Transcript: Kinh Nikaya 12 - Kinh Tứ Niệm Xứ(Quán Thọ)

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:26:20

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:20]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:33]Mời quý thầy quý Phật tử ngồi xuống. Hôm nay thì chúng ta học bài kinh Niệm Xứ. Ở trong Nikàya hay A Hàm thì gọi là Niệm Xứ, nhưng mà thường thì trong đó có bốn đối tượng để chúng ta quan sát nên chúng ta cũng hay gọi là Tứ Niệm Xứ.

[0:54]Tứ Niệm Xứ này dường như là pháp môn tu chính của các quốc gia Phật giáo Nam tông Theravada. Ví dụ như ở Việt Nam cũng vậy, các sư Nam tông mình cũng thường xuyên chuyên về tu tập về Tứ Niệm Xứ. Rồi còn các quốc gia Nam tông như là Thái Lan, Miến Điện hay Tích Lan cũng thích, cũng chuyên về Tứ Niệm Xứ. Vì trong A Hàm á, có giới thiệu là có một con đường để đưa đến thắng trí giải thoát. Là trong A Hàm. Thì cái chữ mà "có một con đường" nghe có vẻ khách quan, nghĩa là còn nhiều con đường, nhưng trong đó có một con đường đi như vậy. Còn nhiều con đường khác song song với nó. Nhưng ở Nikàya thì Đức Phật lại nói là đây là con đường độc nhất.

[1:44]Chỉ có một con đường này thôi, không có con đường khác. Cho nên khi mình đối chiếu giữa Nikàya với A Hàm thì khác nhau. A Hàm thì cũng là những bài kinh tương tự như vậy, nhưng mà ở bên Bắc tông dịch theo từ tiếng Phạn Sanskrit qua, từ cái gọi là Agama thì mình gọi là A Hàm. Agama mình đọc A Hàm. Nó cũng những bài kinh này, nhưng mà bên Nam tông á, cái này là từ tiếng Sanskrit nè, còn bên Nam tông á thì mình gọi là Nikàya, cũng những bài kinh tương tự như vậy, mà dùng ngôn ngữ Pali. Thì có nhiều bài kinh mà trong A Hàm có mà Nikàya không có, mà có những bài kinh Nikàya có mà trong A Hàm không có, nên nó có nhiều cái.

[2:26]Nhưng riêng về bài kinh Niệm Xứ này, thì cả hai tạng này đều có và khá giống nhau về nội dung, khá giống, chỉ khác một ít chữ. Nhưng ở đây, bài kinh A Hàm giới thiệu về bài kinh Niệm Xứ này, khách quan lắm, nói có một con đường đưa đến thắng trí giải thoát, nghe nhẹ nhàng. Nhưng trong Nikàya, bài Niệm Xứ thì nói rằng đây là con đường độc nhất, không có con đường khác. Nên điểm này làm tôi hơi ngờ ngợ, vì theo tôi biết thì toàn bộ giáo lý mà trong Nikàya đều nhất quán với nhau hết. Bài kinh này ăn khớp với bài kinh kia, bài kinh kia nó ăn khớp với bài kinh nọ, không có tách ra được. Chứ kinh Đại thừa đó thì mâu thuẫn à.

[3:07]Tạng kinh Đại thừa rất là lớn, nhưng mà bài kinh này có thể mâu thuẫn với bài kinh khác, Đại thừa có. Nhưng mà riêng Nikàya thì không bị. Nhưng mà chỉ có bài kinh này có một chút một điểm nhỏ nó làm cho tôi hơi ngờ ngợ. Tôi sợ rằng do các sư Nam tông quá đề cao Tứ Niệm Xứ, nên đã sửa một chút xíu, trong mấy ngàn năm kết tập có thay đi đổi lại, có bị thêm thắt, bị biến thái. Tôi nghi ngờ như vậy. Nên cái câu nói mà: "Đây là con đường độc nhất đưa đến thắng trí giải thoát", thì tôi hơi thấy nó không còn khách quan nữa. Vì khi mà giảng Tứ Diệu Đế, Tứ Diệu Đế là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo, quý thầy học rồi phải không?

[3:50]Có lẽ trong Phật pháp căn bản học chưa? Học rồi. Tôi cũng định giảng lại Tứ Diệu Đế, tại vì trong học Nikàya mình phải biết. Nhưng mà tôi nghĩ thôi, chắc để quý thầy tự nghiên cứu, vì không còn thời gian. Nghĩa là tôi định sẽ dạy xong cái Tứ Niệm Xứ của Trung Bộ này, bắt đầu chúng ta học qua Trường Bộ, rồi học qua Trường Bộ vài bài, rồi học qua Tương Ưng, qua Tăng Chi, rồi qua Tiểu Bộ, rồi kết thúc Nikàya để mà bước qua môn khác luôn. Cho nên tôi không có dạy hết nữa, chỉ Tứ Niệm Xứ này là qua... mà Tứ Niệm Xứ bữa nay chúng ta học cũng không hết, phải thêm một lần nữa. Thì trong Tứ Diệu Đế đó, cái phần mà con đường

[4:27]tu tập á, gọi là Bát Chánh Đạo, phải không? Đạo. Mà trong bài kinh Magandiya cũng của Nikàya, thì Đức Phật có nói: "Bát chánh đường duy nhất đến bình an bất tử". Thì Bát chánh mới là con đường duy nhất, mà trong bài kinh này Niệm Xứ thì Đức Phật lại nói: "Đây là con đường độc nhất". Như vậy hai cái mâu thuẫn với nhau. Với một điều nữa, là tất cả cái sự tu hành của chúng ta không bao giờ ra khỏi Bát Chánh Đạo. Bát Chánh Đạo nó bao trùm hết toàn bộ sự tu tập chúng ta. Không ai có thể mà dạy một cái gì mà hay hơn, ra ngoài được Bát Chánh Đạo, kể từ khi Đức Phật mà nói rồi tới mấy ngàn năm nay. Nghĩa là dù cho người đó nói rằng con đường của mình là siêu

[5:14]thừa, là tối thượng thừa, nhưng mà nói đi nói lại mình phân tích một lát cũng nằm trong Bát Chánh Đạo, không ra khỏi. Cái Bát Chánh Đạo hay như vậy. Mà chỉ sợ chúng ta hiểu không hết thôi. Nếu chúng ta hiểu không hết Bát Chánh Đạo, thì chúng ta thấy Bát Chánh Đạo có vẻ thấp, có vẻ đơn giản. Nhưng nếu cái trí tuệ chúng ta cứ càng sáng lên, sáng lên thêm chừng nào thì lại thấy Bát Chánh Đạo nó lớn thêm, nó rộng thênh thang thêm chừng đấy, nó không còn có biên giới nữa. Cho nên ai tu gì tu, không ra khỏi Bát Chánh Đạo. Và Tứ Niệm Xứ cũng chỉ là một phần của Bát Chánh Đạo. Là quán niệm thì nó thuộc về Chánh niệm,

[5:51]hoặc là Chánh tư duy thôi, chứ không thể trùm hết Bát Chánh Đạo. Cho nên bài kinh này mà nói rằng đây là con đường độc nhất, thì tôi hơi ngờ ngợ. Tôi nghĩ rằng đây là một sự biến thái, qua nhiều ngàn năm kết tập có bị biến thái, nên không đó... A Hàm phía này đúng hơn chút. Trong Tứ Niệm Xứ thì chúng ta cũng học trong Phật pháp căn bản, biết là: quán gì? Quán thọ, quán tâm, quán pháp. Bốn cái này thuộc rồi phải không? Quán như thế nào thì hai bên có khác nhau nữa. Ở đây thì các sư ở bên Miến Điện có mở nhiều cái trung tâm thiền, là meditation center, thì mỗi trung tâm thiền như vậy họ sở trường một đối tượng.

[6:40]Đây là một điều tôi cũng hơi lấy làm lạ một lần nữa. Nghĩa là có cái trung tâm thiền lấy thân làm đối tượng chuyên tu về quán thân, chỉ đi một đường. Có cái trung tâm thiền thì lấy thọ làm đối tượng, chỉ chuyên quán thọ. Rồi có những cái trung tâm thiền thì lấy tâm làm đối tượng, có trung tâm thiền lấy pháp làm đối tượng. Thì tôi hơi hơi ngờ ngợ, tôi không hiểu sao, vì theo như kinh nghiệm bản thân tôi, theo như cái hiểu của tôi, thì bốn cái đối tượng đó gắn chặt với nhau, liên quan với nhau không có sơ hở. Cho nên tách ra từng đối tượng để tu như vậy thì thứ nhất tôi ngại là trên tinh thần đạo Phật bị phân

[7:21]hóa, và trong cái sự thực hành nó cũng có cái điều gì tôi không hiểu sao, vì nó liên quan với nhau lắm. Cho nên không biết như thế nào. Thôi đừng mình phê bình quá cái người ta nói mình làm thầy đời hoài thôi không được. Thì theo Nikàya đó, cũng như trong A Hàm, thì cái cách quán như thế nào? Thì gọi là: quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp. Ai hiểu câu đó? Quán thân trên thân là gì?

[7:57]Thật ra ai hiểu hay chứ tôi tôi cũng không hiểu luôn.

[8:03]Nói thiệt tình đó, không hiểu luôn. Mà sao vậy? Tại vì cái ngôn ngữ cổ. Ngôn ngữ cổ, cho nên mình đọc tới cái này mình mình tụng như là mình đọc thần chú vậy chứ mình không hiểu hết đâu. Mà Nikàya là bị cái này thường lắm, mà riêng Tứ Niệm Xứ là cái này càng khó hiểu, quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán pháp trên pháp nghĩa là cái gì? Tôi cũng không hiểu luôn. Ở đây là điểm mà quý thầy để ý, sau này lớn lên quý thầy đi giảng thì quý thầy phải chú ý ngay vào cái chỗ câu văn bị tối nghĩa liền, gỡ cho ra. Vì nếu mà trong Nikàya một điểm nào tối nghĩa mà mình không gỡ, cái người nghe chỗ đó họ bị mờ mờ.

[8:42]Họ bị mờ mờ, mà trong cái đầu mình mờ mờ lâu quá thì nó sẽ sinh ra cái buồn ngủ, hoặc là cái chán kinh đó. Cho nên Nikàya này chứ khó học là vì lý do đó, dễ làm người ta chán là do quá nhiều câu tối nghĩa. Ở chỗ này khi Hòa thượng Minh Châu dịch theo cái kiểu này trung thành với văn cổ, Hòa thượng có lý, mình không quyền phê bình. Khi Hòa thượng là người đầu tiên mà dịch Nikàya từ tiếng Pali sang tiếng Việt Nam, Hòa thượng cố ý dịch sát với tiếng Pali, cái văn hơi cổ cổ, đó là điều hay. Ví dụ như thầy Lê Mạnh Thát cũng vậy, ổng cực kỳ giỏi, phải nói ổng là thiên tài của đạo Phật, quá sức giỏi.

[9:23]Văn thì ổng hay lắm, văn Việt Nam ổng viết là say mê luôn, nhưng mà đụng tới những cái chỗ mà ổng dịch cái chữ Nho ra tiếng Việt Nam thì ổng dịch cũng lơ lơ lửng lửng, cổ cổ, kiểu cũ kỹ á, kỳ lắm, đọc cũng rất là tối nghĩa, mà ổng cố ý, thầy ổng cố ý vậy á. Ổng không dịch rõ ra. Còn cái phần nào mà chính ổng viết thì ổng viết rất là sáng, văn phạm đâu đó sắc bén rõ ràng, nhưng mà hễ ổng dịch văn cũ ra thì ổng dịch cũng mờ mờ tối tối, mờ tối kỳ khôi. Nhưng mà các vị đó là những vị họ uyên bác, họ giỏi lắm, nên chúng ta tin rằng họ có lý khi họ làm điều đó. Họ đã có lý khi mà họ dịch văn cổ qua cái

[10:01]cái cái ngôn ngữ Việt Nam họ vẫn dịch theo cái lối để cổ cổ như vậy, họ có cái lý của họ. Còn cái bổn phận của chúng ta là sau này khi mà dạy những người sau thì mình phải biết liền cái chỗ tối nghĩa mà gỡ cho ra để cho cái bản kinh nó được sáng tỏ lên. Đó là nhiệm vụ của chúng ta về sau. Sau này có thể có nhiều người họ viết lại Nikàya bằng lối văn mới cũng có, nhưng mà cái bản dịch cổ này vẫn phải để dành, đừng có bỏ, không được phủ nhận, để luôn luôn so sánh đối chiếu. Còn cái quán thân trên thân, cái này là tôi nghe là tôi hiểu, tôi hiểu thôi vì tôi dựa vào tinh thần đạo Phật. Quán thân trên thân nghĩa là chúng ta sẽ xem xét cái thân

[10:43]này theo cái cách khách quan, nghĩa là thân này như thế nào chúng ta sẽ thấy như thế đó, không thêm không bớt. Quán thân trên thân nghĩa là vậy, nghĩa là chúng ta nói dài dòng ra đủ nghĩa vậy. Sau này nếu ai văn hay chữ tốt có thể tìm một cái chữ nào nó gọn lại hơn là cái câu nói dài dòng của tôi. Ví dụ nói quán thọ trên thọ là chúng ta sẽ xem xét cái cảm thọ một cách khách quan, nghĩa là cái cảm thọ nó như thế nào, chúng ta sẽ xem xét nó đúng như thế, không thêm không bớt. Cái câu quán thọ trên thọ nghĩa là vậy, nghĩa là mình dịch ra dài là như vậy. Vậy quý thầy đồng ý không? Đồng ý không? Bộ chê sao không ai, làm lơ hết trơn vậy ta?

[11:30]Vậy quán tâm trên tâm cũng vậy, là chúng ta sẽ xem xét tâm một cách khách quan. Tâm như thế nào, chúng ta sẽ xem xét đúng như thế, không thêm không bớt là quán tâm trên tâm. Quý thầy chịu không? Chịu không? Ủa, bộ còn nhiều người chưa chịu quá vậy ta? Tại vì cái này là tôi hiểu chứ không phải dịch từ cái chữ quán thân trên thân, không phải dịch ra, nhưng tôi hiểu. Nhưng mà tôi hiểu như vậy không biết tôi hiểu có trật không nên tôi hay hỏi quý thầy chịu không. Hễ quý thầy mà chịu á thì mai mốt có ai chê tôi dở thì tôi nói là tại quý thầy chịu. Thì chịu, rồi chịu không? Nãy giờ chịu không? Thấy không, không dám.

[12:06]Biết ngay mà, không dám. Rồi các vị luận sư của Bắc Tông thấy nói vậy nghe không hiểu. Người sau mà gặp mấy vị đại sư đó: "Thưa thầy, tụi con tu mà nói quán thân trên thân, quán thọ trên thọ tu làm sao?" Hỏi hỏi tới mấy ngài cũng cũng đâm ra phát ngán, cho nên quý thầy bèn nghĩa là giải thích giùm chúng ta cho nó gọn để chúng ta theo đó mà tu để khỏi hỏi, khỏi thắc mắc nữa là các ngài mới nói rằng: nghĩa là quán thân là bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm là vô thường, quán pháp là Cái chỗ này thì thầy Mẫn Thát ông lại dịch đảo lại một chút xíu hợp lý hơn, nghĩa là quán tâm là vô ngã mà quán pháp là vô thường. Ha.

[12:51]Như vậy, khi mà nhìn thấy thân thì thân này bất tịnh, hễ thấy cảm giác thì cảm giác luôn luôn là đau khổ, hễ thấy tâm thì trong tâm này không có bản ngã, chỉ là những ý niệm kết hợp nhau không có bản ngã. Và nhìn ra vạn pháp thì vạn pháp là vô thường biến đổi. Nghĩa là sau này các vị luận sư đã đặt ra luôn á cho gọn cho chúng ta theo đó mà ngồi quán cho nó dễ, đừng có hỏi, đừng tới lui hỏi hoài mệt quá. Chứ không phải chạy tới hỏi quán pháp trên pháp là gì bạch Hòa thượng đồ. Thôi tụi bây về tụi bây quán vậy cho nó gọn giùm tao, hỏi mất công quá, hỏi hoài. Thì ở đây chúng ta thấy cái chữ pháp á, cái chữ dhamma nó nhiều nghĩa lắm.

[13:28]Mình viết cái chữ dhamma này là viết theo Pali nè, còn theo Sanskrit thì nó là dharma, Pali là dhamma. Chữ dhamma này có nhiều nghĩa, nghĩa là pháp á, nó có một là giáo pháp, ví dụ như Phật, Pháp, Tăng thì dhamma này là giáo pháp của Phật. Pháp thứ hai là vạn pháp, là ngoại cảnh bên ngoài. Nó hai nghĩa như vậy. Thì trong cái bài Tứ Niệm Xứ này, pháp nó bị cả hai nghĩa luôn, làm cho chúng ta hơi lúng túng. Là trong cái đoạn mà quán pháp á thì có khi quán pháp theo cái cách pháp này là giáo pháp, có khi quán pháp theo cái cách mà pháp này là ngoại cảnh. Khi mà tôi nghiên cứu tới bài kinh Niệm Xứ này, tôi bị lúng túng chỗ này.

[14:08]Tôi bị lúng túng một thời gian cũng dài lắm, tôi không hiểu là cái nghĩa chính như thế nào. Vì trong thực tế mình tu tập thì mình thường thấy cái dhamma này là ngoại cảnh bên ngoài, nhưng mà trong bài kinh thì cái dhamma này nó còn có nghĩa là pháp các giáo pháp để mà suy tư mà quan sát, rất là lạ nên tôi hơi ngỡ điểm này một chút. Hôm trước chúng ta đã học bài Thân Hành Niệm rồi, phải không? Nhớ không? Hình như đào đất riết rồi quý thầy quên hay sao, dọn dẹp chùa xỉa quên hết hay sao không biết. Tới sáng hỏi quý cô cái quý cô nhớ rèn rẹt liền. Hỏi học bài Thân Hành Niệm chưa, nhìn tôi hơi xa lạ.

[14:45]Chúng ta nhìn nhau hơi xa lạ đấy. Nghĩa là trong cái bốn đối tượng mà quán thân, thọ, tâm, pháp thì phần gần như cái phần thân chúng ta học hết trong Thân Hành Niệm. Nghĩa là hôm nay chúng ta học bài Tứ Niệm Xứ, kỳ thực là chúng ta đã bắt đầu học từ bài Thân Hành Niệm. Cho nên chỉ còn cái thọ, cái tâm, pháp là chúng ta nghiên cứu trong lần này với lần sau. Còn bài thân không cần nói nữa vì chúng ta đã học hẳn rồi, nên được lợi cái như vậy. Và chúng ta cũng thấy là hồi chúng ta học bài Thân Hành Niệm, Đức Phật nói rằng chỉ cái quán thân đủ đưa đến giải thoát, quý thầy nhớ không? Nhớ Ngài nói Tứ thiền giải thoát luôn, không nói gì.

[15:25]Thì ở đây chúng ta thấy quán thân là nền tảng. Từ cái quán thân làm nền rồi á, lần lần nó xuất hiện quán thọ, quán tâm, quán pháp nó hiện ra tự nhiên, không cần cố ý. Đây là cái để ý chúng ta để ý, một trong những kinh nghiệm mà tu tập Tứ Niệm Xứ. Ở cái mức độ cạn á thì có thể chúng ta quán bốn xứ cùng một lúc. Nghĩa là khi mình vào mình quan sát hoặc là mình đi, đứng, nằm, ngồi, mình quan sát, mình nhìn vào thân thấy thân này là bất tịnh hay là vô thường, hư ảo cũng được, thấy cảm thọ luôn luôn là đau khổ, thấy tâm này là vô ngã, thấy các pháp là vô thường. Nghĩa là trong mức độ cạn thì mình theo cái câu thần chú đó mình tu cũng được,

[16:06]có thể mình xem cái câu đó như thần chú vì nó linh lắm, hay lắm, phải không? Nhưng mà ở mức độ mà thực hành sâu á thì chúng ta chỉ việc quán thân thôi, từ từ thọ hiện ra, từ từ tâm hiện ra, rồi vạn pháp hiện ra, rất là vi diệu. Mà chúng ta đã học qua thân rồi nên hôm nay không nói thân, hôm nay chúng ta sẽ nói về thọ - vedanā. Thọ nghĩa là gì? Hử? Cảm giác. Cho nên trong A-hàm á có dùng cái chữ này nữa, là quán thân trên thân, quán giác trên giác. Thì chữ giác này mình đừng có tưởng là giác ngộ, mà giác này là cảm giác trong A-hàm. Tôi dặn trước để khi quý thầy đọc thấy A-hàm quý thầy đừng có bỡ ngỡ.

[16:50]Thì Phật cũng nói có hai loại thọ, là nội thọ và ngoại thọ. Ngoại thọ là những cái cảm giác mà do chúng ta tiếp xúc với thế giới bên ngoài mà phát sinh, còn nội thọ là những cảm giác mà do tự tâm chúng ta suy tư, tưởng tượng mà nó phát sinh. Hai cái phần như vậy. Rồi chúng ta cũng nghe nói là chia làm ba phần, phải không? Là cảm thọ khổ, cảm thọ vui và cảm thọ không khổ không vui. Thì như vậy, thì chúng ta nói về cái cảm thọ mà trong ngoài chút xíu, chúng ta sẽ thấy thế này: Ví dụ như có một cái người thích ăn ăn cóc đi, thích ăn cóc, cóc chua chua ngọt ngọt á, mình mua trái cóc về mình mình để mình ăn.

[17:44]Thì mình cũng đề phòng, mình đề phòng là mình mua được có ba trái mà đề phòng gặp bốn huynh đệ thì nó hơi kẹt. Cho nên mình bèn á là giấu trong túi mình hai trái, cầm cái ăn trái bên ngoài, giấu hai trái trong đơn để tối khi ai ngủ hết thì mình từ từ mình sẽ thanh toán hai trái còn lại. Thì khi mình ăn á, nó cảm giác làm cho mình ngon, cái chua cái ngọt mà đúng cái khẩu vị của mình cái làm mình thích. Cái cảm giác thích đó nó là cảm thọ, thọ do bên ngoài. Rồi khi đêm, màn đêm từ từ buông xuống, mình nằm ở trên cái đơn mà mình hiểu rằng ở ngay dưới cái lưng mình là đang còn hai cái trái thân yêu nằm dưới đó,

[18:20]mình tưởng tượng cái vị chua của nó, mình thấy ngon, đó là nội thọ đó, phải không? Đó mình tưởng tượng mà ra. Còn lúc mình ăn nó là ngoại thọ, còn khi bắt đầu mình nằm tưởng tượng nó nó là nội thọ. Rồi khi bắt đầu mình nghe tiếng huynh đệ nó ngáy đều đặn rồi, mình mới từ từ tụt xuống đơn mình dở lên mình thò tay mò không thấy trái nào nữa hết. Không biết cái tay nào nó biết nó làm trước rồi. Thì lúc đó một cái tức xuất hiện, cái cảm giác tức đó là cái gì, ngoại thọ hay nội thọ? Ngoại thọ. Ngoại thọ là đó là cái chuyện bên ngoài làm, thế là ngoại thọ đã xuất hiện, nó như vậy. Rồi sau khi mà mò không thấy trái nào mà lại

[18:59]được tờ giấy lấy ra đưa ánh đèn dầu thấy: "Cảm ơn huynh, hai trái cóc rất ngon" nữa, còn thêm một phần tức giận nữa, đó là cái ngoại thọ, nội thọ. Còn cái nội thọ coi vậy chứ nó nhiều lắm. Ví dụ như khi chúng ta còn nhỏ, còn trẻ á thì mình chỉ phải nghe lời cha mẹ nè, vào chùa phải nghe lời thầy tổ, phải lo học hành. Cái tương lai là ở phía trước nên chúng ta hay mơ mộng về tương lai và tìm cái cảm giác thích thú nơi cái tương lai đó. Nhưng người già thì ngược lại. Già rồi cái phía trước chỉ là cái nấm mồ thôi, nên không bao giờ dám mơ mộng tới phía trước. Ví dụ như 70 tuổi rồi, mơ mộng 10 năm nữa thấy cái

[19:37]mồ, không dám, nên thường người già thì nhìn ngược lại quá khứ để mà tìm cái niềm vui của quá khứ. Còn người trẻ thì nhìn tới tương lai, vì cuộc đời mình còn thời gian dài để đi tới. Ví dụ cái người mà thích làm nghề dạy học thì mơ ước mình hay tưởng tượng thấy mình đứng trên bục giảng mình nói, mình xỉ đứa này, mình xỉ đứa kia, mình rầy đứa này với mình rầy đứa kia là mình ngon và có cảm giác thích thú vì điều đó. Hoặc là con người mà thích làm bác sĩ này, tưởng tượng mình mặc đồ áo blue đi qua đi lại. Bệnh nhân nhìn mình nghĩa là van lơn, nài nỉ nọ mình đi qua lại mình trên cơ rồi phải không? Ví dụ vậy.

[20:13]Hoặc là có nhiều người mơ làm đến tới tổng thống luôn nữa, nói vậy. Nghĩa là khi mà cái tưởng tượng mơ mộng vậy họ họ thích thú, thích thú. Đó là nội thọ. Còn người già vì cái tuổi đời đi qua rồi, nhìn lại cái quá khứ của mình mà hay tránh né những cái chuyện đau khổ, mà thường hay mơ ước tưởng tượng nhớ lại hồi tưởng lại những cái chuyện vui. Nhưng nếu mà nhớ lại quá khứ có lần mình bị đuổi việc làm, người ta không cho làm nữa, đó là nỗi buồn mình không dám nhớ tới. Mà chỉ nhớ có một lần mình đi trên đường gặp ba bốn anh chàng ăn hiếp cô gái, mình đã xuống mình xăn tay gọi là bảo vệ cô ta. Mặc dầu bị nó oánh một trận mềm xương nhưng cũng đã bảo vệ được

[20:54]người đẹp và mình nhớ lại chuyện đó suốt đời, ví dụ vậy. Thì thường thường á cái người hồi tưởng lại những chuyện đó người ta thấy thích thú, có cảm giác là mình anh hùng lúc nào đó cứ kể hoài. Nên chúng ta gặp người già nhiều khi mình thấy họ hay lẩm cẩm, lẩn thẩn, nhưng mà hãy tôn trọng. Thì tôi vậy đó, nhiều khi tôi nói chuyện với những người già đó, hễ một trăm lần gặp cái ông đó là ổng kể đúng một trăm chuyện đó một lần. Và tôi cứ ngồi nghe say sưa thôi, cứ chăm chú ngồi nghe cho ổng nói thôi, vậy đó. Thật ra vì cái gì? Vì mình tôn trọng cái niềm vui của người già. Họ lúc họ kể cái chuyện mà họ thích mà mình làm ra vẻ lơ đãng

[21:28]không thích, mình không biết tôn trọng, không biết kính trọng người già, đó là một cái điều thiếu về đạo đức. Nó không phải là một thủ thuật để sống đâu, chúng ta đừng nghĩ mình lắng nghe đó là một thủ thuật mà nó là một đạo đức. Cái lắng nghe của mình làm cho người ta vui, mình phải lắng nghe. Dù cái chuyện đó lẩn thẩn ổng kể mình một trăm lần rồi. Hồi lúc có lần tôi ở với ông già cũng vậy đó, ổng già rồi sau này ổng chết rồi tôi phải đi thiêu phải đám á. Thì cứ mỗi lần nói chuyện thôi có một chuyện ổng nói hoài, nói hoài. Mà tôi cứ chăm chú ngồi nghe nghe phát thuộc luôn á, thuộc nhớ hết. Mà phải tôn trọng người ta.

[22:01]Nên đó là cái nội thọ và ngoại thọ. Thì bây giờ như hôm trước chúng ta học cái thọ này trong ở đâu rồi? Ở đâu rồi? 12 nhân duyên, đúng thiệt ăn xôi chùa là mất hết. Hồi sáng quý cô hỏi là nhớ rẹt liền. Và có bao nhiêu loại thọ? Rất nhiều phải không? Rất nhiều. Mà Phật phân biệt ra làm ba loại tạm là khổ, vui và không khổ không vui. Cái không khổ không vui này mới lạ đây. Chúng ta hay gọi là cảm thọ trơ. Mình gọi thôi chứ Phật dùng chữ không khổ không vui là hay. Cái hồi tôi còn nhỏ tôi hơi thắc mắc, lúc mà tôi đọc tới cái đoạn này, lúc ở nhà tôi học giáo lý á, cứ tự học thôi còn cư sĩ á, lật sách cái học tới cảm thọ

[22:43]khổ, cảm thọ vui, cảm thọ không khổ không vui, tôi thấy ngạc nhiên. Tôi nói: "Tại sao Phật không nói là không còn cảm thọ, không có cảm thọ xuất hiện?". Ví dụ như khi mình cảm giác vui khởi lên mình nói là cảm thọ vui, buồn khởi lên nói cảm thọ khổ, mà khi không buồn không vui thì gọi là không có cảm thọ. Nhưng mà tại sao Phật lại nói là cảm thọ không khổ không vui? Tôi hơi thắc mắc. Thì về sau này tôi mới thấy trí tuệ của Phật đúng là tuyệt vời, mấy ngàn năm rồi mà Ngài vẫn... vi diệu. Đến bây giờ mình có cái loại thuế, trong kinh tế học có cái thuế là thuế VAT, gọi là thuế trị giá gia tăng. Giải thích cái thuế này như thế nào thì chúng ta học thêm hai tuần

[23:21]liên tiếp nữa, phải đi tập huấn hai tuần mới biết cái thuế này nó ra làm sao, nó dài dòng lắm, cho nên chúng ta không nói. Nhưng mà nó có cái vầy: thuế suất, có những mặt hàng... có những mặt hàng ví dụ khi nhập khẩu vào hoặc là những cái loại hình hoạt động kinh doanh nào đó mà nhà nước đánh thuế theo cái biểu biểu thuế suất là 0%. Như vậy có đánh thuế không? Nhưng mà không được nói là không đánh thuế. Vì cái khái niệm mà không đánh thuế và cái khái niệm đánh thuế với thuế suất 0% hoàn toàn khác hẳn nhau luôn á. Khác hẳn luôn, không giống gì nhau hết. Mình nghe mình thấy ngạc nhiên ha? Ví dụ như trong toán học mình nói là a nhân cho 0 thì cũng bằng là

[24:04]0 nhân cho a, bởi vì tích phép nhân nó có tính hoán vị, đổi được. Nhưng mà trong lý luận như vầy không được. Không đánh thuế hoàn toàn khác với cái đánh thuế với thuế suất 0%, khác nhau hoàn toàn. Vì cái người mà được đánh thuế với thuế suất 0% là có một vài trường hợp nhà nước phải cho tiền ngược lại luôn, vì cái thuế suất 0% này. Hay như vậy đó. Nghĩa là nếu mà mặt hàng của họ kinh doanh mà họ được đánh thuế suất 0% thì khi mà thuế mà lại tính thuế với họ xong là bắt đầu phải đem tiền nhà nước trả lại cho họ. Đây là điều rất là lạ, nó khác hẳn với cái không đánh thuế. Cho nên khi mà Đức Phật nói rằng cảm giác không,

[24:46]rõ ràng nó hoàn toàn khác với cái không cảm giác, khác hẳn nhau luôn. Quý thầy nhận ra chỗ khác nhau không? Cảm giác không, nó hoàn toàn khác với không cảm giác. Cái không cảm giác, tức là không cảm thọ, nó vào cái diệt tận định mới tới, mới gọi là diệt thọ tưởng định nó mới tới. Còn hiện nay chúng ta là đang cảm giác mà cảm giác không. Ví dụ chúng ta đang ngồi học trong lớp nè, quý thầy thử nhìn lại mình đang có cảm thọ gì? Thử coi, quan sát lại coi. Cảm thọ vui, rồi được một người. Ai thấy gì nữa? Học mà có cảm thọ vui là độc đáo lắm rồi đó, lát nữa tôi sẽ nói tới nè. Không, tôi nói thật á. Học giáo lý mà được cảm thọ vui là quý lắm á.

[25:35]Rồi ai thấy cảm thọ gì nữa nói ra? Hưng phấn, rồi thôi cũng được. Gì nữa? Sung sướng, chà cũng hay ta, quý thầy có bộ tiến bộ á. Cũng hiếm người lắm á. Có nhiều cảm thọ. Ví dụ như nếu mà một ngày trước chúng ta lao động vất vả thì mình đang ngồi cái cảm thọ mệt làm mình hơi khó chịu, phải không? Ngồi cái chân nó tê, cái mông nó mỏi. Rồi nhiều khi cái bánh bao mình giấu trong rương không biết nó thiu kiến ăn chưa vậy đó, cứ nôn nôn còn cảm thọ nôn nữa. Tức là ngồi đây chứ mà phân ra mình sẽ thấy nó nhiều cảm thọ ở trong đó lắm. Nhưng mà một lúc nào đó mình không nhìn thấy, tạm thời những cảm thọ đó lắng hết thì phải...

[26:15]không được gọi là không cảm thọ mà là cảm thọ không. Đó nó khác nhau. Cho nên ở đây trong cái khái niệm của kinh tế học và toán học người ta phân định ra rõ là cái không đánh thuế khác với cái đánh thuế không. Mà người ta thấy là hợp lý, mà ở trình độ toán học như vầy nè, trình độ mà khoa học như thế này người ta thấy đó là đúng. Mà điều này Đức Phật cũng thấy như vậy từ hơn 2.500 năm trước. Nên thiệt tình là tôi phục cái trí tuệ của Phật là vậy đó. 2.500 năm rồi Đức Phật nói vẫn không sơ hở nha. Ngài không cho lúc mình không thấy cảm giác nào hết, Ngài không gọi đó là không cảm thọ. Phải như mình xớn xác là mình nói liền:

[26:55]"À lúc cảm thọ vui, lúc cảm thọ buồn và lúc không có cảm thọ". Gặp mình là mình xớn xác nói vậy liền. Đức Phật không, không sơ hở. Đúng, gọi là cảm thọ không, chứ không phải là không cảm thọ. Cho nên chúng ta mà hiểu sâu giáo lý chúng ta mới nể Phật. Còn học mà hời hời hợt hợt không có nể Phật đâu. Học cho kỹ rồi mới biết là biết sợ ông Phật mình. Nhìn ổng dễ sợ thiệt. Cứ càng học là càng thấy ổng đứng mà đúng một cách sâu sắc. Mà đâu phải là mới đây, mấy nghìn năm rồi, phải vậy. Thì như chúng ta đã biết cái cảm thọ nói là ba loại tạm nhưng thật ra là chia chẻ ra là không biết bao nhiêu loại phải không?

[27:33]Từ những cái vi tế chút chút chút chút á. Như bình thường á mình có thể kể ra bao nhiêu mùi mùi tổng quát? Mùi thơm, phải không? Mùi hôi, mùi nồng. Cái mùi mùi cay thôi cũng cho là ngửi được mùi đi. Đại khái. Chua bắt đầu nó nếm vô trong lưỡi rồi. Ừm, mùi khét, rồi hay, rồi gì nữa? Mùi tanh, rồi hay, đó cũng giỏi, gì nữa? Thôi thối là giống nhau rồi, thôi cũng được. Thì mình á mình kể một lát ráng kể thì được chừng hai ba chục mùi, phải không? Nhưng mà sự thực các nhà khoa học á các nhà khoa học họ nghiên cứu họ thấy là một người có những người giỏi họ nếm được mấy ngàn mùi, phân biệt ra mấy ngàn mùi.

[28:25]Mà con chó nó được 100.000 mùi, con chó nó tinh hơn mình, mà nó nhạy. Nhưng mỗi người chúng ta đều có một cái mùi đặc trưng không ai giống ai. Thường thường chúng ta không thể nào mà mình tìm... phân biệt con người bằng mùi được. Vì không cho phép, không cho phép là mỗi lần mình gặp nhau mình lại ngửi ngửi coi người này có phải anh này, mày phải anh Nam không? Lại cái ngửi ngửi phải Minh Trí không? Không có cho phép. Nhưng mà thường chúng ta đành chịu, đành chịu là chỉ dòm mặt nghe tên kêu gọi. Nhưng mà con chó lại nó lại nó ngửi, nó ngửi nơi tay, bàn tay, ngửi nơi chân là mùi nó đã nhận diện một lần là nó nhớ luôn.

[29:01]Nó phân biệt, nghĩa là mỗi người có một cái mùi đặc trưng riêng, giống như chúng ta mỗi người có một cái dấu vân tay riêng vậy á. Mùi nó cũng riêng, coi vậy chứ không ai giống ai. Con mắt của mình cũng vậy, mình rọi mình phóng kính hiển vi vào mình chiếu lên thì những cái nét gân trong con mắt không ai giống ai, hoặc là cái vành tai của mình mình ịn cái vành tai rồi đưa trên thế giới không có người thứ hai giống cái vành tai như mình. Hay là môi, vân cái môi cũng vậy, bởi mình ịn lên áo ai rồi là rồi thua luôn á, không có không có lộn với ai được hết trơn á. Nó có cái bài hát gì đó: "Nhìn môi son trên áo anh" á. Cho nên coi vậy chứ mình không ai giống ai,

[29:41]mà trong cái không giống đó có một cái gọi là mùi không giống, không giống. Cái phân biệt á thì như vậy thì mặc dầu là quý thầy có thể học qua cái bài thọ hay là nói về mùi, nhưng đừng bao giờ đi khoe với mọi người là: "Tôi có thể phân biệt mọi người bằng cái mùi nha". Đừng có phân biệt rồi làm rồi biểu diễn nữa, kỳ lắm, không nên. Thì ở đây, ở đây mà cái nói rằng cảm thọ luôn luôn là khổ, trong khi Đức Phật đã phân biệt rằng có cảm thọ khổ, có cảm thọ vui. Nhưng mà tại sao lại nói là luôn luôn là cảm thọ là khổ? Ai biết điều này? Ai biết điều này? Tại sao nói cảm thọ luôn luôn là khổ? Trong khi Phật đã phân biệt rằng có cảm thọ vui trong đó.

[30:28]Đứng lên nói lớn. Mời mời anh cư sĩ, anh nói lớn đi. Do vọng tưởng. Có lẽ anh có cái hiểu mơ mờ trong tâm rồi mà anh chưa thấy tận cùng đó. Có lẽ anh cũng gần hiểu trong tâm mà chưa thấy ra. Hồi sáng có một cô cư sĩ nói được. Mời thầy.

[30:50]...vì nó là vô thường. Cũng có một cái lý của nó. Bạch thầy, theo con nghĩ thì cái cảm thọ vui hay là buồn nó đều làm cho tâm chúng ta dao động. Mà khi tâm dao động thì nó sẽ không được định tĩnh, cho nên... Tiếc rằng kỳ này tôi không cho làm bài. Cũng như nhiều lần tới sẽ không cho làm bài, nên không có cho thầy thêm được điểm. Trả lời câu rất chính xác đó. Đúng là như vậy đó. Vì tình hình mà làm chùa như vậy đó, cho nên quý thầy có thể yên tâm từ đây không làm bài nữa. Nhưng mà đó là một cái bất lợi cho quý thầy. Chứ đúng ra quý thầy mà ráng làm bài dài nhiều, sau này mình mới giảng được, viết nhiều sau này mới giảng được.

[31:32]Nhưng mà hoàn cảnh thì thôi đành chịu. Đúng như vậy đó. Dù là cảm giác đó là cảm giác vui, vẫn là bất an. Mà cái bất an này nó mới là đau khổ. Cho nên cái khái niệm khổ trong đạo Phật nó cao lắm chứ nó không có đơn giản đâu. Cái khái niệm khổ này nó tinh tế, nó cao lắm. Nên chính là chúng ta thấy hễ dao động bất an tức là khổ. Cái chỗ này mới là ý nghĩa khổ trong đạo Phật. Nó còn sâu hơn nữa nhưng tạm thời mình đứng ngang đó mình thấy như vậy. Chứ còn chúng ta hiểu cái khổ như ở cuộc đời, nhiều khi đơn giản ví dụ như lúc nào đó mình là người thất học, nên mình xin việc làm không được cái mình thất

[32:12]nghiệp, mình đi về mình làm lúa thì thất thu, mình qua mình yêu ai cái người ta không chịu là thất tình. Rồi vô chùa tu. Thì thấy cho rằng cuộc đời như vậy là khổ, thưa quý vị chứ đó cái hiểu khổ như vậy đơn giản lắm, đơn giản. Cuộc đời mình như vậy coi như thất bại. Cái hiểu khổ này đơn giản. Thì chúng ta phải thấy cái khổ mà nhìn theo đạo Phật đó, hễ tâm động nhón lên một cái là khổ rồi. Hễ tâm mình có xao động chút là khổ. Mà tùy mức độ mình, cái thiền định mình cỡ nào để mình thấy thế nào là xao động. Ví dụ như mình hơi thanh tịnh thì tâm mình rõ ràng lên suy nghĩ chuyện này chuyện kia lung tung gọi là khổ.

[32:55]Nhưng mà khi tâm mình lắng sâu rồi, một cái nhón nhẹ như hạt bụi đã là khổ rồi. Mình thấy đó là sai, đó là ràng buộc. Cho nên cảm thọ là ràng buộc. Cái mà gọi là ràng buộc á, nếu mà ràng buộc nó sâu nặng quá chúng ta còn gọi là gọi là ghiền. Ví dụ như cái cảm thọ khổ thì chúng ta hiểu nó là khổ dễ rồi, nhưng mà cảm thọ vui để gọi là bị là gọi là khổ là vì nó ràng buộc chúng ta, cuộc đời chúng ta, ý muốn chúng ta. Mà nó ràng buộc mãi nên mình bị gọi là ghiền. Ví dụ như người ghiền thuốc lá, hút vào không biết thích thế nào á rồi cứ thích hút hoài. Rồi người thích đánh bài, mà nghiện nặng nhất là ma túy là đáng sợ nhất.

[33:39]Nó làm chúng ta không thể thiếu được, bị lệ thuộc. Nên nó vẫn là cái đó là cái ràng buộc rất là rõ. Cái người mà bị nghiện ma túy á, cái sự ràng buộc nó quá rõ ràng. Nhưng mà rồi có những cái tế hơn từ từ tế hơn từ từ nên chỉ có những cái vui nhè nhẹ. Hay là mình thích nghe một lời khen, nó cũng là một cái ràng buộc. Ở đây chúng ta thấy thế này, là thấy được cảm thọ là một bước tiến của trí tuệ rồi. Chứ thường thường á là chúng ta dễ thấy cái vọng tưởng hơn hơn là thấy cảm thọ. Cái khởi đầu sự tu hành á khi mà ngồi thiền á là chúng ta lúc mà ngồi chúng ta phải biết toàn thân. Đó là bước thứ nhất.

[34:21]Trong cái biết toàn thân này chúng ta điều chỉnh tư thế cho nó đúng. Hôm nay là bài kinh này bài kinh của thực hành, chúng ta để ý. Rồi tới đó khi mà nó đúng tư thế thuần thục rồi thì chúng ta mới biết thân này là vô thường. Đây là giai đoạn thứ hai. Khi mà thân này vô thường rồi á, nó thanh tịnh rồi thì chúng ta mới thấy thấy hai cái, là vọng tưởng và hơi thở. Khi mà thấy vọng tưởng hơi thở rồi á, bắt đầu mới cảm thọ chúng ta mới thấy sau. Cho nên thấy được cảm thọ chính là cái bước tiến của trí tuệ. Mà điều này chúng ta để ý nè, khi mà nói cảm thọ luôn luôn là ràng buộc là đau khổ dù đó là cảm thọ vui,

[35:06]cái câu này nó có ý nghĩa lớn đối với người tu theo đạo Phật chúng ta. Ý nghĩa rất là trọng đại. Vì nếu ngang chỗ này mà chúng ta không hiểu rõ, chúng ta chưa hiểu hết đạo Phật, chưa đủ cái lý tưởng, chưa đủ cái hóa tướng để đi suốt con đường của đạo Phật á, chúng ta sẽ bị gạt. Cho nên tôi nhắc đi nhắc lại chỗ này, quý thầy ráng chú ý. Đây là điều quan trọng của đời tu hành của mình. Cho nên chúng ta học bài kinh Tứ Niệm Xứ không phải học để hiểu mà học để thực hành. Thì trong đó có cái quan trọng là cảm thọ vui vẫn là một sự ràng buộc, bất an, đau khổ. Quý thầy phải thấm sâu điều này, hiểu thật kỹ, quý thầy phải thực hành và thấm thía nó.

[35:45]Hiểu như vậy rồi quý thầy mới có cái lý tưởng để đi đến giải thoát thật sự. Sau này khi quý thầy lớn lên, quý thầy dạy đệ tử, mà quý thầy cũng nắm cái điểm này để truyền cái lý tưởng lại. Đây là cái ắt yếu, cái cốt yếu, một cái mắt xích, một cái mốc quan trọng trong cái việc mà nhận thức để đi tới cái con đường giải thoát để chúng ta quyết tâm tu tập. Vì nếu chúng ta không hiểu kỹ được rằng cảm thọ vui vẫn là ràng buộc đau khổ, chúng ta sẽ bị lừa gạt. Trong cuộc sống này nhiều trò vui hiện ra lắm. Chúng ta có thể tránh cái khổ chỗ này và chúng ta háo hức đi tìm vui chỗ khác, nhưng đâu biết rằng những trò vui đó cũng là

[36:26]bẫy mồi, cũng là một sự ràng buộc, sự lừa gạt của luân hồi sinh tử. Cho nên ở đây mình phải hiểu chắc cảm thọ vui vẫn là ràng buộc đau khổ thì mình mới gọi là người có lập trường vững chắc trên bước đường tu tập. Cho nên tôi nói cái này rất kỹ để quý thầy nhận thức trước, người ta gọi là cái chánh kiến đầu tiên trong cái Tứ Niệm Xứ á, nó quan trọng như vậy. Quý thầy phải hiểu, hiểu thật kỹ, phải thấm thía điều này, phải tư duy tới lui cái này. Như vậy. Tôi nhớ có một lần tôi gặp cái anh cư sĩ, anh này cũng trí thức, anh bắt đầu nghiên cứu Phật giáo, thì tôi ngồi nói chuyện với anh. Thì khi mà tôi nói rằng anh phải hiểu được rằng cuộc đời này là khổ.

[37:12]Tôi nhìn nét mặt thấy anh chưa hiểu. Như vậy, anh có cho rằng cuộc đời này còn nhiều điều vui? Tôi nói thêm cái để tôi gieo vào anh một sự thắc mắc luôn. Biết rằng anh chưa hiểu mà tôi đẩy thêm một câu nữa để tạo sự thắc mắc lâu dài luôn. Tôi nói: "Đến ngày nào mà anh cầm xấp tiền trên tay mà anh vẫn thấy đó là khổ là anh hiểu được đạo Phật." Nghe câu đó anh còn không hiểu thêm nữa, mà vì lúc đó tôi cũng chưa hiểu. Tôi nói ngon lành nhưng tôi cũng chưa hiểu. Rồi sau đó rồi không gặp nhau nữa, mấy chục năm rồi không gặp nhau nữa, tôi không biết anh hiểu chưa, anh ngộ chưa. Chứ tôi cũng hơi hiểu mơ mơ.

[37:45]Còn ảnh thì... Trong cái việc mà nói đạo á, ở đây cũng là một cái thuật, một phương pháp để quý thầy để ý. Có nhiều khi thấy người ta chưa hiểu, mình nhìn nét mặt thấy người ta chưa hiểu mình giải thích cho người ta hiểu. Mà có những điều mình nhìn nét mặt người ta chưa hiểu, mình đẩy thêm một câu cho hết hiểu luôn, đi về luôn. Rồi vậy đó mà mai mốt cái người đó hiểu sâu đạo. Có trường hợp như vậy. Đó là những cái phương pháp, nhưng mà phương pháp đó dễ xa nhau. Vì người ta không hiểu rồi người ta bỏ mình đi luôn, như vậy. Cho nên mình ít dùng phương pháp đó, đa phần mình dùng phương pháp lại cái gì phải

[38:20]minh bạch, logic, chặt chẽ, rõ ràng, đó, để người ta còn dễ thân lưu, hiểu không? Chứ còn mà dùng cái thủ thuật mà cho người ta thắc mắc về mịt luôn thì chuyện đó rất dễ xa nhau. Cho nên chúng ta nên chọn cái dễ thân lưu hơn hơn là dễ xa nhau. Thì ở đây, là cái vọng tưởng coi vậy chứ nó dễ thấy. Đây là mình nói trên cái cái tiến trình tu tập mà nó xuất hiện cái vọng tưởng và hơi thở là cái việc tự nhiên, chứ còn bình thường mình chưa cần tu mấy cái này, hễ mình nhìn vào tâm mình, mình đã thấy khi nào tâm mình suy nghĩ hay khi nào tâm mình không suy nghĩ mình biết, phải không? Có không? Bây giờ biết không? Biết chứ, phải không? Lúc nào cũng vậy.

[39:03]Đôi khi mình quên, mình chạy theo cái suy nghĩ thôi, chứ còn nếu lúc nào mình tỉnh mình quay lại thì mình vẫn biết là mình đang suy nghĩ hay không. Vẫn biết chứ không phải không. Tuy nhiên mà tôi chia các giai đoạn như vậy là ở trên bước đường của thiền nó tự nhiên. Đầu tiên chúng ta biết toàn thân, giữ đúng tư thế, mềm mại, bất động. Sau đó ổn rồi bắt đầu nhắc nhắc thêm, thân này vô thường hư ảo để phá chấp thân, đưa cho niệm thân đó. Rồi thấy được một thời gian rồi luôn luôn biết toàn thân nha. Dù tiến đến những mức độ sau này vẫn luôn luôn biết toàn thân. Biết toàn thân cho tới cái ngày đắc đạo nha, không được bỏ.

[39:44]Chứ dù sau này chúng ta có biết thêm cái này, biết thêm cái kia vẫn lấy cái căn bản biết toàn thân làm gốc, không được đánh mất. Rồi chúng ta biết thân vô thường. Rồi khi vừa biết toàn thân, vừa biết thân vô thường, mức tâm mình thanh tịnh một chút, chợt hai cái này hiện ra: vọng tưởng và hơi thở. Cái này tự nhiên hiện ra, chứ không có cố ý như lúc đầu chúng ta mới tu. Tự nhiên hiện ra là lúc đó tâm mình đang trong thanh tịnh mà vọng tưởng khởi lên mình thấy, thấy nó như một đối tượng bên ngoài, không dính gì với mình hết, buông dễ dàng. Và trong cái thanh tịnh đó hơi thở ra vào bắt đầu hiện rõ ra.

[40:20]Mình không có điều khiển hơi thở. Nó ra, rõ ràng biết ra; vào, rõ ràng biết vào; không chạy theo, không điều khiển, mình chỉ biết thôi. Vì lúc đó mình đang biết toàn thân, chứ không phải là mình biết hơi thở rồi tâm mình trụ trong hơi thở rồi chạy theo hơi thở xuống, chạy theo hơi thở lên là sai. Nhớ vậy là sai nha! Nhớ không? Biết được hơi thở trong khi mình đang biết toàn thân, cho nên không điều khiển hơi thở, không chú tâm gom nhỏ lại theo hơi thở. Mà hơi thở nó hiện ra tự nhiên rồi mình biết. Đó là cái giai đoạn thứ ba. Tới giai đoạn thứ tư, bắt đầu mới thấy được cảm thọ. Thấy được cảm thọ trong lúc ngồi thiền là cao lắm rồi đó.

[41:01]Bây giờ chúng ta nói cái cảm thọ thấy được trong đời sống chút. Chính trong đời sống chúng ta đó, chúng ta mới gặp gỡ hay đối diện nhiều cái cảm giác lắm, mà khó thấy, thường là khó thấy. Thường là chúng ta như dễ thấy ý niệm, ví dụ như là khi một người có con mắt đẹp như Trung Hiếu, ví dụ vậy đi, ví dụ đây là con mắt của Trung Hiếu, thấy một cái ngoại cảnh, ví dụ nhìn thấy ngoại cảnh, thì nó sẽ xuất hiện lại trong tâm mình hai điều: một là ý niệm, và hai là cảm giác, mình gọi là cảm thọ cũng vậy. Nhưng mà khi mà mình nhìn ngoại cảnh như vậy, mình xuất hiện hai cái này thì thường là mình để ý cái

[41:39]ý niệm trước, mình thấy cái ý niệm nó khởi ra, chứ mình không thấy cái cảm giác nó cũng đang khởi lên lúc đó. Cảm giác nó bị khó bị, nó khó được thấy hơn. Thường chúng ta như vậy á. Ví dụ như một lần nào đó, cái đôi mắt đẹp của thầy Trung Hiếu nhìn ra ngoài cổng chùa mà thấy một cái bóng dáng đi vào, thì nhìn thấy cái bóng dáng quen quen, lật đật chạy ra, tới chừng chạy ra rồi mới hay rằng cái bà Ba chằng lửa ở bên xóm ở đâu đi ngang bên đây bả mặc đồ mới thôi chứ không có gì lạ hết, thì lúc đó mình mới ngỡ ngàng rồi quay vô, ví dụ vậy. Thường thường á lúc đó một chuỗi ý niệm nó khởi ra, Cái ý niệm nó khởi ra khi mình thấy cái người mà quen quen,

[42:20]bắt đầu mình khởi cái tâm à, phải cái cô Phật tử ở cái bệnh viện nọ không ta? Trời chắc cổ đi vô hay sao á, cái mình đi ra để đón. Mà ra tới nơi gặp bà Ba chằng lửa, bả nay bả đổi bồ mô đen này chứ không phải là cái cô bệnh viện gì hết. Cái mình nói, thiệt cái bà này bày đặt điệu dữ rồi chằng lửa. Đó là những ý niệm mình khởi. Mình chỉ nhìn thấy ý niệm thôi, nhưng mà sự thật á cái cảm giác á, có ý niệm là nó chạy đủ thứ hết trơn vậy nhưng mà thường là mình chỉ thấy ý niệm chứ không thấy cảm giác. Cảm giác nó vô hình hơn, khó thấy hơn. Phải có trí tuệ mới thấy. Trong kinh Pháp Hoa á có phẩm Diệu Âm Bồ Tát á,

[42:56]là Bồ Tát Diệu Âm tượng trưng cho cảm giác. Thì lúc đó Bồ Tát Diệu Âm đến với đạo tràng không ai thấy. Ngài vô hình. Nghĩa là Ngài đi qua tới đâu thì cõi đất rúng động tới đó hết, mà không ai thấy hết. Nói rằng Ngài từ cái cõi xa xôi Ngài đến, Ngài đi qua muôn vàn thế giới, mà thế giới nào Ngài đi qua là đất rúng động lên hết rung rung rung rung hết, rồi mới tới thế giới Ta Bà. Tới thế giới Ta Bà đất Ta Bà rung lên, không ai thấy chuyện gì hết. Ủa sao đất rung lên hết mà không thấy gì hết? Nghĩa là lúc đó con tim mình thổn thức mà mình không biết cái gì hết. Kinh Pháp Hoa là một biểu tượng, là cảm giác làm chúng ta rúng động mà chúng ta thường không thấy biết.

[43:33]Bởi kinh Pháp Hoa cao siêu lắm, nói nghe thú vị lắm, tôi có giảng hết bộ kinh, bữa nào rảnh đón nghe, ha. Một biểu tượng rất hay về cảm giác. Thì lúc đó Bồ Tát Văn Thù mới biết. Đại chúng không thấy mà chỉ Bồ Tát Văn Thù mới biết rồi Bồ Tát mới mời Ngài hiện hình ra. Bồ Tát Văn Thù tượng trưng cho gì? Trí tuệ đó. Thì cái cảm giác này chỉ có trí tuệ mới thấy được. Thế nên vậy chúng ta tu mà đến mức độ tâm thanh tịnh trí tuệ mình sáng lên á, mình mới kiểm soát được cái cái cảm thọ của mình, chứ bình thường là mình chỉ thấy cái ý niệm chứ ít có thấy được cái cảm giác. Như hồi tôi tu cũng vậy, là tôi thường kiểm

[44:12]soát tâm mình là kiểm soát trên ý niệm. Qua một thời gian mà tôi cũng học Nikaya này thầy tôi dạy, thầy tôi cũng học theo Nikaya nên cũng hay nhắc cảm thọ đó, nhắc cảm thọ vui cảm thọ khổ đó. Nghe nhắc riết cái tâm huân tập, bắt đầu từ đó tôi đổi qua tôi kiểm soát cảm thọ, và tôi thấy cảm thọ sâu thiệt, khó thấy thiệt. Mà người nào mà thấy được cảm thọ rồi là đúng là đạo lực có tăng thêm một chút. Như mình nghe tiếng óc éc á, nó cũng có cảm thọ trong này. Thường mình không để ý đâu, phải không? Ví dụ mình nghe tiếng trộm óc éc ngoài đó thì mình ví dụ mình khởi ý niệm: Ồn quá khó học quá! Ồn, mình nghĩ vậy, nhưng mình đâu biết rằng bên

[44:47]cạnh cái ý niệm á có cảm thọ hơi khó chịu. Phải không? Đó, nên từ đây về sau khi quý thầy đã học tới bài Tứ Niệm Xứ này, thì đừng để ý tới ý niệm nữa mà thử để ý cảm thọ mình, để cho đạo lực mình tăng thêm được một chút. Vì biết được vọng tưởng coi vậy chứ mình vẫn còn ở mức độ cạn. Mà kiểm soát được cảm giác á, đó mới là ở mức độ cao. Nên ví dụ như trong chúng ta cũng vậy, cái đời sống mình bình thường vậy mà người nào kiểm soát được cảm thọ, mình sẽ nhìn thấy người đó khác người chung quanh liền. Ví dụ bây giờ à chúng ta cất chùa đi, thì trong một lần nào đó cái người huynh đệ mình ổng ổng trộn xi măng quá nhiệt tình,

[45:27]cái ổng ổng xúc cái chân mình vô ổng trộn luôn, quá nhiệt tình. Thì trong cái đau như vậy nó xuất hiện cái cảm thọ khó chịu ha, giận hờn khó chịu như vậy. Nhưng mà lúc đó vì mình đã tập kiểm soát cảm giác rồi, thay vì mình theo cái sân để mình cự nự người huynh đệ mình, mình nhìn lại vào trong cái sân đang khởi lên, cái cảm giác khó chịu đang khởi lên. Mà mình nhìn nó thì nó còn phát tác được nữa không? Nó lắng liền. Cho nên lúc đó chúng ta thấy cái người có đạo lực hay không là ở chỗ kiểm soát được cảm thọ. Hễ cái người mà không có đạo lực á, bị người ta sào qua xúc cái chân mình vô trong để trong

[46:01]cái đống hồ vậy là mình thấy người kia sừng lên, ngó sừng cồ lên liền. Nhưng mà cái người kiểm soát được, xúc cái chân để vô trong đống hồ rồi mình nhìn thấy người đó lắng tâm nhìn lại mình, gương mặt bình thản. Cho nên, cái người mà kiểm soát được cảm thọ là người đã tu đến mức độ khá, mức độ khá. Từ đây về sau quý thầy để ý vậy, trong mọi chuyện khi mình tiếp xúc xảy ra, mình sẽ thấy rằng cái ý niệm coi vậy chứ là cái cạn, hãy tìm coi lúc đó mình đang ở trong cảm giác nào. Cảm giác tiêu biểu, chán chường, bừng rỡ, giận hờn, sung sướng, phấn khởi, chán nản, buồn tanh, buồn man mác. Cảm giác, nó có cái gọi là buồn vô cớ. Như nhà thơ Xuân Diệu nói:

[46:44]"Hôm nay trời nhẹ lên cao, tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn. Bên kia có đám chuồn chuồn..." Thì cái cảm giác mà buồn không hiểu vì sao tôi buồn á, ở đây chúng ta có bị chưa? Như vậy cũng nhiều người có quá ha. Tôi tưởng có mình tôi. Hồi tôi còn nhỏ khoảng năm sáu tuổi á, tôi đang ngồi ngoài sân chơi vậy cũng không có chuyện gì, bỗng nhiên cảm giác buồn nó xâm nhập tâm hồn mình, tôi không hiểu. Mà bị mấy lần như vậy, tới lớn tôi cũng không hiểu chuyện gì xảy ra. Rồi có người khác cũng đến hỏi với tôi, sao tự nhiên con bị cảm giác buồn vô cớ? Thì người đó vừa hỏi cái tôi biết cái nguyên nhân liền.

[47:23]Mà trường hợp của tôi bị hồi nhỏ thì lúc đó tôi không biết, mãi đến sau này thì tôi mới biết và thấy rằng mỗi người mỗi nguyên nhân khác nhau hết, không ai giống ai những cái nỗi buồn vô cớ đó. Một cái phương pháp để mà chúng ta vượt qua được là chỗ này quý thầy để ý, là bình thản nhìn thẳng vào cảm thọ, không chấp nhận không dằn ép, cảm thọ đó sẽ tan. Đây là phương pháp mà chúng ta áp dụng trong đời sống và trong thiền định. Quý thầy nhớ ha: Bình thản nhìn thẳng vào cảm thọ. Không chấp nhận nó nhưng cũng không dằn ép tiêu diệt nó. Vậy mà nó tan một cách nhẹ nhàng. Có một cái cô Phật tử đó, thì cái việc hôn nhân của cô không suôn sẻ

[48:07]thành công, nên là do người chồng đã đi tìm một cái niềm vui mới. Đối với người phụ nữ thì đó là điều đau khổ lớn, tại thường người phụ nữ thì chung thủy hơn, người phụ nữ ừ ừ có trách nhiệm trong tình cảm hơn. Đàn ông thì lung tung và lăng nhăng lắm. Cũng may là quý thầy đi tu. Xin chúc mừng quý thầy. Chứ quý thầy mà đẹp trai như quý thầy mà ở đời làm khổ thiên hạ không được điều gì đâu. Thì trong cái chuyện ở trường hợp như vậy thì cái cô Phật tử đó cô buồn dữ lắm. Có ai vừa mới nói xấu tôi dưới đó. Thì trong trường hợp này cô Phật tử đó cô buồn dữ lắm. Thì nhưng mà cũng do cái thiện căn tu hành gì đó không biết,

[48:47]cô lên lạy Phật rồi ngồi xuống, cái bắt đầu cô nhìn thẳng vào nỗi buồn của mình, cô nhìn lát cô vào định luôn. Là vô tình cô đã áp dụng đúng phương pháp này là đối diện thẳng với cảm giác, bình thản nhìn nó rồi nó tan luôn. Rồi qua lần kinh nghiệm đó bỗng nhiên cô có kinh nghiệm về thiền định, rồi sau đó cô mới tiếp tục đi học thiền học thiền, cô đạt được nhiều kết quả cũng rất là tốt. Đó là một trường hợp. Thì cái phương pháp đó nó áp dụng cho nhiều cái lắm. Ví dụ như khi chúng ta nổi lên cái niệm sân, có ai làm điều cho chúng ta trái ý. Ví dụ như hồi nãy chúng ta nói khi mà huynh đệ mình nghĩ là mình thò

[49:25]tay vào trong cái đơn mình mò mò mà chỉ thấy tờ giấy cảm ơn, thì lúc đó mình sẽ thấy cái niệm sân mình nó khởi lên phải không? Bây giờ mình vậy mình ngồi lại mình nhìn thẳng niệm sân đó, thì niệm sân đó sẽ tan biến. Chứ không cần phải quán nhiều nữa. Tu mà tới mức độ này thì mình không cần phải dùng một câu nói để mà vượt qua cái sân, mà chỉ bình thản nhìn thẳng vào cái niệm sân một cách nhẹ nhàng, sân sẽ tan liền. Giống như nỗi buồn hay sự khó chịu. Cũng giống như khi ngồi thiền mà chúng ta bị đau chân vậy, là chúng ta cứ để tâm ngay cái chỗ đau luôn, bình thản nhìn nó luôn rồi an trú tâm nơi đó ngồi tiếp luôn, không xả.

[50:06]Đó, đó là cũng là một cái cách để đối diện với cái đau. Hay như người đời vậy, họ có những cái khó chịu về tham dục dùng phương pháp đó cũng rất là hay. Như có một cái người cư sĩ, anh cư sĩ hỏi tôi: "Thưa thầy, con là người thế gian, con còn bị cái sự thôi thúc của tình dục, thầy cho con phương pháp để vượt qua?" Thì tôi mới nói rằng: "Trước hết anh lạy Phật, bởi vì lạy Phật là công đức nền của mọi điều tốt. Thứ hai, anh giữ tâm khiêm hạ thấy mình là cỏ rác. Thứ ba, anh nhìn thẳng vào cái cảm giác ham muốn đó, đối diện thẳng nó." Qua lần sau ảnh gặp ảnh nói: "Dạ hết luôn thầy." Hay như vậy, rất là hay.

[50:45]Đi đúng như vậy là họ vượt qua luôn. Đó là cái cách. Nhưng khi nào Thế nào? Ví dụ như là có những cái tớ trong cuộc đời tu hành như quý thầy một lần nào đó đạp xe đi qua phố, đi qua phố chợ đông người. Đi ngang một hàng phở, ngang hàng phở thơm. Nhưng mà nó hơi thèm chút cái mình vượt qua liền bởi vì nó còn cái mùi tanh, người tu mình không thích. Rồi bắt đầu mình nhìn và nhất là vào ngày lễ như lễ Tết hay Noel đó, có nhiều cái bóng hồng tha thướt mà lúc đó mình nhìn cái cảm giác nơi tâm mình coi cái cảm giác gì khởi lên thì đối diện ngay cảm giác đó để vượt qua, chứ không cần mắng người ta là đồ bất tịnh, nhớ nha.

[51:24]Nhớ cẩn thận, có nhiều người tu theo đạo Phật mà hiểu sai, hỏi: "Thưa thầy, làm sao con vượt qua được như là ái dục?" Thì có người cứ dạy: "Thì con cứ hãy quán là bất tịnh." Bắt đầu hễ gặp cô nào thấy động tâm thấy nhìn coi: "Đồ bất tịnh, đồ bất tịnh." Ít bữa là cuốn gói theo cổ luôn. Tại vì ông bà mình đã nói rồi: "Ghét của nào trời trao của đó." Cho nên ở đây mình đừng có mắng người ta bất tịnh, mà phải quay lại nhìn cái cảm thọ của mình, cái ham muốn của mình, đối diện thẳng với nó, nó là cái gì thì nó sẽ tan. Nhớ như vậy. Cái phương pháp nó rất là hiệu quả. Tuy nhiên chúng ta còn có một cái nữa là trong thiền định nó có hỷ lạc,

[52:02]khi tâm thanh tịnh, tâm mình có xuất hiện cái niềm vui trong. Quý thầy đã có kinh nghiệm đó chưa? Có chưa? Có chưa? Hồi sáng hỏi quý cô trả lời có hơi nhiều. Có thể do quý thầy khiêm tốn kín đáo không biết. Hay là làm biếng không biết chừng. Tuy nhiên mà khi tâm thanh tịnh thì ai cũng có xuất hiện cái cảm giác hỷ lạc khởi lên, vui. Đó cũng là một cảm thọ. Thì cảm thọ này nó cũng có cái lợi là nó làm cho chúng ta ham thích ngồi thiền. Ngồi mà thấy vui quá là cứ lén lén lén lút là cứ kiếm chỗ ngồi thiền trước á. Nó làm cho chúng ta tinh tấn nhờ cái cái cái lạc thọ trong thiền định như thế. Chỉ có điều chúng ta khéo đừng có chấp.

[52:46]Đừng có chấp cái cảm thọ đó, nó sẽ sinh ra sinh ra cái gì? Khi niềm vui mình hưởng thụ thì nó sinh ra cái gì? Ích kỷ và kiêu mạn. Trong trường hợp thiền định nó sinh ra kiêu mạn, cho nên chúng ta cẩn thận. Rồi chúng ta để ý trường hợp này nữa là thường thường khi ngồi thiền mình ở trong cảm thọ nào? Ví dụ mình chưa có vào định, hử? Nó không có thấy không? Đa phần là không rõ, không có cảm thọ rõ. Chỉ tới chừng nào ngồi đau quá thì bắt đầu là mới khó chịu. Chứ còn khi đang ngồi bình thường chưa có gì thì chưa có cảm thọ gì hết. Nhưng mà vì lúc đó cũng đâu có ai mắng mình cái gì đâu. Cũng không ai cho mình tiền. Mình cũng không ngồi đó tưởng tượng chuyện quá khứ,

[53:32]vị lai, cho nên cả ngoại thọ và nội thọ đều không có. Nhưng mà nếu tâm mình thanh tịnh sâu một chút, bắt đầu mình mới thấy chuyện không đơn giản. Chuyện không đơn giản, là chúng ta mới thấy rằng toàn thân mình từng cái tế bào nơi con người mình nó tiềm tàng một sự ham muốn khoái lạc, nó có sẵn mà mình không thấy. Ví dụ như chúng ta đó, có cái lớp da, dưới lớp da có thể có những cái mạch máu, lớp mỡ, ở phần dưới sâu này mới là cơ. Thì thường là sát lớp da này nó có những cái tế bào thần kinh, tế bào cảm thụ thần kinh. Nên khi mà kim chích vào á, hỏi mấy người làm y tá biết á, nó chỉ đau ngay cái lớp da thôi, còn qua khỏi lớp da hết đau đúng không?

[54:17]Có xác nhận không? Khi mình châm cứu hay là mình chích cũng vậy, nó chỉ đau lúc mình đâm xuyên qua da, nó đụng cái thần kinh này thôi. Qua khỏi rồi thì xuống đây hết đau. Tới lớp cơ này hết đau vì dưới này không có thần kinh cảm giác nhiều. Nhưng mà khổ nà, chính mấy cái thần kinh này, từng cái tế bào của thần kinh cảm thụ này nó đều khát khao khoái lạc, khát khao khoái cảm. Đó là cái tự nhiên do tạo hóa đặt sẵn như vậy. Nên chúng ta đang bình thường ngồi đây mình thấy thanh thản, thanh tịnh, trong sạch, nhưng không đâu. Từng tế bào dưới da của mình nó đang khát khao khoái lạc. Ai cũng bị như vậy hết.

[55:01]Mà bình thường mình nhìn vô bên ngoài mình thấy giống như không có gì hết. Nên chính cái cả nguyên cái con người mình, bao nhiêu cái mét vuông da thế này là dưới đó bấy nhiêu cái hệ thống thần kinh cảm thụ, cảm xúc, cảm giác và có bao nhiêu cái thần kinh cảm thụ tế bào đó thì mỗi tế bào là một kẻ đói khát, đói khát, thèm khát khoái cảm. Luôn luôn như vậy. Luôn luôn như vậy. Và đó là lý do tại sao mà con người vậy, cứ mãi tiếp tục đi tìm niềm vui. Mà đi tìm niềm vui thì thì nhiều chuyện rắc rối sẽ xảy ra. Cái bên ngoài mình thấy không có gì chứ thật ra bên trong đang có đó. Nên đây là một bước tiến thêm của trí tuệ.

[55:48]Bước tiến thứ nhất hồi nãy chúng ta nói đó, khi mà đối duyên tiếp cảnh là chúng ta không phải chỉ thấy ý niệm mà thấy cái cảm giác nó phát sinh. Đó là bước tiến thứ nhất. Bước tiến sâu hơn nữa là khi không có cảm giác gì hết mà mình vẫn đọc ra được cái ham muốn cảm giác của thần kinh. Chỗ này là chỗ khó rồi đó. Ở đây có ai thấy cái đó chưa? Thấy chưa? Ráng ngồi thiền, lắng xuống sẽ thấy nó. Vậy là bước tiến nghĩa là đang không cảm giác mà mình vẫn đọc ra được cảm thọ, chứ không phải là không có gì. Không phải chúng ta đang ngồi đây yên như vậy là hoàn toàn không cảm giác gì đâu, đang có rất nhiều bên trong, nó vi tế đó.

[56:28]Đây là một bước tiến cao hơn. Rồi có một điều nữa là cái tim mình có một hệ thống thần kinh rất là nhạy đối với cái tình cảm và cảm giác, cảm giác, cảm xúc thì cái thần kinh tim mình nó là như cái đồng hồ báo á, hễ có cảm giác, cảm xúc là nó báo về tim liền, tim nó nhạy liền. Và nó làm cho mình đập sai nhịp, đập sai nhịp, nó rối loạn nhịp tim. Khi chúng ta vui quá tim cũng đập nhanh, hay buồn quá nó cũng có một cái rối loạn nhịp đập, nên thần kinh tim là cái đồng hồ đo. Chúng ta nhìn vào cái tim mình chúng ta sẽ biết tâm mình đang trong trạng thái nào, nên có một phái thiền ở Miến Điện hay Thái

[57:04]Lan vậy, họ ngồi thiền họ để ngay chấn thủy à, ngay ức. Để tâm ngay đây thôi để họ theo dõi nhịp đập của tim mà biết được tâm mình đang động hay đang tịnh thế nào, biết được cảm xúc thế nào. Đó cũng là một trường hợp quán thọ, mà nhưng mà tu như vậy thì chỉ sợ là mình để tâm một chỗ vậy nó mất cái biết toàn thân thì uổng đi. Chứ cũng đã có một phái thiền như vậy. Nên sau này quý thầy có nghe thì cũng đừng ngạc nhiên vì họ kiểm soát được, tức họ luôn luôn theo dõi cái đồng hồ tim như vậy. Nên cái cảm giác nơi tim á nó rõ lắm. Có một lần tôi hay kể câu chuyện vui, tôi giảng tôi hay kể câu chuyện vui,

[57:40]nhất là mấy người bị tăng xông là có hai ông bà đó, hai ông bà đó bị tăng xông. Tăng xông thì nó nhạy cảm xúc lắm, sợ tim. Hai ông bà già không có con, có một ông bác sĩ chăm sóc. Ổng bị tăng xông, bữa mua tờ vé số cái trúng độc đắc, vì bả cất nên ổng không biết, bả dò xong bả biết trúng độc đắc rồi. Nhưng bả sợ là nói ra ổng mừng quá ổng đứng tim ổng chết. Cái bả mới nói với ông bác sĩ. Bả nói: "Bây giờ cũng phải cho ổng biết thôi chứ không thể không cho, nhưng bác sĩ khéo nói cách nào để ổng đừng đứng tim ổng chết, hay là biết được mình trúng độc đắc mà không đứng tim chết." Bác sĩ nói: "Được, trời, gì tôi là rành tâm lý học này nọ." Cái bác sĩ mới đến mới nói:

[58:19]"Ông, ví dụ như lúc nào đó ông trúng độc đắc ông nghĩ làm sao?" Dạ ổng nói: "Ôi, bác sĩ ơi, mò kim đáy biển mua vé số cho vui chứ biết đời nào trúng." Thì bác sĩ nói: "Nhưng mà ông cứ ví dụ ông trúng đi thì ông nghĩ làm sao?" Nói: "Nói thiệt bác sĩ chớ vợ chồng tôi già cũng không có con, có mình bác sĩ là người thân. Nếu mà tôi trúng độc đắc tôi cho bác sĩ phân nửa liền." Không ngờ bác sĩ ổng cũng là cao huyết áp, ổng ngã té xỉu liền. Thì chúng ta thấy cái thần kinh tim á nó là đồng hồ báo của cảm giác. Rồi cũng vậy, cái tình cảm cũng vậy. Chúng ta thấy nó cũng liên quan đến nhiều đối với thần kinh tim, nên thường thường mình

[58:57]nói là thương ai thương bằng trái tim á. Hồi nhỏ vậy, tôi nghe nói thương bằng trái tim tôi ngạc nhiên lắm, tại nói mình tim đâu biết suy nghĩ, mình suy nghĩ bằng đầu, thương ai thương bằng đầu sao nói thương bằng trái tim, lớn rồi mới biết. Quý thầy biết chưa? Rồi có cái bài nhạc á, có bài nhạc mà hát là cái gì? "Xin anh yêu em bằng nguyên trái tim" á, quý thầy có nghe không? Hồi đó Elvis Presley hát bài đó hay. "Love me with all your heart, or not at all". "Love me with all your heart, or not at all".

[59:31]Cái bài đó, bài đó cũng hay. Thì vì sao vậy? Vì những cái tình cảm nó đều báo hiệu nơi tim. Nhạy như vậy. Ở đây chúng ta có thể phân biệt hai cái loại cảm thọ nữa, cứ phân biệt tiếp là cảm thọ thiện và cảm thọ bất thiện. Nghĩa là cũng có cảm thọ khổ, vui mà có cái là thiện, mà có cái là bất thiện. Nó từ những cái tâm độc ác, vị kỷ, tham lam rồi sau đó nó phát sinh cái cảm giác thì cảm thọ đó thuộc về bất thiện. Ví dụ ví dụ như trong huynh đệ mình mình có ghét một cái người nào đó, bỗng một hôm người đó đi xe đạp ra ngoài chợ, trời mưa hay sao đó, đụng quẹt té làm sao, người ta nói cuốn ống quần vô trong cái bánh xe đạp sau, đứt mất một ống quần.

[1:00:20]Đi về tới chùa chứ quần còn có một ống. Mình thấy vậy mình vỗ tay mừng, thì mừng đó là một loại cảm thọ phải không? Mừng là cảm. Vậy cảm thọ đó thiện hay bất thiện? Bất thiện. Rồi ví dụ như là cũng cái mừng đó mà cảm thọ thiện, ví dụ một người huynh đệ của mình mà mình thương, một hôm cái người đó được trên ban giám hiệu khen thưởng, mình thấy vui. Thì cái vui đó cũng là một cảm thọ, mà đó là cảm thọ cảm thọ thiện, vì nó xuất phát từ cái tâm thương yêu, không phải từ cái tâm thù ghét. Rồi ví dụ như thế này, cũng là cái đau, cái khổ, hay cái xót xa mà cũng là thiện hay bất thiện. Như khi mà mình không ưa ai, mà mình thấy người đó thành

[1:01:06]công, trong lòng mình có cái khó chịu, cái xót xa, thì cái xót xa đó, cảm thọ đó là là bất thiện. Rồi cũng thấy xót xa ví dụ như mình đi ra ngoài đường, mình thấy những người ăn xin khổ sở, ví dụ như mình thấy những cái người tàn tật á. Thì người mù thì không ai giàu hết trơn á, thì đâu có làm được việc nhiều đâu mà mà mà giàu. Nhưng hiện nay có người đang tìm cách làm có cái chương trình tìm việc làm cho người mù. Vì người mù họ có khả năng nhiều lắm nhưng mà không ai khai thác, mà không ai có thiện chí giúp đỡ họ, nên thường họ bị thất nghiệp. Nên nghèo khổ và hay ăn xin đi bán vé số, mà đi bán vé số nhiều khi còn khổ bị giật nữa.

[1:01:53]Mình có mắt mình đâm đầu mình rượt người ta được, còn mờ mờ đưa đưa lựa qua lựa lại nó bỏ đi mất luôn rồi đâu biết đường, xe cộ chạy qua lại đâu dám rượt theo, đâu dám la gì được. Và bữa đó coi như phải nhịn đói hai ba ngày để bù lại cái tiền vé số đã mất nha. Rất là đáng tội nghiệp. Nhưng thường người mù là nghèo, mà không xã hội không chăm sóc tới họ một chút thì họ càng thê thảm nữa, họ đi ăn xin. Mà chúng ta nhìn thấy một cái người như vậy, mù, đeo đôi kiếng để giấu lại nơi cái hốc mắt không còn cái tròng, con ngươi nữa. Quần áo thì đã rách và vá, vì nhiều năm tháng không mua nổi bộ đồ mới.

[1:02:33]Đôi dép thì đã cột níu tùm lum lại. Cầm cây gậy và đứa con đi trước thì dắt. Mà đứa bé đi trước đã đến tuổi dậy thì, thiếu nữ rồi mà cũng không có bộ đồ cho lành lặn, vì cũng đâu có đủ tiền, chỉ kiếm ăn ngày. Mà mình thấy những cảnh như vậy mình nghĩ đến cuộc đời còn quá nhiều người khổ, mình xót xa. Thì cái xót xa đó cũng là cảm thọ, mà là cảm thọ, cảm thọ thiện bởi cái tâm từ bi. Trong cuộc sống như vậy đó, chúng ta thấy nó có nhiều cảm thọ mà không phải cảm thọ nào cũng xấu đâu. Cái cảm thọ mà xuất phát từ cái tâm vị kỷ, ham muốn, bất an, thù hận thì cái cảm thọ mà nó xuất hiện, nó tiếp tục nó làm cho chúng ta tăng thêm cái ô nhiễm và vị kỷ.

[1:03:30]Ví dụ, như khi một ông chồng nhậu nhẹt, tiền bạc trong nhà không để dành nữa, chỉ để dành uống rượu thôi. Vợ con nghèo đói kệ. Thích bạn bè ngồi lại, mua rượu mua thịt về, chỉ tìm cái cảm giác cho riêng mình, thì đó là ích kỷ. Thì hưởng cái niềm vui trong rượu thịt càng tăng thêm cái vị kỷ trong con người đó nữa. Nó là cảm giác bất thiện, tiếp tục làm cho chúng ta ô nhiễm, vị kỷ và bất thiện hơn. Còn ngược lại, cái cảm thọ mà thiện thì làm cho chúng ta vững tin nơi đạo lý.

[1:04:14]Ví dụ một lúc nào đó mà chúng ta thấy người nghèo khổ, chúng ta muốn giúp mà mình không đủ khả năng lắm, mình chạy về chùa mình rủ hai, ba huynh đệ, người cho chút cho chút mình đem lại mình tặng cho cái người nghèo đó. Thì khi mình tặng xong về, mình sẽ xuất hiện cái cảm giác an vui, an vui tự nhiên do làm được việc thiện.

[1:04:43]Mà khi mình có cảm giác an vui đó, tự nhiên mình vững tin được đạo lý, mình cảm thấy trên đời này làm điều thiện là chân lý, là lẽ phải.

[1:04:56]Ví dụ như là khi chúng ta nghe được một cái đạo lý cao siêu mà mình hiểu được, mình xúc động thì cái xúc động đó cũng là cảm thọ mà thuộc về cảm thọ thiện. Ở đây có bao giờ quý thầy xúc động khi nghe đạo lý chưa? Có bao giờ chưa? Có chưa? Ráng mà có. Ráng mà có. Giống như Angulimala vậy. Có một lần chỉ nghe Đức Phật nói: "Đã từ lâu, này Angulimala, ta đã dừng lại sự sát hại, làm tổn hại chúng sinh. Còn ngươi, đến bao giờ ngươi mới dừng tay sát hại?" Chỉ một câu nói ngắn ngủi thế là Angulimala bị xúc động toàn thân buông gươm quỳ xuống liền, để để thác nước cuốn đi. Và ông trở thành người tu quyết liệt nhờ sự xúc động trong đạo lý như vậy.

[1:05:54]Thì trong cuộc đời chúng ta cũng vậy, nếu mà mình có những lần mà mình xúc động mãnh liệt khi nghe đạo lý thì mình hy vọng rằng mình có thiện căn để tu tập. Vì phải tâm hồn như thế nào á, chúng ta mới xúc động được trước đạo lý. Như cũng nghe một bài giảng mà có người hiểu, mà hiểu rồi cũng để trơ trơ thôi, không có xúc động lắm. Nhưng có người nghe cái đạo lý đó mà xúc động không kiềm chế được, có khi phải khóc, thì những người như vậy là những người có thiện căn. Người nghe được đạo lý mà xúc động phải khóc là người có thiện căn lớn. Chúng ta nói thêm cái này một chút xíu để bổ sung là khi chúng ta khảo cứu về cái Thọ như thế

[1:06:37]là chúng ta trình bày một cái sự thật, gọi là quán Thọ trên Thọ. Quán Thọ trên Thọ này, chúng ta vừa quán trong đời sống mà vừa quán trong lúc ngồi thiền, cả hai như vậy. Mà quán được Thọ là ở mức độ cao khi tâm hơi thanh tịnh. Nhờ quán Thân mà tâm ta thanh tịnh. Khi tâm ta thanh tịnh rồi thì Thọ hiện ra. Đó, và cái Thọ hiện ra này chúng ta cũng quan sát được nó trong đời sống cũng như trong lúc ngồi thiền. Lúc ngồi thiền khó hơn, mình phải sâu sắc rồi mình mới thấy được cảm thọ trong lúc ngồi thiền, hoặc là Định mình mới thấy được. Nhưng mà cái tinh yếu là cái trong đời sống chúng ta đó, làm sao chúng ta nhìn ra được cảm thọ, kiểm soát được cảm thọ là bước tiến.

[1:07:21]Mà ở đây cái biết, cái nhìn, cái khám phá nó phải khách quan, như cái câu nói mà Phật nói là "quán Thân trên thân, quán Thọ trên thọ, quán Tâm trên tâm, quán Pháp trên pháp", nghĩa là sự thật như thế nào chúng ta thấy đúng như thế, không thêm không bớt. Vì sao? Vì Đạo Phật là đạo thấy như thật.

[1:07:42]Nghĩa là sự thật như thế nào, chúng ta thấy như vậy, trình bày như vậy, không thêm không bớt. Chính vì cái tính chất của Đạo Phật là đạo như thật, cho nên qua mấy ngàn năm, loài người tiến bộ tới đâu thì tiến, Đạo Phật vẫn đứng vững vàng. Vì ngay từ cái khởi điểm ban đầu là Đạo Phật đã xây dựng trên nền tảng là thấy như thật, chứ không có bóp méo. Cho nên khoa học càng khám phá ra nhiều chân lý, nhiều lẽ phải thì Đạo Phật càng sáng tỏ vì cái bước ban đầu là thấy như thật. Ở đây quý thầy để ý có một nhà tư tưởng ở châu Âu tôi quên, là nói: "Sự thật giải phóng chúng ta" hay là "Sự thật giải thoát chúng ta",

[1:08:25]"Chân lý giải phóng chúng ta" hay "Chân lý sẽ giải thoát chúng ta". Thì sau này quý thầy lớn lên, quý thầy tu tập, quý thầy dạy đệ tử nhớ luôn luôn bám chắc vào sự thật, nhìn thẳng sự thật và bắt nguồn từ cái cuộc sống thực, đừng đi ra khỏi cuộc sống thực này. Chúng ta có xây dựng bao nhiêu đạo lý thì đạo lý đó phải đặt trên nền tảng của cuộc sống thực này. Chớ đừng có mơ mộng tưởng tượng viển vông về một cái quả vị cao siêu hay về một cái cõi cao siêu nào, coi chừng chúng ta rời bỏ cái sự thật. Vì sự thật là cái cái khởi điểm quan trọng của Đạo Phật. Mà vậy sự thật sẽ giải phóng chúng ta, sẽ làm cho chúng ta giải thoát.

[1:09:12]Ngay nơi cảm thọ vậy, nó như thế nào chúng ta thấy như thế đó, cái thân này như thế nào chúng ta thấy như thế đó, tự nhiên chúng ta được giải thoát. Hôm nay vậy, chúng ta cũng thấy được cảm thọ nó có hai loại là: loại thiện và bất thiện. Thì cảm thọ bất thiện làm cho chúng ta càng mất đạo đức, càng ô nhiễm, càng tăm tối, càng vị kỷ. Ngược lại cảm thọ thiện nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta lớn lên, lớn lên trong trong vinh quang, trong cao cả, trong siêu thoát. Chúng ta sẽ thấy những cảm thọ thiện á, nó nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta cũng giống như là ánh nắng mặt trời mà chiếu soi vào cây lá, cũng giống như là mạch nước ngầm thấm sâu trong từng cái cọng rễ,

[1:10:03]làm cho tâm hồn chúng ta mỗi ngày một tăng trưởng trong cái thiện pháp, trong đạo lý. Cho nên nếu mà chúng ta có nhiều cảm thọ thiện, như mình biết xót xa trước nỗi khổ người khác, mình vui mừng khi thấy người khác thành công, mình tha thứ được trước lỗi lầm của người khác, thì những cái đó là những cảm thọ thiện nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta lớn lên từ từ, mà chúng ta phải tích lũy cái cảm thọ thiện này trong vô lượng kiếp cho đến tuyệt đối. Vì sao vậy? Vì chúng ta truy tìm cái quả hạnh phúc tuyệt đối. Quả hạnh phúc tuyệt đối là gì? Là Niết bàn. Niết bàn chính là hạnh phúc tuyệt đối. Mặc dầu lúc đó không có thuộc về Thọ ấm,

[1:10:51]không có cảm giác, không cảm thọ, nhưng là hạnh phúc, chứ không phải Niết bàn là hư vô không cảm giác nha. Chúng ta đừng tưởng Niết bàn là hư vô, không có. Niết bàn là thanh tịnh tuyệt đối, đúng, nhưng cũng là hạnh phúc tuyệt đối. Mà để có cái quả tuyệt đối thì cái nhân cũng phải, cũng phải vô lượng, nghĩa là chúng ta phải tích lũy cái cảm thọ thiện này qua vô lượng kiếp thì cái phước đó mới đủ, nó tạo thành cái quả Niết bàn hạnh phúc tuyệt đối là như vậy.

[1:11:26]Bây giờ chúng ta nói thêm một vài điểm về cấu tạo của Thọ ấm một chút. Thọ ấm là cái cảm thọ luôn luôn nó có khuynh hướng là muốn đi tìm niềm vui. Khuynh hướng rất là mạnh, nó tạo thành một cái bản năng hưởng thụ. Con người ta có hai cái bản năng chính là bản năng sinh tồn và bản năng hưởng thụ. Thì khi Thọ ấm nó tạo cái bản năng hưởng thụ nó giấu trong Hành ấm, Mà hành uẩn thì cực kỳ mãnh liệt. Hành uẩn này là hang ổ của chấp ngã, hành uẩn này là hang ổ của tình cảm, của ý chí, kể cả của thần thông. Cho nên hành uẩn rất là mạnh. Mà bản năng hưởng thụ nó giấu trong hành uẩn, cho nên trong con người chúng ta,

[1:12:17]trong tất cả chúng sinh, đều tiềm tàng một cái khuynh hướng muốn hưởng thụ, muốn sung sướng, ai cũng vậy hết. Đó là một điều, điều rất tự nhiên. Một điều rất tự nhiên. Chúng ta phải hiểu điều này khi chúng ta nhìn con người. Ví dụ khi chúng ta thấy người đó ham đùa vui, thích khoái lạc, mình phải thông cảm vì đó là bản năng hưởng thụ tự nhiên của con người. Tuy nhiên chúng ta cũng biết rằng, khi mà người ta điêu đứng, chỉ thích hưởng thụ thì tâm hồn người ta đang đi xuống dần dần, sẽ có thể đi sâu vào tội lỗi. Đi sâu vào tội lỗi và nhiều khi phá vỡ hết cái nhân cách của con người luôn. Nếu mà cứ mãi chỉ thích đi tìm cái niềm vui,

[1:13:05]đi tìm khoái lạc thì sẽ có ngày hư hỏng cả cuộc đời. Cho nên cái cuộc đấu tranh của con người là cuộc giằng co giữa hai điều này. Một bên là khước từ khoái lạc để giữ sự thanh cao cho tâm hồn, giữ được đạo đức. Một bên là bị sự thôi thúc của bản năng hưởng thụ là cứ đi tìm khoái lạc để hưởng thụ. Và thế giới này là một sự giằng co không chấm dứt. Có những thời đại mà có những vị thánh nhân xuất hiện đi ra đời để giáo hóa thì cái thời đại đó con người ta cái đạo đức nó thắng được bản năng hưởng thụ, người ta ít hưởng thụ hơn, người ta tìm được cái lẽ sống thanh cao hơn. Nhưng có những thời đại mà nhiều thánh nhân vắng bóng

[1:13:47]thì cái bản năng hưởng thụ con người thường là thắng. Và chúng ta thấy con người lao vào những cuộc vui bất tận, trụy lạc, sa ngã không tưởng tượng được. Mà dường như thời đại của chúng ta đang là thời đại đó, đang là thời đại mà nhiều thánh nhân vắng bóng. Cho nên cái khoái lạc nó đã chiến thắng. Và chúng ta muốn cứu cái thế giới này, chúng ta muốn loài người cao cả hơn, chúng ta phải ráng tu và giúp cho con người người ta có con đường nào đó để khống chế được bản năng hưởng thụ này, chứ không nó sẽ thúc đẩy chúng ta làm nhiều chuyện tồi tệ. Mà chuyện tồi tệ này thì báo đăng đầy rồi, tôi không muốn nói nữa, nói nó thêm nó thêm đau đớn, thêm ê chề.

[1:14:34]Các vị, quý thầy hiểu ngầm phải không? Quý thầy hiểu ngầm, quý Phật tử hiểu ngầm được rồi, là cuộc đời này nó nó nó tăm tối, nó ô uế vì cái bản năng hưởng thụ này. Cho nên tuy chúng ta thấy con người hưởng thụ mình thông cảm vì ai cũng thích cái niềm vui, thích có khoái cảm, nhưng chúng ta cũng biết là nó là con đường dẫn vào tăm tối, ô uế. Và vì vậy chúng ta phải vừa ráng tu, mà vừa có cái cách nào đó để giúp mọi người thăng hoa tâm hồn mình lên để vượt khỏi những cái ô nhiễm của thế gian như thế. Nó mạnh ghê lắm chứ không có đơn giản. Và có một trường hợp này nữa là cái cảm thọ nó cũng là phản xạ có điều kiện.

[1:15:20]Nghĩa là với những cái kinh nghiệm đã trải qua, khi mà được trông thấy hay nghe nhắc lại, chúng ta hay bị khởi lên cảm thọ đó lại. Ví dụ, ví dụ như là hồi nhỏ có một thằng du côn nào nó hay ăn hiếp mình, thì nó chưa ăn hiếp mình, mình thấy mặt nó đầu đường là ngày này mình sợ mình chạy mất rồi. Đó cũng là phản xạ có điều kiện. Hoặc là như những người mà đã từng nghiện ma túy á, thì tôi nghe họ kể họ nói thế này: "Bây giờ cai được rồi, không bị vật nữa, nhưng hễ đi ngang đâu mà thấy một người kia đang ngồi hút thuốc phiện lén, thì toàn thân rúng động, thèm liền. Và chỉ muốn chạy tới mua một miếng, xin một miếng hút tiếp liền."

[1:16:00]Còn bây giờ còn như mình, mình chưa bao giờ mình sử dụng tới ma túy, mình nhìn thấy cái cái bột heroin hay mình nhìn thấy một người đang hút gì đó, mình không có động tâm, phải không? Mình tỉnh bơ. Nhưng cái người mà đã từng trải qua kinh nghiệm qua cảm thọ đó rồi, trông thấy là bị rúng động liền, bị thèm khát liền. Cũng vậy, ví dụ như một người mà đã kinh qua cái đời sống vợ chồng xác thịt, họ cũng bị điều đó nữa. Ví dụ như khi mình chưa có trải qua, mình sẽ không biết. Ví dụ như mình nghe nói thấy những câu chuyện vui là ở trên cái đường phố của của nước Mỹ, người ta lái xe rốt cuộc người ta tông nhau, thì hỏi ra là vì có một cái cô gái ăn mặc hở hang đi ngoài đường.

[1:16:46]Tài xế lái xe nó cứ liếc liếc cô đó rồi cái tông xe phía trước, kiện cáo nhau om sùm. Thì nhiều khi mình thấy mình ngạc nhiên, gì đâu mà phải lơ đễnh như vậy. Nhưng mà không, mình phải hiểu rằng khi họ đi kinh qua cái kinh nghiệm đó rồi cái họ bị giống như là phản xạ có điều kiện, thấy cái là bị động tâm trở lại, đó cũng là một cách như vậy. Giống như mình đã từng mà ăn me thấy bị chua, lần sau ai đưa trái me lên, mình nuốt miếng cái ực. Nó gọi là chưa đụng vô miệng mà thấy là mình bị nhắc lại cái cảm giác mình đã có khi lần trước á, nên nó cảm thọ nó có cái tính gọi là phản xạ có điều kiện. Và chúng ta trong mười hai nhân duyên, chúng ta cũng nhớ là thọ sinh ra...

[1:17:29]thọ sinh ra cái gì? Ái, phải không? Ái này là ham muốn, thương ghét, ham muốn. Mà cái ái nó nằm trong hành uẩn nó mạnh lắm. Nên đa phần con người ta hay bị rủ rê để chạy theo những trò vui ăn nhậu, trụy lạc. Bình thường ví dụ đừng có ai rủ mình á thì mình có thể trong sạch. Nhưng có người tới rủ rê, nếu mình không đủ công đức từ đời trước là mình đi theo liền. Mà tôi nói mười người thì hết tám người bị bị ngã khi bị rủ. Hết tám người. Đó là lý do tại sao thế gian này đầy rẫy cái xấu ác là vậy. Cái xấu rất dễ lây lan, rất dễ lây lan. Như trong lớp học, mình nói lớp học ngoài phổ thông ngoài đời

[1:18:14]đó, ông thầy ổng ổng tận tụy ổng dạy học trò đủ thứ điều hết, mà ổng thấy học trò ổng không ngoan, cũng tiếp tục bướng bỉnh, hư hỏng, lì lợm, bỏ học, không biết nguyên nhân. Nguyên nhân đơn giản là có một thằng nào đó ở trong lớp, nó chuyền mấy cái hình phụ nữ khỏa thân nó chuyền tay nhau dưới gầm bàn nó đưa người này đưa đứa kia coi, ông thầy không biết. Chỉ có vậy thôi, thế là tàn phá hết cái tâm hồn trong sạch của tuổi thơ, và mấy đứa nhỏ nó bị cái kích động bởi cái điều tò mò, lạ lùng đó là nó không còn nghĩ tới việc học nữa. Vì có một cái gì xấu nằm trong đó, cái tốt cứ bị gạt ra. Ông thầy ổng không hiểu, ổng nói: "Thời mình dạy hết lòng và tận tụy dạy dễ hiểu,

[1:18:56]chăm sóc chu đáo, mà học sinh vẫn không tiến." Ổng đâu có ngờ rằng ổng bị vi rút nó phá. Nó đưa mấy cái hình bậy bạ bậy bạ với câu chuyện bậy bạ nó chuyền tay nhau dưới gầm bàn nó coi tùm lum nó cười khúc khích ở dưới. Ông thầy tưởng mình giảng hay nó cười, đâu có biết là nó đang coi ba tầm bậy nó cười. Nguy hiểm như vậy. Nên nó lây lan từ trường này qua trường kia mà một thời gian dài báo báo động lên. Trong Tăng đoàn cũng vậy. Đây là điều đáng sợ. Đây là một hiện trạng rất nguy hiểm, đang đáng báo động mà không ai dám nói. Tôi nói điều này, hy vọng là các tăng ni khi nghe điều tôi nói cảnh giác lại để thoát ra.

[1:19:36]Là có những người khi họ vào chùa họ tu, họ không phải thật tâm tu, vì lý do gì đó thôi, họ vào chùa tu. Do không có lý tưởng tu nên lần lần họ trở lại cái tính của người đời. Và ở trong chùa mà họ lén làm những chuyện của thế gian, lại mình buồn rủ. Thì cái ông bên cạnh, ông huynh đệ bên cạnh là người tu trong sạch, nhưng bị rủ bị ngã liền. Thì như tôi đã nói, trong mười người bị rủ thì hết tám người ngã. Là cứ lây từ người này qua người kia. Ông thầy này bị lây qua ông thầy kia từ từ từ hết. Nên bên ngoài thì nhìn coi đẹp, nhưng mà đi sâu bên trong mình ngạc nhiên, tại sao đổ vỡ hết? Vì có những người xấu họ đã rủ.

[1:20:19]Cái rủ rất đáng sợ. Mà thoát được cái rủ đó là phải nhờ công đức rất vững, lý tưởng tu hành rất vững, phải lạy Phật cho nhiều, tinh tấn tu hành, phải có lý tưởng thì khi người ta rủ mới không sa ngã. Còn họ rủ là đi đánh bài á. Nên có nhiều có nhiều cái tai nạn xảy trong chùa mà tôi không hiểu tại sao. Sau này mới biết là do rủ và nó lây lan, lây lan. Nên tình trạng này một ngày nào đó phải được thanh lọc ra, chứ còn không để yên là Tăng đoàn từ từ mục nát mà mình không biết tại sao, không biết tại sao. Nên tôi hy vọng là nhờ quý thầy giữ vững được cái lý tưởng tu hành, nhờ quý Phật tử sáng suốt biết ủng hộ đúng người,

[1:21:02]sau này thanh lọc lại Tăng đoàn cho đạo Phật vững mạnh. Chớ đang có tình trạng cũng nguy hiểm bên trong lắm, không phải không. Phải nhờ cái công đức từ quá khứ, mình có mới có sức mạnh mà khước từ những cái cảm thọ ô nhiễm. Chứ nếu không có công đức, không ai khước từ được, không dùng ý chí vượt qua được đâu. Ý chí không đủ khả năng giúp cho con người ta vượt qua khoái cảm. Mà phải là công đức trước. Khi công đức có rồi thì tự nhiên nó có ý chí một cách rất tự nhiên mà rất là mạnh, giúp cho chúng ta vượt qua được ô nhiễm để mà tiến tu được, là như vậy. Cho nên nói gì thì nói, chúng ta vẫn phải siêng lạy Phật,

[1:21:45]vẫn phải sống một đời vị tha làm lợi cho người khác, luôn luôn giữ tâm khiêm tốn. Có ba cái căn bản đó rồi, từ từ chúng ta có được cái công đức vững chắc. Chúng ta có công đức vững chắc thì lúc đó những cái sự rủ rê, những cái cám dỗ bên ngoài đến, chúng ta đủ sức vượt qua được. Hôm nay chúng ta học cái bài "Quán thọ" trong Tứ niệm xứ. Rồi lần sau chúng ta sẽ nói về quán tâm, quán pháp. Tôi cố gắng làm sao cho một lần giảng cho xong quán tâm, quán pháp để không kéo dài. Mà ở đây là quý thầy nhớ thế này: cái thọ nó vô hình, nó tinh vi và nó chi phối chúng ta rất mạnh mẽ, nên chúng ta phải hết sức là cảnh giác,

[1:22:26]sáng suốt, phải tu tâm thanh tịnh để thấy được nó, kiểm soát được nó trong từng giây phút của cuộc sống. Ý niệm coi không quan trọng mà coi chừng cái cảm thọ vô hình ở phía trong. Và lúc ngồi thiền cũng vậy, thấy được cảm thọ, giữ được tâm thanh tịnh để giữ trong đời sống của mình. Nó hai cái: cái đạo hạnh trong đời sống, cái cái định trong thiền, hai cái đó hỗ trợ qua lại với nhau. Và đó là một cái mốc của Tứ niệm xứ đó. Có ai hỏi gì không? A Di Đà Phật, bạch Thầy à, con xin phép Thầy cho hỏi con hỏi về cái vấn đề sám hối á Thầy. Con cũng có một lần con thắc mắc, chẳng hạn như khi con có lỗi với một vị huynh

[1:23:09]đệ nào đó và khi con hiểu, con đến con sám hối với vị đó là hết, tự nhiên trong tâm con cảm thấy không còn bị vướng mắc nữa, tâm trở lại thanh tịnh. Giờ con giả sử như ngay cái lỗi lầm đó mà con không sám hối, con để đến sang một kiếp khác, và sang một kiếp khác con biết con tu tập và con nhìn lại là trong những kiếp quá khứ mình cũng đã làm quất, làm có lỗi lầm gì đó mà mình không sám hối. Vậy thì làm thế nào để mình trở về sám hối với vị đó thì mình mới hết lỗi? Con thắc mắc như vậy. Cái điều này không có dễ đâu, là vì mình đâu biết là mình đã làm lỗi với ai, không biết. Trừ khi mình biết được thì mình thành Bồ Tát

[1:23:52]rồi, mình có thần thông rồi, phải không? Nó khó như vậy. Cái vị mà Bồ Tát á, ví dụ họ có thần thông, họ gặp cái người oan trái cũ á, họ biết thế nào ông này cũng quậy mình, họ biết, nên họ lấy lòng trước, lấy lòng cho nó nhẹ bớt, giống như đi chuộc lại á, bao biếm trước mà vẫn không tránh khỏi. Cái mối thù vẫn trỗi dậy như thường, họ vẫn trả thù liền, là vẫn hại mình thế này thế kia liền, không tránh khỏi, vì nó để lâu quá lãi nó sinh nhiều quá rồi, chịu không nổi, quả báo lớn. Còn nếu kiếp đó mà mình tìm cách mình bù đắp liền thì nó được, không đến nỗi. Nhưng mà coi vậy chứ nó nhiều loại lắm,

[1:24:33]nó nhiều loại chứ không có đơn giản là một chiều. Ví dụ như khi mình làm tổn hại với người khác coi chừng không phải chắc là mình có lỗi đâu, có khi chừng người kia có lỗi nữa mà họ vẫn mang oán thù. Tôi nói ví dụ như trong một kiếp nào đó đi, tôi làm một ông quan lớn rồi có một ông quan nào đó nhỏ hơn làm điều tội lỗi, thế là tôi phải trừng trị nè. Theo trách nhiệm mình phải trừng trị, mà có khi tội nặng có khi phải ra lệnh xử tử luôn nữa. Mà ông kia coi vậy chứ ông cũng còn cái phước của ổng. Thì khi mà quyết định xử tử như vậy nói theo luật pháp quốc gia đúng, mình không có lỗi, điều này làm có lợi cho dân cho

[1:25:13]nước, nhưng mà cái tay kia vẫn oán thù, vẫn thù. Rồi đến kiếp nào sau này gặp lại thì tay kia sẽ quậy mình thê thảm để trả cái mối thù đó. Mặc dầu điều đó mình không có lỗi, không có lỗi, nhưng mà vẫn bị. Còn trong trường hợp mà mình xúc phạm tới người ta là đúng là mình có lỗi thật thì hơi mệt đó, vì lúc mà người ta quậy lại mình ít có ai binh vực mình lắm. Còn trong trường hợp ví dụ như mình làm tổn hại người khác thì để bảo vệ quyền lợi của nhiều người, rồi kiếp sau cái người đó quậy mình thì có nhiều người khác sẽ bảo vệ, binh vực mình. Còn trường hợp mình đơn phương mà mình đi tổn hại người đó

[1:25:48]vì cá nhân, tới chừng mà quả báo nó tới là một mình mình chịu luôn, te tua luôn, ít có ai binh vực mình được. Nên nó nhiều, nó khó lắm, khó đánh giá thế nào là lỗi phải lắm, khó cái đó nữa. Nhưng mà tuy nhiên mình cứ nhận lỗi về mình, rồi mình không biết trong quá khứ mình đã xúc phạm, tổn hại tới những ai thì bây giờ chỉ còn điều tối nào cũng lạy Phật sám hối, nguyện thương yêu chúng sinh. Bây giờ gặp ai mình cũng thương yêu hết. Nhất là người nào mà nói nhiều mà ốm ốm cũng phải thương