[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:25]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:39]Xin mời ngồi xuống. Hôm nay chúng ta học bài thiền thứ hai là ý nghĩa của thiền trong Bát Chánh Đạo.
[0:50]Hôm giờ quý thầy có ngồi thiền đều cái hả? Có không? Không ai ừ hử gì hết trơn vậy trời. Có không? Có tập khí công không? Bão hả? Hơn khí hả? Khí công thua bão công thôi. Ở trên chùa tui bỏ tập khí công là bị phạt quỳ nhang liền. Tại giờ tập khí công cũng như giờ tu. Cái việc rèn luyện thân thể là cái nếp sống của cái thời đại của con người văn minh mới. Thời đại văn minh mới này không có cái chuyện mà trong một ngày không có cái giờ rèn luyện thân thể. Chùa mình cũng vậy, cũng phải thích ứng với thời đại. Hôm nay chúng ta học cái bài thiền học ý nghĩa của thiền trong Bát Chánh Đạo. Là chúng ta đã biết hôm trước, thiền như là một phần trong cái tổng thể.
[1:37]Có nhiều khi có những vị thiền sư hay tổ sư họ dạy thiền chỉ nói về thiền, còn Đức Phật của chúng ta thì đắc đạo nhờ thiền, nhưng mà khi dạy thì dạy cho hết Bát Chánh Đạo, chứ không có dạy một phần thiền. Tức là Ngài làm cái gì cũng rất là hoàn chỉnh, rất là chu đáo. Hôm nay chúng ta học giáo lý thì cũng vậy, chúng ta theo sát Đức Phật thì sẽ được cái lợi ích hơn. Quý thầy có qua hết sơ cấp chưa rồi? Phải không? Qua sơ cấp rồi. Trưởng lớp là ai? Trưởng lớp nè. Lên viết cái Bát Chánh Đạo giùm. Viết giùm Bát Chánh Đạo là cái gì. Viết không được, trả bằng sơ cấp lại nha, nói rồi. Viết từ dưới lên từng lần.
[2:18]Cái thứ nhất lên từ từ từ từ lên trển. Thứ nhất là Chánh gì đó, đừng có Chánh Trị trỏng nha. Cha! Nghi quá! Hồi đó thầy Đức Hoàng có dạy cái sơ cấp không? Có. Thử không có là mắng vốn đó nha. Một nửa học sơ cấp, nửa chưa học, tức là chưa học phải không? Tụi tui không có bằng đâu mà đòi. Giờ ai học rồi lên đây giùm ghi lại Bát Chánh Đạo chút. Lên đi, ai lên ghi đi. Lên đi nghen. Đó, mấy người có học mới có bằng mà đòi chứ. Mấy này phải thuộc như cháo.
[2:54]Mà giáo lý Đạo Phật có nhiêu đây chứ nhiêu. Nói rẹt tám cái xong hết chuyện. Có điều trong tám cái đó mình tu ba chục kiếp chưa xong. Vui cái này mới sáng tạo mới nè, Phật chết 2547 năm bữa nay có thêm cái Chánh Huệ trỏng. Mười năm nữa là có thêm cái Chánh Trị, mười năm nữa thêm cái Chánh Tông. Rồi, thêm người trả luôn cái bằng nữa. Nào đi lục bằng đưa lại cho thầy nghen con. Ai lên sửa giùm đi nè, đỡ mất thời gian. Viết từ dưới lên trên nha. Sau này tới ngày mà chúng ta già rồi chúng ta chết, chúng ta từ giã cõi đời, mọi điều bỏ lại hết, nhưng mà nhớ đem theo giùm cái thứ tự Bát Chánh Đạo, không được quên, đem theo qua kiếp khác học nữa, không được quên.
[3:41]Cái đây thuộc Phật pháp căn bản, chắc ít bữa nữa thầy Viên Giác dạy. Nhớ nha, thuộc cho kỹ, ít bữa nữa chắc quý thầy được học Phật pháp căn bản của thầy Viên Giác. Nói cái gì quên thì quên, chứ này không bao giờ được quên, thứ tự này không bao giờ được quên nha. Làm đệ tử Phật mấy này phải nhớ cho chắc. Nhiều khi chúng ta ngạc nhiên điều này: Chúng tôi ngồi chúng tôi đi nhìn mấy chiếc xe hơi hoặc là nhìn mấy chiếc xe gắn máy chạy trên đường, hay là mình đi sau một chiếc xe hơi đời cũ đời xưa mấy chục năm trước á, ba bốn mươi năm trước cái thấy hai cái đèn ở phía sau mỗi cái đèn nhỏ nhỏ chút chút à,
[4:12]đằng sau mình dòm thấy hai cái đèn chút chút à, đằng sau mình dòm mình thấy vậy. Nhưng mà hiện nay mấy xe đời mới thì cái đằng sau nó làm sao? Nó đẹp vô cùng, nó rộng hơn, mà nguyên cái dãy đèn của nó rất là đẹp. Đèn nó nhiều cái, trên đây nó đèn, hoặc là đây nó đèn, tức là nó phát triển đèn để nó báo cái tín hiệu cần thiết. Đèn rất là nhiều, đèn rất là sáng. Hồi xưa hai cái đèn chút xíu à, xíu. Ngồi cứ từ cái một bóng đèn nhỏ này mà qua bóng đèn lớn này đi khoảng bảy chục năm. Bảy chục năm tiến bộ của nhân loại thì được cái đèn này qua cái đèn này. Mình không hiểu là qua ba chục năm nữa thì nó
[4:47]tới cái gì, va trước mắt mình là từ này. Một con đường chúng ta ngạc nhiên là khi Đức Phật ngày xưa khi đầu tiên Ngài thuyết Tứ Thánh Đế, trong Tứ Thánh Đế có phần là Đạo đế thì nói Bát Chánh Đạo. Hơn 2500 năm, đến nay vẫn không thêm bớt được chữ nào, vẫn luôn luôn hợp lý, mình không phát triển thêm được chữ nào. Có người bày đặt chế được cái Chánh Huệ, hay Chánh Tuệ lên. Không, có người chế đó, có một giáo sư chế không phải không, cho rằng quá trình này không hợp lý, phải thêm Chánh Tuệ, nhưng mà không bao giờ, bởi vì Tuệ là thuộc lại quả vị, nó nằm ở Diệt đế mất rồi, Phật đã nói rồi, Phật không bao giờ quên.
[5:23]Mình sai chứ Phật không sai nổi, đó là cái đặc biệt, đó là Phật! Nên đây là điều chúng ta ngạc nhiên. Thì trong cái phần Bát Chánh Đạo này đó, hai phần này thuộc về thiền. Thiền, hai phần này thuộc về thiền thì từ từ chúng ta sẽ triển khai trong vòng mấy năm hai cái phần này. Tuy nhiên chúng ta thấy là cái phần thiền, Chánh Niệm Chánh Định này nó nằm trên cao của quá trình tu tập trong Bát Chánh Đạo, ở dưới này là những cái nền tảng. Mà như chúng ta biết, ví dụ muốn có cái mái nhà thì phải có cái gì? Có nhiều? Cái mái đặt lên đâu? Cột, sườn, đúng rồi, cột, sườn, rui, mè rồi là từ từ mới xuống tới tới nền, tới móng, tới sàn, móng sâu chìm ở dưới.
[6:03]Cho nên là những cái dưới này là cái đỡ, chống đưa lên cái trên. Thiền tức là cái đỉnh cao của sự tu tập, mà không có cái gì cao mà lại không được nâng đỡ bởi những cái dưới thấp. Cho nên nếu mình nói tu thiền mà mình ngắt ngang mình bỏ cái này hết, mình chỉ lấy Chánh Niệm, Chánh Định thì mình không có căn bản, hổng chân. Và đây cũng chính là trí tuệ của Phật, nên Ngài dạy một sự tu hành hoàn chỉnh từ dưới lên trên thế này, chứ Ngài không có ngắt bỏ phía trên. Nên đây là điểm mà Phật cũng hơn các thiền sư. Các thiền sư nhiều khi nói về thiền á là chỉ nói về thiền, mà không bao giờ phân tích kỹ những cái chi phần này,
[6:39]những chi phần này, cho nên làm cho cái sự tu hành của các thiền sinh đôi khi bị hụt hẫng, bị thiếu khuyết. Chỉ có Đức Phật Ngài mới nói một cách hoàn chỉnh như vậy, tám cái này bằng như nhau. Trong tám cái này đó thì có học và có hành. Thì quý thầy nghĩ xem, Chánh nào là học và Chánh nào là hành? Đúng rồi, Chánh Kiến. Chánh Kiến là gì? Học, đúng, đúng rồi, Chánh Kiến là học. Nào học nữa? Chỉ một Chánh Kiến là học thôi, còn toàn bộ những Chánh khác là thực hành hết, quý thầy nhớ. Bởi vì sao Chánh Kiến là học? Vì Chánh Kiến tức là cái hiểu biết đúng về giáo pháp và về cuộc đời, chỉ có Chánh Kiến thôi.
[7:25]Quan điểm đúng về giáo pháp, về cuộc đời; nhận định đúng về giáo pháp, về cuộc đời. Và để có cái hiểu biết đúng, nhận định đúng, quan điểm đúng đó chúng ta phải học, chúng ta phải học. Vì vậy, Giáo hội, các vị tôn túc mở các trường Phật học ra để cho chúng ta học cái phần này. Học cái này để cho chúng ta có quan điểm đúng thì toàn bộ còn lại những cái mình tu mới đúng. Vì nếu cái này mà mình hiểu trật cái là mấy cái trên sai hết toàn bộ. Giống như một cái bản đồ mà chỉ đường sai rồi là mình đi không tới đích. Tức là khi mà cái Chánh Kiến mình đã sai rồi, đã rơi vào tà kiến rồi, suốt đời tu còn lại mình tu không đúng đường.
[8:00]Khi mình tu không đúng đường mình sẽ nói bậy, làm bậy, nghĩ bậy, tu sai, bắt đầu cái phước tổn dần dần. Cái phước tổn từ từ thì mình không được an lạc, nhiều bất hạnh sẽ ập tới cuộc đời của mình, dung nhan sẽ tiều tụy, chết không an lành, qua đời sau đọa mất luôn. Cho nên cái Chánh Kiến chỉ có một nhưng mà lại quyết định toàn bộ cái này còn lại. Mà trong tám phần như vậy chỉ có một cái học, bảy cái còn lại là hành. Như vậy, trong Đạo Phật rất chú trọng cái thực hành. Thì trong 4 năm mà chúng ta học cũng vậy, chúng ta vừa học vừa hành chứ không phải là chỉ là học không. Do đó, thời gian mà quý thầy ở lại đây quý thầy có
[8:38]vừa ngồi thiền, lễ Phật, tụng kinh, tập khí công, rèn luyện công quả đủ thứ hết là toàn bộ những cái thực hành đó. Còn những cái mình ngồi lên lớp là cái học, là cái Chánh Kiến này. Tuy nhiên, hồi nãy chúng ta vừa nói nhau á, Chánh Kiến là cái hiểu biết đúng về giáo pháp và về cuộc đời. Về giáo pháp là đương nhiên là Phật pháp phải biết rồi, nhưng tại sao phải biết cuộc đời nữa? Tại sao phải biết cuộc đời? Giống như trong một cái danh hiệu của Phật, Phật có mười danh hiệu trong đó có danh hiệu này: Thế Gian Giải. Thế Gian Giải là hiểu biết về cuộc đời, phải biết về thế gian. Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri,
[9:12]Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu... đại khái mười danh hiệu như vậy thì có cái Thế Gian Giải là Phật rất hiểu về cuộc đời mặc dù Ngài đã xuất ly khỏi tam giới. Thì ngày hôm nay cũng vậy, cái Chánh kiến này chúng ta vừa hiểu biết giáo pháp là hiểu biết nội điển nhưng mà chúng ta biết rất nhiều về cuộc đời. Mà tại sao phải hiểu biết về cuộc đời? Bởi vì giáo pháp của Phật là để đem áp dụng vào cuộc sống. Rồi sau này khi quý thầy lớn lên quý thầy đi dạy thì quý thầy cũng giải quyết những chuyện của con người, của cuộc đời. Cho nên phải biết rất nhiều về cuộc đời. À nhưng mà có cái lạ thế này,
[9:46]là cái người đứng ra khỏi cuộc đời lại nhìn vào cuộc đời lại sáng. Chứ đừng có nói là tôi phải hiểu biết cuộc đời cho nên tôi phải thâm nhập thực tế, cho nên tôi phải đi vào quán nhậu, quán đồ, không được không phải. Mà chính mình thoát ra khỏi cuộc đời vậy mà nhìn vào mình biết hết. Nó lạ như vậy. Chính nhờ hiểu biết giáo pháp nên mình hiểu biết cuộc đời. Giống như có nhiều cư sĩ có những cái chuyện buồn trong cuộc sống thì không biết hỏi ai lại tìm tới quý thầy để hỏi. Quý thầy đâu bao giờ sống trong đời đâu mà biết chuyện thế gian. Nhưng mà quý thầy trả lời lại rất là sáng. Họ về họ ứng dụng và họ thành công. Họ thấy họ an vui.
[10:19]Đúng là cái người ở ngoài thì rất là sáng còn người trong cuộc thì lại tối. Cho nên quý thầy bây giờ cho quý thầy mà sống ở thế gian, mình chìm trong thế gian, nhiều khi mình lại nhìn công việc cuộc đời không ra. Còn đi tu thì mình nhìn rất là sáng. Nhưng mà hiểu biết đúng về cuộc đời đó cũng là Chánh kiến. Có một lần có cái ông đó ổng có vợ rồi cái ổng thất bại trong hôn nhân, tức là cuộc hôn nhân không được suôn sẻ. Ổng tìm đến vị thầy để ổng trình bày, ổng nhờ một lời khuyên để cứu vớt và cũng để cho ổng đừng có đau khổ. Thì vị thầy đầu tiên trả lời thì ổng không có hết đau khổ. Đó là vị thầy đầu tiên không có Thế Gian Giải.
[10:56]Ổng tìm đến vị thầy thứ hai, vị này trả lời ổng chấp nhận, thế là ổng an vui, ổng hết đau khổ. Thì đó là quý thầy mình nhờ biết cuộc đời mà là mình hướng dẫn được cho Phật tử. Đấy, đó là Chánh kiến. Trong cái Chánh kiến nó có cái giáo lý rất quan trọng là cái môn nhân quả nghiệp báo. Đó là nền tảng của mọi giáo lý. Nếu mà không có biết về cái môn này thì coi như chúng ta không thể đào sâu được Phật pháp. Mà cái hiểu biết về nhân quả thì chỉ có Phật mới biết hết tất cả. Ngay cả vị Bồ-tát cũng không biết hết về nhân quả. À năm nào thì học môn nhân quả ha thầy Đức Hoàng? Chừng nào, năm thứ mấy học? Năm thứ hai ha? Dạ. Năm thứ hai được học về nhân quả.
[11:37]Ừm môn đó là môn quan trọng, một cái giáo trình rất là quan trọng. Và nhờ cái biết nhân quả nên chúng ta hoàn chỉnh được cái đạo đức cá nhân của mình hơn. Chánh kiến cũng cho ta cái định hướng về giải thoát rõ ràng khi chúng ta tu thiền. Đây là sự tương quan giữa thiền và Chánh kiến nè. Nhờ có Chánh kiến chúng ta định hướng giải thoát rõ ràng, khi mình tu thiền mình không đi lạc bậy bạ. Ví dụ như có người tu thiền để có thần thông, có người tu thiền để được khỏe mạnh, có người tu thiền để được sống lâu, có người tu thiền để biết chữa bệnh. Đại khái đó là định hướng sai về thiền. Nhưng mà khi chúng ta có Chánh kiến là chúng ta định hướng giải thoát,
[12:10]tu thiền để giải thoát, giác ngộ, không có đi trật đường. Cho nên Chánh kiến cho chúng ta cái hướng đi như vậy. Hoặc là Chánh kiến cũng cho chúng ta một cái hướng đi về cái mục tiêu vô ngã rõ ràng, không có đi lạc, không đi về phía đại ngã hay là tăng trưởng bản ngã. Tại vì nếu không có cái Chánh kiến về vô ngã định hướng á, mình tu càng lâu càng tăng trưởng ngã mạn. Ví dụ như cái tuổi đạo mình lâu mình thấy mình ngon hơn người ta, hoặc là mình ngồi thiền lâu mà tâm mình yên mình có gì sáng mình thấy mình ngon hơn người ta. Đó là cái kiêu mạn nó tăng trưởng, bản ngã tăng trưởng theo cái tuổi đời, cái tuổi đạo nó tăng lên, theo cái công phu nó tăng lên. Rất là nguy hiểm.
[12:42]Nhưng mà Chánh kiến ngay từ đầu kềm chúng ta lại, định hướng chúng ta là chúng ta đi tới vô ngã. Cho nên mình càng tu chừng nào cái bản ngã phải càng nhẹ chừng ấy là đúng hướng và điều đó Chánh kiến cho chúng ta. Cho nên sự tương quan giữa thiền và Chánh kiến là như vậy, nhờ Chánh kiến định hướng trước. Thì muốn có Chánh kiến thì phải? Phải? Phải sao? Phải học, siêng học. Cho nên cái giờ mà tới giờ học mà mình còn đi lang thang là người đó sẽ không có Chánh kiến. Hoặc là trốn học mà là học không siêng không có Chánh kiến. Học cực lắm à chứ không phải đơn giản đâu. Hành thì còn cực hơn nữa, mà ngay cái học này là đã rất là cực.
[13:21]Tuy nhiên có một cái điều thế này. Là Đức Phật nhập Niết bàn cách đây bao nhiêu năm? 2547 năm Đức Phật nhập Niết bàn. Thì trong suốt mấy ngàn năm như vậy không có cái gì mà không bị biến thái, thêu thắt, pha tạp hết. Đạo Phật chúng ta cũng bị như vậy. Là chúng ta không tránh khỏi cái việc mà đạo Phật đã bị pha tạp, biến thái, thêu thắt, không tránh khỏi điều này. Cho nên nó không còn đúng chính xác như là đạo Phật ban đầu mà Phật muốn nói. Nhiều khi sau này người ta pha thêm, biến cải thêm, thấy giống như là linh hơn, hay hơn, quy mô hơn, nên nhiều khi nó hơi tạp, hơi bị biến thái, không có chuẩn xác.
[14:05]Đó là mặt nhược điểm của thời gian. Nhưng mà có cái ưu điểm của thời gian là đạo Phật cũng được phát triển thêm. Bên cạnh cái nhược điểm của thời gian làm cho chúng ta mất cái nguyên, cái tinh túy của đạo Phật ban đầu thì chúng ta cũng được cái lợi là đạo Phật có phát triển. Bởi vì tùy theo mỗi thời đại thì hay có những vị đại sư, những vị luận sư, những vị tổ họ phát triển thêm để cho đạo Phật thích ứng được với thời đại. Ngày hôm nay chúng ta cũng vậy, chúng ta bước vào một cái kỷ nguyên mới của thế kỷ 21, nhiều cái điều trên thế giới thay đổi xảy ra làm cho chúng ta choáng ngợp và bỡ ngỡ, bàng hoàng.
[14:41]Nên đạo Phật cũng phải vậy, cũng phải phát triển để thích ứng với thời đại, phù hợp với thời đại và dẫn dắt được thời đại. Nên mình phải phát triển. Người ta tiến quá xa rồi mình cứ đứng một chỗ hoài thì mình không thể nào dẫn dắt người ta được. Mình nói vai trò của giáo pháp là để giáo hóa chúng sinh, cứu khổ ban vui, nhưng mình đi lạc hậu tuốt sau đâu, người ta coi thường mình thì lấy gì mình giáo hóa? Nên đạo Phật nếu không phát triển thì không dẫn dắt được thời đại. Vì vậy phải phát triển. Bây giờ, ví dụ như mình thử tưởng tượng là nếu trong cái thời đại ngày hôm nay mà mình giảng về đạo Phật
[15:18]với một cái giọng văn y như cách đây 2500 năm thì người ta nghe nổi không? Không nghe nổi. Vì vậy phải thay đổi là vậy đó, phải phát triển, phải đào sâu thêm. Đó là cái lợi của thời gian chúng ta có. Nhưng mà làm sao để mình biết được là mình học cái giáo lý là cái giáo lý đó là giáo lý phát triển có lợi hay là giáo lý đó là loại pha tạp, biến thái làm mất cái Chánh kiến của đạo Phật? Làm sao mình biết được? Bởi vì suốt mấy ngàn năm mình đón nhận là hôm nay là mình là nạn nhân của thời gian. Là bây giờ cả một cái bề dày của mấy ngàn năm như vậy mình đứng trước mình học, mình không thể biết được cái nào là đúng, cái nào là sai.
[15:54]Làm sao biết được? Mình chỉ là người sau thì người trước dạy gì mình nghe cái đó. Đâu biết chắc là người trước dạy đúng hay sai. Ngay cả giáo thọ mình dạy không biết đúng hay sai nữa. Mà nếu dạy sai thì coi như là toàn bộ những ngày mình sẽ hành trật hết. Nếu may mắn mình được người minh sư giáo thọ đúng thì mình đi đúng hết. Làm sao biết đúng hay sai? Không biết nổi, tại vì mình là người hậu sinh, mình là đàn em, chỉ trừ khi nào mình là một vị thánh tái lai, tuy còn tuổi nhỏ nhưng mà trí tuệ sắc bén thì ổng giáo thọ ổng đứng trên ổng nói đúng, sai biết dưới này ngồi biết liền. Nhưng mà trường hợp đó hiếm, trong lớp này có ai không
[16:34]thì giơ tay lên cho tôi nhường chỗ lên đây đứng. Thế còn không bình thường thì cứ giáo thọ nói sao mình cứ nghe như chân lý phải không? Nhưng sự thật không hẳn. Bởi vì cả ông giáo thọ đó ổng cũng là nạn nhân của một thời gian 2500 năm, ổng cũng đã bị đón nhận không biết bao nhiêu cái giáo lý mà đã bị biến thái pha tạp rồi. Tới mình là nạn nhân của ổng. Trừ trường hợp may ổng thoát ra được, ổng tìm ra được giáo lý chân chính thì mình là người cũng may mắn mình đón nhận. Thì trong đây có yếu tố là yếu tố may rủi ở trong đó. Nên cái việc mà mình đi học đạo không ngờ nó có yếu tố may rủi ở trong. May mình gặp được giáo lý đúng, rủi gặp giáo lý trật.
[17:11]Thì bây giờ làm sao giữa yếu tố may rủi này mình có cách nào mình can thiệp để cho mình được điều may thôi, là được giáo thọ tốt, chuẩn? Cách nào để mình can thiệp? Chỉ có một cách. Thầy Đức Hoàng có bữa nói hôm trước là lạy Phật nhiều phải không thầy Đức Hoàng, bữa thầy nói chưa? Đó. Chỉ có cách đó thôi. Cho nên khi mà mỗi ngày chúng ta chịu khó lạy Phật, chúng ta cầu nguyện Phật gia hộ là cho mình gặp được giáo thọ tốt, chân sư đúng để mình đón nhận được cái giáo lý tốt. Chỉ cầu nguyện thôi, Phật sẽ gia hộ cho mình được điều đó. Chứ ngoài ra mình không biết được, nhớ như vậy. Đó là cái giữa Chánh kiến với thiền.
[17:54]Bây giờ, chánh kiến với chánh tư duy. Bước đầu của việc tu tập thiền định là luôn luôn là việc thanh lọc nội tâm cho thuần thiện. Là trong tâm chúng ta có hai, hai loại tư tưởng, tạm chia như vậy, tạm chia là hai loại tư tưởng. Hai loại tư tưởng gì?
[18:13]Thiện và đừng có dùng chữ ác. Ác cái nghĩa của nó khủng khiếp hơn. Chứ mình chỉ dùng cái nghĩa là bất thiện thôi, bất thiện cái mức độ nó nhẹ hơn. Chứ thật ra mình đi tu thì mình cũng chẳng ác gì đâu, lâu lâu mình nghĩ bậy chút đỉnh thì nghĩ bậy nó là bất thiện. Tâm chúng ta có thiện và bất thiện. Thì chúng ta phải thanh lọc làm thế nào để cho từ từ cái tư tưởng bất thiện nó hết đi, chỉ còn lại tư tưởng, chỉ còn lại tư tưởng thiện mà thôi. Thì đó là bước thứ nhất. Bước thứ hai là khi mà tư tưởng thiện hoàn toàn rồi, chúng ta chỉ còn lo hai điều nữa là tâm tịnh hay động thôi. Thì bắt đầu đây là tới mức thiền rồi đó, ừ.
[18:47]Thì ở đây nè, không bao giờ trong tư tưởng mình còn tâm bất thiện mà có thể đạt được tâm thanh tịnh, nhớ như vậy, không bao giờ. Hễ là bất thiện thì luôn luôn làm cho tâm còn động, đó là cái cấu trúc của não. Đương nhiên, tại sao cấu trúc như vậy, thì đây là điều mà sau này dài dài chúng ta sẽ học tiếp. Chỉ có tâm thiện nó đưa cho tới tâm thanh tịnh mà thôi. Nên do đó, là đầu tiên mình thanh lọc cho tâm hoàn toàn không còn bất thiện nữa, chỉ thuần thiện, thì sau đó chỉ còn lo vấn đề tịnh hay động. Lúc mà mình bỏ cái động từ từ, bỏ động từ từ vào luôn thanh tịnh luôn. Cho nên khởi đầu của con đường
[19:23]định là chỗ chấm dứt của con đường thanh lọc tâm cho tới thuần thiện. Tức là chúng ta thanh lọc tâm cho tới thuần thiện đến cuối con đường đó thì cái định bắt đầu hiện ra. Nên vì vậy, thanh lọc tâm thiện và bất thiện này chính là bước đầu của thiền, mà đó là chánh tư duy. Cho nên đây là thực hành chứ không phải là học. Đó là lúc nào mình cũng xét nét cái tâm mình, khi một suy nghĩ khởi lên, mình biết đó là suy nghĩ thiện hay suy nghĩ bất thiện. Giống như có những vị mà hễ có suy nghĩ mà bất thiện khởi lên, họ lấy một hạt đậu đen họ bỏ vào trong hũ. Suy nghĩ thiện khởi lên, họ lấy một hạt đậu trắng họ bỏ vào trong hũ.
[20:00]Lâu ngày rồi cái từ từ cái đậu trắng nó nhiều hơn đậu đen, tức là tâm họ thuần thiện dần dần. Rồi về sau họ đắc đạo được cũng là đi cái con đường thanh lọc tâm này của chánh tư duy này. Khi mà thanh lọc tâm như vậy, thì nó có một cái điều là nó cực khổ chứ không phải sung sướng, mặc dầu nó chỉ là chuyện trong tâm thôi, nhưng mà rất là cực, là tại sao vậy? Tại vì có một cái điều thế này, là mình dám cho rằng cái suy nghĩ của mình là bất thiện. Đó, đó là cái khởi đầu của sự biết tu. Đa phần, khi chúng ta nghĩ điều gì thì chúng ta luôn luôn cho nó là đúng, phải không? Đúng. Ví dụ như là mình thấy có một người huynh đệ của mình
[20:38]hay tới lui với quý thầy giáo thọ, quý thầy trong ban giám hiệu nói chuyện thưa hỏi gì đó, rồi thấy mấy thầy ban giám hiệu có cảm tình. Cái mình mới bực trong bụng mình, mình mới nói: "Thứ gì không lo học, tối ngày lo nịnh." Cái bực nó khởi lên thì đó là thiện hay bất thiện? Bất thiện hay thiện? Bất thiện. Nhưng mà lúc đó mình có nghĩ nó bất thiện không? Không. Mà mình nghĩ mình nói đúng phải không? Mình nói cái huynh đó xấu, còn mình nghĩ là đúng. Đâu có ngờ rằng khi mình bực bội cái điều đó, mình đã rơi vào bất thiện mình không hay. Cho nên ở đây, trong cái chánh tư duy nó khó là khó cái đó.
[21:12]Khó là mình dám đánh giá cái suy nghĩ của mình là sai. Đây là bước đầu của sự can đảm, bước đầu của trí tuệ, đó, bước đầu của sự tu hành là chỗ mà dám biết mình sai, dám cho rằng mình sai. Thì nếu người nào trong suốt cuộc đời tu hành của mình mà rất nhiều lần biết mình sai, người đó là người tu giỏi, chỉ có nhiêu đó thôi. Tu là nhiêu đó đó, khởi đầu á, làm được không? Làm được không? Ráng ha, mình sẽ có những lúc là mình không nhận định được, nhưng rồi mình lạy Phật nhiều, theo như thầy Đức Hoàng dạy, mình lạy Phật nhiều, từ từ mình sẽ nhận định được. Bỗng nhiên bất ngờ vì mình phát hiện ra mình sai nhiều hơn lúc trước.
[21:51]Hồi trước mình nghĩ cái gì mình cũng cho là đúng, sau này nhờ công đức lạy Phật nhiều, mình phát hiện ra một điều là hết 80% những suy nghĩ mình là sai. Đó là bắt đầu đã biết tu chánh tư duy rồi đó. Và nhờ như vậy, cái tâm mình thiện dần dần mới đi vào thiền định được. Cho nên giữa chánh tư duy và thiền có quan hệ với nhau là như vậy.
[22:13]Ban đầu á, thường là mình chưa có công đức nhiều, mỗi khi mà có một cái suy nghĩ bất thiện khởi lên, mình nên niệm Phật sám hối. Ví dụ trong ngày mình có một cái thời gian lạy Phật sám hối là chính rồi, nhưng đôi khi trong cuộc sống của mình có những suy nghĩ bất thiện khởi lên, thì mình phải niệm Phật sám hối liền ngay lúc đó chứ đừng để trễ, để mình tiêu diệt cái mầm mống cái chủng tử của cái tâm niệm nó rớt vào trong tâm mình quá sâu. Mình niệm Phật mình sám hối thì nó được xóa bỏ loại cái ý nghĩ đó ra. Và đời tu như vậy là đẹp, được không? Nó tu như vậy nên là được rồi đó. Chưa cần đắc đạo, như vậy thôi đã là đạt rồi.
[22:46]Ai mà suốt ngày thấy mình sai được nhiều lần thì người đó là người tu giỏi, vậy thôi. Cái việc tu nói cho sâu xa, cuối cùng chỉ có cái là biết cái sai của mình thôi. Tự nhiên nó mất, khi biết cái sai rồi tự cái sai nó mất. Đó là cái nguyên tắc: biết sai rồi tự nó mất, hay như vậy. Bây giờ qua tới chánh ngữ. Giữa thiền và chánh ngữ liên quan như thế nào? Ngữ tức là lời nói phải không? Nhưng mà thực sự nó nhiều lắm, nó là tất cả những phương tiện để mình thông tin với người khác. Ví dụ mình không nói mà mình viết bức thư mình đưa qua, thì có phải ngữ không? Cũng là ngữ phải không? Rồi ví dụ như người câm, họ không nói được,
[23:22]rồi họ chỉ ra dấu thôi, dấu vậy đó, vậy đó. Đó là cũng là ngữ phải không? Hoặc là mình không nói gì với người ta hết, mình gặp mặt người ta mình bu như vầy nè, cũng là là ý mình muốn nói cái gì đó, và người ta hiểu không? Người ta hiểu, đó. Hiểu rồi thì người ta làm sao? Hoặc là người ta đâm đầu người ta chạy ra, hoặc là người ta đâm đầu người ta chạy vô tới luôn, thì mình sao? Mình cũng quay lưng mình chạy cho lẹ. Hoặc là như mấy cô vậy, không nói một rằng, đi ngang lườm một cái, thì đó phải ngữ không? Cũng nói một cái gì đó, phải không? Mà người kia họ mới hiểu, trong trường hợp đó mới hiểu họ lườm cái đó là nói cái gì:
[23:58]"Sao me của người ta mà đi giành lấy mất", ví dụ vậy. Còn cái chánh ngữ, "chánh" tức là đúng á, nhưng mà chánh ngữ với thiền như thế nào? Tức là thường cái người hành giả tu thiền á, trước khi nói ra một lời nào thì mình scan nó, mình quét nó qua một loạt cái tư tưởng đó trước khi nói, mình cân nhắc trên năm điều rồi hãy nói. Như vậy rất là chậm, nhưng mà lần lần nó sẽ nhanh. Mới đầu mới có Pentium thôi, tới chừng về sau mình mình tu tập chừng ba tháng trở lên nó thành Pentium 4 rồi là trước khi mình nói điều gì là mình đã suy nghĩ rất chín chắn. Như ông bà mình nói là trước khi nói phải uốn lưỡi bảy lần phải không?
[24:32]Cái thứ nhất á, mình cân nhắc là thế này: điều sắp được nói ra đúng hay sai với đạo lý? Thứ nhất. Thứ nhất là điều sắp nói ra đúng hay sai với đạo lý. Cái thứ hai là điều sắp được nói ra có nên nói hay không? Thứ ba là cái đối tượng mà mình nói có thích hợp để nghe cái điều này hay không? Thứ tư là mình nói điều này trong cái tâm trạng bình an hay là phiền não? Thứ năm là cái điều mà mình nói nếu nó lan ra nhiều người khác biết có hại gì hay không? Đó là năm điều mình cân nhắc. Trước khi nói một lời, phải cân nhắc năm điều này. Thấy mất thời gian không? Rất là mất thời gian. Nhưng mới ban đầu á vậy, mới đầu mình thấy nó chậm lắm,
[25:19]trước khi nói mình ngập ngừng ngập ngừng, thấy giống mình điềm đạm ngập ngừng nhưng mà sự thật mình đang cân nhắc để quyết định công bố hay không. Nói ví dụ như là nói cái câu đơn giản thế này. Ví dụ mình nói là ví dụ mình gặp một người huynh đệ, họ mới đi đâu về, mình mới định nói cái câu thế này: "Là huynh về trễ, nhưng mà dưới bếp còn cơm nguội, thôi huynh xuống dưới đó ăn đỡ." Cái câu nói đó có đúng đạo lý không? Có sai với đạo lý gì không? Có không? Không, sai gì đâu. Tại huynh đệ mình về trễ bữa cơm, phải không? Thì mình nói một câu rất là thân tình, thì câu là: "À thôi huynh về trễ rồi, giờ nhưng mà dưới bếp biết còn cơm nguội,
[25:57]huynh xuống dưới đó ăn đỡ đói." Thì câu đó là không có gì sai đạo lý hết. Như vậy là cái câu duyệt thứ nhất là qua. Rồi bắt đầu cái ý thứ hai, là điều sắp nói ra như vậy có nên nói hay không? Nên nói hay không, là ví dụ như trong lúc đó, cái người huynh đệ mình đi về có đi thêm có một người khách đứng gần đó nữa, có một người cư sĩ mới tới đứng gần đó nữa. Ví dụ họ đi theo, họ cũng đói bụng, mình nói cái câu là xuống bếp mà kiếm cơm nguội ăn như vậy thì mình thấy coi chừng người khách người ta làm sao? Người ta lại nghĩ khác, người ta nghĩ là mình coi thường khách. Cho nên cái câu đó coi chừng lại không nên nói, phải không?
[26:29]Nếu mà lúc đó mà có người huynh đệ thân tình trong chùa không á, thì câu đó nói được. Nhưng mà có người khách nữa, họ hiểu lầm thì câu đó lúc đó không nên nói, là cái câu thứ hai vậy đó. Chừng nào không có người đó trong chùa mới được câu thứ hai. Cái thứ ba là cái người nghe này có thích hợp để nghe điều đó hay không? Ví dụ như cái người huynh đệ mình á, mình nói câu đó thì rất là bình thường, thân tình. Nhưng mà coi chừng cái ông huynh đệ này nào giờ ổng hay khó tánh, ổng bắt lẹ, bắt lý, cái gì ổng cũng cự được hết, thì cái câu mà mình nói như vậy coi chừng ổng cự à. Ông này ổng lại không thích hợp nghe cái câu thân tình đó, phải không?
[26:59]Mà chỉ thích hợp nghe câu này, nói: "Huynh về trễ, dưới đó còn cơm nguội chắc không thích hợp, thôi huynh nhịn tới chiều ăn." Có khi ông này ổng nghe câu đó ổng lại hợp tai hơn. Còn cái câu mình kêu ổng xuống ăn cơm nguội, coi chừng ổng sùng sùng ổng đùng đùng ổng nổi giận. À, kêu ổng nhịn luôn tới chiều ăn cơm nóng đàng hoàng, có khi ổng lại khoái. Cho nên tùy, có khi cái người họ như vậy, mình phải xét cái người nghe hay không. Rồi cái điều thứ tư, là mình nói ra điều đó trong tâm trạng bình an hay phiền não nữa. Ví dụ mình nói câu đó là lúc mà mình đang thương, mình đang bình an, hay là mình đang nói trong bực,
[27:26]cái người đi đâu đi công chuyện cứ về trễ hoài, bắt người ta chờ cơm hoài, giờ hết cơm giờ khó chịu ghê ha. Ví dụ lúc đó mình đang phiền não thì câu đó nên nói không? Không, phải sửa cái tâm mình lại rồi hãy nói. Đó là cái yếu tố thứ tư phải duyệt, phải xét trước. Và cái thứ năm là cái điều này mình nói ra nó lan ra nhiều người khác nghe có hại hay không? Ví dụ người tu đi về trễ, mình mời ăn cơm nguội, ví dụ cư sĩ họ nghe câu đó họ có khó chịu không? Hay họ thương chùa hơn? Hoặc nữa họ đem họ cúng chùa nhiều hơn, ví dụ vậy, có hại không? Mình phải cân nhắc cái điều này mình nói rồi người khác đồn qua tới
[27:56]tai khác, đồn qua tới tai người khác có hại hay không hãy nói. Tại vì trên đời không có điều gì mà giấu kín được hết trơn, nhớ điều đó. Không có điều gì giấu kín được hết, nhớ. Giờ người ta không biết, 100 năm sau người ta cũng biết. Chết rồi, 300 năm sau người ta moi ra người ta cũng biết được sự thật. Như vậy, cho nên trên đời không có gì giấu được. Và mình nghĩ rằng cái ngày kia mà mọi người biết chuyện đó thì nó có hại gì hay không, vậy thôi. Rồi hãy nói. Như vậy là khi mà xét qua năm điều đó thì mình uốn lưỡi mấy lần tất cả? Mấy lần? Bảy lần bảy 49 lần lận, chứ không phải bảy lần đủ đâu. Mà đó là mình mới nói một câu nói thôi đó, mà người tu thiền á chỉ nói một câu ngữ
[28:33]thôi, để cho được chánh ngữ là mình phải xét tới năm điều, qua năm bước như vậy. Đó là đơn giản vô cùng, nhưng mà khi quý thầy lớn lên một chút xíu, mình có cái trách nhiệm, ví dụ mình được phân công làm trưởng lớp, phó lớp, hoặc là mình phải tri sự trong chùa, giáo thọ trong chùa hay trụ trì chùa, hoặc là làm trong ban đại diện, ban trị sự của giáo hội thì cái lời nói sắp được công bố không có đơn giản là chỉ qua năm bước này nữa, còn phức tạp hơn nhiều. Làm sao bảo đảm ví dụ mình công bố một điều gì đó để thực hiện là bảo đảm kết quả mấy năm sau điều đó phải tốt đẹp, còn không là mất uy tín, vừa là tai hại cho đạo mà vừa uy tín mình
[29:07]mất luôn, sau này nói người ta không nghe, không làm việc được. Nhưng vì vậy là trước khi nói một điều gì, cân nhắc rất kỹ, lường trước được hậu quả xảy ra như thế nào hết, và cái trí tuệ của người làm lớn là phải sắc, nên do đó là không phải là ai cũng làm lớn được, nhớ như vậy. Nhiều khi là do quen, do thân thế rồi người này người kia đưa lên làm chức lớn, nhưng mà như không đủ trí tuệ, nhận định một điều không xa, nói một điều sơ hở tùm lum, người đó không có tư cách lãnh đạo. Cái người có tư cách lãnh đạo là cái người nhìn vấn đề thật xa, ngồi đây một năm chứ biết trước chuyện 10 năm tới. Mở miệng nói một câu, biết trước cái ảnh hưởng là ba
[29:40]năm tới nó sẽ chuyện gì xảy ra sau câu nói này. Mấy người đó mới lãnh đạo được. Cái trí tuệ phải sắc như vậy, mà đó cũng là một trong cái chánh ngữ. Bây giờ thì mình chưa phải là người lãnh đạo, nhưng mình tập trong cái chánh ngữ trong thiền là sao? Là sự điềm đạm. Trước khi muốn nói một điều nào, duyệt qua năm điều này hãy nói, cân nhắc trước. Dễ làm không? Dễ làm, không khó. Cái này là dễ tập hơn là chánh tư duy, nhưng mà phải siêng. Cái này nó không khó mà đòi hỏi phải siêng. Chánh tư duy, đánh giá mình sai đó, cái đó mới khó, cho cái ý nghĩ mình là bất thiện là sai, cái đó mới khó; còn cái chánh ngữ mà duyệt qua năm cái bước đó,
[30:15]nó không khó lắm, nhưng mà mình chịu cực một chút. Chừng ba tháng sau thôi là bắt đầu mình thành con người điềm đạm rồi. Ba tháng trước mình thấy con người mình còn lốc chốc, bộc chộp, nhưng mà mình tu cái chánh ngữ, duyệt một lời nói qua năm bước này, chỉ cần qua ba tháng sau, gặp lại con người đó khác liền, bắt đầu nói năng chững chạc, điềm đạm. Bởi vì trước khi nói một điều gì, cân nhắc rất kỹ. Được không? Như vậy bắt đầu là thiền, đó, chánh ngữ với thiền là như vậy. Giờ tới chánh nghiệp. Chánh nghiệp nghĩa là gì? Ai biết? Chánh nghiệp nghĩa là... nghĩa là làm phước á, chứ không gì hết trơn á.
[30:52]Chánh nghiệp nghĩa là làm phước, gây tạo công đức. Trong cái công phu thiền định á, có một cái yếu tố này rất là lạ là cái phương pháp tu á, nó lại chỉ là một phần phụ, mà cái phước ngấm ngầm ở phía sau á mới là cái phần chính giúp đỡ cho mình vào trong định. Khi mình nhiếp được tâm á, lại là do phước chứ còn cái phương pháp, cái kỹ thuật dụng công chỉ là một phần phụ thôi. Cái người mà có phước dày, có phước nhiều thì dễ vào định hơn là người ít phước. Mà tại sao vậy? Bởi vì cái công thức của nó như thế này: khi chúng ta làm phước, nghĩa là chúng ta làm cho mọi người được an... an vui. Khi mọi người an vui đó, thì chúng ta được cái quả, quả gì?
[31:37]Tâm chúng ta cũng an, an vui, đúng không? Ví dụ người đó đang khổ, đang đói đi, mình nói cái người đó, cái gia đình của hai vợ chồng đó với ba đứa con, chiều nay không có gạo ăn, chiều nay không còn gì ăn, không mượn đâu được nữa, không xin đâu được nữa thì từ lúc đó cho tới lúc chiều mà không có ăn á, cái tâm họ như thế nào? Cực kỳ sao? Lo lắng, bất an, xáo trộn phải không? Căng thẳng ghê gớm lắm. Nếu có ai đó đem đến cho họ 10 ký gạo thì cái bất an đó làm sao? Tạm thời biến mất, tạm thời biến mất. Như vậy là họ an là an cái đó đó, vui là vui cái đó. Qua hai, ba bữa nữa hết gạo thì tính sau, nhưng mà tạm thời là ngay đó cho 10 ký gạo là họ được an vui cái đã.
[32:14]Nên làm phước tức là làm cho người khác được an vui, mình hiểu hiểu như vậy. Định nghĩa làm phước là gì? Trả lời liền: Làm cho người được an vui. Mà tại sao người ta không an vui? Vì nhiều lý do, phải không? Mình không có phân tích, hôm nay mình không phân tích, nhưng đại khái làm phước là làm cho người ta an vui, nên tâm mình được quả báo an vui. Mà nếu mình tích lũy cái quả an vui này thật dày suốt cả đời thì bắt đầu nó mới thành tựu được cái định. Định là cái lõi, là cái tủy của sự an vui mà được kết tinh dày đặc. Cho nên để được cái định là chúng ta phải tích lũy cái quả an vui này thật dày,
[32:50]mà để tích lũy cái quả an vui này thật dày thì chúng ta phải làm phước làm sao? Thật là... thật là nhiều, không có thời gian, không có hạn lượng. Tức là mình hiểu được điều này rồi, suốt cuộc đời còn lại, từ đây cho tới ngày chết, không có một lúc nào mà trong tâm niệm mình quên cái việc làm phước, quên cái việc mà đem điều an vui đến cho mọi người. Bây giờ mình còn ở trong chúng thì trước mắt mình là những huynh đệ chung quanh mình, mình phải thương yêu, mình phải giúp đỡ, mình phải lo lắng, hỗ trợ cho huynh đệ mình tu giỏi hơn mình, học giỏi hơn mình. Đó là cái làm phước trong chúng. Mà người nào được như vậy rồi,
[33:24]sau này lớn lên bước ra khỏi cái trường này, mình đến môi trường nào khác, mình lại tiếp tục đem niềm vui, đem an vui, mình lại hỗ trợ nhiều người khác nữa, hy sinh cả cuộc đời mình như vậy, chứ không còn bao giờ mà tính toán lợi ích cho cá nhân mình nữa. Là từ ngày hôm nay, cuộc sống của mình là thuộc về Phật pháp, thuộc về chúng sinh. Làm ra một điều gì đều vì chúng sinh, vì Phật pháp mà làm, đều luôn luôn biến thành công đức, đều luôn luôn biến thành cái niềm vui cho người khác. Đó là làm phước suốt cả đời như vậy. Nhưng cái quan trọng gần gũi lại đây là phải tập từ bây giờ. Giờ đang sống với nhau trong một ngôi chùa, trong một cái ngôi trường Phật học
[33:58]này là phải hỗ trợ cho huynh đệ mình, có đời sống thoải mái, mình giúp gì được giúp, giúp cho huynh đệ mình tu giỏi hơn mình, học giỏi hơn mình. Tôi nhắc lại, cái điều này là thầy Đức Hoàng sẽ dạy kỹ trong cái bài đố kỵ. Đây tôi nói sơ sơ một chút thôi. Là khi mà chúng ta muốn giỏi hơn người khác thì chúng ta có cái tâm gọi là tâm ác, tâm đó thành ác chứ không phải bất thiện nữa, tâm rất là ác. Và mình sẽ ganh tỵ với cái người nào mà có vẻ giỏi, mình sẽ ganh tỵ. Và khi mình ganh tỵ như vậy, mình sẽ chỉ trích, à mình công kích, mình mưu hại ngầm người ta. Mà nếu trong đạo Phật cứ như vậy với nhau thì đạo Phật sẽ sao?
[34:36]Sẽ chia rẽ, không còn hòa hợp, suy yếu, là như vậy. Cho nên vì vậy, muốn cho đạo Phật suy yếu thì chỉ có một cái thế lực ngoại đạo nào đó họ chen vào trong và họ cứ xúi cho quý thầy chống lẫn nhau, người này nói xấu người kia, người kia nói xấu người nọ, hòa thượng này công kích hòa thượng kia, hòa thượng kia công kích thượng tọa nọ thì cuối cùng đạo Phật sẽ... sẽ suy yếu. Nhưng nếu chúng ta đi vào trong cái thế giới của đạo Phật mà chúng ta nghe nhiều cái lời chê thì chúng ta phải biết rằng đạo Phật đang... đang suy. Nếu chúng ta đi vào thế giới đạo Phật mà chúng ta nghe nhiều cái lời tán thán lẫn nhau thì chúng ta biết rằng đạo Phật đang...
[35:14]đang hưng thịnh. Và chúng ta không được phép làm một tội đồ của Phật giáo là làm cho đạo Phật suy yếu. Chúng ta chỉ được phép làm một viên gạch để xây dựng cái đạo Phật mạnh lên. Mà muốn cho làm một viên gạch để xây dựng đạo Phật mạnh lên thì tâm mình phải làm sao? Phải không có cái đố kỵ. Mà muốn không có đố kỵ thì trong tâm mình phải có một cái tâm chân thành, tha thiết rằng là mong cho huynh đệ mình tu giỏi hơn mình, học giỏi hơn mình từ bây giờ, từ bây giờ. Nên mỗi ngày quý thầy lễ Phật, hãy nhớ cầu nguyện với Phật một cách hết sức chân thành: Xin Tam Bảo gia hộ cho các huynh đệ của con tu giỏi hơn con, học giỏi hơn con, thành công hơn con.
[35:58]Là như vậy quý thầy biến thành một viên gạch, tương lai là người xây dựng Phật pháp, biến thành con người đó liền. Được không? Dễ không? Làm được không? Được, chỉ là một lời cầu nguyện thôi, chân thành thôi là mình đã thành con người khác. Ừ, còn nếu quên cái lời nguyện này, mai mốt có ai giỏi hơn mình, ganh tỵ một chút thôi, mình là không biến thành viên gạch nữa mà biến thành cái gì? Một con mối ăn mục cái nhà của Phật. Như vậy. Mà cái tích lũy á phước á từ trong huynh đệ cho tới sau này mình đi lo Phật pháp mênh mông khắp nơi, mình đi gieo rắc Phật pháp nơi này nơi kia, mình đặt bước chân đến nơi này nơi kia để mang ánh sáng Phật pháp đến cho mọi
[36:38]người, suốt cả đời còn lại tất cả bắt nguồn từ cái chùa Thiên Khánh này. Là lúc mình tập sống thương yêu với nhau, mình nhìn những huynh đệ của mình trong chùa như ruột như thịt. Tôi nói câu này tôi không có nói cường điệu. Chừng nào quý thầy sống với nhau mà thương nhau như ruột thịt hoặc hơn ruột thịt, lúc đó quý thầy mới hiểu thế nào là... là tu hành, thế nào là tình đạo. Còn sống với nhau như những người bạn thì quý thầy chưa hiểu đạo Phật, chưa hiểu đạo Phật. Nó giống như một cái trường thế gian thôi, là mọi người câu hội về rồi trung học ngày nào đó là tốt nghiệp, giải tán mỗi người đi mỗi nơi,
[37:12]lâu lâu liên lạc với nhau chút đỉnh, như một cái trường đời thì đó không phải đạo Phật. Đạo Phật là ngày hôm nay gặp nhau rồi, suốt đời còn lại như tình ruột thịt, không bao giờ phai nhòa, mới là đạo Phật. Tôi nói tôi không định nghĩa sâu, có lẽ sau này những cái chỗ này thì thầy Đức Hoàng sẽ phân tích kỹ hơn. Nhưng mà đây tôi nói trước một chút xíu vậy thôi. Giờ qua tới chánh mạng, thiền và chánh mạng. Chánh mạng là gì? Chánh mạng là gì? Chánh mạng là gì? Chánh mạng là một cái nghề để sống á, cái sinh kế đó, tức là một cái nghề. Thì à khi mà nói về chánh mạng trong giáo lý đạo Phật thì chúng ta chia ra làm hai hạng người:
[37:55]một hạng người cư sĩ là với vô số nghề nghiệp để làm, và hạng người tu sĩ thì cái nghề bị thu hẹp rất là ít. Trong cái nghề cư sĩ đó, có nghề mà người ta phải làm á nó có ba cái loại nghề, ba loại nghề: là có loại nghề là càng làm càng có phước, trong cái nghề đó đã có cái thiện trong đó, cứ đi làm việc một cách chăm chỉ là phước càng ngày càng lớn, không cần thắc mắc. Ví dụ như người thầy giáo mà dạy học có dạy đạo đức, à ví dụ như người làm à trong bệnh viện phục vụ thì cứ lo cho bệnh nhân, à rồi vân vân, rất nhiều nghề nghiệp; một người công chức lo cho dân, không có tham nhũng, hối lộ thì cứ làm vậy là là cái phước càng ngày càng tích
[38:36]lũy suốt một đời rất là lớn, không có thắc mắc. Đó, nghĩa là cái nghề đó tự đem tới cái phước. Có những cái nghề mà nó không đem lại phước mà phải lo làm phước thêm, ví dụ như cái nghề nữ trang, kim hoàn, vàng bạc, cái nghề đó không có phước, mà thường là phải làm phước khác để tạo lại. Cho nên có một lần chúng tôi gặp mấy cái người mà họ làm nghề buôn bán đá quý, vàng, tôi nói thế này: Tôi nói cái nghề này nó không có tạo ra phước thì các anh chị ráng mà phải tạo phước cho nhiều, tại vì nếu mà không tạo phước thì một lúc nào đó tự nhiên bỏ nghề đó, không làm được nữa, tại nghề đó không có tạo ra phước.
[39:14]Có nhiều nghề không tạo ra phước lắm. Rồi có cái nghề càng làm thì càng mang tội. Ví dụ nghề gì? Hả? gì? Mổ heo. À đó, cũng là một cái nghề đúng rồi, nó sát sanh, càng làm càng có tội. Ai ăn ngon miệng đâu không biết, chứ là cái người giết heo cứ mang tội. Đấy. Rồi nghề gì nữa? Buôn bán ma túy. Ừ. Thì cũng được. Có nghề nhiều khi luật pháp cho phép á mà vẫn mang tội. Đôi khi vẫn cho phép ví dụ vậy, nhiều trường hợp. Thôi mình không có bàn chi, không có thời gian. Đại khái là như vậy. Còn người tu sĩ, cái nghề của người tu sĩ là làm gì ra tiền để sống? Nghề gì? Tụng kinh. A, cái sáng kiến mới này nha, tụng kinh.
[40:00]Tụng kinh mà văng ra tiền cũng hay đấy chứ, chơi sao? Như vậy là như tôi là đói đó, tôi không có tụng kinh được. Tôi tụng kinh người ta chạy dài hết trơn à. Nghề gì? Nghề thầy tu mình là nghề gì là chính? Hoằng pháp hả? Hoằng pháp sao ra tiền? Bán nhang. Hay.
[40:25]Sự thực là thế này, cái nghề chính của người thầy tu mình là đi ăn xin. Nhớ không? Thời Đức Phật á, khất sĩ đó, khất thực á, là mình cứ ôm bình bát tới nhà người ta. Nhưng mà trong thời đại bây giờ thì Giáo hội không có khuyến khích việc đó nữa. Bởi vì sao? Bởi vì có nhiều người giả tu sĩ cũng đi xin, nó làm cho cái hình ảnh nó không có đẹp nữa nên Giáo hội ra lệnh là yêu cầu đừng đi khất thực nữa để ai đi khất thực biết ngay là là giả liền. Như vậy. Mà vì sao là Giáo hội dám ra cái lệnh là không cho đi khất thực nữa? Bởi vì ngày nay đạo tâm của người cư sĩ rất là lớn, họ không đợi quý thầy tới xin nữa mà họ mang tới chùa họ họ cúng luôn.
[41:00]Cho nên nhờ cái thuận lợi của thời đại là đạo tâm của cư sĩ lớn cho nên mình bỏ nghề luôn. Tuy là bỏ nghề thế nhưng đại khái là cũng có xin ăn chứ không phải không, cũng có khuyến hóa vân vân vậy. Nhưng tuy nhiên cái nghề xin ăn của người thầy tu mình thì mình hơi chảnh một chút. Là người ta đi xin người ta năn nỉ, còn mình đi xin mà không thèm năn nỉ, cho không cho không cần. Chảnh thầy tu là vậy đó. Rồi sau này thì còn có những cái nghề khác, ví dụ như là mở phòng phát hành kinh sách, hay là bán tương, hoặc như thầy nãy nói bán nhang, may quần áo đạo, cái gì nữa ta, tôi không rành. Các bạn nghĩ ra cái gì nữa không?
[41:37]Nó đại khái là như vậy, nó đại khái là những cái nghề. Nhưng mà nghề chính mình vẫn là là nhận cái sự giúp đỡ cúng dường của người người cư sĩ, là như vậy. Tuy nhiên nó có một cái, có cái hệ quả này chúng ta phải để ý, là cái liên quan giữa cái Thiền với cái Chánh mạng ở đây. Liên quan với nhau thế này: là khi người cư sĩ họ cúng dường cho mình á thì họ lấy hết 50% công đức tu của mình. À nhân quả vậy biết làm sao giờ? Bây giờ tôi không biết là mình tu được cái công đức nó tính bằng cái đơn vị gì, tôi tạm cho là điểm. Ví dụ như năm nay mình tu hành được 50 điểm thì cái người mà cúng cho mình ăn họ lấy hết bao nhiêu?
[42:14]25 điểm. Đó. Nhưng mà phải tới 2 triệu điểm á mình mới đắc đạo được, 2 triệu điểm mình mới đắc đạo. Cho nên họ lấy mình còn 25 điểm thì mình tu tới chừng nào nữa? Một năm mà có được 50 điểm. Nếu có người đó họ tinh tấn, họ tinh tấn, họ tu năm đó là được 2.000 điểm thì cái người cư sĩ lấy hết nhiêu? 1.000 điểm. À. Thì còn lại 1.000 thì tích lũy nó hơi nhanh hơn một chút, đó. Và cái vấn đề khi mình hiểu được điều này thì mình phải làm sao? Phải tu cho có chất lượng, phải không? Để được điểm công đức, tính ra điểm công đức là cái loại điểm trừu tượng mơ hồ mình nói với nhau cho vui thôi chứ không có đo được
[42:52]cụ thể, nghĩa là làm sao mình được nhiều điểm công đức để mình trả cho người cư sĩ, người thí chủ phân nửa công đức đó. À. Và phân nửa còn lại mình tích lũy cho bản thân mình để đủ 2 triệu điểm mà có thể có một cái quả chứng nó xảy tới, nó có cái kết quả nó xảy ra trong tâm mình, là như vậy. Còn nếu cái người cư sĩ mà cúng dường nhằm cái người mà họ tu không có điểm nào thì sao? Thì họ lấy lại bằng cái gì? Ví dụ nhằm cái ông có 50 điểm mình lấy đỡ ghiền 25 điểm thôi cũng đỡ khổ. Còn nghèo không có điểm nào thì sao? Cái vay trả nó khủng khiếp lắm, không có đơn giản như quý thầy nói là gửi trả ngân hàng không có đâu.
[43:32]Phải trả lại và trả quyết liệt. Nó như thế này, nói rồi quý thầy mới thấy sợ. Ví dụ khi người cư sĩ họ đem tiền họ cúng dường cho một cái người tu sĩ đó thì khi mà cúng như vậy là thương hay ghét thấy ông thầy đó? Thương. Phải thương mới cúng, phải không? Nhưng mà ổng tu riết không ra được cái điểm nào. Như vậy là cái tư cách ổng có không? Thì từ từ người cư sĩ này còn thương không? Không. Bắt đầu ghét từ từ. Thế là 5 năm trước cúng ổng là quỳ xuống mà cúng, 5 năm sau gặp mặt ổng bực, tại vì ổng không chịu tu. Mà có nghĩa là mỗi năm không có chia được cái điểm công đức nào hết. Cái bực đó nó mang qua tới kiếp sau.
[44:10]Kiếp sau hai người gặp lại nhau thì cái người tu sĩ đó đang ở trong cái thân phận nghèo đói, rách rưới; cái người cư sĩ đó vì hay làm phước á nên trong thân phận người làm chủ thuê cái người làm công đó vô nhà mình làm và cái người đó phải làm quần quật trả nợ, mà nhiều khi bị cái người chủ la mắng. Bởi vì cái bực của kiếp trước nó còn nên nhiều khi nạt, ghét, bực: "Cái thằng đó làm ăn không nên!" mà đâu biết rằng kiếp trước đã từng quỳ đảnh lễ người đó, kiếp sau là nạt người đó không ra gì hết. Cho nên phải đi làm công trả nợ lại. Tại bây giờ không còn ai thuê bò để cày cho nên không cần đọa làm bò
[44:43]mà chỉ trở lại làm người làm công thê thảm hơn con bò, nhục nhã hơn con bò. Hiểu điều này thì chúng ta thấy trong cái phần mà sinh sống á, chúng ta sống nhờ vả người cúng dường của cư sĩ cái nợ đó không có nhẹ, không nhẹ. Tu lơ mơ chết, trả chết luôn. Cho nên để mình sống một đời xứng đáng thì mình phải tu làm sao được nhiều điểm công đức trong một năm, tu cho có chất lượng: từ trong ý nghĩ, lời nói, hành động. Những lúc mình âm thầm lạy Phật, những lúc mình âm thầm tọa thiền là những lúc đó mình tăng được cái điểm chất lượng công đức lên để có mà trả cho thí chủ. Cho nên cái người thí chủ á có những cái người đó nhiều khi họ không
[45:20]có tu gì được nhiều, họ cứ ráng làm rồi họ cúng dường, ráng làm cúng dường á, cuối đời họ tự nhiên cái điểm công đức họ rất là nhiều. Như thế họ rất dễ đắc đạo là vậy, chỉ có hạnh cúng dường thôi mà lại rất dễ đắc đạo vì họ lấy hết chỗ này 50% công đức, lấy hết chỗ kia 50% công đức, lấy hết. Cho nên nhiều người cúng dường nhiều lại sau này họ lại dễ tu. Còn quý thầy nhiều khi mình không giúp được ai mà tu không nên thân mà nợ thì cứ chồng chất rất là nguy hiểm. Cho nên vì vậy mình phải tu có cái chất lượng thế nào đó. Cho nên khi mình hưởng cái sự cúng dường người khác rồi vẫn còn cái phước thì Thiền mới tăng trưởng, Thiền mới tăng trưởng được.
[45:55]Nếu mà công đức bị người ta lấy hết rồi thì Thiền nó không tăng trưởng được vì mình đâu có làm gì ra tiền. Như quý thầy từ lúc mà đặt chân qua Kim Khánh mấy tháng nay vậy có làm ra được đồng nào không? Hay toàn là mình ăn thôi, phải không? Cho nên để đền lại cái đó cho thí chủ ráng tu cái có chất lượng. Đừng có dễ vui qua ngày tháng, đừng đùa đừng giỡn nhiều, đừng nói bậy nghĩ bậy nhiều, nhớ như vậy. Lúc nào tâm phải tinh ròng, sạch sẽ, thanh tịnh, không đùa không giỡn không nói bậy chuyện thế gian, nghiêm khắc cái điều đó. Mà huynh đệ mình có người như vậy phải nhắc liền để cho tất cả là một cái đại chúng thật sự tinh tấn tu hành.
[46:33]Tu hành chân chính xứng đáng với cái sự tin tưởng cúng dường của thí chủ. Nhớ như vậy. Bây giờ mới tới Chánh tinh tấn. Tinh tấn nghĩa là gì? Tinh tấn nghĩa là gì? Siêng năng, là ý chí, là quyết tâm, là nỗ lực, phải không? Tinh tấn là như vậy. Nhưng mà có cái chữ "chánh" tức là phải đúng, không được tinh tấn trật. Tại vì sao trước khi vào Thiền thì Phật dặn cái Chánh tinh tấn? Vì sao vậy? Bởi vì tu Thiền rất là? Cực khổ, đúng. Mà cực khổ nói chưa hết, phải dùng cái chữ "gian khổ". Hôm giờ quý thầy ngồi thiền thấy có khổ không? Có không? Đau khổ vô cùng. Cho nên bởi vậy, mà tại sao tôi biết quý thầy ngồi thiền cực khổ?
[47:20]Bởi vì khi thấy tôi bước vào để dạy cái môn này tôi thấy mặt ai cũng méo xẹo hết. Là biết hôm giờ quý thầy ngồi thiền cực khổ. Đi ngồi thiền cực khổ lắm. Tuy mình quen ngồi nhúc nhích qua lại nó dễ chịu, bắt ngồi không nhúc nhích, không ngờ đó là một sự ràng buộc. Chừng nào mình vào định á mình mới thấy cái thân bất động á là một cái điều hạnh phúc. Không ai muốn nhúc nhích nữa hết. Khi mà vào được định rồi không muốn nhúc nhích cái thân mình. Nhưng mà hiện thời tâm chưa vào định á mà ngồi bắt không nhúc nhích, khó chịu vô cùng. Rồi nó đau, nó tê, rồi đủ thứ chuyện hết. Ngồi thì mắt nhìn xuống một điểm, rồi chiến đấu với nội tâm
[47:52]mình nó vọng tưởng như là sóng dồn, cực khổ ghê lắm. Thì nếu không có một ý chí phi thường hầu như ai cũng bỏ cuộc. Đó là lý do tại sao mà xa Phật từ từ không còn người tu Thiền nhiều nữa, là như vậy. Bởi vì không có huân được cái Chánh tinh tấn này, không có quyết tâm phi thường này. Cho nên lần lần xa Phật rồi bỏ Thiền hết. Nhưng ngày hôm nay đã tới lúc chúng ta phải phục hồi lại đạo Phật, phát triển đạo Phật, làm đạo Phật hưng thịnh lại thì phải phục hồi Thiền trở lại. Mà trong cái phục hồi Thiền trở lại đó thì chúng ta phải chuẩn bị bằng cái Chánh tinh tấn, quyết tâm phi thường, gian khổ nào cũng phải vượt qua hết.
[48:28]Mà đánh giá cái thiện căn tu hành của chúng ta ở chỗ mình quyết tâm vượt qua gian khổ để mà tu Thiền đó. Trong cái công phu thiền định, nhiều vấn đề cực kỳ khó khăn, phức tạp, tỉ mỉ, rắc rối. Nếu mà chúng ta không quyết tâm, từ từ mình bỏ hết trơn.
[48:49]Mà nếu không có thiền thì mình không bao giờ hóa giải được bản ngã để giải thoát, nên phải tu thiền thôi. Mà trước khi vào tu thiền phải biết là phải chuẩn bị cái quyết tâm rất là cao. Quyết tâm ngất trời, nhiều khi phải nghĩ là chấp nhận có khi bỏ thân mạng này, có khi chết, nhưng không bao giờ bỏ thiền. Người nào phải có cái suy nghĩ đó đó, thì mới bắt đầu từ từ có Chánh Tinh Tấn. Nhớ, thà thân mạng này bỏ, chứ không bao giờ bỏ cái công phu tu tập thiền định, nhớ như vậy. Tuy nhiên, Chánh Tinh Tấn kiềm chế không cho chúng ta liều mạng. Tinh tấn khác với liều mạng. Tinh tấn khác với liều mạng là làm sao?
[49:25]Là ví dụ thế này: ví dụ khi một người ngồi thiền, ngồi một lát bắt đầu chân từ từ nó tê. Hết tê rồi từ từ nó tới tới đau, tới đau. Mà có người đó từ từ nó hết đau, nhưng có người cái đau nó càng lúc càng khủng khiếp, càng khốc liệt. Rồi nói là vì mình tinh tấn nên quyết tâm ngồi chịu đau không bao giờ xả, thì như vậy là liều mạng, nó không phải là Chánh Tinh Tấn. Vì sao vậy? Vì khi đau như vậy đó, là cái người mình nó sử dụng năng lượng để nó chịu cơn đau đó. Cho nên khi mình chịu đau cái năng lượng nó hết dần, cạn dần cạn dần, thì cơ thể mình nó sẽ suy dần dần suy dần dần. Đồng thời chịu đau mà không có cái định,
[50:03]thì cái ý chí nó cứ tăng dần và nó kích thích bản ngã tăng theo. Cho nên cái người thấy tinh tấn nhưng mà rồi bản ngã tăng dần dần, xả thiền ra ai đụng tới là chửi liền. Cái nóng nảy, nó bực bội là do bản ngã nó tăng, là do tinh tấn quá mức biến thành liều mạng. Cho nên chỗ này, cái tinh tấn nó phải được điều chỉnh là khi mình ngồi thiền chịu tê, chịu đau tới mức độ nào đó mình thấy thích hợp là xả thiền, không được ráng thêm. Có lúc mình vượt qua luôn, khi mình cảm nhận được; còn có lúc thì dừng lại ngang đó vừa mức thôi. Cho nên gọi là Chánh là vậy đó, chứ không phải Tà. Tà tinh tấn là liều mạng đi luôn,
[50:36]chết không chết ráng chịu, rồi cuối cùng hư cuộc đời tu luôn. Nhưng mà Chánh Tinh Tấn là biết dừng lại đúng lúc. Cho nên cũng giống như thời gian đầu tu hành không được phép mà thức nhiều ít ngủ, phải quý giấc ngủ. Chứ không nói à tôi tinh tấn tôi ít ngủ, đó là một điều sai lầm. Cho nên có một cái chuyện mà tôi hối hận, tôi hối hận hồi tôi còn ở trong chúng. Chuyện này thì không thể kể ra tỉ mỉ được hết, nếu kể ra tỉ mỉ được hết thì quý thầy mới thấy cái nhân quả của nó. Nhưng mà tuy nhiên là tôi không thể kể ra hết được vì có nhiều cái tế nhị. Tuy nhiên tôi cũng là một người mà góp phần làm giảm bớt cái giờ ngủ
[51:12]của đại chúng, để làm cho đại chúng thức hơn để tu nhiều hơn. Mà tôi nghĩ đó là tốt cho đại chúng, tôi nghĩ rằng như vậy là tốt cho đại chúng. Mà không ngờ rằng cái điều mà tôi tác động vào nó thành ảnh hưởng dây chuyền qua suốt nhiều năm nay tới bây giờ, và khắp nơi nhiều người cũng bị cái tai họa là ít ngủ. Cho nên người ta không tiến bộ, không tiến bộ rồi nhiều người bệnh, không ngờ là cái lỗi của tôi. Lúc đó tôi chưa hiểu điều này, vì lúc còn ở trong chúng tôi chưa hiểu cái liên quan, cái khéo léo của Chánh Tinh Tấn, nên tôi đã đề xuất vì bản thân mình mình tinh tấn nên mình đề xuất buộc chúng ít ngủ lại để tu nhiều hơn, không ngờ lại phá hoại.
[51:53]Cái hối hận đến bây giờ vẫn không biết làm sao chuộc lại. Cho nên bây giờ tôi chỉ nhắc mọi người khác thôi, là không được coi thường giấc ngủ, tới giờ buổi trưa phải ngủ cho ngon, tối đến giờ phải ngủ cho ngon, đó. Mà thêm nữa là phải rèn luyện thân thể bằng cách tập khí công nhẹ nhàng, như vậy. Hôm nay chúng ta nói là ý nghĩa của thiền trong cái tổng thể Bát Chánh Đạo như vậy. Bát Chánh Đạo thì sau này quý thầy sẽ dạy cho chúng, cho tăng sinh kỹ hơn. Còn hôm nay chúng ta chỉ phân tích ý nghĩa của thiền trong đây thôi. Thế còn Chánh Niệm, Chánh Định là thiền thì chúng ta vẫn chưa giảng, chúng ta còn nhiều cái bài học sắp tới trong mấy năm tới.
[52:30]Cái câu hỏi để làm bài là: "Trình bày những khó khăn gặp phải khi tọa thiền. Cho biết phương hướng khắc phục." Cái câu hỏi này gồm hai câu: "Trình bày những khó khăn gặp phải khi tọa thiền. Cho biết phương hướng khắc phục." Cái câu hỏi này quý thầy làm cho tôi trong bốn trang giấy vở học trò, tức là một tờ giấy đôi. Đây là bước đầu cho nên làm ngắn vậy thôi, sau này khi mà lý luận nâng cao từ từ thì có khi quý thầy phải làm mười trang, hai chục trang, nâng cao, tập viết lách cho nó nhuyễn, đào vấn đề cho nó sâu mới viết được dài, viết câu văn cho nó trau chuốt, cho kỹ lưỡng, cho hay, mà đào vấn đề thật sâu,
[53:07]thật dài, thì sau này lớn lên mình mới đi giảng được, còn mình viết ngắn quá sau này không đi giảng được, nhớ như vậy. Thôi, nghỉ. Thầy Thầy Đức Hoàng hướng dẫn hồi hướng tiếp. Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả,
[53:38]đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
[53:57]Thỉnh quý thầy, cô, phật tử ngồi xuống. Bữa nay là bữa tham vấn cho nên chúng ta có quyền được hỏi tự do. Thứ nhất là chúng ta chỉ nên hỏi những câu dễ dễ, đừng hỏi câu khó. Mà ví dụ như người ngồi ở đây trả lời không được thì chỉ xuống người dưới kia, không sao hết trơn. Cho nên cứ tự do thoải mái. Dạ Mô Phật! Có một phật tử viết thư á thầy, mà thầy chưa trả lời, giờ con hỏi: "Nhất nhân chứng đắc cửu huyền thăng." Dạ câu này con nghĩ không phải khi một người con đắc đạo là cha mẹ được thăng, mà nhờ người con tu rồi thân thuộc phát tâm tu theo nên mới được thăng, như vậy mới không trái với nhân quả.
[54:43]Còn nói con đắc đạo, cha mẹ được thăng mà lỡ cha mẹ đi suốt đời làm ác thì làm sao thăng, sẽ trái với nhân quả. Cho dù người mẹ có con nuôi dưỡng mà ác quá cũng không thăng, bằng chứng mẹ ngài Mục Kiền Liên; còn mẹ hòa thượng Cua được thăng là nhờ có ở chùa tu tập. Mời ngồi xuống. Thực ra cái vị nào mà viết bức thư này thì cũng dựa vào lý nhân quả nên cũng có cái cơ sở. Còn cái câu mà nói là "Nhất nhân thành đạo, cửu huyền thăng", câu đó Phật không có nói, sau này vị nào nói á, trong kinh Phật không có nói. Còn cái chuyện mà Mục Kiền Liên mà cứu mẹ đó, thì cũng là một câu chuyện, một giai thoại của Trung
[55:26]Hoa đặt ra, chứ bên Ấn Độ không có chuyện đó. Bên Ấn Độ không hề có câu chuyện mẹ ngài Mục Kiền Liên bị đọa địa ngục mà ngài Mục Kiền Liên dùng thần thông xuống cứu, không hề có câu chuyện đó như trong kinh Vu Lan Bồn này nọ nói, không có. Nên vì vậy chúng ta nghe những câu chuyện trong đạo Phật á, cho tới cái thời điểm của thế kỷ hôm nay mọi điều phải xét lại hết, chứ không phải chuyện nào kể là cũng có thật đâu. Không biết ngày xưa ai đặt ra, ai ngồi buồn buồn để chứng minh cho cái đạo lý của mình là đúng đó, đã đặt ra nhiều câu chuyện nghe cũng rất là hấp dẫn, rùng rợn, mà bây giờ mình xét lại lịch sử không có.
[56:00]Mẹ của ngài Xá Lợi Phất và mẹ ngài Mục Kiền Liên là những người theo đạo Bà-la-môn chính thống và rất là bảo thủ, đó là vậy, và không có đồng ý lắm khi thấy con mình, là một trong những thanh niên mà xuất sắc của cái vùng đó, lại đi xuất gia theo Phật, bỏ cái đạo Bà-la-môn của mình, thì hai bà có vẻ không bằng lòng, vậy thôi, chứ hai bà không có làm cái gì ác đến nỗi mà nói gì đó, giấu thịt chó cho mấy thầy sư ăn thì không có, chỉ vậy thôi. Rồi sau này ngài Mục Kiền Liên thì ngài mất trước là do bị mấy người bên ngoại đạo thuê người đánh chết, ngài không có dùng thần thông để chống trả vì biết mình lặng lẽ trả cái nghiệp của mình.
[56:39]Còn ngài Xá Lợi Phất thì giống như Phật á, trước khi mà ngài mất ngài cũng bệnh rất là nặng và ngài về quê nhà ngài, ngài bệnh để độ mẹ mình. Thì lần đó ngài đã khéo léo thế nào đó thì bà mẹ từ một cái ý định là bảo thủ, từ một cái ý bảo thủ là chống đạo Phật thì qua lần đó thấy con mình rất là danh giá, rất là vĩ đại khi mà tu theo đạo Phật, bà cũng có phát tâm tin Phật khi mà ngài mất. Câu chuyện đơn giản vậy thôi, rồi không biết sau này ai dựng lên đủ thứ chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ là không có. Còn cái chuyện mà nói mà "Nhất nhân thành đạo, cửu huyền thăng" là một vị nào đó sau này nói, mình không có biết được nguồn gốc, thông tin về nguồn gốc.
[57:14]Nhưng mà vị đó nói đó thì có mấy cái ý thế này: Ý thứ nhất á, là để cho... bởi vì ngày xưa bên Trung Hoa đó, cái hiếu đạo quan trọng lắm, nghĩa là cái dòng dõi của gia đình, con cái trong gia đình được coi rất là trọng, cho nên việc một người con mà cắt bỏ gia đình, cắt ái từ thân theo quan niệm đạo Phật để mà đi theo tu là một cái gì kinh khủng, cái gì bất hiếu ghê gớm. Quan niệm của đạo Nho xem cái việc bỏ gia đình, không thờ cha thờ mẹ nữa, nếu mà trở thành tu sĩ thoát ly hẳn như vậy là một việc có khái niệm bất hiếu. Cho nên để mà thay đổi quan niệm đó, cũng dựa vào cái lòng hiếu mà để cho đạo Nho chấp nhận
[57:51]có những người trong thân thuộc của mình thoát ly đi mà tu theo trở thành tu sĩ Phật giáo, thì các vị đã nói một cái câu để đáp ứng được cái tâm tình của đạo Nho, là một người mà thành đạo thì cả bảy đời, chín đời, nghĩa là ông bà cha mẹ đều được thăng hết, nghĩa là cũng đó là một cách báo hiếu, mà thay vì phải hầu hạ tận nhà thì báo hiếu tâm linh. Đó là một cái đối phó, đối phó trong cái tạm thời của cái nhà Nho, khi mà đụng với đạo Phật, đạo Phật đụng với nhà Nho như vậy. Nhưng mà trong tâm linh có không hay là không? Trong tâm linh có. Trong tâm linh có là thế này: ví dụ như khi một người mà có cái duyên đắc đạo,
[58:27]họ có duyên tu hành chân chính đắc đạo, họ đầu thai vào một gia đình nào á, thì nó có cái dây mơ rễ má từ nhiều kiếp, chứ không phải là tự nhiên không mà họ lựa một gia đình không có duyên, không có phước gì hết mà đầu thai vào đó. Cũng có cái dây mơ rễ má gì đó, có một chút tâm niệm, có một chút thiện căn gì đó, hoặc nhiều hoặc ít, để nó phù hợp tương xứng với cái nhân quả mà họ tu hành đắc đạo, chứ không phải là không hoàn toàn, không phải... không hề phai. Cho nên là trực tiếp là cha mẹ cũng được ảnh hưởng rất nhiều từ cái sự tu tập đắc đạo của con cái. Mà theo nhân quả, đây là cũng theo nhân quả nữa.
[59:00]Ví dụ như người con được cha mẹ nuôi dưỡng, dạy dỗ lớn lên mà làm một việc lành thì cha mẹ được hưởng 20% tiền cò của cái phước đó. Quý vị thấy có sướng không? Quá dễ. Đó là một cái nhân quả tự nhiên, tại vì người con mình đẻ ra, mình nuôi, mình dạy. Cho nên là những cái điều mà con mình làm mình cũng hưởng được một phần lợi nhuận trong đó, phần chia một phần tiền lãi trong đó. Nên nó là nhân quả sòng phẳng. Cho nên việc mà con tu hành đắc đạo, cha mẹ được một phần phước, mà đắc đạo một gọi là một phần phước đó chứ cũng rất là lớn. Rồi nó ảnh hưởng theo tới ông bà nữa, nhưng mà mỗi đời ông bà xa
[59:35]đi thì nó bớt dần, bớt cái tỷ lệ bớt dần giảm dần giảm dần. Mà tới đời thứ chín thì theo như cách tính toán người xưa là mất sạch, không còn gì nữa. Tới đời thứ mười là không còn hưởng được miếng nào. Thì cũng hợp lý, cũng hợp lý. Ví dụ như là cha mẹ trực tiếp á thì hưởng được 20% tiền lãi, mà tới ông nội thì hưởng được 10%, đời kế nữa 5%, kế nữa 2,5%, kế được 1,2%, một nửa gì không tới một rồi mất luôn rồi. Thôi xong, đủ chín đời hết. Do đó là người xưa cũng có cái trực giác tinh ý, họ thấy cũng không sai lắm đâu. Tuy nhiên mình nói theo nhân quả thì cha mẹ thì mình làm phước thì được hưởng phước trực tiếp, nhưng mà thực ra có liên quan hết trơn. Thôi hỏi câu khác đi.
[1:00:17]Dạ kính thưa thầy, câu này là của một sư cô. Hỏi là: "Nghiệp tuy không chủ thể, nhưng vì sao không mất? Con hỏi câu này vì có liên quan tới một câu trong cuốn Năm Ấm của thầy. Câu đó là: "Chính nghiệp đã tạo nên tính cách của con người, chứ không phải tính cách đó được mang theo bởi tạng thức từ đời này sang đời khác." Có phải thầy không công nhận có một tạng thức A-lại-da không? Vậy mà học Duy thức, con được hiểu rằng nghiệp chính là những tập khí, thói quen mà thói quen đó như những hạt giống được gieo vào trong tạng thức nên mới không mất. Vì tạng thức có ba tác dụng: thứ nhất tiếp nhận, những tập khí nào gieo vào A-lại-da tiếp nhận;
[1:00:57]hai là duy trì, làm cho đừng mất đi, nên gọi là tạng, tạng là giữ lại; ba là biểu hiện ra, giống như đất tiếp nhận hạt giống, làm cho hạt giống đó biểu hiện thành ra hoa lá. Như vậy, nhờ tiếp nhận mà duy trì nghiệp mới không mất, đến khi đủ duyên sẽ biểu hiện ra, cho nên cái lực lượng mà kéo chúng ta đi là những hạt giống mà chúng ta gieo vào trong tâm thức. Chúng ta có thể vi tính sổ trong tạng thức sẽ biết chúng ta đi về đâu, khỏi cần mua vé xe hay tàu lửa. Trong tạng thức, nó cũng còn có một tính chất là vừa hằng vừa chuyển, chuyển là thay đổi. Trong từng sát-na, tính chất của các hạt giống,
[1:01:38]nghiệp không chủ thể, các hạt giống thay đổi trong từng sát-na, nhưng không phải A-lại-da thay đổi, nghiệp không mất. Thay đổi từng sát-na mà nó còn liên tục nên gọi là hằng, hằng liên tục. Giống như một dòng sông, tuy rằng chúng ta không bao giờ tắm hai lần trong một dòng sông, nhưng dòng sông vẫn liên tục." Từ từ, thầy điên bây giờ. Tới đây hiểu rồi, phải không? Chưa. Cái thuyết A-lại-da thức á là từ ngài Thế Thân, Vô Trước lập thành. Ngài nói là ngài mộng thấy lên cõi trời Đâu-suất, gặp Bồ-tát Di Lặc dạy về Duy thức, cho nên ngài mới nói rằng cái Duy thức này không phải là ngài đặt ra, mà là của Bồ-tát Di Lặc.
[1:02:23]Thời xưa vậy á, hay mượn uy tín của mấy vị Bồ-tát, vị Phật rồi đó, chứ không ai nói tự mình nói. Nhiều bộ kinh Đại Thừa, các vị nêu ý kiến mình cũng hay hết sức, nhưng mà không dám tự mình để tên tác giả, toàn luôn luôn nói Phật nói. Hồi xưa nó vậy. Thì cái Duy thức á Phật không có nói, vào thời nguyên thủy Phật không hề nói Duy thức. Phật chỉ nói năm uẩn, chỉ nói năm uẩn là cấu trúc thân tâm con người là một khối của năm uẩn thôi: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Rồi mà không có nói về Duy thức và tuyệt đối không nói về A-lại-da thức, tức là tạng thức, hoàn toàn không có. Nhưng đến ngài Thế Thân, Vô Trước thì sau này mới bắt đầu có khái
[1:02:57]niệm về Duy thức, phân tích về cấu trúc của tâm lý và đưa một cái khái niệm cực kỳ quan trọng là tạng thức, A-lại-da thức vào. Rồi trong đó, tạng thức, A-lại-da thức như là một cái kho chứa đựng, tức là nhận vào những cái ý niệm, chủng tử vào, giữ ở đó rồi đợi cơ hội phát ra. Nghe rất là hợp lý, nghĩa là trên lý luận nghe rất là hợp lý, nghe rất hợp lý. Ví dụ như là mình có cái nhà ở mình phải có kho chứa đồ để cất rồi khi nào xài lấy ra. Rồi trong cái máy vi tính cũng có một cái ổ nhớ, bộ nhớ chứa vào rồi có cái gì lấy trong đó ra để mà xử lý. Tức là cái việc mà tất cả mọi cơ cấu, dù thô dù tế gì nó cần có cái kho để
[1:03:35]chứa, chứa dữ liệu, chứa sự kiện là một cái suy luận hết sức là hợp lý. Do đó các ngài đã đã suy luận rằng có một cái tạng thức để bổ sung cho cái năm uẩn của Phật là một cái mình nghĩ như một cái suy nghĩ hợp lý, suy nghĩ hợp lý. Tuy nhiên cái luân hồi nó kinh khủng hơn nhiều, ghê sợ hơn nhiều, nó không đơn giản như vậy, không đơn giản như vậy. Không đơn giản là còn có một cái kho chứa đi từ kiếp này qua kiếp kia hoài. Đây là cái chỗ mà dễ sợ. Bên khi về tâm lý học thì bên nguyên thủy cũng có một cái bộ gọi là bộ A-tì-đàm, các ngài gọi là Siêu lý, Siêu lý học hay còn gọi là Thắng pháp, thắng là vượt hơn, siêu cũng là vượt hơn.
[1:04:16]Hòa thượng Minh Châu thì dịch là Thắng pháp tập yếu luận, các vị Nam tông dịch theo ngõ khác là Siêu lý học. Họ đọc nguyên bản là Abhidhamma hay là A-tì-đàm theo tiếng Hán. Trong đó cũng phân tích về tâm lý, nói về cái sự kiện tâm linh sống chết này nọ, thì lại phân tích cái luân hồi, nhân quả và tâm lý theo một hướng khác nữa, dễ sợ luôn, cũng khác hẳn Phật luôn. Cho nên chúng ta thấy là những đời sau Phật, người ta luôn có khuynh hướng là phát triển thêm lý luận của đạo Phật. Cái phát triển đó có khi đào sâu thêm, có khi bẻ lệch đạo Phật đi. Mà Duy thức cũng là một lối mà phát triển hơn và cũng hơi
[1:04:48]bẻ lệch, và cả A-tì-đàm cũng phát triển hơn và cũng bẻ lệch đi luôn, chứ không đúng cái nguyên thủy của đạo Phật. Sự thật là như vậy. Cho nên á cái nhu cầu mà để phát triển về lý luận, phát triển về đạo là một nhu cầu có thực, luôn luôn cần thiết. Nhưng cái quan trọng, cái người phát triển phải có cái bản lĩnh và có lương tâm. Có bản lĩnh là sao? Có bản lĩnh là phát triển làm sao đào sâu đạo Phật sâu hơn, hiệu quả hơn, hợp với thời đại hơn, nhưng phải có lương tâm là không được làm lệch đạo Phật. Có bản lĩnh là khen rồi, nhưng phải có lương tâm. Và có nhiều người nhiều khi trong khi phát triển đạo Phật đã hơi thiếu lương
[1:05:23]tâm, đã bẻ lệch đạo Phật theo ý mình, không trung thành với Đức Phật. Đây là điều rất là đáng ngại. Nghĩa là cái vị đó khi mà cái sự tu hành, cái học của mình không biết như thế nào đó, có đôi lúc cảm thấy mình hơn Phật. Có đôi lúc cảm thấy đọc toàn bộ những kinh Nikaya của Phật nói như vậy sao không đủ sâu, sao mình tu mình thấy còn hay hơn cái chỗ này. Nghĩ rằng Phật cũng không phải cao lắm, bắt đầu phát triển lý luận mới, hơi đi xa Đức Phật. Chính vì không hiểu hết Phật. Chứ người mà hiểu được Phật á, thấy được Phật như biển cả, mình chỉ bằng như một giọt nước, thì những điều mà Phật nói trong Nikaya là mình hiểu không
[1:05:59]hết thôi, chứ không phải là Phật nói cạn mà mình tu mình cao hơn. Mà cái tâm lý đó bị, bị mấy ngàn năm qua cũng từ sau thời Đức Phật. Cái tâm lý mà tu một thời gian, có những sở đắc rồi, tự nhiên có cảm giác hình như mình hiểu cái chỗ mình hiểu hay hơn kinh Phật đã nói. Cái tâm lý bị, bị rất nhiều. Và ngày hôm nay mình phải chỉnh cái tâm lý nó lại. Là Phật như một ngọn núi, mình chỉ là một hạt bụi thôi. Những điều Phật nói mình hiểu không hết, chỉ đào sâu, phát triển đúng nhưng phải giữ cho đúng cái con đường yếu chỉ của Phật, không được làm lệch. Và cái A-lại-da thức cũng là một cái phát triển quá. Để chúng ta nói nha.
[1:06:33]Trong thực tế tâm lý học, thì khi chúng ta đang sống vậy, chúng ta có bộ nhớ, gọi là ký ức. Ký ức đó nó được giấu trong bộ não của mình. Chúng ta nhớ một điều thế này: trừ cái gì nó là hư vô thì thôi mình chịu, nhưng hễ mà nó exist, tức là nó có tồn tại, thì luôn luôn nó tồn tại trong một không gian nào đó và trong một thời gian nào đó. Nhớ như vậy. Không gian và thời gian là địa chỉ bắt buộc của bất cứ một sự việc, sự vật nào có tồn tại, có exist, existence, có sự tồn tại, có being, tức là có tồn tại. Bất cứ sự việc, sự vật nào hễ có tồn tại thì nó luôn luôn có địa chỉ là nó tồn tại ở vị trí nào và vào lúc nào, không gian và thời gian.
[1:07:22]Cái đó là nguyên tắc của khoa học mà ông Einstein ông cũng nói rõ ràng. Bây giờ chúng ta nói là à nói ví dụ nói là ông Tánh Đắc, là cái tên nhưng phải cho địa chỉ. Địa chỉ là, ví dụ nói ông ở chùa Phật Quang, nhưng mà phải ở vào lúc nào chứ nói trật ba ngày thì lọt qua Long Khánh à, đúng không? Cho nên phải có địa chỉ, địa chỉ đó gồm cả không gian và thời gian. Bây giờ cái bộ nhớ mình cũng vậy, nó phải có địa chỉ chứ không phải là nói khơi khơi. Như vậy trước hết cái bộ nhớ của mình nó nằm ở đâu? Nằm trong não mình. Địa chỉ nó nằm trong não mình rõ ràng, nằm nguyên hệ thống tế bào não của mình.
[1:07:59]Mà hệ thống tế bào não mình nghĩa là nó 15.000 tỉ, 15 tỉ nơ-ron chứa dày đặc những dữ kiện đó, không có sợ thiếu, không có sợ thiếu. Mình khai thác không hết hoặc nó yếu vậy thôi, chứ không sợ thiếu chỗ để mà chứa dữ kiện. Và lúc mình còn sống, bộ não mình còn tốt thì thì luôn luôn là nó có một chỗ nhớ để cho mình nhận vào, giữ và phát ra. Hợp lý, lúc còn sống hợp lý. Bây giờ chết rồi sao đây nè? Hiện tượng chết là thế này: con người ta nó có hai cái cấu trúc: cấu trúc vật lý và cấu trúc tâm linh. Bởi vì vũ trụ này có hai cấu trúc: cấu trúc vật lý và cấu trúc tâm linh. Này định là giảng kinh Kim Cang mới nói chỗ này,
[1:08:38]nhưng hôm nay thôi sẵn nói luôn một chút. Vũ trụ có hai cấu trúc không gian: một là không gian vật lý và hai là không gian tâm linh. Chúng ta nhìn thấy nhau đây, chúng ta hiện diện ở đây là không gian nào? Không gian vật lý, ừ. Không gian vật lý. Nhưng mà trong tâm chúng ta, chúng ta cũng là cái giao điểm của cái không gian vật lý và không gian tâm linh của vũ trụ luôn. Tất cả chúng sinh đều có một đặc điểm: hễ đó là một sinh vật, hễ là một sinh vật, nhất là động vật và nhất là con người thì luôn luôn là giao điểm của hai cái không gian của vũ trụ. Còn nếu không phải là con người chúng ta, ví dụ chúng ta chỉ là một cái chư thiên,
[1:09:17]chúng ta chỉ là một ngạ quỷ thì chúng ta chỉ thuộc về không gian của của tâm linh thôi, à. Còn nếu là cây, là đá thì chỉ thuộc về không gian không gian vật lý thôi, đó. Nhưng mà riêng con người sống thì chúng ta lại là một cái giao điểm của hai không gian đó, nơi chúng ta vừa có cấu trúc vật lý, vừa có cấu trúc tâm linh. Đó. Bây giờ khi chúng ta đang sống như vậy hai cái nó nhập vào một, quyện tách không ra trừ những người nhập định xuất hồn ra được tách hai cái đó ra, hoặc là người chết thì bỏ một cái, bắt đầu bước vào cuộc sống của cái không gian tâm linh. Thì bây giờ cái người mà chết rồi họ chỉ còn lại cái mà trong đạo Phật gọi là
[1:09:55]thần thức hay thân trung ấm, mà người đời thì gọi là linh hồn, linh hồn. Thì cái linh hồn đó nó chỉ thuộc về thế giới tâm linh. Và nó nó không phải là vật lý nhưng mà nó có hình hài, hình hài trên Đức Phật gọi là vẫn còn ở cõi Dục và cõi Sắc chứ chưa phải là cõi Vô sắc. Sắc giới là bởi vì còn hình hài, nhưng mà nói Sắc giới là cõi trời họ không còn cõi Dục tức là sống rất thanh tịnh. Còn từ hình hài mà còn dù là chư thiên mà còn cái dục cho tới loài người thì vẫn còn Dục giới. Tuy nhiên bây giờ nếu chúng ta chết chúng ta bỏ thân vật lý rồi thì chúng ta vẫn còn một cái hình hài, cái hình hài của thế giới tâm linh và cái hình hài đó nó là cái gì?
[1:10:37]Nó giống như là mình nói nó như là sóng rung động. Sóng rung động nhanh quá, hễ mà sóng ngừng cái là tan liền nhưng mà hễ còn rung động thì còn hình hài. Thầy nói này mọi người hiểu không? Ví dụ như cái lửa cái thầy quay có cảm giác như là có cái vòng tròn mờ mờ phải không? Mà thầy ngừng quay cái mất liền. Thì linh hồn là vậy đó, nó là một sự dao động, ừ dao động rất nhanh, cái mình thấy như có một hình dáng mờ mờ mờ mờ. Hễ mà ngày nào đầu thai tắt cái sự dao động đó là hư vô mất liền, không còn gì nữa hết. Và trong cái hình hài đó cũng có như bộ não, cũng có như tay, như chân, mà lúc đó toàn bộ cái dữ kiện,
[1:11:15]cái dữ kiện của mình mà mình nhập trong đầu mình trong kiếp á, nó được tiếp tục tồn tại ở trong cái dao động. Tức là nó ở đây có cái bảng để thầy nói ha. À ví dụ như là ví dụ như bây giờ viết cái dòng chữ thế này: "Tăng Ni, à Tăng Ni, Phật tử ở Nha Trang và Cam Ranh dễ thương quá." Ví dụ như thầy, có cái viết cái câu đó thì thầy viết câu đó bằng hai cách, một cách là thầy viết lên giấy, viết lên giấy rõ ràng: "Tăng Ni và Phật tử Cam Ranh, Nha Trang dễ thương quá." Câu đấy. Rồi bây giờ có một cách thứ hai để câu đó vẫn tồn tại mà không viết lên giấy, ví dụ cái giấy bị cháy giống như con người bị chết đấy cái thì nó có tồn tại bằng cách là
[1:12:00]cái này nó có kỹ thuật về cái ví dụ chiếu lên màn hình tivi, thầy dùng một kỹ thuật đó chiếu lên màn hình tivi thì hiện trên màn hình tivi cái câu là: "Phật tử, Tăng Ni Cam Ranh, Nha Trang dễ thương quá." Thì cái chữ trên màn hình tivi nó chỉ là một sự rung động thôi, rung động của tần số nó đập vào cái màn hình thôi, nó hiện chữ đó ra. Nhưng mà khi mình tắt điện thì sao? Thì nó nó mất, thì cũng vậy đó. Nghĩa là khi mình còn sống những dữ kiện đó ghi chép vào trong cái tế bào não của mình, nó giữ lấy. Nhưng khi mình chết thì những cái dữ kiện đó nó tồn tại dưới dạng rung động theo cái rung động của
[1:12:34]linh hồn nên linh hồn người chết vẫn tiếp tục nhớ lại những gì mình đã làm lúc sống, những điều trong cuộc sống. Thầy nói này hiểu không ta? Quý Phật tử hiểu không? Hiểu không? Được. Hiểu chút ha. Quý thầy thì chắc nắm vững rồi ha. Thầy Giác Thông nắm vững ha. Quý thầy thì trí tuệ, không lo. Có cần thầy nói lại không đó? Nói lại sợ hát nhảm. Thôi, mai mốt nghe băng lại, đại khái như vậy. Thì cái khi mình chết cái bộ nhớ vẫn tiếp tục tồn tại do những dữ kiện đó nó vẫn được ghi trong cái gọi là linh hồn. Mà linh hồn chỉ là một dạng sóng dao động, nhưng mà trong cái dạng sóng dao động đó những dữ kiện vẫn tiếp tục được lưu trữ nên người chết vẫn còn nhớ.
[1:13:20]Do đó, ví dụ như là à lúc mình sống có ai đối xử tốt với mình, khi mình chết mình về mình thăm viếng, mình phù hộ, vân vân. Còn khi mình sống ai đối xử tệ với mình thì khi mình chết mình sẽ về mình mình lôi chân người đó, chọc rồi phá, quậy chơi, thấy vẫn còn nhớ không có quên điều gì hết trơn. Thì đó là cái của nó vẫn là một ký ức nhưng mà nó tồn tại qua một cái biến dạng khác. Bây giờ tới lúc đầu thai nó rắc rối. Vì đầu thai á tức là nó xuất hiện một cái đời sống mới nơi một cái thai mẹ, cái thai mẹ đó nó nó là một cái trứng, cái trứng nó mắt thường không trông thấy. Mắt thường thấy vì nó quá nhỏ.
[1:14:00]Khi mà cái tinh trùng của cha lọt vào cái trứng của mẹ bắt đầu nó tạo thành một sự sống, phát triển thành sự sống. Và cái sự sống đó mắt thường nhìn thấy phải đem cái kính hiển vi rọi lên ngàn lần. Thì cái ký ức nằm ở đâu? Nó phải có địa chỉ. Chúng ta nói nãy nó phải có địa chỉ, phải có không gian và thời gian. Thì ký ức nó nằm ở đâu? Sự sống hình thành rồi, cái linh hồn cũ đã biến mất rồi, đã bắt đầu xuất hiện sự sống mới trong bào thai mới rồi, cái ký ức cũ nằm ở đâu? Mà gọi là có a-lại-da thức đem theo. Gọi là có cái tạng thức để tiếp tục tồn tại từ kiếp này qua kiếp kia thì nó phải có một cái chỗ phải không?
[1:14:38]Phải có một cái chỗ. Giờ nó nằm ở đâu? Trong khi cái trứng 1.000 lần chiếu 1.000 lần mới thấy một cái chấm nhỏ. Mà chúng ta nói hễ cái gì mà đã tồn tại, exist thì nó phải có địa chỉ của không gian và thời gian. Nhưng mà nó không thể có địa chỉ nơi cái trứng quá nhỏ, nó chưa có cái tế bào não, tế bào não chưa hình thành. Cho nên lúc đó chúng ta phải hiểu a-lại-da thức lúc đó có không? Có không? Nói một câu coi. Có ở đâu? Phải có địa chỉ. Hễ nói có phải có địa chỉ. Vậy cái lúc đó a-lại-da thức còn không? Có không? Có ở đâu? Nói phải nói cho ra địa chỉ. Làm sao mà còn được, không có địa chỉ lấy gì còn.
[1:15:29]Nghĩa là vào lúc mà tạo thành đời sống mới bằng một cái phôi thai rất nhỏ, lúc a-lại-da thức biến mất luôn. Tại vì không có địa chỉ, không có chỗ để chứa nó thì nó không tồn tại. Lúc đó cái phôi thai của đứa trẻ nó lớn lên dần dần, tế bào não hình thành từ từ từ từ từ từ rồi. Nhưng mà tiếp cái điều thế này là luật nhân quả tạo ra tính cách mới, tạo ra bộ não, tạo ra con người, tạo ra cái sức thông minh theo cái phước của nó. Và theo nhân quả nó đã gây về cái tính cách, tính tình của nó kiếp trước, bắt đầu luật nhân quả hình thành lại hình thành lại. Hình thành lại có nhiều điều giống với kiếp trước
[1:16:02]và có nhiều điều khác với kiếp trước. Có những điều khác với kiếp trước. Cho nên vì vậy mà nếu mà nói là a-lại-da thức đem theo á là phải giống hoàn toàn với kiếp trước. Nhưng bởi vì có những tính cách chúng ta giống kiếp trước và có những tính cách chúng ta khác kiếp trước nên không thể nói là có một cái a-lại-da thức duy trì đem theo. Lý luận nó bị hở. Mà lý luận đó nó sai nhân quả. Cho nên cái tính cách của chúng ta kiếp này đó là do luật nhân quả tạo nên. Mà luật nhân quả là tuyệt đối của vũ trụ, không có chỗ, không nơi, chi phối tất cả cùng khắp, không cần địa chỉ. Nhớ, chỉ có luật nhân quả chi phối cùng khắp
[1:16:39]mọi điều trong vũ trụ là không cần địa chỉ. Cho nên khi mà chúng ta đã gây nghiệp, chúng ta tạo con người chúng ta ở kiếp sau không cần địa chỉ. Luật nhân quả sẽ sắp xếp cho chúng ta hình thành cái tính cách con người chúng ta như thế nào. Đó, ví dụ ví dụ thế này ví dụ như cái này là thầy đã nói nhiều lần, giờ nói lại. Ví dụ đời trước mình là một người nóng nảy nhưng mà vô tình cái mình gặp thầy Giác Thông, thấy thầy hiền lành, điềm đạm, dễ thương quá. Mình nói vậy mình nóng nảy là trật. Cái giờ mình phải phải làm sao cho hết nóng nảy, hết nóng nảy. Thì lúc đó mình cứ ca ngợi cái sự hiền lành của thầy, rồi mình phát nguyện trước Phật.
[1:17:20]Vậy tất cả nó thành cái nhân. Cái nhân cho một sự hiền lành sau này. Lúc đang tu cái mình chết ngắt, rủi sao xe đụng chết tươi ví dụ. Qua đời sau cái nhân nóng nảy do mình hay nổi nóng người ta, cái nhân đó vẫn còn. Nhưng mà cái nhân mình ca ngợi một vị tăng hiền lành nó tồn nó xuất hiện luôn và cái nhân này nó nảy nở. Nhưng khi nở, lúc đó con người mình xuất hiện hai tính cách, vừa có nóng nảy vừa hiền lành. Tùy coi cái nào thắng thế. Nhưng mà thường á là cái tâm thành lạy Phật, kính Tăng á thắng thế. Dần dần đến lúc nào đó bỗng nhiên mình có được cái nhân quả đủ rồi, tự nhiên một ngày giờ nào đó mình có một cái tâm sám hối cực mạnh,
[1:18:00]một cái tâm thiết tha gì đó, triệt tiêu mất cái tâm nóng nảy luôn, trở thành con người hiền lành chỉ trong một khoảnh khắc, trong một ngày một thôi. Trong một ngày một biến thành con người, thí dụ như khoảng 15 tuổi mình trước đó mình là một người nóng nảy, trong một ngày của ngày năm 15 tuổi mình biến thành con người hiền lành, điềm đạm. Vì cái quả của cái tâm mà kính Tăng nó đủ, nó đủ chín muồi, nó thành quả, tiêu diệt mất cái nhân quả nóng nảy đời trước. Nó không mang theo. Chính nhân quả nó chi phối, nó chi phối mình. Nó chi phối tính cách con người chứ không phải là đơn giản. Ví dụ như một người thích âm nhạc này, người thích âm nhạc nếu bình thường
[1:18:34]không có gieo nhân gì khác thì cái thích đó nó có phải là cái nhân không? Cái hay đánh đàn, ca hát thì nó có phải là một cái nhân không? Là một cái nhân. Mà nếu đừng có gây cái nhân gì bất thường thì qua đời sau nó cũng phải trổ thành cái quả thì người đó cũng là cũng thích nhạc bình thường lại. Như đó, nhưng mà nếu nếu ví dụ đời trước người đó thích ca thích hát nhưng mà hễ thấy ai ca hát hay cái ghét, không muốn cho người ta ca hát nữa, thì qua đời sau sao? Tự nhiên nó nghẹt họng hát không được, nghẹt họng hát không được. Đó, vậy đó. Bởi vậy á, cái là chính nhân quả sắp xếp chúng ta rất là tinh vi.
[1:19:12]Nhưng mà khi mà đứa trẻ mà nó nó phát triển trong thai lớn dần dần dần dần, bộ não hình thành từ từ từ từ, thì trong đó ngộ nghen, thế này, lạ thế này. Ví dụ như khi mà các kỹ sư họ chế tạo máy vi tính á, thì mới chế cái phần cứng. Còn phần mềm là bắt đầu phải cài đặt vô. À mình cài phần mềm à Windows, cài phần mềm Excel, à cài phần mềm Word, Encore. Nghĩa là cài những phần mềm vô thì cái máy tính đó nó mới có tính cách để sử dụng, à để chuyên dùng cho cái gì cái gì đó phải không. Nhưng mà riêng cái con người thì nó có cả hai. Nghĩa là khi mà cái nhân quả tạo cho chúng ta thành con người từ trong
[1:19:48]bào thai mẹ đó, nó hình thành vừa phần cứng vừa phần mềm luôn. Vừa phần cứng tức là sao? Tức là cái cơ thể mạnh hay yếu, bộ não thông minh hay không. Và phần mềm luôn, tức là tính cách con người kiếp trước bắt đầu nó hình thành trong đầu luôn, trong cái bộ não luôn. Nên đứa trẻ vừa đẻ ra nó có tính cách rồi. Chứ đừng tưởng đứa trẻ mới đẻ ra là như tờ giấy trắng. Hiểu lầm chết á, không có đâu. Đừng có nói câu là ngây thơ như trẻ em, không có. Đứa trẻ đẻ ra đầu đã có sạn rồi. Không tin là nhớ lại hồi nhỏ mình mới đẻ ra. Nhớ lại coi. Mới đẻ ra đầu có sạn rồi. Tại vì cái phần mềm, cái tính cách con người mình nhân quả nó quy định.
[1:20:25]Có điều lúc đó là trong trạng thái mơ mơ mới ra khỏi lòng mẹ, nó mờ mờ mờ như nửa ngủ nửa tỉnh không rõ ràng lắm. Nhớ đó. Đồng thời là môi trường bên ngoài lạ quá, chưa quen thể hiện thôi. Chứ khi bắt đầu tỉnh táo biết người biết việc này nọ là tính cách trong người bộc lộ. Đứa hay khóc, đứa hay vòi, đứa bướng là nó hiện trơn à. Đúng không? Đúng không? Nói mấy cô hồi nhỏ thì mới đẻ ra thì thấy cứng đầu dễ sợ luôn, mới đẻ thấy nó đứng vậy nè. Cho nên vì vậy mà cái thuyết về a-lại-da là không có vững, không có vững. Nếu mình phân tích cho kỹ, rạch ròi á thì không có vững. Mặc dầu là vào cái thời đó các ngài xiển dương và nhiều người cũng tin theo.
[1:21:03]Nhưng mà vì thời nay là chúng ta thế này, như chúng ta đã nói, một đạo Phật cho ngày mai là đạo Phật thứ nhất là gì? Ai nhớ? Thứ nhất là? Là? Quên rồi. Thứ hai là? Quên luôn. Thứ ba là quên tuốt. Trời ơi! Thứ nhất là? Dựa vào giáo lý nguyên thủy cho chắc. Thứ hai là? Tham khảo giáo lý Đại Thừa. Thứ ba là? Tham khảo kiến thức khoa học của thời đại. Phải có ba điều đó tạo thành đạo Phật cho thời đại mới chúng ta. Như nãy giờ chúng ta nói là đủ hết chưa? Đủ không? Chúng ta cũng dựa vào nhân quả phải không, của giáo lý, năm uẩn của giáo lý nguyên thủy. Chúng ta có đối chiếu với khái niệm, so sánh chút xíu, cân nhắc chút xíu với khái niệm về ký ức, tức là tạng thức.
[1:21:51]Nhưng mà không phải nó tuyệt đối như là bên bên Duy thức học nói. Tức là tạng thức có, bộ nhớ có, ký ức có, nhưng không thể tuyệt đối như là của Duy thức. Họ bị hơi hơi cường điệu quá. Chúng ta đồng ý có, nhưng mà nó phải phù hợp với khoa học. Thứ ba chúng ta cũng đã tham khảo với những kiến thức khoa học. Cho nên nãy giờ chúng ta nói với nhau là cái lý luận đầy đủ của nguyên thủy nè, Đại Thừa, khoa học, đủ hết. Đó mới là một lý luận hoàn chỉnh cho một đạo Phật của tương lai. Đạo Phật tương lai mỗi điều là phải cân nhắc như thế. Rồi, tiếp. Mấy câu hỏi mà khó quá thầy phải nói dài quá nghe cũng mệt.
[1:22:26]Dạ có một huynh đệ hỏi thầy: "Gần cuối giờ xả thiền, chân con bị đau rất nhiều, cảm giác ra mồ hôi. Lúc đó con buông lỏng tất cả mà cái đau tột cùng tăng lên. Sau đó con khởi tâm chấp nhận thà chết không xả thì con cảm nhận thân mình lớn khổng lồ, cơn đau mất hết. Lúc chắp tay xả thiền, con còn cảm nhận người lớn và đôi bàn tay còn lớn. Con không biết như vậy đúng hay sai?" Sai, hoàn toàn sai. Cái thân mà thấy lớn lên là lúc đó đầu bị căng rồi, bị ảo giác. Nó có những cái ảo giác của người thiền mà nguy hiểm. Thấy người lơ lửng. Coi chừng khinh an khác nha, cái khinh an của khi định vào định nó khác, mà người lơ lửng là ảo giác.
[1:23:09]Thấy người nặng trĩu cũng là ảo giác, thấy người lớn cũng ảo giác, thấy người nhỏ cũng là ảo giác. Để coi còn cái ảo giác gì nữa. Bay lơ lửng, những cái đó đều là những ảo giác. Và những ảo giác đó nó làm hư bộ não của mình. Mà lý do tại sao lúc mình căng thẳng? Là bởi vì đau quá, mình ráng chịu đựng. Chính cái ráng chịu đựng nó làm bộ não căng lên, mà khi bộ não căng thì cái ảo giác xuất hiện. Ảo giác rất là nguy hiểm. Cho nên vì vậy là khi đau á là thầy đã nói mấy trường hợp rồi. Thứ nhất là nếu cái đau mà nó chưa đánh vào tâm mình á thì mình sao? Cứ tiếp tục ngồi thiền bình thường. Còn nếu cái đau mà nó đau quá nó đánh vào tâm mình luôn,
[1:23:46]làm cho tâm mình hết sức khó chịu không nhiếp tâm được nữa thì sao? Thì sống với cái, để tâm ngay cái chỗ đau, sống với nó không còn biết gì nữa, chỉ biết cái đau đó thôi. Ôm luôn, tức là đón nhận hoàn toàn cái nghiệp của mình, sống với cái nghiệp của mình. Bởi vì còn đau tức là nghiệp còn, sống luôn vô đó. Dạ thì nó có thể là nó nó giảm bớt được. Đó là hai cách chính thống, chính thức được cho phép. Còn có cách thứ ba là cách ngoài luồng nữa thì liếc mà không thấy có người giám thiền thì bí mật kéo chân ra bỏ xuống, rồi che cái áo tràng lại, rồi ngồi ngay ngắn lại. Đó là cách thứ ba ngoài luồng. Rồi, hỏi tiếp.
[1:24:25]Dạ bạch thầy, cô Tâm Hiển ừ cô hỏi thầy nói: "Con nghe thầy nói ngồi thiền đau chân thì truyền hơi thở xuống chỗ đau, nhưng cô thấy bít chịt làm sao mà truyền được?" Khoan đã. Tự nhiên thấy hơi thở mà không thông á, tức là bởi vì cái hơi thở mình chưa thuần, tâm mình chưa yên thôi. Chứ còn thầy mới nói để tâm vô đó sống với nó thôi. Để sống với nó thôi, vậy thôi. Chừng nào mà hơi thở mình nhẹ nhàng, cái sức tưởng nhẹ nhàng, tưởng đâu là hơi thở tới đó nhẹ nhàng, không có gắng, không gồng, không kéo, không ép, không dẫn, không gì hết, tưởng nhẹ là hơi tới đó thì lúc đó mới được. Nhớ là trong thiền, trong việc hít thở vận khí tuyệt đối không được ráng sức.
[1:25:06]Hễ làm cái gì mà ráng là bắt đầu sai, bắt đầu có mầm mống của cái điên loạn. Trong thiền tuyệt đối nhẹ nhàng. Thì có người sẽ nói là: "Thì con cũng tu nhẹ nhàng nhưng mà vọng tưởng không hết." Thì đừng có đè. Mình dụng công đúng phương pháp rồi, nhẹ nhàng rồi mà vọng tưởng vẫn khởi là vì sao? Vì thiếu phước. Cho nên đừng nản, đừng vội, đừng ép, đừng dằn. Lo sám hối, lo làm phước. Một ngày nào đó tâm sẽ yên một cách nhẹ nhàng. Nhớ một điều nữa là nhắc đi nhắc lại cái việc thành công trong thiền định là do do phước. Cho nên ví dụ cái người hãy để ý chính mình á rồi sẽ thấy thầy nói đúng hay sai.
[1:25:45]Thấy trong nguyên một ngày đó mình toàn lo cho mọi người những điều tốt đẹp, lo tăng trưởng thiện pháp cho người khác, lo giúp đỡ cho người khác, mà cả ngày đó dường như mình quên tu, quên giữ chánh niệm, quên giữ tâm. Nhưng mà tới giờ thiền bắt chân lên rồi thì ôi tâm rất lắng do cái điều thiện nó tạo thành. Cho nên hiểu điều này á, chúng ta mà hiểu đúng điều này, thực nghiệm với bản thân mình thấy đúng rồi, chúng ta sẽ tạo ra một đạo Phật mới. Vừa có chiều sâu tâm linh mà vừa rất năng động để mà phát huy, phát triển trong cuộc đời này. Còn nếu chúng ta hiểu là vì sợ động tâm, không ngồi thiền được nên chúng ta
[1:26:25]sợ bận tâm nên không muốn làm gì hết, không muốn lo lắng điều gì hết cho ai hết thì chúng ta sẽ tạo thành một đạo Phật rất tiêu cực, rất thụ động. Cho nên vì vậy đó là lý do tại sao á mà thầy chỉ sợ đệ tử mình mệt quá thôi, chứ còn đệ tử thấy bận thì không sao. Mà thầy thấy hễ bận mà siêng năng làm công quả, lo cho người này, lo cho người kia trong thiện pháp thì thầy biết người đó coi vậy chứ về sau có chắc ăn. Lại có hậu. Người đó tu sẽ dễ, không sao đâu. Còn giờ có than động bằng trời thầy cũng cười trừ à, không sao. Miễn người đó có thiện tâm, thương người, lo cho đạo thì sẽ có cái hậu luôn luôn để dành để đó, không biết lúc nào.
[1:27:03]Điều đó thầy rất là yên tâm, không sợ, không tiếc. Mà cái hậu đó nó lớn rồi, nó chín muồi rồi, có khi có cái duyên mình sẽ nhập thất một thời gian, còn không có duyên nhập thất thì ngay trong cuộc sống động này đắc đạo luôn. Không sợ, không sợ. Chính cái điều thiện tột cùng. Mà cái điều đó thầy dịch kinh Kim Cang cho tới ngày hôm nay thầy mới dịch ra tới cái câu đó. Cho nên từ hôm trước tới giờ thầy dịch kinh Kim Cang thầy phiền dễ sợ luôn, vì cái lập luận nó không chặt chẽ, thầy phiền. Nhưng mà ngày hôm nay đó, buổi sáng này đây, mọi người đang đây thầy có ít có điện đó thì thầy lên thầy dịch được một lúc, dịch được tới cái câu này.
[1:27:38]Bởi vì có câu là không nhớ nguyên văn chữ Nho, bởi vì làm tất cả điều thiện tức là đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Lọt câu đó vô làm thầy thở phào nhẹ nhõm.
[1:27:53]Tự hỏi vậy được cứu nhờ cò gì chưa?
[1:27:59]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch thầy, kính bạch chư Tăng Ni, thưa qua đại chúng. Giờ con xin kính thưa, con bạch thầy con xin hỏi thầy về cái chuyện mà thầy dạy học nội công khí công á thầy. Như thầy dạy là trụ hơi thở ở đan điền á thầy. Như lúc mà con trụ hơi thở ở đan điền á thầy, thì con ở rốn bụng á thầy,
[1:28:34]thì con lúc mà con thở hơi thở vô, hít vô mới thở ở bụng á, thì con thấy cái bụng nó giống như là nó chứa hơi nó to ra á thầy. Xong rồi đến khi mà con có cái tư tưởng là con muốn trụ hơi để cho nó đắc được cái cái khí công á thầy, thì tự nhiên sao lúc đó con thấy sao cái bụng con không sao nó giống như là nó dồn một cục hơi vô làm sao mà nó cứng là sao thầy? Thưa thầy. Thưa thầy, thầy chỉ.
[1:29:08]Thưa thầy thì con cũng không biết, nhưng giờ con xin kính trình bày ra đây để con nhờ thầy hướng dẫn cho con thêm cái điểm đó thầy. Mô Bổn Sư Thích Ca... Khi mà thở mình hơi thở mình xuống tới bụng á, mình để yên nó một lát, từ từ mình thở ra nhẹ nhàng. Mà mình không cố ý lắm mà vẫn thấy nó cứng cái bụng, nó căng cái bụng lên phải không? Nó căng cái bụng, đó là đắc khí. Đắc khí đó. Nghĩa là mình không cố ý gồng lắm mà vẫn thấy nó căng căng phải không? Đó, đó là đắc khí. Đó là một cái dấu hiệu tốt, không có gì hết. Nhưng mà khi mà nó căng căng như vậy á, nếu mình không biết á, cái mình tác ý thêm cho nó gồng thêm chút nữa thì bắt đầu sai.
[1:29:45]Bắt đầu có tác ý gồng thì nó có dằn và trên não sẽ căng, lực nó sẽ chạy lên, sau này sẽ tẩu hỏa nhập ma. Nên cái khéo á là khi bụng mình nó xuất hiện cái trạng thái căng đó rồi á, thì mình cố gắng luôn luôn giữ toàn thân buông lỏng. Đó, đó cô. Nghe không? Nhớ! Lúc nào cũng giữ toàn thân buông lỏng. Khi mà thấy nó căng cái bụng thì toàn thân phải tiếp tục giữ buông lỏng. Mình không cố ý nữa. À cứ như vậy mà tâm mình nhiếp từ từ. Cứ để ý nhiều ở bụng, ở chân nhiều. Đó cô, nghe không? Nó vậy.