Transcript: Tứ Diệu Đế Bản Tuyên Ngôn Của Phật 12 - Diệt Đế - Phần Ba

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:41:24

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:00]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay lại khóa thiền ở chùa Pháp Vân, chúng ta nghe tiếp loạt bài Tứ Diệu Đế.

[0:12]Hôm nay chúng ta rất vui mừng để chào đón sự có mặt của Thượng tọa Thích Thanh Viên, Phó Thường trực Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Hà Nam, và các Ni sư từ các tỉnh Nam Thái Bình, Nam Định cũng về đây để để để để dự buổi thuyết giảng này. Và hôm nay thì ta đến gần cái ngày Nhà giáo Việt Nam là ngày 20 tháng 11. Con ngồi xuống đi con.

[0:46]Con đứng đó làm cái gì vậy kìa?

[0:58]Ta cũng tổ chức một chút để vinh danh những thầy cô giáo trong đạo tràng của ta. Cái nghề giáo là cái nghề đứng sau cha mẹ, tức là hy sinh nhiều hơn là thụ hưởng. Cha mẹ sinh con nuôi con, thực sự chả thụ hưởng gì, rất là vất vả, lo đủ thứ. Thầy cô giáo cũng vậy, cái sự thụ hưởng lại rất là ít, nhưng cái kiến thức cho đi, cái sự vất vả chăm lo rất là lớn lao. Mà cái văn minh của loài người tiến bộ được hay không chính là nhờ giáo dục. Giáo dục ta tiến đến đâu thì loài người sẽ tiến đến đó. Giáo dục ta tiến đến đâu thì đất nước sẽ tiến đến đó, nên giáo dục rất là quan trọng. Ta như Tổng thống Nelson Mandela nói,

[1:50]"Muốn phá hoại một quốc gia cứ phá cho tan cái ngành giáo dục. Mất cái ngành giáo dục rồi, đất nước đó sẽ sụp đổ." Thế còn con thì ngồi xuống đi con.

[2:07]Đó là lý do mà ta vinh danh các thầy cô giáo là vậy.

[2:13]Thì chỉ là một chút tấm lòng thôi. Sống trong cuộc đời này cũng vậy, cũng chúng ta cũng không có có những có nhiều về vật chất, nhưng một chút cánh hoa, một cái túi. Thấy cái túi dẹp dẹp đó chả biết có gì trong đó nữa, không có cái gì trong đó, nhiều nhiều không biết. Rồi thì thôi thì đây cũng là tấm lòng của huynh đệ nha, của các thầy, các sư cô đến với các Phật tử làm nghề giáo vậy. Biết rằng mình vất vả, nhưng xã hội này không bao giờ quên quên ơn mình vậy. Mà ta có cái Ngày Nhà giáo như vậy để nhắc nhở các học sinh phải biết yêu kính thầy cô giáo vậy. Nên Sư Sư phụ cũng hay nói hoài, hồi lúc Sư còn bé thì Sư phụ đều cho là học giỏi, được cho là học giỏi.

[3:08]Được cho vậy thôi chứ học giỏi thật hay không thì không biết. Cũng hay đứng hạng nhất, ví dụ vậy, ừ, được cho. Mà rồi người ta cứ nói mình thông minh, Sư phụ xét kỹ mình không phải thuộc loại người thông minh. Mình cũng lại hơi ngu ngu nữa. Nhưng mà nhưng mà khi mà xếp loại thì cứ xếp loại cao.

[3:32]Sư mới phát hiện nguyên nhân chính là do mình kính trọng thầy cô giáo chứ không gì hết, kính trọng thầy cô giáo. Khi vào lớp thì thấy thầy cô giáo sợ, kính lắm. Đi ngoài đường mà gặp thầy cô giáo là lật đật khoanh tay đứng chờ để chào đàng hoàng. Nè, đó. Rồi vô lớp, lúc nào cũng là cái lòng, cái kính nó cứ dâng trào. Cho nên theo dõi cái bài giảng của thầy cô giáo không sót một chữ nào. Nhờ là tập trung, nhờ kính trọng cho nên tập trung theo dõi. Nhờ tập trung theo dõi nên hiểu bài hết. Hiểu bài hết rồi, nhờ hiểu bài hết nên về nhà thầy cô giáo cho bài tập về nhà, không bao giờ dám không làm. Làm không sót một bài nào.

[4:16]Và còn sợ thầy cô giáo không vừa lòng, lại kiếm các bài tập khác làm thêm để cho bảo đảm rằng mình nắm bài rất là kỹ, để không làm thầy cô giáo buồn. Chỉ nhờ vậy thôi. Nhờ vậy mà thành ra là cái điểm nó cao, chỉ là vậy. Mà môn nào cũng vậy, môn nào cũng chỉ chỉ sợ là thầy cô giáo buồn rồi ráng học. Nên hôm nay đất ôi nhà Nhà nước mình có cái Ngày Nhà giáo Việt Nam rất là ý nghĩa, rất là hay vậy. Đúng không ạ? Vâng, nối tiếp theo thì

[4:51]hôm nay ta nghe bài Tứ Thánh Đế thứ 12, cũng là bài bài Diệt Đế thứ ba.

[5:00]À, phải, như vậy. Diệt Đế là nói về cái cái nơi, cái đích đến mà không còn đau khổ. Là cái nơi, cái trạng thái không còn đau khổ, cái đích đến không còn đau đau khổ. Cái nơi đó ta gọi là Niết Bàn, là các Quả Thánh. Đó. Mà cái nơi đó nó cũng không phải là một cái nơi, mà chính là một trạng thái tâm của chúng ta khi ta đã đạt được sự chứng ngộ về tâm linh nào đó. Chúng ta không có cái một nơi thuộc về vật chất, ta không có một nơi thuộc về không gian hay thời gian, nhưng ta có một cái tâm. Và cái tâm đó, nếu nó vô minh, nó lầm lỗi thì cũng chính cái tâm đó đó đưa ta xuống tới đau khổ, tới đày đọa, tới sự trừng phạt ở trong các ác đạo.

[6:01]Cũng tâm đó, nếu đó là một tâm phúc lành, tâm thuần thiện thì có thể đưa ta lên các cõi giới rất là cao. Và cũng cái tâm đó, nếu được tu hành đúng đường lối, đúng phương pháp thì ta chứng ngộ các Quả Thánh. Nói về các Quả Thánh á thì các tôn giáo, các đạo giáo nào cũng có các vị thánh của đạo mình.

[6:33]Hoặc là các vị đó được công nhận bởi các vị đồng đạo của mình, là tu chung với nhau rồi nói, "Ồ, vị đó cao cả quá! Vị đó là bậc thánh của chúng tôi." Là do các các đồng đạo công nhận, hoặc là do các tín đồ, cư sĩ bên ngoài họ công nhận. Dạ. Còn riêng trong đạo Phật thì có cái tiêu chuẩn như giống như là tiêu chuẩn khoa học, tiêu chuẩn toán học vậy để công nhận một cái Quả Thánh. Mà cái tiêu chuẩn đó thì chỉ có Phật mới biết á, hoặc là những vị đắc đạo với nhau thì mới biết về nhau, còn người ngoài không thể biết được, không thể đánh giá được. Đó. Hoặc là có cái đạo giáo muốn làm thánh thì phải được phong

[7:21]bởi cái giáo hội trung ương của họ, trung tâm của họ. Ví dụ như đạo Kitô giáo vậy, những vị nào đó có cái công hạnh đặc biệt thì phải được đích thân Tòa thánh Vatican phong thánh thì từ đó mới được gọi là thánh. Đây ta có anh Phạm Văn Thuận, lãnh đạo của Ban Tôn giáo Chính phủ là nghiên cứu về tôn giáo rất là rõ những cái trường hợp này. Đó vậy. Có nhiều khi là chưa được lên thánh thì được phong làm chân phước, à, chân phước trước, rồi sau đó nó xét nữa, nếu thấy đặc biệt, nó xứng đáng thì thôi phong thánh luôn. Đó là là thánh đó phải được phong, giống như là ta phong chức vậy. Còn ở trong đạo Phật ta, các Quả Thánh thì không

[8:06]phải do phong, mà do ta tu tập để ta chứng đạt. Và cái chứng đạt đó, chính ta tự biết mình rất rõ, vậy thôi. Nhưng mà thời Đức Phật thì có Phật và các vị A-la-hán sẽ

[8:24]xác định cho ta là ta đã đến quả chứng nào. Cái thời đó vậy. Nè, có một vị vậy, thấy mình chứng đạt, nhưng mà cũng không dám khẳng định, phải đợi có Đức Phật và các vị A-la-hán khác mới xác định và nói, "Ờ, hiền giả, tôn giả đã chứng được sơ quả, nhị quả hay tam quả." Nhưng riêng thánh quả, nhưng riêng tứ quả thì không cần nữa. Bởi vì khi mà người ta chứng tứ quả A-la-hán thì người ta tự biết rất rõ, không còn nghi ngờ. Nhưng mà ở các Quả Thánh khác thì có thể bị nhầm lẫn. Ví dụ như một người chứng nhị quả Tư-đà-hàm, thấy mình vượt hẳn lên so với trước kia thì có thể tự đánh giá mình rất là cao.

[9:13]Và cái tự đánh giá đó nguy hiểm, cũng tạo thành một quả báo, quả báo không hay. Nếu mà được một vị thầy sáng mắt cho biết, "Không, con mới là nhị quả chứ con chưa phải A-la-hán." thì vị đó nép mình tiếp tục tu tập thì không bị cái không bị tổn phước. Ừ. Nên trong đạo Phật về các Quả Thánh rất là trừu tượng mà rất là rõ ràng, có cái tiêu chuẩn rõ ràng. Hai lần trước

[9:47]Dù nghe có cái tiếng máy nào phát ra. Hai lần trước hai bài trước, ta nói về quả vị A-la-hán, hôm nay ta nói về quả vị A-na-hàm, thấp hơn một bậc là tam quả A-na-hàm, để ta hiểu là

[10:06]trong tứ quả Thánh đó, để được xếp vào Diệt đế trong Tứ diệu đế thì quả A-na-hàm có những đặc điểm gì. Và ta cũng hiểu để hiểu lỡ mình tu, mình có chứng đến những giai đoạn đó mình có thể tự biết được, à mình đã đến được A-na-hàm, hay là Tư-đà-hàm, vân vân, như vậy ha.

[10:29]Quả Thánh A-na-hàm được Phật định nghĩa theo một số tiêu chuẩn như sau, vậy.

[10:37]Ta nhớ thế này:

[10:41]Về các mức độ thiền là dựa vào cái sức định tâm của hành giả. Cái người hành giả định sâu thì ở mức thiền cao, định cạn thì ở mức thiền thấp. Nhưng thiền và Thánh khác nhau.

[11:01]Trong đạo Phật rất là lạ. Chứng thiền, tâm mình rất định, thậm chí có thần thông, nhưng chưa chắc chứng Thánh quả. À đây là điều khác. Nhưng vì không còn thời Đức Phật nữa, không còn Đức Phật nên người ta hay nhầm lẫn giữa chứng thiền và chứng Thánh. Thấy một người đó ta thấy ngồi thiền được mấy ngày, có thần thông, biết quá khứ vị lai này kia nọ thì thường ta gọi đó là một vị Thánh. Nhưng nếu xét đúng tiêu chuẩn của đạo Phật thì chưa chắc. Vì sao vậy? Bởi vì theo tiêu chuẩn của đạo Phật, muốn chứng Thánh thì phải đạt được cái đạo đức cực kỳ sâu xa. Thiền thì do cái sức định tâm, ta tắt hết vọng tưởng

[11:52]mình và tắt rất sâu, tắt cả những cái cái cái vọng tưởng, cái tâm thức, cái vọng tâm mà nằm ở trong mức độ vi tế cực kỳ vi tế thì ta vào định sâu dần. Nhưng muốn chứng Thánh thì phải thành tựu đạo đức, đạo đức thánh thiện.

[12:14]Mà để gọi là đạo đức thánh thiện thì Phật đưa ra các tiêu chuẩn là ta diệt trừ được các bản năng, các kiết sử. À đây tới mức độ rất là sâu rồi. Những điều vậy, ta sẽ nghe những điều mà định nghĩa về các bậc Thánh trong đạo Phật không bao giờ có một đạo giáo nào nói được cả. Chỉ trong đạo Phật mới có những định nghĩa cực kỳ sâu sắc như như thế này. Chúng ta là chúng sinh, chúng ta có cái tâm, có cái tâm. Trong cái tâm này là một cấu tạo cực kỳ phức tạp. Và tâm này cũng không phải là não bộ. Mặc dù nơi con người xác thịt này hoạt động của tâm thức và hoạt động của não bộ gắn với nhau. Nơi chúng ta, nơi chúng sinh ở cõi vật chất này

[13:08]hoạt động của tâm thức và hoạt động của não bộ gắn với nhau. Vì hoạt động của tâm thức và hoạt động của não bộ gắn nhau nên rất nhiều nhà khoa học cho rằng tâm thức chỉ là hoạt động của não bộ. Đây cũng là một cái sai lầm rất lớn của khoa học. Khoa học nhiều cái sai lắm, nhiều cái nông cạn. Từ từ khoa học họ sẽ biết họ thoát ra. Nhưng trước mắt, nhiều định nghĩa của khoa học rất là sai lầm. Chỉ vì hoạt động của tâm thức gắn với não bộ và người ta cho rằng tâm thức chỉ là não bộ. Đó là một cái sai cực kỳ sai. Sau này ta hy vọng họ sẽ thoát ra được. Tâm thức và não bộ không phải là một. Nhưng mà khi ta còn sống thì nó gắn với nhau,

[13:57]là mỗi cái buồn, cái vui của ta, cái giận, cái hờn, cái lo âu, cái hạnh phúc của ta nó đều gắn với những cái sóng, cái hoạt động của các tế bào não hết, của các neuron thần kinh hết. Vì vậy khi ta theo dõi cái hoạt động của neuron thành thần kinh là ta biết người này đang buồn, đang giận, đang vui, đang căng thẳng hay đang thảnh thơi. Ta quan sát cái não các tế bào, cái hoạt động các tế bào để ta đánh giá tâm trạng của người đó. Và ngang đó cứ tưởng tâm thức chính là não bộ là một cái sai lầm rất là lớn, tâm thức không phải não bộ. Nên có khi mà ta chết rồi, ta rời bỏ não bộ này rồi, tâm thức vẫn hoạt động độc lập.

[14:41]Đó vậy, đó là lý do mà ta còn một cái cõi tâm, một cõi tâm linh độc lập với vật chất này. Đây là điều mà khoa học chưa đủ can đảm để bước qua ranh giới đó. Đây là điều rất hạn chế của khoa học. Nhưng tại sao khoa học không dám bước qua khỏi ranh giới vật chất để bước vào thế giới tâm và nghiên cứu tâm thì hãy đợi đến Giao thừa. Sư phụ sẽ giảng trong cái bài "Nền tảng của vũ trụ", sẽ phân tích về điều này. Thì bây giờ vậy. Thì trong cái cấu cấu tạo tâm thức của ta đó, trong cái chiều sâu tâm thức của ta, nó có nhiều lớp nhiều phần cực kỳ phức tạp. Không ai đủ sức để biết về chính mình. Nhớ, nhớ chúng ta chưa bao giờ đủ trí tuệ để tự biết tâm mình, nhớ như vậy.

[15:32]Ta chỉ biết chính chúng ta ở trên một bề mặt rất là cạn mà thôi, những cái suy nghĩ, đôi khi nó buồn quá biết nó buồn, khi giận quá biết nó giận, cái tham quá biết nó tham, còn khi mà nó không quá thì không biết. Ví dụ mình tham mà không quá, mình không biết. Ừ, dễ sợ vậy. Ta ví dụ như là ta thấy có chiếc xe đẹp đi ngang, rồi có người kia nói: "Anh thấy chiếc xe đó làm sao?", nói: "Đâu có làm sao đâu". Giống như tôi đâu có tham. Nhưng bởi vì cái tham đó nó chưa quá, cho nên ta cứ nghĩ mình không tham. Nhưng nếu ta hiểu sâu, tận trong tâm mình ta phát hiện ta cũng rất thích chiếc xe đó, nhưng mà nó chưa quá.

[16:16]Còn khi mà ví dụ thấy chiếc xe đẹp đi ngang mình nhìn cái mình thích, cái thích nó rõ quá cái tự mình biết, tự mình biết à tôi rất thích chiếc xe đó, tôi rất thích, là nó quá thì ta biết, nó không quá, nó chìm lại, ta không biết tâm mình. Nên rất nhiều điều trong nội tâm mình, ta không hề hay biết về nó. Thì trong cái nhiều cái không hay biết về nó, nó có một cái nguy hiểm là bản năng. Bản năng là khuynh hướng tự nhiên của tâm. Ta không cần phải huân tập, ta không cần phải cố gắng, tự nó có và đa phần những bản năng đó là nguy hiểm, là xấu, đa phần là như vậy. Ta có thường thường á những cái định hình cái tâm lý của ta nó ba thành phần.

[17:09]Nghe giùm sư phụ ba thành phần. Một là tập khí, thói quen; hai là triền cái là do vọng tưởng dệt nên; ba là bản năng nằm do chấp ngã vô minh tạo nên. Nhớ lại giùm sư phụ này chút xíu, nhớ cho kỹ. Thứ nhất là do tập khí, là thành phần tập khí. Tập khí tức là thói quen. Cái gì mà ta huân tập lâu ngày rồi, ta quen rồi thì điều đó nó sẽ dẫn dắt cuộc đời ta, dẫn dắt tâm lý ta. À vậy. Ví dụ như là có người thì hễ leo lên xe máy là khoái, thích chạy nhanh. Thì cái chạy nhanh này nó không phải triền cái, nó không phải bản năng mà nó là là tập khí, thói quen. Cái người đó quen tật vậy, hễ leo lên xe là chạy nhanh.

[18:02]Hoặc một người vô tới bữa ăn, nhìn quanh tìm miếng ớt cái đã, không có ớt là không chịu ăn cơm. Cái này gọi là tập khí, thói quen. Nó không phải triền cái, cũng không phải bản năng. Nhớ cái tập khí, nó dẫn dắt tâm lý của ta. Có người đó là hàng xóm mà mở nhạc lên là không chịu được, ồn quá. Nhưng mà hàng xóm mở một loại nhạc khác, mình chịu liền tại cái nhạc đó nó đúng với thói quen của mình. Ví dụ đây là nhạc không lời, nhạc classic, nhạc cổ điển, nhạc hòa tấu, tự nhiên nghe nó dịu, ta không phản đối. Cái thói quen mình nó định hình cái tâm lý của mình, đây là một loại dẫn dắt tâm lý ta. Cái loại thứ hai cấu trúc của tâm lý ta là triền cái.

[18:49]Cái từ triền cái này chưa ai biết hết, chỉ trong đạo Phật mới phân tích ra thôi. Triền cái là những cái tham lam, cái nóng giận, cái ích kỷ, cái do dự, cái nghi ngờ, cả cái buồn ngủ và cái hay người cứ hay máy động nhúc nhích, cũng gọi là triền cái. Và cái triền cái này là do bức màn của vọng tưởng dệt nên.

[19:15]Tự nó không có nhưng mà khi tâm ta còn vọng tưởng lăng xăng lăng xăng thì cái triền cái này xuất hiện, tồn tại. À để ví dụ về cái này thì

[19:30]ta ví dụ thế này. Ví dụ cái quạt đây, nó đang quay. Ta nhìn cái quạt trần á, ta thấy nó đang quay quay ở trên này. Khi mà nó không quay thì nó chỉ là những cái cánh, ba cái cánh. Nhưng khi nó quay rồi thì nó thành một cái gì? Thành một cái màng, giống như một cái hình một cái mâm tròn. Mà nó quay càng nhanh thì cái mâm đó càng rõ. Và những người mà họ giỏi về ngành điện toán, điện tử nơi mỗi

[20:07]Đừng để điện thoại reo làm người ta tập trung nghe không tập trung được mình mang tội đó. Vì những điều mà sư phụ đang giảng trong cái bài Tứ Diệu Đế này cực kỳ quan trọng. Nghe mất một chữ là mất một cuộc đời đó. Trở lại. Như ta thấy cái quạt quay như thế này vậy. Mà nếu cái người giỏi điện toán điện tử người ta cho cái lúc nào cái cái chấm sáng nó hiện ra nơi cái cánh đó thì khi nó quay như vậy có khi họ hiện lên hình hổ, hình rồng, hình mây, hình nước, hình người trên đó. Mà thật ra chỉ là cánh quạt quay thôi, với chấm với những cái chấm sáng được điều khiển thôi. Nhưng mà khi nó quay vậy nó thành ra cả một cái màn hình được biểu diễn ở trên đó.

[20:58]Đây là ở kỹ thuật cao như vậy mà các nước người ta làm được. Ví dụ bây giờ người ta muốn biểu diễn trên không gian 3D, người ta sẽ đứng đây người ta dựng cái máy quay, nó quay tít đi. Trong cái không gian quay tít cả cái vùng rộng lớn thế này ờ ta thấy sa mạc, thấy biển cả, núi non, ờ chim đại bàng, thấy hổ, thấy beo và thấy những con người đánh chiến đấu với nhau như một cái không gian có thật vậy đó. Nhưng khi mà nó dừng quay một cái, không còn gì hết, chỉ là những cái cánh cánh quạt đưa ra thôi. Nên ở đây là những hình ảnh đó nó bám vào cái quay của cánh quạt mà hiện ra hình. Cái chỗ này kỹ thuật hơi cao,

[21:37]các cụ già nghe hơi khó hiểu, nhưng cái lớp trẻ có thể hiểu.

[21:44]Mà giải thích cho các cụ mà hiểu hết thì thêm 3 ngày nữa. Thế nên các cụ thông cảm nha. Ví dụ các cụ nghe mà cánh quạt nó quay mà nó tạo hình, cụ nghe lớ ngớ không hiểu gì hết. Không sao, no problem, không sao nha. Còn cái lớp trẻ, nghe cái cánh quạt quay mà tạo hình, có hiểu không? Tụi con không hiểu là bị ăn đòn rồi nha. Tới tuổi tụi con là buộc phải hiểu những kỹ thuật cao này, vì nó liên quan tới đời sống hiện tại của mình rồi. Đó. Và khi mà nó không quay nữa thì không có hình nào cả, chỉ là cái cánh quạt đứng trơ trơ, khô khan. Thì triền cái cũng vậy, trong tâm ta cũng vậy. Khi có vọng tưởng nhấp nhô,

[22:30]khởi động thì xuất hiện trong cái cái cái cái vầng mây vọng tưởng đó có tham, có sân, có ích kỷ, có đố kỵ, có buồn ngủ, có máy động, có do dự, có hoài nghi, đủ thứ trong cái vầng mây vọng tưởng đó. Chính nhờ có cái vầng mây vọng tưởng mà ta có các triền cái tham, sân, nghi ngờ, ích kỷ, đại khái như vậy. Và những cái triền cái tham, sân, nghi ngờ, do dự đó dẫn dắt tâm lý ta, dẫn dắt cuộc đời ta cũng giống như cái tập khí hồi nãy, phải không ạ? Nãy ta nói cái tập khí rồi đó. À, nói a có một người á có cái thói quen hễ là có tiền trong túi thì không chịu được, phải đem cho người ta. Cái người này có thói quen bố thí,

[23:21]thói quen này rất là lành mạnh, gọi là tập khí đó, tập khí thiện. Hễ có tiền là bắt đầu phải suy nghĩ tìm người để đi cho, bỏ tiền túi chịu không được. Đây là một loại tập khí, mà ai có tập khí này tương lai sẽ rất là giàu nha. Đó là tập khí là thói quen. Rồi bây giờ ta đang nói về cái triền cái. Tham, sân, ích kỷ nó không phải là là là là thói quen dẫn dắt tâm lý ta nữa, mà triền cái dẫn dắt tâm lý ta. Và cái triền cái này nó bám vào đâu?

[23:52]Nó bám vào đâu? Vọng, vọng tưởng. Hễ còn vọng tưởng thì triền cái còn tồn tại. Nếu vọng tưởng tắt một cái, tất cả triền cái này biến mất, không tham, không sân, không hoài nghi, do dự, không buồn ngủ, không máy động gì nữa, tắt hết luôn. Người thanh tịnh liền. À ví dụ bây giờ ấy ta còn cái tính tham, cái tham này là tham của triền cái, tham ở mức độ cạn. Nhưng khi ta ngồi thiền cái thời hôm đó bắt đầu tâm ta lắng được một cái, rồi khi ta xả thiền trong tâm vẫn thanh tịnh, không có vọng tưởng, bước tới bước lui lòng rỗng rang thì cái ngày trước đó ta ta ta ta đi ngang qua một cái một đống tiền, ta thích liền.

[24:46]Nhưng mà ta không dám lấy thôi, tại của người ta mình lấy mình bị ở tù, nhưng lòng rất là thích tiền. Nhưng ngày hôm nay qua cái khóa cái thời thiền tâm đã thanh tịnh, ta cũng đi ngang cái đống tiền đó bỗng nhiên thấy nó trơ trơ à, thấy chỉ là đống giấy à, không ham nữa. Thì ta tự ta thấy ủa, sao bữa nay mình không ham tiền nữa cà? Chỉ bởi vì cái gì? Vì cái triền cái tham nó đã biến mất, đã tan vỡ. Vì đâu? Vì vọng tưởng đã đã hết. Vọng tưởng, cái chỗ bám của cái tham, vọng tưởng mất thì cái tham không còn chỗ bám, tự nó tan vỡ như hư không mà thôi. Cái triền cái là vậy, nó dẫn dắt tâm lý ta nhưng nó dễ phá, dễ hết.

[25:31]Chỉ cần tâm ta thanh tịnh ở trong mức độ chánh niệm tỉnh giác thôi là mấy cái triền cái tham, sân, ích kỷ là nó tan, rất là dễ. Nên ở giai đoạn này cái người nào mà tu tập chứng được chánh niệm tỉnh giác, ta thấy người đó cũng khá giống như một bậc Thánh á: không tham, không sân, không ích kỷ, không hoài nghi, không do dự. Đó là như vậy. Và cái thứ ba là kiết sử, là cái bản năng dẫn dắt tâm lý của của ta.

[26:05]Mà cái bản năng này này thì đừng hòng phá nó, đừng hòng. À. Khi tâm ta thanh tịnh, không vọng tưởng, triền cái tham sân biến mất, nhưng ta còn một cái tham sân khác nằm trong bản năng, nằm trong vô minh chấp ngã. Kiết sử nằm trong vô minh chấp ngã, cũng tham, cũng sân, cùng tên với nhau và nó không mất. À. Ta hết tham của triền cái, ta hết sân của triền cái, ta hết cái ích kỷ của triền cái, nhưng không ngờ cũng ba cái đó nó còn nằm ở trong bản năng ta vẫn còn, vẫn còn tham, vẫn còn sân, vẫn còn ích kỷ. Cái này mới khủng khiếp. Nên ở đây ví dụ như bây giờ một người có cái có cái tánh hẹp hòi,

[26:53]ờ có cái gì lo cho mình trước thì đó có thể đó là một thói quen. Và thói quen này dễ sửa không? Dễ sửa không? Không, cũng dễ sửa, không khó đâu. Cứ đi theo đạo tràng tu tập rồi tụng kinh, cái lời kinh đó dẫn dắt ta cái ta mất cái thói quen hẹp hòi. À bây giờ ví dụ như bây giờ tới cái buổi ăn, huynh đệ dọn bày ra ăn hết thì trước đây là ta phải lo cho mình ăn cái đã. Nhưng khi theo đạo tràng ta mất cái thói quen đó, ta lo cho huynh đệ trước. Vì trước đây đó ta phải lo ăn cho no cái đã, lỡ nó thấy đông người quá sợ cơm nó hết nên ta phải ăn cho no cái đã, lo cho mình trước. Sau này ta tu rồi ta bỏ thói quen đó, ta lo cho huynh đệ ăn trước.

[27:39]Hết cơm thì mình nhịn hay chạy ra đường mua khúc bánh mì ăn tạm. Ta mất cái thói quen đó, thói quen rất dễ sửa. Nhưng mà cái triền cái tham thì sao? Vẫn còn, vì vọng tưởng ta còn. Nhưng khi ta tu thiền một thời gian cái vọng tưởng nó mất, cái tham nó mất luôn. Nhưng mà yên chưa? Chưa, vì còn cái bản năng tham ở trong. Cái cái bản năng tham cực kỳ kiên cố, không dễ phá. Nên ở đây chỗ này nè ta để ý nè, ví dụ bây giờ ta gặp một người tu hành nhiều năm tháng, lòng người này cũng thanh thản, cũng thanh tịnh vậy. Rồi bây giờ hỏi a nói à: "Thưa à sư huynh," ừ, "trên đời này sư huynh còn thích điều gì?" Thì ổng ổng ổng ổng trả lời rất là thật, ổng nói:

[28:32]"Tôi chẳng còn thích gì cả." Ha. "Mọi thứ trên đời này nhìn thấy giống như là là gió thoảng, mây trôi, như nước chảy, như phù hoa, như giấc mộng, tôi chẳng còn thích gì cả." Thì người này có phải là đã chứng Thánh chưa? Sao biết chưa? Gan vậy?

[28:58]Chưa chi nói người ta chưa, hay thiệt á. Có phải thầy của người ta không mà biết người ta chưa?

[29:07]Thì ta thấy người đó họ sống cũng thanh bai, đạm bạc, cũng không cần gì. Và ta hỏi người đó thì người đó họ nhìn vào tâm mình, họ thấy họ cũng không thích gì. Thì như vậy là người này gọi là không còn tham. Nhưng mà ta có ba cái loại tham. Một cái loại tham do tập khí thì mình tụng kinh thời gian hết, một cái loại tham do triền cái, tâm thanh tịnh rồi nó mất. Nhưng ta không biết liệu còn cái tham trong trong bản năng kiết sử hay không. Cái này mới đáng sợ. Ta không biết. Cái này phải là sao? Phải bậc Thánh, phải A La Hán mới biết, phải Đức Phật mới biết thực sự. Nên vì vậy khi một người tu tâm được thanh tịnh, không tham, không sân, như là Thánh.

[29:58]Nhưng mà phải Thánh thật hay không thì ta chưa thể xác định được. Tại vì có khi họ hết tham hết sân mà chỉ hết cái tham cái sân của của triền cái hay tập khí mà thôi, chứ cái tham sân của kiết sử bản năng chưa đụng được thì chưa phải là Thánh. Nên ở đây vậy ta mới thấy cái khó để được gọi là Thánh trong đạo Phật. Ví dụ một người nào ta sống trên đời ta thấy người đó rộng rãi, hay giúp người khác, chẳng tham gì cho mình thì ta lật đật ta phong người đó là gì? "Ông Bồ Tát của tui đó nha. Ở trong xóm tui có cái ông đó ổng hay lắm, ổng không sống gì cho mình, có gì ổng cũng cho, nhờ gì ổng cũng giúp, à ổng đó như là Bồ Tát". Mình phong liền.

[30:44]Mình chưa lên Giáo hoàng mà mình đã phong tùm lum hết trơn rồi, phải không? Nhưng mà cái cái ông đó hiền lành, tốt bụng, tử tế đó không biết là ổng phá được cái ích kỷ của ổng á ở mức độ tập khí, triền cái hay là kiết sử? Chưa biết. Phải có con mắt gì? Phải con mắt Thánh, phải có Đạo nhãn, Thần nhãn, Thiên nhãn mới nhìn thẳm sâu vào tâm ông mới biết ông đã mất cái tham, cái sân ở mức độ nào. Vì nếu mất ở cái mức độ tập khí dù cho ổng sống nhẹ nhàng, không tha muốn gì vẫn là phàm phu. Rồi mất cái tham sân nhưng mà cái tham sân đấy chỉ là tham sân của triền cái, mặc dù ổng rất thanh bai nhưng ổng vẫn chỉ là gì? Phàm phu.

[31:29]Dễ sợ chưa? Chỉ khi nào ổng nhổ lên được cái tham sân nằm trong kiết sử bản năng thì trong đạo Phật mới gọi là người chứng Thánh quả. Ta thấy Thánh quả trong đạo Phật khó không? Khó vô cùng, không dễ chút nào, không dễ chút nào. Ta hiểu cái điều này rồi, hiểu cái cái cái kiết sử, tập khí, triền cái rồi, ta mới thấy một vị mà được gọi là chứng Thánh trong đạo Phật là thiên nan vạn nan. Rồi ta mới nhìn qua các đánh giá tâm lý của loài người từ xưa giờ kể cả các nền triết học, các nền tâm lý học và các nền đạo học khác đều cực kỳ cạn cợt. Chưa bao giờ đạt được đến mức độ như là là Đức Phật định nghĩa cả. Khó đến như vậy.

[32:17]Nên hôm nay ta nói đến cái quả vị A-na-hàm.

[32:24]Mời cụ lên ghế ngồi đi nha. Cụ ngồi dưới đó mỏi lưng. Đúng, giỏi.

[32:33]Nhiều cụ. Còn mấy cụ nữa đó, mấy cụ cũng vậy, ứ ứ tóc bạc bạc á, cứ nhìn ai đầu bạc bạc á thì ta mời lên ghế ngồi. Mà nếu bạc mà do nhuộm thì vẫn ngồi lại tại chỗ.

[32:56]Có cụ đó cũng bạc. Mời cụ lên ghế ngồi đi nha. Cụ bạc, bạc đây nè. Rồi có những cái người tóc đen nhưng mà do nhuộm, có khi cũng ngồi cũng không nổi đó, phải mời lên ghế ngồi đó.

[33:16]Nên hôm nay khi ta nói về quả vị A-na-hàm,

[33:21]quả vị A-na-hàm được định nghĩa diệt sạch tham, sân. Cái chữ hết tham, hết sân của một bậc A-na-hàm là cực kỳ vĩ đại. Vì hồi nãy ta nói là ba cái lớp mà hướng dẫn, dắt tâm lý ta đó là tập khí, triền cái và bản năng. Diệt được cái tham sân của tập khí vẫn là phàm phu. Diệt được cái tham sân của triền cái vẫn là phàm phu. Mà phải diệt được cái tham sân trong bản năng kiết sử gắn chặt với vô minh á, chấp ngã đó thì mới là bậc Thánh trong đạo Phật. Đến mức độ này ta mới thấy cái độ khó của một một vị Thánh. Mà A-na-hàm được định nghĩa là dứt sạch tham, sân. Ta không phải là một người chứng A-na-hàm,

[34:14]ta không hiểu. Bao nhiêu năm nay ta theo Phật tu tập, ta theo đạo tràng tu tập và ta cảm thấy mình có bớt tham, bớt sân, đúng không ạ? Bớt. Mì ta có phải hơi hơi A-na-hàm chưa? Chưa nha. Không có hơi hám gì đâu nha. Còn xa lắm.

[34:46]Cái bậc Thánh đầu tiên là gọi là gì? Sơ quả gì? Tu-đà-hoàn. Sơ quả Tu-đà-hoàn. Để chứng được sơ quả Tu-đà-hoàn ta cần dứt sạch ba kiết sử. Một là gì? Ích kỷ. Hai là gì? Nghi. Ba là gì? Giới cấm thủ là cố chấp. Ba cái kiết sử này khó diệt lắm á. Vì vậy một người mà được gọi là chứng quả Tu-đà-hoàn dứt được ba kiết sử trong bản năng này là những người vĩ đại. Hôm nay ta không có nói, tại vì đợi tới cái bài Diệt đế mà phần nói về Tu-đà-hoàn ta sẽ nói về một vị Tu-đà-hoàn mà dứt được ba kiết sử này.

[35:41]Dứt được ba kiết sử này mới là sơ quả Tu-đà-hoàn. Thì thế nào là một người chứng nhị quả? A, chỗ này đây, chúng ta nghe định nghĩa. Một người chứng nhị quả cũng là một người đã diệt được ba kiết sử đầu đó cộng thêm, đây cộng thêm cái này đây, nghe cho kỹ đây:

[36:03]Mỏng nhạt tham, sân. À. Tức là quả vị Tu-đà-hoàn

[36:13]quả vị Tư-đà-hàm á, nhị quả đó, quả thứ hai đó, rất giống với quả vị Tu-đà-hoàn, rất giống. Chỉ có thêm cái là cái tham, cái sân của bản năng mỏng bớt nhưng mà chưa dứt sạch. Đợi dứt sạch thì là A-na-hàm. Như vậy cái nhị quả Tư-đà-hàm lạ lắm, nó lơ lửng giữa A-na-hàm là hết sạch tham sân mà nó lơ giống Tu-đà-hoàn là nó cũng diệt xong ba kiết sử kia rồi. Cái mỏng bớt tham sân chúng ta khó hình dung. Nhưng mà người nào chứng Tư-đà-hàm thì họ sẽ biết vậy. Giống như không còn tham sân, nhưng thẳm sâu bên trong tham sân vẫn còn chứ chưa có hết. Nà tới A-na-hàm mới hết sạch. Như đó là cái nhị quả Tư-đà-hàm, nhưng mà hôm nay ta chưa học tới nên thôi bỏ qua.

[36:59]Hôm nay ta nói về A-na-hàm là một vị mà dứt sạch tham sân. Nói cái chữ dứt sạch tham sân thì ta nghe bình thường. Thấy nó có bốn chữ à, "dứt sạch tham sân", bốn chữ. Nhưng để được bốn chữ này thì sao? Ta phải đi qua không biết bao nhiêu bao nhiêu nghìn kiếp rồi, bao nhiêu nghìn kiếp đã tu tập rồi, không đơn giản chút nào. Và cái hết sạch tham sân này cực kỳ vĩ đại. Mà ta không ở trong cảnh giới đó ta không hiểu nổi cái sự vĩ đại của một bậc A-na-hàm hết sạch tham sân. Những cái gì của trần gian, những cái gì của dục lạc, những cái gì của thú vui, những cái gì của tài sản, những cái gì của danh lợi

[37:51]không còn một hạt bụi nào ham muốn trong tâm nữa.

[37:59]Cái này rất là khó huynh đệ, chúng ta không hình dung được huynh đệ. Ví dụ như chúng ta bây, bây giờ... Bây giờ nói thế này, nói: "Anh, anh theo đạo tràng anh tu lâu, thấy anh không ham muốn gì, thôi thì giao cho anh giữ tiền quỹ của đạo tràng. À cái số tiền quỹ huynh đệ góp lại anh giữ. Và anh giữ thì anh chi tiêu, có khi có chuyện số tiền thấp thì anh chi ra, còn số tiền lớn một chút thì anh hỏi ý kiến nhau, hỏi huynh đệ một chút. Mà mỗi lần chi tiêu này kia nọ thì ghi sổ kỹ lưỡng để báo cáo cho huynh đệ biết minh bạch". Thì vậy có gì sai không? Có không? Không, đúng thôi. Đó là làm theo nguyên tắc mà.

[38:52]Nguyên tắc của kế toán hay thủ quỹ, tài chính là như vậy. À ta được quyền chi tới đâu như vậy thì có gì để ham không? Làm cái công việc đó có gì để tham không? Có không? Có không? Có. Nói: "Có cái gì tham kìa, có lấy được tiền đồng nào đâu mà tham, tại lòng tham mình đã hết rồi. Huynh đệ thấy rõ bao nhiêu năm tu hành mình chỉ là người bố thí, có tiền móc tiền túi ra đi cho, đi cúng dường nữa nên người này không tham, gia đình cũng khá giả nên ta mới yên tâm giao cho người này làm kế toán, thủ quỹ cho đạo tràng". Thì có cái gì để tham đâu? Và vẫn tham. Cái tham đó là tham cái gì?

[39:45]Cái tham đó là mình vẫn là một giá trị quan trọng trong trong đạo tràng, trong huynh đệ.

[39:54]Đâu phải ai cũng được niềm tin mà được giao cái cái tiền bạc cho giữ như vậy đâu. Mình được người ta tin, huynh đệ tin tưởng giao tiền bạc để giữ cho nên trong con mắt của huynh đệ mình là một người có giá trị, có quan trọng. Cái giá trị đó, quan trọng đó nó có rõ ràng không? Có không? Không, chẳng có gì rõ ràng cả. Đạo tràng mình chứ bộ cơ quan nhà nước sao mà quan trọng. Đạo tràng mấy huynh đệ tu với nhau thôi mà, giữ tiền cho nhau thôi mà mà được mấy đồng, cũng đâu có được nhiều tiền đâu. Huynh đệ đâu có giàu đâu mà góp nhiều. Nói chung chả có gì để ham, để mê, để thích nhưng ta vẫn còn một cái thích

[40:33]tiềm tàng bí mật vì sự quan trọng của ta trong cộng đồng của mình. Cái bí mật vi tế đó ta không thấy đâu, nhưng nó vẫn là kiết sử, nó vẫn là bản năng, nó vẫn là tham muốn dù rất khó thấy, rất mỏng nhạt.

[40:53]Mà một người họ chứng một vị mà chứng A-na-hàm rồi những cái điều vi tế, nhỏ nhiệm đó sạch, không cần, không tham. Làm hay không làm không quan trọng mà kiểm soát được cái ham, cái thích đó rất là kỹ vì không còn cái ham, cái thích nữa dù rất bé, dù rất vi tế, dù thấy như không có gì nhưng nó vẫn có đó. Nên ở mức độ nhiều, mức độ sâu xa ta không thể không ngờ được, ta không ngờ được. Rồi ví dụ vậy. Bây giờ hôm nay là ngày 20 tháng 11. À hôm nay chưa nhưng mà đạo tràng thông báo là đạo tràng sẽ vinh danh thầy cô giáo và đạo tràng yêu cầu các thầy cô giáo trong đạo tràng hôm nay lên nhận quà để cho huynh đệ bày tỏ cái tấm lòng và yêu cầu mặc đồ đẹp.

[41:47]Ta có thích mặc đồ đẹp không?

[41:52]Hỏi kỳ quá, hỏi kỳ quá, ai mà không thích mặc đồ đẹp. Nhưng mà ta thích mặc đồ đẹp là vì gì?

[42:02]Là vì ta phải tôn trọng huynh đệ hay là ta để được mình đẹp? Hai cái này khác nhau.

[42:12]A-na-hàm hay không A-na-hàm là chỗ này. Ta mặc đồ đẹp vì ta cần đẹp thì cái đó là phàm phu. Còn ở đây ta mặc đồ đẹp vì huynh đệ yêu cầu mà cũng vì khi ta xuất hiện trước mặt mọi người ta đứng trên lễ đài đây với Hòa thượng đây thì ta mặc đồ đẹp để bày tỏ sự tôn trọng mọi người thì cái này A-na-hàm đây. Mặc đồ thì giống nhau, cũng mặc đồ đẹp giống nhau nhưng một người còn thích và một người không còn thích, một người còn vì mình và một người không còn vì mình. Những cái điều tế nhị đó ta nhìn ra không? Rất là khó phải không ạ? Nó nó tinh tế vô cùng, nó sâu xa vô cùng. Mà một vị A-na-hàm cái trí tuệ sâu sắc, họ kiểm soát được những điều đó rất là kỹ.

[43:03]Cũng mặc đồ đẹp giống nhau nhưng mà thực sự người còn ham và một người không còn ham, người chỉ vì bổn phận mà mặc đồ đẹp mà một người vì cái vui của mình mà mặc đồ đẹp, phải không cô Phương Nam? Hôm

[43:23]nay mặc đồ đẹp đấy nha, mà không biết vì ai, thôi.

[43:30]Khi ta nghe nói là một bậc A-na-hàm mà không còn tham, không còn sân thì cái đó nó vĩ đại khủng khiếp lắm. Nó tinh tế, nó sâu xa. Rồi bây giờ vậy.

[43:57]Đó là ta nói về cái sự quan trọng, bây giờ cái sự quan trọng của ta đối với cộng đồng nó lớn. Ta có đạo đức cho nên không thể đem tiền mà mua ta được, nhưng đem rất nhiều tiền mua ta mất á. Vì cái đạo đức của ta nó có giới hạn, nó không phải là là vô tận, không phải vô tận. Chỉ khi nào ta bắt đầu chứng Tu-đà-hoàn bây giờ ta so sánh chút xíu nè, bây giờ có một người đến mới nói với ta à bây giờ bạn làm việc cho tôi ha, tôi cho bạn bao nhiêu đây tiền, tôi cho bạn 10 tỷ. Hỏi: “Làm việc gì?” Thì: “Tôi kêu gì bạn làm nấy. Thì tôi cho bạn trước 10 tỷ.” Một bậc Tu-đà-hoàn suy nghĩ sao? Bậc Tu-đà-hoàn không còn cái vị kỷ cho nên nói

[44:58]mới nghĩ trong đầu lỡ rủi nó sai mình làm cái điều bất chánh thì sao? Nên mình khước từ. Nói: “Không. Cái giá trị, cái nhân phẩm, cái đạo đức mình không thể mua được bằng 10 tỷ.” Cái nó bèn nâng lên 100 tỷ thì mua được vị Tu-đà-hoàn chưa? Mua được chưa?

[45:22]Cũng chưa, tại vì nếu mua được đã không là Tu-đà-hoàn. Cái nó nâng lên 1.000 tỷ, mua được chưa? Mua được chưa? Cũng chưa mua được, tại vì nếu mua được thì không phải Tu-đà-hoàn. Nhưng nó thêm một câu này nè, bắt đầu là được nè. Này, chung quanh của ngài bạn rất nhiều người nghèo, xóm bạn tôi thấy rất là nhiều người nghèo, nếu không phải là bạn thì không ai giúp họ. Với số tiền mà tôi đưa bạn 1.000 tỷ thế này thì ngoài cái việc bạn giúp cho gia đình, cho con cháu, cho dòng họ hàng bạn, bạn giúp được hàng xóm rất là nhiều, những cái cộng đồng chung quanh rất là nhiều. Cái số tiền này qua tay bạn sẽ trở thành rất là ý nghĩa.

[46:05]Ông Tu-đà-hoàn rớt vì cái câu này vì cái nó gợi cho ông một đạo lý cao thượng. Và vì cái ông nghĩ rằng với 1.000 tỷ này ông sẽ làm được nhiều việc phước thiện giúp cho nhiều người nên ông đồng ý ký một cái hợp đồng từ đây theo nó, nghe lời nó. Cái chết là cái nghe lời nó không biết nó kêu mình làm cái gì nhưng mà ôm ngàn tỷ vô, nghĩ mình ôm một ngàn tỷ này mình làm được nhiều điều lợi cho con người, nhưng những điều nó sai sau này là toàn tiêu diệt, tàn phá con người, cái này mới độc hại nè. Thì chỗ này Tu-đà-hoàn còn bị gãy. Bị gãy là bởi vì cái gì? Vẫn còn thích một cách rất vi tế giúp người, giúp đời.

[46:50]Vẫn còn một chút giá trị tiềm tàng của bản thân mình trong cái việc làm từ thiện. Tuy cái việc làm từ thiện là không phải vì mình nhưng cái tôi vẫn còn len lỏi trong đó là khi ta làm được nhiều việc từ thiện như vậy ta có giá trị trong trong cộng đồng. Chỗ này là chỗ chết mà người Tu-đà-hoàn chưa vượt qua được mà bậc A-na-hàm mới vượt qua được chỗ này. Bậc A-na-hàm vượt qua được chỗ này. Giúp người thì giúp nhưng không bao giờ để lẫn một chút cái tâm lý để cho mình có giá trị trong cộng đồng. Cái chỗ tinh tế này thì bậc A-na-hàm mới thoát được chứ Tu-đà-hoàn không thoát nổi. Ta thấy sợ cho những cái chỗ tinh tế thế này,

[47:38]ta thấy sợ, ta mới thấy cái vĩ đại của một bậc A-na-hàm. Tức là bậc A-na-hàm ngoài cái sức thiền định lắng tâm thẳm sâu, các ngài diệt được cái tham sân thẳm sâu ở trong bản năng nên các ngài tinh tế về cái đạo đức tới mức độ mức độ như tinh khiết như một viên kim cương không tì không vết vậy. Cái đó vĩ đại vô cùng, còn chúng ta thấy tốt đó nhưng lẫn theo cái xấu, thấy thiện đó lẫn theo cái ác, ta không đủ sức để lọc ra, ta không đủ sức lọc ra bởi vì tham sân ta chưa sạch. Mà ta tham cái gì? Nó không phải tham những điều vật chất mà dễ thấy đâu. Những cái tham đó nó sâu xa, nó tinh tế, cực kỳ khó thấy.

[48:28]Mà cái tinh tế sâu xa đó nhiều khi góp lại chỉ là một điều, cảm thấy mình có giá trị trong trong mắt mọi người, cảm thấy mình có giá trị đối với với cộng đồng. Cái giá trị đó là một cái gì mơ hồ, trừu tượng nhưng vẫn làm cho mình thích và đây là chỗ kẹt mà một bậc Thánh dưới A-na-hàm có thể còn bị vướng, nhưng một bậc A-na-hàm thoát được cái chỗ này. Giúp đời, giúp người, hy sinh tất cả mà thẳm sâu trong lòng mình cái sự trong sạch, sự thánh thiện là không cần một cái giá trị quan trọng nào trong cộng đồng cả, như mây như gió, hoàn toàn tự tại. Cái này rồi ta mới thấy vậy. Thế còn cái sân là gì? Còn cái sân là gì?

[49:19]Sân là nóng nảy. Nhưng cái sâu xa hơn của cái sân là gì? Là thù hận, tức giận và căm ghét, thù dai, không ưa, không thích.

[49:34]Cái chữ không thích là đã bắt đầu phạm vô cái sân rồi đó. Còn ghét là rõ ràng là cái sân. Tới thù hận, căm tức, tức giận thì rõ ràng là cái sân. Nhưng những bậc thánh thì họ không có cái sân thô nữa. Vì đã tới cái bậc mà chứng được chánh niệm tỉnh giác, phá được cái triền cái sân. Đúng rồi. Phá được cái triền cái sân, ta không bao giờ thấy cái vị đó cái sân thô, nhưng coi chừng cái ghét ai đó vẫn còn. Tới bậc A-na-hàm thì không còn ai để ghét nữa. Đối với những kẻ cực kỳ lầm lỗi, chỉ tội nghiệp mà thôi. Ví dụ, gặp một cái tên đó, nó hiểm độc, nó gian trá, nó ích kỷ, nó hại người, nó tàn nhẫn, nó lạnh lùng.

[50:25]Như mình là mình mà coi trong những cái phim đó, mình coi trong cái phim, mình thấy cái thằng này nó mưu sâu kế độc, phải không? Nó giết cái người bên cạnh nó, nó tham vọng thống trị thế giới, nó chế ra cỗ máy này, nó chiếm đoạt cái vũ khí kia, nó hại không biết bao nhiêu người. Mình coi phim mà mình mong cái gì? Mong cái cái người anh hùng vai chánh là giết cái thằng đó cho rồi đi, quá ghét nó rồi, chịu hết nổi nó rồi. Coi từ đầu phim tới giờ nó hại không biết bao nhiêu người. Tới khi mà cái trận đánh cuối cùng giữa cái nhân vật chính ha, một cái nhân vật chính đánh rất là vất vả rồi cái đâm cho nó được

[50:58]một cái dao ực vô trong người nó, cái bắt đầu nó từ từ nó lịm đi. Trời, mình mãn nguyện gì đâu, mình thoả mãn quá. Tại bởi vì sao? Bởi vì mình còn cái sân.

[51:10]Bởi mình còn cái sân, mình còn cái ghét á. Từ đầu phim tới giờ mình ghét cái thằng này quá, chịu hết nổi. Mà nó hại người này, nó thắng người kia, nó khôn quá, không ai không ai làm gì nó được. Mà cái người nhân vật mà anh hùng vai chính á cũng đấu tranh quá vất vả. Đến khi mà mặt đối mặt ở trong cái trận chiến cuối cùng, tại vì đã diệt hết những đàn em nó rồi, tới cùng mặt đối mặt nó đánh một trận đánh cuối cùng rất vất vả mà thắng nó cũng thật sự là may mắn. May mắn làm sao biết chụp được dao mà nó rớt ra tao đâm nó được cái hử vô tim nó, nó ngoặc quèo ngoặc quẹo từ từ từ từ nó chết, mình ngồi mình mãn nguyện, mình sung sướng gì đâu.

[51:45]Cái sung sướng của mình là cái gì? Sân. Nó là cái cảm giác mà cái sự ghét bỏ của mình được đáp ứng, được thoả mãn, đó là cái sân. Còn nãy giờ mình ghét nó là cái gì? Sân. Là cái sân. Cũng giống như vậy á. Ta nghe bên hàng xóm lúc đang có cái mùa đập bóng đá, vô, vô nghe rần rần rần rần, cái một lát mình nghe tiếng chửi thề, mình nghe đập cái rầm, cái gì nó tan vỡ gì dữ lắm, sáng ra mình hỏi chuyện gì vậy, nói: "Dạ, cái đội của ổng thua, ổng lấy cây ổng đập bể cái tivi của tôi rồi." Cái đó là vừa tham, vừa vừa sân, đủ thứ cái chúng sinh phàm phu đầy đủ trong một cái trận bóng đá nó như vậy. Không biết ổng cá độ mất bao nhiêu tiền không biết,

[52:32]hay là ổng cái fan của ổng bữa nay là đá sao nó kỳ quá đi, ha, cái cặp chân vàng đấy, cái fan cái cầu thủ đó bữa nay sao đá không lọt vô, mà bên kia thắng rồi đập mất bể cái tivi bây giờ phải kiếm để dành giụm mua cái tivi khác lại, đó. Những cái đó là những cái sân. Nên cái sân nó không phải là cái nỗi nóng thô nữa mà nhiều khi chỉ là những cái ghét vi tế thôi, vẫn là là sân. Ví dụ như bây giờ, ví dụ thầy có thói quen, có cái tập khí,

[53:04]à giờ thầy thích cái người nào mà cạo trọc, à thấy nhìn thấy thấy rất thích nha, a đầu cạo dễ thương ghê nha, à anh Trí Thông, anh Thông cạo đó đó đó thấy dễ thương gì đâu, ha thấy không? Thấy dòng mấy người có tóc là thấy không ưa rồi. Đó là cái gì? Đó là gì? Sân á. Ta còn có cái gì để không ưa nhau, đó là sân. Không không có hợp ý mình, mình không ưa, cái không ưa đó là sân. Một bậc A-na-hàm không có chuyện đó. Một bậc A-na-hàm không có chuyện mà lựa chọn chúng sinh thích mình, không thích mình, phe này phe kia để ưa hay là không ưa. Các ngài thương hết tất cả. Dù chúng sinh đó lầm lỗi, càng lầm lỗi chừng nào thì càng thấy tội nghiệp.

[53:53]Vì chúng sinh đó sẽ sao? Biết nó sẽ không còn đường nào ngoài địa ngục, súc sinh. Chết rồi đoạ làm chó làm trâu hay là chết rồi bị xuống xuống địa ngục đày đoạ trừng phạt luôn. Biết rõ đó thôi, chứ còn nói ghét, không ghét nữa. Đó, ghét, không ghét nữa. Ừ. Nên cái mà cái là Bởi vậy tới cái mức độ mà ta không ghét được kẻ ác nữa, cái đó nó vĩ đại lắm. Nhưng mà nói không ghét kẻ ác nữa không phải là nuôi dưỡng kẻ ác, không có, không có nuôi dưỡng. Ta nói không ghét thôi, ta đâu có nói nuôi dưỡng kẻ ác đâu, phải không? Bởi vì kẻ kẻ ác có cái gì? Có luật pháp trừng trị, có luật nhân quả trừng trị, có dư luận người ta phê phán.

[54:38]Dạ. Nhưng mà cái dư luận phê phán,

[54:43]cái pháp luật trừng trị và luật nhân quả công bằng trừng phạt thì đó là những cái quy luật tự nhiên của cuộc sống này. Còn một bậc A-na-hàm họ biết hết á và họ biết cái người đó cứ càng ác, càng dữ, càng hiểm, càng độc thì cái quả báo càng nặng là càng đau khổ về sau. Họ biết rõ và thấy tội nghiệp. Họ cứu bằng cách nào đó thì tuỳ duyên, đó là tính sau, của đạo Bồ-tát tính sau. Nhưng mà nói ghét, không ghét nữa. Đây là điều rất là lạ. Và ta không đạt được cảnh giới đó, ta cũng rất là là khó hiểu rồi. Ừ. Một vị chứng A-na-hàm thì

[55:28]dứt khoát không còn ái dục. Đó là điều định nghĩa, định nghĩa thẳng thắn. Cái ái dục là một kiết sử, bản năng tự nhiên của chúng sinh. Khi chúng sinh còn vô minh, còn chấp ngã thì buộc phải còn ái dục. Ái dục là điều tự nhiên, làm cho làm sao? Người ta nối truyền nòi giống, sinh sôi nảy nở. Và cái ái dục đó, để có thể mà người ta nối truyền nòi giống, sinh sôi nảy nở thì nó tạo ra cái ái dục, cái dâm dục, cái yêu thương để chúng sinh họ gắn với nhau thành một cái gia đình. Và trong cái gia đình đó để cho cái gia đình nó bền vững, cho con cái được an toàn thì cha mẹ phải chắc. Mà để cho cha mẹ phải chắc thì hai vợ chồng,

[56:27]hai cha mẹ đó phải thương nhau rất là sâu đậm. Cho nên cái tình yêu thương của gia đình, cái ái dục của hai vợ chồng đó nó lại tạo thành một cái cái gắn kết khó gỡ ra.

[56:42]Vừa giống như là bổn phận đối với xã hội mà vừa cũng là nghiệp của chúng sinh, mà cũng là vừa bản năng tự nhiên. Thì trong cái bản năng tự nhiên đó có cái ái dục, ái dục rất là mạnh, ái dục rất là mạnh. Thì một bậc A-na-hàm cắt được cái ái dục này. Vì cái ái dục là ở chỗ nào? Được xếp vào tham. Khi một bậc A-na-hàm diệt được cái kiết sử tham thì dứt luôn cái ái dục này luôn, thanh tịnh luôn, tuyệt đối thanh tịnh luôn. Ta dùng cái chữ tuyệt đối, vì không còn một mảy may nào nữa là bậc A-na-hàm là như vậy, phải không? Đó là ta nói về cái cái tính chất đạo đức của bậc A-na-hàm. Giờ ta nói về cái năng lực một A-na-hàm.

[57:31]Là khi một vị mà chứng A-na-hàm thì vị đó

[57:39]coi như là dùng cái chữ là sống bằng tâm là chính, chứ không phải bằng vật chất là chính. À. Như chúng ta đây chúng ta sống bằng vật chất là chính. Ta phải ăn cơm, ta phải uống nước, ta phải thở không khí. À ta phải đi bằng xe. Nói chung là ta bị chi phối bởi toàn bộ cái vật chất. Vật chất là điều kiện rất quan trọng để ta sống. Nhưng mà tới một bậc A-na-hàm rồi thì các vị không sống lệ thuộc nhiều vào vật chất mà các vị sống ở nơi cõi cõi tâm nhiều hơn. Nếu các vị chưa có bỏ thân, chưa có chấm dứt thọ mạng, nếu các vị vẫn còn mang thân người nhưng thực sự các vị đó cái thân vật chất này, cái đời sống vật chất này không

[58:31]quan trọng nữa vì các vị đã sống bằng cõi tâm là hầu hết, là chính yếu. Tức là ở cái cảnh giới của chúng ta vật chất là quan trọng, ta sống bằng vật chất. Nhưng ở cảnh giới của một vị A-na-hàm, tâm mới là quan trọng. Và tâm mới là thành phần chính của thế giới này, chứ không phải là vật chất.

[59:02]Ví dụ bây giờ ta nhìn cái tách này thì ta thấy nó là vật chất. Ta muốn di chuyển cái tách này thì ta phải dùng một vật chất khác là cái tay của ta hay là cái cây ta khoèo để ta dời nó đi. Nên là ta chỉ nhờ vật chất tương tác với với vật chất. Nhưng một bậc A-na-hàm thì thấy cái tách này cũng là tâm.

[59:30]Các vị muốn nó dời đi thì nó nhúc nhích nó dời đi bằng tâm của mình, bằng ý nghĩ của mình, bằng ý muốn mình, không cần phải thò tay ra cầm này nữa.

[59:44]Sợ chưa? Đó cái cái khái niệm này ta mới giải thích được cái thần thông của một vị A-na-hàm.

[59:54]Như có thiền sư gì đó Đặng Ẩn Phong, hôm đó ngài đi đâu với các đệ tử, lúc là hai bên hai lực lượng đánh nhau, xông vào nhau chém giết. Ngài đứng ở trên đồi ngài nhìn xuống ngài thấy nơi cái thung lũng, cái đồng bằng phía dưới, hai đạo quân tràn vào đánh giết nhau, máu đổ đầu rơi, ngài mới nói thôi ta phải cứu nạn này. Ngài bay lên hư không ngài đứng ngài chỉ xuống, hai đạo quân dạt dạt dạt dạt ra lui liền, thấy cảnh đó sợ quá, thấy có một vị Sa-môn phất phơ y áo ở trên cao chỉ xuống như vậy như với cái cái cái cái nhìn nghiêm khắc, quở trách, thế là hai đạo quân tự lui binh. Chuyện nó được ghi lại như vậy.

[1:00:34]Thì cái việc mà vị nhấc người bay lên như vậy bởi vì các vị không thấy thân này là vật chất nữa, mà thân này cũng là tâm.

[1:00:49]Ở đây có ai thấy thân này là tâm chưa? Thì người đó là A-na-hàm. Thì mời lên đây ngồi, chắc có bàn nào cao cao để lên ngồi. Tới cái mức độ như vậy. Cái một vị A-na-hàm là vì ta hiểu cái thế giới này, cái vũ trụ này được cấu thành bởi ba thành tố. Đây là điều mà sư phụ sẽ giảng trong đêm giao thừa, hôm trước có nhắc lại: Một là vật chất, hai là tâm và ba là luật nhân quả. Thì ở mức độ phàm phu, vật chất đối với ta là quan trọng, nó là chủ đạo. Toàn bộ khoa học cũng chỉ dành nghiên cứu về vật chất mà thôi, chưa bước được vào thế giới của tâm. Còn một bậc A-na-hàm nhìn thấy cả thế giới này chỉ là tâm.

[1:01:38]Và dùng tâm điều khiển mọi thứ, không cần dùng vật chất để tác động, để điều khiển nữa. Đó là lý do mà một vị A-na-hàm có thần lực vô biên. Có một lần vậy, lúc đại nhân duyên trong cuộc đời một Đức Phật là phải thị hiện đại thần thông một lần, ít nhất một lần. Đó là nguyên tắc của mọi Đức Phật. Đức Phật nào xuất hiện thì trong đời cũng phải có một lần thị hiện đại thần thông trước sự chứng kiến của rất đông quần chúng. Đó là tiêu chuẩn đó, tiêu chuẩn bắt buộc một vị Phật phải đi qua cái nghi thức đó. Và lần đó Đức Phật chuẩn bị thị hiện thần thông thì rất nhiều đệ tử của Ngài, kể cả những vị A-la-hán và có cả những cư sĩ A-na-hàm

[1:02:27]nữa, những cư sĩ chứng A-na-hàm cũng đến xin Đức Phật: Đức Phật không cần phải thị hiện, để con thị hiện thần thông. Và con là đệ tử của Người, nếu con đủ sức làm những điều đó thì Người còn vượt hơn con triệu triệu lần. Đây cũng là một sự công bố đối với thế giới loài người về đại thần thông của chư Phật. Đức Phật lắc đầu nói: "Việc này không phải của ngươi." Vì lúc đó là là thì cái cái cái cái bà cư sĩ mà mà mà chứng A-na-hàm bả nói: "Con có thể dời quả núi này đi qua chỗ khác, con có thể đẩy cái biển này đi qua chỗ khác." Chỉ là A-na-hàm mà cái thần thông đến như vậy, bởi vì vật chất này cũng chỉ là tâm.

[1:03:12]Ta hiểu chỗ này và ta hiểu tại sao có thần thông là như vậy. Còn tại sao ta chưa có thần thông? Vì ta chưa đủ sức vào trong định sâu để nhìn thấy tất cả chỉ là tâm, còn ta ở mức độ của tâm thức loạn động, ta thấy tất cả là vật chất. Nhớ! Đây là chỗ khác nhau giữa phàm phu và bậc Thánh, là vậy.

[1:03:38]Nên một vị A-na-hàm thấy tất cả là tâm thì cái vị đó tâm của vị đó kết nối với mọi cõi giới trong pháp giới vũ trụ này, mà thường là trong tam thiên đại thiên thế giới quanh thái dương hệ này. Là trên các tầng trời, bao nhiêu tầng trời, tầng trời Dục giới, tầng trời Sắc giới thì một vị A-na-hàm kết nối được hết. Giống như là tuy còn ở thân cõi người nhưng đã là công dân của các cõi kia. Cũng giống như chúng ta là ngồi ở đây nhưng mà ta có một cái máy mà nối được internet thì ta là ta tự gọi mình là gì? Công dân toàn cầu. Bây giờ nói là: "Tôi là công dân của thế giới." Nói: "Ủa, anh có giấy gì không?" "Tôi có cái cái điện

[1:04:28]thoại smartphone là tôi là công dân thế giới. Tôi cầm cái smartphone này hay là cái laptop này có nối được internet thì tôi biết được, tôi nối, kết nối được hết với mọi người, mọi nơi, mọi điều trên thế giới này. Tôi có thể đọc được hết mọi tài liệu ở các nơi, tôi có thể nghe ca sĩ nọ hát, phim kia đóng tôi thấy hết, bởi vì tôi đã trở thành công dân của thế giới." Có giấy không? "Không cần giấy, cần internet thôi." Đó. Thì bây giờ ta cũng cái kiểu đó, thì một vị A-na-hàm là một vị kết nối được với tất cả các cõi giới, từ địa ngục lên tới cõi người, lên tới cõi trời, các cõi thánh. Kết nối biết hết, thấy hết, nghe hết, cảm nhận hết, tiếp xúc được hết.

[1:05:12]Nên những việc gì không phải chỉ ở cõi người này, mà ở cõi trời xảy ra chuyện gì, một vị A-na-hàm cũng biết luôn. Bởi vì...

[1:05:26]Ủa A-na-hàm rồi sao mà mà... à kết nối được hết với các cõi, nhớ như vậy. Nên đây cũng là một cái điều gọi là cực kỳ vĩ đại của một vị A-na-hàm. Còn chúng ta ở trong cái thế giới vật chất này thì ta thấy được cái gì mà mắt ta cho thấy, tai ta cho nghe thì ta chỉ biết chừng ấy mà thôi. Và bây giờ lợi dụng cái sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, ta thấy nhiều hơn, biết nhiều hơn, nghe nhiều hơn nhờ kỹ thuật, nhờ sóng, nhờ kỹ thuật à ta có thể biết được, nghe được cái tin tức ở bên Israel đang đánh nhau với Hamas, rồi Ukraina đánh nhau với Nga, rồi tàu đi trên khắp thế giới, chuyến bay thông tin gì ta biết.

[1:06:13]Cái biết của ta nhiều hơn và cái biết đó thực sự cũng chỉ là gì? Tai, là mắt, nhưng được nối dài bởi kỹ thuật. Còn một vị A-na-hàm thì tất cả chỉ là tâm. Và vô số cõi giới cũng đều là tâm, và tâm nối với tâm. Nên các vị ở một cõi này mang cái thân người này nhưng thực sự kết nối được hết với các cõi trời trên kia. Trên kia cả chư thiên tử gì biết hết luôn. Và các ngài cũng có túc mạng. Vì biết được hết các cõi giới nên một vị A-na-hàm có túc mạng, biết được tiền kiếp của mình và biết được tiền kiếp của nhiều người khác. Nó không đến chữ vô tận, vô lượng kiếp như một vị A-la-hán. Một vị A-la-hán là được Túc mạng thông,

[1:07:01]biết vô lượng kiếp của mình, vô lượng kiếp của chúng sinh. Nhưng một vị A-na-hàm cũng biết nhưng không đến chỗ vô lượng, không đến chỗ vô lượng, nhưng mà cũng biết rất là nhiều. Nghĩa là cần biết tiền kiếp của mình ở cái khoảng đó là thế nào, biết được hết. Mà cần biết tiền kiếp của ai ở khoảng nào, cũng biết được hết. Vì sao? Tất cả chỉ là tâm. Một bậc A-la-hán á,

[1:07:31]tất cả là một. Mênh mông pháp giới trong vũ trụ là một điểm, vô lượng thời gian từ quá khứ cho tới tận vô lượng vị lai chỉ là một khoảnh khắc, một sát-na thôi. Thì trong đó các ngài biết hết. Nhưng một vị A-na-hàm thì chưa đạt tới mức độ đó nhưng cũng kết nối được hết luôn. Nghĩa là kết nối được các cõi giới và cũng kết nối vào trong thời gian, kết nối vào trong quá khứ, kết nối đến tương lai. Có thể biết được vài ngàn năm tới, vài chục ngàn năm tới của thế giới này như thế nào, của con người đó như thế nào. Vì cái kết nối của tâm nó không bị giới hạn bởi bởi vật chất, nên các ngài biết rất là nhiều. Ta sợ chưa? Vậy.

[1:08:20]Và đương nhiên

[1:08:30]Đôi khi các ngài có thần lực có thể phân thân được, mặc dù không phân thân được nhiều như một vị A-la-hán, nhưng cần có thể phân ra được một hai thân. Thấy ông ngồi trong nhà mà ra ngoài sân thấy ổng đi ngoài kia. Có thể được, cũng có thể làm được. Bởi vì tất cả vẫn là tâm, là như vậy. Còn biết tâm người khác suy nghĩ cái gì là chuyện tầm thường.

[1:08:57]Mình đến trước mặt một vị đó thì vị đó biết mình suy nghĩ cái gì là bình thường. Biết thẳm sâu trong nội tâm, bản chất của mình, tính tình của mình, khuynh hướng tâm lý của mình, biết luôn. Và biết mức độ tu tập của mình đến mức độ nào, biết luôn. Nên là tức là nói là biết về tâm là không phải chỉ là những ý nghĩ hiện ra tạm thời, mà một vị A-na-hàm biết được tâm mình là biết thẳm sâu vào trong bản chất tâm của mình luôn, mà chính mình cũng không biết. Tức là mình không biết hết về mình, nhưng trước một vị A-na-hàm, vị đấy biết hết sạch vào trong bản chất con người mình luôn. Biết mình nhiều hơn mình biết mình, là như vậy.

[1:09:41]Đó là cái năng lực tha tâm thông của một vị A-na-hàm. Nhưng mà phải đợi tới trước mặt mới biết ha? Không. Một vị A-na-hàm ngồi đây, ta ở bên cõi phía nam, ta động một cái tâm gì có liên quan ngài biết liền, chứ không cần phải tới trước mặt ta. Ngài muốn biết về ai, hướng tâm về, biết luôn bản chất của người đó, suy nghĩ của người đó, chứ không phải đợi tới trước mặt mới biết. Đó là năng lực của một vị A-na-hàm. Thần thông khủng khiếp như vậy đó, không có không đùa được. Và cái vị đó vậy, sống một đời hi sinh, thanh tịnh, tự tại, phụng sự, không còn sống vì mình nữa, đại khái vậy. Nên đa phần các vị Bồ-tát đều nằm ở khoảng A-na-hàm này. Các vị A...

[1:10:41]các vị Bồ-tát mà còn có hiện thân để hành động thường là ở quả vị A-na-hàm. Thì ở cái có quả vị này, thần thông rất tự tại mà không cần phải hiện tướng Sa-môn.

[1:10:59]Còn A-la-hán thì buộc phải mang hình thức Sa-môn. Đây là cái khác nhau. Nên hễ một người mà chứng A-na-hàm thì Đức Phật có thể cho người đó vẫn ở địa vị cư sĩ. Nhưng một người mà chứng A-la-hán thì buộc phải xuất gia liền lập tức hoặc nhập Niết-bàn liền, không được tồn tại. Không được tồn tại hình thức cư sĩ. Đó là quy luật bắt buộc. Tại sao vậy? Tại vì thế này: khi một vị A-la-hán đã đạt được sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn, nếu vị đó mang hình thức cư sĩ, ta nhìn thấy vị đó, ta không hiểu rằng vị đó chứng A-la-hán, nên lòng ta không kính trọng.

[1:11:50]Ta không ghét, ta không coi thường, ta không xúc phạm, nhưng chỉ cần ta không kính trọng, đủ để ta đọa làm chó, làm súc sinh. Sợ chưa? Chỉ cần không kính trọng thôi, không tôn trọng một bậc A-la-hán, chứ ta không ghét gì ngài. Nhưng ta có biết đâu mà ghét? Ta đi ngang ngài, biết vị đó một vị A-la-hán mà mang hình thức cư sĩ giống như mọi người, cho nên ta cũng chẳng ghét gì, nhưng chỉ cần ta không kính trọng là đủ để chết rồi, đủ để đọa liền. Nên vì vậy, Phật buộc hễ A-la-hán rồi phải xuất gia, mang hình thức Sa-môn. Thì khi ta đi ngang một vị Sa-môn, ít nhiều gì lòng ta cũng có kính trọng và thoát không bị đọa ác đạo nhờ cái hình thức Sa-môn này.

[1:12:40]Nên cái hình thức Sa-môn này mà bên trong là một tâm hồn của một bậc Thánh đem lại lợi ích cho chúng sinh vô số. Nếu một vị Sa-môn đó mà là một vị Thánh nữa, thì thà ta đã nhìn thấy cái áo cà-sa là ta cứ hoan hỷ, mặc dù hoan hỷ nhiều chỉ cần một chút thôi, thì ta đã chận lại con đường ác đạo của mình rồi, không bị đọa bậy bạ. Là nhờ nhìn một vị Sa-môn mà lòng ta hoan hỷ, mà may cho ta là vị đó đắc đạo. Mà không biết đắc như cái quả vị nào, nhưng có một quả vị nào đó đủ để cho ta được cái phước rất nhiều. Nhưng mà lỡ vị đó là vị Thánh mà mang hình thức cư sĩ, chỉ cần ta không kính thôi là ta chết liền. Đó điều bắt buộc.

[1:13:25]Còn với một vị A-na-hàm thì Phật cho mang hình thức cư sĩ được. Tại vì sao vậy? Là bởi vì ví dụ như ta gặp một vị cư sĩ A-na-hàm, ta không biết A-na-hàm, ta không ghét nhưng ta không kính, ta không kính một bậc A-na-hàm, ta không đọa. Không đủ cấu thành cái tội để ta đọa ác đạo. Vô hại, cho nên Phật còn cho phép một vị A-na-hàm mang hình thức cư sĩ, nhưng tới A-la-hán là cấm tuyệt. Tại vì chỉ cần không kính thôi là chúng sinh chết liền. Đó là cái khác nhau như vậy. Nên trong thời Đức Phật cũng nhiều vị cư sĩ chứng A-na-hàm, thần thông đạo lực rất cao siêu nhưng vẫn ở vị trí cư sĩ, không xuất gia.

[1:14:14]Nổi tiếng nhất là Hoàng tử Hatthaka của cái xứ Āḷavī, là khi Đức Phật về đó giáo hóa, ông nghe Đức Phật giáo hóa xong ông chứng A-na-hàm liền. Sau này ông chết, ông lên cõi trời rất là cao. Ông có những cái đức tính cực kỳ cao quý mà Đức Phật ca ngợi. Đức Phật cũng khen dữ lắm. Đức Phật khen cho mọi người biết, nói cư sĩ như là Hatthaka là cư sĩ có nhiều cái đặc tính quý giá. Lúc nào cũng sống vì người, lúc nào cũng phụng sự, à cũng quan tâm, đại khái là nhiều cái đạo đức rất là hay của một cư sĩ. Hoặc là có một cái bà già nổi tiếng, cũng là A-na-hàm, Mātika, bà mẹ Mātika. Đây là trong Pháp Cú truyện tích đã có kể câu chuyện đó.

[1:15:04]Bà là mẹ của ông trưởng thôn Mātika, nên cái tên danh tính không rõ ràng, khi mà kể lại chuyện bà thì ta cứ gọi bà là mẹ Mātika. Chứ cái Mātika là cái tên của cái thôn đó. Bà là mẹ của ông trưởng thôn. Thì có 60 vị Tỳ-kheo đi tìm một chỗ tu. Đến cái thôn đó gặp ông trưởng thôn, mới nói rằng muốn tu. Thì vị trưởng thôn, cái bà nghe tin bà bước ra, bà hỏi: "À, các vị muốn tu? Thôi rồi, thôi để con xây phòng ốc cho các ngài ở tạm đi." Xây phòng ốc lại. Thì mỗi ngày bà đến bà cúng dường thực phẩm, bà thấy các vị ngồi thiền, bà mới hỏi cái ngồi thiền này là cái gì? Các vị mới giải thích. Nói như như con là cư sĩ vậy tu được không? Nói:

[1:15:53]"Được, ngài dạy con tu." Bả dạy bả tu ba ngày sau bả chứng A-na-hàm. Mà mấy vị Tỳ-kheo chưa chứng gì cả. Bởi ta thấy cái nhân quả trong cuộc đời này bất chừng lắm. Bả chứng A-na-hàm xong bả nhìn bả biết tâm mấy ổng hết trơn. Bả biết đời sống làm gì, quá khứ, tương lai bả biết hết. Nhưng bà phục vụ, bà tăng thêm cái khẩu phần ăn, tăng thêm cái dinh dưỡng. Vì bà biết hôm mà bà cúng dường nó nó không đủ dinh dưỡng. Rồi bà nhìn sâu vào trong cái nhu cầu cơ thể từng người bà thấy hết. Với cái món ăn cúng dường với cơ thể các vị đó nó không đủ, bà tăng cường thêm. Các vị khỏe mạnh ra rồi các vị tu, từ từ các vị chứng đạo hết. Rồi các vị rời đi.

[1:16:29]Rồi có một ông Tỳ-kheo tới tu. Nghe nói ham quá, nghe nói muốn gì bả biết hết, bả cho hết. Mình thích cái chăn ấm là bả cho chăn ấm, này cái thích cái áo là bả cho cái áo, thích ăn món gì là bả đem món đúng món đó tới. Thích cái gì là bả đưa tới cái đó, nên khoái quá tới. Mà tới tới chừng mà cả ngày động tâm rồi bả biết hết trơn, bắt đầu đâm sợ. Mình đang ngồi thiền nghe con gà nó gáy lên hơi bực, là bả đã biết. Bả tới bả kêu hàng xóm bả mua hết con gà bả đem đi xa không cho ở gần đó nữa, để không còn nghe gà gáy. Hỏi sao vậy? Nói: "Dạ, hôm qua ngài khởi tâm không ưa mấy con gà gáy thì sáng bà đã đến thương lượng hàng xóm bà mua mấy

[1:17:06]con gà bà đem đi hết rồi." Bắt đầu sợ rồi. Mình mới bây giờ mình gọi là cái gì? Quyền riêng tư phải không ạ? Ai mà cầm cái điện thoại mình lên là mình sừng sộ lên, đây là quyền riêng tư của tôi. Còn ở đây, ở một nơi mà quyền riêng tư tuyệt đối bí mật trong ý nghĩ của mình bị phơi bày thì sao? Không chịu nổi. Lật đật trốn đi mất, trốn đi về thưa với Phật. Phật bắt quay lại. Mà Phật làm mặt ngầu luôn á, quay lại. Thấy ổng mới quay lại ổng sợ quá, ổng không dám nghĩ gì hết trơn á. Tại nghĩ động cái bả biết, động cái bả biết. Ổng ráng giữ tâm ổng tu cái ổng chứng luôn A-la-hán luôn, chứng hơn bả luôn.

[1:17:44]Bắt đầu ổng nhìn ngược lại bả, bả biết được quả vị của bả, ổng biết bả chứng tới đâu, thần thông tới đâu. Hai người trong cõi tâm nói chuyện với nhau, không không mặt đối mặt nữa mà trong cõi tâm liên lạc nói chuyện với nhau bằng tâm với tâm. Cái câu chuyện rất là thú vị. Đó là một bà cư sĩ chứng A-na-hàm cũng nổi tiếng trong cái thời đại của Đức Phật. Ugga, nhiều nhiều vị cũng cũng đặc biệt, Citta, Nakula, ba mẹ của Nakula.

[1:18:14]Đại khái là có những vị cư sĩ thời Đức Phật rất là là nổi tiếng như vậy.

[1:18:25]Ta biết rằng một bậc A-na-hàm đã sạch được rất nhiều kiết sử, nhưng còn năm thượng phần kiết sử cuối cùng các ngài chưa vượt qua được. Như hôm trước ta đã nói rồi, bây giờ xù nhắc lại một chút. Thứ nhất là gì? Sắc ái. Thứ hai là vô sắc ái. Thứ ba là kiêu mạn. Thứ tư là dãi đãi và thứ năm là vô minh. Tức là bậc A-na-hàm cao siêu như vậy, nhưng vẫn còn rớt lại trong tâm mình năm cái kiết sử, nên vị này không chứng chưa phải là A-la-hán. Thứ nhất là sắc ái là gì? Nói rồi. Quên rồi. Sắc ái là khi các ngài sinh lên trên cõi trời Sắc giới, cõi trời đó vi diệu quá, làm cho các ngài mến luyến một cách tự nhiên không ngờ.

[1:19:32]Nó nằm sâu thẳm trong đó không ngờ, vì cõi trời Sắc giới nó tuyệt vời quá. Nhưng mình bây giờ thì mình không có cái sắc ái. Mình cái sắc ái mình nó có thẳm sâu nhưng nó không hiện ra, chỉ bởi vì mình chưa bao giờ được ở trên cõi trời Sắc giới. Nên bây giờ nói mình sắc mình yêu cõi trời Sắc giới, có không? Nói oan cho tui à, tui không có à. Tui cũng là tui là là là là không có bị cái kiết sử sắc ái à. Thật ra ta có không? Ta có, nhưng cái cái kiết sử nó không không hiện ra. Bởi vì có ai cho mình lên cõi trời Sắc giới ở không? Không. Cho nên cái cái sắc ái đó nó không hiện ra. Chứ trong thẳm sâu ta vẫn có cái kiết sử đó.

[1:20:16]Chỉ có cái không ai cho mình lên ở thì thôi đành nhịn thôi. Chứ nếu ngày nào ta sinh lên cõi trời Sắc giới, cái cõi trời đó mầu nhiệm tuyệt vời, vô số điều tốt đẹp, ta bị dính liền, ta bị ái liền. Vậy cõi trời sắc ái đó cái cõi trời Sắc giới đó mầu nhiệm cỡ nào? Ngôn ngữ thế gian ta không diễn tả được. Cái hạnh phúc của cõi trời đó ta không diễn tả được. Ví dụ toàn thân ta cao lớn mà chỉ là hạnh phúc mà thôi, không có chuyện là mùa đông rét mà mùa hạ nóng. À nhà cửa khung cảnh ta ở, ta muốn như thế nào thì nó hiện ra như thế đó. Cái là cái cái sự hạnh phúc thật là không diễn tả được. Nên cõi trời sắc là ta ta sinh vào cõi đó, dính liền, ái liền.

[1:21:05]Còn ta bây giờ không có sắc ái là không phải là không có sắc ái, mà chỉ bởi vì không ai cho mình ở cõi trời Sắc giới, không biết thôi. Và vô sắc ái là gì? Ta sinh lên cõi trời Vô sắc giới. Ở trong cái cõi mênh mông, thanh tịnh, bao la trùm khắp cả pháp giới này. Ta không có cái tâm ta không có cái thân mà chỉ là một cái tâm vô tận đó, thanh tịnh đó cực kỳ hạnh phúc, ta cũng dính liền, cũng mến liền. Thì A-na-hàm còn bị cái này. A-na-hàm còn bị cái kiêu mạn, vẫn còn thấy giữa mình với chúng sinh có một phần sai biệt. Mình còn hơn, mình còn cao hơn chúng sinh. Chúng sinh kia còn vô minh, còn ngu si, còn phàm phu, còn lầm lỗi.

[1:21:51]Còn mình rất sạch, không bao giờ còn cái mầm để tái sinh xuống cõi người nữa. Bởi vì tham, sân hết rồi, không còn động cơ để gây nghiệp trở lại cõi người nữa. Mình hơn chúng sinh rất là rõ. Nên chính cái thấy sự khác biệt giữa nhau đó Phật gọi là còn kiêu mạn. Còn một bậc A-la-hán tại sao hết? Bởi vì bậc A-la-hán đã trở thành chúng sinh. Khi một vị A-la-hán đạt được cái vô ngã tuyệt đối thì vị đó không còn thấy mình là riêng với chúng sinh nữa, vị đó chính là chúng sinh. Không còn hơn và thua, chỉ còn yêu thương thôi. Nên một vị A-la-hán vĩ đại là vậy, không có sự khác biệt giữa ngài với chúng sinh,

[1:22:32]vì ngài chính là chúng sinh và ngài với chúng sinh chỉ là một khối yêu thương mà thôi. Còn A-na-hàm các ngài không còn động cơ gây nghiệp, cũng chẳng còn ghét ai, thương thì thương chứ không ghét, nhưng vẫn còn khác nhau giữa mình và chúng sinh, mà mình còn hơn chúng sinh. Cái đám kia nó si mê dữ lắm, còn ngu si dữ lắm, đi nghe pháp không chịu nghe, ha, đi trốn nha. Đây Pháp Vân đó mà không chịu đi nghe đó, vậy đó là cái là vẫn còn thấy thấy mình và chúng sinh khác nhau và Phật gọi đó là cái kiêu mạn của một bậc A-na-hàm. Mình có kiêu mạn không? Mình có không? Không, mình không kiêu tại mình chưa chứng A-na-hàm nên mình không có kiêu.

[1:23:14]Nhưng mà có không? Có thẳm sâu bên trong, nó chờ chờ khi nào mình chứng A-na-hàm thì nó hiện ra. Chứ nó vẫn còn ở trong, còn bây giờ thì nó chỉ chưa hiện ra. Nó chưa hiện ra. Rồi nói chưa hiện ra là sao? Nó chưa hiện ra là ở chỗ thế này là à có ông giảng sư ổng ngồi đây giảng, mình ngồi dưới đất thấp hơn ổng, mình không hề cự nự gì, tại nó chưa hiện ra. Chứ lỡ mình chứng A-na-hàm cái rồi, lên lấy ghế cho tôi ngồi bên cạnh đây. Là nó hiện ra liền, nó hiện ra liền. À ổng giảng chưa chắc là đúng rồi nha, giảng chưa chắc là hay rồi nha. Đó, tui mới A-na-hàm đây nha, lấy ghế cho tui ngồi đây kiểm tra là đúng cái cái đó gọi là gì?

[1:23:59]Kiêu mạn đã hiện ra. Còn bây giờ chưa có hiện ra, nhưng nó vẫn nằm ở trong đó trong thẳm sâu nội tâm của ta, cái kiêu mạn nó vẫn còn. Nhưng mà chưa có cơ hội bộc lộ vì mình chưa chứng, chứng là hiện ra liền. Giống như người ta tu, ta tu tới đâu cái kiêu mạn nó leo theo tới đó. Nên suốt cuộc đời tu hành của chúng ta cái vất vả điểm gì? Vất vả ở chỗ gì? Đối phó với kiêu mạn. Ta vất vả cái đó vô cùng, phải theo nó, kềm nó, đấu tranh với nó, giữ gìn nó cho tới khi nào chứng A-la-hán. Còn chưa chứng A-la-hán thì cái kiêu mạn nó cứ quấy phá ta rất là khổ sở. Mà mình buông tay mình thua một cái, mình đọa liền, thành ma liền.

[1:24:39]Còn mà đừng để cho nó thắng mình, đừng thua cái kiêu mạn thì phải vất vả, vất vả cho tới chứng A-la-hán luôn, khổ vô cùng. Nên đừng có nói mà tu mà chứng mà sướng nha. Tu mà chứng cái gì đó, đạt được kết quả gì là kiêu mạn nó hiện ra, nó theo ta, nó quấy nhiễu ta suốt cuộc đời này, hết đời này tới đời kia. Leo lên cõi trời nó theo lên tới đó luôn. Cái kiêu mạn cực kỳ đáng sợ. Cái thứ tư là dãi đãi. Dãi đãi là cái gì? Làm biếng phải không? Ta định nghĩa rõ ràng dãi đãi là lười biếng, là không muốn làm gì. Không. Cái định nghĩa đó không chính xác đâu.

[1:25:22]Đây, cái chữ dãi đãi này mới sợ, là vô trách nhiệm.

[1:25:28]Đây là một cái mà nhược điểm mà một bậc A-na-hàm còn vi phạm. Nơi cái cõi giới các ngài thanh tịnh, buông hết, bỏ hết, không còn tham, bỗng nhiên các ngài bị một cái phản ứng phụ là cái kiết sử phụ, cái dãi đãi nó hiện lên là vô trách nhiệm. À Đây là chỗ đáng sợ. Hôm nay thầy nói câu này nhắc tất cả mọi người, một ngày nào đó chúng ta tu thiền vào được định,

[1:26:03]vào được định thì cái định đó nó buộc cái ý niệm này phải xuất hiện: bỏ hết, bỏ hết, buông hết. Ý niệm nó tự nhiên nó xuất hiện khi ta vào định. Mà ta phải bỏ hết, ta buông hết, ta mới vào định được. Thậm chí thân mạng này không cần nữa, thế giới này không cần nữa, không cần cái gì nữa hết thì mới vào định được. Nên cái ý niệm mà bỏ hết buông hết tự nhiên nó xuất hiện khi ta vào định. Mà chính vì cái ý niệm đó nó mạnh quá để đưa ta vào định, bỗng nhiên nó xuất hiện, nó khơi một cái kiết sử khởi lên là vô trách nhiệm. À Ta buông hết, ta bỏ hết, ta cũng vô trách nhiệm luôn với cuộc đời. Mà tới A-la-hán mới hết. Tại vì sao?

[1:26:56]Tại vì một vị A-la-hán vượt qua vô minh, vượt qua chấp ngã, ngài trở thành chúng sinh và ngài quá trách nhiệm với chúng sinh. Nên nói là ngài nhập Vô Dư Y Niết Bàn, nhưng sự thực ngài vẫn ở bên cạnh chúng ta. Ngài vẫn thương yêu, vẫn lo lắng cho chúng ta. Đó là lý do mà khi ta lễ bái các vị A-la-hán á, ta được phước rất nhiều vì các ngài đang ở đó, các ngài đang ở bên chúng ta, vì các ngài có trách nhiệm với chúng ta. Còn một vị A-na-hàm không à, kêu ổng, năn nỉ ổng, ổng tới, còn không thì thôi. Tại ổng bị cái vô trách nhiệm, cái kiết sử vô trách nhiệm nó khống chế. Lúc mà ngài nhập định một cái, cái tư tưởng buông sạch bỏ hết,

[1:27:40]cái nó sống dậy cái cái kiết sử dãi đãi là vô trách nhiệm, ngài buông hết á. Vậy chứ ngài độ cho ai? Ngài chỉ độ cho những người có duyên lành với ngài mà thôi. Dù ngài trên cõi cao, ngài nhìn xuống ngài thấy: "Ồ, đây, ông thầy thanh viên này ngày xưa có duyên lành với mình đây, lúc đó mình đang khó khăn, ông này giúp mình đây." Thế là ngài xuống ngài theo ngài độ liền. Ngài theo ngài bảo vệ, làm cho ngài thanh thầy thanh viên càng lúc càng đẹp lên dần dần, đẹp lên dần dần, đẹp lên có thể thi Nam khôi được luôn chứ không phải là không. Đó, mọi điều may mắn, phước lành hết là bởi vì có một vị A-na-hàm ở trên theo dõi và độ. Mà tại sao?

[1:28:20]Vì nợ với nhau, duyên lành với nhau từ đời xưa. Còn những chúng sinh mà không có duyên lành, coi vậy chứ vị A-na-hàm không quan tâm lắm. Mà nhất là những người mà ngày xưa mà nghịch duyên thì các ngài càng phủi luôn. Hồi xưa 500 kiếp xưa, có lần đi lỡ đường bị đói, gõ cửa nó xin miếng cơm, nó sợ ăn trộm nó đuổi tao đi không cho tao ăn miếng nào hết trơn. Giờ thử không có kết duyên lành, cho nên đời này kệ mày làm gì đó mày. A-na-hàm không quan tâm. Còn cái người này ngày xưa trong lúc khổ sở vậy mở cửa mời thưa: "Mời bác vô nhà ngồi đây." rồi cho ăn cơm đàng hoàng. Sau này chứng A-na-hàm rồi, theo ổng độ mãi luôn, theo giúp mãi giúp mãi.

[1:29:02]Nên một vị A-na-hàm vậy trong cái việc hóa độ của các ngài coi vậy chứ vẫn có cái sự thiên vị thiên vị. Nói vậy nãy giờ không biết đụng chạm các ngài có ghét không biết nữa, mà hết ghét rồi, hết sân ngài hết ghét rồi.

[1:29:19]Mà đây là cái sự hạn chế của một vị A-na-hàm, sự hạn chế không giống như một vị A-la-hán. Một vị A-la-hán thì trách nhiệm tràn ngập, nhưng một vị A-na-hàm còn bị còn bị do khi vào Định ta bị cái buông bỏ, buông bỏ, buông bỏ để vào Định, bỏ hết bỏ hết để vào Định, cái nó khơi dậy cái vô trách nhiệm. Thì chỗ này là chỗ còn kẹt của một vị A-na-hàm. Nhưng mà thôi biết sao giờ! Thì thôi ta cứ kính trọng các ngài. Có khi các ngài lại độ ta, các ngài thần lực rất là mạnh. Còn cái kiết sử vô minh là kiết sử cuối cùng, thì như ta nói rằng ta có biết vô minh là gì không? Ai biết? Có ai biết vô minh là gì không?

[1:30:02]Chỉ có A-la-hán mới biết vô minh là gì và cũng không nói được luôn nha. Vô minh nó sâu xa đến như vậy, chỉ có A-la-hán mới biết, vị A-na-hàm cũng không biết. Thì ta nói ta cũng không biết luôn, nhưng chỉ có một điều ta tin chắc một điều là ta vẫn còn vô minh. Nhớ giùm điều đó. Và nhớ cái câu đó chính là thần chú để bảo vệ ta trong suốt cuộc đời tu hành hết kiếp này tới kiếp khác. Cái thần chú gì? Thẳm sâu trong tâm ta vẫn luôn luôn còn vô minh. Nhớ giùm câu thần chú đó. Dù ta ở địa vị nào, dù ta phước báu lớn đến đâu, dù ta đã tu chứng đến đâu, vui lòng chỉ nhớ một câu thần chú mầu nhiệm: Thẳm sâu trong nội tâm ta vẫn còn vô minh chấp ngã.

[1:30:50]Nhớ giữ câu đó mà đi hết kiếp này tới kiếp khác. Nhớ như vậy nha, câu đó quan trọng lắm. Mà nhờ cái câu đó mà ta không bị lạc lối, ta sẽ đi cho tới A-la-hán luôn. Nhớ như vậy. Còn vô minh là gì? No biết. Hổng biết, không biết. Nhưng mà cứ tin chắc là ta có vô minh, thì đó là chánh kiến, nha. Đó là câu thần chú đó. Cứ tin chắc rằng thẳm sâu bên trong ta có vô minh, đó là chánh kiến.

[1:31:25]Các vị A-na-hàm cũng khác nhau về đại nguyện, về đại nguyện. Hồi nãy ta nói là ai có thuận duyên với các ngài, các ngài sẽ tìm xuống để hóa độ để giúp đỡ, còn ai nghịch duyên hay không có duyên thì các ngài coi vậy chứ bỏ lơ. Đó là do cái kiết sử giải đãi nó chi phối các ngài. Tuy nhiên, các vị A-na-hàm cũng khác nhau ở đại nguyện. Ví dụ như khi ta bắt đầu phát tâm tu hành, ta có cái phát đại nguyện là yêu thương tất cả chúng sinh, cứu giúp tất cả chúng sinh, thì đến khi ta chứng A-na-hàm, thì ta bị cái gì? Ta bị cái vô trách nhiệm, nhưng cái đại nguyện lúc ta mới tu nó cũng sống dậy đi theo. À! Đó!

[1:32:12]Kiết sử vô trách nhiệm thì xuất hiện, nhưng đại nguyện cũng bắt đầu xuất hiện thành tựu giữ ta. Thế là nhờ cái đại nguyện độ sinh đó mà một vị A-na-hàm bắt đầu thị hiện công hạnh của Bồ tát, vất vả đi vào trong cuộc đời giáo hóa chúng sinh. Vì hầu hết những vị Bồ tát của chúng ta đều nằm ở vị trí A-na-hàm. A-na-hàm, vì thần lực của các ngài dễ sợ lắm rồi. Mà nếu mà đừng có đại nguyện thì các ngài sẽ độ ít người lắm, theo cái số người có duyên. Nhưng mà nếu có đại nguyện, thì dù có bị kiết sử giải đãi, các ngài vẫn có trách nhiệm, chịu khó đi hóa độ đông đảo chúng sinh. Đó là nhờ đại nguyện. Bởi vậy ta không biết khi nào thì ta sẽ chứng được A-na-hàm,

[1:33:02]nhưng vui lòng từ bây giờ xin phát đại nguyện trước nha. Mỗi ngày ta lễ Phật, ta tụng kinh, lúc nào cũng phát nguyện: Yêu thương tất cả chúng sinh, cứu độ tất cả chúng sinh, giáo hóa tất cả chúng sinh. Mà bây giờ ta thực hành điều đó bằng cái gì? Bằng chia sẻ đạo lý với tất cả những người mà mình tiếp cận được. Đó là tập. Sau này khi ta lỡ xui ta chứng được A-na-hàm,

[1:33:32]lỡ xui ta chứng được A-na-hàm, cái kiết sử giải đãi nó xuất hiện, thì cái đại nguyện đây nó cũng sống dậy theo. Thế là ta không trở thành một vị A-na-hàm vô trách nhiệm. Lúc đó ta sẽ là một vị A-na-hàm Bồ tát lang thang trên mọi nẻo đường để giáo hóa chúng sinh. Nhớ như vậy nha, đây là cách khắc phục của người A-na-hàm.

[1:34:02]Còn các thiền sư của cả bên Phật giáo Theravada cũng như các thiền sư của Phật giáo Bắc tông Trung Hoa của Tổ sư Thiền, thì chứng quả vị gì? Không biết. Tại vì các vị không không có lấy theo cái tiêu chuẩn của Đức Phật để xác định cái quả chứng của mình nên ta không biết, hoàn toàn ta không biết. Ta chỉ đoán thôi. Ta chỉ đoán là vị đó có mức Định sâu, có thể muốn chết lúc nào thì chết, thì có quả Thánh nào đó, quả Thiền nào đó. Vị đó có đạo đức thì ta tin vị đó có quả Thánh. Vị đó tự tại trong Thiền định mà không có dấu hiệu đạo đức lắm thì chắc là chỉ chứng Thiền chứ không chứng Thánh. Vị đó nghĩa là mấy chục năm ở trong núi luôn không đi ra giáo hóa,

[1:34:51]thì ta coi chừng vị này ổng bị kiết sử giải đãi á, vô trách nhiệm khống chế rồi, mà xưa kia không chịu phát đại nguyện. Rồi ông nào ổng chứng xong ổng nhập ổng bỏ đi luôn, ổng ổng bỏ thân đi luôn, coi chừng ổng cũng bị cái kiết sử giải đãi, vô trách nhiệm với cuộc đời. Đó, ta không đánh giá được, rất là khó đánh giá. Những cái vị mà bên Nam tông họ cứ xưng: "Ồ, vị này đã chứng Thánh, ông này A-la-hán", cũng khoan tin. Ổng nói ổng muốn chết là ổng chết, nên ổng đã chứng Thánh quả A-la-hán, cũng khoan tin, hổng biết, tại không biết là ổng chứng Thiền hay chứng Thánh. Tại vì nếu mà chứng Thánh thì phải định nghĩa theo cái việc mà diệt trừ các kiết

[1:35:26]sử, vừa là sức Định trong Thiền vừa là các kiết sử, đồng thời các thần thông. Ổng thấy được bao nhiêu kiếp của mình, thấy được bao nhiêu kiếp của chúng sinh? Ổng biết được tâm chúng sinh chưa? Ổng kết nối được lên tới các cõi trời, các cõi kia hết chưa? Ổng biết được hết, ổng ngồi đây mà ổng biết các cõi trời không? Vân vân. Còn cái tiêu chuẩn đó nữa, và những tiêu chuẩn đó dường như không được ghi lại trong trong sách sử, không được ghi lại nên ta không đánh giá. Vào thời Đức Phật thì có Đức Phật có cái quy chuẩn nên ta được nói: "À, nghe vị này đã chứng A-la-hán, vị kia chứng A-na-hàm", thì ta nhờ thời Đức Phật ta biết.

[1:36:03]Chứ còn sau này không còn Đức Phật thì các vị chứng các vị chứng vị chứng có những hành vi đặc biệt, ngồi thiền tự tại, chết tự tại, đôi khi có thần thông, nhưng mà ta thật sự không hề biết vị nào chứng tới quả vị gì, vì không có cái chuẩn để định ra. Nên từ bây giờ vậy, mà có những người vậy thật ra chưa chứng cũng tự xưng mình là thiền sư nữa, mấy người thiền sư ẩu á. Chữ thiền sư chỉ dành cho những người thật sự có kết quả, chứng Thiền hoặc chứng Thánh mới gọi là thiền sư. Còn chưa có kết quả gì chỉ đi nói về thiền thì chưa được gọi là thiền sư, mà xưng là thiền sư mang tội chết á, đọa chết á, không có đùa được đâu.

[1:36:47]Không có đùa đâu, chữ thiền sư cũng cũng là một cái gì đó có giá trị lắm, đáng quý lắm, không nói đùa được. Còn mà các ngài dùng chữ thiền sư cũng hay, cũng không xưng mình là Thánh quả gì. Chứng Thiền, có chứng Thiền. Nhưng mà tuy nhiên theo Đạo Phật chúng ta thì ta phải lấy Tứ Thánh quả để làm chuẩn để xem vị đó đạt được tới đâu, hoặc là Tứ Thiền xem được nhập Định được sâu tới đâu. Vậy đó, nhưng mà hai cái này hay bị bị lẫn như vậy. Thường thì khi một vị mà chứng A-na-hàm mà bỏ thân thì Đức Phật nói

[1:37:32]Sắc giới, thường là như vậy. Tuy nhiên cũng không hẳn. Có những vị họ nhiều khi họ phát nguyện trở lại, có nhiều khi họ phát nguyện ở một cõi khác, và có những vị nhập Định luôn vào trong Vô sắc giới ta không biết chừng. Nhưng mà đại khái là như vậy. Tuy nhiên cứ để tự nhiên thì các vị đã lên cõi trời Sắc cứu cánh. Mà chúng ta biết rằng cái khái niệm thời gian và không gian của cõi trời khác với chúng ta. Ví dụ cái cái thân của chúng ta đây, ta chừng bao nhiêu đây, nhưng cái thân của một vị cõi trời nhiều khi to bằng cả một quả núi, hoặc là to bằng cả một cái hành tinh không biết chừng, khái niệm không gian khác.

[1:38:10]Và thời gian cũng vậy. Các vị đã ngồi với nhau lặng lẽ trong năm phút, mình ở đây đi qua đứt mất năm tháng hay năm năm, khái niệm nó khác nhau. Rồi do cái khái niệm thời gian nó khác nhau, nên cái sự kết nối của ta với các cõi trời rất là khó. Ta không không không tiếp xúc được, không tương tác được vì nó chênh lệch về thời gian, chênh lệch gắt gao quá nên vậy. Chỉ có những cõi trời thấp thấp thì cái độ chênh lệch thời gian nó còn ít, có khi ta biết về các vị, ta thấy các vị, tiếp xúc các vị có tương tác chút đỉnh, chứ còn ở những cõi rất cao như tới cõi Sắc giới rồi ta mất đứt luôn, ta không còn tương tác liên lạc được, khó vô cùng.

[1:38:53]Vậy, thôi hôm nay vậy, hôm nay ta nói tới bài Diệt đế thứ thứ 12 phải không? Ừ, thứ 12. Á, bài Tứ Diệu Đế thứ 12 là bài Diệt đế thứ ba, ta giới thiệu về quả vị A-na-hàm. Nhưng mà cái trí tuệ của một vị A-na-hàm, thần thông bản lĩnh của một vị A-na-hàm quá cao siêu, còn chúng ta chỉ là những người phàm phu, ta dựa vào lời dạy của Phật để giải thích về cái quả vị của một vị A-na-hàm, thì chắc chắn là có đúng không? Không. Có đủ không? Không. Chỉ giống như ta đem một hạt bụi mà muốn diễn tả về một ngọn núi cao lớn, không bao giờ đủ, không bao giờ đúng. Và những điều ta nói về một vị A-na-hàm, ví dụ nếu ta nói đúng được chút xíu, thì thôi ta rất là có phước.

[1:39:42]Mà ta chăm chú nghe được, ta phấn khởi, ta hoan hỉ, ta cũng rất là có phước. Mà lỡ nói trật một cái thầy trò xúm nhau đọa, đọa hết á, chứ không có đùa đâu, vì vì ta đang nói chuyện về về các vị Thánh trong thân phận của một phàm phu. Giống như là ta rất dễ bị cái tình trạng lấy dạ tiểu nhân mà đo lòng quân tử, không bao giờ chính xác được. Ta lấy cái tâm phàm phu của mình để đánh giá tâm của một vị Thánh, không bao giờ chính xác, rất dễ phạm sai lầm. Ta chỉ cầu mong trên Tam Bảo gia hộ cho chúng ta, cho các vị tôn túc ở đây, cho tất cả chúng ta, Phật tử chúng ta vì hiểu đúng được một phần nào về các vị Thánh,

[1:40:27]các vị A-la-hán, các vị A-na-hàm để ta khởi được cái tâm tôn kính các ngài. Và nhờ cái phước đó mà ta tiến tu đạo nghiệp của mình cho đến ngày tất cả cùng nhau giác ngộ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:40:51]Chúng con cũng rất là cảm niệm công đức của trên Thượng tọa Thanh Viên đã về đây tham dự cái pháp hội của chúng con. Chúng con cũng cảm niệm công đức của các vị ni sư đã đến đây dự pháp hội. Chúng tôi cũng rất là hoan hỉ, vui mừng, hạnh phúc, tán thán công đức của ông Phạm Văn Thuận, Phó trưởng phòng thanh tra của Ban Tôn giáo Chính phủ cũng đã về đây dự cái pháp hội này. Vỗ tay đi.