm bốn, từ từ cho tới cái ngày nào họ tìm được cái tuyệt đối. Khoa học cái đó cũng hay, nhưng mà chỉ khi nào mà khoa học mở rộng sang khái niệm tâm linh thì họ mới có thể tiến xa được. Rất nhiều hiện tượng tâm linh xảy ra trong thế giới này nhưng mà những nhà khoa học vì mặc cảm, vì tự hạn cuộc mình nên đã không kiểm kê, không thống kê để đưa vào trong lý luận của khoa học,
[1:29:55]mà cứ bỏ mặc những hiện tượng tâm linh khắp nơi trên thế giới cho các nhà tâm linh nghiên cứu, còn họ chỉ đi thuần trong vật lý. Nên đây là một cái điểm mà một điểm mà gọi là yếu của khoa học.