[0:18]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Vậy là bữa nay mình ăn Trung thu phải không? Dạ, Trung thu. Hình như có bánh trung thu phải không con? Nghe Pháp xong mình ăn bánh trung thu. Dạ, người được miếng là xong.
[0:36]Hôm nay thì thầy nói lại, nhấn lại, ôn lại và nhấn mạnh một số điểm của cái bài Chánh Niệm hôm trước mà thầy đã giảng ở chùa Từ Tân ở trong miền Nam. Hôm nay nhấn lại một số điểm quan trọng. Chúng ta biết rằng là ta theo Phật tu tập, ta phải làm vô số điều thiện lành, từ trong cái nhận thức là chánh kiến, từ trong ý nghĩ là chánh tư duy, từ trong lời nói là chánh ngữ, trong cái việc làm là chánh nghiệp, và cả trong cái việc mưu sinh của mình, vậy tất cả nó đều phải thuần thiện, rất là thiện lành, rất là đạo đức, vậy. Mà như như đó là rất là khó rồi, rất là khó. Nhưng sau khi ta hoàn thành hết vậy, điều gì cũng tốt đẹp hết rồi thì chưa đủ.
[1:37]Đối với một số đạo giáo nào đó thì ngang đó họ xem là đủ. Từ một con người bất thiện cho tới khi thiện ác lẫn lộn, cho tới khi thuần thiện thì xem như đã hoàn thành con đường tu tập. Nhưng trong đạo Phật thì chưa hề. Trong đạo Phật chưa hề. Là từ cái ta bất thiện cho tới thiện ác lẫn lộn cho tới thuần thiện thì ta mới đi được nửa đường. Rồi phải thiền định để lắng yên tâm hồn mình, rồi để nhập định sâu xa cho tới khi chứng đạt vô ngã, hết vô minh, thành tựu được tam minh lục thông trở thành một bậc giác ngộ. Cái con đường của đạo Phật lâu xa là như vậy. Và dĩ nhiên không dễ chút nào. Thì ta đã nói với nhau về Tứ Diệu Đế,
[2:38]nói qua tới phần Bát Chánh Đạo là những cái chánh đạo và những phương pháp tu tập từ ban đầu Chánh Kiến cho tới từ từ từ từ ta đi tới cái Chánh Tinh Tấn là phương pháp tu tập thiền định. Bao nhiêu điều khó ta đã nghe, ta cũng cố gắng thực hành. Nhưng bây giờ tới phần thiền định thì cực kỳ khó khăn. Nếu người không đủ thông minh không tu thiền được. Người không đủ ý chí không thể tu thiền được. Người không có phước cũng không thể tu thiền được. Mà nếu ta không có một đường lối đúng thì càng tu càng sinh họa. Cho nên cái tu thiền thật là khó. Mà nếu không tu thiền thì cứ mãi mãi trầm luân sinh tử, ta không thể nào giác ngộ được.
[3:30]Nên vì vậy bắt buộc phải tu thiền nếu ta là đệ tử Phật. Tuy nhiên vì thiền khó quá,
[3:40]cái phương pháp của thiền nó tỉ mỉ, tinh vi, tế nhị, sâu xa, đúng sai trong từng sợi tóc. Và có những giai đoạn cái thiền của Phật bị thất truyền. Có những giai đoạn mà thiền bị thất truyền, những người tu hành xuất gia cũng loay hoay không tìm được hướng đi, tu tập không có kết quả, nhưng người ta không muốn bỏ đạo, không muốn bỏ việc tu, và người ta đã chuyển tạm thời cái sự tu hành sang một cái phương pháp khác để chờ đợi một lúc nào đó, một một kiếp nào đó họ gặp lại được cái phương pháp tu thiền đúng đắn và họ sẽ quay lại. Nên có những giai đoạn vậy ta thấy trong đạo Phật vắng cái việc tu tập thiền
[4:34]định thì ta phải hiểu đó là những giai đoạn mà người ta không tìm ra được hướng đi, đành phải tạm gá vào đâu đó để tu, để giữ đạo, để còn được cái Đức Phật mà ta lễ lạy, còn được bóng chùa mà ta nương náu. Rất là thương. Nhưng mà đến khi nào cái duyên đủ rồi, ai cũng phải quay lại với thiền định. Người đến sớm, người về muộn rồi cũng phải về với thiền. Nên ai mà bây giờ ta có duyên với thiền định, ta là người có duyên phúc lớn và sớm. Còn có những người ngoài kia đôi khi phải đợi kiếp sau, có người đợi mười kiếp sau, có người đợi một trăm kiếp sau mới có thể quay về được với thiền. Còn chúng ta ngồi đây dưới mái chùa Linh Quang này,
[5:26]hầu hết là chúng ta đã xác định là mình phải phải tu thiền. Nên cái duyên phước của chúng ta cũng thật là đặc biệt đó. Đừng có phụ cái duyên này, không phải là dễ dàng.
[5:43]Hôm trước ta đã nói hai bài về Chánh Tinh Tấn là cái phương pháp tu tập thiền định, Chỉ và Quán, kỹ thuật và đạo lý, ha vậy. Rồi lần trước ở Từ Tân thầy nói về Chánh Niệm, tức là bắt đầu có kết quả. Vì tu mãi cái Chỉ Quán mà tu đúng thì bắt đầu có kết quả, bắt buộc phải có kết quả nếu ta tu đúng. Trong cái đúng đó nó có cả cái phước nữa, bắt buộc phải có kết quả, chứ không phải mà tu hoài mà không có gì. Bắt buộc có kết quả. Và Chánh Niệm là một trạng thái có kết quả của thiền định, chứ Chánh Niệm nó không phải là chỉ có cái dụng công tu tập. Mà Chánh Niệm cũng không phải là Chánh Định. Tại vì Chánh Định là không cần tu, nó tự động nhập định vào đi luôn,
[6:35]tùy theo cái phước mình nó đi xa hay gần tới đâu, không cần tu nữa, nhập định luôn. Còn cái Chánh Tinh Tấn á, phải dụng công rất vất vả, còn cái Chánh Niệm ở giữa. À cái giai đoạn ở giữa này cũng rất là lâu.
[6:50]Cái Chánh Niệm là một giai đoạn ở giữa, vừa như còn tu mà vừa như không còn tu. Cái tu rất là vất vả là ở giai đoạn Chánh Tinh Tấn, dụng công cho đúng kỹ thuật Chỉ và Quán. Còn giai đoạn không cần tu là nhập định vào, từ Sơ thiền tới Tứ thiền, không cần tu, tự cái định nó dắt mình đi luôn, còn tới đâu là phước của mình. Nhưng mà ở giữa hai cái giai đoạn đó, ta có một giai đoạn lơ lửng, như tu và như không tu, gọi là Chánh Niệm. Và cái Chánh Niệm nó là một trạng thái có kết quả. Lúc đó tâm chúng ta đã thay đổi. Cái trạng thái tâm hồn chúng ta thay đổi, con người ta thay đổi, lối sống ta thay đổi, đạo đức ta thay đổi, sự cái trí thông minh ta thay đổi.
[7:39]Mọi cái tinh tế ta sâu sắc trong mọi lĩnh vực trong cái Chánh Niệm này, vậy. Hôm trước thầy có nói về cái người đạt được Chánh Niệm rồi cư xử với mọi người tinh tế trong từng từng chút nhỏ. Cái sự tử tế, cái sự yêu thương, sự độ lượng cực kỳ chu đáo. Và nếu người đó nhìn, không một ánh mắt nhìn thừa. Cái cười, không có một nụ cười thừa. Và nếu người đó đi vào trong nghệ thuật thì không bao giờ là một cái dở, cái xấu. Về cái cái tâm hồn của họ đạt được cái sự tinh tế. Cái ranh giới giữa cái đẹp và cái xấu nó như một sợi chỉ, người đó phân biệt rõ ràng. Trong cái âm nhạc, lắng nghe âm nhạc, cái hay và cái dở nó nhỏ như một sợi chỉ, phân biệt rõ ràng.
[8:31]Nên nếu người đó mà soạn nhạc không có nhạc dở. Nếu người đó vẽ tranh không có bức tranh xấu. Người đạt được chánh niệm họ tinh tế, họ thông minh, họ sắc bén như vậy nhưng lại rất là độ lượng. Thoạt nhìn qua một cái biết cái người nào như thế nào, biết người kia còn khuyết điểm chỗ nào, ưu điểm chỗ nào, thoáng nhìn biết nhưng lòng vẫn yêu thương, vẫn độ lượng chứ không có cái bới móc vậy. Nhưng cái đoạn đường chánh niệm cũng rất là dài. Từ đầu chánh niệm cho tới cuối chánh niệm để chuẩn bị nhập vào chánh định, đoạn đường đó không có không có ngắn. Mà ta nhớ mình muốn đi xa thì phải đi bằng xe, mà đi bằng xe thì xe phải có xăng.
[9:22]Bây giờ thì xe điện thì phải có điện à. Chớ không xăng, không điện thì xe không không đi, không di chuyển, ta cũng vậy. Ta tu tập chánh niệm đúng hết rồi, cái gì cũng có hết rồi, nhưng không có phước thì không tiến bộ, nha. Cái phước lúc này lại rất là quan trọng. Nên có nhiều người tu đạt được chánh niệm nó như một trạng thái của sự ngộ đạo. Tâm hồn họ thay đổi chuyển biến qua một dạng khác: rỗng rang, tỉnh giác, thanh tịnh. Rồi đứng đó suốt đời không có tiến. Chỉ bởi vì lúc đó họ quên cái việc là xe đã hết xăng, đúng rồi đó xe hết xăng. Họ quên không thèm đổ. Thấy mình tự tại rồi, không thèm đổ xăng nữa và xe nó
[10:15]cứ đứng đó, mặc dầu cái đoạn đường đó rất là gì? Rất là đẹp. Xe đã chạy được đến một đoạn đường chung quanh là hoa, là cỏ, là cây, là trái, là quả, là chim, là chóc, là sóc, là rất là đẹp, nhưng rồi đứng đó luôn. Bao nhiêu còn cảnh mầu nhiệm phía trước nữa không đi được nữa, chỉ bởi vì xe đã hết xăng, vậy. Nên vì vậy, đây là chỗ mà ta cẩn thận, làm gì làm cứ phải làm phước. Từng giờ từng phút trong cuộc sống của mình đều cố gắng làm phước. Giúp ai được gì thì ráng mà giúp. Ta nói câu này ta vừa lặp lại đúng cái nguyên tắc hành động của nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn à. Khi mà người ta hỏi ông thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn về những nguyên
[11:08]tắc mà ông hoạt động, tại lúc trước là bác Mười Hương á là bác bác Trần Quốc Hương có lên chùa mình, lúc đó bác cũng yếu nhưng mà đầu óc cực kỳ minh mẫn, ta không hiểu sao những vị mà những vị tướng tình báo cách mạng ông nào ông nấy siêu đẳng thiệt. Già gì thì già mà cái đầu như là vẫn sắc bén, vẫn thông minh, vẫn minh mẫn, vẫn nhớ không sót sót chuyện gì. Thì lúc đó thầy mới nói chuyện với bác Mười Hương, bác Quốc Hương, thầy mới khen bác là bác đã điều hành một cái mạng lưới tình báo nằm sâu trong lòng địch mà dẫn dắt mọi việc tới thành công như vậy. Bác lắc đầu, bác nói: "Không". Bác nói là mình chỉ chỉ đạo cái hướng đi,
[11:48]việc phải làm, nhưng mà những anh em họ đứng ngay trong cái vị trí đó đó, họ phải đem hết tất cả những cái thông minh của họ mà họ tự xoay xở chứ lúc đó không có việc gì phải hỏi cái chỉ huy được nữa. Tại vì giữa cái người tình báo và cái người chỉ huy nó qua cách bao nhiêu là trùng vây chứ không phải dễ. Thì bây giờ thì ông Phạm Xuân Ẩn cũng vậy. Cái cái cái thông minh cũng kỳ lạ thì khi mà người ta hỏi ổng cái nguyên tắc để mà hoạt động tình báo thì ổng nói ba điều: Điều thứ nhất: "Đừng bao giờ nói dối". Đây là điều mà ngược hết tất cả mọi nguyên tắc tình báo của thế giới. Tại vì tình báo là phải làm sao? Nói dối cho giỏi.
[12:33]Hỏi là người ta chỉ cho mình câu trả lời không sự thật. Kỳ lạ! Đây là nguyên tắc mà ngược hết. Bởi vì chính vì vậy mà CIA không bao giờ phát hiện ra ổng. Tại thấy ổng nói cái gì cũng đúng hết trơn. Thấy điều kỳ lạ! Cái thứ hai: "Giúp ai được cái gì là giúp hết sức nhiệt tình". Đây là điều rất là lạ, vô tình là đúng với với đạo Phật. Và khi nhận định lại, các Phật tử mình cũng nói cái cái cái cái điều này rất lạ. Thì thầy mới trả lời: "Đây cái phước của ổng khiến ổng không bị bắt, không bị phát hiện biết chưa, là chính ở chỗ này đây". Cái phước đi qua một đoạn đời nguy hiểm mấy chục năm trong lòng
[13:09]địch không có chuyện xảy ra vì giúp ai được cái gì thì giúp. Còn cái thứ ba là ổng sống hòa đồng với mọi người. Như vậy, nhớ không vậy?
[13:23]Thì chúng ta cũng vậy. Chúng ta tu tập thiền định mà bất ngờ đạt được kết quả, tâm mình chuyển biến qua một trạng thái khác thì đừng tưởng là đã tới nơi rồi, thật sự đó chỉ là mới đầu đường thôi. Dù cảnh trí có đẹp, dù có hoa xuân nở thơm ngát, hương sen lừng trời và ánh nắng hồng chiếu rọi soi, kệ nó. Ta vẫn cần phải sao? Đổ xăng mà đi tiếp, vẫn phải làm phước. Nghĩa là giống như ông Phạm Xuân Ẩn á, giúp ai được gì thì ráng mà giúp.
[14:00]Ngoài cái việc mà ta phải mưu sinh, lúc nào cũng tranh thủ tìm cơ hội để giúp người, giúp đời mà không chấp công, đó là cái quan trọng. Nên cái người có nhiều người bị hiểu lầm ở chỗ này, có người hiểu lầm rằng khi nói tâm thanh tịnh là đã tự nó đầy đủ công đức, đây là một tà kiến nguy hiểm. Tâm thanh tịnh rồi tự nó đầy đủ công đức, đây là một tà kiến nguy hiểm, thầy nhắc lại, nhớ như vậy. Khi tâm thanh tịnh rồi cũng chỉ là mới ở đầu đường. Đoạn đường còn rất xa và xe còn cần rất nhiều xăng, nhớ giùm đó. Ta vẫn phải tiếp tục làm phước và làm phước muôn triệu lần nữa. Bởi vì sao? Ta mà hiểu được cái đức các vị A-la-hán mà đã đạt được,
[14:54]các Đức Phật mà đã đạt được, ta hiểu cái phước của các ngài mênh mông vô tận và ta chỉ chưa, thật sự là chưa bằng một cái móng tay. Nên dù tâm có thanh tịnh gì đi không biết, không bao giờ được lơ đãng việc làm phước. Từng ngày từng giờ cố gắng tìm việc phúc mà làm. Cái chữ vì việc làm việc phúc khó lắm á, vì sao vậy? Vì ta kiểm lại suốt một tuần qua mình làm được việc gì làm phúc nói nghe coi. Ta đi kiếm ngược lại một tuần qua, chưa hề có việc làm phúc nào cả. Đúng không ạ? Làm ăn thì ngày nào cũng phải làm ăn đi kiếm tiền, nhưng mà làm phúc, một tuần qua nhiều khi chưa có làm được việc gì, nhiều khi một tháng qua chưa có làm được việc gì
[15:40]mà có những người cả một năm qua chưa bao giờ biết làm phúc. Chứ vì vậy nếu ta không quyết tâm làm phúc, không mong cầu tìm phúc, không đi tìm cơ hội để làm phúc, cả năm, 1 năm, 2 năm, 3 năm trôi qua không làm được việc phúc gì nha, tới chừng chết lọt vào cõi khổ liền, chết xong về cõi khổ liền vì không làm phúc. Nên nhớ làm gì làm, nói gì đói, đi đâu thì đi, cứ phải làm phúc, xe cứ phải đổ xăng cái đã. Vậy, nó quan trọng vậy.
[16:17]Ta nhắc lại chỗ này chút, cái Tứ niệm xứ cái chánh niệm tương quan với Tứ niệm xứ thì có hai chữ niệm. Bên Tứ niệm xứ có chữ niệm, mà chánh niệm cũng có chữ niệm nên hai cái niệm đó có liên quan với nhau. Cái chánh niệm là nói chung cho cả Tứ niệm xứ. Tứ niệm xứ là chia cái chánh niệm ra làm bốn phần. Còn cái chánh niệm là nói gồm lại chung một cái hết. Cho nên ta thấy cái chánh niệm coi vậy chứ nó tới bốn lớp sâu cạn khác nhau. Cái lớp thứ nhất á, ta bất ngờ ngộ đạo hay bất ngờ tỉnh giác một cái là cái biết nó tràn ngập nơi thân mình liền. Lúc nào cũng cái biết nó giữ nơi thân, có một cái lực rất là lạ nó cứ giữ cái biết nơi thân mình,
[17:06]không cho chạy tán loạn ra bên ngoài, và nó rất là tự nhiên.
[17:13]Thì lúc đó là ta không tán loạn được, vì lúc nào cái biết nó cũng vằng vặc vằng vặc nơi nơi cái bản thân của mình. Đó, cười nói gì bên ngoài cho vui thôi, vẫn có một cái biết nó an trú nơi thân. Đó là quán thân trên thân. Cái thứ hai là quán thọ trên thọ. Là lúc đó cái chính mình không còn là cái thân nữa mà cái mức độ tỉnh giác nó vào sâu hơn. Cái chính mình chỉ là một cảm giác vô hình thôi, cái ta chỉ là một cảm giác vô hình. Chớ cái ta không còn là cái thân nữa. Cái cảm giác vô hình nó nơi thân, không phải rời thân, nhưng nó không còn không còn cứng mà thô như cái thân tứ đại cứng cứng này nữa, nó là một cảm giác vô hình.
[17:57]Nên có một vị thiền khách đến hỏi một thiền sư về đạo thì ông thiền sư ổng nói qua nói lại hoài mà ông thiền khách không hiểu. Cái ông thiền sư ổng mới nói cái thân của thầy như cái cây dừa mà nó chứa muôn kinh vạn quyển, thầy đã học muôn kinh vạn quyển chứa hết trong cái thân của thầy. Là ý ông nói rằng cái tỉnh giác lúc nào cũng nơi thân của thầy, đó là cái cái cái chánh niệm á, cái ngộ đạo đó, chính mình á. Nhưng mà cái chính mình đó vì thiền sư ám chỉ là nó đã thuộc về trí tuệ rồi. Nó không còn là cái thân của tứ đại mà nơi chính mình đã là trí tuệ. Còn an trú nơi chính mình, nơi chính mình là cái ta.
[18:39]Nhưng nó đi qua nhiều giai đoạn: bắt đầu là cái thân, an trú nơi cái thân nên không tâm không tán loạn được nữa. Rồi sâu hơn nữa là quán thọ trên thọ, là thấy chính mình chỉ là một cảm giác vô hình mà vẫn giữ chặt nơi chính mình. Rồi cái thứ ba là quán tâm trên tâm là lúc đó thấy chính mình là một cái biết, cái biết vằng vặc, cái biết sáng tỏ mà rất là thanh tịnh. Đó là mức độ cao của chánh niệm. Rồi tới mức độ cuối cùng của Tứ niệm xứ là quán pháp trên pháp. Lúc đó mình không còn là mình nữa, mà mình là chân lý của vạn hữu. Đây là trạng thái ngang với vị A-la-hán á. Nên Tứ niệm xứ coi vậy chứ xa.
[19:25]Tuy nhiên, Tứ niệm xứ nó có hai cách nhìn: một cách nhìn mà cái chứng ngộ của thiền định là như thầy vừa nói á, là từ cái tỉnh giác mình biết nơi chính mình mà cái biết rất là thanh tịnh, cái chính mình đó rất là thanh tịnh cho tới khi quán pháp trên pháp thì không còn là mình nữa, là tới vô ngã.
[19:53]Còn cái Tứ niệm xứ mà ở mức độ lý luận cạn thì nó dễ, thì ta cứ hễ mà nghĩ tới cái thân của mình thì thân này sao? Vô thường, tứ đại duyên hợp giả tạm. Nghĩ về những cảm giác vui buồn của mình thì sao? Coi vị vui buồn chỉ là cái gì? Ràng buộc, nặng nề và trói buộc. Nghĩ về cái tâm của mình, ồ tâm này nó biến động tùm lum đủ chuyện ở trong đó, và nghĩ đến vạn hữu thế giới bên ngoài sao? Thế giới này là vô thường, nguy hiểm. Vậy đó, nó là cái mà lý luận về Tứ niệm xứ về bốn cái nơi mà mỗi khi ta nghĩ tới cái gì thì có một cái phê bình nó đi kèm theo. Ta nghĩ tới cuộc đời bên ngoài là quán pháp trên pháp,
[20:33]cuộc đời này vô thường, tạm bợ, nguy hiểm. Ta nghĩ tới nội tâm, ồ tâm này nó biến nay vầy mai khác mà, nay thương mai ghét là đủ thứ chuyện. Ta nghĩ tới cảm giác vui buồn, ôi cái vui buồn này nó làm khổ mình bao nhiêu đời đây đó. Rồi nghĩ tới cái thân này, ồ cái thân này hôm nay gầy mai ốm, bữa bệnh bữa khỏe, mệt thấy mồ đó. Đó là cái đó là cái lý luận về Tứ niệm xứ mà đơn giản, dễ hiểu. Mỗi khi mình nghĩ tới cái gì thì có một cái nó kèm theo để nó phê bình. Bây giờ ta so sánh cái chánh niệm với Tứ thánh quả. Cái Tứ thiền nó không phải là chứng thánh quả, mà chứng thánh quả lại là một góc nhìn khác.
[21:16]Đây là điều rất là lạ trong đạo Phật, chưa bao giờ có một tôn giáo nào có thể nhìn sâu sắc tới mức độ như vậy. Ta tu thiền, ta mong được nhập định, định sâu dần, sâu dần, sâu dần, sâu nhất là giỏi, nhưng không. Còn cái Tứ thánh quả đi một con đường khác. Cái Tứ thánh quả là bốn quả thánh mà nói là người chứng thiền cao tới cỡ nào, thậm chí lên được tới cõi Trời mà nếu chưa chứng thánh quả vẫn là thấp, ngay cả một vị Tu-đà-hoàn thôi. Một vị sơ quả Tu-đà-hoàn thôi đã là nhiều khi cao hơn cả một thiên tử. Mà nếu ông thiên tử đó ổng chưa chứng quả thì dù ổng ở cõi Trời, ổng vẫn thấp hơn một vị Tu-đà-hoàn.
[21:57]Có khi một ông Tu-đà-hoàn chỉ là một nông dân, nhưng mà ổng chứng Tu-đà-hoàn rồi, ổng vẫn cầm cái cuốc ổng ra đồng ổng cuốc á, nhưng vị trí ổng, đức độ ổng, đẳng cấp ổng hơn cả một thiên tử nếu thiên tử đó chưa chứng Tu-đà-hoàn, ghê như vậy đó. Nên cái quả thánh là một cái góc nhìn khác hẳn. Thì trong đạo Phật ta có bốn quả thánh: một là sơ quả Tu-đà-hoàn, hai là nhị quả Tư-đà-hàm, ba là tam quả A-na-hàm và bốn là tứ quả A-la-hán, như vậy. Thì cái chánh niệm thì nó thường là tương ứng với hai quả đầu: sơ quả và nhị quả. Nên người mà chứng sơ quả Tu-đà-hoàn buộc lòng phải có tỉnh giác chánh niệm.
[22:43]Nên ví dụ ta đọc, ta đọc trong kinh Phật, ta nói cái vị đó nghe Phật nói xong cái chứng Tu-đà-hoàn, rồi ổng chào Phật ổng ra về, nhưng mà từ đó ổng là con người khác rồi, lúc nào cũng có cái chánh niệm vằng vặc vằng vặc nơi nơi thân mình. Hoặc là ổng chứng nhị quả thì cái chánh niệm của ổng rất là sâu, rất là tỉnh. Nên thường như vậy trong cái chánh niệm, cái đoạn chánh niệm dài như vậy là nó bao gồm, nó tương ưng với trạng thái của hai bậc thánh: sơ quả và nhị quả. Còn nếu không chứng quả thánh thì thôi chỉ là chánh niệm đơn sơ, đơn thuần là chánh niệm. Còn cái người vừa chứng chánh niệm mà vừa chứng quả thánh
[23:24]thì cái chánh niệm nó bao gồm hai quả thánh là sơ quả và nhị quả. Nhớ chưa? Mấy này nghe lát quên hết giờ. Mấy cái này chuyên môn hơi sâu, cho nên ta nghe ta kệ cứ ráng nhớ. Mình ráng nhớ vậy cho nó đỡ buồn ngủ, còn nếu không nhớ thì ngủ luôn á. Nhớ nha, cái giai đoạn chánh niệm thường nó tương ưng với hai hai quả thánh là sơ quả và và nhị quả. Còn nếu mà người nào mà vượt hết chánh niệm, bắt đầu nhập định là nhập sơ thiền thì người này nếu chứng quả thánh là chứng tam quả luôn. Mà từ cái tam quả A-na-hàm nó tương ưng từ sơ thiền tới tam thiền. Nghĩa là cái quả thánh A-na-hàm nó đi một đoạn đường đi rất là
[24:10]xa, từ sơ thiền tới tam thiền là quả thánh thứ ba A-na-hàm. Mà A-na-hàm là thường thì có thần thông. Nên sau này khi ta học tới bài chánh định, ta sẽ dẫn chứng một số thần thông của các vị A-la-hán, của các vị thiền sư như vậy, có những vị. Như ngài Đặng Ẩn Phong thì ổng bay lên trời được luôn vậy đó. Ổng cũng đi dưới chân đất như mình bình thường, tới chiều ổng gặp hai đạo quân đánh nhau, ổng nói mà ổng không làm gì hai đứa đánh nhau chết hết tội nghiệp, cái ổng bay lên trời, ổng cầm cái thìa cái gậy ổng chỉ xuống, ổng chỉ hai bên. Cái hai đám quân nó sợ quá nhìn thấy một ông sa môn bay lên trời, nó rút đi liền, rút lui ra không đánh nhau nữa.
[24:49]Đó là câu chuyện có thật, câu chuyện có thật. Là các các vị họ chứng tới mức độ đó họ họ bay được luôn như vậy, nó vượt qua cái những cái quy luật của vật lý thông thường. Thì nếu còn cái tứ quả A-la-hán á thì buộc phải tương ứng với tứ thiền, tới ngang chỗ đó thì tứ thiền và tứ quả nó ăn với nhau. Còn dưới đó, tam quả thì nó ăn từ sơ thiền tới tam thiền, còn nhị quả và sơ quả thì nó ăn với gì? Chánh niệm. Bây giờ ví dụ mình gặp một ông nhà giàu, mình hỏi ổng câu này: "Làm sao để được giàu?" Thì ta thấy cái ông nhà giàu ổng sẽ có hai cách trả lời: một là trả lời đúng và hai là trả lời sai. Cái trả lời đúng á là ổng chỉ mình cái cách làm ăn để mình trở thành giàu.
[25:42]Còn cái câu trả lời sai đó là ổng không có chỉ cho mình cách làm ăn mà ổng diễn tả cái giàu của ổng.
[25:51]Nhớ lại, nhắc lại câu này, khi ta hỏi một người cách làm giàu mà họ không chỉ mình cái cách để làm ăn để giàu mà họ chỉ diễn tả cái giàu sang của họ là thế nào thì đó là người cái câu trả lời sai. Mà nếu ta theo cái câu trả lời sai thì ta làm sao? Ta không bao giờ giàu được. Tại vì ổng cứ nói cái cách, cái cái cái cái cảnh giàu sang của ổng làm cho mình tưởng tượng. Mình nghèo mà mình cứ tưởng tượng như mình giàu giống như ổng ổng ổng diễn tả, thế là mình hết sạch phước, mình càng lúc càng càng nghèo. Còn cái ông nhà giàu mà đúng á thì ổng chỉ mình cái cách làm làm ăn. Mình hỏi cái cách làm làm giàu thì ổng dạy mình cách làm ăn là đầu tiên phải làm sao?
[26:38]Đi lượm ve chai nha, mót rác, quét đường, làm phước, giúp người, rồi đi mua bánh cu đơ đầu này ra đầu kia bán, vân vân. Thế là ổng chỉ mình cái tỉ mỉ từng chút từng chút thì cái ông đó là nói đúng đường, nói đúng á. Thì cũng vậy, ta gặp một ông thiền sư, ta hỏi về cái sự giác ngộ thì ổng không chỉ mình Chỉ và Quán để tu mà ổng cứ diễn tả cảnh giới cao siêu của ổng thì cái ông thiền sư này mắc cái lỗi y như cái ông nhà giàu khi ta hỏi cách làm giàu không chịu dạy mình cách làm giàu. À tại vì ổng kỵ, ổng quê, ổng quê. Tại sao ổng quê? Tại hồi đó ổng đội cái miếng xửng trên cái mủng cái nia trên đầu ổng đi ổng
[27:22]bán chuối luộc á, còn giờ không lẽ ổng kể chuyện đó ra thì ổng mắc cỡ. À, ta hỏi: "Hồi bây giờ sao bác giàu vậy?" Ổng ngồi không lẽ ổng kể: "Hồi đó tôi đội cái nia tôi bán chuối luộc ở cái xóm làng Mai Hạ..." cái nó mắc cỡ, cái ổng giấu, ổng toàn kể ổng đi xe Lexus đồ này kia nọ không, cái mình không biết đường đâu mình làm ăn. Ông thiền sư cũng bị cái lỗi này. Ông thiền sư cũng bị cái lỗi, mình hỏi chứng thiền định như thế nào, ổng ngồi ổng diễn tả cảnh giới mà ổng không dạy mình Chỉ và Quán cho cẩn thận. Nên khi ta học thiền mà nghe một người nào mà cứ nói những cảnh giới cao siêu của thiền thì ta biết ngay cái người này hại mình
[28:05]vì làm cho mình tưởng tượng chứ không làm cho mình tu được. Còn người nào mà phải bắt mình sao? Quỳ lạy Phật, sám hối, bắt chân kiết già, theo dõi hơi thở thế này thế kia thì đó đó nghĩa là cái người mà mình hỏi ông nhà giàu cách làm giàu mà ổng sắm cho mình, ổng cho mình cái nia rồi ổng kêu mình luộc chuối, đội lên đầu đi vòng vòng ở quanh làng Mai Hạ này mà bán thì ông đó là ổng thương mình thật sự, thương mình thật sự.
[28:38]Thì cũng vậy, cái cái tu tập như vậy nó tỉ mỉ, tỉ mẩn từ cái lúc ta quỳ lạy Phật, tới lúc ngồi kiết già đau chân, theo dõi từng cái hơi thở. Cái đó, những cái tỉ mỉ, tủn mủn như vậy mới là mới là đúng đường. Cái Thiền sư cũng hay có cái tật gì hỏi hỏi cái cái cảnh giới thì ổng không chỉ tu gì đâu á. Bây giờ ta nói qua một cái ý khác nữa là cái cái nghi. Trong chánh niệm á, Phật có dạy là phá cái triền cái nghi. Nghi là do dự, là hoang mang, không biết đúng sai. Nhưng mà khi chứng quả Tu-đà-hoàn cũng phá được kiết sử nghi, cũng là phá được cái do dự, hoang mang, không xác định. Hai cái đó đều là từ nghi, nhưng cái nghi của chánh niệm triền cái
[29:30]nó cạn hơn, còn cái nghi mà nói về cái kiết sử là nó sâu hơn. Chúng ta phân biệt hai cái đó một chút. Cái nghi mà của cái người mà chứng chánh niệm á, khi mà họ chứng chánh niệm rồi, họ phá được triền cái nghi á thì ta thấy họ có cái tự tin nơi con đường họ đi, nơi cái thiền định mà họ đạt được. Nên bây giờ mà ta
[29:57]ta nói này nói kia họ không dao động. Như có một Thiền sư vậy, ổng đến ổng gặp ông sư sư thúc của ổng. Ổng là một người đã ngộ đạo từ nơi sư phụ của mình. Nên ổng đến ổng ổng bắt đầu ổng đi thăm các các sư thúc, đến gặp ông sư thúc. Thì ông sư thúc này là một người đã ngộ đạo rất là cao siêu. Thì ông sư thúc này muốn thử ông sư cháu. Ổng mới hỏi ông sư cháu là: "Ta nghe ông sư huynh ta có một cái pháp rất là đặc biệt, có một cái pháp một cái Phật pháp rất là đặc biệt đã dạy cho ngươi chưa?"
[30:41]Cái cái ông sư cháu ổng trả lời: "Hòa thượng nghỉ ngơi cho khỏe." Ổng không trả lời, ổng nói câu lãng quất. Cái ông sư thúc ổng mới gằn giọng: "Ta hỏi ngươi là thầy ngươi đã dạy ngươi cái chánh pháp chân truyền chưa?" Ổng gằn giọng. Thì ông sư cháu ổng trả lời: "Hòa thượng ăn cơm chưa? Bộ đói bụng sao mà la dữ vậy?" Cái ông sư thúc ổng lại gằn giọng lần nữa: "Nếu mà cái cái tên đó, sư huynh ta chưa dạy thì ta dạy cho ngươi." Thì ông sư cháu ổng trả lời câu này: "Sư thúc ngậm cái miệng sư thúc lại đi." Ta đọc mấy cái thiền ngữ đó ta chịu không nổi. Ta chịu không nổi, cái kiểu mà nhiều lúc chịu không nổi, thấy hỗn.
[31:26]Ta nghe cái đoạn đó ta thấy rất là kỳ lạ. Nghĩa là ông sư thúc ổng vẻ giống như rất có thiện chí. Thấy là nghĩa là: "Ta biết sư huynh ta có một cái giáo pháp rất đặc biệt, mà ngươi thì rời sư huynh ta ngươi đi như vậy, thì không biết là ngươi đã đạt được tới cái đó chưa? Đã được dạy cái đó chưa mà tới đây?" Ông sư cháu ổng không thèm trả lời cái câu đó. Ổng hỏi: "Nghỉ ngơi chưa? Còn khỏe không? Ăn cơm chưa?" Ổng hỏi, ổng không trả lời. Cuối cùng ông sư thúc ổng phải gằn giọng lên ổng la: "Nếu không dạy thì ta dạy cho ngươi." Thì ông sư thúc ổng trả lời câu: "Sư thúc ngậm miệng ấy."
[32:01]Gạt ngang luôn. Nghĩa là cái gì? Nhớ, nghĩa là người sư thúc này không còn cái nghi nữa, không còn ai lừa mình
[32:16]để làm cho mình hoang mang, dao động: "À, chết rồi! Chưa biết cái đó, thầy con chưa dạy con." là cái cái chánh niệm chưa vững. Còn ổng, chánh niệm ổng vững quá. Cho nên ông sư thúc lừa. Thật ra ông sư thúc nói câu đó là ổng lừa chứ chả có chánh pháp chân truyền gì hết á, không có cái gì đặc biệt hết á. Ổng chỉ lừa coi ông này còn nghi hay không thôi. Nhưng mà gặp ông sư thúc, ông sư cháu này đúng là cái dân mà đã diệt được cái triền cái nghi xong rồi. Cho nên ông sư thúc nói gì, nói gì ổng cũng không ngã, không nghiêng. Cuối cùng ổng còn chửi lại ngậm miệng luôn. Nhưng mà ông sư thúc sẽ không giận, tại biết cái thằng này nó hết cái nghi rồi.
[32:54]Nó diệt được cái triền cái nghi. Nên cái tự tin của một Thiền sư chứng được chánh niệm mà phá được cái nghi là tới mức độ như vậy. Nhiều khi họ tự tin đến mức độ làm dí họ vào đường cùng họ hỗn luôn á. Họ hỗn luôn. Giống như vậy. Có có ông thầy đó ổng sắp chết. Thì ổng có người đệ tử hầu cận là cái người mà ổng ổng truyền trao y bát lại quản lý chùa viện đồ sau này tu. Thì khi mà ổng đang yếu, bệnh gì đó, cái ông ông thầy ổng chăm sóc, ông ông đệ tử ổng chăm sóc. Cái ông thầy nói: "Nếu thầy chết rồi coi con coi làm sao mà mà ai giữ chùa đây con?" À, cái ông đệ tử ổng nói: "Thầy có chết đâu mà lo." Nghĩ.
[33:40]Nói: "Nhưng mà rồi ta cũng phải chết. Rồi phải coi phải ai để quản lý cái tông môn, chùa đó." Nói: "Thì không người này cũng có người kia mà. Thầy lo cái gì không biết nữa." Cái ổng nói: "Nhưng mà ta phải lo, phải có người giữ con ơi." Cái ông đệ tử ổng nói: "Thầy ngậm miệng lại, ngủ đi. Nói hoài." Tức là ta nghe giống như một cuộc nói mà kiểu mà hơn thua, trách móc, không phải. Những cái đó đều là những cái thủ thuật của nhà thiền. Là ông thầy ổng ổng lừa ông đệ tử coi ông đệ tử có ý muốn nối truyền cái chức đó không. Mặc dầu trong lòng ổng là sẽ trao cho người này, ổng biết người này ngộ đạo mà.
[34:18]Nhưng ổng dụ coi còn cái cái tham hay không? Cái triền cái tham hay không? Còn có muốn giành tông môn hay không? Nhưng ông đệ tử này ổng diệt cái triền cái tham rồi. Cho nên ổng không cần. Nói thấy ý là ổng ổng ông thầy ổng cứ gợi gợi gợi gợi để cho ông đệ tử nhận luôn: "Thôi để con giữ cho." Nhưng ông đệ tử ổng né qua né lại, né qua né lại, gạt qua một bên. Cứ dí hoài, dí hoài ổng nạt ông thầy luôn, giống như hỗn luôn. Nên ta thấy là cái người chánh niệm mà họ diệt được các triền cái, họ vững, không còn nghi ngờ, không còn do dự. Ta đem những cái hơn thua, do dự cuộc đời thử họ, thử không được, tại họ quá vững, quá tự tin.
[34:57]Cái người này gọi là phá được cái triền cái nghi. Trong nhà thiền là cái chỗ này đó, nhớ như vậy. Nhưng mà còn cái kiết sử nghi của một bậc Tu-đà-hoàn khác hẳn. À, lạ như vậy. Cái kiết sử nghi của Tu-đà-hoàn khi mà phá rồi á thì nó không phải là cái tự tin của thiền định, của cảnh giới thiền định. Mà cái nghi đó là
[35:22]xác định lý tưởng giác ngộ. Vì có bắn chết thì bắn chứ không bao giờ mà bỏ cái lý tưởng tu hành giác ngộ. Cái bản chất của Thánh. Cái nghi nữa là gì? Là lòng tuyệt đối kính tin Tam Bảo. Mình đạt được cái đó rồi là tự trong đó cái đạo đức nó hiện ra, tuyệt đối kính tin Tam Bảo. Đừng có hòng mình có một cái ai mà có thể nói mình dao động đối với Phật pháp. Cho nên cái vừa qua cái cái truyền thông bẩn mà nó nói bậy nói bạ thì ta biết cái người nào mà có bị cái kiết sử nghi hay không là cái chỗ này. Mới nào giờ nghe bài giảng tới chừng mà nghe họ nói xấu cái bỏ hết là ta biết cái người này bị bị kiết sử nghi nên bị người khác đánh vào tâm mình.
[36:04]Còn có những người vững như như như núi đá. Ai nói gì đó nói, truyền thông bẩn nói gì nói, không bao giờ lung lay đối với chánh pháp, đối với Tam Bảo. Đó cũng là một chất của Thánh. Nhưng không biết là ta đã đạt được đến hoàn toàn hết kiết sử nghi của Tu-đà-hoàn hay chưa.
[36:28]Vì những người đó ai nói bậy nói bạ họ không lọt được vào tâm họ. Nó tự có cái đạo đức nó bảo vệ chặt chẽ. Nên cái cái kiết sử nghi, cái phá được kiết sử nghi của một bậc Tu-đà-hoàn nó thẳm sâu về về đạo đức. Còn cái phá được cái triền cái nghi của một người Thiền sư đạt chánh niệm thì nó chỉ đứng ở chỗ cái vị trí là là thiền định thôi. Bởi cái vì tại sao mà Phật nói cái cái địa vị, cái giá trị của một vị chứng Tu-đà-hoàn, mặc dù chỉ là quả Thánh ban đầu, mà cao tột là vì lý do đó. Cái điều đó nó thẳm sâu về đạo đức. Và một cái đặc biệt nữa là thế này. Cái người mà chứng Tu-đà-hoàn, nhiều khi ta nói chuyện qua
[37:08]lại, ta nói điểm sai điểm đúng, thiện ác cuộc đời, vị đó nhận ra rất là rõ, và không bao giờ chấp nhận cái sai, cái bất thiện, cái gian dối, cái tiểu nhân, cái hèn hạ. Họ là một người quân tử. Người người Tu-đà-hoàn là một người quân tử. Chứ thường thường á ta dễ bị cái tiểu nhân. Ta dễ bị huân tập cái tánh tiểu nhân đâu từ kiếp trước á. Vì kiếp trước ta làm trong cái môi trường mà phải mưu mẹo, phải mánh lới. Bây giờ kiếp này ta gặp đạo, ta vào đạo rồi, coi vậy chớ cái cái khuynh hướng, cái tập khí, cái thói quen mà mưu mẹo, mánh lới nó vẫn còn theo trong tâm ta. Thấy mình cũng tụng kinh, ngồi thiền,
[37:55]lễ Phật, nhưng mà khi ra bước ra làm việc cũng sử dụng mưu mẹo, mánh lới vì ảnh hưởng từ kiếp trước. Nhưng một bậc mà chứng Tu-đà-hoàn mà họ diệt trừ cái kiết sử nghi, họ phân biệt rất rõ đây là mưu mẹo, mánh lới và đây là đạo lý chân chính. Dứt khoát không bao giờ sử dụng cái mưu mẹo, mánh lới của một người tiểu nhân, hèn hạ.
[38:22]Họ chỉ sống theo đúng chất của người quân tử à. Giống như ông Phạm Xuân Ẩn vậy đó, ổng làm một tình báo sống giữa lòng địch mà không bao giờ nói dối. Giúp ai được cái gì giúp, chan hòa, hòa đồng với mọi người. Đây rất kỳ lạ đó, một cái người trong cái nghề phải dối trá mà lại sống rất chân thật, ta không hiểu nổi luôn. Vậy vậy vậy mà ổng... Nên có một lần ta ta xem một cái đoạn phỏng vấn, cái cô nào đó ngồi phỏng vấn ông Phạm Xuân Ẩn á, ổng nói kiểu giọng miền Nam mà ổng kiểu hài hài hước hước, có khi nói quá cái ổng nói "Đó là nhờ trời Phật phù hộ", ổng chỉ lên trời ổng nói thẳng luôn "Nhờ trời Phật phù hộ".
[38:57]Thì có nhiều điều may mắn không giải thích được, đành phải đổ thừa cho trời Phật. Cái bác Tư Cang cũng vậy, ngồi nói chuyện ổng nói cũng có nhiều cái thoát tai nạn nguy hiểm và ổng cũng đổ thừa trời Phật phù hộ. Lạ vậy, những cái nhà cách mạng mà đều giống nhau ở điểm đó, à không bao giờ ỷ cái tài của mình. À những người cách mạng chân chính có cái lạ là họ không ỷ tài của mình. Mà nói những cái mà thành công quá thì họ đổ thừa trời Phật, giống như bác Mười Hương cũng vậy. Như là thầy khen ổng thì ổng lại đổ thừa về những cái người cộng sự, những đồng chí của mình, là cái đó ổng nói cái giỏi đó là cái
[39:31]giỏi của các đồng chí ổng, đứng trong lòng địch tự thông minh tự xoay xở chứ ổng không nhận à đó là cái công của ổng. Ta thấy như vậy, những cái người mà những những cái bậc mà mà mà mà những bậc cán bộ, những bậc lãnh tụ, những người nào họ có cái đạo đức kỳ lạ vậy, hay như vậy, khiêm tốn như vậy, lạ vậy, ừ. Nên ta nhớ cái triền cái là cái tự tin nơi cái thiền định, việc diệt được cái triền cái nghi là tự tin trong cái thiền định của mình, còn diệt được cái kiết sử nghi là đứng vững trong cái lý tưởng, cái đạo đức, lòng tôn kính Phật và cái sai đúng giữa cuộc đời. Nó rất là đặc biệt. Ta nói cái điểm này của chánh niệm đó,
[40:10]khi một người chứng được chánh niệm thì họ bước qua một đời sống mới. "Nay bước sang một đời sống mới", chắc ở đâu tụi con biết câu nào trong bài hát nào? Ai nhớ? Thầy Về, đúng rồi, Thầy Về. Bài đó có câu đó trong bài Thầy Về: "Nay bước sang một đời sống mới...
[40:33]cho chúng con niềm vui bất tận". Đó, đại khái là vậy đó: "Nay bước sang một đời sống mới". Họ chứng được chánh niệm rồi, tâm họ thay đổi liền, bước sang một đời sống mới. Bắt đầu còn hơi khoe, tại giai đoạn đầu hơi phấn khích, nó lạ quá, trạng thái rỗng rang, tỉnh giác nó lạ, nên nhiều khi hơi bộc lộ. Nhưng mà khi họ đầm rồi, quen rồi thì thôi không nói nữa, họ cũng kín đáo, sống nhẹ nhàng, chan hòa nhưng không bộc lộ cái sở đắc của mình ra ngoài, không bộc lộ kết quả thiền định của mình cho người khác biết. Đó là như vậy, ban đầu thôi. Nó có một cái này nữa là
[41:14]ví dụ như bình thường tâm ta lao xao, bình thường chúng ta sống trong cuộc đời này tâm ta nghĩ chuyện này, ta nghĩ chuyện kia. Ta mà khi nghĩ, tức là giống như có một cái sợi dây nó móc vào, từ tâm ta, cuộc đời ta, nó móc vào chuyện này của cuộc đời, nó móc vào chuyện kia của thế giới, nó móc vào chuyện khác của xã hội, là ta đứng ở đây, thấy không làm gì, nhưng sự thực thẳm sâu trong tâm ta, ta dính tùm lum với chuyện đời. Và trong đó còn có một cái nữa là trách nhiệm và ước mơ nữa. Ta mong mỏi sau này ta làm được điều gì, đó là ước mơ. Hoặc là ta có trách nhiệm, con ta, à vợ chồng ta, cháu ta, gia đình ta,
[42:03]cha mẹ ta phải thế này thế kia, ta phải lo cho họ thế này thế kia, là trách nhiệm. Thì cái sống trong cuộc đời là ta cứ như vậy, đầu óc ta lao xao, lao xao những chuyện cứ suốt những chuyện như vậy. Đó. Nhưng mà cái người mà họ đạt được chánh niệm,
[42:21]cái tâm họ bất động, chưa phải là nhập định, nhưng mà nó không động, nó không có lay động, không lao xao, không bám cái này, không chụp cái kia, không dính cái nọ, không ước mơ, không hoài niệm. Và cái trạng thái mà yên tĩnh nó kéo dài thì lập tức nó xuất hiện một cái tâm lý buông bỏ. À. Nhớ như vậy. Ta không hiểu trạng thái này đâu, vì ta chưa chứng được. Ta vẫn còn lao xao, vẫn còn nghĩ chuyện này, nghĩ chuyện kia nên ta không hiểu được cái trạng thái, cái tâm trạng của một người mà dứt khoát buông bỏ mọi thứ.
[43:04]Mà cái người mà tại sao họ có một cái tâm trạng, một cái trạng thái dứt khoát buông bỏ mọi thứ? Chỉ bởi vì cái tâm nó yên kéo dài quá, cái tâm yên nó kéo dài quá bỗng nhiên nó xuất hiện cái trạng thái chẳng cần gì cả, không cần gì hết, dứt khoát buông bỏ nhà nghèo, danh vọng, địa vị, tiền bạc, dứt khoát. Nhưng ta có nghe cái câu chuyện về ông Bàng Long Uẩn, ông ngộ đạo.
[43:38]Đầu tiên là ông ông đến ngài Thạch Đầu, ông hỏi "Thế nào là kẻ chẳng cùng vạn pháp làm bạn chứ?". Ổng nói dài dòng lắm, ổng văn chương chắc cũng hay. Nói "Ai là kẻ không cùng vạn pháp làm bạn?". Cái câu hỏi rất là khó hiểu. À: "Ai là kẻ không cùng vạn pháp làm bạn?", tức là một cái gì mà nó thanh tịnh, nó không có tương tác, nó độc lập mà mà nó nó nó thanh tịnh nó đại khái vậy. "Ai là kẻ không cùng vạn pháp làm bạn?", thì ngài Thạch Đầu Hy Thiên bụm miệng ổng một cái, ổng ngộ đạo liền, đạt được cái chánh niệm bước đầu liền. Và ổng cũng bắt đầu có tự tin. Khi sau ông sang Mã Tổ, ông hỏi lại đúng câu đó. Ổng hỏi:
[44:25]"Ai, thế nào là kẻ không cùng vạn pháp làm bạn?". Ngài Mã Tổ trả lời: "Khi nào ông hớp một ngụm coi, hết sạch nước Tây Giang này ta trả lời cho ông". Thì ngay câu này ổng đại ngộ luôn lần thứ hai. Và lần này đại ngộ rất là lớn, lần này đại ngộ rất là thấu triệt. Không biết ổng về ổng dạy cái gì, vợ ổng cũng đắc đạo, con trai ổng cũng đắc đạo, con gái ổng cũng đắc đạo, gia đình bốn người đắc đạo và muốn chết là chết tự tại. Ổng là leo lên ngồi chết, à con gái là leo lên tự động ngồi chết, à bà mẹ à người con trai đang đứng cuốc đất nghe nói ba mình chết, dựng cuốc lại đứng chết ngay giữa đồng. Bà mẹ chôn con trai xong bỏ vô núi tự động vào trong
[45:07]hang cũng chết trong đó luôn, khỏi cần ai chôn. Cả gia đình đắc đạo và ra đi tự tại. Nhưng có một chuyện làm mình tiếc, nhà ổng rất là giàu, rất nhiều vàng bạc mà phải chở bằng cả một cái xuồng.
[45:23]Sau khi đắc đạo rồi, ổng đem vàng bạc ổng để lên cái xuồng, ổng ra sông ổng đổ xuống hết trơn. Mình không hiểu. Nhưng mà cái người mà họ ngộ đạo, họ bị cái trạng thái đó, cái dứt khoát cái buông bỏ. Khi cái tâm nó yên lâu rồi, bỗng nhiên nó xuất hiện một cái trạng thái dứt khoát buông bỏ, bất cần. Nên sống nghèo thực ra đi cuốc đất rồi sống ở nhà sống có miếng đất gì đó sống trồng cho vui thôi không cần gì rồi đợi ngày ra đi, còn vàng đem đổ xuống sông, trời ơi! Phải không? Nhưng mà nhưng mà cái người mà họ đạt được cái đó rồi thì họ thấy rất tự nhiên. Đó nên ta hiểu. Mà ta thấy thế này, khi một người mà bị cái trạng thái
[46:05]dứt khoát buông bỏ, ta thấy họ tự tại, họ thanh thản, họ bất cần rất là hay, nhưng rất dễ bị cái lỗi gì? Thụ động. Không cần gì và cũng không cần muốn không làm gì, rất dễ rơi vào cái lỗi thụ động. Và chính cái thụ động đó cái họ mất cái tương tác với chúng sinh, mất duyên với chúng sinh. Nên ở đây chúng ta nhắc lại một lần nữa vậy: Xe muốn chạy phải có xăng, chứng gì đó cũng chưa bao giờ là tột cùng như Phật và phải tiếp tục làm làm phước. Mà làm phước là gì? Là ông Phạm Xuân Ẩn á: Giúp ai được là ráng giúp. Đó, là cái nguyên tắc đó thôi chứ không có gì lạ. Mà nếu mình không có giúp ai, không làm phước không
[46:54]giúp ai, tức là mất tương tác với cuộc đời thì không làm hạnh Bồ-tát được, không giáo hóa được. Cái cái cái hay của một người mà buông bỏ dứt khoát bất cần, nhưng cũng là một cái cẩn thận, cũng có thể là một cái dở nếu ta rơi vào thụ động, không giúp ai nữa. Đây là điểm ta ta để ý như vậy, ừ, nó có một cái này.
[47:21]Khi một người mà đạt được chánh niệm, tâm họ rỗng rang, tỉnh giác, thanh tịnh đặc biệt
[47:29]thì nó xuất hiện hai cái tâm lý, và ở đây thầy nêu ra để chúng ta chọn. Sau này lỡ mình cũng ngộ đạo thì nhớ hôm nay thầy có dặn cái này mà nhớ.
[47:45]Khi ta tâm ta thanh tịnh rồi, ta nhìn mọi người ta biết rất nhiều người chưa thanh tịnh, ta nhìn ta biết liền. Tại vì cái người mà tâm họ thanh tịnh, cái cư xử, đời sống, cái cách ăn cách nói họ nó khác, nó không có giống. Thấy họ bình thường á, nhưng mà sự thật tâm họ thanh tịnh. Còn cái người mà chưa thanh tịnh thì lời ăn tiếng nói, cách đi cách đứng khác, của là một người còn động loạn, biết liền. Cho nên cái người mà thanh tịnh nhìn bao nhiêu con người chưa thanh tịnh thì xuất hiện cái tâm lý gì? Coi thường. Đây Phật gọi là kiêu mạn của một người chứng đạo. Chứng chứng đạo rồi mà kiêu mạn, bởi vì nhìn thấy không chúng sinh nào bằng mình.
[48:32]Đây là một cái tâm lý sẽ bị xuất hiện. Cũng giống như một người khi làm giàu được rồi, nhìn qua mọi người thấy không ai giàu bằng mình, xuất hiện cái tâm lý gì? Coi thường. Đó, người giàu bị cái kiêu mạn rồi sau này mà tổn phước. Nhớ cái cái cái tâm lý này. Bây giờ cái tâm lý thứ hai. Khi tâm mình thanh tịnh tỉnh giác rồi, nhìn mọi người mình biết chưa có thanh tịnh, trong lòng cầu mong cho mọi người đều sẽ được thanh tịnh, đó là tâm của Bồ Tát. Nhớ hôm nay thầy dặn cái tâm lý này. Ngày nào đó mà tâm được thanh tịnh, nhớ gặp ai, tiếp xúc với ai, nhìn thấy ai, trong lòng phải âm thầm khởi lên ước nguyện cho chúng sinh đều được tâm thanh tịnh.
[49:23]Mà muốn người ta thanh tịnh thì mình phải làm sao? Giáo hóa, phải dẫn dắt, hóa độ, vất vả. Nhưng cái tâm lý thứ hai này mới là mới là đúng. Còn cái tâm lý thấy mình hơn người để coi thường người là sai lầm. Cũng giống như một người giàu vậy, khi giàu rồi nhìn thấy mọi người không giàu thì trong lòng nghĩ cách làm sao cho ai cũng giàu, đó là tâm của Bồ Tát. Bởi cái giàu của mình sẽ được bền vững vì có cái lòng vị tha, nhân ái ở trong đó. Trong nhà thiền cũng bị như vậy. Nhớ hai cái tâm lý khi mà mà tâm tâm tâm ta thanh tịnh rồi, cẩn thận hai loại tâm lý. Tâm mình thanh tịnh rồi, mình nhìn mọi người thấy không ai bằng tui,
[50:07]nhớ cái lỗi ngày hôm nay thầy đã nhắc nha, rất là mang tội. Khi mình tâm thanh tịnh rồi nhìn mọi người, cầu mong cho ai cũng cũng thanh tịnh, cố gắng vì làm gì đó để cho mọi người được thanh tịnh. Nhớ cái tâm lý này.
[50:27]Nó có một cái tâm lý này khủng khiếp nè. Khi tâm người ta thanh tịnh mà nó kéo dài quá thì nó xuất hiện cái tâm lý, cái tâm trạng mà hồi nãy ta nói là cái gì? Bất cần, buông bỏ, dứt khoát. Cái tâm lý đó vậy. Mà nó bất cần, nó buông bỏ, nó dứt khoát tới cái mức độ, tới cái mức độ
[50:53]không còn cái sự kính trọng ai nữa.
[50:58]Đó, bắt đầu gần như phủ nhận nhân quả. Cái ông già chồn mà trong cái chuyện mà ta nghe bị đọa 500 kiếp chồn chính là một người thiền sư đắc đạo mà bị cái tâm trạng đó. Ổng dứt khoát, ổng buông bỏ, ổng bất cần, ổng thanh tịnh và đến mức độ thấy không cần phải kính trọng ai. Đây, ta không cần tiền, ta không cần bạc, không sao. Nhưng không cần phải kính trọng ai nữa, bắt đầu rơi vào tà kiến, lầm lỗi. Chỗ này rất là đáng sợ, mà nhích nhích qua một cái qua ranh giới liền, lọt liền qua ranh giới này liền. Nên vì vậy mà thầy cứ dặn mọi người rằng sao? Phải nuôi dưỡng lòng tôn kính Phật tuyệt đối. Mà ngoài Đức Phật ra còn bao nhiêu người trong
[51:47]đời mà ta phải tôn trọng, kính trọng: cha mẹ mình, thầy cô giáo mình, những người lớn tuổi, những người có công, những người đáng kính, những bậc lãnh tụ, những người lãnh đạo, vân vân, phải giữ cái tâm kính trọng đó. Tại vì nếu cái này mà không giữ được, sau này mà ta được thanh tịnh ngộ đạo, ta sẽ rơi vào cái tâm trạng bất cần, buông bỏ, dứt khoát mà nó sâu đến mức độ không cần phải kính trọng ai nữa, kể cả Phật, là lúc đó ta rơi vào tà kiến, rất là nguy hiểm luôn, rất là nguy hiểm. Nhiều thiền sư đã bị, một số thiền sư đã bị.
[52:29]Đó, có nhiều thiền sư bị nói: "Nam nhi tự hữu xung thiên chí, hà hướng Như Lai hành xứ hành".
[52:40]Ngủ đi, nghe mấy câu này dễ ngủ lắm.
[52:47]"Nam nhi tự hữu xung thiên chí": làm trai trên đời mình đã có cái chí xung thiên rồi; "hà hướng Như Lai hành xứ hành": cần gì phải đi theo con đường của Như Lai. Đến mức độ đó liền. Mà ông thiền sư ổng nói á, chứ không phải người thường nói á, là đến mức độ ta bất cần, thụ động, buông bỏ, rồi không cần phải kính trọng Phật, bắt đầu bước một bước là lọt qua tà kiến liền. Cái bất cần ban đầu có vẻ là thanh thản, tự tại, có vẻ là đạo đức, nhưng bất cần sâu đến mức độ mà không cần kính trọng Phật thì bắt đầu sai. Nên ta thấy có những thiền sư nào như ngài Đan Hà,
[53:29]ngài ngài chỉ là một người công quả thôi, công quả cư sĩ, ổng ở công quả cư sĩ ổng không xin xuất gia. Nè, nhưng mỗi ngày mà ngài Thạch Đầu mà giảng á thì ổng cũng theo hội chúng ngồi ở trong ổng nghe. Thì ngài Thạch Đầu, bữa đó ngài Thạch Đầu đang giảng pháp cái ổng ở dưới ổng ngộ đạo liền. Ngay lập tức ngài Thạch Đầu biết liền. Thì ngài Thạch Đầu đang giảng cái dưới đó ổng ngộ đạo một cái, ngài Thạch Đầu dừng lại ngài mới nói, nói câu lãng nhách nè: "Ngày mai cắt cỏ trước điện Phật". Thì ổng hiểu liền, toàn chúng không ai hiểu, nhưng ổng hiểu liền tại ổng vừa mới ngộ đạo xong thì ở trên thầy
[54:06]ổng dừng lại ổng nói ngày mai cắt cỏ trước điện Phật là ổng hiểu liền. Thế là ngày mai á đại chúng mới đem liềm, đem cuốc ra để mà dọn cỏ trước chánh điện, ổng lấy cái dao cạo, cái thau nước, ổng đến ổng đặt trước ngài Thạch Đầu, ổng quỳ xuống ổng cúi đầu. Thế là ngài Thạch Đầu mới cạo tóc cho ổng, đó, cạo tóc cho ổng để làm người xuất gia. Sau khi cạo xong, bắt đầu ngài Thạch Đầu mới thuyết giới. Giới thứ nhất: không được dâm dục; giới thứ hai: không được giết người; giới thứ ba: không được trộm cắp. Ngài Thạch Đầu vừa mới nói giới thứ nhất không được, cái ổng đứng lên ổng bỏ đi luôn, ổng không thèm nghe nữa.
[54:42]Là sao ạ? Thực ra ổng ngộ một cái, ổng đạt tới mức độ là gì? Không thể phạm sai lầm. Đừng nói mấy cái giới nữa, ổng không thể nào phạm được. Cái lòng ổng ổng ngộ tới mức độ thanh tịnh quá rồi. Nó đã là giới rồi, cái ngộ đó đã đầy đủ rồi, không thể nào dâm dục, không thể nào giết người, không thể nào trộm cắp, không thể nào tham lam, cho nên nói giới mất công. Vì tâm ổng ngộ một cái rồi, nó giới nó nó thành tựu luôn rồi, nên ổng ngoe nguẩy ổng bỏ đi luôn, ổng không thèm nghe. Ngài Thạch Đầu cười cười thì ngài Thạch Đầu hiểu, ngài Thạch Đầu làm theo nghi thức thôi, cạo xong thì phải thuyết giới, truyền giới.
[55:18]Nói giới, ổng bỏ ổng đi. Rồi cái ổng nghe ngài Mã Tổ cũng nổi tiếng, cái ổng qua thăm ngài Mã Tổ. Mà ổng qua ngài Mã Tổ ổng xấc cái kiểu này: nguyên cái tượng Phật chánh điện đó ổng leo leo ổng bò lên ổng ngồi trên vai Phật á, ngồi trên vai tượng Phật. Mà chắc tượng Phật cũng cứng, ổng ngồi cũng ngoắc ngoẻo. Trời ơi, tăng chúng thấy một cái ông thầy tu nào quần áo cũng tè le rồi không có uy nghi nghiêm chỉnh mà ngồi trên tượng Phật như vầy nè. Trời ơi ai quýnh quáng hết trơn á, ô thằng điên nào đây, chạy lên mét ngài Mã Tổ. Nhưng ngài Mã Tổ ngài thấy lạ lạ, ngài mới chống gậy ngài ra, ngài nhìn một cái ngài biết liền, ngài biết cái người này đã ngộ đạo.
[55:55]Thay vì trách rầy, ngài nói: "Á, thằng này hả? Con ta!" Ngài đặt pháp danh liền: Thiên Nhiên. Tại vì ở bên Thạch Đầu, ngài Thạch Đầu cạo tóc mà chưa kịp đặt tên là ổng bỏ đi, ổng ngoe nguẩy ổng bỏ đi, thì mấy ông thiền sư ổng ngông trời sợ luôn á. Cho nên qua tới ngài Mã Tổ, ngài Mã Tổ mới đặt tên đó: "Á, con ta, thôi xuống đây, Thiên Nhiên." Thế từ đó ngài mới có tên là Thiên Nhiên. Rồi ôi ổng đi khắp nơi, mà cái sức ngộ của ổng cái rất là sâu, cái sâu tới mức độ không cần kính trọng Phật, cái chỗ này rất là ấy. Một lần đó cái một mùa đông lạnh giá, ổng ghé ngang một ngôi chùa, lạnh quá cái ổng bê ông tượng Phật gỗ xuống ổng chẻ ra để làm làm củi đốt.
[56:38]Trời ơi cái ông giám ông tri sự ổng la làng lên, ổng nói: "Sao sao thầy được được chẻ đốt tượng Phật của tui?" Ổng nói: "Chẻ đốt tìm xá lợi". Thật ra ổng để ổng sưởi ấm thôi, mà ổng nói: "Tôi tìm xá lợi". Cái ông thầy tri sự nói: "Ủa tượng gỗ làm gì có xá lợi?" "Nếu không có xá lợi thì đốt thêm mấy ông nữa." Cái cái câu đó thì kể lại ta cũng không hiểu hết cái thâm ý, nhưng mà đại khái là mấy ngài làm mấy chuyện mà mình phải nói là mình động trời á. Mình thì chắt chiu từng đồng để mình góp mình làm tượng Phật ha, là mỗi người thì đi xe vô là góp từng năm chục ngàn, một trăm ngàn để góp góp mà đắp thành tượng Phật,
[57:20]còn ổng đi ổng chơi ổng chẻ tượng Phật gỗ ra ổng thiêu ổng sưởi trong mùa đông lạnh giá, chịu không nổi mấy ông thiền sư! Nhưng mà cái tâm trạng của người ta vậy. Khi một người bất cần Dứt khoát thụ động, cái bất cần có khi sâu đến mức độ không cần phải kính trọng. Và đây là điều không hay, mà ông già chồn đã bị đọa năm trăm đời vì lý do này, là không cần nhân quả. Cái sợ như vậy. Nên ở đây ta thấy Đức Phật của ta cái sự điềm tĩnh là cái hay như vậy. Chứng ngộ cao gì cao nhưng cái phước vẫn là nền tảng, nhân quả vẫn là nền tảng, và phải biết kính trọng. Phải biết kính trọng, ta phải biết kính trọng các bậc thánh.
[58:04]Lúc nào Đức Phật cũng dạy điều đó: phải biết kính trọng các bậc thánh, phải biết kính trọng cha mẹ mình, biết kính trọng các bậc giáo thọ. Là cái cái cái nề nếp, cái đạo đức, cái tôn ti trong của Đức Phật rất là kỹ lưỡng. Nhưng mà các thiền sư nhiều khi trong cái trạng thái ngộ của mình đôi khi bị lệch một cái nó bước qua tà kiến mà không hay. Cho nên hôm nay ta nói với nhau bài này cũng vậy, lỡ sau này khi ta có ngộ đạo, tâm ta có thanh tịnh, rồi nó rơi vào trạng thái bất cần, nhớ coi chừng ta lọt một bước chân vào trong tà kiến ở chỗ này. Không cần phải kính trọng ai, nghênh nghênh ngang ngang, coi chừng ở chỗ này.
[58:43]Mà người ta đi cần đi đúng cái quả vị của Tu-đà-hoàn. Tại vì cái người Tu-đà-hoàn họ biết đúng sai, và biết khiêm nhường, biết kính trọng. Làm cho cuộc đời mình nó đàng hoàng hơn, tử tế hơn, đẹp đẽ hơn, như vậy.
[59:07]Hôm rồi cái Vu Lan ở Tuyên Quang, thầy có giảng cái bài bài gì ai nhớ không?
[59:16]"Hội chứng cô đơn", "Hội chứng cô đơn". Bởi vì thế giới này thế giới đông người nhưng vắng nhau. Thấy thế giới tám, chín tỷ người vậy chớ thực sự lại cái người mà để ta nhờ cậy được không có nhiều. Bây giờ thử mình bệnh xuống coi đếm coi ai là người sẽ chăm lo cho mình. Đếm lại còn một người, hai người, có khi không có người nào nha, có khi không có người nào á. Ta có phước thì được hai, ba người, còn có những người khi bệnh rồi không biết nhờ ai. Đó là cái cô đơn ở thể chất, ta gọi là cô độc. Còn cô đơn ở mức độ tinh thần là không ai nói chuyện với ta. Nhắn tin chào họ, họ không thèm nhắn tin trả lời.
[1:00:01]Rồi riết buồn quá, chạy lên mạng kết bạn ở trên mạng cho nó đỡ buồn. Cho ta có bạn, ta có mấy trăm bạn. Mà mấy bạn đó có nhờ được không? Mấy bạn đó nhờ không được. Chỉ ờ chỉ cần mình để mình like cho họ thôi chứ chứ không nhờ được. Nên thế giới này coi vậy chứ cô đơn. Thấy đông như vậy chứ cô đơn. Là khi ta cần người để ta nhờ, không có. Đó là cô đơn. Và cái cô đơn nó nó hiện ra ở những cái chết không ai biết. Nhiều cái xứ như vậy. Nhiều cái xứ mà người chết rồi không ai biết, có khi nghe mùi thối quá đi ngang là chịu không nổi. Hàng xóm mới kêu chính quyền tới cạy cửa ra thì người đó một mình ở trong nhà chết mất rồi.
[1:00:45]Cái cô độc, cái cô đơn của thế giới là như vậy, không nhờ ai được cả, không ai bên cạnh để chăm sóc. Thấy đông thì đông, không ai thân ai, không ai thương ai, không ai lo cho ai. Thế giới này là như vậy. Và bây giờ chưa cần tới cái mức độ mà ta chết một mình, chỉ cần thật sự lúc cần nói chuyện không ai nói chuyện thôi đã là một nỗi buồn. Và buồn cô đơn là một loại đau khổ. Nhớ như vậy, cô đơn là một loại đau khổ, một loại buồn. Tuy nhiên cái người mà chứng được chánh niệm, họ không buồn vì cô đơn. À. Họ thoát cái đó, họ không buồn vì cô đơn. Giống như hôm trước ta nói vậy, họ không còn cái giận, cái hờn, cái tự ái.
[1:01:32]Có bị chửi tan nát họ cũng không giận. Vì đạt được chánh niệm tới mức độ đó rồi, tâm không động. Cả cái sóng gió cuộc đời này vùi dập nhưng mà giữ lòng mình trong cái chánh niệm, ta không động, không buồn. Dĩ nhiên không sợ. Nhưng có một cái dấu hiệu là một mình, không ai nghĩ tới mình, không ai quan tâm tới mình, không ai chăm sóc mình, không ai nói chuyện với mình, không hề có cảm giác buồn. À. Còn đa phần tất cả chúng ta, không ai nói chuyện với mình, không ai nhớ tới mình, không ai nghĩ tới mình, không ai lo cho mình, không ai chăm sóc mình, chung quanh mình khiến nhìn không không có ai, rơi vào trạng thái tuyệt vọng liền.
[1:02:16]Trầm cảm, tuyệt vọng có thể tự tử liền, rất là nguy hiểm. Nhưng mà cái người mà họ chứng được chánh niệm rồi họ không bị cái đó. Họ thanh thản ở một mình, tinh thần rất là vững, ở một mình được, không sao. Đó là lý do mà Đức Phật lấy cái cái cô độc để thử đạo tâm của một người. Ở một mình có bị buồn hay không? Đó. Và cái người chứng được thiền định, họ ở một mình họ không buồn. Nhưng đừng ở một mình. À.
[1:02:55]Ừ, nghĩa là làm sao ạ? Mình ở một mình mình không buồn. Tự một mình mình tự có niềm vui của cái nội tâm thanh tịnh, không cần ai. Không cần ai, thực sự như vậy. Nhưng đừng ở một mình. Nghĩa là làm sao? Vì nếu ta thấy mình không buồn vì cô đơn, rồi không thèm chơi với ai, rơi vào tà kiến liền. Đó, một bước một thôi, từ cái đúng bước một bước thêm một bước nữa qua cái sai liền, qua cái tà kiến liền. Nên ở đây nhớ, ta tu đến cái ngày tâm ta thanh tịnh, không còn buồn vì cô đơn, nhưng phải kiếm người mà chơi, mà nói chuyện.
[1:03:37]Chớ đừng có ỷ mình không buồn cái không thèm chơi với ai. Mình không buồn vì cô đơn là đạo lực, nhưng rồi không thèm chơi với ai là tà kiến. Bước một bước là qua tà kiến liền. Nên ở đây ta giữ cái điều này: Ta không buồn vì cô đơn, nhưng tìm mọi người để chơi. Giống như ông Phạm Tu Ngựa, ẩn hòa đồng với mọi người. Hay cái ông tình báo ngộ ghê, ổng nói mấy câu sao nó giống hệt nhà thiền không biết tại sao. Như ví ví dụ như quý thầy, quý cô mình cũng vậy. Nhiều khi sư phụ cho đi giữ cái cơ sở, cái việc đầu tiên các thầy các cô mình làm là cái gì? Ai biết? Nấu bánh đem qua hàng xóm biếu.
[1:04:28]Hàng xóm cũng hơi lạ, tự nhiên nào giờ mình với cái chùa đó không có tương tác, bỗng nhiên hôm nay thấy có một thầy một cô nào đó về ở, một hai thầy cô về ở rồi cái chùa không biết lấy nấu bánh đem qua tặng. Đó là đó là không ở một mình. Gieo duyên, kết duyên, tạo tương tác thiện lành rồi bắt đầu mới mời người ta về chùa để người ta tu hành. Chứ còn các thầy cô ở một mình cũng không sao. Tại vì trong chùa cái đời sống tu hành các thầy cô có những lúc phải nhập thất ở một mình mà. Có một không một bóng người, ở một mình tự mình nấu ăn lấy, không buồn không gì hết, vẫn ở một mình được. Nhưng không không có chuyện mà nghỉ chơi với mọi người, mà phải kết duyên lành.
[1:05:15]Đấy, đây là điểm mà tinh tế. Ta thấy không, mới đúng bước thêm bước nữa thành sai, đúng cái bước thêm bước nữa thành sai. Đây là chỗ ta cẩn thận. Nếu mà ta không cẩn thận, thấy đúng bước thêm bước thành sai. Không buồn vì cô đơn, không thèm chơi với ai thành sai liền. Không buồn vì cô đơn nhưng sẽ chơi với tất cả mọi người, kết duyên với tất cả mọi người để đem mọi người về với Phật pháp. Đó là như vậy.
[1:05:49]Cái người mà tâm thanh tịnh trong chánh niệm thì họ không ước vọng tương lai, không hoài niệm quá khứ. Và lúc đó ta gọi là gì? An trú trong hiện tại, phải không ạ? Đúng không ạ? Đúng không?
[1:06:12]Ai nói đúng lát đi quỳ nhang. Hiện tại làm gì có? Có cái gì là hiện tại đâu? Hiện tại đang trôi qua mà. Chính từng lời của thầy nói đang trôi qua dần, trôi qua dần, hiện tại không có. Cho nên cái câu an trú trong hiện tại là một cách nói tạm thời cho dễ hiểu, chứ không chính xác. Chỉ bởi vì ta không ước vọng tương lai, ta không hoài niệm quá khứ, ta tạm gọi đó là hiện tại, chứ hiện tại không có, ta nhớ cái câu đó. Ta cẩn thận, chớ nói, "Anh tu sao?", "Tôi, tôi an trú trong hiện tại", là biết người này chưa đạt được gì cả. Làm gì có hiện tại mà an trú. Chỉ là ta không ước vọng tương lai, không hoài niệm quá khứ thôi.
[1:07:00]Nhưng cái câu không ước vọng tương lai, không hoài niệm quá khứ nghe có vẻ tự tại nhưng bước một bước nữa thành sai liền.
[1:07:10]Ví dụ như ngày mai ta có cái lễ ở chùa, mọi người tới chùa dự lễ, thì một ông sư đệ hỏi ông sư huynh trụ trì, "Sư huynh, mai mình nấu cái gì để đãi khách đây?", ông sư huynh trả lời, "Đừng ước vọng tương lai."
[1:07:29]Thì mai khách vô là uống nước lã nha, xuống sông múc nước lên mà uống đó, chứ không có gì ăn tại ông thầy ổng không ước vọng tương lai. Ổng không làm gì hết á, ai ăn gì đó ăn, ừ. Còn mới nói a, "Ồ cái ngày này là ngày giỗ của ba sư huynh rồi nha, ổng chết năm ngoái." Trả lời, "Không hoài niệm quá khứ." Khỏi làm giỗ luôn, nên được. Nên thấy cái câu nói mà không ước vọng tương lai, không hoài niệm quá khứ nghe rất tự tại, bước thêm bước nữa thành sai liền. Bắt đầu thành vô trách nhiệm. Quá khứ là cái gì? Quá khứ là kinh nghiệm, là ân nghĩa,
[1:08:07]là lỗi lầm cần phải tránh, là những lỗi lầm cần phải sám hối. Chứ quá khứ không phải là vô nghĩa. Ta không hoài niệm quá khứ, đừng nghĩ là quá khứ là vô nghĩa. Dân tộc ta cũng vậy, nếu không một lịch sử hào hùng giờ này ta mất rồi. Từng cuộc chiến đấu vất vả của cha ông ta tạo thành cái giá trị Việt Nam mà ta mang cái sức mạnh ở trong tim mình để mà chiến đấu tiếp, chứ đừng tưởng lịch sử là vô nghĩa. Cho nên nói câu mà không hoài niệm quá khứ rồi tôi không cần biết quá khứ là vô trách nhiệm, vô ơn, rồi khỏa lấp cái tội lỗi của mình, nhớ nhiều thứ lắm. Rồi coi như không ước vọng tương lai, mai chuyện gì chuyện nó tới tới không
[1:08:51]thèm lo gì hết trơn thì thứ nhất, người này chắc chắn thất nghiệp chứ không ai thuê mấy cái người mà không ước vọng tương lai kiểu đó hết trơn á. Tại vì công ty nào người ta cũng phải vạch kế hoạch cho 6 tháng, 1 năm, 2, 3 năm. Còn mình đem cái bản kế hoạch ra nói với ông ông nhân viên, "Anh cho tôi cái kế hoạch 6 tháng." Ông công ty, ông nhân viên này ổng mới đi tu thiền về ổng nói, "Tôi không ước vọng tương lai", không thèm làm thì làm sao? Thôi cho đi về nhà luôn đi, tôi không ước vọng tương lai, về nhà đi, chết liền. Chứ nói là không ước vọng tương lai nhưng mà tầm nhìn phải sâu thấu suốt vài thế kỷ luôn á để mà có kế hoạch.
[1:09:26]Phật pháp như thế, thế giới như thế, bây giờ mình phải làm gì để đóng góp? Từng chút điều thiện mình gieo vào cuộc đời từ bây giờ là để xây dựng một tương lai tốt đẹp cho thế giới này, chứ không phải là không ước vọng tương lai rồi trở thành vô trách nhiệm. Nên cái câu nói đó nghe thì thấy hay, bước một bước nữa là sai liền. Ta cẩn thận, bởi vì thấy mấy cái này ta đọc sách nhiều lắm và ta dễ bị tà kiến mà không hay, làm hư cả cuộc đời mình rồi mà không biết á. Tâm hồn mình đã hư, cuộc đời mình đã hư vì những cái tà kiến này, bước thêm một bước nữa sai. Không hoài niệm quá khứ, không ước vọng tương lai
[1:10:03]rồi cái thành là rồi an trú trong hiện tại hết sức là cẩn thận, tìm hiện tại làm gì có. Mà tương lai là trách nhiệm, quá khứ là ân nghĩa. Đâu có đùa được đâu, tất cả là nhân quả cả, không đùa được nha. Ta phải cẩn thận cái này.
[1:10:27]Khi một người đạt được chánh niệm, tâm họ tỉnh giác, rỗng rang và thanh tịnh.
[1:10:36]Và họ thấy giá trị của nó rất là lớn, giống như một người mà đã tìm được một cái kho kho vàng rất sợ mất. Đó, kho vàng rất là sợ mất. Cũng vậy, cái người mà đạt được chánh niệm rồi họ tự nhiên họ biết phải giữ chánh niệm nó rất là kỹ, không để cho mất, không để bị động tâm trở lại, giống như người giữ được kho vàng không để mất cái kho vàng đó. Và chính vì sợ động trở lại cho nên ta không muốn bị bận tâm, không muốn bị bận tâm.
[1:11:15]Nên ở đây vậy, giữ chánh niệm thường xuyên là một điều đúng. Tránh để không bị động tâm trở lại là điều đúng. Nhưng mà đến mức độ sợ bận tâm rồi tránh trách nhiệm hết cuộc đời này, không muốn làm gì, không muốn tương tác gì nữa, không có trách nhiệm nữa, bắt đầu sai. Ta thấy lạ chưa? Cứ vậy đó, ban đầu thấy đúng, bước thêm bước nữa là lọt qua tà kiến. Đạt được chánh niệm là đúng. Ráng giữ chánh niệm là đúng. Không để loạn tâm là đúng. Không để thất niệm là đúng. Nhưng rồi sợ bận tâm rồi không muốn làm gì, sợ không muốn có trách nhiệm gì nữa vì sợ động tâm, rồi sợ bận tâm, trốn trách nhiệm là sai.
[1:12:02]Lúc đó giống như xe không muốn đổ xăng nữa, sẽ không đi đâu được nữa. Đây là chỗ mà ta cẩn thận, vì ngày nào ta tu riết rồi ta cũng phải chứng cái chỗ này. Ngày nào đó ta tu riết rồi ta cũng phải chứng cái chánh niệm. Mà chứng chánh niệm rồi mấy cái tâm lý nó hiện ra lại, hiện ra liền, hiện ra là sợ mất chánh niệm, sợ động tâm, sợ bận tâm rồi không muốn gánh vác chuyện gì nữa là rơi vào tà kiến liền. Nên chỗ này ta phải khéo, ta cố gắng giữ chánh niệm nhưng vẫn phải sao? Ráng làm phước, ráng gánh vác, ráng làm những điều thiện, ráng lo cho người khác, nhất là lo cho huynh đệ tu hành. Đó, để xe còn tiếp tục mà mà đổ xăng đi tiếp như vậy.
[1:13:04]Chánh niệm khi ta ngộ được, khi ta đạt được, đó là bắt đầu của cái trạng thái là trở về với chính mình. À. Trước đây khi ta động loạn, ta nghĩ đủ thứ chuyện trên đời, nghĩ đủ thế giới. Nhưng mà khi ta đạt được chánh niệm một cái, tự cái biết nó cứ an trú nơi chính mình, nơi thân của mình, à nơi cái cho nên cái chính mình rất là quan trọng. Và ta thấy rõ ràng khi tôi an trú nơi chính tôi, tâm tôi thanh tịnh. Còn trước kia, khi chưa an trú được nơi chính tôi, đầu tôi nghĩ đủ thứ chuyện lung tung trên thế giới. Nhưng mà nhờ tu đúng với chánh tinh tấn, đúng với chỉ quán, bây giờ tôi đạt được chánh niệm mà
[1:13:48]cái chánh niệm đó là tôi lúc nào cũng an trú nơi chính mình. Nhớ giùm sư phụ, đây là cái trạng thái rất là rõ, an trú nơi chính mình, không bị loạn nữa, tự nhiên nó như vậy. Tự nhiên lúc nào cái biết, cái chú ý nó cứ tập trung nơi chính mình, làm cho tâm mình không loạn được và nó tự nhiên, không cần phải cố gắng. Và lúc đó nó xuất hiện nó rẽ hướng hai cái quan điểm: một tà kiến và một chánh kiến. Nhớ giùm nha, mấy cái này quan trọng lắm á, tương lai sau này chứng rồi sẽ đối diện với những điều này hết á. Nhắc lại, ta chứng được chánh niệm nghĩa là tự nhiên ta an trú nơi chính mình, tự nhiên biết rõ nơi chính mình,
[1:14:33]tự nhiên cứ tập trung nơi chính mình, tâm không còn loạn chạy ra bên ngoài nữa. Nhớ, đó là như vậy. Và khi ta an trú nơi chính mình thì xuất hiện hai quan điểm: một là đúng, hai là sai, một là tà kiến, hai chánh kiến. Sai là cái gì? Chính xem chính mình là quan trọng, là cao quý, gọi đó là chân ngã, chân tâm, tự tánh. Vì thấy rõ ràng khi tôi an trú nơi chính tôi, tâm tôi được thanh tịnh, còn trước kia tôi không an trú nơi chính tôi, đầu tôi nó nghĩ đủ thứ chuyện của thế giới, bây giờ tôi rút về nơi chính tôi, ở với chính tôi, tâm tôi thanh tịnh. Vậy chính tôi là đúng, chính tôi là quan trọng, và cái chân ngã này, cái chân tâm, cái tự tánh này là tuyệt vời số một.
[1:15:26]Đó là quan điểm sai. Và tất cả đều bị, tất cả đều bị. Khi ta chứng được chỗ này rồi ta đều bị rơi vào cái quan điểm sai này. Ta tự biết nơi chính mình, an trú nơi chính mình và thanh tịnh thì như vậy an trú chính mình là đúng, vậy cái chính mình là đúng. A, chỗ đó là một bước qua thêm bước nữa sai liền. An trú nơi chính mình làm cho tâm mình thanh tịnh, đúng. Vậy an trú nơi chính mình là đúng, cũng đúng luôn. Vậy chính mình là đúng, sai. Dễ sợ chưa? Đó, trong tích tắc ta lọt qua cái sai liền. Và lúc đó đề cao nơi chính mình, vô tình làm sao? Đề cao bản ngã. Mà mục tiêu của đạo Phật là gì? Là hướng về vô ngã.
[1:16:23]Vậy mà khi mà mình đạt được chánh niệm rồi, an trú nơi chính mình rồi, mình lại đề cao bản ngã, đi ngược hẳn lại với lời Phật dạy. Dễ sợ chưa, mà mình thấy rất đúng, ai nói cãi là mình cãi tới cùng á, ai mà phản đối là mình cãi tới cùng á, bởi vì, "Tôi chứng nghiệm nơi chính tôi, tôi an trú nơi chính tôi, tôi thanh tịnh. Rồi bây giờ anh mà kéo tôi ra khỏi chính tôi, vậy anh mới là sai." Đó, dễ sợ rồi mình cãi tới cùng, cãi mà mọi người tắt bếp, tắt đèn hết luôn vẫn phải cãi, vì rõ ràng mình chứng kiểm nghiệm, mình có trải nghiệm ở nơi chính mình, an trú nơi chính mình tâm tôi được thanh tịnh. Bây giờ cái chính mình mới là tất cả.
[1:17:04]Bây giờ trong đôi mắt em, mình là tất cả. Chết mày.
[1:17:13]Và bây giờ cái một cái rẽ thứ hai, cái suy nghĩ sau này mới là đúng nè. Khi ta chứng được chánh niệm, ta biết nơi chính mình, ta an trú nơi chính mình và ta thanh tịnh với cái cái cái trạng thái đó, thì lập tức khởi lên một phép quán tối thượng là quán cái gì? Chính mình là vô minh, tội lỗi, nhớ giùm cái đó. Đó là câu thần chú để ta đi cho tới ngày giác ngộ. Cái biết nơi chính mình rất rõ, cái biết nó vằng vặc vằng vặc nó nơi chính mình, nó không làm cho mình loạn được nữa, vằng vặc vằng vặc nơi chính mình, nhưng lúc nào mình cũng đi kèm cái chính mình này là vô minh, tội lỗi, chấp ngã, loạn động.
[1:17:55]Lúc nào cũng nhắc tới nhắc lui, vì lúc đó vô số lời khen tự nó khởi lên, chính mình là quan trọng, đây là chân ngã, đây là chân tâm, đây là tự tánh, thậm chí nói là Phật tánh luôn đó. Vì nó quá quan trọng, rõ ràng mình an trú nơi chính mình, mình được thanh tịnh, thấy nơi chính mình là tất cả. Nhưng nhớ giùm, phải chỗ này là lệch một cái ra ngoại đạo liền, là tà kiến liền, hết phước liền. Phải nhớ lúc đó khi ta an trú nơi chính mình, nó vằng vặc rất rõ, rất thanh tịnh, vẫn phải nhắc khởi cái phép quán lên, chính mình là vô minh, chấp ngã, tội lỗi, loạn động, nhớ như vậy, nhắc tới nhắc lui, nhắc tới chừng nào mà mình hết khen mình thôi thì bắt đầu mới yên.
[1:18:38]Còn ở bên trong cứ nhốm nhốm muốn khen mình là phải tiếp tục lấy câu quán đó ra mà mà nhắc mình. Đó, đừng có để mà mà mà bị lừa bởi tà kiến, nhớ như vậy, nguy hiểm, ừm.
[1:18:54]Trong thiền nó có một cái phép gọi là phép kinh hành, nhiều người gọi là thiền hành đó, là phép đi. Ví dụ khi một người họ ngồi thiền, sau khi họ xả thiền xong rồi cái họ tiếc, cái họ không muốn đi ngủ, thế là họ đi kinh hành. Họ cứ đi đi trên một cái đoạn đường nào đó. Có khi cái cốc nhỏ họ chỉ đi tới đi lui trong vài bước chân, mà nếu có cái vườn rộng thì họ đi được rộng hơn, họ đi cứ đi thanh thản thế này. Đây là cái phép kinh hành mà các tổ sư ngày xưa rất là khuyến khích. Ngài A Nan cũng vậy, trước khi mà ngài đắc đạo, ngài cũng ngồi thiền, ngồi thiền xong mệt quá cái ngài đi kinh hành, kinh hành mệt quá rồi thì ngài nghĩ cũng hết tu nổi cái ngài mới
[1:19:33]vô ngài ngủ, vừa mới đặt người xuống một cái chưa cái lưng chưa dính tới chiếu thì ngài bừng chứng A La Hán, câu chuyện được ghi như vậy. Cái phép kinh hành này cũng rất là quan trọng. Mà cái kinh hành này nó quan trọng là vì lý do thực tế. Thực tế là khi mà ta bắt chân ra ngồi thiền á, ta an trú ở Kanda với hơi thở chậm, ít, êm và có nhắc chừng mình là vô minh, tội lỗi, tâm mình nó thanh tịnh. Mà khi mà xả thiền ra, người mình động rồi thì không áp dụng cái đó được nữa, không áp dụng để Kanda mà hơi thở chậm, ít, êm được nữa. Lúc ấy chỉ còn cái cảm giác nơi chính mình thôi. Lúc làm đi tới đi lui cái cảm giác nó an trú nơi chính
[1:20:19]mình, nơi chính mình, vằng vặc vằng vặc như vậy. Và nơi cái cảm giác chính mình đó lúc nào mình cũng chỉ nhớ một điều là mình là vô minh, tội lỗi. Cái khen nó khởi lên, mình cứ dùng cái câu vô minh, tội lỗi mà trị nó, nhưng mà nó nó thanh tịnh và nó kéo dài rất là lâu. Cái kéo dài nó cái lâu thanh tịnh nó như vậy làm cho mình đi qua nhiều cái tầng bậc thiền rất là hay, nên cái giá trị của kinh hành rất là lớn trong nhà thiền. Khi ngồi thiền rồi phải biết kinh hành là vậy. Ngoài lúc ngồi xong, xả thiền rồi mình đi, hoặc là nhiều khi không ngồi thiền cũng vậy, có lẽ không tiện ngồi thiền nhưng mà có những lúc rảnh
[1:20:56]rỗi cũng có thể đi tới đi lui mà đi trong thiền định, đi an trú nơi chính mình và biết mình là vô minh, tội lỗi. Cái cái kinh hành nó lại vậy, nên phải tập. Mà nó cũng có cái hay, nó hay là khi ta đi kinh hành như vậy, ta vừa giữ được cái thiền mà cũng là một cách vận động làm cho cái việc trao đổi chất trong cơ thể ta tốt hơn, metabolism là cái trao đổi chất trong cơ thể nó tốt hơn, ngừa được một số bệnh, ví dụ như bệnh tiểu đường của người lớn tuổi, ví dụ như vậy. Nên nhớ ngồi thiền cũng phải kinh hành, tập kinh hành.
[1:21:33]Khi ta lái xe, ví dụ ta đi từ đây ta đi lên Hạ Long, ừm, ta đi qua nhiều chặng đường, đi qua nhiều cái cảnh trí, nhiều đồng ruộng, nhiều con sông, nhiều phố thị, nhưng mà vẫn chưa phải là tới cái vịnh Hạ Long, chưa tới. Nhưng mà ta bất chợt đi tới một cánh đồng, ta thấy người nông phu đang làm lúa, những con trâu, những cánh cò, cảnh trí rất là đẹp, đẹp hơn cái nơi cái căn nhà chật hẹp của mình, cái mình thích quá, mình ngắm. Mà muốn ngắm thì phải làm sao? Dừng xe lại chứ đâu có lái được, lái rủi tông người ta làm sao, tai nạn sao, đành phải dừng xe ta mới ngắm cảnh được. Thì như vậy có nghĩa là gì?
[1:22:24]Nếu ta ngắm cảnh thì ta phải dừng xe.
[1:22:31]Điều đó nghĩa là gì trong thiền? Khi trong thiền ta ta chứng được cái cảnh gì đó mà ta cứ chăm chú nhìn nó có nghĩa là công phu của ta đã dừng lại, nhớ điều đó. Cho nên khi tu tập mà bao nhiêu cảnh giới nó hiện ra, nhiều cảnh giới vi diệu nó hiện ra thì kệ nó, đường hai bên có đẹp thì kệ nó, cứ nhìn con đường phía trước mà mà đi tới mà thôi. Thì cũng vậy, bao nhiêu cảnh giới có cao siêu mầu nhiệm nó hiện ra trong tâm hồn của ta kệ nó, ta chỉ có cái gì? Lòng này chỉ biết có Kanda, nhớ như vậy. Bây giờ cái gì?
[1:23:23]Chuẩn bị ăn bánh Trung thu hả? Có chưa? Giờ có. À thôi vậy nha thôi. Thôi ăn Trung thu nha. Thôi bây giờ rất cảm ơn nha. Cô giáo bây giờ... Và các phật tử ta đã về đây để dự cái lễ Trung thu đơn giản, chỉ có một miếng bánh Trung thu nho nhỏ thôi chớ, chớ đâu có đủ người cái to hả? Một miếng thôi, người một miếng. Và nghe mấy bài hát nha. Thôi hồi hướng cái đi con, hồi hướng cái rồi ăn bánh.
[1:23:53]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn
[1:24:24]thành Phật đạo.